Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 16)

Giới thiệu:

Đây là cuốn sách khai tâm cho những người muốn cầu nguyện bằng Thánh Vịnh. Khi đọc phụng vụ giờ kinh thường thường chúng ta cảm thấy khô khan, khó hiểu. Hãy đọc cuốn sách này và bạn sẽ thấy một đổi thay hết sức bất ngờ.

                                          Linh mục Mỹ Sơn giáo phận Long Xuyên

 

 

BÀI 9

THÁNH VỊNH 73 (72)

Khủng hoảng niềm tin trước bất công

 

1      Thánh vịnh. Của ông A-xáp.

         Thiên Chúa nhân hậu biết dường nào với nhà Ít-ra-en,          

        với những kẻ có lòng trong sạch!

2      Thế mà tôi đã gần như hụt bước,

        một chút nữa là tôi phải trượt chân,

3      bởi ganh tị những người lên mặt

        và thấy ác nhân thịnh đạt hoài.

4      Quả là chúng không nếm mùi tân khổ,

        chúng có thân hình mạnh mẽ phương phi,

5      không hề vất vả như ai khác,

        chẳng bị tai ương giống người đời.

6      Vì vậy, chúng lấy vẻ kiêu căng làm vòng đeo cổ,

        lấy thói bạo tàn làm áo che thân.

7      Xác đầy mỡ tiết ra toàn gian ác,

        và tâm địa chan chứa những mưu mô.

8      Chúng chế giễu, buông lời thâm độc,

        lại kiêu căng bàn chuyện ức hiếp người;

9      miệng chẳng từ xúc phạm trời cao,

        lưỡi tự do tung hoành cõi đất.

10    Nên dân ta hướng về chúng cả,

        lời chúng thốt ra, hăm hở nuốt vào.

11    Chúng bảo: "Chúa Trời đâu có biết,

        Đấng Tối Cao nào hiểu chuyện chi!"

12    Ác nhân như vậy đó,

        chúng vẫn cứ an nhàn, thu tích thêm của cải.

13    Lạy Chúa, như thế là con đã uổng công

        giữ lòng trong trắng, giữ tay thanh sạch!

14    Suốt ngày con bị đòn bị đánh,

        mỗi sớm mai hình phạt sẵn chờ.

15    Giả như con tự nhủ: mình nói năng như chúng,

        thì con đã thất trung với giống dòng con Chúa.

16    Nên con mới gẫm suy để hiểu chuyện này,

        nhưng đối với con thật là vất vả;

17    cho tới ngày được vào trong thánh điện,

        con mới am tường hậu vận chúng ra sao.

18    Quả Ngài đặt chúng vào nơi trơn trượt,

        đẩy cho rơi vào cảnh điêu tàn.

19    Trong nháy mắt, hỡi ôi, chúng đã sụp đổ rồi,

        nỗi kinh hoàng ập xuống, cuốn mất cả tăm hơi!

20    Lạy Chúa, khi tỉnh giấc, Ngài xua đuổi hình ảnh chúng đi,

        như giấc mộng phai mờ lúc người ta thức dậy.

21    Khi lòng con ngậm hờn cay đắng

        và nỗi đớn đau thấu tận ruột gan,

22    con quả đã ngu si chẳng hiểu,

        trước mặt Ngài, như thú vật nào hơn!

23    Thật con ở với Chúa luôn,

        tay con Ngài nắm chẳng buông chẳng rời,

24    dắt dìu khuyên nhủ bao lời,

        một mai đưa tới rạng ngời quang vinh.

25    Con còn ai chốn trời xanh?

        bên Ngài thế sự thật tình chẳng ham.

26    Dẫu cho hồn xác suy tàn,

        thì nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con,

        muôn đời là Chúa cao tôn.

27    Kìa ai xa Chúa, sẽ mai một hết,

        những kẻ phụ Ngài, Ngài diệt cả đi.

28    Còn hạnh phúc của con là ở kề bên Chúa,

        chốn ẩn thân đặt ở Chúa Trời.

        Mọi việc Ngài làm, con xin kể lại

        nơi cửa vào thành thánh Xi-on.

