Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 14)
- 22/03/2026 15:20
- 181 lượt xem
-
In trang này
KHAO KHÁT CHÚA
Cầu nguyện bằng thánh vịnh[1]
Giới thiệu:
Đây là cuốn sách khai tâm cho những người muốn cầu nguyện bằng Thánh Vịnh. Khi đọc phụng vụ giờ kinh thường thường chúng ta cảm thấy khô khan, khó hiểu. Hãy đọc cuốn sách này và bạn sẽ thấy một đổi thay hết sức bất ngờ.
Linh mục Mỹ Sơn giáo phận Long Xuyên
(1)(1)(1)(1)(1)(1)(1)(1)(1)(1).jpg)
BÀI 8
THÁNH VỊNH 51 (50)
Trong tình yêu Ngài, xin hãy thương xót Sion
1 Phần nhạc trưởng. Thánh vịnh. Của vua Đa-vít.
2 Ngôn sứ Na-than đến gặp vua vì vua đã đến với bà Bát Se-va.
3 Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.
4 Xin rửa con sạch hết lỗi lầm
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
5 Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.
6 Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,
dám làm điều dữ trái mắt Ngài.
Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án,
liêm chính khi xét xử.
7 Ngài thấy cho : lúc chào đời con đã vương lầm lỗi,
đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.
8 Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật,
dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan.
9 Xin dùng cành hương thảo
rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền ;
xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết.
10 Xin cho con được nghe
tiếng reo mừng hoan hỷ,
để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng.
11 Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi
và xoá bỏ hết mọi lỗi lầm.
12 Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,
đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.
13 Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,
đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.
14 Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,
và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con ;
15 đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi,
ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài.
16 Lạy Thiên Chúa con thờ là Thiên Chúa cứu độ,
xin tha chết cho con, con sẽ tung hô Ngài công chính.
17 Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,
cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.
18 Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm,
con có thượng tiến lễ toàn thiêu,
Ngài cũng không chấp nhận.
19 Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát,
một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.
20 Xin rộng lòng tuôn đổ hồng phúc xuống Xi-on,
thành luỹ Giê-ru-sa-lem, xin Ngài xây dựng lại.
21 Bấy giờ Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền,
lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế.
Bấy giờ thiên hạ giết bò tơ dâng trên bàn thờ Chúa.
Đối với tôi và chắc chắn cũng như đối với nhiều người, thánh vịnh Miserere này chan chứa kỉ niệm; mỗi lần đọc lên, nó lại khơi gợi trong tôi những nỗi niềm khác nhau.
Suốt năm mục vụ 1982-1983, tôi đã đề nghị giới trẻ giáo phận Milan đọc nó trong những lần gặp gỡ nhau tại lớp tìm hiểu Lời Chúa, rồi chép tay lại và in thành sách; về sau, tôi đã nhận được từ tay một tù nhân can tội khủng bố trong nhà tù của thành phố, một bản chép tay thật đẹp thánh vịnh này. Miserere quả có sức mạnh phi thường thấm sâu vào lòng người.
Trong ấn bản hiện thời, thánh vịnh 51 và 50 như hai phần của một bức tranh hai cảnh, hai nhịp của phụng vụ sám hối. Thánh vịnh 50 diễn tả lời Thiên Chúa mắng mỏ Israel, lời trách cứ của Thiên Chúa :
“Với kẻ gian ác, Thiên Chúa phán bảo rằng :
Thánh chỉ của Ta, sao ngươi thường nhắc nhở,
mở miệng ra là chữ thánh ước trên môi ?
Nhưng chính ngươi lại ghét điều sửa dạy,
lời Ta truyền, đem vất bỏ sau lưng.
Gặp tên trộm đạo, ngươi hùa theo nó,
với bọn gian dâm, cũng lại thông đồng.”
Thánh vịnh 51 chính là câu trả lời. Con người nhìn nhận lời trách cứ ấy và khiêm tốn đáp lại trong niềm tin; chính vì thế mà cần phải giải thích đôi chút một số kiểu nói trong thánh vịnh 51, chẳng hạn như khi tác giả nói “Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử” Xét xử này nằm trong thánh vịnh 50, lời xét xử được tác giả chấp nhận và cho là xứng đáng với mình. Bối cảnh của thánh vịnh hiện thời là như vậy.
Hiển nhiên còn có một bối cảnh lịch sử khác, mà chúng ta đã biết, và từng được nói đến trong phần dẫn nhập rất cổ xưa: “Thánh vịnh của vua Đa-vít. Ngôn sứ Na-than đến gặp vua vì vua đã đến với bà Bát-se-va.”
