Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 9)
- 25/07/2025 08:02
- 313 lượt xem
-
In trang này
KHAO KHÁT CHÚA
Cầu nguyện bằng thánh vịnh[1]
Giới thiệu:
Đây là cuốn sách khai tâm cho những người muốn cầu nguyện bằng Thánh Vịnh. Khi đọc phụng vụ giờ kinh thường thường chúng ta cảm thấy khô khan, khó hiểu. Hãy đọc cuốn sách này và bạn sẽ thấy một đổi thay hết sức bất ngờ.
Linh mục Mỹ Sơn giáo phận Long Xuyên
(1)(1)(1)(1)(1)(1).jpg)
Bài năm
THÁNH VỊNH 16
Chỉ Chúa thôi là đủ ! Phần 2
Phần hai
Phần hai của thánh vịnh nhấn mạnh đến niềm hân hoan và tin tưởng là kết quả của lòng tin.
Tôi nhận thấy ngay rằng ở đây những biểu tượng cụ thể về thân xác đã được vận dụng để chỉ rõ niềm vui sướng tràn trề; những biểu tượng ấy nhấn mạnh đến con tim, tâm hồn, lòng dạ và những chốn thâm sâu trong tâm hồn: “Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy…Ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.” (câu 7) Và, một lần nữa, ở câu 9: “Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn”. Bản gốc tiếng Do thái kể rõ những phần mình khác nhau để diễn tả việc thân xác được tham dự vào niềm vui là được thuộc về Chúa hoàn toàn. Ở câu 10 : “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (= Chúa không thể bỏ rơi mạng sống con), từ ngữ Do thái nepes, có nghĩa là hồn tôi đang thở, hơi thở của hồn tôi, tôi sống được là nhờ hơi thở. Bởi đó, niềm hoan lạc của Chúa, niềm vui sướng tôi có được vì lòng tin, đã tràn ngập tất cả con người tôi.
Hai lần kiểu nói “ở bên (phải)” được nhắc đến: “Được Ngài ở bên (phải) chẳng nao núng bao giờ” (câu 8) , “Ở bên (phải) Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi” (câu 11). Điều đó có nghĩa là được ở trong một vị trí thuận lợi, tuỳ theo sự năng động của sự sống và sự chết. Không được Ngài ở bên, hay không ở bên Ngài, thì số phận là phải chết, phải hư nát trong phần mộ, bị giam cầm trong cõi âm ty; nhưng sống là được mời gọi đi trên con đường về cõi sống, được vui sướng tràn trề, và hoan lạc chẳng hề vơi.
Phần hai của thánh vịnh gợi lên một cách cụ thể cảnh tương phản giữa Sống – Chết với muôn vàn cung bậc tình cảm khác nhau diễn tả chiến thắng vinh quang của niềm hân hoan và tin tưởng, hoặc niềm vui của sự sống chiến thắng sự chết.
Đó là kinh nguyện của một tâm hồn phải sống trong nỗi khắc khoải và lo sợ, vậy mà lúc này lại được nuôi dưỡng bằng niềm tin vững chắc vào Chúa, niềm tin có khả năng đem lại sức mạnh cho thân xác, cho đến cả mọi thành phần của cơ thể.
Khi suy tư lại toàn bộ thánh vịnh, thiết tưởng thật dễ dàng nắm bắt được mức rung động và chuyển biến tình cảm của thánh vịnh, từ niềm tin mạnh mẽ đến lòng cậy trông vững bền và niềm hân hoan vui sướng tràn trề. Niềm tin chắc chắn được thuộc về Chúa vì đã chọn Ngài sau khi đã từ bỏ hoàn toàn các ngẫu thần. Niềm tin vững mạnh ấy củng cố niềm hy vọng là sẽ không bị Chúa bỏ mặc cho sự chết, mà còn ban cho được vui sướng tràn trề và hoan lạc chẳng hề vơi ngay từ đời này.
Người ta có thể nhớ lại rằng thánh vịnh 16 đã được áp dụng về Đức Giêsu và sự phục sinh của Ngài. Trong sách Công vụ Tông đồ, thánh vịnh này đã được trưng dẫn hai lần: thánh Phêrô trong bài giảng ở Giêrusalem chương 2 đã nói rằng: “Vua Đavít đã loan báo việc Đức Kitô phục sinh”, khi viện dẫn thánh vịnh này (xem Cv 2,25-31).
Còn thánh Phaolô, trong bài giảng ở Antiôkia, đoạn 13 thì nhắc lại câu 10: “Ngài sẽ không để Đấng thánh của Ngài hư nát trong phần mộ” (Cv. 13,35). Vì Đức Giêsu đã hoàn toàn hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, Cha Ngài, Đấng mà Ngài coi là phần tuyệt hảo duy nhất, nên Ngài sẽ không biết đến sự hư nát trong mồ, ngài sẽ phục sinh vinh quang.
Khi đọc lại thánh vịnh 16, người tín hữu hẳn cảm nhận rõ rằng thánh vịnh nói về sự phục sinh của Đức Giêsu, rằng chúng ta chắc chắn cũng được thông phần phục sinh với Ngài ngay lúc này và mai sau: bởi vì chúng ta ở trong Đức Giêsu, vì Thiên Chúa là gia nghiệp của chúng ta, là Cha của chúng ta. Vì thế, tuy chắc chắn chúng ta cũng đều phải đối mặt với cái chết, nhưng ta chăc chắn được sống muôn đời với Chúa.
“Suy niệm”
Tuyên xưng niềm tin khi sống giữa các chư thần ngoại bang, tuyên xưng niềm tin giữa một thế giới ngoại giáo và tôn thờ ngẫu tượng, điều đó có nghĩa gì? Việc tuyên xưng niềm tin ấy được diễn tả trong phần một của thánh vinh, liệu có còn thích hợp cho mọi thời mọi nơi chăng?