 

Thánh vịnh 73 diễn tả một thời điểm đặc biệt trong đời sống kitô hữu, lúc bị cám dỗ, về phương diện cá nhân, xã hội cũng như lịch sử của con người. Cơn cám dỗ của con người khi cảm thấy Thiên Chúa vắng mặt trong lịch sử. Vì thế nó biểu hiện một kinh nghiệm đặc biệt, không phải là mọi kinh nghiệm của con người. Nhờ Thiên Chúa, ta thường có kinh nghiệm về sự hiện diện trọn vẹn của Ngài, nhưng trong đời sống cá nhân và cộng đoàn, nhiều lúc Thiên Chúa xem ra vắng mặt: lạy Thiên Chúa con, con kêu lên Ngài và Ngài không đáp lại, ngày đêm con kêu lên Chúa và con chẳng nghe thấy tiếng Ngài. Thánh vịnh đã được viết nên trong hoàn cảnh ấy; toàn  bộ thánh vịnh đều mang tính cách đặc biệt, mang giọng điệu suy tư ấy, đó là một thánh vịnh thoát thai từ nỗi khổ đau sâu xa, từ niềm thống khổ bùng vỡ vào một lúc nào đó; rồi như chúng ta thấy, nỗi đau bùng vỡ ấy chuyển thành sự chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa. Vì thế, đây chính là một kinh nghiệm thiêng liêng rất sâu xa và mãnh liệt.

 

Một kinh nghiệm về những tận cùng của sự ruồng bỏ, của thử thách

Thánh vịnh thoát thai từ đâu? Từ đáy lòng một tín hữu, chắc chắn là thế rồi; tác giả là một tín hữu, một người tín thác nơi Thiên Chúa, hãnh diện về Thiên Chúa, phó thác mạng sống mình nơi Thiên Chúa. Và người tín hữu ấy đột nhiên cảm thấy mình như bị tổn thương, thấy niềm tin của mình gần như bị phản bội. Tại sao?

Bởi vì những người khác (cá nhân, nhóm, quốc gia, dân tộc), không có cùng kinh nghiệm như mình – những quốc gia không phó thác trong tay Thiên Chúa như Israel, những quốc gia tự hào về mình, vào sức mạnh riêng của mình – có vẻ như lại thắng thế? Sức mạnh siêu chính trị của họ dường như đè bẹp dân tộc Israel nhỏ bé, những kẻ vô sỉ – hành động và hành xử bất cẩn – dường như đè bẹp người tín hữu tín thác nơi Thiên Chúa và đã hành xử một cách chính trực. Khi kinh nghiệm này trở nên gay gắt – trong một số trường hợp cụ thể, cá nhân hay tập thể – lúc ấy người tín hữu sẽ bị tổn thương, cay đắng, thất vọng. Thất vọng khi ông so sánh mình với những kẻ không tín thác vào Chúa lại xem ra được đầy đảm bảo, trong khi niềm tin nơi Chúa của mình dường như chỉ là một ảo ảnh.

Nhận ra Thiên Chúa không nể nang ngay cả những kẻ Ngài yêu thương là một kinh nghiệm chua cay, đau đớn khôn lường.

Từ đó, chúng ta rút ra một giáo huấn quan trọng: đừng ngạc nhiên khi chính mình phải trải qua kinh nghiệm đau đớn này vì đó cũng chính là kinh nghiệm mà dân riêng Chúa đã kinh qua, kinh nghiệm của người tín hữu đã sáng tác nên thánh vịnh này. Và chúng ta nhận ra ông đang tiếp bước các đấng tổ phụ tràn đầy niềm tin trong Cựu Uớc đã từng nếm trải cùng một kinh nghiệm đau thương này. Tiên tri Giêrêmia đã nói: “Lạy Chúa, đối với con, Chúa giống như dòng thác không đều: khi con chờ nước lớn, dòng thác lại cạn khô; Ngài chẳng đến với con khi con cần thiết, Ngài đã chẳng nghe thấy tiếng con”. Và Gióp còn đi xa hơn đến độ nguyền rủa cả ngày sinh nhật của mình, vì ông cho rằng mình đã mắc bẫy Thiên Chúa đến độ chẳng tìm được lối ra.

Đã hẳn đây là một kinh nghiệm tôn giáo, nhưng cũng có thể nói đó là kinh nghiệm ở bên bờ vực của sự mất đức tin, của việc Thiên Chúa ruồng bỏ.

 

Kinh nghiệm của người bị thử thách hầu như quá sức mình

Thật thú vị khi thấy Kinh thánh không e dè những kinh nghiệm như vậy; Kinh thánh đi tới cùng khi trình bày, tường thuật, ghi nhớ những kinh nghiệm ấy, vì đó chính là những kinh nghiệm của con người thực sự bước đi trong mối thân tình với Thiên Chúa, những người đã mạo hiểm đánh mất tất cả.

