Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 15)

Giới thiệu:

Đây là cuốn sách khai tâm cho những người muốn cầu nguyện bằng Thánh Vịnh. Khi đọc phụng vụ giờ kinh thường thường chúng ta cảm thấy khô khan, khó hiểu. Hãy đọc cuốn sách này và bạn sẽ thấy một đổi thay hết sức bất ngờ.

                                          Linh mục Mỹ Sơn giáo phận Long Xuyên

 

 

THÁNH VỊNH 63 (62)

Khao Khát Chúa

 

1        Thánh vịnh Của vua Đa-vít. Khi ông ở trong sa mạc Giu-đa.

2        Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,

          ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.

          Linh hồn con đã khát khao Ngài,

          tấm thân này mòn mỏi đợi trông,

          như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.

3        Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,

          để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.

4        Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,

          miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương.

5        Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,

          và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.

6        Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,

          môi miệng con rộn rã khúc hoan ca.

7        Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ,

          suốt năm canh thầm thĩ với Ngài.

8        Quả thật Ngài đã thương trợ giúp,

          nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui.

9        Trót cả tâm tình, con cùng Ngài gắn bó,

          giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù trì.

10      Còn những kẻ tìm hại mạng sống con,

          ước gì chúng phải xuống vực sâu lòng đất,

11      bị gươm giáo phanh thây, làm mồi cho muông sói.

12      Đức Vua sẽ vui mừng trong Thiên Chúa.

          Ai lấy danh Chúa mà thề sẽ được hiên ngang ;

          còn người nói dối phải câm miệng.

 

Thánh vịnh 63 rất giầu chủ đề, khát vọng, lời kêu gọi, ước mơ, hi vọng và biểu tượng. Nó phong phú đến độ rất khó đặt tựa. Bản dịch kinh thánh Giêrusalem lấy tựa: “Uớc muốn của Thiên Chúa”, trong khi bản chú giải của Đức Cha Ravasi gọi là: “nỗi khát, cơn đói, ước muốn của Thiên Chúa: bài ca tình yêu huyền nhiệm”.

Chúng ta sẽ suy gẫm thánh vịnh này một cách khái quát; nhưng trước tiên, cho phép tôi bắt đầu bằng một kỉ niệm riêng.

Nhiều năm trước, khi còn ở Palestine với mấy nguời bạn, chúng tôi từ Giêrusalem tiến vào sa mạc, băng qua Anatot là thành của tiên tri Giêrêmia; từ đó, chúng tôi men theo con đường bụi bặm chẳng mấy chốc đã đến những nơi đầy cát, đá. Đột nhiên, có một dòng suối, một dòng suối kì diệu róc rách một dòng nước mát rượi. Suối Ain Fara, gần những di tích của một trong những tu viện cổ kính nhất trong sa mạc, tu viện thánh Cariton, thế kỉ thứ 4. Đang mồ hôi nhễ nhãi, khát khô cổ, mệt lả người, chúng tôi ngồi ngay xuống phiến đá lớn nơi dòng nước trong vắt đang rỉ rả chảy, im lặng nhìn nhau. Bỗng một người trong nhóm đề nghị: mỗi người hãy cầu nguyện với bất cứ thánh vịnh nào lột tả được tâm trạng của mình lúc đó. Thế là tôi buột mồm đọc thánh vịnh 63: “Lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa con, con tìm kiếm Chúa, linh hồn con khao khát Chúa; tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước…”

Từ đấy, mỗi khi đọc, cầu nguyện và hát ca  những lời thánh vịnh này, tâm trí tôi lại nhớ ngay đến tháng ngày kỉ niệm ấy. Mà phụng vụ và các giờ kinh lại rất hay lập đi lập lại thánh vịnh này !

 

‘Đọc’ thánh vịnh 63

Ai đã hát lên thánh vịnh này? một người xưng “tôi”, một cá nhân và vì thế lời hát ấy rất đỗi riêng tư: một người đang khát khô cổ, đói lả, hổn hển thở chẳng ra hơi: ta có thể coi ông như một người cầu kinh trong đêm tối. Dĩ nhiên, cũng có thể xác định những khuôn mặt cầu kinh này trong lịch sử.

