LỊCH PHỤNG VỤ GP. NĂM 2026

 

11

25

Tr

Thứ Hai

Cv 16,11-15 / Ga 15,26-16,4

12

26

Tr

Thứ Ba

Cv 16,22-34 / Ga 16,5b-11

Thánh Nêrêô, Thánh Akilêô và Thánh Pancratiô, Tử đạo (Đ)

13

27

Tr

Thứ Tư

Cv 17,15.22-18,1 / Ga 16,12-15

Đức Mẹ Fatima (Tr)

14

28

Tr

Thứ Năm

Cv 18,1-8 / Ga 16,16-20

Lễ Chúa Thăng Thiên - Lễ trọng

Cv 1,1-11 / Ep 1,17-23 / Mt 28,16-20

Thánh Vịnh Riêng

Nơi nào cử hành lễ Thăng Thiên vào Chúa Nhật (17-5) thì hôm nay cử hành lễ Thứ năm tuần VI Phục Sinh.

15

29

Tr

Thứ Sáu

Cv 18,9-18 / Ga 16,20-23a

16

30

Tr

Thứ Bảy

Cv 18,23-28 / Ga 16,23b-28

17

01/04

Tr

CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH

Cv 1,12-14 / 1Pr 4,13-16 / Ga 17,1-11a

Thánh Vịnh Tuần III

Lễ Chúa Thăng Thiên (Tr)

Lễ trọng - Lễ cầu cho giáo dân

Cv 1,1-11 / Ep 1,17-23 / Mt 28,16-20

Thánh Vịnh Riêng

Ngày Quốc tế Truyền thông xã hội

Phiên Chầu lượt: Mỹ Luông, Châu Đốc

 

­­­­TUẦN 25 - DẪN NHẬP SÁCH GIÔSUÊ (Gs)

H. Nội dung chính của sách Giôsuê là gì?

T. Sách Giôsuê thuật lại những biến cố người Do Thái chinh phục Đất Hứa. Chiếm được Đất Hứa hoàn thành lời Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham.

CHIA SẺ

Giôsuê có nghĩa là “Đức Chúa là ơn cứu độ”. Thời điểm được mô tả trong sách là khoảng thế kỷ 13 TCN– giai đoạn Israel từ đời sống du mục chuyển sang định cư lâu dài, xây dựng đời sống xã hội và tôn giáo tại Canaan. Nội dung sách Giôsuê gồm 3 phần: phần I liên quan đến việc chiếm Đất Hứa (1,1-12,24); phần II nói về việc phân chia đất đai cho các chi tộc (13,1-21,45); phần III liên quan đến giai đoạn cuối đời ông Giôsuê (22,1-24,33).

Nhân vật chính trong sách là Giôsuê, con ông Nun, thuộc chi tộc Épraim. Ông xuất hiện lần đầu trong sách Xuất hành như một chiến binh dũng cảm và là phụ tá thân tín của Môsê. Trước khi qua đời, Môsê đã đặt tay trên Giôsuê, truyền lại quyền lãnh đạo cho ông (x. Đnl 34,9), nhờ đó ông tiếp tục sứ mạng đưa dân vào Đất Hứa.

Những sự kiện lịch sử trong sách Giôsuê thường mang ý nghĩa thần học. Đó là việc hoàn thành lời Chúa hứa cho tổ phụ Abraham rằng Chúa sẽ ban vùng Đất Hứa cho dân Israel (x. Gs 21,43; x. St 15,18-21;17,18). Chính Chúa đã ra tay can thiệp để Israel chiến thắng, chẳng hạn, nước sông Giorđan đã ngừng lại để Israel có thể băng qua (Chương 3), thành Giêricô đã sụp đổ sau khi người Israel đi vòng quanh thổi kèn (Chương 6), “mặt trời dừng lại” trong trận chiến tại Gibêon (Chương 10)…

 

18

02

Tr

Thứ Hai

Cv 19,1-8 / Ga 16,29-33

Thánh Gioan I, Giáo hoàng, Tử đạo (Đ)

19

03

Tr

Thứ Ba

Cv 20,17-27 / Ga 17,1-11a

20

04

Tr

Thứ Tư

Cv 20,28-38 / Ga 17,11b-19

Thánh Bernađinô Siêna, Linh mục (Tr)

21

05

Tr

Thứ Năm

Cv 22,30;23,6-11 / Ga 17,20-26

Thánh Christôphôrô Magallanes, Linh mục

và các bạn, Tử đạo (Đ)

22

06

Tr

Thứ Sáu

Cv 25,13-21 / Ga 21,15-19

Thánh Rita Cascia, Nữ tu (Tr)

23

07

Tr

Thứ Bảy

Cv 28,16-20.30-31 / Ga 21,20-25

Chiều: Lễ Vọng Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Đ)

Xh 19,3-8a.16-20b (hoặc St 11,1-9)

Rm 8,22-27 / Ga 7,37-39

24

08

Đ

CHÚA NHẬT

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Lễ trọng - Lễ cầu cho giáo dân

Cv 2,1-11 / 1Cr 12,3b-7.12-13 / Ga 20,19-23

Đọc hay hát ca tiếp liên trong ngày lễ.

Thánh Vịnh Riêng

Phiên Chầu lượt:  Gh. Bình An, Gh. Ba Khu (C2)

 

TUẦN 26 - CHIẾM THÀNH GIÊRICÔ (Gs 6,1-16)

H. Chiến thắng trong việc chiếm thành Giêricô có ý nghĩa gì đối với người Kitô hữu?

T. Đối với người Kitô hữu, câu chuyện này nhấn mạnh sức mạnh của đức tin và sự vâng phục đối với các mệnh lệnh của Thiên Chúa. Người Kitô hữu tin sẽ đạt được ơn cứu độ nhờ tin vào Chúa Giêsu Kitô.

CHIA SẺ

Sự sụp đổ của thành Giêricô, như được mô tả trong sách Giôsuê, mang ý nghĩa sâu sắc đối với các Kitô hữu. Nó minh họa các chủ đề về đức tin, sự vâng phục và sự can thiệp của Thiên Chúa. Theo câu chuyện này, Thiên Chúa hướng dẫn ông Giôsuê và dân Israel đi vòng quanh thành Giêricô mỗi ngày một lần trong sáu ngày, và bảy lần vào ngày thứ bảy, có các thầy tư tế đi trước thổi kèn. Vào ngày cuối cùng, các bức tường thành Giêricô sụp đổ sau khi dân Israel hô lớn giúp họ chinh phục thành trì.

Đối với Kitô hữu, câu chuyện này nhấn mạnh sức mạnh của đức tin và sự vâng phục các mệnh lệnh của Thiên Chúa. Mặc dù chiến lược có vẻ không hợp lý, nhưng việc dân Israel tuân thủ các chỉ dẫn của Thiên Chúa thể hiện sự tin tưởng của họ vào kế hoạch của Ngài. Hành động đức tin này được tưởng thưởng bằng một chiến thắng kỳ diệu, nhấn mạnh rằng thành công không đến từ sức mạnh của con người mà đến từ niềm cậy tin vào Thiên Chúa. Người Kitô hữu cũng tin rằng họ có thể đạt được ơn cứu độ nhờ tin vào Chúa Giêsu Kitô.

 

MÙA THƯỜNG NIÊN

(Sau Chúa nhật CTT Hiện Xuống)

 

25

09

Tr

Thứ Hai (Sau lễ CTT Hiện Xuống)

Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh - Lễ nhớ

St 3,9-15.20 [hoặc Cv 1,12-14] / Ga 19,25-34

Thánh Vịnh Tuần IV

26

10

Tr

Thứ Ba (Tuần VIII Thường Niên)

1Pr 1,10-16 / Mc 10,28-31

Thánh Philipphê Nêri, Linh mục - Lễ nhớ

27

11

X

Thứ Tư

1Pr 1,18-25 / Mc 10,32-45

Thánh Augustinô Cantuariô, Giám mục (Tr)

28

12

X

Thứ Năm đầu tháng

1Pr 2,2-5,9-12 / Mc 10,46-52

29

13

X

Thứ Sáu đầu tháng

1 Pr 4,7-13 / Mc 11,11-26

Thánh Phaolô VI, Giáo hoàng (Tr)

Kỷ niệm ngày truyền chức Giám mục của Đức Cha Giuse Trần Văn Toản (29-05-2014)

30

14

X

Thứ Bảy đầu tháng

Gđ 17,20b-25 / Mc 11,27-33

31

15

Tr

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI

Lễ trọng

Xh 34,4b-6.8-9 / 2Cr 13,11-13 / Ga 3,16-18

Thánh Vịnh Riêng

Phiên Chầu lượt: Cồn Phước, Dòng Mến Thánh Giá Long Xuyên

 

       TUẦN 27 - DẪN NHẬP SÁCH THỦ LÃNH (Tl)

H. Sách Thủ lãnh thuật lại nội dung nào?

T. Sách Thủ lãnh thuật lại vai trò lãnh đạo của các thủ lãnh Israel từ khi ông Giôsuê qua đời cho đến thời Samuel. Giai đoạn lịch sử này kéo dài hơn 300 năm. Đây là một thời kỳ có nhiều sa sút về đời sống thiêng liêng và bất ổn về chính trị.

CHIA SẺ

Israel thời sơ khai chỉ là nhóm người thiên về nông nghiệp, chưa được thành thị hoá. Đó là thời kỳ quá độ tiến tới nền quân chủ. Khi các chi tộc, thị tộc gặp khó khăn về xã hội và chính trị, các thủ lãnh đứng ra lãnh đạo dân trong một giai đoạn tạm thời, không có quyền thừa kế. Cái chết chấm dứt sứ mạng của họ.

Sách Thủ lãnh thuật lại vai trò lãnh đạo của các thủ lãnh Israel từ khi ông Giôsuê qua đời cho đến thời Samuel. Đây là một thời kỳ sa sút thiêng liêng và bất ổn về chính trị. Sau khi định cư tại vùng đất Canaan, Israel bắt đầu gần gũi hơn với với dân ngoại, kết hôn với họ và thờ ngẫu tượng và chạy theo các phong tục ngoại giáo ghê tởm. Chúa đã trừng phạt người Israel vì những tội này.

Mục đích của sách Thủ lãnh cho thấy rằng số phận của Israel hoàn toàn tùy thuộc vào việc họ có trung thành phụng thờ Thiên Chúa và giữ Giao ước với Ngài hay không. Chủ đề chính của sách Thủ lãnh xoay quanh vòng tròn: tội lỗi, án phạt, thống hối và giải thoát. Bảy lần Israel bất trung, nên phải chịu sự áp bức của ngoại bang và bảy lần Chúa đã giải cứu dân thông qua các thủ lãnh. Các thủ lãnh đóng tiên trưng cho Chúa Kitô, vị Thủ Lãnh hoàn hảo, sẽ xuất hiện vào thời sau cùng.

 

THÁNG 06/2026

THÁNG KÍNH TRÁI TIM CHÚA GIÊSU

 

Kính nhớ Thánh Tâm là kính nhớ Tình Thương của Thiên Chúa. Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa được tỏ bày ra nơi con người Đức Giêsu và nhất là trong các chết trên thập giá vì tội lỗi loài người. Thánh Tâm đã bị đâm thâu là hình ảnh rõ rệt nhất, là tiếng nói mạnh nhất về Tình Thương của Thiên Chúa đối với chúng ta và là một bằng chứng không thể chối cãi được của Tình Thương lạ lùng ấy.

 

Ý CẦU NGUYỆN

CẦU CHO CÁC GIÁ TRỊ TRONG THỂ THAO

 

Chúng ta hãy cầu nguyện để thể thao trở thành công cụ của hòa bình, gặp gỡ và đối thoại giữa các nền văn hóa và quốc gia, đồng thời thúc đẩy các giá trị như tôn trọng, liên đới và phát triển con người.

 

01

16/04

Đ

Thứ Hai (Tuần IX Thường Niên)

Thánh Justinô, Tử đạo - Lễ nhớ

2Pr 1,1-7 / Mc 12,1-12

Thánh Vịnh Tuần I

02

17

X

Thứ Ba

2Pr 3,12-15a.17-18 / Mc 12,13-17

Thánh Marcellinô và Thánh Phêrô, tử đạo (Đ)

03

18

Đ

Thứ Tư

Thánh Carôlô Lwanga và Các Bạn Tử đạo

Lễ nhớ

2Tm 1,1-3.6-12 / Mc 12,18-27

04

19

X

Thứ Năm đầu tháng

2Tm 2,8-15 / Mc 12,28b-34

05

20

Đ

Thứ Sáu đầu tháng

Thánh Bonifaciô, Giám mục, Tử đạo

Lễ nhớ

2Tm 3,10-17 / Mc 12,35-37

06

21

X

Thứ Bảy đầu tháng

 2 Tm 4,1-8/ Mc 12,38-44

Thánh Norbertô, Giám mục (Tr)

07

22

Tr

CHÚA NHẬT

Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô

Lễ trọng - Lễ cầu cho giáo dân

Đnl 8,2-3.14b-16a / 1Cr 10,16-17 / Ga 6,51-59

Thánh Vịnh Riêng

Phiên Chầu lượt: Núi Sam, Trung Thành (K8), Thánh Linh (D1), Antôn (1A), Kim Hoà (G1)

 

TUẦN 28 - DẪN NHẬP SÁCH RÚT (R)

H. Câu chuyện Sách Rút muốn nói điều chính yếu gì?

T. Tác giả Sách Rút cho thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa vươn đến mọi dân tộc ngoài Israel.

CHIA SẺ

Sách Rút kể một câu chuyện xoay quanh một người phụ nữ ngoại bang tên là Rút. Câu chuyện diễn ra “vào thời các thủ lãnh cai trị” (R 1,1) - một thời kỳ bất ổn và đầy hỗn loạn trong lịch sử Israel, trước khi thiết lập chế độ quân chủ. Đó là thời kỳ mà “Ai muốn làm gì thì làm” (x. Tl 21,25), tình trạng đạo đức suy đồi, xã hội chia rẽ.

Câu chuyện bắt đầu với gia đình ông Êlimêléc rời bỏ Bêlem vì nạn đói, sang sinh sống tại Môáp – vùng đất ngoại giáo. Sau cái chết của ông và hai người con trai, bà Naomi, vợ ông, chỉ còn lại hai người con dâu Môáp là Orpah và Rút. Rút chọn gắn bó với mẹ chồng, từ bỏ quê hương, dân tộc, và thần linh cũ để theo Naomi về lại Bêlem: “Dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con” (R 1,16).

Chuyện bà Rút mang nhiều ý nghĩa đặc biệt. Thứ nhất, bà là biểu tượng sống động của lòng trung tín, không chỉ với mẹ chồng, mà còn với Thiên Chúa. Thứ hai, Rút, một phụ nữ dân ngoại, lại được trình bày như một nhân vật chính mẫu mực. Qua đó, sách Rút đề cao vai trò của phụ nữ trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Thứ ba, việc một người phụ nữ ngoại giáo trở thành tổ mẫu của Đavít và Chúa Giêsu cho thấy chương trình của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi biên giới dân tộc. Rút tượng trưng cho việc các dân ngoại có thể được đón nhận vào dân Chúa nhờ đức tin và lòng trung thành.

 

08

23

X

Thứ Hai (Tuần X Thường Niên)

1V 17,1-6 / Mt 5,1-12

Thánh Vịnh Tuần II

09

24

X

Thứ Ba

1 V 17,7-16/ Mt 5,13-16

Thánh Ephrem, Phó Tế, Tiến sĩ Hội Thánh (Tr)

 

10

25

X

Thứ Tư

1V 18,20-39 / Mt 5,17-19

11

26

Đ

Thứ Năm

Cv 11,21b-26;13,1-3 / Mt 10,7-13

Thánh Barnaba, Tông đồ - Lễ Nhớ

Thánh Vịnh Riêng

12

27

Tr

Thứ Sáu

Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu - Lễ trọng (Tr)

Ngày thế giới cầu xin ơn thánh hóa các linh mục.

Được phép dời vào Chúa Nhật kế tiếp.

Đnl 7,6-11 / 1Ga 4,7-16 / Mt 11,25-30

Thánh Vịnh Riêng

13

28

Tr

Thứ Bảy (Sau CN II sau Lễ Hiện Xuống)

1V 19,19-21 / Mt 5,33-37

Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ - Lễ nhớ (Tr)

Is 61,9-11 / Lc 2,41-51

Thánh Antôn Pađôva, Linh mục

Tiến sĩ Hội Thánh

14

29

X

CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN

Xh 19,2-6a / Rm 5,6-11 / Mt 9,36-10,8

Thánh Vịnh Tuần III

Phiên Chầu lượt: Núi Tượng, Thánh Tâm (3A)

 

 

TUẦN 29 - DẪN NHẬP SÁCH SAMUEL QUYỂN 1 (1Sm)

H. Sứ điệp chính của sách 1 Samuel là gì?

T. Thiên Chúa mới là vị lãnh đạo tối cao của Israel. Samuel, Saul và Đavít chỉ là những người được Ngài uỷ thác quyền lãnh đạo dân.