Kẻ không dám mạo hiểm không thực sự sống những kinh nghiệm này; những kinh  nghiệm này thuộc về những kẻ dám đánh cuộc bằng chính mạng sống mình. Các thánh, nghĩa là những vị sống chiêm niệm, thường đã đi đến cùng những kinh nghiệm này, vì các ngài đã thực sự mạo hiểm mất tất cả.

Nếu đọc một số câu của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu trong những tháng cuối đời (trong lúc Ngài nằm liệt giường, mà với ý chí sắt thép ngài dường như cũng không chịu nổi; hay ngay lúc còn thơ bé, ngài đã không thể kiểm soát nổi thói quen, trí tưởng tượng và lời nói của mình nữa). Ngài đã thốt lên những lời tương tự như trong thánh vịnh này, nghĩa là tương tự những lời của Chúa Giêsu: “Lạy Thiên Chúa con, lạy Thiên Chúa con, sao Chúa bỏ con?”.

Kinh nghiệm bi đát này cũng chính là kinh nghiệm của Con Thiên Chúa; chính là kinh nghiệm của kẻ yêu thương đến cùng, mạo hiểm đến cùng và vì thế mới cảm nếm được mùi vị của thử thách. Đây không phải kinh nghiệm của những kẻ đi trên những con đường bằng phẳng, dễ dàng, không phải mất mát gì, mà là kinh nghiệm của những kẻ yêu thương tột cùng. Thánh vịnh này thoát thai từ một tình yêu sâu thẳm, và chính vì thế mà nó diễn tả rất tự do nỗi đau đớn của riêng mình. Điều này có thể xa lạ với chúng ta, nhưng Thánh kinh không bịt miệng kẻ than khóc như vậy; sự than khóc của ông đầy cay đắng. Ông so sánh đời mình với những kẻ khác và bảo:   

“Thế mà tôi đã gần như hụt bước,

Một chút nữa là tôi phải trượt chân.” (c.2)

Nói cách khác tôi chỉ còn cách nỗi thất vọng trong gang tấc.

Chính thánh Phaolô cũng đã có những kinh nghiệm ấy trong thư thứ hai gởi giáo đoàn Côrintô: “tôi đã cảm thấy thần chết đè nặng trên mình”. Và sự so sánh của người tín hữu khi sánh mình với những kẻ, ngược hẳn mình, không có chút niềm tin nào, nhưng lại gặp đầy may mắn, đã được diễn tả đầy ấn tượng: Họ, những kẻ quyền thế trên đời có tất cả, không phải lo lắng gì; họ gần như thoát mọi khổ đau và sợ hãi, đầy kiêu căng và bạo hành. Ta có cảm tuởng đó là sự mô tả một số thế lực chính trị mà thế giới cung cấp cho chúng ta, bạo lực dường như đóng vai trò tuyệt đối: “chúng chế diễu buông lời thâm độc, lại kiêu căng bàn chuyện ức hiếp người”. Và qua cảm nghĩ tự mãn này, ta thấy cả một biểu hiện thực tiễn của thuyết vô thần: “Chúa Trời đâu có biết, Đấng Tối Cao nào hiểu chuyện chi?”. Thiên Chúa đường như không màng đến những điều này.

 

Nỗi cay đắng dịu bớt

Ở đây, cơn cám dỗ được diễn tả với tất cả sự độc ác của nó, gần như đã đạt tới tột điểm.

Người cầu nguyện, sau khi nhìn quanh, trở lại với chính lòng mình và thấy mình đang miệt mài trong nỗi đắng cay hằng ngày: “Suốt ngày con bị đòn bị đánh, mỗi buổi mai hình phạt sẵn chờ” (c. 14). Đêm tàn, ngày mới, con nhìn lên và thầm nhủ: vẫn lại là một ngày không thấy ánh mặt trời.

Thế là người ta kết luận như Gióp ngày xưa, sau khi đã mải miết suy nghĩ suốt cuốn sách: tôi chẳng hiểu gì cả! “Bao năm tôi tìm kiếm, chỉ vất vả luống công, nhưng khi vào đến nhà Thiên Chúa, tôi mới hiểu”.