Riêng tôi, tôi xin trả lời ngay rằng lời tuyên xưng ấy vẫn hoàn toàn có giá trị hiện thực, bởi lẽ ngày nay có biết bao thứ thần tượng vẫn vây quanh con người: những thần lạc thú, danh vọng, quyền lực và thành đạt; những thần tượng của thói đua đòi theo “mốt”, theo dư luận, theo khuynh hướng “ai sao ta vậy”, e ngại dư luận.
Thực sự mỗi ngày ta cần từ bỏ những thần ngoại lai này, nhưng cũng phải nhìn nhận rằng ta thật bất lực, rằng ta vốn tự ý và vui thích chạy theo những kẻ quyền cao chức trọng. Trừ khi – và đây chính là thông điệp của thánh vịnh – chính chúng ta tự mình quyết định bắt đầu lại, bằng một lòng gắn bó thiết tha và vững mạnh nơi Chúa.
Ai hằng ngày cảm thấy mình bị đe doạ bởi các thần tượng thích chạy theo mốt, theo dư luận, hay có ý nghĩ muốn thống trị, ước gì người ấy hãy nói với Chúa: “Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu. Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc?”. Chỉ ở bên Chúa thôi, con mới có sức nói lên lời “không” với các thần ngoại của xứ này, của trần gian này. Chúa sẽ tỏ cho thấy chỉ mình Ngài là thành luỹ vững chắc ngăn ngừa được sức mạnh quá đáng sợ của những thần tượng ngày nay.
Trong thinh lặng, ta có thể hỏi mình: những thần tượng nào đang đe doạ tôi? Đâu là những cái trói buộc tôi, khiến tôi trở thành nô lệ, và tôi phải cố gắng gỡ mình ra khỏi những xiềng xích tinh vi nào cản trở tôi, khiến tôi không thể sống trung thực trước nhan Chúa? “Tôi không làm chuyện đó, tôi không chiều theo ý tôi!” Ta hãy cùng tác giả thánh vịnh lặp lại lời tuyên xưng:
“Máu tế thần, con quyết chẳng dâng,
Tên của thần, môi con không tụng niệm.”
Xin Chúa làm cho tâm hồn chúng ta vang lên lời khẩn nguyện, để xua đi các tà thần kia.
Niềm tin cậy nào được diễn tả trong phần hai của thánh vịnh 16, còn tôi, tôi tin cậy những gì? Chúng ta đọc thấy niềm cậy trông của tác giả thánh vịnh ở câu 7 (Chúa cho tôi an bình ngày đêm: con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy, ngay cả đêm trường lòng dạ nhắn nhủ con); ở câu 9 (Chúa cho tôi vui sướng: vì thế, tâm hồn con mừng rỡ và lòng dạ hân hoan); câu 11 (Chúa cho tôi có tương lai: Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống). Tôi có cảm nhận Chúa là Đấng ban cho tôi ngày đêm an vui thư thái, cho tôi hưởng niềm vui sướng và một tương lai không? Tôi nghĩ gì về tương lai của mình?
Phải chăng tôi nghĩ đến tương lai của mình với tâm trạng khắc khoải, bi quan, hụt hẫng? Hay phải chăng tôi không muốn nghĩ đến, vì tôi sợ nó? Lòng trí tôi có hướng về Chúa với tâm tình phó thác và hết mình cậy trông không?
Có lẽ thứ tội quá phổ biến ở Âu Châu ngày nay, là người ta sợ hãi nhìn về tương lai, người ta hoàn toàn chối bỏ tương lai của mình để miệt mài tìm kiếm ở hiện tại những gì đem lại kích thích và hưng phấn cho họ.
Như vậy thánh vịnh 16 quả là một phương thuốc tốt chống lại nỗi sợ hãi này của thời đại.
“Cầu nguyện”
Với những ai muốn đào sâu thánh vịnh bằng cách dành nhiều thời gian hơn cho phần yên lặng chiêm niệm, tôi còn muốn gợi ý thêm hai câu hỏi nữa giúp nắm bắt được tính thời sự mà nội dung của những từ ngữ hàm chứa, và gợi ý cầu nguyện.
Lạy Chúa con có bằng lòng về số phận của con về mặt thể lý, gia đình, kinh tế, trí tuệ và tâm lý không? Có đúng là đối với con, con đã phải chịu số phận hẩm hiu chăng? Lạy Chúa, con là kẻ bất mãn chăng? Cái gì sẽ cho phép con dám thân thưa với Chúa khi ở trước thánh nhan Ngài:
“Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,
Vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn.”
Tác giả thánh vịnh ca ngợi:
“Con luôn nhớ có Ngài trước mặt,
Được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ.
Vì thế tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan.”
Còn con, con có hài lòng về Chúa hay là luôn mang bộ mặt phần nào cau có, bởi vì Chúa đã không ban cho con điều con trông đợi?
Nếu chúng ta nhận thấy mình hay cau có, bất mãn, hãy tìm ra lý do để cầu nguyện bằng cách lặp lại phần đầu của thánh vịnh:
“Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con,
Vì bên Ngài, con đang ẩn náu,
Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa con thờ,
Ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc!”
[1] Chuyển ý từ Carlo Maria Martini, “Le désir de Dieu, Prier les psaumes”, Cerf, Paris, 2004. Nhóm dịch thuật.
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC:
Tình thương dành cho Cộng đoàn giáo xứ
Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ Linh mục - 2025
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 13)
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 12)
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 11)
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 10)
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 8)
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 7)

+ Chúa Nhật 14/12/2025 – CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG năm A – Đấng phải đến.