CHIA SẺ

Sách Samuel quyển 1 ghi lại giai đoạn chuyển tiếp từ thời thủ lãnh sang thời các vua. Đây là thời kỳ dân Chúa chuyển từ một liên minh các chi tộc lỏng lẻo sang một vương quốc có tổ chức, với sự cai trị của một vị vua được xức dầu. Tác phẩm mang tên Samuel, người được Thiên Chúa chọn để hướng dẫn dân trong thời khủng hoảng và cũng là người xức dầu cho hai vị vua đầu tiên của Israel: Saul và Đavít.

Sách này mô tả một thời điểm đầy biến động, khoảng thế kỷ 11 TCN. Sau thời các thủ lãnh, dân Israel phải đối mặt với nhiều thách thức: xung đột với các dân ngoại như người Philitinh, sự phân rẽ nội bộ, khủng hoảng lãnh đạo và đời sống tôn giáo sa sút. Trong bối cảnh đó, dân mong muốn có một vị vua như các dân tộc khác. Sự xuất hiện của Samuel đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử dân Chúa. Là người gắn kết giữa thời các thủ lãnh và thời các vua, ông vừa là ngôn sứ, vừa là vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân.

Sách mang nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, dù dân Israel có vua trần thế, sách Samuel khẳng định rằng Thiên Chúa mới là Vua tối cao. Các vị vua phải hành xử như người đại diện, không thể tự ý hành động trái với thánh ý Chúa. Thứ hai, câu chuyện Samuel, Saul và Đavít đều là những ví dụ về sự tuyển chọn theo ý Thiên Chúa, chứ không theo tiêu chuẩn của loài người. Đavít được chọn không vì vẻ bề ngoài, nhưng vì “Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 16,7).

 

15

01/05

X

Thứ Hai

1V 21,1-16 / Mt 5,38-42

16

02

X

Thứ Ba

1V 21,17-29 / Mt 5,43-48

17

03

X

Thứ Tư

2V 2,1.6-14 / Mt 6,1-6.16-18

18

04

X

Thứ Năm

 Hc 48,1-14 / Mt 6,7-15

   19

05

X

Thứ Sáu

2V 11,1-4.9-18.20 / Mt 6,19-23

Thánh Rômualđô, Viện phụ (Tr)

20

06

X

Thứ Bảy

2Sb 24,17-25 / Mt 6,24-34

21

07

X

CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN

Gr 20,10-13 / Rm 5,12-15 / Mt 10,26-33

Thánh Vịnh Tuần IV

Phiên Chầu lượt: Kiên Lương, Tân Thuận (O1), An Châu, Đất Hứa, Hoà Giang, Châu Long (F1), Thánh Tâm (3A), Hiếu Thuận, Cái Đôi

 

TUẦN 30 - DẪN NHẬP SÁCH SAMUEL QUYỂN 2 (2Sm)

H. Sách 2 Samuel thuật lại nội dung gì?

T. Sách Samuel quyển 2 trình bày Đavít như nhân vật chính của tác phẩm, kèm những chiến công lẫy lừng cũng như sự phạm tội và sự sám hối của ông.

CHIA SẺ

Sách Samuel quyển 2 tập trung vào triều đại của Đavít, vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử Israel. Sau cái chết của Saul, Đavít chính thức được xức dầu làm vua, trước tiên cai trị Giuđa rồi toàn thể Israel. Vị vua trẻ tuổi, từng bị truy sát, nay trở thành người thống nhất vương quốc và mở rộng lãnh thổ. Dưới thời Đavít, Israel từ một dân tộc nhỏ bé trở thành một quốc gia hùng mạnh và có tổ chức.

Tuy nhiên, cuộc đời của Đavít không chỉ là vinh quang. Sách cũng ghi lại những lầm lỗi lớn lao của ông - đặc biệt là tội ngoại tình với bà Bátsava dẫn đến việc giết chồng bà. Nhưng chính ở đó, hình ảnh một Đavít biết ăn năn, khiêm nhường và phó thác lại hiện lên sâu sắc.

Sách Samuel quyển 2 mang nhiều ý nghĩa quan trong. Thứ nhất, dù Đavít là vua, nhưng chính Thiên Chúa mới là Đấng hướng dẫn và quyết định số phận quốc gia. Chính Ngài chọn, xức dầu, ban chiến thắng và cũng chính Ngài sửa phạt khi Đavít lầm lỗi. Thứ hai, Thiên Chúa hứa sẽ thiết lập vương quyền của Đavít vững bền mãi mãi (x. 2 Sm 7). Đây là nền tảng cho niềm hy vọng Mêsia trong truyền thống Do Thái và Kitô giáo. Đối với người Kitô hữu, Đức Giêsu chính là hậu duệ của Đavít, Đấng Mêsia được hứa ban. Thứ ba, sách không giấu giếm tội lỗi của Đavít, nhưng nhấn mạnh sự khiêm nhường và ăn năn của ông. Thiên Chúa không chọn người hoàn hảo, mà chọn người biết sám hối quay về với Ngài.

 

22

08

X

Thứ Hai

2V 17, 5-8.13-15a.18 / Mt 7,1-5

Thánh Paulinô, Giám mục Nôla (Tr) - Thánh Gioan Fischer, Giám mục và thánh Tôma More, Tử đạo (Đ)

23

09

X

Thứ Ba

 2V 19,9b-11.14-21.31-35a.36 / Mt 7,6.12-14

Chiều: Lễ Vọng Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Tr)

Gr 1,4-10 / 1Pr 1,8-12 / Lc 1,5-17

 

24

10

Tr

Thứ Tư

Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả - Lễ trọng

Is 49,1-6 / Cv 13,22-26 / Lc 1,57-66.80

Thánh Vịnh Riêng

25

11

X

Thứ Năm

2V 24,8-17 / Mt 7,21-29

26

12

X

Thứ Sáu

2V 25,1-12 / Mt 8,1-4

27

13

X

Thứ Bảy

 

 

 

Ac 2,2.10-14.18-19 / Mt 8,5-17

Thánh Cyrillô Alexandria, Giám mục

Tiến sĩ Hội Thánh (Tr)

28

14

X

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

2V 4,8-11.14-16a / Rm 6,3-4.8-11 /

Mt 10,37-42

Thánh Vịnh Tuần I

Phiên Chầu lượt: Ngọc Thạch, Hiếu Sơn (H2), Vĩnh Trinh

 

TUẦN 31 - DẪN NHẬP SÁCH CÁC VUA QUYỂN 1 (1V)

H. Nội dung chính của sách Các Vua quyển 1 là gì?

T. Sách mô tả triều đại của vua Salômôn, đặc biệt là việc ông xây dựng Đền Thờ Giêrusalem và việc vương quốc bị chia đôi, mở đầu một giai đoạn suy tàn cả về chính trị lẫn đạo đức.

CHIA SẺ

Sách Các Vua quyển 1 là phần đầu của bộ sách Các Vua, tiếp nối câu chuyện của dân Israel được dòng dõi vua Đavít cai trị. Phần lớn các học giả hiện đại cho rằng đây là tác phẩm của một hoặc nhiều người, được viết vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 TCN. Tác phẩm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống Đệ Nhị Luật, nhấn mạnh đến nguyên tắc: trung thành với Giao ước thì được chúc lành, bất trung thì bị loại trừ.

Sách 1V bắt đầu với những năm cuối đời của vua Đavít và ghi lại sự kế vị của Salômôn. Tiếp đến, sách mô tả triều đại của vua Salômôn, đặc biệt là việc ông xây dựng đền thờ Giêrusalem. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, vương quốc bị chia đôi, thành vương quốc Israel phía Bắc và vương quốc Giuđa phía Nam, mở đầu một giai đoạn suy tàn cả về chính trị lẫn đạo đức.

Cuốn sách không chỉ ghi lại các sự kiện lịch sử, mà còn mang ý nghĩa thần học sâu sắc: nhấn mạnh đến lòng trung tín với Thiên Chúa, cảnh báo về hậu quả của sự bất trung, và khẳng định vai trò của các ngôn sứ - đặc biệt là ngôn sứ Êlia - trong việc kêu gọi hoán cải và giữ lòng trung thành với Giao ước.

 

29

15

Đ

Thứ Hai

Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, Tông đồ

Lễ trọng - Lễ cầu cho giáo dân

Cv 12,1-11 / 2Tm 4,6-8.17-18 / Mt 16,13-19

Thánh Vịnh Riêng

30

16

X

Thứ Ba

Am 3,1-8;4,11-12 / Mt 8,23-27

Các Thánh Tử Đạo Tiên Khởi Thành Rôma (Đ)

 

 

 

THÁNG 07/2026

Ý CẦU NGUYỆN

CẦU CHO VIỆC TÔN TRỌNG SỰ SỐNG CON NGƯỜI

 

Chúng ta hãy cầu nguyện để sự sống con người được tôn trọng và bảo vệ trong mọi giai đoạn, và nhận ra rằng sự sống là một món quà từ Thiên Chúa.

 

01

17/05

X

Thứ Tư

Am 5,14-15. 21-24 / Mt 8,28-34

02

18

X

Thứ Năm đầu tháng

Am 7,10-17 / Mt 9,1-8

03

19

Đ

Thứ Sáu đầu tháng

Thánh Tôma, Tông đồ - Lễ kính

Ep 2,19-22 / Ga 20,24-29

Thánh Vịnh Riêng

04

20

X

Thứ Bảy đầu tháng

Am 9,11-15 / Mt 9,14-17

Thánh Elizabeth nước Bồ Đào Nha (Tr)

05

21

X

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

Dcr 9,9-10 / Rm 8,9.11-13 / Mt 11,25-30

Thánh Vịnh Tuần II

Phiên Chầu lượt: Cồn Trên, Lộ Đức (Kinh Quýt)

 

TUẦN 32 - DẪN NHẬP SÁCH CÁC VUA QUYỂN 2 (2V)

H. Sách Các Vua quyển 2 có ý nghĩa thế nào đối với người Kitô hữu hôm nay?

T. Sách Các Vua quyển 2 là lời mời gọi hoán cải và hy vọng. Sự sụp đổ của hai vương quốc không chỉ là thất bại chính trị, mà là hậu quả thiêng liêng của việc xa lìa Thiên Chúa. Mặc dù dân và vua phản bội, Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với Giao ước đã ký kết với dân.

CHIA SẺ

Sách Các Vua quyển 2 nối tiếp 1V kể về lịch sử của hai vương quốc Israel. Sách mô tả lịch sử song song của hai vương quốc:

+ Vương quốc Israel (miền Bắc): với nhiều vị vua bất chính, thờ ngẫu tượng, dẫn đến sự suy thoái và cuối cùng bị đế quốc Assyria xâm lược và tiêu diệt vào năm 722 TCN.

+ Vương quốc Giuđa (miền Nam): kéo dài lâu hơn với một số vua đạo đức (như Khitkigia và Giôsigia), nhưng cuối cùng cũng không tránh khỏi số phận, bị đế quốc Babylon xâm chiếm và Đền Thờ Giêrusalem bị phá hủy vào năm 587 TCN.

Sách Các Vua quyển 2 không chỉ là một bản tường thuật lịch sử, mà còn là lời mời gọi hoán cải và hy vọng. Sự sụp đổ của hai vương quốc không chỉ là thất bại chính trị, mà là hậu quả thiêng liêng của việc xa lìa Thiên Chúa. Mặc dù dân và vua phản bội, Thiên Chúa không đoạn tuyệt với dân Ngài. Cuối sách, tác giả ghi lại việc vua Giêhôyakin (dòng dõi Đavít) được vua Babylon ân xá - một dấu chỉ nhỏ nhưng đầy hy vọng về lòng trung thành của Thiên Chúa.

 

06

22

X

Thứ Hai

Hs 2,14.15-16.19-20 / Mt 9,18-26

Thánh Maria Gôretti, Trinh nữ, Tử đạo (Đ)

07

23

X

Thứ Ba

Hs 8,4-7.11-13 / Mt 9,32-38

08

24

X

Thứ Tư

Hs 10,1-3.7-8.12 / Mt 10,1-7

09

25

X

Thứ Năm

Hs 11,1.3-4.8-9 / Mt 10,7-15

Thánh Augustinô Zhao Rong, Linh mục

và các bạn, Tử đạo (Đ)

10

26

X

Thứ Sáu

Hs 14,2-10 / Mt 10,16-23

11

27

Tr

Thứ Bảy

Is 6,1-8 / Mt 10,24-33

Thánh Bênêđictô, Viện phụ - Lễ nhớ

12

28

X

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN

Is 55,10-11 / Rm 8,18-23 / Mt 13,1-9

(hoặc Mt 13,1-23)

Thánh Vịnh Tuần III

Phiên Chầu lượt: Thánh Mẫu (F2), Hoà Lợi

 

TUẦN 33 - DẪN NHẬP SÁCH SỬ BIÊN NIÊN QUYỂN 1 (1Sb)

H. Sách Sử Biên Niên quyển 1 được viết nhằm mục đích gì?

T. Sách nhấn mạnh sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử và vai trò của dòng tộc Đavít cũng như việc thờ phượng tại Đền Thờ.

CHIA SẺ

Truyền thống Do Thái cho rằng Ezra là người biên soạn sách Sử Biên Niên. Tác phẩm có thể được hoàn tất vào khoảng 400-350 TCN, sau khi dân Giuđa được phép hồi hương từ Babylon. Tuy dân trở về nhưng không còn vua mà chỉ còn Đền Thờ và giới tư tế. Vì thế, sách tập trung làm nổi bật Đền Thờ, hàng tư tế và vương quyền Đavít. Sách 1 Sb có thể được chia thành hai phần chính: Phần I nói về gia phả từ Ađam đến Đavít (1 Sb 1-9); Phần II kể về triều đại vua Đavít (1 Sb 10-29).

Sách 1 Sb trình bày nhiều khía cạnh quan trọng. Thứ nhất, sách nhấn mạnh rằng Thiên Chúa luôn hành động từ thời Ađam đến thời Đavít, và không bao giờ bỏ rơi dân Ngài. Thứ hai, không như sách Các Vua chú trọng đến chính trị, sách Sử Biên Niên tập trung vào tôn giáo và phụng vụ, xem việc tôn thờ Thiên Chúa nơi Đền Thờ là trọng tâm cho sự tồn tại và phục hồi của dân Chúa. Thứ ba, sách đề cao chức tư tế, việc dâng lễ và các ca đoàn phụng vụ. Niềm tin của cộng đoàn không đặt vào chính trị trần thế, mà vào sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài qua phụng vụ.

 

13

29

X

Thứ Hai

Is 1,10-17 / Mt 10,34-11,1

Thánh Henricô (Tr)

14

01/06

X

Thứ Ba

Is 7,1-9 / Mt 11,20-24

Thánh Camillô Lellis, Linh mục (Tr)

15

02

Tr

Thứ Tư

Is 10,5-7.13-16 / Mt 11,25-27

Thánh Bônaventura, Giám mục

Tiến sĩ Hội Thánh - Lễ nhớ

16

03

X

Thứ Năm

Is 26,7-9.12.16-19 / Mt 11, 28-30

Đức Mẹ núi Carmêlô (Tr)

17

04

X

Thứ Sáu

Is 38,1-8.21-22.7-8 / Mt 12,1-8

18

05

X

Thứ Bảy

Mk 2,1-5 / Mt 12,14-21

19

06

X

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN

Kn 12,13.16-19 / Rm 8,26-27 / Mt 13,24-30

(hoặc Mt 13,24-43)

Thánh Vịnh Tuần IV

Phiên Chầu lượt: Chợ Thủ, Bình Giang, Minh Châu

 

TUẦN 34 - DẪN NHẬP SÁCH SỬ BIÊN NIÊN QUYỂN 2 (2Sb)

H. Ảnh hưởng của sách Sử Biên Niên quyển 2 đối với người tín hữu ngày nay như thế nào?

T. Sách Sử Biên Niên quyển 2 là một lời mời gọi người tín hữu trở về với cội nguồn đức tin, với Đền Thờ thiêng liêng và với đời sống thờ phượng đích thực.

 

CHIA SẺ

Sách 2 Sb là phần tiếp theo của 1 Sb. Mục tiêu mà sách hướng tới là:

+ Xây dựng lại căn tính tôn giáo của dân tộc Do Thái sau thời lưu đày.

+ Nhấn mạnh vai trò Đền Thờ Giêrusalem, hàng tư tế và việc phụng tự đúng đắn.

+ Tôn vinh dòng dõi Đavít được Thiên Chúa tuyển chọn.

+ Đưa ra những bài học luân lý theo nguyên tắc rõ ràng: ai trung thành thì được chúc lành, ai bất trung thì bị trừng phạt.