Nỗi đau khổ này, nỗi đau bào sát trái tim một người mà, dù bất cứ điều gì xẩy đến, vẫn gắn bó với Thiên Chúa: con không thể rời bỏ dân tộc của con cái Ngài; con chẳng hiểu gì, chẳng thấy gì, nhưng con gắn bó với Ngài thôi!

Đó chính là kinh nghiệm của bóng tối, của nỗi cô quạnh, trong đó, người ta dù không thấy gì nữa, nhưng vẫn thân thưa: “lạy Chúa, con chẳng hiểu biết gì nhưng con luôn gắn bó với ngài, xin Ngài đừng bỏ rơi con”. Và kinh nghiệm ấy đã được tưởng thưởng: “Con sẽ bước vào nhà Thiên Chúa”.

Vậy điều gì đã xảy đến nơi người bị những tư tưởng này dày vò? Vào một lúc nào đó, ông quyết định; hay đúng hơn, ông nhận được ân sủng, nhận được hồng ân để không nhìn xung quanh mình nữa, làm như chỉ mình mình mới có quyền phán quyết mọi sự, nhưng để đặt mình bên cạnh Thiên Chúa, để bước vào thánh điện của Ngài, để xem xét sự vật như Ngài xem xét,  để ra khỏi tầm nhìn hạn hẹp của mình, mặc lấy tầm nhìn của Thiên Chúa.

Đó chính là bước nhảy vọt, vượt qua, là lúc đau thương tột đỉnh để rồi dịu bớt lại và biến thành chấp nhận thanh thản một thực tại được ngắm nhìn với ánh mắt khác hẳn.

 

Khám phá thấy Thiên Chúa là một người bạn.

Sự thay đổi xảy đến vào hai thời điểm khác nhau được diễn tả trong phần hai.

Trước tiên vào lúc ý thức, chúng ta tạm gọi thế, được sự khôn ngoan của lịch sử. Con người này, sau khi đứng về phía Thiên Chúa, nghĩa là nhìn lịch sử bằng ánh mắt của Thiên Chúa – định nghĩa duy nhất, phán quyết chân thực về thực tại -, hiểu rằng tất cả những điều đó chỉ vững chắc bề ngoài thôi; kẻ kiêu căng, tự mãn, có thể làm gì tuỳ ý: bạo ác hay công lý cũng được, nhưng sẽ chẳng được bao lâu, chẳng tồn tại mãi. Tôi nghĩ đến câu trả lời của Đức Gioan Phaolô II khi các kí giả hỏi về tình hình của tổ quốc Ngài: “Đền thánh Czectochowa đã có cách đây 400 năm và sẽ tồn tại mãi; rất nhiều điều khác đã không còn nữa”.

Tóm lại, đứng về phía Thiên Chúa, chính là nhìn sự vật như Thiên Chúa nhìn, vì thế, trong khi tập cảm nhận ý nghĩa của thời gian và thực tại như Thiên Chúa trong toàn cảnh mầu nhiệm của Ngài: như một giấc mộng lúc thức giấc, lạy Chúa, khi thức giấc, Ngài khinh bỉ hình ảnh của họ.

        “Trong nháy mắt, hỡi ôi, chúng đã sụp đổ rồi,

        nỗi kinh hoàng ập xuống, cuốn mất cả tăm hơi !

        Lạy Chúa, khi tỉnh giấc, Ngài xua đuổi hình ảnh chúng đi,

        như giấc mộng phai mờ lúc người ta thức dậy.” ( 19-20 )

Sự khôn ngoan của lịch sử mà người ta đạt được khi đứng về phía Thiên Chúa là như vậy đấy; nhưng như thế vẫn còn ít, vì sự khôn ngoan lịch sử ấy có thể chỉ đưa người đau khổ tìm thấy một niềm bình an nào đó, một sự thăng bằng nội tâm nào đó  mà thôi.

Lời cầu nguyện còn đưa ta đi xa hơn nhiều. Trong khi đứng về phía Thiên Chúa, người tín hữu khám phá thấy mình có cả một kho tàng quí giá hơn mọi sự khác; Thiên Chúa ở với mình, Thiên Chúa chính là bạn hữu của mình.

Trong những câu cuối Thánh vịnh này diễn tả cách êm ái nhất, tình bạn thiết nghĩa của con người với Thiên Chúa. Một thực tại mà con người không thể tự biết đã được mặïc khải ở đây  “con ở với Ngài luôn mãi.” Đây cũng chính là lời của người cha nhân  hậu bảo đứa con cả trong dụ ngôn Người Cha nhân hậu: “Còn con, con luôn ở với Cha đó thôi”; nếu bạn hiểu được ý nghĩa của điều đó rồi, thì tất cả những điều khác đều vô nghĩa.