Câu 1, nói lên xuất xứ của thánh vịnh, gán cho vua Đavít là tác giả, lúc ngài sống đời lính chiến trong sa mạc: bị Saolê săn đuổi, khát mong được về Đền Thánh và được nghỉ ngơi, khát mong Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể cứu vớt mình.

Câu 3 mở ra một tình huống phổ quát hơn, tình huống của một tín hữu bị bắt bớ, chạy trốn vào thánh điện để tránh đối phương trả thù: “Con đã chiêm ngắm Ngài nơi thánh điện”.

Hơn thế nữa, tác giả thánh vịnh cũng có thể là một vị vua bị bại trận và mong lấy lại được sức: “Còn những kẻ tìm hại mạng sống con, ước gì chúng phải xuống vực sâu lòng đất, bị gươm giáo phanh thây, làm mồi cho muông sói. Đức Vua sẽ vui mừng trong Thiên Chúa. Ai lấy danh Chúa mà thề sẽ được hiên ngang.” (10-12)

Có lẽ  có bạn sẽ nhận ra là ba câu cuối của tác giả không có trong các bản văn phụng vụ chính thức, vì bị coi là quá mạnh và hiếu chiến. Dù sao đi nữa, trước câu hỏi ai đã hát thánh vịnh này, ta có thể trả lời: nhiều người, Đavít, một tín hữu, một ông vua bại trận, một người cầu kinh; và mỗi người trong chúng ta, vì chính tôi, chính bạn cũng hát nó. Chính tôi nhận ra mình trong mọi thái độ của người cầu kinh này và cũng muốn đối đầu với mọi hoàn cảnh được mô tả trong thánh vịnh. Vì thế, thánh vịnh diễn tả một cái “tôi” phổ quát.

Những thái độ nào của con người được nhấn mạnh ở đây? Tác giả dùng những hình ảnh cụ thể nào? Thưa đó là những thái độ của người tìm kiếm người yêu. Nếu rảo qua các câu khác, chúng ta sẽ thấy chúng nhấn mạnh đến những tình cảm của một người tình kiệt sức: tôi tìm kiếm, khát khao, khát mong em, không có em tôi như sa mạc hoang, như mảnh đất khô cằn không giọt nước; tôi muốn nhìn thấy em, muốn ôm chặt em trong vòng tay, tựa vào em để nghỉ ngơi, và tôi nhớ em, ngay cả trong đêm trường, tôi nhảy mừng vì em, tôi tán dương và cầu phúc cho em. Những thái độ của người tình của Thiên Chúa này rất quan trọng, như chúng ta sẽ thấy.

Những thái độ như vậy được diễn tả khi nào? Chúng được diễn tả vào hai thời khắc chúng ta thường mơ: Lúc bình minh, là lúc có những giấc mơ tích cực dự báo trước những công việc ban ngày; và vào ban đêm, “trong đêm tối… con vẫn thầm thĩ với Ngài”: đó là những giờ khắc lo âu, sợ hãi, cô đơn, tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời.

Hai thời điểm trong đó các giấc mơ đối chọi nhau trong lòng ta: hi vọng, ước mơ và sợ hãi, nhưng luôn khát mong một Đấng nào đó.

Chúng được diễn tả theo trật tự nào? Thánh vịnh 63, đầy ngẫu hứng, đầy những niềm xúc động phát xuất tự đáy lòng, nhưng vẫn có một cấu trúc thật rõ ràng và có thể chia làm 3 phần:

Phần thứ nhất (câu 2-4) là tiếng ca nói lên lòng khát khao Thiên Chúa: những hình ảnh cốt lõi ở đây là khát, là nước, là ước mơ bỏng cháy.

Phần thứ hai (câu 5-9) là tiếng ca diễn tả cơn đói Thiên Chúa: phần này nói đến người khách được mời, đến vị giác, đến no thỏa, đến niềm hân hoan và niềm vui đặc biệt của khách dự tiệc, và những khát vọng thật nhất của con người được diễn tả ở đây qua hình ảnh của cơn đói, sau khi đã nói đến cơn khát.