Ngày nay, sách 2 Sb là một lời mời gọi người tín hữu trở về với cội nguồn đức tin, với Đền Thờ thiêng liêng và với đời sống thờ phượng đích thực. Trong thời đại khi nhiều người dễ đánh mất căn tính Kitô hữu, sách này gợi lên tầm quan trọng của việc trung thành với Thiên Chúa, gắn bó với cộng đoàn đức tin và biết nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa ngay trong các biến cố lịch sử.

 

20

07

X

Thứ Hai

Mk 6,1-4.6-8 /Mt 12,38-42

Thánh Apôllinarê, Giám mục, Tử đạo (Đ

21

08

X

Thứ Ba

Mk 7,14-15.18-20 / Mt 12,46-50

Thánh Laurensô Brinđisi, Linh mục

Tiến sĩ Hội Thánh (Tr)

22

09

Tr

Thứ Tư

Thánh Maria Mađalêna - Lễ kính

Dc 3,1-4a (hoặc 2Cr 5,14-17)

Ga 20,1.11-18

Thánh Vịnh Riêng

 

23

10

X

Thứ Năm

Gr 2,1-3.7-8.12-13 / Mt 13,10-17

Thánh Birgitta, Nữ tu (Tr)

24

11

X

Thứ Sáu

Gr 3,14-17 / Mt 13,18-23

Thánh Serbêliô Makhluf, Linh mục (Tr)

25

12

Đ

Thứ Bảy

Thánh Giacôbê, Tông đồ - Lễ kính

2Cr 4,7-15 / Mt 20,20-28

Thánh Vịnh Riêng

26

13

X

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

1V 3,5.7-12 / Rm 8,28-30 / Mt 13,44-46

(hoặc Mt 13,44-52)

Thánh Vịnh Tuần I

Được Kính trọng thể Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng và Thánh Phêrô Ðoàn Công Quý chịu xử trảm năm 1859 tại Châu Đốc (Đ)

2Mcb 7,1.20-23.27b-29 (hoặc Kn 3,1-9)

1Cr 1,17-25 / Lc 9,23-26

Bổn mạng:

- HĐMV Giáo xứ Giáo phận Long Xuyên

- Liên đoàn TNTT Giáo phận Long Xuyên

Phiên Chầu lượt: Gh. Thánh Tâm (F2), Vinh Sơn (A2), Kim An

 

TUẦN 35 - DẪN NHẬP SÁCH EZRA (Er)

H. Đâu là những chủ đề chính của sách Ezra?

T. Những chủ đề chính của sách là: 1/ Lòng trung thành của Thiên Chúa; 2/ Tầm quan trọng của Lề Luật; 3/ Đền Thờ và phụng tự; 4/ Thanh luyện đức tin.

 

CHIA SẺ

Truyền thống Do Thái và Kitô giáo cho rằng kinh sư Ezra là người đã biên soạn hoặc góp phần lớn trong việc biên soạn sách Ezra. Sách được biên soạn sau thời lưu đày Babylon (587-538 TCN), khi dân Do Thái trở về quê hương tái thiết đời sống tôn giáo và xã hội dưới quyền của đế quốc Ba Tư.

Sách gồm 10 chương, chia làm hai phần chính: Phần I: Hồi hương và xây lại Đền Thờ (ch. 1-6); Phần II: Sứ mạng của tư tế Ezra (ch. 7-10). Chủ đề của sách Ezra là:

1/ Lòng trung thành của Thiên Chúa: dù dân phản bội, Thiên Chúa không bỏ rơi họ, nhưng dẫn đưa họ trở về.

2/ Tầm quan trọng của Lề Luật: Lề Luật không chỉ là một bộ quy tắc, mà là căn tính sống còn của dân Thiên Chúa.

3/ Đền Thờ và phụng tự: Đền Thờ là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện giữa dân. Việc xây lại Đền Thờ là dấu chỉ sự phục hồi tương quan Giao ước với Thiên Chúa.

4/ Thanh luyện đức tin: Ezra nhấn mạnh lối sống tách biệt với dân ngoại, không phải vì lý do chủng tộc, nhưng để bảo vệ sự trong sáng của đức tin và nhằm thanh luyện đức tin.

 

 

  27

14

X

Thứ Hai

Gr 13,1-11 / Mt 13,31-35

28

15

X

Thứ Ba

Gr 14,17-22 / Mt 13,36-43

29

16

Tr

Thứ Tư

Thánh Mácta, Maria và Ladarô - Lễ nhớ

Gr 15,10.16-21 / Mt 13,44-46 (hoặc lễ về ba thánh 1Ga 4,7-16 / Ga 11,19-27 (hoặc Lc 10,38-42))

30

17

X

Thứ Năm

Gr 18,1-6 / Mt 13,47-53

Thánh Phêrô Kim ngôn, Giám mục

Tiến sĩ Hội Thánh (Tr)

31

18

 

Thứ Sáu

Thánh Ignatiô Loyôla, Linh mục - Lễ nhớ (Tr)

Gr 26,1-9 / Mt 13,54-58

Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng và Thánh Phêrô Ðoàn Công Quý chịu xử trảm năm 1859 tại Châu Đốc (Đ)

2Mcb 7,1.20-23.27b-29 (hoặc Kn 3,1-9)

1Cr 1,17-25 / Lc 9,23-26

Bổn mạng:

- HĐMV Giáo xứ Giáo phận Long Xuyên

- Liên đoàn TNTT Giáo phận Long Xuyên

 

THÁNG 08/2026

Ý CẦU NGUYỆN

CẦU CHO VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG

TRONG CÁC THÀNH PHỐ

 

Chúng ta hãy cầu nguyện để tại các thành phố lớn, nơi thường bị bao trùm bởi sự vô danh và cô đơn, chúng ta có thể tìm ra những cách thức mới để loan báo Tin Mừng, khám phá những con đường sáng tạo để xây dựng cộng đoàn.

 

01

19/06

Tr

Thứ Bảy đầu tháng

Thánh Anphongsô Maria Liguori

Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh - Lễ nhớ

Gr 26,11-16.24 / Mt 14,1-12

02

20

X

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

 Is 55,1-3 / Rm 8,35.37-39 / Mt 14,13-21

Thánh Vịnh Tuần II

Phiên Chầu lượt: Đaminh (K10), Quý Phụng (Rọc Lá)

 

TUẦN 36 - DẪN NHẬP SÁCH NƠKHEMIA (Nkm)

H. Đâu là mối liên hệ giữa Ezra và Nơkhemia?

T. Ezra và Nơkhemia là hai giai đoạn của một công cuộc phục hưng: Ezra canh tân đời sống phụng tự và đạo đức dựa trên Lề Luật; Nơkhemia tái thiết cơ sở hạ tầng, tổ chức xã hội và cải cách chính trị - tôn giáo.

CHIA SẺ

Sách Nơkhemia thuộc nhóm sách lịch sử trong Cựu ước. Tác giả chính được cho là Nơkhemia, viên quan phục vụ dưới triều vua Ba Tư. Toàn bộ sách có thể được chỉnh sửa và biên soạn sau này vào khoảng thế kỷ 5 - 4 TCN, do một sử gia hoặc tư tế chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống Đền thờ và Lề luật.

Sau khi dân Do Thái được vua Cyrus người Ba Tư cho phép hồi hương (538 TCN), họ phải đối mặt với nhiều khó khăn: đất đai bị tàn phá, Đền Thờ bị hủy, xã hội tan rã, và nguy cơ bị đồng hóa với các dân ngoại. Trong bối cảnh đó, Ezra đóng vai trò tôn giáo, khôi phục Lề Luật Môsê; còn Nơkhemia, với tư cách là tổng trấn Giuđa, lãnh đạo công cuộc xây lại tường thành Giêrusalem và tổ chức lại đời sống xã hội, hành chính và đạo đức của cộng đoàn.

Như thế, Ezra và Nơkhemia là hai giai đoạn của một công cuộc phục hưng:

+ Ezra canh tân đời sống phụng tự và đạo đức dựa trên Lề Luật.

+ Nơkhemia tái thiết cơ sở hạ tầng, tổ chức xã hội và cải cách chính trị-tôn giáo

Các chủ đề chính của sách Nơkhemia là: 1/Trung thành với Giao Ước và Lề Luật; 2/ Đức tin giữa thế tục và đe dọa của ngoại giáo; 3/ Thiên Chúa luôn đồng hành trong lịch sử; 4/ Sám hối và hoán cải cộng đoàn.

 

03

21

X

Thứ Hai

Gr 28,1-17 / Mt 14,13-21

04

22

Tr

Thứ Ba

Gr 30,1-2.12-15.18-22 / Mt 14,22-36

Thánh Gioan Maria Vianney, Linh mục

Lễ Nhớ (Bổn mạng các linh mục)

05

23

X

Thứ Tư

Gr 31,1-7 / Mt 15,21-28

Lễ Cung hiến thánh đường Đức Bà Cả (Tr)

06

24

Tr

Thứ Năm đầu tháng

Lễ Kính Chúa Giêsu Hiển Dung

Đn 7,9-10.13-14 / 2Pr 1,16-19 / Mt 17,1-9

Thánh Vịnh Riêng

07

25

X

Thứ Sáu đầu tháng

Nk 1,15;2,2;3,1-3.67 / Mt 16,24-28

Thánh Xystô II, Giáo hoàng và Các Bạn Tử đạo (Đ) - Thánh Gajêtanô, Linh mục (Tr)

 

08

26

Tr

Thứ Bảy đầu tháng

Thánh Đa Minh, Linh mục - Lễ nhớ

Kb 1,12-2,4 / Mt 17,14-19 (hoặc lễ về thánh nhân: Kn 7,7-10 hay 1Cr2,1-10a; Lc9,57-62)

09

27

  X

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

1V 19,9a.11-13a / Rm 9,1-5 / Mt 14,22-33 

Thánh Vịnh Tuần III

Phiên Chầu lượt: Thanh Hải (D2), Phú Vĩnh, Trinh Vương (Bờ Bao), Mỹ Thạnh

 

TUẦN 37 - DẪN NHẬP SÁCH TÔBIA (Tb)

H. Sách Tôbia dạy điều gì?

T. Sách Tôbia dạy về lòng hiếu thảo, về niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, về mẫu mực tình yêu trong hôn nhân và về sự khích lệ người tín hữu sống đạo giữa xã hội không tin Chúa.

CHIA SẺ

Sách Tôbia kể về một gia đình đạo đức sống thời lưu đày bên Assyria (khoảng thế kỷ 8-7 TCN). Tôbia, một người Do Thái sùng đạo và giàu có, sống giữa những người từ Israel bị lưu đày đến Ninivê. Ông đã phải chịu đựng những tổn thương nghiêm trọng và cuối cùng bị mù. Vì những bất hạnh của mình, ông cầu xin Chúa cho ông chết. Nhưng nhớ lại số tiền lớn mà ông đã gửi trước đó ở xứ Mêđi xa xôi, ông sai con trai mình là Tôbia đến đó để mang tiền về.

Tại xứ Mêđi, cùng thời điểm này, có một phụ nữ trẻ tên là Sara, cũng cầu xin được chết, vì cô đã mất bảy người chồng, mỗi người đều bị ác quỷ Átmôđaiô giết vào đêm tân hôn. Chúa đã nghe lời cầu nguyện của Tôbia và Sara nên sai thiên thần Raphael dưới hình dạng con người đến giúp đỡ họ.

Sách Tôbia mang lại nhiều giáo huấn quý giá cho đời sống cá nhân và gia đình: Lòng hiếu thảo và vâng lời của con cái đối với cha mẹ; niềm tin vào sự can thiệp và quan phòng của Thiên Chúa trong các biến cố đời thường; mẫu mực về tình yêu hôn nhân: thánh thiện, bền vững và được Thiên Chúa chúc lành; khích lệ người tín hữu sống đạo giữa xã hội ngoại giáo.

 

10

28

Đ

Thứ Hai

Thánh Lôrensô, Phó tế, Tử đạo - Lễ kính

2Cr 9,6-10 / Ga 12,24-26

Thánh Vịnh Riêng

11

29

Tr

Thứ Ba

Thánh Clara, Trinh nữ - Lễ nhớ

Ed 2,8-3,4 / Mt 18,1-5.10.12-14 

12

30

X

Thứ Tư

Ed 9,1-7;10,18-22 / Mt 18,15-20

Thánh Joanna Phanxica Chantal, Nữ tu (Tr)

13

01/07

X

Thứ Năm

Ed 12,1-12 / Mt 18,21-19,1

Thánh Pontianô, Giáo hoàng, Tử đạo

và Thánh Hippôlytô, Linh mục, Tử đạo (Đ

14

02

Đ

Thứ Sáu

Thánh Maximilianô Kolbê

Linh mục, Tử đạo - Lễ nhớ

Ed 16,1-15.60.63 / Mt 19,3-12

Chiều: Lễ Vọng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Tr)

1Sb 15,3-4.15-16;16,1-2 / 1Cr 15,54-57

Lc 11,27- 28

 

15

03

Tr

Thứ Bảy

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

Lễ trọng - Lễ cầu cho giáo dân

Cung Hiến Nhà Thờ Chánh Tòa Long Xuyên (15/08/1973)

Kh 11,19a;12,1-6a.10ab / 1Cr 15,20-26

Lc 1,39-56

Thánh Vịnh Riêng

16

04

X

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN

Is 56,1.6-7 / Rm 11,13-15.29-32 / Mt 15,21-28

Thánh Vịnh Tuần IV

Quyên góp quỹ Đồng Tiền Thánh Phêrô

Quỹ “Đồng Tiền Thánh Phêrô” là nguồn trợ giúp tài chính của các tín hữu cho Đức Thánh Cha, như dấu chỉ chia sẻ sự quan tâm của người kế vị Thánh Phêrô đối với nhiều nhu cầu của Giáo Hội hoàn vũ và các hoạt động bác ái giúp đỡ người thiếu thốn.

Phiên Chầu lượt: Chợ Mới, Kim Long (D2), Ong Dèo, Hiệp Hòa (O2), Mông Triệu (2A), Thánh Tâm (B2), Châu Thái (F1), La Vang (An Thạnh), Chi Lăng

 

TUẦN 38 - DẪN NHẬP SÁCH GIUĐITHA (Gđt)

H. Sách Giuđitha nhấn mạnh điều gì?

T. Sách Giuđitha nhấn mạnh sự quan phòng của Thiên Chúa, niềm tin vững vàng trước thử thách, vai trò của phụ nữ trong lịch sử cứu độ và tầm quan trọng của việc cầu nguyện và ăn chay.

CHIA SẺ

Không ai biết rõ tác giả sách Giuđitha là ai. Người ta chỉ biết rằng sách ban đầu được viết bằng tiếng Do Thái hoặc tiếng Aram, và sau đó được dịch sang Hy Lạp (LXX). Sách có thể được biên soạn vào khoảng thế kỷ 2 TCN, trong thời dân Do Thái đang chịu áp bức bởi các đế quốc ngoại bang (đặc biệt là Hy Lạp, thời vua Antiôkhô Epiphan).

Sách Giuđitha mô tả việc Vua Nabucôđônôsor nổi giận vì các dân tộc không tham gia chiến dịch của ông. Ông sai tướng Hôlôphécnê đem đại quân đi chinh phục và hủy diệt các dân phản kháng, trong đó có Israel. Giuđitha là một góa phụ đạo đức, trẻ đẹp và sống tiết hạnh. Sau khi ăn chay và khấn nguyện, bà hóa trang đẹp đẽ và cùng người đầy tớ đi vào doanh trại của địch. Trong lúc Hôlôphécnê say rượu và ngủ mê, Giuđitha đã dùng gươm của ông chém đầu ông. Dân Israel vui mừng, dâng lời tạ ơn Thiên Chúa.

Sách Giuđitha không phải là một sách truyện có tính cách lịch sử. Điều tác giả muốn trình bày qua câu chuyện này là những ai tin vào Thiên Chúa thì sẽ được Người ban sức mạnh, vì Người luôn thành tín. Chính Người mới làm chủ lịch sử. Các chủ đề quan trọng của sách là: sự quan phòng của Thiên Chúa, niềm tin vững vàng trước thử thách, vai trò của phụ nữ trong lịch sử cứu độ, vai trò của lời cầu nguyện và ăn chay.