Miserere gắn liền với tội phạm của vua Đavít, và gồm một số câu liên kết với tội phạm này một cách đầy ý nghĩa: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.” (c. 6)
Đavít, dù phạm tội kín, chưa ai biết, đã tự thú mình phạm tội ác chống lại anh em và cả Thiên Chúa nữa: “đắc tội với Ngài” ; vì thế bản văn, có thể được xem như câu trả lời khiêm tốn của Đavít, và dưới góc độ này, nó hết sức quan trọng vì chan chứa niềm tin tưởng, bình an và phó thác cho Thiên Chúa đến độ thực sự diễn tả một điều không thể tin nổi.
Mỗi người chúng ta hẳn đã biết diễn biến trong lòng mình sau khi phạm tội nặng thế nào rồi: thất vọng não nề, ray rứt băn khoăn, thù ghét chính mình vì hình ảnh mình đã bị vấy bẩn. Những lúc ấy, hoặc người ta xa lánh lỗi lầm, nhận biết tội mình, hoặc tìm cách giảm nhẹ nó coi như một điều không quan trọng. Chắc chắn, Đavít cũng đã nếm trải tất cả những điều ấy; song thánh vịnh vẫn tràn đầy niềm tin và ý thức quyền năng của Thiên Chúa, là bài ca trọn vẹn về sự nhưng không của ơn cứu độ trước tội lỗi.
“Đọc” thánh vịnh 51 (50)
Trong phần thứ nhất, từ “‘tội” và những từ đồng nghĩa với nó, đều được lập lại 6 lần: “xóa tội con….rửa con sạch tội ác… thanh tẩy lỗi lầm con … con nhận biết tội mình phạm… tội con luôn ở trước mặt con… con đã đắc tội với Ngài… tội ác, con đã phạm… con đã hoài thai trong tội lỗi… con là kẻ tội lỗi ngay từ trong lòng mẹ…xin cất tội con xa mặt ngài, mọi tội con, xin Ngài tẩy xóa…” ta tìm thấy 6 lần từ do thái cơ bản về tội lỗi với gốc từ là Bata và 6 lần khác là những từ đồng nghĩa với nó.
Bắt đầu từ câu 12, từ “tội” không còn được nói đến một cách rõ ràng nữa, mà chỉ còn thấy ám chỉ đến nó thôi: “Con sẽ dạy cho người tội lỗi đường lối Ngài, đưa kẻ phạm tội về với Ngài”. Phần thứ hai hoàn toàn tích cực: tác giả nói đến sáng tạo, đổi mới, tự do; tán tụng, hi lễ, tâm hồn quảng đại, Chúa Thánh Thần.
Nếu xét kĩ hơn đến cấu trúc của thánh vịnh, ta có thể phân biệt được ngay một tuyên xưng về đời sống, tuyên xưng về đức tin và tuyên xưng ca tụng: cả ba hợp thành một giáo huấn sâu sắc về đường đi của con người đích thực, nghĩa là của một tội nhân, về lối bước của những người yếu đuối và nghèo hèn trước mặt Thiên Chúa của Giao Ước.
Cả ba phần được dẫn nhập bằng một một lời tựa như để giới thiệu những chủ đề: “Xin thương con, lạy Chúa, theo lòng nhân từ của Chúa, xóa tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con …”. Những chủ đề này vừa tiêu cực vừa tích cực này – tội lỗi, khuyết điểm, tội lỗi, lòng nhân từ, lòng xót thương, rửa con, thanh tẩy con - xen lẫn với nhau trong suốt thánh vịnh. Con người chỉ có tội khi ra trước mặt Chúa, nhưng chắc chắn Thiên Chúa luôn tạo bầu khí tích cực xung quanh Ngài, Ngài tẩy rửa tội lỗi, thanh tẩy nó, vì Ngài nhân hậu và xót thương. Đây chính là Thiên Chúa của sách Xuất Hành, Đấng từng tuyên bố: “Ta sẽ xót thương kẻ ta xót thuơng, ta sẽ nhân từ với người mà ta nhân từ”; vì lòng nhân từ của ta sinh từ chính ta, nó không phải một giới răn mà ta phải ban; đó chính là bản tính, là con người, là tình yêu của ta.
Sau phần dẫn nhập đến phần thứ nhất hay tuyên xưng về đời sống (5-8): con người, có thể nói như vậy, nhận lấy tội lỗi về phần mình, nhìn nhận nó như thuộc bản tính mình, thuộc về sử tính riêng của mình, thuộc kiếp người khốn khổ của mình. Thay vì bào chữa thì lại thẳng thắn thừa nhận: “con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm con luôn ở trước mặt con. Con đắc tội với Ngài, với một mình Ngài thôi”; họ biết nhìn nhận sự mỏng dòn, không thể sống đúng với luân lý của mình.