Và sau mặc khải: “Con ở với Ngài”, là sự diễn tả tuyệt vời tình bạn thiết với Thiên Chúa, khi mà Thiên Chúa vẫn chưa hiển lộ qua khuôn mặt của Chúa Giêsu, qua khuôn mặt của một người bạn thiết, nhưng vẫn còn đầy bí ẩn thì tác giả thánh vịnh, người được linh hứng này đã nắm bắt được Thiên Chúa như một người bạn thiết nghĩa: 

“Thật con ở với Chúa luôn,

tay con Ngài nắm chẳng buông chẳng rời,

dắt dìu khuyên nhủ bao lời,

một mai đưa tới rạng ngời quang vinh.”

Ba thời điểm được sống tình bạn thiết với Thiên Chúa này sẽ xóa nhòa mọi vấn dề. Sự giải tỏa khỏi nỗi khổ đau trong tâm hồn con người, khỏi điều đè nặng trong lòng này, không đến từ lý luận, nhưng từ việc cảm nhận sâu sắc rằng mình được yêu thương, được yêu thương vô hạn.

Đó chính là điều kì diệu mà Đức Gioan Phaolô II nói đến trong thông điệp Ơn cứu độ con người: “điều kì diệu của con người khi khám phá thấy mình được Thiên Chúa yêu thương vô hạn, và hiểu điều đó tận đáy lòng là toàn bộ cái nhìn của họ về thế giới sẽ được tổ chức lại một cách khác hẳn, dưới ánh sáng tích cực.”

Tay con Ngài nắm chẳng buông chẳng rời, dắt dìu khuyên nhủ bao lời… nói cách khác, hiện tại và tương lai của con ở trong tay Ngài. Và lúc ấy, con thốt lên tiếng yêu thương:

        « Con còn ai chốn trời xanh?

        bên Ngài thế sự thật tình chẳng ham.

        Dẫu cho hồn xác suy tàn,

        thì nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con,

        muôn đời là Chúa cao tôn. » (c. 25-26)

Nói cách khác, đời sống con có thể bị bỏ rơi, con có cận kề bên cái chết, « nhưng đá tảng của lòng con, chính là Thiên Chúa đến muôn đời. » Tôi dường như nghe thấy tiếng nói của các thánh, đặc biệt là của thánh Phanxicô Assisi, lập đi lập lại trong cơn xuất thần: « Thiên Chúa của con và tất cả của con ». « Đá tảng của lòng con là Thiên Chúa đến muôn đời.... Đối với con, được ở bên Chúa tốt đẹp biết bao, Con ẩn náu bên Thiên Chúa của con ».

 

Tất cả được thành toàn nơi Đức Kitô

Vậy là thánh vịnh kết thúc bằng sự chiêm niệm, hay có thể nói bằng việc đắm chìm trong Thiên Chúa nhân lành và xót thương. Đây chính là kinh nghiệm có một không hai giúp con người đạt đến ý nghĩa của đức tin giúp họ thống nhất đời sống.

Trong cuộc tiếp kiến các Giám Mục miền Lombard, ngày 15/04/1981, Đức Thánh Cha đã quả quyết rằng bổn phận của Giám Mục chỉ có một: đó là bổn phận làm chứng, bổn phận tuyên xưng niềm tin, qua đó, con người tìm thấy ý nghĩa cho mọi cuộc đời, cho mọi thực tại xung quanh mình; thế nhưng, nắm bắt được ý nghĩa này khó biết bao.

 

Mở đầu thánh vịnh, ta thấy một người dò dẫm kiếm tìm, và mọi sự với ông dường như thật tăm tối, bất công; ông cảm thấy Thiên Chúa dường như vắng mặt. Nhưng khi bước được vào mầu nhiệm xót thương của Thiên Chúa, mầu nhiệm chứa đựng toàn bộ lịch sử cứu độ, lời mặc khải quyết định của toàn bộ Thánh Kinh và hợp đề của mầu nhiệm thánh thể, khi buớc vào trung tâm Thánh Kinh, trung tâm của bí tích Thánh Thể – là Thiên Chúa xót thương gần cận chúng ta, gần cận tôi -, lúc ấy, cái nhìn của ông đã được chỉnh đốn, mọi phần còn lại đều có ý nghĩa, một ý nghĩa sáng tỏ.