 

17

05

X

Thứ Hai

Ed 24,15-24 / Mt 19,16-22

18

06

X

Thứ Ba

Ed 28,1-10 / Mt 19,23-30

19

07

X

Thứ Tư

Ed 34,1-11 / Mt 20,1-16a

Thánh Gioan Êuđê, Linh mục (Tr)

20

08

Tr

Thứ Năm

Thánh Bernarđô Viện Phụ

Tiến Sĩ Hội Thánh – Lễ Nhớ

Ed 36,23-28 / Mt 22,1-14

21

09

Tr

Thứ Sáu

Thánh Piô X, Giáo hoàng - Lễ nhớ

Ed 37,1-14 / Mt 22,34-40

22

10

Tr

Thứ Bảy

Đức Maria Trinh Nữ Vương - Lễ nhớ

Ed 43,1-7a / Mt 23,1-12

[hoặc lễ về Đức Maria: Is 9,2-4.6-7

Lc 1,26-38 (hoặc Lc 1,39-47)]

23

11

X

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

Is 22,19-23 / Rm 11,33-36 / Mt 16,13-20

Thánh Vịnh Tuần I

Phiên Chầu lượt: Rạch Đùng, Xẻo Dầu, Ninh Cù (Rivera), Trinh Vương (B1)

 

TUẦN 39 - DẪN NHẬP SÁCH ESTER (Et)

H. Sách Ester khích lệ điều gì cho người Kitô hữu hôm nay?

T. Sách Ester khích lệ can đảm sống đức tin, ngay cả trong môi trường ngoại giáo hoặc bị bách hại, không buông xuôi trước nghịch cảnh nhưng biết kiên trì cầu nguyện và tin tưởng vào sự giải thoát của Thiên Chúa.

CHIA SẺ

Bối cảnh của sách Ester diễn ra tại Ba Tư, thời vua Asuêrô. Nội dung câu chuyện xoay quanh cuộc xung đột giữa hai thế lực: Haman, tể tướng kiêu căng, muốn diệt trừ toàn dân Do Thái vì lòng thù ghét Mócđokhai, người Do Thái; Ester, một cô gái Do Thái trẻ đẹp, được chọn làm hoàng hậu, ẩn giấu thân phận, nhưng sau nhờ lời thúc giục của chú mình là Mócđokhai, đã can đảm đứng ra bảo vệ dân tộc, liều mình để thỉnh cầu trước vua. Tại một bữa tiệc, Ester vạch trần âm mưu của Haman. Vua nổi giận và xử tử Haman trên chính chiếc cột mà ông chuẩn bị để treo Mócđokhai.

Các chủ đề nổi bật của sách Ester: 1/ Sự quan phòng của Thiên Chúa: Thiên Chúa luôn âm thầm hiện diện, sắp xếp mọi sự để giải thoát dân Người. 2/ Vai trò của cá nhân trong kế hoạch của Chúa: Ester là hình mẫu người tín hữu dám đứng lên vì công lý, biết kết hợp cầu nguyện với hành động. 3/ Tầm quan trọng của chay tịnh và cầu nguyện: Ester không hành động vội vàng, mà cùng cộng đoàn ăn chay và cầu nguyện ba ngày, biểu lộ đức tin sâu xa vào Thiên Chúa.

Sách Ester khích lệ can đảm sống đức tin, ngay cả trong môi trường ngoại giáo hoặc bách hại. Cổ vũ phụ nữ sống đức hạnh, khôn ngoan, mạnh mẽ trong vai trò của mình. Là mẫu mực về việc kết hợp giữa cầu nguyện và hành động, không buông xuôi trước nghịch cảnh.

 

24

12

Đ

Thứ Hai

Thánh Barthôlômêô, Tông đồ - Lễ Kính

Kh 21,9b-14 / Ga 1,45-51

25

13

X

Thứ Ba

2Tx 2,1-3a.13-16 / Mt 23,23-26

Thánh Luy (Tr) - Thánh Giuse Calasanz Linh mục (Tr)

26

14

X

Thứ Tư

2Tx 3,6-10.16-18 / Mt 23,27-32

27

15

Tr

Thứ Năm

Thánh Mônica - Lễ Nhớ

Bổn mạng giới Hiền mẫu

1Cr 1,1-9 / Mt 24,42-51 (hoặc lễ về thánh nhân Hc 26,1-4.13-16; Lc 7,11-17)

 

28

16

Tr

Thứ Sáu

Thánh Augustinô, Giám mục

Tiến sĩ Hội Thánh - Lễ nhớ

1Cr 1, 17-25 / Mt 25, 1-13 (hoặc lễ về thánh nhân 1Ga 4,7-16; Mt 23,8-12)

29

17

Đ

Thứ Bảy

Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết

Lễ nhớ

1Cr 1,26-31 / Mt 25,14-30

(hoặc lễ về Thánh Gioan: Gr 1,17-19 / Mc 6,17-29)

30

  18

X

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN

Gr 20,7-9 / Rm 12,1-2 / Mt 16,21-27

Thánh Vịnh Tuần II

Phiên Chầu lượt: Cái Dầu, Tân Hoá, Gh. Thiên Ân, Gh. Kiên Bình

 

TUẦN 40 - DẪN NHẬP SÁCH MACABÊ QUYỂN 1 (1 Mcb)

H. Sách Macabê quyển thứ nhất mang những ý nghĩa gì?

T. Sách 1 Mcb là lời mời gọi trung thành với niềm tin vào Thiên Chúa, là nền tảng cho đạo lý tử đạo và hy vọng vào sự sống đời sau, và là biểu tượng chiến thắng của đức tin trước bạo lực và đàn áp.

CHIA SẺ

Không ai biết rõ tác giả sách 1Mcb là ai. Sách được viết bằng tiếng Hípri, nhưng bản hiện còn tồn tại là bản Hy Lạp. Thời gian biên soạn là khoảng 100 TCN.

Chuyện kể về vua Antiôkhô Epiphan IV (175-164 TCN) muốn đồng hóa dân Do Thái bằng cách áp đặt văn hóa Hy Lạp và cấm người Do Thái giữ luật của họ. Ông xúc phạm Đền Thờ, thiết lập bàn thờ để thờ thần ngoại, cấm cắt bì, cấm giữ ngày Sabát… Từ đó dẫn đến cuộc nổi dậy của gia đình Mátthia và các con ông, được gọi là nhà Macabê.

Dù mang màu sắc chiến tranh, nhưng chiều sâu của sách 1 Mcb vẫn tập trung vào ơn cứu độ, sự thánh thiện, và lòng trung thành với Giao ước. Tác giả mời gọi sự trung thành với niềm tin nơi Thiên Chúa dù sống trong nghịch cảnh. Sách là nền tảng cho đạo lý tử đạo và hy vọng vào sự sống đời sau.

 

31

19

X

Thứ Hai

1Cr 2,1-5 / Lc 4,16-30

 

 

 

THÁNG 09/2026

Ý CẦU NGUYỆN

CẦU CHO VIỆC CHĂM SÓC NGUỒN NƯỚC

 

Chúng ta hãy cầu nguyện để có một sự quản lý nguồn nước công bằng và bền vững, vì đây là một tài nguyên thiết yếu, để mọi người đều có quyền tiếp cận bình đẳng với nguồn nước.

 

01

20/07

X

Thứ Ba

1Cr 2,10b-16 / Lc 4,31-37

02

21

X

Thứ Tư

1Cr 3,1-9 / Lc 4,38-44

Ngày Quốc Khánh - Cầu cho Tổ quốc

03

22

Tr

Thứ Năm đầu tháng

Thánh Grêgôriô Cả, Giáo hoàng

Tiến sĩ Hội Thánh - Lễ Nhớ

1Cr 3,18-23 / Lc 5,1-11

04

23

X

Thứ Sáu đầu tháng

1Cr 4,1-5 / Lc 5,33-39

05

 

24

X

Thứ Bảy đầu tháng

1Cr 4,9-15 / Lc 6,1-5

Thánh Têrêsa Calcutta, Nữ Tu (Tr)

06

25

X

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

Ed 33,7-9 / Rm 13,8-10 / Mt 18,15-20

Thánh Vịnh Tuần III

Phiên Chầu lượt: Định Mỹ, An Tiến (1A)

 

TUẦN 41 - DẪN NHẬP SÁCH MACABÊ QUYỂN 2 (2 Mcb)

H. Đâu là điểm đặc biệt của sách Macabê quyển thứ hai?

T. Sách nhấn mạnh lòng trung thành với lề luật và phần thưởng Chúa dành cho những vị tử đạo, những người đã chết vì niềm tin vào Thiên Chúa.

CHIA SẺ

Sách không phải là phần tiếp theo của 1Mcb về mặt thời gian. Tác giả là một người Do Thái vô danh sống tại Alexandria, Ai Cập. Sách được viết bằng ngôn ngữ Hy Lạp, vào khoảng 124 - 100 TCN.

Không giống sách 1 Mcb với văn phong lịch sử chính trị, sách 2 Mcb mang đậm nét suy tư thần học, chú trọng đến việc tôn vinh Đền Thờ Giêrusalem, ca ngợi việc tuân giữ Lề Luật, đề cao lòng đạo đức, sự ăn chay, cầu nguyện, và đức tin vào sự sống lại. Sách nhấn mạnh rằng những đau khổ dân Do Thái chịu đựng không bao giờ vô nghĩa, mà là phương tiện để thanh luyện và biểu hiện lòng trung tín của họ với Thiên Chúa.

Sách khích lệ lòng trung thành với đức tin, ngay cả khi bị bách hại. Sách cổ vũ sự can đảm, tinh thần tử đạo, cầu nguyện và liên đới với cộng đoàn.

 

07

26

X

Thứ Hai

1Cr 5,1-8 / Lc 6,6-11

08

27

Tr

Thứ Ba

Sinh Nhật Đức Mẹ- Lễ Kính

Mk 5,2-5a (hoặc Rm 8,28-30)

Mt 1,1-16.18-23 (hoặc Mt 1,18-23)

09

28

X

Thứ Tư

1Cr 7,25-31 / Lc 6,20-26

Thánh Phêrô Claver, Linh mục (Tr)

10

29

X

Thứ Năm

1Cr 8,1b-7.11-13 / Lc 6,27-38

11

01/08

X

Thứ Sáu

1Cr 9,16-19.22b-27 / Lc 6,39-42

12

02

X

Thứ Bảy

1Cr 10,14-22a / Lc 6,43-49

Danh thánh Đức Maria (Tr)

13

03

X

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

Hc 27,33-28,9 / Rm 14,7-9 / Mt 18,21-35

Thánh Vịnh Tuần IV

Phiên Chầu lượt: Rạch Sỏi, Hòn Chông, Đồng Công (F2)

 

TUẦN 42 – DẪN NHẬP VĂN CHƯƠNG KHÔN NGOAN (Kn)

H. Theo Kinh Thánh, làm thế nào để có được sự Khôn Ngoan đích thực? 

T. Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi sự khôn ngoan. Đức khôn ngoan không thể đạt được bằng trí tuệ loài người mà bằng lòng yêu mến chân lý, tuân giữ giới răn Chúa và khao khát cầu xin.

CHIA SẺ

Văn Chương Khôn Ngoan gồm bảy sách: Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan và Huấn Ca. Các sách này được hình thành từ thế kỷ 10 - thế kỷ 2 TCN, và phần lớn được cho là do vua Salômôn biên soạn.

Văn chương khôn ngoan (hay minh triết) là những áng văn diễn tả sự tìm kiếm chân lý, hạnh phúc, và cách sống khôn ngoan trong cuộc đời con người. Đó không phải là triết lý trừu tượng, mà là minh triết phát xuất từ kinh nghiệm sống dưới ánh sáng đức tin. Văn chương khôn ngoan thường xoay quanh những câu hỏi thiết yếu của kiếp người: Làm sao để sống tốt, sống đúng? Tại sao người công chính gặp đau khổ, còn kẻ gian ác lại thịnh vượng? Con người có thể hiểu đường lối Thiên Chúa không…?

Chủ đề chính của các sách này là “Khôn ngoan” và cách thức để đạt tới sự khôn ngoan. Theo Kinh Thánh, đỉnh cao của khôn ngoan là lòng đạo đức và sự kính sợ Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguồn gốc của khôn ngoan (x. Hc 1,1), là Đấng hành động khôn ngoan (Cn 3,19), chính Ngài ban khôn ngoan cho những ai biết cầu xin (x. Hc 6,37). 

 

14

04

Đ

Thứ Hai

Suy Tôn Thánh Giá - Lễ kính

Ds 21,4-9 (hoặc Pl 2,6-11) / Ga 3,13-17

Thánh Vịnh Riêng

15

05

Tr

Thứ Ba

Đức Mẹ Sầu Bi - Lễ nhớ

1Cr 12,12-14.27-31a / Lc 7,11-17

[hoặc lễ về Đức Mẹ: Dt 5,7-9 / Ga 19,25-27 (hay Lc 2,33-35)]

16

06

Đ

Thứ Tư

Thánh Cornêliô, Giáo hoàng, và Thánh Cyprianô, Giám mục, Tử Đạo - Lễ nhớ 1Cr 12,31-13,13 / Lc 7,31-35

17

07

X

Thứ Năm

1Cr 15,1-11 / Lc 7,36-50

Thánh Robertô Bellarminô, Giám mục

Tiến sĩ Hội Thánh (Tr)- Thánh Hildegard Von Bingen, Trinh nữ, Tiến Sĩ Hội Thánh (Tr)

18

08

X

Thứ Sáu

1Cr 15,12-20 / Lc 8,1-3

19

09

X

Thứ Bảy

1 Cr 15, 35-37. 42-49 /Lc 8,4-15

Thánh Januariô, Giám mục, Tử đạo (Đ)

20

10

X

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

Is 55,6-9 / Pl 1,20c-24.27a / Mt 20,1-16a

Thánh Vịnh Tuần I

Phiên Chầu lượt: Khánh Bình, Đông Hòa, Bình Sơn

 

 

TUẦN 43 – DẪN NHẬP SÁCH GIÓP (G)

H. Sách Gióp chủ yếu nói về vấn đề gì?

T. Sách Gióp nêu ra vấn nạn tại sao người lành thánh lại phải chịu đau khổ. Tuy vậy, sách không xem đau khổ luôn là hình phạt của tội lỗi, nhưng mời gọi con người tin tưởng vào sự khôn ngoan và quan phòng của Thiên Chúa.

CHIA SẺ

Sách kể về ông Gióp, một người đạo đức chính trực, trải qua rất nhiều thử thách và đau khổ. Dù mất hết tài sản, lâm cảnh bệnh tật, bị người thân ruồng bỏ, nhưng ông vẫn kiên vững niềm tin vào Thiên Chúa: “Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng danh Chúa!”(G 1,21). Các chủ đề chính của sách Gióp:

1/ Tại sao người công chính phải đau khổ?

2/ Thiên Chúa có công bằng không?

3/ Giới hạn của trí tuệ con người trước sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Sách Gióp nêu lên những câu hỏi về nguồn gốc của đau khổ, nhưng không luôn giải thích đau khổ như hình phạt của tội lỗi. Tác giả đòi hỏi sự tin tưởng vào sự khôn ngoan và quan phòng của Thiên Chúa.

Câu trả lời đầy đủ chỉ thấy trong Tin Mừng nơi Đức Kitô, Đấng luôn gần gũi những người đau khổ. Chính Ngài chịu đau khổ và chết ô nhục trên Thập giá. Thập giá Đức Kitô là câu trả lời tối hậu cho những đau khổ của nhân loại.

 

21

11

Đ

Thứ Hai

Mátthêu, Tông đồ

Tác Giả Sách Tin Mừng - Lễ kính

Ep 4,1-7.11-13 / Mt 9,9-13

22

12

X

Thứ Ba

Cn 21,1-6,10-13 / Lc 8,19-21

23

13

Tr

Thứ Tư

Cn 30,5-9 / Lc 9,1-6

Thánh Piô Năm Dấu, Linh mục - Lễ nhớ

24

14

X

Thứ Năm

Gv 1,2-11 / Lc 9,7-9

25

15/8

X

Thứ Sáu

Gv 3,1-11 / Lc 9,18-22

Tết Trung Thu (Tr) - Cầu cho thiếu nhi

Hc 42,15-16;43,1-2.6-10 / Mc 10,13-16

26

16

X

Thứ Bảy

Gv 11,9-12,8 / Lc 9,44b-45

Thánh Cosma và Thánh Đamianô, Tử đạo (Đ)

27

17

X

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

Ed 18,25-28 / hoặc Pl 2,1-5 (hoặc Pl 2,1-11)

Mt 21,28-32

Thánh Vịnh Tuần II

Phiên Chầu lượt: Nhà Têrêsa, Vĩnh Bình, Kinh Xáng, Bò Ót

 

TUẦN 44 - CÁC NHÂN VẬT TRONG SÁCH GIÓP

H. Gióp trong Kinh Thánh là nhân vật như thế nào?

T. Gióp là người ngay chính đạo đức, nhưng do Satan ghen ghét nên xin Chúa cho thử thách ông. Dù phải chịu đau khổ và mất mát, bị người thân bỏ rơi và bạn bè dèm pha, Gióp vẫn kiên vững niềm tin vào Thiên Chúa.