Con người nhận biết mình cần được cứu vớt, thẳng thắn thừa nhận về mặt hữu thể, tâm lý và thể lý: “Con đã sinh ra trong tội, con đã là tội nhân ngay từ trong lòng mẹ”. Con đã đựơc dựng nên như vậy và con chấp nhận điều đó, nhưng “Ngài muốn con thực sự hiểu biết chân lý, trong bí ẩn, Ngài dạy con sự khôn ngoan” và khôn ngoan chính là nhận biết nỗi khốn cùng của mình, là xác tín về sự mỏng dòn tất định của mình (chứ không phải sự chắc chắn về tính hiệu quả trong các quyết định của chúng ta), một sự mỏng dòn được thẳng thắn nhìn nhận, được đón nhận trong tinh thần khiêm tốn sâu xa, với sự thật thà vừa bình thản, vừa chấp nhận rằng mình chỉ là hạt bụi, là hư không.
Tuyên xưng đời sống là chung sống bình an một cách nào đó với chính mình, mặc dù thấy mình đầy khuyết điểm, thiếu sót, có thể vấp ngã, có thể làm tất cả: một niềm bình an vững chắc của người nhận biết mình khốn khổ trước mặt Thiên Chúa.
Tuyên xưng đức tin là phần thứ hai, từ câu 9 đến câu 14, và là niềm xác tín được lập lại cả ngàn cách khác nhau rằng Thiên Chúa vẫn có thể làm lại từ đầu. Đó là bài ca về sự sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa, Đấng biến đổi con người nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Chúng ta rất hay nghi ngờ về điểm này, ta phải cố gắng nhìn nhận là con người thì thay đổi, có thể thay đổi, vì chúng ta còn ở rất xa lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ này. Nhưng lời tuyên xưng này là của một người đã thực sự nghiệm thấy sự bất toàn của mình về mặt luân lý và nói: “thanh tẩy con, con sẽ được trắng hơn tuyết”. Ông cũng nói đến niềm vui, sự hoan hỉ: xin làm cho xương cốt con nhảy múa, con sẽ nhảy mừng, múa ca, xin xóa sạch mọi lỗi lầm của con, tạo cho con một quả tim trong sạch, một tinh thần vững vàng, như một người luôn sống trước nhan Thiên Chúa, quảng đại, tràn đầy niềm vui ơn cứu thoát. Kẻ tự khiêm nhìn nhận sự yếu đuối của mình ở đây đã nhận được ơn sức mạnh của Thiên Chúa và cảm nhận mình đã được tái tạo.
Sau cùng là phần tuyên xưng ca tụng. Trong trường hợp chúng ta, nó không liên quan đến quá khứ mà là tương lai: “Con sẽ dạy cho người tội lỗi đường lối Ngài, sẽ chỉ cho tội nhân trở lại với Ngài”. Khả năng hướng về tương lai một cách sáng tạo và tích cực được ban lại cho con người; con sẽ giúp người khác: “lưỡi con sẽ ca ngợi sự công chính của Ngài”, con sẽ rao giảng ơn cứu độ của Ngài. Ta được nhủ bảo mỗi khi cảm nghiệm được sức mạnh của Thiên Chúa: “Hãy đi, và loan báo điều Thiên Chúa đã làm cho bạn, nói cách khác, hãy là chứng nhân của ơn cứu độ bạn đã nhận được.”
Ơn cứu độ này, ở cuối thánh vịnh, trở thành ơn cứu độ đại chúng, dân sự, xã hội, chính trị, phổ quát: “Hãy làm điều tốt cho Sion, xây dựng lại thành lũy Giêrusalem”. Điều đó cho thấy rằng dân Thiên Chúa, khi đọc thánh vịnh 51, muốn rằng ơn cứu độ này không chỉ là của riêng một cá nhân, của người có niềm tin, của người tín hữu: mà họ sống nó như một ơn cứu độ được ban cho cả một thành trì, một dân tộc.
Ta hãy xin mẹ Maria soi sáng mình bằng tinh thần thống hối, đã kinh qua đau khổ, nước mắt của Mẹ khi đứng bên thánh giá Chúa Giê Su, bên mồ thánh Chúa, khi ẵm xác Chúa trên tay; và để tinh thần của Mẹ Maria nảy sinh trong ta niềm xác tín biến ta thành người biết loan báo những kì công của Thiên Chúa.
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC:
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 16)
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 15)
Suy niệm 4: Linh mục, con người của tha thứ, hoà giải
Suy niệm 3: Mầu nhiệm sự dữ
Suy niệm 2 : Cực nhọc và an ủi
Tình thương dành cho Cộng đoàn giáo xứ
Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ Linh mục - 2025
Khao Khát Chúa: Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (bài 13)

Thứ Sáu 15/05/2026 – Thứ Sáu tuần 6 Phục Sinh. – Tình yêu và đau khổ.