Phần thứ ba (câu 10-12) là bài ca về sự xét xử của Thiên Chúa: kẻ đã sống cơn khát Thiên Chúa và đã được giải khát, đã sống cơn đói Thiên Chúa và đã được no thỏa, chiến thắng quân thù. Những chủ đề ở đây nói về chiều sâu của đất, của lưỡi gươm, của chó rừng, về niềm vui của vị vua chiến thắng: chúng vẽ nên cảnh chiến thắng quân thù hùng mạnh.

Vì thế bố cục gồm ba phần: khát, đói, chiến thắng. Bài ca khát Thiên Chúa, đói Thiên Chúa, bài ca về sự xét xử của Thiên Chúa.

Trong thánh vịnh, Thiên Chúa được hiểu ngầm dưới hình ảnh nào? Người nói, cầu nguyện và hát ca coi Thiên Chúa như người mình yêu, nhìn Ngài như người yêu của mình. Vì thế đây chính là một Thiên Chúa đáng khao khát, đáng yêu mến hơn cả chính sự sống, một Thiên Chúa làm thỏa lòng kẻ kiếm tìm Ngài, một Thiên Chúa mà người ta kết hợp nên một, một Thiên Chúa mà người ta tựa nương và muốn được ôm chặt vào lòng. Hình ảnh cũng có thể là của người tiến bước trên con đường mòn khúc khuỷu, khó khăn, hiểm nguy trong vùng núi và biết rằng có một bàn tay mạnh mẽ gìn giữ và dẫn đưa mình tới đích an toàn.

Có thể tóm lược toàn bộ thánh vịnh trong câu nói tuyệt vời của thánh Grégoire de Naziance, giám mục và tiến sĩ Hội thánh, mất vào khoảng năm 390: Deus sitit sitiri (Thiên Chúa là Đấng khát khao đáng được khao khát ).

Vì thế, ngay từ đầu tôi đã nói rằng người đối thoại là một người tình của Thiên Chúa: kinh nghiệm của ông là kinh nghiệm thần khải, vững vàng, bảo đảm, nó củng cố ta trong những cơn thử thách ngoại tại cũng như nội tâm, đó là kinh nghiệm của sự khát khao lẫn no thỏa.

 

Phải lòng Thiên Chúa

Để “suy niệm”, ta đã nói trước một chút trong khi “đọc”, tôi xin gợi ra 2 chủ đề hay ý tưởng,  tuy ngắn gọn nhưng rất quan trọng.

Ý tưởng đầu tiên như sau: với việc đọc thánh vịnh 63, là lời cầu nguyện, ta biết rằng cầu nguyện có lẽ là một kinh nghiệm đích thực của tình yêu, không hề kém mọi kinh nghiệm tình yêu khác mà có khi còn hơn nữa; một kinh nghiệm bao hàm cả thân xác, miệng lưỡi, tay chân, niềm hân hoan, nhảy múa, niềm vui sâu thẳm trong lòng. Tắt một lời, chúng ta được kêu gọi say mê Thiên Chúa.

Mỗi người có thể tự hỏi: tôi đã từng sống chút nào kinh nghiệm này trong khi cầu nguyện chưa? tôi có khát mong phải lòng Thiên Chúa và muốn Ngài giúp đỡ tôi về vấn đề này không?

Ý tưởng thứ hai, đặc biệt nằm ở phần cuối của thánh vịnh: lời cầu nguyện đem lại sức mạnh cho đời sống: “Ngài đã đến cứu giúp con… tay mặt Ngài nâng con lên, những kẻ rình hại mạng con sẽ thất vọng hổ ngươi”.

Phải lòng Thiên Chúa có nghĩa là hãnh diện về Ngài, lấy Ngài làm sức mạnh cho mình.

Từ đó ta tự hỏi: đâu là những đìều ta sợ hãi? Làm sao đưa chúng vào kinh nguyện để cảm nhận được sức mạnh của Chúa ở đó?

 

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC:

Suy niệm 2 : Cực nhọc và an ủi

Suy niệm 2 : Cực nhọc và an ủi

31/12/2025 07:25
650
Tình thương dành cho  Cộng đoàn giáo xứ

Tình thương dành cho Cộng đoàn giáo xứ

12/12/2025 13:46
728
Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ Linh mục - 2025

Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ Linh mục - 2025

10/11/2025 14:20
708
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 13)

Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 13)

09/10/2025 10:30
339
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 12)

Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 12)

24/09/2025 17:05
320