 

CHIA SẺ

Các nhân vật chính trong Sách Gióp đại diện cho nhiều lập trường khác nhau:

1/ Gióp, nhân vật trung tâm, là người giàu có, sống ngay thẳng và đạo đức. Khi bị tước đoạt mọi sự - tài sản, sức khoẻ, cả sự nâng đỡ từ người thân - ông vẫn giữ lòng tin, dù có lúc ông hoài nghi và chất vấn Thiên Chúa. Cuối cùng, ông nhận ra sự hạn hẹp của trí hiểu con người trước kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa.

2/ Satan cho rằng Gióp trung tín chỉ vì ông được phúc lành, và đề nghị Chúa thử thách ông.

3/ Vợ của Gióp phản ánh sự tuyệt vọng của con người trước đau khổ, khi bà khuyên ông từ bỏ Thiên Chúa.

4/ Ba người bạn (Êliphát, Binđát, Xôpha) ban đầu chia sẻ nỗi buồn với Gióp, nhưng dần họ kết án ông. Họ tin rằng đau khổ là hậu quả tất yếu của tội lỗi.

5/ Êlihu, một nhân vật trẻ, xuất hiện để phản bác cả Gióp và ba người bạn kia. Ông đề cao sự công bằng của Thiên Chúa.

6/ Cuối cùng, Thiên Chúa xuất hiện. Ngài không giải thích lý do đau khổ nhưng mặc khải quyền năng và sự khôn ngoan siêu việt của Ngài, đưa Gióp đến sự khiêm tốn và tín thác trọn vẹn.

 

28

18

X

Thứ Hai

G 1,6-22 / Lc 9,46-50

Thánh Venceslaô, Tử đạo (Đ) - Thánh Laurensô Ruiz và Các Bạn Tử đạo (Đ)

29

19

Tr

Thứ Ba

Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, Gabriel và Raphael - Lễ kính

Đn 7, 9-10.13-14 (hoặc Kh 12,7-12) / Ga 1,47-51

30

20

Tr

Thứ Tư

Thánh Giêrônimô, Linh mục

Tiến sĩ Hội Thánh - Lễ nhớ

G 9,1-12.14-16 / Lc 9,57-62

 

 

 

THÁNG 10/2026

 

 “Kinh Mân côi, dù rõ ràng gắn liền với Đức Maria, chủ yếu là một lời kinh lấy Đức Kitô làm trung tâm. Qua vẻ giản dị của các yếu tố, lời kinh có được chiều sâu của toàn bộ sứ điệp Tin Mừng, mà ta có thể gọi là một bản tóm lược. Qua lời kinh ấy vang vọng lại lời kinh của Đức Maria, kinh Magni-ficat ca ngợi việc Nhập thể và cứu chuộc đã khởi sự trong cung lòng trinh khiết của Người. Với Kinh Mân côi, dân Kitô giáo theo học tại ngôi trường của Đức Maria và được dẫn đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp trên dung nhan của Đức Kitô và kinh nghiệm chiều sâu thẳm tình yêu của Người. Qua Kinh Mân côi các tín hữu lãnh nhận vô vàn ơn thiêng, hầu như qua chính đôi tay của Mẹ Đấng Cứu Thế”. (Tông thư Kinh Mân côi Đức Trinh Nữ Maria của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II ngày 16.10.2002, số 1)

Những ai lần chuỗi Mân côi trong nhà thờ, nhà nguyện, hoặc trong gia đình, trong cộng đoàn tu, trong hội đoàn giáo dân, hoặc khi có nhiều người họp nhau nhằm mục đích tốt, thì được hưởng một ơn toàn xá; trong những hoàn cảnh khác, thì được hưởng một ơn xá từng phần[1].(Enchiridion Indulgentiarum, ấn bản 1999, concessio 17, §1, 1°)

 

Ý CẦU NGUYỆN

CẦU CHO MỤC VỤ SỨC KHỎE TINH THẦN

Chúng ta hãy cầu nguyện để mục vụ sức khỏe tinh thần được thiết lập trong toàn thể Giáo hội, giúp vượt qua sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những người mắc bệnh về tinh thần.

 

01

21/08

Tr

Thứ Năm đầu tháng

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Trinh n

Tiến sĩ Hội Thánh - Lễ Kính

Bổn mạng các xứ truyền giáo

Is 66,10-14c / Mt 18,1-4

02

22

Tr

Thứ Sáu đầu tháng

G 38,1.12-21;39,33-35 / Lc 10,13-16

Các Thiên Thần Hộ Thủ - Lễ nhớ

 Xh 23,20-23a / Mt 18,1-5.10

03

23

X

Thứ Bảy đầu tháng

G 42,1-3.5-6.12-16 / Lc 10,17-24

04

24

X

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

Is 5,1-7 / Pl 4,6-9 / Mt 21,33-43

Thánh Vịnh Tuần III

Được kính trọng thể lễ Đức Mẹ Mân Côi (Tr)

St 3,9-15.20 / Rm 5,12.17-19 / Lc 1,26-38

Phiên Chầu lượt: Khiết Tâm (D2), Môi Khôi, An Sơn (E2), Sóc Xoài, Tân Hải (C2), Bình Thái (F1), Thức Hóa (5A), Hiệp Tâm (O2), Mong Thọ, Vàm Cống (CM), Long Bình (G2), Thạnh Hoà (GR), Kitô Vua (1B)

 

TUẦN 45 – NHỮNG CUỘC ĐỐI THOẠI TIÊU BIỂU TRONG SÁCH GIÓP

H. Các đối thoại trong sách Gióp nói lên điều gì?

T. Các đối thoại này nói lên rằng mầu nhiệm đau khổ không thể hiểu thấu bằng lý trí con người. Không phải ai đau khổ cũng là người có tội. Tin tưởng và cầu nguyện với Thiên Chúa giữa đau khổ là thái độ đức tin đúng đắn.

 

CHIA SẺ

Những Cuộc Đối Thoại Tiêu Biểu Trong Sách Gióp:

1/ Gióp và vợ ông

Trong lúc tuyệt vọng, vợ ông thốt lên: “Ông còn giữ lòng liêm chính của mình làm gì? Hãy nguyền rủa Thiên Chúa và chết đi!” Gióp vẫn kiên định: “Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ lại không đón nhận sao?” (2,9-10).

2/ Gióp và ba người bạn

Êliphát cho rằng người đau khổ là do tội lỗi đã phạm. Thiên Chúa không xử phạt vô cớ. Gióp nên thống hối. Binđát thì nghĩ rằng Thiên Chúa công minh. Nếu con cái Gióp chết, chắc chắn vì chúng có tội. Gióp hãy sám hối trở lại với Chúa. Xôpha thì lập luận rằng không ai có thể hiểu sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Gióp hãy im lặng và ăn năn. Về phần Gióp, ông phản bác các luận điệu ấy và khẳng định mình vô tội. Ông đặt câu hỏi về công lý của Thiên Chúa nhưng ông không từ bỏ niềm tin vào Ngài.

3/ Êlihu và Gióp

Êlihu cho rằng Gióp quá tự cao. Thiên Chúa dùng đau khổ để rèn luyện, giáo dục, chứ không chỉ để trừng phạt.

4/ Thiên Chúa và Gióp

Thiên Chúa không giải thích đau khổ của Gióp, nhưng cho biết quyền năng và sự khôn ngoan của Ngài vượt quá tầm hiểu biết của con người. Con người phải tin tưởng đón nhận.

 

05

25

X

Thứ Hai

Gl 1,6-12 / Lc 10,25-37

Thánh Faustina, Trinh nữ (Tr)

 

06

26

X

Thứ Ba

Gl 1,13-24 / Lc 10,38-42

Thánh Bơ-ru-nô, linh mục (Tr)

07

27

Tr

Thứ Tư

Gl 2,1-2.7-14 / Lc 11,1-4

Lễ Đức Mẹ Mân Côi - Lễ nhớ (Tr)

St 3,9-15.20 (hoặc Gl 4,4-7) / Lc 1,26-38

Thánh Vịnh Riêng

08

28

X

Thứ Năm

Gl 3,1-5 / Lc 11,5-13

09

29

X

Thứ Sáu

Gl 3,7-14 / Lc 11,15-26

Thánh Điônysiô, Giám mục và các bạn, Tử đạo (Đ) - Thánh Gioan Lêônarđô, Linh mục (Tr)

10

01/09

X

Thứ Bảy

Gl 3,22-29 / Lc 11,27-28

11

02

X

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

Is 25,6-10a / Pl 4,12-14.19-20 / Mt 22,1-10

(hoặc Mt 22,1-14)

Thánh Vịnh Tuần IV

Phiên Chầu lượt: Hải Châu (7B), Tân Long (2A)

 

TUẦN 46 – MẦU NHIỆM ĐAU KHỔ TRONG SÁCH GIÓP VÀ NƠI CHÚA GIÊSU

H. Mầu nhiệm đau khổ nơi Gióp và Chúa Giêsu có gì khác biệt?

T. Gióp không hiểu rõ lý do đau khổ, còn Chúa Giêsu biết rõ và chấp nhận đau khổ như hành động yêu thương và cứu độ.

CHIA SẺ

Gióp là một người công chính, nhưng lại phải gánh chịu những mất mát to lớn về gia đình, của cải và sức khỏe. Ông không phạm tội, nhưng vẫn đau khổ. Điều này khiến ông chất vấn Thiên Chúa và không ngừng tìm kiếm câu trả lời. Cuối cùng, ông nhận ra rằng con người không thể hiểu hết đường lối Thiên Chúa, nhưng có thể tín thác vào Ngài: “Ngài có đem tôi thử trong lò, tôi sẽ nên như vàng tinh luyện” (G 23,10).

Trong Tân ước, Chúa Giêsu - Con Thiên Chúa vô tội - đã tự nguyện chịu khổ hình và cái chết trên thập giá để cứu độ nhân loại. Khác với Gióp, Chúa Giêsu biết rõ ý nghĩa đau khổ của mình: đó là hành động yêu thương tuyệt đối và vâng phục thánh ý Chúa Cha.

Qua hai mẫu gương này, chúng ta nhận ra rằng đau khổ không phải lúc nào cũng là hình phạt, mà còn là phương thế thanh luyện, là hành trình gặp gỡ và kết hiệp với Thiên Chúa. Người Kitô hữu được mời gọi đón nhận đau khổ trong đức tin, can đảm bước theo Chúa Giêsu, và để thập giá trở nên dấu chỉ của hy vọng và ơn cứu độ.

 

12

03

X

Thứ Hai

Gl 4,22-24.26-27.31-5, 1 / Lc 11,29-32

13

04

X

Thứ Ba

Gl 4,31b-5,6 / Lc 11,37-41

14

05

X

Thứ Tư

Gl 5,18-25 / Lc 11,42-46

Thánh Callistô I, Giáo hoàng, Tử đạo (Đ)

15

06

Tr

Thứ Năm

Thánh Têrêxa Giêsu, Trinh nữ

Tiến sĩ Hội Thánh – Lễ Nhớ

Ep 1,3-10 / Lc 11,47-54 (hoặc lễ về thánh nhân: Rm 8,22-27 hay 1Cr1,18-25; Mt5,13-19)

16

07

X

Thứ Sáu

Ep 1,11-14 / Lc 12,1-7

Thánh Hedviges, Nữ tu (Tr)

Thánh Margarita Alacoque, Trinh nữ (Tr)

17

08

Đ

Thứ Bảy

Thánh Ignatiô Antiôkia, Giám mục, Tử đạo

Lễ nhớ

Ep 1,15-23 / Lc 12,8-12 (hoặc lễ về thánh nhân: Pl 3,17- 4,1 / Ga 12,24-26)

 

18

09

X

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

Is 45,1.4-6 / 1Tx 1,1-5b / Mt 22,15-21

Thánh Vịnh Tuần I

Chúa Nhật Truyền Giáo (Tr)

Được cử hành thánh lễ cầu cho việc rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc

Is 60,1-6 / 1Tm 2,1-8 (hoặc Cv 1,3-8)

Mc 16,15-20 (hoặc Mt 28,16-20, Lc 24,44-53)

Góp quỹ Truyền giáo của Toà Thánh

Phiên Chầu lượt: Chánh Tòa (LX), Sáu Bọng, Hiếu Hiệp (H1), Phụng Hưng

 

 

TUẦN 47 – DẪN NHẬP SÁCH THÁNH VỊNH (Tv)

H. Thánh Vịnh có giá trị gì đối với người Kitô hữu?

T. Thánh Vịnh là trường học cầu nguyện, là tiếng lòng của con người hướng về Thiên Chúa, và là nhịp cầu nối kết người Kitô hữu với Chúa Giêsu và Hội Thánh. Thánh Vịnh nâng đỡ đời sống cầu nguyện của người Kitô hữu trong mọi hoàn cảnh.

CHIA SẺ

Sách Thánh Vịnh là một tuyển tập gồm 150 bài ca được sáng tác trong nhiều thế kỷ, diễn tả đời sống cầu nguyện và kinh nghiệm thiêng liêng của dân Israel. Nhiều Thánh Vịnh được gán cho vua Đavít, nhưng thực tế được sáng tác bởi nhiều tác giả trong đó có các ca viên đền thờ và các tư tế.

Nội dung các Thánh Vịnh rất đa dạng về thể loại, phản ánh mọi trạng thái tâm hồn con người: vui mừng, sầu khổ, thống hối, hy vọng, tin tưởng, ca tụng... Chính Đức Giêsu đã cầu nguyện bằng Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?”(Tv 22,1) và “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con” (Tv 31,6). Các Tông đồ cũng trích dẫn Thánh Vịnh trong các Thư và sách Tông Đồ Công Vụ để tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai (x. Cv 4,25; Dt 1,6).

Ngày nay, Thánh Vịnh vẫn là trọng tâm trong kinh nguyện của Hội Thánh, nhất là trong Phụng Vụ Các Giờ Kinh và phần Đáp Ca trong các Thánh Lễ. Cầu nguyện với Thánh Vịnh luôn ích lợi vì Thánh Vịnh nâng đỡ đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu trong mọi hoàn cảnh.

 

19

10

X

Thứ Hai

Ep 2,1-10 / Lc 12,13-21

Thánh Gioan Brêbeuf, Linh mục

Thánh Isaac Jôgues, Linh mục và các bạn, Tử đạo (Đ)

Thánh Phaolô Thánh Giá, Linh mục (Tr)

20

11

X

Thứ Ba

Ep 2,12-22 / Lc 12,35-38

 

21

12

X

Thứ Tư

Ep 3,2-12 / Lc 12,39-48

22

13

X

Thứ Năm

Ep 3,14-21 / Lc 12,49-53

Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng (Tr)

23

14

X

Thứ Sáu

Ep 4,1-6 / Lc 12,54-59

Thánh Gioan Capestranô, Linh mục (Tr)

 

24

15

X

Thứ Bảy

Ep 4,7-16 / Lc 13,1-9

Thánh Antôn Maria Claret, Giám mục (Tr)

25

16

X

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

Xh 22,21-27 / 1Tx 1,5c-10 / Mt 22,34-40

Thánh Vịnh Tuần II

Phiên Chầu lượt: Giuse (E2), Hoà Phú

 

TUẦN 48 – CÁC THÁNH VỊNH LÊN ĐỀN

H. Thánh Vịnh lên đền là gì và mang ý nghĩa gì trong đời sống đức tin?

T. Đó là những bài ca có tính cộng đoàn dùng trong nghi lễ để bày tỏ niềm vui hành hương lên gặp Chúa. Chúng diễn tả sự hiệp thông, lòng tin tưởng và giúp tín hữu sống lại hành trình đức tin trong phụng vụ thánh.

CHIA SẺ

Các Thánh Vịnh lên đền là những bài ca thường được hát khi dân Do Thái hành hương lên Giêrusalem, đặc biệt trong ba đại lễ: Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều. Chúng giúp cộng đoàn tiến bước vào gặp gỡ Thiên Chúa trong khung cảnh linh thiêng của Đền Thờ, nơi cử hành mầu nhiệm đức tin.

Các Thánh Vịnh như Tv 24, Tv 84, hay Tv 122 chất chứa niềm hân hoan của đoàn người hành hương, vừa tiến bước vừa hát ngợi khen Chúa: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!” (Tv 122,1). Loại Thánh Vịnh này đôi khi còn được viết theo thể hỏi - đáp: “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người? - Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối” (Tv 24,3-4).

Trong phụng vụ Kitô giáo, các Thánh Vịnh lên đền vẫn vang vọng mỗi khi cộng đoàn cử hành lễ trọng, đặc biệt trong mùa Vọng, mùa Phục Sinh hay lễ kính Đền Thánh. Qua đó, mọi người tín hữu hiệp thông với nhau tái hiện cuộc lên đường thiêng liêng của chính mình tiến vào Đền Thờ đích thực là chính Đức Kitô.