Không còn gì vô nghĩa nữa, mọi sự đã có một hướng đi, mọi sự đều có một ý nghĩa cho kẻ biết đứng đúng chỗ để quan sát: chỗ đó là chính trái tim của Thiên Chúa, trái tim của Đức Kitô. Khởi đi từ đó mọi thực tại đều mặc đúng diện mạo của nó, và có thể được nắm bắt và sống một cách rõ rệt; vì biết rõ rằng ta sẽ thực sự không phải thiếu thốn gì, nếu ta ở trong trái tim Đức Kitô, nếu qua phép Thánh Thể ta đã đạt tới trung tâm của mọi kinh nghiệm nơi cộng đoàn và trong lịch sử.

Như vậy thánh vịnh kết thúc bằng một thị kiến, thị kiến của Tân ước, của mầu nhiệm Đức Kitô chết và phục sinh mà chúng ta bước vào.

Chúng ta ở trong Đức Kitô, trong Người, mầu nhiệm Thiên Chúa đã được hiển lộ cho chúng ta; và trong mầu nhiệm của Thiên Chúa, sự sống, cái chết, mọi biến cố vây bọc lấy ta, mọi thành công cũng như thất bại trong đời, tất cả đều có một ý nghĩa và tìm được sự thành toàn nơi Đức Kitô, vì chúng ta luôn ở với Ngài.

 

Cách cầu nguyện thánh vịnh này.

Ta tự hỏi phải cầu nguyện với thánh vịnh này thế nào.

Ta có thể dùng nó để cầu nguyện bằng cách sống những kinh nghiệm nó ám chỉ. Trước tiên là những kinh nghiệm cá nhân. Ta có thể tự hỏi: giữa những thử thách của cuộc đời, tôi có cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng Đức Kitô đang ở cùng tôi, rằng Ngài không bỏ rơi tôi không? Tôi có sẵn sàng đón nhận lời này: Đức Kitô ở với tôi luôn mãi không? Không gì có thể ngăn cách tôi khỏi Người, dù là cái chết hay sự sống như thánh Phaolô nói không; không sức mạnh nào, không quyền lực mãnh liệt nào có thể tách rời tôi khỏi tình yêu của Thiên Chúa, Đấng ngự trong Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng tôi không?

Ta cũng có thể cầu nguyện với thánh vịnh này khi đặt mình trong hoàn cảnh của Giáo Hội đau khổ, của Giáo Hội bị bách hại, của Giáo Hội bị khinh miệt, chê bai, tìm thấy sức mạnh của mình nơi Thiên Chúa.

Ta cũng có thể cầu nguyện với thánh vịnh này với tư cách là những công dân của thế giới, bày tỏ sự gắn bó của mọi người với Thiên Chúa cứu độ, tín thác vào một mình Ngài, xác tín rằng Ngài không bao giờ rời bỏ ta.

Sau hết, ta tự hỏi: tôi có thể diễn tả niềm xác tín này ra sao trong những ngày tôi đang sống đây? Những lời tôi nói, những việc tôi làm có hợp với điều thánh vịnh nói không?

« Giả như con tự nhủ: mình nói năng như chúng

thì con đã thất trung với giống dòng con Chúa. » (c.15)

Mọi lời nói, việc làm của tôi biểu hiện niềm tự tin vào chính mình tôi, vào uy quyền của tôi, vào quyền lực chính đáng của tôi, vào sức mạnh của tôi, vào sự mạnh bạo của tôi hay biểu hiện niềm xác tín rằng Thiên Chúa luôn ở với tôi, cùng Giáo Hội của Ngài, cùng với những kẻ tin tưởng nơi Ngài?

Chúng ta cùng cầu nguyện để biết đón nhận lòng xót thương của Thiên Chúa là nơi sẽ xét xử chúng ta và thế giới.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC:

Suy niệm 2 : Cực nhọc và an ủi

Suy niệm 2 : Cực nhọc và an ủi

31/12/2025 07:25
650
Tình thương dành cho  Cộng đoàn giáo xứ

Tình thương dành cho Cộng đoàn giáo xứ

12/12/2025 13:46
728
Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ Linh mục - 2025

Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ Linh mục - 2025

10/11/2025 14:20
708
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 13)

Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 13)

09/10/2025 10:30
339
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 12)

Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 12)

24/09/2025 17:05
320