 

26

17

X

Thứ Hai

Ep 4,32-5,8 / Lc 13,10-17

27

18

X

Thứ Ba

Ep 5,21-33 / Lc 13,18-21

28

19

Đ

Thứ Tư

Thánh Simon và Giuđa, Tông Đồ

Lễ Kính

Ep 2,19-22 / Lc 6,12-19

Thánh Vịnh Riêng

29

20

X

Thứ Năm

Ep 6,10-20 / Lc 13,31-35

30

21

X

Thứ Sáu

Pl 1,1-11 / Lc 14,1-6

31

22

X

Thứ Bảy

Pl 1,18b-26/ Lc 14,1.7-11

 

THÁNG 11/2026

CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI

 

Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã qua đời, vì cầu nguyện để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành thánh (2Mcb 12,45). Chúng ta hãy dâng thánh lễ và các việc lành để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.

 

Ý CẦU NGUYỆN

CẦU CHO VIỆC SỬ DỤNG CỦA CẢI ĐÚNG ĐẮN

Chúng ta hãy cầu nguyện để của cải được sử dụng đúng đắn, không rơi vào cám dỗ của sự ích kỷ, nhưng luôn được đặt để phục vụ công ích và tình liên đới với những người thiếu thốn hơn.

 

01

23/09

Tr

CHÚA NHẬT

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

Lễ Các Thánh Nam Nữ - Lễ trọng

Lễ cầu cho giáo dân

Kh 7,2-4.9-14 / 1Ga 3,1-3 / Mt 5,1-12a

Thánh Vịnh Riêng

Phiên Chầu lượt: Vạn Đồn (B1), Martinô (E1), Kinh Tràm, Bình An (RG)

 

Lưu ý về việc viếng nhà thờ và viếng nghĩa địa:

1. Từ trưa ngày hôm nay cho đến hết ngày mai, ai viếng nhà thờ hoặc nhà nguyện, đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Tin Kính, với những điều kiện: xưng tội, rước lễ, và cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng, thì được một ơn toàn xá dành cho các linh hồn trong luyện ngục (Enchiridion Indulgentiarum, ấn bản 1999, concessio 29, §1, 2°).

2. Từ ngày 01 đến ngày 08 tháng 11 này, ai thành tâm đi viếng nghĩa địa, với những điều kiện: xưng tội, rước lễ, và cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng, thì được một ơn toàn xá, dành cho các linh hồn trong luyện ngục (Enchiridion Indulgentiarum, ấn bản 1999, concessio 29, §1, 1°).

3. Vào các ngày khác trong năm, ai đi viếng nghĩa địa và cầu nguyện cho các linh hồn, thì được hưởng nhờ ơn xá từng phần. (Enchiridion Indulgentiarum, ấn bản 1999, concessio 29,§2,1°)

 

TUẦN 49 – THÁNH VỊNH CA NGỢI

H. Các Thánh Vịnh Ca ngợi thường thể hiện cảm xúc nào?

T. Các Thánh Vịnh Ca ngợi thường bày tỏ niềm vui, lòng biết ơn, sự thán phục và tôn vinh quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Những lời ca này phát xuất từ tâm hồn tràn đầy tín thác vào sự hiện diện và hành động kỳ diệu của Ngài.

 

CHIA SẺ

Các Thánh Vịnh Ca ngợi là những lời cầu nguyện cổ xưa nhất trong Kinh Thánh, phản ánh niềm vui, lòng biết ơn và sự thán phục trước Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và Đấng giải cứu dân Người.

Các Thánh Vịnh Ca ngợi tiêu biểu gồm Tv 8, 19, 29, 100, 103, 117, 135, 145-150. Về cấu trúc, chúng thường mở đầu bằng lời mời gọi ca tụng và kế đó là lý do ca tụng. Ví dụ:“Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa…Vì tình Chúa thương ta thật là mãnh liệt…”) (Tv 117,1-2).

Dân Chúa dùng những bài ca này khi mừng chiến thắng hay lúc được mùa... Chẳng hạn, Tv 100 mời gọi: “Phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ”; còn các Tv 8 và 19 bày tỏ sự thán phục trước vũ trụ huy hoàng: “Lẫy lừng thay Danh Chúa trên khắp cả địa cầu” (Tv 8,2).

Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh Ca ngợi không chỉ là hành vi thờ phượng, mà còn là tuyên xưng đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất (x. Tv 90,2), Đấng đã ký kết Giao ước (x. Tv 99,3), luôn trung tín và yêu thương dù con người yếu đuối và bất toàn.

 

02

24

Tm

Thứ Hai

Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời

Lễ nhất: Rm 6,3-9 / Ga 6,51-59

Lễ nhì: Kn 3,1-9 / Lc 23,33.39-43

Lễ ba: Rm 5,5-11 / Ga 17,24-26

Thánh Vịnh Riêng

 

Lưu ý:

1. Theo Tông hiến ngày 10-08-1915, hôm nay mọi linh mục được phép cử hành hoặc đồng tế ba thánh lễ: có thể chỉ một ý lễ cho bất cứ ai và nhận bổng lễ, một lễ cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời và một lễ cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng (không có bổng lễ đối với 2 lễ sau).

2. Hôm nay không được cử hành Thánh lễ nào khác, ngoại trừ Thánh lễ An táng.

 

03

25

X

Thứ Ba

Pl 2,5-11 / Lc 14,15-24

Thánh Martinô Porres, Tu sĩ (Tr)

Thánh Vịnh Tuần III

04

26

Tr

Thứ Tư

Thánh Carôlô Bôrômêô, Giám mục - Lễ nhớ Pl 2,12-18 / Lc 14,25-33

05

27

X

Thứ Năm đầu tháng

Pl 3,3-8 / Lc 15,1-10

06

28

X

Thứ Sáu

Pl 3,17- 4,1 / Lc 16,1-8

07

29

X

Thứ Bảy

Pl 4, 10-19/ Lc 16, 9-15

08

30

X

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

Kn 6,13-17 (hoặc Kn 6,12-16) / 1Tx 4,13-18 (hoặc 1Tx 4,13-14) / Mt 25,1-13

Thánh Vịnh Tuần IV

Phiên Chầu lượt: Thánh Gia (7A), Tân Châu, Thị Đam, Giuse (Rivera)

 

TUẦN 50 – CÁC THÁNH VỊNH SÁM HỐI

H. Các Thánh Vịnh Sám hối nêu lên những tâm tình nào?

T. Các Thánh Vịnh Sám hối diễn tả tâm tình biết mình lỗi phạm, khao khát được tha thứ và  quyết tâm canh tân đời sống. Khi cầu nguyện với Thánh Vịnh Sám hối, chúng ta tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng thanh tẩy tâm hồn, ban lại niềm vui cứu độ và sức mạnh để đổi mới.

CHIA SẺ

Thánh Vịnh Sám hối là những lời cầu nguyện diễn tả tâm tình thống hối của con người tội lỗi trước Thiên Chúa nhân từ. Các Thánh Vịnh này giúp người tín hữu mở lòng ra với Chúa, nhìn nhận lỗi lầm và khấn xin ơn tha thứ.

Có bảy Thánh Vịnh sám hối: Tv 6, 32, 38, 51, 102, 130 và 143. Trong đó, nổi bật nhất là Tv 51 - bài thánh vịnh được cho là của vua Đavít sau khi ông phạm tội với bà Bátsêva. Bài này mở đầu bằng câu: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. …”, cho thấy sự ăn năn chân thành và khát khao được thanh tẩy tâm hồn.

Mỗi Thánh Vịnh mang một sắc thái riêng, nhưng đều thể hiện ba điểm chung: thú nhận tội lỗi à tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa à ước muốn được đổi mới. Các Thánh Vịnh này là những mẫu gương tuyệt vời để cầu nguyện riêng tư, đặc biệt trong Mùa Chay, giờ chầu Thánh Thể, hay trước khi lãnh nhận Bí tích Hòa Giải.

Qua các Thánh Vịnh Sám hối, người Kitô hữu học sống tâm tình thống hối đích thực, không chỉ vì sợ phạt, mà vì yêu mến Thiên Chúa, Đấng luôn sẵn sàng tha thứ và đón nhận người tội lỗi trở về.

 

09

01/10

Tr

Thứ Hai

Cung Hiến Thánh Đường Latêranô

Lễ kính

Ed 47,1-2.8-9.12 / 1Cr 3,9b-11.16-17

Ga 2,13-22

10

02

Tr

Thứ Ba

Thánh Lêô Cả, Giáo hoàng, Tiến sĩ Hội Thánh -Lễ Nhớ

Tt 2,1-8.11-14 / Lc 17,7-10

11

03

Tr

Thứ Tư

Thánh Martinô, Giám mục - Lễ nhớ

Tt 3,1-7 / Lc 17,11-19

12

04

Đ

Thứ Năm

Thánh Josaphat, Giám mục, Tử đạo - Lễ Nhớ

Plm 7-20 / Lc 17,20-25

Giáo phận Long Xuyên cầu nguyện cho các Giáo sĩ và Tu sĩ từng phục vụ trong Giáo phận đã qua đời

13

05

X

Thứ Sáu

2Ga 4-9 / Lc 17,26-37

14

06

X

Thứ Bảy

3Ga 5-8 / Lc 18,1-8

15

07

X

CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN

Cn 31,10-13.19-20.30-31 / 1Tx 5,1-6

Mt 25,14-30 (hoặc Mt 25,14-15.19-21)

Thánh Vịnh Tuần I

Được Kính Trọng Thể

Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam (Đ)

Kn 3,1-9 / 1Cr 1,17-25 / Mt 10,17-22

Phụng vụ Lời Chúa: chọn trong số lễ chung kính Các Thánh Tử đạo

Phiên Chầu lượt: Tân Lập, Đông Hưng (Thứ 10), Tân Phước (4A), Kitô Vua (A2)

 

TUẦN 51 – CÁC THÁNH VỊNH TIN TƯỞNG

H. Các Thánh Vịnh Tin tưởng thường mô tả Thiên Chúa bằng những hình ảnh nào?

T. Các Thánh Vịnh Tin tưởng miêu tả Thiên Chúa bằng những hình ảnh gần gũi và đầy an ủi: mục tử nhân lành, núi đá vững bền, thành lũy chở che, ánh sáng soi đường, người mẹ hiền ôm ấp con thơ… Những hình ảnh này diễn tả tình yêu, sự chở che và lòng trung tín của Thiên Chúa dành cho những ai tín thác nơi Ngài.

CHIA SẺ

Thánh Vịnh Tin tưởng thể hiện niềm tín thác sâu xa vào Thiên Chúa giữa những thử thách và gian nan của cuộc sống. Theo cái nhìn Kinh Thánh, đời sống là một hành trình - không chỉ của cá nhân mà còn của cộng đoàn - bước đi trong hy vọng đến ngày được chiêm ngắm sự hiện diện tròn đầy của Thiên Chúa.

Các Thánh Vịnh Tin tưởng nổi bật gồm: Tv 11, 16, 23, 27, 62, 91, 121, 125, 131. Tư tưởng chính là hình ảnh Thiên Chúa như Đấng Bảo Vệ - Người chăn dắt (x. Tv 23), che chở khách lữ hành (x. Tv 121,91), và canh giữ dân Người được an toàn. Những hình ảnh ấy được hoàn tất nơi Chúa Giêsu - vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng đã hiến mạng sống vì đoàn chiên để ban sự sống viên mãn (x. Ga 10,10-11).

Các Thánh Vịnh Tin tưởng còn được gọi là Thánh Vịnh Phó thác, mang lại niềm an ủi lớn lao cho những ai bước đi trong đức tin: “Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa... Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì Chúa đã am tường hết”(Tv 139,2-4).

 

16

08

X

Thứ Hai

Kh 1,1-4;2,1-5a / Lc 18,35-43

Thánh Margarita Scotland (Tr)

Thánh Gertruđê, Trinh nữ (Tr

17

09

Tr

Thứ Ba

Thánh Elizabeth Hungari- Lễ Nhớ

Kh 3,1-6.14-22 / Lc 19,1-10

18

10

X

Thứ Tư

Kh 4,1-11 / Lc 19,11-28

Cung hiến Thánh đường Thánh Phêrô và Thánh đường Thánh Phaolô (Tr)

19

11

X

Thứ Năm

Kh 5,1-10 / Lc 19,41-44

20

12

X

Thứ Sáu

 Kh 10,8-11 / Lc 19,45-48

21

13

Tr

Thứ Bảy

Kh 11,4-12 / Lc 20,27-40

Đức Mẹ Dâng Mình Trong Đền Thờ - Lễ nhớ

Dcr 2,14-17 / Mt 12,46-50

22

14

Tr

CHÚA NHẬT XXXIV THƯỜNG NIÊN

Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ - Lễ trọng

Ed 34,11-12.15-17 / 1Cr 15,20-26.28

Mt 25,31-46

Thánh Vịnh Riêng

Phiên Chầu lượt: Đồng Tâm (3B), Kiến Thành, Kitô Vua (C1)

 

TUẦN 52 - CÁC THÁNH VỊNH TẠ ƠN

H. Các Thánh Vịnh Tạ ơn diễn tả điều gì ?

T. Các Thánh Vịnh Tạ ơn diễn tả lòng biết ơn sâu xa của người tín hữu đối với Thiên Chúa vì họ đã nhận được ơn lành, được cứu giúp, được chữa lành hay được giải thoát.

CHIA SẺ

Các Thánh Vịnh Tạ ơn là những lời ca xuất phát từ tâm hồn từng trải qua đau khổ, nay được cứu giúp và muốn công khai dâng lời cảm tạ Thiên Chúa. Cấu trúc thường gặp trong các Thánh Vịnh Tạ ơn là: nhớ lại cơn nguy khốn à mô tả sự can thiệp của Thiên Chúa à lời tạ ơn chân thành.

Thánh Vịnh Tạ ơn không chỉ ghi nhớ ân huệ quá khứ, mà còn tuyên xưng đức tin và hy vọng vào lòng trung tín không thay đổi của Thiên Chúa, như tác giả Thánh Vịnh đã thốt lên: “Tôi đã kêu cầu và Ngài đã đáp lời tôi” (Tv 118,1)

Một số Thánh Vịnh Tạ ơn tiêu biểu: Tv 18 - Được giải thoát khỏi kẻ thù; Tv 30 - Tạ ơn sau cơn bệnh nặng: Tv 32 - Cảm tạ vì được tha thứ;  Tv 116 - Được cứu khỏi cái chết; Tv 136 - Được Chúa yêu thương: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Trong Phụng vụ Công Giáo, các Thánh Vịnh Tạ ơn là nhịp cầu nối truyền thống Cựu ước với lời cầu nguyện hiện tại, giúp người tín hữu nhận ra ơn lành của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, từ đó dâng lên Ngài lời cảm tạ cách trọn vẹn.

 

23

15

X

Thứ Hai

Kh 14,1-3.4b-5 / Lc 21,1-4

Thánh Clêmentê I, Giáo hoàng, Tử đạo (Đ)

Thánh Côlumbanô, Viện phụ (Tr)

Thánh Vịnh Tuần II

24

16

Đ

Thứ Ba

Kh 14,14-19 / Lc 21,5-11

Kính trọng thể lễ Thánh Andrê Dũng Lạc

Linh mục và Các Bạn Tử Đạo Tại Việt Nam - Lễ trọng (Đ)

Bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam

Phụng vụ Lời Chúa: chọn trong số lễ chung kính các Thánh Tử Đạo:

2Mcb 7,1.20-23.27b-29 (hoặc Kn 3,1-9)

1Cr 1,17-25 / Lc 9,23-26

25

17

X

Thứ Tư

Kh 15,1-4 / Lc 21,12-19

Thánh Catarina Alexandria, Trinh nữ, Tử đạo (Đ)

26

18

X

Thứ Năm

Kh 18,1-2.21-23;19,1-3.9a / Lc 21,20-28

27

19

X

Thứ Sáu

Kh 20,1-4.11-21,2 / Lc 21,29-33

28

20

X

Thứ Bảy

Kh 22,1-7 / Lc 21,34-36

 

 

PHỤNG VỤ NĂM B (2026-2027)

(Đinh Mùi)

 

29

21

Tm

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG- NĂM B

Is 63,16b-17;64,1.3b-8 (hoặc Is 63,16b-17.19b;64,2-7) / 1Cr 1,3-9 / Mc 13,33-37

Thánh Vịnh Tuần I

30

22

Đ

Thứ Hai

Thánh Anrê, Tông đồ - Lễ kính

Rm 10,9-18 / Mt 4,18-22

Thánh Vịnh Riêng

 

THÁNG 12/2026

Ý CẦU NGUYỆN

CẦU CHO CÁC GIA ĐÌNH ĐƠN THÂN

 

Chúng ta hãy cầu nguyện cho những gia đình đang trải qua sự vắng bóng của người cha hoặc mẹ, để họ tìm thấy nơi Giáo hội sự nâng đỡ và đồng hành, cũng như tìm được sự giúp đỡ và sức mạnh trong Đức tin trong những lúc khó khăn

 

01

23/10

Tm

Thứ Ba

Is 11,1-10 / Lc 10,21-24

02

24

Tm

Thứ Tư

Is 25,6-10a / Mt 15,29-37

03

25

Tr

Thứ Năm đầu tháng

Thánh Phanxicô Xaviê, Linh mục - Lễ Kính

Bổn mạng các xứ truyền giáo

1Cr 9,16-19.22-23 / Mc 16,15-20

04

26

Tm

Thứ Sáu đầu tháng

Is 29, 17-24/ Mt 9, 27-31

Thánh Gioan Đamas, Linh mục

Tiến sĩ Hội Thánh (Tr)

05

27

Tm

Thứ Bảy đầu tháng

Is 30,19-21.23-26 / Mt 9,35-10,1.6-8

 

 

PHỤ TRƯƠNG

NHỮNG ĐIỀU CẦN QUAN TÂM

 

I- HUẤN THỊ VỀ PHỤNG VỤ

Các mục tử không phải chỉ tuân giữ các Lề Luật trong các hoạt động Phụng vụ, để cử hành thành sự và hợp pháp mà thôi, nhưng còn phải làm cho tín hữu tham dự Phụng vụ một cách ý thức, linh động và hữu hiệu. (PV số 11)

Tác vụ của linh mục là tác vụ của toàn thể Giáo Hội. Vì thế không thể thi hành tác vụ này nếu không có sự vâng phục, sự hiệp thông cùng hàng giáo phẩm và chăm lo phục vụ Thiên Chúa và anh em. Bản chất phẩm trật của Phụng vụ, hiệu lực Bí tích và sự tôn trọng phải có đối với cộng đoàn giáo dân đòi linh mục phải chu toàn nhiệm vụ trong việc phượng tự như thừa tác viên và người phân phát trung tín các mầu nhiệm Thiên Chúa, và không được tự đưa vào những lễ nghi không được quy định và chấp nhận trong các sách Phụng vụ. (HT. Liturgicae instaurationes 5 - 9 -1970, cuối số 1)

II- NĂM PHỤNG VỤ

Giáo Hội, Mẹ hiền, ý thức mình có bổn phận cử hành các công trình cứu chuộc của Ðấng Phu Quân chí thánh bằng việc tưởng niệm vào những ngày ấn định trong năm. Mỗi tuần, vào ngày gọi là ngày Chúa Nhật, Giáo Hội tưởng nhớ việc Chúa Phục Sinh; mỗi năm một lần Giáo Hội còn cử hành mầu nhiệm ấy hết sức trọng thể vào dịp lễ Chúa Phục Sinh, cùng với cuộc Thương Khó hồng phúc của Người.

Giáo Hội còn phô diễn trọn mầu nhiệm Chúa Kitô qua chu kỳ một năm, từ Nhập Thể, Giáng Sinh, đến Thăng Thiên, Hiện Xuống, cùng với sự mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và ngày Chúa lại đến.

Trong khi cử hành những Mầu Nhiệm Cứu Chuộc như thế, Giáo Hội rộng mở cho các tín hữu sản nghiệp nhân đức và công nghiệp của Chúa, khiến cho những mầu nhiệm này có thể nói là hiện diện qua mọi thời đại, ngõ hầu các tín hữu tiếp xúc với các mầu nhiệm đó sẽ được đầy tràn ơn cứu chuộc. (PV 102)

 

“Vào các ngày khác nhau trong năm, theo khuôn phép truyền thống, Giáo Hội kiện toàn việc huấn luyện tín hữu bằng những việc thao luyện đạo đức hồn xác, bằng việc giảng dạy, sự cầu nguyện, các việc hy sinh hãm mình và từ thiện bác ái”. (PV 105)

“Phải liệu sao cho các tín hữu lưu tâm trước hết đến việc giữ các lễ về Chúa và các mùa trong năm phụng vụ với tinh thần đạo đức. Về những gì họ cử hành và tuyên xưng ngoài miệng trong các lễ và mùa phụng vụ đó, thì họ tin trong lòng, và những gì họ tin trong lòng thì họ lại đem ra thực hành trong nếp sống cá nhân cũng như xã hội”. (CE 232)

Như vậy, tâm điểm của Năm Phụng vụ là mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, khởi đầu năm phụng vụ với CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG và kết thúc với lễ Chúa Kitô Vua, xen kẽ vào các mầu nhiệm kính Chúa, Đức Maria và các thánh, và cao điểm vẫn là Tam Nhật Vượt Qua.

 

LƯU Ý:

Năm Phụng Vụ bắt đầu từ CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG, nghĩa là có thể ngay từ cuối tháng 11 dương lịch.

1. NGÀY PHỤNG VỤ

Ngày phụng vụ diễn tiến từ nửa đêm này cho đến nửa đêm sau, nhưng việc cử hành ngày Chúa Nhật và các lễ trọng bắt đầu ngay từ chiều ngày hôm trước. (AC, 3)

Chúa Nhật, ngày thứ nhất trong tuần, Hội Thánh họp mừng mầu nhiệm Vượt Qua. Vì thế Chúa Nhật chính là ngày lễ quan trọng nhất. Theo Giáo luật khoản 1 điều 1248: “Ai đã tham dự Thánh lễ được cử hành theo lễ nghi Công giáo bất kỳ ở đâu trong chính ngày lễ buộc hoặc chiều ngày áp lễ thì đã chu toàn luật buộc tham dự Thánh lễ”.

2. BẬC LỄ:

Lịch phụng vụ chia làm ba bậc lễ để kính nhớ các mầu nhiệm của Chúa, các đặc ân của Đức Maria và các thánh:

 

A) LỄ TRỌNG

Lễ trọng chia làm hai loại: lễ trọng chung và lễ trọng riêng.

- Lễ trọng chung là các lễ trọng được xác định rõ trong sách phụng vụ mà toàn thể Hội Thánh phải mừng kính. Có 17 lễ trọng chung cho Giáo Hội toàn cầu: 10 lễ kính Chúa, 3 lễ kính Đức Maria và 4 lễ kính các thánh. Lễ Phục Sinh và Giáng Sinh là hai lễ trọng đặc biệt, kéo dài trong 8 ngày gọi là tuần Bát Nhật, tuy nhiên tuần Bát Nhật Giáng Sinh không được ưu tiên như tuần Bát Nhật Phục sinh.

- Lễ trọng riêng chỉ được mừng kính trong một Hội Thánh địa phương. Chẳng hạn lễ Các thánh tử đạo Việt Nam (24/11) là lễ trọng riêng đối với Hội Thánh Việt Nam vì là lễ bổn mạng Hội Thánh Việt Nam, còn đối với Hội Thánh toàn cầu chỉ là lễ nhớ.

Tất cả các lễ trọng chung hay riêng đều được bắt đầu từ Kinh Chiều I ngày hôm trước, nghĩa là ngày mừng lễ sẽ dài hơn một ngày bình thường. Vì thế thánh lễ chiều hôm trước (sau Kinh Chiều I) đều phải cử hành lễ trọng kính của ngày hôm sau, nghĩa là ngày chính lễ, ngoại trừ một vài lễ có lễ vọng thì phải cử hành lễ vọng (Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Maria lên trời, Sinh nhật Thánh Gioan Tiền Hô, Thánh Phêrô và Thánh Phaolô).

 

B) LỄ KÍNH 

Lễ kính ở bậc thấp hơn lễ trọng và chỉ giới hạn trong một ngày bình thường nên không có Kinh Chiều I, trừ lễ kính Chúa trùng vào ngày Chúa Nhật thường niên. Lịch phụng vụ đề ra ba loại lễ kính: 6 lễ kính Chúa, 2 lễ kính Đức Maria, 17 lễ kính các thánh (Giáo Hội Việt Nam mừng thêm 2 lễ kính riêng: Thánh Têrêxa và Thánh Phanxicô Xaviê).

 

C) LỄ NHỚ

Lễ nhớ chia làm hai loại : lễ nhớ buộc và lễ nhớ tùy ý. Các ngày lễ nhớ buộc trong mùa Chay thì chỉ mừng như lễ nhớ tùy ý, không bó buộc phải cử hành. Khi lịch chung để tên nhiều vị thánh kính nhớ tùy ý trong cùng một ngày thì chỉ chọn một vị thánh để mừng, còn những vị khác được bỏ.

 

D) LỄ THEO NHU CẦU:

Ngoài ra còn có các lễ theo nhu cầu:

Có ba loại lễ theo nhu cầu:

- Lễ có nghi thức riêng thường đi kèm với việc cử hành một bí tích nào đó: Hôn Phối, Truyền Chức, Thêm Sức...

- Lễ do nhu cầu tùy theo hoàn cảnh: lễ tạ ơn, lễ cầu mùa…

- Lễ ngoại lịch là lễ do lòng đạo đức của giáo dân đòi hỏi: thứ Sáu kính Thánh Tâm, thứ Bảy kính Đức Mẹ...

Tuy nhiên, các lễ theo nhu cầu được cử hành hay không, còn tùy thuộc vào các mùa hoặc lịch phụng vụ.

 

E) LỄ KÍNH TRỌNG THỂ.

“Để phục vụ lợi ích mục vụ cho giáo dân, trong các Chúa Nhật Thường Niên, được phép mừng các lễ nào gặp trong tuần mà được giáo dân sùng mộ, miễn là những lễ ấy cao hơn chính ngày Chúa Nhật theo bảng ghi thứ tự ưu tiên. Có thể mừng các lễ ấy trong mọi thánh lễ có đông giáo dân tham dự” (AC 58).

Theo Niên Lịch Phụng Vụ số 58 nói trên thì được cử hành Thánh lễ quen gọi là “kính trọng thể”, nghĩa là mừng kính cách đặc biệt hơn vào ngày Chúa Nhật thường niên và cả mùa Giáng Sinh trước hay sau đó, các lễ trọng và lễ kính được ghi trong bảng thứ tự ưu tiên dưới đây, cũng như những lễ gắn liền với lòng sùng mộ của tín hữu nhưng rơi vào ngày thường trong tuần. Các lễ này có thể được cử hành trong mọi Thánh lễ có đông tín hữu tham dự.

(ví dụ: lễ Các Thánh Tử đạo Việt Nam 24/11 được dời lên Chúa Nhật trước vì Chúa Nhật sau đó thường là lễ Chúa Kitô Vua; lễ Mân Côi tuy là lễ nhớ buộc nhưng được mừng kính trọng thể vào Chúa Nhật).

 

THỨ TỰ ƯU TIÊN

TRONG VIỆC CỬ HÀNH CÁC NGÀY PHỤNG VỤ:

I

1. TAM NHẬT VƯỢT QUA tưởng niệm cuộc Thương khó và Phục Sinh của Chúa.

2. - Lễ Giáng Sinh, Hiển Linh, Thăng Thiên và Hiện Xuống.

    - Các Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh.

    - Thánh lễ an táng được cử hành bất cứ ngày nào trừ những ngày lễ trọng buộc, thứ Năm Tuần Thánh, Tam Nhật Vượt Qua và các Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh. (IM 380)

    - Thứ Tư Lễ Tro.

    - Các ngày trong Tuần Thánh từ thứ Hai đến hết thứ Năm.

    - Các ngày trong Tuần Bát Nhật Phục sinh.

3. - Các lễ trọng kính Chúa, Đức Mẹ và các Thánh có ghi trong

       lịch chung.

    - Lễ cầu cho mọi tín hữu đã qua đời (2/11)

4. Các lễ trọng riêng, tức là:

  1. Lễ trọng thánh bổn mạng chính của địa phương, thành
  2. phố hay quốc gia;
  3. Lễ trọng Cung hiến thánh đường, hay ngày kỷ niệm
  4. cung hiến thánh đường đó.
  5. Lễ trọng mừng tước hiệu của nhà thờ.
  6. Lễ trọng của dòng tu hay tu hội mừng tước hiệu, hoặc 
  7. thánh sáng lập dòng, hay bổn mạng chính của dòng.

II

5. Các lễ kính Chúa có ghi trong lịch chung.

6. Các Chúa Nhật mùa Giáng Sinh và Thường Niên.

7. Các lễ kính Đức Mẹ và các thánh có ghi trong lịch chung.

8. Các lễ kính riêng, tức là:

  1. Lễ bổn mạng của chính địa phận.
  2. Lễ kỷ niệm cung hiến nhà thờ Chánh Tòa.
  3. Lễ kính bổn mạng chính của miền, tỉnh, nước hay một vùng rộng lớn.

 

  1. Lễ kính của dòng tu hay tu hội và tỉnh dòng mừng tước hiệu, thánh sáng lập, thánh bổn mạng, trừ những điểm đã nói trong số 4.
  2. Các lễ kính khác có ghi trong lịch địa phận, dòng tu hay tu hội.

Thánh lễ cầu hồn khi vừa được tin một người qua đời hay trong ngày giỗ đầu (IM 381)

9. - Các ngày trong tuần thuộc Mùa Vọng từ 17/12 đến hết 24/12.

    - Các ngày trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh.

    - Các ngày trong tuần Mùa Chay.

 

III

10. Các lễ nhớ buộc có ghi trong lịch chung.

11. Các lễ nhớ buộc riêng, tức là:

  1. Các lễ nhớ bổn mạng thứ hai của địa phương, địa phận, miền hay tỉnh, quốc gia, một vùng rộng lớn, của dòng tu hay tu hội và tỉnh dòng.
  2. Ít nhiều lễ nhớ bắt buộc riêng của một vài nhà thờ.

12. Các lễ nhớ buộc và các lễ nhớ không buộc trong Mùa Chay.

13. -  Các ngày trong tuần, từ đầu Mùa Vọng đến hết 16/12.

  • Các ngày trong tuần mùa Giáng Sinh từ 2/1 đến thứ Bảy sau

lễ Hiển Linh.

  • Các ngày trong tuần thuộc Mùa Phục sinh, từ thứ Hai sau

tuần Bát Nhật Phục Sinh đến thứ Bảy trước lễ Hiện Xuống.

  • Thánh lễ tùy nhu cầu và ngoại lịch theo lòng đạo đức của

giáo dân (IM 377).

  • Thánh lễ cầu hồn hằng ngày (IM 381)
  • Các ngày trong tuần thuộc mùa Thường niên.
  •  

III. LỰA CHỌN CÁC THÁNH LỄ

1. Vào các ngày lễ trọng, linh mục phải cử hành Thánh lễ theo lịch phụng vụ. (IM 353). Nếu một lễ trọng trùng vào ngày có bậc ưu tiên cao hơn, sẽ được dời vào ngày gần nhất mà lễ đó có thể được cử hành. Nếu trùng với Chúa Nhật Phục Sinh, sẽ được dời đến sau tuần Bát Nhật.

2. Vào các ngày Chúa Nhật, các ngày thường Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, cũng như các ngày lễ kính và lễ nhớ buộc:

a) Nếu cử hành Thánh lễ có giáo dân tham dự thì linh mục phải theo lịch phụng vụ mà Hội Thánh cử hành (IM 354a).

b) Nếu cử hành Thánh lễ riêng chỉ có một người giúp lễ thì linh mục có thể lựa chọn lịch phụng vụ của Hội Thánh hoặc lịch riêng (IM 354b).

3. Lễ nhớ tùy ý:

+ Các ngày trong tuần Mùa Vọng từ 17 đến 24-12;

+ Các ngày trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh;

+ Các ngày trong tuần Mùa Chay trừ thứ Tư Lễ Tro và từ thứ Hai đến thứ Tư Tuần Thánh) thì làm lễ theo ngày trong tuần, nhưng có thể đọc lời nguyện nhập lễ của lễ nhớ được ghi trong lịch chung.

+ Các ngày trong tuần Mùa Vọng trước ngày 17-12;

+ Các ngày trong tuần Mùa Giáng Sinh từ ngày 02-01;

+ Các ngày trong tuần Mùa Phục Sinh;

thì có thể chọn lễ theo ngày trong tuần hoặc lễ vị Thánh được nhớ, hay vị Thánh có ghi trong danh mục các Thánh hôm đó. (IM 355a)

+ Vào các ngày thường Mùa Thường Niên, có thể chọn Thánh lễ của ngày thường đó, hoặc cử hành lễ nhớ không buộc hoặc Thánh lễ do nhu cầu quan trọng, hoặc Thánh lễ tùy lòng đạo đức. (IM 355c)

 + Vào các ngày thứ bảy mùa Thường Niên, khi không có lễ nhớ buộc, có thể cử hành lễ kính Đức Mẹ.

4. Khi có nhiều lễ trùng vào một ngày, phải cử hành lễ có bậc ưu tiên cao hơn theo thứ tự đã nêu trên.

5. Khi sử dụng quyền hạn để lựa chọn các bài đọc và lời nguyện trong Thánh lễ, linh mục phải lưu tâm đến lợi ích thiêng liêng chung của cộng đoàn hơn là chỉ làm theo ý riêng của mình. (AC 328)

 

IV- LỄ CẦU CHO GIÁO DÂN (Lễ Họ)

Giáo luật khoản 388: Đó là các lễ mà giám mục giáo phận dâng để chỉ cho giáo dân trong giáo phận.

Giáo luật khoản 534:

§1: Sau khi đã nhậm chức ở giáo xứ, vào mỗi Chúa Nhật và lễ buộc trong giáo phận, cha chánh xứ có nghĩa vụ phải dâng lễ cầu cho đoàn dân được trao phó cho Người. Nếu mắc ngăn trở chính đáng không dâng lễ như vậy được, Người phải nhờ linh mục khác dâng ý lễ thay trong chính ngày đó, hoặc chính Người sẽ dâng lễ vào những ngày khác.

§2. Cha chánh xứ nào coi sóc nhiều giáo xứ, thì chỉ buộc dâng một ý lễ, vào các ngày nói ở §1, để cầu cho tất cả đoàn dân được trao phó cho Người.

§3. Cha chánh xứ nào đã không chu toàn nghĩa vụ được nói đến ở §1 và §2, thì nếu đã bỏ bao nhiêu ý lễ, phải sớm hết sức dâng đủ bấy nhiêu ý lễ để cầu cho giáo dân.

Tại Việt Nam, theo văn thư ngày 11.11.1987 của Bộ Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc, các linh mục chánh xứ chỉ phải dâng lễ cầu cho giáo dân vào 11 ngày lễ sau:

  1. Lễ Chúa Giáng Sinh
  2. Lễ Chúa Hiển Linh
  3. Lễ thánh Giuse (19.03)
  4. Lễ Phục Sinh
  5. Lễ Thăng Thiên
  6. Lễ Hiện Xuống
  7. Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô
  8. Lễ thánh Phêrô và thánh Phaolô, Tông Đồ (29.6)
  9. Lễ Đức Mẹ Lên Trời (15.08)
  10. Lễ Các Thánh Nam Nữ (01.11)
  11. Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (08.12)

 

V. THÁNH LỄ CỬ HÀNH CHIỀU HÔM TRƯỚC NGÀY LỄ BUỘC VÀ CHIỀU THỨ BẨY.

Thánh Bộ Phụng Tự có ra quy định về Phụng vụ cử hành chiều hôm trước ngày lễ buộc (SCCD, 10-1984, Not. 1984, tr 603-605). Trong phần nói về việc cử hành Thánh lễ, có viết như sau:

Xét quy định chung của GL 1248,1 về việc có thể giữ luật buộc “ngay từ ngày hôm trước”, thì luôn luôn dành ưu tiên cho Thánh lễ phải giữ theo luật buộc mà không phải quan tâm gì đến bậc phụng vụ của hai lễ cử hành trùng nhau”.

Sau đó, Bộ ra một số giải đáp và kết luận vẫn phải làm lễ Chúa Nhật vào chiều ngày thứ bẩy, khi gặp lễ trọng hay lễ kính trùng hợp.

Các Ordo cũ của nhà sách Vatican và của Nhà xuất bản Phụng vụ vẫn được soạn thảo theo quy định đó: “Thánh lễ chiều hôm trước ngày lễ buộc sẽ được sắp xếp với mọi yếu tố phải có (diễn giảng, lời nguyện tín hữu), hay nên có (dân chúng tham dự tích cực hơn bằng lời ca, tiếng hát, v.v...) trong thánh lễ của ngày lễ. Còn chính bản văn thánh lễ thì theo hẳn quy định về thứ tự ưu tiên của Thánh Bộ Phụng Tự...”

Vì vậy, trong thực tế, nếu lễ chiều thứ Bảy có giáo dân tham dự, thì sẽ cử hành lễ Chúa Nhật (tức là Thánh lễ Chúa Nhật hay Thánh lễ trùng vào Chúa Nhật năm đó). Để những lễ trọng trùng với Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Phục Sinh khỏi bị mất Thánh lễ vào chiều thứ Bảy (vì phải cử hành lễ Chúa Nhật), nên ngày 22-04-1990, Thánh Bộ Phụng Tự đã sửa đổi số AC 5 và cho chuyển các lễ bị ngăn trở đó sang ngày thứ Hai sau, thay vì đưa lên ngày thứ Bảy trước, như AC cũ quy định.

Trong các Ordo nói trên, cũng thấy có những quy định về các lễ buộc trùng với ngày thứ Bảy. Lịch này cũng dựa theo đó mà soạn, thí dụ lễ Đức Mẹ lên Trời ngày 15-08-1992.

 

VI. VỀ VIỆC CỬ HÀNH LỄ HÔN PHỐI.

Khi cử hành lễ Hôn phối trong Thánh lễ, thì chỉ được cử hành Thánh lễ Hôn phối trong một số ngày trong năm mà thôi.

Dựa theo CE và OCM mới (1990) các số 34, 54 và 56 (OCM cũ số 11), có liệt kê chi tiết như sau:

1. Không được cử hành Thánh lễ Hôn phối trong những ngày sau đây:

+ Các lễ trọng buộc cũng như không buộc.

+ Các Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Phục Sinh.

+ Lễ Tro và các ngày khác trong Tuần Thánh.

+ Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (2-11).

+ Các ngày trong tuần Bát Nhật Phục Sinh.

Gặp những ngày đó, phải cử hành Thánh lễ theo ngày Phụng vụ và đọc các bài Sách Thánh của ngày lễ đó. Không được đọc một bài nào về Hôn Phối. Vẫn đọc lời chúc hôn trong Thánh lễ, và cuối lễ có thể dùng công thức ban phép lành cho đôi tân hôn.

2. Các Chúa Nhật Mùa Giáng Sinh và Thường Niên:

Cử hành thánh lễ Chúa Nhật, nhưng trong các bài Sách Thánh, có thể đọc một bài về Hôn Phối. Nếu cử hành Hôn Phối trong Thánh lễ không có cộng đồng giáo xứ tham dự, thì có thể cử hành toàn bộ Thánh lễ Hôn phối.

Tuyệt đối tránh cử hành Hôn phối ngày thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh.

 

VII. BẢNG CHỈ DẪN VIỆC CỬ HÀNH THÁNH LỄ CÓ NGHI THỨC RIÊNG, THÁNH LỄ TÙY NHU CẦU VÀ THÁNH LỄ CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI.

Chữ viết tắt:

V1    Thánh lễ có nghi thức riêng. (IM 372)

Thánh lễ tùy nhu cầu và ngoại lịch do Giám mục Giáo phận chỉ định hoặc cho phép khi có nhu cầu hay lợi ích mục vụ quan trọng. (IM 374)

V2    Thánh lễ tùy nhu cầu và ngoại lịch theo sự xét đoán của vị phụ trách thánh đường hay của linh mục chủ tế, nếu có nhu cầu thật sự hoặc lợi ích mục vụ đòi hỏi. (IM 376)

V3    Thánh lễ tùy nhu cầu và ngoại lịch do linh mục chọn theo lòng đạo đức của giáo dân. (IM 373, IM 377)

D1    Thánh lễ an táng. (IM 380)

D2    Thánh lễ khi nhận được tin báo tử hoặc trong ngày giỗ đầu.

D3    Thánh lễ cầu hồn hàng ngày. (IM 381)

 

Để áp dụng:

Ký hiệu   + : được cử hành  – : không được cử hành

  1.  

- Các lễ trọng buộc, các Chúa Nhật Mùa

Vọng, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh.

- Thứ Năm Tuần Thánh, Tam Nhật Vượt Qua

- V1, V2, V3

- D1, D2, D3

  1.  

- Các lễ trọng không buộc.

- Lễ cầu cho tất cả các tín hữu đã qua đời.

- Thứ Tư lễ Tro,

  Thứ Hai, Ba, Tư Tuần Thánh

- Các ngày trong tuần Bát Nhật Phục Sinh

 

- V1, V2, V3, D2, D3

+ D1

 

  1.  

- Các Chúa Nhật Mùa Giáng Sinh

  và Mùa Thường Niên

- Các lễ kính

- V2, V3, D2, D3

+ D1, V1

  1.  

- Các ngày từ 17 đến 24 tháng 12

- Các ngày trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh

- Các ngày thường trong Mùa Chay

- V2, V3, D3

+ V1, D1, D2

  1.  

- Các lễ nhớ buộc

- Các ngày thường Mùa Vọng trước ngày 16.12

- Các ngày thường Mùa Giáng Sinh sau 2.1

- Các ngày thường Mùa Phục Sinh sau Bát Nhật

- V3, D3

+ V1, V2, D1, D2

  1.  

- Các lễ nhớ không buộc

- Các ngày thường Mùa Thường Niên

+ V1, V2, V3

+ D1, D2, D3

 

VIII. THÁNH LỄ CẦU CHO NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI

Thánh lễ An táng được cử hành bất cứ ngày nào, trừ ngày lễ trọng buộc, thứ Năm Tuần Thánh, Tam Nhật Vượt Qua và các Chúa Nhật Mùa Vọng, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh (IM 380). Nếu cử hành an táng vào các ngày này, người ta buộc phải dùng bản văn và bài đọc của ngày lễ đó, và sau lời nguyện hiệp lễ được làm nghi thức từ biệt.

Thánh lễ đưa chân (lễ hối tử) khi nhận được tin báo tử hoặc thánh lễ cầu hồn trong ngày giỗ đầu có thể được cử hành vào những ngày trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh, ngày lễ nhớ buộc, các ngày thường không có lễ nào được ghi trong lịch, ngoại trừ thứ Tư lễ Tro và Tuần Thánh. (IM 381)

Thánh lễ cầu hồn hằng ngày có thể được cử hành vào các ngày thường của Mùa Thường Niên có lễ nhớ không bắt buộc, hoặc các ngày thường không có lễ nào được ghi trong lịch. (IM 381)

 

IX. PHÂN BIỆT TƯỚC HIỆU VÀ BỔN MẠNG

1- Tước hiệu: là danh hiệu, là tên gọi của một nhà thờ, Dòng tu, Tu hội v.v…

* Chọn tước hiệu: Được chọn Thiên Chúa Ba Ngôi hoặc từng Ngôi Vị Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria với những danh hiệu đã được mừng kính trong phụng vụ, các thiên thần, các thánh. Các Á Thánh chỉ được chọn khi có phép đặc biệt của Tòa Thánh[2].

Tước hiệu được đặt khi nhà thờ được làm phép hay cung hiến[3], và chỉ một tước hiệu mà thôi[4]. Một khi nhà thờ đã cung hiến, thì không được thay đổi tước hiệu nữa[5].

2- Thánh bổn mạng: là vị thánh được tôn kính như vị bảo trợ hay vị chuyển cầu lên trước Tòa Chúa cho chúng ta[6].

* Chọn thánh bổn mạng: Được chọn Đức Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần, các Thánh. Các Á Thánh chỉ được chọn khi có phép đặc biệt của Tòa Thánh. Tuyệt đối không được chọn Thiên Chúa Ba Ngôi hay một Ngôi Vị Thiên Chúa làm bổn mạng[7] (vì Thiên Chúa ban ơn, chứ không chuyển cầu lên trước Tòa ai cả).

Tóm lại, chỉ có thể chọn một tước hiệu cho nhà thờ[8], Dòng tu, Tu hội[9], v.v…  chứ không chọn tước hiệu cho một giáo xứ. Và, cũng chỉ có thể chọn thánh bổn mạng cho giáo xứ, giáo phận, thành phố, quốc gia[10] hay cho Dòng tu, các hiệp hội, tổ chức, các nhóm[11], v.v… chứ không có bổn mạng của nhà thờ (hoặc các cơ sở vật chất khác), bởi lẽ, vị thánh bổn mạng có vai trò là vị bảo trợ cho con người chứ không cho cơ sở vật chất.

3- Bậc lễ cử hành theo luật phụng vụ:

+ Lễ kính tước hiệu nhà thờ: cử hành theo bậc lễ trọng riêng[12].

+ Lễ kỷ niệm cung hiến nhà thờ: cử hành theo bậc lễ trọng riêng. Ngoài ra, ngày kỷ niệm cung hiến nhà thờ Chánh Tòa, bậc lễ trọng được cử hành tại nhà thờ Chánh Tòa, còn bậc lễ kính tại các nhà thờ khác trong Giáo phận[13].

+ Lễ Bổn Mạng chính của Giáo phận và giáo xứ: cử hành theo bậc lễ trọng riêng tại chính nơi đó[14]. Riêng lễ bổn mạng của Giáo phận, tại các nhà thờ khác trong Giáo phận được cử hành ở bậc lễ kính[15].

 

THÁNG 01/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

 

 

1 MTC

2

3

4 HL

5

6

7

8

9

10

11 CCR

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

THÁNG 02/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

TẾT

18

19

20

(LTRO)

21

22

I MC

23

24

25

26

27

28

THÁNG 03/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29LLÁ

30

31

 

 

 

 

THÁNG 04/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

 

1

2-5TT

3-6TT

4-7TT

 5 PS

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

 

 

THÁNG 05/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17 LTT

18

19

20

21

22

23

24 HX

25

26

27

28

29

30

31CBN

 

 

 

 

 

 

THÁNG 06/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

1

2

3

4

5

6

7 MMTC

8

9

10

11

12 TTÂM

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

PR-PL

30

 

 

 

 

THÁNG 07/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

 

THÁNG 08/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

 

 

 

 

1

2

3

4

5

6 HD

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

 

 

 

 

 

THÁNG 09/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

 

 

 

 

 

THÁNG 10/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

THÁNG 11/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15 CTTĐ

16

17

18

19

20

21

22 KTV

23

24

25

26

27

28

29 MV

30

 

 

 

 

 

THÁNG 12/2026

CN

T2

T3

T4

T5

T6

T7

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25GS

26

27

28

29

30

31

 

 

 

 


[1]Theo Giáo luật:

Ðiều 992: Ân xá là sự tháo giải trước mặt Chúa các hình phạt thế tạm vì các tội lỗi đã được xóa bỏ. Người tín hữu dọn mình xứng đáng và thi hành ít nhiều điều kiện đã chỉ định thì được hưởng ơn tha thứ ấy nhờ sự trung gian của Giáo Hội. Với tư cách thừa tác viên ơn cứu chuộc, Giáo Hội dùng quyền phân phát và áp dụng kho tàng đền tạ của Chúa Kitô và các Thánh.

Ðiều 993: Ân xá là toàn phần hay từng phần, tùy theo sự giải thoát hình phạt thế tạm vì tội lỗi là hoàn toàn hay chỉ một phần.

Ðiều 994: Mọi tín hữu đều có thể hưởng ân xá toàn phần hay từng phần, hoặc cho chính mình hoặc để chuyển cầu cho những người đã qua đời.”

Như vậy, chúng ta nên hiểu, ân xá chỉ là việc tha hình phạt tạm (đối ngược với hình phạt vĩnh viễn phải chịu trong hỏa ngục) chứ không phải là việc tha tội.  Và chỉ có hai loại ân xá: Phần xá (tha một phần), và Toàn xá hay Đại xá (tha toàn bộ hình phạt tạm).  Toàn xá hay Đại xá cũng giống nhau không có gì khác biệt.

 

[2] Thánh Bộ Bí tích và Phụng tự, Ordo dedicationis ecclesiae et altaris, 29.5.1977, Praenotanda, số 4, trong EV 6/201. Huấn thị Lịch riêng, số 34, trong EV/2610.

[3] Thánh Bộ Bí tích và Phụng tự, Ordo dedicationis ecclesiae et altaris, 29.5.1977, Praenotanda, số 4, trong EV 6/201.

[4] Ibidem, số 4, trong EV 6/201.

[5] Giáo luật, đ. 1218; Theo luật cũ, dù chỉ mới làm phép chứ chưa cung hiến, cũng không còn được thay đổi tước hiệu nữa (x. CIC 1917, đ. 1168 § 1).

[6] Thánh Bộ Phụng Tự, Qui tắc Patronus về việc đặt tên thánh Bổn mạng, số 1, trong EV 4/2341

[7] Thánh Bộ Phụng tự, Qui tắc Patronus về việc đặt tên thánh Bổn mạng, số 4, trong EV 4/2344 ; X. Thánh Bộ Phụng tự, Huấn thị Lịch riêng, số 28, trong EV 3/2604.

[8] Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và niên lịch, số 53, 4c.

[9] Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và niên lịch, số 53, 4d.

[10] Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và niên lịch, số 53, 4a. Thánh Bộ Phụng tự, Huấn thị Lịch riêng, số 28, trong EV (Enchirion Vaticanum) 3/2604.

[11] Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và niên lịch, số 53, 4d.

[12] Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và niên lịch, số 59, 4C

[13] Sách Nghi thức Giám mục, số 878.

[14] Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và niên lịch, số 59,4a.

[15] Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và niên lịch, số 59,8a.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC: