CÁC BÀI SUY NIỆM CN 31 TN & NGÀY 2/11- 2025
- 27/10/2025 09:17
- 855 lượt xem
-
In trang này
MỤC LỤC
* CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN.. 7
1. Con Người đến để tìm và cứu. 7
5. Giakêu mừng rước Đức Giêsu. 20
6. Hai ánh mắt. Một tấm lòng. 23
8. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 30
9. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 42
12. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 54
13. Có một cái nhìn như thế. 57
14. Tôi phải lưu lại nhà anh. 60
15. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 65
16. Tình thương làm thay đổi lòng người 69
17. Hôm nay nhà này được giải thoát. 71
20. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 81
21. Giakêu, một con lừa chui qua lỗ kim.. 86
23. Niềm vui của Thiên Chúa. 91
24. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 96
26. Thiên Chúa là Đấng Cứu độ. 103
28. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 110
29. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 113
33. Tôi phải lưu lại nhà anh. 125
36. Dám nhận cái sai để sửa. 136
38. Hãy thương xót như Cha trên trời 140
39. Chúng ta thì giống như Giakêu. 144
40. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 147
42. Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình. 155
43. Tình yêu làm kinh ngạc. 159
44. Từ khán giả đến người tiếp cận. 161
45. Chúa hảo tâm với hết mọi loài 163
47. Hôm nay nhà này được giải thoát 168
51. Người tội lỗi hay người công chính. 181
52. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 184
54. Được biến đổi trong yêu thương. 191
57. Chưa chắc lùn đã thấp. 203
60. Thiên Chúa yêu thương. 214
61. Tôi muốn bạn yêu tôi!. 217
62. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 221
63. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 227
64. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 229
65. Gặp - thấy - suy tư và sống. 235
66. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 239
67. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 243
68. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 246
69. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 249
70. Nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. 255
71. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 257
72. Gặp Chúa - Khơi nguồn cho đổi mới 261
74. Thiên Chúa từ bi và nhân hậu. 270
77. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 280
79. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 296
82. Cuộc gặp gỡ giữa ông Giakêu và Đức Giêsu. 305
84. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 321
85. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 325
86. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 332
87. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 339
88. Hôm nay nhà này được ơn cứu độ. 343
89. Sức mạnh hoán cải của tình thương. 350
92. Chúa Nhật 31 Thường Niên. 369
94. Tình yêu kết trái nơi con người Giakêu. 377
95. Chúa Giêsu đến để cứu. 382
96. Nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. 387
* CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI. 389
5. Cầu cho các tín hữu đã qua đời 410
7. “Được cứu độ, nhưng như thể băng qua lửa”. 421
8. Sự thánh thiện của Tin Mừng. 425
15. Lễ cầu nguyện cho các linh hồn. 443
16. Các tín hữu đã qua đời 449
17. Họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. 452
19. Hãy nhớ đến công đức của các ngài 457
21. Mầu nhiệm Các Thánh cùng thông công. 465
22. Cầu nguyện cho các linh hồn. 472
26. Sống Tháng Các Linh Hồn. 486
32. Sự thanh luyện cần thiết 513
37. Lịch sử ngày Lễ Các Đẳng Linh Hồn. 539
38. Khi thần chết lên tiếng. 542
39. Tưởng nhớ người đã ra đi 545
40. Tri ân tình cha, tình mẹ. 551
47. Sống trọn đạo làm con. 580
49. Sợi dây chuyền liên đới 590
50. Tôi là sự sống lại và là sự sống. 594
52. Đời vô thường. Nay còn mai mất 601
56. Sứ điệp từ những nấm mồ. 616
58. “Con Người sẽ đến trên đám mây”. 623
59. Với uy quyền và vinh quang. 626
* CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN
1.Con Người đến để tìm và cứu
(Trích dẫn từ ‘Manna’)
Suy Niệm
Giakêu là một người thu thuế giàu có. Tuy không thiếu gì, nhưng lòng ông vẫn khắc khoải không yên. Ông vẫn tìm kiếm một Ai đó có thể nâng đỡ ông dậy. Hẳn ông đã nghe người ta bàn tán về Đức Giêsu. Ngài chẳng sợ làm bạn với những người bị khinh như ông. Giakêu mong có ngày thấy Đức Giêsu.
Dịp may đã tới, ông đi với đám đông theo sau Ngài, nhưng vẫn không sao thấy được Ngài, vì dân chúng thì đông, còn ông lại thấp bé. Giakêu không thất vọng. Lòng khát mong đích thực chẳng bao giờ chịu bó tay.
Ông chạy trước đám đông và leo lên một cây sung. Ông hí hửng với sáng kiến khôn ngoan của mình, và tin chắc mình sẽ toại nguyện. Giakêu núp ở trên cây, tưởng không ai trông thấy. Nào ngờ Đức Giêsu ngừng lại, nhìn lên và gọi tên ông.
Ngài thấy ông trước khi ông thấy Ngài. Ánh mắt Ngài làm ông luống cuống, nhưng lời của Ngài lại làm ông sung sướng, ngỡ ngàng: Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông. Niềm hạnh phúc bất ngờ làm ông ngây ngất.
Đường từ gốc sung về nhà ông bao xa, ta không rõ, nhưng chắc chắn đó là đường đầy ắp niềm vui.
Giakêu thấy mình mất đi những mặc cảm thấp kém. Ông như lấy lại được danh dự trước đám đông, bởi lẽ Đức Giêsu sắp đến thăm nhà ông, bất chấp những lời xầm xì phản đối.
Ông chỉ ao ước thấy mặt Ngài, còn Ngài lại muốn bày tỏ cả bề sâu của lòng mình: dịu dàng, tha thứ, yêu thương, tế nhị.
Hoán cải là kết quả của một cảm nhận về Tình Yêu.
Ánh mắt, lời nói, thái độ của Đức Giêsu đã thổi bùng lên ngọn lửa leo lét nơi Giakêu, và khiến lòng ông tan chảy.
Bỗng chốc Giakêu thấy mình được tự do thanh thoát.
Những gì xưa nay trói buộc ông, làm ông say mê, bây giờ trở nên vô vị. Một cách hồn nhiên, ông dâng nửa gia sản cho người nghèo, và xin đền gấp bốn những gì đã lường gạt.
Giakêu sẽ trở nên nghèo hơn trước, nhưng ông hạnh phúc hơn xưa nhiều, vì ông cũng là con cháu tổ phụ Apraham.
Ước gì chúng ta bao dung như Đức Giêsu và quảng đại như Giakêu.
Gợi Ý Chia Sẻ
Giakêu muốn thấy Đức Giêsu và ông đã được quá lòng mình mong ước. Theo ý bạn, để thấy Đức Giêsu trong đời mình, cần có thái độ nào? Mẫu gương của Giakêu có giúp gì cho bạn không?
Xã hội hôm nay vẫn có nhiều Giakêu: những người bị coi thường hay loại trừ, những thanh niên đã có tiền án, trẻ bụi đời, gái điếm, những người nghiện ma túy... Họ cần những người có trái tim của Đức Giêsu. Bạn nghĩ mình có thể giúp gì để họ thay đổi cuộc sống không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, khi đến với chúng con Chúa thường đến như một người hành khất.
Chúa cần chút nước của người phụ nữ Samari.
Chúa cần năm chiếc bánh và hai con cá,
Chúa cần nhà ông Giakêu để nghỉ chân.
Chúa khiêm tốn cúi xuống xin chúng con, để rồi tuôn đổ trên chúng con nhiều gấp bội.
Xin dạy chúng con biết cách đến với mọi người, và khám phá ra đốm lửa nhỏ của sự thiện vẫn cháy sáng nơi lòng người tội lỗi.
Ước gì chúng con nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa, dám hy vọng không ngơi vào lòng tốt của mỗi người, và can đảm tin tưởng vào sự quảng đại của họ, nhờ đó thế giới của chúng con trở nên nhân bản hơn và thần linh hơn.
2.Tìm và Cứu
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
Tâm sự của ông Da-kêu
Người ta bảo tôi vừa giàu lại vừa có quyền,
vì tôi đứng đầu những ông thu thuế.
Tôi thì luôn thấy mình nghèo, rất nghèo.
Ai không được kính trọng đều là những kẻ nghèo,
bất chấp họ giàu có và quyền lực đến đâu.
Nghe nói có một người không khinh các ông thu thuế.
Đó là ông Giêsu, một người đặc biệt, lạ thường.
Tôi rất muốn nhìn thấy mặt ông ấy.
Bởi đó khi nghe đồn Ngài sắp vào thành Giê-ri-cô,
tôi háo hức tìm cách thấy Ngài là ai.
Nhưng thấy Ngài không phải chuyện dễ, vì hai lẽ.
Thứ nhất vì đám đông quá lớn vây quanh Ngài.
Thứ hai vì tôi thấp bé, chỉ đứng tới lưng người khác.
Những cản trở này có thể làm cho ai đó nản lòng,
nhưng tôi thì không.
Tôi quyết thấy mặt Ngài bằng mọi giá.
Tôi nghĩ ra được một kế, đó là chạy vượt qua đám đông,
và leo lên một cái cây sung trên đường Ngài đi qua.
Từ trên cây, tôi có thể dễ dàng thấy được Ngài.
Có một điều tôi không ngờ là khi đến chỗ cây sung,
Ngài đã dừng lại và ngước lên nhìn tôi đang đu trên đó.
Vì thế mọi người cũng dừng lại và ngước lên nhìn tôi.
Trăm con mắt nhìn làm tôi đỏ mặt.
Chắc họ không hiểu tại sao tôi lại đang ở đây.
Tâm sự của Chúa Giêsu
Tôi không hiểu tại sao tôi ngừng lại dưới gốc sung.
Một mách bảo nào đó cho tôi biết có ai đang chờ mình.
Khi nhìn lên, tôi thấy Da-kêu như đang cố thu mình lại.
Chúng tôi thấy nhau, và tôi thấy ngay ao ước của ông ấy.
Lập tức tôi bị thúc bách phải đến nhà Da-kêu.
Không cần chừ, nhưng ngay lúc này, ngay hôm nay.
Tôi bảo Da-kêu: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”
Da-kêu lật đật trèo xuống để dẫn tôi về nhà.
Bây giờ thì thứ tự của đoàn người bị đảo lộn.
Da-kêu tự tin dẫn đầu, tiếp sau là tôi, cuối là đám đông.
Họ khó chịu khi thấy tôi đến nhà một người tội lỗi.
Da-kêu hẳn là rất hạnh phúc khi được tôi tới nhà.
Ông như lấy lại tất cả phẩm giá đã mất của mình.
Đoạn đường về nhà ông dĩ nhiên đầy ắp niềm vui.
Tâm sự của ông Da-kêu
Tôi không bao giờ quên được cái nhìn ấy của Ngài.
Ngài nhìn tôi bằng cái nhìn thân thiện của một người bạn.
Rồi Ngài gọi tên tôi và kêu tôi trèo xuống mau.
Tôi đâu dám tin là Ngài muốn đến nhà tôi.
vì người thu thuế ô uế thì nhà người ấy cũng ô uế.
Đám đông sững sờ khi thấy Ngài muốn đến nhà tôi.
Sao Ngài lại chọn nhà tôi?
Sao Ngài để chín mươi chín con chiên để đi tìm con lạc?
Từ khi làm nghề thu thuế đến nay, tôi luôn bị coi khinh.
Đây là lần đầu tiên tôi được là mình, được tôn trọng.
Điều lạ là Đức Giêsu không bảo tôi phải bỏ nghề.
Ngài không bắt tôi phải cắt đứt với cái nghề nhơ nhớp đó.
Nhưng tự lòng tôi lại xuất hiện lời mời gọi đổi đời.
Vì thế tôi đã đứng và long trọng quyết định
cho người nghèo nửa phần gia sản,
và đền gấp bốn những gì tôi đã lừa gạt người khác.
Dù Đức Giêsu chẳng nói gì, nhưng cách Ngài cư xử với tôi
là một lời mời mà tôi không sao cưỡng lại được.
Tôi dễ dàng buông bỏ mọi sự, có còn tiếc gì nữa đâu.
Tâm sự của Chúa Giêsu
Thiên Chúa muốn ban ơn cứu độ cho mọi người.
Người giàu, người nghèo, người thu thuế và Pharisêu.
Ai cũng có hy vọng được gặp gỡ Thiên Chúa.
Tuy nhiên, cũng cần chạy và leo như Da-kêu,
cần để Chúa vào nhà mình, và quảng đại hiến dâng.
LỜI NGUYỆN
Lạy Cha,
sống là tìm kiếm.
Mỗi người chạy theo điều mình kiếm tìm.
Chúng con tự hỏi mình đang tìm gì, tìm ai,
đâu là hướng đi, đâu là lý tưởng đời mình.
Chúng con thấy rằng những giá trị của thế gian
chiếm chỗ lớn trong những ước mơ của chúng con.
Tiền bạc, danh vọng, khoái lạc, quyền lực
vẫn là những điều mê hoặc chúng con,
nên Cha không có chỗ cao nhất
trong cuộc đời chúng con.
Lạy Cha, xin ban cho chúng con ơn hoán cải.
Xin đánh thức chúng con khỏi cơn mê,
và làm chúng con tỉnh ngộ để nhận ra giá trị đích thực.
Xin dạy chúng con biết kiếm tìm Cha.
Vì chỉ có Cha mới thật sự đong đầy
những ước mơ sâu kín của chúng con,
và cho chúng con được hạnh phúc viên mãn.
3.Ánh mắt yêu thương
(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)
Mỗi khi đọc câu chuyện ông Giakêu, tôi ngỡ ngàng trước ánh mắt của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn lên ông Giakêu trên cây sung. Ánh mắt ấy có sức mạnh kỳ lạ. Ánh mắt ấy chất chứa bao tâm tình. Chỉ trong một ánh mắt cuộc đời Giakêu hoàn toàn biến đổi.
Đó là ánh mắt quan tâm. Chúa Giêsu vào thành Giêricô. Giêricô là một thành phố rộng lớn, người đông đúc, buôn bán sầm uất. Một đám đông lớn đi theo Chúa Giêsu. Trong khi đó ông Giakêu thật bé nhỏ. Nên ông phải leo lên cây sung để nhìn Chúa. Thật lạ lùng. Giữa đám đông mênh mông ấy, Chúa vẫn nhìn thấy ông Giakêu, dù ông thấp lùn. Giữa muôn người, Chúa chỉ tìm Giakêu. Lại còn biết rõ tên ông. Điều đó chứng tỏ Chúa quan tâm tới Giakêu, dù ông bé nhỏ trong một đám đông hỗn độn. Giakêu chắc chắn cảm thấy ấm lòng vì ánh mắt quan tâm của Chúa.
Đó là ánh mắt khiêm nhường. Hãy tưởng tượng cảnh Chúa ngước lên nhìn Giakêu. Chúa nhìn lên. Giakêu nhìn xuống. Thật là một cảnh tượng phi thường. Người có tầm vóc cao lớn phải ngước nhìn lên mới gặp ánh mắt người thấp bé. Thiên Chúa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được phàm nhân. Đấng vô cùng thánh thiện phải ngước mắt nhìn lên mới gặp kẻ tội lỗi tầy trời. Tạo hóa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được thụ tạo. Đấng Cứu Độ phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được cứu. Đấng tha tội phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được thứ tha. Thật là một sự khiêm nhường thẳm sâu. Giakêu chắc chắn phải choáng váng vì ánh mắt khiêm nhường của Chúa.
Đó là ánh mắt tha thứ. Nguyên một việc quan tâm tìm kiếm cũng đã chứng tỏ Chúa tha thứ cho ông rồi. Huống hồ Chúa còn khiêm tốn ngước nhìn lên. Hơn thế nữa Chúa còn ngỏ lời muốn đến thăm nhà ông. Giakêu chưa tìm Chúa thì Chúa đã tìm Giakêu. Giakêu chưa gọi Chúa thì Chúa đã gọi Giakêu. Giakêu chưa mời thì Chúa đã ngỏ ý đến nhà. Giakêu chưa xin lỗi thì Chúa đã tha thứ. Ánh mắt tha thứ mới khoan dung độ lượng và ấm áp làm sao. Giakêu chắc chắn tràn đầy niềm hối cải khi nhìn vào ánh mắt tha thứ của Chúa.
Đó là ánh mắt tin tưởng. Chúa Giêsu nhìn Giakêu bằng ánh mắt tin tưởng. Tin tưởng nên không nhìn về quá khứ mà chỉ hướng về tương lai. Chúa quên hết tội lỗi của ông. Hơn thế nữa Chúa tin rằng ông sẽ nên người tốt. Chúa tin rằng ông sẽ làm lại cuộc đời. Chúa tin vào tương lai của ông. Nên Chúa đã nhìn ông. Nên Chúa tha thứ cho ông. Nên Chúa kết thân với ông. Trước ánh mắt tin tưởng của Chúa, chắc chắn Giakêu sẽ cương quyết làm lại cuộc đời.
Đó là ánh mắt yêu thương. Tất cả sẽ không thể giải thích được nếu không có tình yêu. Chúa quan tâm tới Giakêu vì Chúa yêu thương ông, như người mục tử tốt lành đi tìm con chiên lạc. Chúa khiêm nhường vì Chúa yêu thương ông, như người cha cõng con trên vai. Chúa tha thứ vì Chúa yêu thương ông, như người cha sẵn sàng chờ đón đứa con hoang đàng. Chúa tin tưởng vì Chúa yêu thương ông, như người mẹ không khi nào nói rằng con mình xấu, dù nó phạm tội trăm lần. Chúa nhìn ông bằng ánh mắt yêu thương. Ngập tràn trong yêu thương, trái tim Giakêu bừng lên ngọn lửa yêu thương. Đời ông được đốt cháy trong yêu thương. Nên ông đã đáp lại tình yêu thương của Chúa. Vì yêu mến Chúa mà ông yêu thương đồng loại. Yêu thương nên đền bù thiệt hại. Yêu thương nên chia sẻ chân thành.
Lạy Chúa, Chúa luôn nhìn con bằng ánh mắt yêu thương. Xin cho con biết nhìn vào mắt Chúa, nhận ra tình yêu thương của Chúa và biến đổi cuộc đời như ông Giakêu.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Chúa nhìn Giakêu bằng ánh mắt thế nào?
2) Giakêu đã đáp lại ánh mắt của Chúa ra sao?
3) Bạn có bao giờ nhìn thấy ánh mắt Chúa nhìn bạn chưa?
4) Bạn có muốn nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa không?
4.“Tìm kiếm Chúa”
(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên)
Lúc con người bước vào đời cũng là lúc khởi đầu hành trình kiếm tìm Thượng Đế. Hành trình tìm kiếm này khác nhau nơi mỗi người: có người thì thuận lợi, có người thật khó khăn; có người thật lâu dài, lại có người rất đơn giản ngắn gọn. Mục đích của việc kiếm tìm Thượng Đế là để gặp gỡ Ngài, được Ngài chia sẻ tính thần thiêng và vinh quang của Ngài. Có nhiều cách trình bày Thượng Đế khác nhau, tùy truyền thống văn hóa hay quan niệm tôn giáo tín ngưỡng. Người Kitô hữu được mặc khải cho biết Đấng Cao Cả có một tên gọi: Thiên Chúa. Hành trình cuộc đời cũng là hành trình tìm kiếm Thiên Chúa. Nhờ nỗ lực tìm kiếm Chúa mà chúng ta có thể nên giống Ngài ngay khi còn sống ở thế gian này, là bảo đảm sẽ được nên giống Ngài hoàn toàn ở đời sau.
Ông Giakêu là một người tìm kiếm Chúa. Dưới ngòi bút của thánh Luca, Giakêu là một người khá giả và là một thủ lãnh của những người thu thuế. Tuy vậy, sự giàu có và sung túc của ông không làm cho ông được thỏa mãn. Vì vậy, khi nghe nói có vị ngôn sứ tên là Giêsu đi ngang qua, ông đã vượt qua mặc cảm tự ti về vóc dáng, sẵn sàng trèo lên cây vả để nhìn rõ vị ngôn sứ sắp đi ngang qua. Vóc dáng ông tuy lùn, nhưng ý chí của ông lại cao. Dù là một thủ lãnh thu thuế, ông không ngại những lời chê bai đàm tiếu của công chúng. Cử chỉ trèo lên cây cho thấy nỗ lực tìm kiếm Chúa của ông.
Nếu con người mọi thời đang nỗ lực tìm kiếm Chúa, thì Chúa cũng chủ động kiếm tìm con người. Chúng ta thấy điều này nhiều nơi trong Tin Mừng thánh Luca. Những dụ ngôn “người chủ chiên đi tìm chiên lạc”, “người đàn bà tìm đồng bạc bị mất” đều diễn tả việc Thiên Chúa đi tìm kiếm con người. Đang khi ông Giakêu còn loay hoay ngồi trên cây, thì Chúa Giêsu chủ động đề nghị: “Ông hãy xuống mau, vì hôm nay tôi phải lưu lại nhà ông”. Một vinh dự không ngờ! Giakêu chỉ nghĩ leo lên cây để nhìn Chúa đi ngang qua, nhưng Chúa lại đích thân đến nhà ông. Không phải chỉ có chúng ta ngạc nhiên, mà những người Do Thái đương thời cũng ngạc nhiên không kém. Không những ngạc nhiên, họ còn ganh tỵ với ông Giakêu và xầm xì với nhau. Đó là tâm lý thường thấy nơi con người. Khi thấy người ta hơn mình điều nọ điều kia thì tìm cách bới móc những khuyết điểm của họ để hạ thấp giá trị của họ xuống. Không chỉ ganh tỵ với ông Giakêu, những người đương thời còn tỏ ra bất bình với Chúa Giêsu, vì “nhà người tội lỗi mà ông ta cũng đến trọ”.
Trong khi những người Do Thái xầm xì với nhau, thì Chúa Giêsu lại tuyên bố ông Giakêu là người được ơn Cứu độ. Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đã làm ông thay đổi cuộc đời. Từ một người thu thuế hay gian lận tham lam, ông trở thành người quảng đại, sửa lỗi bằng cách sẽ đền bù cho người bị thiệt và chia cơm sẻ áo cho người nghèo. “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Lời tuyên bố của Chúa Giêsu đã giúp ông vượt lên mọi thành kiến xã hội, lấy lại tự tin và niềm hy vọng. Việc Chúa đến thăm nhà giúp ông xua tan mọi mặc cảm về nghề nghiệp cũng như thân phận của mình. Những gì ông thưa với Chúa cho thấy một sự đổi đời tận gốc rễ. Ông Giakêu, một người thu thuế đã thực sự trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, một người con đích thực của Abraham, người công chính. Ông Giakêu đại diện cho vô vàn vô số những người nam nữ già trẻ trong mọi thời đại đang tìm kiếm Chúa. Họ tìm kiếm Chúa như hoa hướng dương tìm về mặt trời, như suối tìm về nguồn và như chim tìm về tổ. Con người không ngừng tìm kiếm Chúa mặc dầu họ chưa biết rõ về Ngài. Tin Mừng Thánh Luca là “Tin Mừng của lòng thương xót”, vì vậy tác giả thường trình bày Chúa Giêsu như một vị Ngôn sứ rao giảng và diễn tả lòng bao dung. Hãy nhớ lại điều người cha ngỏ với con mình trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu”: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha. Tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng vì em con đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,31). Hoặc lời Chúa Giêsu trên thập giá: “Tôi bảo thật, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43).
Thiên Chúa là Đấng hay thương xót. Đó là một điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn của Cựu ước. Đoạn sách trích từ sách Khôn ngoan hôm nay (Bài đọc I) là một ví dụ. Thiên Chúa thương xót hết mọi người. Ngài nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi của họ để mong họ sám hối trở về và được cứu rỗi. Chúa luôn giang rộng vòng tay ôm lấy các tội nhân, nếu họ thành tâm trở về với Ngài. Như thế, người tín hữu cần vững lòng trông cậy vào lòng từ bi Chúa. Niềm trông cậy phải được thể hiện trong cuộc sống hằng ngày, qua cách ăn nết ở của chúng ta – Thánh Phaolô khuyên các tín hữu như vậy (Bài đọc II). Người trông cậy Chúa sẽ không hoang mang lo sợ trước những lời đồn đại và những tư tưởng lầm lạc, vì họ tin vào quyền năng và tình yêu thương của Thiên Chúa.
Cuộc tìm kiếm Chúa mặc dù còn nhiều gian nan, nhưng chắc chắn những ai nỗ lực tìm Chúa sẽ được gặp Ngài. Chúa đang hiện diện trong cuộc đời và trong chính tâm hồn chúng ta. Việc gặp Chúa thực ra rất đơn giản: tin tưởng, yêu mến và cậy trông vào Ngài, tất yếu sẽ được gặp Ngài và được Ngài ban trọn niềm vui.
5.Giakêu mừng rước Đức Giêsu
(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm - ViKiNi)
Văn Hào Victor Hugo (Vích-to Huy-gô) viết tác phẩm nổi tiếng tựa đề là Những Kẻ Khốn Cùng (Les misérables) đã kể câu chuyện về Văn Giang (Han Valjean), một tên cướp sát nhân bị tù 19 năm. Khi được thả ra, không ai dám đến gần. Chàng vào tiệm ăn, bị đuổi; vào trọ đêm, vừa thấy mặt người ta đóng sập cửa lại; vào ổ chó, chó sủa inh ỏi; vào trọ nhà Đức Giám Mục Myriet (Miriét) được tiếp đãi hết sức trọng hậu. Nhưng đến đêm, chàng nổi máu tham, ăn cắp năm cây đèn bạc chuồn mất. Chính quyền bắt được, giải tới Giám Mục. Ngài nói: Chính tôi tặng chàng và tặng thêm hai cây đèn nữa và nói với chàng: “Anh cầm lấy, người anh em hãy bỏ ác theo thiện, tôi mua linh hồn anh và trao cho Chúa”.
Từ đó, Văn Giang suy nghĩ, hối cải và sau này trở thành một Thị trưởng rất đạo đức.
Đức Giêsu cũng đã xử rất thân tình với một người thâu thuế mang tiếng là ông tổ tham nhũng, ăn cướp của dân, tên là Giakêu.
Phân tích bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy có ba lối xử sự, lối thứ nhất sợ: “Gần mực thì đen,” - lối thứ hai “Gần đèn thì rạng” - lối thứ ba “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, còn làm cho bùn đượm vẻ thanh tao đẹp đẽ, hay đúng hơn đó là ánh sáng thế gian, là muối đất còn hơn là hoa sen.
Lối xử sự thứ nhất của những người xì xầm nói hành Đức Giêsu: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ”. Theo quan niệm dân Do Thái bấy giờ coi những người dân ngoại, những người công chức bám gót đế quốc Rôma và nhất là hạng thâu thuế cho Đế quốc, bị coi là hạng tội lỗi ghê tởm. Họ phải xa tránh, lỡ phải tiếp xúc với những người ấy, khi về nhà, họ phải thanh tẩy bằng tắm rửa để khỏi ô uế. Lối xử sự đó gây ra hậu quả tai hại là phân chia giai cấp, chia rẽ chủng tộc, kỳ thị tôn giáo, tự cô lập mình. Hậu quả tai hại thứ hai tạo ra hạng người kêu căng, tự coi mình là trong sạch, công chính hơn những người khác, hơn dân tộc khác. Họ không biết mình cũng đầy tội lỗi như mọi người. Họ phải đấm ngực ăn năn xin Thiên Chúa tha thứ. Họ không được phép kết án ai để khỏi bị Thiên Chúa lên án. Có lần họ đã kết án người đàn bà phạm tội ngoại tình và xin Đức Giêsu kết án ném đá chị. Nhưng Người bảo họ: Ai không có tội, hãy ném đá chị đi. Họ đã rút lui để khỏi bị Đức Giêsu kết án họ.
Lối xử sự thứ hai của ông Giakêu: “Ông đứng đầu những người thâu thuế và là người giầu có”. Chế độ thu thuế lúc bấy giờ là cho đấu thầu. Dĩ nhiên ai nhiều tiền lắm của mới trúng thầu. Ông Giakêu chắc trúng thầu mới là người đứng đầu những người thâu thuế. Người chủ thầu mặc sức thâu thuế để mau thu lại vốn và làm giầu. Sự giầu có của ông còn hơn cả những chủ thầu các thành khác, vì thành Giêricô, cách Giêrusalem 23 cây số, là đô thị cổ nhất thế giới đã có từ hơn mười nghìn năm, và nổi tiếng văn minh thương mại sầm uất, cũng là một đô thị chiến lược được xây cất rất kiên cố ngay thời ông Giosuê dẫn dân Do Thái về đất Hứa. Giầu có và sang trọng như thế, nhưng ông lại rất có lòng khao khát được thấy Đức Giêsu. Lòng khao khát mạnh đến nỗi thúc đẩy ông bỏ cả thể diện sang trọng giầu có, sẵn sàng trèo lên một cây sung, như đứa trẻ nhỏ để nhìn cho được thấy Đức Giêsu. Đức Giêsu lúc đó, đối với ông chỉ là thường dân, khá lắm thì chỉ là một tiên tri nào đó đối với dân thôi, còn đối với chính quyền đời và đạo, Người không có một chức tước gì. Nhờ lòng khao khát mạnh mẽ đó, ông Giakêu đã được ơn soi sáng thấy một điều lạ lùng: ông đã được thấy Đấng Cứu thế, và cả gia đình ông được cứu độ: “Hôm nay, nhà này được ơn cứu độ”. Đời ông đã đổi mới hẳn: ông sẵn sàng bán nửa gia tài giúp cho người nghèo khó. Đức bác ái của ông dâng cao. Đức công bằng cũng không kém: “Nếu tôi làm thiệt hại ai, tôi xin đền gấp bốn”.
Ông Da-kêu chỉ rước Chúa vào nhà có một ngày, đời ông đã hoàn toàn đổi mới, đã hoàn toàn sống theo Đức Kitô. Còn chúng ta, chúng ta đã rước Chúa vào linh hồn không biết bao nhiêu lần, đời chúng ta đã đổi mới, đã nên giống Đức Giêsu chút nào chưa?
Lối xử sự của Đức Giêsu là lối xử sự của Thiên Chúa, Người làm cho mặt trời mọc soi sáng cho muôn loài, cho kẻ lành cũng như kẻ dữ, làm mưa xuống cho mọi tạo vật, cho kẻ công chính cũng như bất lương; là lối xử sự của Đấng Cứu độ hằng thương xót những kẻ tội lỗi, hướng dẫn những kẻ lầm đường lạc lối, cứu chữa những kẻ yếu đuối, tìm kiếm nhũng kẻ hư mất, phục sinh những kẻ đã chết. Thật ra, “toàn thể vũ trụ trước mặt Người chỉ như là hạt sương sớm rơi trên đất, thế mà Người vẫn thương xót … Người xử sự thật khoan dung, vì chúng ta là của Người. Lạy Chúa tể tốt lành và hiếu sinh dường bao” (Bài đọc I). Thiên Chúa nhân hậu và quý trọng sự sống của chúng ta như vậy, cho nên thánh Phaolô cầu nguyện cho chúng ta vững tin: “Đừng hoảng sợ”. Chúa không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn nó ăn năn và được sống.
Lạy Chúa, xin cho con vững tâm tin tưởng mừng rước Chúa đến ngự vào nhà con, cho con được đổi mới và được ơn cứu độ như ông Giakêu.
6.Hai ánh mắt. Một tấm lòng
(Suy niệm của Anmai)
Cố nhạc sĩ Xuân Hồng đã gởi gắm tâm tình của mình về cặp mắt qua bài hát "Đôi mắt":
Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời
Để nhìn đời và để làm duyên
Đời cho em đôi mắt màu đen
để thương để nhớ, để ghen, để hờn
Đôi mắt em là cửa sổ tâm hồn
Là bài thơ hay nhất
Là lời ca không dứt
Là tuyệt tác của thiên thu...
Quả thật! Đôi mắt thật tuyệt vời và là tuyệt tác của Thiên Chúa - Đấng tạo dựng nên con người.
Đôi mắt chính là cửa sổ của tâm hồn. Chính đôi mắt đã để cho tâm hồn của con người có thể đến với nhau, ở lại với nhau và ở lại trong nhau.
Ngày hôm nay, chúng ta bắt gặp hai đôi mắt dễ thương vô cùng đó là đôi mắt của Chúa Giêsu và người thu thuế mang tên Giakêu.
Giakêu là một con người khá đặc biệt. Đặc biệt vì ông ta có vóc dáng quá khiêm tốn, vừa nhỏ vừa lùn. Đặc biệt vì ông ta là một người giàu có ai cũng biết, nhưng sự giàu có của ông là do nghề nghiệp thu thuế, một nghề mà đối với người Do thái bấy giờ là nghề tội lỗi. Dưới cái nhìn của xã hội Do Thái thời bấy giờ, người thu thuế là người ô uế và tội lỗi. Tội lỗi với dân tộc vì làm tay sai cho ngoại bang, cho đế quốc đàn áp và bóc lột đồng bào. Tội lỗi với Gia vê Thiên Chúa và với lề luật, vì đã tham nhũng và thủ lận tiền chung bỏ vào túi riêng. Người tội lỗi dĩ nhiên thường bị người khác khinh thường và chà đạp.
Đã từ lâu Giakêu hẳn nhiên thường nghe nhiều người nói này nói nọ về Chúa Giêsu. Khi nghe như vậy, dĩ nhiên ông muốn và ao ước được gặp gỡ Ngài. Hôm nay, khi hay biết Ngài sắp đi qua nơi đó, Giakêu đã phải trèo lên một cây sung vì ông là một người thấp bé, và dân chúng thì lại đông đảo vây quanh Người. Và rồi, giây phút tuyệt diệu đã đến, Chúa Giêsu đã nhận ra ông và ngỏ lời: Hỡi Giakêu hãy xuống mau vì hôm nay Ta muốn lưu lại tại nhà ngươi.
Một người như ông mà lại tò mò đến nỗi phải leo lên cây sung, vì ao ước chỉ được xem thấy Chúa Giêsu và cuối cùng không những được xem thấy mà còn đối diện với Ngài, tiếp đón Ngài vào nhà. Cuộc tiếp xúc này dẫn ông đến việc tự nộp mình vào cuộc đánh tư sản mại bản của chính bản thân ông: “Này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi sẽ phân phát cho người nghèo và nếu tôi có gian lận của ai, tôi sẽ đền gấp bốn”.
Giakêu chân thành hối cải, một thái độ của người nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Ngài. Ông không phải muốn mua chuộc Chúa Giêsu hay chạy tội của một kẻ quan chức tham ô thủ đoạn. Với ánh mắt chan chứa tình người của Chúa Giêsu dành cho Giakêu đã làm biến đổi cả cuộc đời của ông. Qua ánh mắt này, cái nhìn này của Chúa đã cho ta thấy căn tính, thấy dung mạo đích thực của Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian đã đến và đã hiện diện giữa nhân loại.
Hết sức nhẹ nhàng: "Giakêu hôm nay tôi lưu lại nhà ông và hôm nay ơn được cứu độ đã đến cho nhà này.Vì Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã mất". Chúa Giêsu không những đã vượt qua và còn phá đổ những giới hạn và những gía trị của tập tục Do thái và những quan niệm của những người biệt phái. Ngài la cà tiếp xúc với những người tội lỗi, Ngài vào nhà và ăn cơm với những người thu thuế. Ngài để cho người đàn bà tội lỗi quấn quít rồi để cho bà lấy tóc lau chân Ngài. Ngài đã cứu chữa những người bệnh tật trong ngày Sabbat.
Hình ảnh của Chúa Giêsu cho thấy hình ảnh, tâm tình của một Thiên Chúa qua bài đọc sách Khôn Ngoan: “Thiên Chúa chẳng từ nan để vượt qua những ranh giới ứng kỵ giữa thanh sạch và nhơ uế, giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa luật lệ và cứu sống. Ngài đến để gặp gỡ những người mà Ngài yêu thương, Ngài tìm kiếm và cứu độ họ”.
Thái độ của Chúa Giêsu cho thấy một nguồn mạch mới của đời sống Kitô hữu chúng ta, điều cốt uếu của Tin Mừng Đức Kitô chính là ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa chứ không phải do nỗ lực luân lý của con người. Chính thái độ đi bước trước của Chúa Giêsu đã giúp ông Giakêu sám hối và tìm lại được đời sống luân lý tốt đẹp hơn. Chính Thiên Chúa đã đi tìm Giakêu, trước khi ông tìm kiếm Ngài. Ngài đã mời gọi ông trước khi ông thấy gặp Ngài. Quả thực, đúng như điều thánh Phaolô đã xác tín trong thơ Rôma như sau: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân”. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.
Thiên Chúa đã luôn luôn tìm kiếm chúng ta, mọi người và từng người, chỉ có điều chúng ta có ao ước gặp Ngài hay không? Chúng ta có dám vượt qua đám đông xô bồ đang bon chen xô lấn cuộc đời để đến với Ngài hay không? Có dám mạnh dạn để đáp trả lời mời gọi của Ngài và đón tiếp Ngài hay không? Nếu chỉ một lần gặp gỡ Đức Giêsu mà Giakêu đã đánh đổi tất cả thì chúng ta hằng ngày đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh Lễ, chúng ta có sẵn sàng đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào trong tâm hồn và có dám để Thiên Chúa biến đổi chúng ta hay không? Điều còn lại của chúng ta là biết lắng nghe và sẵn sàng đáp trả, dám can đảm sám hối và canh tân đời sống để được ơn cứu độ.
Chúa Giêsu đã quan tâm, khiêm hạ, tha thứ, tin tưởng, yêu thương Giakêu. Thái độ, tâm tình ấy của Chúa Giêsu đã dành cho Giakêu một cách đặc biệt và khó hiểu. Giữa đám đông ấy, chỉ có hai ánh mắt nhìn nhau và chạm nhau. Ngày hôm ấy, Giêsu đã chạm đến Giakêu và Giakêu đã chạm đến Giêsu. Và, đặc biệt, ánh mắt yêu thương, tin tưởng, quan tâm, tha thứ của Chúa Giêsu không dừng lại ở Giakêu hay dừng lại ngày hôm đó mà ánh mắt ấy vẫn dõi theo con người nhất là những con người tội lỗi và yếu đuối.
Và như vậy, chuyện quan trọng là chúng ta có chạy đến, có trèo lên cây sung để tìm Chúa và nhìn Chúa như Giakêu để đón nhận ơn tha thứ, ơn cứu độ từ Thiên Chúa hay không mà thôi. Chúa sẵn sàng yêu thương tha thứ nhưng chúng ta có cảm nhận, có đáp lời hay không mà thôi?
Và, khi chúng ta đón nhận được tình yêu thương, ơn tha thứ từ Chúa đó chúng ta có yêu thương tha thứ cho anh chị em đồng lại của chúng ta hay không? Nói anh chị em đồng loại cũng là nói một cách chung chung, gần nhất đó chính là chồng, là cha, là mẹ, là ông, là bà, là con, là cháu... đang sống chung trong mái nhà của ta đó. Liệu rằng ta có cảm thông, yêu thương và tha thứ cho những người đó khi họ phạm lỗi hay không? Ta có dành cho họ ánh mắt yêu thương và tha thứ hay không?
Trong lắng đọng của cuộc đời, hãy nhìn lên Thánh Tâm Chúa Giêsu, một ánh mắt yêu thương trào tràn từ cung lòng của Chúa Giêsu luôn dõi nhìn cuộc đời của ta. Xin cho ta cảm nhận được tình yêu thương tha thứ của Chúa dành cho ta và ta cũng yêu thương tha thứ cho anh chị em đồng loại như Chúa đã yêu thương và tha thứ cho ta.
7.Đấng đổi mới cuộc đời
Giakêu là người thu thuế giàu có tại Giêricô. Và như chúng ta đã biết, dân chúng, nhất là những người đạo đức thường khinh bỉ những làm làm nghề thu thuế, nối giáo cho quân đội Rôma để bóc lột đồng bào của mình. Họ thường bị đồng hoá với những kẻ độc ác, bất công và tội lỗi, do đó bị loại trừ khỏi cộng đồng dân Chúa.
Ông Giakêu hẳn đã từng được nghe nói nhiều về Chúa Giêsu. Và quả thực lúc này Chúa Giêsu đã trở thành một nhân vật được đông đảo quần chúng biết đến, vì những lời Ngài giảng dạy và những việc Ngài làm, nhất là về lập trường và thái độ của Ngài. Phúc Âm kể lại: Rất đông người vây quanh Chúa Giêsu khiến cho ông Giakêu muốn được nhìn thấy Ngài nhưng không sao được, vì ông thấp bé. Nhưng ông không chịu thua. Ông chạy lên phía trước, đón đường Chúa và để chắc ăn, ông đã trèo lên một cây sung. Thái độ của Giakêu có thể là vì tò mò nhưng lại cũng là một điều thuận lợi để ông đi vào quan hệ với Chúa Giêsu.
Thế nhưng, Chúa Giêsu vẫn là người đi bước trước. Vừa thấy Giakêu, trước cả khi ông kịp nói lên một lời nào đó, Chúa Giêsu đã ngỏ lời với ông và trong lời ngỏ cùng Giakêu, Ngài đã dành cho ông một ân huệ lớn lao hơn cả điều ông có thể tưởng tượng ra. Ngài ngỏ ý muốn lưu lại tại nhà ông. Đó quả là điều ông không hề nghĩ tới. Ông phải là người hiểu rõ địa vị của ông hơn ai hết, vì ngay cả khi Ngài đến tại nhà ông, thì mọi người vẫn còn lẩm bẩm: Ông này lại đến trọ nhà một kẻ tội lỗi.
Nhưng điều bất ngờ lớn nhất đã xảy ra đó là cuộc viếng thăm của Chúa Giêsu đã hoàn toàn biến đổi con người ông. Cuộc viếng thăm ấy đã đánh dấu một khúc quanh trong cuộc đời một người thu thuế. Trước cả khi Chúa Giêsu nói một lời nào về tội lỗi của ông, thì ông đã tự động đề ra biện pháp để sửa đổi những lầm lỗi ông đã phạm. Biện pháp đó gồm hai phần: Phần thứ nhất là bố thí cho kẻ khó, và ông bố thí tới nửa phần ba gia tài của ông. Ông làm việc bố thí này hoàn toàn vì lòng đại lượng. Phần thứ hai là đền bù cho những người ông đã gây thiệt hại. Ông sẵn sàng đền bù gấp bốn lần, nghĩa là vượt quá điều luật buộc của người Do Thái, nhưng lại phù hợp với hình phạt của luật Rôma dành cho tội ăn cắp tỏ tường. Ông Giakêu quả là đã có được một sự độ lượng.
Lời Chúa Giêsu kết thúc có một ý nghĩa đặc biệt. Trước hết đó là lời tuyên bố ơn cứu độ được ban cho nhà, nơi Chúa Giêsu lưu lại, dù đó là nhà của Giakêu, người thu thuế. Đồng thời đây cũng là lời đặt ông Giakêu vào lại vị trí của ông trong cộng đồng dân Chúa, trong dòng dõi Abraham. Và cuối cùng Ngài đã mạc khải cho chúng ta chân lý lạ lùng này, đó là Ngài đến tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư đi.
Giakêu đã được gặp Chúa và cuộc gặp gỡ này đã đổi mới cuộc đời ông. Trong sự đổi mới này, ông đã không chỉ trở lại với Chúa mà còn trở lại với anh em, với những người chung quanh, nhất là với những người ông đã làm thiệt hại. Liệu chúng ta đã thực sự gặp gỡ Chúa hay chưa, và nhất là chúng ta đã thực sự đổi mới cuộc đời chúng ta hay chưa.
8.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
Chủ Ðề: Chúa cứu vớt người tội lỗi
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
Bài Tin Mừng hôm nay sẽ cho ta thấy Chúa Giêsu đi tìm và cứu vớt một người tội lỗi là ông Dakêu. Chúa cũng đi tìm và cứu vớt chúng ta nếu chúng ta mở rộng cửa lòng cho Chúa vào.
Chúng ta hãy mở rộng cửa lòng mình và bắt đầu Thánh lễ.
II. Gợi ý sám hối
Rất nhiều lần Chúa đứng trước cửa lòng chúng con và gõ cửa, nhưng chúng con đã không mở ra.
Chúa biết chúng con nhiều tội lỗi và Chúa chờ chúng con sám hối để Chúa tha. Nhưng chúng con vẫn thờ ơ.
Nhiều lần Chúa nhìn chúng con và lên tiếng kêu gọi chúng con như Chúa đã nhìn và kêu gọi ông Dakêu. Nhưng chúng con không đáp lại.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Kn 11, 22--12, 2)
Nhìn lại lịch sử, tác giả sách Khôn ngoan khám phá được đường lối hành xử của Thiên Chúa: Ngài đối xử rất khoan hồng đối với những người tội lỗi.
Tác giả cũng thấy được lý do của cách hành xử ấy: "vì Chúa yêu sự sống" và không muốn ai phải chết. Bởi thế "những ai sa ngã, Ngài sửa dạy từ từ... để họ bỏ điều ác".
2. Đáp ca (Tv 144)
Ca tụng lòng nhân từ của Chúa: "Ai quỵ ngã Chúa đều nâng dậy. Kẻ bì đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên"
3. Tin Mừng (Lc 19, 1-10)
Mở đầu câu chuyện, ông Dakêu được mô tả là kẻ tội lỗi: thu thuế (lại còn "đứng đầu những người thu thuế") và lo thu tích của cải ("và là người giàu có") - Cuối câu chuyện, ông thay đổi hẳn: "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này"; phân phát tài sản cho người nghèo (là điều Chúa Giêsu thường khuyên làm. x. Lc 12, 33-34 16, 1-8 16, 9-13 v. v.); đền bù những thiệt hại đã gây cho người khác.
Có hai nhân tố tạo nên sự thay đổi đó:
một là những cố gắng của chính Dakêu: "tìm cách xem" mặt Chúa Giêsu, "chạy tới phía trước", "leo lên một cây sung để xem Chúa Giêsu".
hai là lòng nhân từ của Chúa Giêsu: Ngài "nhìn lên" ông, Ngài gọi ông "xuống mau đi", Ngài đưa đề nghị đến nhà ông "Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông". Chúa Giêsu tự giới thiệu là "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất".
4. Bài đọc II (2 Tx 1, 11--2, 2)
Ở giáo đoàn Thêxalônica, một số tín hữu cho rằng ngày tận thế đã gần đến. Vì thế họ đâm ra lười biếng không muốn làm việc nữa.
Thánh Phaolô viết thư khuyên tín hữu đừng tin vào những luận điệu ấy.
IV. Gợi ý giảng
* 1. Ông Giakêu hoán cải trở lại
Câu chuyện được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay có nhiều tình tiết diễn biến như một vở kịch sinh động. Vậy chúng ta hãy theo dõi lần lượt những diễn biến đó.
- Khởi đầu nhân vật thứ nhất xuất hiện. Đó là Chúa Giêsu. Ngài đang đi trên lộ trình ngang qua thành Giêricô để tiện về thành Giêrusalem. Ngài chỉ đi như vậy thôi hay là còn có một mục đích nào khác nữa không? Câu chót của đoạn Tin Mừng này cho thấy Chúa không phải chỉ đi lang thang, mà có mục đích rõ ràng, đó là để "tìm cứu vớt những gì đã hư hỏng".
- Tới phiên nhân vật thứ hai xuất hiện, đó là ông Giakêu, một người giàu có nổi tiếng ở thành phố Giêricô này. Ông làm giàu nhờ nghề nghiệp của ông, trưởng ban thu thuế. Dĩ nhiên nếu chỉ có đồng lương hàng tháng thì ông không giàu như vậy được. Sở dĩ ông giàu là vì ông đã gian lận trong việc thu thuế. Ai cũng coi ông là một kẻ tội lỗi. Phần Giakêu dù giàu nhưng vẫn thấy thiếu thốn một cái gì đó trong tâm hồn, ông đang muốn tìm cái đó thì hay tin có Chúa Giêsu đang đi ngang qua thành phố. Ông vội vàng chạy tới để mong gặp được Ngài. Nhưng dân chúng thì đông, mà ông thì thấp lùn không thể nhón gót lên mà thấy Ngài được, nên ông trèo lên một cây sung cho dễ nhìn.
- Xin hãy chú ý nghĩa của những chi tiết này: Chúa Giêsu đang đi tìm người tội lỗi, và người tội lỗi cũng đang đi tìm Chúa. Hai bên gặp nhau và ơn cứu rỗi được thực hiện. Ơn Cứu rỗi là kết quả của sự găïp gỡ của 2 phía: phía Chúa và phía người tội lỗi. Nếu Chúa không đi tìm thì chẳng ai được cứu rỗi. Nhưng dù Chúa có tìm mà người tội lỗi không đáp lại thì cũng chẳng có ơn cứu rỗi. Phải có sự hợp tác của cả 2 phía.
- Khi hai nhân vật ấy gặp nhau, thì ai lên tiếng trước? Thưa là Chúa Giêsu. Ngài nhìn lên cây sung và nói với Giakêu. Xin chú ý lần nữa, chi tiết Chúa Giêsu lên tiếng trước cũng có ý nghĩa lắm: mặc dù ơn cứu rỗi là sự hợp tác giữa 2 phía, nhưng sáng kiến khởi đầu là từ phía Chúa.
- Chúng ta hãy theo dõi tiếp câu chuyện. Chúa Giêsu lên tiếng trước, nhưng Ngài nói gì? Chúa nói "Ông Giakêu ơi, xuống mau đi vì hôm nay tôi cần đến trọ ở nhà ông". Lại một lần nữa xin chú ý: Chúa Giêsu quả là người tế nhị. Chúa muốn giúp ông Giakêu nhưng lại nói là Chúa cần ông giúp đỡ. Tế nhị là ở chỗ đó, để sau đó ông Giakêu không ngại nhận sự giúp đỡ của Chúa.
- Bây giờ tới nhóm nhân vật thứ ba, là quần chúng. Khi họ nghe Chúa Giêsu nói là muốn đến ở trọ nhà một tên thu thuế tội lỗi như vậy thì họ ngạc nhiên đến ngỡ ngàng: không lẽ nào một người thánh thiện như Chúa Giêsu mà lại đến ở nhà một người tội lỗi như ông Giakêu sao?
- Phần ông Giakêu thì quá mừng rỡ trước đề nghị của Chúa Giêsu. Ông tức khắc có một quyết định là từ nay sẽ chấm dứt lỗi làm ăn tội lỗi cũ. Ông sẽ lấy phân nửa tài sản của ông để bố thí cho những người nghèo. Còn đối với những người đã bị ông gian lận tiền bạc thì ông sẽ đền cho họ gấp bốn. Chúng ta nên biết rằng theo luật đạo Do thái ai phạm tội lỗi đức công bình mà muốn được tha thì tùy mức tội nặng nhẹ mà phải đền bù với mức độ khác nhau: nhẹ thì đền trả đủ số và cộng thêm 1/5; nặng thì phải đền gấp đôi. Ông Giakêu xin đền gấp bốn nghĩa là ông tự thú tội ông quá năng. Còn theo luật Rôma thì đối với những tội trộm cắp công khai thì phải đền gấp bốn. Ông Giakêu xin đền gấp bốn tức là ông cũng thừa nhận mình là một tên tội lỗi công khai. Cho nên quyết định của ông vừa là khiêm nhường, vừa là công bình vừa là bác ái.
- Nhưng khi Giakêu chịu bỏ ra phân nửa tài sản đó bố thí cho kẻ nghèo, lại sẵn sàng đền gấp bốn cho những ai bị ông làm thiệt hại thì tính ra số tiền ông phải bỏ thật quá nhiều. Ông làm như vậy có phải là quá đáng không? Hay hỏi cách khác: ông có tiếc vì phải bỏ quá nhiều như vậy không? Thưa chắc chắn là không, vì chính ông tự nguyện làm như thế. Vả lại cái mà ông bỏ đi so với cái mà ông nhận được, tức là ơn tha thứ, thì chẳng thấm tháp vào đâu cả. Cho nên ông không hề tiếc. Hơn nữa, cuộc trở lại nào mà không phải từ bỏ.
- Chúng ta hãy dừng lại ở tư tưởng chót này: Bất cứ cuộc trở lại nào cũng đòi phải từ bỏ. Một người từ trước tới giờ không có đạo, tin vào đủ thứ mê tín dị đoan, nay trở lại theo đạo thì phải từ bỏ tất cả những mê tín dị đoan ấy chỉ còn tin vào một mình Chúa duy nhất mà thôi. Một người bấy lâu nay không giữ đạo, sống bê tha tội lỗi, nay muốn ăn năn trở lại thì cũng phải từ bỏ con đường tội lỗi cũ. Đó là những cuộc trở lại lớn. Còn những cuộc trở lại nhỏ hơn thì cũng thế, cũng phải từ bỏ. Từ trước tới giờ, anh làm ăn bằng những mánh khóe gian lận, nay anh muốn trở lại sống tốt thì tức nhiên anh phải bỏ những món tiền gian lận ấy. Chứ không thể nào vừa muốn sống đàng hoàng mà vừa tiếp tục những kiểu làm ăn gian lận cũ được. Hay từ trước tới giờ anh quen nhậu nhẹt rượu chè say sưa, làm cho gia đình buồn khổ, làm cho phẩm cách mình bị hạ thấp, nay anh muốn sống tử tế lại thì đương nhiên anh phải bỏ tật rượu chè say sưa ấy. Có một số người ghiền rượu đã nói rằng: bỏ rượu thì nếu cố gắng một chút chắc sẽ bỏ được, nhưng cái khó là như người ta nói, muốn bỏ rượu thì phải bỏ bạn luôn. Gương từ bỏ hết sức quảng đại của ông Giakêu là câu trả lời cho thắc mắc đó: Nếu thực tình muốn sống đàng hoàng hơn, thì phải thực sự bỏ rượu, mà nếu vì bỏ rượu mà mất bạn, thì cũng phải đành mất vậy thôi. Bởi vì chân lý đã được nêu rõ trong bài Tin Mừng này: bất cứ cuộc trở lại nào, dù lớn dù nhỏ, cũng đòi ta phải từ bỏ hết.
Niềm vui sướng của ông Giakêu khi trở lại là một niềm vui rất lớn. Lớn đến nỗi ông trở thành một con người hết sức hào phóng, quảng đại bỏ đi hơn phân nửa tài sản của mình mà cũng không tiếc. Nếu chúng ta trở lại từ những gì xấu xa khuyết điểm cũ của ta để sống đàng hoàng tử tế hơn, thì chắc chúng ta cũng sẽ hưởng được niềm vui sướng to lớn như vậy trong tâm hồn. Nhưng, như Tin Mừng hôm nay dạy, bất cứ cuộc trở lại nào cũng đòi hỏi phải từ bỏ. Vậy, trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm ơn giúp chúng ta can đảm từ bỏ, để chúng ta được vui mừng trong niềm vui trở lại.
* 2. Có một cái nhìn như thế (Lc 19, 1-10)
Nhiều đệ tử đang theo học Thiền định dưới sự hướng dẫn của thiền sư Sengai. Một người trong bọn họ thường hay thức dậy ban đêm, vượt tường ra phố để dạo mát cho thoả thích.
Một đêm kia, Sengai đi giám thị phòng ngủ, thấy một đệ tử vắng mặt và cũng khám phá ra được chiếc ghế đẩu cao mà anh ta thường dùng để leo qua tường. Sengai dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Khi anh chàng rong chơi trở về, không biết rằng Sengai là chiếc ghế, anh ta đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất. Lúc khám phá ra việc mình đã làm, anh ta hoảng sợ, nhưng Sengai nhẹ nhàng bảo:
- Sáng sớm hôm nay trời lạnh lắm. Con hãy cẩn thận kẻo bị cảm đấy?
Từ đó, người đệ tử ấy không bao giờ bỏ ra ngoài ban đêm nữa. Anh chuyên tâm học tập và trở thành người đệ tử gương mẫu của thầy Sengai.
***
Thiên Chúa không những tế nhị, dịu dàng, và nhân từ như thầy Sengai mà Người còn khoan dung, tha thứ và yêu thương những con người tội lỗi.
Ông Gia kêu là một trưởng ty thuế vụ thành Giêricô, một người giàu có vì lạm thu bất chính. Ông bị liệt vào số những kẻ tội lội, bị khai trừ và khinh bỉ. Chúa Giêsu không nhìn ông bằng con mắt ấy, Người ngước nhìn ông đang ngồi trên cây sung; một cái nhìn thân thiện, có sức cảm hoá tâm hồn; một cái nhìn nhân từ như không thấy tội gì trong ông. Chính cái nhìn đầy chân tình và yêu thương ấy đã khiến ông nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới.
Người nói với ông: "Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" (Lc 19, 5). Hạnh phúc quá bất ngờ: Người không chỉ biết ông đang ở trên cây mà còn biết cả tên ông. Người không chỉ muốn đến thăm mà còn xin ở lại nhà ông. Ông chỉ có một ao ước nhỏ nhoi là được nhìn thấy Người, nhưng Người lại cho ông cả một ân huệ lớn lao vượt quá lòng ông mong ước. Ông chỉ muốn thấy kẻ đã chữa cho anh mù Báctimê là người thế nào, nhưng chính Đấng ấy lại chữa lành đôi mắt tâm hồn ông.
Vâng, chính đôi mắt tâm hồn ông đã bừng sáng, để ông không chỉ thấy một con người bình thường trước mặt, nhưng còn thấy Người chính là Đấng ban ơn cứu độ, đầy lòng nhân từ và xót thương; để ông không chỉ thấy tiền bạc là tất cả nhưng còn thấy cần chia sẻ và trao ban. Ông đã quá vui mừng hứa với Chúa: "Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn" (Lc 19, 8). Và chúa chỉ chờ có thế, để nói với mọi người: "Ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham" (Lc 19, 9). Thật vậy, ở đâu có Chúa hiện diện là có ơn cứu độ, ở đâu có ơn cứu độ là có sự tha thứ. Ông Giakêu đã được thứ tha để được nhận lại làm con cái Ápraham, con cái của lòng tin, con cái của Thiên Chúa.
Và chắc chắn, không ai có thể ngăn cản ông ngồi đồng bàn với Chúa, trong bữa tiệc hân hoan ngay sau đó. Chắc chắn, ông Gia kêu không còn giàu có như trước nữa, nhưng ông sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Chắc chắn thân xác ông vẫn lùn như xưa, nhưng tâm hồn ông đã cao thượng hơn gấp bội. Những người được Chúa "tìm đến và cứu chữa" bao giờ cũng trỗi vượt trong nhân cách và kiên vững trong lòng tin.
***
Lạy Chúa, có rất nhiều người cần chúng con nhìn họ với cái nhìn của Chúa. Có rất nhiều người mong chúng con ghé thăm.
Xin cho chúng con một tấm lòng khoan dung như Chúa, và một tâm hồn quảng đại như Giakêu, để cả thế giới này trở nên con cái Ápraham, và được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Amen. (Thiên Phúc)
* 3. Hoán cải bằng con tim
Chắc hẳn Dakêu đã nghe người ta nói nhiều điều tốt về Chúa Giêsu. Nhưng ông muốn chính mình gặp Ngài, lý do thứ nhất là để xem tướng mạo Ngài ra sao, và lý do thứ hai quan trọng hơn là để biết con người của Ngài thế nào.
Hôm đó cũng có rất đông người muốn nhìn thấy Chúa Giêsu. Họ ở cạnh Ngài, họ bao quanh Ngài. Còn Dakêu thì không đến gần được, ông phải trèo lên một cây sung. Thế mà Chúa Giêsu lại đặc biệt để ý tới ông. Thật sung sướng khi được người khác để ý tới.
Tuy nhiên, để ý tới ai không hẳn chỉ là để chăm sóc hay khen ngợi người đó. Nếu người đó là kẻ xấu thì có thể người ta để ý tới để mà dò xét hay khiển trách. Dakêu là người xấu, nhưng Chúa Giêsu để ý tới ông không phải để khiển trách. Ngài dừng lại và nhìn lên ông. Dakêu hiểu là Chúa Giêsu quan tâm đến ông. Được để ý tới là sung sướng, được quan tâm lại càng sung sướng hơn.
Chúa Giêsu còn nói với Dakêu nữa. Đặc biệt là Ngài không nói một lời nào về những tội lỗi của ông. Thay vào đó Ngài gọi đích danh ông "Này ông Dakêu". Rồi Ngài gọi ông xuống "Xuống mau đi". Ngài còn ngỏ ý muốn đến trọ nhà ông "Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông". Điều này không ai ngờ. Dakêu không ngờ, mà tất cả mọi người có mặt ở đó cũng không thể ngờ một người đạo đức như thế mà lại đến trọ nhà một người tội lỗi công khai. Dakêu sung sướng quá, "Ông vội vàng trèo xuống và mừng rỡ đón rước Ngài". Ban đầu ông chỉ mong nhìn được Chúa Giêsu một cái thôi. Bây giờ ông được nhìn Ngài mặt đối mặt và sắp được ở chung với Ngài ngay trong nhà của ông nữa.
Dakêu đã biết chẳng những tướng mạo mà cả con người của Chúa Giêsu. Ông còn biết được tâm hồn dạt dào yêu thương của Ngài nữa.
Và khi nhìn thấy tâm hồn Chúa Giêsu rồi, Dakêu cũng nhìn lại tâm hồn của ông: một tâm hồn đầy tội lỗi. Ông thấy đời mình bấy lâu nay như một sa mạc khô cằn, thế mà hôm nay Chúa Giêsu lại đến, như một cơn mưa rào.
Thế là Dakêu hoán cải. Cuộc hoán cải thể hiện bằng những hành động cụ thể: đền bồi tất cả những thiệt hại đã gây ra cho người khác, và phân chia tài sản mình cho những người nghèo. Đây không phải là hoán cải chỉ bằng ý muốn mà bằng cả con tim: Dakêu đã biết xót xa cho những người bị ông làm thiệt hại, và biết yêu thương những người nghèo khổ. Đây chính là sự hoán cải thật, vì con tim có hoán cải thì cuộc đời mới hoán cải thật.
Con tim của Dakêu hoán cải nhờ Chúa Giêsu đã để ý tới ông, quan tâm ông, đối xử nhẹ nhàng với ông. Goethe đã viết: "Hãy đối xử với một người như người ấy là, và người ấy sẽ xấu hơn. Hãy đối xử với người ấy như người ấy phải là, hoặc như người ấy muốn là, và người ấy sẽ tốt hơn. Bởi vì những ước muốn trong chúng ta chính là phần tốt nhất của con người chúng ta".
Chúa Giêsu hiểu rằng những việc làm xấu của Dakêu không phải là toàn phần con người của ông; Ngài hiểu trong ông còn có phần tốt, phần muốn làm điều tốt và có khả năng làm những điều tốt ấy. Ngài đã khơi lên chính cái phần tốt ấy.
Cuộc hoán cải của Dakêu là hoán cải con tim, là hướng con tim về điều tốt.
Cũng giống như Dakêu, trong con người chúng ta cũng có phần tốt mặc dù có thể phần tốt ấy xưa nay bị những việc xấu chèn ép và chưa phát huy ra. Hãy hoán cải con tim bằng cách để Chúa để ý đến ta, quan tâm ta, nói với ta, trọ trong tim ta và đánh động con tim ta.
* 4. Từ đứng nhìn đến tham dự
Nhiều khi chúng ta xem Tivi, thấy những cảnh nghèo, cảnh khổ, cảnh tai nạn... Chúng ta cảm động. Nhưng chỉ một thoáng thôi. Sau đó tới phần chiếu phim, chúng ta say sưa theo dõi chuyện phim, những xúc động kia đã tan biến đâu mất. Nghĩa là chúng ta thường là khách bàng quan, là khán giả.
Ông Dakêu cũng thế. Hôm đó ông muốn làm khán giả. Ông trèo lên một cành cây để nhìn xuống. Ở vị trí đó, ông có thể nhìn Chúa Giêsu và nhìn mọi người mà không bị ai nhìn ông. Ông là một người ngoài cuộc, không cùng đám đông đi theo Chúa Giêsu. Cũng như trước đó ông đã là một người ngoài cuộc: ông giàu có, đầy đủ, không cần đến ai, cũng không muốn dây dưa làm chi đến đa số người khác nghèo nàn thiếu thốn.
Nhưng điều gì đã xảy ra? Chúa Giêsu gọi Dakêu xuống, Ngài ngỏ ý đến trọ nhà ông. Nghĩa là Ngài kéo ông ra khỏi tư thế khán giả bàng quan để nhập cuộc và tham gia. Và như chúng ta thấy, Dakêu đã tham gia tích cực như thế nào.
* 5. Dakêu, tấm gương hoán cải
Câu chuyện về ông Dakêu có nhiều chi tiết giúp chúng ta hiểu thế nào là hoán cải thật:
Ông tích cực đi tìm Chúa: "Ông chạy tới phía trước, leo lên một cây sung".
Khi nghe tiếng Chúa gọi, ông đã nhanh chóng và vui mừng đáp lại: "Ông vội vàng tụt xuống"
Ông còn "vui mừng đón rước Ngài về nhà".
Ông nhìn nhận tội lỗi của mình và còn thú nhận trước mặt mọi người.
Ông đền bù những thiệt hại mình gây cho kẻ khác
Hơn nữa, Ông còn lấy tài sản bố thí cho người nghèo.
Hoán cải thật là từ bỏ những tội lỗi, quảng đại đáp lại tiếng Chúa và tổ chức lại đời sống mới.
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa là Đấng từ bi nhân hậu. Người yêu thương và muốn cứu rỗi hết thảy mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin:
1. Hội thánh là đoàn chiên của Đức Kitô / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử luôn noi gương Người / mà đối xử nhân từ với các con chiên lạc đã thật lòng sám hối ăn năn.
2. Ông Dakêu tìm cách để xem cho biết Chúa Giêsu là ai / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai đang đi tìm Chúa / đều được Người chỉ lối đưa đường / trong cuộc hành trình tìm về nguồn chân thiện mỹ.
3. Trong đời sống thường ngày / lúc nào cũng có những người bị đồng loại của mình khinh dể / cô lập / và đối xử tệ bạc / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai là nạn nhân của áp bức bất công / được Chúa thương nâng đỡ ủi an.
4. Ý thức thân phận tội lỗi của mình / và quyết tâm đổi mới đời sống nên hoàn thiện hơn / là điều mà mọi Kitô hữu cần quan tâm thực hiện / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta hiểu được điều đó / và cố gắng thực hiện trong đời sống đức tin thường ngày.
Chủ tế: Lạy Chúa, không ai trong chúng con là hoàn toàn trước mặt Chúa. Vậy xin Chúa ban cho chúng con biết noi gương Chúa mà có một cái nhìn khoan dung đối với lỗi lầm của anh chị em mình. Chúng con cầu xin:
VI. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha: Chúng ta hãy đọc kinh Lạy Cha trong tâm tình của ông Dakêu, xin Thiên Chúa là Cha tha thứ những tội lỗi của chúng ta và giúp chúng ta hoán cải thật lòng.
VII. Giải tán
Anh chị em đã thấy ông Dakêu sau khi hoán cải đã rất rộng rãi đem tài sản mình phân chia cho người nghèo. Anh chị em cũng hãy cố gắng noi theo gương chia xẻ ấy.
9.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. Inhaxio Hồ Thông)
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật 31 Thường Niên Năm C nhấn mạnh tấm lòng yêu thương hay tha thứ của Thiên Chúa, Ngài không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối mà được sống, vì như lời dạy của thánh Giáo Phụ I-rê-nê: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống”.
Kn 11: 23-12: 2
Thiên Chúa đối xử rất khoan hồng đối với những người tội để họ ăn năn sám hối mà được sống.
2Tx 1: 11-2: 2
Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca sống xứng đáng với ơn gọi của mình và đừng để cho lời loan báo thất thiệt về ngày Quang Lâm của Đức Giê-su sắp đến làm cho tinh thần dao động và sợ hãi.
Lc 19: 1-10
Tin Mừng kể cho chúng ta câu chuyện đổi đời ngoạn mục của một viên quan thu thuế tên là ông Da-kêu, vì ông cảm kích trước tình yêu hay tha thứ của Đức Giê-su dành cho ông.
BÀI ĐỌC I (Kn 11: 23-12: 2)
Sách Khôn Ngoan thuộc truyền thống minh triết Cựu Ước. Trước tiên, tác giả cảnh giác các kiều bào Do thái của mình đang sống tại A-lê-xan-ri-a về mối hiểm họa của nền văn hóa Hy lạp và những nguy hiểm của cuộc bách hại. Để củng cố lòng can đảm và dẫn đưa những kẻ lầm đường lạc lối trở về, ông đối lập số phận vinh quang đang chờ đợi người công chính và sự trừng phạt không chút xót thương mà Thiên Chúa dành cho bọn ác nhân. Để bảo vệ những đồng bào của mình khỏi sức hấp dẫn của những văn minh dân ngoại, ông cho thấy rằng những người Do thái khờ dại tìm kiếm sự khôn ngoan ở nơi khác, trong khi Thiên Chúa ban cho dân Ngài sự khôn ngoan của Ngài, tức là Lề Luật, cách dồi dào. Cuối cùng, ông nhắc nhở họ đặc quyền của dân Chúa chọn là có sứ mạng truyền đạt cho toàn thế giới “ánh sáng không hề tắt của lề luật” (18: 4).
Nhưng ông cũng nhiều lần nói lên sự bận lòng của mình đối dân ngoại. Đây là một trong những nét độc đáo của sách này. Tác giả ra sức chứng minh rằng Thiên Chúa thương yêu hết mọi người không hề phân biệt, và Ngài đòi hỏi con cái của Ngài hãy tỏ mình là “bạn hữu của con người”. Nếu dân ngoại ngoan ngoãn vâng theo ánh sáng của lý trí, cuối cùng họ cũng sẽ nhận ra Đấng Hóa Công duy nhất của hoàn vũ. Họ sẽ đón nhận Đức Khôn Ngoan tinh tuyền và đích thật, bên cạnh Ngài, sự khôn ngoan của dân ngoại chỉ là trẻ con.
Trong đoạn trích hôm nay, khi nhìn lại lịch sử, tác giả khám phá ra đường lối hành xử của Thiên Chúa: Vì yêu thương hết mọi người mà Ngài đã dựng nên, Thiên Chúa không muốn ai phải chết, nhưng được sống. Vì thế, đối với những người tội lỗi, Thiên Chúa “nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi của loài người để họ còn ăn năn sám hối”, đối với “những ai sa ngã, Ngài sửa dạy từ từ… để họ bỏ điều ác mà tin vào Ngài”.
BÀI ĐỌC II (2Tx 1: 11-2: 2)
Thánh Phao-lô viết thư thứ hai gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca có lẽ từ Cô-rin-tô. Cuộc bách hại mà thánh Phao-lô đề cập đến trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca vẫn tiếp diễn. Mối quan tâm của tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca về ngày Quang Lâm của Chúa cũng vậy. Tuy nhiên, trong thời gian này, hoàn cảnh còn nghiêm trọng hơn nhiều. Sự hỗn loạn xuất phát từ “bên trong” cộng đoàn tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Vài người loan báo ngày của Chúa sắp đến, và còn quả quyết những lời tuyên bố của mình được Thánh Thần linh hứng.
Trong đoạn trích thư này, thánh Phao-lô nói cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca biết rằng dù xa mặt nhưng không cách lòng, thánh nhân vẫn hằng cầu nguyện cho họ để họ sống xứng đáng với ơn gọi, hoàn thành mọi thiện chí và mọi công việc họ làm vì lòng tin, nhờ đó Đức Giê-su được tôn vinh ở nơi họ và họ được tôn vinh nơi Ngài (2Tx 1: 11-12). Thánh nhân còn căn dặn các tín hữu phải coi chừng đừng để cho mình bị lừa dối bởi những tin đồn thất thiệt về ngày Chúa Quang Lâm: “Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa đã gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ” (2Tx 2: 1-2).
TIN MỪNG (Lc 9: 1-10)
Đối với Da-kêu, đây là một ngày đáng nhớ, một kỷ niệm không thể nào quên đi được, một cuộc gặp gở để đời, bởi vì chính cuộc gặp gở với Đức Giê-su vào ngày hôm đó mà ông hiểu thế nào là cái thênh thang rộng mở của tấm lòng Thiên Chúa và thế nào là sức bật tức khắc và triệt để của một cuộc đổi đời. Câu chuyện này được dàn dựng theo hình thức “đối xứng xen kẻ”:
A- Ông Da-kêu mong ước được gặp Chúa Giê-su (19: 1-4)
1-2. Tất cả bắt đầu từ cái tình cờ, Chúa Giê-su tình cờ đi qua thành Giê-ri-cô nơi ông đang sinh sống. Đối với Da-kêu, cái tình cờ này không thể nào bỏ qua, bởi vì đây là một dịp may hiếm có để “xem cho biết” Đấng mà người ta ca ngợi Người là một vị ngôn sứ.
3. “Ông tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn”: Việc “xem cho biết” một vị ngôn sứ đi ngang qua quê mình đối với dân chúng là một chuyện bình thường, nhưng đối với Da-kêu chẳng bình thường chút nào, bởi vì ông là một viên quan thu thuế được xem như một tội nhân công khai, một kẻ bị nguyền rủa, một kẻ bị khai trừ ra khỏi cộng đoàn cứu độ. Vì thế, ông không thể hoà mình vào đám đông, cùng chung niềm vui với muôn người để đón mừng vị ngôn sứ. Hơn nữa, ông e ngại cái nhìn nghiêm khắc và sợ những lời kết án cứng rắn của vị ngôn sứ, vì ông biết ông là một tội nhân.
4. “Ông liền chạy tới trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó”: Tuy nhiên, tính tò mò muốn “xem cho biết” thúc bách ông và nẩy sinh một sáng kiến, một sáng kiến thật ngộ nghĩnh: ông chạy đến trước, leo lên một cây sung, ẩn mình trong cành lá chỉ để xem cho biết Đức Giê-su. Cây sung gần giống như một cây sồi, trồng bên đường, rất dễ trèo vì thân đầy khối u, các nhành tỏa ra tứ phía. Một Da-kêu thường ngày uy nghi đường bệ của viên quan thu thuế, nay lại trở thành một trẻ con, thơ ngây, hồn nhiên đong đưa trên cành cây sung để xem cho biết Đức Giê-su. Khi tìm kiếm Thiên Chúa, đừng để cho sự hổ ngươi cũng như sợ bị coi là lố bịch ngăn cản, phải biết tận dụng những nguồn sẵn có giúp chúng ta gặp được Chúa Giê-su.
B- Chúa Giê-su mong ước được lưu lại nhà ông Da-kêu (19: 5-7)
5. “Khi Đức Giê-su tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông”: Nhưng ông không ngờ sáng kiến ngộ nghĩnh của ông lại được Đức Giê-su để ý đến và Người cũng không thể bỏ qua đi được. Một sáng kiến ngộ nghĩnh của ông Da-kêu được đáp trả bằng sáng kiến ngộ nghĩnh không kém của Đức Giê-su, bởi vì nó không hợp với cái lô-gích theo nếp gấp suy nghĩ của ông. Người đến nơi cây sung, tận nơi sáng kiến ngộ nghĩnh của ông và nói với ông những lời thân thiết đến mức giản dị và tự nhiên như thử hai người bạn thân xa cách từ lâu nay gặp lại nhau: “Này Da-kêu ơi! Xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”. Thật lạ lùng, Da-kêu chỉ muốn xem cho biết, ông đâu nghĩ gì xa xôi, ấy vậy Người đã dẫn đưa ông đi xa đến độ như “đã quen biết nhau từ thuở nào rồi”. Cái bất ngờ đến lạ lùng này của Chúa Giê-su vào ngày hôm đó đã khai mở cho ông Da-kêu một cái nhìn mới mẽ về Thiên Chúa không như ông nghĩ hay như người ta đã nói với ông trước đây.
Cách hành xử của Đức Giê-su cũng lạ thường đối với nếp gấp suy nghĩ của đám đông. Rồi, trước đây, truyền thống minh triết đã đặt vấn đề về giáo huấn truyền thống “thưởng phạt chí công của Thiên Chúa”. Nếu Thiên Chúa thưởng phạt chí công tại sao Ngài lại “ngoảnh mặt làm ngơ” trước thái độ huyên hoang tự đắc của bọn ác nhân và những đau khổ mà những người công chính phải chịu vì bất công? Câu trả lời của Thiên Chúa được gặp thấy trong Bài Đọc I: “Chúa nhắm mắt làm ngơ không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải” (Kn 11: 23), được hiện thực nơi câu chuyện Tin Mừng hôm nay. Đức Giê-su đã ngoảnh mặt làm ngơ trước một Da kêu, viên quan thu thế, miệt mài làm giàu bằng những đồng tiền phi nhân phi nghĩa, nhưng Người không thể nào ngoảnh mặt làm ngơ trước một Da kêu biến mình thành trẻ thơ đong đưa trên cành với một ước mơ giản dị “xem cho biết Đức Giê-su là ai”. Trong cõi thâm sâu của một viên quan thu thuế, một kẻ hư hỏng không còn gì để nói, vẫn còn đó một mảnh trời xanh hồn nhiên trong sáng. Đối với Chúa Giê-su, một mảnh trời xanh nhỏ bé này hứa hẹn một ngày mới ngập tràn ánh nắng nếu biết nắm lấy cơ hội mà ân tình của Người mở ra.
6. “Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người”: Hóa ra trong khi con người chờ đợi Thiên Chúa đến với “cái rành mạch phân minh đâu ra đó của lý lẽ”, thì Thiên Chúa lại thích đến với “cái thênh thang rộng mở không ngờ của một tấm lòng”. Chính cái thênh thang rộng mở của tấm lòng đó mà ngày hôm ấy, Da-kêu hiểu hơn ai hết câu nói này: “Các bạn hãy nếm thử và nhìn xem cho biết Thiên Chúa chúng ta thiện hảo là dường nào”.
7. “Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau”: Nhưng cũng chính cái thênh thang rộng mở của của tấm lòng này lại gây công phẩn nơi công chúng: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ”.
A’- Ông Da-kêu đáp trả (19: 8)
8. “Ông Da-kêu đứng đó thưa với Chúa rằng”: Cảm kích trước tấm lòng rộng mở của Chúa, ông Da-kêu đáp trả ngay tức khắc, bằng cách xin được đền gấp bốn cho những ai mà ông đã cưỡng đoạt tài sản của họ, như vậy trong việc đền bù ông còn nhất định làm nhiều hơn điều luật đòi buộc: Nếu chỉ trộm cắp thông thường và nguyên vật không thể hoàn trả thì phải tính giá gấp đôi mà đền (Xh 22: 4, 7). Nếu bị can tự thú và tự nguyện hoàn trả thì chỉ phải trả theo giá nguyên vật, cộng thêm một phần năm (Lv 6: 5; Ds 5: 7). Chỉ khi nào trộm cắp là một hành động bạo lực và dụng tâm gây tàn hại, bấy giờ mới buộc phải đền gấp bốn (Xh 22: 1).
Ngoài ra, ông còn quảng đại dâng phân nửa tài sản của ông cho người nghèo. Thánh Am-rô-xi-ô giải thích: “Người giàu hãy học rằng điều xấu không cốt có nhiều của cải, nhưng không sử dụng chúng cho điều tốt; vì trong khi sự giàu có là một trở ngại đối với những người xấu, thì nó cũng là một phương tiện đức hạnh đối với những người tốt” (Expositio Evangelii sec. Lucam, in loc.).
B’- Chúa Giê-su đáp trả (19: 9-10)
9. “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này”: Vì Đức Giê-su tự nguyện lưu lại nhà ông Da-kêu và vì ông Da-kêu bằng lòng đón tiếp Người, nên ơn Cứu Độ đến trên toàn thể gia đình của ông: “Sự hiện diện của Đức Giê-su làm cho những gì không thể được, đối với con người, trở thành có thể: một người giàu chui qua lỗ kim được, nhưng không phải là không đòi hỏi một số thay đổi tận gốc” (Pilgrim trong “Good News to The Poor”).
10. “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”: Đám đông đã kêu trách Chúa Giê-su vì Người giao du với một người mà họ cho là kẻ tội lỗi (19: 7). Chúa Giê-su biện minh cho cách hành xử của Người khi giải thích rằng lý do Người đến chính là để đi tìm những người tội lỗi. Người đang hiện thực vai trò người mục tử trèo non lặn suối tìm cho bằng được một con chiên lạc (x. Lc 15: 4-7) mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã loan báo rồi: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật; Ta sẽ làm cho mạnh” (Ed 34: 16). Vì Chúa Giê-su mong ước tìm và cứu những người tội lỗi, chúng ta cũng hy vọng mình có thể đạt được ơn cứu độ đời đời. Thánh Am-rô-xi-ô giải thích “Người chọn một thủ lãnh thu thuế, ai có thể thất vọng được chứ khi một con người như thế đạt được ân sủng?” (Expositio Evangelii sec. Lucam, in loc.).
Còn sáng kiến nào thân tình hơn Bàn Tiệc Thánh Thể nhỉ, ở đó Đức Giê-su đã dẫn đưa các môn đệ của Người cho đến tận cùng cái thênh thang rộng mở của tấm lòng Người, như thánh Gioan ghi nhận: “Trước lễ Vượt qua, Chúa Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà đến với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13: 1). Tại sao sống trong ân tình đến như thế, chúng ta lại không cảm thấy niềm hưng phấn đổi đời như ông Da-kêu nhỉ? Bởi vì chúng ta thích thấy mình nơi đám đông hơn nơi Da-kêu, một tội nhân, nên chúng ta thiếu cái sức bật ngay tức khắc và triệt để của một tấm lòng rộn rã muốn được đổi đời như ông Da-kêu. “Ngay tức khắc” vì không thể nào trì hoản được nữa, không thể khất lần thêm được nữa,“Thôi để dịp khác rồi sẽ hay” vì ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay như lời của thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II: “Futur begins today, not tomorrow” (“Tương lai bắt đầu từ ngày hôm nay, chứ không ngày mai”), và “triệt để” vì dám chấp nhận những hậu quả khôn lường của cái giá đổi đời này: từ một Da-kêu mãi miết chắc chiu từng đồng bạc bất nhân bất nghĩa đến một Da-kêu dám chia tài sản của mình cho những người nghèo túng và đền gấp bốn cho những thiệt hại mà mình đã gây nên.
10.Vòng tay tha thứ
Nhiều người trong chúng ta có một cái nhìn sai lạc về Thiên Chúa. Đối với họ Thiên Chúa thường là một ông cảnh sát đầy quyền năng, luôn đứng bên lề cuộc đời để biên phạt những hành động sai trái. Trong khi đó Đức Kitô đã tỏ lộ cho chúng ta thấy Thiên Chúa là một người Cha nhân từ hằng yêu thương chăm sóc chúng ta, và đặc biệt Ngài sẵn sàng tha thứ những lầm lỗi của chúng ta. Ngài hằng mong ước cho chúng ta, những người con của Ngài được hạnh phúc.
Sách Khôn Ngoan đã viết: Chúa thương xót mọi người và Ngài nhắm mắt trước những tội lỗi của những kẻ thực lòng sám hối. Lòng nhân từ và thương xót ấy ngày hôm nay được biểu lộ một cách cụ thể qua câu chuyện về ông Giakêu. Ông ta là một người thu thuế giàu có tại Giêricô. Dưới mắt những người Do Thái, thì những kẻ làm nghề thu thuế bị đồng hoá với phường tội lỗi, vì họ tiếp tay với đế quốc Lamã, bóc lột đồng bào của mình, để nuôi sống kẻ thù và làm giàu cho bản thân. Chính vì thế mà họ bị loại trừ khỏi cộng đồng dân Chúa.
Từ lâu Giakêu hẳn thường nghe nói nhiều về Chúa Giêsu và ao ước được gặp gỡ với Người. Vì thế khi hay biết Người sắp đi qua nơi đó, Giakêu đã trèo lên một cây sung vì ông là một người thấp bé, và dân chúng thì lại đông đảo vây quanh Người. Thế rồi, Chúa Giêsu đã nhận ra ông, Ngài nói: Hỡi Giakêu hãy xuống mau vì hôm nay Ta muốn lưu lại tại nhà ngươi.
Hẳn chúng ta sẽ ngạc nhiên trước một lời nói như thế. Ngài đã dành cho ông một vinh dự quá to lớn, phải chăng Ngài đã đảo lộn bậc thang giá trị? Phải chăng Ngài khích lệ những kẻ bóc lột, gian tham và độc ác? Chính Giakêu cũng ngạc nhiên không kém trước tình yêu Ngài dành cho ông. Trong khi mọi người thù ghét ông thì Ngài lại yêu thương ông. Chính tình yêu này đã chuyển hướng cuộc đời ông, đưa ông vào một khúc quanh mới, thắp lên trong tâm hồn ông một ngọn lửa nhiệt thành.
Từ thẳm sâu cõi lòng, ông cảm thấy chính mình cần phải uốn nắn sửa đổi lại những sai lỗi khuyết điểm, đền bù những thiệt hại trong dĩ vãng để xứng đáng với tình thương yêu ấy. Lập tức ông đã quyết định: Thưa Thầy, con sẽ bố thí một nửa phần sản nghiệp của con. Và nếu như con đã làm thiệt hại ai thì con sẽ đền trả gấp bốn. Chúa Giêsu thấu suốt cõi lòng ông, Ngài đã cảm động khi nói với ông: Ngày hôm nay nhà này được ơn cứu độ vì cũng là con cháu Abraham. Chúa Giêsu đã chống lại những thiên kiến của người đời, Ngài đã xác quyết: Con Người đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư đi.
Dù cuộc đời chúng ta có chồng chất tội lỗi, chúng ta đừng vội thất vọng, hãy ngước nhìn Chúa, hãy tìm gặp Ngài với lòng yêu mến chân thành, bởi vì lúc nào Ngài cũng mở rộng vòng tay chờ đón để tha thứ cho chúng ta.
11.Đổi đời
Trong cuộc sống, có nhiều người đã thoát xác, đã đổi đời một cách bất ngờ để trở nên tốt lành và thánh thiện.
Phanxicô Borgia đã từ bỏ chức vị tại triều đình khi đứng trước thi thể rữa thối của hoàng hậu Isabella. Phanxicô Xaviê đã trở nên một vị tông đồ Á châu chỉ vì lời Kinh Thánh mà Ignatio không ngừng nhắc đến mỗi khi gặp gỡ: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích lợi chi. Magueritte de Cortone đã xa lìa nếp sống tội lỗi và trở nên một vị thánh trước cái chết của người tình. Và ngày hôm nay, ông Giakêu cũng đã thực hiện một cuộc đổi đời, một cuộc thoát xác như thế.
Thực vậy, khi trèo lên cây sung để nhìn xem Chúa Giêsu, có lẽ ông chỉ muốn thoả mãn tính tò mò của mình cứ chẳng có nghĩ ngợi xa xôi gì. Thế nhưng thật bất ngờ là sự việc tưởng như vô nghĩa này đã đưa ông đi rất xa, đánh dấu một khúc quanh, mở ra một huyết mới có tính cách quyết định toàn bộ cuộc đời của ông.
Từ đó chúng ta nhận thấy Chúa thường đến với chúng ta, thường bước vào cuộc đời chúng ta một cách bất ngờ, bằng những con đường đầy bí ẩn, hầu dẫn chúng ta tới những nơi thật xa lạ. Ngài luôn chủ động, đưa ra sáng kiến và chọn lựa chúng ta như lời Ngài đã phán: Không phải các con chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn các con.
Phần chúng ta là phải nắm lấy cơ hội một cách đúng lúc, chấp nhận sáng kiến của Chúa và cùng bước đi với Ngài trên nẻo đường Ngài đã mở ra. Điều quan trọng đó là đừng lỡ hẹn với Ngài. Bởi vì cơ hội bỏ qua sẽ không bao giờ trở lại.
Nếu như ngày hôm nay, ông Giakêu không muốn xem thấy Chúa hay không đón nhận Ngài đến thăm nhà ông, thì có lẽ đã chẳng xảy ra sự gì, để rồi ông mãi mãi vẫn là một người thu thuế, mải mê làm giàu một cách bất chính. Thế nhưng ngày hôm nay, một con đường mới đã mở ra cho ông, một cuộc sống mới đã bùng lên trong ông và một con người mới được khai sinh nơi cõi lòng ông. Cuộc đổi đời của ông đã diễn ra tức khắc và triệt để.
Tức khắc bởi vì ông không xin được gia hạn, được trì hoãn, và bởi vì ông biết rằng nếu không thực hiện ngay hôm nay, ngay lúc này thì cũng sẽ chẳng bao giờ thực hiện được.
Triệt để bởi vì ông sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả của cuộc hoán cải: chia tài sản cho người nghèo túng, đền bù gấp bốn cho những thiệt hại mình đã gây nên. Cuộc hoán cải nào cũng có cái giá phải trả. Có sẵn lòng trả thì mới là hoán cải thực sự.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã quyết tâm trở lại với Chúa biết bao nhiêu lần, nhưng có lẽ chưa một lần chúng ta đã trở lại thật sự với Ngài. Phải chăng, vì sợ phải trả cái giá đắt ấy mà chúng ta cứ còn trì hoãn, và thoái thác mãi.
12.Chúa Nhật 31 Thường Niên
Anh chị em thân mến.
Nhạc sĩ Trần Tiến có một bài hát đi vào lòng người, không phải chỉ những người Việt Nam, nhưng cả người ngoại quốc đến Việt Nam và biết tiếng Việt khá một chút, cũng biết bài hát này.
Bài hát diễn tả tâm tình của một chú bé miền quê, mê tiếng đàn của anh lính xa nhà. Không biết “Đàn anh hát câu gì mà sao chú bé cười ngộ ghê, cũng không biết đàn anh hát câu gì, mà sao chú bé ngồi mơ màng. Hạnh phúc quá đơn sơ....”
Hạnh phúc quá đơn sơ thật, với tiếng đàn nghiệp dư, tiếng đàn để giải sầu cho riêng mình, mà cũng có người tìm được niềm vui. Chú bé tìm đến tiếng đàn của anh lính, chú bé ngất ngây dường như bước vào một cỏi thần tiên.
Cũng một cuộc đi tìm, một biến cố không chỉ làm ngất ngây lòng người trong phút chốc, nhưng cái tìm gặp nầy làm thay đổi cả một đời người. Đó là sự tìm gặp giữa Chúa Giêsu và Giakêô.
Giakêô muốn tìm Chúa, muốn nhìn thấy Chúa Giêsu. Nhưng lực bất tòng tâm, tầm vóc của ông không đủ để vượt qua đám đông để cho ông có thể nhìn thấy Chúa Giêsu. Thân phận của ông cũng khó công khai đến gần những người được gọi là đạo đức, vì ông là thủ lãnh người thu thuế, là người mang tội với dân tộc. Nhưng ông không chịu thua số phận, ông vượt lên số phận, tìm cách vượt qua những trở ngại.
Với những cố gắng như thế, ông đã nhận được hơn cái mình mơ ước. Ong chưa nhìn thấy Chúa Giêsu thì Ngài đã nhìn thấy ông, không chỉ thế, Ngài còn gọi đúng tên ông, ngoài sức tưởng tượng, Ngài còn nhả ý ngụ tại nhà ông. Niềm vui tràn ngập cỏi lòng, ông bất chấp những người chung quanh, bất chấp hoàn cảnh sống, cái hoàn cảnh không cho ông có cơ hội đỗi đời. Giờ đây ông ông không bỏ lở cơ hội mà ông có được. Ong làm một cuộc đỗi mới ngoạn mục, việc làm của ông còn hơn việc làm của một người đạo đức bình thường, ông đã sẵn sàng và Chúa Giêsu nhìn thấy sự đỗi mới này nên Ngài thốt lên: “Hôm nay nàh này được ơn cứu độ, vì ông cũng là con cái Abraham”.
Một sự tìm kiếm, một cái nhìn thông cảm, hơn cả tiếng sét ái tình, một cuộc chạm trán làm thay đổi đời người. Giakêô đi tìm và đã tìm được hơn cái mình muốn tìm, ông không thể nào ngồi yên bất động, nhưng ông nghe tiếng Chúa nên ông phải đi, phải hành động. Không phải chỉ hành động bằng đôi tay, nhưng bằng cả con người của ông. Ong không để cho con người mình bất động trong những gì mà người khác gọi là tội lỗi, ông đã bước ra khỏi đó, để trở thành một người mới hoàn toàn.
Câu chuyện của ngày xưa, nhưng không xưa, câu chuyện vẫn còn mang tính cách hiện đại cho những người thời nay, cho mỗi người trong chúng ta. Giakêô chỉ ao ước nhìn thấy Chúa, nhưng ông được Chúa đến ở tại nhà và như thế sự đỗi mới đã xẩy ra. Cũng như chú bé trong bài hát Mặt Trời Bé Con của nhạc sĩ Trần Tiến, chỉ cần tìm đến nghe tiếng đàn, chú bé có thể đỗi đời được từ buồn, đã đỗi sang vui và mơ màng. Còn chúng ta, chúng ta có tìm và chúng ta có gặp được gì chưa?
Mỗi người để ra một giây phút nhìn lại mình, xem đời sống mình có gì mới hơn so với những ngày tháng trước đó. Hay chúng ta vẫn tự hào về đời sống của mình, rồi tự cho là thánh thiện đạo đức, nên không cần phải thay đổi gì nữa. Nếu có thay đổi thì người khác, những người tội lỗi, những người mà chúng ta đã từng chỉ trích và khinh dể họ, vì họ có đời sống mà chúng ta cho là không xứng đáng. Như thế thì chúng ta đang đứng về phía đám đông đi theo Chúa Giêsu, họ cũng cho mình là đạo đức thánh thiện xứng đáng hơn Giakêô, họ đã che khuất tầm nhìn của ông, họ đã khinh dể chỉ trích ông và chỉ trích cả Chúa Giêsu. Họ cũng đã tự hào về chính mình. Nhưng Chúa Giêsu không ghé vào nhà của người nào trong họ, mà lại ghé nhà người mà họ khinh dể, vì ông ta nhìn thấy chính mình và biết thay đổi cuộc sống.
Còn chúng ta, không phải Chúa Giêsu chỉ ghé qua, nhưng Ngài luôn ở trongtâm hồn mỗi người. Ngài không chỉ nhìn và kêu gọi, nhưng Ngài hằng hoạt động và kêu mời liên tục. Nếu chúng ta biết lắng nghe, biết từ bỏ những gì làm cho chúng ta trở thành không xứng đáng, khi đó chúng ta cũng được nghe Chúa Giêsu nói như đã nói với Giakêô: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ”.
Xin Chúa chúc lành cho cuộc sống chúng ta mỗi ngày biết thay đổi cho tốt hơn.
13.Có một cái nhìn như thế
(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’ – Thiên Phúc)
Nhiều đệ tử đang theo học Thiền định dưới sự hướng dẫn của thiền sư Sengai. Một người trong bọn họ thường hay thức dậy ban đêm, vượt tường ra phố để dạo mát cho thỏa thích.
Một đêm kia, Sengai đi giám thị phòng ngủ, thấy một đệ tử vắng mặt và cũng khám phá ra được chiếc ghế đẩu cao mà anh ta thường dùng để leo qua tường. Sengai dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Khi anh chàng rong chơi trở về, không biết rằng Sengai là chiếc ghế, anh ta đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất. Lúc khám phá ra việc mình đã làm, anh ta hoảng sợ, nhưng Sengai nhẹ nhàng bảo:
- Sáng sớm hôm nay trời lạnh lắm. Con hãy cẩn thận kẻo bị cảm đấy?
Từ đó, người đệ tử ấy không bao giờ bỏ ra ngoài ban đêm nữa. Anh chuyên tâm học tập và trở thành người đệ tử gương mẫu của thầy Sengai.
Thiên Chúa không những tế nhị, dịu dàng, và nhân từ như thầy Sengai mà Người còn khoan dung, tha thứ và yêu thương những con người tội lỗi.
Ông Giakêu là một trưởng ty thuế vụ thành Giêricô, một người giàu có vì lạm thu bất chính. Ông bị liệt vào số những kẻ tội lỗi, bị khai trừ và khinh bỉ. Chúa Giêsu không nhìn ông bằng con mắt ấy, Người ngước nhìn ông đang ngồi trên cây sung; một cái nhìn nhân từ như không thấy tội gì trong ông. Chính cái nhìn đầy chân tình và yêu thương ấy đã khiến ông nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới.
Người nói với ông: “Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”. Hạnh phúc quá bất ngờ: Người không chỉ biết ông đang ở trên cây mà còn biết cả tên ông. Người không chỉ muốn đến thăm mà còn xin ở lại nhà ông. Ông chỉ có một ao ước nhỏ nhoi là được nhìn thấy Người, nhưng Người lại cho ông cả một ân huệ lớn lao vượt quá lòng ông mong ước. Ông chỉ muốn thấy kẻ đã chữa cho anh mù Báctimê là người thế nào, nhưng chính Đấng ấy lại chữa lành đôi mắt tâm hồn ông.
Vâng, chính đôi mắt tâm hồn ông đã bừng sáng, để ông không chỉ thấy một con người bình thường trước mặt, nhưng còn thấy Người chính là Đấng ban ơn cứu độ, đầy lòng nhân từ và xót thương; để ông không chỉ thấy tiền bạc là tất cả nhưng còn thấy cần chia sẻ và trao ban. Ông đã quá vui mừng hứa với Chúa: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đến gấp bốn”. Và Chúa chỉ chờ có thế, để nói với mọi người: “Ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Thật vậy ở đâu có Chúa hiện diện là có ơn cứu độ, ở đâu có ơn cứu độ là có sự tha thứ. Ông Giakêu đã được thứ tha để được nhận lại làm con cái Abraham, con cái của lòng tin, con cái của Thiên Chúa.
Và chắc chắn, không ai có thể ngăn cản ông ngồi đồng bàn với Chúa, trong bữa tiệc hân hoan ngay sau đó. Chắc chắn, ông Giakêu không còn giàu có như trước nữa, nhưng ông sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Chắc chắn thân xác ông vẫn lùn như xưa, nhưng tâm hồn ông đã cao thượng hơn gấp bội. Những người được Chúa “tìm đến và cứu chữa” bao giờ cũng trổi vượt trong nhân cách và kiên vững trong lòng tin.
Lạy Chúa, có rất nhiều người cần chúng con nhìn họ với cái nhìn của Chúa, có rất nhiều người mong chúng con ghé thăm.
Xin cho chúng con một tấm lòng khoan dung như Chúa, và một tâm hồn quảng đại như Giakêu, để cả thế giới này trở nên con cái Abraham, và được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Amen.
14.Tôi phải lưu lại nhà anh
(Giải thích bản văn Tin Mừng của Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)
Luca thuật lại hai câu chuyện liên quan đến thành Giêricô: người mù được chữa lành khi Chúa Giêsu đến gần đó (18,35-43), và ông Giakêu khi Người đi ngang qua thành (19,1-9). Câu chuyện Giakêu được đặt ở cuối hành trình lên Giêrusalem (9,51-19,27). Hành trình tạm ngưng khi Người dừng chân ở lại nhà người thu thuế nầy (x. 17,11;18,31). Có thể phân chia bố cục của đoạn như sau: – Bối cảnh dẫn nhập (c. 1); – Giakêu tìm và gặp Chúa Giêsu (cc. 2-6); – Chúa Giêsu đến nhà Giakêu và ban ơn cứu độ cho ông, và kết luận (cc. 7-10). Hai phần chính có cấu trúc hình thức tương tự nhau. Trong phần đầu (cc. 2-6), Giakêu tìm gặp Chúa Giêsu, và bị dân chúng cản trở. Họ che ông khỏi thấy Người, vì ông thấp bé (c. 3). Ông tìm cách vượt qua trở ngại bằng cách trèo lên cây sung (c. 4). Chúa Giêsu đáp lại sự tìm kiếm của ông là đi ngang qua chỗ ông và nói với ông (c. 5). Người đến nhà ông và ông đón tiếp trong vui mừng (c. 6). Trong phần thứ hai (cc. 7-10), Chúa Giêsu đến nhà Giakêu, và bị dân chúng cản trở bằng những lời lẩm bẩm (c. 7). Người vẫn đến và Giakêu đáp lại bằng sự sửa mình của ông (c. 8). Chúa Giêsu vui mừng vì đã cứu vớt được một người con của Abraham (cc. 9-10). Những từ quan trọng liên kết hai phần với nhau đều nằm ở câu 5 và 9 là “hôm nay”, “ nhà” và “Giêsu”. Hai câu nầy là chìa khóa giúp hiểu ý nghĩa của mỗi phần. Từ eis-erchomai “đi vào”(c. 1) và erchomai “đi” “đến” (c. 10) đóng khung đoạn (inclusio), đánh dấu việc cứu độ Chúa Giêsu làm cho Giakêu đã xong tại Giêricô. Dựa trên câu chuyện của Giakêu, có thể thấy việc Giakêu tìm kiếm “zēteō” Chúa (c. 3) đã kết thúc với việc Chúa Giêsu tìm kiếm ông theo chiều ngược lại, và đã cứu vớt ông (c. 10).
Chúa Giêsu vội vã đi ngang qua Giêricô để lên Giêrusalem (c. 1). Động từ “đi ngang qua”, dia-erchomai, gợi lên ý tưởng đi xuyên lãnh thổ, và đi vội vã (x. 2,15; 4,30; 5,15). Người nhắm đến Giêrusalem và không muốn chậm trễ. Tuy nhiên, Người đã tự cầm chân mình lại trong nhà Giakêu để cứu vớt người nầy.
Giakêu tìm và gặp Chúa Giêsu (cc. 2-6). Phân đoạn nầy tập trung vào Giakêu: – Con người và ước muốn (cc. 2-3); – Thực hiện ước muốn và kết quả đến hơn cả lòng mong muốn (cc. 4-6). Cụm từ “Và nầy” mở đầu, dùng để kéo sự chú ý vào điều sắp được trình bày; tương tự như thế khi nói về Simêon (2,25). Luca giới thiệu tên, nghề nghiệp và thân thế của Giakêu (c. 2). Zacchaeus là hy lạp hoá tên hipri Zakkay (Nêh 7,14; Esdra 2,9), có nghĩa là “sạch, vô tội”. Là trưởng thu thuế, nên ông giàu có. Giêricô là trụ sở quan thuế thường được nhắc đến, và đây là thí dụ điển hình.
Giakêu tìm thấy cho bằng được Chúa Giêsu là ai (c. 3). Động từ “tìm kiếm” được dùng rất nhiều lần trong Luca; nhưng ở thể quá khứ chưa hoàn thành, chỉ được dùng cho Giakêu, cho Hêrôđê (9,9) và Giuđa (22,6). Khó có thể nghĩ là độ dài, sự lập lại của việc tìm kiếm của Giakêu chỉ xảy ra cách ngắn ngủi khi Chúa Giêsu vội vã ngang qua thành Giêricô. Nếu như thế, tìm kiếm ấy chỉ là một sự tò mò nhất thời. Sự tìm kiếm nầy phải là đã từ lâu, bây giờ là cơ hội để tìm thấy, như trường hợp của Hêrôđê (x. 23,7-8) và Giuđa (22,47). Động từ nầy thường hàm ý là tìm cho đến khi nào thấy được (2,48.49; 9,9). Tuy Giakêu đã đi tìm, chính Chúa Giêsu mới là người tìm thấy ông (c. 5). Người tỏ mình ra cho ông, như trong khẳng định “Ai tìm sẽ được cho” (11,9-10; 12,31). Sự thấp bé của Giakêu là sự kiện chứ không phải là nguyên nhân. Dân chúng mới là nguyên nhân “vì dân chúng” (c. 3). Họ cản trở không cho ông nhìn thấy Chúa Giêsu, cũng như họ không muốn Người đến nhà ông (c. 7). Đáng ngạc nhiên là Luca trình bày phản ứng của dân chúng tương tự như phản ứng của những người Pharisêô (x. 5,30; 15,2).
Khung cảnh thu nhỏ lại hơn. Chúa Giêsu “đi ngang qua Giêricô” đến “đi đến” chỗ cây vả nơi có Giakêu (c. 4). Chúa Giêsu dừng lại ở đó. Tên “Giêsu” được nêu rõ ở đây, cũng như ở câu 9, chỉ sự quan trọng của điều Người sắp nói: “Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà anh” (c. 5). Chúa Giêsu lên chương trình cho Giakêu. Ông phải “xuống mau” vì Người đang vội vã đi lên Giêrusalem. Nhưng Người “phải” ở lại, vì đó là sứ mệnh cứu độ của Người (x. 2,49; 4,43; 9,22…). “Hôm nay” sẽ được lập lại trong c. 9 chỉ thời điểm ơn cứu độ được thực hiện (2,11; 4,21; 5,26; 23,43). “Nhà của anh” đại từ chỉ ngôi “của anh” đặt sau “nhà” là vị trí nhấn mạnh. “Ở lại” là một phần của việc tông đồ (x. 1,56; 9,4; 10,7; 19,5; 24,29). Giakêu đã trèo lên để tìm xem Chúa (c. 4). Bây giờ ông trèo xuống vì đã gặp Người (c.6). “Vội vã” chỉ sự khao khát (x. 2,16). Động từ “đón tiếp” hàm ý sự hiếu khách (x. 10,38). Ông vui mừng vì Chúa ở lại nhà ông. Luca thường nói đến niềm vui của những người được Thiên Chúa can thiệp và cứu độ (x. 1,14; 1,28; 6,23; 10,20; 13,17; 19:6). Như thế, Giakêu đã nhận được nhiều hơn cả điều ông mong ước.
Chúa Giêsu đến nhà Giakêu và ban ơn cứu độ cho ông (cc. 7-10). Động từ “cho” và “hoàn trả” (c. 8) ở thì hiện tại hiểu như là tương lai gần: “tôi sẽ cho”, “tôi sẽ hoàn trả lại” (x. 4,6; Cv 3,6). Giakêu đã không làm điều nầy trong quá khứ. Ông đã đặt giả thiết là ông có thể đã làm thiệt hại ai đó trong quá khứ (c. 8). Nên không lạ gì dân chúng nghĩ ông là “người tội lỗi” (c. 7). Do đó, quyết định nầy chứng tỏ ông đã hoán cải. Và Chúa Giêsu mới tuyên bố là “hôm nay ơn cứu độ đến với nhà nầy” (c. 9), và “Người đến để cứu vớt những người hư mất” (c. 10). Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đã biến đổi đời ông. Động từ “sykophanteō” có nghĩa là “gian lận”, “áp bức”, “hăm dọa tống tiền” (x. 3,14). Làm nghề thu thuế, Giakêu gian lận tiền bạc của người khác cho chính mình. Dựa vào luật Môse, phải đền trả lại “gấp bốn” (x. Xh 21,37; 2 Sam 12,6) hay “gấp năm” (x. Lv 6,5; Ds 5,6-7).
Như câu 5 ở trên, Chúa Giêsu lại tuyên bố (c. 9), và lần nầy Người nói đến sự cứu độ cho Giakêu, “người con của Abraham.” “Cứu độ” được gắn liền với “hôm nay”; xem ở trên. “Con cháu của Abraham” không phải chỉ do bởi sự thuộc về dân tộc Do thái. Chúa Giêsu đã phê bình những người tự hào là họ có Abraham là tổ tiên, nhưng thiếu lòng hoán cải (x. 3,8). Chính sự hoán cải trở về với Thiên Chúa mới chứng thực ai là con cái của Abraham. Giakêu đã làm điều nầy và đáng được gọi là con cái của Abraham. Câu 10 lấy lại ý tưởng của câu 5,32 với nhiều thay đổi từ ngữ. Đó là “đến tìm kiếm” và “những người hư mất”, thay vì nói đến việc kêu gọi “người tội lỗi hoán cải”. Việc thay đổi từ ngữ nấy nhằm nhấn mạnh sứ vụ mục tử của Chúa Giêsu; xem dụ ngôn đi tìm chiên lạc (15,4-7). Tước hiệu “Người Con của Nhân Loại” gắn liền với cuộc thương khó, sự chết và vinh quang (9,26.44; 12,8; 22,69); đồng thời cũng gắn liền với những người thu thuế và tội lỗi (7,34; 19,10). Họ là những người đầu tiên “phải” được tìm đến và cứu chuộc. Vậy như lời hứa với Abraham (1,73), Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót với con cháu của ông (1,55) qua việc ban ơn cứu độ cho Giakêu.
Thiên Chúa vẫn còn đi ngang qua trần gian nầy để tìm kiếm và cứu độ những người đã hư mất. Hãy mở cửa nhà cho Chúa. Mời Người vào và lãnh nhận ơn cứu độ.
15.Chúa Nhật 31 Thường Niên
ÁNH MẮT VÀ TIẾNG GỌI CỦA LÒNG XÓT THƯƠNG
(Suy niệm của Dã Quỳ)
Chúa Giêsu vẫn đang trên hành trình lên Giêrusalem và đây là chặng đường cuối. Thánh Luca đã kể cho chúng ta về cuộc gặp gỡ thật đẹp giữa Chúa và Giakêu- ông xếp của ngành thuế trong thành phố Giêrikhô, một người giàu có khét tiếng. Đó là cuộc gặp gỡ của Lòng Thương Xót đem đến ơn hoán cải cho Giakêu, một người mà đối với mọi người, nhất là với giới Pharisiêu, ông như kẻ đã hư mất. Người ta coi ông là người tội lỗi, người cộng tác với thế lực nước ngoài để hại dân mình, người gian lận và bất công, sống trong giàu có và xa hoa.
Dù sống trong danh vọng, tiền của dư thừa, nhưng Giakêu vẫn chưa thỏa mãn. Trong ông như còn thiếu thốn điều gì đó mà hôm nay ông đang tìm kiếm để thấy, gặp: Chúa Giêsu- Đấng mà ông muốn biết Người là ai? Giakêu nóng lòng thấy Chúa, mà đám đông lại như bức tường dựng trước con người thấp bé của ông! Ông phải chạy vượt lên phía trước. Ông không ngại người ta nhạo cười mình. Bằng mọi cách, ông phải thấy được Chúa Giêsu. Một phương cách đầy sáng tạo được ông áp dụng. Không bận tâm đến địa vị, gia thế, ông leo lên một cây cao, dưới những ánh mắt mỉa mai của người xung quanh nhận ra ông. Bất chấp tất cả, ông đã thỏa lòng...
"Khi Chúa Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên" Chắc hẳn Giakêu đã nghe người ta nói về Chúa Giêsu, nên ông chỉ mong ước một điều "được thấy Chúa". Thế nhưng, Chúa đã dừng lại, ngước mắt lên cành cây mà Giakêu đang vắt vẻo trên đó, nhìn ông và gọi đúng tên ông. Giakêu tìm mọi cách để thấy Chúa nhưng Chúa đã nhìn thấy ông, thấu rõ từng cử chỉ của ông. Chúa nhìn sâu trong trái tim ông và biết rõ lòng chân thành nơi ông. Từ khi ông chưa thấy Chúa, Chúa đã thấy rõ ông. Giờ đây, không chỉ thấy, nhưng ông còn được phúc đón rước Chúa vào nhà " Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" Chúa nói với Giakêu như với một người bạn lâu ngày Người gặp lại. Còn niềm vui nào lớn hơn. Vượt quá những gì ông mong ước. Có lẽ ông nghĩ đời mình đã tàn. Thế nên, nghe lời Chúa ngỏ, "Ông vội vàng xuống và mừng rỡ đón rước Người."
Từ cái nhìn của Chúa, Giakêu đã cảm nhận ông được yêu thương. Chúa có thể nhìn Giakêu, nói với ông một câu rồi tiếp tục đi. Chúa cũng có thể đến trọ nhà người Dothái tốt lành khác. Thế nhưng không, Chúa lại chọn ở lại nhà Giakêu, "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!" Chắc chắn Chúa đã biết lòng người Pharisiêu và nhiều lần họ lên án Chúa "Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!"( Lc 5,30) Dưới mắt họ, lại lần nữa Chúa đón tiếp người thu thuế, phường tội lỗi và ăn uống với họ. Đây là một cớ vấp phạm cho người Dothái vì họ chẳng nhận ra tình yêu bao la của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu. Họ cũng không đón nhận được Lời mà nhiều lần Chúa đã nhắn nhủ "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn"(Lc 5,32) và "Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối"(Lc 15,10) Nhưng chỉ Giakêu, chỉ những con người khiêm hạ nhìn nhận thân phận tội lỗi trước Chúa, mới nhận ra lòng thương xót, nhân hậu của Thiên Chúa nơi Người.
Với cung cách hành xử đầy tràn lòng thương xót, Chúa đã cảm hóa lòng của Giakêu. Ông thưa với Chúa rằng "Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." Giakêu đã thực sự được biến đổi. Ông được ân sủng và tình yêu thương xót của Chúa đụng chạm. Ông cảm nhận Chúa xót thương ông, tha thứ cho ông là kẻ ngập tràn tội lỗi. Những gì ông có thể làm bây giờ là trao lại tình thương cho anh em qua lòng quảng đại chia sẻ phân nửa tài sản. Có Chúa, có tình yêu Chúa là tất cả đối với ông. Ông sám hối về những lỗi phạm, thiếu sót với tha nhân và cần phải đền trả thiệt hại.
Từ đây, Giakêu trở nên ngay lành và công chính, bởi vì: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến nhà này...Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất." Vâng, hôm nay, Chúa Giêsu muốn cứu Giakêu, Người muốn cứu tất cả những ai tội lỗi, biết thống hối ăn năn. Chúa tha thứ, chữa lành và phục hồi phẩm giá là con cái Abraham cho Giakêu, và còn hơn nữa là con cái Thiên Chúa tình yêu. Lòng thương xót của Chúa thật lớn lao, bao phủ những con người tội lỗi. Người chỉ muốn đi tìm, yêu thương, tha thứ và cứu độ con người.
Hôm nay, Chúa vẫn mỗi ngày dừng lại trước chúng ta, ánh mắt Người vẫn nhìn chúng ta và nói với chúng ta như đã nói với Giakêu "Hôm nay Ta muốn ở lại nhà con" Điều quan trọng là ta có ước ao gặp Chúa, vội vàng, nhiệt tình đón Người, mở rộng cánh cửa tâm hồn để Người ở lại, yêu thương, tha thứ, ban ơn cứu độ và biến đổi chúng ta hay không? Chúa muốn đến với chúng ta và cứu chúng ta, nhưng phần ta có muốn hay chăng, như lời thánh Augustinô nói "Để cứu độ con, Chúa cần con đáp lời". Ước mong sao mỗi chúng ta hãy biết đứng lên, chạy đi trước, tìm mọi cách để gặp được Chúa. Khi ấy ta sẽ thấy bầu trời tình yêu và lòng thương xót bao la của Chúa bao phủ ta và ta sẽ được biến đổi.
Hôm nay, còn đó biết bao anh chị em mang hình ảnh của Giakêu với nhiều trạng thái. Những người chỉ vì hoàn cảnh, cuộc sống đưa đẩy, đã bị gạt ra khỏi xã hội và Giáo Hội. Những anh em thấp cổ bé miệng, bị khinh miệt, cô lập, không người thân cận. Những anh chị em sinh viên hay di dân nghèo, quê mùa,...đến sống giữa thành phố xa lạ chẳng quen biết ai và cũng khó hòa nhập với Giáo xứ mới! Nhiều lắm những Giakêu của thời đại hôm nay đang ở xung quanh chúng ta. Mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng hãy noi gương Chúa "Tìm và cứu những gì đã hư mất", rẽ vào con đường của thành Giêrikhô là những ngôi nhà lụp xụp, cúi nhìn những người anh em sống bên cạnh ta để cảm thông, nâng đỡ, chia sẻ và giúp họ hội nhập. Nhất là dẫn họ trở về với Chúa và đưa Chúa đến ở lại nhà của anh chị em. Có như thế, ơn cứu độ của Chúa mới đến được với muôn dân trên Quê hương Việt thân yêu của chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Tình Chúa đã yêu thương chúng con. Xin từng ngày, hãy dõi mắt nhìn, xót thương gọi chúng con ra khỏi những đam mê tội lỗi, xuống khỏi những bóng cây kiêu căng và thực lòng thống hối trở về làm con cái của Chúa. Amen.
16.Tình thương làm thay đổi lòng người
“Giang sơn dễ đổi bản tính khó dời”. Đó là cái nhìn của nhiều người. Thế nhưng dù sao thì “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Bản tính đó nhiều khi được hình thành do nhiều yếu tố khác nhau. Chính vì thế chúng ta có cơ sở để nói rằng lòng người có thể thay đổi. Sự thay đổi ấy sẽ tùy thuộc vào cố gắng nỗ lực của bản thân đương sự và nhất là nhờ vào tình yêu thương của tác nhân bên ngoài.
Điều khẳng định trên đây được minh chứng qua hình ảnh ông Dakêu trong đoạn Tin mừng hôm nay. Trước hết chúng ta tìm hiểu những chi tiết cho thấy sự cố gắng nỗ lực của ông. Ông là thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có (Lc 19, 2). Có lẽ, bấy nhiêu vẫn chưa đủ đối với ông, tự đáy lòng mình ông vẫn còn khao khát một điều gì đó và ông nghĩ là chỉ có Chúa Giêsu mới có thể làm cho ông được thỏa lòng. Nghe biết có Chúa Giêsu đi ngang qua thành Giêricô nên ông tìm cách thấy mặt cho được Người. Là thủ lãnh những người thu thuế và do dáng thấp bé quá nên chắc ông không được mọi người ủng hộ. Dầu vậy, ông không chịu đầu hàng với số phận. Đúng như ông bà chúng ta nói cái khó nó ló cái khôn nên: “Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó”. (Lc 19, 4).
Những nỗ lực của ông đã được Chúa Giêsu đền bù thỏa lòng vượt khỏi những gì ông mong đợi. “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19, 5b). Câu nói này xuất phát từ một tình thương vô bờ bến của Chúa Giêsu dành cho ông. Một con người dường như không còn giá trị, không còn ích lợi gì cho đời nữa. Thể lý thì thấp bé, đã vậy còn là thủ lãnh những người thu thuế. Đối với xã hội Do thái nghề thu thuế được coi là nghề tội lỗi công khai. Cho nên, không ai còn ưa thích ông, mọi người đều tìm cách xa lánh. Thiết nghĩ ông sẽ rất đau khổ. Nỗi thống khỗ ấy không ai nhìn thấy nhưng Chúa Giêsu đã nhìn thấy.
Chi tiết hết sức đẹp trong đoạn Tin mừng hôm nay là sự thay đổi của ông Dakêu: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” (Lc 19,8b). Từ một con người chỉ biết thu góp tích trữ cho mình bây giờ ông đã thay đổi trở thành một con người biết mở ra cho người khác.
Có nhiều lúc chúng ta cảm thấy mình như lạc lỏng giữa cộng đoàn vì tội lỗi hay vì lý do nào đó. Không còn ai hiểu mình, mọi người đều xa lánh. Những lúc ấy chúng ta hãy tin tưởng đặt trọn con người mình vào vòng tay yêu thương của Chúa Giêsu. Hãy noi gương ông Dakêu vượt qua số phận và dự luận để đến múc lấy nguồn ơn của Chúa Giêsu. Và rồi chúng ta cũng được kêu mời noi guơng Chúa Giêsu dùng tình thương mà đến với anh chị em mình. Biết đâu nhờ tình thương của mình mà họ được thay đổi tốt hơn.
17.Hôm nay nhà này được giải thoát.
(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’ – Veritas)
Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một hình ảnh sinh động và thú vị về thái độ của một tay trùm thu thuế có tên là Giakêu. Giakêu là một con người khá đặc biệt. Đặc biệt vì ông ta có vóc dáng quá khiêm tốn, vừa nhỏ vừa lùn. Đặc biệt vì ông ta là một người giàu có ai cũng biết, nhưng sự giàu có của ông là do nghề nghiệp thu thuế, một nghề mà đối với người Do thái bấy giờ là nghề tội lỗi. Tội lỗi với dân tộc vì làm tay sai cho ngoại bang, cho đế quốc đàn áp và bóc lột đồng bào. Tội lỗi với Gia vê Thiên Chúa và với lề luật, vì đã tham nhũng và thủ lận tiền chung bỏ vào túi riêng.
Một người như ông mà lại tò mò đến nỗi phải leo lên cây sung, vì ao ước chỉ được xem thấy Chúa Giêsu và cuối cùng không những được xem thấy mà còn đối diện với Ngài, tiếp đón Ngài vào nhà. Cuộc tiếp xúc này dẫn ông đến việc tự nộp mình vào cuộc đánh tư sản mại bản của chính bản thân ông: “Này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi sẽ phân phát cho người nghèo và nếu tôi có gian lận của ai, tôi sẽ đền gấp bốn”.
Thái độ của Giakêu không phải là thái độ rửa tiền hay chạy tội của một kẻ quan chức tham ô thủ đoạn. Nhưng là một thái độ chân thành hối cải, một thái độ của người nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Ngài. Một lần và chỉ một lần giữa Đức Giêsu và Giakêu đã làm biến đổi cả cuộc đời. Nhưng dầu sao đi nữa, điều làm cho chúng ta lưu ý chính là dung mạo đích thực của Đức Giêsu, Đấng cứu chuộc đã đến và đang hiện diện giữa nhân loại.
Giakêu hôm nay tôi lưu lại nhà ông và hôm nay ơn được cứu độ đã đến cho nhà này.Vì Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã mất. Chúa Giêsu không những đã vượt qua và còn phá đổ những giới hạn và những gía trị của tập tục Do thái và những quan niệm của những người biệt phái. Ngài la cà tiếp xúc với những người tội lỗi, Ngài vào nhà và ăn cơm với những người thu thuế. Ngài để cho người đàn bà tội lỗi quấn quít rồi để cho bà lấy tóc lau chân Ngài. Ngài đã cứu chữa những người bệnh tật trong ngày Sabbat.
Hình ảnh của Đức Giêsu cho thấy một Thiên Chúa giống như bài đọc 1 sách Khôn Ngoan: “Thiên Chúa chẳng từ nan để vượt qua những ranh giới ứng kỵ giữa thanh sạch và nhơ uế, giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa luật lệ và cứu sống. Ngài đến để gặp gỡ những người mà Ngài yêu thương, Ngài tìm kiếm và cứu độ họ”.
Thái độ của Chúa Giêsu cho thấy một nguồn mạch mới của đời sống Kitô hữu chúng ta, điều cốt uếu của Tin Mừng Đức Kitô chính là ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa chứ không phải do nỗ lực luân lý của con người. Chính thái độ đi bước trước của Chúa Giêsu đã giúp ông Giakêu sám hối và tìm lại được đời sống luân lý tốt đẹp hơn. Chính Thiên Chúa đã đi tìm Giakêu, trước khi ông tìm kiếm Ngài. Ngài đã mời gọi ông trước khi ông thấy gặp Ngài. Quả thực, đúng như điều thánh Phaolô đã xác tín trong thơ Rôma như sau: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân”. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.
Thiên Chúa đã luôn luôn tìm kiếm chúng ta, mọi người và từng người, chỉ có điều chúng ta có ao ước gặp Ngài hay không? Chúng ta có dám vượt qua đám đông xô bồ đang bon chen xô lấn cuộc đời để đến với Ngài hay không? Có dám mạnh dạn để đáp trả lời mời gọi của Ngài và đón tiếp Ngài hay không? Nếu chỉ một lần gặp gỡ Đức Giêsu mà Giakêu đã đánh đổi tất cả thì chúng ta hằng ngày đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh Lễ, chúng ta có sẵn sàng đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào trong tâm hồn và có dám để Thiên Chúa biến đổi chúng ta hay không? Điều còn lại của chúng ta là biết lắng nghe và sẵn sàng đáp trả, dám can đảm sám hối và canh tân đời sống để được ơn cứu độ.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta vững mạnh trong đời sống đức tin để nhận ra tình yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa đang trao ban cho chúng ta. Xin cho chúng ta can đảm để sẵn sàng đáp trả và đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta. Vậy chúng ta hãy cùng nhau tuyên xưng đức tin của mình qua Kinh Tin Kính.
18.Trở về
(Suy niệm của Lm. Giuse Trần Việt Hùng)
Truyện kể: Công tước D’Ossome, phó vương xứ Napoli, nước Ý. Một hôm, ông đi thị sát chiến thuyền Galère được chèo chống bởi một đội tù nhân đông đảo. Khi gặp các tù nhân, ai cũng kêu ca bào chữa rằng họ là những người vô tội. Chỉ có một tù nhân ngồi ở phía góc cúi đầu, chẳng nói chẳng rằng. Công tước bước đến và dịu dàng hỏi han. Anh nói: Thưa ngài, tôi chẳng có gì để bào chữa. Tôi chịu xứng với tội tôi đã phạm. Công tước quay ra nói với mọi người: Anh này là phạm nhân, hắn không xứng đáng ngồi nơi đây chung đụng với những người vô tội. Ta ra lệnh trục xuất ngay hắn ra khỏi chỗ này. Và thế là, chỉ nhờ vào lòng chân thành biết nhận lỗi. Người tù nhân đã được giải phóng khỏi kiếp nô lệ.
Thiên Chúa là Đấng thánh thiện tốt lành vô cùng. Vì yêu thương, Chúa tạo dựng muôn loài và muôn vật để cùng chung hưởng hạnh phúc. Nhìn ngắm vũ trụ muôn loài thật quá vĩ đại nhưng tình thương của Chúa còn bao la vĩ đại tuyệt vời hơn. Tác giả sách Khôn Ngoan viết: Trước nhan thánh, toàn thể vũ trụ ví tựa hạt cát trên bàn cân, tựa giọt sương mai rơi trên mặt đất (Kn 11, 22). Thụ tao do Chúa dựng nên đều tùy thuộc vào sự an bài của Chúa. Sự hiện hữu của những mầm sống từ loài thực vật nhỏ li ti cho đến những loài vật khổng lồ đều sống dưới sự chở che quan phòng của Thiên Chúa. Mọi loài thọ tạo đều chia sẻ một nguồn sống từ Đấng Tạo Hóa: Lạy Chúa tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa (Kn 11, 26). Mỗi loài thụ tạo đều góp phần làm vinh danh Thiên Chúa từ đời này tới đời kia.
Luật Chúa như kim chỉ nam giúp cho chúng ta tìm ra con đường chính thật. Giống như luật lệ giao thông, trên mọi con đường lớn nhỏ đều có các bảng dẫn lối chỉ đường, vậy mà nhiều người cũng vẫn bị lạc hoặc phạm lỗi. Những ai có bằng lái xe đều phải học biết luật lệ, khi phạm luật thì bị phạt. Chúng ta không thể kêu ca trách móc ai cả. Đời sống đạo cũng thế, có luật Chúa và luật Giáo Hội, chúng ta cố gắng soi mình để sống tốt và sống cho phù hợp với luật dạy. Chúng ta được nhắc nhở canh thức và thức tỉnh lương tâm sống đạo. Sách Khôn Ngoan dậy rằng: Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ. Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa (Kn 12, 2). Đừng coi thường những huấn lệnh, giới răn và lời khuyên dạy. Có đôi khi chúng ta đang dìm mình trong vũng lầy mà không nhận ra. Sống trong u mê lầm lạc lại tưởng là đang sống trong hoan lạc.
Phúc âm kể câu truyện Chúa Giêsu đi ngang qua làng, thấy ông Giakêu trèo lên cây sung để nhìn xem Chúa. Chúa ngước nhìn lên, ông cúi xuống và hai ánh mắt chạm nhau. Trái tim Chúa xót thương và lòng người thổn thức. Chúa đề nghị ghé thăm nhà ông. Giakêu vui mừng đón tiếp Chúa và ông tự xưng thú tội lỗi mình trước mọi người. Ông Dakêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đay phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 8). Ánh mắt nhân từ của Chúa đã cải hóa được một tâm hồn tội lỗi. Với lòng chân thành hối lỗi đền bù, Chúa đã cứu ông ra khỏi vũng lầy của gian tham tội lỗi.
Chúa Giêsu rong ruổi đi tìm những con chiên bị lạc. Có nhiều con chiên xa lạc chưa biết đường trở về. Chúa đã tìm và đi cứu: Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất (Lc 19, 10). Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy xin Chúa Cha ban thêm các thợ gặt tâm hồn. Cánh đồng lúa chín bao la nhưng thiếu thợ gặt. Còn biết bao nhiêu người đang bị mê lầm trong tội lỗi mà không nhận biết tin mừng cứu độ. Đôi khi chính chúng ta qúa quen với lối sống ấm êm hưởng thụ và cách sống dung túng trụy lạc, chúng ta không muốn từ bỏ con đường cũ và không muốn bước ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp. Buông bỏ tội lỗi thì tiếc xót, vì tội là một cái thú. Chúa thường gởi đến những nhân chứng để đánh động tâm hồn. Chúng ta rất may mắn được lắng nghe lời Chúa chỉ dậy và được Giáo Hội nhắc nhở luôn. Chúng ta cần cầu nguyện xin ơn can đảm để có thái độ dứt khoát với tội lỗi qúa khứ.
Khi đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta cầu xin rằng xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Mỗi ngày sống, chúng ta phải đối diện với rất nhiều cơn cám dỗ. Cám dỗ về danh, lợi và thú. Có nghĩa là khi còn sống, thân xác luôn đòi hỏi những nhu cầu rất tự nhiên. Chúng ta luôn có cơ hội để chọn lựa thái độ sống tốt. Cái danh cái lợi, ai mà không thích. Tiền bạc và lạc thú, mấy ai từ chối. Những thói đời tham sân si kéo ghì con người chúng ta lại. Người ta thường nói tới cái ‘thú’ ở đời. Lạc thú dẫn chúng ta vào những si mê quay cuồng trong thú vui nhục dục, tham lam danh lợi, tiền bạc, gian lận bài bạc và buông thả cuộc sống.
Tội lỗi cứ bám sát cuộc đời của chúng ta. Nếu chúng ta không dứt khoát khước từ và dũ bỏ, nó sẽ không buông tha chúng ta. Chúng ta cần tự xét, nhận lỗi và sửa lỗi mình mỗi ngày. Cũng giống như ngày hôm qua chúng ta đã ăn no, ngày hôm nay đói, lại muốn ăn. Hôm qua, chúng ta tắm rửa sạch sẽ mát mẻ, hôm nay lại thấy dơ, nên phải tắm. Sáng thức dậy ra khỏi nhà và đi làm việc. Chiều lại trở về xum họp gia đình. Ai ra đi cũng mong trở về. Kẻ đi lạc, mong tìm được lối ra. Người rơi vào đường lầm, nên tìm đường trở lại. Khi sa ngã phạm tội, cần phải sám hối ăn năn. Tội hôm qua khác tội hôm nay. Cần xưng thú và lãnh ơn tha tội và xin hứa quyết lòng chừa. Mỗi lần phạm tội đều là tội mới trong hoàn cảnh mới. Chúng ta cần tiếp tục sám hối và trở về. Sống mỗi ngày cho trọn vẹn. Mỗi người được mời gọi đổi thay để sống tốt, thánh thiện và hoàn hảo hơn mỗi ngày.
Chúng ta có trí khôn để nhận biết giá trị của không gian và thời gian. Thời gian thuộc về Chúa. Mỗi ngày là một ngày mới hoàn toàn. Những điều chúng ta xem như cũ, cứ lập đi lập lại, nhưng không phải thế. Lời khuyên cũ được nhắc lại trong hoàn cảnh mới và với tâm tình mới. Mười năm trước chúng ta đã nghe câu truyện đó, hôm nay chúng ta được nghe lại cùng câu truyện nhưng đã có nhiều đổi thay. Khi xưa, chúng ta còn trẻ, còn hăng say và còn nhiều vấp ngã. Hôm nay, chúng ta trưởng hơn một chút, chững chạc hơn một tí và có thể nhẫn nại hơn. Điều quan trọng là chúng ta có tốt lành thánh thiện hơn không, hay vẫn dậm chân tại chỗ và đôi khi còn bị thụt lùi. Cho nên lời khuyên răn mời gọi đổi đời, trở về và sửa sai vẫn là cần thiết.
Trong thơ gởi cho giáo đoàn Thessalônica, thánh Phaolô vừa mời gọi và vừa cảnh báo rằng: Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mạc khải, hoặc đã nói, đã viết thư qủa quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ (2Thes 2, 2). Hãy sống thanh thản trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng, chúng ta không phải bồn chồn lo lắng truyện gì sẽ xảy đến. Đừng để lòng bận vướng những oán thù đã qua. Cố gắng sống trọn vẹn giây phút hiện tại trong ân tình với Chúa và với anh chị em.
Lạy Chúa, thân con mỏi mệt, tâm con yếu đuối, lòng con tội lỗi và hồn con lạc xa Chúa. Con xin thành tâm hối lỗi, xin Chúa thứ tha và đưa dắt con về nẻo chính đường ngay.
19.Hoán cải đích thực
(Trích dẫn từ ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’ – Radio Veritas Asia)
Gặp gỡ Chúa Giêsu là một biến cố hồng phúc cho con người, nếu người đó không lo sợ hoặc tránh né cuộc gặp gỡ này.
Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Giakêu. Chúng ta có thể ghi nhận hai thái độ trong cuộc gặp gỡ này.
Trước hết là thái độ của những kẻ tự cho mình là công chính mà khinh dễ kẻ khác, không muốn cho kẻ khác đến gặp Chúa và nhận lãnh ơn lành của Chúa. Đó là thái độ của những kẻ lẩm bẩm trách Chúa đã niềm nở đón tiếp những người tội lỗi và ăn uống với họ, bởi vì đối với Chúa không có ai xấu xa tội lỗi đến độ không đáng được hưởng lòng nhân từ tha thứ của Chúa. Liệu chúng ta có thái độ của những kẻ tự cho mình là công chính và khinh dễ người khác không?
Thái độ thứ hai là thái độ của ông Giakêu, người thu thuế trưởng và giầu có. Đối với người Do thái, người thu thuế là kẻ tội lỗi công khai: đó là tội phản bội quê hương cộng tác với ngoại bang, và tội gian lận tiền thuế quá mức qui định. Giakêu là người thu thuế trưởng và giầu có, sự giầu có này theo lý luận của người Do thái, chứng tỏ ông có những hành vi bất chính để làm giầu: thu nhiều, nộp ít, và như vậy ông là một người tội lỗi. Đối với người đồng hương với Giakêu, thì tội của ông không thể tha thứ được; nhưng đối với Chúa Giêsu, Đấng đến tìm và cứu những gì đã hư mất, thì đây là dịp để thể hiện tình thương nhân từ của Thiên Chúa.
Nơi con người tội lỗi Giakêu vẫn còn một khát vọng hướng về Chúa: ông muốn nhìn xem Chúa Giêsu đi qua, và đây là yếu tố căn bản để được Chúa thi ân. Từ một khát khao gặp Chúa đến việc ăn năn trở lại không có khoảng cách không vượt qua được, vì Chúa Giêsu có thể vượt qua khoảng cách này một khi con người đã có sẵn thái độ chờ mong Ngài đến. Thái độ của Giakêu có thể khuyến khích chúng ta trở về với Chúa. Ông đã thể hiện sự trở lại của mình bằng một hành động cụ thể thiết thực: phân chia nửa phần tài sản cho người nghèo và đền bù gấp bốn cho những thiệt hại ông đã gây ra cho kẻ khác.
Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta thể hiện một cách cụ thể sự hoán cải của mình. Xin cho chúng ta đừng bao giờ đùa giỡn hay lạm dụng lòng nhân từ của Chúa, nhưng luôn biết cộng tác với ơn Chúa và thành tâm trở về với Chúa.
20. Chúa Nhật 31 Thường Niên
Suốt mấy tuần lễ vừa qua, Lời Chúa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lời cầu nguyện trong đời sống người Kitô hữu chúng ta. Trong Chúa Nhật 29, Đức Giêsu mời gọi chúng ta cầu nguyện kiên trì, như bà goá kiên trì trước vị Thẩm phán bất lương. Còn trong Chúa Nhật vừa rồi, Đức Giêsu lại mời gọi chúng ta cầu nguyện với một tấm lòng khiêm tốn, biết nhận ra những lỗi lầm, yếu đuối của mình, để nhờ đó chúng ta nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa, như người thu thuế cầu nguyện trong Đền Thờ. Sở dĩ Đức Giêsu luôn kêu mời chúng ta cầu nguyện, vì Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ là một người Cha đầy lòng nhân ái. Ngài yêu thương chúng ta “đến nỗi đã ban Con Một của Người, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được sự sống đời đời” (Ga 3, 16). Người Con đó chính là Đức Giêsu Kitô, Ngài đã được Chúa Cha sai đến thế gian, không phải để xét xử, nhưng là để chứng tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đến trong thế gian là để ban ơn cứu độ, hay nói như lời Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay, Ngài đến để “tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất”.
Đời sống con người gắn liền với những cuộc gặp gỡ. Có những cuộc gặp gỡ mà người ta háo hức như gặp người yêu, gặp một nhân vật nổi tiếng, gặp một người thân xa cách đã lâu... Tuy nhiên, gặp kẻ khó ưa, gặp tên trấn lột, tên lường gạt... thì chẳng ai mong muốn. Ngoài ra lại có những cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa, có sức hoán cải, làm thay đổi cả con người. Cuộc gặp gỡ như thế không chỉ dừng lại ở gặp mặt, gặp gỡ xã giao, nhưng là cuộc gặp gỡ thâm sâu, gặp gỡ giữa hai tâm hồn. Trang Tin Mừng hôm nay kể lại cho húng ta cuộc gặp gỡ hết sức thú vị giữa Đức Giêsu và Giakêu. Đức Giêsu lại muốn kết thân với Giakêu, kẻ tội lỗi bị mọi người xa lánh. Thế nhưng trong cuộc kết giao này, Đức Giêsu đã cứu được một tội nhân khỏi vòng tội lụy; còn Giakêu, dù là chia nửa gia tài của mình cho người nghèo, nhưng lại được mối lợi thật to. Ông và cả gia đình đón nhận được hồng ân cứu độ. Quả là một cuộc gặp gỡ diệu kỳ đưa đến hoán cải tận căn. Ông Giakêu không những là một người thu thuế, mà còn là thủ lãnh những người thu thuế, tức là một chủ thầu thuế má, nên ông cũng là một người rất giàu có. Người Do thái rất ghét những người thu thuế, coi họ là những người tội lỗi, không thể ăn năn hối cải, không thể tha thứ, làm tay sai cho ngoại bang: thu thế cho đế quốc Rôma. Trong nghề đó, người ta có thể bày rất nhiều trò ma giáo để ăn hối lộ những kẻ muốn trốn thuế, hay muốn giảm thuế phải đóng. Bởi đó, người Do thái ghê tởm những người thu thuế. Ông Giakêu là người như thế. Không những ông bị thiên hạ khinh dể mà còn có thân hình thấp lùn. Tuy nhiên, Ông muốn tìm cách để xem Chúa Giêsu là người như thế nào. Nhưng dân chúng chen chúc chung quanh Chúa đông quá. Ông quyết không bỏ lỡ cơ hội. Một người chủ thầu phải có nhiều sáng kiến. Ông chạy tới trước và leo lên một cây sung bên đường. Ông yên tâm chờ đợi, vì Chúa Giêsu sắp đi ngang qua đó. Lòng ước muốn của ông thật là mãnh liệt, vì ông không sợ đám đông chế diễu. Ông chỉ còn biết một điều là làm sao thấy được mặt Chúa Giêsu. Quả thực, ông đã có thiện chí. Bấy nhiêu đã đủ để Chúa trọng thưởng tấm lòng chân thành của ông.
Giakêu muốn gặp mặt Đức Giêsu, không kèn, không trống, không kẻ hầu người hạ. Ông đi một mình trơ trụi, bị đẩy lại sau những kẻ tò mò, và điều hạ nhục ông là ông phải làm một chuyện kỳ dị đối với một viên chức cao cấp. Có thể nói ông đã làm một bước nhảy vọt, vượt trên mọi dư luận, mọi thành kiến. Ông làm tất cả những điều đó cốt để tận mắt thấy Đức Giêsu. Quả là đáng khâm phục! Thế nhưng, Đức Giêsu lại làm một cử chỉ đáng kinh ngạc hơn. Trong lúc được đám đông dân chúng vây quanh và hết lòng ngưỡng mộ, Người lại tách mình ra khỏi đám đông hỗn độn ấy để đến với một kẻ tội lỗi. Vì lòng thương xót đối với tội nhân, Người chẳng màng đến những lời xì xầm, bàn tán hay dị nghị. Đấng Thánh của Thiên Chúa hạ mình xuống làm bạn với một người tội lỗi. Tình yêu vượt lên mọi thành kiến, mọi trở ngại, mọi rào cản.
Chúa Giêsu đi tới, Ngài nhìn lên và gọi đích danh ông. Điều quan trọng là Chúa không chỉ đi ngang qua cho ông Giakêu nhìn Chúa, chính Chúa nhìn lên và gọi tên ông: “Giakêu! xuống mau, hôm nay ta đến nhà ông”. Chúa muốn đến với ông và đến tận nhà ông. Được đáp ứng quá sự trông mong. Ông muốn thấy Chúa thì Chúa đến tận nhà để ông nhìn cho đã. Chúa quảng đại vô cùng. Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Ngài. Nhưng đám đông lại xầm xì với nhau. Họ khó chịu với Chúa Giêsu, vì Chúa vào trọ nhà một người tội lỗi. Ông Giakêu đã tìm ra giải pháp để vượt qua cái giới hạn của tấm thân lùn. Liệu ông có tìm được giải pháp cho thân phận tội lỗi của ông để thắng được lời xì xầm kia không? Ông không sợ đám đông chế diễu khi leo lên cây sung để nhìn mặt Chúa, thì Chúa đã đáp lại, Ngài không sợ đám đông xầm xì khi yêu cầu ông đón Ngài về ở nhà ông. Đứng trước tình thương của Chúa, ông đã mở rộng tâm hồn. Ông sẵn sàng chuộc lại tội lỗi, ông thưa với Chúa là đem nửa gia tài phân phát cho người nghèo. Không những thế, ông thấy mình còn phải thực hiện sự công bình nữa: làm thiệt ai ông sẽ đền gấp bốn. Lòng quảng đại của ông sánh với lòng quảng đại của người đàn bà tội lỗi: ông yêu mến nhiều vì đã được tha nhiều. Lòng yêu mến của ông đối với Chúa Giêsu diễn tả thành lòng yêu mến người nghèo và những người đã bị ông bóc lột.
Sau khi ông Giakêu tuyên bố quyết định của ông, thì Chúa Giêsu nói: “Hôm nay nhà này được cứu độ, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Ông Giakêu trở thành kiểu mẫu đón nhận ơn cứu độ và là cơ hội để Chúa Giêsu khẳng định sứ mạng của Ngài: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”. Ông Dakêu đã bị đám đông loại trừ, vì thân ông lùn và phận ông tội lỗi. Nhưng Chúa đã rời đám đông kiêu hãnh kia để đi tìm ông và đem ơn cứu độ cho ông. Chúa đã nhìn ông và cứu ông. Cái nhìn của Chúa, cái nhìn chinh phục, cái nhìn của tình thương muốn cứu vớt. Ông Giakêu đã tìm cách nhìn thấy Chúa, nhưng ông cũng đã để cho Chúa nhìn ông và chinh phục ông. Ông được cứu độ.
Thái độ của Chúa Giêsu cho thấy một nguồn mạch mới của đời sống Kitô hữu chúng ta, điều cốt yếu của Tin Mừng Đức Kitô chính là ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa chứ không phải do nỗ lực luân lý của con người. Chính thái độ đi bước trước của Chúa Giêsu đã giúp ông Giakêu sám hối và tìm lại được đời sống luân lý tốt đẹp hơn. Chính Thiên Chúa đã đi tìm Giakêu, trước khi ông tìm kiếm Ngài. Ngài đã mời gọi ông trước khi ông thấy gặp Ngài. Quả thực, đúng như điều thánh Phaolô đã xác tín trong thơ Rôma như sau: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân”. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.
Thiên Chúa đã luôn luôn tìm kiếm chúng ta, mọi người và từng người, chỉ có điều chúng ta có ao ước gặp Ngài hay không? Chúng ta có dám vượt qua đám đông xô bồ đang bon chen xô lấn cuộc đời để đến với Ngài hay không? Có dám mạnh dạn để đáp trả lời mời gọi của Ngài và đón tiếp Ngài hay không? Nếu chỉ một lần gặp gỡ Đức Giêsu mà Giakêu đã đánh đổi tất cả thì chúng ta hằng ngày đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh Lễ, chúng ta có sẵn sàng đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào trong tâm hồn và có dám để Thiên Chúa biến đổi chúng ta hay không? Điều còn lại của chúng ta là biết lắng nghe và sẵn sàng đáp trả, dám can đảm sám hối và canh tân đời sống để được ơn cứu độ.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta vững mạnh trong đời sống đức tin để nhận ra tình yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa đang trao ban cho chúng ta. Xin cho chúng ta can đảm để sẵn sàng đáp trả và đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta.
21. Giakêu, một con lừa chui qua lỗ kim
(Suy niệm của RC.)
Ông Giakêu thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo”. “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc. 19, 8b-10)
Ông Giakêu thân hình thấp bé, đứng đầu những người thâu thuế ở thành Giêricô, những đoàn người buôn bán từ Ả-rập qua thành đều phải chịu thuế nhập thị. Như thế, ông là người rất giàu, nhưng bị người Do thái khinh chê là hạng người tội lỗi công khai và cộng tác với quân xâm lăng. Tuy nhiên, chính ông là người được Thiên Chúa gửi Thánh Thần đến lôi kéo ông về cùng Đức Giêsu.
Ông “Sếp” trở nên trẻ nhỏ
Các trẻ nhỏ sẵn lòng trèo lên cây cao quá tầm đám đông để xem. Ông Giakêu, mặc dầu là “xếp”, địa vị cao và giàu sang đã nên giống trẻ nhỏ. Ông không sợ thiên hạ nhạo cười và hạ nhục. Được tiếng nội tâm thúc đẩy, ông tò mò trèo lên cây nhìn xem Đức Giêsu bất kể ra sao thì sao.
Đức Giêsu vị ngôn sứ tuyệt vời, rất nhạy bén với hành động của Thánh Thần nơi người khác. Người nhìn lên và thấu suốt tận con tim của Giakêu. Người gọi tên ông, đó là tiếng gọi của tình yêu. Người ra lệnh cho ông: “Hãy xuống mau đi, vì hôm nay tôi ở lại nhà ông”. Sứ điệp của Đức Giêsu đã kêu gọi ông. Người phải dắt đưa chiên lạc của nhà Israel về.
Đoàn hành hương theo Đức Giêsu chẳng hiểu gì sứ điệp của Người. Đức Giêsu vừa tỏ quyền phép của Thiên Chúa chữa người mù được thấy và bây giờ tự mời mình vào ở nhà một người tội lỗi. Vậy Người không thể là Đấng Thiên sai Cứu thế. Người trong sạch không thể đồng cư với kẻ ô uế. Như thế, Đức Giêsu đã nên cớ cho người ta vấp phạm trong suốt cuộc đời cứu thế của Người đúng như ông Si-mê-on nói tiên tri: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm cớ cho nhiều người Israel vấp ngã hay được chỗi dậy” (Lc. 2, 34).
Và tự hủy mình đi
Niềm vui đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa để trở về thật chứa chan, Giakêu đã vui mừng đón rước Đức Giêsu vào nhà. Ông vui mừng chính thức công bố trở về và hứa bồi thường đầy đủ gấp bốn lần luật buộc, cùng hiến nửa gia tài làm việc bác ái giúp người nghèo. Ơn Chúa đầy tràn, ông đáp lại bằng tấm lòng thiện chí đầy tràn.
Đức Giêsu quay lại phía đám đông giúp họ hiểu rằng Giakêu đã tỏ ra xứng đáng là con cháu thật của tổ phụ Áp-ra-ham, có lòng quảng đại đặc biệt, mặc dầu nghề nghiệp ông thuộc lớp người tội lỗi. Đức Giêsu đem ơn cứu độ đến nơi nào biết tiếp đón Người đến ở.
22. Chia sẻ
(Suy niệm của Lm. Giuse Lê Minh Thông)
Câu chuyện Giakêu quá quen thuộc, nhưng lại là một bức tranh sống động, phong phú, tinh tế và là lời chất vấn và mời gọi qua mọi thời đại. Trong hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giêsu đi ngang qua Giê-ri-khô và xảy ra câu chuyện ông Giakêu với những nét tương phản hài hước và độc đáo. Nhân vật chính được giới thiệu qua bốn chi tiết: (1) Tên gọi: Giakêu, (2) Nghề nghiệp: Đứng đầu những người thu thuế, (3) Địa vị xã hội: Người giàu có, (4) Ngoại hình: thấp bé, ngôn ngữ bình dân gọi là lùn.
Trong câu chuyện, nhân vật Giakêu có những nét tương phản vừa theo quan điểm người đời, vừa theo quan điểm tâm linh. Theo người đời, Giakêu là người có địa vị, có quyền và có tiền, ba yếu tố này làm nên sức mạnh và uy thế của một con người. Ông ở cao hơn những người bình thường, nhưng ông lại thua kém họ về chiều cao, nên tầm nhìn bị thu hẹp và bị hạn chế. Ông muốn thấy Đức Giêsu, nhưng đám đông trở thành chướng ngại cho điều ông ước muốn. Tuy nhiên, con người không hơn nhau ở chiều cao mà hơn nhau ở cái đầu; Giakêu quyết định thực hiện ước muốn thấy Đức Giêsu bằng cách trèo lên cây sung. Quyết định này tạo nên tương phản giữa việc ông đạt được mục đích là thấy Đức Giêsu, nhưng phải hy sinh thể diện. Một người có quyền hành và địa vị như ông mà lại leo lên cây sung, mượn cây sung để cải thiện chiều cao của mình, thì chẳng gì đề cao cái sự thấp bé của ông trước mọi người.
Đáng chú ý hơn là tương phản theo quan điểm tâm linh. Ông Giakêu là người quyền thế trong xã hội, nhưng đám đông lại gọi ông là “người tội lỗi”, vì khi Đức Giêsu quyết định ở lại nhà ông, mọi người xầm xì: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” Câu kết của Đức Giêsu: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” đã xếp Giakêu vào loại những người đã mất, nhưng được Đức Giêsu cứu.
Tương phản trên bình diện tâm linh và cách xử sự của Giakêu để xem thấy Đức Giêsu đã được Người đánh giá cao. Việc ông dám trở trên trò cười cho thiên hạ để tiếp cận được Đức Giêsu cho thấy thiện chí của ông. Nhờ hành động này, ông trở thành nhân vật chính của câu chuyện với những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Khi Đức Giêsu nhìn lên và nói với ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (19,5) Bản văn chơi chữ khi viết Đức Giêsu nhìn lên và bảo ông xuống, nghĩa là trở về với chiều cao đích thực của mình, trở về với con người thực của mình, để không những thấy Đức Giêsu mà còn để đối thoại với Người, để quyết định bán nửa tài sản cho người nghèo và đền gấp bốn cho những ai mình đã làm họ bị thiệt.
Điều mới mẻ so với trình thuật người thu thuế Lê-vi ở chỗ Lê-vi đã bỏ nghề thu thuế và đi theo Đức Giêsu, còn ông Giakêu có bỏ nghề đứng đầu những người thu thuế hay không, bản văn không cho biết. Trình thuật chỉ nhấn mạnh tấm lòng của ông đối với người nghèo và việc ông chú trọng sự công bằng. Có thể hiểu Giakêu có thể tiếp tục đứng đầu những người thu thuế mà vẫn được cứu. Điều quan trọng là ước muốn gặp Đức Giêsu, thực hiện ước muốn này, và khi gặp thì mừng rỡ đón tiếp Người.
Trình thuật nói đến sự gặp gỡ tốt đẹp giữa hai con người với hai sự tìm kiếm. Giakêu tìm cách để thấy Đức Giêsu còn Đức Giêsu đang tìm và cứu những gì đã mất. Chính sự gặp gỡ giữa hai con người đang tìm kiếm này làm cho Giakêu trở thành người được cứu và làm tỏ lộ sứ vụ của Đức Giêsu.
Điểm độc đáo của bản văn ở ngay trong trong cách trình bày nhân vật Giakêu. Ông là người vừa thấp vừa cao. Cao về địa vị xã hội, nhưng thấp bé về chiều cao. Thấp bé thể lý nhưng cao quý trong thiện chí tìm gặp Đức Giêsu. Ông có quyền hành và giàu có trong xã hội nhưng bị coi là người tội lỗi, là người đã mất, cần được cứu. Nhân vật Giakêu trở thành điển hình cho hành trình tìm kiếm và gặp gỡ Đức Giêsu là Người mang lại ơn cứu độ cho ông.
Đầu câu chuyện, Giakêu được giới thiệu như là người có mọi thứ: Chức vị, tiền bạc và quyền hành; nhưng ông đang thiếu và đang đi tìm cái mà tiền bạc và chức quyền không đem lại cho ông. Ông tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, mục đích trước tiên là xem cho biết con người mà ông chưa biết.
Điểm độc đáo thứ hai là Đức Giêsu không dạy giáo lý cho Giakêu, Người không bày tỏ tư cách Con Thiên Chúa của Người. Ngược lại Người chỉ nói một câu tỏ bày sự thân thiện và ưu ái của Người dành cho ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”.
Bài học cho chúng ta hôm nay là liệu sự ở lại của Đức Giêsu có khả năng làm cho chúng ta hoán cải, có khả năng làm cho chúng ta thuộc về Người, làm cho chúng ta biết chia sẻ với người nghèo và tôn trọng sự công bằng hay không. Câu chuyện Giakêu vẫn là lời chất vấn, lời mời gọi chúng ta trong cách chúng ta tìm gặp và đón tiếp Đức Giêsu, trong cách chúng ta sống niềm tin và thể hiện niềm tin của mình.
23. Niềm vui của Thiên Chúa
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật)
Vẫn có một khát vọng
Đức Giêsu sắp đi ngang qua Giê-ri-khô, chặng cuối cùng trước khi băng qua sa mạc để lên Giê-ru-sa-lem. Cuộc đi qua này xác định thêm một lần nữa sứ vụ của Đức Giêsu; đó là tìm kiếm những gì đã hư mất.
Ông Da-kêu là một người bị dân chúng coi thường, vì ông là người cộng tác với quân chiếm đóng Rô-ma. Ông là một nhân viên thuế vụ luôn tìm cách thu lợi cho quân chiếm đóng và nhờ vậy mình được giàu thêm. Trước mắt dân chúng, đó là một con người bị khinh bỉ, mặc dù tên gọi của ông có nghĩa là trong sạch, là công chính.
Tuy nhiên, con người này lại muốn nhìn thấy Đức Giêsu. Trong tâm hổn ông đang trào lên một khát vọng gặp được Đức Giêsu, một con người lừng danh vì các phép lạ, và cả vì lời giảng của Người. Nhưng ông lại là một người thấp bé. Ông chen chúc trong đám đông. Ông nghển cỗ, kiểng chân, nhưng vô ích! Ông chẳng nhìn thấy Đức Giêsu, ông thật là một con người nhỏ mọn, không giá trị. Ông không dám chịu đến gần Đức Giêsu. Ông không dám tỏ mình ra.
Vậy là ông bỏ qua mọi chuyện: viên chức cao cấp này tìm cách trèo lên một cây sung. Một hấp lực nào đó từ bên trong thôi thúc ông. Ông hy vọng từ trên cành cây ông có thể nhìn thấy Đức Giêsu mà không bị phát giác. Những người dân ở đó nhìn thấy cảnh này hẳn phải bật cười: quả là kỳ cục, một đứa trẻ cũng không làm như thế.
Quả thật, vì Đức Giêsu, ông Da-kêu chẳng kể gì đến địa vị của mình. Ông chấp nhận tầm vóc nhỏ bé đích thực của mình. Ông chỉ là một người bé nhỏ khốn khỗ, và ông chấp nhận tình trạng này. Ông khiêm tốn, và bỏ hết mọi sự che đậy, mọi vẻ bên ngoài giả tạo. Ông trở về với sự giản dị của mình. Những gì vẫn bao phủ ông từ trước tới nay, lúc này rơi xuống hết. Đối với người khác, có thể chẳng có gì thay đỗi, nhưng đối với ông tất cả đang bắt đầu!
Tất cả đã thay đỗi - như phần sau của câu chuyện cho thấy. Ông Da-kêu được tái tạo, khi ông khiêm tốn hạ mình. Ông đã leo lên cây (hình bóng của thập giá) và con người cũ đã chết trên đó. Một đời sống mới được khởi đầu, một con người mới được nảy sinh.
Người đến để đem niềm vui
Đức Giêsu đi ngang qua và thấy có gì khác lạ. Ngước mắt lên, Người nhìn thấy ông và ngỏ lời với ông, một con người bị dân Do-thái coi là kẻ bất lương. Người nhận ra nơi con người này có điều gì đó đặc biệt: hành động leo lên cây của ông là một tiếng kêu gửi đến Người.
Người đòi lòng hiếu khách của ông và tỏ ý muốn dùng bữa tại nhà ông. Ông cảm thấy quá hạnh phúc và "vội vàng tụt xuống". Từ đây cuộc sống của ông hoàn toàn thay đỗi: từ một người bị cộng đoàn khinh chê ruổng bỏ, ông được Đức Giêsu đưa nhập vào cộng đoàn con cháu tỗ phụ Áp-ra-ham.
Ông Da-kêu đã bị bất ngờ, nhưng phải nói là dân chúng Giê-ri-khô còn bị bất ngờ hơn: "Nhà người tội lôỵi mà ông ấy cũng vào trọ." Thật là xúc phạm, không thể nào chấp nhận nỗi. Vậy mà Đức Giêsu còn tuyên bố rõ ràng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tỗ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất."
Như thế, từ cái nhìn yêu thương và mời gọi yêu thương, Đức Giêsu không loại trừ ai cả, dù người đó thế nào chăng nữa. Lòng thương xót của Người đủ rộng để bao phủ mọi tội lôỵi của con người. Ông Da-kêu đã lọt vào trong tấm lưới là lòng từ ái của Thiên Chúa. Ông tìm lại được niềm tin nơi người đã cứu ông, và ông đã trở thành người được tha thứ. Còn niềm vui nào lớn lao hơn nữa! Niềm vui chính là câu trả lời của Thiên Chúa cho con người chấp nhận để mình được cứu thoát khỏi chính bản thân mình và khỏi tội lôỵi.
Ông Da-kêu vui và làm cả nhà rối loạn lên vì niềm vui. Ông thúc giục gia nhân chuẩn bị đón tiếp Đức Giêsu. Từ trước đến nay do bản tính keo kiệt, chưa bao giờ ông tỗ chức một cuộc tiếp đón tưng bừng như thế.
Nhưng chưa hết, do sức mạnh của ơn giải thoát, của niềm vui đang dào dạt trong lòng, ông đã sẵn sàng chia một nửa tài sản cho người nghèo, và hứa đền gấp bốn cho những người đã bị ông cưỡng đoạt tài sản.
Ông Da-kêu đã bị tình yêu Đức Giêsu chinh phục, ông sẵn sàng bỏ mọi sự để sống đời sống mới do Đức Giêsu đem lại. Nhờ lòng thương xót của Người, tâm hổn ông đã hoán cải. Ông không nhận ra chính mình nữa, người khác cũng không nhận ra ông: đó là phép lạ lớn nhất. Có lẽ có người nghĩ rằng ông đã mất trí. Thực ra, sự quảng đại khó tin nỗi này là hệ quả đơn giản do lòng rộng rãi của Thiên Chúa, là dấu chỉ bên ngoài của sự hoán cải bên trong. Khi người ta thực sự được thứ tha, làm sao người ta lại không ước muốn trao tặng tất cả? Bởi vì lúc ấy người ta là một người khác: một con cháu của tỗ phụ Áp-ra-ham, một người được cứu thoát, một người tin vào tình yêu đầy bất ngờ do Thiên Chúa đem lại.
Thiên Chúa cần đến chúng ta
Qua khát vọng của ông Da-kêu, Đức Giêsu đã mở một con đường. Chính Người đã đưa ra sáng kiến, đã lôi ông từ trên cành cây xuống, đã làm vỡ tung những vỏ bọc bên ngoài con người ông. Người cần đến ông Da-kêu, như đã cần đến các ông Phê-rô, An-rê, và những người khác nữa như các cô Mác-ta, Ma-ri-a. Người cần đến họ để ở trong nhà họ, để sống với họ, biến họ thành những người bạn, những người anh em. Người cũng cần đến môỵi người chúng ta, Người muốn đến cư ngụ nơi chúng ta.
Thế nhưng, môỵi lần Đức Giêsu đến với một người nào thì Người trở thành người quấy rầy, người phá vỡ những tình trạng an toàn sẵn có. Những chuyện như thế không chỉ xảy ra nơi ông Da-kêu, nhưng còn nơi nhiều người khác như chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng. Chẳng hạn như Mác-ta, cô phải thay đỗi cách nhìn; như ông Phê-rô buộc lòng phải thả lưới, như Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se phải lên đường về Bét-lem, rổi sau đó từ Bét-lem sang Ai-cập. Luôn là những con đường hướng đến nơi không biết trước, không an toàn, kèm theo một thái độ từ bỏ quyết liệt buộc con người phải ra khỏi mình để lao vào trong tấm lòng của Thiên Chúa.
Đức Giêsu cũng đang ở trong chúng ta: Người muốn lôi chúng ta xuống khỏi cái cây của chúng ta. Người muốn phá vỡ sự phòng vệ cá nhân của ta, Người muốn đập tan những gì chúng ta coi là cần thiết để giữ thể diện. Người đang nhìn chúng ta và thôi thúc chúng ta môỵi ngày. Để đáp lại, chúng ta phải để cho lòng thương xót của Người xâm chiếm, đổng thời cũng để niềm vui của chính Thiên Chúa tràn ngập tâm hổn chúng ta.
Nhưng Đức Giêsu ngỏ lời với chúng ta bằng cách nào? Nên nhớ rằng Thiên Chúa đã làm người để nói với chúng ta bằng ngôn ngữ loài người, ngôn ngữ bình thường của cuộc sống. Chúng ta có khát mong được nghe lời ấy không?
* * *
Con chẳng biết làm thế nào
để kính chào Chúa,
phải chăng là dùng luật lệ của con?
Lạy Chúa, xin chỉ dạy con đường nẻo của Chúa,
xin giải thoát con khỏi cảnh nô lệ
là sự điên rổ của con.
Xin hướng dẫn con, con vẫn còn đủ sức hạ mình,
trước khi chính con trở thành gánh nặng cho con.
theo J. Halevy
24.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)
Cách đây không lâu, trên trang “Tuổi Biết Buồn”, tôi có đọc được đôi dòng tâm sự như sau: “Em năm nay 21 tuổi. Sang Mỹ được 3 năm. Năm đầu sống rất vui vẻ hồn nhiên, không buồn phiền gì về vấn đề tình cảm. Năm thứ hai thì con tim bắt đầu lúc lắc. Năm thứ ba em bắt đầu yêu thật. Em đã quen một anh tên A. Lúc đầu chỉ coi anh là anh trai, nhưng tình cảm len lỏi vào tim lúc nào không biết. Anh lo cho em từng li từng tí. Càng ngày em càng cảm thấy mến anh. Nhưng có điều anh hơn em đến cả 18 tuổi. Lấy anh thì cũng được, nhưng em lại sợ cái cảnh ‘cha già con mọn’. Thế rồi em lại quen một anh khác tên B. Anh này thương em, cũng lo lắng cho em. Hơn em chừng 7, 8 tuổi. Nhưng có điều cũng khó nghĩ vì B lại thấp hơn em, lại không có đạo nữa. Không trở lại, bố em không chấp nhận là cái chắc. Không lớn hơn vài 'inches' nữa thì tương lai của em sẽ không biết giầy, guốc cao gót là gì?”.
Đọc qua tâm sự đó, tôi chợt nhớ đến hình ảnh của một người rất thấp trong Phúc âm: Giakêu, một ty trưởng quan thuế tại thành phố Giêricô, nằm cách Giêrusalem 15 dặm về hướng đông bắc.
Giakêu không những được mô tả như một người thiếu thước tấc về thể xác, nhưng còn là kẻ quá thấp bé về tâm hồn, dưới cái nhìn của người Do thái. Không “thấp” lắm sao khi cấu kết với ngoại bang Rôma để vơ vét tài sản của dân tộc, đất nước! Không “bé” lắm sao khi đi làm giàu trên bao mồ hôi xương máu của những người lầm than khốn khổ!
Từ xưa đến nay, chẳng mấy ai ưa thích chuyện thuế má. Người Do thái lại càng chán ghét chế độ sưu thuế do chính sách đô hộ Rôma áp đặt. Số là tại các thuộc địa, để không phải trực tiếp bóc lột, chính quyền cai trị Rôma thường cho đấu thầu việc thu thuế tại từng khu vực. Tất nhiên chỉ có kẻ giàu mới có khả năng và mới có cơ may trúng thầu. Khi trúng, họ có quyền qui định mặt hàng cũng như giá thuế phải đóng. Lắm khi người trúng thầu phải ra giá thật cao để gỡ vốn. Và không ít khi cao thêm tí nữa để có lời. Thế nên, dân Do thái tự động xem hạng thu thuế là phường bán rẻ lương tâm, phá nước hại dân, làm giàu bất chính. Người ta tránh xa như gặp phải những con vật dơ nhớp, nguy hiểm. Thậm chí còn coi họ như quân ngoại đạo và tội lỗi.
Thành ra con người Giakêu hẳn là quá thấp bé trong tầm nhìn luân lý của những kẻ “đang bị bóc lột”. Đã vậy vóc dạng của ông cũng chẳng cao ráo sáng sủa gì. Lùn quá! Có nhón gót cũng chẳng thấy Đức Giêsu đâu. Đám đông che mất tầm nhìn của ông.
Mặt khác, danh xưng của ông còn khơi lên ý tưởng mỉa mai châm biếm khi nó tương phản với công luận. Giakêu là phiên âm từ chữ “Zakkay”, trong tiếng Do thái có nghĩa là “người công chính” hay “người thanh khiết”. Gọi một kẻ tội lỗi, nhơ uế là “công chính” và “thanh khiết”, nếu không phải là chế giễu và khinh bỉ thì là gì?
Nhưng dù thân xác và tinh thần có bị bao quanh bằng những hàng rào của mặc cảm tự ti, hay sự khinh thường ghét bỏ của dân chúng, lòng khát mong gặp Đức Giêsu đã như tác động đầu tiên đưa đến biến đổi và thăng hoa con người.
Ước ao nhìn mặt Đức Giêsu, đó là sự tò mò tự nhiên hay lời mời gọi của tình thương? Cứ tưởng tượng Giakêu xắn chiếc áo rộng thùng thình của một bậc trưởng giả để leo lên cây sung như một đứa con nít cũng đủ thấy đó là một khát khao vượt tính tự nhiên rồi. Phải chăng khi bị mọi người tránh xa, khi nghe đồn Đức Giêsu hay đến làm bạn với những kẻ không được thương yêu, trong ông đã hình thành nỗi niềm đi tìm yêu thương vỗ về.
Lòng khát khao mãnh liệt làm cho lòng Giakêu “cao lên” so với bao người chen chúc trong đám đông hiếu kỳ. Oâng muốn nhìn Chúa, nhưng đúng hơn, Chúa lại muốn tìm ông. Khi vừa đến chỗ cây sung có Giakêu đang trèo trên đó, Đức Giêsu “nhìn lên và trông thấy ông”. Giả như không có ánh mắt nhìn lên đó thì chuyện gì sẽ sảy ra? Có lẽ Giakêu cũng tuột xuống ra về trong âm thầm. Cái nhìn của Chúa làm biến đổi cuộc đời.
Nhìn và thấy diễn tả một sự chú ý kiếm tìm. Nhìn vào bao con người chen chúc chung quanh, với đủ mọi thành phần, trình độ, sang hèn, tuổi tác, nhưng Đức Giêsu lại chỉ thấy có một tâm hồn mà Ngài đang muốn tìm về. Niềm vui rạng rỡ đã bật thành lời: “Hỡi Giakêu hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi” (Lc 19,5). Ngài đã tìm thấy “con chiên lạc” đang vướng trên cành, và lòng Ngài ngập tràn hân hoan.
Một nhà chú giải suy niệm: “Ôi chao! Ngày hôm đó, chắc là Đức Giêsu phải sung sướng hạnh phúc lắm! Còn vài cây số nữa là đến Giêrusalem. Còn vài ngày nữa là cuộc khổ nạn được dâng hiến để cứu chuộc con người. Mọi nỗi đơn độc chơ vơ của thập giá, mọi hình khổ Ngài sẽ gánh chịu, mọi vết thương xé nát bàn tay và đôi chân đẫm máu sẽ mang lại ơn ích cho nhân loại. Ngài biết điều đó. Ngài đã cứu thế gian khi tiến lên Giêrusalem. Và Giakêu là hoa trái đầu mùa”. (Noel Quesson)
Con tim cháy lửa yêu thương đã tìm gặp được tâm hồn khao khát thương yêu. Và thương yêu đã biến đổi phận người! Đúng là “gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình; Gặp gỡ Đức Kitô, nảy sinh tình đệ huynh”. Tình huynh đệ nảy sinh khi Giakêu tự nguyện “bố thí nửa phần gia tài cho người khổ đau”. Tình đệ huynh lại được hàn gắn khi Giakêu can đảm “đền trả gấp bốn cho người bị ông làm thiệt hại”.
Không gặp được Đức Kitô chẳng ai có đủ sức đền bù, chia sẻ, hay trao ban. Không có tình thương sưởi ấm chắc chắn chẳng ai có thể đổi đời. Nhưng khi có tình Chúa chiếu soi, người ta sẽ “cao lên” trong tình người. Và như thế, không ai có quyền kỳ thị hay gạt bỏ, vì họ cũng là “con cái của Abraham”. Không ai được phép xem họ như người ngoại hay kẻ lầm lạc, vì họ cũng là môn đệ của Tình Yêu Thiên Chúa.
Trở lại với lời tâm sự ban đầu. Thiết tưởng cao to thân xác mà thấp bé cõi lòng thì ăn thua gì. Mang danh có đạo mà không bác ái hy sinh thì cũng thiếu xót lắm thay. Thế nên, việc cần thiết nhất không phải là cao lùn, mập ốm, rửa tội hay chưa, nhưng là có được tình yêu đúng nghĩa chiếm ngự tâm hồn hay không.
Tình yêu đúng nghĩa chỉ có khi được Đức Giêsu lưu lại trong đời. Và như Lệ Vũ, người phụ trách “Tuổi Biết Buồn” xác quyết: “Tìm được tình yêu và yêu thật lòng, ba cái chuyện cao gầy, lùn mập, miệng méo, mắt Sài gòn, mắt Chợ Lớn, sẽ không thành vấn đề quan trọng”.
Xin tình yêu của Đức Kitô gặp gỡ đời con và đời người.
25. Sám hối
Khi còn học giáo lý rước lễ ở họ đạo, tôi được cha sở dạy rất kỹ về những việc mà hối nhân phải làm trước khi xưng tội gồm có: thật lòng ăn năn, xưng tội và thành tâm đền tội. Nhưng trong 3 việc đó thì ăn năn tội là điều quan trọng nhất. Ví ăn năn tội là đau đớn trong lòng và chê ghét tội đã phạm, dốc lòng chừa từ nay không phạm tội nữa. Tương tự như thế hình ảnh Giakêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng cho chúng ta một bài học về “sám hối”. Đó chính là tấm lòng mà Thiên Chúa luôn cần nơi mỗi người và đặc biệt trong cuộc sống mỗi người phải biết sám hối vì “nhân vô thập toàn”.
Có câu chuyện kể rằng một cha sở nọ nằm mơ, thấy Đức Giêsu thăm giáo dân đang tụ họp trong nhà thờ. Khi Đức Giêsu ra về khuôn mặt Ngài rất vui và hớn hở. Cha mới chạy theo hỏi Đức Giêsu tại sao thế? Và Chúa đáp: vì có những người nói những lời hết sức đẹp ý Ta. Thưa Chúa đó là những lời nào vậy, những lời chúc tụng ngợi khen ư? Không phải. Vậy những lời ta ơn tri ân cảm tạ phải không? Chúa trả lời cũng không đúng nữa. Không chịu thua cha sở nọ lại hỏi tiếp: hay là những lời cầu xin Chúa ban ơn này ơn no cho họ? Chúa Giêsu lắc đầu: con đoán sai cả rồi họ đã nói với ta: “Lạy Chúa xin hãy tha thứ tội lỗi chúng con”. Câu nói của Giakêu trong bài Tin mừng hôm nay, cũng có nội dung tương tự như thế và nó còn thể hiện việc sám hối bằng cả hành động nữa “thưa Ngài, này đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Do đâu mà những người giáo dân trong câu chuyện lại mau mắn sám hối như vậy. Vì lí do gì mà Giakêu lại quyết tâm hoán cải nhanh đến như thế. Chúng ta thấy cả hai đều có điểm chung là đã gặp được Chúa. Vậy để có thể sám hối tôi thiết tưởng phải cần có những yếu tố sau:
1. Thiên Chúa mời gọi
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Giakêu đặt chúng ta vào trung tâm vấn đề cơ bản của lòng chúng ta, làm sao nối lại tình thân với Thiên Chúa sau khi tội lỗi đã làm ta xa cách Ngài? Làm sao nhìn thấy Chúa Giêsu khi giữa ta và Ngài còn một “khoảng đám đông” đang chen lấn, mà ta lại là người đang “nhỏ bé như Giakêu”. Chúng ta không nên quá lo lắng về điều đó, vì Thiên Chúa luôn quan tâm đến mỗi người, nhất là những người tội lỗi “vì con người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất” (Mt 19,10). Thiên Chúa không chờ ta quyết định đến với Ngài, Ngài đi bước trước và đến với ta trước. Hầu hết các sách Tin Mừng không trình bày việc gì khác ngoài việc Thiên Chúa đến với loài người và gặp gỡ họ. Như trong Bài Tin Mừng không phải Giakêu đã nhận ra Đức Giêsu trước, nhưng chính Đức Giêsu đã nhân ra Giakêu trên cây. Điều đó chứng tỏ Đức Giêsu đã quan tâm đến chúng ta hơn là chính Người. Đức Giêsu chỉ đi ngang qua Giêrikhô một lần thôi, Ngài cũng chỉ gặp Giakêu ở đó một lần thôi, nhưng trong đời chúng ta Ngài sẽ đến mãi trong từng giây phút, nếu ta chưa tiếp xúc được với Ngài.
Kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu của Giakêu như bài học kêu gọi mỗi người chúng ta hãy làm một cuộc sám hối như thế, và biết rằng sám hối là một đặc ân Chúa ban, chính Chuá là người đi bước trước và có sáng kiến chứ không phải nơi chúng ta, đó là tiếng gọi của Chúa mà chúng ta có bổn phận phải đáp lại.
2. Con người đáp trả
Thánh Augustinô đã nói: “Khi dựng nên con Chúa không hỏi con, nhưng khi dựng nên con Chúa phải hỏi con”, nghĩa là Thiên Chúa luôn cần đến sự cộng tác nơi con người, không những thế Thiên Chúa còn muốn con người cộng tác một cách chủ động và trưởng thành. Chúa không đòi ai cũng phải chờ đợi để leo lên cây sung, nhưng quan trọng là phải đi gặp Chúa trong chính hành động của mình. Giakêu luôn ao ước được gặp Chúa và chính lòng khao khát đó đã được Chúa cho thoã mãn. Nhưng để phá rào cản tội tội, rào cản mă#c cảm, và nhất là rào cản giữa con người với nhau thật sự không dễ chút nào. Chắc chắn Giakêu đã nghe Danh Đức Giêsu từ lâu và hằng ao ước đến chỉ để nhìn mặt thôi, nhưng kết quả thật không ngờ, ông được hưởng hơn những gì mà ông mong đợi và hơn thề nữa “ơn cứu độ đã đến cho nhà này”.
Giakêu được như vậy không phải do ông này nỉ, van xin, cũng không do công trạng lập được, lại không phải là một người tốt đáng khen, nhưng điều quan trọng là ông biết “đáp trả” lời Chúa mời gọi, trong khi những người được cho là tốt thì lại không biết làm. Như Giakêu chúng ta cũng hãy biết đáp trả tình yêu Chúa băng cách sám hối để được tha thứ và đổi mới cuộc đời, vì tình yêu Thiên Chúa luôn bai la rộng mở, dù chúng ta là ai, dù chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào, cuộc đời chúng ta có xấu đến đâu cũng không sao. Chúa sẽ tẩy xoá hết để mỗi người chúng ta sẽ là một giọt tình thường trong bể tình thương bao la của Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con biết ăn năn sám hối mỗi ngày, để con xứng đáng đáp trả tình yê mà Thiên Chúa đã ban cho con. Amen.
26.Thiên Chúa là Đấng Cứu độ
(Suy niệm của An Phong)
Ranh giới giữa nhơ uế và thanh sạch
Trong đạo Do Thái, có một ranh giới giữa thanh sạch và nhơ uế, giữa tội lỗi và công chính... một ranh giới rất "thiêng liêng", mà chỉ có một đời sống luân lý nghiêm khắc mới có thể giúp người ta vượt qua được. Như thế, yếu tố luân lý trở thành yếu tố quan trọng nhất. Họ quan niệm cuộc đời con người như một cuộc thi cử, ai đủ điểm trung bình thì vượt qua được ngưỡng cửa thi cử, đó là thi đậu; ai không đủ điểm thì không thể vượt qua và là thi rớt. Cách phân chia này làm cho người nào chưa vượt qua được mức trung bình thì sợ hãi; người nào vượt qua được mức trung bình thì yên tâm, an nghĩ và thỏa mãn với đời sống của mình.
Chúa Giêsu nhiều lần phá bỏ ranh giới "siêu hình" này, vượt qua ranh giới giữa thanh sạch và nhơ uế. Chúa Giêsu tiếp xúc với những người thu thuế, ăn cơm với họ, Ngài để cho người đàn bà tội lỗi lấy tóc lau chân. Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa chẳng từ nan để vượt qua những ranh giới úy kỵ giữa thanh sạch và nhơ uế, giữa thánh thiện và tội lỗi... để gặp gỡ những người Ngài yêu thương và kiếm tìm.
Không phải luân lý nhưng là ơn cứu độ
Ở đây cũng thế, Chúa Giêsu đã đi bước trước, Ngài vượt qua cái úy kỵ của người biệt phái: bị nhơ uế vì tiếp xúc với người tội lỗi, Ngài thân hành đề nghị trú ngụ ở nhà ông Giakêu, dù lúc đó ông chưa có "hành vi sám hối".
"Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất"
Thái độ của Chúa Giêsu cho thấy một nguồn mạch mới của đời sống đạo: điều chính yếu của Tin Mừng Đức Giêsu chính là ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa chứ không phải nỗ lực luân lý của con người. Chính thái độ đi bước trước của Chúa Giêsu đã giúp cho ông Giakêu sám hối và tìm được một đời sống luân lý tốt đẹp, chứ không phải ngược lại.
Chính vì thế, Luca hay nêu lên cái ngày hôm nay của ơn cứu độ; và mỗi khi Kinh Thánh nói tới "hôm nay", thì có nghĩa là một điều gì mới của Thiên Chúa được thực hiện trong cuộc sống con người.
"Hôm nay nhà này được cứu độ"
Ơn Cứu độ tặng-không
Trong thư Roma (5, 8), thánh Phaolô đã từng nói rằng: "Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta"
Điều đó được thể hiện trong trình thuật Chúa Giêsu đến với Giakêu hôm nay. Điều "cần thiết" của Giakêu chỉ thái độ sẵn sàng để đón nhận hồng ân của Chúa. Một thái độ sẵn sàng, một lòng tin đơn thành, một sự chân nhận tình yêu của Thiên Chúa, đó là những điều thuộc về tự do của con người mà Thiên Chúa không muốn ép buộc. Với những ai sẵn sàng, Chúa Giêsu nhìn thấy con người đó trong dòng dõi những người tin; "bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham", và Ngài nhận thấy họ chính là đối tượng sứ vụ Ngài; bởi vì: "Con Người đến là để tìm và cứu vớt những gì hư hỏng".
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Không phải con đến với Chúa,
nhưng là Chúa đến với con trong bí tích Thánh Thể hôm nay.
Con đến nhà thờ hôm nay như bày tỏ một chút thiện chí của con;
những gì còn lại, là ơn cứu độ, là sự thay đổi đời sống,
xin Chúa rộng lòng ban cho con
như Chúa đã ban cho ông Giakêu khi xưa.
27.Đổi đời như Da-kêu
(Suy niệm của Lm. Inhaxiô Trần Ngà)
Giê-ri-cô là một miền đất giàu có và quan trọng nằm trong thung lũng sông Gio-đan. Giê-ri-cô có cả một rừng Chà-là rộng lớn cung cấp trái ngon cho nhiều nơi, có nhiều vườn cây dầu thơm tỏa hương khắp vùng, cùng với những vườn hoa hồng nổi tiếng nên được gọi là “vùng đất thần tiên [1]”. Chà-là và dầu thơm ở đây được người Rô-ma vận chuyển đi bán khắp nơi đã khiến Giê-ri-cô trở thành trung tâm quan thuế lớn nhất Palestine thời ấy. [2]
Được đứng đầu ngành thuế trong một trung tâm buôn bán sầm uất nên Da-kêu có nhiều cơ hội kiếm chác cách bất công và trở nên giàu có.
Tiền bạc thường dìm người ta đắm chìm trong đam mê và lạc thú, vậy mà chẳng hiểu do động cơ nào, Da-kêu lại hăm hở tìm đến với một con người thuyết giảng đạo đức như Chúa Giê-su khi Ngài đi qua Giê-ri-cô. Thế rồi, ông được vinh dự đón Chúa Giê-su vào nhà, được nghe Ngài giáo huấn và nhờ đó, ông đã hoán cải sâu xa, hoán cải tận gốc rễ và đi đến một quyết định không ai ngờ và rất đáng nể phục. Ông thưa với Chúa Giê-su rằng:
“Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi hiến cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19,8).
Đem nửa gia tài kếch sù của mình để hiến cho người nghèo và đền bù gấp bốn những thiệt hại đã gây ra cho người khác quả là một quyết định rất quảng đại, dũng cảm và anh hùng.
Giờ đây, chúng ta thử đặt mình vào địa vị Da-kêu và hãy tự hỏi mình: Nếu ở địa vị của Da-kêu, tôi sẽ hành động thế nào?
1- Có quan tâm tìm đến với Chúa Giê-su không?
Khi tôi đang hồi thịnh vượng, đang có cơ hội hái ra tiền như Da-kêu... thì tôi phải tranh thủ kiếm chác thêm, lo tìm mọi cách để thu vén nhiều hơn… hoặc tiêu xài mua sắm, nhậu nhẹt ăn chơi, vui hưởng lạc thú ở đời…
Còn ông Giê-su, một người thường rao giảng về công bình, bác ái… thì có mang lại lợi nhuận gì cho tôi đâu? Chẳng những không mang lại lợi ích, ông ta còn là người cản mũi kỳ đà, cản trở tôi làm điều tôi muốn là vơ vét thật nhiều… Vậy thì để ý đến ông ta làm gì.
Nếu nghĩ như thế thì tôi sẽ không thể cải thiện được cuộc đời. Tôi cứ như ngựa theo đường cũ, cứ đắm chìm trong tiền bạc và lạc thú, không thể đổi đời ngoạn mục như Da-kêu.
Điểm son của Da-kêu là biết quý trọng điều khôn ngoan, là muốn tiếp cận với những nhà hiền triết. Yếu tố này đã khiến ông tạm gác lợi nhuận sang bên, gác bỏ rượu chè nhậu nhẹt… và háo hức tìm đến với Chúa Giê-su. Có như thế, Da-kêu mới cải thiện cuộc sống thật tuyệt vời! Mấy ai sống trong hoàn cảnh của Da-kêu mà làm được như thế?
2- Có đón nhận và thực hành lời Chúa không?
Rất nhiều lần, Thiên Chúa kêu mời chúng ta đón nhận lời Chúa. Trước hết, chính Chúa Cha lên tiếng mời gọi chúng ta hãy nghe lời Chúa Giê-su:
“Đây là Con yêu dấu của Ta… Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài” (Mt 17, 5).
Chúa Giê-su cũng tha thiết mời gọi:
“Chiên tôi thì nghe tiếng tôi… Tôi ban cho chúng sự sống đời đời…” (Ga 10, 27).
“Người ta không chỉ sống bằng cơm bánh mà còn sống bằng Lời Chúa nữa” (Mt 4,4).
“Tôi bảo các ông: Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời” (Ga 5,24).
Chúng ta cũng biết thánh Phê-rô cũng tuyên xưng rằng: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Thầy có những Lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,67).
Chúa đã mời gọi tôi cả trăm lần, tôi không mấy lưu tâm. Sách Tin mừng sẵn có bên cạnh tôi, nhưng mấy khi tôi đọc và suy gẫm?
Lời Chúa không thu hút được tôi, không kéo tôi ra khỏi những lo toan tìm kiếm tiền bạc để dành thời giờ đọc lời Chúa… Lời Chúa không thể kéo tôi ra khỏi những đam mê xác thịt để gẫm suy... vì tôi quá yêu chuộng những quyến rủ đời này.
Thế mà Da-kêu lại hăm hở đón nghe lời Chúa, lại còn rước Chúa vào nhà mình, đón tiếp Chúa cách nhiệt tình và sau khi nghe lời Chúa Giê-su giáo huấn, ông có một quyết định quảng đại và rất anh hùng: “Tôi xin đem nửa phần gia sản tôi bố thí cho người nghèo khó và nếu tôi đã làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn.”
Thế là nhờ đón nhận và thực hành lời Chúa, Da-kêu đã cải thiện được cuộc đời, từ một con người bần tiện chuyên lo thu vén trở thành người chính trực và bác ái.
Lạy Chúa Giêsu,
Từ một người đáng khinh, Da-kêu đã chuyển mình trở nên một con người rất đáng khâm phục vì ông đã đón nhận, lắng nghe và để cho lời Chúa hoán cải cuộc đời.
Xin cho chúng con biết quý trọng lời Chúa hơn lạc thú thế gian, biết lắng nghe lời Chúa hơn là những chuyện phù phiếm vô bổ và quyết tâm thực hành những điều Chúa dạy, nhờ đó, cuộc sống chúng con được cải thiện và trở nên người có phẩm chất cao đẹp xứng đáng là con của Cha trên trời.
_____________________________
[1] Theo sử gia Josephus
[2] Theo William Barclay
28.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. GB. Phạm Hồng Thái)
Khi đối xử với nhau, điều chúng ta quí trọng nhất đó là tấm lòng. Qua cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Giakêu, chúng ta có thể thấy được tấm lòng của Chúa và tấm lòng của ông Giakêu như thế nào?
Trước hết là của ông Giakêu: Ông nghe nói về Chúa Giêsu nhưng chưa được nhìn thấy Chúa. Một cơ hội hiếm có: Chúa Giêsu sắp đi ngang qua thành Giêricô. Hai trở ngại lớn đối với ông đó là không những là người thu thuế, mà ông còn là thủ lãnh của nghành thuế. Dân chúng có tâm lý ghét những người thu thuế, họ khinh bỉ vì những người thu thuế cộng tác với ngoại bang là đế quốc Rôma, hơn nữa cái nghề này cũng thường có những tiêu cực hay lạm thu để đem lợi về cho mình. Trở ngại thứ hai là ông Giakêu lùn, nếu chen lấn vào đám đông thì ông không thể nhìn thấy Chúa được. Vì ao ước được nhìn thấy Chúa Giêsu, nên ông nảy ra sáng kiến chạy lên phía trước và trèo lên cây sung trên đường Chúa Giêsu sẽ đi qua. Chúng ta thấy ông là người có địa vị, giàu có và chắc chắn cũng có tuổi rồi thế mà ông đóng vai như một đứa trẻ để có thể nhìn thấy được Chúa Giêsu. Đó chính là thiện chí của ông. Ông đối xử với Chúa Giêsu bằng tấm lòng khiêm tốn và cởi mở như một trẻ nhỏ và Chúa yêu thích những con người có tâm hồn như thế.
Vậy Chúa Giêsu đã đáp ứng thế nào? Chúa dừng lại, nhìn lên ông. Cái nhìn của Chúa Giêsu là cái nhìn yêu thương rồi Chúa gọi chính tên ông: “Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi” Chúa Giêsu đáp ứng quá lòng ông mong ước, ông chỉ mong được nhìn thấy Chúa mà bây giờ Chúa ngỏ ý muốn lưu lại tại nhà ông nữa. Chúa Giêsu coi việc Chúa đến nhà ông như là một chương trình Chúa định trước nên Chúa mới nói : “Hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi”. Ông Giakêu đã vội vàng trụt xuống và vui vẻ đón tiếp Chúa. Ông có được niềm vui, niềm vui được gặp Chúa Giêsu, niềm vui từ nơi tâm hồn và niềm vui mà Chúa Giêsu nói không ai cướp mất được. Chúa Giêsu sẵn sàng làm điều khác với suy nghĩ của đám đông khi họ trách Chúa: “Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi” nhưng Chúa Giêsu chủ trương tiếp xúc với những người tội lỗi, ngồi ăn uống với họ để đem lại ơn hoán cải cho họ. Thực thế chúng ta thấy ông Giakêu đã tự ý hoán cải
Ông hoán cải thế nào? Trước đây ông gian tham thì bây giờ ông tình nguyện bố thí một nửa gia tài cho người người nghèo và ông hứa đền bù gấp bốn cho những người ông đã làm thiệt hại. Như thế không những ông tỏ ra quảng đại với những người nghèo khó khi bố thí hẳn một nửa gia tài, còn đối với những người bị thiệt hại, ông cũng đền bù không những sòng phẳng mà còn quá hơn luật buộc nữa. Trước hành động hoán cải của ông, Chúa Giêsu đã nói: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Ông hoán cải và đón tiếp Chúa Giêsu không những giúp ông được ơn cứu độ mà Chúa còn ban ơn này cho cả nhà ông nữa
Nhân dịp này Chúa Giêsu cho biết sứ mạng của Chúa là đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất. Chúng ta nhớ có lần Chúa Giêsu nói: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào Nước Thiên Chúa (Mt 19, 24)” Nhưng nhờ Chúa Giêsu, mà ông Giakêu là người giầu có đã chui qua được lỗ kim để vào Nước Thiên Chúa vì ông đã hoán cải, đã dùng tiền bạc bất chính mà mua lấy bạn hữu… để họ sẽ đón ông vào nơi Vĩnh cửu (cf Lc 16,9)
Noi gương Chúa Giêsu và qua câu chuyện ông Giakêu, chúng ta hãy có tấm lòng, có thiện chí đối với Chúa và đối với anh em. Trịnh Công Sơn có ca từ trong bài ca “Để Gió cuốn đi: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Việc làm của Chúa Giêsu chứng tỏ Chúa có tấm lòng không muốn loại trừ ai, trái lại còn tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất. Vì thế nếu ta là kẻ tội lỗi, hãy có tấm lòng sám hối ăn năn và trở lại cùng Chúa, thì sẽ được Chúa đón nhận.
Câu chuyện: Phanxicô Borgia sinh năm 1510 là một vị quan lớn trong triều đình vua nước Tây Ban Nha. Ông dược giao sứ mệnh đưa xác hoàng hậu Isabella mới qua đời về hoàng cung để làm lễ an táng. Ông rất sốc khi nhìn thấy thi thể hoàng hậu đang thối rữa trong khi mới đây hoàng hậu là một giai nhân tuyệt sắc mà giờ sao thê thảm quá! Cũng từ đó Phanxicô Borgia có ý định từ bỏ chức quan và sau khi vợ ông qua đời năm 36 tuổi, ông đã đi tu dòng Tên, chịu chức linh mục trở thành vị truyền giáo đắc lực và mở mang dòng Tên nhiều nơi trên thế giới nên được coi là vị thánh thứ hai của dòng tên sau thánh Inhaxiô Loyola
Nguyện xin Chúa ban ơn giúp chúng con có được tấm lòng chân thành cởi mở đối với Chúa và anh em để chúng con cũng tự ý hoán cải như ông Giakêu và trở lại cùng Chúa hầu đáng được Chúa nói: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Amen.
29.Chúa Nhật 31 Thường Niên
Nghệ thuật cảm hóa lòng người của Chúa Giêsu
(Suy niệm của Lm. Ignatio Trần Ngà)
Đứng trước tội nhân hay những người sa ngã, hư hỏng, dư luận xã hội thường lên án, khinh miệt, loại trừ… Đó là thái độ vốn có của những người Do-thái có tiếng là đạo đức như các thầy tư tế, các luật sĩ và biệt phái đối với những người tội lỗi như Giakêu.
Ngay cả Chúa Giêsu, dù Người chỉ tiếp đón những người tội lỗi thôi thì cũng đã bị tai tiếng rồi. Khi “Các người thu thuế và các người tội lỗi lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng." (Lc 15, 1-2)
Chính thái độ khinh thị và loại trừ người tội lỗi như thế lại càng xô đẩy người sa ngã lún sâu hơn trong tội lỗi của mình. Cư xử như thế là dìm xuống chứ không phải là nâng lên. Còn về phần Chúa Giêsu, Người có cách cư xử rất đẹp đối với người tội lỗi và chính cách cư xử cao nhã nầy có một sức cảm hoá thần diệu. Cung cách đối xử của Chúa Giêsu là niềm nở tiếp đón và trân trọng họ, coi họ như bạn bè. Thế nên dư luận hồi ấy đã xem Ngài “là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.” (Mt 11,19)
Chúa Giêsu thừa biết Giakêu là ai và thuộc hạng người nào, nhưng Chúa Giêsu không nhìn Giakêu bằng ánh mắt khinh miệt của người Do-thái, nhưng đối xử với ông bằng tấm lòng trân trọng và yêu thương.
Khi thấy Giakêu vắt vẻo trên cành cây chờ xem Chúa Giêsu đi qua, Chúa vui vẻ thân mật vẫy chào ông trước: "Này ông Giakêu…”
Chúa Giêsu gọi đích danh ông như đã từng quen biết từ lâu. Việc gọi tên thân mật nầy khiến ta nhớ lại lời Chúa Giêsu nói về quan hệ gắn bó giữa người chăn chiên tốt và đoàn chiên của mình: “Chiên nghe tiếng của anh và anh gọi tên từng con chiên” (Ga 10,3).
Rồi Chúa Giêsu tiếp: “Xuống mau đi!” Đây không hẳn là lời thúc giục mà chỉ là lời thân mật giữa bạn bè. Rồi Chúa Giêsu lại muốn thắt chặt mối tình bằng hữu qua việc cùng ăn uống đồng bàn với Giakêu, và hơn thế nữa, đề nghị ở lại tại nhà ông để rộng giờ hàn huyên tâm sự: “Hôm nay, tôi sẽ ở lại nhà ông.”
Sáng kiến tình yêu của Chúa Giêsu lúc đó chắc hẳn phải khiến cho Giakêu sửng sốt. Một bậc thầy khả kính và danh tiếng như Đức Giêsu mà lại đến trọ tại nhà một người tội lỗi như Giakêu ư? Chuyện thực mà tưởng như mơ! Thế là Giakêu vô cùng sung sướng đón tiếp Đức Giêsu vào nhà mình.
Thái độ yêu thương, trân trọng và quý mến của Đức Giêsu đối với Giakêu đã làm cho ông đổi đời thật sự, một sự thay đổi tận căn ít ai ngờ tới.
Bấy giờ Ông Giakêu đứng lên thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn."
Dám đem nửa phần gia sản lớn lao của mình trao ban cho người nghèo khó, lại chấp nhận đền gấp bốn những thiệt hại đã gây ra… quả là một quyết định anh hùng! Thế là từ một người đáng khinh, Giakêu bỗng trở thành một người rất đáng khâm phục!
Kho tàng văn học thiền có ghi lại câu chuyện sau đây. Thiền sư Sengai có một anh đệ tử hư hỏng, đêm đêm thường leo tường trốn ra ngoài chơi đêm. Vị thiền sư biết được điều đó nên vào đêm nọ, sau khi phát hiện người đệ tử vượt tường bằng cách leo lên một chiếc ghế khá cao, vị thiền sư đi đến vị trí đặt ghế, nhắc chiếc ghế bỏ sang bên rồi đứng vào chỗ đó.
Trong đêm tối, người học trò leo tường trở vào, rồi theo thói quen đặt chân lên ghế để nhảy xuống, không dè lại đặt chân lên lưng thầy. Khi phát hiện thầy đứng ngay trước mặt, anh học trò hoảng sợ chờ đợi những lời khiển trách nặng nề. Thế nhưng cuối cùng vị thầy chỉ nói mấy lời yêu thương: “Áo con ướt đẫm sương đêm rồi! Mau vào thay áo ngay kẻo cảm lạnh!” Thế là từ đó, người học trò không bao giờ còn đi chơi đêm nữa.
Những lời trách móc, lên án, những thái độ khinh bỉ hay loại trừ chỉ tạo nên nguy cơ làm cho những con người tội lỗi lún sâu vào con đường lầm lạc.
Nhưng chính thái độ tôn trọng và tấm lòng yêu thương sẽ tạo nên sức cảm hoá diệu kỳ. Đó là nghệ thuật cảm hoá lòng người rất khôn khéo mà Chúa Giêsu đã sử dụng để làm nên phép lạ nơi con người Giakêu, biến cải một con người tưởng là ‘hết thuốc chữa’ trở thành một người mới rất đáng khâm phục.
Lạy Chúa Giêsu, trước người lầm lỗi,
Xin cho chúng con thay thế những lời kết án bằng những lời lẽ yêu thương;
Xin cho chúng con biết thay đổi cái nhìn khinh khi bằng cái nhìn tôn trọng;
Xin cho chúng con biết thay thế thái độ xa lánh bằng thái độ tiếp đón ân cần…
Nhờ đó, chúng con sẽ tạo cơ hội cho nhiều anh em lầm lỗi có cơ may phục thiện và đổi mới cuộc đời.
30. Biến đổi
Người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, Để sửa chữa hay thay đổi một người nào đó là một điều rất khó. Ngược lại nếu không khéo chúng ta lại càng làm cho ra thêm tệ hơn. Trong thực tế, có những người nói hay, nói khéo, khuyên giỏi... nhưng kết qủa không mấy khả quan, mà còn làm cho cho họ càng khép kín, bảo thủ, trở nên oán hận và chai cứng tâm hồn.
Hôm nay, Đức Giêsu với đường lối sư phạm đại tài, Ngài đã từng bước hoán cải một người thu thuế bị xếp chung với hạng trộm cắp, giết người và đĩ điếm. Vậy Đức Giêsu đã làm gì mà lại có sực mạnh biến đổi kỳ lạ như thế?
Thông thường người có tội hay lẫn trốn, tránh xa những người được cho là công chính. Ở đây Giakêu lại càng không dám trực tiếp gặp thầy Giêsu, ông cũng không hoà nhập được với dân, ông như bị cô đơn giữa một rừng người xa cách không ai quan tâm đến ông. Lúc mà mọi người không ai để ý đến, không ai quan tâm đến thì Đức Giêsu lại quan tâm. Điều đó quá lạ đối với suy nghĩ của ông, từ trước đến giờ ông không bao giờ dám nghĩ đến: Chúa lại tìm một người “đứng đầu những người thu thuế” như mình. Dù đang mang mặc cảm tội lỗi, dù đang bơ vơ lạnh lẽo, ông vẫn cảm thấy ấm lòng vì được Thiên Chúa quan tâm, trong cuộc sống những người tội lỗi vẫn thường hay tự ty xa cách, họ không thể hòa mình với mọi người, họ vẫn cảm thấy cô đơn vì bị người khác bỏ rơi. Những điều đó càng làm cho họ ngày càng lún sâu vào vũng lầy tội lỗi, không có ai đưa bàn tay để kéo họ lên. Vậy những lúc tuyệt vọng, những lúc chúng ta không còn chỗ nương tựa chúng ta hãy biết chạy đến cùng Chuá, cho dù tất cả bỏ rơi chúng ta thì Thiên Chúa vẫn cưu mang chúng ta, vì lúc nào Ngài cũng đang “nhìn” chúng ta, quan tâm chúng ta
Dân chúng cứ nghĩ Đức Giêsu sẽ quở trách Giakêu về những việc làm xấu xa của ông. Nhưng Đức Giêsu không những không quở trách mà còn muốn dùng cơm tối ở nhà ông. Việc làm đó không chỉ làm cho dân chúng kinh ngạc về cách hành xử của Đức Giêsu, mà cả Giakêu nữa cũng bị bất ngờ. Ông đã thay đổi tâm hồn từng bước một, bắt đầu từ lúc Đức Giêsu nhìn thấy ông, gọii ông rồi còn lưu lại nhà ông. Đáng lẽ ông là tội nhân đáng bị trừng phạt và lên án, thì Đức Giêsu lại đến với ông bằng sự tín nhiệm yêu thương, vì Người đến không phải để lến án nhưng là để cứu chuộc.
Thiên Chúa luôn nhìn người tội lỗi với một cắp mắt bao dung, Ngài không để tội nhân đi vào con đường bế tắc mà mở cho họ một hướng đi trong tương lai, Ngài tin ở sự hoán cải, nơi người tội nhân. Chính đường lối sư phạm này mà Thiên chúa đã làm cho Giakêu quay lại 180 độ. Từ một người tội lỗi trở thành tốt, nhưng để được thay đổi tâm hồn con người không phải “ngồi để chờ xung rụng”, mà phải có thiên chí, có lòng hoán cải ao ước thật sự... Vậy chúng ta hãy đến xin Chúa để người thay đổi cuộc đời, vì con người chỉ có thể đổi mới khi có ơn Chúa ban. Hơn nữa, Thiên Chúa lại luôn quan tâm đến tội nhân. Vì thế, chúng ta phải đáp lại tiếng gọi của Chúa, sự trông đợi của Người... thì công việc mới hoàn thành cho dù chúng ta có tội lỗi xấu xa có đáng ghét đến dâu đi nữa thì thiên Chúa vẫn chờ đợi chúng ta
Lạy Chúa, “không có một ông thánh nào mà không có quá khứ, không có tội nhân nào lại không có tương lai”. Xin Chúa cho con đừng vì quá khứ mà trở nên xấu xa. Nhưng cho con giống Giakêu biết hướng đến tương lai, nhờ ơn Chúa tất cả chúng con trở thành con người mới.
31. Đổi mới cuộc đời
(Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng
Chúng ta đổi công việc, đổi nhà, thay xe…, nhưng nói đến đổi mới cuộc đời thì ít ai muốn thực hiện. Có nhiều lý do, nhưng có lẽ lý do đáng kể nhất đó là người ta không muốn mạo hiểm và cố gắng. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một cuộc đổi đời đầy mạo hiểm và nỗ lực về phía ông Giakêu, nhưng quan trọng hơn chính là vai trò và ảnh hưởng của Chúa Giêsu trong cuộc thay đổi này.
Câu chuyện xảy ra tại Giê-ri-khô, một thành phố nằm phía đông Giê-ru-sa-lem và gần Biển Chết. Thành phố đông dân cư, buôn bán phồn thịnh. Cho nên ông Giakêu đứng đầu những người thu thuế ở đây thì nhất định phải là người giàu có rồi. Dân chúng khinh dể ông, còn gọi nhà ông ở là “nhà người tội lỗi”. Chúng ta không rõ lý do nào khiến ông “tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai”. Rất có thể vì ông đã nghe nói “các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng” và Người còn “đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lu-ca 15:1-2). Tuy nhiên lần này cộng thêm với việc ông tìm cách gặp Chúa, thì chính Chúa lại chủ ý đi tìm ông. Ông nấp ở trên cây sung, không ai nhìn thấy ông. Nhưng Chúa Giêsu không cần ai mách bảo, Người chủ động nhìn lên và kêu ông xuống. Trong cuộc đổi đời này, cả ông Giakêu lẫn Chúa Giêsu đều đích thân tìm đến với nhau. Chúa Giêsu đã mở đầu diễn tiến cho cuộc thay đổi khi Người đề nghị trước: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” Dường như Chúa muốn ngầm bảo ông: Tôi đã tóm được ông rồi. Giả như ông có đuổi, tôi cũng không đi! Hôm nay tôi ở lại với ông, để bắt đầu cho việc ở lại vĩnh viễn suốt cuộc đời ông! Đúng vậy, chỉ có sự hiện diện của Chúa mới giúp cho cuộc đổi đời thành công. Khi người ta có mối tương quan với Chúa, tương quan ấy sẽ có sức mạnh biến đổi họ. Gần đèn thì rạng là thế. Đáp lại đề nghị của Chúa, ông Giakêu “vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người”.
Trong cảnh kế tiếp của câu chuyện, thánh Luca mô tả một ông Giakêu mới. Chúa và ông Giakêu đứng đó trước mặt mọi người. Mặc cho bao con mắt soi mói, ông chỉ biết có Chúa Giêsu hiện diện mà thôi. Ông công khai “xưng tội” với Chúa và trước mặt mọi người. “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em”. Ông nhìn nhận mình đã ăn cướp của người nghèo nên giờ đây ông lấy phân nửa tài sản để trả lại cho người nghèo. Ông thú nhận đã chiếm đoạt nhiều thứ của người khác nên ông tự nguyện xin đền gấp bốn. Quả thực ông đã trở thành con người mới rồi, tất cả là nhờ gặp gỡ Chúa Giêsu! Về phần Chúa Giêsu, Người trang trọng nhìn nhận sự thay đổi của con người Giakêu. Chúa Giêsu trước hết nói về cuộc biến đổi của cái nhà: “nhà người tội lỗi” giờ trở thành “nhà tiếp nhận ơn cứu độ”. Rồi Chúa nói đến sự biến đổi con người. Từ một “người tội lỗi” và bị đồng bào loại trừ khỏi cộng đồng con cháu Áp-ra-ham, bây giờ ông Giakêu được Chúa phục hồi quyền làm “con cháu tổ phụ Áp-ra-ham”.
Sống sứ điệp Tin Mừng
Sau khi nhìn nhận cuộc đổi đời của ông Giakêu, Chúa Giêsu đã khẳng định lại vai trò của Người: “Con Người đến để tìm và cứu chữa những gì đã mất”. Lời này của Chúa làm cho chúng ta vững tâm thay đổi cuộc sống. Chúng ta “đã mất” trong nhiều phương diện, nhất là mất đi căn tính làm con cái Chúa. Thường chúng ta không đổi đời một cách nhanh chóng và ấn tượng như trường hợp ông Giakêu, nhưng là cuộc biến đổi từ từ, liên tục và kéo dài cả một đời. Dù thế nào đi nữa, vai trò sự hiện diện của Chúa Giêsu và cố gắng của chúng ta vẫn là những yếu tố chính để việc biến đổi được tiếp tục. Hơn lúc nào hết, hình ảnh “trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô” (Philípphê 4,10) mà thánh Phaolô nêu lên luôn là hình ảnh sống động nhất diễn tả tiến trình thay đổi. Có lẽ chúng ta sử dụng hình ảnh này mỗi ngày trong cuộc xét mình buổi tối, nhìn lại một ngày sống để xem cuộc đổi đời của chúng ta tiến triển như thế nào.
Chúa Giêsu lúc nào cũng muốn đến để tìm và cứu chữa chúng ta. Cũng như ông Giakêu, chúng ta chỉ cần mở tâm hồn đón Chúa. Chúa muốn ở lại với chúng ta, nên chúng ta hãy để cho người tiếp tục ở lại và thực hiện cuộc tìm và cứu chữa này.
32. Hoán cải từ con tim
Nếu như tuần trước Chúa Giêsu kể dụ ngôn người Biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện để cho chúng ta thấy lòng nhân từ hay thương xót của Thiên Chúa. Thì hôm nay, qua câu chuyện ông Giakêu muốn thể hiện cách cụ thể lòng thương xót đó bằng việc Ngài thương xót và an ủi cho Giakêu khi đến viếng và ở lại nhà ông, một người tội lỗi.
Thế giới và những những gì chứa đựng trong nó chỉ là những hạt cát nhỏ bé, mong manh so với sự vĩ đại lớn lao của Thiên chúa. Nhưng Thiên Chúa yêu thương tất cả các tạo vật ấy. Vì Chúa tạo dựng vũ trụ này chỉ vì tình yêu. Chúa không hề chê bất cứ tạo vật nhỏ bé nào. Vì nếu ngài chê ghét thì không một tạo vật nào có thể tồn tại. Vì thế, mọi vật hiện hữu quanh ta điều có giá trị trước mặt Thiên Chúa cho dù một vài thụ tạo không đi đúng đường lối Ngài thì ngài vẫn tỏ lòng khoan dung để nhắc nhở, sửa dạy hầu chúng biết được lỗi lầm mà bỏ đường gian ác. Đó là tư tưởng của bài đọc I
Bài Tin Mừng sẽ cho chúng ta một ví dụ về lòng thương xót Chúa qua việc Chúa Giêsu tìm được một người thu thuế tội lỗi Giakêu để kêu gọi ông ta sám hối. Sự sám hối này được ông ấm ủ trong lòng bấy lâu qua sự khao khát muốn gặp Chúa Giêsu.
Chắc chắn Chúa Giêsu không xa lạ gì đối với dân thành Giêricô. Vì tại đây, Ngài đã chửa cho một người mù tên Bartimê. Và không biết tình cờ hay ngẫu nhiên mà chúa Giêsu người Samaria nhân hậu xuất phát từ Giêricô. Vì thế, là người giàu có trong thành, Giakêu cũng đã nghe đồn đây đó về Chúa Giêsu và ông muốn gặp Ngài.
Dẫu biết sự khao ấy nơi ông có nhiều khó khăn cản trở: giới hạn về thân xác, là một người lùn “đừng chơi với thằng lé đừng ghé nhà thằng lùn”; giới hạn về tâm hồn, là người không có uy tín mấy, bị khinh khi. Nhưng tất cả những cản trở, những khó khăn đó không ngăn được ước muốn gặp Chúa và ngăn cản đôi chân ông cất bước đi tìm. Bấy nhiêu đó cũng đủ thấy sự cố gắng nổ lực khát khao gặp Chúa xuất phát từ tấm lòng chân thành của ông.
Nhưng sự quảng đại và lòng thương xót của Chúa Giêsu cũng đâu chịu thua sự nỗ lực và cố gắng của Giakêu. Vì Chúa Giêsu đã biết trước Ngài sẽ phải làm gì cho ông hôm nay. Giữa đám đông chen lấn vây quanh Chúa Giêsu. Nhưng Ngài không mấy quan tâm. Vì ánh mắt của Ngài đã hướng lên ngọn cây sung cao chót vót, nơi Giakêu đang ngồi chờ đợi. Điều này chứng tỏ Chúa Giêsu đã quan tâm đến ông cách đặc biệt. Vì thế nếu chúng ta cảm phục trước tấm lòng khao khát Chúa Giêsu cách chân thật nơi Giakêu bao nhiêu thì chúng ta càng phải thán phục trước sự quảng đại và lòng khoan dung của Chúa gấp bội.
Vì Ngài đã không mấy quan tâm đến đám đông reo hò đón rước vây quanh mà lại đoái nhìn đến Giakêu, một người bị xã hội loại trừ khinh bỉ. “Này ông Giakêu hãy xuống mau đi vài hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Cách đối xử của Thiên Chúa hoàn toàn khác và vượt xa với suy nghĩ của con người. Việc Chúa Giêsu đến trọ nhà ông đã nói lên ơn cứu độ của Thiên Chúa không loại trừ một ai. Vì Chúa không nhìn con người với những lầm lỗi của họ. Nhưng Ngài chỉ để ý đến phẩm giá cao quý được đặt để nơi người đó. Và chính cái nhìn thông cảm thấu suốt tâm can của Chúa Giêsu đã làm cho Giakêu cảm phục và hoán cải đời sống. Một sự hoán cải chân thật xuật phát từ con tim bị đánh động bởi lòng quảng đại của Chúa Giêsu.
Chính khi cảm nhận được tấm lòng bao la quảng đại và tình thương của Chúa Giêsu dành cho mà Giakêu đã nhận ra, ý thức được chính mình. Con tim của ông đã bị đánh động và bị chinh phục. Chính sự khao khát của ông đã được đáp đền. Giakêu đã thật sự mặt chạm mặt và lòng gặp lòng với Chúa Giêsu.
Sự hoán cải liền xảy ra ngay lập tức, có thể thấy được và chắc chắn là sự hoán cải này sẽ chi phối suốt cuộc đời Giakêu. Đây không chỉ hoàn toàn là sự hoán cải theo lý trí mà bao gồm cả con tim. Đây mới là sự hoán cải thật sự, đúng nghĩa và là sự hoán cải quan trọng. Nó vượt ra ngoài những suy nghĩ của lý trí và đi đến một hiệu quả sâu xa. Sự sợ hãi của con người không thể có được sự hoán cải này mà chỉ có con tim, chỉ có gặp gỡ và tình yêu.
Chính sự hoán cải này mới có thể thay đổi được lòng người, thay đổi được cái nhìn, biết yêu thương người khác và biết chia sẻ cho nhau. Kỳ thị, ghen ghét... chỉ có thể làm cho con tim đóng kín và trở nên chai đá. Sự thông cảm đón nhận và cách đối xử thân tình của Chúa Giêsu sẽ làm cho con tim nhân lọai trở nên mềm mại và rộng mở. Không có gì có thể làm thay đổi hay có thể hoán cải một con người nếu không phải là con tim.
Để tỏ lòng sám hối thật sự và để Chúa Giêsu không phải thất vọng, Giakêu đã chứng minh bằng một sự từ bỏ và hứa hẹn một cuộc đời công chính. Danh lợi và vật chất giờ đây đối với ông chỉ là phù vân. Vì bấy lâu nay có nó nhưng đâu có ngày nào ông cảm thấy hạnh phúc, bình an. Sống trong nhung lụa nhưng tâm hồn ông vẫn cứ khắc khoải, lo lắng như còn thiếu một điều gì đó. Và Chúa Giêsu đã lấp đầy mọi khoảng trống trong tâm hồn và thỏa mãn mọi khát vọng cuả ông.
Giờ đây ông cảm thấy thư thái, bình an trước cuộc. Đây quả là một sự hoán cải sâu xa xuất phát từ nội tâm của Giakêu. Tất cả chúng ta cũng đang cần sự hoán cải đó. Mỗi người chúng ta cũng có khả năng hoán cải như Giakêu nhưng khả năng đó còn đang bị đóng kín và chưa được khơi dậy. Chúng ta đang sống trong sự khao khát hoán cải mỗi ngày để biến đổi một con tim hẹp hòi thành con tim quảng đại, từ một con tim chai đá cho đến một con tim bằng thịt biết yêu thương.
33. Tôi phải lưu lại nhà anh
(Suy niệm của Lm. Louis Gonzaga Đặng Quang Tiến)
Luca thuật lại hai câu chuyện liên quan đến thành Giêricô: người mù được chữa lành khi Chúa Giêsu đến gần đó (18,35-43), và ông Giakêu khi Người đi ngang qua thành (19,1-9). Câu chuyện Giakêu được đặt ở cuối hành trình lên Giêrusalem (9,51-19,27). Hành trình tạm ngưng khi Người dừng chân ở lại nhà người thu thuế nầy (x. 17,11;18,31). Có thể phân chia bố cục của đoạn như sau: - Bối cảnh dẫn nhập (c. 1); - Giakêu tìm và gặp Chúa Giêsu (cc. 2-6); - Chúa Giêsu đến nhà Giakêu và ban ơn cứu độ cho ông, và kết luận (cc. 7-10). Hai phần chính có cấu trúc hình thức tương tự nhau. Trong phần đầu (cc. 2-6), Giakêu tìm gặp Chúa Giêsu, và bị dân chúng cản trở. Họ che ông khỏi thấy Người, vì ông thấp bé (c. 3). Ông tìm cách vượt qua trở ngại bằng cách trèo lên cây sung (c. 4). Chúa Giêsu đáp lại sự tìm kiếm của ông là đi ngang qua chỗ ông và nói với ông (c. 5). Người đến nhà ông và ông đón tiếp trong vui mừng (c. 6). Trong phần thứ hai (cc. 7-10), Chúa Giêsu đến nhà Giakêu, và bị dân chúng cản trở bằng những lời lẩm bẩm (c. 7). Người vẫn đến và Giakêu đáp lại bằng sự sửa mình của ông (c. 8). Chúa Giêsu vui mừng vì đã cứu vớt được một người con của Abraham (cc. 9-10). Những từ quan trọng liên kết hai phần với nhau đều nằm ở câu 5 và 9 là “hôm nay”, “ nhà” và “Giêsu”. Hai câu nầy là chìa khóa giúp hiểu ý nghĩa của mỗi phần. Từ eis-erchomai “đi vào”(c. 1) và erchomai “đi” “đến” (c. 10) đóng khung đoạn (inclusio), đánh dấu việc cứu độ Chúa Giêsu làm cho Giakêu đã xong tại Giêricô. Dựa trên câu chuyện của Giakêu, có thể thấy việc Giakêu tìm kiếm Chúa (c. 3) đã kết thúc với việc Chúa Giêsu tìm kiếm ông theo chiều ngược lại, và đã cứu vớt ông (c. 10).
Chúa Giêsu vội vã đi ngang qua Giêricô để lên Giêrusalem (c. 1). Động từ “đi ngang qua”, dia-erchomai, gợi lên ý tưởng đi xuyên lãnh thổ, và đi vội vã (x. 2,15; 4,30; 5,15). Người nhắm đến Giêrusalem và không muốn chậm trễ. Tuy nhiên, Người đã tự cầm chân mình lại trong nhà Giakêu để cứu vớt người nầy.
Giakêu tìm và gặp Chúa Giêsu (cc. 2-6). Phân đoạn nầy tập trung vào Giakêu: - Con người và ước muốn (cc. 2-3); - Thực hiện ước muốn và kết quả đến hơn cả lòng mong muốn (cc. 4-6). Cụm từ “Và nầy” mở đầu, dùng để kéo sự chú ý vào điều sắp được trình bày; tương tự như thế khi nói về Simêon (2,25). Luca giới thiệu tên, nghề nghiệp và thân thế của Giakêu (c. 2). Zacchaeus là hy lạp hoá tên hipri Zakkay (Nêh 7,14; Esdra 2,9), có nghĩa là “sạch, vô tội”. Là trưởng thu thuế, nên ông giàu có. Giêricô là trụ sở quan thuế thường được nhắc đến, và đây là thí dụ điển hình.
Giakêu tìm thấy cho bằng được Chúa Giêsu là ai (c. 3). Động từ “tìm kiếm” được dùng rất nhiều lần trong Luca; nhưng ở thể quá khứ chưa hoàn thành, chỉ được dùng cho Giakêu, cho Hêrôđê (9,9) và Giuđa (22,6). Khó có thể nghĩ là độ dài, sự lập lại của việc tìm kiếm của Giakêu chỉ xảy ra cách ngắn ngủi khi Chúa Giêsu vội vã ngang qua thành Giêricô. Nếu như thế, tìm kiếm ấy chỉ là một sự tò mò nhất thời. Sự tìm kiếm nầy phải là đã từ lâu, bây giờ là cơ hội để tìm thấy, như trường hợp của Hêrôđê (x. 23,7-8) và Giuđa (22,47). Động từ nầy thường hàm ý là tìm cho đến khi nào thấy được (2,48.49; 9,9). Tuy Giakêu đã đi tìm, chính Chúa Giêsu mới là người tìm thấy ông (c. 5). Người tỏ mình ra cho ông, như trong khẳng định “Ai tìm sẽ được cho” (11,9-10; 12,31). Sự thấp bé của Giakêu là sự kiện chứ không phải là nguyên nhân. Dân chúng mới là nguyên nhân “vì dân chúng” (c. 3). Họ cản trở không cho ông nhìn thấy Chúa Giêsu, cũng như họ không muốn Người đến nhà ông (c. 7). Đáng ngạc nhiên là Luca trình bày phản ứng của dân chúng tương tự như phản ứng của những người Pharisêô (x. 5,30; 15,2).
Khung cảnh thu nhỏ lại hơn. Chúa Giêsu “đi ngang qua Giêricô” đến “đi đến” chỗ cây vả nơi có Giakêu (c. 4). Chúa Giêsu dừng lại ở đó. Tên “Giêsu” được nêu rõ ở đây, cũng như ở câu 9, chỉ sự quan trọng của điều Người sắp nói: “Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà anh” (c. 5). Chúa Giêsu lên chương trình cho Giakêu. Ông phải “xuống mau” vì Người đang vội vã đi lên Giêrusalem. Nhưng Người “phải” ở lại, vì đó là sứ mệnh cứu độ của Người (x. 2,49; 4,43; 9,22…). “Hôm nay” sẽ được lập lại trong c. 9 chỉ thời điểm ơn cứu độ được thực hiện (2,11; 4,21; 5,26; 23,43). “Nhà của anh” đại từ chỉ ngôi “của anh” đặt sau “nhà” là vị trí nhấn mạnh. “Ở lại” là một phần của việc tông đồ (x. 1,56; 9,4; 10,7; 19,5; 24,29). Giakêu đã trèo lên để tìm xem Chúa (c. 4). Bây giờ ông trèo xuống vì đã gặp Người (c.6). “Vội vã” chỉ sự khao khát (x. 2,16). Động từ “đón tiếp” hàm ý sự hiếu khách (x. 10,38). Ông vui mừng vì Chúa ở lại nhà ông. Luca thường nói đến niềm vui của những người được Thiên Chúa can thiệp và cứu độ (x. 1,14; 1,28; 6,23; 10,20; 13,17; 19,6). Như thế, Giakêu đã nhận được nhiều hơn cả điều ông mong ước.
Chúa Giêsu đến nhà Giakêu và ban ơn cứu độ cho ông (cc. 7-10). Động từ “cho” và “hoàn trả” (c. 8) ở thì hiện tại hiểu như là tương lai gần: “tôi sẽ cho”, “tôi sẽ hoàn trả lại” (x. 4,6; Cv 3,6). Giakêu đã không làm điều nầy trong quá khứ. Ông đã đặt giả thiết là ông có thể đã làm thiệt hại ai đó trong quá khứ (c. 8). Nên không lạ gì dân chúng nghĩ ông là “người tội lỗi” (c. 7). Do đó, quyết định nầy chứng tỏ ông đã hoán cải. Và Chúa Giêsu mới tuyên bố là “hôm nay ơn cứu độ đến với nhà nầy” (c. 9), và “Người đến để cứu vớt những người hư mất” (c. 10). Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đã biến đổi đời ông. Động từ “sykophante” có nghĩa là “gian lận”, “áp bức”, “hăm dọa tống tiền” (x. 3,14). Làm nghề thu thuế, Giakêu gian lận tiền bạc của người khác cho chính mình. Dựa vào luật Môse, phải đền trả lại “gấp bốn” (x. Xh 21,37; 2 Sam 12,6) hay “gấp năm” (x. Lv 6,5; Ds 5,6-7).
Như câu 5 ở trên, Chúa Giêsu lại tuyên bố (c. 9), và lần nầy Người nói đến sự cứu độ cho Giakêu, “người con của Abraham.” “Cứu độ” được gắn liền với “hôm nay”; xem ở trên. “Con cháu của Abraham” không phải chỉ do bởi sự thuộc về dân tộc Do thái. Chúa Giêsu đã phê bình những người tự hào là họ có Abraham là tổ tiên, nhưng thiếu lòng hoán cải (x. 3,8). Chính sự hoán cải trở về với Thiên Chúa mới chứng thực ai là con cái của Abraham. Giakêu đã làm điều nầy và đáng được gọi là con cái của Abraham. Câu 10 lấy lại ý tưởng của câu 5,32 với nhiều thay đổi từ ngữ. Đó là “đến tìm kiếm” và “những người hư mất”, thay vì nói đến việc kêu gọi “người tội lỗi hoán cải”. Việc thay đổi từ ngữ nấy nhằm nhấn mạnh sứ vụ mục tử của Chúa Giêsu; xem dụ ngôn đi tìm chiên lạc (15,4-7). Tước hiệu “Người Con của Nhân Loại” gắn liền với cuộc thương khó, sự chết và vinh quang (9,26.44; 12,8; 22,69); đồng thời cũng gắn liền với những người thu thuế và tội lỗi (7,34; 19,10). Họ là những người đầu tiên “phải” được tìm đến và cứu chuộc. Vậy như lời hứa với Abraham (1,73), Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót với con cháu của ông (1,55) qua việc ban ơn cứu độ cho Giakêu.
Thiên Chúa vẫn còn đi ngang qua trần gian nầy để tìm kiếm và cứu độ những người đã hư mất. Hãy mở cửa nhà cho Chúa. Mời Người vào và lãnh nhận ơn cứu độ.
34. Sống đức ái
(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
Một ngày nọ, Mẹ Têrêsa nhận được 15 đôla do một người bị bất toại đã 20 năm gửi tặng. Ông ta bị toàn thân bất toại chỉ còn bàn tay phải là có thể cử động được. Ông sống trong cô đơn và chỉ có một người bạn duy nhất là điếu thuốc lá.
Hôm ấy, Mẹ Têrêsa đến thăm, an ủi ông và ông đã nói với Mẹ:
- Thưa Mẹ, con đã ngừng hút thuốc từ một tuần nay, và đây là số tiền con dành dụm được. Con xin biếu Mẹ để Mẹ mua cơm bánh cho những kẻ nghèo khó.
Thật quý hóa cho một tâm hồn cao thượng. Biết tích góp từ những đồng tiền ít ỏi của mình để trao tặng tha nhân. Người ta nói rằng: trên đời này, không ai nghèo đến nỗi không có gì để chia sẻ với người khác và cũng không ai giàu đến độ không thể nhận thêm được cái gì của người khác! Với số tiền nhỏ bé 15 đôla kia, Mẹ Têrêsa đã mua cơm bánh cho người nghèo đói, và cả hai -người bất toại trong việc cho đi và người nghèo đói trong việc nhận lãnh- đều cảm nhận được một niềm vui sâu xa. Có lẽ nhiều lần chúng ta đã dễ dàng quên đi một sự thật căn bản này là: mỗi một dịp chia sẻ với người khác tức là một lần đón nhận niềm vui của một tâm hồn biết cho đi. Thế nhưng, chúng ta vẫn để cuộc đời trôi qua trong tẻ nhạt vì lạnh vắng tình người.
Thực ra, giá trị cuộc đời con người nằm ở chỗ có khả năng trao ban. Người càng trao ban nhiều thì càng có giá trị với cộng đoàn, với xã hội. Ai không biết trao ban sẽ trở thành vô ích với xã hội loài người. Cho dù họ có lắm tiền nhiều của hay chức vọng cao sang thì cũng vô giá trị với anh em nếu không biết sống trao ban. Trao ban còn cho ta niềm vui của cuộc sống khi nhận ra mình thật có ích với tha nhân. Chúng ta có thể trao ban cho tha nhân tiền tài, tình yêu, sự chia sẻ, lòng cảm thông. Chúng ta có thể trao ban lời nói và hành động ngay cả ánh mắt của sự đồng cảm yêu thương. Trao ban sẽ tạo cho ta mối giây liên hệ gắn kết với tha nhân, cộng đoàn. Trao ban sẽ tạo cho ta niềm vui vì thấy người khác vui nhờ sự chia sẻ của chúng ta.
Đây là niềm vui của Giakêu khi ông biết cho đi. Có lẽ cuộc đời ông trước kia chỉ đón nhận, chỉ biết vun quén, có khi vun quén bằng những hành vi bất chính. Ông có tiền và rất giầu. Ông có kho lẫm tích trữ rất nhiều nhưng ông không có niềm vui tâm hồn. Ông biết rằng khi trao ban mới có niềm vui nhưng ông không tìm được lý do để trao ban. Cho tới khi ông gặp Thầy Giêsu, ông mới mạnh dạn làm cái điều mà mình hằng thổn thức, hằng ước mong. Thầy Giêsu là động lực để ông dám trao ban cả một khối gia tài mà trước đây ông vun quén, ông xây kho lẫm để chất cho đầy. Khi có Thầy Giêsu, ông chỉ muốn dùng tài sản của mình để đền bù cho những ngày tháng mình quá ích kỷ. Ông muốn làm việc nghĩa. Ông sẵn sàng làm tất cả để chuộc lại lỗi lầm. Giờ đây ông biết rằng: tiền bạc chẳng mua được hạnh phúc và càng không mua được Nước trời.
Cuộc đời quanh ta cũng có biết bao cơ hội để ta trao ban nhưng dường như chúng ta vẫn để cơ hội ấy lặng lẽ trôi qua. Chúng ta vẫn sợ cho đi mình sẽ thiệt thòi. Chúng ta vẫn ích kỷ không dám cho đi vì sợ người ta hơn mình. Chúng ta vẫn cố nắm giữ cho mình mà ít nghĩ tới việc trao ban. Thế nên, cuộc đời chúng ta vẫn lặng lẽ trôi qua trong âm thầm tẻ nhạt.
Ước gì mỗi lần chúng ta đến với Chúa sẽ cho chúng ta cơ hội để trao ban. Có Chúa là gia nghiệp, là hạnh phúc vượt trội hơn mọi danh vọng, vật chất trần gian. Có Chúa là lẽ sống sẽ giúp chúng ta làm một điều gì đó cho Chúa vui lòng như Giakêu đã thành tâm sám hối chuộc lại lỗi lầm. Ông đã bố thí, đã trao ban nhờ đó ông ngập tràn niềm vui trong tâm hồn. Xin cho chúng ta cũng biết noi gương Chúa biết sống cho đi mà không tính toán, cho đi cả mạng sống mình vì hạnh phúc tha nhân để nhờ đó chúng ta được sống mãi trong tình thương của Chúa. Amen.
35. Viếng thăm nhau
(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II được coi là sứ giả của Thiên Chúa, và là con người của muôn người. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đã thực hiện trên 100 chuyến công du đến 129 quốc gia để gặp gỡ và chung sống với đủ mọi thành phần trong xã hội, đủ mọi dân tộc trên khắp Năm Châu. Dù tuổi già sức yếu, hai lần té gãy xương, thậm chí cuộc ám sát năm 1981 đã khiến ngài từng ngã qụy vì viên đạn bắn gần vào tim, nhưng tất cả vẫn không làm chùn bước chân của người mục tử đi đến với đoàn chiên và tìm chiên lạc trở về.
Ngài đã thực hiện một chuyến viếng thăm lịch sử, một chuyến viếng thăm đã chinh phục được toàn thể luơng tâm nhân loại. Đó là khi Ngài dừng chân bên bức tường Than Khóc. Tại đây, ngài lập lại lời xin lỗi cho cả một quá khứ hiểu lầm đầy đau thương. Đây quả thực là một cuộc viếng thăm đã san bằng con đường gồ ghề gai góc và mở ra một chân trời mới.
Chân trời của sự tha thứ lẫn nhau.
Chân trời của sự tin tưởng lẫn nhau
Chân trời của những chân lý chung
Chân trời của những trách nhiệm chung
Và chân trời của sự cầu nguyện chung.
Đức thánh Cha Đức Bênêdicto 16 cũng ra đi, để đến với muôn dân. Đặc biệt trong chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối tháng 11/2006, ngài đã thực hiện một chuyến viếng thăm đầy mạo hiểm theo cái nhìn người đời, nhưng là bước đi đầy lòng cậy trông và phó thác vào Thiên Chúa quan phòng. Ngài đã đánh đổ mọi cái nhìn lệch lạc về ngài khi ôm chúc bình an với Đức Thượng phụ Bathôlômêô I, và khi ngài bước vào Đền Thờ Xanh trong sự kính trọng và đầy thiện cảm của anh em Hồi Giáo. Chính chuyến tông du có tính lịch sử này, giới truyền thông trên toàn thế giới cho rằng ngài đã đóng góp: “cho việc xây dựng một thế giới có khả năng nhận ra những chân lý chung trong tình huynh đệ và đối thoại, và không chiều theo đối kháng hay đầu hàng quyền lực sự chết”.
Trong cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu luôn đi đến với mọi người. Mỗi bước đi của Ngài luôn để lại dấu ấn đầy yêu thương cho những ai được tiếp xúc với Ngài. Hôm nay, Giakêu đã được Chúa viếng thăm. Đây là một hồng phúc dành cho Giakêu. Gia Kêu không ngờ mình lại được Thiên Chúa viếng thăm. Những người Do Thái năm xưa càng không ngờ Thầy Giêsu, một vị Thầy đáng kính, một người thánh thiện lại ghé thăm kẻ tội lỗi. Nhưng đây lại là đường lối của Chúa. Chúa đã dùng cách này để mang tình yêu đổi lấy cuộc đời Gia Kêu. Chúa dùng tình yêu để cải hoá người tội lỗi. Chúa đến để tìm kiếm, để cứu chữa những gì đã mất. Chính trong chuyến viếng thăm lịch sử này, Chúa đã đổi đời Gia Kêu để từ đây ông không còn tham lam quyền bính hay tham lam tiền bạc. Gia Kêu đã sám hối và chuộc lại lỗi lầm. Ông đã cho đi những của phù vân. Ông đã biết dùng của cải đời này mà mua lấy bạn hữu Nước Trời mai sau. Ông còn bỏ tiền để đền bù những việc lỗi công bằng bác ái mà ông đã gây ra. Ông đã tìm được sự bình an của tâm hồn sau một lần được Chúa viếng thăm.
Con đường đến với anh em phải là con đường của các môn đệ Thầy Giêsu. Hãy ra khỏi chính mình để đến với anh em. Hãy tìm đến các con chiên lạc mà đưa về ràn. Hãy hội nhập với đời để đem đạo vào đời. Chúa đã đi vào đời để gieo chân lý, niềm tin và hy vọng. Là môn đệ của Chúa cũng cần bước theo dấu chân của Thầy Giêsu. Dấu chân luôn rong ruổi khắp mọi nẻo đường. Dấu chân của người môn đệ đi đến đâu, sẽ để lại cho đời một màu xanh của yêu thương và hạnh phúc bình an. Ước mong mỗi người chúng ta hãy can đảm vượt qua những trở ngại từ bản thân, từ môi trường để dấn thân cho Tin mừng của Chúa được đến với muôn người. Hãy xoá mọi thành kiến xấu nơi anh em để có thể hoà hợp với anh em. Hãy xoá bỏ mọi ngăn cách giầu nghèo hay địa vị cao thấp mà sống hoà đồng với anh em. Hãy xoá bỏ mọi hiềm khích hận thù để sống bác ái yêu thương nhau ngõ hầu làm sáng danh Chúa qua những dấu chỉ của tình yêu thương.
Nguyện xin Chúa là Đấng đã viếng thăm Giakêu xin cũng lưu lại nơi cuộc đời chúng con để biến đổi chúng con thành những tín hữu biết sống công bình bác ái và dấn thân hết mình phục vụ tha nhân. Amen.
36.Dám nhận cái sai để sửa
(Suy niệm của Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
Xã hội hôm nay sao kiếm được con người tử tế thật khó! Người tử tế biết nhận cái sai để sửa, biết nhận lỗi lầm mình mà ăn năn hầu sống đẹp hơn. Trái lại, người không tử tế dầu biết sai nhưng vẫn cố chấp, vẫn tìm cách bào chữa bản thân và không bao giờ nhận tội về mình.
Có một câu chuyện vui về Người Tử Tế như sau:
“Ði mua bao thuốc lá 20k đưa chủ tiệm 50k, được thối lại 40k, đút túi bỏ về. Anh chủ tiệm chạy theo kêu:
- Chú em, chú để quên không lấy bao thuốc lá nè.
Trên thế gian vẫn còn nhiều người tử tế, tôi nghĩ mình thật tồi tệ. Xúc động rút tờ 10k ra đưa lại cho anh:
- Lúc nãy anh trả dư em 10k này!
Anh chủ tiệm cũng cảm động:
- Thôi, chú đưa lại anh bao thuốc lá, anh đổi cho bao thuốc lá thật.
Hành động của anh lại làm tôi mủi lòng. Trên thế gian sao lại có người cũng thật thà như mình. Tôi tỏ vẻ hận:
- Anh đưa tờ 50k hồi nãy cho em, em đổi cho anh đồng tiền thật.
Cầm tờ giấy bạc, anh chủ tiệm rơm rớm nước mắt:
- Thôi chú đưa anh tờ 10 ngàn lúc nãy, anh đổi cho tờ thật.
Híc! Người ta tốt thế mà mình tồi tệ quá... Tôi rụt rè móc cái điện thoại ra:
- Cái này của anh, lúc nãy em lỡ tay... xin trả lại.
Anh chủ tiệm cảm động, tay run run... Anh rút ra một cái ví:
- Cái này của em, anh cũng xin trả lại em.
Dầu là người xấu nhưng thấy sai dám nhận, dám sửa vẫn đáng kính trọng biết bao. Xét cho cùng “nhân vô thập toàn” ai mà chẳng có lúc sai nhưng chỉ đáng xấu hổ là không dám nhận cái sai mà sửa, đôi khi còn “vừa ăn cướp vừa la làng” hay “cả vú lấp miệng em” để che lấp tội lỗi của mình.
Hôm nay tin mừng cho ta thấy hình ảnh thật đẹp của Giakêu. Ông đã từng lún sâu trong tiền bạc. Ông đã từng tham lam vô độ đến nỗi chỉ lo vun quén cho bản thân và lỗi công bình với tha nhân. Nét đẹp của ông là khi gặp được Chúa ông đã thay đổi cái nhìn về cuộc sống. Ông không coi của cải là lẽ sống. Ông không tìm thỏa mãn nơi tiền tài. Ông dám nhìn nhận cái sai mà sửa. Ông nhìn nhận mình đã tham lam nên dùng nửa số tiền để đền bù. Ông đền bù cả lãi lẫn lời lên tới gấp 4 lần. Ông còn tiến tới đức ái hoàn hảo là làm việc phúc đức cho người nghèo với mong phần nào đền bù tội lỗi quá khứ của mình.
Xem ra người tử tế phải là người thấy sai là sửa. Người tử tế không cố chấp ở lì trong tội. Người tử tế dám nhận lỗi, dám chuộc lỗi và làm lại cuộc đời. Thực ra, không có cuộc trở về nào là quá muộn, chỉ cần quay trở về thì chúng ta đã bước ra ánh sáng và khuôn mặt chúng ta sẽ đẹp trước mặt Chúa và tha nhân.
Xin Chúa giúp chúng ta biết ăn năn sám hối lỗi lầm của mình, biết can đảm chuộc lại lỗi lầm bằng sự đền bù, bằng sự dấn thân sống có ích cho cộng đoàn và xã hội. Xin đừng vì cố chấp mà đánh mất đi cơ hội làm lại cuộc đời, nhưng luôn trỗi dạy sau những lần vấp ngã để kiện toàn con người mình mỗi ngày một tốt hơn. Amen.
37. Tầm cao của Phúc Âm
(Suy niệm của Achille Degeest)
Giakêu là một người giàu có. Sự giàu có của ông có thể khiến cho người ta có lý do chính đáng nghi ngờ ông tham nhũng. Thật vậy, phụ trách thu thuế cho người La mã chiếm đóng xứ sở mình, ông trích ra những khoản đáng kể làm của riêng, lấy ở những số tiền thuế do ông quản lý. Vậy mà Đức Giêsu đã không nề hà đến thăm, lưu lại nhà ông, đem đến cho ông ơn cứu rỗi. Đoạn kết bài tường thuật nhấn vào ý nghĩa sứ vụ của Chúa là đến cứu rỗi nhân loại. Vấn đề đặt ra ở đây là gì? Ơn cứu rỗi đối với ông Giakêu phải chăng là bố thí rộng rãi và hoàn trả gấp bội số tiền phù thu lạm bổ? Chúng ta không nên tách riêng đoạn Phúc Âm hôm nay với giáo huấn tổng quát của Đức Kitô về của cải thế gian. Mọi của cải thế gian, mọi sự giàu có, bất lương hay lương thiện cũng vậy, đều có xu thế chiếm đoạt tâm hồn, đều được chứa đựng hiểm họa gây thiệt hại cho kẻ khác. Muốn được cứu rỗi thì phải cố lên tới tầm mức Nước Thiên Chúa, ở độ cao ấy tâm hồn tự giải thoát khỏi sự chi phối của tiền bạc để có thể thờ phụng Thiên Chúa và đối xử với đồng loại bằng một tình huynh đệ thực tế và công bằng. Tình thương công bằng cho đồng loại, ưu tiên tuyệt đối cho Thiên Chúa, đó là tầm cao ơn cứu rỗi của Phúc Âm. Thế mới biết, những viễn ảnh muốn nhìn Phúc Âm như một hệ thống bình đẳng đáng ngờ trong hưởng thụ của cải đời này, quả là một lối nhìn thiển cận biết chừng nào. Phúc âm trong thực tế chủ trương công bằng xã hội, chính là vì Phúc Âm nhắm một mục tiêu vượt xa đời này vô cùng. Ơn cứu rỗi của Phúc Âm ở tầm cao của đức tin và trong trật tự đức tin. Do đó có hai câu hỏi:
1) Ai dám tự phụ hoàn toàn không mắc cái “tội” của ông Giakêu?
Kitô hữu nào thật sự giàu hoặc thèm muốn giàu mà không cần lo giải thoát tâm hồn mình khỏi sức hấp dẫn của tiền bạc? Tới đây, chúng ta phải đề phòng kẻo rơi vào một ảo tưởng. Sống trong hoàn cảnh đầy đủ, người ta có thể ngay lòng xác nhận mình không bận tâm về của cải thế gian. Nhưng trong hoàn cảnh may mắn ấy, người ta có đặt ưu tiên cho việc thờ phụng Thiên Chúa không? Vì ở đây không chỉ là giá trị của sự từ bỏ những điều giam hãm tâm hồn, ở đây là giá trị của sự thờ phụng và kính mến Thiên Chúa hằng sống.
2) Đức Giêsu có ghét bỏ Giakêu kẻ giàu có không?
Chúng ta biết rõ Đức Giêsu nghĩ gì về sự giàu có. Thế mà Người đối thoại với những kẻ giàu. Chúa đứng về phía những kẻ hèn mọn, nghèo khổ, Chúa bênh vực quyền lợi họ, nhưng không lấy đó làm vũ khí chống kẻ giàu có. Chúa không hô hào bần cùng hóa nhà giàu và tư hữu hóa kẻ nghèo. Tất nhiên Đức Giêsu tiếp lời các ngôn sứ giảng dạy về sự Thiên Chúa đòi hỏi gắt gao phải đối xử công bằng. Nhưng Đức Giêsu đi xa hơn nữa, Người nhắm vấn đề cơ bản. ‘Người này cũng là con cái Abraham’, Chúa nói như thế về ông Giakêu ăn năn trở lại. Vậy thì, con cái Abraham, nghĩa là gì? Là đặt niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa và tin cậy sắt đá vào Thiên Chúa. Dòng dõi thiêng liêng Abraham tập hợp và liên kết chặt chẽ với nhau trong niềm tin vào Đức Kitô. Kẻ nào thành thật sống niềm tin ấy thì tìm được thái độ thích đáng là không gắn bó thiết tha với sự giàu có, giàu có thật sự hoặc giàu có trong mơ ước thèm khát cũng vậy.
38. Hãy thương xót như Cha trên trời
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
Phụng vụ Lời Chúa tuần này lại vang lên như tiếng chuông nhắc bảo chúng ta về tình yêu và lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, đồng thời mời gọi ta thực thi lòng thương xót.
Chúa thương xót mọi loài, và yêu thương mọi tạo vật (x.Kn 11,21-26). Thương xót đến đô “nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người …không ghét bỏ bất cứ vật gì Chúa tác thành” (Kn 11, 23). Lòng thương xót ấy được cụ thể hóa nơi hành động của Chúa Giêsu đối với tội nhân và những người cùng khổ, Ðấng đã khẳng định rằng Người đến không phải để kêu gọi những người công chính, nhưng để kêu gọi những người tội lỗi (x. Lc 5,32). Trình thuật về cuộc hoán cải của ông Giakêu trong phụng vụ Chúa Nhật hôm nay là một bằng chứng (x. Lc 19, 1-10).
Giakêu, người thấp bé. Đây không phải là một chuyện nhỏ, nhưng là một nỗi đau đối với ông. Trong trí ông luôn mang trong mình sự ảm ảnh mình bị chế giễu và loại trừ, ông là người đau khổ. Ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì để trả miếng: thậm chí trở thành người thu thuế cho ngoại bang. Đây là nghề không lành mạnh, dễ bị loại ra khỏi đời sống tôn giáo và xã hội, vì thông đồng với người Rôma, kẻ chiếm đóng và bóc lột đồng bào. Nhưng điều đó không quan trọng đối với ông, ông biết, ông có thói quen bị loại trừ. Trở thành một viên thu thuế quyền thế giàu có. Giakêu, như những người khác, đã thu về một khoản tiền lớn từ bàn thu thuế, nhưng sự yêu mến tiền bạc không phải là động lực chính của ông, ông muốn có được sức mạnh trên những kẻ coi thường ông. Vì thế, ông xa cách họ, tránh xa các cuộc tấn công của họ, và ở trên họ.
Nhưng điều trên không làm cho Giakêu chìm vào bóng tối. Con người biết tính độc ác đích thực của mình. Trong sâu thẳm của coi lòng, có cái gì đó lợi hơn: khát khao Thiên Chúa. Giakêu là người con của lời hứa và Thiên Chúa đã không quên ông. Thế là, Chúa Giêsu rảo khắp các ngả đường, giảng dạy trong hội đường. Lời giảng dạy của Chúa Giêsu thấu đến tai Giakêu như cá gặp nước, củi khô gặp lửa. Người đã nhóm lên trong lòng Giakêu ngọn lửa không hề bị dập tắt từ Thiên Chúa. Giakêu, kẻ thu thuế đã nghe nói về các phép lạ của Đấng Tiên Tri, và rằng Chúa Giêsu không bao giờ từ chối những người tội lỗi. Ông chộp lấy cớ hội, quyết định tiến lại gần Chúa Giêsu.
Để đến được với Chúa Giêsu không phải là dễ, ông gặp phải sự cản trở của bản thân vì thấp bé, của đám đông. Họ sẽ nhận ra và lại chế giễu ông thấp bé, quyền lực, giàu có, bóc lột đồng bào. Họ sẽ khinh thường ông, làm cho ông xấu hổ, báo thù khơi dậy báo thù. Nhưng Giakêu không bỏ lỡ cơ hội, ông sẽ thấy Chúa Giêsu đang đến gần, không gì có thể cản trở ông được.
Vì thế, ông trèo lên cây, ẩn mình trong những tán lá để xem Chúa Giêsu mà không bị ai nhìn thấy, ông tìm cách tiếp cận, với hy vọng những tán lá sẽ bảo vệ ông khỏi đám đông. Nhưng Chúa Giêsu đi ngang qua. Người tiến lại gần, ngước mắt nhìn ông và gọi “Giakêu”. Giakêu có nghĩa là “Chúa nhớ lại”. Thiên Chúa nhớ đến kẻ yếu người nghèo, với lòng thương xót “Giakêu, hãy xuống mau” (Lc 19,5).
Cố gắng của con người xem ra vô dụng, khi dùng cả sức mạnh của mình để vươn lên tới Chúa, tới Trời: “các ngươi sẽ nên như các thần” con rắn cám dỗ Ađam như thế. Giakêu khi ở trên cao, ông khám phá ra rằng để có được điều ông tìm kiếm, ông phải đi xuống. Thiên Chúa đã hạ mình xuống với con người. Thiên Chúa đã trở nên thấp và nhỏ bé, ở dưới gốc cây. Giakêu vui sướng thấy Chúa.
Chúa Giêsu đã giao hòa Giakêu với Thiên Chúa, và với mọi người. Tiếng gọi của Chúa Giêsu đặt Giakêu vào giữa cộng đoàn, khiến ông quên đi sự báo thù, mở lòng ra để đón nhận ơn tha thứ, niềm vui này Giakêu chia sẻ với anh em. Chúng ta đừng có nhầm: Giakêu không vứt bỏ tiền vì đã gặp được Chúa, ông không còn thích nữa. Chính sự dâng cúng này, Giakêu cho thấy ông không còn cần quyền lực để bảo vệ mình giữa mọi người nữa. Cuối cùng, ông đã nhận ra họ là anh em. Trước kia ông sống trong cô đơn, nay ông khám phá ra niềm vui của một tình yêu sâu thẳm vô điều kiện ở nơi Chúa Giêsu. Vì vậy, hạnh phúc của ông là đáp lại anh em mình, bằng cách chia sẻ tài sản của ông, mở ra một mối quan hệ mới với họ, dựa trên công lý.
Trong một văn bản khác của Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định rằng, người giầu rất khó vào Nước Trời (x. Mt 19,23). Trong trường hợp của ông Giakêu, điều xem ra không thể, lại được thực hiện: thánh Girolamo giải thích rằng “ông Giakêu đã cho đi sự giầu có của ông và lập tức thay thế nó bằng sự giầu có của nước trời” (Bài giảng 83,3). Và thánh Massimo thành Torino nói thêm: “Ðối với những người dại dột, của cải giầu sang dưỡng nuôi sự bất chính, trái lại đối với những người khôn ngoan chúng trợ giúp nhân đức; cơ may cứu rỗi được cống hiến cho những người khôn ngoan, còn đối với những người dại dột sự vấp ngã khiến cho họ hư mất” (Bài giảng, 95).
Chúa Giêsu kết thúc: “Con người đến tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất” (Lc 19,10), “điều đã hư mất” chứ không phải là “kẻ bị mất”. Đây không phải là Giakêu đã mất. Khi cô lập với anh em mình, ông đã mất niềm hy vọng tìm thấy Thiên Chúa. Chúa Giêsu mang lại cho ông niềm hy vọng khi nói với ông: “Giakêu, hãy xuống mau!”.
Thiên Chúa không loại trừ ai hết, người nghèo cũng như người giầu. Thiên Chúa thấy nơi mỗi người một linh hồn cần cứu vớt. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta: hãy noi gương Chúa và thực thi lòng thương xót như Cha trên trên! Hôm nay ơn cứu độ của Chúa đến với chúng ta ; “Hôm nay, Ta phải lưu lại tại nhà ngươi” (Lc 19,5). Mỗi ngày, hãy đến với Chúa Giêsu, là chủ nhà của tâm hồn chúng ta và là Thầy của đời ta. Amen.
39. Chúng ta thì giống như Giakêu
(Trích dẫn từ ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)
Một số người khiếp hãi về cách cư xử của Chúa Giêsu. Bài Phúc Âm ngày hôm nay cho chúng ta thấy những người bàng quan đã không bằng lòng với chú ý đặc biệt mà Chúa Giêsu đã dành cho Giakêu. Bài Phúc Âm ngày hôm nay cho chúng ta thấy những người bàng quan đã không bằng lòng với chú ý đặc biệt mà Chúa Giêsu đã dành cho Giakêu, người bị đóng nhãn như một người tội lỗi. Thật ra họ đã bị sốc và họ phải xì xào bàn tán chống lại Chúa Giêsu.
Mặc dầu không được chuẩn nhận từ đám đông, Giakêu đã làm một quyết định đúng. Ông nhận thấy rằng Chúa Giêsu, Đấng có thể làm cho ông trở lại đường ngay chính bằng cuộc sống của mình. Ông hiểu rằng, Chúa Giêsu có đầy đủ tình yêu và lòng nhân từ. Giakêu cũng đã xác định được, ông ta sẽ không đi đến với bất cứ ai hoặc bất cứ điều gì có thể ngăn cản ông gặp gỡ Chúa Giêsu, không phải sự bất bình của những kẻ phán xét ông không có giá trị gì, và hình hài nhỏ bé của ông cũng không thể ngăn cách ông thấy Chúa Giêsu từ trên đầu của đám đông.
Tôi tưởng tượng ra Giakêu giống như một đứa trẻ khi cha mẹ chúng đang đi ngang qua. Ông bị những người trưởng thành che khuất tầm nhìn. Ông đã nhảy lên nhảy xuống nhưng vẫn không thể thấy những gì đang xảy ra. Giakêu biết rằng không một người nào giúp ông nhưng ông có một ý tưởng để tự giúp mình. Ông đã chạy tới phía trước để trèo lên một cây vả và ở đó ông có thể thấy Chúa Giêsu, khi ở trên đám đông ông cố gắng nín thở để quan sát một cách cẩn thận, nhưng sự kinh ngạc của ông thì không phải ông chỉ thấy có Chúa Giêsu nhưng ông đã thật sự nghe Ngài nói. Chúa Giêsu đã gọi đích danh tên ông, Giakêu đã ngạc nhiên làm sao Chúa Giêsu biết ông là ai. Có phải Chúa Giêsu đã nghe về những tội lỗi khủng khiếp của ông không? Một người nào đó đã chỉ ông cho Chúa Giêsu phải không? Tiếp đó, ông nhận ra những gì Chúa Giêsu đang nói: “Giakêu, hãy xuống nhanh lên, Ta sẽ lưu lại nhà ngươi hôm nay”. Ông vội vàng trèo xuống khi biết rằng ông đang ở trên cây và ông đã hộ tống Chúa Giêsu đến nhà ông. Ông hứa sẽ thống hối, sẽ thay đổi để theo những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, đó là một ngày hạnh phúc trong đời ông.
Những gì Chúa Giêsu đã làm cho Giakêu, nay Ngài cũng làm cho chúng ta. Ngài đã bước vào trong thế giới của chúng ta, thế giới mà sự thật là nhà của người tội lỗi. Chúng ta đã được chúc phúc bằng cách cư xử bất ngờ của Con Thiên Chúa. Cho dù những người khác có thấy đó là gương mù hay không, chúng ta phải làm một quyết định đúng là tìm kiếm Chúa Giêsu, nâng tầm nhìn của chúng ta lên trên những người loại bỏ Chúa Giêsu hoặc nhìn Giáo Hội một cách khinh miệt. Với đôi mắt của đức tin, chúng ta tháy Chúa Giêsu như là Đấng cứu độ của chúng ta, và với đôi tai đức tin chúng ta nghe Ngài nói với chúng ta. Vào ngày chúng ta chịu phép rửa Ngài đã gọi tên chúng ta, Ngài đã biết chúng ta là ai bởi vì Cha Ngài là Đấng Sáng Tạo chúng ta, đã chỉ định chúng ta cho Ngài. Chúng ta đã trở thành con cái của Thiên Chúa.
Trở lại vấn đề, Chúa Giêsu đã không trở thành người khách của chúng ta như Ngài đã là khách của Giakêu, nhưng chúng ta đã trở thành khách của Người. Phép rửa đã mở ra cho chúng ta cánh cửa vào nhà Người là Giáo Hội, nơi mà Chúa Giêsu, chủ của chúng ta đang mời gọi chúng ta tới bàn tiệc thánh, là Thân Mình và Máu Người trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta có một đặc ân kỳ diệu vào mỗi ngày Chúa Nhật và mọi ngày nếu chúng ta muốn.
Chúa Giêsu trông đợi chúng ta sẽ thay đổi bất cứ những gì phải xếp đặt lại để theo giáo huấn của Ngài, như Giakêu đã làm. Vào lúc kết Thánh Lễ, chúng ta đã nghe nói: “Hãy đi trong bình an, để yêu thương và phục vụ Thiên Chúa”. Đó là lời hứa của chúng ta trung thành với ý muốn của Thiên Chúa.
Chúng ta không bị sốc bởi cách cư xử của Chúa Giêsu, chúng ta phải sung sướng nghĩ rằng Ngài đã đến để tìm kiếm chúng ta và cứu thoát những gì đã hư mất. Giống như Giakêu chúng ta phải là những kẻ được chúc phúc bởi tình yêu Thiên Chúa và lòng nhân từ của Người.
40.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)
Đây là một câu chuyện thật chứ không là một dụ ngôn. Ông Dakêu là một ông trưởng nhóm thu thuế giàu có, nhưng ông không được mọi người tôn trọng vì ông là một người thu thuế. Quanh ông có một đám đệ tử thu thuế và ông rất giàu, một đại gia tham nhũng. Ông nghe nói đến ông Giêsu rất nhiều nhưng không gặp được Ngài. Có lẽ ông đã nghe nói rằng, ông Giêsu đã từng đến nhà những tên thu thuế khác và dùng bữa với họ. Chắc ông cũng nghe nói đến ông Matthêu người thu thuế, đã thành môn đệ của Ngài. Ông muốn biết Ngài. Nhưng đám đông là một chướng ngại không cho ông được thấy mặt Ngài vì ông thấp bé hay là mập mà lùn? Không có cách nào khác là trèo lên cây. Ông không ngần ngại vì ước muốn của ông quá mãnh liệt.
Ông là người giàu có, không thiếu một món gì, thế nhưng tiền bạc, tiện nghi không làm ông thỏa mãn. Tâm hồn ông khắc khoải như khát khao một cái gì mà chính ông cũng không hiểu. Ông biết Chúa Giêsu đang đi trên đường và ông chạy trước trèo lên một nhánh cây sung như một đứa con nít. Một hành động không thích hợp với địa vị và tuổi tác của ông. Nhưng không có cách nào khác.
Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu đến ngay chỗ ấy, nhìn lên và gọi: “Ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”. Ông vội vàng tụt xuống và vui mừng đón rước Ngài. Chúa Giêsu đã đáp lại ước muốn của ông. Ông chỉ mong nhìn thấy Ngài thôi, nhưng Chúa đã cho ông hơn điều ông mong ước. Ngài đến cư ngụ trong nhà ông. Đó là một điều mà ông không thể ước mong. Chúa Giêsu luôn đi trước. Ngài biết những gì xảy ra trong thâm tâm con người. Chỉ có Ngài mới đáp ứng những đòi hỏi tâm linh của chúng ta.
Hôm nay, Chúa cũng đến với chúng ta nơi bàn tiệc Thánh Thể. Chúng ta có vui mừng đón rước Ngài như ông Giakêu không? Chúng ta có khao khát được Ngài ở cùng chúng ta, chia sẻ mọi lao nhọc cực khổ của chúng ta, giúp chúng ta buông bỏ những gì gây chướng ngại cho chúng ta trên con đường nên thánh không? Hãy nhìn lại bao nhiêu lần chúng ta rước Chúa mà không yêu mến.
Đối với người Do Thái, mời người nào vào bàn ăn gia đình là một cử chỉ thân ái đặc biệt, nhất là một người như ông Dakêu là một người bị xem là tội nhân công khai, bị khai trừ khỏi cộng đoàn. Chúa Giêsu không ngại đến trọ nhà ông khiến người Do Thái xầm xì, và chính Chúa Giêsu tự mình xin đến với ông. Ông hãnh diện đến mức độ nào! Chúa cũng không chú ý đến những lời xầm xì của người chung quanh. Ngài nhìn thấy tâm hồn khắc khoải của ông và đã đáp lại sự mong mỏi của ông.
Một phép lạ đã xảy ra trong nhà ông Giakêu ngay hôm đó. Ông đã chết trong sự giàu có gian tham, hôm nay ông sống lại trong sự từ bỏ: “Thưa Ngài, phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi có cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Đức Giêsu nói với ông: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, vì người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”.
Ánh sáng của Chúa đã chiếu vào trong tâm hồn tăm tối của ông Dakêu và mọi sự đều được đổi mới. Niềm vui dâng trào trong tâm hồn Dakêu và cả trong gia đình. Đây là niềm vui ơn cứu độ mà thế gian không thể có được. Niềm vui đó mãnh liệt đến mức độ có thể làm cho ông buông bỏ cả gia tài, cả đời sống vật chất xa hoa. Chúng ta không thể hiểu được. Đây chính là hồng ân tuyệt diệu của lòng thương xót!
Chúng ta được Chúa đến với chúng ta gần như hằng ngày khi chúng ta đến dự bàn tiệc của Chúa, ăn lấy Chúa, thế nhưng chúng ta có đổi mới gì không? Chúng ta có cảm thấy rằng chúng ta được yêu thương như thế nào không? Chúng ta không thấy gì sao? Lòng dạ chúng ta chai đá, đôi mắt chúng ta mù lòa đến nỗi đứng trước dấu hiệu rõ ràng của tình yêu Chúa, chúng ta vẫn cứ dửng dưng, sống như không có vấn đề. Tại sao? Vì chúng ta chưa bao giờ khao khát Chúa như Dakêu, chúng ta không mong ước nhìn thấy khuôn mặt đầy yêu thương của Chúa. Chúng ta bằng lòng với tình trạng đạo đức của mình, cứ tưởng mình là thánh sống rồi, không cần hoán cải, không cần đổi mới gì nữa. Nếu Chúa chấp tội, nào ai đứng vững được chăng! Thánh vịnh đã dạy chúng ta như thế. Ai trong chúng ta dám nói rằng mình không có tội, không cần hoán cải? Thánh Gioan đã nói: “Ai nói mình không có tội là người nói dối”. Đức Giáo Hoàng Phanxicô luôn nói: “Tôi là người tội lỗi”.
Chúa Giêsu kết luận câu chuyện bằng một lời đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”. Chúa đến trong trần gian này không phải để được phục vụ mà để phục vụ và ban mạng sống để cứu vớt những người hư mất. Ngài là Tình Yêu, vì thế không có người nào bị loại khỏi tình yêu của Ngài. Trong Tin Mừng, chúng ta thấy kể ra tên của bao nhiêu người được cứu vớt như Mađalêna, người nữ ngoại tình, thánh Matthêu, người phụ nữ thành Samari, ông Dakêu, người trộm lành, thánh Phêrô, thánh Phaolô… Và trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta cũng thấy những đấng thánh là những người tội lỗi đã sám hối như thánh Âutinh, chân phước Charles de Foucauld… Họ đã gặp được Chúa và đã đón nhận ơn Chúa. Còn chúng ta, nhiều người đâu đến nỗi sa đọa, nhưng sao không thánh thiện hơn? Vì chúng ta chưa nhìn thấy được lòng thương xót của Chúa, chưa nhận ra khuôn mặt đầy yêu thương của Chúa. Tóm lại, chúng ta chưa yêu mến Chúa.
Nếu chúng ta yêu mến Chúa thật thì chúng ta sẽ không từ chối với Chúa một điều gì. Tình yêu là như thế: “Ai yêu mến Ta người ấy sẽ giữ lời của Ta”. Nếu chúng ta yêu mến Chúa thật thì của cải, tiền bạc, danh vọng, những thứ mà người đời ham muốn chúng ta sẽ coi như rác rưởi và chúng ta chỉ còn một ước muốn duy nhất là biết được Chúa Giêsu và Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Chúng ta mới có can đảm cho đi tất cả như Dakêu. Và chúng ta có thể hát lên với tác giả thánh vịnh: “Tình yêu Chúa quí hơn mạng sống, môi con ca ngợi Chúa muôn đời”.
41.Tìm kiếm và cứu thoát
(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)
Chúa Giêsu gây ngỡ ngàng. Ngài không hành động như mọi người. Ngài luôn vượt biên giới của dư luận.
Hôm nay, câu chuyện ông Da-kêu là một hành động gây ngỡ ngàng của Chúa Giêsu.
Ngài vào thành Giê-ri-khô, một thành phố lớn thứ ba sau Giê-ru-sa-lem và Ca-phac-na-um. Đám đông đang chen nhau theo Ngài. Trong đám đông đó, một người vì “thấp bé” “nhỏ con”, hay mập mà lùn? không thể thấy Ngài, ông Da-kêu, trưởng phòng thuế của thành phố, ông ước mong xem thấy Chúa Giê-su như thế nào. Ước muốn mãnh liệt đến độ ông dùng tất cả mọi phương tiện có thể để đạt ý muốn. Ông trèo lên một cây bên vệ đường, và hy vọng sẽ thấy được Chúa Giêsu vì Ngài đang đi về hướng đó. Một ông trưởng phòng thuế của thành phố mà trèo trên một nhánh cây! Chuyện lạ! Người ta sẽ cười ngạo ông, nhưng bất kể mọi người đang ngạc nhiên nhìn ông, ông vẫn trèo… Ngồi trên nhánh cây, chờ đợi…
Và ngạc nhiên biết bao! Ông Giêsu đi đến gốc cây, dừng lại, ngước mắt lên nhìn ông Da-kêu… Da-kêu mãn nguyện vì ông đã nhìn thấy được người ông đang mong nhìn thấy. Nhưng lạ thay! Ông Giêsu dừng lại, ngước mắt lên nhìn ông và bảo: “Anh Da-kêu, xuống mau, hôm nay tôi phải đến ở lại nhà ông”. Thánh Luca chỉ nói đơn sơ: ông Da-kêu mừng rỡ đón rước Người.
Ai có thể diễn tả được niềm vui và niềm hãnh diện của Da-kêu!
Hành động của Chúa Giêsu gây ngỡ ngàng… và nhiều người lẩm bẩm: ông ấy đến trú ngụ tại nhà một người tội lỗi!
Tại sao Chúa Giêsu lại “xin” trọ tại nhà ông Da-kêu? Một mầu nhiệm! nhưng chúng ta thấy rằng có lẽ Chúa Giêsu đã biết rõ tâm hồn ông ấy.
Biết bao nhiêu người đã mong tìm Chúa Giêsu, như vua Hê-rô-đê, ông “đã từ lâu muốn gặp được Người bởi đã từng nghe nói về Người, cũng mong được xem Người làm một hai phép lạ…” (Lc 23,8).
Chúa Giêsu hỏi toán quân đến bắt Người: “Các ngươi tìm ai?”
Họ đáp: “Tìm ông Giêsu Nadaret.” (Ga 18,4-5).
Ông Da-kêu cũng tìm Chúa…
Chúng ta cũng tìm Chúa…
Sự khác biệt như thế nào?
Vào trọ nhà một người như ông Da-kêu, là một điều cấm kỵ đối với người Do Thái. Ông là một người thu thuế, và là trưởng phòng thu thuế, tức là một người tội lỗi công khai, làm việc cho ngoại bang, liên hệ thường xuyên với người ngoại (là Rôma). Người thu thuế cũng là một tay bóc lột đồng bào mình, làm giàu trên xương máu của đồng bào mình, vì họ có quyền thu thuế tùy theo ý muốn miễn là nộp đủ số tiền đã ấn định cho người Rôma.
Nhưng chúng ta thấy Chúa Giêsu không đặt vấn đề gì cả. Đối với Ngài, “Ngài đến để tìm và cứu vớt những gì đã hư mất” (Lc19,10). Ngài vượt ranh giới của những điều cấm kỵ… Hơn nữa, ông Da-kêu là một “đại gia”, Chúa Giêsu có thể bị mang tiếng là lui tới với bọn nhà giàu. Ngài vẫn hiểu điều đó, nhưng đó không phải là một điều gì đáng ngại.
Ông Da-kêu đã không ngại bị người ta chê cười. Chúa Giê-su cũng không ngại dư luận. Hành động của Chúa Giêsu đã đáp lại sự mong mỏi của Da-kêu.
Chúng ta làm sao hiểu được niềm vui của Da-kêu! Ông chỉ mong nhìn thấy Chúa Giêsu mà thôi, nhưng giờ đây Ngài là thượng khách của gia đình ông! Niềm vui của Da-kêu là được đón tiếp người mà ông mong mỏi nhìn thấy. Niềm vui này sẽ được tiếp nối bằng một niềm vui sâu đậm hơn, sung mãn hơn khi ông chấp nhận từ bỏ tất cả để sống một nếp sống mới.
Niềm vui đón tiếp sẽ trở thành niềm vui cứu độ.
Trong bữa tiệc khoản đãi vị thượng khách, tại sao ông lại thưa với Ngài rằng là sẽ đền trả gấp 4 lần cho những người ông đã bóc lột và sẽ cho kẻ nghèo phân nửa gia tài của ông? Tại sao?
Da-kêu là một người giàu có, một “đại gia”. Tiền bạc tràn trề, tiện nghi dư đầy, đời sống nhàn hạ… Thế mà ông dám tuyên bố công khai: “Tôi sẽ từ bỏ tất cả”… “Đồng tiền nối liền khúc ruột” thế mà trong một giây phút, ông đã dám quyết định buông bỏ mọi sự. Một hành động can đảm như thế, không mấy người dám làm! Đứng trước quyết định của Da-kêu chúng ta phải hỗ thẹn thôi.
Chúng ta vẫn chưa trả lời câu hỏi: tại sao?
Chúng ta nhớ câu chuyện của người đàn bà bị bệnh loan huyết, đã lén lút chạm tới tua áo Chúa Giêsu (Lc 8,46). Chúa Giêsu nói: “…Thầy biết có một năng lực tự nơi Thầy phát ra…” Đây phải chăng là lúc Da-kêu đã chạm vào “năng lực thần linh” đó? Ông Giêsu này không phải như những người ông đã quen biết. Trước mặt Chúa Giêsu, Da-kêu cảm thấy như bị cuốn hút vào trong một miền đất khác, nơi đó không còn tham lam bóc lột, tham nhũng, không còn hưởng thụ ích kỷ nữa…
Chạm đến “năng lực thần linh” đó, ông cảm thấy hoàn toàn đổi mới. Từ lâu nay, sống trong nhung lụa, ông vẫn không an tâm, vẫn khắc khoải như vẫn thiếu một cái gì đó trong tận tâm hồn u tối tội lỗi của ông. Hôm nay, ông đã gặp được một luồng ánh sáng đưa ông vào một vũ trụ mới, tươi sáng và bình an.
Phải, Da-kêu đã tìm được điều mà lâu nay ông vẫn khao khát mà không thể hiểu. Hôm nay, qua sự hiện diện của Chúa Giêsu, ánh sáng lan tỏa chan hòa trong tâm hồn ông. Giờ phút ấy, không do dự, ông đã đi vào ánh sáng. “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến trong nhà này, bởi người này cũng là con cháu của Abraham…”
Hôm nay, chúng ta cũng được vinh dự như Da-kêu là đón tiếp Chúa Giêsu vào tâm hồn chúng ta. Vinh dự cho chúng ta biết bao! Chúng ta có biết “hồng ân của Thiên Chúa” không?
Hãy để cho ánh sáng tình yêu của Chúa tràn ngập tâm hồn chúng ta để chúng ta dám đứng lên đi trong ánh sáng…
“Chúng con là ánh sáng thế gian…”.
42. Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình
(Trích dẫn từ ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
Tại Boston ở Hoa Kỳ có một đại hội đặc biệt. Đó là đại hội người lùn. 400 người trong 3000 hội viên đã đến tham dự đại hội người lùn của nước Mỹ. Người cao nhất của hội chỉ có 4 feet (=1m40) và người lùn nhất chỉ có 2 feet (=0m70). Đây là đại hội thứ 25, có mục đích để người lùn gặp gỡ vui chơi với nhau và để cho mọi người bớt thiên kiến với thế giới người lùn.
Tin Mừng hôm nay nói đến một người lùn, một người lùn nổi tiếng trong thành Giêricô có tên là Giakêu. Con người lùn tịt ấy đã đi vào lịch sử vì đã được gặp Đức Giêsu. Giakêu là trưởng phòng thuế vụ của thành phố và là một người giàu có, do chức vụ, do việc làm của mình và cũng có thể do đã ăn của đút lót, đã bớt xén của công… Ông là người có tiếng tăm vừa được nể sợ, vừa bị chê ghét trong dân chúng. Có thể chỉ vì tò mò muốn biết Đức Giêsu là người thế nào, có thể trong lòng ông có sẵn một tâm tình ngưỡng mộ, yêu mến. Điều đáng ngạc nhiên là ông tìm bằng được mọi cách để có thể ngó mặt Đức Giêsu khi Ngài đi qua đường phố. Vì lùn, bị đám đông vây kín, Chúa khuất tầm nhìn, ông phải chui ra khỏi đám đông, chạy lên phía trước, leo lên một cây sung để xem thấy Đức Giêsu.
Kìa Giakêu đang ngồi trêng chạng hai của cây sung, ẩn mình trong cành lá. Trăm ngàn người đi theo Chúa Giêsu nào có ai để ý? Và nếu có bị để ý thì ông cứ để mặc. Nhưng Chúa Giêsu thì khác: Đến nơi gốc cây, chân Ngài dừng lại như thể đã hẹn hò; mắt Ngài ngước lên như âu yếm chào; miệng Ngài khẽ kêu đúng tên như người thân đã từng quen biết: “Ông Giakêu ơi! Hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ông”. Hạnh phúc của Giakêu thật tràn đầy vượt quá lòng mong ước. “Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Chúa Giêsu”.
Giakêu đã ngỡ ngàng, nhưng phải nói là dân chúng thành Giêricô còn bị bất ngờ hơn nữa. Mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”. Thật quá sức, thật không thể chấp nhận được. Họ cùng trao đổi với nhau như người Pharisêu đã mời Chúa dùng bữa tại nhà ông: “Nếu quả thật ônt nầy là Ngôn sứ, thì ông phải biết người kia là hạng người nào chứ: Hắn là hạng người tội lỗi” (Lc 7,39).
Gặp Đức Giêsu, Giakêu thấy mỉnh phải thay đổi cách sống, phải chuộc lại những lỗi lầm, phải đền bù những bất công đã gây ra trong quá khứ. “Tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã lường gạt ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Dân chúng càng bàng hoàng kinh ngạc khi Chúa Giêsu chẳng những đến nhà Giakêu trú ngụ ở đó ít ngày, mà lại còn tuyên bố minh bạch: “Hôm nay nhà nầy đã được ơn cứu độ, bởi vì người nầy cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”. Chỉ có một cái dừng chân do tình thương và lòng nhân hậu thúc đẩy, Chúa Giêsu đã biến đổi một con người tội lỗi trở thành người công chính. Từ giây phút gặp gỡ ấy, cuộc sống của Giakêu đã hoàn toàn đổi mới: từ một người bị cộng đoàn khinh chê ruồng bỏ, ông được Chúa Giêsu cho hội nhập vào cộng đoàn con cháu tổ phụ Abraham.
Thưa anh chị em,
Lời Chúa hôm nay khẳng định với chúng ta về tình yêu thương của Thiên Chúa. Tình yêu thương đó là tinh yêu thương không giới hạn, không phân biệt tình trạng của đối tượng. Tình yêu thương ấy dường như ngả về người tội lỗi, nghiêng về những người sống bên lề xã hội, bên ngoài tôn giáo.
Qua đời sống trần thế của Chúa Giêsu, chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu dành tấm lòng yêu thương, ưu ái cho những hạng người mà xã hội tôn giáo Do Thái lúc bấy giờ gạt ra ngoài lề. Đó là những dân ngoại, những người nghèo, những cô gái điếm, những phụ nữ, trẻ em, những người bênh phong cùi, bỉ quỷ ám, những người thu thuế cộng tác và phục vụ ngoại bang… như Matthêu, như Giakêu hôm nay. Chính những hạng người đó lại là đối tượng của Thiên Chúa tình yêu. Vì, như Chúa Giêsu đã nói: “Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, nhưng là những người đau bênh”. Và họ cần Chúa là thấy thuốc vạn năng, chữa bá bệnh, có thể làm hồi sinh người đã chết, có thể chữa lành mọi vết thương thân xác cũng như tâm hồn. Chính vì những người tội lỗi, những người yếu đuối, những người bệnh tật mà Chúa Giêsu đã đến.
Giakêu là một thí dụ, Madalenna là một thí dụ khác. Người phụ nữ ngoại tình, người trộm lành lại là một thí dụ khác nữa. Trong bốn sách Tin Mừng, chúng ta gặp được nhiều khuôn mặt méo mó đã được trả lại vẻ đẹp, chúng ta thấy nhiều tâm hồn tan nát đã được ban đầy sức sống mới. Công trình cứu độ là như thế. Tình yêu thương của Thiên Chúa không bị chi phối bở sự trong sáng hay vẫn đục trong lý lịch con người. Trái lại, ai có một lý lịch càng nhiều vết đen, càng phức tạp thì tâm hồn lại càng được yêu thương cứu chữa. Điều cần thiết trước nhất là chúng ta dám mạnh dạn tin tưởng và tiến lại gần tình yêu thân linh vô vị lợi của Thiên Chúa. Và chúng ta hãy cảnh giác, bao lâu chúng ta tưởng mình đã là người khỏe mạnh, đã là người đạo đức thánh thiện… thì lúc đó coi chừng, chúng ta khước từ tình yêu của Thiên Chúa đang nâng đỡ chúng ta từng giây từng phút.
Chúng ta cho rằng mình chẳng có tội gì ư? Có thể nhiều người nghĩ như thế, vì trong cuộc đời nhiều người không hề giết người, không hề gian dâm, không hề trộm cắp. Thế nhưng chãy coi chừng! Tội vì làm những điều ác thì có lẽ phần đông chúng ta không có, nhưng tội vì không làm những điều tốt mà Thiên Chúa truyền dạy thì chẳng ai cò thể vỗ ngực là mình không sai phạm. Vậy thì chúng ta cũng trở thành đối tượng của lòng yêu thương vô bờ của Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến,
Gặp được Chúa Giêsu là cuộc đời chúng ta được biến đổi. Chúng ta phải biết tìm đến gặp cho bằng được Chúa Giêsu. Nếu thực sự chúng ta gặp Chúa như Giakêu, thì thế nào đời sống chúng ta cũng sẽ được đổi mới, tội lỗi chúng ta sẽ được xóa sạch và tâm hồn chúng ta sẽ trở nên trong sáng hơn. Càng gặp gỡ Chúa trong thâm sâu của cõi lòng, chúng ta càng được biến đổi. Nếu chung quanh chúng ta có bao người vẫn mang một nếp sống cũ rích, sói mòn, càng ngày càng nghèo nàn hơn về mặt chất lượng, thì đó là dấu chứng họ chưa thực sự gặp được Đức Kitô Giêsu. Nếu cuộc sống của chúng ta chưa thể hiện được một thay đổi quyết liệt, thì đó là dấu chứng chúng ta chưa gặp Đức Kitô thực sự. Bởi vì bất kỳ một cuộc gặp gỡ nào với Đức Kitô thì đều phát sinh một hiệu quả là thay đổi cuộc sống.
Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã thực sự ở giữa loài người chúng ta và Ngài mong ước mỗi người chúng ta gắt chước Giakêu mở rộng cõi lòng ra để đón nhận ngài. Khi gặp gỡ Chúa cách chân thành như thế thì chính Chúa sẽ ban ơn hoán cải cho ta và biến đổi ta thành những con người mới: trong sạch, liêm chính theo thánh ý Ngài.
43. Tình yêu làm kinh ngạc
(Suy niệm của McCarthy)
Khi sửa chữa người khác, cách tiếp cận mà chúng ta chọn rất quan trọng. Nếu chúng ta tiếp cận họ chỉ để chất vấn những lỗi lầm của họ thì có nhiều khả năng, chúng ta không làm được gì. Thật vậy, chúng ta hầu như làm cho vấn đề trở nên tồi tệ. Họ sẽ khép kín, trở nên oán hận và chai cứng tâm hồn.
Một người quản lý nhà tù nói rằng cách duy nhất để thay đổi người ta phải thông qua một tương quan với người ấy. Bạn không thể cải thiện người khác bằng cách tránh xa hoặc bỏ rơi họ. Một bầu khí lạnh lùng không khích lệ sự trưởng thành.
Nếu bạn làm bẽ mặt một người, bạn chỉ làm cho tâm hồn người ấy chai cứng. Bạn chỉ tìm cách nào để tâm hồn người ấy cảm động. Mọi người, kể cả người có máu lạnh nhất đều có cái cốt lõi của sự lễ nghĩa, và có khả năng thay đổi, nếu tâm hồn họ cảm động.
Chúng ta phải tiếp cận những người khác cách nào để họ thấy rằng chúng ta tin tưởng và tín nhiệm họ. Kết quả là họ sẽ dẹp bỏ sự thủ thế, dè chừng và cởi mở lòng họ. Một khi họ cởi mở thì một điều gì đó có thể xảy ra. Chúng ta thấy điều đó trong trường hợp của Giakêu.
Đức Giêsu nhìn thấy Giakêu trên cây. Lúc đó cách sống của Giakêu hoàn toàn trái ngược với những điều mà Đức Giêsu bảo vệ. Chắc chắn đám đông chờ đợi và hy vọng Đức Giêsu sẽ quở trách và cấm ông ta không được làm bậy. Làm như thế, Người sẽ làm cho dân chúng trong thành thêm yêu thích Người.
Nhưng Đức Giêsu từ chối quở trách Giakêu. Trái lại, Người đã làm một điều khiến dân chúng lập tức không còn yêu thích Người. Người nói với Giakêu Người muốn dùng cơm tối ở nhà ông và với sự kinh ngạc. Giakêu vui mừng đón tiếp Người. Dân chúng than phiền: “Ông ấy đến ở lại nhà người tội lỗi”. Họ ghét Giakêu. Họ không muốn nhìn thấy ông được cứu. Họ muốn nhìn thấy ông bị lên án và trừng phạt.
Nhưng Đức Giêsu đã không nghĩ như thế, Người thấy rằng điều mà Giakêu cần không phải là sự lên án mà là sự cứu chuộc. Vấn đề không phải là ông ta có xứng đáng với sự cứu chuộc hay không. Ông ta cần có – đối với Đức Giêsu, như thế đã đủ. Với việc đi đến nhà ông, đối đầu với sự bất mãn và giận dữ của dân chúng trong thành, Đức Giêsu cho Giakêu thấy rằng Người quan tâm đến ông. Nếu Người tránh xa ông hoặc lên án ông, phép lạ hẳn không bao giờ xảy ra.
Giakêu đã cảm nghiệm tình yêu thương của Đức Giêsu. Điều này đã là một kinh nghiệm kỳ diệu đối với một người mà cho tới nay chỉ có kinh nghiệm về sự oán ghét. Được một người tín nhiệm chúng ta, người ấy không phán xét hoặc lên án chúng ta nhưng yêu thương chúng ta, đó là một cảm giác tuyệt vời. Tâm hồn Giakêu nở bung ra với sự sống như một sa mạc sau trận mưa to.
Được người ta yêu thương vì mình tốt lành không có gì là to lớn, khác thường. Cũng như khi mình xứng đáng. Nhưng được yêu thương khi mình xấu xa – như trường hợp của Giakêu quả là kỳ diệu. Giakêu đã cảm nghiệm sự kinh ngạc ấy vì được yêu. Điều này khiến cho những điều tốt đẹp nhất trong ông được triển nở. Sự hoán cải của ông là một sự hoán cải hướng đến điều thiện hảo. Với mức độ nhiều hơn hoặc ít hơn, tất cả chúng ta cần có sự hoán cải ấy.
44. Từ khán giả đến người tiếp cận
(Suy niệm của McCarthy)
Truyền hình đang đe dọa biến tất cả chúng ta thành những khán giả, kẻ bàng quan, người ngoài cuộc. Giả sử bạn là một người yêu thích thiên nhiên. Giờ đây, bạn không cần phải để cho giày mình bị bẩn, hoặc bạn phải đội mưa. Bạn cũng không cần phải ra khỏi phòng khách hoặc đi xa lò sưởi. Truyền hình đem lại cho bạn lễ hội với quang cảnh và âm thanh. Không nguy hiểm, không mệt nhọc, không rắc rối. Tuy nhiên, đó là một sự thay thế quá nghèo nàn so với cảnh vật.
Có những người tuyên bố rằng mình yêu thiên nhiên nhưng hiếm khi hoặc không bao giờ họ đi dạo trong rừng, băng qua các cánh đồng hoặc đi dọc theo bờ biển. Nói cách khác, họ chỉ là những khán giả. Họ không thật sự bị lôi kéo để tham gia. Tham gia là góp phần mình vào việc đó. Nhưng bạn sẽ thu hoạch nhiều hơn điều bạn cho đi.
Tuy nhiên, khi làm khán giả, ít nhất, người ta cũng có sự quan tâm. Và nơi nào có sự quan tâm, ở đó có khả năng người ta sẽ thật sự tham gia.
Trường hợp của Giakêu là như thế. Lúc bắt đầu câu chuyện ông chỉ là một khán giả. Ông có thể nhìn thấy mà không bị nhìn thấy, ông chỉ là một người đi xem. Ông cảm thấy thuận tiện khi bị quan sát. Tất cả chúng ta chẳng như thế sao?
Ông không hòa nhập vào đám đông. Ông trèo lên cây sung giữa những cành cây. Và bằng cách đó, ông chơ vơ, không có chỗ để bám. Ông đứng bên lề, không phải vì nghèo nàn mà vì giàu có. Sự giàu sang đã cô lập ông với những đồng bào ông trong thành mà phần lớn đều nghèo khó.
Là một người đi xem, ông chỉ tham dự một cách thụ động. Ông ở đó trong những giới hạn của mình. Hẳn ông phải có một sự quan tâm nào đó, nhưng không liều lĩnh, không dấn thân. Khi mọi việc qua đi, ông có thể trở về nhà, và nếu ông muốn, ông sẽ quên hết mọi chuyện.
Nhưng điều gì đã xảy ra? Đức Giêsu đã nhìn thấy ông và mời gọi ông trở thành một người tham dự. Thình lình Giakêu bị lôi từ đường biên vào thẳng trung tâm của hành động. Ông giống như một khán giả đi xem bóng đá và thình lình giám đốc đội banh phát hiện anh ta, thẩy cho anh ta một bộ đồ cầu thủ và nói: “Anh ra sân đi?” Và anh thấy mình đang chơi banh.
Điều làm ngạc nhiên là không những Giakêu đáp lại một cách tích cực mà còn hân hoan làm như thế ngay lập tức. Có niềm vui khi đi xem nhưng niềm vui còn lớn hơn khi tham dự. Kết quả đối với ông thật là to lớn, nó biến đổi cuộc đời ông. Đời sống hoạt động theo ơn gọi Kitô hữu của chúng ta sẽ thay đổi đời sống của chúng ta.
Giakêu đã cảm nghiệm một ơn hoán cải – hoán cải hướng về sự thiện hảo. Với mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn, tất cả chúng ta cần có loại hoán cải ấy.
45.Chúa hảo tâm với hết mọi loài
(Suy niệm của Lm. HK.)
Mọi du khách đến viếng thăm nhà thờ chánh toà kính thánh Phaolô tại thánh phố Luân đôn đều được người hướng dẫn cho biết về hành lang nổi tiếng, nhờ cấu trúc đặc biệt, có thể truyền được tiếng thì thầm từ phía bên này đến phía bên kia của mái vòm cho ai áp tai vào mái vòm đó.
Hành lang đó càng nổi tiếng hơn với câu chuyện về một anh thợ đóng giầy đến đó than thở với người yêu là anh chưa thể cưới nàng được đang khi còn thất nghiệp dài dài vì chưa có đủ tiền mua da và các vật liệu cần thiết. Nghe thế, người yêu của anh chỉ biết sụt sùi khóc. Tình cờ, một người ở phía hành lang bên kia nghe được câu chuyện thương tâm, và ông thấy mình phải làm một cái gì đó cho tình yêu của họ. Sau lời chia tay, lúc anh thanh niên buồn bã ra về thì ông lặng lẽ bước theo để biết chỗ ở của anh và cho người mang đến tặng anh một số da. Thế là anh chàng đóng giầy phấn khởi bắt tay vào việc. Công việc trở nên phát đạt, và anh đã tìm được hạnh phúc với người yêu xưa. Nhiều năm sau họ mới biết vị ân nhân của họ là William Gladstone, thủ tướng nước Anh lúc đó.
Thiên Chúa là Tình yêu, hạnh phúc của Chúa không phải là được yêu mến, được tôn thờ, mà là yêu thương, là ban phát niềm vui và hạnh phúc. Lời cầu nguyện đầu tiên của Đức Kitô trên cây Thánh giá không phải là cầu cho mình mà là cho chính những kẻ đang làm khốn mình.
Vì thế, khi thấy Giakêu vất vả tìm xem cho biết những gì đã được nghe về Đấng Cứu thế, Chúa liền thấy mình phải đến với ông, cho ông biết về tình yêu Chúa, và đem hạnh phúc đến cho ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”.
Là thủ lãnh của những người thu thuế nên Giakêu giầu có và chẳng thiếu thốn chi. Nhưng việc ông phải vất vả tìm cách để nhìn xem Chúa Giêsu cũng nói lên được sự nghèo túng và bất hạnh trong tâm hồn ông, sự nghèo túng và bất hạnh của một người không có Chúa làm nơi ẩn náu, khác xa vua Đavít ngày xưa khi giả điên trước mặt vua Abimêléc, bị đuổi và ra đi mà vẫn có thể ca hát được: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi”, nhờ tin vào Chúa: “Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi”. (Tv 33,2.6).
Người Việt ta có câu “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Việc được Chúa Giêsu, một người đang thu hút đám đông bằng đời sống và lời giảng dạy thánh thiện, đích thân đến nhà làm cho ông Giakêu, một người đang bị mặc cảm với cái tên Giakêu (người thanh sạch) của mình thấy được niềm vui của ơn cứu độ. Chúa đến nhà làm cho ông như đụng chạm được vào tình thương của Chúa, cảm nghiệm cách rõ ràng là “Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa có thể tác tạo mọi sự, và nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối” (Kn 11,23).
Tình thương Chúa giúp ông trở lại được với chính mình, sống đúng cái tên của mình, sống đúng với ý định tốt đẹp Chúa đã đặt nơi con người từ ban đầu: “xin Thiên Chúa chúng ta làm cho anh em được xứng đáng với ơn gọi, và xin Người dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin” (2Tx 1,11).
Niềm vui đi theo niềm tin đã biến đổi con người Giakêu, giúp ông nhìn mọi sự với một nhãn quan mới. Hôm qua gom góp, tích lũy bất kể mọi mánh khoé gian ác thì hôm nay đã: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Ai cũng có thể thấy được niềm vui của ông khi làm việc bác ái và đền trả cho người mình đã gây thiệt hại. Không phải là ông làm việc bác ái hay giữ luật công bằng cho bằng ông đang ca tụng tình yêu Chúa: “Lạy Thiên Chúa, tôi sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời”.
Trong Hàn lâm viện Florence có trưng bày một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của nước Ý, là bức tượng David của Michelangelo. Mỗi năm, hàng ngàn người đến chiêm ngưỡng một tác phẩm đầu tay trong những kiệt tác của bậc thầy vĩ đại này, mà không biết rằng cái khối đá khổng lồ được dùng để tạc nên bức tượng vô giá đó đã có một lịch sử lạ lùng.
Đầu tiên, một nghệ sĩ kém cỏi đã bắt đầu làm việc với nó, nhưng vì thiếu kỹ năng, anh ta chỉ thành công trong việc đốn đẽo và phá hoại tảng cẩm thạch đó. Thế rồi nhà cầm quyền Florence đã gọi đến chàng trai Michelangelo, và tác phẩm nghệ thuật để đời này đã được ra đời.
Như một nghệ sĩ thực thụ có thể nhìn ra những đường nét của một tác phẩm kiệt xuất bên trong một khối đá méo mó, Chúa cũng thấy trong những kẻ tội lỗi nhất một tia sáng chưa bị dập tắt của sự thiện mà Ngài có thể cứu độ, vì “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.
Vì thế, dù tội lỗi đến đâu, tôi cũng có thể cùng hát với Giakêu: “Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa”.
46. Người tội lỗi
(Suy niệm của R. Gutzwiller)
Đức Giêsu vừa chữa lành người mù, bây giờ Ngài lại gặp một người tội lỗi, một người vị vọng ở Giêricô. Ở thị trấn gần biên giới này, thu thuế là nghề rất phát tài. Giakêu thi hành công việc này nhiều nơi nên ông đã thu tích được một gia sản đáng kể, tuy phải dùng đến những phương sách mà người Do thái coi là bất chính. Thực thế, vì nghề nghiệp, ông luôn phải giao tiếp với lương dân và còn phải chi li từng đồng với bọn thuộc hạ, rồi với dân chúng qua những người trung gian. Thế cho nên người Do thái cứ yên trí rằng bọn thu thuế khỏi cần nói cũng là người tội lỗi. Tội lỗi đã nên như đặc điểm nơi ông Giakêu.
Tuy nhiên đó chỉ là dáng vẻ cuộc đời ‘dân sự’ bình thường của Giakêu, nhưng bên trong ông có cả một chiều sâu. Ông muốn gặp gỡ Đức Giêsu. Không phải ông là người hiếu kỳ, vì cứ theo lời ông người ta sẽ nhận ra nỗi lòng hối tiếc trong tâm tư con người dư dật đó. Ông sẵn sàng dành phân nửa tài sản để bố thí cho người nghèo và nếu có lỡ gian lận của ai thì bồi thường gấp bốn. Giakêu không thoả mãn vơí chính mình, với đời sống, địa vị và thành công của mình. Tự đáy lòng ông cảm nghiệm được sự trống vắng. Tiền của có thể dư giả, nhưng không bù lấp được tâm tư. Uy thế có thể củng cố địa vị xã hội của ông, nhưng không cứu vãn được linh hồn ông trước mặt Thiên Chúa. Với tuổi đời như Giakêu, con người không còn ảo tưởng nữa và sự vĩnh cửu bắt đầu là một cái gì có ý nghĩa. Trên đời vẫn còn có nhiều người xử sự như Giakêu.
Cái nhìn và lời nói của Chúa đến với ông thật đúng lúc. Đức Kitô không bị ràng buộc với phán đoán của con người. người thường mai mỉa những ai ra vẻ đạo đức, rồi Người luôn kêu gọi người tội lỗi trở lại đường lành. Người không hề mị dân. Trong trình thuật này, Người đã chọn Giakêu-một con người dị dạng giữa đám dân chúng. Người không chỉ trao đổi hay gặp gỡ qua loa nhưng còn đem lại niềm vui và cho ông vinh dự đón tiếp Người tại nhà cho đến ngày hôm sau. Người biết rõ, theo quan niệm đạo đức thông thường, vào nhà một người tội lỗi là làm một cái gương xấu. Nhưng Đức Giêsu đến ‘để tìm và cứu chữa những gì đã hư mất’. Suốt cuộc hành trình cuối cùng đi lên Giêrusalem, Người đã nghĩ đến những kẻ lầm đường lạc lối; vì tha nhân quên mình, bất chấp quan niệm thường tình, Người đến với Giakêu vì Người đáp ứng được niềm ông mong đợi, đưa ông trở về với Thiên Chúa khoả lấp tâm hồn ông bằng sự sung mãn tinh thần, ban ân sủng, thức tỉnh và hướng dẫn tâm hồn con người để họ lắng nghe lời Ngài. Kẻ tội lỗi sẵn sàng hoàn lương ấy chính là điều Đức Giêsu lấy làm mãn nguyện.
47. Hôm nay nhà này được giải thoát
Đoạn Tin Mừng hôm nay được đặt vào đoạn cuối của lần sau cùng khi Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, nơi đây Người sẽ chịu khổ nạn và sẽ bị giết bởi tay người Do thái, rồi ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Câu chuyện ông Giakêu được đặt kế tiếp sau phép lạ Chúa Giêsu chữa lành người mù thành Giêricô. Người mù được Thiên Chúa chữa lành, vì tin vào Chúa Giêsu mà ông ta được sáng mắt. Phép lạ của người mù chuẩn bị cho thính giả hiểu được sâu xa cuộc cách mạng tinh thần của ông Giakêu, một cuộc cách mạng tận gốc rễ, đổi mới hoàn toàn. Từ bóng tối của cảnh mù lòa bước vào ánh sáng của người được chữa lành. Từ bóng tối của tội lỗi bước sang con đường sáng của cuộc đời mới, của cuộc sống thánh thiện. Từ cuộc gian tham khéo léo bước sang con đường ngay chính chân thật và quảng đại. Từ cuộc sống xa Chúa được xích lại gần Chúa hơn, được kết hợp với Chúa Giêsu và hòa giải với tha nhân.
Do đó, trọng tâm bài Tin Mừng hôm nay nêu bật một khía cạnh sâu xa nhất của tình yêu, đó là sự tha thứ, một sự tha thứ được gói gọn trong tình yêu khoan dung. Vì tình yêu này không đóng khung kẻ mình yêu trong những ngụ ý của lỗi lầm, của tha thứ. Tình yêu này cũng không giới hạn kẻ mình yêu trong hiện tại đen tối của người ấy, nhưng còn phóng tầm mắt nhìn về những điều họ có thể trở nên tương lai. Trong cách hành sử của Chúa Giêsu, Ngài luôn sẵn sàng tha thứ. Để biểu lộ một tình yêu chân thành trên, Chúa Giêsu đã tiếp xúc với người thu thuế, làm bạn với những người bị xã hội bấy giờ gán cho là những kẻ tội lỗi. Ngài không cấm họ không được lui tới nghe Ngài giảng dạy, hơn nữa Ngài cùng ăn uống và đồng bàn với họ.
Vì thế, những cuộc gặp gỡ và giao tiếp này minh chứng rằng, Chúa Giêsu nhìn những kẻ thu thuế và những người tội lỗi trong hai trạng thái: Trạng thái hiện tại của họ và những trạng thái họ có thể trở nên tốt trong tương lai. Trong hiện tại, mặc dầu họ đang sống trong tình trạng tội lỗi, nhưng họ biết lắng nghe lời Chúa để khởi sự tiến những bước đầu tiên trên con đường hoán cải. Và những điều họ có thể trở nên tốt được minh chứng qua những hành động cụ thể, ví dụ như hành động dứt khoát với quá khứ tội lỗi để đi theo Chúa Giêsu như trường hợp của Ông Gia kêu. Ông là một người thu thuế nhưng khi nghe Chúa Giêsu gọi, ông liền bỏ bàn thu thuế đứng dậy và theo làm môn đệ của một người tự nhiên tả: “Con cáo có hang, con chồn có tổ nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu”.
Do đó, sự cải tạo xã hội tận căn phải bắt đầu bằng ý thức về tội lỗi và sám hối, và đây có thể là ý tưởng mà Tin Mừng hôm nay gợi lên cho chúng ta. Vào thời Chúa Giêsu, nghề thu thuế được hiểu như là cấu kết với ngoại bang để hà hiếp và bóc lột người đồng hương, nên cũng đồng nghĩa với tham lam bất chính. Một cách nào đó, phường thu thuế là một ung nhọt của xã hội, trong khi xa lánh là biện pháp thanh trừng đối với nhà lãnh đạo Do thái dành cho những người thu thuế thì trái lại Chúa Giêsu đến với họ, ngồi đồng bàn với họ. Chúa Giêsu không làm như thế để biện minh cho hành động tham lam bất chính đối với những người thu thuế cũng như đối với các cô gái điếm. Ngài đến gần họ, trước hết là để cảm thông với thân phận bị đẩy ra bên lề xã hội của họ, đồng thời Ngài mời gọi họ ý thức về hành động tội lỗi của họ.
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và viên chức giàu có tên là Giakêu tại thành phố Giêricô cho thấy cuộc cách mạng ấy bắt đầu bằng việc sám hối và cải thiện cuộc sống. Thật ra, sám hối đích thật luôn đi liền với cải thiện. Ánh mắt của Chúa Giêsu đã đi xuyên suốt tâm hồn ông, khiến ông nhận ra được những lỗi lầm của mình. Ánh mắt ấy lại từ nhân và mời gọi, đến nỗi đã làm cho ông cảm thấy thôi thúc và cải thiện đời sống. Vì thế, ơn cứu độ đã thực sự đến nhà ông và cuộc tái sinh đã khởi đầu: Này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, mà nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn lần”. Ông Giakêu không chỉ sám hối và cải thiện cuộc sống bản thân, nhưng ông còn góp phần vào việc cải tạo xã hội, đúng hơn nữa sự hoán cải cá nhân của ông ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống xã hội. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy được chiều kích xã hội của lòng sám hối. Vì thế, không những người tín hữu Kitô đóng góp tài trí của mình cho công cuộc cải tạo xã hội, nhưng niềm tin của họ được thể hiện bằng lòng sám hối và cải thiện cuộc sống làm trọng tâm và cũng là linh hồn của bất cứ một cuộc cách mạng và cải tạo xã hội nào.
48. Tiền bạc
Qua thái độ đền bù rộng rãi của ông Giakêu tôi muốn chia sẻ một vài ý tưởng nhỏ mọn về vấn đề tiền bạc.
Người xưa đã nói: của đồng lần thiên hạ tiêu chung. Thực ra tiền bạc có mục đích là để phục vụ con người. Nó được dùng để nuôi sống và thăng tiến con người toàn diện. Vì thế của cải phải được phân chia công bằng, và mọi người phải chung tay đóng góp vào đó. Kẻ giàu phải biết mở rộng con tim và bàn tay cứu giúp người nghèo túng. Còn người nghèo, không có gì phải mặc cảm khi nhận lãnh sự giúp đỡ của họ, dù giá nào mình vẫn sống khiêm hạ và công chính. Nào có ai giàu ba họ khó ba đời đâu mà lo!.
Trên thực tế, chúng ta thấy có điều đáng buồn, đó là số người nghèo quá đông, chiếm tới 3/4 nhân loại. Còn kẻ giàu lại làm giàu trên sự túng cực của người nghèo. Kẻ giàu thì như chuột sa chĩnh gạo, còn người nghèo thì lại bị chó cắn áo rách. Giàu nghèo mãi mãi trở thành hai phe chống đối nhau, gieo tai họa cho nhau.
Kinh Thánh đã lên án những kẻ giàu bất công và ích kỷ. Đồng thời tục ngữ Việt Nam cũng xác quyết:
- Của thiên trả địa.
- Của phù vân thì vần xuống biển.
Của cải dành cho một số người có nghĩa là nó sẽ loại trừ hạnh phúc của một số đông. Của cải sẽ làm cho chúng ta xa lìa Thiên Chúa là Đấng ban phát cho chúng ta. Một xứ đầy vàng bạc sẽ chóng biến thành ngẫu tượng. Vì khi đã mãn nguyện rồi, họ sẽ kiêu căng mà lãng quên Thiên Chúa. Và chính Chúa Giêsu cũng đã cảnh cáo: Không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc yêu chủ này mà ghét chủ kia, cũng vậy không ai có thể làm tôi Thiên Chúa và vừa làm tôi tiền bạc. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời.
Bởi đó, vấn đề là phải biết san sẻ cho nhau, bởi vì không ai có thể tự sống tự lập một mình, không cần nhờ cậy ai. Ngay như kẻ giàu có, cũng phải nhờ vào người nghèo túng mà trở nên khấm khá. Cho nên chia sẻ là điều hợp tình và hợp ý.
Trước hết là cùng nhau chia sẻ những gì mình có. Chẳng hạn cùng là người Việt Nam, chúng ta hãy chia sẻ gia tài quí giá cũng như phúc lộc do tổ tiên để lại về luân lý và văn hóa. Cùng là con cái Thiên Chúa, chúng ta hãy chia sẻ với nhau trong Giáo Hội những việc lành thánh và ơn cứu rỗi. Còn về của cải, chúng ta thấy các tín hữu đầu tiên ở Giêrusalem đã chia sẻ cơm áo cho nhau không để của mình là của riêng.
Tiếp đến là chia sẻ cái mình hơn cho người kém, cái mình có mà người khác không có và ngược lại người khác cũng làm như thế. Đó là lá lành đùm lá rách, có đi có lại, chị ngã em nâng.
Thật ra chúng ta luôn luôn có những cái để chia sớt và luôn có những người để lãnh nhận, vì chính chúng ta cũng đang ở trong tình trạng như thế. Cùng là chi thể của một thân thể, chúng ta có trách nhiệm lẫn nhau như câu nói: ‘Môi hở răng lạnh, một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ’.
Và sau cùng, chúng ta phải sống thế nào để đem lại hạnh phúc cho người khác, nhất là những người túng thiếu hơn mình. Chúng ta phải coi hạnh phúc của người khác là hạnh phúc của mình. Khóc cùng kẻ khóc, vui cùng kẻ vui.
Sự chia sẻ cho người khác hàm ý cho đi mà không đòi lại, cho đi thì có phúc hơn là nhận lãnh. Hãy coi sự cho đi của tre già cho măng mọc, của cha mẹ cho con cái được phát triển. Chúng ta hãy nối rộng vòng tay tình thương đến những ai đang cần tới chúng ta để họ thuộc về gia đình của Chúa sớm hơn.
Hãy coi Chúa Giêsu, Đấng giàu có đã trở nên nghèo khó để nhờ Ngài mà chúng ta được trở nên giàu có, thì đến lượt chúng ta, chúng ta không có quyền sống ích kỷ hưởng thụ cho riêng mình. Tất nhiên cho đi là tiếc xót và thiệt hại, nhưng khi chúng ta đã chọn Chúa làm gia nghiệp thì Ngài sẽ là tất cả cho chúng ta.
49.Lùn trí cao
(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)
Lúc nhỏ nhiều người có cơ hội leo cây hái trái vì nhỏ con, vì lùn thấp không với tới trái để hái nên phải leo cây.
Ngoài việc leo cây hái trái đôi khi còn trò leo đùa vui chơi, hoạ hoằn có trường hợp leo cây xem rước dâu.
Trò leo cây đông tây đều có. Dakêu leo cây vì lùn, vì muốn nhìn thấy người ông muốn nhìn. May mắn ông đoán đúng đường Chúa sẽ đi ngang và ông được toại nguyện như lòng mong ước.
Thực ra ông được nhiều hơn những gì ông khát khao, mong đợi từ lâu. Ông chỉ mong được nhìn ông Giêsu, không dám mong mời về nhà riêng. Chính Đức Kitô đề nghị điều đó ‘này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông’.
Ông mừng rỡ đón Đức Kitô vào nhà. Niềm vui chia sẻ tăng lên, vui gấp bội, Dakêu mời bạn bè đến dự tiệc mừng. Niềm vui chia sẻ được nên trọn.
Đức Kitô đến nhà Dakêu tạo nên hai luồng sóng đối chọi nhau. Phe ủng hộ nhảy mừng ca hát, yến tiệc linh đình. Phe chống đối phê bình chỉ trích, khinh khi.
ỦNG HỘ
Phe ủng hộ có nhiều, chiếm đại đa số. Căn cứ vào đâu để đưa ra kết luận đó. Thưa hai việc làm của Dakêu.
Thứ nhất ông hứa với Chúa: ‘Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo’.
Người nghèo luôn chiếm đa số trong xã hội. Một nửa tài sản của Dakêu chia cho người nghèo tạo được tiếng vang lớn trong việc bác ái của ông. Không biết bao nhiêu nhưng chắc chắn làm cho họ vui vì Chúa vào nhà Dakêu mà họ được hưởng ơn mưa móc.
Thứ hai ông giải oan khi tuyên bố: ‘nếu tôi chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn’.
Những ai bị xử oan, bị chiếm đoạt trước đây, bây giờ được trả lại, không phải hoàn lại như cũ mà hoàn lại lời gấp bốn lần.
Của cải không hàn gắn vết thương lòng, xoá tan đau khổ tinh thần nhưng ít ra việc làm đó cho thấy Dakêu thực sự thay đổi tận trong tâm, đổi lối suy nghĩ, các xử thế, bỏ ham muốn vật chất, thay vào đó là yêu người và thực hành công lí theo đường lối Chúa.
Có lẽ Dakêu không phải là mẫu người tội lỗi, gian tham như quan niệm người ta gán cho người thu thuế. Nếu tôi đã chiếm đoạt của ai. Theo mạch văn Dakêu không cố tình chiếm đoạt. Nếu có chỉ là lầm lẫn hơn là cố tình hay lạm dụng quyền hành. Nếu Dakêu có tội là tội không nhận biết Thiên Chúa, coi trọng của cải, vật chất. Khi gặp Chúa ông đã tự nguyện chia phân nửa tài sản cho người nghèo. Một điều mà người giầu có trong Lk 18,18 không thể làm được, chia của cho người nghèo, ông bỏ Chúa theo của. Dakêu trái lại, tự nguyện chia của cho người nghèo. Chúa nói: ‘Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này’
Dakêu thống hối đem lại niềm vui cho chính ông và hai nhóm người. Thứ nhất là nhóm nghèo được ông san sẻ cho phân nửa tài sản. Thứ hai nhóm bị oan ức (nếu có) được giải oan và nhận huê lợi hơn bốn lần thiệt hại. Việc thống hối của một người mang lại niềm vui cho nhiều người.
Dakêu quả là một người lùn, trí rất cao. Người lùn trí cao này làm thủ lãnh người thu thuế, biết nhìn ra Đấng Cứu Thế và biết chính đạo.
CHỐNG ĐỐI
Phe chống đối là thiểu số, ít người nhưng nắm quyền, nhiều phép, giỏi tuyên truyền. Người ta kết án Dakêu là tay sai cho quân xâm lược. Làm thủ lãnh thu thuế phải là kẻ tham nhũng. Giàu có nên nhất định gian tham. Dakêu chọn cửa rộng để đi, chọn đại lộ tiến thân. Họ ghét Dakêu và ghét lây ai làm bạn với người họ ghét. Tố cáo vô căn cứ mà vẫn có người tin: ‘nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ’
Trả lời họ Đức Kitô nói Ngài không trọ nhà Dakêu.
Đức Kitô đến mang ơn cứu độ. Đến tìm. Đến cứu những gì đã mất.
‘Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.
ĐƯỜNG HẸP
Con đường thương yêu, tha thứ, khuyên bảo, giúp đỡ, kết bạn. Người chọn đường này cần nhiều cố gắng, lắm gian lao, phấn đấu nên có kẻ chọn cố gắng theo, có kẻ bỏ, có kẻ giữa chừng bỏ cuộc.
ĐƯỜNG RỘNG
Con đường rộng nhẹ thì bỏ mặc, tẩy chay, ngầm phá; nặng thì kết án, chửi rủa, mắng nhiếc, từ bỏ. Đường rộng không cần cố gắng, phấn đấu. Không cẩn trọng rất dễ đi vào đường này. Mỗi khi làm một trong những điều trên là chúng ta đã tự chọn cửa rộng, đường thênh thang.
CHUNG ĐƯỜNG
Cả Dakêu lẫn phe kết án ông đi chung con đường, chọn cửa rộng thênh thang tiến bước. Kẻ kết án và người bị kết án đi chung đường. Đồng hành, không đồng tâm. Xã hội ngày nay chứng kiến lắm cảnh người này phê bình, chê bai người nọ, phe này chỉ trích, bài xích phe kia, cộng đoàn này khích bác, chê bai cộng đoàn khác vì tất cả đều chọn cửa rộng, chọn đại lộ. Cùng chọn cửa rộng nhưng sao phê bình nhau? Vì kẻ chọn cửa nhỏ hơn một chút lên tiếng phê bình kẻ chọn cửa lớn. Kẻ chọn đường đi nhỏ hơn phê bình kẻ chọn đường thênh thang hơn.
Dakêu người lùn, trí cao sớm trở về chính lộ, còn chúng ta?
50.Kiếm tìm
(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)
Giakêu nhỏ về vóc dáng và cũng nhỏ trong việc yêu thương đồng loại. Ngoài ra ông còn nhỏ về đạo hạnh và số bạn bè cũng vỏn vọn trong nhóm thu thuế. Nhỏ về vóc dáng là điều ông đành chấp nhận bởi đó là do tạng người của ông. Nhỏ về những vấn đề khác ông có thể thay đổi. Giakêu muốn thay đổi nhưng ông không đủ khả năng làm điều đó, và ông trong mong Đức Kitô giúp ông thay đổi, trở thành con người mới. Đức Kitô giúp ông thực hiện điều ông ước mơ, thay đổi thành con người tốt.
Giakêu biết đám đông không thích ông bởi ông cộng tác với hoàng đế Rôma. Ông muốn gặp Đức Kitô nhưng lại sợ đám đông làm nhục nơi công cộng nên ông chần chừ. Cuối cùng ông tìm cách gặp Đức Kitô. Là trưởng phòng thuế, ông được thuộc hạ cho biết những gì xảy ra trong khu vực do ông kiểm soát. Họ báo cho ông biết Đức Kitô sắp đi qua nơi ông trách nhiệm. Suy nghĩ, đắn đo, ông tìm cách gặp Đức Kitô. Biết Đức Kitô sẽ đi trên con đường mòn, ông âm thầm đến trước, trốn trên cành cây, từ đó ông có thể nhìn thấy Đức Kitô. Đức Kitô đi đến đó, Ngài gọi Giakêu xuống gặp Ngài. Ông nhanh nhẹn xuống gặp Đức Kitô và Ngài nói Ngài sẽ tới nhà ông. Ông vui mừng khôn tả, đón nhận Đức Kitô vào nhà. Gặp gỡ Đức Kitô, Giakêu nhận ra những lời đồn đãi về Ngài quả không sai. Họ đồn giáo huấn của Ngài mới mẻ, và lời giảng có uy quyền. Họ đồn Ngài yêu thương kẻ nghèo hèn, chào đón kẻ bị xã hội ruồng bỏ, thân thiết kẻ đầu đường xó chợ. Họ đồn Ngài tha thứ cho kẻ tội lỗi biết thống hối ăn năn. Tất cả những điều này Giakêu không còn phải nghe nói nữa mà chính mắt ông chứng kiến con người Giêsu mà đám đông tin theo.
Đức Kitô đến nhà Giakêu và đám đông xì xèo, phàn nàn, Đức Kitô đến trú ngụ nhà người tội lỗi. Đức Kitô lên tiếng nói với đám đông. Giakêu cũng là con cái Abraham. Ngài còn xác định rõ mục đích tại sao Ngài đến trần gian, 'Con Người đến để tìm kiếm và cứu những gì đã mất' Lc 19,10.
Trước khi gặp Đức Kitô, có lẽ Giakêu rất lo sợ, run rẩy vì mọi sự có thể xảy ra bởi nó ngoài khả năng kiểm soát của ông. Điều ông lo sợ mau chóng biến mất. Thay vì kết án, chỉ trích, Đức Kitô vồn vã, nhẹ nhàng nói với ông. Hãy xuống đây, vì hôm nay tôi muốn ngụ tại nhà ông. Lời nói ôn tồn, an ủi kia gây cho ông tự tin và lòng yêu mến Đức Kitô bùng phát trong ông. Con tim ông hoàn toàn thuộc về Đức Kitô, ông trở thành con người mới. Ông tìm gặp điều ông mong ước. Ngoài thân hình nhỏ thó, mọi sự khác trong ông thay đổi hoàn toàn. Từ con người dễ ghét, ông trở thành con người dễ thương. Ông từ bỏ lòng tham, từ bỏ chức tước, lợi danh. Ông long trọng tuyên bố chia phân nửa gia tài cho người nghèo khó, phân nửa còn lại ông để đền bù cho những ai ông đã đánh thuế họ trên mức ấn định. Những người trước đây là nạn nhân của ông nay được đền bù bốn lần nhiều hơn những gì ông đã lạm dụng thu thuế. Những người này trước đây cho là mình thiếu may mắn, giờ họ trở thành kẻ may mắn vì nhận được số tiền khổng lồ do Giakêu trả lại.
Giakêu không phải là con người tầm thường. Ông là trưởng phòng thuế và có thuộc cấp. Trước khi gặp Đức Kitô, số bạn bè chỉ trong vòng thuế má. Sau khi gặp Đức Kitô, thân hữu ông mở rộng cho mọi người. Nạn nhân thuế giờ thay đổi í kiến về ông bởi lối sống mới của ông thay đổi cách họ suy nghĩ về ông. Trước đây ông giầu có tiền của, giờ ông giầu có tình thương, giầu có về nhân đức, và giầu có trong niềm tin. Tin theo Đức Kitô ông được nhiều hơn mất. Ông có thêm anh chị em trong Đức Kitô, ông có niềm tin, ông có ơn cứu độ. Con tim chai đá giờ trở thảnh con tim yêu mến, chân thành. Trước đây đám đông ngăn cản ông nhìn ra Đức Kitô, giờ đây đám đông cùng với ông tin theo Đức Kitô. Tìm được đời sống mới nơi Đức Kitô, mọi sự trước đây trở thành quá khứ.
51. Người tội lỗi hay người công chính
Chuyện kể rằng, một hôm có vị Quận công vào thăm trại tù. Ông là người tốt lành, nhân hậu. Khi ông đến, ông hỏi thăm các tù nhân về tội trạng của họ. Ông lấy làm ngạc nhiên vì các tù nhân ông hỏi đến đều nói mình vô tội. Người thì nói bị cáo gian, kẻ thì nói vì lòng ghen tỵ mà người ta thêu dệt tội trạng để bỏ tù mình, có người còn nói tại quan toà thích bỏ tù thì kết án chứ anh có làm gì sai đâu! Nhưng có một người đứng lên thú nhận tội mình: thưa quận công, tôi là người có tội, trong lúc cần tiền, tôi đã đi ăn trộm, tôi thấy mình đáng bị phạt nơi này. Lúc đó các bạn tù xỉ vả anh: anh thật tệ, anh không xứng đáng ở chung với những người vô tội. Lúc đó, vị quận công nhìn anh với lòng thương xót và tuyên bố tha bổng cho anh. Còn những người kia thì tiếp tục ở lại trong tù để có thời giờ suy nghĩ về sự công chính giả hiệu của mình.
Chúa Giêsu đến không phải để cứu chữa người công chính, nhưng để cứu người tội lỗi. Hay nói một cách khác: ai khiêm tốn và nhận lỗi, sẵn sàng để cho Chúa khám và điều trị thói hư, lầm lạc của mình thì Chúa mới chữa được. Vì Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Những người xưng mình là công chính, tự cho mình là đúng, không muốn nghe dư luận, không sửa mình, kể cả lời nhắc bảo của Chúa họ cũng để ngoài tai thì làm sao Chúa chữa lành được họ. Chúng ta biết, Chúa Giêsu khi muốn chữa bệnh cho ai, thì Ngài hỏi: “Con muốn ta làm gì cho con?” Chắc chắn Chúa biết người đó phạm tội gì, bệnh tật gì. Nhưng Ngài muốn người đó tự thú nhận, cầu xin ơn tha thứ. Kế đó Ngài mới giải tội, ra tay chữa trị cho lành cả hồn lẫn xác.
Giakêu là mẫu gương về lòng hoán cải. Giakêu biết tội mình, nhưng vì ông thấy nhiều luật sĩ và biệt phái hữu danh vô thực. Tuy mang danh là đạo đức nhưng thật ra nhiều người biệt phái luật sĩ cũng tham lam đâu thua gì ông, họ cũng ỷ quyền, áp bức kẻ khác, lạm quyền đâu kém gì ông mà có khi, ông nghĩ, họ còn tệ hơn ông nữa! Vì vậy, ông tuy biết việc mình làm là không đúng nhưng nhất định không đến thú tội với bọn người giả hình kia.
Tuy nhiên, thật may mắn cho ông, xu hướng trở về với Chúa vẫn thôi thúc lòng ông đêm ngày. Ông là người thức thời, ông nghe người ta đồn về một ông Giêsu, là một vị tiên tri đầy quyền năng, đối xử nhân từ với người thu thuế và tội lỗi chứ không như bọn Luật sĩ, Biệt phái giả hình, khinh khi và loại trừ người thu thuế. Vì thế, ông đã hỏi thăm kỹ càng ngày giờ Thầy Giêsu sẽ đi ngang qua đó. Đúng lúc đám đông theo Chúa Giêsu đi ngang, ông vội vàng trèo lên cây sung để mong được nhìn Thầy Giêsu, một người đầy lòng thương xót đối với tội nhân, và ông đã nhìn thấy Chúa. Hay đúng hơn Ánh Mắt Nhân Từ đã nhìn thấy ông trước khi ông nhận ra Ngài. Ngài đã gọi đúng tên ông. Thật ngỡ ngàng quá. Ông những tưởng chỉ có lòng ông khao khát tìm gặp Chúa, ai ngờ Chúa lại thao thức đi tìm ông. Dường như Chúa biết tất cả về ông về những tội lỗi và lòng chân thành sám hối của ông.
Thật quả đúng như lời người ta đồn đại và còn hơn thế nữa, Giêsu là Đấng Cứu Thế, Giakêu xúc động vô cùng trước tấm lòng của vị chủ chăn đi tìm chiên lạc. Ông chỉ còn biết thốt lên: tôi làm thiệt ai trong thời gian qua thì xin đền gấp 4 lần, còn phân nửa tài sản tôi xin chia cho kẻ khó. Đối với Giakêu, cuộc đời ông đã được Chúa Giêsu cứu chuộc rồi, của cải tài sản ông coi như phân phát hết cũng được, ông không cần gì khác nữa. Ông nhận ra tình thương của Chúa rồi. Cuộc đời ông tràn đầy ý nghĩa. Ông thấy cuộc đời mình đáng sống và hạnh phúc trong tình thương cứu chuộc của Chúa.
Trong ngày Chúa Nhật hôm nay, chúng ta hãy suy nghĩ đến tình thương của Chúa. Dù chúng ta thấy mình là công chính thì chúng ta hãy xét mình thêm xem mình đã đáp trả lại tình thương của Chúa đúng mức chưa? Chúng ta có dám nói như Giakêu: nếu tôi có làm thiệt hại danh giá hay vật chất của ai thì tôi xin đền gấp 4 và phân nửa tài sản của tôi xin chia cho kẻ khó. Rõ ràng, chúng ta chưa dám nói như vậy. Điều này cũng cho thấy là chúng ta chưa yêu mến Chúa bằng Giakêu. Vì vậy chúng ta phải dành thời giờ lưu lại với Chúa nhiều hơn sau thánh lễ và thiết tha cầu xin Chúa cho đời mình gắn bó Chúa hơn nữa. Ước gì chúng ta luôn biết nhận ra sự thật về chính mình để được Chúa gột rửa nên hoàn hảo, xứng đáng là môn đệ của Thầy chí thánh Giêsu. Amen.
52.Chúa Nhật 31 Thường Niên
Học cách hoán cải người tội lỗi nơi Chúa Giêsu
(Suy niệm của Lm. JB Lê Ngọc Dũng)
Chúng ta thường muốn sửa lỗi người khác hoặc muốn giúp người khác hoán cải, nhưng lại thấy khó khăn và lắm lúc thấy thất bại. Chúa Giêsu, trong bài Tin Mừng hôm nay, đã hoán cải được Giakêu, một người được coi là kẻ tội lỗi; một người khó có thể hoán cải. Thế mà tại sao Chúa Giêsu lại hoán cải được ông ta một cách dễ dàng như vậy? Chúng ta hãy học hỏi cách hoán cải người khác nơi Chúa Giêsu.
Khi Chúa Giêsu đến với ông Giakêu thì dân chúng lầm bẩm rằng: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” (Lc 19,6). Trong dân chúng chắc có lẽ nhiều người tưởng rằng Đức Giêsu sẽ lên án tố cáo Giakêu, vạch trần tội ác của ông, và đe dọa rằng, nếu ông không hoán cải ông sẽ bị tiêu diệt.
Thế nhưng Đức Giêsu đã không làm như vậy. Đức Giêsu đã tỏ ta rất tôn trọng Giakêu. Ngài nói: “Gia kêu này, hãy xuống mau đi, vì hôm nay Ta phải ở lại nhà ông” (Lc 19,5).
Chỉ có một lời nói của Chúa Giêsu cũng đủ làm cho Giakêu đáp trả lại ngay với lòng hoán cải. Ông đã không đợi vào nhà để bàn luận để hỏi thăm này kia, nhưng đứng ngay tại chỗ Giakêu đã thưa lại rằng: “Thưa Ngài, tôi xin lấy nữa phần gia sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19,8).
Thật là khó có ai có một sự đáp trả lại một cách nhanh chóng như vậy, chỉ trong vòng một phút, đã sẵn lòng cho đi một nữa gia sản. Thử hỏi, một vị đại gia Việt Nam, giả sử như có 100 tỷ, lại trong không đầy một phút lại sẵn lòng cho đi 50 tỷ, lại còn bồi thường gấp bốn lần cho những ai ông làm thiệt hại, có thể xảy ra hay chăng?
Một điểm lạ lùng khác nữa: Chúa Giêsu đâu có thuyết phục hay yêu cầu ông ta làm những điều đó hay điều gì khác. Ngài chỉ nói một câu, và dĩ nhiên cùng với thái độ tử tế của Ngài. Tại sao chỉ một câu nói mà mang lại hiệu quả lớn lao như vậy?
Chúa Giêsu nói: “Gia kêu này, hãy xuống mau đi, vì hôm nay Ta phải ở lại nhà ông” (Lc 19,5).
Câu này, được hiểu là Chúa Giêsu xin được ở trọ nhà ông Giakêu; chỉ xin được ở trọ nhà Giakêu chứ không đòi ông ta phỉa làm gì. Tuy đơn sơ như vậy, lời xin của Chúa Giêsu lại mang nhiều ý nghĩa quan trọng:
Trước tiên, Chúa Giêsu tỏ ra cần sự giúp đở của Giakêu. Điều này có nghĩa là: Tuy Giakêu là người tội lỗi, nhưng Chúa Giêsu vẫn thấy nơi ông một con người hữu dụng, có giá trị, ngược lại với chúng ta, cho rằng những người tội lỗi chỉ là đồ ăn hại, gây đau thương cho xã hội, cho người khác. Chúa Giêsu đã thấy ông là người tội lỗi nặng nề, nhưng đồng thời Ngài vẫn thấy ông có thể có lòng tốt để cho người khác, để yêu thương, để ban phát. Vì nếu không, Ngài xin trọ nhà ông để làm chi?
Thứ hai, việc xin này cũng có nghĩa là Chúa Giêsu đã đưa tay nâng ông ta lên, trả ông về với một nhân phẩm bình thường, trong khi người Do Thái khinh miệt ông ta, cho là quân thu thuế tội lỗi, gian tham bóc lột người nghèo.
Và hơn thế nữa, Đức Giêsu đâu phải là người bình thường, mà là một là một vị Thầy, được mọi người tôn kính như là một vị tiên tri được Thiên Chúa sai đến, hay như là Đấng Cứu Thế. Một vị quá cao sang như thế, mà ở lại nhà ông, thì Ngài không chỉ trả cho ông về cái nhân phẩm của người bình thường, mà còn cho ông một vinh dự quá lớn lao.
Thứ ba, Giakêu chắc cũng phải rất nể phục khi Đức Giêsu hy sinh cả tiếng tăm của mình để đến với ông. Vì ngay lúc đó, mọi người đều xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” (Lc 19,6). Sự xầm xì này đã làm hạ thấp phẩm giá của Đức Giêsu, một vị mà nhiều người đang tôn kính. Thế mà Đức Giêsu bất kể điều đó! Giakêu không những nể phục mà còn quá kinh ngạc với tấm lòng cao cả của Đức Giêsu. Từ cảm xúc quá kinh ngạc, Giakêu chuyển nhanh qua sự cảm động. Tâm lòng của ông bổng chuyển đổi nhanh chóng.
Trái tim ông, trước đây, bị xơ cứng, vì tiền bạc, danh vọng, quyền lực; nay, thì mềm ra. Tiền bạc, danh vọng, quyền lực, bổng chốc không còn là cái quan trọng đối với ông. Ông thể hiện sự thay đổi hay hoán cải của ông một cách nhanh chóng và cụ thể: “Thưa Ngài, tôi xin lấy nữa phần gia sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19,8).
Nhìn thấy cái tốt đẹp, cái nhân phẩm, cái hữu dụng, cái cống hiến của người khác, bỏ qua những cái xấu xa tội lỗi, để đến với tha nhân, là điều Chúa Giêsu đã làm. Kết quả là Giakêu đã hoán cải cách mau chóng, bất ngờ và trở nên mẫu gương cho chúng ta, những người muốn hoán cải.
Theo bài học của Chúa Giêsu, một người quản lý nhà tù đã chia sẻ kinh nghiệm rằng, chỉ có một cách duy nhất có thể hoán cải tù nhân, đó là tạo được một mối liên lạc với họ. Sẽ không bao giờ cải tiến được một người bằng cách chối bỏ hay xa tránh họ. Một sự lạnh lùng, khinh chê, lên án sẽ không có hiệu quả gì.
Nếu bạn hất hủi một người bạn sẽ làm cho trái tim người ấy trở nên khô cằn chai đá. Bởi thế, bạn cần tìm ra cách phương cách để làm trái tim ấy mềm ra. Điều cần nhớ là, tất cả mọi người cho dù có vẻ chai lì, tội lỗi nặng đến đâu chăng nữa thì vẫn còn cái tốt. Họ vẫn muốn được tốt, được hoàn thiện. Bạn đừng thất vọng về con người.
Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ thất vọng về người anh chị em, cũng như thất vọng về chính mình, để rồi lên án anh chị em hay lên án chính mình. Xin Chúa cho chúng ta biết tin tưởng vào tình yêu thương của Thiên Chúa, Đấng luôn muốn cứu giúp, đưa chúng ta về phẩm giá cao cả ơn gọi làm con Thiên Chúa.
53. Đền tội
Sau khi được Chúa tha thứ, ông Giakêu đã thưa lên cho mọi người được biết:
- Tôi sẽ lấy nửa gia tài để làm phúc bố thí cho người nghèo và nếu đã làm thiệt hại ai, tôi xin đền bù gấp bốn.
Lời nói này biểu lộ thái độ sẵn sàng đền bù và sửa lại những sai lỗi của mình. Đã có một chuyển biến, đã có một đổi thay nơi con người Giakêu. Vì thế, chúng ta cùng nhau chia sẻ một vai ý nghĩ đơn sơ về sự đền bù.
Có một người bỏ xưng tội lâu năm, tìm gặp vị ẩn tu trong sau mạc để xưng tội. Vị ẩn tu ra việc đền tội là một kinh Lạy Cha, khiến người ấy hết sức ngạc nhiên. Vị ẩn tu trả lời:
- Chỉ có vậy mà thôi, nhưng con phải đọc cho thật sốt sắng.
Người tội lỗi quì gối giữa vùng sa mạc cát nóng, đôi tay giang rộng, mắt ngước nhìn lên trời và bắt đầu đọc chậm chậm kinh Lạy Cha với tất cả sự trang nghiêm của mình. Và khi đọc tới những chữ cuối cùng, người ấy cảm thấy mệt mỏi rã rời, hơi thở đứt đoạn, rồi ngã gục xuống và nhẹ nhàng từ bỏ cuộc sống. Vị ẩn tu nhìn thấy linh hồn người ấy bay lên trời như một cánh chim bồ câu trắng.
Nhờ việc xưng thú, tội lỗi chúng ta đã được tha thứ, nhưng nhờ việc đền bù, những hình phạt do tội lỗi gây ra cũng được xóa bỏ. Chính vì thế, linh hồn có thể không phải qua luyện ngục, mà tiến thẳng đến cùng Chúa. Do đó, chúng ta hiểu được tại sao vị linh mục bao giờ cũng ra việc đền tội cho chúng ta sau mỗi làng xưng thú. Ngài muốn hoàn tất trọn vẹn công việc của ngài: xóa bỏ tội lỗi cũng như những hình phát bởi tội mà ra. Ngài muốn cho chúng ta thoát khỏi những tháng ngày đày đọa nơi luyện ngục. Bởi đó, hãy chu toàn việc đền tội của mình.
Tuy nhiên, những người thiện chí như muốn nói:
- Xin cha hãy ra việc đền tội nặng hơn một chút.
Tốt lắm! Chúng ta cứ việc hoàn tất việc đền tội linh mục đã chỉ định, rồi sau đó tự ý làm thêm những việc khác, chẳng hạn như lần chuỗi hay đi chặng đàng Thánh giá…
Sau khi xưng tội, đừng vội vã rời bỏ nhà thờ, nhưng hãy ở lại ít phút để cầu nguyện với Chúa bằng tất cả tâm hồn trong sạch của mình. Chúa sẽ lắng nhge lời chúng ta trong những phút giây ấy.
Tuy nhiên, việc đền tội không nhất thiết phải là đọc kinh nọ, kinh kia, nhưng có thể là những hy sinh và hãm mình. Hãy sống tinh thần sám hối trong chính cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Thánh Louis đã kể lại rằng: trong suốt cuộc sống mình chỉ phạm có hai tội nhẹ mà thôi. Tội thứ nhất, đó là hồi còn bé ngài đã ăn cắp mấy xu của một người lính. Tội thứ hai, đó là ngài đã nói lời tục tĩu một lần. Ngài đã làm nhiều việc hãm nình để đền bù hai sai lỗi nhỏ bé ấy. Là hoàng tử, nhưng ngài luôn vui vẻ giúp đỡ người khác. Mỗi khi cầu nguyện, ngài đều quì trên đất cứng, thay vì quì trên nhung lụa. Mỗi tuần, ngài ăn chay hai ngày. Ban đêm, thay vì ngủ trên chăm ấm nệm êm, thì ngài lại nằm trên một tấm ván.
Sau này, ngài đã rời bỏ cung điện để vào tu trong một nhà dòng. Tại đây, ngài vui mừng vì được làm những công việc tầm thường như quét nhà, rửa bát… Khi cơn dịch bộc phát, ngài đã hăng say đi giúp đỡ các bệnh nhân và sau cùng, ngài cũng đã mắc phải bệnh dịch.
Mặc dù đớn đau, ngài không bao giờ than van oán trách. Ngài chấp nhận tất cả để đền bù tội lỗi. Tại sao thế? Vì ngài biết Thiên Chúa là Đấng công bằng vô cùng và sẽ trừng phạt cả những sai lỗi nhỏ bé nhất. Ngài muốn bị trừng phạt ở đời này, còn hơn là bị trừng phạt ở đời sau.
Tuy nhiên, có một cách đền tội thật tốt đẹp, đó là hãy uốn nắn những sai lỗi, sửa đổi những khuyết điểm, để thăng tiến bản thân, mỗi ngày một trở nên tốt lành và thánh thiện hơn.
Chúng ta hãy noi gương thánh Phêrô, ông đã chối Chúa ba lần, nhưng sau đó, ông đã ăn năn sám hối, đã làm lại cuộc đời và đã trở nên một vị thánh.
Trước khi xưng thú, chúng ta là những kẻ tội lỗi. Còn sau khi xưng thú, chúng ta phải trở nên những vị thánh.
54.Được biến đổi trong yêu thương
(Suy niệm của Lm. Giuse Lê Danh Tường)
Ở đời có người tốt có kẻ xấu. Ai cũng chỉ muốn xung quanh mình toàn người tốt. Chẳng ai muốn chung sống với người xấu làm gì cho nặng mình. Tâm lý chung của con người là mong cho mọi người tốt được sống và tất cả những kẻ xấu bị tiêu diệt. Thế nhưng sự phá bỏ chỉ là phương thế cuối cùng khi mà người ta không còn cách nào khắc phục. Trong 36 kế thì kế lược cuối cùng mới là bỏ chạy, sau khi đã tìm mọi cách để khắc phục.
Đối với Thiên Chúa, Ngài không muốn loại trừ, không muốn đánh mất một con người nào, cho dù đó là người tội lỗi, độc ác. Bởi Thiên Chúa luôn kỳ vọng và mong muốn con người ăn năn trở lại, phục hồi lại bản chất con người thánh thiện của mình để trở nên mỗi ngày một hoàn thiện hơn.
Bài đọc sách Khôn ngoan (Kn 11, 23 – 12, 2) đã lý giải lý do tại sao mà Thiên Chúa lại lặng im trước kẻ dữ. Thiên Chúa vì yêu thương đã tạo dựng nên con người. Và con người được tạo dựng là thánh thiện và tốt đẹp. Thiên Chúa chậm chễ không giáng phạt kẻ dữ là để mong họ có ngày nhận ra Thiên Chúa mà trở về với Ngài để được trở nên thánh thiện tốt lành.
Trong bài Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 19, 1-10), tác giả trình bày một hình ảnh tuyệt vời về lòng bao dung và tình nghĩa của Thiên Chúa dành cho người tội lỗi.
Ông Giakêu là người thu thuế. Là người thu thuế, ông bị mọi người lên án vì ông thu thuế của dân mà nộp cho đế quốc, vì ông được hưởng lợi hoa hồng từ chính những đồng tiền mồ hôi của dân. Dẫu sao ông cũng đã có địa vị trong xã hội, có dư đầy của cải, dù của cải ấy là bất chính. Danh vọng và của cải ông không thiếu. Nhưng dường như Giakêu vẫn thiếu một cái gì đó. Chính thao thức ấy đã khiến ông tìm mọi cách để được nhìn xem Giêsu.
Thái độ ông cố gắng để được nhìn xem Chúa Giêsu thật đẹp. Là một người như ông, nhưng ông đã bất chấp những lời đàm tiếu của dư luận để đạt được mục đích là nhìn thấy Giêsu. Dù cho đó có thể chỉ là chút tò mò, hiếu kỳ.
Thái độ đi tìm Giêsu và sẵn sàng vượt qua mọi rào cản của ông Giakêu đã là cơ hội tuyệt vời để Thiên Chúa kéo ông ra khỏi nơi tăm tối của tội lỗi.
Giakêu núp ở trên cây, tưởng không ai trông thấy. Nào ngờ Ðức Giêsu dừng lại, nhìn lên và gọi tên ông. Ngài thấy ông trước khi ông thấy Ngài. Giê-su đã nói với ông “Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi” (Lc 9,5). Ánh mắt Ngài làm ông luống cuống, nhưng lời của Ngài lại làm ông sung sướng, ngỡ ngàng. Niềm hạnh phúc bất ngờ làm ông ngây ngất. Ðường từ gốc sung về nhà ông bao xa, ta không rõ, nhưng chắc chắn đó là đường đầy ắp niềm vui. Thiên Chúa muốn cứu mọi người. Nhưng con người được tự do đón nhận.
Thái độ của Chúa Giêsu: Ngài đã gọi đúng tên ông có nghĩa Ngài đã biết ông từ trước; Ngài giục ông “hãy xuống mau” bởi Ngài đang chờ đợi ông, hồ hởi muốn gặp ông; Một lời gợi ý chẳng khác nào một mệnh lệnh “hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi” đã nói lên lòng Ngài khao khát được ở lại với ông.
Đứng trước tình cảm mà Giê-su dành cho mình, ông Giakêu đã thực sự bày tỏ niềm vui mừng. Niềm vui của ông được bộc lộ cách cụ thể qua việc ông chia ½ gia tài của mình cho người nghèo và đền gấp 4 lần những gì ông đã chiếm đoạt của người khác.
Khung cảnh nơi nhà ông Giakêu trở nên rộn ràng tươi trẻ, đậm đà tình yêu giữa người với Chúa, giữa người với người, và ngay chính con người vui với lòng mình được biến đổi. Niềm vui rạng ngời bừng lên, như muốn lan đi đến cùng trời cuối đất.
Chỉ có sự gặp gỡ Chúa thực sự, chỉ có ánh mắt nhân từ yêu thương của Chúa mới có thể biến đổi con người như vậy. Chỉ có cách cư xử của tình yêu mới đem lại kết quả kỳ diệu như thế.
Ông Giakêu đã gặp Chúa, đã được tình yêu Chúa biến đổi. Trái tim ông đã được tình yêu Chúa chiếm đoạt. Đến lượt ông, ông cũng đã cư xử với những người xung quanh ông bằng trái tim yêu thương ấy của Chúa.
Lạy Chúa,
Xin dạy con
biết cách đến với mọi người,
và khám phá ra
đốm lửa nhỏ của sự thiện
vẫn cháy sáng nơi lòng người tội lỗi.
Ước gì đôi mắt con
nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa,
dám hy vọng không ngơi
vào lòng tốt của mỗi người,
và can đảm tin tưởng
vào sự quảng đại của tha nhân.
Trong yêu thương
thế giới này sẽ được biến đổi
cho tương lai rực rỡ huy hoàng.
55. Đổi đời
Câu chuyện trong bài Tin Mừng do thánh Luca kể lại. Ngài được mệnh danh là “Thư ký của lòng thương xót”, vì trong Tin Mừng của ngài đã kể lại nhiều giáo huấn và công việc Chúa Giêsu làm để bày tỏ lòng Chúa xót thương loài người tội lỗi. Bài Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng điển hình rõ ràng. Trên đường lên Giêrusalem, khi đi ngang qua thành Giêricô, Chúa Giêsu đã gặp một người tội lỗi, nhưng đầy thiện chí, là ông Giakêu. Chúa đã ghé vào trọ nhà ông và ban ơn cứu độ cho cả gia đình ông, bất chấp mọi lời dị nghị, gièm pha.
Ông Giakêu không những là một người thu thuế, mà còn là thủ lãnh những người thu thuế, tức là một chủ thầu thuế má, nên ông cũng là một người rất giàu có. Dân Do thái rất ghét những người thu thuế, coi họ là những người tội lỗi, không thể ăn năn hối cải, không thể tha thứ, làm tay sai cho ngoại bang: thu thế cho nhà nước bảo hộ, tức đế quốc Rôma. Trong nghề đó, người ta có thể bày rất nhiều trò ma giáo để ăn hối lộ những kẻ muốn trốn thuế, hay muốn giảm thuế phải đóng. Bởi đó, người Do thái ghê tởm những người thu thuế. Ông Giakêu là người như thế. Không những ông bị thiên hạ khinh dể mà còn có thân hình thấp lùn.
Ông muốn tìm cách để xem Chúa Giêsu là người như thế nào. Nhưng dân chúng chen chúc chung quanh Chúa đông quá. Ông quyết không bỏ lỡ cơ hội. Một người chủ thầu phải có nhiều sáng kiến. Ông chạy tới trước và leo lên một cây sung bên đường. Ông yên tâm chờ đợi, vì Chúa Giêsu sắp đi ngang qua đó. Lòng ước muốn của ông thật là mãnh liệt, vì ông không sợ đám đông chế diễu. Ông chỉ còn biết một điều là làm sao thấy được mặt Chúa Giêsu. Quả thực, ông đã có thiện chí. Bấy nhiêu đã đủ để Chúa trọng thưởng tấm lòng chân thành của ông.
Chúa Giêsu đi tới, Ngài nhìn lên và gọi đích danh ông. Điều quan trọng là Chúa không chỉ đi ngang qua cho ông Giakêu nhìn Chúa, chính Chúa nhìn lên và gọi ông đúng như có lần Chúa đã nói: “Ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho”. Ông Giakêu đi tìm và ông đã thấy, ông đã gõ cửa và Chúa đã mở cho ông, bằng cách xin ông mở cửa nhà ông cho Ngài vào. Chúa muốn đến với ông và đến tận nhà ông.
Được đáp ứng quá sự trông mong. Ông muốn thấy Chúa thì Chúa đến tận nhà để ông nhìn cho đã. Chúa quảng đại vô cùng. Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Ngài. Nhưng đám đông lại sầm xì với nhau. Họ khó chịu với Chúa Giêsu, vì Chúa vào trọ nhà một người tội lỗi. Ông Giakêu đã tìm ra giải pháp để vượt qua cái giới hạn của tấm thân lùn. Liệu ông có tìm được giải pháp cho thân phận tội lỗi của ông để thắng được lời xì sầm kia không? Ông không sợ đám đông chế diễu khi leo lên cây sung để nhìn mặt Chúa, thì Chúa đã đáp lại, Ngài không sợ đám đông sầm xì khi yêu cầu ông đón Ngài về ở nhà ông.
Đứng trước tình thương của Chúa, ông đã mở rộng tâm hồn. Ông sẵn sàng chuộc lại tội lỗi, ông thưa với Chúa là đem nửa gia tài phân phát cho người nghèo. Không những thế, ông thấy mình còn phải thực hiện sự công bình nữa: làm thiệt ai ông sẽ đền gấp bốn. Lòng quảng đại của ông sánh với lòng quảng đại của người đàn bà tội lỗi: ông yêu mến nhiều vì đã được tha nhiều. Lòng yêu mến của ông đối với Chúa Giêsu diễn tả thành lòng yêu mến người nghèo và những người đã bị ông bóc lột.
Sau khi ông Giakêu tuyên bố quyết định của ông, thì Chúa Giêsu nói: “Hôm nay nhà này được cứu độ, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Ông Giakêu trở thành kiểu mẫu đón nhận ơn cứu độ và là cơ hội để Chúa Giêsu khẳng định sứ mạng của Ngài: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”. Ông Giakêu đã bị đám đông loại trừ, vì thân ông lùn và phận ông tội lỗi. Nhưng Chúa đã rời đám đông kiêu hãnh kia để đi tìm ông và đem ơn cứu độ cho ông. Chúa đã nhìn ông và cứu ông. Cái nhìn của Chúa, cái nhìn chinh phục, cái nhìn của tình thương muốn cứu vớt. Ông Giakêu đã tìm cách nhìn thấy Chúa, nhưng ông cũng đã để cho Chúa nhìn ông và chinh phục ông. Ông được cứu độ.
Qua những điều trên, chúng ta hãy ghi nhớ hai điều sau đây: Thứ nhất, những tội bất công hay tham nhũng mà ông Giakêu phạm, đã làm cho ông mất tước hiệu là con cái Abraham. Nhưng với sự ăn năn sám hối, muốn làm lại cuộc đời, sửa lại những lỗi lầm, ông Giakêu đã được chính Chúa Giêsu tha tội và trả lại cho ông tước vị đó. Tước vị con cái Abraham là một vinh dự của người Do thái. Nhưng người Công giáo, ngoài tước vị đó ra, chúng ta còn là con cái Thiên Chúa. Người Do thái rất hãnh diện về tước vị đó. Còn chúng ta, chúng ta có hãnh diện về tước vị làm con Thiên Chúa không? Nếu làm mất danh hiệu con cái Thiên Chúa, chúng ta cũng cần bắt chước Giakêu mà sửa lại những lỗi lầm gây nên sự mất mát kia, để Chúa cũng trả lại danh hiệu nghĩa tử Thiên Chúa cho chúng ta và tuyên bố về chúng ta rằng: “Người này cũng là con cái Thiên Chúa”.
Thứ hai, nhiều người Công giáo quên mất rằng: Đạo Chúa là đạo cứu thế chứ không phải đạo phán xét. Do đó, người Công giáo cũng phải có tinh thần cứu thế, không phán xét, khinh dể những người tội lỗi… Chúa Giêsu đã không hùa theo người Do thái mà khinh dể, loại trừ ông Giakêu. Trái lại, đã đến với ông để cứu ông và cả gia đình ông, làm cho họ trở thành con cái thực thụ của Abraham. Thế thì người Công giáo cũng vậy, phải yêu thương tội nhân, đến với họ, mang ơn cứu độ cho họ và làm cho họ lấy lại tước vị “con cái Abraham” trong đức tin và “con cái Thiên Chúa” trong tình yêu thương bác ái.
56.Cái hố
(Suy niệm của Lm. Mark Link, SJ.)
Chủ đề: "Chúa Giêsu thường gõ cửa tâm hồn chúng ta, nhưng chúng ta có mở cửa cho Người hay không là tùy ý chúng ta.."
Có một trong những người tiền phong vận động chính phủ cải cách hệ thống nhà tù ở Hoa Kỳ là một tội phạm đã hối cải, tên Starr Daily. Câu chuyện ông hoán cải thật lạ lùng nhưng thật tuyệt vời.
Khi Daily bị kết án tù lần thứ ba trong đời, quan toà nói với ông:
"Có phạt thêm nữa thì ông cũng vậy, và tôi không biết phải làm gì khác trong vụ xử ông. Sự bất lực của chúng tôi là sự tuyệt vọng của ông."
Trong thời gian ở tù, lối sống của Daily thật tệ hại đến nỗi người ta phải giam ông vào một cái "hố" biệt lập. Thông thường một tù nhân chỉ có thể chịu nổi cảnh giam cầm đó hai tuần lễ. Sau đó có bác sĩ đến thăm và ra lệnh đưa về nhà giam bình thường.
Nhưng trường hợp của Daily thì đã hơn hai tuần lễ và vẫn tiếp tục.
Rồi một ngày kia, một sự kiện khác thường xẩy đến. Khi Daily nằm trên sàn lạnh lẽo của cái "hố", một tư tưởng kỳ lạ nảy ra trong đầu.
Ông thường có một sức mạnh và năng lực đáng kể. Bỗng dưng ông tự hỏi điều gì sẽ xảy ra cho ông nếu ông dùng sức mạnh và năng lực ấy để làm việc thiện hơn là làm điều xấu. Ý tưởng ấy tràn ngập tâm trí ông. Và trong một thời gian thật lâu, ông nằm suy nghĩ về điều đó.
Điều kế tiếp xẩy đến thì thật khó để diễn tả. Daily bắt đầu có những giấc mơ đứt đoạn về Đức Giêsu Kitô, là người mà từ lâu ông cố gạt ra khỏi cuộc đời mình. Dường như ĐứcGiêsu đứng bên cạnh ông và nhìn vào mắt ông, như thể Người đi vào linh hồn ông. Trong suốt cuộc đời, chưa bao giờ Daily cảm được thế nào là tình yêu.
Sau đó, tất cả những người mà Daily đã làm họ đau khổ dường như lướt qua tâm trí ông. Và khi đó, Daily đã tỏ lòng thương mến họ, và dường như vết thương lòng được lành lặn.
Cảm nghiệm đó đã thay đổi hoàn toàn con người Daily. Trước đó, ông là một tội phạm cứng cỏi, đầy căm thù. Sau đó, ông là một con người mới, đầy tình yêu.
Sau cùng, Daily được phóng thích và bắt đầu một sự nghiệp mới để nói chuyện và viết lách hôã trợ việc cải cách nhà tù.
Nhận định về sự hoán cải lạ lùng của ông Daily, ông Peter Marshall, một tuyên uý nổi tiếng của Quốc Hội, nói rằng: "Starr Daily là một bằng chứng sống động tốt nhất mà tôi chưa từng thấy, đó là 'một tạo vật mới trong Đức Giêsu Kitô' thì không chỉ là một con người cũ được chắp vá, nhưng là một con người hoàn toàn mới" Catherine Marshall, A Man Called Peter.
Câu chuyện của ông Starr Daily có sự tương đồng kỳ lạ với câu chuyện của ông Giakêu trong bài Phúc Âm hôm nay.
Cả hai đều có đời sống tệ hại. Cả hai đều gặp gỡ Chúa Giêsu. Cả hai đều thay đổi đáng kể nhờ sự gặp gỡ đó. Và cả hai đều đền bù cho quá khứ.
Trong một phương cách sùng tín, ông Daily tuôn đổ tình yêu trên những người mà ông đã tổn thương họ. Ông còn dành trọn cuộc đời để cải cách hệ thống nhà tù.
Ông Giakêu phân phát nửa gia tài cho người nghèo. Và những ai bị ông lường gạt đều được bồi thường gấp bốn. Số tiền bồi thường này nhiều hơn luật buộc gấp đôi. (Xh 22:3)
Chúng ta áp dụng câu chuyện của ông Daily và ông Giakêu vào đời sống như thế nào?
Cả hai câu chuyện đều nhắc nhở chúng ta về một điều mà chúng ta thường quên. Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thay đổi chúng ta trở nên tốt hơn, cũng như Người đã thay đổi ông Daily và Giakêu.
Nhưng Chúa Giêsu không ép buộc chúng ta, cũng như Người không ép buộc ông Daily và ông Giakêu. Người để chúng ta tự do.
Chúa Giêsu đối xử với chúng ta cũng giống như Người đối xử với một phụ nữ trong Phúc Âm, mà bà bị bệnh hoại huyết (Mc 5:25-34). Hãy nhớ lại câu chuyện này.
Một ngày kia Đức Giêsu đi ngang qua, và bà tự nhủ, "Nếu mình được chạm đến y phục của Ngài, mình sẽ lành mạnh."
Bà đã đến và chạm vào áo của Chúa Giêsu và được lành mạnh.
Chúa Giêsu cũng thường đi ngang qua đời sống chúng ta. Khi Người đến, chúng ta chỉ cần thi hành như người phụ nữ nói trên. Chúng ta chỉ cần tiến đến và chạm vào áo của Người. Nếu chúng ta làm như vậy, Người sẽ chữa lành chúng ta, cũng như Người đã chữa lành người phụ nữ, cũng như Người đã chữa lành ông Starr Daily, và cũng như Người đã chữa lành ông Giakêu.
Điều này đưa chúng ta đến điểm sau cùng. Khi nào thì chúng ta có thể biết chắc là Chúa Giêsu đi ngang qua cuộc đời chúng ta?
Có nhiều lần Chúa Giêsu đi ngang qua cuộc đời chúng ta, trong một phương cách đặc biệt. Chỉ kể ra đây ba trường hợp đặc biệt.
Thứ nhất, Chúa Giêsu hiện diện trong đời sống chúng ta, trong một phương cách đặc biệt, mỗi lần Kinh Thánh được đọc lên và được dẫn giải trong Thánh Lễ. "Đức Giêsu nói với các môn đệ, 'Ai nghe anh em là nghe Thầy...'"
Và vì vậy lần đầu tiên Chúa Giêsu hiện diện trong đời sống chúng ta, trong một phương cách đặc biệt, là trong Phụng Vụ Lời Chúa ở Thánh Lễ.
Thứ hai, Chúa Giêsu hiện diện trong đời sống chúng ta, qua một phương cách đặc biệt, trong Phụng Vụ Thánh Thể. "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ sống trong Ta và Ta sống trong người ấy" Gioan 6:56.
Và vì vậy ngoài sự hiện diện khi lời Chúa trong Kinh Thánh được giảng giải trong Phụng Vụ Lời Chúa, Chúa Giêsu còn hiện diện, trong một phương cách đặc biệt, khi thân thể Người được bẻ ra và ban cho chúng ta trong Phụng Vụ Thánh Thể.
Sau cùng, Chúa Giêsu hiện diện, trong một phương cách đặc biệt, khi chúng ta gặp gỡ những người nghèo hèn. Chúa Giêsu nói bất cứ ai giúp đỡ những người này là giúp đỡ chính Người. (Matthew 25:40).
Và như vậy có ba lần đặc biệt khi chúng ta có thể biết chắc là Chúa Giêsu hiện diện trong đời sống chúng ta qua một phương cách đặc biệt.
Đó là khi lời Chúa được mở ra và đọc cho chúng ta nghe, khi thân thể Chúa được bẻ ra và ban cho chúng ta, và khi một phần tử trong gia đình của Chúa bị tan nát và đến với chúng ta xin giúp đỡ.
Khi Chúa Giêsu hiện diện với chúng ta qua một trong ba phương cách đặc biệt này, chúng ta chỉ cần thi hành điều mà ông Starr Daily đã làm, điều mà ông Giakêu đã làm và điều mà người phụ nữ bị bệnh hoại huyết đã làm.
Chúng ta chỉ cần tiến đến, chạm đến Đức Giêsu, và mời Người đi vào cuộc đời chúng ta, cũng như họ đã làm. Và nếu chúng ta thi hành như vậy, Người sẽ đi vào cuộc đời chúng ta, chữa lành cho chúng ta như Người đã chữa lành cho họ.
Hãy kết thúc bài chia sẻ hôm nay với những lời thật tuyệt vời trong sách Khải Huyền. Chúa Giêsu nói với chúng ta qua những lời ấy:
"Hãy lắng nghe! Ta đứng ở ngoài cửa và gõ; nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ đi vào nhà của họ và ăn với họ, và họ sẽ ăn với Ta" Kh 3:20
57.Chưa chắc lùn đã thấp
(Suy niệm của Lm. Đaminh Đỗ Văn Thiêm)
Không là người Việt Nam, nên không chắc Chúa Giêsu đã biết câu tục ngữ: Đừng chơi nhà thằng lé, đừng ghé nhà thằng lùn.
Nghiêm chỉnh lại mà nói. Về bản tính Thiên Chúa, thì Chúa thừa biết câu ấy. Nhưng về bản tính con người, thì có lẽ Chúa không biết câu ấy.
Nhưng một sự thật đã xảy ra. Hôm nay, Chúa không những đã ghé, mà còn ở lại ăn cơm, ở nhà một người rất lùn, tên là Giakêu.
1. Duyên tình gặp gỡ
Sao Ngài lại gặp Giakêu, hay đúng hơn, sao Giakêu lại gặp được Ngài.
Giakêu gặp được Chúa, bởi ông đã ước mơ đi tìm “Ông ta tìm cách để xem cho biết Chúa Giêsu là ai”. Ông đã nghe nhiều người nói với ông về Chúa Giêsu, nhưng ông không chịu vậy. Ông muốn đích thân ông phải đi tìm, đi gặp Ngài. Tìm hiểu và gặp gỡ Thiên Chúa phải là việc làm của chính mình. Bởi đây là việc vô cùng hệ trọng, không thể là phong thanh được. Hành trình đi tìm Chúa, phải khởi đi, từ nỗi khát vọng trong trái tim, được nối kết bằng sự kiên trì để vượt qua được những khó khăn thử thách trên đường đi.
Giakêu ước mong tìm xem Chúa, nhưng biết mình thấp bé, nên ông đã phải tìm giải pháp. Phải có một quyết tâm cao. Ông leo lên một cây sung. Thế đấy, để gặp Chúa, người ta phải biết vượt cao hơn cái trần tục của mình, leo cao, bao giờ cũng đòi phải cố gắng. Ông leo cao để tìm Chúa.
Vừa ngay lúc ấy, Chúa đến nơi, và Người nhìn lên, bốn mắt gặp nhau, Chúa đọc được cái khát vọng trong lòng ông Giakêu. Chúa thương thiện chí của ông. Chúa cảm động trước cố gắng của ông. Và rồi Chúa gọi ông xuống, Chúa chưa vào nhà ông, nhưng Chúa đã cho ông vào lòng Chúa rồi. Ông vẫn còn đứng trên cây, nhưng Chúa đã đưa ông vào trong trái tim Chúa rồi.
“Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại trong nhà ông.”
Cài gì thế này? Mình tỉnh hay mình mơ? Chúa đã gọi đúng tên mình. Thân thương quá. Chúa gọi ông xuống với Chúa. Xuống mau đi. Hạnh phúc quá! Mình là người tội lỗi, sao Chúa lại gọi mình. Sao Chúa không đuổi mà lại gọi?
Thế là ông vội vã tụt xuống, để đến với Chúa. Khó có ngôn từ nào, để có thể diễn tả được khuôn mặt ngỡ ngàng, pha lẫn với sung sướng của ông lúc này. Ông nhìn Chúa, và Chúa nhìn ông. Ông thấy Chúa thật lạ lùng. Không xa cách ông như những người quanh ông đã làm. Chúa nhân từ quá, không kết án, mà lại muốn gần gũi với ông.
Còn với Chúa, Giakêu không thấp. Thân xác thì lùn thật, nhưng tầm hồn ông không thấp. mà giá trị một người, nằm ở tâm hồn, chứ không phải ở thân xác bên ngoài. Và ông mừng rỡ ra đón rước Ngài. Ông lùn thật, nhưng ý thức chiều sâu còn cao hơn ối người. Đầy người, không hề bao giờ, biết hân hoan đón Chúa vào nhà mình.
2. Và rồi trong lòng bừng nắng hạ
Và rồi, bữa tiệc được mở ra. Được chung mâm, chung bàn với Chúa. Hồn Giakêu chao đi vì hạnh phúc. Nhìn thấy Chúa, ngồi bên Chúa, ngồi gần ánh sáng, tự nhiên Giakêu lại nhìn rõ khuôn mặt nhơ nhớp của hồn mình.
Tôi xin lấy nửa gia tài của tôi mà cho người nghèo.
Ô hay, sao lạ thế. Việc đầu tiên lại là nghĩ đến người nghèo? Phải chăng, đưới ánh sáng của Chúa, ông đã chợt nhận ra rằng: suốt những tháng năm qua, ông đã là kẻ ích kỷ. đóng khung. Ông đã không hề biết đến ‘Tình nười”. Sống mà không biết đến người khác, là tự huỷ cái tính đồng loại của mình. Ông chỉ là một kẻ ích kỷ. Kẻ ích kỷ là kẻ cô đơn nhất trong cuộc đời. Bởi không bao giờ, có một chỗ đứng trong con tim người khác.
Bây giờ ông muốn trở lại, hội nhập lại với cộng đồng, ông muốn san sẻ, ông muốn mình thành kẻ hữu ích cho cuộc đời.
Và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.
Trước đây, hẳn với nghề nghiệp thu thuế của mình, nhiều lúc ông đã là kẻ gian tham, nhưng sao những lúc ấy, ông vẫn thấy cứ tỉnh bơ. Giờ này gặp được Chúa, ông đã thấy những bất công ấy là tội ác. Ông nghiệm ra rằng: Sự gian dối luôn là một gánh nặng, đè trĩu linh hồn con người. Chỉ có sự công bằng, mới làm hồn con người thanh thản và bình an.
3. Một con người mới hiện ra
Trước mặt Chúa, vẫn còn là Giakêu thấp bé. Nhưng trong con mắt Chúa, Giakêu, giờ này, đã là cao cả.
Vì cái gánh nặng của tội lỗi, đã được cất bỏ. Chúa Giêsu đã cứu độ ông.
Ông trở thành cao cả, bởi ông đã biết sống có tình người.
Ông trở thành cao cả, bởi hồn ông bây giờ thênh thang, trắng trong, không bận vướng.
Chiều cao thân xác ông vẫn thấp, nhưng chiều cao linh hồn ông giờ ngất cao.
Bởi vậy, lùn chưa chắc đã thấp.
58. Hoán cải
Đời sống con người gắn liền với những cuộc gặp gỡ. Có những cuộc gặp gỡ mà người ta háo hức như gặp người yêu, gặp một nhân vật nổi tiếng, gặp một người thân xa cách đã lâu… Tuy nhiên, gặp kẻ khó ưa, gặp tên trấn lột, tên lường gạt… thì chẳng ai mong muốn. Ngoài ra lại có những cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa, có sức hoán cải, làm thay đổi cả con người. Cuộc gặp gỡ như thế không chỉ dừng lại ở gặp mặt, gặp gỡ xã giao, nhưng là cuộc gặp gỡ thâm sâu, gặp gỡ giữa hai tâm hồn.
Trang Tin Mừng hôm nay kể lại cho chúng ta cuộc gặp gỡ hết sức thú vị giữa Đức Giêsu và Giakêu. Đức Giêsu, Đấng Thánh của Thiên Chúa, lại muốn kết thân với Giakêu, kẻ tội lỗi bị mọi người xa lánh. Thế nhưng trong cuộc kết giao này. Đức Giêsu chẳng mất mát gì, trái lại Ngài đã cứu được một tội nhân khỏi vòng tội lụy; còn Giakêu, dù là chia nửa gia tài của mình cho người nghèo, nhưng lại được mối lợi thật to. Ông và cả gia đình đón nhận được hồng ân cứu độ. Quả là một cuộc gặp gỡ diệu kỳ đưa đến hoán cải tận căn.
Phải chăng là sự hài hước, chế giễu hoặc là một nghịch lý? Danh xưng “Giakêu” trong tiếng Do thái có nghĩa là “người thanh khiết, người công chính”. Con người tội lỗi công khai ấy lại có tên “thanh khiết, trong sạch” làm chúng ta nghĩ tới một kẻ lừa bịp ác tâm mà người ta đặt cho là “người vô tội”.
Bạn của Giakêu là “tiền”, còn phương châm sống là “bất chấp dư luận”. Thế nên, dù có vóc dáng nhỏ thó với chiều cao khiêm tốn, ông cũng leo lên được nấc thang xã hội, đã đạt được vị trí ước mong, đã thu tích được một gia tài. Có được gia tài này, một phần là nhờ trí tuệ, sự miệt mài làm việc, một phần cũng là nhờ bòn mót và kiếm chác của người khác. Bởi lẽ ông đứng đầu những người thu thuế. Ông coi những người khác là bần cùng, khố rách áo ôm. Còn người ta lại khinh bỉ ông là kẻ tội lỗi. Giakêu, một con người bị tránh xa như bệnh dịch, kẻ tội lỗi hoàn toàn hư mất. Cấm không được giao du với hạng người hư hỏng đó. Người ta nhổ xuống đất và quay mặt đi khi đi ngang qua con người ấy.
Ông đã sống để kiếm tiền và khuấy động thành phố. Nhân danh pháp luật, ông bức bách người ta. Nhưng khi nghe nói Đức Giêsu đi qua đó, và Người là bạn của những kẻ không được ai yêu thương, ông đã leo lên một cây sung bên đường để xem cho biết mặt Đấng ấy. Khi tới chỗ ấy, Đức Giêsu dừng lại và đưa mắt nhìn lên. Chẳng biết Người muốn nói gì nơi ông?
Chúng ta có thể gọi chỗ này là “nơi hai ánh mắt gặp nhau”. Bề ngoài, cái nhìn đầu tiên là của Giakêu, đang cháy bỏng ước muốn xem Đức Giêsu. Nhưng sẽ không có gì xảy ra nếu như Đức Giêsu đã không ngước mắt nhìn lên kẻ ở trọ lạ lùng – trên cây sung. Người “nhìn lên” Giakêu. Người không xem thường ông, nhưng nhận ra nơi ông một con người sẵn sàng hoán cải. Anh mắt, thái độ và lời nói của Người không ngừng biểu lộ sáng kiến lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.
Giakêu muốn gặp mặt Đức Giêsu, không kèn, không trống, không kẻ hầu người hạ. Ông đi một mình trơ trụi, bị đẩy lại sau những kẻ tò mò, và điều hạ nhục ông là ông phải làm một chuyện kỳ dị đối với một viên chức cao cấp. Có thể nói ông đã làm một bước nhảy vọt, vượt trên mọi dư luận, mọi thành kiến. Ông làm tất cả những điều đó cốt để tận mắt thấy Đức Giêsu. Quả là đáng khâm phục! Thế nhưng, Đức Giêsu lại làm một cử chỉ đáng kinh ngạc hơn. Trong lúc được đám đông dân chúng vây quanh và hết lòng ngưỡng mộ, Người lại tách mình ra khỏi đám đông hỗn độn ấy để đến với một kẻ tội lỗi. Vì lòng thương xót đối với tội nhân, Người chẳng màng đến những lời xì sầm, bàn tán hay dị nghị. Đấng Thánh của Thiên Chúa hạ mình xuống làm bạn với một người tội lỗi.
Tình yêu vượt lên mọi thành kiến, mọi trở ngại, mọi rào cản.
Hiển nhiên, đám đông chờ đợi và hy vọng Đức Giêsu sẽ cho Giakêu một bài học đích đáng. Và nếu Người làm như vậy, Người sẽ được dân chúng tán dương. Nhưng Đức Giêsu từ chối đối xử với ông như vậy. Thay vào đó, Người lại muốn trọ tại nhà ông. Dân chúng lập tức đâm ra ghét Người; còn Giakêu thì vô cùng bỡ ngỡ, ông vui vẻ đón tiếp Người.
Người ta ghét Giakêu. Họ không muốn thấy ông được cứu độ. Họ chỉ muốn ông bị kết án và bị trừng phạt. Nhưng Đức Giêsu không nghĩ như vậy. Người thấy rằng điều Giakêu cần không phải là bị kết án nhưng là ơn cứu độ. Giakêu có xứng đáng hay không xứng đáng lãnh ơn cứu độ – điều đó không quan trọng – Giakêu cần ơn cứu độ, như thế là đủ đối với Đức Giêsu. Nếu Người cũng như đám đông dân chúng kết án, hạ nhục hay tránh né ông, thì chắc chắn phép lạ hoán cải đã chẳng xảy ra.
Nghịch lý trong tên gọi của Giakêu lúc đầu giờ đây lại hoàn toàn hữu lý. Chúng ta thấy rằng niềm vui của cuộc gặp gỡ làm nảy sinh nơi người tội lỗi ước vọng thiết tha được khởi đầu một cuộc sống mới: “Thưa Ngài, này đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”.
Ban đầu, Giakêu chỉ muốn xem cho biết Đức Giêsu là người thế nào. Thay vì chỉ thoáng thấy Chúa đi ngang, ông được diễm phúc diện đối diện, và còn hơn thế nữa tâm hồn ông gặp được tấm lòng bao dung của Thiên Chúa. Tâm hồn Giakêu giờ đây giống như vùng đất sa mạc được tưới mát sau cơn mưa lớn.
Cuộc hoán cải của Giakêu đã xảy ra tức khắc, tỏ tường và chúng ta có thể chắc chắn về điều đó. Tuy nhiên, đây không phải chỉ là cuộc hoán cải thuộc lãnh vực trí tuệ. Ông đã thay đổi cõi lòng. Trên quan điểm của Tin Mừng, đây là cuộc hoán cải có tầm quan trọng nhất và cũng để lại những dấu ấn sâu đậm nhất. Sợ hãi chẳng thể nào làm nảy sinh được cuộc hoán cải nội tâm. Chỉ có tình thương và lòng bao dung mới có thể làm được điều đó. Một sự tiếp cận cứng cỏi sẽ đưa tới một con tim khép kín và chai đá. Một sự tiếp xúc dịu hiền, như Đức Giêsu đã cư xử với Giakêu, sẽ dẫn đến một con tim mềm mại và cởi mở.
Lời tuyên bố của Đức Giêsu cho thấy phép lạ thật sự đã xảy ra ngay trong cuộc gặp gỡ giữa Người và Giakêu: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Giờ đây, Giakêu không còn mang danh hiệu kẻ tội lỗi nữa, nhưng ông có thể mang tên thật của mình là “người thanh khiết”.
Đức Giêsu không chỉ muốn gặp gỡ Giakêu nhưng Người cũng muốn gặp gỡ mỗi người chúng ta. Trước mặt Thiên Chúa chúng ta cũng là những kẻ tội lỗi đáng thương như Giakêu, cũng cần đến sự hoán cải và ơn tha thứ.
Thiên Chúa không chờ ta quyết định đến với Người. Người luôn đi bước trước. Bao giờ cũng chính Người đến với ta, và Người vẫn còn đến mãi bao lâu chưa tiếp xúc được với chúng ta.
Thế nên chúng ta phải hành động để tìm gặp Thiên Chúa. Người không đòi ta phải leo lên cây sung như Giakêu, nhưng quan trọng là phải đi gặp Người bằng chính hành động của mình. Cũng như Giakêu, Thiên Chúa không đòi ta phải bỏ nhiệm vụ của mình mà lánh vào sa mạc. Người giúp Giakêu khám phá ra rằng ông phải chu toàn nhiệm vụ của mình một cách công bằng và đền bù những lạm dụng. Do đó, chúng ta cũng nên xét lại những bổn phận và cách cư xử của mình có hợp với lẽ công bằng hay chưa. Có thể chúng ta chẳng lấy cắp hay chiếm cứ tài sản của ai cách công khai, nhưng chúng ta lại thỏa hiệp với việc lấy cắp của công, tham ô, hối lộ, bớt xén thời gian làm việc, đầu cơ trục lợi hoặc cho vay nặng lãi. Bên cạnh đó, có bao giờ chúng ta đã để tâm sống đức công bằng qua việc tôn trọng danh dự, phẩm giá người khác; hay chúng ta coi việc gièm pha, vu khống, hỗn láo, nói xấu người khác… là chuyện bình thường?
Sự hoán cải của Giakêu là một cuộc hoàn lương. Tất cả chúng ta cũng cần một cuộc hoán cải như vậy. Mỗi người đều có khả năng mà Giakêu đã có, cho dẫu nó có thể bị che khuất hay chưa được tỏ lộ. Thế nên, chúng ta cũng cần hoán cải hằng ngày để từ một quả tim khép kín trở nên rộng mở, từ một quả tim chai đá, bất công trở thành thịt mềm, ngời sáng đức công bằng.
59. Hoán cải
Chắc hẳn Giakêu đã nghe người ta nói nhiều điều tốt về Chúa Giêsu. Nhưng ông muốn chính mình gặp Ngài, lý do thứ nhất là để xem tướng mạo Ngài ra sao, và lý do thứ hai quan trọng hơn là để biết con người của Ngài thế nào.
Hôm đó cũng có rất đông người muốn nhìn thấy Chúa Giêsu. Họ ở cạnh Ngài, họ bao quanh Ngài. Còn Giakêu thì không đến gần được, ông phải trèo lên một cây sung. Thế mà Chúa Giêsu lại đặc biệt để ý tới ông. Thật sung sướng khi được người khác để ý tới.
Tuy nhiên, để ý tới ai không hẳn chỉ là để chăm sóc hay khen ngợi người đó. Nếu người đó là kẻ xấu thì có thể người ta để ý tới để mà dò xét hay khiển trách. Giakêu là người xấu, nhưng Chúa Giêsu để ý tới ông không phải là để khiển trách. Ngài dừng lại và nhìn lên ông. Giakêu hiểu là Chúa Giêsu quan tâm đến ông. Được để ý tới là sung sướng, được quan tâm lại càng sung sướng hơn.
Chúa Giêsu còn nói với Giakêu nữa. Đặc biệt là Ngài không nói một lời nào về những tội lỗi của ông. Thay vào đó Ngài gọi đích danh ông “Này ông Giakêu”. Rồi Ngài gọi ông xuống “Xuống mau đi”. Ngài còn ngỏ ý muốn đến trọ nhà ông “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Điều này không ai ngờ. Giakêu không ngờ, mà tất cả mọi người có mặt ở đó cũng không thể ngờ một người đạo đức như thế mà lại đến trọ nhà một người tội lỗi công khai. Giakêu sung sướng quá. “Ông vội vàng trèo xuống và mừng rỡ đón tiếp ngài”. Ban đầu ông chỉ mong nhìn được Chúa Giêsu một cái thôi. Bây giờ ông được nhìn Ngài mặt đối mặt và sắp được ở chung với Ngài ngay trong nhà của ông nữa.
Giakêu đã biết chẳng những tướng mạo mà cả con người của Chúa Giêsu. Ông còn biết được tâm hồn dạt dào yêu thương của Ngài nữa.
Và khi nhìn thấy tâm hồn Chúa Giêsu rồi, Giakêu cũng nhìn lại tâm hồn của ông: một tâm hồn đầy tội lỗi. Ông thấy đời mình bấy lâu nay như một sa mạc khô cằn, thế mà hôm nay Chúa Giêsu lại đến, như một cơn mưa rào.
Thế là Giakêu hoán cải. Cuộc hoán cải thể hiện bằng những hành động cụ thể: đền bồi tất cả những thiệt hại đã gây ra cho người khác, và phân chia tài sản mình cho những người nghèo. Đây không phải là hoán cải chỉ bằng ý muốn mà bằng cả con tim. Giakêu đã biết xót xa cho những người bị ông làm thiệt hại, và biết yêu thương những người nghèo khổ. Đây chính là sự hoán cải thật, vì con tim có hoán cải thì cuộc đời mới hoán cải thật.
Con tim của Giakêu hoán cải nhờ Chúa Giêsu đã để ý tới ông, quan tâm ông, đối xử nhẹ nhàng với ông. Goethe đã viết: “Hãy đối xử với một người như người ấy là, và người ấy sẽ xấu hơn. Hãy đối xử với người ấy như người ấy phải là, hoặc như người ấy muốn là, và người ấy sẽ tốt hơn. Bởi vì những ước muốn trong chúng ta chính là phần tốt nhất của con người chúng ta”.
Chúa Giêsu hiểu rằng những việc làm xấu của Giakêu không phải là toàn phần con người của ông; Ngài hiểu trong ông còn có phần tốt, phần muốn làm điều tốt và có khả năng làm những điều tốt ấy. Ngài đã khơi lên chính cái phần tốt ấy.
Cuộc hoán cải của Giakêu là hoán cải con tim, là hướng con tim về điều tốt.
Cũng giống như Giakêu, trong con người chúng ta cũng có phần tốt mặc dù có thể phần tốt ấy xưa nay bị những việc xấu chèn ép và chưa phát huy ra. Hãy hoán cải con tim bằng cách để Chúa để ý đến ta, quan tâm ta, nói với ta, trọ trong tim ta và đánh động con tim ta.
60. Thiên Chúa yêu thương
(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.)
Thiên Chúa là tình yêu. Ngài yêu thương con người, và luôn đi tìm tội nhân để dẫn đưa họ về với Ngài.
Thiên Chúa luôn đi bước trước
Thiên Chúa đã đánh động Giakêu, để ông có lòng khao khát gặp Đức Giêsu. Thiên Chúa đã thúc đẩy để Giakêu, người trưởng của những người thu thuế, nhiều tiền, dám trèo lên cây để nhìn ngắm Đức Giêsu. Đây là thái độ của người khiêm nhường, không tự phụ vì tiền bạc mình có, không kiêu căng vì chức vụ trưởng thu thuế của mình, nhưng can đảm làm điều như một em bé, trèo lên cây để nhìn Đức Giêsu. Thái độ này đã đánh động Đức Giêsu. Đức Giêsu đã dừng lại, ngó lên, và gọi Giakêu, đề nghị được ở lại nhà ông. Giakêu đã trèo xuống, vui vẻ chấp nhận đề nghị của Đức Giêsu. Và không chỉ vậy, ông hứa sẽ bố thí cho người nghèo nửa gia tài của ông, và bồi thường gấp bốn những gì ông đã làm hại người khác.
Giakêu đã làm điều vượt khỏi quan niệm “thế gian thường tình”. Ông đã trở lại với Chúa và với con người, với những anh em cụ thể sống xung quanh ông. Và với điều này, cả trời đất vui mừng. Con người vui và Thiên Chúa cũng vui.
Thiên Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu
Thiên Chúa, Đấng đánh động Giakêu, là Thiên Chúa hay thương xót và yêu thương. Thiên Chúa vẫn yêu thương tất cả mọi loài, cho dù trước nhan Thiên Chúa, toàn thể vũ trụ chỉ như hạt cát dính bàn cân, như giọt sương mai rơi trên đất.
Tương tự như cha mẹ yêu thương con cái vì con cái do cha mẹ sinh ra, Thiên Chúa cũng yêu thương tất cả mọi loài vì tất cả mọi loài đều được Thiên Chúa tạo dựng. Thiên Chúa tạo dựng con người qua cha mẹ mỗi người. Thiên Chúa là Cha của tất cả. Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người, Ngài là Cha của người con trưởng lẫn người con thứ trong dụ ngôn người cha nhân từ. Thiên Chúa là Cha của người công chính cũng như của người tội lỗi.
Chính vì yêu thương, mà Thiên Chúa đã tạo dựng mỗi người. Nếu không yêu thương, Ngài đâu tạo dựng họ. Hiện hữu là một hồng ân vô cùng lớn, mà chỉ những người cảm nhận tình yêu mới nhận ra.
Thiên Chúa yêu thương cả những tội nhân
Thiên Chúa vẫn yêu thương, cả những người tội lỗi. Ngài yêu thương qua việc Ngài kiên nhẫn và không trừng phạt tội nhân ngay khi họ phạm tội.
Hình ảnh Đức Giêsu chết trên thập giá và những người chủ mưu giết Ngài, những người hành hình Ngài, giúp con người thấy Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào! Tại sao Thiên Chúa Cha không hủy diệt những người âm mưu giết Con Ngài, tại sao Thiên Chúa không làm cánh tay của những kẻ đóng đinh Đức Giêsu phải tê liệt, tại sao Ngài không làm những người đánh Người Con yêu của Ngài phải chết! Vì Ngài nhân từ yêu thương, Ngài yêu thương cả những kẻ giết Con Ngài. Ngài nhân từ để chờ họ nhận biết chân lý và trở lại với Ngài.
Ai cũng phạm tội, và có lẽ mỗi người đều cảm nghiệm tình yêu thương nhân từ và kiên nhẫn của Thiên Chúa. Ngài luôn mời gọi con người trở lại với Ngài, để Ngài tha thứ và để con người được chia sẻ sự sống với Ngài.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Trong cách hành xử của Giakêu, có điều gì hay mà bạn thiếu?
2. Bạn thường nhìn người tội lỗi thế nào? Bạn có “phân biệt đối xử” hông? Bạn có thái độ (như người con) của Thiên Chúa không?
3. Thiên Chúa là ai đối với bạn?
61. Tôi muốn bạn yêu tôi!
“Giờ này là giờ thuận tiện; đây là ngày cứu độ,” Thánh Tông Đồ Phaolô đã viết cho các phần tử của Giáo đoàn Corintô (2Cr 6,2). Giờ này! Hôm nay! trong chính giữa những lên lên xuống xuống của đời sống thường nhật chúng ta, giữa những vui vui buồn buồn của chúng ta, giữa cuộc hành trình dương thế của chúng ta, Thiên Chúa muốn mang chúng ta sống lại trước Thiên Nhan cứu độ của Ngài. Thiên Chúa muốn chúng ta đưa Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô vào trong làm chính nền tảng của mọi ngày chúng ta, kinh nghiệm ngay bây giờ.
Một luật sư thuật lại một biến cố đáng nhớ nhất trong nghề nghiệp của ông: Một ngày nọ, một người phụ nữ khoảng hai mươi mấy tuổi, xinh đẹp và diện rực rỡ bước vào văn phòng tôi. Cô đã lấy chồng được 5 năm. Cô kể cho tôi biết cô gặp khó khăn với chồng của cô. Tôi cho rằng cô đến để làm thủ tục giải thoát hợp pháp. “Cô có bất cứ kiện chứng nào mà cô có thể dựa vào đó để ly dị ông không?” Tôi hỏi. “Ồ không, thưa ông,” cô trả lời, “tôi không muốn ly dị.” Rồi tôi trình bày cho cô biết trên phương diện nào cô có thể đòi được ly thân. “Nhưng tôi không muốn ly thân,” cô phản kháng lại. Cảm thấy bối rối, tôi nói với cô có thể đưa ra toà về những liên hệ gia đình hầu bắt buộc chồng cô phải trả tiền nuôi cô hàng tuần. “Tôi không muốn anh ấy trả tiền nuôi tôi,” cô khóc lóc trả lời. “Tôi làm nhiều tiền hơn anh ấy.” Tôi đã đến độ cáu tiết. “Được rồi, bà cô,” tôi nói, “Cô không muốn ly dị, cô không muốn ly thân và cô không muốn chồng cô trả tiền nuôi cô. Vậy cô muốn gì?” Nước mắt bắt đầu trào tràn trên khuôn mặt cô. Cô ấp úng, rồi cà lăm từng tiếng một, “Tôi muốn... anh ấy... ơ... tôi muốn anh ấy yêu tôi!”
Có nhiều người trên trần gian này cần đến tình thương của bạn, những người mong muốn các bạn yêu thương họ ngay bây giờ! Đây là ngày cứu độ! Đây là ngày cho các bạn biết sắp xếp lại những ưu tiên của các bạn trong ánh sáng Sứ Điệp Phúc Âm. Đây chính là ngày cho các bạn trở nên một con người tuyệt diệu, ân cần, yêu thương mà Thiên Chúa muốn các bạn là. Đây chính là ngày cho các bạn tiến vào cuộc cảm nghiệm của đời sống vĩnh cửu với Thiên Chúa. Cuộc sống vĩnh cửu là “biết Cha, là Thiên Chúa độc nhất chân thật,” Chúa Giêsu cầu nguyện với Thiên Chúa Cha (Jn. 17:3). “Anh chị em thân mến,” Thánh Gioan viết, “Chúng ta hãy yêu thương nhau vì tình yêu đến từ Thiên Chúa và ai yêu thương thì sinh ra bởi Thiên Chúa và biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không thể nào nhận biết Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu...” (1 Jn. 4:7-8).
Trong đêm Halloween, một người hàng xóm vui tính quyết định hù các trẻ đi xin kẹo. Ông mặc một chiếc áo choàng đen dài lết đất, đội một chiếc mũ đen gắn hai chiếc sừng quỷ, và một chiếc mặt nạ hãi hùng. Rồi ông ngồi đợi. Sau cùng, chuông nhà ông rung lên. Ông tắt hết đèn điện. Ông mở cửa và hét lớn hù người. Rồi ông nhìn xuống và thấy đang đứng trước ông một bé gái 5 tuổi, xinh xinh tóc vàng, hoá trang là một nàng tiên dễ thương. Cô bé trợn mắt nhìn ông. Rồi cô đưa cặp mắt chạy dài trên chiếc áo đen dài to tướng, nhìn thẳng vào chiếc mặt nạ khủng khiếp, mỉn cười và nói, “Mẹ có mua kẹo không?”
Nhiều lúc, trong mối giây liên hệ với tha nhân, dù là chúng ta có gặp ma quỷ hay thiên thần thì thường lệ thuộc vào thái độ căn bản của chúng ta về cuộc sống. Chúng ta có đem kiến thức tôn giáo mà chúng ta đang giữ trong đầu óc vào thâm tâm của ta chưa? Chúng ta có mang Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô làm nền tảng hằng ngày chưa?
Câu chuyện Phúc Âm hôm nay nói đến cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và một người đàn ông mà đã được biến đổi từ căn bản. Ông Giakêu là một người thu thuế đã làm giàu trên nghề nghiệp của ông. Chúng ta có thể phỏng đoán từ những gì chúng ta biết về những tình trạng xã hội và chính trị của thời mà ông rút xén được một phần trong gia tài của ông qua việc làm bất lương -- ngay cả đảng phái, cướp bóc. Tuy nhiên, ông Giakêu đã thống hối: cải tổ cuộc sống ông; thay đổi đường lối của ông. Và khi mà Chúa Giêsu đang tiến vào thành, ông Giakêu kiên quyết đến gần Ngài. Số đông dân chúng đổ xô ra đón Chúa Giêsu trong khi Ngài tiến vào thành Giêricô. Bởi vì Giakêu là một người thấp lùn, và đám đông lại cản tầm nhìn của ông. Ông không thể nhìn thấy Chúa Giêsu. “Ông chạy ra trước,” Thánh Luca thuật, ông “trèo lên một cây sung trên đường Chúa Giêsu sẽ qua.” Chúa Giêsu nhìn thấy một con người vui tươi, đang đứng trên cành cây, và nói với ông, “Giakêu, xuống đây. Nhanh lên, vì Ta sẽ ngự tại nhà ông hôm nay” (Lk. 19:6). Nghe những lời này, đám đông trở nên phẫn uất bực bội với Chúa Giêsu. Họ biết ông Giakêu là một người thu thuế. Họ càu nhàu, “Ngài lại đến ở trong nhà của một người tội lỗi.” Qua chính lý do này, Giakêu là người khắc khoải nhất. Ông đã lo cải tổ cuộc sống. Ông nói với Chúa Giêsu rằng ông đã tiến xa hơn những gì đòi buộc của lề luật trong niềm nỗ lực của ông đền bù lại những gì mà ông đã làm sai với người khác. Ông đã làm hại người khác trong quá khứ và giờ đây ông đã đi cố đi thêm một dặm hầu được làm hoà với họ. Và ông cảm thấy thật là vui sướng. Đấy chính là lý do mà ông đã nhốn nháo chạy quanh đám đông để cố có một ánh nhìn phớt qua về Chúa Giêsu. Đấy chính là lý do mà ông đã trèo lên cây sung. Đấy chính là lý do mà ông đã vội tụt xuống từ cành cây khi Chúa Giêsu nói chuyện với ông. Cái gì đó kỳ diệu và vui sướng đã xảy ra cho cuộc sống của ông và ông đã chia sẻ niềm vui tốt lành này với Chúa Giêsu và tha nhân.
Khi Ân Sủng Thiên Chúa ngự trị trong chính trung tâm con người của các bạn, Nguồn Lực của sức sống sẽ ban cho các bạn một ý nghĩa chân thật và đưa các bạn đến cuộc sống mới trọn vẹn.
Ơn cứu độ của bạn đã gần kề! Hãy làm cho sống động lời van nài “tôi muốn bạn yêu tôi!” Hãy làm cho sống động, cái cảm nghiệm của niềm vui mà đến được qua những hành vi phản chiếu Tình Thương của Thiên Chúa trong đường lối hàn gắn và cứu giúp.
62.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Minh)
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
HOÁN CẢI NGƯỜI THU THUẾ GIAKÊU
“Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10)
I. Bối cảnh Phụng Vụ Lời Chúa
Lời Chúa trong Thánh Lễ hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm Thiên Chúa Tình Yêu với quyền năng diệu kỳ của Lòng Thương xót.
Bài đọc thứ nhất trích sách Khôn Ngoan là bài ca ngợi lòng nhân lành cao cả của Thiên Chúa đối với mọi loài thụ tạo. Trước nhan Thiên Chúa, toàn thể vũ trụ chỉ như hạt cát trên bàn cân, tựa giọt sương mai rơi trên mặt đất. Tuy nhỏ bé, mong manh, bất toàn, nhưng lại là đối tượng của tình thương Thiên Chúa. Ngài yêu thương tạo dựng và hằng nhẫn nại quan phòng chăm sóc mọi loài với lòng bao dung vô tận, đặc biệt là con người, quản lý mọi công trình của Ngài. Vì thế, con người có vấp ngã lỗi lầm, Ngài chỉ mong muốn thứ tha và vực dậy.
Trong bài đọc thứ hai, thánh Tông Đồ Phaolô, qua thư gửi tín hữu Thesalônica đã tha thiết nguyện cầu cho tín hữu được nên xứng đáng với phẩm giá ơn gọi Kitô hữu của mình để họ vừa được tôn vinh trong Đức Kitô, vừa làm hiển danh Đức Kitô. Và mọi người đừng theo những lời tiên tri, những bức thư giả mạo nói về ngày quang lâm của Đức Kitô đã gần kề.
Câu chuyện Tin Mừngtheo Thánh Luca 19,1-10 cho chúng ta thấy một bằng chứng sống động về lòng thương xót tuyệt vời của Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Thiên Chúa đã sai Con Một là Đức Giêsu Kitô đến trần gian để kêu gọi những người tội lỗi sám hối, ban ơn cứu độ cho họ. Đặc biệt, trong Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu đã thể hiện một cách thế yêu thương với một năng lực đổi mới diệu kỳ đối với ông Giakêu, thủ lãnh những người thu thuế.
II. Lòng Thương Xót của Thiên Chúa hoán cải Giakêu
Theo Tin Mừng Luca (9,5) đây là chuyến đi Giêrusalem lần cuối nên Đức Giêsu đi tới Giêrikhô, thành phố giáp ranh và là cửa ngõ đi vào thành Giêrusalem. Nơi đây Chúa Giêsu lại loan báo lần nữa về cuộc khổ nạn sắp tới của Ngài. Còn các môn đệ thì vẫn ngỡ ngàng “không hiểu, không rõ” gì cả (18, 31). Nên khi gần tới Giêrikhô, Đức Giêsu mở mắt cho một người mù: “Lập tức anh ta nhìn thấy được và theo Ngài” (18,35-43) để củng cố niềm tin cho các môn đệ về sứ mệnh của Ngài.
Sau khi vào Giêrikhô, Đức Giêsu đi ngang qua thành ấy, Ngài đã tỏ lòng nhân từ thương xót và gần gũi với Giakêu, một người đứng đầu những người thu thuế.
Bài tường thuật này là của riêng Thánh Luca, minh hoạ đề tài hoán cải. Một đề tài rất được Luca ưa chuộng (x 5,32). Trong giai đoạn của hành trình lên Giêrusalem, cuộc hoán cải của người thu thuế Giakêu làm nổi bật sứ mệnh của Đức Giêsu: “Ngài đến để tìm và kiếm những gì đã hư mất” (c.10).
Chúng ta có thể ghi nhận những thái độ, cách xử sự trong cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người thu thuế Giakêu.
1. Thái độ và cách xử sự của đám đông dân chúng và những người Biệt Phái, Kinh Sư.
Trước hết là thái độ của đám đông dân chúng. Họ giống như các người Biệt Phái và Kinh Sư vốn bất bình trước thái độ Chúa niềm nở tiếp đón những người tội lỗi, những người thu thuế và ăn uống đồng bàn với họ (Lc 15). Việc đó đã trở nên chướng tai gai mắt đối với những người lãnh đạo tôn giáo thời đó. Họ liệt kê Ngài vào hạng người mê ăn uống, bạn bè với quân thu thuế và tội lỗi. Trong ngôn ngữ thường ngày, Người Do Thái thường liên kết người thu thuế với kẻ bội giáo, dân ngoại và gái điếm (Mt 5,45-46; 18,17). Vì thế, khi Chúa Giêsu ngỏ lời với Giakêu: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” thì đám đông xầm xì với nhau “nhà một người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ”.
Thái độ và lối xử sự đó gây ra hậu quả tai hại là phân chia giai cấp, chia rẽ chủng tộc, kỳ thị tôn giáo và tự cô lập mình. Từ đó, tạo ra hạng người kiêu căng tự coi mình là trong sạch, công chính hơn người khác, hơn dân tộc khác.
2. Thái độ và lối xử sự của Giakêu đứng đầu những người thu thuế
Giakêu là người tội lỗi công khai, ông làm nghề thu thuế và là người giàu có, các người thu thuế thường làm giàu bằng tống tiền và tham ô. Sự giàu có của ông hẳn là hơn các chủ thầu ở các thành khác, vì thành Giêrikhô là một đô thị cổ nhất, cách Giêrusalem 23 cây số, nằm trong vùng thung lũng sông Giođan, là giao điểm của đường lên Giêrusalem và các lối khác qua sông Giođan, để toả về các vùng đất phía đông sông Giođan. Giêrikhô có một rừng chà là rất lớn, những vườn cây thuốc thơm nổi tiếng quốc tế, cách xa mấy dặm vẫn ngửi thấy mùi thơm. Các vườn hoa hồng ở đó cũng rất nổi tiếng. Người ta gọi Giêrikhô là “thành cây chà là”. Sử gia Do Thái Josephus gọi là “Khu đất thần tiên, khu đất màu mỡ nhất của Palestine”. Chúa Giêsu đi qua thành này, Ngài đã chứng kiến có kẻ tin, có kẻ không tin. Trong đó có ông Giakêu giàu có nhưng ông lại khao khát tìm đến gặp Chúa Giêsu.
Khi ông nghe nói về Chúa Giêsu hay tiếp nhận những người thu thuế và tội nhân, ông cũng muốn thử xem thái độ của Chúa Giêsu đối với ông thế nào. Ông liền chạy về phía trước, trèo lên cây sung để nhìn cho được Chúa Giêsu đi ngang qua đó. Thấy lòng tin của Giakêu, Chúa Giêsu ngước mắt nhìn lên và nói với ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Thế là Giakêu tụt xuống và mừng rỡ đón rước Ngài vào nhà mình.
III. Thái độ và lối xử sự của Chúa Giêsu là cung cách của Thiên Chúa
Lối xử sự của Chúa Giêsu chính là cung cách của Thiên Chúa, Ngài làm cho mặt trời mọc lên soi sáng cho muôn loài, cho kẻ lành cũng như kẻ dữ, làm mưa xuống cho mọi tạo vật, cho kẻ công chính cũng như kẻ bất lương. Đó cũng chính là lối xử sự của Đấng cứu độ hằng xót thương những kẻ tội lỗi, hướng dẫn những kẻ lầm đường lạc lối, cứu chữa những kẻ yếu đuối, tìm kiếm những kẻ hư mất. Cũng chính sứ mạng đó mà Người đi lên Giêrusalem để chịu nạn chịu chết đem lại ơn cứu độ cho nhân loại.
Hình ảnh của Đức Giêsu cho chúng ta thấy một Thiên Chúa như diễn tả của sách Khôn Ngoan: “Thiên Chúa chẳng từ nan để vượt qua những ranh giới ứng kỵ, giữa thanh sạch và nhơ uế, giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa lề luật và cứu sống. Ngài đến để gặp gỡ những người mà Ngài yêu thương, Ngài tìm kiếm và cứu độ họ”.
Và dư âm của Lời Chúa trong sách Êdêkien: “Vì Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ed 18,21). Cuộc viếng thăm của Chúa Giêsu tại nhà ông Giakêu đã đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời của ông. Ông đã khao khát gặp Chúa, và vì thế ông đã được Chúa thi ân. Bởi vì điều cốt yếu của Tin Mừng Đức Kitô chính là ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa chứ không phải do nỗ lực luân lý của con người. Chính Thiên Chúa đi tìm kiếm Giakêu trước khi ông tìm đến Ngài. Ngài đã mời gọi ông trước khi ông gặp Ngài. Cuộc tiếp xúc này đã dẫn ông đến thái độ hối cải chân thành. Ông đã thể hiện sự trở lại của mình bằng một hành động cụ thể thiết thực: “Này đây, phân nửa tài sản của tôi, tôi sẽ phân phát cho người nghèo, và nếu tôi có chiếm đoạt của ai cái gì tôi xin đền gấp bốn”. Và bởi tin vào Chúa Giêsu, người thu thuế thành Giêrikhô đã chứng tỏ mình là con cháu của Abraham “cha của mọi kẻ tin”.
Lòng tin nơi Chúa Giêsu đem lại ơn cứu rỗi dành cho tất cả mọi người, cả cho những kẻ thấp hèn, tuyệt vọng và bị khinh miệt nhất. Câu chuyện Tin Mừng kết thúc bằng lời công bố long trọng của Chúa Giêsu: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.
Còn chúng ta, mỗi lần rước Chúa vào lòng, chúng ta cũng phải có tâm tình biến đổi đời sống bằng những công việc cụ thể như: Tha thứ thay vì kết án, bác ái thay vì gây thiệt hại, tình thương thay vì ghen ghét, quảng đại thay vì ích kỷ, vị tha thay vì vụ lợi.
Trong tâm tình và bầu khí của những tuần lễ cuối của năm phụng vụ, chúng ta hãy nhìn mẫu gương biến đổi đời sống của ông Giakêu, để hàng ngày nỗ lực sám hối và quyết tâm biến đổi đời sống. Không những chúng ta cần gạt bỏ những dính bén về của cải vật chất, xác thịt; lướt thắng những tiêu cực và những đam mê xấu trong cuộc sống, nhưng còn phải tích cực khao khát về Chúa, tìm kiếm Chúa và sống theo Chúa để chúng ta có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi mà là Chúa sống trong tôi”.
Trong cuộc điều tra phong thánh cho cha Gioan Maria Vianey, toà án phong thánh đã mời tất cả những ai đã có dịp tiếp xúc với thánh nhân đến đặt tay trên phúc âm và thề nói hết mọi sự thật, tốt cũng như chưa tốt về Người. Trong số những chứng nhân được mời đến có một bác nhà quê chất phác nói một câu đơn sơ đầy ý nghĩa: “Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một con người”.
Ước gì mỗi lần rước lễ, chúng ta cũng phải tỏ lòng khao khát và tin tưởng Chúa ngự vào nhà linh hồn mình bằng tâm tình sám hối và quyết tâm biến đổi đời sống cho phù hợp với phẩm giá là đền thờ của Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị. Amen.
63.Chúa Nhật 31 Thường Niên
Biến đổi nhờ nhận ra Chúa yêu thương và tin tưởng
Có lẽ trong cuộc sống ít nhiều chúng ta đã chứng kiến nhiều sự biến đổi. Biến đổi cảnh vật, biến đổi nơi chốn và nhất là con người được biến đổi. Sau khi biến đổi những cảnh vật, những nơi chốn và những con người có thể tốt hơn hay có khi cũng xấu hơn. Dường như ai trong chúng ta cũng đều mong muốn với sự biến đổi đó mọi sự sẽ trở nên tốt hơn và có giá trị hơn.
Mỗi sự biến đổi đều có động lực của nó. Chẳng hạn, một bạn trẻ sau khi đi làm xa một thời gian, nhờ có được nhiều tiền trở về quê biết quan tâm và giúp đỡ đến bà con của mình. Đoạn Tin mừng Giáo hội cho chúng ta suy niệm hôm nay cũng cho thấy một sự biến đổi. Đó là ông Dakêu đã biến đổi cách sống của mình. Chúng ta xem ông đã biến đổi như thế nào và do đâu khiến ông đã được biến đổi.
Chúng ta biết, trong xã hội Do thái lúc đó những ai làm nghề thu thuế được liệt vào một trong những người tội lỗi đáng sợ. Ai tiếp xúc với những hạng người như thế sẽ bị ô uế. Những ai được xem là công chính rất sợ phải tiếp xúc với những người tội lỗi như thế. Mà ông Dakêu là một người thu thuế. Hơn nữa, ông lại còn là người đứng đầu trong các người thu thuế. Như thế, với cái nhìn ấy ông Dakêu thật là một người tội lỗi rất đáng sợ.
Ngày kia, nghe tin Chúa Giêsu đi ngang thành Giêricô ông chỉ muốn tìm cách xem Người là ai. Vì quá lùn nên ông đã trèo lên cây sung để xem mặt Người. Biết thế, không những Chúa Giêsu cho ông thấy mặt mà Chúa Giêsu còn bảo ông: “ Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông! “. Nghe lời ấy ông quá đỗi vui mừng: “ vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người “.
Vì yêu thương và tin tưởng Dakêu nên Chúa Giêsu đã không ngại gợi ý để vào nhà ông và dùng bửa với ông. Đến nổi những người khác bàn tán xầm xì: “ Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ! “. Chắc chắn ông Dakêu đã nhận ra được điều ấy nên ông đã hoàn toàn thay đổi cách sống của mình: “ Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn “. Từ một con người chỉ biết thu vào cho mình giờ đây nhờ tình yêu và sự tin tưởng của Chúa Giêsu nên ông đã trở thành con người biết mở ra cho người khác.
Ai trong chúng ta cũng được Thiên Chúa yêu thương và tin tưởng như thế. Vì yêu thương và tin tưởng nên Thiên Chúa đã trao phó cho chúng ta quản lý mạng sống của mình. Vì yêu thương và tin tưởng nên Thiên Chúa đã trao cho chúng ta những sứ mạng. Có người làm giáo sĩ, có người làm tu sĩ, có người làm cha làm mẹ trong gia đình, có người lãnh trách nhiệm này trách nhiệm nọ trong họ đạo...
Nếu chúng ta nhận ra được Thiên Chúa đang yêu thương và tin tưởng mình chắc chắn đời sống chúng ta sẽ thay đổi nhiều. Chúng ta sẽ biết phục vụ tốt trong vài trò bổn phận của mình.
64.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của JKN.)
Câu hỏi gợi ý:
1. Đối với người xấu, thái độ xa tránh để trừng phạt họ và thái độ gần gũi yêu thương họ, thái độ nào có tác dụng cảm hóa họ nhiều hơn?
2. Để trở nên tốt, con cái ta cần tình thương hay cần những lời khuyên của ta hơn? Cái nào có khả năng thúc đẩy chúng làm điều tốt nhiều hơn?
3. Khi con cái bạn sợ roi hơn sợ bạn buồn, bạn có nghĩ rằng bạn đã chưa biểu lộ tình thương của bạn đối với con cái đúng mức phải có? Hoặc bạn đã dùng quá nhiều lời khuyên mà quên rằng chúng cần bạn biểu lộ tình thương đối với chúng nhiều hơn nữa (qua sự quan tâm, âu yếm, dịu dàng…)?
Suy tư gợi ý:
1. Hai thái độ có thể có đối với những người tội lỗi
Đối với những người tội lỗi, để giúp họ từ bỏ con đường tội lỗi hầu trở nên tốt hơn, người ta có thể có hai thái độ:
· Một là tẩy chay xa lánh họ để nhờ đó họ nhận ra tội lỗi của mình mà sửa chữa. Sách Dân số đã từng khuyên: «Này, chớ tới gần lều của những con người hư đốn ấy, và đừng đụng tới tất cả những gì của họ, kẻo vì liên luỵ mà anh em cũng bị huỷ diệt cùng với tất cả tội lỗi của họ» (Ds 16,26). Thánh Phaolô có khi chủ trương tương tự: «Thưa anh em, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyền cho anh em phải xa lánh mọi người sống vô kỷ luật, không theo truyền thống anh em đã nhận được từ nơi tôi» (2 Tx 3,6), và ngài khuyên Ti-mô-tê: «Anh hãy xa lánh tất cả những người ấy» (2 Tm 3,5). Chính Đức Giêsu cũng có khi chủ trương phải dùng biện pháp này đối với những kẻ ngoan cố như biện pháp cuối cùng sau khi tất cả mọi biện pháp đều thất bại: «Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế» (Mt 18,17).
Do đó, nhiều Kitô hữu được gọi là đạo đức cũng chủ trương như vậy, thậm chí áp dụng nó một cách hết sức máy móc. Biện pháp này mang tính cảnh cáo, trừng phạt, nhiều khi cần thiết và có tác dụng rất tích cực, nhưng cũng rất lắm khi bị phản tác dụng: tạo khó khăn, gây bất mãn, bít đường sống lương thiện, hoặc đẩy sâu vào đường tội lỗi.
· Thái độ thứ hai ngược lại là gần gũi và biểu lộ tình thương đối với họ. Đây là thái độ mà Đức Giêsu thường xử sự đối với người tội lỗi, và hầu như luôn luôn có tác dụng tốt. Ngài không hề xa tránh những người thu thuế, bọn đĩ điếm, vốn bị coi là hạng người tội lỗi, như những kinh sĩ và người Pha-ri-siêu thường làm. Ngài sẵn sàng ở trọ nhà người tội lỗi (x. Lc 19,7), ăn uống và giao du thân thiện với họ (x. Mt 9,10; Mc 2,15; Lc 5,30). Người Do Thái thời ấy không thể tưởng tượng được một ngôn sứ như Ngài lại có thể đối xử thân mật như thế đối với người tội lỗi, hoặc để họ đụng chạm đến thân thể mình (x. Lc 7,39). Không những thế, Ngài còn nhận một người thu thuế vào số các môn đệ thân tín nhất của mình (x. Mt 10,3; Lc 5,27).
Kết quả của thái độ nhân từ đó là biết bao người tội lỗi (thu thuế, đĩ điếm…) trở lại con đường ngay chính, say mê nghe Ngài rao giảng Tin Mừng, mà bài Tin Mừng hôm nay kể ra một trường hợp điển hình. Chính vì Đức Giêsu sẵn sàng vào nhà ông Giakêu, một kẻ bị coi là tội lỗi, ăn uống và trọ tại nhà ông, mà con người ông đã hoàn toàn thay đổi. Thử tưởng tượng xem, nếu Ngài cũng đối xử với Giakêu như cách mà người Do Thái thường làm là tẩy chay và xa lánh ông, thì kết quả ra sao! Còn biết bao trường hợp trở lại khác vì thái độ bao dung và gần gũi của Ngài (x. Lc 7,36-50; Ga 4,39-42; 8,2-11), đến nỗi Đức Giêsu cho biết chính bọn tội lỗi biết hối cải ấy còn vào thiên đàng trước và đông hơn cả bọn kinh sĩ và Pha-ri-siêu nữa (Mt 21,31-32).
2. Người Kitô hữu nên có thái độ nào
Thực ra, thái độ nào cũng có cái hay và cái dở của nó. Vì thế, người Kitô hữu nên tùy nghi mà áp dụng thái độ này hay thái độ kia trong từng trường hợp, miễn sao đạt được kết quả tốt. Thái độ yêu thương gần gũi thường có nhiều cơ may cảm hóa được người tội lỗi hơn thái độ tẩy chay rất nhiều. Điều này được chứng tỏ trong Tin Mừng qua thái độ của Đức Giêsu. Thái độ tẩy chay chỉ nên áp dụng một cách hạn chế, như một biện pháp cuối cùng, sau khi mọi biện pháp khác đều thất bại. Và chỉ nên áp dụng khi được thúc đẩy bởi tình thương và tinh thần trách nhiệm chứ không phải bởi lòng ghen ghét, ác cảm, với tinh thần bỏ mặc, vô trách nhiệm. Rất tiếc, biện pháp này lắm khi đã bị lạm dụng trong Giáo Hội gây ra rất nhiều điều đáng tiếc.
Cũng nên nhắc lại rằng cần phân biệt sự ác và người ác. Cần phải ghét bỏ và xa tránh sự ác chứ không phải người ác. Đức Giêsu và các tông đồ dạy ta phải yêu thương người ác và kẻ thù, làm ơn cho họ (x. Mt 5,44; Lc 6,27; Rm 12,20, v.v…). Trong số các điều ác, thì dường như Đức Giêsu tỏ ra ghét tính kiêu ngạo, sự giả hình, tính hay kết án và khinh chê người khác hơn tất cả những tính xấu khác. Tội lỗi bao nhiêu Chúa cũng tha được, nhưng dường như Chúa không tha tội cho những kẻ không chịu tha thứ cho người khác (x. Mt 18,23-35), những kẻ hay kết án người khác (x. Lc 6,37), những kẻ tự kiêu và lên mặt chê bai người khác (x. Lc 18,9-14). Chính vì thế mà bọn thu thuế và đĩ điếm dễ vào thiên đàng hơn bọn kinh sư và Pha-ri-siêu là những kẻ hay lên án và khinh chê kẻ khác. Do đó, chúng ta phải xét lại thái độ của chúng ta đối với người xấu, coi chừng kẻo Chúa kết án ta nặng hơn những kẻ bị ta kết án vì thái độ bất bao dung và kiêu ngạo của ta.
3. Kinh nghiệm cải hóa trong việc giáo dục con cái
Kinh nghiệm giáo dục con cái cho tôi thấy: con cái mà hư hỏng không phải vì chúng không biết điều nào nên làm điều nào nên tránh cho bằng chúng không có đủ động lực thúc đẩy chúng làm những điều chúng biết phải làm, và xa tránh những điều chúng biết là không nên làm. Chúng cũng có một tâm lý như thánh Phaolô, và cũng là tâm lý của tất cả mọi người: «Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm» (Rm 7,15.19). Ai cũng có tính xác thịt yếu đuối: «Tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn» (Gl 5,17). Vì thế, đừng quan trọng hóa những lầm lỗi của chúng hơn việc biểu lộ tình thương và thông cảm của ta. Hãy bắt chước Thiên Chúa: «Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải» (Kn 11,23). Ngài kiên nhẫn chờ đợi ta trở về với Ngài. Tại sao ta không thể kiên nhẫn chờ đợi con cái mình thay đổi?
Điều quan trọng là tạo cho chúng sức mạnh hơn là cho chúng một mớ lý thuyết. Khi làm cho con cái mình cảm nghiệm rằng chúng được cha mẹ yêu thương, quan tâm, tôn trọng, chăm sóc và sẵn sàng hy sinh tất cả cho chúng, thì tôi nhận thấy chúng tỏ ra yêu thương cha mẹ hơn, hiếu thảo, vâng lời, chịu khó làm việc hơn, vì thế ít lầm lỗi hơn. Khi ấy, tôi thấy rõ rằng hình phạt không làm chúng sợ cho bằng việc nhìn thấy chúng tôi buồn. Chính tình thương đầy thông cảm và tha thứ mà chúng cảm nhận được nơi chúng tôi, và những gương hy sinh, chiến đấu mà chúng thấy nơi chúng tôi đã giúp chúng vượt thắng khi chiến đấu với cám dỗ, với thói hư tật xấu của tuổi trẻ. Chúng tôi khám phá ra rằng để trở nên tốt, con cái chúng ta cần tình thương, sự dịu dàng, âu yếm, sự quan tâm, gần gũi của chúng ta hơn những lời khuyên bảo, trừng phạt. Nếu chúng không cảm nghiệm được tình thương của ta, thì mọi lời khuyên, mọi cố gắng giáo dục của ta đều trở nên vô ích.
Vì thế, tôi không muốn khuyên bảo con cái tôi quá nhiều, nhất là về những điều mà tôi nghĩ chúng đã quá biết rồi. Khuyên và trừng phạt quá nhiều chỉ làm cho bầu khí giữa cha mẹ và con cái luôn căng thẳng, khiến sự thân mật và thông cảm giữa chúng với ta ngày càng giảm đi. Nhất là làm cho chúng có cảm tưởng rằng chúng ta ghét chúng hoặc không thương chúng đủ. Và từ đó, chúng càng ngày càng xa cách ta, không muốn nghe ta nói gì nữa, khiến cho mọi lời khuyên bảo răn đe của ta đều ra «công dã tràng». Cổ nhân ta có câu: «giáo đa thành oán» mà tôi phải công nhận là đúng khi thấy mình thất bại trong việc giáo dục con cái một thời gian. Hay chê bai và phiền trách chúng quá nhiều có thể làm chúng thất vọng, mất tự tin, khiến chúng nghĩ rằng chúng không thể làm được điều tốt. Vì nếu không có động lực là tình yêu thúc đẩy, chúng không thể làm được những điều chúng biết là phải làm. Tình yêu của chúng đối với ta là động lực mạnh nhất để chúng nên trở nên tốt.
4. Áp dụng vào việc cải hóa người xấu
Làm cho mọi người chung quanh ta trở nên tốt hơn là một bổn phận của mọi Kitô hữu. Từ bài học của bài Tin Mừng hôm nay, và từ kinh nghiệm giáo dục con cái, tôi nhận ra rằng: để trở nên tốt, người ta cần lời khuyến khích hơn trách cứ, cần cảm thông hơn kết án, cần động viên hơn trừng phạt, cần tình thương và gương sáng hơn lời khuyên bảo, cần được gần gũi hơn bị xa tránh. Cả hai cách đều tốt, nhưng cách trước thường tốt, dễ sử dụng và có hiệu quả hơn cách sau mà không gây tai hại. Cách sau khó sử dụng hơn rất nhiều, vì nó có thể động chạm đến tự ái, danh dự, quyền lợi của người khác, hoặc tạo nên khó khăn cho họ, nên dễ bị phản tác dụng, có thể gây ác cảm, thù ghét, căng thẳng. Vì thế, muốn sử dụng cách sau thì phải hết sức khôn khéo và tế nhị. Nhưng dù sử dụng cách nào thì cũng phải làm cho người mà ta muốn cải hóa cảm nhận được tình thương, thiện cảm và thiện chí của ta đối với họ. Và trước khi cảm hóa ai, hãy nhận thức rằng rất nhiều khi – trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai – ta cũng yếu đuối và lầm lỗi không kém gì họ.
Cầu nguyện
Lạy Cha, xin cho con nhận ra bản tính yếu đuối và hay lầm lỗi của mình trước khi muốn cảm hóa bất kỳ ai. Nhờ nhận thức đó, con sẽ thông cảm với tất cả những yếu đuối và lầm lỗi của mọi người, con sẽ yêu thương họ nhiều hơn. Chính nhờ sự yêu thương và thông cảm đó, con sẽ cảm hóa được nhiều người hơn. Xin cho con học được cách hành xử của Đức Giêsu đối với những ai bị mọi người coi là tội lỗi như Giakêu. Cho con biết thật sự yêu thương những con người như thế trước khi muốn cảm hóa họ. Amen.
65.Gặp - thấy - suy tư và sống
(Suy niệm của Joshepus Quang Nguyễn)
Đời sống con người gắn liền với những cuộc gặp gỡ giữa người với nhau và nhìn thấy vạn vật hoặc các biến cố sự kiện. Nhưng trong những lần gặp và thấy đó, chúng ta có bao giờ suy nghĩ hay có cái nhìn thâm sâu để rồi sau đó mình sống sao cho tốt hơn ở bên ngoài cuộc sống chúng ta chưa? Chẳng hạn, có những lần chúng ta gặp gỡ người mình yêu, mình mến mộ, hay gặp một nhân vật nổi tiếng, gặp một người thân xa cách đã lâu nay đã thành đạt, chúng ta có tự hỏi lòng mình, tại sao họ thành công như thế còn mình thì như thế này? Mình phải phấn đấu cho bằng được thôi! Hay là có những lần ta gặp người khó ưa, người tội lỗi, ích kỷ, ta có đặt câu hỏi tại sao họ lại như vậy, ta phải làm gì bây giờ, phải sống sao với họ đây? Rồi có những lần ta gặp những người nghèo hèn, các bệnh nhân mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, lòng ta có đau thắc, động lòng thương xót hay thủ thầm rằng ta phải làm gì để giúp họ đây, có nên ra tay giúp họ không? Đó là những lần gặp những con người mắt thấy tai nghe, còn gặp những sự kiện những biến cố xẩy ra quanh ta thì sao? Chẳng hạn, như nhìn thấy biến cố 39 người Việt nam đi xuất khẩu lao động bị chết ngạt trong thùng Contenner tại nước Anh ngày 23-10 vừa qua, chúng ta có cúi đầu cầu nguyện cho họ không? Chúng ta chợt nghĩ rằng mình phải sống sao đây vì đời người sao nhanh quá? Và hôm nay, chúng ta đang ở trong tháng cầu cho những đã qua đời, chúng ta có đến gặp các bậc tiền nhân ông bà tổ tiên cha mẹ cô chú bác hay mọi người đã qua đời tại các nhà Mồ hay các nghĩa trang không, và khi đến thắp hương cho họ, cầu nguyện cho họ là dĩ nhiên nhưng lòng chúng ta nghĩ gì? Có bao giờ nghĩ rằng mình sẽ cố gắng sống đạo đức thánh thiện hơn, cố gắng hoán cải thay đổi để hôm nay được thánh thiện mai sau được lên Thiên Đàng? Nếu làm được như vậy, những cuộc gặp gỡ như thế không chỉ dừng lại ở việc gặp mặt, gặp gỡ xã giao, nhưng là cuộc gặp gỡ thâm sâu, gặp gỡ giữa hai tâm hồn và dẫn đến một hướng sống tốt cho ta ở tương lai.
Trang Tin Mừng hôm nay kể lại cho chúng ta cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Giakêu. Đức Giêsu, Đấng Thánh của Thiên Chúa, lại muốn kết thân với Giakêu, kẻ tội lỗi bị mọi người xa lánh. Qua cuộc gặp gỡ này, Đức Giêsu đã cứu được một tội nhân khỏi vòng tội lụy; còn Giakêu không chỉ chia nửa gia tài của mình cho người nghèo, nhưng Ông và cả gia đình còn đón nhận được hồng ân cứu độ. Ông được như vậy là nhờ đâu? Nhờ Ông nghe thấy tiếng tăm và Lời Chúa từ xa, ông suy nghĩ và muốn sống như Ngài và Lời Ngài dạy, nên ông tìm gặp cho bằng được? Vì trước đó ông cũng leo lên được nấc thang xã hội, đã đạt được vị trí ước mong, đã thu tích được một gia tài. Có được gia tài này, một phần là nhờ trí tuệ, sự miệt mài làm việc, một phần cũng là nhờ bòn mót và kiếm chác của người khác, bởi lẽ ông đứng đầu những người thu thuế. Cho nên, người ta khinh bỉ ông, cho ông là kẻ tội lỗi. Và hôm nay, khi nghe nói Đức Giêsu đi qua đó, và Ngài là bạn của những kẻ không được ai yêu thương, nên ông đã leo lên một cây sung bên đường để xem cho biết mặt Đấng ấy và gặp cho được Ngài.
Bề ngoài cái nhìn đầu tiên là của Giakêu, đang cháy bỏng ước muốn xem Đức Giêsu thôi, nhưng bên trong muốn hoán cải. Nhưng sẽ không có gì xảy ra nếu như Đức Giêsu đã không ngước mắt nhìn ông trên cây sung. Chúa Giêsu đã “nhìn lên” Giakêu. Người không xem thường ông, nhưng nhận ra nơi ông một con người sẵn sàng đón nhận và hoán cải. Anh mắt, thái độ và lời nói của Người là biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân. Vì lòng thương xót đối với tội nhân, Người chẳng màng đến những lời xì sầm, bàn tán hay dị nghị của đám đông nên đã hạ mình xuống làm bạn với một người tội lỗi, quả như Lời Chúa trong bài đọc 1, Sách Khôn Ngoan khẳng định: “Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên. Chúa Tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa. Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ. Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa”.
Qua cuộc gặp gỡ chân tình của Chúa Giêsu, ông Giakêu thay đổi tức khắc từ ác đổi thành thiện, từ ích kỷ hà tiện thành rộng rãi, từ trí tuệ đến tâm linh, từ trái tim chai đá đến trái tim biết yêu thương, nên ông sẵn sàng cho đi tất cả để chuộc lại những lỗi lầm mình đã gây ra cho tha nhân hầu tương lai tương ông được sáng hơn, thanh thản hơn, bình an và hạnh phúc hơn, thánh thiện hơn. Cho nên Lời tuyên bố của Đức Giêsu cho thấy phép lạ thật sự đã xảy ra ngay trong cuộc gặp gỡ giữa Người và Giakêu: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Giờ đây, Giakêu không còn mang danh hiệu kẻ tội lỗi nữa, nhưng ông mang tên thật của mình là “người thanh khiết”.
Hôm nay, Đức Giêsu hằng mong muốn gặp gỡ mỗi người chúng ta, vì trước mặt Thiên Chúa chúng ta cũng là những kẻ tội lỗi đáng thương như Giakêu, cũng cần đến sự hoán cải và ơn tha thứ. Thiên Chúa không chờ ta quyết định đến với Người. Người luôn đi bước trước đến với ta, và Người vẫn còn đến và tiếp xúc chúng ta qua các Bí Tích nhất là Thánh Lễ. Thế nên chúng ta phải năng đến gặp Thiên Chúa để Ngài dìu dắt, đồng hành, sẻ chia bảo ban dạy dỗ hầu ta nên thánh và thiện nhờ chúng ta biết hoán cải hằng ngày để từ một tấm lòng kín trở nên rộng mở bao dung, từ một quả tim chai đá, bất công trở thành mềm mại và ngời sáng qua việc sống công bằng, bác ái và sẻ chia, cầu nguyện cho người còn sống hay đã qua đời.
Tháng 11 là tháng cơ hội để chúng ta đi viếng mộ gặp các người đã khuất và cầu nguyện cho những người đã chết trong thân xác bụi trần và đang cần được thanh luyện để được vào thiên đàng vĩnh phúc, vì “ai nên khôn mà không dại một lần”. Ai cũng cần được thanh luyện trong tình thương của Chúa. Vì thế, qua những thánh lễ chúng ta dâng để gặp Chúa và cầu nguyện cùng Chúa cho các Đẳng linh hồn, qua những hy sinh bác ái để lập công đền tội cho các Đẳng linh hồn qua việc thăm viếng mộ, lời kinh cầu hằng đêm ngày và qua những việc lành phúc đức chúng ta làm để dâng cho các Đẳng linh hồn vì lòng yêu mến Chúa và tha nhân. Với niềm tin đó, chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin…
66.Chúa Nhật 31 Thường Niên
Lòng thương xót Chúa luôn biển đổi đời ta
(Suy niệm của Joshepus Quang Nguyễn)
Tại Giáo phận Đà nẵng có một Hội rất đặc biệt đó là Hội Tông Đồ khuyết tật, tức là gồm những người khuyết tật. Hội này do Cha Phêrô Trần Đức Cường lập ra Hội nhằm qui tụ những người khuyết tật trong cũng như ngoài Giáo phận không phân biệt tôn giáo. Ngày Chúa nhật họ qui tụ lại Hội trường Tòa giám mục Đà nẵng để gặp gỡ, chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, học giáo lý và dâng Thánh lễ. Nhờ thế mà rất nhiều người đã được Chúa thương xót biến đổi từ một người mặc cảm, tự ti, buồn tủi, khép kín nay đã lột xác thành một người bình thương, họ cảm thấy bình an vui sống hòa nhập vào xã hội như mọi người. Cũng có rất nhiều người chưa biết Chúa nhưng nhờ sự can đảm đến với Chúa qua việc tham gia sinh hoạt của Hội này, họ được lòng thương Chúa biến đổi thành con Chúa giúp ích cho xã hội và Giáo Hội. Và rồi cũng có nhiều người trước đây khuyết tật cả thể xác lẫn tâm linh nhưng nhờ đến với Chúa và lòng thương xót Ngài qua việc tham gia Hội, họ được Chúa biến đổi cho lành bệnh thể xác lẫn tâm linh.
Tin Mừng hôm nay cho ta thấy ông Da-kêu là người khuyết tật tâm hồn nên ông cố tìm gặp cho được Chúa Giêsu để được Chúa thương biển đổi đời ông từ con người tội lỗi thành thánh và thiện. Và quả vậy, khi Chúa đến và ở lại nhà ông, ông được Chúa ban ơn cứu độ. Khi ông được Chúa thanh tẩy, ông đã thay đổi cách sống, chuộc lại những lỗi lầm và đền bù những bất công đã gây ra trong quá khứ. “Tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã lường gạt ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Điều đáng chú ý ở đây là cái gì làm cho ông đổi đời? Có phải là thiên đàng? Hay ông sợ phạt, sợ xuống hỏa ngục? Không phải? Vì lòng thương thương xót Chúa, Chúa Giêsu biến đổi một con người tội lỗi trở thành người công chính, một thánh sống, từ một người bị cộng đoàn khinh chê ruồng bỏ, ông được Chúa Giêsu cho hội nhập vào cộng đoàn con cháu tổ phụ Abraham.
Lời Chúa hôm nay khẳng định với chúng ta về tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Tình yêu thương xót ấy mạnh đến nỗi sẵn sàng tha thứ và thứ tha tất cả dù con người phản bội, miễn là người ấy biết chạy đến với Chúa và lòng thương xót của Ngài. Cụ thể, Lời Chúa trong bài đọc 1, Sách Khôn Ngoan nói: “Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải. Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên” (Kn 11,23-24). Rồi, nhìn lại đời sống trần thế của Chúa Giêsu, dung nhan lòng thương xót của Chúa Cha, chúng ta thấy rõ ràng Chúa Giêsu thương xót hết mọi người: dân ngoại, những người nghèo, tội lỗi, những phụ nữ, trẻ em, những người bệnh tật, bị quỷ ám, người thu thuế như Giakêu hôm nay. Chính những hạng người đó lại là đối tượng của lòng thương xót Chúa. Vì, như Chúa Giêsu đã nói: “Những người khoẻ mạnh không cần gì đến thầy thuốc, nhưng là những người đau yếu. Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi" (Mc 2,17). Vì vậy, chúng ta cần phải đến và gặp Chúa, tín thác vào lòng thương xót Chúa vì chưng chỉ có Chúa, Đấng là giàu lòng thương xót mới biến đổi cuộc đời chúng ta: từ bệnh nhân thành người khỏe mạnh bình thường, từ một người tội lỗi thành thánh thiện, từ người chưa biết Chúa trở thành con Chúa và từ người đã chết Chúa cho sống lại.
Cụ thể, Thánh Kinh kể ông Gióp là người đạo đức, công chính và kính sợ Chúa nhưng đùng một cái ông bị bệnh ung nhọt hành hạ khủng khiếp, tan gia bại sản, bà con, bạn bè hàng xóm và thậm chí vợ con bỏ rơi ông. Ấy vậy, ông vẫn kiên trì chạy đến Chúa, gặp Chúa trong cầu nguyện liên lỉ và cuối cùng lòng thương xót Chúa biến đổi đời ông: ông được Chúa chúc phúc ban ơn cho ông lành sạch bệnh tật, con cái đề huề và của cải sung túc. Rồi, vua Đavít, vị vua chân chính và đạo đức nhưng đã trót phạm tội dâm dục và giết người. Ông được Ngôn sứ cảnh tỉnh và ông đã nhận biết mình đã phạm tội xúc phạm đến Chúa và tha nhân, vua Đavít hối hận và chạy đến lòng thương xót Chúa để xin lỗi Chúa cả đời ông. Chúa biến đổi đời ông bằng cách tha tội cho vua mà còn làm cho ông trở thành vị vua đầy thánh thiện của dân Ít-ra-en.
Trong đời sống thường ngày của chúng ta, Thiên Chúa luôn luôn tìm kiếm từng người chúng ta, chỉ có điều chúng ta có ao ước đến gặp Ngài hay không? Chúng ta có dám vượt qua sự biếng nhác, những mặc cảm, nhưng bon chen của sự đời để đến gặp Chúa qua việc kinh nguyện, tín thác vào Chúa và tham dự cử hành các Bí tích để lòng thương xót Ngài biến đổi đời ta hay không? Nếu chúng ta mạnh dạn sẵn sàng đáp trả, dám can đảm sám hối và canh tân đời sống như ông Da-kêu, chắc chúng ta sẽ được ơn cứu độ. Chẳng hạn, Thánh Augustinô, hay một số anh chị em tông đồ khuyết tật của Giáo phận Đà Nẵng và mới đây rõ ràng nhất là chàng trai khuyết tật cử tạ Lê Văn Công đã dành được huy chương vàng thế giới Paralympic tại Rio 2016 vừa qua nhờ anh đã dám làm dấu thánh giá để tuyên xưng Chúa là Chúa mọi sức mạnh và xin sức mạnh Thiên Chúa phù trợ anh và Thiên Chúa đã đáp lời. Và hơn đâu hết, chính mỗi người chúng ta được lòng thương xót Chúa biến đổi luôn khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa giải.
Chính nơi Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã thực sự ở giữa và ở trong lòng chúng ta và Ngài mong ước mỗi người chúng ta hôm nay bắt chước ông Da-kêu chạy đến với lòng Chúa thương xót đồng thời mở rộng cõi lòng ta ra để đón nhận Ngài và Lời Chúa vào trong cuộc sống để Ngài biến đổi đời ta. Khi gặp gỡ Chúa cách chân thành như thế thì chính Chúa sẽ ban ơn hoán cải cho ta và biến đổi ta thành những con người mới: lành sạch, thánh thiện, bình an, hạnh phúc và từ bi thương xót như lòng Chúa và lòng ta mong muốn. Ước gì, qua lời Chúa hôm nay xin cho mỗi người chúng ta biết năng chạy đến gặp Chúa qua việc tham dự cử hành các Bí Tích, siêng năng đọc kinh sáng tối, suy niệm Lời Chúa và sống Lời Chúa vì chỉ có Lời Chúa mới đem lại hạnh phúc trường sinh cho chúng ta. Amen.
67.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Đinh Ngọc Thiệu)
Câu hỏi gợi ý:
Ông Giakêu với cái nhình của người Do Thái trong bài Tin Mừng Luca.
Còn Đức Giêsu, Ngài đã nhình Giakêu như thế nào? Nhờ đâu ông được lãnh nhận ơn cứu độ?
Suy tư gợi ý:
Ông Giakêu với cái nhìn của người Do Thái:
Tin Mừng Thánh Luca hôm nay cho chúng ta hình ảnh ông Giakêu. Ông là thủ lãnh những người thu thuế và người giàu có. Vào thời này đế quốc Rôma đang đô hộ nước Do Thái. Công việc và chức vụ của ông – đối với người Do Thái – là lời thú tội công khai: ông là kẻ làm giàu bất chính và là kẻ phản quốc. Người ta khinh bỉ và tránh giao tiếp với ông, sợ bị ô uế. Và khi Đức Giêsu ngỏ lời muốn đến và lưu lại tại nhà Giakêu, họ đã xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ.” Một bức tường vô hình đã ngăn cách Giakêu với số đông những người Do Thái mộ đạo, họ đã nhìn ông với cái nhìn soi mói, nghi kỵ không khoan nhượng. Và kết quả là đường ai nấy đi.
Còn Đức Giêsu, Ngài đã nhìn Giakêu như thế nào và ông đã đáp lại ra sao?
Cho dầu có nhiều lỗi lầm đến đâu, nhưng Giakêu làm sao quên được nguồn gốc của mình: Thuộc dân tộc Do Thái, một dân tộc được tuyển chọn làm dân riêng của Chúa và đang chờ đón Đấng Cứu Thế đến. Nghe biết Đức Giêsu, một Ngôn Sư, sắp đi ngang qua khu vực, ông có ý định muốn nhìn xem Ngài tận mắt. Nhưng vì dân chúng thì đông mà ông lại thấp, ông liền chạy đến phía trước, trèo lên một cây cao để xem cho rõ. Ông tưởng việc mình làm không ai để ý. Không ngờ, vừa đến gần, Đức Giêsu nhìn lên và bảo ông xuống mau vì Ngài sẽ lưu lại tại nhà ông. Một khám phá quan trọng làm ông vô cùng ngạc nhiên và sung sướng: chính Đức Giêsu đang chủ động tìm gặp ông. Ngài không xa lánh ông như những người khác. Vội vàng ông tụt xuống khỏi cây và đón tiếp Ngài vào nhà. Mọi mặc cảm tội lỗi nơi ông tan biến hết. Ông đã thay đổi hoàn toàn. Tiền bạc, danh vọng, những điều mà trước đây ông háo hức kiếm tìm không còn lôi kéo được ông nữa. Và với một lòng thống hối chân thành, ông đã thưa với Đức Giêsu: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” (Lc 19, 8).
Do đâu mà ông Giakêu đã được lãnh nhận ơn cứu độ cách kỳ diệu như vậy? Chính cái nhìn đầy lòng nhân từ của Đức Giêsu đã mở cho ông nhận ra Ngài chính là Đức Kitô, Đấng Cứu Độ, nguồn mạch mọi ân sủng. Để minh định cho biến cố trọng đại vừa xảy ra với Giakêu, Đức Giêsu đã long trọng tuyên bố về ông trước mặt mọi người: “Hôm nay Ơn Cứu Độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Apraham, vì chưng con người đến tìm và cứu chữa những gì đã mất.” (Lc 19, 9-10)
Những bài học từ câu chuyện:
Các bài đọc Chúa Nhật hôm nay là lời tuyên xưng long trọng về lòng nhân từ của Chúa: Ngài yêu thương mọi loài mọi vật vì tất cả là tác phẩm do tay Ngài tạo nên.
Thiên Chúa giáo huấn con người từ từ, từng chút một, không nóng vộ, chậm bất bình và giàu lòng yêu thương. Ngài không nỡ bẻ gẫy cây lau đã dập, không dập tắt tim đèn còn khói.
Khi con người bất trung Ngài sẵn sàng chịu đựng, chờ đợi: “Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải.” (Kn 11, 23). Để có dịp Ngài ban ơn tha thứ, tha thứ không giới hạn. Mặc dù thông biết mọi sự, Ngài vẫn đợi cho đến giây phút cuối cùng của đời người, mới đem ra phán quyết tối hậu.
Sứ mạng của Chúa: Ngài đến không phải cho những người ngay lành, mạnh khoẻ nhưng là để “tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19, 17). Để chu toàn sứ mệnh, Ngài đã chấp nhận hi sinh, hi sinh cho đến chết và chết trên thập giá.
NGUYỆN
Lạy Cha, chúng con cám ơn Cha đã dạy chúng con bài học tuyệt vời về lòng khoan dung nhân hậu, Cha đã làm đối với những kẻ xúc phạm đến Cha. Chúng con thật thấp hèn, yếu đuối. Xin Cha ban sức mạnh để chúng con vượt thắng chính mình. Xin cho chúng con được gặp Cha thật sự và được đổi mới để chúng con biết: “ đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. Amen.
68.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. Ga. Phan Tiến Dũng)
Tin mừng hôm nay (Lc 19, 1-10) tường thuật lại cho chúng ta ơn kêu gọi-biến đổi của ông Giakêu. Hay nói khác hơn, đây là sứ vụ của Chúa Giêsu, Đấng đã yêu thương, nhìn đến, chọn gọi và ban ơn thánh hóa-biến đổi những con người yếu đuối tội lỗi, cách đặc biệt với người thu thuế tội lỗi như ông Giakêu.
Đọc và suy niệm về Tin mừng hôm nay, chúng ta sẽ thật ngạc nhiên khi khám phá ra rằng, một con người giàu có, với địa vị và quyền lực trong xã hội như ông Giakêu, thế mà ông cũng không được sự bình an và hạnh phúc thực sự; đúng ra, ông đang cảm thấy lòng mình bị trống rỗng và thiếu vắng điều gì đó. Thật vậy, điều mà Giakêu đang thiếu và rất cần, chính là tình yêu thương, sự cảm thông và trên hết đó là ơn thánh cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng. Thật đúng như vậy, tiền bạc-của cải, danh vọng, địa vị trong xã hội trần gian này đã không mang lại được cho ông điều mà ông đang rất khao khát.
Do đó, khi có được cơ hội rất thuận tiện vì biết rằng, Đức Giêsu sẽ đi ngang qua nơi mình đang làm việc, ông Giakêu đã cố gắng, nỗ lực hết sức, bất chấp những rào cản về thể lý và ngay cả những ánh nhìn không thiện cảm, những lời bàn tán dị nghị của những người xung quanh về thái độ, cung cách, hành động và việc làm của ông. Chúng ta cứ thử hình dung, một con người giàu có, quyền cao chức trọng như vậy, mà ông lại cố chạy thật nhanh để trèo lên cây sung để được nhìn xem cho được Chúa Giêsu khi Ngài đi ngang qua. Với cung cách và hành động như vậy, thì thật là mắc cười, còn ra thể thống mặt mũi của ông nhà giàu và địa vị của ông nữa. Thế nhưng, giờ đây với Giakêu, mọi thứ liên quan đến thế tục đều không còn ý nghĩa. Điều duy nhất mà lòng trí đang thúc bách ông để có được là: Tôi chỉ mong muốn làm sao để tìm gặp cho bằng được Đức Giêsu mà thôi.
Với đám đông và những người xung quanh, chắc hẳn, không ai có thể hiểu được hành động kỳ quặc này của ông Giakêu: Tại sao ông lại làm như vậy? Thế nhưng, với Chúa Giêsu, với ánh mắt nhạy bén và tấm lòng nhân từ, xót thương, Ngài đã nhận ra ngay được những thao thức và ước muốn đích thực trong cõi lòng của Giakêu. Chính vì lẽ đó: “Chúa Giêsu nhìn lên và trông thấy ông ấy, nên Người bảo ông rằng: Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi”. Chắc chắn, chúng ta sẽ không thể nào hình dung và tưởng tượng ra được niềm vui sướng và hạnh phúc của Giakêu biết là dường nào, khi được Chúa Giêsu nhìn thấy. Lại còn vui sướng gấp bội, khi Chúa lại kêu ông trèo xuống và nói cho ông biết là Chúa sẽ đến nhà của ông. Tin chắc rằng: Lúc nghe Chúa gọi tên mình và ngỏ lời với ông, Giakêu đã thầm thưa với Chúa trong lòng rằng: “Lạy Chúa, tại sao mà Chúa quá yêu thương và ưu ái với con đến mức như vậy, vì thực ra con chỉ mong được nhìn thấy Chúa mà thôi, vậy mà giờ đây, Chúa lại ban cho con ơn phúc, vượt cả trăm ngàn lần điều con mong ước, nguyện cầu”.
Thật vậy, thưa ACE, chỉ có tấm lòng biết ơn, cảm tạ của con người được lãnh nhận ơn phúc của Chúa, thì chúng ta mới phần nào hiểu được tại sao, khi Chúa đến nhà của ông, thì ông Giakêu đã có thể mạnh dạn để thưa với Chúa: “Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn”. Đây chính là cử chỉ và hành động của một con người đầy tràn niềm vui, hạnh phúc vì có ơn thánh Chúa, một con người đã được ơn thánh thúc bách để sống bác ái yêu thương, một con người đã được ơn Thánh Thần biến đổi. Với nhiều người khác, khi cho đi, có thể là cho phần dư của mình, hay nếu có đền trả lại điều mình đã gây thiệt hại cho người khác đã là tốt và khó rồi. Thế mà, với Giakêu, ông đã cho đi một nữa gia tài và đền trả gấp bốn những gì đã làm thiệt hại.
ACE thân mến, chúng ta sẽ tự hỏi: Tại sao từ con người thu thuế, tội lỗi, người bị người khác xa lánh, dèm pha mà giờ đây lại có thể thực thi được sứ vụ, hành động bác ái cao cả tuyệt vời như vậy? Thưa vì: ông Giakêu đã gặp được Đức Giêsu Kitô, vì ông đã đón nhận được tình thương cứu độ, vì ông đã nhận được ơn biến đổi từ Thánh Thần, đồng thời, đây cũng chính là hành động của con người có lòng quảng đại biết ơn về những gì mà mình nhận được từ Thiên Chúa.
Đây cũng chính là điều mà trong bài đọc một (Kn 11, 23 - 12, 2) đã ngợi ca chúc tụng Thiên Chúa: “Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa yêu thương mọi tạo vật…Chúa tốt lành và hiền hậu đối với mọi loài là dường nào! Vì thế, lạy Chúa, Chúa từ từ sửa phạt những kẻ lầm lạc, khuyên răn và dạy bảo những kẻ phạm lỗi, để họ từ bỏ tội ác mà tin theo Chúa”. Thưa ACE, với chúng ta cũng là những con người yếu đuối tội lỗi, vậy thì liệu rằng, chúng ta có khiêm tốn mở lòng để nhận ra được ánh nhìn với lòng xót thương và sự tha thứ mà Chúa đang ban tặng cho chúng ta hay không?
Lạy Chúa, giữa bao thăng trầm của cuộc sống, rất nhiều người trong chúng con cũng đang cảm thấy lòng trí mình thật sự bất an, trống rỗng và tuyệt vọng, chúng con nguyện ước cầu mong để tìm gặp được Chúa. Xin Chúa hãy đoái thương nhìn đến, ban ơn thánh hóa-biến đổi lòng trí và cuộc đời chúng con, để chúng con có được cách sống tín thác vào Chúa cùng quảng đại, bác ái yêu thương với ACE mình. Amen.
69.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của JKN.)
Câu hỏi gợi ý:
1. Để nhìn thấy và gặp được Đức Giêsu, Giakêu có phải vượt qua trở ngại nào không? Trở ngại nào khó vượt nhất? Từ đó, ta rút ra bài học gì?
2. Xét trên bình diện tự nhiên, động lực nào khiến Giakêu quyết định trở về con đường ngay chính? Ông hoán cải là do những bài giảng tuyệt vời của Chúa, hay do cách đối xử đầy tình người của Ngài? Những người hoạt động tông đồ có thể rút ra bài học nào cho hoạt động của mình?
Suy tư gợi ý:
1. Giakêu, một viên quan thuế vụ của đế quốc
Giakêu là một viên chức nhà nước giàu có, là người có địa vị trong xã hội dân sự. Bài Tin Mừng cho biết: «Ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có», nhưng không cho biết thêm là ông «đứng đầu» ở cấp nào: xã? huyện? hay tỉnh? Thu thuế mà có nhiều nhân viên cấp dưới như ông thì ít gì cũng phải là cấp xã trở lên. Thời nay người làm công việc như ông thường được gọi là «trưởng ban thuế vụ». Trưởng ban thuế vụ ở phường, xã hiện nay chẳng phải là một chức vụ lớn, nhưng ngày xưa, thời Đức Giêsu, người có chức vụ như thế trong xã cũng là một quan chức mà dân chúng phải trọng vọng, nể vì. Hơn nữa, ông lại là một người giàu có. Lêvi, tức tông đồ Matthêu, cũng là một người thu thuế nhưng chắc chắn không cao cấp bằng Giakêu.
Thời đó, đế quốc Rôma đánh thuế rất nặng trên tất cả các nước họ đô hộ. Vì thế, những người Do Thái yêu nước hoặc sùng đạo như người Pharisêu, chủ trương không nộp thuế. Giakêu là quan thuế vụ của đế quốc, nghĩa là ông cộng tác với một dân tộc ngoại giáo đang đô hộ dân tộc mình cách khắc nghiệt. Là người Do Thái chính gốc nhưng ông lại làm tay sai cho kẻ thù của dân tộc và tôn giáo mình. Thêm vào đó, những người thu thuế như ông thường hay lạm quyền, bóc lột dân chúng: thay vì thu thuế đúng như luật định, thì bắt dân đóng nhiều hơn để đút túi riêng (x. Lc 3,12-13). Chắc chắn sự giàu có của ông – nếu không phải chủ yếu thì cũng là phần nào – đến từ sự bóc lột này. Ngoài ra, để thích nghi với địa vị xã hội, chắc hẳn ông cũng đã sống như một người ngoại đạo. Vì thế, tuy có địa vị xã hội, nhưng về mặt tôn giáo, ông vẫn bị dân chúng khinh bỉ, xa lánh như hạng người ô uế, phản quốc, bội đạo, tội lỗi.
2. Giakêu đã vượt qua những khó khăn để gặp Đức Giêsu
Đọc bài Tin Mừng này, ta thấy Giakêu gặp Đức Giêsu một cách thật dễ dàng. Ông chỉ việc trèo lên cây, Đức Giêsu đi ngang qua và gọi ông xuống. Nhưng về mặt tâm lý và xã hội, sự việc không đơn sơ như vậy. Để gặp được Đức Giêsu, ông cũng phải vượt qua nhiều trở ngại từ bên trong bản thân ông.
Ông đã được nghe nói về Đức Giêsu là một «thầy đạo» có những bài giảng chí lý, thấm thía, lại còn có những khả năng lạ lùng như chữa bệnh, đuổi quỉ, làm kẻ chết sống lại nữa. Sự tò mò khiến ông muốn được ít nhất là nhìn thấy Ngài, biết mặt Ngài. Nhưng gặp tận mặt Ngài thì khó, vì ông rất ngại đi vào trong đám đông, vì dân chúng sẽ nhận ra ông rồi tỏ thái độ khinh ghét hay nói xúc phạm ông thì phiền lắm. Còn đứng xa mà nhìn thì cũng khó, vì ông là một người lùn, thấp bé, làm sao thấy được Đức Giêsu giữa đám đông? Không chịu bó tay, ông nhất định phải làm sao nhìn thấy cho bằng được con người đặc biệt này. Bài Tin Mừng viết: «Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó». Đoán trước Đức Giêsu sắp đi ngang qua chỗ nào, ông bèn tới đó trước, rồi leo tuốt lên một cây cao và chờ Ngài đi tới. Như thế ông có thể nhìn rõ Đức Giêsu.
Để thực hiện việc ấy, Tin Mừng nói «ông liền chạy tới phía trước». Ông chạy chứ không đi, điều này nói lên lòng ham muốn gặp Đức Giêsu lên đến cao độ. Một người có chức vụ cao trong xã hội, một viên chức chính phủ, hẳn phải là người rất ý thức về «cái tôi» và địa vị của mình. Họ không khi nào lại chịu chạy ở ngoài đường, lại càng không chịu leo lên một ngọn cây ở ngoài đường như trẻ nhỏ hay như hạng người bình dân. Họ phải giữ tư cách hay thế giá, nghĩa là phải bảo vệ «cái tôi» của mình, nhất là khi mà đám đông kia đang coi thường mình! Thế mà Giakêu không ngại những chuyện ấy, ông đã từ bỏ «cái tôi» của mình để được thấy và biết mặt Đức Giêsu.
3. Muốn gặp Chúa, phải vượt qua «cái tôi» của mình
Mặc dù là Kitô hữu, nhưng có thể chúng ta chưa hiểu biết nhiều về Thiên Chúa, về Đức Giêsu. Và cũng rất có thể chúng ta chưa hề gặp gỡ Ngài một cách thật sự, mặc dù chúng ta vẫn cầu nguyện, dự thánh lễ và rước lễ hằng ngày. Vì nếu chúng ta thật sự gặp gỡ Ngài, chắc chắn chúng ta phải được biến đổi một cách sâu xa như Giakêu đã từng được Chúa biến đổi. Nếu chúng ta vẫn sống một cách tầm thường, thiếu niềm vui, sức mạnh, tình thương, thì chứng tỏ chúng ta chưa thật sự gặp gỡ Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Muốn gặp được Đức Giêsu, chúng ta phải có một quyết tâm, và phải sẵn sàng vượt khó khăn trở ngại để đến với Ngài. Trở ngại lớn lao nhất vẫn là «cái tôi» của chúng ta. Muốn gặp gỡ ai một cách thâm sâu và thật sự, chúng ta phải dẹp bỏ «cái tôi» ích kỷ và đáng ghét của mình đi. Cũng vậy, muốn gặp gỡ Thiên Chúa, muốn theo Đức Giêsu, điều kiện quan trọng là chúng ta phải «từ bỏ chính mình» (Mt 16,24; Mc 8,34; Lc 9,23), nghĩa là phải vượt khỏi hay coi nhẹ «cái tôi» của mình cùng với những quyền lợi của nó.
4. Thái độ yêu thương của Đức Giêsu khiến Giakêu hoán cải
Nếu Giakêu chỉ nhìn thấy Đức Giêsu thì ông cũng đã toại nguyện rồi, vì mục đích của ông chỉ có thế. Và sau đó đời ông không chắc có chuyện gì thay đổi. Nhưng sở dĩ ông thay đổi một cách sâu xa là vì thái độ của Đức Giêsu đối với ông. Đang khi mọi người Do Thái khác – nhất là người Pharisêu – tỏ ra khinh bỉ và xa lánh ông, thì Đức Giêsu quan tâm tới ông, trân trọng và yêu thương ông. Ngài yêu thương và trân trọng ông đến nỗi đã để ý đến ông dù ông ở tuốt trên cây, rồi Ngài kêu ông xuống và ngỏ ý muốn ở lại nhà ông, không chờ ông lên tiếng mời. Để tỏ ra trân trọng và yêu thương ông như thế, Ngài cũng phải vượt qua trở ngại là những lời dị nghị, khó chịu của đám đông đang đi theo Ngài: «Mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”» Chính thái độ yêu thương của Đức Giêsu đã làm ông cảm động và quyết tâm trở về con đường ngay chính, trước tiên bằng việc thực thi bác ái và công bằng: «Thưa Ngài, tôi sẽ chia phân nửa tài sản của tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn». Đức Giêsu chưa hề lên tiếng khuyên hay giảng cho Giakêu một lời nào, mà ông đã hoán cải. Ta thử đặt vấn đề ngược lại: giả như Ngài giảng cho Giakêu một bài thật hay và xúc tích về Nước Trời, nhưng cách đối xử của Ngài với ông không có gì khác những người Do Thái khác, thì thử hỏi ông có hoán cải nhanh chóng như vậy không?
5. Người tông đồ phải trân trọng và yêu thương mọi người
Cũng như biết bao người bình thường khác, Giakêu rất cảm động trước sự trân trọng và yêu thương của Đức Giêsu, người muốn loan báo Tin Mừng cho ông. Ngoài ơn Chúa tác động trên bình diện siêu nhiên, thì trên bình diện tự nhiên, việc trở lại của Giakêu cũng như những người tội lỗi khác phần lớn đến từ cách xử sự đầy tình nghĩa của người làm tông đồ. Thống kê cho thấy đa số những trường hợp trở lại Kitô giáo hay con đường ngay chính là do họ cảm kích thái độ yêu thương và cách sống gương mẫu của người tông đồ. Ngược lại, nhiều Kitô hữu đã bỏ đạo chỉ vì cách xử sự bất công, khinh người, ích kỷ, «ngôn hành bất nhất» của người làm tông đồ.
Vì thế, muốn hoạt động tông đồ hữu hiệu, thiết tưởng thái độ quên mình và yêu thương chân thành – như thái độ của Đức Giêsu đối với Giakêu – còn quan trọng và đem lại nhiều kết quả hơn những bài giảng hay, những kiến thức thần học uyên bác. Rất tiếc nhiều trường đào tạo tông đồ hiện nay chỉ quan tâm đào tạo cho những người tông đồ tương lai những kiến thức Kinh Thánh và thần học, mà không quan tâm lắm tới việc tăng trưởng tình yêu đích thực của họ, để họ có thể đối xử một cách chan chứa tình người với những người mà họ có nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng. Cách đối xử chan chứa tình người này mới là yếu tố chính yếu đem lại thành công trong công việc tông đồ.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, khi làm tông đồ, con cứ ngỡ điều quan trọng là phải nói hay viết về Chúa cho hay, cho thuyết phục mới đem lại kết quả. Nhưng câu chuyện của Giakêu cho con thấy không phải như vậy. Chính thái độ ân cần, yêu thương và đầy tôn trọng của Đức Giêsu đối với Giakêu đã đánh động lòng ông hùng hồn và hữu hiệu gấp hàng trăm lần những bài giảng hay, những lời khuyên chân tình. Vậy, xin Cha hãy giúp con ý thức được tầm quan trọng của tình yêu đích thực trong công việc tông đồ của con và có được tình yêu đó.
70. Nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa
Harold Hughes đã viết về lúc còn trẻ như sau:
“Tôi từng là một kẻ nghiện rượu, gian dối và lừa đảo người khác.” Một quãng cuộc đời ông tưởng rằng đã phá đổ và đánh mất tất cả. Một buổi tối nọ, ông đã vào bồn tắm và định tâm sẽ tự sát. Ông lấy khẩu súng và chỉa mũi súng vào miệng ông. Khi Hughes đang định bóp cò súng thì ông chợt nhớ lại tự hại thân thể mình thì có tội. Ông viện mọi lý do giãi bày với Chúa tại sao ông làm như thế. Sau khi giãi bày với Chúa, ông đã quì xuống đất và cúi đầu xuống. Ông nói chuyện với Thiên Chúa và khóc nức nở. Trong tâm hồn, ông cảm thấy một cảm nghiệm rất sâu xa mà ông không thể nào quên được. Ông viết lại cảm nghiệm này như sau: “Một cảm nghiệm bình an dạt dào bừng lên trong tâm hồn tôi... Tất cả tội lỗi trong mình tôi như tan biến hết... Thiên Chúa như đang cúi xuống và chạm đến tôi... Như một đứa con đang run sợ đi lạc trong cơn bão tố và nó bất chợt tìm thấy được bàn tay rất ấm áp của Cha nó... Quì trên sàn nhà phòng vệ sinh, tôi đã dâng mình cho Chúa và thưa cùng Chúa rằng tôi sẽ làm tất cả mọi sự gì Chúa muốn.”
Chính giây phút linh thiêng cảm động đó đã biết đổi của đời của Harold Hughes. Mười năm về sau, ông được bầu làm thống đốc tiểu bang Iowa. Mười bảy năm sau đó, ông được bầu làm thượng nghị sĩ Hoa kỳ. Khi về hưu, ông đã tham gia vào công việc giúp những người nghiện rượu và hút sách.
Câu chuyện về Harold Hughes giống với câu chuyện ông Giakêu trong bài Phúc âm hôm nay.Đó là một câu chuyện kể về một người đã được ơn biến đổi từ một cuộc đời tội lỗi thành một cuộc sống phục vụ. Đó là một câu chuyện về một người đã biết mở rộng cửa lòng đón nhận Thiên Chúa và được tràn đầy niềm vui hạnh phúc mà ông không hề tưởng sẽ được.
Chúa Giêsu muốn đi vào trong cuộc đời chúng ta và biến đổi chúng trở nên tốt hơn như Ngài đã làm cho Giakêu. Chúa Giêsu không bao giờ cưỡng ép chúng ta, hoàn toàn tôn trọng tự do của chúng ta. Trong sinh hoạt hằng ngày, Chúa Giêsu có thể bước vào cuộc sống mỗi ngưòi chúng ta như Ngài đã bước vào cuộc sống của Giakêu. Chúng ta chỉ cần bám lấy Ngài, và Ngài sẽ ban cho chúng ta mọi điều như Ngài đã từng làm cho những người khác.
Chúa Giêsu có thể bước vào cuộc sống chúng ta, gần gủi với chúng ta qua ba trường hợp nầy. Thứ nhất Chúa Giêsu có thể nói với chúng ta khi chúng ta lắng nghe Lời Chúa. Như vậy Chúa có dịp bước vào tâm hồn chúng ta. Thứ hai là lúc chúng ta đón rước Chúa Giêsu Thánh thể. Chúa Giêsu nói: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. (Jn 6:56). Sau hết, Chúa Giêsu bước vào trong cuộc sống của chúng ta lúc chúng ta gặp những người nghèo khổ túng quẫn. Chúa Giêsu dạy: “Ai làm cho một trong những kẻ bé mọn này là làm cho chính Ta.” (Mt 25:40)
Khi gặp Ngài, chúng ta hãy xin Ngài làm cho chúng ta những điều Ngài đã làm cho Hughes và Giakêu. Đó là sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay. Đó là điều chúng ta đang cùng nhau cử hành trong phụng vụ hôm nay.
71. Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lm. Gioakim Nguyễn Tấn Đạt)
Kính thưa quí ông bà và anh chị em,
Hết thảy chúng ta đã từng nghe những tin đồn về ngày tận thế diễn ra trong lịch sử. Và có rất nhiều người cảm thấy hoang mang, sợ hãi. Họ lo chuẩn bị mọi thứ để có thể đối phó. Có người che chắn nhà cửa để tránh phải khí độc, có người vội vàng xin thôi việc, bán tài sản, có người lại tuyên truyền tận dụng thời giờ để tận hưởng những giây phút còn lại. Mới đây nhất là tin đồn về ngày 21/12/2012, ngày diệt vong của nhân loại dựa theo sự kết thúc lịch của người Maya. Tin đồn này khiến nhiều người trên thế giới lo sợ. Họ đã tích cực mua nến, tích đồ lương thực, xây dựng hầm trú ấn… Họ chuẩn bị trong sợ hãi và vô vọng.
Cộng đoàn thân mến,
Hành trình của đời sống Kitô hữu là chuẩn bị đón chờ ngày Chúa đến. Trong niềm hy vọng, người Kitô hữu không phải lo sợ ngày này như những người vô thần. Ngày Chúa đến không phải để kết thúc nhưng là sự bắt đầu. Đó không phải là thời khắc của trừng phạt nhưng là thời khắc của lòng xót thương và ơn cứu độ. Và thật hạnh phúc hơn nữa là Chúa vẫn đang đến với con người trong từng giây phút sống hiện tại.
Chúa đã đến với con người từ thuở khai thiên lập địa qua công trình tạo dựng. Thiên chúa sáng tạo để đem lại cho nhân loại được hạnh phúc. Một cuộc sáng tạo vì lòng xót thương, muốn cho muôn loài muôn vật được chia sẻ vinh quang, hạnh phúc với Ngài. Chúa yêu thương, Chúa mới tạo dựng, như trong bài đọc thứ I, trích từ sách Khôn Ngoan, chúng ta vừa nghe.
Chúa dựng nên muôn loài không phải để bỏ mặc theo kiểu đem con bỏ chợ nhưng luôn quan phòng hết tất cả. Chúa vẫn đến và tiếp tục cuộc sáng tạo của Ngài qua việc sửa dạy từ từ, nhắc nhở, cảnh báo để những ai phạm tội, những người sa ngã trở về với Ngài.
Điều này để thể hiện rõ trong bài Tin Mừng hôm nay, qua hình ảnh của ông Giakêu. Ông là người đứng đầu những người thu thuế, cũng đồng nghĩa với hạng nhất về phương diện tội lỗi trước mặt mọi người. Ông chỉ ước mong một lần được gặp con người nổi danh lúc bấy giờ, dù chỉ tò mò, và như thế là ông mãn nguyện lắm. Nhưng ông đâu có biết rằng Con Người đó bấy lâu nay vẫn tìm kiếm những người như ông. Thiện chí của Giakêu đã được đền đáp khi Chúa gọi đúng tên ông và muốn ngụ lại nhà ông. Một biến cố không thể ngờ được đối với ông lùn này. Chúa đã tìm đến với Giakêu hơn là Giakêu tìm Chúa. Thiên Chúa viếng thăm nhà ông, đem lại cho ông một niềm vui khôn tả, một niềm hạnh phúc vô biên.
Và càng hạnh phúc hơn nữa đối với Chúa và đối với mọi người khi một người tội lỗi ăn năn sám hối. Với đôi mắt nhân từ, cử chỉ đầy yêu thương của Chúa, lúc đó ông không chỉ muốn gặp Chúa vì tò mò, mà muốn gặp Chúa trong tâm hồn, một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa đúng nghĩa là biến đổi tận căn con người của ông. Chúa đến không phải để giáng phạt vì những hành vi sai trái của Giakêu nhưng để đưa ông trở về. Đó là một cuộc sáng tạo mới. Chúa đến để đem lại cho ông được sự bình an, và cả nhà ông được ơn cứu độ. Chúa đến để mang lại một sự bắt đầu, một cuộc sống mới. Chúa đến không phải để tiêu diệt nhưng “để tìm và cứu những gì đã mất”.
Anh chị em thân mến,
Nói không sai rằng, ai trong chúng ta cũng đã từng mất. Nếu chúng ta không mất tiền, mất bạc, mất danh dự, mất địa vị thì cũng mất chính con người của mình bởi tội lỗi gây nên. Sống đạo là theo một con đường, con đường đó mang tên Giêsu Kitô. Nơi mỗi người ai cũng có dư những thiện chí, vẫn luôn khao khát để sống tốt hơn. Đừng tưởng rằng như thế là chúng ta đã tìm Chúa, mà kỳ thực Chúa đang và luôn tìm đến với chúng ta. Chừng nào chúng ta chưa đáp lại, chưa đón tiếp Chúa thì thiện chí ấy chỉ là thiện chí suông, khao khát ấy vẫn là một giấc mơ hão huyền. Con đường mang tên Giêsu ấy vẫn chỉ ở trước mặt, chứ chúng ta chưa hề bước lên một bước.
Vẫn biết rằng, chúa không bỏ mặc ai, trái lại, Người tìm đến để cứu từng người chúng ta. Nhưng đã biết bao lần Chúa đến trong cuộc đời mỗi người. Chúa đến qua những biến cố trong cuộc sống, kể cả những thất bại ê chề, những nỗi buồn tê tái, những đau khổ triền miên. Chúa đến qua tha nhân, những người nghèo, ngay cả những người làm chúng ta buồn bực, đau khổ. Chúa đến qua các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể. Nhưng thử hỏi liệu chúng ta đã đón tiếp Chúa như thế nào. Cứ nhìn vào thái độ, nhìn vào cách hành xử của mình, chúng ta có thể lượng giá được rằng mình đã gặp Chúa chưa?
Một khi tôi có thái độ như Giakêu, chắc chắn tôi sẽ không thất vọng, không đánh mất niềm tin, không buồn bực, giận dữ. Nếu tôi được như Giakêu, chắc chắc tôi không lơ là với các Bí tích, không để Chúa phải cô đơn, lãnh lẽo với những băng ghế trống không trong nhà thờ, với tòa giải tội bị phủ đầy mạng nhện, được gán là nơi yên tĩnh nhất cho loài chuột trú ngụ. Coi ra chúng ta còn thua Giakêu xa lắm vì vẫn cứ ù lì, không sửa đổi, canh tân đời sống.
Cũng như Giakêu, Chúa viếng thăm là đem lại ơn cứu độ, chứ không phải đem lại những điều theo ý mình muốn. Chính Người, trước khi chịu khổ nạn cũng cầu nguyện rằng: “Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” (Mc 14,36). Chừng nào chúng ta vẫn còn muốn làm theo ý mình, chúng ta vẫn lẩn tránh Chúa, chạy trốn Thiên Chúa, vẫn còn chìm trong bóng đêm tội lỗi. Khi đó ơn cứu độ còn xa tầm với của mỗi người chúng ta. Thiên Chúa vẫn đến, gõ cửa và kiên nhẫn đợi. Hãy mở cửa và đón tiếp Người! “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20).
Ước gì qua Lời Chúa hôm nay, mỗi chúng ta ý thức lại ơn gọi của mình. Ơn gọi làm người, ơn gọi làm Con Chúa. Mỗi người đáng trọng, đáng quí trước mặt Chúa. Chúa luôn đến với chúng ta, làm cho chúng ta đổi mới. Hãy mau đón tiếp Người. Hãy chuẩn bị vì không biết giờ nào, ngày nào Con Người đến. Amen.
72. Gặp Chúa - Khơi nguồn cho đổi mới
Thấp bé trước mặt người đời có thể không ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta, nhưng thấp bé trước mặt Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải nỗ lực vươn lên. Tình yêu Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta đến với Ngài. Chúng ta hãy đến với Chúa để được thanh luyện và được ơn hoán cải đích thực. Đó chính là sứ điệp của Lời Chúa hôm nay.
Thiên Chúa đầy lòng khoan dung
Khởi đi từ bài đọc Cựu Ước, tác giả sách Khôn Ngoan cho thấy hình ảnh một Thiên Chúa đầy lòng khoan dung trước những sai lỗi của con người. Theo thói thường, “ác giả ác báo”, tội nhân ắt phải bị trừng trị. Chúng ta thường lên tiếng phản đối trước những hình phạt chưa xứng với tội. Chuyện toà án để “lọt người, sót tội” xuất hiện hằng ngày trên các phương tiện truyền thông. Luật lệ là thước đo cho sự công bằng giữa người với người, nhưng đôi lúc cũng là công cụ gây nên biết bao đau khổ cho con người.
Thiên Chúa thì lại khác, Ngài làm ngơ trước tội lỗi của con người. Phải chăng Ngài “bó tay”? Không. Mọi vật đối với Ngài như hạt sương nhỏ. Ngài thừa khả năng đánh phạt những ai lầm lỗi. Nhưng nếu Ngài làm thế, biết còn mấy ai tồn tại trước nhan Ngài? Ngược lại, vì yêu thương mà Ngài dễ dàng kiên nhẫn chờ đợi. Ngài là Thiên Chúa sáng tạo chứ không phải là kẻ huỷ diệt, mang đến sự sống chứ không rắc gieo cái chết. Ngài tạo dựng muôn loài vì yêu mến thì cũng vì yêu mến mà Ngài khoan dung tha thứ cho tội nhân. Ngài để cho tội nhân có cơ hội hoán cải. Chúng ta thay vì nhìn vào sự dữ thì hãy nhìn vào lòng khoan dung của Thiên Chúa, chạy đến với Ngài để được Thánh Thần Ngài an ủi, biến đổi như Giakêô trong bài Phúc Âm hôm nay.
Gặp Chúa để được biến đổi
Giakêô - một người tội lỗi công khai. Ông là thủ lãnh những người thu thuế, thủ lãnh của những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”, chỉ làm lợi cho đế quốc Rôma mà gây hại cho dân cho nước.
Ông là người thấp bé nhưng ông chẳng mảy may lo lắng, vì ông sang giàu và có địa vị. Ông đã “quên” lớn lên trong lòng mọi người, và cũng “quên” lớn lên trước mặt Thiên Chúa. Cuộc sống của ông đang đẩy ông rời xa Nước Thiên Chúa.
Cho đến một ngày, cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu đã biến đổi cuộc đời ông. Cuộc gặp gỡ xuất phát từ cái nhìn và tiếng gọi của Chúa Giêsu, đồng thời cũng là thành quả của sự nỗ lực vươn lên từ chính Giakêô. Sáng kiến của Thiên Chúa gặp gỡ thái độ thành tâm thiện chí của con người đã đem đến cho con người một sự biến đổi. Cuộc gặp gỡ phát sinh ơn cứu độ!
Hoán cải nhằm thực thi công bằng - bác ái
Giakêô đã trở lại! Niềm vui đã đến với ông, với gia đình ông. Chúa đến viếng thăm nhà ông thì cuộc sống của ông ngày mai hẳn sẽ phải khác với nếp sống hôm nay. Ông đã lớn tiếng tuyên bố rằng từ nay ông sẽ sống đời sống mới và sẽ sửa chữa những lỗi lầm của mình. Ông vui vẻ từ bỏ sản nghiệp, sẵn sàng từ bỏ tất cả để ông được lớn lên trong Chúa.
Ơn hoán cải mà Chúa ban cho mỗi người không chỉ dừng lại ở lời cầu nguyện và lòng sám hối, nhưng còn nhằm thực thi công bằng bác ái, từ bỏ của cải theo tinh thần Phúc Âm. Giakêô có thể còn nhiều của cải sau cuộc biến đổi, nhưng là một người giàu có với tinh thần nghèo khó, sẵn sàng cho đi nếu Chúa cần.
Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn đứng trước cửa ngõ tấm lòng chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta mở rộng cửa lòng để Ngài ngự vào. Còn thái độ của chúng ta thì sao? Đón tiếp với thái độ của đám đông hay của Giakêô? Thờ ơ, lạnh nhạt hay thành tâm, thiện chí? Hãy nhìn vào những bất công, những cảnh đời bất hạnh của tha nhân, rồi nhìn lại thái độ của chúng ta trước những nghịch cảnh như thế, chúng ta sẽ biết mình đón tiếp Chúa thế nào. Chúa đến với ta không như một ông vua uy quyền, mà trong hình hài của những người đói khát, bệnh tật, buồn phiền, ngu dốt... Chúa Giêsu là chính tha nhân và “những gì các con làm cho họ là các con làm cho ta” (Mt25,40).
Ước mong mỗi người chúng ta như Giakêô, luôn sẵn sàng đón tiếp Chúa trong từng giây phút cuộc đời. “Lạy Chúa, đây là nhà của Chúa, xin hãy ngự đến”.
73. Ơn cứu độ
(Suy niệm của Lm. Vũ Minh Nghiễm)
“Hôm nay nhà nầy được ơn cứu độ.”
Toàn bộ sách Tin Mừng được viết ra tập trung vào một chủ đề: Đức Kitô là Đấng cứu độ trần gian. Đó là quan niệm của các môn đồ tiên khởi về thân thế và sự nghiệp của Ngài.
Trên thực tế, Ngài đã cứu họ. Ngài rất hiểu sứ mạng cứu thế của Ngài. Ngài nói: “Con Người đến trong thế gian để tìm cứu những gì đã hư mất” (Lc 19:10)
Điều đáng tiếc là trong Giáo hội, đề tài này chỉ mặc được một ý nghĩa rất giới hạn. Gần như chỉ giới hạn vào những gì sẽ xảy đến cho chúng ta sau khi chết mà thôi. Được cứu rỗi có nghĩa là đời sau, tại bên kia thế giới, chúng ta được vào thiên đàng, sống bên cạnh Chúa muôn đời.
Điều này thật sự thì rất dễ hiểu. Một ngày nào đó chúng ta sẽ chết. Thiên đàng là nơi cực lạc, thoát ra ngoài những truân chuyên buồn khổ của trần gian. Dĩ nhiên, ai trong chúng ta cũng ước được vào thiên đàng.
Nhưng đây không phải là điều mà sách Phúc âm nhấn mạnh trước hết trong công cuộc cứu độ trần gian của Đức Kitô. Trong Phúc ân, các thánh sử đã trình bày Ngài như một vị Tôn sư giúp con người ta đối phó với những thử thách của cuộc đời, giải thoát con người ngay trên dương thế.
Bài Phúc âm hôm nay là một ví dụ điển hình. Đức Giêsu đến thăm nhà một ông trưởng thuế vụ. Chúng ta biết câu chuyện đã bắt đầu như thế nào, và đã kết thúc làm sao. Nhưng giữa đó những gì đã xảy ra? Chúng ta không được biết rõ. Đầu hết, Đức Giêsu trên đường đi ngang qua thành Yêricô, nhìn thấy trên cây sung một người thấp bé. Ngài liền nói:
“Hỡi Giakêu, hãy xuống mau. Hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi.”
Kết thúc là ông Giakêu hứa cùng Chúa sẽ lấy nửa phần của cải to lớn của ông bố thí cho người nghèo. Sẽ đền bù gấp bốn cho những người ông đã gian lận. Gian lận ai 100, ông sẽ bù lại cho 400. Chúng ta có thể đoán được sự Chúa viếng thăm ông đã làm cho ông được vui mừng hạnh phúc như thế nào, đã đổi mới đời ông, giải thoát ông như thế nào.
Và Đức Kitô đã tỏ mình là đấng cứu độ loài người ngay trên trần gian nầy như thế nào.
Đây lời Ngài phán trong cuộc tiếp xúc với ông Giakêu:
“Hôm nay đây, nhà này được ơn cứu độ.”
Lời Chúa vừa nói có nghĩa gì? Chúng ta có thể nghĩ rằng hôm nay ông Giakêu đang được ở trên thiên đàng?
Nhưng đó không phải là điều mà bài Phúc âm muốn nhắm. Chúa đang nói về kinh nghiệm cứu độ xảy đến ngay ngày hôm đó tại nhà ông Giakêu. Ông đã được cứu độ cách rất thiệt thực trong đời sống hằng ngày của ông tại thành Yêricô.
Nhìn vào bối cảnh của đời ông, chúng ta có thể hiểu được phần nào Đức Kitô đã cứu giúp ông như thế nào. Phúc Âm nói: “Ông là một trưởng ty thuế vụ vùng Yêricô, tức là người cầm đầu các nhân viên thu thuế. Điều nầy làm cho ông Giakêu trở thành một người bị đồng hương ghét bỏ hoàn toàn. Người thu thuế là hạng người đáng ghét nhứt, đáng khinh bỉ nhất trong dân Israel thời bấy giờ.
Người thu thuế trong Phúc âm với người có tội cũng là một. Họ có tội thứ nhất, là tội phản quốc. Cộng tác với kẻ thù là dân cai trị Rôma, để thâu tiền về cho đế quốc. Họ có tội thứ hai là tội lỗi phép công bằng. Họ thâu đa mà nộp thiểu. Họ thâu mười mà không biết có nộp cho chính phủ được bốn năm hay không? Họ được chính phủ cho phép tha hồ làm giàu trên dân chúng.
Người thu thuế quả là người có tội. Mà ông Giakêu không những là người thu thuế, mà còn là cầm đầu các người thu thuế. Với cương vị trưởng ty thuế vụ, ông còn bốc lột hơn các đồng nghiệp. Người thu thuế đã đáng ghét rồi, ông trưởng ty phải đáng ghét gấp bội. Không ai muốn nói chuyện với ông. Trên đường phố, ai cũng xa lánh ông. Ông bị cấm tham dự các buổi lễ nghi tôn giáo.
Sự khinh khi ghét bỏ của xã hội chung quanh đó hẳn gây ảnh hưởng tai hại lớn lao cho tính tình ông, cho đời sống hằng ngày của ông. Ông chỉ là cái đích cho thiên hạ phỉ nhổ.
Tôi sẽ không thể có được một chút tự tin hay hãnh diện nào về bản thân tôi, nếu không có một người nào khác giúp tôi có đuợc sự tự tín hay hãnh diện về tôi.
Đức Giêsu chính là người khác đó của ông Giakêu. Trong khi những người đồng hương xa lánh ông, coi ông như phẩn thổ, thì Đức Kitô nhận biết ông, gọi ông đích danh: “Hỡi Za khê”. Trong khi những người khác khinh thị ông, thì Đức Kitô kính nể ông. Ngài không sợ người chung quanh thấy Ngài chuyện vãn với ông. Hơn nữa, Ngài muốn lưu lại nhà ông hôm đó, dường như là bạn cố tri của ông Giakêu vậy.
Sự Đức Kitô chấp nhận ông là khởi điểm ơn cứu độ của ông. Ngài cho ông chỗ đứng trong đời sống mới.
Người chung quanh chỉ thấy ông là một người tham lam bất lương. Và hình như ông Giakêu cũng mặc nhận như vậy. Nhưng Đức Kitô nhìn thấy trong ông những đức tính tiềm tàng có thể làm ông trở nên một ngưới lương thiện.
Thái độ của Đức Kitô đối với ông đã làm cho những đức tính tiềm tàng kia hiện ra và đáp ứng với những thách đố của một đời sống cao thượng.
Trước đây ông vốn tham lam, bất lương. Nhưng hôm nay ông đã đổi đời, không đi theo con đường cũ nữa. Lòng quảng đại của ông đã bị chôn vùi trong bao nhiêu năm, hôm nay, với sự hiện diện của Đức Kitô, lòng quảng đại đó đã bộc phát một cách thật rõ ràng.
“Tôi xin bố thí nữa phần của cải tôi cho người nghèo. Nếu xưa nay tôi có làm thiệt hại ai, tôi xin bù lại gấp bốn.”
Quả là một sự lạ lùng. Rất lạ lùng: “Hôm nay đây nhà nầy được ơn cứu độ.”
Hôm nay đây ông Giakêu đã trở nên người hiền lương, một người bạn dân. Ông sẽ được các đồng hương kính nể, yêu vì. Khi cần, họ sẽ cầu bàu cùng Đức Giêsu cho ông như họ đã cầu bàu cùng Ngài cho viên sĩ quan Rôma rằng: “Ông nầy đáng được Ngài giúp đỡ, vì ông quí mến dân ta.” (Lc 7:5). Phải: “Hôm nay đây, chính hôm nay đây, nhà nầy được ơn cứu độ.”
Phương pháp Đức Kitô dùng để cứu đời là giúp người ta khai thác những khả năng tiềm tàng của mình: Ngài nhìn họ như người điêu khắc nhìn thấy một pho tượng tốt đẹp trong khối đá cẩm thạch sù sì. Ngài giúp họ khai thác các đức tính của họ như thầy giáo giúp học trò khai thác các tài năng của mình. Lòng ưu ái của Ngài đã làm cho những đức tính vốn tiềm tàng của họ được hiện ra sống động.
Một người khác tên Simon, vốn rất yếu đuối và nhu nhược, đến nỗi run sợ trước một cô sen, chối bỏ Thầy đến những ba lần. Thế mà lòng ưu ái của Ngài đã biến đổi con người yếu đuối dễ thất trung thất tín ấy thành Phêrô, hòn đá tảng của Giáo hội. Ông được cứu độ hoàn toàn trong đêm thứ Sáu Tuần thánh.
Một người khác nữa tên Saolô, thuộc nhóm biệt phái, cuồng tín, hung hăng dữ tợn, bắt bớ đạo Chúa không ai bằng. Thế mà Ngài đã cảm hóa được. Và Saolô đã trở thành Phaolô, vị tông đồ thượng thặng của các dân ngoại. Phaolô đã được cứu độ hoàn toàn trên đường Damas.
Đối với chúng ta hôm nay thì sao? Chúng ta có thể quả quyết rằng tất cả những gì là tốt lành, là lương thiện trong chúng ta, một phần lớn là do nơi lòng tin tưởng một cách nào đó, một lúc nào đó, của một người nào đó đối với chúng ta.
Cũng như sự nghi ngờ, khinh khi của người khác đối với tôi sẽ làm cho mất tinh thần, bế tắc, bại hoại, xuống giốc, thì lòng tin tưởng, ưu ái của người khác đối với tôi, là một động lực thúc đẩy tôi trở thành người tốt, hầu đáp lại lòng tin tưởng và ưu ái của họ.
Đức Kitô đã tin tưởng vào ông Giakêu. Ngài giúp ông tìm ra thế giá của mình.
Rồi Ngài đi một bước xa hơn. Ngài đã giúp ông ý thức được trách nhiệm đối với người khác. “Tôi sẽ chia sẻ nửa phần của cải tôi cho người nghèo. Nếu tôi đã làm thiệt hại ai, tôi sẽ đền bù cho họ gấp bốn.”
Trau dồi các nhân đức nơi bản thân và lưu tâm giúp đỡ kẻ khác, là như đôi ngựa song phi. Hai điều kiện hình thành ơn cứu độ. Người chỉ lo cứu linh hồn mình, mà không quan tâm gì đến việc giúp đỡ kẻ khác, người đó tự lừa dối mình.
Một buổi sáng bêm bờ hồ Galilê, Đức Giêsu hỏi Simon Phêrô:
- Con có yêu mến Thầy không?
Phêrô trả lời:
- Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.
Không đợi cho Phêrô nói gì thêm, Đức Giêsu tiếp liền:
- Hãy chăn dắt các con chiên Ta. (Yo 21:16)
Cứu độ là một danh từ vĩ đại trong tất cả các ngôn ngữ của thế giới. Toàn bộ sách Phúc âm được cấu tạo chung quanh hai tiếng cứu độ. Một ơn cứu độ torng đời sống thường ngày ngay trên trần gian. Nhưng ơn Cứu độ bao giờ cũng có hai chiều song song. Chúa cứu độ tôi. Và đến lượt tôi, tôi phải thực hành ơn cứu độ đó nơi kẻ khác, bằng cách bớt thời giờ, bớt sức lực, bớt tài năng, bớt của cải, để phục vụ Chúa nơi kẻ khác. Chỉ có lúc bấy giờ, lời Chúa phán hôm nay mới được đầy đủ thể hiện nơi tôi:
“Hôm nay đây, nhà nầy được ơn cứu độ.”
74. Thiên Chúa từ bi và nhân hậu
(Suy niệm của Lm. Thanh Minh)
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Nhất lé nhì lùn”. Đó là hai hạng người mà dân gian có thành kiến rằng “chẳng ra gì”. Nhưng không riêng gì Việt Nam mà có lẽ nhiều nước trên thế giới như Do Thái cũng không coi trọng hạng người thiếu thước này.
Phúc Âm hôm nay thuật lại một câu chuyện ngộ nghĩnh của một “chú lùn” lọt mắt xanh Chúa Giêsu đó là ông Giakêu, một người vừa lùn lại vừa làm nghề thu thuế là nghề được coi là bất chính dưới cái nhìn của dân Do thái.
Nhận biết thân phận lùn của mình, nên Giakêu đã làm một công việc có vẻ “ấu trĩ”, đó là trèo lên một cây cao để có thể nhìn thấy Đức Chúa Giêsu đi ngang qua, vì dân chúng đông đúc. Ông giật mình hoảng sợ vì không ngờ Đức Chúa Giêsu đã ngước nhì lên và gọi đích danh cùng ngỏ ý muốn trọ tại nhà ông. Ông vội vàng tụt xuống khỏi cành cây, lòng tràn ngập vui mừng đón rước Chúa vào nhà và khoản đãi trịnh trọng.
Trước mặt Chúa Cứu Thế, ông đã tà quy chính và hứa sẽ bồi thường thiệt hại gấp bội cho những ai mà mình đã làm thiệt hại. Đáp lại Chúa Giêsu đã tuyên phúc: “Hôm nay nhà được ơn cứu độ... Con Người đến để tìm kiếm và cứu chuộc những gì đã mất”. Vì lòng chân thành mà ông Giakêu đã được tha thứ vá chúc phúc, còn gì hạnh phúc hơn.
“Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu: Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta.” (Tv 102:8.10).
Sách khôn ngoan nói bài đọc thứ nhất đã nói đến phẩm tính nầy của Thiên Chúa. Trong Phúc âm, đã nhiều lần Đức Chúa Giêsu dùng hình ảnh dụ ngôn để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa và sứ mạng của Ngài như: Người cha và đứa con hoang đàng, người mục tử đi tìm con chiên lạc, bà goá tìm một đồng bạc bị mất v..v..
Dĩ nhiên Thiên Chúa yêu thích những người thánh thiện công chính, nhưng cũng không bỏ rơi những kẻ lầm đường lạc lối. Chúng ta hãy cố gắng sống đạo đức thánh thiện nhưng đừng ngã lòng khi sa chân lỡ bước vì “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu.”
75.Tình thương biến đổi
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
Đi hành hương Đất Thánh, ai cũng muốn đến Giêricô thăm “Cây sung Giakêu” và thưởng thức trái chà là. “Cây sung Giakêu” to lớn khoảng hai người ôm. Cây sung này được trồng lại cách đây hơn 700 năm. Tôi đi dịp tháng 4 nên sung nhiều trái. Các bà thích lắm, hái ăn và tin rằng trái từ “cây sung Giakêu” chữa lành mọi thứ bệnh.
Giêricô trở nên nổi tiếng với câu chuyện ông Giakêu trèo lên cây sung để nhìn cho được Chúa Giêsu đi ngang qua.
Giêricô chính là miến Đất Hứa, khi xưa Môsê từ trên núi Nebô đã được nhìn thấy. Sách Giosuê chương 6 kể lại cuốn đánh chiếm thành Giêricô.
Giêricô là một thành rất giàu có và quan trọng, nằm trong vùng thung lũng sông Giođan, là giao điểm của đường lên Giêrusalem và các lối qua sông Giođan để tỏa về các vùng đất phía sông Giođan.
Giêricô có một rừng chà là rất lớn, những vườn cây thuốc thơm nổi tiếng quốc tế, cách xa mấy dặm vẫn ngửi thấy mùi thuốc thơm. Các vườn hoa hồng ở đó cũng rất nổi tiếng. Người ta gọi Giêricô là “thành cây chà là”. Sử gia Do thái Josephus gọi là “Khu đất thần tiên, khu đất màu mỡ nhất của Phalettin”. Người La mã chở trái chà là và dầu thơm từ đó đi bán khắp nơi trên thế giới.
Chúa Giêsu đi qua Giêricô, tiến về Giêrusalem với đoàn người hành hương đông đảo, chuẩn bị bước vào khổ nạn. Ông Giakêu leo lên cây sung để nhìn cho được Chúa sắp đi ngang qua. Chúa nhìn lên cây sung thấy Giakêu. Chúa nhìn ông bằng ánh mắt yêu thương.Trái tim Giakêu bừng lên ngọn lửa yêu thương. Ông đáp lại tình thương của Chúa và thể hiện bằng việc đền bù thiệt hại, chia sẻ chân thành cho tha nhân. Tình thương của Chúa đã cảm hóa Giakêu và biến đổi cuộc đời ông.
1. Tình thương biến đổi.
Giakêu là một người thu thuế và là một người giàu có. Ông đã từng nghe biết Chúa Giêsu đã chọn ông Lêvi, một nhân viên ngành thuế như ông làm môn đệ (Mt 9,9). Nay ông rất muốn có dịp nhìn thấy con người kỳ lạ này.
Lần kia, biết Người sắp đi ngang Giêricô quê hương ông, Giakêu ra xem, nhưng vì dân chúng quá đông mà ông lại lùn, nên ông leo lên một cây sung để nhìn cho rõ. Đường đường một người "đứng đầu những người thu thuế", một công chức có địa vị, nhưng ông vẫn không sợ mất mặt, vẫn trèo lên cây cao.
Chúa ngước mắt lên cây sung, ánh mắt Chúa và ánh mắt Giakêu gặp nhau. Ánh mắt Giakêu bộc bạch tất cả tấm lòng và cuộc đời của mình: một người thu thuế, một người bị vạ tuyệt thông cách ly, một tâm hồn khát khao muốn gặp Chúa, một con chiên lạc đang tìm lối về. Lòng Chúa xao xuyến, thương mến vô vàn, một tâm hồn mà Chúa đang muốn tìm về đây. Chúa nói: "Hỡi Giakêu hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ông". Giakêu cười sung sướng, nhảy xuống đất, chạy mau về nhà, làm tiệc tiếp đãi khách quý. Và đó phải là một bữa tiệc linh đình, có đông bạn bè trong ngành thuế tham dự, giống như ông Lêvi đã làm trước kia (x. Lc 5,29).
Không phải bốc đồng, nhưng từ đáy lòng Giakêu cuộn lên một niềm sám hối mãnh liệt khiến ông cất tiếng thưa với Chúa: "Thưa Ngài, này đây phần nửa tài sản tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn". Ông Giakêu tự buộc mình làm một việc đền bù rộng rãi phi thường, vượt xa mức đòi hỏi của luật lệ. Điều ấy chứng tỏ ông đã thật lòng hoán cải và hơn nữa ông biết mình đã được tha thứ và cứu độ. Chính Chúa Giêsu xác nhận như thế khi Ngưới phán: "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này".
Trước đây Giakêu chỉ nghĩ đến tiền và sống ích kỷ cho riêng mình, không nghĩ đến người khác.Trước đây Giakêu vốn tham lam, bất lương, lòng quảng đại bị chôn vùi qua bao năm tháng. Hôm nay, gặp được Chúa Giêsu, ông đã biết sống trao ban cho người khác, quan tâm đến người nghèo, sống công bằng với mọi người. Lòng quảng đại đó được bộc phát cách rõ ràng: "Tôi xin bố thí phần nữa của cải của tôi cho người nghèo, và nếu tôi có gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn". Quả là mùa xuân về trong tâm hồn Giakêu. Ngập tràn ánh nắng. Ngây ngất niềm vui. Bình minh Ơn Cứu Độ chan hoà lòng trí ông, gia đình ông.
1. Tình thương hoán cải.
Trong sách (Lv 5, 20-26; Xh 21, 37; Ds 5, 6) đều nói đến khoản luật phải trả lại, đền bù cho người nghèo, cho kẻ bị thiệt hại một số của cải. Đó là luật trong Cựu Ước. Giakêu trình bày ngay vấn đề, điều đó cho thấy có lẽ ông đã nghiên cứu Thánh Kinh, biết được các luật lệ đó. Tiếng lòng hồi sinh và như vậy ông đã có thao thức thầm kín, có băn khoăn và chờ đợi. Trong cuộc sống dư giả vật chất, bân rộn với công việc làm ăn, ông vẫn thấy lòng trĩu nặng ưu tư, để rồi hôm nay có cơ hội ông tìm kiếm Chúa mong làm lại cuộc đời mới.
Thánh Luca đã nói rõ: ông là thủ lãnh của những người thu thuế. Giêricô bấy giờ là hải cảng, thu thuế nơi xuất nhập cảng phồn thịnh phải là một tay có thế lực. Trong nghề nghiệp đó, bạn bè của ông phải là những người thu thuế, các sĩ quan Rôma. Vậy tại sao ông lại vất vả chen lấn với đám đông để mong gặp một người tên là Giêsu, kẻ hoàn toàn khác địa vị xã hội với ông? Là người giàu có, sang trọng, tại sao ông bỏ cả thể hiện sẵn sàng trèo lên cây sung như một đứa trẻ để nhìn cho được Chúa Giêsu đi qua? Hơn nữa, vốn bị dân chúng thù ghét, ông có thể bị nguy hiểm tính mạng khi đối diện với quần chúng giữa đám đông. Như thế ông phải liều, và bỏ ngoài tai mọi phê bình.
Động lực nào thúc đẩy ông đi tìm Chúa Giêsu? Chắc chắn không phải vì sự tò mò, nhưng có lẽ nhờ lời Thánh Kinh đánh động.Tâm hồn mong hoán cải đã thúc bách ông lên đường tìm Chúa! Hoán cải là kết quả của một cảm nhận về tình yêu, một ưu tư thao thức tìm kiếm. Hoán cải là từ bỏ. Bất cứ cuộc trở lại nào, dù lớn dù nhỏ, cũng đòi phải từ bỏ. Hoán cải bởi tình thương bao giờ cũng có kết quả tốt. Giakêu tích cực đi tìm Chúa: "Ông chạy tới phía trước, leo lên một cây sung". Khi nghe tiếng Chúa gọi, ông đã nhanh chóng và vui mừng đáp lại: "Ông vội vàng tụt xuống". Ông còn "vui mừng đón rước Ngài về nhà". Ông nhìn nhận tội lỗi của mình.Ông đền bù những thiệt hại mình gây cho kẻ khác. Ông còn lấy tài sản bố thí cho người nghèo. Hoán cải là một hành trình: từ bỏ những tội lỗi, quảng đại đáp lại tiếng Chúa và canh tân đời sống. Giakêu hoán cải đem lại niềm vui cho chính ông và hai nhóm người, đó là nhóm nghèo được ông san sẻ cho phân nửa tài sản, nhóm bị oan ức (nếu có) được giải oan và nhận huê lợi hơn bốn lần thiệt hại. Việc hoán cải của một người mang lại niềm vui cho nhiều người.
Giakêu lùn về thể lý nhưng tâm hồn không thấp chút nào. Giá trị một người hệ tại nơi tâm hồn. Gía trị của một việc làm ở nơi lòng mến. Đối với Chúa Giêsu, giờ đây, Giakêu, đã trở nên cao thượng nhờ ông biết hoán cải và sống có tình người. Chiều cao thân xác Giakêu vẫn thấp nhưng chiều cao tâm hồn bây giờ ngất cao nhờ tình thương chiếu rọi.
2. Tình thương cảm hóa.
Chúa Giêsu là bậc Thầy cảm hoá lòng người. Tôn trọng, yêu thương có sức cảm hoá đến kỳ diệu. Ánh mắt, lời nói và thái độ của Chúa Giêsu đem mùa xuân về cho tâm hồn Giakêu. Những gì xưa nay trói buộc ông, làm cho ông say mê kiếm tìm giờ trở nên vô vị. Giakêu trở nên nghèo hơn trước, nhưng ông lại hạnh phúc hơn xưa nhiều lần. Thân xác ông vẫn lùn như xưa, nhưng tâm hồn ông đã cao thượng hơn gấp bội. Từ một người đáng khinh, Giakêu bỗng trở thành một người đáng khâm phục. Bởi lẽ, Ông đã gặp được Chúa, được nhận lãnh Ơn Cứu Độ của người Mục Tử Nhân Lành đi tìm con chiên lạc.
Kho tàng văn học Thiền có ghi lại câu chuyện sau đây. Thiền sư Sengai có một anh đệ tử hư hỏng, đêm đêm thường leo tường trốn ra ngoài chơi đêm. Vị thiền sư biết được điều đó nên vào đêm nọ, sau khi phát hiện người đệ tử vượt tường bằng cách leo lên một chiếc ghế khá cao, vị thiền sư đi đến vị trí đặt ghế, nhắc chiếc ghế bỏ sang bên rồi đứng vào chỗ đó.Trong đêm tối, người học trò leo tường trở vào, rồi theo thói quen đặt chân lên ghế để nhảy xuống, không dè lại đặt chân lên lưng thầy. Khi phát hiện thầy đứng ngay trước mặt, anh học trò hoảng sợ chờ đợi những lời khiển trách nặng nề. Thế nhưng cuối cùng vị thầy chỉ nói mấy lời yêu thương: “Áo con ướt đẫm sương đêm rồi! Mau vào thay áo ngay kẻo cảm lạnh!”. Thế là từ đó, người học trò không bao giờ còn đi chơi đêm nữa.
Những lời trách móc, lên án, những thái độ khinh bỉ hay loại trừ chỉ tạo nên nguy cơ làm cho những con người tội lỗi lún sâu vào con đường lầm lạc.Nhưng chính thái độ tôn trọng và tấm lòng yêu thương sẽ tạo nên sức cảm hoá diệu kỳ. Câu chuyện về ông Giakêu cho thấy, thái độ lên án và tẩy chay thường chỉ khiến người có tội thu mình lại và càng dễ dấn sâu hơn vào con đường sai trái của mình; chỉ có một thái độ tích cực có thể giúp họ hồi tâm hoán cải, đó là cởi mở, cảm thông, kính trọng và tùy hoàn cảnh mà nhắc nhở hay sửa dạy với đầy lòng yêu mến.
Giakêu rất cảm động trước sự trân trọng và yêu thương của Chúa Giêsu.Giakêu quyết tâm trở về con đường ngay chính, trước tiên bằng việc thực thi bác ái và công bằng. Cung cách đối xử chan chứa tình người mới là yếu tố chính yếu đem lại thành công trong công việc tông đồ. Đó là nghệ thuật cảm hoá lòng người mà Chúa Giêsu đã sử dụng để làm nên phép lạ nơi con người Giakêu.
Lạy Chúa Giêsu, tình thương của Chúa đã làm nên bao điều kỳ diệu. Xin dạy chúng con nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa, sống với người khác bằng tình thương, hy vọng vào lòng tốt của mỗi người và tin tưởng vào sự quảng đại của họ, nhờ đó thế giới của chúng con trở nên nhân bản hơn và thần linh hơn. Amen.
76.Ông Giakêu
(Suy niệm của Lm. Vũ Khiêm Cung, CRM.)
Harold Hughes là một chàng trai con nhà giầu có sang trọng. Vì được cha mẹ nuông chiều, muốn gì được nấy, nên năm 28 tuổi chàng đã nhiễm đủ mọi tật xấu: nghiện rượu, gian dối, tứ đổ tường và lừa gạt hết mọi người, mọi cấp bậc trong xã hội. Cuộc đời chàng ngày càng xuống dốc.
Một buổi tối nọ, sau khi đã choáng váng với men say, chàng vào buồng tắm, cởi hết áo quần, đứng trước gương soi, hai tay chàng cầm hai khẩu súng lục, chĩa mũi đúng vào trong miệng, Hughes định bóp cò để kết liễu cuộc đời đen bạc, thì chợt nhìn thấy tấm gương phản chiếu hình ảnh bức tranh Thánh Tâm Chúa Giêsu nhân lành hiện ra trước mắt với lời than trách: “Sao con lại hủy hoại thân thể mình, tội chết!” Ngay lúc đó, tay chàng vội rụt lại và tâm trí chàng như cảm thấy hối hận. Thiên Chúa như đang đi vào cuộc đời và chạm đến chàng. Chính giây phút linh thiêng cảm động đó, chàng đã biến đổi tâm hồn. Mười năm về sau, ông đã trở thành Nghị Sĩ của Hoa Kỳ và trở thành người đi biến đổi người khác.
Câu chuyện về ông Harold Hughes cũng giống như câu chuyện về ông Gia Kêu đã thuật lại trong Phúc Âm Chúa hôm nay. Chúa Giêsu đã biến đổi ông Gia Kêu. Ông Hughes cũng từ một cuộc đời biển lận biến thành người phục vụ, một người biết mở rộng cửa lòng để đón nhận Thiên Chúa và được tràn trề niềm vui, niềm hạnh phúc mà ông không bao giờ nghĩ tới. Ông Hughes bệ rạc nhìn thấy tấm hình Chúa chiên lành. Ông Gia Kêu nhỏ bé tò mò trèo lên cây cao để được thấy Chúa, để được nhìn thấy một kẻ kỳ lạ mà bao người đã nói đến tên. Chúa đã nhìn đến lòng ngay thật, không kiêu kỳ của ông mà đáp lại lòng ông.
Thánh Augustinô đã nói: "Khi tôi mới nhận ra Chúa, mặc dù tôi không đáng, nhưng Chúa đã nâng tôi lên, để tôi được nhìn thấy điều tôi đáng nhìn". Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời của chúng ta và biến đổi chúng ta trở nên tốt hơn như Ngài đã làm cho ông Harold Hughes, cho ông Gia Kêu khi bước vào cuộc sống của riêng mình và biến đổi họ thành người tuyệt hảo. Khi bước vào cuộc đời chúng ta, Ngài sẽ làm cho chúng ta tất cả mọi điều Ngài đã từng làm cho người khác.
Có ba điều làm cho chúng ta biết Chúa bước vào cuộc đời. Thứ nhất, khi chúng ta trở nên nghèo nàn, tội lỗi, trơ trọi nhất (một trong 8 mổi phúc thật) trong cuộc đời, nghĩ mình nên kẻ khốn nạn nhất không ai có thể giúp chúng ta được. Thứ hai, lúc chúng ta nhận ra Chúa Giêsu (Thánh Thể) “là Đấng lấy Thịt và Máu Mình làm của nuôi dưỡng chúng ta” (Gio 6:56), bổ sức cho chúng ta. Sau hết, khi Chúa Giêsu cho mình nhận ra những người nghèo khó, cùng quẫn là người cần đến lòng thương xót của ta “Ai làm cho một trong những người bé mọn này là làm cho chính Ta” (Mt.25:40).
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhìn ra sự yếu đuối, bất lực của mình, nhìn ra Chúa là sức mạnh vô song nuôi sống và bổ dưỡng cho chúng con, để chúng con thông truyền sứ điệp ấy cho mọi người nghèo khổ, cho mọi kẻ bé mọn, đáng thương của Chúa.
77. Chúa Nhật 31 Thường Niên
Câu chuyện ông Giakêu là một minh họa cụ thể những khẳng định của sách Khôn Ngoan: “Chúa xót thương mọi người và tạo điều kiện cho họ ăn năn hối cải”.
Giakêu là một người đứng đầu những người thu thuế, ông rất giầu. Ông muốn tìm cách để biết xem Đức Giêsu là người thế nào. Thiện chí của ông đã được đáp ứng: Đức Giêsu hứa sẽ đến nhà thăm ông. Việc này đã làm cho nhiều người khó chịu, họ xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ”!
Được Chúa thương vào nhà thăm, ông rất phấn khởi và tỏ ra quảng đại, ông đã tự nguyện hứa với Chúa: lấy nửa tài sản mà phân phát cho người nghèo và nếu làm hại đến ai thì xin đền gấp bốn.
Đức Giêsu đã chấp nhận lòng quảng đại của ông và đã tuyên bố: “Hôm nay, nhà này được ơn cứu độ”. Lời tuyên bố này phù hợp với lời Ngài đã phán: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”. Nhờ Đức Kitô, ông Giakêu không những đã được giải hòa cùng Thiên Chúa mà còn được làm hòa cùng anh em đồng loại nữa.
THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Xanh vỏ đỏ lòng.
I. ĐỨC GIÊSU KÊU GỌI ÔNG GIAKÊU.
Bài Tin mừng hôm nay nhằm nói lên sứ mạng của Đức Giêsu là “tìm và cứu chữa những gì đã hư mất”. Ông Giakêu đã là người được cứu chữa. Ông là thủ lãnh những người thu thuế ở Giêricô, nhờ gặp được Đức Giêsu nên đã được ơn hoán cải. Do thành tâm đi tìm biết Đức Giêsu, nên ông đã được gặp và còn được Ngài đến thăm nhà mình nữa. Trước tình thương của Đức Giêsu, ông đã tỏ ra quảng đại, chia nửa phần tài sản cho kẻ khó và đền bù gấp bốn những ai ông đã làm hại. Vì thế Đức Giêsu đã tuyên bố: “Hôm này, nhà này được ơn cứu độ”.
1. Hoàn cảnh
Giêricô có biệt danh thật thơ mộng và đẹp đẽ là “Moon city”: thành phố Nguyệt Nga, một thành phố quan trọng ở phía Bắc của Biển chết, ở cách Giêrusalem 37 km, thấp hơn mặt biển 256 mét. Giêricô là thành phố cuối cùng trong cuộc hành trình của những người hành hương lên Giêrusalem.
Trên con đường dẫn vào thành phố Giêricô có hai hàng cây đổ bóng mát. Loại cây thường được trồng có tên là sycamore – cây sung. Sung là một loại cây kết hợp hình thù của cây vả và cây dâu, với những cành to lớn không cách xa khỏi mặt đất, rất dễ trèo lên, dù người thấp bé và lùn như Giakêu.
“Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy” để đi lên Giêrusalem và đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình. Ngài lên Giêrusalem và chịu tử nạn ở đó. Trong cuộc hành trình này, tình cờ Ngài đã gặp ông Giakêu.
2. Con người ông Giakêu.
Ông là người Do thái, tên Giakêu tiếng Do thái là “Zakkay” có nghĩa là “người thanh khiết – người công chính”. Phải chăng là một sự hài hước, hoặc chế diễu? Ông không thanh khiết tí nào vì lòng ham mê tiền bạc, tham nhũng, hối lộ, và hà hiếp dân lành?
Nhưng chúng ta hãy chờ cho câu chuyện chấm dứt.
Giakêu là trưởng ty thuế vụ giầu có ở Giêricô. Thu thuế là một nghề bị người Do thái khinh chê, ghét bỏ. Ngay cả những người Rôma cũng không muốn làm nghề này, nên họ mướn những người Do thái làm. Kẻ làm nghề thu thuế bị coi là người phản bội lại dân tộc, chạy theo đế quốc Rôma. Họ bóc lột tiền bạc của dân chúng càng nhiều càng tốt để chính họ có thể tránh né khỏi phải trả thuế.
Giakêu, một con người bị tránh xa như dịch. Kẻ tội lỗi hoàn toàn bị hư mất. Đồ thối tha. Cấm không được giao du với con người hư hỏng ấy. Người ta nhổ xuống đất và quay mặt đi khi đi ngang qua con người ấy.
Ta thử tưởng tượng điều gì có thể thúc đẩy Giakêu bất chấp sự chế diễu, đã xắn chiếc áo thụng của một ông trưởng giả Do thái và có lẽ cái áo choàng La mã để leo lên cây sung như một thằng nhóc tầm thường. Vì tính tò mò chăng? Vì sự lôi cuốn mầu nhiệm chăng? Vì nỗi khắc khoải mơ hồ và chán chường cuộc sống của mình chăng? Phải nói rằng đây là cử chỉ nói lên lòng khao khát của Giakêu muốn nhìn thấy Đức Giêsu tận mắt, chứ không chỉ nghe thấy tiếng vang của Ngài đối với người bình thường. Cử chỉ này không có gì đáng nói, nhưng đối với Giakêu, một người thu thuế tội lỗi bị người ta khinh bỉ và sống cách biệt, mà lại có lòng khao khát như vậy thì quả là một người có thiện chí và lòng ngay.
3. Đức Giêsu gọi tên ông.
Đứng trên cây sung, Giakêu đang trố mắt nhìn xuống Đức Giêsu, nhưng đồng thời Đức Giêsu cũng trố mắt nhìn lên Giakêu. Bốn con mắt nhìn nhau thật thắm tình. Đức Giêsu lên tiếng gọi: “Hỡi Giakêu hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi”. Một lời kêu gọi bất ngờ đối với Giakêu vì Ngài gọi tên riêng ông, nhưng đối với Chúa thì không. Ta nhận thấy Đức Giêsu biết rõ con người của ông, chứ không phải là một cuộc gặp gỡ tình cờ, ngẫu nhiên, Chúa đã gọi đúng tên ông như đã quen biết ông từ lâu rồi. Chúa tỏ ý muốn vào nhà thăm và ở lại với ông như người bạn thân.
Nghe được lời mời gọi này, Giakêu quá sung sướng nên vội vã tụt xuống. Vì quá lòng mong ước, nên Giakêu cũng có một lòng hiếu khách, một đức tính sẵn có trong dòng máu Do thái, ông đã mời Đức Giêsu vào nhà và tiếp đãi rất ân cần.
Việc Đức Giêsu vào nhà ông Giakêu ăn tiệc, lại còn muốn trọ tại nhà ông mấy bữa làm cho mấy người biệt phái ưa chỉ trích rất bất mãn; vì theo quan niệm của người Do thái, việc giao thiệp với người tội lỗi đưa đến sự dơ bẩn (Lc 5,30; 7,34; 15,2). Việc lẩm bẩm chỉ trích như vậy tỏ thái độ khắt khe của con người đối với tội nhân, nhưng cử chỉ đón nhận của Đức Giêsu đối với tấm lòng ngay và thiện chí của Giakêu lại là thái độ đầy tình thương và cứu độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.
Thấy thái độ thành thực của Giakêu, Đức Giêsu đã tuyên bố: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Giakêu trở thành kiểu mẫu đón nhận ơn cứu độ và là cơ hội để Đức Giêsu khẳng định sứ mạng của Ngài: “Con Người đến đi tìm và cứu những gì đã hư mất”. Giakêu là con cái Abraham, nhưng đối với Giakêu, người Do thái cho là tội lỗi, không thuộc về dòng dõi Abraham nữa, thì nay nhờ ơn cứu độ lại là con cái Abraham một cách đúng nghĩa: Con cái Abraham không phải theo xác thịt nhưng là người được Thiên Chúa cứu độ.
II. CON NGƯỜI ĐƯỢC ĐỔI MỚI.
1. Tiếng gọi của Thiên Chúa.
Người ta nói: “Con mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Câu nói văn hoa và thâm thúy này chắc hẳn bắt nguồn từ Lời Đức Kitô: “Đèn của thân thể là con mắt…” (Mt 6,22t; Lc 11,34t). Hiểu được ánh mắt của một người quả là không mấy dễ dàng (có chăng là ánh mắt tuổi thơ). Vì ánh mắt của một người là biểu lộ của chính tâm hồn người đó… Mà mấy ai trong chúng ta dám cho rằng mình hiểu được tâm hồn ai? Dĩ nhiên là tùy vào cách xử sự và hành động… Như qua bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay, trong khi những người biệt phái chỉ nhìn các người thu thuế (như Giakêu) bằng cái nhìn khinh thị kết án – Thì Đức Kitô, với cái nhìn tuyệt vời không những đã làm đổi mới cuộc đời ông và gia đình, mà còn bao điều tốt đẹp cho những người từng bị điêu đứng vì Giakêu. Cao qúi biết bao chỉ một cái nhìn…
Cái nhìn của Đức Giêsu là cái nhìn chinh phục, cái nhìn của tình thương muốn cứu vớt, một cái nhìn có sức cảm hóa tâm hồn, một cái nhìn nhân từ, như không thấy tội gì trong ông. Chính cái nhìn đầu tiên chân tình và yêu thương ấy đã khiến ông nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới.
Thiên Chúa luôn luôn đi bước trước, con người theo sau. Người ta có thể gọi cây sung là “nơi hai ánh mắt gặp nhau”. Bề ngoài, cái nhìn đầu tiên là của Giakêu, đang cháy bỏng ước muốn xem Đức Giêsu. Nhưng sẽ không có gì xẩy ra nếu Đức Giêsu không ngước mắt nhìn lên Giakêu ở cây sung. Chúng ta tưởng rằng chúng ta tìm kiếm Chúa trong khi mà chính Ngài tìm kiếm chúng ta trước, tự muôn đời.
2. Sự đáp trả của con người.
Được đón nhận lòng nhân hậu và thương xót của Đức Giêsu, Giakêu đã tỏ bầy một tâm trạng muốn hoán cải đời sống bằng cách ông muốn thực hiện ngay việc bác ái và công bằng. Ông quyết định đem nửa phần gia tài mình phân phát cho người nghèo, và nửa phần còn lại ông cũng không định giữ riêng cho ông, song ông sẽ dùng để đền bù cho tất cả những gian lận mà ông tự thú đã phạm.
Trong việc đền trả này ông lại còn đi xa hơn điều luật pháp đòi hỏi. Chỉ khi nào trộm là một hành động bạo lực và dụng tâm gây tàn hại, bấy giờ mới phải đền bù gấp bốn (x. Xh 22,1). Nếu chỉ là việc trộm cắp thường và nguyên vật không thể hoàn trả, thì phải tính gấp đôi mà đền (x. Xh 22,4.7). Nếu bị can tự thú và tình nguyện hoàn trả thì chỉ phải trả theo giá nguyên vật, cộng thêm một phần năm nữa thôi (x. Lv 6,5; Ds 5,7). Giakêu nhất định làm nhiều hơn điều luật pháp đòi hỏi. Bằng hành động, ông tỏ ra đã được biến cải.
Giakêu đã tỏ ra là con người quảng đại sau khi đã hoán cải. Việc bố thí cho người nghèo sinh ích lợi nhiều cho ông. Thánh Kinh đã làm chứng: “Bố thí thì cứu cho khỏi tội và khỏi chết” (Tb 4,11).
Tiên tri Đaniel viết theo: “Hãy chuộc tội con bằng bố thí, và bằng sự thương yêu kẻ khó nghèo” (Dn 4,24).
Nơi khác lại khen: “Của bố thí bay lên như hương thơm trước mặt Chúa” (Cv 11,4).
Đức Giêsu hứa: “Hãy bố thí, rồi mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các con”(Lc 11,41).
Khi ở thành Rages về, sứ thần Raphael bảo cha con ông Tobia: “Nước mắt ông chảy ra cũng như của làm phúc bố thí với những lần bỏ bữa ăn đi chôn xác kẻ chết, Ta đã thu lượm và dâng lên trước mặt Thiên Chúa… bây giờ Ta về với Đấng đã sai Ta, ông hãy tạ ơn Thiên Chúa” (Tb 12,12-13).
3. Khả năng đổi mới của con người.
Sách Tam tự kinh có viết: “Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập tương viễn”. Bản tính của con người lúc đầu là tốt nhưng vì hoàn cảnh mà trở nên xấu. Đây là chủ trương lạc quan của Mạnh Tử. Trái lại, Mặc Tử lại chủ trương: “Nhân chi sơ tính bản ác”. Nếu bản tính con người vốn tốt mà vì hoàn cảnh mà trở nên xấu thì dễ sửa hơn, còn nếu bản tính mà xấu rồi thì sẽ sửa làm sao?
Chúng ta phải khẳng định rằng con người xấu có thể trở nên tốt được bởi vì bản tính vốn là tốt, và nếu có ơn Chúa trợ giúp nữa thì sẽ dễ dàng. Chúng ta hãy lấy trường hợp ông Giakêu ra làm điển hình. Người Do thái coi ông là một người tội lỗi, ô uế, phải tránh xa, đã xấu thì cho xấu luôn, không thương tiếc.
Nhưng sau cuộc gặp gỡ Đức Giêsu, Giakêu đã nhận thấy tình yêu và lòng thương xót của Chúa đối với mình, ông nhận ra con người thật của ông: một con người xấu xa tội lỗi, đáng bị nguyền rủa. Nhưng ông thấy rằng mình có thể sửa đổi được, có thể cải tà qui chính, và ông thực sự đã hoán cải. Do đó, Đức Giêsu đã tuyên bố rằng: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Nhìn vào cuộc đời của Giakêu lúc này chúng ta phải lấy câu tục ngữ Việt nam mà khen ông:
Xanh vỏ đỏ lòng (Tục ngữ)
Câu tục ngữ này có ý nói những cái bề ngòai xem ra xấu xa nhưng bên trong thì tốt. Người ta chỉ có thể thấy cái bên ngoài của một người mà không biết được lòng người ta.
Người ta muốn đánh giá Giakêu thế nào cũng được, nhưng Đức Giêsu có cái nhìn thấu suốt, không nhìn cái vẻ bề ngoài của con người mà Ngài nhìn rõ cả bên trong, cho nên Đức Giêsu sẽ khen cho Giakêu một câu chắc nịch như đinh đóng cột:
Xù xì da cóc trong bọc trứng tiên (câu đố).
Đây là một câu đố bình dân mà người ta thường đố nhau. Vậy “xù xì da cóc trong bọc trứng tiên” là cái gì? Chúng ta hãy giải đáp xem nó là cái gì. Nhưng cho dù nó là cái gì thì lúc nào cũng có ý nói rằng bề ngoài xem ra xấu xa nhưng bên trong thì tốt, giống như câu “Xanh vỏ đỏ lòng” vậy.
Nếu chúng ta có gặp được Giakêu sau khi nhờ ơn Chúa trở lại rồi thì ông sẽ tâm sự cho chúng ta nghe. Ông cho biết nhờ ơn Chúa ông đã thực sự sửa đổi con người của mình. Đời ông không còn như xưa nữa, nay đã trở nên con người mới hoàn toàn. Có thể bề ngòai không giống nhau, nhưng thực sự bề trong đã được đổi mới hoàn toàn:
Thân em như quả ấu gai,
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi, nếm thử mà xem,
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.
(Ca dao)
Truyện: Harold Hughes trở lại.
Harold Hughes xưa kia là Thống đốc tiểu bang Iowa, và là một nghị sĩ của Hoa kỳ. Nhưng cuộc đời của ông đã không luôn luôn thành công. Trong tập tự truyện, Hughes kể lại rằng thời trai trẻ ông đã là “một người nghiện rượu, dối trá và lừa đảo”. Vào một thời điểm trong đời ông, đã phá hủy tất cả mọi sự, và mất tất cả.
Một đêm nọ ông nhảy vào bồn tắm và chuẩn bị tự tử. Ông dí khẩu súng shotgun vào bụng, rồi nhốt cái chùi giẻ vào miệng. Khi ông sắp sửa bóp cò súng, thình lình ông nhớ lại Thánh Kinh đã nói giết mạng sống mình là sai. Và ông đã cố cắt nghĩa với Chúa lý do tại sao ông lại làm điều kinh tởm này. Ông trèo ra khỏi bồn tắm, qùi xuống nền gạch lạnh lẽo, và gục đầu trên thành bồn tắm. Trong tư thế đó, ông nói chuyện với Chúa đang khi khóc nức nở. Sau đó có một điều gì đã xẩy ra mà ông chưa bao giờ cảm nghiệm thấy trong đời. Ông viết trong cuốn tự truyện như sau:
“Một sự bình an ấm áp dường như bao phủ lấy tôi. Những tội lỗi của tôi dường như tan biến. Thiên Chúa cúi xuống và ôm lấy tôi. Giống như một đứa trẻ bị thất lạc trong cơn giông bão, thình lình tôi bị vấp chân ngã vào cánh tay ấm áp của Cha tôi. Đang khi quì gối trên nền nhà tắm, tôi đã hiến dâng hoàn toàn con người của tôi cho Thiên Chúa, và tôi nói với Ngài,”Bất cứ việc gì Ngài sai con làm, lạy Cha, con sẽ thực thi thánh ý Cha”.
Kinh nghiệm đáng nhớ muôn đời đó đã bắt đầu một sự biến đổi hoàn toàn đối với Harold Hughes. Mười năm sau, ông được bầu làm Thống đốc tiểu bang Iowa. Bảy năm sau nữa, ông được bầu vào Thượng viện của Hoa kỳ. Sau cùng, vào năm 1975, ông rút lui khỏi hậu trường chính trị, về hưu và làm việc trọn ngày cho chương trình giúp đỡ những người cai thuốc phiện và nghiện rượu (Nguyễn Văn Thái).
4. Thái độ với kẻ tội lỗi.
Vấn đề chính của con người là ở chỗ chúng ta có thể thay đổi tâm hồn và học yêu thương người khác như thế nào. Phải có một tâm hồn cảm kích, mềm mại xúc động mới làm cho tâm hồn ấy mở ra và sau cùng chia sẻ sự phong phú, cảm thông. Một sự tiếp cận khắt khe làm cho tâm hồn khép kín và chai cứng. Một sự tiếp cận nhân từ, như cách Đức Giêsu thực hiện với Giakêu làm cho tâm hồn mềm mại và cởi mở không có gì có thể làm thay đổi tâm hồn bằng chính tâm hồn. Theo cách thức đó, ông Goethe đã phát biểu: “Đối xử với một người như người đang là sẽ làm cho người ấy trở nên tệ hơn, đối xử với người ấy như người ấy phải trở thành hoặc như người ấy mong ước trở thành sẽ làm cho người ấy trở nên tốt hơn, bởi vì khát vọng của chúng ta là phần chúng ta thật sự đã đóng góp”.
Như vậy, gần gũi và biểu lộ tình thương với người tội lỗi là tốt nhất. Đây là thái độ Đức Giêsu thường xử sự đối với người tội lỗi, và hầu như luôn luôn có tác dụng tốt. Ngài không hề xa tránh những người thu thuế, bọn đĩ điếm, vốn bị coi là hạng người tội lỗi, như những biệt phái và luật sĩ thường làm. Kết quả của thái độ nhân từ đó là biết bao người tội lỗi trở lại con đường ngay chính, say mê nghe Ngài rao giảng Tin mừng, mà bài Tin mừng hôm nay kể ra một trường hợp điển hình. Chính vì Đức Giêsu sẵn sàng vào nhà ông Giakêu, một kẻ bị coi là tội lỗi, ăn uống và trọ lại nhà ông, mà con người ông đã hoàn toàn thay đổi. Thử tưởng tượng xem, nếu Ngài cũng đối xử với Giakêu như cách mà người Do thái thường làm là tẩy chay và xa lánh ông, thì kết quả ra sao!
Truyện: Thiền sư Sengai và đệ tử.
Nhiều đệ tử đang theo học thiền định dưới sự hướng dẫn của thiền sư Sengai. Một người trong bọn họ thường hay thức dậy ban đêm, vượt tường ra phố để dạo mát cho thỏa thích.
Một đêm kia, Sengai đi giám thị phòng ngủ, thấy một đệ tử vắng mặt và cũng khám phá ra được chiếc ghế đẩu cao mà anh ta thường dùng để leo qua tường. Sengai dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Khi anh chàng rong chơi trở về, không biết rằng Sengai là chiếc ghế, anh ta đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất. Lúc khám phá ra việc mình đã làm, anh ta hoảng sợ, nhưng Sengai nhẹ nhàng bảo:
- Sáng sớm hôm nay trời lạnh lắm. Con hãy cẩn thận kẻo bị cảm đấy.
Từ đó, người đệ tử ấy không bao giờ bỏ ra ngoài ban đêm nữa. Anh chuyên tâm học tập và trở thành người đệ tử gương mẫu của thầy Sengai.
5. Công cuộc đổi mới của mỗi người.
Như ở trên chúng ta đã nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện” thì con người có hư hỏng rồi cũng có thể cải thiện được. Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta đã được trở nên tinh tuyền, đã được mặc lấy Chúa Kitô và có thể nói là trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, nhưng chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đã được tha tội nguyên tổ nhưng không thể tránh được hậu quả của tội ấy, do đó con người chúng ta trở nên yếu đuối, dễ sa ngã phạm tội. Vì vậy, thánh Phaolô cảnh giác chúng ta: “Ai đang đứng ý tứ kẻo ngã”.
“Sai phạm là bản tính của con người, còn tha thứ là bản tính của Thiên Chúa”(A. Pope). Vì thế chúng ta có thể nói: sai lỗi là chuyện bình thường, sa ngã mà không biết chỗi dậy mới là bất bình thường. Có biết bao nhiêu gương sa ngã mà đã chỗi dậy nhờ ơn Chúa. Người lành thánh mà còn sai phạm một ngày ít là 7 lần, chúng ta chưa lành thánh là bao, có sai lỗi thì cũng là chuyện bình thường, không đáng lo, cứ cậy trông vào ơn Chúa và quyết tâm hoán cải.
Truyện: Leonard da Vinci vẽ hình.
Danh họa Leonard de Vinci đang thực hiện tuyệt tác “Bữa Tiệc ly”. Nhưng để diễn tả một phần nào đúng chân dung của Chúa và 12 vị tông đồ, danh họa phải đi tìm những nét mặt đó nơi những người đương thời. Một hôm, họa sĩ bắt gặp trong thánh đường ở Rôma, một vị kinh sĩ trẻ tuổi có gương mặt thanh tú, trong sạch tuyệt vời hợp với chân dung thánh Gioan. Thế là ông đi theo và xin vị Kinh sĩ ngồi làm mẫu cho mình vẽ. Vị Kinh sĩ bằng lòng và họa sĩ đã vẽ được một gương mặt đẹp như Thiên thần.
Vài năm sau, bức tranh “Bữa Tiệc ly” vẫn chưa hoàn thành vì không tìm ra người mẫu để vẽ chân dung độc đáo của Giuđa. Tình cờ, trên đường phố, họa sĩ gặp một người ăn mày, áo quần rách tả tơi với vẻ mặt quái đản, gian ác đến độ vừa kinh ngạc vừa mừng thầm tự chủ: “Trời ơi, người mẫu này thật lý tưởng, ta sẽ vẻ mặt gian xảo này cho thật mâu thuẫnvới vẻ mặt Thiên thần của chàng trai trước đây”. Sau khi thương lượng với giá cao, người ăn mày bằng lòng làm mẫu cho họa sĩ vẽ. Vẽ xong, họa sĩ sung sướng lấy chân dung chàng trai trẻ đặt bên chân dung người ăn mày mà ngắm nghía. Còn người hành khất giật mình chết lặng, rồi hai dòng nước mắt chảy dài trên hai gò má đen đủi và nghẹn ngào nói: “Bức chân dung người trẻ kia chính là tôi mà ông đã vẽ cách đây mấy năm. Khi đó trông tôi tốt lành, trong trắng dường nào, nhưng bây giờ tôi là một tên ăn mày, cờ bạc rượu chè say sưa”. Nói xong, anh ta bỏ đi thật tội nghiệp.
Nếu chẳng may chúng ta đã để cho mình trở nên xấu như chàng ăn mày kia, chúng ta hãy bắt chước ông Giakêu tìm đến gặp gỡ Đức Giêsu. Phía Chúa Ngài luôn khẳng định là Ngài xuống thế cốt tìm kiếm và cứu kẻ tội lỗi, nên Ngài luôn luôn hiện diện mọi nơi mọi lúc, sẵn sàng theo dõi, đợi chờ con người tỏ dấu ăn năn thì Ngài sẽ hành động ngay.
Nhưng nếu chỉ gặp Chúa mà thôi thì chưa đủ, cần phải có hành động cụ thể. Muốn biến cuộc gặp gỡ thành một cuộc tình gắn bó, một cuộc liên kết chặt chẽ, lâu dài thì phải thực hiện một công đoạn tiếp theo là đổi mới cuộc sống. Như Giakêu, ông ta không dừng lại ở chỗ gặp Chúa, trái lại ông ta muốn tiến xa hơn là thay đổi cuộc sống bằng cách bố thí và thực hiện đức công bằng. Cũng thế, để nhận được sự tha thứ và sự bình an của Chúa trao tặng, mỗi người chúng ta phải đổi mới ngay cuộc sống của mình bằng những cố gắng thực tế như: bỏ dần những tính hư tật xấu, cắt đứt ngay những liên hệ xấu xa, sửa lại những lầm lạc sai phạm, rồi dũng cảm thực hiện các việc đạo đức bình thường như đọc kinh, xem lễ, lần hạt và đi xưng tội, rước lễ…
78.Hoán cải
(Suy niệm của JM. Lam Thy ĐVD.)
Dân Do-thái rất ghét những người thu thuế vì thấy họ hay sách nhiễu dân tình, hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, và nhất là vì họ làm tay sai cho ngoại bang (thu thuế cho nhà nước bảo hộ Rô-ma). Vì thế, những người thu thuế thường bị coi là hàng ngũ tội lỗi. Ông Da-kêu là một người như thế và còn hơn thế nữa, là một đầu sỏ của nhóm người tội lỗi ấy (“ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có” – Lc 19, 2). Có lẽ chính ông Da-kêu cũng nhận ra điều này. Đàng khác, chắc chắn ông cũng nghe nhiều người kể lại danh tánh một người tên là Giê-su Con Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ chữa bệnh cho nhiều người, và một điều đặc biệt là ông Giê-su ấy chỉ chuyên đến với những người nghèo hèn, tội lỗi, tù rạc, bệnh hoạn. Vì thế, ông muốn tìm cách gặp để xem ông Giê-su là người như thế nào và có thực đúng như những lời đồn đại hay không.
Cơ hội đã tới, khi biết người mình muốn tìm gặp sắp đi ngang qua thành Giê-ri-khô, Da-kêu liền chen vào đám đông thực hiện ý định; chỉ hơi tiếc một điều là dân chúng chen chúc quanh Đức Ki-tô thì quá đông, mà ông lại quá... lùn. Nhưng ông quyết không bỏ lỡ cơ hội, bèn tìm cách leo lên cây cao để nhìn cho rõ, và đó chính là một sáng kiến xuất phát từ lòng khao khát muốn đạt được mục đích. Cũng chính từ lòng khao khát ấy mà ông được toại nguyện còn hơn cả sự mong muốn của mình. Đức Giê-su không chỉ đi ngang qua cho Da-kêu nhìn thấy, mà Người còn gọi đích danh ông và hứa vào tận nhà ông ("Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" – Lc 19, 5). Quả đúng như lời đồn đại về Đức Giê-su, không những thế, Người còn thực hiện đúng những gì Người đã dạy ("Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho" – Mt 7, 7).
Tất cả những sự kiện xảy ra nhãn tiền đã khiến ông Da-kêu, từ một người mới chỉ nghe danh và tò mò muốn biết Đức Ki-tô là ai và là người như thế nào, đã trở thành một người vững tin và quyết tâm sám hối, sửa chữa lỗi lầm của mình ("Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." – Lc 19, 8). Hành động ấy đã khiến Đức Giê-su chạnh lòng và nói về ông Da-kêu thế này: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất." (Lc 19, 9-10). Lời dạy này mang ý nghĩa gì?
Có 2 điều cần suy gẫm: Thứ nhất, ông Da-kêu là con cháu tổ phụ Ap-ra-ham, mà tổ phụ Ap-ra-ham là con cái Thiên Chúa, nên ông Da-lêu cũng là con cái Thiên Chúa. Đã là con cái Thiên Chúa thì tất cả đều bình đẳng trong ân nghĩa Chúa, hay nói khác hơn, đã là con cái Thiên Chúa thì tất cả đều được cứu độ, dù cho có bị lạc đường vì tội lỗi thế nào mặc lòng (như trường hợp “Con chiên bị mất” – Lc 15, 4-7; “Đồng bạc bị mất” – Lc 15, 8-10; Đứa con hoang đàng “đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy" – Lc 15, 11-32). Tuy nhiên, những con chiên bị lạc đường vì tội lỗi ấy khi được Chúa tìm và vui vẻ vác trên vai trở về, liệu có thực lòng muốn trở về đường ngay nẻo chính hay không? Và đó chính là điểm cần suy gẫm thứ hai: Ông Da-kêu khi được gặp Chúa, được Chúa lại thăm tận nhà, ông đã sáng mắt sáng lòng hiểu ra con người thực của mình chứa đầy tội lỗi nhuốc nhơ, hiểu được Con Người mà ông tò mò muốn biết chính là Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian, nên ông đã thực lòng ăn năn sám hối và đã được cứu độ.
Nhìn vào hình ảnh Da-kêu, nảy sinh ý nghĩ: Mặc dù là Ki-tô hữu, nhưng có thể tôi, anh – chúng ta – chưa hiểu biết nhiều về Thiên Chúa, về Đức Giê-su. Và cũng rất có thể chúng ta chưa hề gặp gỡ Người một cách thật sự, mặc dù chúng ta vẫn cầu nguyện, dâng lễ, rước lễ hàng ngày. Vì nếu chúng ta đã thực sự được gặp gỡ Người, chắc chắn chúng ta phải được biến đổi một cách sâu xa như Da-kêu đã từng được Chúa biến đổi. Vấn đề đặt ra là chúng ta không có được tâm tình như Da-kêu, hay nói cách khác, trở ngại lớn nhất cản bước chúng ta tìm đến gặp gỡ Chúa chính là “cái tôi” đã định hình trong chúng ta một tính cách vị kỷ. Thật thế, “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm… Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.” (Rm 7, 15.19). Vì thế muốn gặp gỡ Đức Ki-tô để có thể biến đổi, hoán cải cuộc đời mình, thì tiên vàn phải dẹp bỏ cái tôi – tức là phải “từ bỏ chính mình” (Mt 16, 24; Mc 8, 34; Lc 9, 23) – hơn thế nữa còn sẵn sàng “vác thập giá mình” mà theo Chúa.
Như vậy là đã rõ, tình yêu Chúa tuôn đổ tràn đầy, không phân biệt nội ngoại, giàu nghèo, sang hèn. Vấn đề đặt ra là anh có nhận ra và phân biệt được đâu là thật và đâu là giả giữa cõi đời chân giả khôn phân này hay không mà thôi. Và khi đã phân biệt được chân giả, thì biết tìm đến chân lý với tất cả lòng tin, với tất cả thiện chí. Chỉ đến khi đó, Thiên Chúa sẽ "dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin" (2Tx 1, 11). Chắc chắn sẽ có một cuộc đổi đời xảy đến với anh cũng như đã xảy đến với ông Da-kêu thủa xưa. Ấy cũng bởi vì "danh của Chúa chúng ta là Đức Giê-su, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giê-su Ki-tô" (2Tx 1, 1). Ước được như vậy. Amen.
79.Chúa Nhật 31 Thường Niên
Kiểu mẫu người môn đệ Chúa Kitô: sống chia sẻ
Tin mừng của Thánh Luca được gọi là Tin mừng về Lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh Luca có nhiều tường thuật và những dụ ngôn rất tuyệt vời về lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người. Đoạn Tin mừng hôm nay là một bức tranh tuyệt đẹp về lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho người tội lỗi, và cũng mở rộng cho tất cả chúng ta nữa.
1. Thành tâm tìm Chúa sẽ được gặp Chúa:
Dakêu lại là thủ lãnh của những người thu thuế nên chắc chắn ông phải giàu có lắm. Dù vậy, Dakêu vẫn thấy còn thiếu một điều gì đó mà lương tâm của ông mách bảo ông phải đi tìm. Nhưng biết tìm gì đây? Chắc chắn là không phải đi tìm cách để làm giàu hơn nữa rồi. Và cơ may như tình cờ đã đến Dakêu. Đức Giêsu đi ngang qua làng quê của ông. Ông đã nghe danh tiếng Đức Giêsu đã lâu rồi nhưng chưa được dịp gặp. Hôm nay, Dakêu nhất định phải tìm cách để nhìn thấy mặt Đức Giêsu một lần cho biết. Hành động leo lên cây sung để nhìn ngắm Đức Giêsu cho thấy Dakêu rất quyết liệt trong việc tìm kiếm Chúa. Ta thử hỏi động lực nào thúc đẩy Dakêu như thế? Câu trả lời là vì ông đang thiếu Chúa nên mới tìm kiếm quyết liệt như thế dù là để thấy Ngài thôi. Phúc âm ghi là “Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai” mà thôi. Sự thành tâm của ông đã được Đức Giêsu đáp lại vượt quá sức tưởng tượng của ông. “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.” Chúa Giêsu muốn cứu ông nên mới hối thúc ông như thế “xuống mau đi”. Câu nói của Chúa Giêsu cho ta thấy được rằng: việc Chúa đến để cứu giúp ông là điều cần thiết vì nó nằm trong chương trình của Thiên Chúa “Tôi phải”.
Vậy là Dakêu đã gặp được điều mà ông còn thiếu, còn trống vắng trong tâm hồn ông. Ông đi tìm và ông đã gặp. Nhưng trên hết là lòng thương xót của Thiên Chúa, là tình yêu nhưng không của Ngài dành cho con người. Nói là con người đi tìm Thiên Chúa nhưng thật ra là Thiên Chúa đi tìm và cứu lấy con người. Thiên Chúa làm nên những việc vượt quá ước muốn của con người. Tấm lòng của Thiên Chúa là như thế: đi tìm và cứu chữa những gì xem ra đã hư mất dưới cái nhìn của nhân loại. Phần chúng ta, để được Thiên Chúa cứu độ, chúng ta cần có lòng ước muốn và khao khát đến với Chúa dù động lực chưa rõ ràng hay còn lệch lạc đi chăng nữa. Chúa hiểu tấm lòng của con người. Và khi gặp được Chúa rồi, chúng ta cần làm theo những gì Chúa đã ân cần hướng dẫn và ngoan ngoãn bước theo đường lối của Ngài.
2. Dakêu, kiểu mẫu của người môn đệ Chúa Kitô:
Như một điều mỉa mai đối với Dakêu. Tên của ông có nghĩa là “trong sạch” nhưng ông lại làm nghề thu thuế, một nghề tội lỗi và bất công. Nhưng sự mỉa mai này chấm dứt khi ông gặp được Đức Giêsu. Nhờ biết chia sẻ, ông đã trở nên trong sạch đúng với tên gọi của ông.
Có thể nói cách mạnh mẽ rằng: Dakêu là người đầu tiên thực hiện lời mời gọi chia sẻ của Chúa Giêsu. Theo Tin mừng của thánh Luca, người môn đệ đích thực của Chúa là người biết sống chia sẻ, cả vật chất lẫn tinh thần cho người khác, đặc biệt là cho những người nghèo khổ và túng thiếu.
Những ai sống giàu có dư đầy mà không biết chia sẻ cho người khác thì sẽ có một kết cục thật bi thảm: đảo lộn số phận trong cuộc sống mai sau. Câu chuyện về “người phú hộ và anh Lazarô nghèo khổ” hay câu chuyện “anh thanh niên giàu có buồn rầu bỏ đi trước lời mời gọi sống chia sẻ của Chúa Giêsu” là những điển hình. Số phận của những kẻ như thế sẽ bị đạo lộn và sẽ rất tối tâm. Nếu giàu có ở đời này thì sẽ nghèo khổ ở đời sau muôn ngàn kiếp, “người giàu có trở về tay không”.
Còn ở đây, Ông Dakêu tuy giàu có nhưng ông biết sẵn sàng và tự nguyện chia sẻ của cải của mình cho người nghèo khổ, nên ông sẽ không bị đảo lộn số phận mà còn trở nên kiểu mẫu cho hình ảnh người môn đệ Đức Giêsu, trở thành công dân trong Israel mới do chính Chúa lập nên. “Tôi xin bố thí nửa tài sản của tôi cho kẻ khốn khó, và nếu tôi làm thiệt hại ai điều gì, tôi xi đền gấp bốn”. Thật là một hình ảnh tuyệt đẹp của những con người hoán cải tận căn sau khi gặp được Chúa. Gặp Chúa thật sự thì không thể không hoán cải và không thể không thay đổi trong mọi sự, từ suy nghĩ cho đến hành động. Dakêu thật là một kiểu mẫu cho chúng ta noi theo. Từ một người chỉ biết thu góp, nay trở thành người cho đi; từ một người sống trong bất công nay trở thành người thực thi sự công bằng và trả lại sự công bằng cho người khác.
Chúng ta hãy nhìn vào sự biến đổi của Dakêu mà xét mình lại. Chúng ta giữ đạo đã nhiều năm, nhưng chúng ta đã gặp được Chúa chưa? Chúng ta đi lễ quá nhiều, rước Chúa vào lòng quá nhiều đến mức không nhớ nổi, chúng ta nghe lời Chúa đến mức có thể thuộc lòng được... nhưng thử hỏi chúng ta đã thật sự gặp được Chúa chưa? Nếu ta chưa biết hoán cải, chưa biến đổi gì hết trong thái độ sống, trong suy nghĩ và hành động của ta cho tốt hơn thì có thể nói: Chúng ta chưa gặp được Chúa.
Sẽ thật là vô phúc cho chúng ta nếu chúng ta lo giữ đạo, giữ luật Chúa mà không lo gặp Chúa. Không có Chúa trong cuộc đời ta thì ta là những kẻ đáng thương vô cùng. Coi chừng chúng ta đang biến thành những Biệt Phái của thời đại mới này mà chúng ta không hề hay biết.
Hãy noi gương Dakêu để trở thành người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu: biết sống chia sẻ, biết hoán cải nội tâm, biết đi tìm Chúa cách thành tâm thiện chí, để khi hoàn tất cuộc đời tại thế này, chúng ta sẽ được Chúa cho vào dự tiệc cưới Nước Trời dành cho những tâm hồn thiện chí và trung tín của Chúa. Ước gì trong ngày sau hết, ta được Chúa nói với ta như đã nói với Dakêu rằng: “người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham” và “hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này”. Amen.
80.Ông Giakêu
(Suy niệm của P. Trần Đình Phan Tiến)
Kính thưa quý vị, nhân vật Giakêu là nhân vật có thật, vì đây không phải là dụ ngôn, một câu chuyện có thật, người thật, việc thật. Có thể nói, Ông Giakêu là nhân chứng của Tin Mừng, một con người làm nghề thu thuế, giàu có, vóc dáng nhỏ bé, lùn. Nhưng có một “ đức tin “ cao vời, ông đã nhận ra Đức Kitô bằng một ý thức chắc chắn, có nghĩa là ông đã cảm nhận và xác tín rằng: Giêsu- Nazaret không đơn thuần là một con người, mà là ông đã nhận ra nơi Chúa Giêsu là một Đấng Messia, nên nghĩa cử và lời nói của ông dành cho Chúa Giêsu rất đặc biệt. Đặc biệt đến nỗi ông đã có sáng kiến cho việc thiếu chiều cao của mình, để được nhìn thấy Đấng cứu thế, và như vậy lòng thành của ông đã được đón nhận, được Chúa Giêsu khen ngợi và ở lại nhà ông, chính Người nói: “Hỡi Giakêu! Hãy xuống mau, vì hôm nay Tôi sẽ ở lại nhà ông”. (Lc 19,5).
Quả thật, không còn hạnh phúc nào bằng, vì ông đã mong muốn đón nhận Chúa Giêsu bằng mọi cách,dù là sự hạn chế về mặt thể lý của ông, ông cũng tim cách vượt qua.
Điểm nổi bật của Giakêu là: Ông dám đặt mọi thứ dưới chân Chúa Giêsu, xem nhẹ của cải sau khi nhận ra Người. Niềm tin của ông mạnh đến độ dám đánh đổi tất cả chỉ vì nhận ra Người là “Đấng Thánh”. Như vậy, nhân vật Giakêu là một nhân vật tuyệt vời đối với những ai dám dấn bước theo Chúa Giêsu, từ bỏ tất cả những gì trước khi gặp được Chúa.
Một nữa tài sản của ông sẽ cho người nghèo, còn những gì ông làm thiệt hại ai, ông sẽ đền gấp bốn. Đó là một hành động dũng cảm, dám đánh đổi hoàn toàn, một sự tín thác trọn vẹn.Nhân vật Giakêu đã làm lu mờ những suy nghĩ không tốt đẹp của người Dothai đối với Chúa Giêsu. Người Dothai xem thường những người như Giakêu, nhưng Chúa Giêsu thì không. Vì Người đến để tìm và cứu những gì đã mất. (c10).
Qua Đoạn Tin Mừng (Lc 19, 1-10) hôm nay, chúng ta thấy cách xử sự của Chúa Giêsu đối với những người tội lỗi như thế nào, một sự khoan hồng độ lượng, để người ta tim đến với Chúa.Sẵn sàng tha thứ, khi họ nhận ra lỗi lầm và yêu thương họ.(c 5)
Thái độ của nhân vật Giakêu là mong muốn đón nhận ơn cứu độ. Khi nhận ra Đấng Cứu thế, ông liền tim cách tiếp cận Người cho dù thể lý bị giới hạn.Ông sẵn sàng đáp trả bằng mọi giá, đánh đổi tài sản mình có để chuộc lại lỗi lầm. Một nghĩa cử như thế, nên Chúa Giêsu đã tiếp nhận ông.
Cách nhìn thiển cận của người Dothai, nhỏ nhen, ích kỷ, không rộng lượng vừa lên án người khác là tội lội, vừa xúc phạm đến Đấng cứu thế. Họ tự đặt mình lên trên Thiên Chúa, và như vậy là họ không đón nhận ơn cứu độ.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn sám hối, đó là mục đích cao cả của chương trình cứu chuộc, trong số đó có nhân vật Giakêu, một người thu thuế giàu có, bị hạn chế về thể lý, nhưng có một lòng tin vững mạnh. Xin thương ban cho mỗi người Kitô hữu biết đánh đổi tất cả, để chỉ có được Cháu mà thôi. Amen.
81. Sám hối
(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng)
Cách đây ít lâu, đài truyền hình Nhật Bản đã trực tiếp truyền hình cho khán giả trên cả nước được xem toàn bộ ban quản trị của một công ty dược phẩm cung cấp máu có tên là “Thập tự xanh” đã ra trước ống kính truyền hình để thú nhận vai trò của họ trong việc phân phối máu có nhiễm vi-rút HIV hồi năm 1986 làm cho nhiều người phải mang bệnh Si-đa. Sau khi ông chủ tịch công ty đọc lời thú tội, thì trong đám đông có tiếng la lớn: “Hãy quì gối xuống”. Đó là tiếng kêu của một trong những nạn nhân của hành động thiếu trách nhiệm trên đây. Liền sau đó, một người khác cũng hô lớn: “Hãy nhận lấy trách nhiệm của các ngươi về tội ác”. Tức khắc, ông chủ tịch và năm người trong ban quản trị công ty đã quì gối trước mặt cử tọa và gục đầu xuống sàn nhà trong 10 phút để nhận tội và tỏ dấu sám hối.
Sám hối về những sai lỗi là điều bình thường, không có gì là hèn hạ và nhục nhã. Đạo của chúng ta xem việc sám hối ăn năn là một trong những đòi hỏi tiên quyết của niềm tin. Vì thế, sám hối là một đề tài mà không một ngôn sứ nào, không một tông đồ nào, không một nhà giảng thuyết nào không đề cập tới, chẳng hạn, thánh Gio-an Tẩy Giả khi bắt đầu giảng dạy, ngài kêu gọi mọi người: “Hãy sám hối để đón Chúa đến”. Chúa Giêsu cũng vậy, bắt đầu cuộc đời công khai, lời truyền giảng đầu tiên của Ngài là kêu gọi mọi người: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.
Sám hối là chân thành nhìn nhận những lỗi lầm, những thiếu sót của mình và quyết tâm đổi mới đời sống. Do đó, sám hối không phải chỉ là hối tiếc những hành vi quá khứ, lại càng chẳng phải là thực thi cho đủ một nghi thức bên ngoài theo luật định, nhưng là thay lòng đổi dạ, đổi mới đời sống và cách sống của mình. Hiểu như vậy thì sám hối là việc bình thường nhưng cần thiết đối với tất cả mọi người.
Tin Mừng kể lại nhiều mẫu gương sám hối, một gương mẫu điển hình là ông Da-kêu. Ông là một người tội lỗi nhưng đầy thiện chí. Ông ước muốn được nhìn thấy Chúa Giêsu, nhưng dân chúng đông quá, ông lại lùn, nên ông trèo lên một cây sung ở bên đường mà không sợ mọi người chế diễu. Quả thực, ông đã có thiện chí, bấy nhiêu thôi đã đủ để Chúa thưởng cho tấm lòng chân thành của ông, không những cho ông thấy mà Chúa còn đến nhà ông. Trước tình thương của Chúa, ông đã mở rộng tâm hồn, sẵn sàng chuộc lại tội lỗi, đem nửa gia tài phân phát cho người nghèo, không những thế, ông còn thực hiện sự công bình, làm thiệt hại ai ông sẽ đền gấp bốn.
Kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu của ông Da-kêu là cái mẫu gặp gỡ Chúa của chúng ta, và yêu cầu chúng ta cũng hãy thực hiện một cuộc gặp gỡ Chúa như thế. Thực vậy, ông Da-kêu là gương mẫu người sám hối như Chúa Giêsu mong muốn, nhìn vào ông chúng ta sẽ kinh nghiệm được thế nào là sám hối. Vậy điều quan trọng chúng ta hãy nhớ: việc sám hối là một đặc ân của Thiên Chúa, chứ không phải là sáng kiến của chúng ta. Đó là tiếng gọi của Chúa mà chúng ta có nhiệm vụ đáp lại. Ông Da-kêu vì tò mò muốn xem Chúa, nên trèo lên cây mà nhìn, nhưng tâm hồn ông chỉ thay đổi hẳn khi Chúa nhìn ông, kêu tên ông và vào nhà ông. Những chi tiết đó nói lên cho chúng ta biết một cách hùng hồn vai trò của ơn Chúa, của tình thương Chúa trong việc sám hối: ơn Chúa đi trước, kêu gọi và mời đón. Tuy nhiên, chúng ta phải đáp lại tiếng gọi của Chúa, đáp lại sự trông đợi của Chúa thì công việc mới hoàn thành.
Chúng ta cần đến gặp Chúa Giêsu và sám hối để được tha thứ và đổi mới cuộc đời. Chúa Giêsu là tình thương, là đại dương tình thương, nên dù chúng ta là ai, dù chúng ta đang sống trong tình trạng nào, dù cuộc đời chúng ta có xấu xa, bê bối thế nào, thậm chí tội lỗi chúng ta có nhiều và nặng nề đến đâu, vẫn không sao, Chúa sẽ tẩy xóa hết, Chúa sẽ tha thứ hết, để mỗi người chúng ta sẽ là một giọt tình thương trong đại dương yêu thương bao la của Chúa. Nhưng với điều kiện chúng ta phải đến với Chúa, phải gặp gỡ Chúa và thành thật nhìn nhận thân phận yếu hèn và tội lỗi của mình.
82.Cuộc gặp gỡ giữa ông Giakêu và Đức Giêsu
(Suy niệm và Chú giải của Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt)
1. Chúng ta đang ở cuối cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Đức Kitô sắp lên Giêrusalem để chịu chết, dù các tông đồ không hiểu ý nghĩa sự loan báo cuộc tử nạn (18,31-33). Vậy chính trong một viễn tượng bi thảm mà sắp diễn ra những biến cố sau đây: Chúa chữa lành người mù trên đường đến Giêrico, ông Giakêu ăn năn trở lại. Bầu khí này làm nổi bật những cử chỉ của Chúa Giêsu.
Chữa lành bệnh nhân, việc người ta ăn năn trở lại một cách đặc biệt, đối với Đức Kitô thì không phải đơn thuần là những hành vi thương xót có tính cách vật chất hay tinh thần. Chúng có ý nghĩa tiên tri do Chúa Giêsu, thủ lãnh các tiên tri làm chủ. Quả vậy, Ngài biết rằng ngôn ngữ con người có thể diễn tả các ý niệm nhân loại, nhưng bất lực khi biểu lộ một vài thực tại tinh thần cao siêu hơn. Khi tiếp tục truyền thống tiên tri của Israel trong thứ ngôn ngữ này, Ngài không thể không biết rằng các cử chỉ trong một vài hoàn cảnh có thể thay thế cho từ ngữ và có thể nói lên ý nghĩa của cái vô hình một cách hữu dụng hơn. Những cử chỉ tiên tri này của Đức Kitô làm thành một thứ giáo huấn cụ thể dễ hiểu đối với những người đơn hèn nhất, nhưng lại khiến những người khôn ngoan nhất phải thán phục. Chắc chắn đó là một sự chuẩn bị cho những cử chỉ mà Chúa Giêsu phải làm sau đó dưới hình thức nhiệm tích. Việc ông Giakêu ăn năn trở lại dạy ta cách rõ ràng về lòng thương xót của Thiên Chúa, về địa vị người tội lỗi trong chương trình cứu chuộc và về chiều kích mầu nhiệm mà bất cứ nhà nào mở cửa đón đấng Kitô đều đạt được.
2. Lúc gần tới Giêrico, một người mù tuyên xưng Ngài là Con Vua Đavit. Và Chúa Giêsu đã chữa lành ông ta. Người được làm phép lạ quấn quít theo Ngài và tất cả đám đông bắt đầu ca tụng Thiên Chúa và Ngài đã làm những điều kỳ diệu dường ấy. Tiếng vang của việc chữa lành đầu tiên này lan rộng như cát bụi bay tới Giêricô. Một trong những người đầu tiên nghe được tiếng vang này là ông trưởng ty quan thuế.
Lc thường không nói lên các chi tiết liên quan đến những nhân vật mà ông đề cập đến. Tuy vậy, ông cũng cho ta biết tên của viên chức này là Giakêu. Cái tên này có nghĩa là “người trong sạch”. Về phía Lc, phải chăng đó là chuyện hài hước? Bởi vì một người thu thuế mệnh danh là “người trong sạch” cho ta cảm tưởng tương tự như một người hà tiện có biệt hiệu là “người quảng đại”. Nếu Lc không muốn làm hề để chúng ta cười thì những người ở Giericô, chính họ chắc chắn biết cái tên này không thích hợp với con người chút nào: Giakêu, người tôi lỗi do bởi chức vị, dưới mắt họ được gọi tên là kẻ bị khai trừ. Giakêu là người thu thuế; ông giàu có nhờ đó, nhưng cũng vì đó mà gặp phải bất hạnh.
3. Đức Kitô là người đưa ra sáng kiến giúp ăn năn trở lại. Đã đến lúc Chúa Giêsu xin hoặc nhận sự trợ giúp để tạo nên cơ hội cho Ngài ban ân sủng. Ngài xin người đàn bà xứ Samaria một chút nước để mạc khải cho Ngài biết Ngài có một thứ nước hằng sống làm hết khát và có thể biến cải bất cứ hữu thể nào thành nguồn nước tuôn trào trong cuộc sống vĩnh cửu. Ngài nhận dầu thơm của người đàn bà tội lỗi để minh nhiên hóa việc tha thứ Ngài ban cho bà trước mặt mọi người. Như vậy, Thiên Chúa làm người muốn biểu lộ một tình yêu chứ không phải là một sự thương hại. tình yêu sáng tạo và cứu độ trước hết chấp nhận đường lối đơn giản, thân tình của tình bạn là nhận ngay trước khi trao ban. Và chắc chắn đó là một trong những biểu lộ cao cả nhất của lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những hữu thể mà Ngài muốn ban đầy ơn phúc.
Trong khi vị hoàng tử cải trang thành người ăn mày để bố thí mà không đánh mất danh dự, thì Chúa Giêsu đến với người thu thuế đang ở trên cây, như một người giảng rong để kiếm ăn: Ngài nói với ông: “Giakêu, trèo xuống mau”. Trong cái vội vàng của Chúa Giêsu có một thứ hài hước đầy dịu dàng, gần như là Chúa muốn nói với ông: Giakêu ta đói lắm rồi, vội vàng lên chứ! Thực vậy Ta muốn khẩn trương tới nhà ngươi để mầu nhiệm cứu độ mà Ta mang đến cho thế giới được hoàn tất nơi ngươi.
“Thấy vậy, mọi người xôn xao và nói: ông này đến trọ nhà một người tội lỗi” (c.7). Gương xấu lên tới tột điểm khi Chúa Giêsu không những chỉ quyết định dùng cơm tại nhà người thu thuế, mà còn muốn ở lại đó một thời gian. Nguyên việc dùng cơm với những người tội lỗi công khai đã là nặng rồi; hơn nữa việc tạm trú trong nhà người tội lỗi công khai chắc chắn làm người ta chỉ trích ầm ĩ. Lời xôn xao này, không phải chỉ do một vài người biệt phái ưa chỉ trích, nhưng chắc chắn là của toàn thể đám đông.
4. “Nhưng Giakêu nhất quyết nói với Chúa: vâng, lạy Chúa, con sẽ lấy nửa gia tài của con để cho người nghèo…” (c.8a). Thật vậy, Giakêu đang đón Đức Kitô nơi cửa nhà ông. Dường như, ông cố ý tuyên bố công khai với hai chủ đích. Một đàng muốn nói lên sự thành tâm ăn năn trở lại của ông, Đàng khác, một cách nào đó, ông có ý khẳng định trước mặt mọi người rằng Chúa Giêsu đã làm đúng khi chọn trọ tại nhà một người không có tà tâm như người ta tưởng. Khi công khai thống hối để nói lên tấm lòng đơn sơ quảng đại của ông, Giakêu đã cho cử tọa thấy và biết cái nhìn phi thường của vị tiên tri ghé qua Giêricô hôm ấy. Cái nhìn của Ngài thành công ở chỗ đụng tới tim đen và từ đó làm lóe lên ánh sáng của Thiên Chúa.
Câu nói của người thu thuế trùng hợp cách kỳ lạ lời cầu nguyện của người biệt phái đầy kiêu căng – xem dụ ngôn thuật lại ở trên – “Tôi dâng một phần mười của cải của tôi” (Lc 18,12). Tuy nhiên giữa người tự kiêu vì đã chu tất của lễ mình dâng và người tội lỗi công khai dưới tác động của ân sủng, bằng lòng cho đi nửa gia tài, thật là khác biệt giữa một lòng sùng đạo cách ngu ngốc với một người như thánh Phanxicô khó nghèo hoặc thánh Gioan Thiên Chúa, là những vị đã bị đảo lộn bởi những tác động đầu tiên của Thiên Chúa. Khi hy sinh như thế, không có gì là nặng nề đối với người biết mình đã được tha thứ.
Thế nhưng, Giakêu để ý ngay đến việc bác ái và công bằng. Ông biết rõ là khi hành nghề, ông đã có thể lạm thu thuế má và bây giờ ông hối hận và muốn sửa lỗi. Ông áp dụng cho ông luật ghi trong sách xuất hành Ai cập (Xac 21,1) được Đavit nhắc lại (2S 12,6) được dự trù trong những trường hợp tương tự. Giakêu cũng phát biểu rằng chỉ có lòng bác ái mới xóa sạch các vết nhơ do việc làm tiền quá đáng của ông, rằng chỉ có sự công bằng mới xóa sạch bất công. Dù sao ông cũng không keo kiệt.
5. Bấy giờ, Chúa Giêsu quay về phía Giakêu, nhưng lại nói với tất cả cử tọa; hình thức văn phạm của Lời Ngài (Ngài nói về ông Giakêu ở ngôi thứ ba) chứng minh điều này. Qua đó, Ngài hòa giải Giakêu với cộng đoàn Israel, trả lại cho ông các đặc quyền thừa tự lời hứa. Ngoài ra, Ngài còn công khai bác bỏ luận điệu của những luật sĩ tham quyền, theo đó, một số người tội lỗi công khai không thể có hy vọng được cứu rỗi. Cuối cùng, những lời này một lần nữa nhắc lại sứ mạng của Con Người “đến tìm kiếm và cứu vớt những gì lạc mất” (x.Lc 15,6.9.24.32).
Khi quảng đại đón nhận ơn cứu độ, Giakêu khẩn trương thi hành lời khuyên quí báu nơi phúc âm Lc: phải mau mắn biến cải những sự giàu có thế gian thành những giá trị thiêng liêng theo định luật nhiệm mầu về sự giao hoán do Đức Kitô đề ra: “Của cải, các ngươi hãy bán đi mà bố thí. Hãy sắm cho mình những túi tiền không hề hư hỏng, kho tàng không hề hư hao trên trời, nơi trộm cắp không lai vãng và mối mọt không nhấm nát. Bởi vì, kho tàng các ngươi ở đâu thì lòng các ngươi ở đó” (Lc 12,33-34). Thật vậy, phải có ân sủng do sự hiện diện của Chúa Giêsu mới có thể khuất phục cách mau lẹ một nhà tài chánh thay đổi hệ thống kinh tế của mình.
6. Câu chuyện Giakêu có một sắc thái đặc biệt khi được đặt trên hậu cảnh Cựu ước, gợi lại sự hiện diện đáng sợ của Thiên Chúa trong một vài nơi đặc biệt. Thiên Chúa, đấng xưa kia chỉ vào nơi cung thánh của đền thờ với vẻ lộng lẫy cao cả của vinh quang Ngài, bây giờ đang ở trong nhà người tội lỗi với vẻ đơn sơ của Ngôi Lời Nhập Thể. Chắc chắn, đền thờ Salomon xây đã trở nên nơi gặp gỡ của dân tộc tội lỗi với Thiên Chúa của họ (1V 8,20-40), thế nhưng, thực tế người ta đến đó triều bái hoàng tử để xin Ngài thương xót. Ngày hôm nay Thiên Chúa di tản chiến thuật, chính Ngài đến cư ngụ nhà người tội lỗi.
Có một cái gì đó đã thay đổi trong quan niệm về cung thánh và người Kitô hữu bây giờ không còn thấy Đền thờ của họ như kiểu mẫu thời xưa. Đối với người đàn bà Samaria, Chúa Giêsu mạc khải ngày tàn của các cung thánh muốn trở thành trung tâm của thế giới: Thiên Chúa phải được tôn thờ “trong tinh thần và chân lý” (Gio 4,24). Chúa Giêsu cũng nói cho chúng ta biết thân xác của Ngài là đền thờ mới (Gio 2,19-21). Khi Chúa Giêsu vào nhà ông Giakêu, Ngài chính là đền thờ đích thực, là cung thánh duy nhất, từ đó tuôn ra nước hằng sống cho đời sống vĩnh cửu đến thánh hóa nhà người tội lỗi.
Nhà của người bất xứng, nhờ có Đức Kitô hiện diện, trở thành một nguyện đường, nơi đó cử hành phụng vụ về lòng xót thương và nghi lễ hiệp thông. Giakêu trần tình nơi cửa nhà ông. Không ai cấm ông ngồi bên Chúa Giêsu trong bữa ăn được dọn ra sau khi Ngài vào nhà. Như vậy trong một vài giờ, tại một căn nhà ở Giêrico có cử hành mầu nhiệm thánh, khiến nhà ở của con người trở thành nơi cư trú của Đền thờ chân thật duy nhất là nhân tính của Chúa Giêsu.
KẾT LUẬN
Câu chuyện Giakêu ăn năn trở lại gồm tóm tất cả những từ ngữ cũng như những ý tưởng đặc trưng của Lc: hôm nay, ơn cứu độ; cứu vớt những ai lạc mất; (người) nhỏ bé, (người) tội lỗi, (người) thu thuế; ý định cứu độ của Thiên Chúa là cần thiết; sự vội vàng đón tiếp vào nhà, sự vui mừng. Chính ân sủng dồi dào của Thiên Chúa và thiện ý đầy tràn của con người được tỏ lộ tại Giêricô, thành phố mà từ đó Chúa Giêsu lên Giêrusalem, thành chờ đợi lịch sữ cứu độ hoàn tất, là nơi phát xuất ơn cứu độ.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Chúa Giêsu để ý thấy Giakêu đang ở trên cây sung và Ngài là người có sáng kiến mang lại ơn cứu độ cho ông. Về phía Giakêu, ông ước ao gặp Chúa Giêsu và làm mọi cách để cho Ngài thấy cũng như được thấy Ngài. Sự gặp gỡ kỳ quặc giữa kiểu cách con người và sáng kiến của Chúa xem ra rõ ràng trong cảnh này tại Giêrico. Dù với hai chủ đích khác nhau, hai tiếng gọi đã gặp nhau, tiếng gọi của con người muốn đi ra khỏi chính mình và vận dụng mọi cách để đạt được điều đó và tiếng gọi của Chúa muốn tìm kiếm những ai lạc mất.
2. Giakêu không thiếu gì, ông giàu có, ông đã thỏa mãn được những khát vọng của mình; tuy nhiên, ông vẫn còn kiếm tìm một vật gì khác, một con người nào khác vì cảm thấy tâm hồn băn khoăn; có thể ông không biết Chúa Giêsu là ai, thế nhưng bị một thứ gì đó thúc đẩy ông muốn nhìn xem vị tiên tri này: chỉ ngay sau đó ông mới nhận biết Ngài. Dường như ông Giakêu và Chúa Giêsu, cả hai đều xúc động do cùng một hấp lực hỗ tương.
3. Trong câu sau cùng của trang phúc âm này, Chúa Giêsu xem ra không nói với ông Giakêu, đúng hơn Ngài nói với các nhân chứng, với đám đông. Ngài bắt đầu câu “người này cũng là con cái Abraham”. Qua đó, hình như Ngài muốn nói với chúng ta biết rằng mọi người đều là con Thiên Chúa và nếu chúng ta từ chối hoặc khai trừ ai chính là vì chúng ta ngu dốt, hoặc thiển cận. Rồi Ngài nói tiếp: “Bởi vì Con Người đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì lạc mất”. Ở đây cũng vậy, Ngài muốn dạy chúng ta đừng giới hạn ánh sáng phúc âm, chỉ dành riêng cho những người xem ra xứng đáng đối với chúng ta.
4. Sự gặp gỡ giữa Giakêu tội lỗi và Chúa Giêsu tượng trưng cho chính tâm trạng của chúng ta. Trong mỗi người chúng ta đều có con người tội lỗi và Chúa. Con Thiên Chúa đến sống trong mỗi người tội lỗi; trong mỗi tín hữu, Giakêu vẫn tiếp tục hiện hữu cho đến khi “Chúa dùng quyền năng của Ngài mà kiện toàn những ý định ngay lành”, như thánh Phaolô viết trong thư gởi tín hữu Thessalonica mà chúng ta vừa nghe đọc. Điều này khiến chúng ta vừa bạo dạn để có thể chu toàn những đòi hỏi riêng biệt do đức tin của chúng ta, bất chấp dư luân của “đám đông chung quanh”, cũng như lưu ý chúng ta phải luôn thận trọng khi có ý kiến về những người khác.
5. Người rước lễ cũng đón nhận Chúa Giêsu vào nhà mình. Để việc hiệp thông Thánh Thể trở thành hiện tại của ơn cứu độ, người rước lễ phải sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì Chúa biết.
6. Trong thánh lễ này, chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau, cho mọi người, vì tất cả chúng ta đều là những kẻ “bị lạc mất” mà Chúa đang tìm kiếm để cứu vớt.
83. Gặp gỡ ơn cứu độ
(Suy niệm, Chú giải của Lm. FX Vũ Phan Long)
1.- Ngữ cảnh
Phần thứ tư (phần cuối của hành trình lên Giêrusalem) được tác giả Luca trình bày trong phân đoạn 18,15–19,28: phần này tương ứng với bài tường thuật về hành trình của các Tin Mừng Nhất Lãm. Nhưng trong khối chất liệu này, ngài thêm vào câu truyện cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với ông Dakêu, thủ lãnh người thu thế ở Giêrikhô. Ngài thấy khối người bị đẩy ra bên lề xã hội Paléttina này cũng là “cái đã mất” mà Đức Giêsu đến để cứu.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành năm đơn vị:
1) Ghi chú về chuyến đi của Đức Giêsu (19,1);
2) Giới thiệu Dakêu trong quan hệ với Đức Giêsu (19,2-4);
3) Đức Giêsu chủ động gặp Dakêu (19,5-7):
- Đề nghị của Đức Giêsu (cc. 5-6),
- Phản ứng của dân chúng (phản đối Đức Giêsu) (c. 7);
4) Dakêu chủ động hoán cải (19,8-9):
- Đề nghị của Dakêu (c. 8),
- Phản ứng của Đức Giêsu (trả lời cho dân chúng) (c. 9);
5) Ghi chú về sứ mạng của Đức Giêsu (việc Ngài “đến”) (19,10).
3.- Vài điểm chú giải
- Giêrikhô (1): Giêrikhô là chặng cuối trước khi “lên” Giêrusalem. Thành này nằm kề ranh giới miền Pêrê, dọc theo một tuyến đường giao thông quan trọng, là một điểm chiến lược mà đế quốc Rôma quan tâm trong việc cai trị Giuđê. Tại đây người ta dễ gặp các nhân viên của đế quốc hoăc các sĩ quan, binh lính Rôma.
- Dakêu (2): Tiếng Híp-ri là zakkai, có nghĩa là “trong sạch và vô tội” (x. Er 2,9; Nkm 7,14).
- người thu thuế (2): x. 3,12. Tên gọi này dịch từ tiếng Hy Lạp telônês (do từ telos có nghĩa là “thuế”); La-tinh: publicanus (Ngày xưa, các cố Tây dịch là “người púp-li-ca-nô” do lấy từ chữ La-tinh publicanus (do chữ publicus có nghĩa là “tiền của công”); Pháp: collecteur d’impôts, Anh: tax collector. Nền hành chánh Rôma qui định nhiều loại thuế: thuế thổ trạch, thuế động sản, thuế gián thu, đặc biệt đánh trên việc nhập cảng muối. Những “người thu thuế” thường được giao cho nhiệm vụ thu khoản thuế cuối cùng này. Vì thế họ thường có mặt tại các trạm quan thuế (Caphácnaum: Mc 2,14; Giêrikhô: Lc 19,2). Vì do nghề nghiệp, họ phải tiếp xúc thường xuyên với mọi hạng người, kể cả người ngoại giáo, nên họ bị coi là những người ô uế. Quy định mức thuế là quyền của chính quyền, nhưng thường được người thu thuế áp dụng cách võ đoán, nên họ bị dân chúng khinh bỉ, và danh từ “người thu thuế” tương đương với “hạng tội lỗi” công khai (x. Mt 9,10-11; Mc 2,16; Lc 5,30; 7,34; 15,1; 19,2-7), hạng ngoại đạo (x. Mt 18,17; 21,31), và hạng trộm cướp (x. Lc 3,2t). Một người Do Thái đạo đức tuân giữ lề luật thì chẳng có gì phải giao dịch với người thu thuế. Dakêu “đứng đầu những người thu thuế” (architelônês), tức là ông phụ trách cả vùng. Như thế, Dakêu càng ở bên lề cộng đồng Do Thái hơn nữa.
- tìm cách để xem cho biết... (3): Dakêu là người giàu có và có địa vị cao, nhưng trong lòng ông vẫn không cảm thấy thỏa mãn. Hai động từ “tìm” (HL: zêtein) và “xem” (HL: idein) cho dù không có tầm mức quan trọng như trong TM Gioan, vẫn cho thấy là Dakêu không chỉ tò mò muốn “xem cho biết” (như kiểu nói của chúng ta). Đây là một “cuộc điều tra mang tính Kitô học” của một người tội lỗi công khai đối lại với thái độ lãnh đạm và thù nghịch của giới lãnh đạo dân Chúa.
- cây sung (4), tiếng Hy Lạp là sykomorea. Đây là loại cây có thân thấp, các cành ngang cứng chắc.
- phải ở lại (5): Câu này dịch sát là “hôm nay điều cần thiết đối với tôi là ở lại nhà ông”. Động từ Hy Lạp dei diễn tả một điều nằm trong chương trình, ý muốn của Thiên Chúa, nằm trong sứ mạng của Đức Giêsu (x. 2,49; 4,43; 12,12; 13,33; 15,32; 22,37; 24,44).
- mừng rỡ (6): do động từ Hy Lạp chairein. Lc là Tin Mừng về niềm vui (Dacaria: 1,14; Đức Maria: 1,28; bà con Gioan Tẩy Giả: 1,58; Đức Giêsu chào đời: 2,10; Đức Giêsu: 10,20; đám đông: 13,17...). Đây là niềm vui do Đấng Mêsia mang đến.
- nhà người tội lỗi (7): Luật luân lý cấm vào nhà kẻ tội lỗi.
- phân nửa tài sản của tôi (8): Mức bồi thường này vượt qua mức Luật đòi hỏi (x. Xh 21,37; Ds 5,5-7; Lv 5,21-24: trả lại món tài sản đã lấy cộng với 1/5 giá trị món đó).
- Đức Giêsu nói về ông (9), có nghĩa là Đức Giêsu nói với những người khác. Tập tục Đông phương cho phép người ta tự do ra vào nhà một người và vây quanh bàn ăn của những khách được mời (x. 7,37).
- Hôm nay (9, cả c. 5; HL: sêmeron, x. 2,11; 4,21; 13,32.33; 23,43): Đây là từ ngữ quan trọng của TM Lc, có nghĩa là: Sau một thời gian dài chờ đợi và hy vọng, lịch sử cứu độ đã tới đỉnh cao hoàn tất. Tất cả những gì các ngôn sứ nói đã thành sự trong các hành động và các lời nói của Đức Giêsu (x. 4,18.19; 5,26).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Ghi chú về chuyến đi của Đức Giêsu (1)
Đến Giêrikhô, chuyến đi của Đức Giêsu lên Giêrusalem đã đến chặng cuối cùng. Tại đây người ta bắt đầu chuyến đi lên: từ thung lũng sông Giođan, người ta băng qua sa mạc Giuđa để đến Giêrusalem. Toàn thể cuộc hành trình của Đức Giêsu sau này được Phêrô mô tả: “Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” (Cv 10,38). Điều này đặc biệt đúng cho những điểm cuối cùng: mỗi chặng lại trở thành mộtchặng để trợ giúp và cứu chữa. Gặp anh mù ngồi bên vệ đường tin tưởng kêu cầu: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin thương xót tôi!”, Đức Giêsu đã cho anh xem thấy, ban khả năng ca tụng Thiên Chúa và đi theo Người (18,38). Gặp Dakêu ngồi trên một cây sung bên lề đường để nhìn xem Người, Đức Giêsu cho ông cơ hội tiếp đón Người về nhà và hoán cải, tức nhận được ơn cứu độ. Dù hoàn cảnh hai người rất khác nhau, cả hai đã được Thiên Chúa trợ giúp nhờ trung gian Đức Giêsu.
* Giới thiệu Dakêu trong quan hệ vớiĐức Giêsu (2-4)
Dakêu là mộtngười giàu có. Nhưng trong tư cách là thủ lãnh của những người thu thuế, ông thuộc về hạng người bị xã hội Do Thái khinh bỉ. Do nghề nghiệp, vì họ phải thường xuyên liên hệ với mọi hạng người, kể cả ngoại giáo, họ bị nhiễm uế. Và bởi vì xã hội thường gán cho người thu thuế tính tham lam và những lối cư xử không công bình (x. 3,12t), Dakêu bị ghét bỏ và khinh bỉ. Một người Do Thái tuân giữ Lề Luật nghiêm túc thì không có gì phải liên hệ với người thu thuế cả. Do đó, Dakêu đứng ở bên lề cộng đồng. Ông là người giàu có và có địa vị cao, nhưng ông không được những người có thế giá trong xã hội trân trọng.
Ông hết sức ao ước được gặp Đức Giêsu. Ước muốn này có thể phần lớn được nhen lên do tính tò mò. Dù sao ước muốn này đã thúc đẩy ông tìm mọi cách để thấy được Đức Giêsu. Tuy nhiên, dân chúng đi theo Đức Giêsu thì quá đông mà vóc người ông thì thấp bé. Nhưng Dakêu có óc sáng tạo: ông chạy đi trước và leo lên mộtcây sung. Chạy và trèo lên cây là những chuyện chỉ hợp với các trẻ em, chứ không phù hợp với tư cách mộtngười giàu có; nhưng Dakêu chấp nhận trở thành lố bịch để được thấy Đức Giêsu, điều này cho thấy ông ao ước thấy Người đến đâu!
* Đức Giêsu chủ động gặp Dakêu (5-7)
Trong khi mọi người khác không màng tới Dakêu đang ở trong thế rất khôi hài, Đức Giêsu đã bày tỏ sự quan tâm đến ông bằng những cử chỉ và thái độ rất đơn giản, rất “người”: “đi tới chỗ ấy”, “nhìn lên”, “nói với ông”. Người còn cho hiểu đấy không chỉ là một cuộc thăm viếng xã giao, mà là một cuộc gặp gỡ nằm trong ý muốn của Thiên Chúa (“hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”), nằm trong sứ mạng của Người. Cái “ngày hôm nay” mà Đức Giêsu nhắc tới không chỉ là một chi tiết chỉ thời gian, mà là một chặng trong hành trình ban ơn cứu độ mà Người đã khai mạc tại Nadarét (x. 4,18-22). Trong cuộc hành trình này, Người quan tâm ưu tiên tới những người nghèo, và cả những người tội lỗi.
Nỗi băn khoăn, căng thẳng của Dakêu biến thành niềm vui: không chỉ là sự thỏa mãn, sự thoải mái về thể lý, mà là việc tham dự vào hạnh phúc do Đấng Cứu thế mang đến. Nhờ gặp gỡ Đức Giêsu, ông được giải thoát khỏi các lầm lỗi, hoang mang, và lòng được chan hòa bình an và niềm vui. Đi ngược lại mọi chỉ trích, và một cách rõ ràng, Đức Giêsu cho mọi người thấy rằng không ai bị loại khỏi ơn cứu độ Người ban. Người cũng cho thấy Người từ chối mọi kiểu đánh giá tổng quát về một hạng người.
* Dakêu chủ động hoán cải (8-9)
Bữa tiệc tại nhà Dakêu là một cử hành thống hối, đưa tới một sự hiệp thông huynh đệ. Qua bữa tiệc, Dakêu hiểu là ông được kêu gọi đi vào hiệp thông với Thiên Chúa. Bởi vì Đức Giêsu đã chấp nhận con người thật của ông, bởi vì ông được mời gọi sống như thế, Dakêu chẳng phải tránh né gì nữa, trái lại ông vui mừng đón tiếp Người về nhà và bày tỏ quyết định đổi mới cuộc đời. Ông đã trả lời thắc mắc: “Thế thì ai có thể được cứu?” (18,26) khi Đức Giêsu nhận định: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao” (18,24). Dakêu giàu có đã nhận được ơn cứu độ nhờ trung gian Đức Giêsu (19,9), bởi vì ông không chỉ bằng lòng với việc trông thấy Đức Giêsu, mà còn hành động theo ý muốn của Người nữa. Trong ngày hôm ấy, Dakêu đã cảm nghiệm một sự biến đổi lạ thường. Đó chính là điều được Đức Giêsu diễn tả trong câu tuyên bố: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu ông Abraham”. Khi tuyên bố như thế, Đức Giêsu đã bác bỏ nhận định của mọi người: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”. Phán đoán của đám đông là một phê phán quá cứng rắn. Qua lối cư xử của Người, Đức Giêsu loại bỏ sự cứng rắn đó và cho thấy rằng thái độ của Thiên Chúa hoàn toàn khác với thái độ của đám đông.
* Ghi chú về sứ mạng của Đức Giêsu (việc Ngài “đến”) (10)
Những lời Đức Giêsu kết luận (c. 10) có thể khuyến khích mỗi người bởi vì “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”. Người không đến để kết án hoặc loại trừ. Lại chính những kẻ bị lạc, những kẻ sai lầm mà Người đã muốn tìm và cứu chữa; chính là những kẻ đang đi vào ngõ cụt mà Người muốn dẫn ra.
+ Kết luận
Bản văn với câu kết luận (c. 10) không những tóm tắt giai thoại về Dakêu, mà còn làm nổi rõ hơn nữa cứu-độ-học của toàn thể cuộc hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem cũng như của TM Lc: trong tư cách là Con Người, Đức Giêsu đã đến để tìm và cứu những gì đã mất, và như thế là gợi ý tới câu Ed 34,16 trong đó Đức Chúa tự mô tả mình như là Người mục tử: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng”.
Khi đọc bản văn này, ta cũng nhận ra những ý nhắc lại các đoạn khác trong TM III: những yếu tố thuộc lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả (3,10-14); dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế (18,9-14); người thủ lãnh giàu có (18,18-23); anh mù (18,35-43). Dakêu được giới thiệu như là mộtngười giàu gương mẫu đã hiểu sứ điệp cũng như mối quan tâm của Đức Giêsu đối với người nghèo, nên đã biết lấy những quyết định tương xứng. Bản văn cũng cho thấy có những điểm gặp gỡ với giai thoại anh mù: Dakêu đã thực hiện những bước không thông thường để nhìn thấy Đức Giêsu khi Người đi ngang qua. Hai bản văn cuối cùng này trực tiếp đưa độc giả đi theo Đức Giêsu vào Giêrusalem trong tư cách là “Con vua Đavít” để thực hiện chương trình cứu lấy những gì đã mất.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Dakêu đã bị xã hội đẩy ra bên lề và khép lại với chính ông. Nhưng ông đã không chịu ở lại trong vòng tròn khép kín mà xã hội đã nhốt ông vào, đó là thế giới của tiền bạc và những quan hệ không lương thiện; ông tìm cách “thấy” Đức Giêsu, và thế là ông được cứu. Khép kín vào chính mình, con người không bao giờ thoát khỏi tội lỗi của mình; muốn được cứu, ta cần phải mở ra với Đức Giêsu. Trong đời sống thiêng liêng, chúng ta hiểu: Đức Giêsu chờ đợi chúng ta đến với Người, nhưng Người cũng chờ đợi chúng ta sẵn sàng đón tiếp Người vào nhà.
2. Trong bất cứ cộng đoàn nào, bao giờ cũng có những người sợ đến gần những “người thu thuế”, những “kẻ tội lỗi”, những người không có danh thơm tiếng tốt... Bạn thử hình dung xem mình đang nghĩ về người khác thế nào? Đức Giêsu không làm như thế. Người đã nắm lấy bàn tay Dakêu đang rụt rè đưa ra về phía Người. Người lấy sáng kiến và đặt Dakêu trên mộtnẻo đường mới.
3. Tất cả những thái độ và lời nói rất “người” (sự quan tâm, cử chỉ thân ái, lời nói dịu dàng...) có thể đưa người khác đến những biến đổi rất “thánh”. Môn đệ Đức Giêsu phải sống thế nào để bằng sự hiện diện và lối sống của mình, ngày “hôm nay” của Thiên Chúa xuất hiện cho anh chị em mình. Hôm nay Đức Giêsu vẫn đang ban ơn cứu độ qua Lời Người, các bí tích, qua Giáo Hội. Nếu bạn là thừa tác viên Lời Chúa hoặc bí tích, bạn đã có ý thức về cung cách cử hành thế nào để Đức Giêsu đến được với anh chị em của bạn?
4. Tấm gương của người môn đệ chính là thầy Giêsu: Người đã không ngại bị đánh giá tiêu cực để khỏi phản bội sứ mạng cứu thế. Người môn đệ của Đức Giêsu sẽ có những lúc phải chọn lựa như thế. Tuy nhiên, ngay trong đời thường, qua các sinh hoạt nghề nghiệp, thăm viếng, có khi nào bạn nghĩ là bạn sinh hoạt, thăm viếng theo ý muốn của Thiên Chúa?
84.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Chú giải mục vụ của Hugues Cousin)
CUỘC HOÁN CẢI CỦA ÔNG GIAKÊU
Chúng ta đã thấy những liên hệ chặt chẽ gắn liền trình thuật này với trình thuật trước. Lần này hoạt cảnh diễn ra khi Chúa Giêsu đi ngang qua Giêricô. Nhân vật ở đây không phải là kẻ vô danh và ông ta nổi bật trước hết bởi hai điểm trong địa vị xã hội của ông ta, làm cho độc giả do dự không biết phần cuối cùng của câu chuyện sẽ ra sao. Giakêu thuộc thành phần những tội nhân công khai và những người thu thuế (ông lại đứng đầu những người thu thuế), một nhóm người mà Chúa Giêsu giao du và hay dùng bữa với (5,29tt; 15,1tt); ông là một trong những người mà Luca đưa ra như một mô hình của tội nhân ăn năn sám hối (18,13-14). Nhưng phần khác, ông ta giàu có và chúng ta đã nhận thấy, như ở 18,18-27 về một thủ lãnh rất giàu, trở ngại mà tiền bạc gây ra cho lời đáp lại tiếng gọi của Tin Mừng.
Nhưng trở ngại đầu tiên mà Giakêu gặp chính là sự hiện diện của đám đông (cc.1-6). Như ở 18,39, họ chắn mất tầm nhìn của ông và, bởi lẽ ông lùn (một nét về thể lý) họ làm cho ông không thấy được Chúa Giêsu là ai và dĩ nhiên, Chúa Giêsu cũng không trông thấy ông. Như một đứa con nít, ông thủ lãnh thu thuế chạy leo lên một cành cây: ông biết đúng lúc điều phải làm, tuy rằng không hợp với địa vị xã hội và phẩm giá của ông. Kết quả vượt quá một cách ấn định lúc khởi đầu: và kìa Chúa Giêsu nhìn lên. Sáng kiến đầu tiên của Ngài được nối tiếp ngay bằng một sáng kiến thứ hai. Ngài tự ý muốn đến nhà ông Giakêu. Dù sao, ông này không chỉ ước ao nhìn thấy Chúa Giêsu chứa đựng những thông tin thần học quan trọng khác. Việc Ngài dùng bữa tối và qua đêm tại nhà người thủ lãnh những người thu thuế là thuộc về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa (Tôi phải…). Và hôm nay của cuộc viếng thăm này –được nhấn mạnh do việc lặp lại động từ vội vàng- cho thấy loé lên một “hôm nay” khác, là chính “hôm nay” của ơn cứu độ (x. 4,21; 5,26). Có điều gì đó làm ông Giakêu mừng rỡ!
Chính lúc đó, nổi lên một chướng ngại mới phải vượt qua (cc. 7,10). Việc Chúa Giêsu vào trọ một người tội lỗi gây ra một phản ứng: mọi người xầm xì, phản đối chống lại cách hành xử của Chúa Giêsu, như vậy là họ lặp lại thái độ của các người Pharisêu và kinh sư trước hai hoàn cảnh giống hệt nhau (5,30; 15,2). Những người này cũng làm trước những gì là phản ứng của các Kitô hữu ở Giêrusalem lúc chống lại phêrô khi trách ông đã vào nhà những người không chịu cắt bì và đã ăn uống với họ (Cv 11,2-3). Điều ấy có nghĩa là sứ điệp của câu chuyện Tin Mừng không mất đi tí nào tính cách thời sự trong Giáo Hội sau này.
Lần thứ hai, Giakêu quyết liệt và tức khắc làm điều phải làm. Điều này liên hệ với tiền bạc và ở hai mức độ. Nói với Chúa và trong khi nhận biết Ngài là Chúa –như người mù (18,41) và khác với ông thủ lãnh giàu có chỉ bằng lòng với “Thầy nhân lành” (18,18)- ông tuyên bố trước hết sẽ chia phân nửa tài sản của ông cho người nghèo. Ông không theo lời khuyên hãy cho tất cả (x. 18,22), nhưng ông cam kết san sẻ cách đúng mức, theo đòi hỏi của Gioan Tẩy Giả (x. 3,11-12); ông cũng phải đền gấp bốn, dựa trên phần gia tài con, cho những ai ông đã làm thiệt hại (x. Xh 21,37). Bố thí tới mức độ lớn lao như thế và đền bù những thiệt hại đã gây ra, đó là dấu chỉ của một cuộc hoán cải hoàn toàn. Tương phản với thái độ của ông nhà giàu thật là rõ rệt (x. 18,23).
Ở câu 9, Chúa Giêsu vừa muốn nói với Giakêu, đã trở thành một tội nhân biết sám hối, vừa muốn nói cho tất cả những ai không chịu đựng nổi việc Ngài đón nhận lòng hiếu khách của một người thu thuế. Một lần nữa Ngài nói đến ngày hôm nay; đó không còn chỉ là ngày hôm nay của việc trú ngụ tạm thời của ngài trong một ngôi nhà, nhưng là ngày hôm nay của ơn cứu độ cho tất cả những ai sống trong nhà đó. Điều ấy căn cứ trên việc Giakêu thuộc về dòng dõi Abraham: khi ban ơn cứu độ cho người đứng đầu những kẻ thu thuế, Thiên Chúa đã trung thành với lời hứa cùng tổ phụ các kẻ tin (x. 1,55-73). Giakêu đã kể như bị loại trừ đằng sau rào cản của đám đông, một mình lẻ loi trên cây; điều mà ông quyết định làm với số của cải của ông chứng tỏ ông thuộc về dân của Thiên Chúa. Cuối cùng, Chúa Giêsu nhắc lại đâu là sứ mệnh của Ngài. Chắc hẳn, Ngài nói bằng những từ ngữ gần gũi với những từ đã dùng ở 5,22. Nhưng ở đây, Ngài thân mật ám chỉ tới Ed 34,16, theo đó chính Thiên Chúa đi tìm con chiên bị lạc mất. Công việc của Chúa Giêsu không khác gì công việc của Thiên Chúa (xem đã có ở 15,7).
Cách thức mà đạo Do Thái theo nhóm Pharisêu quan niệm về ơn tha thứ được diễn tả như sau: “Yom Kippour – Ngày đền tội” dịp lễ long trọng, trong dịp đó con người có thể được Chúa tha thứ, xem Lv 16- mang lại ơn tha thứ cho những tội mà con người đã xúc phạm đến Chúa, nhưng đối với những lỗi lầm mà con người xúc phạm đến người lân cận Yom Kippour không thể mang lại ơn tha thứ bao lâu người này chưa được người lân cận của mình tha thứ, chưa đền bù sự thiệt hại luân lý vật chất mà mình đã gây ra (Misnha Yoma VIII, 9). Đối với Luca, ơn cứu độ được Thiên Chúa ban, là sáng kiến của Thiên Chúa (x. 18,27); nhưng để ơn cứu độ trở thành hiện thức thì con người cần phải đón nhận bằng việc hoán cải. Và điều này được diễn tả cách thiết yếu bằng một hành động cụ thể đối với người khác, và đặc biệt là đối với người nghèo. Ở đây, nhân danh Chúa, sáng kiến đã có được nhờ Chúa Giêsu là vị khách từng đến thăm nhà ông Giakêu, ông này đã đáp lại cách thích hợp, không những là đón nhận Chúa Giêsu (c.6) mà còn là mở lòng để đón nhận ơn cứu độ bằng việc sám hối nữa (c.8).
85.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Chú giải của Noel Quesson)
Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy.
Giê-ri-khô, một địa danh bất thường trong môn địa lý của hành tinh này: thành phố thấp nhất của trái đất; thấp hơn mặt nước biển 250 mét! Khi những người sống ở mức thấp đó; ngay khi họ quyết định đi từ nới họ ở, họ chỉ có thể đi lên cao; Giakêu sẽ khởi hành ở chỗ rất là thấp.
Giê-ri-khô, một biểu tượng cho nhân loại già nua: nó là một trong những thành phố cổ nhất trái đất; có những di tích mà số tuổi lên đến tám ngàn năm trước Đức Giêsu Kitô. Khi Abraham dẫn đàn súc vật đi ngang qua thì nơi đó đã là một thành phố có số tuổi hơn sáu ngàn năm; Giakêu sẽ rất giống với nhân loại từ muôn thuở.
Giêrikhô thành phố cuối cùng trong cuộc hành trình của những người hành hương lên Giêrusalem. Đối với Đức Giêsu ngày hôm đó là một ngày leo dốc mệt nhọc! Đồi cái Sọ (tiếng Do Thái là Golgotha) ở đàng kia, gần cổng Épraim, cách đó hai mươi kilô mét, ở đầu một con dốc dài bất tận và ở đó cao hơn một ngàn mét so với ốc đảo Giêrikhô.
“Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy” Giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình cuối cùng.
Đức Giêsu hoàn toàn sáng suốt về điều đang chờ đợi Người trên kia, ở Giêrusalem. Hôm qua có lẽ hoặc hôm kia, Người đã gọi riêng các bạn hữu. Người đã loan báo cho họ điều sắp xảy đến: “Này chúng ta lên Giêrusalem, và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất. Quả vậy, Người sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, nhục mạ, khạc nhổ. Sau khi đánh đòn, họ sẽ giết Người và ngày thứ ba Người sẽ sống lại” (Lc 18, 31.34). Nhưng thánh Luca nói với chúng ta, mười hai Tông Đồ của Đức Giêsu không hiểu gì cả. Chỉ mình Đức Giêsu sáng suốt, lòng tràn ngập những mối suy tư.
Ở đó có một người tên là Giakêu
Phải chăng là sự hài hước? hoặc là sự chế giễu? Cái tên “Zakkay” này trong tiếng Do Thái có nghĩa “Người Thanh Khiết, Người Công Chính”. Con người tội lỗi công khai ấy lại có tên “thanh khiết, trong sạch” làm chúng ta nghĩ tới một kẻ lừa bịp ác tâm mà người ta đặt cho biệt danh là “người vô tội, dịu dàng”!
Nhưng chúng ta hãy chờ cho câu chuyện chấm dứt.
Ai mà biết được ông ta sẽ không mang tên thật của mình… vào lúc cuối.
Ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có.
Giakêu, người tội lỗi bởi nghề nghiệp, trong lúc này đúng ra đáng có cái tên “kẻ bị tuyệt thông”. Một con người ghê tởm, bị mọi người ghét bỏ. Phục vụ cho đoàn quân chiếm đóng La Mã. Thỏa hiệp với ngẫu tượng, Hoàng Đế Bóc Lột! Kẻ bóc lột những người nghèo! Một Thủ trưởng vô liêm sỉ của những người thu thuế, đã thu những món lại to lớn khi bỏ đói dân nghèo và phô trương sự giàu sang, xa hoa trong ngôi biệt thự sang trọng nhất thành phố. Cách đó ít lâu Đức Giêsu đã nói về điều đó: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Lc 18,25).
Giakêu, một con người bị tránh xa như bệnh dịch. Kẻ tội lỗi hoàn toàn bị hư mất. Đồ thối tha. Cấm không được giao du với hạng người hư hỏng ấy. Người ta nhổ xuống đất và quay mặt đi khi đi ngang qua con người ấy.
Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó.
Một chuỗi những “biểu tượng: A! ông ta lùn quá lùn nên không nhìn thấy Đức Kitô; đám đông thù nghịch; cả một dư luận phải vượt qua, để xem Đức Kitô; leo lên một cây (cây nào lạ lùng bằng cây thập giá!) để xem Đức Giêsu. Những sự giải thích tượng trưng không làm mất đi sử tính của các chi tiết cụ thể: người ta phải nhớ lại ở Giêrikhô, vào thời của Luca đã xảy ra một biến cố khó tin là sự hoán cải của ‘kẻ đứng đầu những Người thu thuế’. Vả lại mọi chi tiết hoàn toàn tự nhiên. Lúc mới vào thành phố, Đức Giêsu đã chữa lành một người mù (Lc 18, 35.42). Tiếng vang của việc chữa lành này lan ra nhanh chóng như vệt thuốc súng. Người ta biết rằng Giakêu đã có ước muốn “xem” Đức Giêsu đó, leo lên một cây sung dưới ánh mắt châm biếm của đám đông; mà không còn quan tâm đến phẩm giá của một thủ trưởng nhân sự Tổng Kho Bạc của Đế quốc!
Tôi thử tưởng tượng điều gì có thể thúc đẩy Giakêu, bất chấp sự chế giễu đã xắn chiếc áo thụng của một ông trưởng giả Do Thái và có lẽ cái áo choàng La Mã để leo lên cây sung như một thằng nhóc tầm thường? Vì tính tò mò chăng? Vì sự lôi cuốn mầu nhiệm chăng? Vì nỗi khắc khoải mơ hồ và chán chường cuộc sống của mình chăng? ông ta đã sống để đếm tiền và khuấy động thành phố của ông. Mọi người tránh xa ông; ông biết rõ tại sao: nhân danh pháp luật, ông bức bách họ. Nhưng rồi khi người ta nói Đức 'Giêsu đi qua đó và Người là bạn của những người không được ai yêu thương. Lúc đó, ông giữ cửa kho bạc đã leo lên một cây đang trổ hoa để xem Đức Chúa.
Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông
Người ta có thể gọi chỗ ấy là “nơi hai ánh mắt gặp nhau”. Bề ngoài, cái nhìn đầu tiên là của Giakêu, đang cháy bỏng ước muốn xem Đức Giêsu. Nhưng sẽ không có gì xảy ra nếu như Đức Chúa đã không ngước mắt nhìn lên người ở trọ lạ lùng, trên cây sung. Tôi ở yên một lúc để tưởng tượng, để chiêm niệm hai ánh mắt gặp nhau đó. Đức Giêsu và ông Giakêu đang nhìn nhau!
Chúng ta tiếng rằng chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa, trong khi mà chính Người “tìm kiếm” chúng ta trước, tự muôn đời! ôi chào! Ngày hôm đó, Đức Giêsu đã phải sung sướng hạnh phúc! Còn vài cây số nữa là đến Giêrusalem, còn vài ngày nữa là cuộc khổ nạn được hiến dâng để cứu chuộc nhân loại. Công cuộc cứu chuộc cao đẹp nhất của Người sẽ thành công? Mọi nỗi chơi vơi cô quạnh của thập giá mọi hình phạt mà Người sẽ gánh trên lưng, mọi vết thương xé ra ở tay chân đẫm máu của người. Người biết, biết chắc chắn là điều đó có ích. Người đã cứu thế gian, khi tiến lên ‘Giêrusalem’. Giakêu là hoa trái đầu mùa. Hỡi hạn, là người tội lỗi, bạn đã được Thiên Chúa tạo dựng chỉ để ‘xem’ khuôn mặt của Người. Hỡi bạn, là người tội lỗi, hay nhận ra mình được tha thứ khi ánh mắt bạn gặp ánh mắt của Đấng yêu thương bạn.
“Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”
Qua những lời ấy, chúng ta đoán ra rang chính Đức Giêsu đã tìm kiếm Giakêu. Mọi sụ diễn ra như thể Đức Giêsu đã dự kiến hành động của Người: Đức Giêsu được mời đến nhà ông và ông được ưu tiên chọn lựa đối với mọi người khác ở Giêrikhô. Người đã chọn lựa kẻ thấp hèn nhất, kẻ bị khinh bỉ nhất.
Đó là cách mà Đức Giêsu dùng để yêu cầu một người nào đó phục vụ Người để rồi Người ban cho họ một ân sủng của bậc đế vướng: hoàng tử trở thành người ăn xin để ban cho mà không làm thương tổn.
Đức Giêsu dường như chỉ là một người giảng thuyết lưu động tìm một bữa ăn và một 'cái giường để nghỉ qua đêm. Và thân mật biết bao trong sự vội vàng ấy! “Này ông Giakêu xuống mau đi!” như thể Đức Giêsu muốn nói: Này ông Giakêu, tôi rất đói, mau lên nào! Cũng thế, Đức Giêsu đã xin nước uống của một phụ nữ Samari bị bỏ rơi, bên bờ giảng. Cũng thế Người đã chấp nhận việc xức dầu thơm của người đàn bà tội lỗi nhân ông Simon, một người Pharisêu.
Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người.
Sự vội vàng khi ông từ cây nhào bổ xuống tương ứng với sự vội vàng của Đức Giêsu.
Niềm vui là dấu chỉ sự gặp gỡ với Đức Giêsu. Một khoảnh khắc vui mừng và hân hoan ngắn ngủ, kể từ Bài ca Ngợi khen (Magnificat) của Đức Maria qua niềm vui của hai môn đệ trở về Emmau.
Còn bạn, là người tội lỗi, bạn có những lúc vui mừng không?
Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”
Đức Giêsu đã từng đòi hỏi không được gây ra những cớ làm cho người ta vấp ngã (Lc 17,1.3) nhưng chính Người đôi lúc không ngần ngại gây ra bởi những thái độ không phù hớp với dư luận của thời đại Người; đặc biệt vì lòng nhân từ khác thường của Người đối với những tội lỗi! Đức Giêsu là “Cứu Chúa” đến độ làm người ta vì thế mà khó chịu. Người tha thứ đến độ gây cớ vấp ngã cho những người công chính.
Ông Giakêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.”
Thánh Ambrosiô trong bài thuyết giảng của ngài ở Milan đã nói “Không có lỗi khi mình giàu, nhưng khi mình không biết sử dụng tài sản của mình... “ Và toàn bộ Tin Mừng của Thánh Luca dường như muốn nói rằng cách duy nhất sử dụng hợp lý tài sản của thế gian này là chi dùng nó, đem cho nó đi! “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí” (Lc 12,33). “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn hữu (Lc 16,9).
Giakêu đã bị đảo lộn bởi lòng quảng đại của Đức Giêsu đối với ông. Ông muốn đem lại cũng niềm vui ấy cho những Người khác.
Giakêu khốn khổ với tất cả vàng bạc của mình.
Giakêu hoàn toàn sung sướng khi chia sẻ niềm vui.
Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”
Đức Giêsu đã qua những giờ nói chuyện trực diện với Giakêu. Họ đã nói với nhau điều gì? Họ đã ăn uống cùng bàn... mặt giáp mặt. Trong mọi tôn giáo kể cả tôn giáo ở Israel, Thiên Chúa là Đấng đáng sợ mà Đền thờ khuyến khích sự kính sợ linh thiêng đó.
Trong Đức Giêsu, chính Thiên Chúa di chuyển và đến ở nhà kẻ tội lỗi; vậy từ ngày đó, các nhà thờ, kể cả những đại thánh đường chỉ là ngôi nhà khiêm tốn của Giakêu; nơi mà những lũ tội nhân và các thánh tìm gặp nhau với Thiên Chúa trong tình huynh đệ. Giáo Hội chuộc “những gì đã mất”.
Giờ đây, Giakêu có thể mang tên thật của mình: “Người thanh khiết”, người được thanh khiết hóa.
86.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Chú giải của Fiches Dominicales)
TẠI GIÊRICÔ, HAI ÁNH MẮT GẶP NHAU
BẮT NGUỒN CHO MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Giêricô chặng dừng chân cuối cùng trước khi lên Giêrusalem:
Căn cứ vào Luca 9,51, chuyến đi Giêrusalem lần này là lần chót, nên Đức Giêsu đi tới Giêricô, thành phố giáp ranh và là cửa ngõ đưa vào Đất Hứa.
Đức Giêsu lại loan báo lần nữa về cuộc khổ nạn sắp tới của mình. Còn các môn đệ thì vẫn ngỡ ngàng, “không hiểu”, “không rõ” (18,31) gì cả. Nên khi gần tới Giêricô, Đức Giêsu đã mở mắt cho một người mù và lấy anh ta ra làm gương cho các ông: “Lập tức anh ta nhìn thấy được và theo Người” (18,35-43).
Chính trong chuyến đi ngang qua thành phố này, Luca kể lại câu chuyện mà chỉ riêng Tin Mừng ngài có, câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Giakêu, một người với cái tên có nghĩa là “người thuần khiết” thì quả là nghịch thường. Bởi lẽ tất cả cuộc sống xem ra phải đưa đẩy ông đến chỗ xa rời Nước trời.
Giakêu là người tội lỗi công khai. Ông làm nghề thu thuế, một nghề đáng khinh bỉ của những người “publicanô”, những tên thu thuế làm lợi cho đế quốc Rôma. Phải gọi ông là “đầu sỏ” publicanô mới đúng. Giakêu lại giàu có nữa. Câu chuyện kể lại trước đây về cuộc trò chuyện giữa Đức Giêsu và “người thanh niên giàu có” (18,18-30), càng làm sáng tỏ hơn sự giàu có có thể là trở ngại cho lời mời gọi của Tin Mừng.
2. Đám đông: vai trò quan trọng trong câu chuyện.
Thường thường bị quên lãng trong các chú giải, “đám đông” xem ra không có được vai trò quan trọng mấy để làm cho câu chuyện thêm phần sinh động.
- Trước tiên, đám đông cản trở ước muốn của Giakêu; ông muốn “xem cho biết Đức Giêsu là ai”, nhưng khổ nỗi dân chúng thì đông, mà “ông ta lại lùn”.
Đám đông còn gây cản trở cho thái độ Chúa đã chọn đối với Giakêu. Họ giống như các người biệt phái và kinh sư vốn bất bình trước thái độ Chúa niềm nở tiếp đón và cùng ngồi ăn uống với những kẻ tội lỗi (Lc l5), và cũng giống như các Kitô hữu ở Giêrusalem sau này, đã tỏ thái độ bực bội trước cách xử sự của Phêrô khi vào nhà viên đại đội trưởng Rôma ở Xêdarê (Cv 10 và 11) họ nổi loạn, họ gầm lên: “Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau: Nhà một người tội lỗi, mà ông ấy cũng vào trọ” (19,7)
3. Những ánh mắt, cử chỉ, lời nói đầy ý nghĩa:
Chúng ta vừa mới quan sát những cái nhìn, thái độ, lời nói của đám đông, vốn chỉ dừng lại ở những dáng vẻ bên ngoài. Ta hãy đi sâu hơn vào chiều sâu của bài tường thuật bằng cách giờ đây chú ý đến những ánh mắt, thái độ và lời nói của Đức Giêsu cũng như của Giakêu. Suốt bài tường thuật này, Đức Giêsu không ngừng biểu lộ sáng kiến của lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những con người tội lỗi.
+ Người “đi ngang qua Giêricô”, trước khi lên Giêrusalem nơi người sắp tự ý hiến dâng mạng sống mình có ý tìm kiếm và cứu vớt những gì đã mất.
+ Người “nhìn lên” Giakêu mà thường thường thì người ta nhìn xuống mới phải, vì ông lùn.
+ Người tự làm người khách không mời khi vào nhà một người thu thuế, đang khi thường thường chẳng có ai bước vào đó, trừ khi bị gọi đến vì chuyện thế má: “Hôm nay, tôi phải lưu lại nhà ông”.
+ “Niềm vui” gặp gỡ làm nẩy sinh nơi người tội lỗi ước vọng thiết tha được khởi đầu một cuộc sống mới: “Thưa Ngài, đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền bù gấp bốn”.
+ Sau cùng Chúa Giêsu tỏ cho chủ nhà biết rằng cuộc gặp gỡ này mang “ơn cứu độ” cho ông ta ngay “hôm nay”: nhà người tội lỗi đã trở nên nơi Thiên Chúa cư ngụ:
- Về phần Giakêu, việc ông di chuyển vị trí là dấu hiệu chứng tỏ nội tâm ông đang có sự chuyển biến, điều mà ông hằng mong muốn.
+ Vì người ta quá đông, mà ông lại thấp bé, nên ông “liền chạy tới trước, leo lên một cây sung”.
+ “Vội vàng”, ông tụt xuống khỏi cây, theo lời Chúa gọi.
+ “Mừng rỡ”, ông đón tiếp Chúa vào nhà ông.
+ Và lòng ông mở ra để biết sống chia sẻ và thực thi công bình với mọi người.
Giakêu, con người đã mất thanh danh, bị người đời coi rẻ, bởi cái nghề nghiệp đã xếp ông vào hạng “người tội lỗi” lại được nghe gọi tên mình: “Giakêu”, lại được Đức Giêsu công khai nhìn nhận mình là “con cháu tổ phụ Apraham”.
Chính ông vì muốn tìm cách để “xem” cho biết “Đức Giêsu” ấy là ai khi Người đi ngang qua thành, thì giờ đây lại đứng ra thưa với “Chúa” về quyết định làm lại cuộc đời của mình, đồng thời chính ông cũng được nghe từ miệng “Con Người” nói cho ông biết rằng “ơn cứu độ đã đến cho nhà ông”.
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Cùng với Giakêu, chúng ta hãy khám phá ra ơn tha thứ là gì.
Làm sao để khám phá ra ơn tha thứ là gì? Trong lãnh vực này cũng như nhiều lãnh vực khác, Tín Mừng thường đi ngược với suy nghĩ của ta, bắt buộc ta phải nhìn từ khía cạnh ngược lại nghĩa là không nhìn sự tha thứ, nhưng nhìn ơn được thứ tha.
Kẻ được ơn tha thứ sẽ ra sao? Giakêu chẳng phải là điển hình tốt hơn đó sao? (Lc l9,l-10). Điều gì đã xảy ra giữa Đức Giêsu với ông? Ông chẳng có gì to tát đâu. Chỉ một ánh mắt của Thầy khi đi ngang qua, chỉ một tia nhìn hướng về phía anh chàng lùn ấy đang núp trên cây sung thôi. Và rồi kìa, Đức Giêsu tự đóng vai người khách không mời, đến nhà Giakêu dùng bữa, mặc dầu ông chưa lên tiếng mời. Giakêu đã quay trở lại với Đức Giêsu. Cuộc sống ngày mai hẳn sẽ khác với nếp sống hôm nay lắm. Tưởng chừng như nghe dư âm của lời Chúa trong sách Êgiêkien: “Ta không muốn kẻ gian phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối là được sống” (Ez 18,23).
Những cảnh tha thứ thuộc loại này không phải chỉ trong Tin Mừng mới có mà thôi. Trong khung cảnh gia đình, thường khi xảy ra những “lỗi lầm” có lẽ không quá nghiêm trọng, chúng ta thảy đều đã sống kinh nghiệm của sự tha thứ. Các bậc làm cha mẹ khi biết tha thứ cho nhau, đều tìm lại được đà tiến sau khi đổ vỡ. Đôi khi chỉ cần một ánh mắt thôi, mà đứa trẻ cũng dần dần học được sự tha thứ. Lời Chúa cũng tỏ cho ta biết, trong nếp sống ngày qua ngày của ta, điều gì làm cho ta nên cao thượng.
Đối với hai người là vợ là chồng, thì việc tha thứ cho nhau không chỉ nhất thiết là đòi hỏi về mặt đạo đức, mà còn thuộc lãnh vực đức tin được hiểu là ơn tận hiến cho nhau. Được tha thứ, chính là tin rằng tha nhân vẫn còn yêu ta; niềm vui bắt đầu nẩy sinh khi ta ngỡ ngàng khám phá ra ràng tha nhân có khả năng yêu thương ta thực sự, cũng như ta có khả năng, mặc dầu về phía ta cũng có những khía cành tăm tối khiến chính ta cũng phải khổ. Thanh thản có cái nhìn như thế về ta, cái nhìn làm cho thấy được con người, nguyện vọng và cả bên kia những lỗi lầm của ta, là một cái nhìn làm ta phát triển, mời giọi ta phát triển hơn nữa. Cái nhìn ấy hướng ta về tương lại, cứu thoát ta khỏi chính bản thân mình.
Tha thứ nói cho cùng là chuyện đơn giản lắm, là cứ tiếp tục yêu thương đi. Đôi khi chính là làm hồi sinh lại tình yêu nếu đang lụi tàn. Lúc ấy người ta đã giết chết sự hận thù. Sức mạnh của sự chết không chiến thắng được sức mạnh của sự sống nữa. Tha thứ chính là mở ra tương lai, là đặt lòng tin tưởng của mình nơi tha nhân, là tin vào ánh sáng cùng với sự rủi ro đi kèm. Hơn một lần sẽ có thể bị nhạo báng, hiểu lầm. Tin người vẫn luôn luôn là một rủi ro phần nhiều sự tha thứ không chỉ là liên hệ giữa hai người mà thôi, mà còn có cả người thứ ba nữa. Trong Tin Mừng Luca (7,36-50), ngoài Đức Giêsu và người phụ nữ ngoại tình, còn có cả ông Simon tiêu biểu cho dư luận quần chúng. Dư luận này thích đóng vai quan toà, không ủng hộ cho việc tha thứ. Dẫu sao con người chỉ cảm thấy mình được tha thứ thực sự, sau khi đã được người chung quanh yêu mến và tin tưởng.
Với mỗi người chúng ta, tha thứ là hành trình lâu dài khám phá tha nhân. Còn Thiên Chúa chính Người là sự tha thứ. Người đã tha thứ cho ta trước khi ta cầu xin Người: vì Người yêu ta và biết rõ ta; vì người yêu ta và tin tưởng ta. Giữa chúng ta với nhau, sự tha thứ luôn luôn là hỗ tương; một ngày nào đó, ta sẽ phải xin lỗi người ta tha thứ hôm nay. Đối với Thiên Chúa thì khác. Chính Người là nguồn ơn tha thứ và khi ta muốn cầu nguyện thì không phải nói: “xin tha thứ cho chúng con, như chúng con cũng tha thứ” mà tốt hơn nên cầu nguyện rằng: “Xin cho chúng con biết tha thứ, như Chúa hằng thứ tha”.
2. “Giakêu: tên người thu thuế ở Giêricô đã lưu danh hậu thế”
“Đó là một anh chàng đã “quên” lớn lên, nên đành phải miễn cưỡng chấp nhận vóc dáng nhỏ thó của mình.
Vậy mà chàng ta cũng đã leo lên được nấc thang xã hội, đã đạt được vị trí ước mong, đã thu tích được một gia tài. Chàng có được gia tài này, một phần là nhờ trí tuệ, sự miệt mài làm việc; một phần cũng là nhờ bòn mót và kiếm chác của người khác. Bởi lẽ chàng là người thu thuế.
Chàng cũng đã không coi rẻ việc phải cộng tác nào đó với quân chiếm đóng, một phần vì không thể làm khác, một phần cũng vì “nồi cơm” của chàng.
Này kìa, chàng đã được ngồi ở một địa vị cao trong xã hội, đang khi chính chàng lại chỉ là con người nhỏ thó. Có địa vị không thiếu gì, luôn được thoả mãn, giàu có. Mấy ai được như chàng.
Cùng lúc đó, từ một góc bé nhỏ của bản thân, chàng cảm thấy có một cái gì đó làm chàng không hài lòng mấy. Chàng thấy thiếu một cái gì đó mà không biết xác định rõ là cái gì. Thế rồi, ngày hôm đó, trong thành phố của chàng có một vị ngôn sứ của Thiên Chúa đi qua. Giả như Thiên Chúa dạo chơi tới nhà bạn, hẳn bạn sẽ không bỏ lỡ cơ hội để xem Người thế nào, hoặc nghe người nói gì!
Phố xá đầy người. Thật là náo nhiệt Chàng là một viên chức cao cấp không lẽ lại trà trộn với đám lệ dân kia. Hơn nữa chàng còn phải len lỏi lên được hàng đầu mới có cơ may trông thấy được vị ngôn sứ. Còn mặt mũi nào. Vả lại chàng cũng chẳng thích như vậy.
Có một cây lớn đây rồi, mà lại là cây sung. Thật là một đài quan sát tuyệt vời. Từ đó, chàng có thể nhìn thấy hết, mà không có nguy cơ bị người ta nhìn thấy mình.
Nhưng không sự thể lại hoàn toàn trái ngược: vị ngôn sứ của Thiên Chúa trông thấy chàng. Ngài chú ý đến chàng, như thể trước đây vẫn đang tìm chàng. Quan sát từ trên cây cao, chàng nghĩ là có thể hay biết hết, mà chẳng phải liên luỵ gì! Nhưng không! Sự thể lại hoàn toàn trái ngược: Thiên Chúa bắt chàng phải liên lụy với đám đông. Thiên Chúa hỏi han chàng giữa đám dân phố của chàng. Tự Ngài ra dấu bảo chàng xuống khỏi cây. Rồi ngỏ ý muốn được mời đến nhà chàng. Thế là chàng buộc lòng phải quyết định!
Đừng ở trên đó mà nhìn như khách bàng quan nữa? Xuống mau lên! Nhập bọn với dân phố và chỉ cho họ biết bạn thấy Chúa thế nào, phản ứng ra sao khi nghe lời Người và bạn sống làm sao để chứng tỏ Chúa đã đi vào đời bạn.
Ngày hôm đó, một anh chàng nhiều tiền lắm của phần nào do kiếm ăn bất chính và tự mãn, với địa vị là chủ nhà đón tiếp Đức Giêsu. Nhà của anh ta trở thành nhà của Thiên Chúa.
Anh ta đã hiểu ra rồi. Anh cho đi của cải, cho đi bản thân mình. Đó chính là ơn cứu độ cho cả nhà anh, và tên của anh lưu danh hậu thế: Giakêu!
87.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của William Barclay)
Giêrikhô là một thành rất giàu có và quan trọng, nằm trong vùng thung lũng sông Giođan, là giao điểm của đường lên Giêrusalem và các lối qua sông Giođan để tỏa về các vùng đất phía sông Giođan. Giêrikhô có một rừng chà là rất lớn, những vườn cây thuốc thơm nổi tiếng quốc tế, cách xa mấy dặm vẫn ngửi thấy mùi thuốc thơm. Các vườn hoa hồng ở đó cũng rất nổi tiếng. Người ta gọi Giêrikhô là “thành cây chà là”. Sử gia Do thái Josephus gọi là “Khu đất thần tiên, khu đất màu mỡ nhất của Phalettin”. Người La mã chở trái chà là và dầu thơm từ đó đi bán khắp nơi trên thế giới. Tất cả những hoa lợi đó hợp lại khiến nó trở nên một trong những trung tâm quan thuế lớn nhất trong cả xứ Palettin. Giêrikhô cũng là thành phố nổi tiếng về đức tin cũng như về không tin “Bởi đức tin tường thành Giêrikhô đổ xuống”, cũng bởi không tin đến mù quáng những tường thành đã được xây dựng lại để hình phạt đã giáng xuống trên người ương ngạnh. Khi Chúa Giêsu đi ngang qua thành này, Ngài cũng phải chứng kiến cả đức tin lẫn không tin: sự không tin của dân chúng và đức tin của một người tên là Giakêu. Trong nước Palettin có nhiều loại thuế, và cách đánh thuế của họ là cơ hội thuận tiện cho những nhân viên thâu thuế làm giàu mau chóng. Tên Giakêu có nghĩa là “thanh khiết” nhưng dùng nó để chỉ con người người này thật không đáng chút nào. Những ai biết rõ ông sẽ gọi ông là tên ác ôn và có lẽ họ gọi đúng. Ông đứng đầu những người thâu thuế. Có thể có nhân viên thâu thuế lương thiện, nhưng như vậy ông ta sẽ phải nghèo. Các người thâu thuế thường làm giàu bằng tống tiền và tham ô. Giakêu là một người đã tiến tới mức cao nhất trong nghề nghiệp nhưng cũng là người bị khinh ghét nhất trong vùng.
1. Giakêu giàu có nhưng không vui thỏa.
Dĩ nhiên ông cô đơn trơ trọi vị đã chọn con đường làm cho mình thành một con người bị xã hội xa lánh. Ông đã nghe nói về Đức Giêsu hay tiếp nhận các người thâu thuế và những tội nhân và ông cũng muốn thử xem thái độ của Ngài đối với ông. Bị mọi người khinh chê ghét bỏ, ông tìm đến với tình yêu Chúa.
2. Giakêu quyết định nhìn xem Chúa Giêsu và không muốn để bất cứ điều gì cản trở mình.
Đối với Giakêu, trà trộn với đám dân chúng là một việc đòi hỏi nhiều can đảm, bởi nhiều người sẽ lợi dụng cơ hội đó để tặng anh chàng thâu thuế lùn tịt này một cái đá, một cái đấm, một cái xô đẩy… Đây là một dịp may mà họ không bỏ qua đâu! Ngày đó Giakêu có thể bị chen lấn, xây xát, ông sẽ không thể nhìn thấy Chúa Giêsu và đám dân chúng lấy làm khoái chí khi làm cho Giakêu không thể thấy. Vì thế ông đã chạy trước trèo lên cây sung, đó là thứ cây thường mọc bên đường, có nhiều lá cho bóng mát rất dễ trèo vì thân ngắn và nhiều cành tỏa ra tứ phía. Mọi sự đều khó khăn cho Giakêu, nhưng con người thấp hèn này có can đảm của con người tuyệt vọng.
Thiện chí của ông được đền đáp bất ngờ, vì khi Chúa Giêsu tới chỗ ấy, Người nhìn lên và nói với ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Đây là lần duy nhất Chúa Giêsu tự mời Ngài làm khách, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng Ngài luôn sẵn sàng trú ngụ trong những tấm lòng mở rộng để tiếp đón Ngài. Có người bảo rằng Giakêu đã “theo đạo” trước khi ông xuống tới đất. Chắc chắn đã có một sự thay đổi lớn lao trong lòng ông khi ông biết rằng Chúa Giêsu đã biết ông tường tận, và ông đoán được Chúa sẽ làm gì cho mình.
3. Giakêu đã nhân cơ hội để tỏ cho xã hội của ông biết rằng ông đã được thay đổi.
Khi Chúa Giêsu nói với ông rằng hôm nay Ngài sẽ đến nhà ông, và khi ông đã khám phá ra rằng mình đã gặp được một người bạn mới rất tuyệt diệu, lập tức ông có một quyết định. Ông đã quyết định đem nửa phần gia tài mình phân phát cho người nghèo, và nửa phần còn lại ông cũng không định giữ riêng cho ông, song ông sẽ dùng để đền bù cho tất cả những gian lận mà ông tự thú đã phạm. Trong việc đền trả này ông lại còn đi xa hơn điều luật pháp đòi hỏi. Chỉ khi nào trộm là một hành động bạo lực và dụng tâm gây tàn hại, bấy giờ mới buộc phải đền gấp bốn (x, Xh 22,1). Nếu chỉ là việc trộm cắp thường và nguyên vật không thể hoàn trả, thì phải tính gấp đôi mà đền (x. Xh 22,4.7). nếu bị can tự thú và tình nguyện hoàn trả thì chỉ phải trả giá nguyên vật, cộng thêm một phần năm nữa thôi (x. Lv 6,5. Ds 5,7). Giakêu nhất định làm nhiều hơn điều luật pháp đòi hỏi. Bằng hành động, ông tỏ ra đã được biến cải. Giáo sĩ Boreham có kể một chuyện đáng sợ. Trong một buổi họp kia, khi vài bà đứng lên làm chứng ơn phước đã được ban, có một bà ngồi câm lặng buồn rầu. Người ta mời bà làm chứng đứng lên thì bà từ chối. Khi hỏi lý do, bà trả lời: “Trong số những bà vừa đứng lên làm đó có bốn bà nợ tiền tôi mà tôi và gia đình tôi đang đói lắm vì không có tiền mua thức ăn”. Lời chứng sẽ hoàn toàn vô giá trị nếu không được bảo đảm bằng hành động thực tế xác chứng cho sự thành thực của lời nói. Chúa Giêsu không đòi sự thay đổi trong lời nói, nhưng Ngài đòi hỏi sự thay đổi trong đời sống.
4. Câu chuyện chấm dứt bằng lời câu bố long trọng: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.
Chúng ta phải luôn cẩn thận để hiểu ý nghĩa của chữ “mất” này. Trong Tân ước, chữ mất không có nghĩa là bị đoán phạt hay kết án, mà chỉ có nghĩa “ở sai chỗ”. Một cái gì mất là khi nó ra khỏi chỗ riêng của nó, ở vào chỗ không đúng của nó. Một người lạc mất là khi người đó lìa khỏi Thiên Chúa, và người đó được tìm thấy khi người đó bước vào chỗ thích hợp của mình như một người con vâng phục trong nhà và gia đình của cha mình. Bởi tin vào Chúa Giêsu, người thâu thuế thành Giêrikhô đã chứng tỏ mình là con cháu của Ápraham “Cha của mọi kẻ tin”. Lòng tin cậy nơi Chúa Giêsu đem lại ơn cứu rỗi dành cho tất cả mọi người, cả cho những kẻ thấp hèn, tuyệt vọng và khinh miệt nhất.
88. Hôm nay nhà này được ơn cứu độ
(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)
Thiên Chúa luôn yêu thương, tha thứ và ban cho con người được ơn cứu độ. Đây chính là bản chất của Thiên Chúa. Bởi vì: “Thiên Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa có thể tác tạo mọi sự, và nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối. Chúa yêu thương mọi tạo vật, và không ghét bỏ bất cứ vật gì Chúa đã tác thành: vì nếu Chúa ghét bỏ một vật gì, thì Người đâu có tác tạo nó” (Kn 11, 23-24).
Bài Tin Mừng hôm nay làm toát lên đặc tính đó khi Đức Giêsu chủ động gọi Giakêu và vào nhà ông cũng như dùng bữa mặc cho người ta sầm xì bàn tán: "Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi" (Lc 19,7). Như vậy, chúng ta thấy Thiên Chúa không quan tâm đến quá khứ của con người, nhưng Ngài để ý đến giây phút hiện tại, sự thiện chí và ngay lành của họ để ban ơn cứu độ.
1. Ý nghĩa Lời Chúa
Tin Mừng hôm nay trình thuật cho chúng ta thấy việc Đức Giêsu đi ngang qua thành Giêricô, đây là chặng cuối cùng trên đường lên Giêrusalem để thực thi sứ vụ cứu chuộc của Ngài bằng cái chết trên thập giá. Trên lộ trình ấy, có dân chúng theo sau Ngài khá đông. Tuy nhiên, trong đám người đó có Giakêu, ông là: “thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có” (Lc 19, 2). Như vậy, ông là một vị quan chức cấp cao. Nhưng chớ trêu thay, ông lại lùn, mà đám người thì lại quá đông, nên ông ta phải trèo lên cây sung để mong được nhìn thấy Đức Giêsu đi ngang qua, người mà ông đã mong ngóng đợi trông từ lâu.
Nói đến Gia Kêu là người thu thuế, người Do Thái thường có những dị nghị về hạng người như ông và họ xếp ông chung với hạng đĩ điếm, trộm cắp, là những người làm tay sai cho đế quốc La Mã, vì thế họ là những người phản quốc, hại dân. Khi gặp họ, người Do Thái tránh xa như tránh dịch. Không ai được phép giao du với những con người như thế. Bởi vì đây là người tội lỗi tầy trời, đồ thối tha dơ bẩn. Khi đi ngang qua người ấy, người ta sẵn sàng nhổ nước miếng tỏ lòng khinh bỉ...
Tuy bị người ta khinh thị như thế, nhưng ông nhất quyết không chịu khuất phục trước đám đông cũng như vượt lên trên dư luận, và nhất là vượt lên trên mặc cảm tự ty của mình để trèo lên cây sung với hy vọng được tận mắt nhìn thấy Đấng Kitô, Ngài là Cứu Chúa của mình và toàn dân. Để được thấy Chúa, ông phải dùng đến một cách thế xem ra hơi lố bịch với người có địa vị như ông. Thật thế, sự quyết tâm của ông rất mãnh liệt. Sở dĩ ông vượt qua được dư luận như vậy là vì ông đang có một nỗi đam mê lớn lao. Đam mê ấy của ông chính là Giêsu, con người mà ông đang mong đợi. Sự kiên quyết của ông không chỉ đơn thuần là sự tò mò, mà đây còn là khởi điểm của hành trình đức tin nơi ông.
Đức Giêsu đã không để cho ông thất vọng khi gọi chính tên ông: "Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi" (Lc 19, 5). Theo lối hiểu của Kinh Thánh, gọi tên ai là biểu hiện của việc biết rõ về người ấy và có một mối tương quan thân tình với người được gọi. Hôm nay, Chúa gọi ông, vậy Chúa biết rất rõ lòng ông và muốn ông trở về với con người lương thiện, công chính của ông, bởi vì tên Giakêu tiếng Do thái là “Zakkay” có nghĩa là “người thanh khiết – người công chính”, hơn nữa, Đức Giêsu còn muốn trở thành người nhà của ông khi nói: “hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi” (Lc 19, 5). Như vậy, nếu hiểu qua, Giakêu hôm nay đi tìm Chúa, nhưng thực ra Chúa đã đi tìm ông trước.
Thật vậy, người đời thường nói: “Con mắt là cửa sổ của tâm hồn” Đức Giêsu cũng nói: “Đèn của thân thể là con mắt” (Mt 6,22t; x. Lc 11,34t). Hôm nay, Đức Giêsu nhìn Giakêu, nhưng cái nhìn của Chúa là một cái nhìn mang tính chinh phục, cảm hóa tâm hồn, cái nhìn nhân từ, thương xót, cái nhìn cứu độ. Chính cái nhìn này đã đi lọt vào trong tâm hồn của Giakêu và như một lời cật vấn lương tâm của ông. Và cũng chính cái nhìn nhiệm mầu này đã khiến ông nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới.
Nếu ánh mắt của Đức Giêsu là ánh mắt nhân từ, yêu thương, thì ánh mắt của Giakêu là ánh mắt sám hối, tin tưởng. Chúa Giê su chủ động tìm ông vì Ngài không muốn ông sống mãi trong tình trạng tội lỗi như hiện thời nữa. Đây cũng chính là sứ vụ cứu chuộc của đức Giê su. (x. Lc 19,10). Tội của ông rất lớn, vì ông không phải là một người thu thuế thường, mà lại là một thủ lãnh những người thu thuế. Nhưng: “Sai lầm là bản tính của con người và tha thứ là bản chất của Thiên Chúa” (A.Pope).
"Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi" (Lc 19, 5). Câu nói này của Đức Giêsu làm cho ông không tưởng! Làm sao mình lại được diễm phúc như vậy? Làm sao Chúa lại vào nhà ông, một người tội lỗi tầy trời như thế? Chưa hết bàng hoàng, vì Chúa gọi đúng tên ông, nhưng ông đã mau mắn tụt xuống khỏi cây sung và sẵn sàng mở rộng tấm lòng để đón tiếp Đức Giêsu vào nhà ông. Hành động tụt xuống của ông cho ta thấy, từ đây ông dốc quyết quay lưng lại với con đường tội lỗi, không kiêu ngạo, không bóc lột, không hà hiếp và không làm những điều sai quấy chống lại nhân dân nữa... và, ông đã biểu hiện tấm lòng sám hối chân thành ấy bằng việc thực thi đức công bằng và sống đức bác ái: "Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn" (Lc 19, 8).
Không vui và thay đổi sao được khi cả một xã hội khinh miệt và coi thường ông, thì một Đức Giêsu; một Cứu Chúa lại sẵn sàng vào nhà mình. Giờ đây, với ông, cuộc gặp gỡ này là một cuộc gặp gỡ của tình yêu. Tình yêu đi bước trước là Đức Giêsu, và ông thực sự cảm nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho ông, nên tình yêu đáp trả tình yêu. Tình yêu đã biến đổi ông, tình yêu đã gợi lại cho ông lòng bác ái và lẽ công bằng, và tình yêu đã hướng dẫn ông và dẫn ông đến hành động là đức ái. Tại sao ông lại can đảm để cho lương tâm lên tiếng? Tại sao ông lại có được lòng quảng đại như vậy? Thưa chỉ một lẽ rất đơn giản là vì ông đã được tha thứ và được yêu nhiều. Lời tuyên bố của Đức Giêsu đã là một lời minh chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho ông: "Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất" (Lc 19, 9).
Thật vậy, Gia kêu hôm nay đã chuộc tội của mình bằng việc bác ái, và ông đáng được hưởng ơn cứu độ: “Bố thí thì cứu cho khỏi tội và khỏi chết” (Tb 4,11). Trong sách Tiên tri Đaniel có viết: “Hãy chuộc tội con bằng bố thí, và bằng sự thương yêu kẻ khó nghèo” (Dn 4,24). Và sách công vụ Tông đồ cũng có câu: “Của bố thí bay lên như hương thơm trước mặt Chúa” (Cv 11,4). Gia kêu đáng cứu độ, vì lòng đơn sơ của ông xuất phát từ sự khiêm nhường, và khiêm nhường lại là linh hồn của đức đơn sơ.
2. Sứ Điệp Lời Chúa Hôm Nay
Đã là con người, ai cũng có những thiếu xót bất toàn. Điều quan trọng là chúng ta có dám tụt xuống khỏi cây sung để gặp được Chúa như Gia Kêu hay không?
Khi Gia kêu trèo lên cây sung, ông nghĩ sẽ nhìn thấy Chúa rõ ràng hơn, nhưng Chúa lại không để ông ở trên đó, có lẽ vì Chúa muốn ông phải trở về cuộc sống đời thường, phải sống thật sự chân thành, khiêm nhường thì mới gặp được Chúa. Bản chất của con người là: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Tuy nhiên với năm tháng và môi trường nghề nghiệp, nhiều khi con người dễ bị tha hóa.... Nhưng không phải vì con người tha hóa do môi trường, nghề nghiệp mà không thể hoán cải được. Không! Con người vẫn có thể trở nên tốt nếu họ có cơ hội. Cơ hội đó có thể đến từ chính họ, và đôi khi cũng phải đến từ phía chúng ta... Ông Giakêu hôm nay ông đã gặp được Chúa, nên cuộc đổi đời của ông thành công, còn nếu ông mà gặp người Biệt Phái thì có lẽ ông đã xấu lại còn xấu thêm...
Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta đều là tội nhân trước mặt Chúa, chẳng có ai là người trong sạch hoàn toàn. Vấn đề đặt ra đó là thái độ của chúng ta có quyết tâm quay lại với Chúa hay không thôi. Bên giáo lý nhà Phật có câu: “Quay đầu là bờ”, tức là đừng đi theo con đường tỗi lỗi nữa, mà hãy quay lại nẻo chính đường ngay thì mới được giác ngộ. Chúng ta đừng kiêu ngạo và tự cho mình là tốt lành thánh thiện trước mắt Chúa. Chúng ta cũng đừng coi thường hay khinh bỉ người khác như người Do thái khi xưa: "Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi". Coi chừng, chính chúng ta đang có nguy cơ xa dần và đánh mất ơn cứu độ ngay trong khi nhân danh sự tốt lành, thánh thiện kiểu mồ mả. Khi nói về sự giả tạo, Đức Giê su đã lấy hình ảnh nấm mồ để vạch trần sự gian trá của những người tự coi mình là đạo đức và coi khinh người khác: “Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái giả hình! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong là giả hình và gian ác” (Mt 23,27-28;x. Lc 11,44). Thánh Phaolô cảnh giác chúng ta: “Ai đang đứng ý tứ kẻo ngã” (1 Cr 10, 12).
Lời Chúa hôm nay cũng muốn cho chúng ta thấy: cần phải có sự cảm thông, xóa bỏ mặc cảm để đến với người tội lỗi với lòng bao dung, tha thứ như Thiên Chúa. Đây cũng chính là liều thuốc bình an mà Đức Giêsu đã dùng cho những người mà Ngài gặp gỡ... Một Đức Giêsu không hề coi thường những người tội lỗi, nào là: đĩ điếm, thu thuế... Ngài không coi thường không có nghĩa là ủng hộ, cổ súy cho những hành vi sai trái của họ, không! Ngài muốn cải hóa họ bằng tình yêu, chỉ có tình yêu mới có thể đem lại cho người ta một sự hoán cải sâu xa mà thôi. Có thể nói: sai lỗi là chuyện bình thường, sa ngã mà không biết chỗi dậy mới là bất bình thường; hay các thánh là ai? Thưa các Ngài là những người 99 lần ngã, nhưng lần cuối cùng thì đứng dạy luôn (x. Đương Hy Vọng).
Ngày hôm nay, biết bao người đang xa dần Thiên Chúa. Họ rời xa Thiên Chúa và Giáo hội đôi khi chỉ vì những miếng cơm manh áo. Và đôi khi tìm mọi cách để chỉ vì no cái bụng, ấm cái thân mà quên đi công lý, tình thương. Họ sẵn sàng buôn gian bán lậu; chà đạp người khác để mình sống; tham nhũng, bóc lột, nói chung, bất chấp tất cả miễn sao có tiền. Vụ bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường và nhân viên trong tiệm thẩm mỹ viện Cát Tường làm chết người, ném xác xuống sông để phi tang là một điển hình cho những người chỉ vì tiền mà không hề có lương tâm...
Mong thay, trong xã hội ngày nay, nhiều người nhận ra và dám sống theo lương tâm; đồng thời bạn và tôi, chúng ta hãy ý thức một điều căn bản là: có một lúc nào đó tiền bạc không đem lại cho ta niềm hạnh phúc thật. Chức quyền không đảm bảo được cuộc sống mai sau. Chỉ có Chúa mới là nguồn bình an, niềm vui và hạnh phúc thật, bởi vì Ngài là đường, là sự thật và là sự sống.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ơn biến đổi như Giakêu khi xưa. Xin cũng ban cho chúng con biết yêu thương mọi người và sẵn sàng thực thi bác ái trong tinh thần Kitô giáo. Được như thế, chúng con tin tưởng và hy vọng sẽ được ơn cứu độ của Chúa như khi xưa Chúa đã chúc phúc và trao ban cho Giakêu. Amen.
89. Sức mạnh hoán cải của tình thương
(Suy niệm của Lm Đan Vinh)
I. HỌC LỜI CHÚA
Ý CHÍNH:
Bài Tin mừng hôm nay nhằm chứng minh Đưc Giêsu là Đấng Thiên Sai, với sứ mệnh "tìm và cứu chữa những gì đã hư mất". Cụ thể là ông Da-kêu thủ lãnh các người thu thuế ở Giê-ri-khô, nhờ gặp được Đức Giêsu nên đã được ơn hoán cải. Do thành tâm đi tìm, nên ông đã gặp được Người và được Người ưu ái đến ở trọ tại nhà ông. Trước tình thương của Đức Giêsu, ông đã quyết tâm hoán cải, thể hiện qua việc tình nguyện quảng đại chia phân nửa gia sản phân phát cho người nghèo và sẵn sàng đền bù cho những người đã bị ông làm thiệt hại trước đây.
CHÚ THÍCH:
- C 1-4: + Đức Giêsu vào thành Giê-ri-khô và đi ngang qua thành: Giê-ri-khô là một thành phố cách Giê-ru-sa-lem 37 cây số. Có hai thành Giê-ri-khô: Một thành cũ đã bị ông Gio-su-ê phá huỷ, và một thành mới do vua Hê-rô-đê xây dựng cách nơi cũ không xa. + Có một người tên là Da-kêu: Tên Da-kêu nghĩa là "Người trong sạch". Ong đứng đầu ngành thu thuế tại thành Giê-ri-khô, nên bị người Do thái liệt vào hạng người tội lỗi.
- C 5-7: + Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Da-kêu, xuống mau đi. Vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông": Đức Giêsu đã biết rõ về con người của Da-kêu trước khi ông gặp Người. Người đã nhìn thấy ông giữa muôn người, biết tên và công khai gọi tên ông. Nhất là Người còn đến ở trọ tại nhà của ông. + Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người: Cảm động trước tình thương và sự ưu ái quan tâm của Đức Giêsu, ông Da-kêu vội vàng tụt xuống khỏi cây sung và đón rước Người về nhà. Da-kêu chỉ muốn thấy mặt Đức Giêsu, nhưng ông lại được Người thương đến ở trọ tại nhà của ông. Lòng ưu ái của Người vượt quá sự mong ước của ông. + Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!": Theo quan niệm của người Do thái, ai lui tới giao thiệp với người tội lỗi cũng trở nên ô uế và bị khiển trách (x. Lc 5,30). Ở đây, Đức Giêsu không những đã tiếp xúc nói chuyện, mà còn đến ở trọ tại nhà của ông trưởng ngành thu thuế Da-kêu, nên không tránh khỏi sự xầm xì phản đối của đám đông. Qua hành động này, Đức Giêsu cho thấy sứ vụ của Người là đi tìm và cứu chữa những người tội lỗi mà Da-kêu là đại diện.
- C 8-10: + Này đây, phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo...: Cảm động trước tình thương của Đức Giêsu, Da-kêu đã biểu lộ quyết tâm hoán cải qua việc đền bù những tội lỗi trước đó. Ông tự nguyện chia nửa tài sản để phân phát cho người nghèo và đền trả gấp bốn lần những thiệt hại đã gây ra, trong khi Luật Mô-sê chỉ buộc đền gấp bốn cho tội trộm chiên mà thôi (x. Xh 21,37). + Hôm nay Ơn cứu độ đã đến cho nhà này: Nhờ sự hiện diện của Đức Giêsu mà cả nhà ông Da-kêu đã được cứu độ. + Con cháu Tổ phụ Áp-ra-ham: Do làm nghề thu thuế nên Da-kêu bị coi là kẻ tội lỗi không còn thuộc về dòng dõi của Áp-ra-ham. Nhưng khi ông đã hồi tâm sám hối, ông lại được Đức Giêsu trả lại quyền được làm con cháu của Tổ phụ Áp-ra-ham như trước. + Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất: Câu này cho thấy sứ mệnh Thiên Sai của Đức Giêsu là đến để tìm kiếm và giúp những kẻ tội lỗi ăn năn sam hối để được cứu độ.
CÂU HỎI: 1) Tên Da-kêu nghĩa là gì? 2) Thiện chí của ông Da-kêu được biều lộ qua hành động nào? 3) Tại sao dân chúng lại trách Đức Giêsu về việc đến ở trọ tại nhà Da-kêu? 4) Tại sao ông Da-kêu lại được Đức Giêsu tuyên bố là con cháu Tổ phụ Áp-ra-ham và được cứu độ? 5) Câu nào nói lên sứ mệnh Thiên Sai của Đức Giêsu?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất" (Lc 19,10).
2. CÂU CHUYỆN:
- NHỮNG KẺ KHỐN CÙNG (LES MISÉRABLES)
Đây là tựa đề một tác phẩm nổi tiếng của văn hào Vích-to Huy-gô (Victor Hugo), tường thuật câu chuyện về cuộc đời của Văn Giang (Han Valjean), một tên cướp của giết người đã từng bị ở tù 19 năm. Khi vừa được thả ra, anh đã phải nếm mùi bị mọi người khinh dể xa lánh: Bước vào tiệm ăn, anh liền bị chủ tiệm xua đuổi; Vào trong nhà trọ thì người gác cửa đã đóng sập cửa ngay trước mặt; Đi qua ổ chó, thấy bộ dạng nhếch nhác râu ria của anh, chúng liền thi nhau sủa inh ỏi... Chỉ khi bước vào nhà Đức giám mục My-ri-ê, anh mới được tiếp đãi nồng hậu như một con người: Anh được ăn một bữa tối thật ngon, được nằm trên một chiếc giường êm ấm. Nhưng rồi đêm hôm ấy, nhìn thấy các chân đèn bằng bạc quí giá, anh không cưỡng nổi lòng tham, nên nhẹ nhàng lấy năm cái chân đèn cho vào bao chuồn mất. Nhìn thay bộ dạng khả nghi của anh, cảnh sát liền đòi khám xét chiếc túi vải anh đang vác trên vai và nhìn thấy mấy cái chân đèn bằng bạc. Anh liền bị giải đến trước mặt vị giám mục để làm rõ. Nhưng ngài không những không kết tội, mà còn nhận là đã tặng cho anh mấy cái chân đèn bạc kia. Hơn nữa, ngài còn tặng thêm hai chân đèn nữa cho đủ bộ và nói nhỏ với anh: "Ta không kết tội con đâu, nhưng con phải sám hối để làm lại cuộc đời". Sau khi được thả, anh luôn suy nghĩ về những lời nhắn nhủ của vị giám mục và xúc động trước tình thương bao dung của ngài. Anh quyết tâm sám hối và sau đó đã trở thành một người lương thiện. Nhiều năm sau, Văn Giang đã chinh phục được tình cảm của mọi người và còn được dân chúng tín nhiệm bầu làm thị trưởng của thành phố. Sở dĩ ông từ một tên tội phạm trở thành mot người lương thiện và được kính nể là do ông đã cảm nghiệm được tình thương của vị giám mục My-ri-ê.
- SỨC MẠNH HOÁN CẢI CỦA TÌNH THƯƠNG:
Trong thiền viện của thiền sư SĂNG–GAI (Sengai) có nhiều đệ tử ở chung. Một đệ tử của vị thiền sư có thói quen thỉnh thoảng nửa đêm leo tường ra ngoài đi chơi với chúng bạn mãi đến gần sáng mới quay lại thiền viện. Một đêm kia, thiền sư Săng-gai đi kiểm tra, thấy một chiếc giường trống, rồi còn thấy một chiếc ghế cao để cạnh bức tường cao phía trong thiền viện. Thiền sư liền dời chiếc ghế kia sang chỗ khác và đứng thế vào chỗ đó. Khi anh đệ tử kia quay về, do không thấy thiền sư đang đứng thế chiếc ghế mọi khi, anh ta đã đặt bàn chân lên đầu thầy Săng-gai làm điểm tựa trước khi nhảy xuống đất. Lúc khám phá ra sự thể thì anh cảm thấy sợ hãi. Nhưng thay vì trách phạt, thiền sư lại mỉm cười nhỏ nhẹ nói với anh rằng: "Trời về sáng đang trở lạnh. Con mau vào phòng mặc áo ấm vào kẻo bị cảm lạnh nhé!" Cảm động trước tấm long từ bi và tình thương khoan dung của thầy, từ ngày đó người đệ tử kia không bao giờ còn dám tái phạm trèo tường đi chơi nữa. Anh chuyên cần học tập và về sau trở thành một học trò giỏi của thiền sư Săng-gai.
3. SUY NIỆM:
Tin mừng Lu-ca Chúa nhật hôm nay thuật lại câu chuyện hoán cải của ông Da-kêu làm nghề thu thuế. Vào thời ấy, những người thu thuế bị xếp chung với bọn trộm cắp, giết người và đĩ điếm. Hơn nữa, vì họ thu thuế phục vụ cho đế quốc Rô-ma, nên người Do thái kết án khinh dể họ. Trái lại, Đức Giêsu có cách hành xử khác. Tin mừng hôm nay cho thấy: Người đã gọi đích danh ông Da-kêu, đã đến ở trọ trong nhà ông và ngồi đồng bàn ăn uống chung với ông. Việc đó khiến dân chúng hiện diện xầm xì phản đối. Tuy nhiên khi xử sự như thế, Đức Giêsu cho thấy sứ mạng của Ngài là "đến tìm và cứu chữa những gì hư mất". Cảm động rrước tấm lòng bao dung nhân hậu của Đức Giêsu, ông Da-kêu đã nhận ra tội lỗi của mình và quyết tâm sám hối nên người công chính.
1) "NÀY ÔNG DA-KÊU XUỐNG MAU ĐI": Da-kêu là một người giàu có nổi tiếng ở thành Giê-ri-cô. Ông là trưởng ban thu thuế của thành phố này. Dĩ nhiên nếu chỉ là nhân viên làm việc ăn lương thì chắc ông đã không thể giàu có như vậy được. Sở dĩ ông nhiều tiền là vì đã gian lận móc ngoặc với gian thương trong việc thu thuế. Mọi người đều nhìn Da-kêu như một tội phạm đáng khinh, và chính ông cũng cảm thấy lương tâm bất an. Nghe tin Đức Giêsu sắp đi qua khu vực gần nhà, Da-kêu liền chạy tới gần để nhìn xem mặt Người. Nhưng dân chúng quá đông mà Da-kêu lại lùn thấp, nên ông đã chạy về phía trước, trèo lên một cây sung, hy vọng sẽ nhìn thấy Đức Giêsu khi Người đi ngang qua. Khi tới chỗ Da-kêu núp, Đức Giêsu dừng lại ngước nhìn lên và nói với ông rằng: "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông".
Da-kêu không ngờ lại được Đức Giêsu ưu ái biết rõ tên và còn ngỏ ý muốn đến ở trọ tại nhà ông là một người tội lỗi! Ông cảm thấy rất vui khi được Đức Giêsu công khai phục hồi danh dự trước mặt đám đông luôn có thái độ ác cảm và khinh dể ông. Còn Đức Giêsu cũng bỏ ngoài tai những lời xì xầm phản đối của nhiều người để đến trọ tại nhà ông Da-kêu.
Ơn Cứu độ là kết quả của sự gặp gỡ hai chiều kích: Thiên Chúa ban ơn và tội nhân đón nhận. Nếu Đức Giêsu không thi hành sư mệnh đi tìm chiên lạc thì chẳng ai được ơn cứu độ: "Vì chưng, Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất" (Lc 19,10). Nhưng dù Đức Giêsu có đi tìm mà tội nhân lại né tránh, thì họ cũng không thể nhận được ơn cứu độ. Ở đây, Đức Giêsu đã đi bước trước qua việc nhìn lên cây sung tìm Da-kêu đang ẩn núp và nói chuyện với ông và ông đã mau chóng đáp lại và cuối cùng ông và gia đình ông đã nhận được ơn cứu độ.
2) "THƯA NGÀI, NÀY ĐÂY PHÂN NỬA TÀI SẢN CỦA TÔI, TÔI CHO NGƯỜI NGHÈO...": Chính ánh mắt bao dung, lời nói âu yếm và thái độ yêu thương của Đức Giêsu đã đánh động tâm hồn chai lì của Da-kêu; thổi bùng lên ngọn lửa hướng thiện còn đang leo lét trong lòng ông. Quả thật, hoán cải là kết quả của một sự cảm nhận về tình yêu của Chúa. Da-kêu bỗng chốc cảm thấy tâm hồn bình an, nên không còn yêu thích tiền bạc như trước. Ông đã sẵn sàng dâng hiến phân nửa tài sản để chia sẻ cho người nghèo, đồng thời tự nguyện đền trả gấp bốn những thiệt hại đã gây cho kẻ khác. Xin đền gấp bốn nghĩa là Da-kêu nhận biết tội của ông quá nặng và quyết tâm thực thi công bình bác ái. Dù Da-kêu đã trở nên nghèo hơn, nhưng ông lại cảm thấy hạnh phúc hơn vì đã được Đức Giêsu yêu thương đến ở trọ tại nhà ông và ban ơn cứu độ cho cả gia đình ông. Sau đó Người còn trả lại cho ông tư cách là con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham như bao người Do thái khác qua lời phán: "Ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham" (Lc 19,9). Trong bữa tiệc vui hôm đó, tuy không còn giàu có như trước, nhưng Da-kêu đã cảm thấy được hạnh phúc hơn. Chắc chắn thân thể ông vẫn còn lùn thấp như trước, nhưng tâm hồn ông đã nên cao thượng hơn gấp bội phần.
3) LIÊN QUAN GIỮA HOÁN CẢI VÀ TỪ BỎ: Bất cứ một cuộc hoán cải nào cũng đòi phải từ bỏ: Một người lương muốn theo đạo Công giáo thì phải từ bỏ ma quỉ, các điều mê tín dị đoan, các đam mê tội lỗi... để chỉ tin thờ một mình Thiên Chúa và tin vào Đấng Ngài sai đến là Đức Giêsu Kitô. Một người mắc thói xấu cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút sách... muốn hồi tâm sám hối cũng phải quyết tâm chừa bỏ các thói hư ấy. Một người thường buôn gian bán lận, muốn hoán cải về với Chúa cũng phải quyết tâm từ bỏ lối làm ăn gian dối ấy... Con tim của Da-kêu đã được hoán cải nhờ sự quan tâm và đối xử nhân từ của Đức Giêsu. Thi hào người Đức Goethe (1749-1832) đã viết như sau: "Nếu đối xử với một người như "người ấy là", thì người ấy sẽ nên xấu hơn. Nếu đối xử với người ấy như "người ấy phải là", hoặc như "người ấy muốn là", thì người ấy sẽ nên tốt hơn". Đức Giêsu hiểu rằng trong tâm hồn Da-kêu còn có phần tốt, muốn làm điều tốt và có khả năng làm điều tốt, nên Người đã khơi phần tốt ấy lên. Mỗi người chúng ta cũng hãy tự hoán cải bằng cách để Đức Giêsu quan tâm đến ta, nói với ta, đến ở trọ trong lòng ta và đánh động con tim của ta.
4) HIỆN NAY VẪN CÒN NHIỀU DA-KÊU: Đó là những người bị mọi người khinh thường hay loại trừ như những người mang tiền án tiền sự, những trẻ em bụi đời lang thang không nhà, những cô gái đứng đường lúc đêm tối, những người đang nghiện sì-ke ma túy, những người đang tìm hưởng lạc thú trong những quán bia ôm, mượn rượu giải sầu... Họ cần những người có trái tim bao dung nhân ái như Đức Giêsu giúp họ hoàn lương giống như ông Da-kêu trong Tin mừng hôm nay. Vậy trong những ngày này chúng ta nên làm gì cụ thể để giúp họ?
4. THẢO LUẬN: 1)Bạn có thích hai câu chuyện trên hay không? Tại sao? 2)Tuần này mỗi người chúng ta sẽ làm gì cụ thể để giúp một tội nhân công khai được ơn hoán cải nên lương thiện hơn?
5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊSU. Ngày nay Chúa vẫn thường đến với chúng con trong hình hài của những người nghèo khó ăn xin, những bệnh nhân liệt giường không tiền chữa trị, những người đau khổ cần được ủi an. Chúa cần chút nước của người phụ nữ Sa-ma-ri để uống cho đã khát, cần năm chiếc bánh và hai con cá của một bé trai để nuôi năm ngàn người ăn no, cần căn nhà của ông Da-kêu để nghỉ qua đêm. Chúa khiêm tốn xin chúng con một chút tiền bạc, một chút lòng hảo tâm, một chút sự thương cảm... để sau đó Chúa lại đổ xuống trên chúng con muôn ngàn phúc lộc thiêng liêng gấp bội.
- LẠY CHÚA. Xin dạy chúng con biết đến với tha nhân, biết khám phá ra một đốm lửa của sự thiện vẫn đang cháy leo lét nơi tâm hồn những người đang lạc xa Chúa. Ước gì chúng con biết nhìn các tội nhân công khai bằng ánh mắt nhân từ bao dung của Chúa, dám hy vọng vào thiện chí hoán cải của họ, và kêu gọi mọi người cùng hợp tác để xua tan cái xấu cái ác ra khỏi gia đình, khu xóm, trường học, và công sở... Nhờ đó, thế giới hôm nay sẽ được biến đổi ngày một tốt hơn, chan hòa tình người hơn và an bình hạnh phúc hơn.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria.- Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
90. Niềm vui hôm nay
(Suy niệm của Như Hạ)
Thế giới ngày càng căng thẳng. Tìm được nụ cười như tìm thấy một bảo vật. Niềm vui thực sự là dấu chỉ của một cuộc giải tỏa tâm hồn hay một cuộc giải thoát khỏi một hoàn cảnh khó khăn. Hôm nay Đức Giêsu đem lại một niềm vui cho nhà Dakêu. Cần dừng lại đôi phút để thấy niềm vui đó lớn lao chừng nào.
Ông Dakêu là một người "đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có," (Lc 19:2) nghĩa là một "người tội lỗi" (Lc 19:7) nhất trong những người tội lỗi. Trong khi mọi người tránh xa những hạng người như thế, Đức Giêsu lại "vào trọ" (Lc 19:7) nhà ông. Ông vô cùng kinh ngạc và xúc động vì thái độ thân thiện khác thường này. Từ kinh ngạc đến cảm phục, ông đã thay đổi hẳn cuộc sống. Ông "thưa với Chúa rằng:?Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.?" (Lc 19:8) Đức Giêsu không hề giảng cho ông một bài nào về công bình hay lên tiếng đánh động tấm lòng để thúc đẩy ông dốc hết tài sản cho những người nghèo và bị bạc đãi hay đàn áp. Nhưng dung nhan Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng siêu nhiên phơi bầy tất cả sự thật về những việc ông làm cho đồng loại từ xưa đến nay. Ông chợt tỉnh và nhận ra tất cả những dơ bẩn trong cõi lòng mình. Thế là ông nhất quyết thanh tẩy tất cả để chuẩn bị đón nhận những hồng ân lớn lao.
Ông đã đánh mất chính bản thân. Nhưng nhờ Đức Giêsu, ông đã tìm lại những gì đã tiêu trầm trong vũng tội lệ. "Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất." (Lc 19:10) Hơn nữa, ông còn tìm được một giá trị tuyệt vời. Trước giá trị vô cùng lớn lao này, tất cả đều trở thành bóng mờ hay vô nghĩa. Bởi đấy ông mới có thể quyết liệt dứt bỏ những tài sản bất công ông đã chiếm đoạt của người khác.
Lúc đầu ông Dakêu cứ tưởng mình là người tìm Chúa. Nhưng thực tế, Chúa đã tìm ông. Ông tìm Chúa để thỏa mãn tính tò mò. Ông tò mò vì thực tế quá khác với những ưu tư của mình. Ông giàu có và quyền lực như thế, nhưng vẫn không chiếm được lòng người. Trong khi một anh chàng khố rách áo ôm như Đức Giêsu lại thu hút mọi người. Không hiểu mãnh lực nào đã khiến có sự sai biệt như thế. Mọi người xa lánh khiến ông cảm thấy cuộc đời thật trống rỗng và vô nghĩa. Ông mơ một ngày được quí mến như Đức Giêsu. Một phần thôi cũng không bao giờ được! Đó là lý do tại sao ông "leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu." (Lc 19:4) Khi giáp mặt Người, ông mới cảm thấy một sức thu hút mãnh liệt từ Con Người Giêsu. Từ tấm lòng cảm phục sâu xa, tim ông bật thành tiếng bi thương vượt quá lòng mong đợi của những người nghèo khổ và bị áp bức. Ơn cứu độ đã có một chiều kích xã hội.
Đức Giêsu đã cho mọi người cảm thấy bầu khí ấm áp và thân mật của hồng ơn Thiên Chúa: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham." (Lc 19:9) Nghĩa là, đức tin đã dẫn ông Dakêu tới nguồn ơn cứu độ là Đức Giêsu Kitô. Rõ ràng không phải vì tò mò mà "ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai." (Lc 19:3) Nhưng lòng tin thúc đẩy ông muốn tìm một lối thoát cho những bế tắc hôm nay trong thân phận làm người. Ông đã mãn nguyện. Quả thực, Thiên Chúa "dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin." (2 Tx 1:11)
Quyền năng đó đã thể hiện mãnh liệt khi Thiên Chúa tỏ lòng "xót thương hết mọi người, để họ còn ăn hăn hối cải." (Kn 11:23) Ông Dakêu đã phung phí bao nhiêu thời giờ và sức lực để tạo nên những bất công cho xã hội. Giờ đây, Thiên Chúa cho ông cơ hội nhìn lại con người mình. Tất cả những gì theo đuổi từ xưa tới nay đều vô nghĩa. Ông đã đánh mất chính mình khi quay cuồng với những tham vọng vật chất đó. Cứ tưởng có tiền là có tất cả. Ông đã vong thân và tha hóa cùng cực. Bởi vậy, ông thấy phải trả giá. Nói khác, tất cả những gì đã mất mát đều được tìm lại trong cuộc hội ngộ với Đức Giêsu dưới mái ấm gia đình ông. Những mất mát do bất công ngoài xã hội đã được tìm lại trong bầu khí gia đình. Khi chạy ra bên ngoài, người ta dễ đánh mất những giá trị đích thực bên trong. Ra đi là mất mát, là chết chóc. Trở về là sống dồi dào, phong phú. Chỉ khi nào trở về với chính nội tâm, con người mới nhận ra "Đấng yêu sự sống" (Kn 11:26) và "là sự sống" (Ga 11:25) đang hiện diện rất gần gũi với mình. Ông Dakêu đã cảm nhận sự sống ấy như một kho tàng vô cùng phong phú. Thế nên, ông đã đánh đổi tất cả. Những hi sinh của ông chẳng là gì so với ân sủng ông đón nhận qua bàn tay Đức Giêsu.
Sở dĩ ông Dakêu đã đón nhận được hồng ân cao cả đó, vì "Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải." (Kn 11:23) Chúa khác hẳn con người. Thế mới biết lòng Chúa vô cùng bao la. Trước mắt con người giàu có như Dakêu đáng bị lên án. Hình như Đức Giêsu cũng đồng ý như thế: "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao! Quả vậy, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." (Lc 18:24-25) Nếu Chúa cũng giống con người, không bao giờ con người có thể được tha thứ. Người sống trên xương máu đồng bào như Dakêu chỉ có mỗi con đường duy nhất là xuống hỏa ngục! Tình trạng vô cùng tuyệt vọng. Thế nhưng, đứng trước tình trạng vô phương cứu vãn đó, Đức Giêsu đã bật sáng lên một tia lửa cuối đường hầm: "Những gì không thể đối với loài người, thì đều có thể được đối với Thiên Chúa." (Lc 18:27) Thực tế, "Chúa xót thương hết mọi người vì Chúa làm được hết mọi sự." (Kn 11:23) Người đến cứu rỗi cả người nghèo lẫn người giàu. Ơn cứu độ không hề lệ thuộc vào một ranh giới nào!
Người giàu nhưng có thiện chí như ông Dakêu, làm sao Chúa ngoảnh mặt làm ngơ cho đành? Thực thế, Chúa "dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin." (2 Tx 1:11) Ông đã chứng tỏ thiện chí và lòng tin khi tìm mọi cách giáp mặt Đức Giêsu. Một nỗ lực âm thầm như thế được Thiên Chúa đánh giá rất cao. Bởi vậy, Người mới lấy ơn cứu độ để đáp trả thiện chí ấy. Có lẽ trong quá khứ, đối với những người đã làm nhiều việc bất công như ông Dakêu, "Chúa sửa dạy từ từ, Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, dể họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa." (Kn 12:2) Cuộc hội ngộ với Đức Giêsu chỉ là giọt nước tràn ly. Giọt nước nặng ký đó phủ ngập ân sủng. Việc gì phải đến đã đến. Đức Giêsu là tất cả nguồn ân sủng lớn lao biến cải toàn thể cuộc đời ông.
Ông còn sống sót tới lúc đón nhận nguồn ân sủng ấy. Điều đó không ngoài thánh ý Chúa. Biết bao người đã ghê tởm, nguyền rủa, lánh xa ông. Nhưng, "Chúa không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên. Nếu như Ngài không muốn, làm sao môọt vật tồn tại nổi? Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì?" (Kn 11:24-25) Thế nên thời gian ông đang sống là một thời gian của lòng thương xót. Ơn cứu độ cũng trào ra từ lòng thương xót đó.
Nhìn vào ông Dakêu, chúng ta mới thấy rõ tất cả sự thật về con người và cuộc đời mình. Cuộc sống chỉ thật có ý nghĩa và phong phú khi "danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô." (2 Tx 1:12) Ân sủng Thiên Chúa chỉ biểu lộ nơi Danh Đức Giêsu, Danh gói trọn toàn thể lòng thương xót của Thiên Chúa đối với loài người. Chính vì Danh ấy, chúng ta được kêu gọi làm Kitô hữu. Nghĩa là, chúng ta được kêu gọi để biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa!
91.Một vấn đề nhức nhối
(Suy niệm của Đỗ Lực)
Nền giáo dục Việt Nam đang gặp khủng hoảng lớn. Giữa một xã hội đầy bạo động, lừa dối, tham nhũng, thối nát, nhà giáo làm được gì để cải tiến con người cho tương lai dân tộc? Làm sao thoát được ma lực của đồng tiền để có thể hướng dẫn bạn trẻ hôm nay?
Muốn tìm được lối thoát cho nền giáo dục hôm nay, thiết tưởng nên tìm đến Tin Mừng để thấy được nơi Đức Giêsu con đường giáo dục đầy sáng suốt, khoan dung và thực tế. Lịch sử cứu độ cũng chỉ là đường lối giáo dục đầy khôn ngoan, kiên nhẫn của Chúa dành cho dân Người mà thôi.
ĐỨNG TRƯỚC ĐÁM ĐÔNG
Trên đường về thành Giêrusalem, Chúa Giêsu muốn tập trung cao độ vào mục đích sứ mạng cứu thế giới. Người biết mình sắp phải hy sinh mạng sống. Trước giờ phút khắc nghiệt ấy, dĩ nhiên Chúa chẳng quan tâm tới của cải vật chất. Nhưng khi những biến cố tử nạn và cái chết sắp đến, Người cấp bách kêu gọi những ai muốn theo Người phải từ bỏ của cải. Đối với Chúa, của cải là một trở ngại, vì nó cột chặt con người vào những trách nhiệm và làm cho họ quá bận tâm.
Chúa Giêsu muốn chúng ta tập trung vào những điều cốt yếu, những điều quan trọng thực sự. Người nói chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng. Người truyền chúng ta phải thi hành công lý, yêu người nghèo khổ, hy sinh để chiếm lấy vinh quang cuối cùng. Quá nặng nề với của cải vật chất, không thể chu toàn bổn phận đó.
Quần chúng chỉ biết có tiền. Chẳng hạn trước chương Lc 19 ít câu, thái độ người thanh niên giàu có cho thấy anh không thể vượt trên lối sống và nếp nghĩ quần chúng. Xung quang vấn đề ông Giakêu hôm nay cũng chỉ là tiền. Quần chúng uất hận, vì nếu không có bọn người tay sai như Giakêu, họ không bao giờ bị bóc lột tận xương tủy như vậy! Bởi đó, dứt khoát họ không thể đội trời chung với Giakêu. Dĩ nhiên Chúa chia sẻ quan điểm này với quần chúng. Chúa thông cảm, nhưng không thể đánh giá con người phiến diện như họ. Đồng tiền có thể làm cho con người hư hỏng. Nhưng thần tài làm sao mạnh hơn Thiên Chúa?
Một đàng Chúa kêu gọi môn đệ phải dứt khoát từ bỏ của cải. Đàng khác, Chúa cho ta thấy của cải cũng không thể phá hủy con người hoàn toàn. Nơi sâu thẳm vẫn còn tiếng lương tâm, tiếng nói của Thiên Chúa. Trừ phi cố chấp buông theo đam mê vật chất, con người luôn là đối tượng cứu độ. Đó là chỗ khác biệt giữa Chúa và quần chúng. Quần chúng không thể hiểu nổi tại sao Chúa lại ghé nhà Giakêu, một người “đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có.” (Lc 19:2) Phải chăng Chúa muốn chơi với người giàu có và quyền lực? Phải chăng Chúa cấu kết với bọn đế quốc? Thực ra, Chúa đến với ông để cho mọi người thấy Tin Mừng cứu độ không có một biên giới nào. Chúa không trục lợi hay tìm một chỗ ẩn núp nơi ông. Bằng chứng, ông chẳng hứa cho cá nhân Chúa điều gì.
Ông quá giàu tiền của, nhưng thật nghèo nàn về tình cảm. Không ai chơi với ông. Mọi người đều lánh xa. Mặc dù đầy quyền lực và giàu có, nhưng ông bị nỗi cô đơn gậm nhấm theo thời gian. Đó là cái giá ông phải trả cho những việc ông đã làm tổn thương nhiều nguyên tắc đạo đức và lòng ái quốc, cũng như đã cộng tác với quân Roma để được vinh thân phì da. Nhưng của cải không đủ lấp đầy con tim. Ông mơ ước ai đó sẽ đem lại cho mình môt ý nghĩa cuộc sống. Bởi đó, sau bao ngày thầm phục trước con người đã tạo thời cuộc là Đức Giêsu, giờ đây ông làm mọi cách để có thể đối diện với Người. Ông tin gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình, vì Người sẽ ban cho mình sư sống và lẽ sống. Hơn nữa, hiện hữu trên đời để làm gì, nếu không phải là để sống đời đời? Ông tin Chúa sẽ chỉ cho ông con đường ngắn nhất đi đến cuộc sống đích thực.
Trong nỗi cô đơn chất ngất, ông cảm thấy thèm khát được gặp một người lừng danh như Chúa. Hêrôđê cũng đã từng muốn gặp Chúa như vậy. Nhưng khác Hêrôđê, ông liều mình ra tận ngoài đường, chen chúc với đám đông và leo lên tận cây cao để dễ phóng tầm nhìn đến Chúa. Ra ngoài gặp đám đông quả là một cực hình, vì mọi người đều biết ông đã từng lừa đảo và ức hiếp. Đám đông ồn ào chen lấn và ngăn cản ông. Kích thước khiêm tốn đã là một cản trở. Bây giờ cơn giận quần chúng càng làm ông mất thế trước Chúa nữa. Quần chúng muốn Chúa phải dừng lại để nói với họ đôi điều.
Giữa lúc mọi người đều tẩy chay như thế, ông lại được Chúa đoái thương. Thật là một điều kinh ngạc đối với ông. Ông quá vui mừng, vì nhận thấy Chúa khác hẳn và vượt xa quần chúng, mặc dù ông chưa thấy Chúa làm phép lạ nào. Khi được Chúa gọi đích danh, ông giật mình và nhận ra tất cả sự thật và hạnh phúc lớn lao đang đến với mình.
Có bị mọi người xa lánh và khinh bỉ, mới cảm thấy sâu xa cử chỉ yêu thương và lời ngỏ đầy thân ái của Chúa hôm nay có nghĩa gì. Giakêu đã chìm sâu trong biển lặng cô đơn và tủi nhục giữa đồng bào mình. Họ chỉ muốn không những xa lánh mà còn đòi công lý trừng phạt con người tội lỗi ấy. Nhưng thay vì giáng phạt, Chúa đã cứu vớt ông lên. Đòi hỏi của quần chúng hoàn toàn không hoàn toàn nghịch công lý. Nhưng công lý không có tình yêu sẽ đem lại hậu quả khốc hại. Phải bắt nguồn và đặt nền tảng sâu xa trong tình yêu, công lý mới đem lại hạnh phúc đích thực cho mọi người.
Phép lạ lớn nhất hôm nay là tình yêu đã mở mắt và biến cải con người Giakêu hoàn toàn. Quá xúc động trước tình thương trời bể, Giakêu đã rũ bỏ hoàn toàn tất cả. Từ một người bóc lột dân nghèo, ông trở thành vị đại ân nhân của họ (x. Lc 19:8). Chỉ tình yêu mới có sức mạnh biến đổi lớn lao như vậy! Nhưng đó chưa phải là kết quả lớn nhất của tình yêu. Kết quả lớn nhất chính là “hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này.” (Lc 19:9) Chúa đã vận dụng mọi cách để cứu con người, dù họ có bị mọi người bỏ rơi và khinh bỉ. Dưới mắt Chúa, không một ai cô đơn.
Mọi người chỉ đánh giá theo hình dáng bên ngoài, nên không thể thấy những biến chuyển bên trong tâm hồn Giakêu. Đây mới là điều đáng kể đối với Chúa. Thực vậy, Giakêu đã trải qua một cuộc sám hối. Điều Chúa Giêsu yêu cầu đã có một tầm ảnh hưởng quá sức lớn đối với ông. Chúa Giêsu, Đấng Thánh của Thiên Chúa, muốn hiện diện để chúc lành cho ông. Đáp lại, ông muốn từ bỏ những lợi lộc bất chính và cho đi tất cả. Làm sao quần chúng có thể nghe được những điều ông hứa với Chúa? Những đầu óc hẹp hòi và tầm thường làm sao thấy cuộc biến đổi sâu xa trong cuộc đời ông mà cảm tạ Thiên Chúa? Có chăng chỉ còn những ghen tương và oán hận. Tâm hồn họ không thể rộng mở để đón làn gió canh tân và không hiểu nổi tình trạng tội lỗi của chính mình. Có nhìn vào chính mình, mới thấy mình cũng cần Thiên Chúa xót thương không kém. Nếu giàu có như ông, chắc họ cũng xử sự như ông mà thôi. Họ không thấy một phép lạ nào. Nhưng đối với Giakêu, còn có một cái gì giá trị và mãnh liệt hơn phép lạ, đó là tình yêu.
TÌNH YÊU LÀ TẤT CẢ
Ngay cả phép lạ cũng phải phát xuất từ tình yêu và được nhận ra trong tình yêu. Không tin vào tình yêu Thiên Chúa, dù có chứng kiến cả ngàn phép lạ, con người cũng không nhìn thấy gì. Tình yêu là tất cả. Khi gặp Giakêu, Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho mọi người thấy “tình yêu bao hàm và vượt trên công lý. Công lý được hoàn bị trong tình yêu.” (1) Chúng ta có thể thấy rõ điều đó nơi hình ảnh Chúa đang vượt đám đông để đến với Giakêu và gọi đích danh ông. Đó là tiếng gọi tình yêu, khác hẳn với tiếng quần chúng gào thét đòi hỏi công lý.
Càng thét gào đòi hỏi công lý, quần chúng càng làm Giakêu xa rời Thiên Chúa, cộng đoàn và bản thân. Thực vậy, “tình yêu và chỉ tình yêu (gồm cả lòng thương xót) mới có khả năng làm cho con người trở về với chính mình. (2) Quần chúng quá tin vào một thứ công lý nghiêm khắc. Bởi thế, họ mới có lý mà xầm xì với nhau khi Chúa xin trọ tại nhà một người tội lỗi (x. Lc 19:7) Họ không biết rằng “tương quan nhân loại không thể chỉ bị tiêu chuẩn công lý chi phối. Có thể nói, trong mọi lãnh vực tương quan liên vị, công lý phải được tình yêu ‘điều chỉnh’ tới một mức độ đáng kể. Như thánh Phaolô nói, tình yêu đầy ‘kiên nhẫn và khoan dung,' hay nói khác, những đặc tính của lòng thương xót là yếu tính của Tin Mừng và Kitô giáo.” (3)
Với những đặc tính đó, Chúa đã kéo ông Giakêu từ tình trạng tội lỗi vì bất công sang tình trạng đầy ân sủng và biết chia sẻ với những nạn nhân. Nói khác, lòng thương xót đã giúp ông sửa lại những lỗi lầm quá khứ. Đó là kết quả rất tốt đẹp do công cuộc hòa giải với Thiên Chúa và tha nhân khi Chúa đến thăm viếng. Hơn nữa, ông còn đươc giải thoát khỏi vòng nô lệ ma lực thần tài để bay bổng trong bầu trời tư do và hưởng ơn cứu độ. Ông tìm lại được sự bình an đã mất từ lâu do những tham vọng ngông cuồng về quyền lực và của cải, vì ông đã gặp gỡ tình yêu Thiên Chúa ngay trong tâm hồn và gia đình mình. Ông đã bước vào cảnh “trời mới đất mới.” (Kh 21:1)
Không gì đứng ngoài hồng ân cứu độ này. Đó là dấu chứng tỏ Chúa đã hoàn thành sứ mạng cách vẻ vang, vì Chúa đã hòa giải con người và thế giơi với Thiên Chúa. (4) Dưới ánh sáng chân lý là chính Đức Kitô, ông đã tự tạo được một phán đoán, làm chủ các hành vi với một ý thức trách nhiệm và cố gắng đạt tới chân lý và công lý khi tình nguyện hợp tác với mọi người. Ông đã tự nguyện đền bù cho các nạn nhân và quảng đại hứa giúp đỡ người nghèo.
Có đi sâu vào lòng người bằng chính tình yêu Thiên Chúa, Đức Giêsu mới có thể vượt trên mọi người và đưa con người Giakêu về nẻo chính đường ngay. Trái lại, nếu nhất quyết đòi công lý cách quyết liệt, quần chúng sẽ mất luôn Giakêu. Trước mắt là không có những món tiền và của cải lớn lao ông Giakêu tình nguyện cúng cho người nghèo. Nhất là, Nước Thiên Chúa sẽ mất đi một người “con tổ phụ Abraham” (Lc 19:9)!
-------------------------
(1) Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới, 10:AAS, 96 (2004), 120, trích từ Toát Yếu Giáo Lý Công Giáo về Xã hội, 206.
(2) Gioan Phaolô II, Tông Thư “Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót,” 14, AAS 72 (1980), 1223. trích từ Toát Yếu Giáo Lý Công Giáo về Xã hội, 206.
(3) ibid. 1224, trích từ Toát Yếu Giáo Lý Công Giáo về Xã hội, 206.
(4) x. ibid, 455.
92.Chúa Nhật 31 Thường Niên
(Suy niệm của Lã Mộng Thường)
CHÚNG TA ĐÃ THỰC HIỆN NHỮNG GÌ ĐỂ NHẬN LÃNH LỜI CHÚA?
Bài Phúc Âm Luca đoạn 19, câu 1 đến câu 10 dùng dụ ngôn ông Gia Kêu vì thân người bé nhỏ đành leo lên cây sung để có thể chiêm ngưỡng Chúa Giê su và được Ngài ghé qua dự tiệc nơi nhà ông. Bài Phúc Âm kết luận với câu nói, “Người nầy cũng là con cái Abraham. Vì chưng, Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất” (Lc. 19: 10).
Thử xét vị thế của ông Gia Kêu nơi xã hội Do Thái thời hai ngàn năm trước. Ông là người mang nhiệm vụ thâu thuế cho chính quyền La Mã nên bị coi là kẻ hợp tác với ngoại bang đàn áp dân chúng nên bị coi là kẻ tội lỗi theo quan niệm thời bấy giờ. Tất nhiên, so với dân Do Thái, dẫu bị coi là kẻ tội lỗi nhưng có quyền hành, và dĩ nhiên thời nào chẳng thế, quyền lực, tiền tài luôn luôn sánh đôi nơi bất cứ triều đại nào nhất là trong một xã hội bị trị.
Tuy nhiên, bởi nghe nói về Chúa Giê su, ông muốn nhận biết con người của Ngài ra sao nhưng vì thân xác thấp bé nên đành chấp nhận trèo lên cây để được nhìn thấy cho rõ ràng. Có thể nói, chính vì lòng thực sự hay chân thành hiếu kỳ nên đã được Chúa Giê su ghé qua nhà. Giả sử ông Gia Kêu dù háo hức muốn nhận biết Chúa Giê su nhưng vì cảm thấy với thân xác bé nhỏ không thể chen lấn hoặc nhìn thấy Ngài khi đứng cách xa nơi Ngài đi qua thì đâu có cơ hội được diện kiến Ngài.
Mỗi người chúng ta được sinh ra với lòng khát khao nhận biết Thiên Chúa. Nói cách khác, ai cũng mang nỗi khắc khoải muốn nhận biết về thực thể chính mình, tự đâu mình được sinh ra dưới thân phận kiếp người; mục đích cuộc đời của mình là gì; và sau khi thân xác qua đi, cuộc đời mình sẽ ra sao. Thử dành đôi phút chân thành đối diện với lòng, mình đã thực hiện, đã làm gì để thoả mãn lòng khát vọng bẩm sinh đã bao năm thao thức.
Chúng ta tin, tuyên xưng Lời Chúa là lời hằng sống. Chúng ta tin, không những thế, chân thành chấp nhận Chúa Giê su là đường, là sự thật, và là sự sống. Thử hỏi, chúng ta đã có thái độ nào đối với đường lối Chúa Giê su đã chỉ dẫn. Chúng ta đã làm gì với sự thật Chúa Giê su đem đến cho chúng ta. Sự sống Chúa Giê su rao giảng là gì, có ảnh hưởng hoặc liên hệ gì đến cuộc sống nhân sinh trong những ngày hiện diện nơi trần thế này.
Điều hiển nhiên ai cũng kinh nghiệm, không ai có thể ăn dùm, uống dùm cho bất cứ ai thì tất nhiên cũng không ai có thể suy nghĩ, nghiệm chứng, thực chứng dùm cho bất cứ ai. Hơn nữa, có những điều, sự vật, môi trường tốt, may mắn cho người này nhiều khi trở thành tai hại hay bất hạnh cho người khác. Như vậy, không ai có thể nghiệm chứng, suy tư Lời Chúa, Phúc Âm dùm cho bất cứ ai.
Thế nên, chúng ta cần tự hỏi đã được bao nhiêu phút trong một ngày mình thực sự suy tư, đặt vấn đề để tìm hiểu lời giảng dạy của Chúa Giê su, hay chỉ có thói quen chờ người khác suy nghĩ và giải thích. Sự thật hiển nhiên, trong khi đói, dẫu nghe ai đó giải thích về giá trị của thực phẩm nào đó dẫu tuyệt vời đến mấy, đói vẫn hoàn đói. Chúng ta phải ăn. Sự giải thích về Lời Chúa thuộc về kiến thức chẳng khác chi giải thích món ăn. Suy nghiệm, nghiệm chứng và áp dụng nơi cuộc đời mình mới bổ ích cho hành trình đức tin, hành trình tâm linh.
Phúc Âm có câu, “Trong có tiên tri đã có viết: Hết thảy chúng sẽ là môn sinh của Thiên Chúa. Phàm ai nghe và học nơi Cha thì sẽ đến với Ta” (Gn. 6:45). Nghe và học nơi Cha có nghĩa suy nghiệm, suy tư, nghiệm chứng về thực thể hiện hữu của mình. Mình là gì; mình là ai; những sự việc đã xảy đến nơi cuộc đời tự đâu phát sinh và có ảnh hưởng cũng như mình đã học được bài học nào.
Ông Gia Kêu vì thân hình bé nhỏ thực hiện việc leo lên cây để được nhìn thấy Chúa Giê su. Chúng ta đã dành được mấy phút trong một ngày để suy nghiệm về lời giảng dạy của Chúa Giê su qua Phúc Âm hay chỉ đợi người khác giải thích, nghiệm dùm, ăn dùm.
93. Con người mới
(Suy niệm của Pm. Cao Huy Hoàng)
“Lạy Chúa trước thánh nhan Ngài, toàn thể vũ trụ ví tựa hạt cát trên bàn cân, tựa giọt sương mai trên đất. Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải” (Kng 11,22-23)
Đó là thông điệp tác giả sách Khôn Ngoan gửi đến cho con cái Israel ở Ai Cập khi họ sinh lòng thù ghét những tay sai của đế quốc thống trị, đến nỗi họ muốn Thiên Chúa trừng phạt, tru diệt bọn chúng ngay tức khắc.
Vâng, Thiên Chúa không xử trí với con người tội lỗi theo cách của con người, đúng như thông điệp sách Khôn ngoan đã dạy. Không chỉ trong thời Dân Thiên Chúa lưu đày, mà ngay hôm nay, người gian ác, kẻ tội lỗi, người hô to đã đảo Thiên Chúa, cấm cách bức bách đạo Chúa…. vẫn sống nghênh ngang, vẫn thói vênh vang, vẫn tự do trên đường “thênh thang ta bước” ngông cuồng đi về phía phủ nhận Thiên Chúa, phủ nhận cả công trình tình thương của Ngài. Có người nói: “Sống chung với lũ”, còn dễ sống hơn “sống chung với lũ”. Lòng thù của con người thời nào cũng thế, có thể nói đến mức quá độ, khi nỗi áp bức của “lũ tay sai cho giai cấp thống trị”, “cho satan”, hoành hành ngang ngược. Nhưng, đối với “Thiên Chúa đầy lòng yêu thương, thì Ngài vẫn yêu thương mọi loài hiện hữu. Vì giả như Chúa ghét loài nào, thì Ngài đã chẳng dựng nên” (Kng 11,24). “Chúa sửa dạy từ từ. Ngài cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa” (Kng 12, 2).
Khác với con người, Thiên Chúa không có lòng thù. Thiên Chúa chỉ có lòng thương. Đức Giêsu Kitô đã đến và mặc khải tình thương bao la ấy. Trang Tin Mừng hôm nay chứng minh cho điểm nầy. Dưới con mắt thế gian, thì Giakêu, tên trưởng ty thuế vụ, cũng chẳng khác gì mấy tên tay sai cho ngoại bang, cho giai cấp thống trị thời Ai cập. Giàu có mua được chức trưởng ty, rồi thu quén của dân bù khoản chi ấy. Cuối cùng, nhân dân là người gánh chịu. Bị một tên vừa lùn vừa bé, vừa đè đầu cưỡi cổ, vừa móc túi lấy tiền, làm sao mà người dân không hậm hực tức tối. Cách sống đó không chỉ là tội lỗi mà còn là tội ác. Thế mà, “Chúa nhắm mắt làm ngơ”, “Chúa đã sửa dạy từ từ” cách nào đó. Chúa đã “cảnh cáo” cách nào đó” để cho ông ta biết ông ta “đã phạm tội gì” để rồi hôm nay “ông đã bỏ điều ác mà tin vào Chúa” (xem Kng 11,24).
Quả vậy, khi nghe tin Đức Giêsu đi ngang qua Giêricô, ông tìm cách để xem cho biết Ngài là ai. Sự khao khát tìm gặp Đức Giêsu, đã phát sinh trong ông cái sáng kiến “leo lên cây sung” cho dễ nhìn. Ông đã bất ngờ, vì khi chưa kịp lên tiếng gì, thì Chúa Giêsu đã ngước nhìn lên và bảo “Giakêu, ông xuống đi, vì hôm nay, tôi sẽ ở lại nhà ông”. Chúa Giêsu cũng đã có một sáng kiến bất ngờ: “hôm nay tôi sẽ ở lại nhà ông”, một sáng kiến ngoài kế hoạch trên đường về Giêrusalem- một sáng kiến đảo lộn cái ý nghĩ thấp bé của loài người: “Nhà người này tội lỗi, mà ông ấy cũng ghé thăm” (Lc, 19,7). Hai sáng kiến của lòng khao khát nơi “con người bị cho là tội ác tày trời”, và của tình thương “Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi”đã gặp nhau, và trổ sinh một cuộc đổi đời kỳ diệu. Sự biến đổi thâm sâu trong cõi lòng “tên Gia kêu gian ác”, đã khiến ông thốt lên lời quyết tâm: “Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Cuộc sống mới mở ra, trước tiên là lấp lại cho đầy cái hố sâu bất công, tham nhũng, cùng với việc biết bỏ đi cái lòng ích kỷ nhỏ nhoi để nghĩ đến những người nghèo do chính tội tham nhũng của mình gây nên.
Thiết nghĩ, trước đó, ông Giakêu đại diện cho những con người chưa nhận được ánh sáng của Thiên Chúa, ánh sáng của Tin mừng. Ông đã sống và làm việc theo cách suy nghĩ rất con người tự nhiên trong cuộc chạy đua của danh vọng và sinh tồn. Sự gian ác của ông như là một quy luật tất yếu trong cuộc vật lộn với cuộc sống “mạnh được yếu thua”. Suy nghĩ ông chỉ có thế, thấp bé và ngắn ngủn như vóc dáng ông lùn tịt. Nhưng khi gặp được Đức Kitô, ông bỗng thay đổi thành một con người mới, con người của Tin Mừng, con người được ơn cứu độ. Chúa Giêsu nói: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy, bởi người nầy cũng là con cháu của tổ phụ A-bra-ham” (Lc 19 9). Câu nói nầy minh chứng cho Lời Thiên Chúa trong sách Khôn ngoan: “ Chúa không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra” (Kng 11,24), và Ngài đã sai Con của Ngài là Đức Giêsu “đến để tìm và cứu những gì đã hư mất” (Lc 19,10).. Chúa Giêsu đã tái lập cho ông một tương quan với Thiên Chúa và ông đã thể hiện sự công bằng theo lề luật Chúa- điều kiện ắt có và đủ để ông bắt đầu một cuộc làm chứng về Thiên Chúa và vào được Nước của Ngài
Vẫn còn trong tôi, trong bạn, trong thế giới loài người chúng ta, những suy nghĩ ngắn ngủn thấp bé và cách sống của con người cũ, con người gian ác tự nhiên trong cuộc sinh tồn như Gia kêu. Và luôn còn một Thiên Chúa kiên nhẫn đợi chờ con người tiếp nhận ánh sáng của cuộc sống mới nơi Đức Giêsu Kitô, nơi Tin mừng. Tiếc là đã có người nhìn thấy ánh sáng, nghe biết Tin Mừng, nhưng không tiếp nhận vì không muốn chia tay với chủ thuyết không Thiên Chúa, chưa khao khát một lối tìm về, lại muốn giữ cách sống cũ của con người cũ để được những lợi lộc của trần gian. Thiên Chúa yêu thương đã kiên trì cảnh cáo, giáo dục bằng nhiều cách. Đã có người bỗng dưng thuộc lòng tiểu sử các Thánh Tử đạo Việt Nam dịp phong thánh 19-6-1988, có cơ hội tiếp cận với Thiên Chúa, với những chứng nhân Đức Kitô, nhưng rồi sức cuốn hút của đồng tiền, quyền lực và sự thoải mái thế gian mà Satan ban tặng vẫn làm mờ mắt họ, và họ chưa tiếp nhận ánh sáng. Đã không ít cơ hội dành cho họ, đã không ít nỗ lực của những chứng nhân Chúa Kitô trong một bối cảnh chấp nhận cách kiên trì, nhưng vẫn chưa thấy nhiều tín hiệu của “Gia kêu mới”. Vì thế, cơn giận loài người của con cái Chúa đôi lúc không kiềm hãm nỗi, có khi còn buồn trách Chúa sao cứ để cho sự dữ hoành hành, cho người gian ác vẫn vênh váo trong khi vẫn phạm hết tội ác nầy đến tội ác khác trầm trọng hơn…
Bài học của Tin mừng hôm nay không cho phép tôi tiếp tục dòng suy tư theo kiểu loài người cũ rích như thế. Ý hướng của Thiên Chúa về cuộc đấu tranh cho Nước Trời là cuộc sống Chứng Nhân Chúa Kitô cách cụ thể qua đời sống công chính, đời sống mới của Tin Mừng. Không nhất thiết phải phóng loa la lên ầm ỉ để những người gian ác nghe được, nhưng là thể hiện khuôn mặt và tính cách của Đức Kitô mà họ phải nhìn thấy, nếu họ chưa muốn “leo lên cây sung của Gia kêu với thành ý kiếm tìm”.
Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi tội nhân, trong đó trước tiên là tôi, là bạn, hãy khoan nghĩ đến ai khác. Và khi chính chúng ta, đổi đời thành những “Gia kêu mới”, thì cách sống của chúng ta sẽ thu ngắn thời gian chờ đợi, tìm kiếm của Thiên Chúa trong công cuộc cứu chữa những gì đã hư mất. Nhạc Sĩ Phạm Duy cũng đã ngộ ra: “Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai. Kẻ thù ta tên nó là gian ác, tên nó là vô lương….”. Hãy giết kẻ thù ta trong chính con người ta trước đã, và mặc lấy sự công chính của Chúa Kitô, làm cánh tay, làm chứng nhân nối dài cho ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Tác động qua lại của việc làm chứng cho Thiên Chúa tương tự xảy ra giữa Chúa Giêsu và Giakêu sẽ xảy ra với chúng ta, như Thánh Phaolô quả quyết: “ Danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô” (2Th. 1,12).
Lạy Chúa, Chúa luôn kiên nhẫn đợi chờ người tội lỗi trở về, và ban ơn canh tân trong lòng họ. Xin cho chúng con biết mình tội lỗi, biết tìm về với Chúa, và được Chúa biến đổi thành con người mới, chứng nhân cho công trình cứu rỗi của Thiên Chúa, qua Chúa Kitô. Amen.
94.Tình yêu kết trái nơi con người Giakêu
(Suy niệm của Huệ Minh)
“Tình yêu đáp đền tình yêu, ân tình đền đáp ân tình”, câu chuyện Tin mừng hôm nay là câu chuyện hoán cải tận căn của một con người – một con người đã được đụng chạm tới tình yêu Giêsu.
Cũng như muôn ngàn định nghĩa về tình yêu thì “tình cho không biếu không” vẫn là định nghĩa triệt để nhất. Tình vốn dĩ là cho không biếu không - bất chấp cả dư luận, bất chấp của cải, bất chấp danh dự, bất chấp tội lỗi, bất chấp xấu xa, khiếm khuyết… bất chấp tất cả.
Câu chuyện Tin mừng hôm nay là câu chuyện tình yêu tuyệt vời; người tung, kẻ hứng thật đồng điệu và đã mang lại kết quả tốt đẹp. Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta cuộc gặp gỡ tuyệt vời giữa Chúa Giêsu và ông Giakêu.
Trước mặt người Do Thái, Giakêu là một kẻ tội lỗi. Không tội lỗi như bọn phóng túng đâu; nhưng đây còn là một tội nhân nguy hiểm. Giakêu là ty trưởng quan thuế ở một dân tộc bị ngoại bang thống trị. Và điều này có thể làm sống lại một số kinh nghiệm cũ của chúng ta. Những người thu thuế cho hạng ngoại bang làm sao không bị coi là những tên hại dân hại nước! Huống nữa Giakêu là ty trưởng quan thuế.
Hôm ấy Giakêu nghe tin Ðức Giêsu đi ngang qua Giêricô. Tò mò ông muốn thấy Người... nhưng ông lại nhỏ con chẳng sao nhìn được Người vì thiên hạ bu đầy xung quanh Người.
Tình yêu luôn có sáng kiến và đi bước trước: Trong trình thuật Tin mừng, chúng ta thấy lòng mộ mến một Rabbi Giêsu lý tưởng đã khiến Ông Giakêu, một quan chức đứng đầu thuế vụ, giàu có, chạy lên trước đám đông và trèo lên cây sung để được thấy Người. Ông trèo lên cây, nấp trong đám lá, không biết ông đang đắc ý về diệu kế cho vóc người thấp bé của ông hay đang hồi hộp sợ có ai phát hiện, nhưng có lẽ là cả hai. Chỉ còn một cách: Phải tìm chỗ đứng trên cao nhìn xuống... Chẳng có nhà lầu nào ở gần. Hơn nữa, trèo lên một thân cây có lẽ đỡ phiền phức hơn. Giakêu đã làm như thế. Nhưng này Chúa đã gọi ông: " Giakêu, xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi".
Ông ngồi trên cao và nhìn xuống. Về hình thức, tưởng chừng như Ông là người đi bước trước, nhưng nội dung câu chuyện đã cho thấy người đi bước trước là Đức Giêsu - Người đã biết Giakêu từ trước. Người đã biết những mặc cảm cũng như những khát khao trong lòng Giakêu.
Tình yêu và lòng thương xót đã khiến Đức Giêsu ngước lên nhìn Ông đang trốn mình trong tán lá – Hai thái độ - hai nội dung trái ngược: Giakêu tìm Chúa: thay vì ngước mắt lên trời, Ông lại ở ‘vị trí của mình trên cao’ nhìn xuống. Đức Giêsu tìm Giakêu: Ngài ở dưới ngước nhìn lên; Thực ra, tình yêu và lòng thương xót của Người đã cúi xuống, chiếu cố đến Giakêu – con người thấp bé về hình vóc, nghèo nàn về phẩm hạnh trong mắt người Dothái.
Tuy nhiên, xuyên suốt qua cái gì là bề ngoài giới hạn ấy, Đức Giêsu đã nhìn thấy giá trị đích thực với những phẩm chất cao quí của con người – một con người mang hình ảnh của Đấng Tạo hóa. Đức Giêsu đã đi bước trước trong việc cởi bỏ những mặc cảm tự tôn, tự ti trong lòng Giakêu để Ông mở rộng lòng mình đón nhận Chúa trong tình yêu chân chất. Ngài gọi Ông xuống, trở lại vị trị để sẵn sàng làm một cuộc hoán cải.
Ta có thể ghi nhận hai thái độ trong cuộc gặp gỡ này.
Trước hết là thái độ của những kẻ tự cho mình là công chính mà khinh dể kẻ khác, không muốn cho kẻ khác đến gặp Chúa và nhận lãnh ơn lành của Chúa. Ðó là thái độ của những kẻ lẩm bẩm trách Chúa đã niềm nở đón tiếp những người tội lỗi và ăn uống với họ, bởi vì đối với Chúa không có ai xấu xa tội lỗi đến độ không đáng được hưởng lòng nhân từ tha thứ của Chúa. Liệu chúng ta có thái độ của những kẻ tự cho mình là công chính và khinh dễ người khác không?
Thái độ thứ hai là thái độ của ông Giakêu, người thu thuế trưởng và giầu có. Ðối với người Do thái, người thu thuế là kẻ tội lỗi công khai: đó là tội phản bội quê hương cộng tác với ngoại bang, và tội gian lận tiền thuế quá mức qui định. Giakêu là người thu thuế trưởng và giầu có, sự giầu có này theo lý luận của người Do thái, chứng tỏ ông có những hành vi bất chính để làm giầu: thu nhiều, nộp ít, và như vậy ông là một người tội lỗi. Ðối với người đồng hương với Giakêu, thì tội của ông không thể tha thứ được; nhưng đối với Chúa Giêsu, Ðấng đến tìm và cứu những gì đã hư mất, thì đây là dịp để thể hiện tình thương nhân từ của Thiên Chúa.
Tình yêu kết tráí: Giakêu khát khao được nhìn thấy Đức Giêsu có lẽ vì những tiếng tăm tốt lành của Người khiến lòng Ông mộ mến và mong đợi một điều gì đó (?) Đức Giêsu tìm Giakêu như “người chăn chiên đi tìm một con chiên lạc” (x. Mt 18,12 - 14), như người đàn bà đi tìm đồng bạc đã mất” (x. Lc 15, 8 -10), như “người cha nhân hậu chờ đợi người con đi hoang trở về” (x. Lc 15, 11 - 32).
Tuy đã được nghe nhiều về Đức Giêsu, nhưng Gia kêu không ngờ ông lại được vinh dự và yêu thương như vậy. Và từ trái tim đã đụng chạm đến trái tim. Tình yêu được đáp đền bằng tình yêu đã nảy sinh hoa trái tốt đẹp: “Ông Dakêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Thật là niềm vui tràn vỡ vì “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” Cũng như Phaolô, ông Giakêu đã cảm nghiệm được món lời hậu hĩ vì được biết Đức Giêsu (x. Pl 3, 8 - 9).
Vì thế, của cải đối với ông bây giờ không còn quan trọng nữa. Trước đây ông ra tay bóc lột, tích góp bao nhiêu, thì bây giờ ông sẵn sàng cho đi tất cả. Thật là một cuộc gặp gỡ tuyệt vời! Một bước hoán cải tuyệt diệu!
Nơi con người tội lỗi Giakêu vẫn còn một khát vọng hướng về Chúa: ông muốn nhìn xem Chúa Giêsu đi qua, và đây là yếu tố căn bản để được Chúa thi ân. Từ một khát khao gặp Chúa đến việc ăn năn trở lại không có khoảng cách không vượt qua được, vì Chúa Giêsu có thể vượt qua khoảng cách này một khi con người đã có sẵn thái độ chờ mong Ngài đến. Thái độ của Giakêu có thể khuyến khích chúng ta trở về với Chúa. Ông đã thể hiện sự trở lại của mình bằng một hành động cụ thể thiết thực: phân chia nửa phần tài sản cho người nghèo và đền bù gấp bốn cho những thiệt hại ông đã gây ra cho kẻ khác.
Chúa Giêsu đã đến để tìm cứu kẻ có tội: Người là ơn cứu độ Thiên Chúa gửi đến cho loài người. Người thực hiện những điều mà sách Khôn Ngoan đã viết. Tác giả sách này chỉ biết rằng: Thiên Chúa vì toàn năng và nhân ái sẽ làm cho tội nhân trở lại. Nhưng thế nào và nhờ ai, thì chúng ta phải chờ đến khi thấy Ðức Giêsu xuất hiện và cương quyết đi lên Giêrusalem để làm công việc cứu thế... Hôm nay Người đã làm cho Giakêu trở lại đang khi Người lên Giêrusalem để chúng ta thấy trước mục đích của việc Người sẽ chịu nạn và sống lại.
Và rồi ước chi trang Tin Mừng hôm nay giúp ta thể hiện một cách cụ thể sự hoán cải của mình. Xin cho ta đừng bao giờ đùa giỡn hay lạm dụng lòng nhân từ của Chúa, nhưng luôn biết cộng tác với ơn Chúa và thành tâm trở về với Chúa.
95.Chúa Giêsu đến để cứu
(Suy niệm của Lm. Augustine)
Các bài đọc Chúa Nhật hôm nay nhấn mạnh về ơn cứu độ do Chúa Giêsu mang lại. Đó là đề tài mà Luca ưa thích. Luca thường nhắc đi nhắc lại việc Đức Giêsu đến là để cứu vớt loài người: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,32). Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Độ (Lc 2,11).
Nhưng ơn cứu độ hệ tại ở điều gì? Thiết tưởng cần phải cắt nghĩa điều này dựa vào trình thuật ông Dakêu, bởi lẽ nhiều Kitô hữu quan niệm ơn cứu độ một cách không chính xác. Họ kể ơn đó như là việc cứu lấy linh hồn mình bằng mọi giá, kể cả thực hiện điều đó vào phút chót. Hãy coi ai đó suốt đời sống xa cách Chúa trong tình trạng tội lỗi và ích kỷ, nhưng vào phút chót, người đó xưng tội. Vậy người đó được cứu! Quan niệm như vậy về ơn cứu độ quả là sơ sài. Chúa Giêsu đã không quan niệm như vậy như ta thấy trong trình thuật ông Dakêu.
Cứu độ là hiệu quả của tình yêu
1. Trước hết phải nói rằng ơn cứu độ là hiệu quả của tình yêu Thiên Chúa. Ta hiện hữu vì Thiên Chúa yêu thương ta: Chúa yêu thương mọi tạo vật và không ghét bỏ bất cứ vật gì Chúa đã tác thành: vì nếu Chúa ghét bỏ một vật gì thì Người đâu có tác tạo nó. Tình yêu Thiên Chúa mãnh liệt hơn tội lỗi loài người vì Chúa “nhắm mắt làm ngơ” trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối. Chính vì Người yêu ta nên Người muốn ta tồn tại mãi mãi. Đó chính là ơn cứu độ! “Nếu Chúa không ưng, thì làm sao một vật có thể tồn tại được.” Thật là tuyệt đẹp trang sách Khôn Ngoan ta nghe trong bài đọc 1 Chúa Nhật hôm nay.
Được cứu là được hoàn toàn triển nở
2. Ơn cứu độ gồm một phương diện bản vị mà thánh I-rê-nê diễn tả bằng một câu nói súc tích rất đẹp là “Vinh danh Thiên Chúa chính là con người đang sống” tức là được hoàn toàn là mình, được hoàn toàn triển nở. Khi sinh ta ra, Thiên Chúa Cha đã nhìn ngắm Con chí ái của Người là Đức Giêsu và Người đã tạo thành ta theo hình ảnh của Người Con chí ái đó: “Vì … Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người” (Rm 8,29). Người giao cho ta nhiệm vụ suốt đời phải thể hiện hình ảnh Đức Giêsu, mỗi người theo mức độ Chúa Cha đã ấn định. Hình ảnh đó của Đức Giêsu mà mỗi người phải thể hiện chính là nhân cách riêng của từng người, là cái tôi đích thực của mỗi người. Ta có thể dùng hình ảnh mà tông đồ Phaolô đã dùng (1Co 3,10-15) là mỗi người chúng ta phải xây dựng bản thân bằng cách sử dụng cũng những vật liệu từng hình thành nên Đức Giêsu. Không ai có thể vào thiên đàng ở với Thiên Chúa nếu không thể hiện hình ảnh Con của Người: thiếu hình ảnh đó ta sẽ không được cứu và còn phải ở luyện tội. Thiên đàng gồm đầy những người thành công, không ai thất bại cả! Ta thấy điều đó nơi ông Dakêu: ông từng là người tội lỗi vì nhắm tiền của như mục đích đời mình, ông từng sống ích kỷ. Như vậy là ông đã từng đặt mình ra ngoài kế hoạch mà Thiên Chúa dành cho ông. Kế hoạch ấy hệ ở việc tăng cường về khả năng tự hiến cho Thiên Chúa và cho đồng loại theo gương Đức Giêsu. Vì thế ôn đã “hư mất”. Đức Giêsu mang lại cho ông ơn cứu độ vì Người thúc đẩy ông mở rộng sự sống của ông ra cả hai phía trên và dưới: cần phải ra khỏi ích kỷ để bước vào tình yêu, bước ra khỏi đời sống tập trung vào mình để tiến tới một đời sống tập trung vào người khác: tức là sống theo gương mẫu của Con Thiên Chúa là Đấng đến “không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mc 10,45) Tiếp theo cuộc viếng thăm của Đức Giêsu, ông Dakêu đã trở nên một con người mới “con người sống động”: vì ông đã bắt đầu trở nên một con người qui về Thiên Chúa và tha nhân, như Đức Giêsu. Ông bắt đầu xây dựng lại cái tôi của ông từng bị méo mó do tính ích kỷ.
“Tôi là một cô gái 21 tuổi, đang học đại học, yêu đời, thích sống tự do và độc lập. Tôi đã được cơ may sinh ra trong một gia đình đạo đức; nhờ đức tin và sự hướng dẫn của cha mẹ, tình yêu Thiên Chúa và tha nhân đã đâm rễ rất sâu trong tâm hồn tôi và giúp tôi có một cuộc sống tương đối trưởng thành. Bằng việc khắc chế tình dục, mặc dầu có rất nhiều người theo đuổi tôi, tôi đã có được cuộc sống trong sạch cho đến nay.
“Cách đây 3 tháng, tôi đã bắt đầu yêu một người đàn ông 40 tuổi, có vợ và 2 con. Tại sao tôi lại sa ngã như thế? Vì trong người đàn ông này, tôi đã khám phá ra và tìm thấy sự chân thành mà những bạn đồng lứa với tôi không hề có. Ông nói với tôi ngay từ ban đầu rằng ông thích tôi và mong muốn có tôi, nhưng không bao giờ ông sẽ bỏ vợ con ông. Ông muốn tôi phải lựa chọn chơi với ông hoặc thôi.
“Tôi đã chấp nhận chơi với ông ta. Tôi ý thức rằng tôi đang sai lầm và phá vỡ tương lai của tôi; nhưng tôi không thể xa lìa ông ấy, vì tôi quá thích ông.”
Cô gái vừa mới chia sẻ những điều vừa nói đã đặt mình ra ngoài con đường cứu độ, bởi lẽ cô ta đã bước ra khỏi con đường của yêu thương, của tự hiến, để sa vào con đường tìm kiếm mình, chính là con đường ích kỷ. Như vậy là cô ta không còn xây dựng bản thân để nên giống Đức Giêsu nữa. Cô ta cần được Đức Giêsu đến viếng thăm cõi lòng mình.
Điều gì xảy ra khi Dakêu được cứu
3. Ông Dakêu đã tiếp đón Đức Giêsu đến cứu ông, tức là ông đã đặt mình trở lại trên con đường của yêu thương là chấp nhận Đức Giêsu như mẫu mực đời mình. Đó là phương diện bản vị của ơn cứu độ, là phương diện liên quan tới mối tương quan thiết thân của mỗi người với Thiên Chúa. Nhưng ông Dakêu còn đi xa hơn khi nói: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Ông ta đổi mới tận căn các mối tương quan ông có với đồng loại. Ông bắt đầu thể hiện đức ái (= ông bố thí nửa gia tài của ông cho người nghèo) và thực thi công bằng bằng cách đền bù lại những thiệt hại ông đã gây nên cho người khác.
Đó là phương diện cộng đoàn của ơn cứu độ, là phục hồi lại tình huynh đệ giữa con người với nhau. Ông Dakêu nhìn nhận ông đã đối xử với người lân cận như kẻ thù địch thay vì như người anh em: ông đã bóc lột họ. Đó chính là điều đã đưa ông bước ra ngoài con đường cứu độ và khiến ông phải “hư mất”. Phúc thay cho ông, vì nay Đức Giêsu đến cứu ông bằng cách đặt ông trở về con đường của tình huynh đệ. Ơn cứu độ đòi ta không những phải lo cho mối tương quan bản thân ta với Thiên Chúa mà còn phải lo cho mối tương quan của ta với anh em đồng loại. Tình yêu và công bằng đối với anh chị em đồng loại là hai phần thiết yếu của ơn cứu độ. Điều đó Luca nói rất rõ trong trình thuật Dakêu.
Không cần phải đi đâu xa để gặp gỡ “tha nhân” là người mà bạn có lẽ “đã không thấy”: đó là “người duy nhất” được Thiên Chúa sai đến với bạn vào thời điểm đích xác này: “Sáng hôm đó khi ra khỏi nhà tôi gặp một người trẻ tới xin bố thí. Tôi để ý nhìn thấy đó là một cậu con trai tuổi chừng 20, rất dơ, như mơi vượt ngục và đang bị lùng bắt. Cặp mắt đẹp đẽ của chàng như van xin: “Tôi đói!” Tôi dẫn chàng tới tiệm bánh mì vì chàng chỉ xin tôi bánh mì mà thôi. Thấy chàng thực sự đói, tôi đã cho thêm ít kẹo xô-cô-la. Nhưng bước ra khỏi tiệm, chàng vẫn còn tiếp tục theo tôi, miệng nhai ổ bánh mì. Chàng cho tôi biết chàng từ tỉnh Lille tới. Tôi gợi ý để chàng nghĩ tới mẹ chàng với những âu lo vì chàng. Tôi nói như người mẹ trong gia đình trách móc người con đi hoang. Tôi đã hoàn toàn thu hút sự chú ý của chàng. Chàng nhìn tôi với bộ mặt sửng sốt đầy thắc mắc. Tôi được biết chàng từng ngủ nơi đầu đường xó chợ. Tôi cho chàng địa chỉ ở thành phố Nice nơi chàng có thể xin vé ăn tiệm do một xứ đạo cung cấp. Chàng ngồi ghi địa chỉ và chuyển sang một câu chuyện nghiêm chỉnh. Tôi năn nỉ yêu cầu chàng hãy trở về ngay thành phố Lille để mẹ chàng an tâm. Chàng có vẻ cảm động trước những lý lẽ tôi nêu. Tôi hỏi cho biết tên riêng của chàng và được biết nó trùng hợp với tên riêng của đứa con trai út của tôi là Phát (Patrice). Từ lúc đó tôi gọi chàng bằng tên Phát. Tôi thấy chàng cảm động và suy nghĩ đăm chiêu. Lập tức chàng quyết định lên đường trở về thành phố Lille nhờ còn giữ vé xe trở về. Khi hướng tới nhà ga, chàng xin phép để ôm hôn tôi mà nói: “Em sẽ không bao giờ quên được chị…” Khi cất bước, tôi quay đầu lại để nhìn theo chàng. Tôi thấy chàng chạy lại phía tôi, tay cầm một chiếc móc chìa khóa bằng bạc rất đẹp. Thoạt tiên tôi không muốn nhận kỷ vật thiết thân đẹp như vậy, sợ chàng phải mất mát vì tôi. Nhưng chàng mạnh mẽ năn nỉ tôi khi nói: “Đó là đồ vật quí báu duy nhất em hiện sở hữu. Em từng gắn bó với nó nhưng chị có quyền trên nó: chị đã cứu em, chị có biết không?” Tôi hiểu rằng tôi sẽ xúc phạm tới chàng nếu tôi từ chối không nhận lấy cái móc chìa khóa chàng đặt trong lòng bàn tay tôi. Một lần nữa chàng ôm hôn tôi, cho tôi thấy rõ dấu chỉ của niềm vui, và chàng đi đến nhà ga với bước đi vững vàng và khẳng khái.”
96. Nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa
(Suy niệm của Khiết Tâm)
Harold Hughes đã viết về lúc còn trẻ như sau:
“Tôi từng là một kẻ nghiện rượu, gian dối và lừa đảo người khác.” Một quãng cuộc đời ông tưởng rằng đã phá đổ và đánh mất tất cả. Một buổi tối nọ, ông đã vào bồn tắm và định tâm sẽ tự sát. Ông lấy khẩu súng và chỉa mũi súng vào miệng ông. Khi Hughes đang định bóp cò súng thì ông chợt nhớ lại tự hại thân thể mình thì có tội. Ông viện mọi lý do giãi bày với Chúa tại sao ông làm như thế. Sau khi giãi bày với Chúa, ông đã quì xuống đất và cúi đầu xuống. Ông nói chuyện với Thiên Chúa và khóc nức nở. Trong tâm hồn, ông cảm thấy một cảm nghiệm rất sâu xa mà ông không thể nào quên được. Ông viết lại cảm nghiệm này như sau: “Một cảm nghiệm bình an dạt dào bừng lên trong tâm hồn tôi... Tất cả tội lỗi trong mình tôi như tan biến hết... Thiên Chúa như đang cúi xuống và chạm đến tôi... Như một đứa con đang run sợ đi lạc trong cơn bão tố và nó bất chợt tìm thấy được bàn tay rất ấm áp của Cha nó... Quì trên sàn nhà phòng vệ sinh, tôi đã dâng mình cho Chúa và thưa cùng Chúa rằng tôi sẽ làm tất cả mọi sự gì Chúa muốn.”
Chính giây phút linh thiêng cảm động đó đã biết đổi của đời của Harold Hughes. Mười năm về sau, ông được bầu làm thống đốc tiểu bang Iowa. Mười bảy năm sau đó, ông được bầu làm thượng nghị sĩ Hoa kỳ. Khi về hưu, ông đã tham gia vào công việc giúp những người nghiện rượu và hút sách.
Câu chuyện về Harold Hughes giống với câu chuyện ông Giakêu trong bài Phúc âm hôm nay.Đó là một câu chuyện kể về một người đã được ơn biến đổi từ một cuộc đời tội lỗi thành một cuộc sống phục vụ. Đó là một câu chuyện về một người đã biết mở rộng cửa lòng đón nhận Thiên Chúa và được tràn đầy niềm vui hạnh phúc mà ông không hề tưởng sẽ được.
Chúa Giêsu muốn đi vào trong cuộc đời chúng ta và biến đổi chúng trở nên tốt hơn như Ngài đã làm cho Giakêu. Chúa Giêsu không bao giờ cưỡng ép chúng ta, hoàn toàn tôn trọng tự do của chúng ta. Trong sinh hoạt hằng ngày, Chúa Giêsu có thể bước vào cuộc sống mỗi ngưòi chúng ta như Ngài đã bước vào cuộc sống của Giakêu. Chúng ta chỉ cần bám lấy Ngài, và Ngài sẽ ban cho chúng ta mọi điều như Ngài đã từng làm cho những người khác.
Chúa Giêsu có thể bước vào cuộc sống chúng ta, gần gủi với chúng ta qua ba trường hợp nầy. Thứ nhất Chúa Giêsu có thể nói với chúng ta khi chúng ta lắng nghe Lời Chúa. Như vậy Chúa có dịp bước vào tâm hồn chúng ta. Thứ hai là lúc chúng ta đón rước Chúa Giêsu Thánh thể. Chúa Giêsu nói: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. (Jn 6:56). Sau hết, Chúa Giêsu bước vào trong cuộc sống của chúng ta lúc chúng ta gặp những người nghèo khổ túng quẫn. Chúa Giêsu dạy: “Ai làm cho một trong những kẻ bé mọn này là làm cho chính Ta.” (Mt 25:40)
Khi gặp Ngài, chúng ta hãy xin Ngài làm cho chúng ta những điều Ngài đã làm cho Hughes và Giakêu. Đó là sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay. Đó là điều chúng ta đang cùng nhau cử hành trong phụng vụ hôm nay.
* CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI
1.Nguồn nước mắt
((Suy niệm của ĐGM. Gioan B. Bùi Tuần)
Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh. Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường gây trong tôi nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Thứ hình ảnh đó là các nghĩa trang.
Tôi đã viếng nhiều nghĩa trang. Tại Việt Nam, tại Ý, tại Đức, tại Pháp, tại Nga, tại Vaticăng.
Tôi đến viếng các nghĩa trang, chủ ý để suy gẫm, cầu nguyện, và cũng để tìm cảm nghiệm. Có thứ cảm nghiệm chỉ tìm được ở nghĩa trang. Tôi đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy, khi tôi viết luận án: “Đau khổ của tình yêu”.
Đã có những cảm nghiệm độc đáo in rất sâu vào lòng tôi từ các nghĩa trang. Đặc biệt là từ những dòng nước mắt ở nghĩa trang.
Có những nước mắt của tình yêu dạt dào.
Có những nước mắt của nỗi buồn, nhung nhớ.
Có những nước mắt của lòng hối hận khôn nguôi.
Có những nước mắt của tấm lòng tha thứ muộn màng.
Có những nước mắt của ân tình, hiếu nghĩa.
Có những nước mắt của niềm tin sâu sắc mong chờ.
Khi đi sâu hơn một chút giữa các dòng nước mắt, tôi có thể cảm nghiệm được một số khám phá quan trọng:
Khám phá ra những chân lý nhân sinh.
Khám phá ra những hy vọng ứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Khám phá ra chân lý.
Những nước mắt ở nghĩa trang là những tiễn biệt thân thiết. Tiễn biệt người đã chết, người vĩnh viễn ra đi. Sự chết là một sự thật không cần bàn tới. Nhưng đó lại là một chân lý cực kỳ quan trọng.
Bất cứ ai, rồi cũng phải chết. Cái chết đáng sợ. Nhưng đáng sợ hơn lại là cái gì đàng sau cái chết. Đáng sợ, vì nó quá bất ngờ. Biết đâu, trong số mồ mả, cũng có những hồn vì thế mà đang khóc ròng rã đêm ngày.
Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn Phúc Âm: “Có một ông nhà giàu nọ, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu đó. Anh thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho đỡ đói. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.
Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham.
Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. Dưới địa ngục, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Apraham ở trên đàng xa, và thấy Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, xin sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm.
Ông Apraham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi. Còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm quá lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16,19-26).
Với dụ ngôn trên, Chúa dạy ta những chân lý quan trọng. Ai cũng phải chết. Nhưng sự Chúa đánh giá từng người sau khi chết thường vượt quá sự con người suy nghĩ. Người phú hộ đó sống đời này được đầy đủ, sung sướng, an nhàn, xét mình chẳng thấy gì là xúc phạm Chúa, chẳng thấy gì là làm hại ai. Nhưng người phú hộ đó đã bị rơi vào hoả ngục. Chỉ vì sống thiếu thương cảm, thiếu liên đới, thiếu chia sẻ, thiếu xót thương. Trái lại, người ăn mày kia đã được lên thiên đàng. Vì dù bị chìm trong cảnh khổ, anh đã sống nêu gương về đức khiêm nhường, hiền lành và chân thật. Không được người dư dật chia sẻ, anh phải sống đói khổ, nhưng anh vẫn chia sẻ với mấy con chó đói ăn.
Nhờ ơn Chúa, những sự thực như trên đã được nhiều người nhận ra một cách sâu sắc trong những dòng nước mắt tại nghĩa trang. Những chân lý đó đã thay đổi đời họ.
Ngoài ra, biết bao người nằm trong nghĩa trang và khóc tại nghĩa trang cũng đã tìm được hy vọng cuộc đời qua một ngả khác.
Khám phá ra hy vọng
Không thiếu trường hợp, tôi đã chứng kiến những cuộc trở về. Họ đã trở về từ những dòng nước mắt của một người nào đó. Người đó cầu nguyện cho họ. Người đó khóc với họ thay vì nói với họ.
Một lúc bất ngờ, lời Chúa Giêsu phán xưa trở thành chuyện đời họ. Chúa an ủi họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Hãy về học biết ý nghĩa của câu này: Cha muốn lòng nhân, chứ đâu cần của lễ. Vì Cha đến, không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).
Những lời dịu dàng đó đã đi sâu vào lòng họ. Cõi lòng vốn đóng kín, khoá chặt, chất chứa những u uất, thất vọng, nay mở ra để hy vọng tràn vào.
Họ cảm thấy mình được xót thương, được yêu thương. Họ sám hối. Họ cảm thấy mình được tha thứ. Và chính họ cũng dễ dàng tha thứ. Một sự bình an lạ lùng trùm phủ tâm hồn họ. Họ ra đi bình an trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối ở Chúa giàu lòng thương xót. Họ khóc vì xúc động, đây là những dòng nước mắt đầy tình cảm tạ.
Những người chứng kiến cũng không cầm được nước mắt. Những dòng nước mắt ấy không nói nên lời, nhưng ngọt ngào niềm hy vọng cứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Tại những nghĩa trang, thấy người ta khóc, nhất là khi chính mình khóc, tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu nói: Cha thương con, Cha thương mọi người. Cùng với lời Chúa trao ban tình yêu, tôi khám phá ra chính mình tôi, với những vết thương, với những tang tóc đau buồn. Khám phá ra chính mình trong sự thực trần trụi.
Khám phá để giúp trút bỏ những cái nhìn ảo. Nhìn ảo về mình. Nhìn ảo về những công việc của mình. Nhìn ảo về người khác. Nhìn ảo về cuộc đời.
Để cũng nhận ra rằng: dù với những yếu đuối, tội lỗi, mong manh, tôi vẫn được Chúa gọi với tình xót thương:
Gọi hãy cảm thương.
Gọi hãy chia sẻ.
Gọi hãy trở về.
Gọi hãy hiến dâng.
Gọi hãy cầu nguyện và đền tạ.
Gọi hãy sám hối và tín thác.
Gọi hãy vượt qua sự chết và mọi nghĩa trang, để bay vào cõi phúc đời đời.
Ơn gọi đó sẽ thực hiện được, miễn là tôi biết nhờ ơn Chúa, ở lại trong tình Chúa yêu thương. Như lời Chúa kêu gọi: “Hãy ở lại trong Cha, như Cha ở lại trong các con” (Ga 15,4).
2.Nghĩ về sự chết
((Suy niệm của ĐGM. Gioan B. Bùi Tuần)
Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào. Chắc chắn tôi phải chết. Đó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý này, không ai đã dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi. Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu hỏi:
Đâu là ý nghĩa cuộc sống?
Cuộc đời đi về đâu?
Bên kia sự chết có gì không?
Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.
Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý. Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.
Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.
Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Đã tới lúc vĩnh biệt. Đã tới lúc ra đi. Đã tới lúc phải bỏ lại tất cả. Đã tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.
Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.
Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra:
Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban.
Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không.
Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.
Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi. Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.
Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.
Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.
Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:
1. Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng phải vượt qua, để về với Cha trên trời.
Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó. Để đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Đón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Điều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.
2. Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Đấng sai mình.
Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Đức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?
3. Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Đấng đã trao cho mình điều răn mới.
Điều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34).
Để hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:
“Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa”(1Ga 3,14-19).
“Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,19-21)
Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ. Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.
Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại. Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.
Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.
3.Lễ Các Linh Hồn
((Suy niệm của ĐHY. Phêrô Nguyễn Văn Nhơn)
Anh chị em thân mến,
Biến cố ngày 11/9 tại Hoa Kỳ đã làm chúng ta bàng hoàng. Mỗi lần nhắc lại hoặc thấy những hình ảnh đó, chúng ta không khỏi buồn sầu, lo lắng, tức giận. Có thể mỗi người nhìn biến cố đó với một góc độ khác nhau. Nhưng có một góc độ có lẽ ít người nghĩ đến. và đó là vấn đề mà chúng ta sẽ cùng nhau chia sẻ.
Trên thế giới từ xưa tới nay, không phải chỉ có biến cố ngày 11.9, mà còn vô vàn biến cố khác, chẳng hạn sự kiện hai quả bom nguyên tử ở Nhật Bản năm 1945. có một câu hỏi được đặt ra: Thế thì số phận của những người đã chết trong các biến cố đó ra sao?
Ngày nay người ta chỉ nói đến sự trả thù, phải trả thù cho những người chết oan, trả thù cho những người đau khổ. Công lý thế gian, công lý của con người thực hiện ra sao chúng ta không biết, nhưng về mặt đức tin, chúng ta sẽ suy nghĩ như thế nào??? Phải dựa vào Lời Chúa, vì chính Chúa muốn chúng ta hãy dùng Lời của Ngài để an ủi nhau, cách riêng trong những biến cố thảm thương như vậy.
Bài đọc I của ngày lễ hôm nay, cách nào đó, khiến chúng ta phải suy nghĩ. vì nhiều người chết rất bi thương, cái chết không xứng hợp chút nào với đời sống của họ, người ta chỉ còn biết thương tiếc và nghĩ rằng như thế là chấm dứt một cuộc đời, chấm dứt cách buồn thảm, tràn đầy thất vọng. Thế nhưng Lời chúa lại nói với chúng ta: Những người công chính khi chết đi, họ sẽ được đưa vào trong vinh quang của Thiên Chúa, nếu cái chết của họ hay sự đau khổ của họ xảy đến cũng giống như vàng phải được trui luyện trong lửa, để chắt ra chất vàng tinh ròng và loại bỏ những thứ cặn bã.
Con người mà Thiên Chúa đã tạo dựng, yêu thương và cứu chuộc. chính là vàng. (Nếu chúng ta có thì giờ để hiểu rằng, trên Thiên Quốc có biết bao nhiêu người công chính, bao nhiêu con người đã được Thiên Chúa rước và cho vào trong vinh quang của Ngài. Đó chỉ mới nói về những con người được tạo dựng ở trần thế. Còn thế giới của thiên thần, thế giới thần linh, tất cả đều ở trong vinh quang đó). Có thể nào chúng ta vào Nước Trời với một tấm áo đầy bụi bặm, nhơ bẩn. phải được tinh luyện, sự tinh luyện đó không phải bởi sức lực của chúng ta, nếu bởi chúng ta chắc chúng ta sẽ thất vọng vì thấy rõ sự yếu đuối của mình, thì đây, thánh Luca nói trong bài Phúc Âm của ngài: Khi suy niệm về sự chết, khi cầu nguyện cho những người đã chết, bao giờ chúng ta cũng phải đặt trên nền tảng Đức Kitô Tử Nạn-Phục Sinh, không đặt trên nền tảng và không đi từ chân lý đó thì không có một thắc mắc hay một vấn nạn nào được giải quyết, được soi sáng.
Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, cao điểm được thể hiện trên núi Canvariô (dù rằng chưa Phục Sinh), Chúa đã biểu lộ vinh quang của Ngài như lời thánh Gioan: Chính khi Ngài được treo dựng lên nơi cao, vinh quang chói ngời của Ngài sẽ tỏa ra. Vậy thánh Luca cho chúng ta thấy: một thế giới sa đọa tội lỗi, (và thế giới đó) đã nhạo cười, đã đóng đinh Chúa Giêsu và đưa Ngài đến cái chết thảm thê trên thập giá. Trong thế giới đó, còn có những con người thiện tâm, có những con người sẵn sàng hoán cải, dù rằng trước mắt thế gian con người đó xứng đáng với cái chết (vì cũng đã bị treo trên thập giá). Nhưng Chúa Giêsu nói: Quả thật, ngày hôm nay ngươi sẽ được vào trong Nước Thiên Đàng.
Nhưng nếu chỉ thấy Ngài chịu chết thì làm sao chúng ta được sống lại? Cái chết của Ngài đem đến những gì cho chúng ta? Vì nếu Ngài chết mà Ngài không sống lại thì cái chết của Ngài cũng vô ích, tình thương của Ngài cũng vô ích!
Chúa Giêsu chết và Ngài đã Phục Sinh. Chính Ngài là đầu mối của tất cả mọi việc, chính nơi Ngài mà chúng ta (những người cách này hay cách khác đã tin vào Ngài) tìm được niềm tin và hy vọng. Nhưng không chỉ những người được Rửa Tội mới gọi là tin vào Ngài. Có những người rất thành tâm, thiện chí, nhưng vì một hoàn cảnh nào đó. họ vẫn cố gắng sống theo lương tâm, Ngài vẫn đón nhận trong tình yêu và trong Ơn Cứu Chuộc của Ngài.
Chúng ta cám ơn người trộm “lành”, vì nhờ có anh, như một dấu chứng nếu chúng ta tin vào Ngài “Lạy Thầy, khi vào Nước Thiên Đàng xin nhớ đến con”. Anh ấy biết gì về Chúa Giêsu? Biết gì về Mầu Nhiệm Nhập Thể? Biết gì về Mầu Nhiệm Cứu Chuộc? Biết gì về Mầu Nhiệm sống lại??? Nhưng anh đại diện cho một số đông trên trần thế này, một cách nào đó vẫn hướng về một sự linh thiêng, hướng về một Đấng Tối Cao, muốn làm những việc tốt lành. Những người đó sẽ được Máu của Chúa đổ ra để thanh tẩy tội lỗi và cho vào Nước Trời. 6000 người chết trong một khoảnh khắc, chắc chắn có một số đông được tình yêu và Máu Chúa đổ ra để xóa tội lỗi và cứu chuộc họ. Tại sao chúng ta cứ muốn ấn định cho Thiên Chúa những người được vào Nước Trời, mà không đặt niềm tin của chúng ta nơi lượng khoan hồng từ bi và nơi công lao của Ngài? Vì Ngài đã hạ mình chịu chết trên thập giá, nên Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài và đặt mọi loài dưới quyền của Ngài, trong cái chết và sự Phục Sinh của Ngài, Ngài xin với Chúa Cha là hãy tha thứ, hãy cứu độ, hãy chuộc lại hết những tâm hồn (lúc này hay lúc khác), đã có sự tin tưởng vào Ngài. Từ đó chúng ta thấy rằng sẽ không bao giờ tìm được sự công bằng nơi trần thế này, sự công bằng và yêu thương chỉ tìm thấy nơi một mình Chúa mà thôi.
Nếu có được niềm tin đó, cuộc đời trở nên sáng tỏ hơn. Đứng trước các biến cố, chúng ta đỡ buồn phiền thất vọng, chúng ta thấy cuộc đời vẫn đáng sống và những đau khổ xảy đến triền miên vẫn có ý nghĩa, vẫn có giá trị, vì chúng ta được tham dự vào Mầu Nhiệm Tử Nạn của Đức Kitô để được sống lại với Ngài.
Vậy trong tháng các linh hồn, với niềm tin đó chúng ta sẽ thấy được những điều gì?
1) Những linh hồn trong lửa luyện ngục là những vị thánh, tuy không được tuyên phong trên bàn thờ, cũng chưa được hưởng vinh quang, nhưng phần rỗi thì đã chắc chắn. Không phải vì họ ít tội, nhưng vì tình yêu của Thiên Chúa và công nghiệp của Con Một Ngài. Giờ đây họ chịu thanh luyện để trở nên tinh ròng, để mang một chiếc áo cưới thật mới mẻ vào dự tiệc cưới, vào Nước Trời. Không ai có thể chia cắt, không gì làm họ mất niềm hy vọng vào đời sống vinh phúc đó.
2) Đàng khác, các linh hồn giờ đây không làm được gì cho họ nữa, vì thời gian để lập công nghiệp đã qua (không phải họ không biết, nhưng cũng giống chúng ta biết rằng giây phút đang sống là thời gian tích lũy công phúc, là thời gian chuẩn bị để được vào Nước Chúa. Chúng ta còn có thì giờ, chúng ta hãy làm). Các vị ấy chỉ còn trông cậy vào lòng nhân thứ của Chúa, Ngài kêu gọi và ban cho chúng ta được tham dự và tiếp tục sứ mạng cứu độ qua lời cầu nguyện, qua sự hy sinh hãm mình, chúng ta sẽ giúp được các linh hồn đó.
Lẽ dĩ nhiên đừng nghĩ rằng Chúa phải chờ đời những lời cầu nguyện của chúng ta để Chúa cứu vớt, Ngài đã cứu vớt rồi. Nhưng Chúa muốn chúng ta sống trong sự thông hiệp, muốn cho chúng ta có sự liên đới hữu hiệu, Ngài tạo điều kiện để chúng ta thấy rằng: thì ra chúng ta còn có thể làm được rất nhiều cho những người thân yêu của chúng ta. Biết đâu khi họ còn sống, chúng ta chưa có một tâm tình, chúng ta chưa đối xử tốt, thì giờ đây chúng ta có một cơ hội rất tốt.
Phát xuất từ những tâm tình trên, cách đây hơn 1000 năm, ngày lễ cầu cho các linh hồn 02.11 được thiết lập, đó là niềm an ủi rất lớn cho những người còn sống, cho chúng ta có một phương tiện tuyệt hảo để yêu thương và biểu lộ tình yêu, cứu giúp những người mình yêu thương. Ngày hôm nay, trong tháng này và suốt cả cuộc đời, chúng ta hãy tập nhân đức yêu thương, nhớ đến các linh hồn.
(Cách đây 100 năm, cũng có một nhà dòng được thiết lập chỉ nhằm mục đích để cầu nguyện, ăn chay, hãm mình cho các linh hồn trong lửa luyện ngục, mà điều đó tất cả chúng ta đều làm được).
3. Anh chị em nghĩ sao nếu những người nhờ lời cầu nguyện chúng ta, đã được về Thiên Đàng, được hưởng vinh quang Chúa mà các ngài lại quên chúng ta??? Chắc chắn trong vinh quang (và sự khôn ngoan) của Thiên Chúa, các ngài biết dưới trần thế này, đã có những con người yêu thương, cầu nguyện, hy sinh cho các ngài. chắc chắn lời cầu nguyện của các ngài cho chúng ta sẽ có uy tín và hiệu quả (lời cầu nguyện của chúng ta lúc thì chia trí, lúc thì không xứng đáng. đủ hết mọi lý do). Trong lịch sử Giáo Hội, nhiều biến cố cho thấy rằng: các thánh thông công là sự sống rất sinh động, không phải là một chân lý chết ngắt, nhưng là sự sống được diễn tả mỗi ngày. Khi chúng ta ngồi đây, chúng ta vẫn liên kết với các thánh trên trời và các linh hồn trong lửa luyện ngục để cầu nguyện và nâng đỡ nhau. Sống trong một sự liên đới như vậy, anh chị em có thấy chúng ta là những con người diễm phúc, là những con người rất giàu tình yêu thương, là những con người được nâng đỡ???
Khi tôi nói những điều này, các bạn trẻ lại càng phải suy nghĩ nhiều hơn, để thấy rằng trong từng giây phút, chúng ta phải sống cho có ý nghĩa, vì từng giây phút của cuộc sống, có thể xây dựng hạnh phúc và phần rỗi cho rất nhiều người và cho chính bản thân chúng ta. Nhờ lời chuyển cầu của các thánh và các linh hồn trong lửa luyện tội (chúng ta tin rằng) chúng ta vẫn tiếp tục đón nhận hồng ân Chúa, đón nhận cách đặc biệt mỗi lần chúng ta cử hành thánh lễ, là lễ tế tạ ơn đồng thời là lễ tế đền tội cho chúng ta.
4.Lễ Các Linh Hồn
((Suy niệm của ĐGM. Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản)
(Rm 5,5-11; Ga 17, 24-26)
Anh chị em thân mến,
Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe là đoạn cuối của Lời nguyện Hiến Tế. Trong bữa Tiệc Ly, sau khi rửa chân cho các môn đệ để dạy cho các ngài bài học yêu thương phục vụ trong khiêm tốn, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ về con đường tiến về nhà Cha: Ngài chính là con đường dẫn mọi người đến với Thiên Chúa. Không ai có thể đến được với Cha mà không qua Ngài. Ngài chính là vinh quang của Thiên Chúa Cha, ai thấy Ngài là thấy Cha. Ngài còn hứa ban Thánh Thần cho những ai yêu mến Ngài và tuân giữ mệnh lệnh của Ngài. Chúa Giêsu còn nói đến mối liên hệ giữa Ngài và các môn đệ qua hình ảnh của cành nho gắn liền với thân nho. Cành nào kết hợp với cây, sẽ được cây nuôi dưỡng và sinh nhiều hoa trái. Cành nào lìa cây sẽ bị khô héo. Vì người môn đệ gắn liền với cuộc sống của Thầy, nên cũng được chia sẻ vinh quang cũng như sự đau khổ với Thầy. Nếu thế gian có ghét các môn đệ, là bởi họ không chấp nhận Chúa Giêsu, và bởi vì các ngài không thuộc về thế gian. Và Chúa Giêsu an ủi các môn đệ: “Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an.Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên Thầy đã thắng thế gian” (16,33).
Sau đó, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và cầu nguyện: “Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha. Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất vầ chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô».
Chúa Giêsu có quyền ban sự sống đời đời cho những ai đến với Người. Và sự sống đời đời được ban cho người môn đệ là họ nhận biết Thiên Chúa Cha, Đấng Duy Nhất, để ngoài Ngài ra không còn tôn thờ đấng nào khác. Và nhận biết Đức Giêsu Kitô là Đấng Chúa Cha sai đến trần gian làm Đấng Cứu Chuộc. Để có thể nhận biết Thiên Chúa Cha và Đấng Người sai đến là Đức Giêsu Kitô, con người phải biết đón nhận, tin vào Ngài, để Ngài dạy cho chúng ta cách sống của người con Thiên Chúa.
Và Chúa Giêsu cầu nguyện tiếp: «Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yeu thương con trước khi thế gian được tạo thành».
Người môn đệ được chia sẻ điều kiện sống của Thầy, sự vâng phục trong sự hạ mình và sự tôn vinh trong vinh quang.Sự chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Giêsu Kitô cũng là sự hiểu biết về tình yêu liên kết Chúa Cha và Chúa Con: chính trong sự hiệp nhất này mà nền tảng của sự hiện hữu con người tìm thấy chỗ đứng của mình.
Vì người tin vào Chúa Giêsu và trở thành môn đệ của Ngài, hiện diện trong Chúa Ba Ngôi, nên người đó được tham dự vào sự sống của Thiên Cha: đó là sự sống đời đời. Chúa Giêsu ao ước là Ngài ở đâu thì người tin vào Ngài cũng được ở đó. Nơ Chúa Giêsu ở không phải tùy thuộc vào nơi chốn, vì Thiên Chúa ở khắp mọi nơi và Chúa Giêsu luôn hiện diện với Chúa Cha.khi Chúa nhập thể làm người, Ngài hiện diện hữu hình giữa các môn đệ và vẫn liên kết với Thiên Chúa Cha. Khi Ngài chịu an táng trong mồ, các môn đệ không thấy Ngài, nhưng Ngài vẫn luôn hiện diện giữa các ông trong sự vắng mặt. Bằng chứng là sau khi sống lại, Chúa hiện ra với các môn đệ và Ngài biết rõ những điều họ lo lắng, nghi ngờ. Sau khi về trời ngự bên hữu Thiên Chúa, hứa Giêsu vẫn tiếp tục hiện diện bên các môn đệ trong Thánh Thần, Đấng làm cho các môn đệ nhớ lại Lời Chúa Giêsu và bầu cử cho họ trước mặt Thiên Chúa.
Vì thế, trong khi đi rao giảng, các môn đệ vẫn luôn cảm nhận được sự hiện diện của Thầy Chí thánh bên cạnh. Dẫu cho các ngài sống trong điều kiện thuận tiện, hay chịu thử thách trăm bề, các ngài vẫn luôn gắn bó với Chúa Giêsu.
Anh chị em thân mến,
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu giới thiệu Ngài là “Bánh Hằng Sống từ trời xuống, ai ăn bánh này thì có sự sống đời đời. Và bánh ta sẽ ban, chính là thịt TA, để cho thế gian được sống”. Ngài còn nhấn mạnh: “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết”.
Bánh Hằng Sống là lương thực làm cho sống. Không phải như mân trong sa mạc chỉ nuôi dưỡng phần xác, Bánh Hằng Sống làm cho người ăn có được sự sống đời đời. Câu hỏi “làm thế nào có được sự sống đời đời”, là thao thức của nhiều người tìm đến với Chúa Giêsu. Người hướng dẫn họ tuân giữ Lề Luật theo một tinh thần mới, hoán cải đời sống và tin vào Đấng được Thiên Chúa sai đến.
Tin vào Chúa Giêsu không chỉ là một sự chấp nhận của lý trí, nhưng còn phải sống theo Lời Người và kết hợp mật thiết với Người. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa nhấn mạnh đến việc “ăn thịt và uống máu Người”
“Ăn thịt và uống máu Người” nói lên sự hiệp thông giữa người môn đệ và Chúa Giêsu, giống như hình ảnh cành nho gắn liền với thân nho. Những ai ăn và uống máu Người thì có sự sống của Người thông truyền ngay khi còn ở đời này. Sự sống này không bị gián đoạn do cái chết, vì Chúa hứa cho sống lại trong ngày sau hết. Giữa khoảng cách của cái chết và sự sống lại trong ngày sau hết, sự sống của Chúa Giêsu vẫn tiếp tục nuôi dưỡng người tín hữu.
Tin vào Chúa Giêsu mang lại sự sống đời đời; “Như ông Môi-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc. Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3, 14-16)
Anh chị em thân mến,
những người thân của chúng ta đã tin vào Chúa Giêsu, đã cố gắng cả cuộc đời mình để nên hoàn thiện như Chúa Cha, Đấng ngự trên trời, đã nổ lực không ngừng vượt lên trên những sự yếu đuối trong thân phận con người để bươc theo Chúa Giêsu trong đời sống thực tế của mình. Chỉ có Chúa mới biết sự thiện chí và lòng trung thành của mỗi người. Và cũng chỉ có Chúa đánh giá đúng mức những điều tốt đẹp hay sai lỗi.
Chúng ta tin rằng những người thân của chúng ta đã từng sống trong đức tin, sống trong niềm trông cậy, sống trong sự hoán cải không ngừng, chắc chắn đã nhận biết Thiên Chúa là Đấng hay thương xót, biết Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc. Dẫu cho những người thân của chúng ta bước vào một thế giới khác, một cách hiện hữu khác, chúng ta vẫn tin rằng các ngài đang thông hiệp với sự sống của Thiên Chúa. Và vì thế, chúng ta tiếp tục cầu nguyện để họ được luôn sống trong sự sống đời đời trong khi trông chờ ngày sống lại cùng với Chúa Giêsu.
Trong tháng cầu nguyện cho các linh hồn, Giáo hội tạo điều kiện cho chúng ta có dịp thông công với những người đã khuất. Vì thé từ trưa ngày lễ Các Thánh đến nửa đêm ngày cầu cho các tín hữu đã qua đời, nếu ai viếng nhà thờ, thì được ơn đại xá. Từ ngày 01 đến hết ngày 08, nếu ai viếng nghĩa địa, cầu nguỵen cho các linh hồn cũng được ơn đại xá. Những ơn đại xá này sẽ được nhường lại cho các linh hồn.
Xin Chúa cho chúng ta luôn biết sống kết hợp với Chúa Ba Ngôi và với những anh chị em đang chịu thanh luyện.
Xin Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em.
5.Cầu cho các tín hữu đã qua đời
(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Minh)
“Con chim có tổ, con người có cội có nguồn”
Bầu khí của Thánh lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời hôm nay cô đọng những nét đẹp của nếp sống cổ Truyền Việt Nam: hướng về cội nguồn, tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, với bậc sinh thành, anh chị em, bằng những lời cầu nguyện dâng lên trước toà Chúa để các ngài được Chúa đưa vào cõi sống vĩnh hằng, đầy ánh sáng và bình an. Đó là thể hiện rõ chất “Đạo”: Đạo làm người – Đạo Hiếu, như ca dao Việt Nam có câu:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Đối với dân tộc Việt Nam nói chung, và đối với người Công giáo nói riêng thì đạo hiếu đứng hàng đầu trong các giới răn Chúa dạy trong mối tương quan với con người, đó là: “Ngươi phải thảo cha kính mẹ”.
Chúng ta còn nhớ, trên giường hấp hối, Thánh Monica đã nhắn nhủ con Ngài là Augustinô như sau: “Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi con tới bàn tiệc thánh”.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta, cũng đã được nghe những lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta trước khi họ từ giã cõi đời. Nhưng “xa mặt cách lòng”, nhiều người trong chúng ta lãng quên những lời van xin thống thiết ấy.
Phận làm con đã thọ ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, nên phải biết trọng kính thương yêu và đền đáp công ơn cao dầy ấy bằng lời ăn tiếng nói, và bằng hành động, như cao dao Việt Nam có câu:
“Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con”
Hoặc:
“Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày”
Rồi, anh chị em ruột thịt với nhau cần phải hết sức nâng đỡ đùm bọc, nhường nhịn nhau, thương quí nhau, theo kiểu “Chị ngã em nâng, máu chảy ruột mềm”.
“Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”
Hơn nữa, muốn giữ đạo hiếu thì phải tránh điều bất hiếu, như Mạnh Tử nói có 5 điều bất hiếu:
1. Lười biếng không chăm sóc cha mẹ là một bất hiếu.
2. Cờ bạc, rượu chè làm phiền lòng cha mẹ là hai bất hiếu.
3. Ham chơi bời, dung túng vợ con là ba bất hiếu.
4. Mê đàng tội lỗi làm mất danh giá cha mẹ là bốn bất hiếu.
5. Gây gỗ chia rẽ nhau làm cực lòng cha mẹ là năm bất hiếu.
Cần được thương, cần được nhớ, đó là khát vọng tự nhiên của con người. Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn. Dưới cái nhìn đức tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện còn chứng tỏ một lòng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận thân phận giới hạn mỏng manh bất lực của mình.
Vậy để thực hiện đạo hiếu, chúng ta hãy đáp lại lời thỉnh cầu van xin đó, bằng cách thể hiện “mối tình thông hiệp” trong việc dâng Thánh lễ tưởng nhớ và cầu nguyện cho tiên nhân, ông bà cha mẹ và những người thân thương đã quá cố. Nhất là trong suốt tháng 11 này, Giáo hội đã dành cho ta nhiều “ân sủng đại xá” để chúng ta lãnh nhận cứu giúp các linh hồn. Công đồng Vatican 2, trong Hiến Chế “Ánh Sáng Muôn Dân” đã viết như sau: “Giáo hội lữ hành hết lòng kính nhớ dâng lời cầu cho những người đã chết vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh”.
Rồi khi được về trời và hiện diện trước nhan Chúa, các thánh lại không ngừng cầu bầu cho chúng ta bên toà Chúa. Có lẽ, ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người thân yêu đã ra đi, và ý nghĩa của sự chết. Giờ đây trong Thánh lễ, chúng ta đang đứng giữa biên giới vô hình của sự sống và sự chết và một cách vô cùng huyền nhiệm sống động, chúng ta đang liên kết với các Ngài một cách thâm sâu thắm thiết. Nhưng giờ đây, các Ngài chỉ còn cậy dựa vào lời cầu nguyện, dâng lễ, hy sinh, bác ái, lập công đền tội thay cho các Ngài, để các Ngài được thanh luyện và cứu rỗi.
Thật vậy, khi chúng ta đọc kinh, cầu nguyện, dâng lễ hy sinh và làm những việc lành phúc đức để lãnh ơn Đại Xá chỉ cho các linh hồn là lúc chúng ta thực hiện đạo hiếu, biết ơn đối với tổ tiên ông bà và những ân nhân của chúng ta.
Khi về cõi trời cao, hẳn các Ngài lại cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta. Chính sự trao đi nhận lại đó vừa là việc bác ái, vừa là một bổn phận hiếu thảo đáp đền: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn”. Từ đó “Giáo hội hiệp thông” thực sự được củng cố vững bền trong thánh thiện của các thành phần dân Chúa.
Nhân ngày lễ Các Đẳng Linh Hồn, chúng ta hãy thắp lên những nén hương tưởng nhớ và dâng lên những lời cầu nguyện cho tiên nhân ông bà cha mẹ và anh chị em, những người thân thương, và linh hồn các tín hữu, được đón nhận vào cõi trời vinh phúc nơi tràn đầy ánh sáng và bình an, như lòng chúng con hằng mong ước. Amen.
Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, xin cứu các linh hồn chúng con cầu nguyện hôm nay được vào nơi đầy ánh sáng và bình an.
6.Cát bụi phận người
(Suy niệm của Lm. Thái Nguyên)
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…”. Không chỉ nhận ra cát bụi phận người mà Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn còn nói lên sự thoáng qua của kiếp người: “Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi…”.
Lý Bạch thi tiên Đời Đường cũng ngậm ngùi than thở trong bài thơ Tương tiến tửu: “Triêu như thanh ty mộ thành tuyết” (Buổi sớm tóc còn xanh, chiều về đầu đã bạc như tuyết).
Trang Tử cho thấy cuộc đời như “bóng câu qua cửa sổ”. Thoát từ ý này Nguyễn Gia Thiều cũng đã viết trong “Cung oán ngâm khúc”, diễn tả đời người qua mau như: “Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi”.
Tác giả Thánh vịnh cũng đã dùng từ ngữ đó: “Ấy con người khác chi hơi thở, vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu” (Tv 144,4).
Chúng ta được dạy để thành thật nhìn ra những mong manh và tạm bợ trong cuộc sống con người. Bài Vịnh nhân sinh của Nguyễn Công Trứ cũng thở than như vậy:
“Ôi, nhân sinh là thế ấy,
Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao”.
Quả thật, đời người quá ngắn ngủi. Có những em bé vừa sinh ra đã phút chốc lìa đời. Có những người tuổi đời còn rất trẻ nhưng lại vội vàng vĩnh viễn ra đi. Cả khi đến lúc tuổi già khi nhìn lại cũng thấy “thời gian thấm thoát tựa thoi đưa”.
Thời gian cứ vùn vụt trôi nhanh khi ta chưa kịp làm gì cả, dù có thành công hay thất bại cũng thế thôi:
Ngoảnh nhìn cuộc đời như giấc mộng,
được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không.
Phúc cho ai sớm nhận ra:
Phú quý vinh hoa như mộng ảo,
Sắc tài danh lợi tựa phù du.
Có những người cứ mải mê lo cho sự nghiệp đời này, có khi phải mất gần cả cuộc đời mới chợt nhận ra:
Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật
Thế cho nên tất bật đến bây giờ.
Tác giả Thánh Vịnh đã nhắc nhở cho ta nhớ phận mình:
Mạng người dù giá cao mấy nữa,
thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời.
Nào phàm nhân sống mãi được sao
mà chẳng phải đến ngày tận số?
Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,
kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong,
bỏ lại tài sản mình cho người khác.
Tuy họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
nơi họ ở muôn đời muôn kiếp. (TV 49, 9-12)
Những điều trên đây gợi lên trong chúng ta nhiều suy tư và trăn trở. Tuy nhiên, tất cả những suy tưởng về thân phận con người chỉ được coi là nghiêm túc và sâu lắng khi đằng sau nó thấp thoáng tia sáng của niềm hy vọng. Điều đó làm nên thái độ sống sâu xa của người Kitô hữu.
Trước những đớn đau dằn vặt của con người, Thiên Chúa cho chúng ta một giải đáp. Giải đáp ấy nằm chính nơi cuộc đời của con người Giêsu. Ngài không đến để đưa ra một thiên khảo luận về con người, cũng không giải quyết tất cả những gay go và bi đát về thân phận con người. Ngài đến để sống thân phận con người với tất cả hệ lụy của nó. Ba mươi năm ở làng Nagiareth, Giêsu lặng lẽ sống cuộc đời bình thường như bao nhiêu con người khác. Vì sao thế?
Phải chăng vì cuộc sống con người với những cái bình lặng thường ngày của nó luôn có một giá trị nhất định. Chỉ cặp mắt biết chiêm niệm và con tim biết yêu thương mới có thể nhận ra cuộc đời này ý nghĩa dường bao. Dù phận người là cát bụi, dù cuộc đời là thoáng chốc, nhưng sự hiện diện của mỗi người chúng ta hôm nay lại có một giá trị thật cao cả, nếu biết sống cuộc đời mình thật cao đẹp. Đó là chưa nói đến giá trị siêu việt mang tính vĩnh cửu, vì mạc khải Kitô giáo cho biết cách thế hiện diện của ta hôm nay định hình cho sự sống muôn đời.
Tuy nhiên, trước khi bàn về sự sống muôn đời, ta hãy nói với nhau về cuộc sống tạm thời, một cuộc sống tuy ngắn ngủi, mong manh nhưng lại rất đẹp, rất tuyệt vời cho ai biết sống với tất cả trái tim mình.
Trước hết ta cần sự yên tịnh, trầm lắng, để nhìn ngắm vũ trụ bao la, vạn vật xanh tươi, bát ngát, muôn mầu, muôn vẻ, muôn hương, muôn sắc, muôn hình, muôn tượng… Tất cả đều đẹp đẽ, tinh tế và hoàn hảo lạ lùng, từ cây xanh đến hoa trái thơm lành; từ dòng sông con suối đến đồi núi chập chùng; từ cánh đồng bao la đến đại dương mênh mông; từ bầu trời xanh thắm đến trăng sao rạng rời… Đó là một tuyệt tác thiên nhiên và gần như một tài nguyên vô tận mà Thiên Chúa đã tặng ban cho con người. Ngài đã làm ra tất cả để chúng ta thưởng thức và tận hưởng. Đứng trước kỳ công tuyệt mỹ của Thiên Chúa đã làm nên, tác giả Thánh Vịnh đã hân hoan reo vang:
“Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo,
muôn trăng sao Chúa đã an bài,
thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến,
phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?
Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,
cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,
đặt muôn loài muôn sự dưới chân…” (Tv 8, 4-7).
Quả thật, nếu có một trái tim biết rung động sâu xa, chắc chắn chúng ta phải choáng ngộp và cảm mến vô vàn trước tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho con người. Điều này khẩn thiết mời gọi chúng ta đáp trả lại tình yêu Chúa bằng tất cả tâm trí và khả năng của mình, để tiếp tục sáng tạo từ những gì Thiên Chúa đã sáng tạo cho chúng ta. Những gì Thiên Chúa đã làm nên là nhằm đưa đến niềm vui và hạnh phúc cho con người, nên điều Thiên Chúa muốn là những gì chúng ta làm nên cũng phải đưa tới niềm vui và hạnh phúc cho nhau.
Cũng như thiên nhiên đã hình thành và phát triển theo qui luật của tạo hóa, nên nó đã trở nên một tài nguyên vĩ đại để đem lại sự sống cho con người. Thì con người cũng thế, được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, nên có đầy đủ khả năng và tự do sáng tạo để đem lại những gì tươi mới hơn cho thế giới hôm nay. Hãy nhìn ngắm thiên nhiên để có những ước mơ, kế hoạch và những thực hiện cụ thể cho đời. Trong viễn ảnh đó, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn đã diễn đạt thật tuyệt vời qua ca khúc “Khát Vọng” như sau:
Hãy sống như đời sống, để biết yêu nguồn cội.
Hãy sống như đồi núi, vươn tới những tầm cao.
Hãy sống như biển trào, để thấy bờ bến rộng.
Hãy sống và ước vọng, để thấy đời mênh mông.
Và sao không là gió, là mây, để thấy trời bao la.
Và sao không là phù sa, dâng mỡ màu cho hoa.
Sao không là bài ca, của tình yêu đôi lứa.
Sao không là mặt trời, gieo hạt nắng vô tư.
Và sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông.
Và sao không là hạt giống, xanh đất mẹ bao dung.
Sao không là đàn chim, gọi bình minh thức giấc.
Sao không là mặt trời, gieo hạt nắng vô tư.
Nội dung bài hát khích lệ con người một mô hình sống dấn thân. Trong đó, tinh thần tích cực sáng tạo, rộng lượng, bao dung, xả kỷ, vị tha, được xem là những chất liệu để tô đẹp cuộc sống này. “Khát vọng” phản ánh ước nguyện thiện hảo của con người, không muốn sống nhỏ nhoi tầm thường, hoặc sống không mục đích, không lý tưởng. Biết rằng, giữa ước mơ và thực tế luôn là một khoảng cách, nhưng khoảng cách sẽ được nối kết dần dần: “Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh”. (ĐHV 978).
Mỗi người chỉ cần thể hiện một trong những vai trò mà bài ca “khát vọng” gợi lên, thì chắc chắn cuộc đời đẹp biết bao. Đó là sống như đồi núi, sống như biển rộng, sống như gió mây, sống như đàn chim ríu rít gọi bình minh, sống như hạt giống tươi tốt, sống như phù sa dâng màu mỡ cho hoa, sống như mặt trời gieo hạt nắng vô tư…
Đã có biết bao con người đã sống và đang như thế cho cuộc đời này, để chúng ta có được cuộc sống hôm nay. Đến phiên chúng ta cũng cũng nối tiếp như thế, âu cũng là sự công bằng. Chỉ những gì cho đi mới không mất đi, và làm nên ý nghĩa của đời mình. Dù mai đây mình không còn nữa, nhưng những gì góp phần cho sự thiện hảo của con người vẫn còn tồn tại mãi, vì là những giá trị vượt không gian và thời gian.
Như vậy, cho dù là cát bụi phận người, nay còn mai mất, nhưng điều quan trọng không phải là lo chết mà là lo sống, và sống hết mình, dù chỉ còn một ngày để sống. Cuộc đời có biết đến ta hay không, không cần thiết. Điều cần thiết là ta hãy tích cực hành động và dấn thân vô vị lợi, nhằm đem lại cho cuộc sống một cái gì tốt hơn, đẹp hơn, cao quí hơn. Đó không còn là “khát vọng” mà là chính sự hiện thực, làm nên sự tươi mới cho cuộc đời hôm nay.
Chính Chúa đang trợ lực cho những nỗ lực của chúng ta trong từng ngày sống, nên chúng ta hãy sống như mình phải sống, như Chúa muốn cho mình sống. Chính Ngài đang mong chờ cây đời chúng ta trổ sinh hoa trái nhiều hơn, đang mong đợi thành quả của chúng ta là đem lại bình an và phúc lợi cho đời, để chính từ đó mà Thiên Chúa biến chúng thành hạnh phúc đời đời cho những ai tin tưởng và hy vọng vào Người.
Xét trên mặt hiện tượng, xem ra con người là cát bụi sẽ trở về với cát bụi, nhưng cùng đích của con người không phải là cát bụi, vì con người được dựng nên cho Thiên Chúa, Đấng hằng sống. Trong quyền năng Thiên Chúa, con người sẽ được giải thoát, không còn phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, trở nên một tạo vật hoàn toàn mới, có khả năng hưởng kiến Thiên Chúa, và được chung hưởng vinh quang với Người trong sự sống muôn đời. (x. Rm 5, 2; 8, 30)
Cuộc đời như vậy đẹp biết bao, ý nghĩa biết mấy, vì nó không chỉ là sự thành tựu từ những ước mơ và khát vọng của ta, mà còn chính là mơ ước và kế hoạch của Thiên Chúa trong cuộc đời ta. Trong ý nghĩa cao cả đó, chúng ta biến cuộc đời mình thành bài ca chúc tụng và cảm tạ Chúa đến muôn đời.
7.“Được cứu độ, nhưng như thể băng qua lửa”
(Văn Chính, SDB chuyển ngữ) – Ga 12, 23-26
Các bộ tộc thổ dân châu Mỹ thường hay dệt những tấm vải đầy màu sắc. Thường thì những ký ức về cuộc sống của các bộ tộc này được dệt trên những tấm vải lớn dùng trong những nghi lễ tôn giáo. Các bộ tộc này vẫn tự hào là những người dệt vải giỏi nhất trên thế giới. Điều mà nhiều người vẫn chưa biết là: những bộ tộc này có một quy định bất thành văn liên quan đến nghệ thuật dệt vải: mỗi tấm vải phải có một số lỗi hỏng. Ngay cả khi họ có thể dễ dàng thực hiện một tấm vải dệt hoàn hảo hơn, nhưng họ vẫn để cho có ít nhất một lỗi nào đó, vì tấm vải dệt biểu trưng cho cuộc sống và hoàn cảnh sống của con người. Việc biểu trưng này muốn làm rõ một điều: không có cuộc sống nào của con người là hoàn hảo cả.
Cũng vậy, lễ Các Đẳng Linh Hồn mà chúng ta mừng lễ hôm nay muốn nói với chúng ta một sứ điệp: cuộc sống của con người thật bất toàn, ngay cả cuộc sống của người Ki-tô hữu. Tin mừng của ngày lễ hôm nay chính là: Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta bất toàn, và tình yêu của Thiên Chúa chẳng bao giờ quên lãng linh hồn của các người anh chị em, cha mẹ, những người thân yêu của chúng ta đã khuất, ngay cả khi họ chưa đạt tới lý tưởng của sự hoàn thiện Ki-tô giáo.
Trong ngày lễ Các Thánh, chúng ta, những vị thánh vẫn còn đang phải chiến đấu trên trần gian (Giáo hội chiến đấu), mừng lễ các chư thánh là những vị đã đạt được vinh hiển nơi trời cao (Giáo hội chiến thắng). Còn ngày hôm nay, chúng ta mừng các thánh vẫn còn đang chịu thanh tẩy nơi luyện ngục, một tình trạng đau khổ tạm thời vì linh hồn của những kẻ đã chết nhưng chưa được hiệp thông hoàn toàn với Thiên Chúa trên trời (Giáo hội đau khổ).
Mọi người Kitô hữu vẫn tin vào 4 sự sau: cái chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục. Luyện ngục không được kể vào một trong những “sự sau” vì, nói cho cùng, luyện ngục là một phần của thiên đàng. Luyện ngục là tình trạng chữa lành các linh hồn đã được xét định để lên thiên đàng. Các linh hồn chịu thanh tẩy nơi luyện ngục là những người đã chịu phán xét và đáng được hưởng phúc thiên đàng, nhưng chưa được lên ngay nơi vĩnh phúc đó. Họ cần phải chịu thanh tẩy trước khi được hưởng hạnh phúc trên thiên đàng, vì theo sách Khải huyền 21,27: “Tất ca những gì ô uế cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và ăn gian nói dối, đều không được vào thành, mà chỉ có những người có tên ghi trong Sổ trường sinh của Con Chiên mới được vào”.
Một số người Kitô hữu thắc mắc về giáo huấn liên quan đến Luyện ngục, vì Luyện ngục không được đề cập đến trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, cũng những người Ki-tô hữu này vẫn tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, dầu rằng hạn từ “Ba Ngôi” cũng chẳng được dùng tới trong Thánh Kinh. Chúng ta đón nhận giáo lý về Luyện ngục cũng như giáo lý về Chúa Ba Ngôi, và còn qua việc quy chiếu lô-gíc từ những gì Thiên Chúa đã mạc khải rõ ràng. Chúng ta xem 3 ví dụ sau:
(1) Dụ ngôn về Người Đầy Tớ Bat Trung dạy rằng các người môn đệ nhất thiết phải trung thành với những bổn phận của mình cho tới khi Đức Ki-tô trở lại trong ngày phán xử sau cùng, với những lời lẽ sau: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị san sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít”. (Lc 12,47-48). Điều này cho thấy trong ngày phán xử sau cùng, dẫu kết cục vẫn cơ bản dựa trên những gì đã làm hay bỏ qua, thì với việc được lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục, có lẽ vẫn có những người chưa đủ xấu xa để phải bị ném vào hỏa ngục, hay vẫn chưa đủ tốt để được chấp nhận vào chốn thiên đàng. Vay những người này phải chịu sự thanh tẩy để được chữa lành, hầu đền bù lại những gì còn thiếu sót trong đức tin cũng như những việc thiện của họ, trước khi được vào nơi vĩnh phúc. Giai đoạn của việc phạt tạm thời trước khi được đón nhận vào nơi vĩnh phúc với Thiên Chúa, được chúng ta gọi là luyện ngục.
(2) Thánh Phaolô so sánh về những cách thức khác nhau, qua đó các người Ki-tô hữu đảm nhận cuộc sống mình như những người xây dựng nhiệm thể Đức Ki-tô. Họ xây dựng với những vật liệu khác nhau: vàng, bạc, đá quý, gỗ, rơm hay cỏ khô. Vào ngày phán xử cuối cùng, những gì mà mỗi người xây dựng sẽ được thử bằng lửa. “Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền, thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng. Còn công việc của ai bị thiêu hủy, thì người ấy sẽ phải thiệt. Tuy nhiên, bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể băng qua lửa” (1Cr 3,14-15). Vậy sau khi phán xét, làm sao linh hồn phải “chịu đau khổ” mà vẫn được cứu “nhưng phải ngang qua lửa”? Câu trả lời: đó chính là điều mà chúng ta gọi là luyện ngục.
(3) Thánh Tông đồ Gioan gợi nhắc chúng ta rằng một người Ki-tô hữu có thể phạm 2 loại toi: tội trọng làm băng hoại mối dây liên kết với Thiên Chúa, còn tội nhẹ thì không. “Nếu ai biết anh em mình phạm thứ tội không đưa đến cái chết, thì hãy cầu xin, và Thiên Chúa sẽ ban sự sống cho người anh em ấy; đó là nói về những ai phạm thứ tội không đưa đến cái chết. Có một thứ tội đưa đến cái chết, tôi không bảo phải cầu xin cho thứ tội ấy. Mọi điều bất chính đều là tội, nhưng có một thứ tội không đưa đến cái chết” (1Ga 5,16-17). Những người Ki-tô hữu nào chết mà không vương mắc tội, sẽ được lên thiên đàng. Những Ki-tô hữu nào chết trong tình trạng tội trọng, sẽ xuống hỏa ngục. Vậy nơi nào dành cho những tín hữu chết trong tình trạng mắc tội nhẹ? Đó chính là luyện ngục, nơi họ sẽ phải chịu sự thanh tẩy vì sự bất toàn của mình trước khi được chấp nhận vào đoàn ngũ các thánh ở trên trời.
Dẫu người Công giáo thì tin có luyện ngục, còn người Tin lành thì không, nhưng hầu như ai cũng mặc nhiên cho rằng cần có thời gian thanh tẩy trước khi vào thiên đàng. Khi những người thân yêu của chúng ta qua đi, người Công giáo hay Tin lành đều cầu nguyện cho kẻ đã khuất. Tất cả chúng ta đều cau nguyện rằng: “Xin cho linh hồn họ được yên nghỉ trong bình an”. Đợi chút đã. Nếu những linh hồn phải sa vào hỏa ngục, tại sao chúng ta lại cầu nguyện cho họ? Ngoài ra, lời cầu nguyện của chúng ta chẳng giúp ích cho các linh hồn đã được ở trên thiên đàng nữa, vì họ đã được hưởng kiến ở trên trời rồi. Bất cứ việc cầu nguyện nào cho người đã khuất đều giả định rằng linh hồn của những người đã chết đang ở trong một tình trạng chưa đạt đến mức kết hiệp hoàn hảo với Thiên Chúa, nên những lời cầu nguyện của chúng ta có thể giúp họ. Đó chính là luyện ngục.
Vào ngày lễ Các Đẳng Linh hồn, chúng ta cầu nguyện cho linh hồn các tín hữu đã ra đi trước chúng ta và đang còn chịu thanh tẩy nơi luyện ngục. Qua việc này, chúng ta tuyên xưng rằng chính Thiên Chúa là Đấng yêu thương những linh hồn đáng thương này vì sự bất toàn của họ. Đối với chúng ta, niềm tin vào luyện ngục là một Tin Vui: dẫu chúng ta chưa nên hoàn thiện như Cha chúng ta ở trên trời (Mt 5,48), nhưng chúng ta vẫn luôn hy vọng rằng có chỗ cho tất cả chúng ta trên Nước Trời.
8.Sự thánh thiện của Tin Mừng
(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB.)
Lời Chúa: Kh 7:2-4. 9-14; 1Ga 3:1-3; Mt 5:1-12a
Có vẻ như ý nghĩa của hai ngày lễ, lễ Các Thánh Nam Nữ và lễ Cầu Hồn (thói quen vẫn gọi như thế), đã quá rõ ràng và đơn giản: một lễ mừng chung tất cả mọi vị thánh, nhất là các vị không có ngày kính riêng, và một dịp cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội, chưa được lên thiên đàng vui hưởng với các thánh. Một ngày mừng cho các vị đã thành công, ngày khác nhắc nhở hỗ trợ các vị chưa đạt tới đích. Cứ cho là như thế đi, tuy nhiên nếu dựa trên Lời Chúa hoặc nhìn từ khía cạnh ơn cứu độ, ta thấy vẫn cần phải khám phá lại ý nghĩa đích thực của hai ngày lễ này, đặc biệt ngày lễ Các Đẳng Linh Hồn.
Trước hết cần khảng định: khái niệm về ‘Các Thánh’ như chúng ta có ngày nay (beatified, canonized, blessed, saint), tức là các vị được Hội Thánh tuyên phong, đã không hề tìm thấy trong Thánh Kinh, nhất là trong Tân Ước. Phao-lô đã gọi tập thể các tín hữu Cô-rin-tô là những người được hiến thánh, là dân thánh (1Cr 1:2-3), cho dầu ngay sau đó, trong cùng lá thư ấy, ngài đã thẳng thắn vạch ra tất cả các tội lỗi họ phạm, thậm chí cả tà dâm và loạn luân. Nói chung Phao-lô gán từ thánh hay các thánh cho toàn thể các Ki-tô hữu và từ Hội Thánh cho cộng đoàn qui tụ họ lại, bất luận đã hoàn thiện, tốt lành hay chưa. Điều kiện duy nhất để họ được gọi với danh xưng cao quí này là: họ có tin Đức Ki-tô Giê-su là Cứu Chúa hay không. Cũng vậy thị kiến của Gio-an về các thánh trên trời được ghi trong sách Khải Huyền cho thấy họ là ‘một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ’. Điểm chung nhất của họ là ‘đứng trước Con Chiên’ và ‘đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên’.
Trong nhãn quan đó, Các Thánh Nam Nữ mà chúng ta mừng kính hôm qua đâu phải chỉ là ‘các thánh’ đã được tuyên phong. Chúng ta mừng kính tất cả những ai đã đặt trọn niềm tin vào Đức Ki-tô Giê-su Cứu Chúa; đúng hơn chúng ta mừng chính sự bao quát của lòng từ ái Chúa đang tràn ngập nhân loại, một lòng thương xót vô biên đang chủ động len lỏi tới từng con người, kể cả những người tội lỗi nhất. Thánh Gio-an đã tóm lược điều này cách tài tình: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thật sự chúng ta là con Thiên Chúa”. Do đó trong ngày lễ này, không phải các vị thánh là trọng tâm mà Con Chiên Cứu Độ mới đúng là tâm điểm chúng ta phải qui hướng về để tôn vinh và ca ngợi. Ki-tô hữu chúng ta tuyên dương: “phúc cho tất cả những ai đã biết đón lấy ơn cứu độ và lòng thương xót của Thiên Chúa, nhờ tin vào Đức Ki-tô Giê-su!” Đây chính là mối phúc duy nhất và vĩ đại nhất cho toàn thể nhân loại, cho nên tất cả những gì đưa tới nó, hay đóng góp vào việc tiếp nhận nó, đều được coi là ‘phúc’. Trong bài giảng trên núi về các mối phúc, thực ra vế thứ nhất của bản liệt kê không thể gọi là phúc, đơn giản là vì chúng không thể mang bất cứ hạnh phúc nào cho con người. Chỉ riêng trong Tin Mừng mà Đức Giê-su rao giảng chúng mới được coi là ‘phúc’, lý do duy nhất vì chúng cống hiến phương thế hay qui tắc đưa con người tới đón nhận tình yêu nhân ái của Thiên Chúa, để họ ‘giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên’. Do đó lễ Các Thánh Nam Nữ chính là ngày chúng ta dành ra để ca ngợi lòng thương xót cứu độ mà Chúa đã thành công trong việc cống hiến cho rất nhiều người.
Thế còn ngày lễ Cầu Cho Các Tín hữu đã Qua Đời, hay là lễ Các Đẳng Linh Hồn nơi Luyện Tội hôm nay thì sao, nó có ý nghĩa gì? – Nếu lấy ơn cứu độ của Chúa làm trọng tâm thì ngày này chính là để mời gọi ta nhìn vào sự đón nhận của mỗi chúng ta. Nếu đã mừng lòng từ ái Chúa trải rộng bao la tới hết mọi người và từng người không trừ một ai, thời ta càng có lý do để thôi thúc, để mong mỏi mỗi người và mọi người nhận biết và đón lấy tình yêu thương xót này với tất cả cõi lòng mình. Than ôi, thực tế đã không được như vậy! Ngay cả trong số những con người được coi là tốt lành thánh thiện nhất (kể cả nhiều vị chức sắc trong Giáo hội), đã mấy người biết ném mình trọn vẹn trong vòng tay nhân ái của Cha? Chúa không đòi chúng ta phải hoàn toàn sạch mọi tội… để được vào thiên quốc như nhiều người vẫn lầm tưởng, điều duy nhất Người mong đợi là hãy hết lòng đón nhận ơn tha thứ vô điều kiện của Người, như trường hợp tên cướp cùng bị đóng đinh trên thập giá. Ấy vậy mà mấy người trong chúng ta đã biết làm điều này cách nghiêm túc và triệt để? Ta vẫn chẳng mơ ước được sạch tội hơn là đón lấy lòng thương xót hài hà của Chúa là gì! Do đó ta vẫn nghĩ là luyện ngục sẽ là nơi các ‘tín hữu’ đã qua đời phải chịu thanh luyện, hơn là chốn niềm khao khát lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa được nung nấu. Đền tội, xóa tội hay đón nhận cách triệt để ơn cứu độ thứ tha, điều nào quan trọng hơn? Do đó không thể có việc cầu nguyện cho các đẳng linh hồn bằng công nghiệp của riêng mình hay của Hội Thánh đi nữa, nhưng chỉ có thể bằng gia tăng đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa với thái độ khiêm nhu. Thánh Lễ chính là giờ phút tốt nhất để chúng ta cùng nhau cử hành việc đón nhận này, chúng ta – những tín hữu còn sống cùng với các đẳng linh hồn đã qua đời, đồng cử hành ơn cứu độ của Thập Giá Đức Ki-tô.
Lạy Chúa, con tin vào sức mạnh phi thường của tình yêu thương xót Chúa qua việc mừng kính các thánh. Con ca ngợi Con Chiên Sát Tế đã mở ấn niêm phong để mọi người có thể tới giặt và tẩy áo mình trong máu Chiên. Con cậy trông lòng từ ái Chúa sẽ mạnh hơn cả sự cứng cỏi của con và của nhiều tín hữu đã qua đời, và do đó con khiêm tốn phó thác các linh hồn ấy cho lòng thương xót vô bờ của Chúa. Amen.
9.Các linh hồn
Một người Mỹ tên là Habốc thành lập một hãng bưu điện kỳ quặc với cái tên giật gân “Liên minh thiên đàng”. Công việc của hãng này là chuyển thư từ của những ai muốn gởi đến những người thân quen đã qua đời. Thủ tục rất đơn giản: người gởi chỉ cần viết thư trên một tờ giấy mẫu in sẵn và nộp một khoản cước phí là xong. Còn làm thế nào để chuyển lá thư ấy đến tay người chết là phận vụ của bưu điện. “Liên minh thiên đàng”. Theo lời ông Habốc quả quyết thư gởi nhất định sẽ tới tay người nhận do nhân viên đưa thưa của hãng là những người sắp chết tình nguyện chuyển giùm. Những nhân viên tình nguyện này sẽ học thuộc lòng nội dung bức thư và cam kết sẽ nhắn lại đầy đủ với người nhận. Hơn nữa “Liên minh thiên đàng” tuyển chọn nhân viên của mình rất cẩn thận. Họ phải là người trong sạch, không có gì mờ ám trước khi Chúa gọi lìa khỏi đời này, nên nhất định họ sẽ lên thiên đàng chứ không thể xuống hỏa ngục được. Do uy tín của hãng bưu điện này ngày càng tăng mạnh mẽ nên ông Habốc đã mở rộng phạm vi hoạt động không những khắp nước Mỹ mà còn lan sang các lục địa khác nữa.
Mới nghe qua, nhất là đối với những người vô tôn giáo hay không tin có đời sau thì câu chuyện trên chẳng những kỳ quặc mà còn phi lý không thể chấp nhận được. Nhưng còn đối với chúng ta không có gì đáng ngạc nhiên cả, chẳng qua chỉ có khác về cách thức liên hệ mà thôi. Bởi vì, giáo lý công giáo đã trình rõ ràng từng chi tiết mối dây liên hệ giữa người còn sống và kẻ đã chết bằng một tín điều quan trọng buộc mọi người phải tin và phải thực hành: đó là tín điều Các Thánh cùng thông công.
Tuy nhiên, một điều khác biệt giữa tín điều của người công giáo và hãng bưu điện “Liên minh thiên đàng” của Habốc là cách thức liên lạc với chết. Cách thức của ông Habốc vừa thiên về vật chất vừa dựa vào khả năng giới hạn của con người nên rất khó mà đạt được mong muốn. Còn các thức liên lạc với người quá cố của đạo công giáo phần lớn nhờ vào quyền năng, lời bảo đảm của Chúa, cũng như được minh chứng cụ thể do những cuộc hiện về của các linh hồn mà Chúa cho phép. Như thế, việc liên hệ với người thân quen đã qua đời đối với chúng ta là một chuyện thường tình, dễ dàng và có từ ngàn xưa. Chỉ còn lại một công đoạn cuối cùng là chúng ta có muốn liên lạc hay không mà thôi.
Thật vậy, con người sống được với nhau là nhờ ân nghĩa. Tình nghĩa càng thắm thiết càng thương nhớ đến nhau và muốn sống mãi bên nhau, nhất là đối với những người thân quen đã qua đời. Hơn nữa, khi biết sống tình nghĩa với nhau cách đằm thắm hay nhạt nhẽo thì mới rõ ai tốt hay xấu, ai thật lòng ai gian dối. Do đó, tình nghĩa không những là một nhu cầu cần thiết cho đời sống mà còn là một bổn phận, trách nhiệm phải đền đáp, chu toàn hết khả năng sẵn có.
Nếu thế thì chúng ta, những người còn sống tại dương thế, đang có tự do hành động theo ý muốn của mình lại càng sống thật tình nghĩa với những người đã khuất vì giờ đây họ chẳng khác gì những tù nhân chỉ còn trông mong sự cứu giúp của chúng ta mà thôi. Nhưng sống tình nghĩa với những người đã chết không có nghĩa là nhớ lại những kỷ niệm, những hình ảnh, dáng điệu, lời nói của họ để mà thương tiếc, nhớ nhung, trái lại điều quan trọng là hãy biến những tình cảm đó thành những hành động thương yêu thật cụ thể và có giá trị đời đời.
Đó là lý do chính yếu của ngày lễ hôm nay và trong tháng 11 này mà Giáo hội đề xướng ra để kêu gọi toàn thể mọi người hãy hướng lòng về những người thân quen cũng như xa lạ đã qua đời, nhất là ra sức tìm kiếm những tặng phẩm thiêng liêng để gởi làm quà cho họ. Và một khi đã biết rõ cách thức gởi, gởi những gì và gởi nhờ ai thì sẽ đến tay các linh hồn. Chỉ còn lại khâu cuối cùng là chúng ta có hăng say kiếm quà mà gởi hay không mà thôi.
Và nếu những người thân quen ở bên kia thế giới đang quằn quại đau khổ trăm chiều, từng giây từng phút đợi chờ sự cứu giúp của chúng ta, được chóng giải thoát cực hình hay phải giam phạt thêm là hoàn toàn do chúng ta có thương xót hay thờ ơ mà thôi, chẳng lẽ chúng ta cứ thờ ơ, lãng quên họ mãi hay sao? Vậy hãy mau cố gắng hết sức, tìm đủ mọi cách để giải thoát cho họ như siêng năng xưng tội rước lễ, làm việc lành phúc đức, ăn chay hãm mình, xin lễ cầu nguyện… Và nếu chúng ta cứu được các Đẳng, chắc chắn các Ngài sẽ không bao giờ quên ơn chúng ta.
Đó là chưa nói đến tình máu mủ mà chắc chắn không ai trong chúng ta nở lòng nào quên tình nghĩa với ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, cháu chắt, họ hàng thân thuộc đã qua đời chờ sự cứu giúp của chúng ta. Còn xét về mặt trách nhiệm, nếu những ai đã làm ơn cho chúng ta hoặc vì lỗi lầm gương xấu của chúng ta mà đang bị gian cầm, chúng ta cần phải đền ơn và chuộc lỗi lầm cho họ.
Vậy ai còn sống mà không biết tưởng nhớ đến người chết thì kẻ đó không phải là con người. Và ai chỉ biết tưởng nhớ suông mà không biết làm những việc lành phúc đức cụ thể thì cũng không thể xứng đáng lám con cái của Chúa.
10.Sống lại
Trong tháng 11 là tháng dành riêng để cầu nguyện cho người chết, chúng ta cũng được mời gọi để suy niệm về sự chết.
Tác giả Elizabeth Khoctheoros, một chuyên gia tâm lý về cái chết đã phát biểu trong buổi khải giảng tại một trường học ở Mỹ như sau: “Ở cuối đời chỉ có một điều thực sự đáng kể là phải tự hỏi rằng mình đã có can đảm để sống không?”.
Phải tự hỏi mình có can đảm để sống không? Bởi vì phần đông trong chúng ta ai cũng sợ sự chết và nhất là sợ chết. Quả thực, chết là một thực tại đáng sợ nhất trong cuộc đời, chết là một hành động phản tự nhiên nhất là ta phải trải qua trong cuộc sống. Chính vì thế về mặt luân lý người ta không ngừng đi tìm đủ mọi cách để tránh nghĩ về sự chết hay phủ nhận cái chết sẽ không đến với chúng ta.
Trong ngôn ngữ thông thường dường như chúng ta cũng tránh nói đến cái chết, người chết được gọi là người quá cố, người khuất núi, người đã yên giấc nghìn thu hay người đã ra đi trước chúng ta. Nhưng muốn hay không cái chết vẫn là người bạn đồng hành mỗi ngày với chúng ta, chúng ta chứng kiến không biết bao nhiêu người thân thương ruột thịt chết, chúng ta chứng kiến cái chết qua các qua cái phương tiện truyền thông mỗi ngày. Đối với những người không có niềm tin, cái chết quả là một phi lý nhất trong cuộc sống, nhưng đối với những ai có niềm tin thì chính cái chết mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, đó là thái độ mà mỗi Kitô hữu vẫn thể hiện khi đứng trước cái chết. Cái chết mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, bởi chúng ta vẫn tin rằng bên kia cái chết cuộc sống vẫn tiếp tục, đó là cuộc sống trong cõi phúc trường sinh. Đây là niềm tin, niềm hy vọng mà chúng ta được mời gọi để nuôi dưỡng mỗi ngày.
Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta củng cố niềm tin và hy vọng. Chúa Giêsu không những rao giảng về sự sống lại, chính Ngài là sự sống lại, sự Phục sinh của Ngài là bảo chứng của cuộc sống và làm chứng cho lời rao giảng của Ngài. Chính sự Phục sinh của Ngài mà niềm của chúng ta được xây dựng. Thật thế, như lời thánh Phaolô khẳng định trong thư gởi giáo đoàn Côrintô: “Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì Đức tin của chúng ta thật là hão huyền”. Niềm tin vào sự Phục sinh mang lại ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta, với niềm tin Phục sinh chúng ta tìm được can đảm để sống, mặc dù có trải qua nghịch cảnh thử thách, khổ đau; với niềm tin Phục sinh chúng ta vẫn tiếp tục tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.
Tháng 11 chúng ta không khỏi ngậm ngùi nhớ lại người thân thương đã chết, chia ly cách biệt vẫn là nỗi đau nhất trong cuộc sống. Nhưng với niềm tin Phục sinh, chết như được dẹp bỏ, người chết như vẫn hiện diện gần gũi với chúng ta. Đây chính là nguồn diễm phúc của những ai có niềm tin vào sự sống lại.
11.Các linh hồn
Tục ngữ Việt Nam có câu: Con người có cố có ông, như cây có cội như sông có nguồn. Hay: con ai chẳng là con cha, cháu ai là chẳng cháu bà cháu ông. Hai chữ cội nguồn đã mang lại toàn bộ ý nghĩa của đạo làm con đối với các bậc sinh thành mà bất cứ ai sinh ra trong cuộc đời đều có bổn phận phải ghi nhớ và gìn giữ. Theo tháng năm, từ đông sang tây, từ bắc chí nam, đâu đâu cũng vang lên giai điệu về chữ hiếu như là lời báo đáp và ghi ơn tổ tiên mình.
Chính vì thế, hàng năm Giáo Hội công giáo đã dành trọn tháng 11 để tưởng nhớ những người quá cố, để sống lại đạo làm con. Người công giáo vẫn có thói quen tốt lành xin lễ cho ông bà tổ tiên, viếng nghĩa trang cùng với việc tảo mộ. Ngoài ra, trong ba ngày đầu năm, Giáo Hội Việt Nam đã dành ngày mồng hai tết để kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ. Hòa lẫn với chủ đề kính nhớ tổ tiên, Giáo Hội cũng đã nhắn gửi tới từng người con phải biết yêu chuộng ý nghĩa thiêng liêng cao cả: con ơi giữ lấy lời cha, chớ quên lời mẹ nhớ mà ghi tâm.
Cũng thế, anh em Phật giáo hàng năm vào ngày rằm tháng bảy âm lịch cũng có mùa vu lan để báo hiếu. Vào dịp này, mỗi người đều xướng lên tám lòng biết ơn của mình. Có người không quen ăn chay trường, song vào thời điểm này, người ta thể hiện lòng hiếu đó bằng việc ăn chay trọn tháng bảy âm lịch, hay có những người bận rộn công việc đời thường vào dịp này họ cố gắng thu xếp thời gian để đến một ngôi chùa quen thuộc dự lễ cầu siêu cho linh hồn ông bà cha mẹ đã qua đời. Họ tin rằng nhờ đó, bổn phận của họ được chu toàn. Với truyền thống lâu đời của người phật tử là cầu mong để được đáp đền ơn tam bảo, báo hiếu cha mẹ sinh thành dưỡng dục…
Còn ở Tây phương, người ta không có tục thờ cúng tổ tiên bởi vì chữ hiếu nơi họ không được nâng lên thành đạo. Thế nhưng họ có những ngày mà người Việt Nam chúng ta chưa có. Họ đã chọn ra hai ngày trong năm để tưởng nhớ công ơn sinh thành của cha mẹ. Đó là ngày của mẹ (mother’s. day) vào ngày chúa nhật thứ hai trong tháng năm và ngày của cha (father’s. day) vào ngày chúa nhật thứ ba trong tháng sáu.
Quả là đã mang trong mình dòng máu linh thiêng của tổ tiên, dù là người công giáo, phật giáo hay bất cứ ai cũng đều thể hiện lòng biết ơn một cách trân trọng đối với các bậc sinh thành. Trở về cội nguồn tổ tiên, chúng ta một lần nữa nói lên lòng biết ơn sâu sắc, đối với cácbậc tiền nhân.
Vì thế, chúng ta cùng nhau thắp lên một nén nhang để cùng nhớ ơn, ca ngợi công ơn tổ tiên và cầu nguyện cho tất cả những ai đã từng một lần chắp cánh cho chúng ta buớc vào cuộc đời và sống trọn vẹn ý nghĩa của con người.
12.Luyện ngục
Từ cổ chí kim, cũng như từ đông sang tây, người ta đều có truyền thống thương tiếc và an táng người quá cố một cách kính cẩn. Ngày xưa, người ta thương tiếc và dâng tặng người quá cố một thánh lễ an táng trọng thể, một bài điếu văn chải chuốt, rồi tụ tập ăn uống linh đình, tiếng khóc biến thành những câu chuyện ròn rã bễn cỗ bàn rượu thịt ê hề. Nỗi thương nhớ trôi mất theo từng ly rượu của bàn tiệc, để rồi khi tiệc tan, trở về nhà và không còn nghĩ gì đến người quá cố đang khổ đau vì bị thanh luyện nữa.
Có một người sau khi chết được dẫn vào luyện ngục. Anh ta thấy mọi người trong đó đang đứng trong một vũng bùn lên tới quá đầu gối. Có người đang hút thuốc. Người khác thì uống cà phê và mọi người đều cười nói với nhau một cách vui vẻ. Anh ta thầm nghĩ:
Nếu luyện ngục là như vậy, thì đâu có gì tệ lắm.
Vừa nghĩ thế, anh ta liền nhìn thấy một người trong bọn trông giống như một viên cai ngục, vỗ tay ra hiệu và tuyên bố:
Hết giờ nghỉ xả hơi rồi. Bây giờ hãy chống cằm xuống đất và chổng hai chân lên trời.
Nghe đến đây, anh ta bỗng ngất xỉu. Thì ra đó chỉ là một giấc mơ. Vậy luyện ngục là gì?
Dĩ nhiên luyện ngục không phải là một căn hầm hay một vũng bùn như trong câu chuyện vừa nghe. Theo lời các thánh, luyện ngục chính là nơi các linh hồn được thanh tầy, để trở nên trong sạch, xứng đáng được hưởng kiến tôn nhan thánh Chúa.
Các linh hồn nơi luyện ngục chắc chắn đã được cứu độ, nhưng chưa phải là trong giây phút hiện tai. Do đó, luyện ngục thực sự là một dấu chứng của lòng Chúa xót thương.
Một ông cụ luôn khuyên nhủ con cháu hằng ngày đọc kinh sớm tối kẻo mất linh hồn. Thế nhưng, một người con của cụ trả lời: Không cần đọc nhiều, mà chỉ cần đọc ba kinh Kính mừng là đủ lên thiên đàng cả giường lẫn chiếu.
Ông cụ đáp lại:
Lên thiên đàng, thì chúng mày đừng hòng. Tao chỉ mong chúng mày xuống luyện ngục là đã phúc lắm rồi.
Thực trạng bất toàn của con người khiến chúng ta cảm thấy không xứng đáng được diện kiến, gặp gỡ mặt đối mặt với Thiên Chúa, bởi vì Ngài là đấn thánh thiện vô cùng.
Sự thánh thiện của Thiên Chúa và tội lỗi là hai cái gì đối kháng nhau, như lửa với nước, như ánh sáng với bóng tối. Do đó, tội lỗi làm cho chúng ta phải xa lìa Thiên Chúa, khiến chúng ta quay lưng chống lại Ngài và đi ngược lại với bản tính thánh thiện tuyệt vời của Ngài. Thực vậy, Thiên Chúa thánh thiện không thể nào chấp nhận một chút bợn nhơ xấu xa nào trong vương quốc của Ngài.
Đối với các linh hồn đáng thương còn mang dấu ấn của tội lỗi, thì luyện ngục chính là nới ẩn náu đầy yêu thương, là tiền đường của thiên đàng. Các ngài vui mừng trong đau khổ. Và nỗi đau khổ nặng nề nhất không phải là cực hình hỏa ngục, mà là khát vọng được diện kiến thánh nhan Thiên Chúa, mà hiện nay chưa được trở thành sự thật, mà vẫn còn bị trói buộc trong sợ mòn mỏi trông chờ và mong đợi.
Với ý thức về tội lỗi của mình, các ngài sẽ không rời xa luyện ngục, cho tới khi được tẩy sạch mọi vết nhơ tội lỗi. Còn mang lầy một chút dấu vết của tội lỗi trong tâm hồn mình cũng là một đớn dau cho các ngài, khi cảm thấy mình bất xứng.
Chính vì thế, trong niềm hiệp thông, chúng ta hãy giúp đỡ các ngài bài những hy sinh, những lời kinh và những thánh lễ chúng ta dâng lên, bởi vì đó mới chính là những điều các ngày đang cần đến, đỗng thời đó cũng là cách thức chúng ta báo hiếu, đền đáp công ơn của các ngài một cách sâu xa và có ý nghĩa nhất.
13.Luyện ngục
Nói tới luyện ngục, hẳn chúng ta không khỏi có những cảm nghĩ buồn vui lẫn lộn. Vui vì người vào đó sớm muộn gì rồi cũng sẽ có ngày ra. Buồn vì số người vào đó chắc chắn là đông đảo. Hay nói một cách khác: mấy ai sẽ thoát được lửa luyện tội?
Ngay từ xa xưa, Giáo Hội vẫn tin rằng những người đã chết trong tình trạng ơn nghĩa cùng Chúa, nhưng còn vướng mắc những tội nhẹ, hay chưa đền bù hết những hình phạt tạm bởi tội, sẽ phải vào luyện ngục đền bù cho xong, rồi mới được lên thiên đàng, hưởng hạnh phúc muôn đời cùng Chúa.
Cựu Ước đã đề cập tới luyện ngục khi ghi lại hành động cao đẹp của ông Macabêô, khi ông quyên tiền gửi về Giêrusalem để dâng của lễ xóa tội cho một số anh em binh lính đã chết, mà lúc còn sống đã mang trong mình những ảnh tượng ngẫu thần, là điều mà lề luật Do Thái ngăn cấm.
Chúa Giêsu trong Tin Mừng cũng đã nói về luyện ngục:
Hãy liệu làm hòa với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan tòa, quan tòa lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống vào ngục. Ta bảo thật cho ngươi biết: ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng (Mt 5,25).
Ra khỏi đó, không phải là ra khỏi thiên đàng, vì thiên đàng không phải là nơi đền bù tội lỗi. Ra khỏi đó, cũng không phải là ra khỏi hỏa ngục vì một khi đã rơi vào hỏa ngục, thì đời đời không bao giờ ra được nữa. Như vậy, ra khỏi đó chỉ có thể hiểu là ra khỏi luyện ngục mà thôi. Tuy nhiên, việc ra khỏi đó lâu hay mau, còn tùy thuộc vào thời gian đền bù. Thật vậy, khi người ta cố tình phạm một tội trọng, thì đã đáng phải sa hỏa ngục. Thế nhưng, vì thật lòng ăn năn, nên tội trọng đó đã được tha, án phạt trầm luân đời đỡi đã được xóa bỏ, nhưng hình phạt tạm, nếu chưa được xóa bỏ hết, thì người ta vẫn phải đền ở đời này, hoặc đời sau trong luyện ngục.
Những linh hồn trong luyện ngục phải chịu đau khổ, nhưng không còn lập được công như khi còn sống ở trần gian, bởi vì thời gian lập công đã hết. Các ngàiï phải chịu đau khổ, nhưng lại không thểu tự cứu lấy mình được. Các ngài phải ở đó cho tới khi trả hết đồng xu cuối cùng.
Do đó, hình phạt ở luyện tội lâu hay mau còn tùy ở tội lỗi và sự đền bù của mỗi người. Tuy nhiên, những người còn đang sống vẫn có thể dâng những lời kinh, những hy sinh và những thánh lễ, để xin Chúa sớm giải thoát những linh hồn nơi luyện ngục, trong đó có ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng quyến thuộc và bạn hữu. Những người thân quen này, rất có thể vì yêu thương chúng ta, mà đã không tuân giữ những điều Chúa truyền dạy. Đồng thời chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi không ai tưởng nhớ đến. Thế nhưng trước hết và trên hết, chúng ta hãy cố gắng cải thiện đời sống, xa tránh tội lỗi, thực thi những việc bác ái yêu thương, để chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục, cũng như để bản thân chúng ta cũng được giảm bớt thời gian thanh luyện sau khi chết.
14.Bên kia sự chết
Trên giường hấp hối, thánh Monica đã nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: “Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh”.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đã được nghe nhiều lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta, trước khi từ giã cõi đời… Nhưng xa mặt cách lòng, nhiều người trong chúng ta lãng quên những lời van xin thống thiết ấy. Cần được thương, cần được nhớ: đó là khát vọng tự nhiên của con người. Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn. Dưới cái nhìn Đức Tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện cho, còn chứng tỏ một lòng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận cái giới hạn mỏng manh bất lực của mình.
Để giúp chúng ta có dịp đáp lại thỉnh cầu của những người đã đi vào thế giới bên kia và để thể hiện mối tình thông hiệp “các thánh thông công”, Giáo Hội ngay từ buổi đầu kỷ nguyên Kitô đã cổ động việc tưởng nhớ cầu nguyện cho những người quá cố. Những thế kỷ gần đây đã dành tháng 11 hằng năm cho việc đạo đức ấy. Hai ngày lễ mừng kính các thánh và cầu cho các linh hồn được ấn định vào hai ngày mùng một và mùng hai đầu tháng với những kinh nguyện rất ý nghĩa, nhắc chúng ta về sự hiệp thông trong Giáo Hội. Công đồng Vatican II trong hiến chế về Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết như sau: “Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh…”.Nói về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Đồng viết như sau: “Khi được về quê Trời và hiện diện trước nhan Chúa, nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh lại không ngừng cầu bàu cho chúng ta bên Chúa Cha…”. Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu đáp đền, đã thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện.
Quỳ cầu nguyện một mình trong nhà thờ, hay ngậm ngùi đốt lên một ngọn bạch lạp tại một nghĩa trang nào, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người chết và chính cái chết. Chúng ta đang đứng giữa biên giới vô hình của sự sống và sự chết. Và một cách vô cùng huyền nhiệm và sống động, những người chết đang hiện diện với chúng ta bằng một sợi dây liên kết thâm sâu, thắm thiết… Cái chết không còn là một chấm hết cuối cùng đối với chúng ta nữa. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Chính Tình Yêu đã làm cho những người đã chết được sống và cũng chính Tình Yêu liên kết chúng tư với những người chết. Vâng, chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người được bất tử. Chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người liên kết với những người đã chết. Chỉ có Tình Yêu mới mặc cho những nghĩa cử của con người sự bất diệt.
Mỗi lần chúng ta hy sinh cho một người nào đó, mỗi lần chúng ta săn sóc một người đau yếu, an ủi một người đau khổ, bênh vực một người cô thế, hay cùng với những người khác dấn thân để canh tân cuộc sống… Chúng ta đang tiến dần đến sự bất tử.Yêu thương chính là tái sinh, là sự thông dự vào sự sung mãn của cuộc sống. Đó phải là niềm tin của chúng ta trong ngày hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố. Xin Chúa nâng đỡ Đức Tin yếu kém của chúng ta, xin Ngài ban thêm niềm hy vọng cho chúng ta.
15.Lễ cầu nguyện cho các linh hồn
(Suy niệm của JK.)
TIN MỪNG: Lc 23,33-34.39-43
Câu hỏi gợi ý:
Thiên Chúa không muốn con người đau khổ, tại sao Ngài lại bắt linh hồn người chết phải thanh luyện cho hoàn hảo mới được vào thiên đàng?
Chịu thanh luyện để nên hoàn hảo, Bản chất của sự hoàn hảo này là gì? Là tình yêu? đức tin? sự trong sạch? hay sự tôn trọng lề luật? hay sự gì khác?
Người gian phi đầy tội lỗi trong bài Tin Mừng, tại sao lại được Đức Giêsu cho vào thiên đàng ngay? Vậy yếu tố cốt yếu nhất để vào thiên đàng là gì? Đọc kinh? cầu nguyện? dâng lễ? bố thí? giữ luật? hay tình yêu? lòng vị tha?
CHIA SẺ
1- Niềm tin của người Công giáo về luyện ngục
Hôm nay và suốt tháng 11 này, người Công giáo chúng ta đặc biệt quan tâm cầu nguyện cho những người quá cố. Chúng ta thường nghĩ họ đang phải chịu thanh luyện bằng đau khổ để trở nên hoàn hảo. Sự thanh luyện đó được Giáo Hội định tín: «Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được thanh luyện sau khi chết với những hình phạt được gọi là “Thanh Luyện”» (DS 856/464).
Mục đích của việc thanh luyện là làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo, hoàn toàn vị tha, đầy tình thương, không còn một chút tâm địa ích kỷ, độc ác, tham lam nào nữa. Thiên Đàng đòi hỏi một sự hoàn hảo như thế thật là hợp lý, vì đó là một «nơi» hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn thánh thiện, là «nơi» chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời. (Gọi là «nơi» thì chỉ là tạm gọi, vì thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa ngục không phải là nơi chốn, là không gian vật lý cho bằng là những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý. Chẳng hạn: Thiên Đàng là tình trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không còn một chút đau khổ, của những tâm hồn hoàn hảo, thánh thiện. Còn Hỏa Ngục là tình trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa, ích kỷ…)
2- Thiên đàng đòi hỏi người trong đó phải thật hoàn thiện
Không cần phải xét về phía Thiên Chúa, mà ngay chính chúng ta cũng đòi hỏi rằng: để vào Thiên Đàng thì phải thật trọn hảo. Thật vậy, thử hỏi, khi trở về «nơi» lý tưởng đó để hưởng hạnh phúc, ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với thân nhân, bạn bè với những tính nết xấu như họ đang có bây giờ không? Nếu người ở thiên đàng mà còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì chính bản thân họ sẽ đau khổ, đồng thời còn gây nên đau khổ cho người khác nữa. Chưa hoàn hảo mà đã sống ở Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền của Thiên Đàng, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch, tốt lành, nếu còn chút gì xấu xa thì phải thanh luyện cho hết. Tình trạng thanh luyện ấy được gọi là «luyện ngục».
3- Tội lỗi hay tính vị kỷ là đầu mối gây đau khổ
Chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ muốn con người phải đau khổ. Việc Ngài sai Con Một mình xuống chịu chết một cách thảm thương để cứu nhân loại chứng tỏ điều ấy. Nhưng Ngài không thể trực tiếp cứu chúng ta khỏi đau khổ, mà chỉ có thể cứu chúng ta khỏi những nguyên nhân gây nên đau khổ là tội lỗi. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan viết: «Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta» (Kh 1,5). Đau khổ chỉ là ngọn, còn tội lỗi mới là gốc. Muốn tránh khổ thì phải tránh tội lỗi. Diệt khổ thì chỉ là diệt ngọn, khổ vẫn có thể tiếp tục phát sinh. Diệt tội lỗi mới là diệt khổ tận gốc. Nhưng con người vì còn u mê nên thường sợ khổ chứ không sợ nguồn gốc phát sinh ra đau khổ là tội lỗi, là tính ích kỷ. Họ vẫn cứ tiếp tục phạm tội, sống ích kỷ. Vì thế, dù tìm đủ mọi cách để tránh khổ, con người vẫn cứ rơi vào đau khổ, hết khổ này đến khổ khác. Trong việc cứu khổ cho người khác, cho các linh hồn được thanh luyện, con người cũng chỉ nghĩ tới việc cứu họ khỏi đau khổ, chứ không nghĩ tới việc cứu họ khỏi những nguyên nhân gây đau khổ.
Nguồn gốc của tội lỗi chính là tính ích kỷ, chỉ biết nghĩ tới đau khổ và hạnh phúc của mình, mà không quan tâm hay biết đến đau khổ và hạnh phúc của người khác. Vì thế, nguyên nhân sâu xa hơn của đau khổ chính là tính ích kỷ.
4- Tình yêu hóa giải đau khổ và đem lại hạnh phúc
Nếu ích kỷ là nguồn gốc phát sinh đau khổ, thì ngược lại, tính vị tha hay tình yêu chính là nguồn tạo nên hạnh phúc. Do đó, người ta chỉ có thể vào được thiên đàng khi họ có đầy tràn tình yêu và không còn chút tính ích kỷ nào nữa. Nắm vững điều này, ta mới hiểu được ý nghĩa sâu xa câu nói Đức Giêsu, khi có người – vốn đã giữ rất chu đáo các lề luật – hỏi Ngài về cách đạt được sự sống đời đời: «Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (Mc 10,21). Điều đó có nghĩa là phải biết yêu thương và thật sự thể hiện tình yêu ấy thì mới được sự sống đời đời, tức được hạnh phúc đích thực. Kho tàng ở trên trời mà mọi người muốn lên đó phải sắm cho mình chính là kho tàng tình yêu.
Người trộm lành trong bài Tin Mừng hôm nay đã thể hiện được tinh thần vị tha và tình yêu ấy. Trong cảnh khổ như thế mà anh không hề nghĩ tới đau khổ của bản thân mình, mà chỉ nghĩ tới đau khổ của Đức Giêsu, thương cho Ngài bị hàm oan: «Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!». Chính vì thế, anh đã được Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng». Người trộm lành tuy đầy tội lỗi, nhưng cuối cùng anh đã phát tâm yêu thương, và tình yêu đã biến anh thành người tốt lành, xứng đáng với hạnh phúc thiên đàng. Đúng như câu nói của thánh Phaolô: «Tình yêu che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4,8).
5- Chấp nhận đau khổ vì tình yêu là bí quyết của hạnh phúc
Câu chuyện về người trộm lành trên làm tôi nghĩ đến một câu chuyện của Đức Phật. Trong một tiền kiếp nọ của ngài, ngài đã phạm một trọng tội khiến ngài bị đọa vào địa ngục. Tại đó, ngài cùng nhiều người khác bị đau khổ ghê gớm. Khi nhìn thấy những người trong đó đang quằn quại với những cực hình vô cùng đau đớn như mình, ngài thương họ vô cùng. Tình thương ấy khiến ngài phát tâm nguyện rằng: Tôi nguyện sẵn sàng chịu thay cho mọi người trong địa ngục này tất cả những đau khổ mà họ đang phải chịu, để họ thoát khỏi những cực hình ghê gớm này! Vừa nguyện như thế xong thì lập tức ngài tự nhiên thoát khỏi cảnh đau khổ ấy. Còn những người kia thì vẫn tiếp tục ở lại đấy chịu đau khổ.
Tôi chỉ coi chuyện trên như một dụ ngôn. Tuy không có thực, nhưng nó nói lên một chân lý mà chính tôi đã thực nghiệm thấy rất đúng. Khi tôi chỉ quan tâm chú ý tới những đau khổ tôi đang phải chịu, thì tôi thấy đau khổ ấy – một cách chủ quan – tăng lên gấp bội. Nhưng khi tôi quan tâm tới những đau khổ của người khác đang phải chịu, khi tôi muốn làm giảm bớt đau khổ cho họ, khi tôi chấp nhận chịu đau khổ thay cho họ, hay chịu khổ nhiều hơn nữa để họ bớt khổ hay để họ được hạnh phúc, thì lập tức tôi cảm thấy tâm hồn mình mạnh mẽ lên. Lúc ấy những đau khổ tôi đang chịu – tuy dù một cách khách quan không hề thay đổi, mà có thể còn tăng lên – bỗng nhiên mất đi tính dữ dội hay thảm khốc của chúng đối với tôi. Chúng không còn làm tôi đau khổ được như trước.
Áp dụng kinh nghiệm này vào đời sống gia đình, tôi nhận thấy: khi tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, mọi đau khổ, mọi buồn phiền để làm những người thân yêu của tôi bớt khổ và được hạnh phúc, thì điều lạ lùng tôi cảm nghiệm được là tôi không hề đau khổ mà lại thấy hạnh phúc hơn. Tôi hạnh phúc hơn vì tôi thấy nhờ hành động ấy của tôi mà những người tôi yêu thương được hạnh phúc hơn. Điều làm họ hạnh phúc nhất là thấy tôi yêu thương họ, hết mình với họ. Và chính vì thế, họ cũng chẳng để tôi phải vất vả hay chịu đau khổ thay cho họ, ngược lại họ lại sẵn sàng chịu đau khổ thay cho tôi. Và thế là cả gia đình tôi – trong đó có tôi – đều cảm thấy hạnh phúc trong bầu khí đầm ấm yêu thương. Thế là chỉ vì tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, cực nhọc, đau khổ thay cho những người thân yêu, mà tôi biến gia đình tôi thành một gia đình hạnh phúc. So với nhiều người chủ gia đình khác, tôi thấy mình hạnh phúc hơn họ nhiều, xét cả mặt khách quan lẫn chủ quan. Tôi nhận thấy: không phải khi mình sẵn sàng chịu đau khổ thay cho người khác thì tất nhiên mình sẽ phải chịu đau khổ nhiều hơn đâu! Mà ngược lại, thái độ quên mình ấy lại đem lại hạnh phúc cho cả tôi lẫn những người chung quanh tôi. Đó là kinh nghiệm của tôi trong gia đình. Và tôi đang áp dụng kinh nghiệm này ra ngoài gia đình, trong xã hội… và tôi vẫn thấy nó đúng. Xin chia sẻ với mọi người kinh nghiệm có thật này để may ra hữu ích cho ai đó!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, thánh Gioan nói: «Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo» (1Ga 4,18). Con cảm thấy chính khi con thật sự có tình yêu thì con không sợ đau khổ, mà sẵn sàng đón nhận đau khổ để người khác được hạnh phúc. Và khi con không sợ đau khổ, thì đau khổ không còn tác oai tác quái trên con nữa. Nó không còn khả năng làm con mất bình an hạnh phúc được nữa. Và con cảm thấy bình an và hạnh phúc do tình yêu đem lại chính là thiên đàng. Một thiên đàng mà con có thể cảm nghiệm trước ở ngay trần gian này.
16.Các tín hữu đã qua đời
Trong thánh lễ cầu cho những người đã qua đời, chúng ta thường hát: Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy.
Khi cầu xin với Chúa như vậy, chúng ta phải giả thiết các linh hồn ấy chưa đến được nơi hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng đồng thời cũng không bị đày đọa trong hỏa ngục. Và dựa vào giáo lý, chúng ta đã biết luyện ngục là nơi đau khổ, trong đó linh hồn những người công chính sẽ phải thanh tẩy tội lỗi trước khi bước vào Nước Trời.
Các linh hồn ấy không bị ném vào chốn cực hình muôn kiếp, nhưng cũng chưa được vào thiên đàng. Sở dĩ như vậy vì Thiên Chúa là Đấng thánh thiện và trong sạch vẹn toàn. Ngài không bao giờ chấp nhận chút bùn nhơ tội lỗi, dù là nhỏ bé tầm thường. Linh hồn vấp phạm đã được tha thứ, nhưng còn phải đền bù và thanh luyện về những sai lỗi ấy. Và thật là may mắn, chúng ta có thể giúp đỡ bằng những lời kinh, những hy sinh và những thánh lễ dâng lên cho Thiên Chúa, để xin Ngài xóa bỏ tội lỗi, giảm bớt hình phạt và mau giải phóng các linh hồn ấy.
Sau đây chúng ta hãy lắng nghe một tiếng nói từ thế giới bên kia vọng về. Vào mùa chay năm 1922, nữ tu Joséfa xin với Chúa cho mình được liên hệ với thế giới của luyện ngục, và nữ tu đã ghi nhận:
Rất nhiều linh hồn đã xin ngài hy sinh và cầu nguyện cho.
Một linh hồn nói:
Tôi đã sống trong tình trạng tội lỗi suốt bảy năm. Sau đó tôi bị đau ốm ba năm. Tôi từ chối không muốn xưng tội. Tự tay tôi đã xây lấy hỏa ngục cho tôi. Nhưng nhờ lời kinh và hy sinh của người mẹ, mà tôi ăn năn thống hối trở về với Chúa và sống trong tình trạng ơn thánh. Bây giờ tôi đang bị giam cầm trong luyện ngục. Tôi van xin ngài hãy cứu giúp tôi, để mau mau chóng ra khỏi tù ngục này.
Hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục vì đó là một bổn phận bác ái. Nỡ lòng nào mà chúng ta không ra tay trợ giúp kẻ kêu cầu chúng ta. Nỡ lòng nào mà chúng ta lại lãnh đạm trước một người bạn đang chới với giữa dòng nước mà không tìm cách cứu vớt.
Hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục vì đó là một bổn phận công bằng, vì tất cả chúng ta đều liên đới với nhau trong sự thiện cũng như trong sự ác, trong sự tốt cũng như trong sự xấu. Những người bị đền bù, rất có thể vì đời sống tầm thường, vì gương mù gương xấu của chúng ta mà vấp ngã, rất có thể vì yêu thương chúng ta mà các ngài đã sai lỗi điều nọ điều kia. Dù ít hay nhiều, chúng ta cũng liên đới chịu trách nhiệm về những hình phạt của các ngài và phải chia sẻ về những hình phạt ấy.
Sau cùng, hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục vì đó là việc làm có lợi cho chúng ta. Cầu nguyện cho các ngài, thì các ngài cũng sẽ bầu cử cho chúng ta vì các ngài đã là những bạn hữu nghĩa thiết của Chúa. Tưởng nhớ đến các ngài, thì chắc hẳn mai ngày khi ở trong hoàn cảnh khổ đau như thế, Chúa cũng sẽ không để chúng ta chìm vào quên lãng.
Cách đây không lâu cha sở vùng Bretagne là một mục tử tận tâm chăm sóc đoàn chiên của mình. Chẳng may ngài bị chết bất ngờ, và có tới hơn hai trăm linh mục khác đến đồng tế trong thánh lễ an táng của ngài.
Ngài đã nói với các em nhỏ trong giờ giáo lý cuối cùng như sau:
Hãy cầu nguyện cho các linh mục. Nếu cha bị chết bất ngờ, chắc hẳn cha sẽ phải vào trong luyện ngục. Các em hãy hứa là sẽ cầu nguyện và cầu nguyện nhiều cho cha nhé.
Và để kết luận, tôi xin đưa ra nơi đây ý kiến của một tờ báo Công giáo:
– Bạn nhớ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục và cũng thường xuyên nghĩ tới cái chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục. Bạn còn có thể chuẩn bị cho ngày gặp gỡ mặt đối mặt với Thiên Chúa. Trong ngày đó, chỉ có hai con đường: hoặc là đau khổ vĩnh viễn, hoặc là hạnh phúc muôn đời. Vậy chúng ta chọn con đường nào đây?
17.Họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa
Một linh mục đang chuẩn bị cho trẻ em lãnh bí tích thêm sức, Ngài kiểm tra những điều các em học hỏi. Ngài hỏi một em trai: “Thiên Chúa sẽ nói gì trong ngày phán xét chung với những người đã sống cuộc đời rất tốt lành?” Không doÙ dự, chú bé đáp: “Hãy lên trời sống với Ta”.
Rồi linh mục hõi một em bé gái: “Còn những người sống cuộc đời rất xấu xa thì sao? Thiên Chúa sẽ nói gì với họ?”. Cô bé đáp: “Các người không được lên trời. Các người phải đi nơi khác”.
Linh mục nói tiếp: “Vậy Thiên Chúa sẽ nói gì với những người chưa tốt lành đủ để lên trời và cũng không xấu đến nỗi phải vào hỏa ngục?” Một em bé nhanh nhảu giơ tay và trả lời theo kiểu mới bằng những lời rất đúng: “Thiên Chúa sẽ nói: “Ta sẽ nhìn các con”.
Câu chuyện này làm nổi bật hai trong nhiều chân lý mà chúng ta cần nhắc lại trong ngày lễ các linh hồn hôm nay và trong cả trong tháng 11 này được dành riêng để kính nhớ các linh hồn còn trong luyện hgục. Chân lý thứ nhất là: một số linh hồn chưa đủ tốt lành để lên trời và không xấu đến nỗi phải vào hỏa ngục. Vậy những người đó đi đâu khi họ qua đời? Chỉ Giáo hội công giáo có câu trả lời, là họ vào luyện ngục. Chân lý khác được em bé gái diễn tả là: đau khổ lớn nhất của luyện ngục là các linh hồn ở đó không được nhìn thấy Thiên Chúa, vì Thiên Chúa sẽ nhìn xem họ sau này, cho nên họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa về sau.
Bạn không tìm thấy từ “luyện ngục” trong Thánh Kinh, nhưng bạn có thể tìm được ý tưởng về nó. Chính Chúa chúng ta muốn nói rằng: một số tội được đền chuộc lại ở đời sau khi Ngài nói về tội không thể tha thứ vì từ chối kêu xin sự tha thứ (Mt 12,32)
Chúa Giêsu cũng nói về một ngục tù nơi linh hồn sẽ bị tống vào đó vì một số tôi. Họ sẽ chẳng được ra khỏi đó cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng (Mt 5,26), thánh Phaolô nói về những người sống ở thế gian này không hoàn thiện, tuy nhiên họ sẽ được cứu độ như bằng lửa thử luyện (ICor 3,13). Cựu ước cũng chỉ cho thấy luyện ngục. Giuda Macabê, nhà lãnh đạo Do thái, đã dâng lễ tế đền tội cho người đã chết: “Cầu nguyện cho người đã chết là một ý tưởng lành thánh và đạo đức, để họ được tha thứ tội lỗi” (Amac 12,46).
Các linh hồn lành thánh không được lập công được nữa vì họ cũng không thể phạm tội nữa. Họ không thể giúp mình nhưng có thể giúp chúng ta. Họ đau khổ chính là vì họ không có thể ở cùng Thiên Chúa và nhìn xem Thiên Chúa. Họ chịu thứ đau khổ thanh tẩy có thể so sánh với đau khổ vì lửa. Nhưng họ vẫn vui mừng: họ nắm chắc là họ sẽ được lên trời.
Nhiêu linh hồn lành thánh này là những người thân yêu của chúng ta. Chúng ta có thể giúp đỡ họ bằng cầu nguyện, bằng việc lành và đặc biệt nhờ thánh lễ mà chúng ta cầu nguyện: “Xin Chúa nhớ đến tổ tiên, thân thuộc chúng con và anh chị em tín hữu đang an nghỉ chờ ngày sống lại, xin cho tất cả được hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa”.
Xin Chúa chúc lành cho các bạn.
18.Thân xác và linh hồn
(Suy niệm của John W. Martens - Chuyển ngữ: Văn Hào SDB.)
“Ta sẽ cho họ chỗi dậy trong ngày sau hết” (Ga 6,40).
Khi chúng ta chết, điều gì sẽ xảy đến? Đây là vấn nạn chúng ta thường đặt ra, đặc biệt đối với các Kitô hữu, khi mọi người đều hướng vọng về sự sống mai sau. Nhưng trước khi thân xác chúng ta được phục sinh trong ngày sau hết, trong thời gian chuyển tiếp, điều gì sẽ xảy đến? Sau khi giã từ trần gian, chúng ta sẽ đi về đâu? Đây là điều thường gây ngộ nhận, nếu chúng ta không quán triệt giáo lý của Giáo hội. Hồi còn nhỏ tôi vẫn nghĩ về sự phục sinh mai sau và cho rằng sau khi chết, tôi sẽ được sống lại ngay lập tức trên quê trời cùng với tất cả những ai đã được quyền năng Chúa cho sống lại. Đây không phải là cái nhìn theo quan điểm Kitô giáo. Tuy nhiên, nhiều Kitô hữu vẫn ngộ nhận rằng sau khi chết, chúng ta sẽ sống trên quê trời, tuy không mang hình hài thân xác, nhưng linh hồn được giải thoát khỏi những ràng buộc của thể lý, và đó cũng là cuộc sống mà mọi người phải hướng vọng về. Cuộc sống mai hậu khi thân xác chết đi, là một điều rất khó giải thích, bởi vì những bản văn Kinh Thánh chỉ nói tới điều đó cách rời rạc và không nhất quán đưa ra một cắt nghĩa tổng thể. Về cuộc sống sau khi chết, Kinh Thánh chỉ mặc khải một cách tiệm tiến dần dần.
Những người Do Thái cổ đại không đặt trọng tâm vào thế giới mai hậu, nhưng họ chỉ nhắm đến cuộc sống hiện sinh với những phần thưởng và chúc lành từ nơi Thiên Chúa. Đó là một cuộc sống trường thọ của ngày hôm nay, được đông con nhiều cháu, có dư dật của cải, cụ thể có nhiều hoa màu ruộng đất và đàn gia súc phong phú. Theo quan niệm cổ xưa, người chết sẽ xuống âm phủ, là nơi không phải để thưởng phạt, nhưng chỉ là nơi bóng tối của sự chết bao trùm khi chúng ta an giấc ngàn thu.
Cựu ước nói rất ít về sự phục sinh. Mãi về sau này, trong các bản văn thuộc thế hệ sau lưu đầy khi dân Israel trở về kiến thiết lại Giêrusalem, sự phục sinh thân xác mới được nhắc tới. Vài thế kỷ trước công nguyên, dần dần xuất hiện sự phát triển quan niệm về số phận muôn đời của những người đã chết. Muộn thời sau này, người Do Thái mới có tư tưởng tuy không hệ thống hóa, nhưng nhấn mạnh rằng trọn vẹn con người chúng ta cả xác lẫn hồn sẽ được chỗi dậy trong ngày sau hết.
Trong khi có khá ít những tư tưởng nói về cuộc sống con người sau cái chết để chờ đợi được phục sinh, thì tác giả sách Khôn ngoan, bộ sách đã được viết vào khoảng từ năm 30 đến năm 40 trước công nguyên tại Alexandria thành phố nói tiếng Hy Lạp, có đề cập đến ‘linh hồn những người công chính’ đã chết. Tác giả viết: “Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa và chẳng cực hình nào động tới được nữa. Bọn ngu si coi họ như đã chết rồi. Khi họ ra đi, chúng cho là họ gặp phải điều vô phúc. Lúc họ xa rời chúng ta, chúng ta tưởng là họ bi tiêu diệt. Nhưng thật ra họ đang hưởng bình an (Kn 3 1-3). Quan niệm âm phủ không còn nữa, nhưng thay vào đó, là tình trạng con người thoát khỏi cực hình và được an bình. Toàn bộ trình thuật đưa ra một tiến trình phán xét sau khi chết, và nói về sự hiện diện tiếp mãi của Thiên Chúa. Nhưng bản văn cũng tiên báo một Vương quốc của Thiên Chúa trong tương lai, khi đó linh hồn người công chính sẽ thống trị muôn dân nước và xét xử muôn dân tộc, và Đức Chúa sẽ cai trị họ đến muôn đời (Kn 3, 7-8).
Đối với người Kitô hữu, Vương quốc tương lai này sẽ được khai mở khi Đức Giêsu trở lại, lúc đó tất cả mọi người, kẻ sống cũng như kẻ chết, sẽ được tham phần vào sự sống lại của Đức Kitô nơi thân xác họ. “Vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại (Rm 6,5). Đức Giêsu cũng nói về sứ mạng cứu thế của Ngài, khi chiến thắng tội lỗi và sự chết: “ Quả thật, đây là ý muốn của Cha tôi, là những ai thấy Chúa Con và tin vào Người Con, sẽ có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho họ chỗi dậy trong ngày sau hết” (Ga. 6,39).
Khi còn sống trong thân xác nơi trần thế, chúng ta đợi chờ cái chết chắc chắn sẽ đến, và hướng vọng về Vương quốc mai sau trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta cũng ngóng đợi sự viên thành của Vương quốc Nước Trời, khi hồn và xác được kết hiệp lại để sống muôn đời. Sách Giáo lý Công giáo, điều 1005 cũng cắt nghĩa theo lời dạy của Thánh Phaolô, với một viễn cảnh tràn trề hy vọng: ‘Để được chỗi dậy với Đức Kitô, chúng ta phải chết với Đức Kitô, tức là chúng ta phải xa lìa thân xác để được cư ngụ với Chúa’. Sự chia lìa tạm thời này chính là cái chết, khi thân xác tách rời khỏi linh hồn. Linh hồn sẽ được kết hiệp lại với thân xác trong ngày kẻ chết sống lại. Vì thế, cùng với linh hồn những người công chính đã ra đi trước chúng ta, các Kitô hữu sẽ chờ đợi Vương quốc của Thiên Chúa, nơi đó mọi sự được viên toàn, và Thiên Chúa sẽ là tất cả trong mọi sự.
19.Hãy nhớ đến công đức của các ngài
(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP.)
Tại đất nước của chúng ta hay trên thế giới, có lẽ không ai lại không biết đến cây chuối. Có nhiều loại chuối, nhưng các loại chuối đều giống nhau ở một điểm là: chúng chỉ sản sinh ra một buồng chuối duy nhất, không bao giờ có buồng thứ hai. Lúc mới lớn, chúng to cao, thân vạm vỡ, lá xanh tươi. Nhưng khi chúng bắt đầu có buồng, thì cũng là lúc chúng chuẩn bị héo tàn xơ xác với thời gian, và, khi buồng chuẩn bị chín, cây chuối mẹ sẽ ủ rũ, héo úa như muốn dồn hết sức lực còn sót lại để nuôi chúng. Sự sống của nó kết thúc khi buồng chuối đã chín hẳn.
Như vậy, trong quá trình sinh trưởng của buồng, cây chuối mẹ phải hy sinh những tinh túy nhất của mình cho buồng chuối. Có thế, chúng ta mới được tận hưởng những trái chuối to, thơm ngon và bổ dưỡng….
Cây chuối là biểu tượng cho một tình yêu cao thượng. Nhìn cây chuối đang mang buồng, chúng ta suy nghĩ đến sự quảng đại, hy sinh đến quên mình của những bậc tiền nhân chúng ta.
Hôm nay, cùng với Giáo Hội, chúng ta cử hành thánh lễ Cầu Hồn để cầu nguyện cho các linh hồn là những ông bà, cha mẹ, tổ tiên, những người thân yêu, ân nhân, thân nhân, bạn hữu…. của chúng ta đã ra đi về với Chúa.
1. Lý do cần cầu nguyện cho các linh hồn
Cầu nguyện cho các ngài là bổn phận, là sống tinh thần hiệp thông, là thể hiện đức ái và nhất là biểu lộ niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa.
Như vậy, tháng 11 đối với đạo Công Giáo được gọi là tháng báo hiếu tổ tiên. Vì thế, những người con, cháu, chắt hãy nhớ công ơn trời bể, nhất là những lời dạy dỗ, bảo ban của các ngài mà khắc cốt nghi tâm: “Hỡi con, lệnh cha con truyền, hãy lo tuân giữ, lời mẹ con dạy, chớ bỏ ngoài tai […], vì huấn lệnh là ngọn đèn, lời dạy dỗ là ánh sáng, và lời quở trách bảo ban là đường dẫn tới sự sống” (x. Cn 6,20.23).
Thật vậy, cả cuộc đời của các ngài đã sống hết mình vì con cái. Đôi khi vì hạnh phúc của con mà người mẹ phải chấp nhận tần tảo ngược xuôi, ăn bữa nay, lo bữa mai, nhưng nhất quyết không để con mình phải đói, phải rách, hay bị thất học…. Có những người mẹ đã cống hiến luôn cả một phần cơ phận của mình để có tiền lo cho con cái ăn học hay chữa bệnh…:
“Nuôi con buôn tảo bán tần, chỉ mong con lớn nên thân với đời. Những khi trái nắng trở trời, con đau làm mẹ đứng ngồi không yên. Trọn đời vất vả triền miên, chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.
Hoặc có những người cha đã phải thức khua dạy sớm, làm lụng vất vả để nuôi sống gia đình và lo cho con cái bằng bạn bằng bè:
“Cha tôi tuy đã già rồi, nhưng còn làm lụng để nuôi cả nhà. Sớm hôm vừa dấy tiếng gà, cha tôi đã dạy để ra đi làm”.
Đó là về vật chất, còn về tinh thần thì sao? Chắc hẳn không có người cha, người mẹ nào lại muốn con cái mình sinh ra hư hỏng, trái lại, các ngài luôn mong muốn cho chúng càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan, đạo hạnh…. Tuy nhiên, vì sự lêu lổng, tính ham chơi và tuổi đời bồng bột, nên đã biết bao lần con cái làm cho cha mẹ phải tủi nhục đắng cay! Đấy là chưa kể đến những đứa con bất hiếu đến độ đuổi cha mẹ ra khỏi nhà, chửi mắng các ngài chỉ vì không đáp ứng những nhu cầu bất chính của chúng! Quả đúng là: “Cha mẹ thương con như biển hồ lai láng, con thương cha mẹ tính tháng tính ngày”.
Nhiều khi con cái đâu có hiểu được rằng: chúng được thành đạt, nên người; được cơm no áo ấm; được nở mặt nở mày với những nụ cười rạng rỡ; được nhiều người thương mến, kính trọng…. Có bằng này chức kia lại là kết quả của cha mẹ một nắng hai xương, dầm mưa dãi nắng; cầy sâu cuốc bẫm; suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để dành dụm được chút ít dư dật, hầu lo cho con cái được ấm no, hạnh phúc.
Nói chung: “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Đây là gia tài quý báu mà các ngài truyền lại cho con cháu.
Thật vậy, công đức, gương sáng của các ngài đã để lại cho chúng ta là cả một gia tài vô giá, vì thế,“Uống nước phải nhớ nguồn, ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây”, vì: “Mẹ cha vất vả nuôi mình. từ khi trứng nước công trình biết bao. Làm con phải nhớ công lao, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Nhưng có lẽ món quà quý giá nhất giờ đây mà các ngài mong muốn nơi chúng ta, đó là dâng thánh lễ và lời cầu nguyện.
2. Cầu nguyện là món quà quý giá nhất dành cho các linh hồn
Vì thế, niềm tin Kitô Giáo cho chúng ta một niềm hy vọng rằng: chết không phải là hết, nhưng là một cuộc đi về Quê Thật, vì: “Sinh ký, tử quy”. Chính trong niềm tin này mà chúng ta có một sự liên hệ mật thiết giữa người sống và người chết cách nhiệm mầu, nhưng sống động. Thế nên, khi đứng trước hay nhìn thấy các nấm mồ của người thân yêu đã quá cố, chúng ta không thể quên công ơn của các ngài, vì: “Mồ thật chôn các người chết là trái tim của người sống” (Tục ngữ). Sự sống và tinh thần của các bậc tổ tiên được lưu truyền hậu thế mãi mãi nơi những khuôn mặt, trái tim của hậu sinh là chúng ta.
Vì thế, Mẹ Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy tưởng nhớ công ơn của các ngài để noi gương và nhất là dâng lời cầu nguyện, hy sinh cho các linh hồn. Đây là cách báo hiếu tốt nhất dành cho người quá cố và đây cũng là niềm tin của mỗi chúng ta. Trong Kinh Thánh, chúng ta vẫn tuyên xưng: “Tôi biết rằng Ðấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất. Sau khi da tôi đây bị tiêu huỷ, thì với tấm thân, tôi sẽ được nhìn ngắm Thiên Chúa” (G 19,25-26). Xác tín này cũng chính là niềm tin của Mattha trước cái chết của Lazarô, vì thế, cô được Đức Giêsu mặc khải về sự sống sau cái chết nơi những người tin: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26). Lời hứa về sự sống đời đời còn được Đức Giêsu mặc khải nhiều lần khác nhau: “Ý của Ðấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 39). Lúc khác Ngài khẳng định mạnh mẽ hơn: Ai “tin vào người Con, thì được sống muôn đời” (Ga 6, 40). Hay: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6, 54).
3. Sứ điệp ngày lễ
Mỗi khi tháng 11 đến, ngoài việc cầu nguyện cho các linh hồn, Giáo Hội mời gọi chúng ta ý thức rằng: “Nay người, mai ta”. Sự ra đi của tiền nhân là dấu chỉ báo trước cho chúng ta biết, một mai chúng ta cũng sẽ lần lượt ra đi như các ngài để trở về thế giới bên kia, vì: “Mọi sự dầu hay, hay dở, đều không chắc chắn, chỉ sự chết là chắc chắn sẽ xảy đến” (thánh Augúttinô).
Tuy nhiên, thông điệp được sáng lên từ những nấm mồ tưởng chừng như bất động kia lại rất sống động khi nó chuyển tải cho chúng ta những chân lý như: cuộc đời này thật hữu hạn. Sẽ có ngày tôi cũng phải từ giã mọi người để ra đi về với Chúa và được chôn cất trong ba tấc đất nhỏ bé kia. Thân xác chúng ta sẽ trở về với cát bụi, và mọi cố gắng đến đây chấm dứt, chỉ còn biết cậy trông lòng thương xót của Thiên Chúa, lòng nhân ái của mọi người bằng đời sống hy sinh và cầu nguyện mà thôi.
Bên cạch đó, từ mơi nấm mồ toát lên lời mời gọi chúng ta: hãy sống lành để được chết thánh; hãy yêu thương để được yêu thương; hãy tha thứ để được thứ tha; hãy sống như ngày mai sẽ chết, để ngay từ giây phút này sám hối ăn năn, đây chính là tinh thần tỉnh thức trong ân sủng.
Lạy Chúa Giêsu, chính Chúa là sự sống đời đời, xin ban cho các linh hồn được an nghỉ trong tình thương của Chúa và xin cho chúng con sống tốt trong cuộc sóng hiện tại, để mai ngày được cùng tổ tiên chúng con ca tụng Chúa trên Nước Trời. Amen.
20.Luyện ngục
CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI
Vấn đề chúng ta tìm hiểu hôm nay, đó là có những sự gì xảy ra cho các linh hồn nơi luyện ngục? Hai chữ luyện ngục mà thôi cũng đã đủ cho chúng ta thấy đó là nơi đau khổ, đền bù và thanh luyện. Vào ngày phán xét, chúng ta sẽ thấy mình còn xa cách với lý tưởng mà Chúa đã ấn định. Mặc dù linh hồn ra đi trong tình trạng ơn thánh, nhưng còn biết bao nhiêu những sau lỗi, biết bao nhiêu những tỳ vết khiến chúng ta phải kêu lên:
Lạy Chúa, con không thể nào trở về cùng Chúa khi chưa xóa bỏ hết những hoen ố của biết bao nhiêu lần vấp phạm.
Có lẽ ngay trong lúc này, chúng ta cũng cảm thấy:
Chưa bao giờ tôi đã lên tới đỉnh trọn lành, chưa bao giờ tôi được thỏa mãn với chính bản thân mình?
Làm sao chúng ta có thể hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa trong cuộc sống hiện tại như Đức Kitô ngày xưa? Thì đây, luyện ngục sẽ là nơi để chúng ta kết thúc những công trình còn dang dở. Lửa thanh luyện càng bừng cháy để thiêu đốt những bụi bậm, những rác rưởi, những cặn bã, thì hình ảnh Chúa càng rực sáng trong tâm hồn chúng ta. Và khi hình ảnh ấy đã trở nên chói lòa, rực rỡ và huy hoàng, thì luyện ngục sẽ chấm dứt và chúng ta sẽ được bước vào niềm hạnh phúc thiên đàng.
Nếu quan niệm như thế, chúng ta sẽ cảm thấy nông cạn và hời hột khi cho rằng:
Hình phạt luyện ngục thì không xứng đáng với lòng nhân từ và thương xót của Chúa. Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta một cách nhưng không, mà chẳng cần phải đều bù thanh luyện chi cả.
Nếu suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy không thể nào chấp nhận được quan niệm ấy, bởi vì nó đi ngược lại với sự thánh thiện và công thẳng tuyệt đối của Chúa.
Thánh vịnh 118 đã bảo:
Thiên Chúa thật công bằng và phán quyết của Ngài thật ngay thẳng.
Chính Chúa Giêsu cũng đả xác quyết:
Ngươi sẽ không ra khỏi đó cho đến khi trả xong đồng xu cuối cùng.
Lòng thương xót và sự công bằng của Thiên Chúa thoạt xem ra như tương phản lẫn nhau, nhưng lại vô cùng hòa hợp với nhau qua tín điều về luyện ngục.
Thực vậy, trong khi sự công bằng đòi phải đền bù và thanh luyện, thì lòng thương xót lại đưa ra những phương tiện, những cách thức giúp đỡ để được rút ngắn thời gian đau khổ. Từ đó, chúng ta thấy được hai khía cạnh của luyện ngục, đó là đau khổ và an ủi. Bởi vì hình phạt ở luyện ngục cũng giống như hình phạt ở hỏa ngục, nhưng chỉ khác một điều, đó là ở luyện ngục thì chỉ tạm thời, còn ở hỏa ngục thì vĩnh viễn. Và hình phạt đau khổ nhất chính là phải xa lìa Thiên Chúa vào giữa lúc chúng ta nhận biết Ngài là ai và đang cố gắng tiến đến với Ngài. Tuy nhiên, không phải chỉ có thế.
Mặc dù là một nơi đau khổ và thanh luyện, nhưng luyện ngục không phải là hỏa ngục, trái lại luyện ngục chính là lối dẫn vào thiên đàng.
Những linh hồn nơi luyện ngục chắc chắn không phải rơi vào tay ma quỉ, nhưng sẽ được nghỉ yên trong Chúa. Ơn cứu rỗi của họ đã được bảo đảm và họ sẽ không bị kết án. Đó là khía cảnh đầy vui mừng và an ủi của luyện ngục.
Vậy luyện ngục là gì?
Tôi xin thưa:
Luyện ngục là hỏa ngục, nhưng ở đó có niềm vui.
Hay nói một các khác:
Luyện ngục là thiên đàng, nhưng ở đó có đau khổ.
Họ đau khổ vì hiện tại còn đang phải tạm thời xa cách Chúa. Nhưng đồng thời họ vui mừng vì một ngày kia sẽ được nhìn ngắm tôn nhan Chúa, mặt đối mặt.
Niềm tin vào luyện ngục sẽ đem lại một sự an ủi và khích lệ, khiến chúng ta không bao giờ phải tuyệt vọng. Thế nhưng tín điều này còn là một lời cảnh cáo gửi đến mổi người chúng ta đang sống trong cuộc sống này:
Đừng bình thản trong tội lỗi.
Đồng thời cũng là một thôi thúc:
Đừng thất vọng trước những sai lỗi vấp phạm của mình.
Sau cùng, hãy thêm lời cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục, bởi vì như sách Macabêô đã xác quyết:
Cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi mọi tội lỗi là một việc làm thánh thiện và có giá trị cứu rỗi.
21.Mầu nhiệm Các Thánh cùng thông công
(Suy niệm của Lm. Đan Vinh)
1. NGUỒN GỐC LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN
– Theo lịch sử Hội thánh: Thánh ODILO (962- 1048) là viện phụ của đan viện Cluny trong đế quốc Germany, là một tu sĩ rất có lòng đạo đức. Ngài luôn tưởng nhớ cầu nguyện kèm ăn chay hãm mình và dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời. Một hôm, một đan sĩ Dòng của ngài đi hành hương Đất thánh. Trên đường trở về, tàu chở vị đan sĩ đã bị bão đánh giạt vào một hòn đảo, và tại đây đan sĩ đã gặp gỡ và trao đổi với một vị ẩn sĩ. Trong buổi trò chuyện, ẩn sĩ cho biết: “Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều linh hồn người chết thường bị hành hạ, đánh đập đau đớn. Có lần tôi nghe được mấy tên quỉ phàn nàn với nhau về Viện phụ Odilo và các đan sĩ Dòng Cluny mỗi ngày đều giải thoát được một số linh hồn được ra khỏi hang lửa nói trên. Vì thế, xin thầy hãy về nói với cha Odilo và các anh em trong Dòng tiếp tục cứu giúp các linh hồn đang chịu đau khổ. Việc này làm cho các thánh trên trời vui mừng và cũng làm cho ma quỷ trong hỏa ngục phải buồn sầu tức giận”. Sau khi nghe tu sĩ kể lại sự việc, cha Odilo đã chọn ngày 2 tháng 11 hằng năm để cử hành lễ cầu hồn trong đan viện Cluny của ngài. Về sau lễ cầu hồn này đã truyền sang nước Pháp, và Đức Giáo hoàng Gio-an 14 đã thiết lập lễ Cầu cho các linh hồn trong Hội Thánh Công Giáo Rô-ma từ giữa thế kỷ 11.
– Giáo lý Hội Thánh Công giáo do Đức Thánh cha Gio-an Phao-lô 2 ban hành năm 1992 có 3 số nói về luyện ngục như sau:
Số 1030: Cần có Luyện ngục: “Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng”.
Số 1031: Luyện ngục để thanh tẩy: “Giáo Hội gọi là luyện ngục là sự thanh luyện sau cùng này của các người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị án phạt. Giáo Hội đã trình bày giáo lý của đức tin về Luyện ngục, nhất là tại các Công đồng Florentia (xem DS 1304) và Trentô (xem DS 1820; 1580). Dựa vào một số bản văn của Thánh Kinh (Chẳng hạn 1 Cr 3,15; 1 Pr 1,7), truyền thống của Giáo Hội nói đến một thứ lửa thanh luyện: “Đối với một số những lỗi lầm nhẹ, ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy trước ngày Phán xét, theo như những gì mà Đấng là Chân lý đã dạy khi Ngài nói rằng nếu ai nói lời phạm thánh chống lại Chúa Thánh Thần, thì sẽ không được tha cả đời này lẫn ở đời sau” (Mt 12,31). Theo lời quyết đoán này, chúng ta có thể hiểu rằng một số lỗi lầm có thể được tha ở đời này, nhưng một số lỗi khác thì được tha ở đời sau” (Th. Gregoriô Cả, Dial. 4,39).
Số 1032: Người sống cứu người chết: Giáo huấn này cũng dựa vào cách cầu nguyện cho kẻ chết, như được nói đến trong Thánh Kinh: “Đó là lý do tại sao ông Giuđa Macabê đã truyền phải dâng hy lễ đền tội này cho các người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình” (x. 2 Mcb 12,46).
– Ngày 10 tháng 8 năm 1915: Trong một Tông hiến, Tòa thánh cho các linh mục được dâng 3 lễ vào ngày lễ Cầu hồn: 1 cầu như ý người xin, được lấy bổng lễ, 1 cầu theo ý ĐTC (không bổng) và 1 cầu cho các linh hồn (không bổng). Giáo hội cũng xác định dành trọn tháng 11 dành để cầu cho các linh hồn Luyện ngục.
– Ngày 1 tháng 11 năm 1967, ĐTC Phaolô 6, trong Tông huấn Ân xá đã ban một đại xá với điều kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu theo ý ĐGH) cho những ai “viếng nhà thờ vào Chúa nhật trước hoặc sau, hoặc chính lễ Các Thánh (số 67), và những ai viếng nghĩa địa trong 8 ngày đầu tháng 11 để cầu cho các linh hồn (số 13).
2. GIÁO LÝ VỀ MỘT HỘI THÁNH BA TÌNH TRẠNG:
Chúa Giê-su thiết lập Nước Trời là Hội Thánh. Hội Thánh ấy hiện nay gồm có ba tình trạng: Một là Hội Thánh “Lữ Hành”, hai là Hội Thánh “Vinh Thắng”, ba là Hội Thánh “Đau Khổ” như sau:
– Hội Thánh “Lữ Hành” trần gian: Gồm các tín hữu đang còn sống, đang bước đi trên con đường của Chúa Giê-su. Như Dân Ítraen xưa, Hội thánh sẽ phải vượt qua sa mạc trần gian tiến về Đất Hứa Nước Trời là Thiên Đàng đời sau. Các tín hữu trong Hội thánh lữ hành trần gian còn phải chiến đấu với ba thù là ma quỷ, thế gian và xác thịt của mình. Họ được Chúa ban cho 2 thứ bánh thiêng liêng là Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể. Nhờ đó họ sẽ đủ sức vượt qua sa mạc trần gian để tiến về miền Đất Hứa là Thiên Đàng đời sau.
– Hội Thánh “Vinh Thắng” trên trời: Gồm các tín hữu đã qua đời trong niềm tin cậy vào Chúa. Khi còn sống ở trần gian, các ngài đã thực hành Hiến Chương Nước Trời là Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giê-su, nên ngày nay các ngài đang được hưởng hạnh phúc Thiên Đàng với Chúa.
– Hội Thánh “Đau Khổ” thanh luyện: Gồm các tín hữu tuy đi theo con đường của Chúa Giê-su, nhưng khi chết vẫn đang ở trong tình trạng còn nhiều sai lỗi, chưa xứng đáng được vào Nước Trời. Họ cần tiếp tục chịu đau khổ trong ngọn lửa tin yêu để được thanh luyện sạch mọi vết nhơ. Rồi khi hoàn toàn trở nên thánh thiện, họ sẽ được về hưởng hạnh phúc Thiên Đàng.
3. TÍN ĐIỀU CÁC THÁNH THÔNG CÔNG:
Ngọai trừ các người theo ma quỷ phải sa hỏa ngục để chịu hình phạt lìa xa Chúa đời đời, còn các tín hữu tin vào Chúa Giê-su dù còn sống hay đã qua đời, dù đã được lên trời hay đang được thanh luyện cũng đều được thông hiệp với ơn cứu độ của Chúa Giê-su và cầu nguyện cho nhau. Đó là mầu nhiệm các thánh cùng thông công:
Các tín hữu còn sống có thể giúp các linh hồn đã qua đời bằng việc viếng nhà thờ hay Đất Thánh và đọc kinh cầu nguyện, xưng tội rước lễ và cầu nguyện hiệp thông với Đức Giáo Hòang để được nhận các ân xá trong dịp đầu tháng 11; Nhất là có thể xin lễ và hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho các linh hồn, làm các việc lành phúc đức như chia sẻ bác ái phục vụ với ý chỉ cầu nguyện đền tội thay cho các linh hồn ông bà cha mẹ đang ở trong chốn luyện hình. Nhờ đó các linh hồn sẽ được ơn Chúa chiếu soi, được thêm lòng yêu mến Chúa để được tha thứ tội lỗi như lời Chúa: “Yêu nhiều sẽ được tha nhiều”. Khi các linh hồn được nên thanh sạch thánh thiện hòan tòan thì sẽ được Chúa đưa vào hưởng hạnh phúc Thiên Đàng. Bấy giờ các ngài sẽ không quên cầu bầu cùng Chúa xuống muôn ơn lành cho con cháu là chúng ta trên trần gian.
Riêng khái niệm về Lâm-bô: Lâm bô là khái niệm của thánh Albertô Cả (1200-1280), nói về một nơi dành cho các linh hồn trẻ em chết khi chưa được lãnh bí tích Rửa tội. Tuy chúng không bị phạt nhưng cũng không được lên thiên đàng vì chưa được rửa tội. Về sau khái niệm này ít được đề cập đến. Gần đây Ủy ban thần học quốc tế thuộc bộ Giáo Lý Đức Tin đã công bố một tài liệu mang tên “Niềm hy vọng ơn cứu rỗi dành cho các trẻ em chết mà không được rửa tội”. Trong đó Ủy Ban cho rằng: “Giả thuyết về Lâm-bô” không có nền tảng rõ ràng trong Mặc Khải. Theo ủy ban, có nhiều lý do rút ra từ thần học và phụng vụ cho phép chúng ta tin tưởng và hy vọng rằng các em chết trước khi được rửa tội cũng được hưởng nhan thánh Chúa, vì “Thiên Chúa muốn cho hết mọi người đều được hưởng ơn cứu độ”. Tuy vậy, Ủy ban cũng khẳng định bí tích rửa tội vẫn là điều kiện cần thiết để được hưởng ơn cứu rỗi của Đức Giê-su như lời Chúa phán: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5). Tóm lại: Hội Thánh tín thác các em chết khi chưa chịu phép rửa tội cho lòng thương xót của Chúa, và hy vọng nhờ đức tin của Hội Thánh, các em cũng được hưởng ơn cứu độ (x. GLHTCG số 1261).
4. PHẢI “BIẾT CHẾT” ĐỂ “BIẾT SỐNG”:
– Không thích nói đến cái chết: Nhiều người nghĩ rằng: không nói đến sự chết thì mình sẽ không phải chết. Nhà tỷ phú Mỹ WILLIAM RANDOPH HEARST, chủ nhân của nhiều tờ báo và phim trường ở Holywood hồi trước thế chiến thứ hai, đã ra lệnh cấm các nhân viên của mình nhắc đến từ ngữ “chết” trước mặt ông. Những ai lỡ miệng nói ra liền bị đuổi việc. Ông là người thông minh, tài giỏi, thành công, nhưng lại không dám đối diện với sự thật phũ phàng là sự chết! Rồi cuối cùng Hearst cũng bị chết bất đắc kỳ tử, để lại một toà lâu đài rộng lớn, hiện nay trở thành một điểm du lịch nổi tiếng ở bang California Hoa Kỳ.
– “Sinh ký tử quy” (Sống gửi thác về): Nhiều người khi lớn tuổi liền nghĩ đến việc hậu sự và lo chuẩn bị cho cái chết của mình, bằng việc mua đất nghĩa trang, chọn nhà quàn, mua sẵn ván làm hòm để trong nhà. Họ còn viết chúc thư về những điều con cháu phải làm để lo việc ma chay cho họ: Khi chết phải cho họ chiếc áo này, đeo vòng ngọc kia, cầm cái quạt nọ. Lại còn dặn dò phải bỏ vào quan tài dụng cụ này hay vòng vàng kia để sử dụng ở thế giới bên kia, giống như chuẩn bị hành lý cho một chuyến đi xa để về với ông bà tổ tiên.
– Chết là bắt đầu một cuộc sống mới: Đối với những kẻ không tin có Thiên Chúa và đời sau thì chết đi là hết! Nếu quả thực như thế thì cái chết thật đáng sợ! Vì nó là đặt dấu chấm hết tất cả những ước mơ của đời người: “Con người là bụi cát lại trở về với cát bụi!” Nhưng đức tin Ki-tô giáo dạy cho biết: chết không phải là hết. Nó chỉ là khởi đầu của một cuộc sống mới vĩnh hằng. Sau cái chết mỗi người sẽ phải trả lẽ những gì đã làm khi còn sống trước tòa Chúa phán xét. Nếu chúng ta đã sống trong ân nghĩa của Chúa thì giờ chết sẽ là sự trở về ngôi nhà của mình. “Sinh ký tử quy”: Chúng ta sẽ được trở về thiên đàng, là nhà của Thiên Chúa Cha, Đấng đã dựng nên loài người chúng ta. Ở đây không còn nước mắt đau khổ, nhưng chỉ có niềm vui và hạnh phúc viên mãn như sách Khải Huyền đã viết: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, khóc than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (x. Kh 21,4).
– Đền tội khi sống lúc chết: Dầu vậy trong cuộc sống, ít nhiều lần các tín hữu chúng ta cũng đã để cho những dục vọng làm chủ bản thân mình, khiến chúng ta không vâng lời Chúa không làm theo thánh ý Thiên Chúa. Đó là ta đã phạm tội hay mắc phải các thói hư. Khi chúng ta còn sống thì các tai nạn, bệnh tật và các điều trái ý cực lòng gặp phải sẽ giúp chúng ta đền tội đã phạm. Rồi sau khi qua đời chúng ta còn tiếp tục được thanh luyện trong lửa tin yêu gọi là tình trạng luyện hình.
5. LỜI CẦU:
– Lạy Chúa Giê-su. Mỗi lần đối diện với cái chết gần kề, con cảm thấy run sợ vì con chưa sẵn sàng để gặp Chúa. Trong suốt cuộc đời, con đã lo toan rất nhiều thứ như lo tìm kiếm tiền tài, danh vọng, chức quyền trần gian… Còn điều quan trọng chính yếu là chuẩn bị cho giờ chết sẽ đến thì con lại chưa quan tâm đúng mức! Con thật dại khờ khi nghĩ rằng mình sẽ có đủ thời gian chuẩn bị trước khi chết. Nhưng lời Chúa đã dạy “Con Người sẽ đến như kẻ trộm” và đòi con phải luôn tỉnh thức bằng thái độ sẵn sàng. Một ngày nào đó con không ngờ trước, con sẽ phải ra trình diện trước mặt Chúa, không biết bấy giờ Chúa có nhận ra con không, hay Chúa sẽ bảo con: “Ta không hề biết các ngươi. Hãy xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7,23).
– Lạy Chúa Giê-su. Xin ban cho con ơn khôn ngoan của Thánh Thần để con sống trọn vẹn từng giây phút hiện tại Chúa ban trong ơn nghĩa Chúa, để ngày nào đó khi giờ chết đến, con sẽ ra trình diện trước mặt Chúa không phải như hai người xa lạ, nhưng như người rất thân quen. Khi ấy Chúa sẽ gọi con bằng một cái tên trìu mến và giang rộng vòng tay đón con vào hưởng hạnh phúc Nước Trời đời đời: “Hỡi kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy vào hưởng ‘Vương Quốc’ dọn sẵn cho các con từ thuở tạo thiên lập địa” (x. Mt 25,34).- Amen.
22.Cầu nguyện cho các linh hồn
(Suy niệm của Lm. Phaolô Nguyễn Duy Thường)
Một hôm có một chị kia tâm sự với tôi rằng: “Thưa cha, con rất vui và hạnh phúc vì là người Công Giáo. Trong các ngày lễ, ngày tết, gia đình con: cha mẹ và con cái, thường có thói quen ra đất thánh đat hoa và cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Nhất là hằng ngày, chúng con luôn đọc kinh chung trong gia đình để cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất. Chúng con làm như vậy có ý nhắc nhở cho các cháu để mai kia khi vợ chồng con có nằm xuống thì con cái sẽ cầu nguyện cho chúng con.”
Vâng, đó là truyền thống quý báu của người Công Giáo chúng ta, một truyền thống xuất phát từ mầu nhiệm Các Thánh Thông Công đã được quả quyết qua tín điều trong Kinh Tin Kính của các Tông Đồ. Đó là sự hiệp thông giữa Giáo Hội Lữ Hành là các tín hữu còn sống trên trần gian với Giáo Hội Khải Hoàn là các Thánh Nam Nữ trên Thiên Đàng và với Giáo Hội Đau Khổ là các linh hon còn đang chịu thanh luyện trong Luyện Ngục.
Chính vì thế, ngày hôm qua, mồng 1 tháng 11, chúng ta đã long trọng mừng lễ kính các Thánh Nam Nữ Trên Trời. Chúng ta vui mừng hiệp thông với Các Thánh dâng lời tạ ơn Chúa vì sự chiến đấu kiên cường của các ngài nơi trần gian này đối với những thế lực đen tối của ma quỷ và đã chiến thắng khải hoàn để đón nhận triều thiên vinh hiển là hạnh phúc Nước Trời. Đồng thời chúng ta cũng cầu xin Các Thánh cầu bầu cùng Chúa cho mỗi người chúng ta cũng biết noi gương bắt chước các ngài trong đời sống đức tin để một ngày nào đó chúng ta sẽ được hợp đoàn cùng với các ngài trên Thiên Đàng để được xem thấy mặt Chúa một cách tỏ tường.
Hôm nay, ngày mồng 2 tháng 11, chúng ta lại nhớ đến những linh hồn đã ra đi trước chúng ta, nhất là những linh hồn người thân yêu của chúng ta đang còn chịu thanh tẩy trong nơi Luyện Ngục. Theo Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo thì: “Tất cả những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, nhằm đạt được sự thánh thiện can thiết để vào hưởng phước Thiên Đàng. Hội Thánh gọi việc thanh luyện cuối cùng của những người được chọn là luyện ngục. Điều này khác hẳn với hình phạt đời đời” (GLCG 1030-1031). Như vậy, các linh hồn nơi Luyện Ngục nhưng linh hồn đã chết trong tình trạng thánh thiện, tuy nhiên vẫn còn vướng mắc một số những tội mọn nên họ cần một thời gian để thanh luyện. Chính vì thế, Thiên Chúa, Đấng đầy lòng thương sót đã ban cho họ một cơ hội nữa để đền bù và tẩy sạch tội lỗi trước khi được đón vào hưởng hạnh phúc vĩnh cữu trong Nước Hằng Sống. Bởi vì, theo Sách Khải Huyền thì Thiên Đàng là nơi hoàn toàn thánh thiện và trong sạch cho nên không có một sự dơ bẩn nào được lọt vào: “Tất cả những gì ô uế cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và ăn gian nói dối, đều không được vào Thành, mà chỉ có những người có tên ghi trong Sổ Trường Sinh của Con Chiên mới được vào” (Kh 21, 27).
Như vậy qua mầu nhiệm Các Thánh Thông Công và qua giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta biết rằng tất cả chúng ta là những người còn sống trên trần gian, tất cả Các Thánh trên trời và các linh hồn trong nơi luyện ngục đều liên kết với nhau như những thành viên trong một đại gia đình đức tin, tất cả đều liên kết với nhau trong một thân thể mầu nhiệm mà Chúa Kitô là Đầu còn chúng ta là chi thể. Cho nên, chúng ta luôn phải gắn bó và kết hiệp với anh chị em đang sống xung quanh cũng như với Các Thánh trên Thiên Đàng và các linh hồn nơi Luyện Ngục. Chính vì thế Thánh Phaolô đã nói rằng: “Bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một. Vậy mắt không có thể bảo tay: "Tao không cần đến mày"; đầu cũng không thể bảo hai chân: "Tao không cần chúng mày" (1 Cor 12, 20-21). Chúng ta cần đến lời cầu bầu của Các Thánh và các linh hồn nơi luyện ngục cần đến lời cầu nguyện của chúng ta để giúp họ thanh luyện chính mình.
Trong Sách Macabêô quyển thứ II cho chúng ta biết rằng, khi Giuda đem quân đi đánh giặc, sau khi thấy nhiều anh em trong đám quân lính của mình bị tử trận, ông nhận ra rằng có những người trong số họ có thể đã chết trong tình trạng tội lỗi. Cho nên ông đã quyên góp tiền để gửi lên Jerusalem để xin cầu nguyện cho các linh hồn này. Ông đã làm một nghĩa cử vô cùng cao quý và ý nghĩa nói lên niềm tin vào sự phục sinh nơi cuộc sống đời sau. Ông nghĩ rằng nếu không tin và không hi vọng những người chết sẽ sống lại thì việc cầu nguyện cho các linh hồn chỉ là một việc vô ích và ngu xuẩn (xem 2 Macabe 12, 43-44). Tất cả chúng ta đều tin rằng Chúa Kitô đã chết và đã phục sinh để cứu độ chúng ta. Cho nên, như Thánh Phaolô đã quả quyết: Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người (Rm 6, 8-9).
Như vậy, trong ngày lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời hôm nay cũng như trong suốt tháng 11 và trong suốt cuộc đời của mình, chúng ta hãy ra sức cầu nguyện cho các linh hồn trong nơi Luyện Ngục. Đó là những linh hồn những người thân yêu đã ra đi trước chúng ta. Họ đang rất cần đến sự trợ giúp của chúng ta trong lời cầu nguyện cũng như trong những hy sinh và những việc đạo đức bác ái để họ được Chúa thứ tha mọi lỗi lầm còn vướng mắc.
Tất cả chúng ta đều có những người thân yêu đã qua đời và có lẽ nhiều người trong số họ đang còn phải thanh luyện nơi Luyện Ngục nên chúng ta hãy dùng Tháng Mười Một này để ra sức cứu giúp họ qua các lời kinh, qua các Thánh Lễ và qua các việc hy sinh bác ái để họ sơm được về Thiên Đàng vui hưởng hạnh phúc Nước Trời.
23.Lễ Các Đẳng
(Suy niệm của Lm. Đaminh Vũ Đình Thái)
(Ga 19, 1.23-27a ; Rm 5, 5-11; Ga 6, 37- 40)
Chúng ta vừa bước vào tháng 11, tháng dành riêng cầu nguyện cho các kẻ đã qua đời. Thưc ra, chẳng ngày nào mà Giáo Hội, qua các Thánh Lễ, lại chẳng cầu nguyện cho họ. Nhưng tháng này, Giáo Hội muốn chúng ta sống ý thức hơn và thực hành mạnh mẽ hơn việc đạo đức này. Như vậy, hôm nay quả là dịp tốt để dang lễ cầu nguyện cho mọi tín hữu đã khuất; trong đó có ông bà, cha mẹ, thân quyến, bạn hữu và các bậc thầy của chúng ta nơi Chủng Viện này. Nhờ Ơn cứu chuộc của Đức Kitô, xin cho mọi người đã “vắng bóng”được tha thứ mọi tội lỗi và hưởng phúc lộc Thiên đàng”.
Để xứng đáng dâng lễ và cầu ơn, chúng ta xin Chúa thanh luyện chúng ta trước.
GIẢNG LỄ:
I. Tôi tin có đời sau.Tôi tin sự sống lại và sự sống vĩnh cửu.
Chẳng phải là tín hữu ngay nay chúng ta mới hùng hồn tuyên tín như thế (Credo). Nhưng từ xa xưa, Gióp đã tuyên bố: “Sau khi da tôi đây bị tiêu hủy, thì với tấm thân này, tôi sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa. Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Ngài, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải là người xa lạ” (G 19, 26-27a). Ông tin có đời sau. Ông tin rằng Đấng hằng bênh vực ông vẫn sống và sau cùng, Ngài sẽ đứng lên trên cõi đất để cứu ông. Niềm tin của ông bền vững, chắc chắn đến độ ông ước ao lời ấy của ông được tạc vào đá cho đến muôn đời.
Là tín hữu, chúng ta xác tín mạnh mẽ vào lời của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu chuộc chúng ta, khi Người nói: “Ý của Đấng sai tôi là tất cả nhưng kẻ Ngài đã ban cho tôi, tôi không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 39). “Ai tin vào Người Con, thì được sống muôn đời” (Ga 6, 40).
Không để mất một ai nghĩa là thế nào? Thánh Phaolô, qua thư Rôma, giải thích rõ ràng rằng “ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Người chết cho chúng ta được cứu, khi chúng ta không có sức làm được gì để cứu lấy mình”. Không để mất một ai là “bằng chưng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng. Ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Ngài vẫn để Con Ngài chết. Ngài muốn cứu chúng ta khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, bằng cách cho chúng ta được nên công chính nhơ máu Đức Kitô đổ ra. Làm như vậy là để chúng ta được hoà giải với Thiên Chúa. Giải pháp ấy là kế hoạch cứu chuộc được thực hiện nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5, 6-11).
Chúng ta nhắc lại Lời Chúa như vậy để cung cố thêm niềm tin của chúng ta vào đời sau, vào sự sống lại và cuộc sống trường sinh hạnh phúc với Chúa. Làm sao chúng ta có thể cầu nguyện cho những người đã chết được, nếu tiên vàn chúng ta còn hiểu nhạt nhoà mơ hồ về Tình yêu Cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Kitô như thế.
II. Phải cầu nguyện cho những vong nhân.
Cầu nguyện cho những người đã khuất là một bổn phận không thể xao lãng của chúng ta.
Biết Chúa cứu, tin rằng Chúa không để mất một ai là một chuyện. Nhưng Giáo Hội luôn dạy chúng ta phải, bằng tinh thần hiệp thông luôn cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời, chứ không được ỷ lại vào Chúa.
Công đồng Vatican II nhắc lại mầu nhiệm Giáo Hội cùng thông công như sau: “Trong số những môn đệ Chúa, có những kẻ tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế, có những kẻ đã hoàn tất cuộc sống này nhưng đang được tinh luyện và có những người đang được chiem ngưỡng rõ ràng Thiên Chúa Ba Ngôi vinh hiển. Cả ba thành phần đều hiệp thông với nhau trong đức mến và truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng. Nhận biết đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn Nhiệm thể Chúa Kitô, ngay từ buổi đầu, Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, cầu nguyện cho những người đã chết”.
Hơn nữa, người tín hữu đã chết trong Ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa sạch hết mọi tội, và chưa đền tội bằng những hình phạt tạm thời đời này, thì không thể vào thẳng Thiên đàng được, vì chưa xứng đáng hưởng Thánh Nhan Chúa. Thánh Gioan cảnh báo rõ trong sách Khải huyền: “Tất cả những gì ô uế, cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và gian tà, đều không được vào thành…” (Kh 21, 27). Tất nhiên, họ phải chờ tinh luyện xong mới vào được Thiên đàng. Thời gian đó là thời gian xa cách Chúa. Nên Công đồng Florence (1439) mới định tín có luyện ngục để tinh luyện các linh hồn.
Purgatorium, chỉ luyện ngục, có nghĩa là tinh luyện.
Bởi thế, hằng ngày Giáo Hội dâng lễ nài xin Ơn tha thứ cứu độ của Chúa Giêsu cho các linh hồn; suốt tháng 11 này và đặc biệt hôm nay ngày 2.11 còn tăng lên gấp 3 (mỗi Linh mục được làm 3 lễ trong ngày). Giáo Hội kêu gọi chúng ta luôn nhớ về và sốt sắng cầu nguyện cho những người đã khuất. Cầu nguyện là góp phần mình vào mở kho Ân xá, nhường cho các linh hồn nơi luyện ngục, khi họ không thể làm được việc lành cứu mình. Giáo Hội còn khuyến khích đi viếng nghĩa địa, sửa sang mồ mả và cầu nguyện cho các linh hồn, vì: “Mồ thật chôn các người chết là trái tim của người sống” (Tục ngữ).
Thế nên, người sống có nhớ đến, có cầu…thì người chết mới mát mẻ thanh nhàn. Thật ra, không phải cầu cho người “chết”. Nếu chết là chấm tận, hết chuyện thì cầu làm gì và ích lợi gì? Nhưng là cầu cho nguời vượt qua cõi chết, đi vào cõi sống muon đời.
24.Cái chết
Hôm nay chúng ta tụ tập trong nhà thờ này để cử hành lễ các Linh Hồn, để tưởng nhớ đến những người đã khuất nhất là những người đã có một mối liên hệ thương yêu và ơn nghĩa đối với chúng ta như ông bà cha mẹ. Chính vì thế mà tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩa về sự chết. Vậy cái chết là gì và nó đem lại cho chúng ta những bài học nào?
Cái chết là một sự dứt bỏ có tính cách cưỡng bức, nó chia lìa hai người bạn thân thiết nhất đó là linh hồn và thể xác. Cái chết là một cuộc hành trình, một chuyến đi cô đơn nhất vì người ra đi sẽ phải để lại sau lưng tất cả những gì mình quyến luyến nhất, từ những người thân yêu đến tiền bạc và địa vị được gầy dựng do mồ hôi nước mắt. Nó sẽ chấm dứt tất cả những gì chúng ta đã đầu tư trong cuộc đời. Chính vì thế nó thường làm cho chúng ta bàng hoàng và sợ hãi.
Thế nhưng, là người Kitô hữu chúng ta phải nhìn cái chết dưới ánh sáng đức tin. Thực vậy dưới ánh sáng đức tin thì cái chết không phải là một chấm dứt mà là một khởi đầu, không phải là một ra đi mà là một trở về nhà Cha, không phải là một chia lìa nhưng là một kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Từ đó chúng ta rút ra được những bài học quý giá.
Bài học thứ nhất đó là ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Ý nghĩa đó được tóm gọn trong câu giáo lý: Hỏi người ta sống ở đời để làm gì? Thưa, ta sống ở đời để nhận biết, thờ phượng, kính mến Đức Chúa Trời và thương yêu mọi người như anh em. Hầu ngày sau được mưu hạnh phúc đời đời. Câu trả lời này thật ngắn gọn và rõ rệt, giúp chúng ta giải quyết những vấn đề đã từng làm cho chúng ta băn khoăn và thắc mắc. Không hiểu được chân lý này, hay cố tình quên lãng chân lý này, chúng ta sẽ trở nên những kẻ lầm đường lạc lối, không còn thấy được phương hướng cho cuộc sống, liều mình mất đi cả chì lẫn chài, cả đời này lẫn đời sau. Murillo, một hoạ sĩ Tây Ban Nha, đã khắc trên tường phòng mình hàng chữ như sau: Hãy sống như là sẽ phải chết. Hãy tập làm quen với cái chết bằng tinh thần từ bỏ liên tục.
Bài học thứ hai là bài học khôn ngoan. Trong mọi hoàn cảnh, hãy chuẩn bị sẵn sàng để ra trước mặt Chúa mà tính sổ cuộc đời. Đừng bao giờ quên rằng, chúng ta được xét xử dựa trên tình yêu: tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với anh em, chứ không phải là được xét xử theo dáng bộ bề ngoài và những việc đạo đức nặng phần trình diễn. Bởi vậy trong nhịp sống thường ngày, chúng ta có lo thực thi bác ái hay không, có biết thực tâm tha thứ cho kẻ lỗi phạm đến chúng ta hay không? Có biết nở nụ cười hoà giải đối với những kẻ đã gây nên xích mích, có biết đem lại niềm vui và hạnh phúc cho những kẻ xung quanh? Có biết làm chứng nhân cho Chúa bằng đời sống yêu thương hay không?
Nếu trong cuộc sống trần gian, chúng ta đã thực sự yêu thương anh em thì chúng ta mới có thể tiến lại gần cùng Thiên Chúa, Đấng có một trái tim cảm thông với đau khổ sẵn sàng để tha thứ và ân thưởng những người thiện chí. Khi tâm hồn chúng ta đã giao hoà cùng Thiên Chúa, thì bấy giờ cái chết không còn nhuốm vẻ tang tóc bi ai nữa. Chúng ta không còn nói như Laffirgue: Điều đau buồn nhất trong cuộc sống là cái chết. Trái lại chúng ta sẽ bảo: Đối với người tín hữu thì điều an ủi và khích lệ nhất trong cuộc sống là cái chết, bởi vì cái chết sẽ chấm dứt những đau khổ phần xác, để rồi dẫn đưa chúng ta vào niềm hạnh phúc vĩnh cửu.
25.Bốn bà vợ
(Suy niệm của Frère Trần An Phong)
Một phú gia kia cưới đến 4 bà vợ.
Ông ta rất thương bà vợ thứ nhất, mỗi khi kiếm được tiền là ông liền mua sắm cho bà đủ thứ áo quần sang trọng, dẫn bà đi ăn tại các nhà hàng trứ danh. Không những thế, ông còn tung tiền mua sắm cho bà đủ thứ hột xoàn, trân châu. Bà muốn gì ông cũng chiều chuộng. Ông cưng bà như cưng trứng, hứng bà như hứng hoa!
Và mỗi lần đi họp, hay đi kinh doanh, ông đều sung sướng và hãnh diện mang theo bà vợ thứ hai. Ông luôn khoe bà với bà con lối xóm, với đồng nghiệp, khách hàng. Bà là niềm hãnh diện của ông!
Mỗi khi gặp khó khăn, cho dù lớn hay nhỏ, ông đều thủ thỉ, tâm sự với bà vợ thứ ba. Ông tin tưởng bà lắm, vì bà luôn là người cố vấn cho ông, một người cố vấn khôn ngoan, trung tín và đầy yêu thương. Bà thật là người bạn đời tri kỷ có một không hai trên đời!
Còn bà vợ thứ tư lại rất thương ông, thương ông tha thiết, thương ông nồng nàn, thương ông chứa chan. Nàng dành hết cả cuộc đời mình để lo cho cuộc sống của ông, sự nghiệp của ông. Nàng không từ chối một hy sinh nào cho chồng cả. Ngay cả những khi ông lầm lỗi, bà cũng can đảm thầm nhắc nhở, khuyên lơn, và rộng lòng tha thứ. Thế nhưng! Ông lại chẳng mấy khi để ý đến nàng.
Rồi một ngày kia, ông phát bệnh. Bệnh ung thư của ông đã đến thời cuối cùng, các bác sĩ đều bó tay. Biết mình chả còn sống được bao lâu, ông bèn cho mời các bà vợ đến để nói lời cuối cùng.
Bà thứ nhất mặc xiêm y lộng lẫy, nữ trang óng ánh, nước hoa lan tỏa khắp phòng, đến bên chồng đang hấp hối.
– Em, anh sắp chết rồi. Em là người anh yêu mến nhất, chăm sóc cho em từng li từng tí. Em có muốn theo anh về bên kia thế giới để chung sống, để lo lại cho anh không?
– Không!
Nàng lạnh lùng đáp.
– Anh đi đường anh, em đi đường em. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
Nói xong, nàng ngoảnh mặt, vội vã bước ra khỏi phòng. Lời bà như một nhát dao đâm thấu tim ông!
Người phú gia vừa cố gắng nắm tay bà vợ thứ hai, vừa run run hỏi:
– Em, suốt đời anh, em là niềm hạnh phúc, là niềm kiêu hãnh của anh. Giờ đây anh sắp chết, em có muốn theo anh về bên kia, như hào quang chói sáng cho anh, như người tiến cử anh vào cuộc sống huy hoàng không?
– Không! Anh chết rồi, tôi sẽ cưới người khác. Tôi phải thuộc về người khác chứ! Ai lại theo kẻ chết xuống mồ bao giờ.
Nói xong, nàng trở gót bỏ đi. Mỗi tiếng gót giày nàng nện xuống thềm nhà, là một nhát búa đóng đinh xuyên qua tim chàng.
Đau buốt, nát tim, người phú gia quay nhìn bà vợ thứ ba và ân cần hỏi:
– Em, trong suốt cuộc đời, em là người luôn sát cánh cùng anh. Không có chuyện gì mà anh không chia sẻ cùng em. Em luôn bên cạnh anh, lúc vui cũng như lúc buồn. Giờ đây, anh sắp chết, em có chịu theo anh không?
– Anh yêu, em biết anh yêu em lắm, và em cũng yêu anh. Nhưng cùng lắm, em chỉ có thể theo anh ra nghĩa trang, nhìn anh đi vào lòng đất lạnh, rồi thắp cho anh những nén hương lòng. Em sẽ nhớ anh thật nhiều, nhưng theo anh, em không thể nào làm được.
Nói xong, nước mắt nàng tuôn trào.
Bỗng đâu, một giọng nói yếu ớt vang lên:
– Em sẽ theo anh về bên kia thế giới. Anh yêu, cho em theo anh. Đừng bỏ em!
Chàng phú gia lấy hết sức tàn ngồi chổm dậy, nhìn về phía phát xuất ra giọng nói. Và kià! Người vợ thứ tư của chàng đang ôm mặt khóc nức nở. Thân hình nàng qúa mảnh khảnh tựa hồ dễ bị cuốn theo chiều gió. Một người vợ yêu chàng tha thiết, nhưng đã bị chàng bỏ bê cả cuộc đời.
* * *
Trước cái chết, chàng phú gia mới chân nhận ra giá trị tình yêu. Ngày hôm nay, ngày nhớ đến Các Tín Hữu Đã Qua Đời, 2 tháng 11 mỗi năm, mình nhớ đến cái chết, và nhận ra bốn bà vợ của đời mình.
Mình đã quá yêu bà vợ thứ nhất – thân xác mình. Cho dù mình có mặc cho nó đủ thứ lụa là gấm vóc, nuôi dưỡng bằng cao lương mỹ vị, mình cũng chẳng đem theo được về bên kia thế giới.
Mình đã hãnh diện với chức tước, bằng cấp – bà vợ thứ hai – nhưng chức tước ấy sẽ thuộc về người khác khi mình giã từ cõi thế.
Họ hàng, gia đình mình – bà vợ thư ba, sẽ theo mình ra tận nghĩa trang, sẽ hằng năm kỵ giỗ cho mình, nhưng nào ai theo mình xuống huyệt.
Còn cái linh hồn của mình – bà vợ thứ tư – mà mình đã vì qúa chăm lo thể xác, chạy theo tiền tài danh vọng, bon chen chức tước quyền cao, ít khi mình buồn nghĩ đến thì sẽ theo mình đi vào thiên thu.
* * *
“Ca tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi!
Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng Chúa,
Sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời.
Đừng tin tưởng nơi hàng quyền thế,
Nơi người phàm chẳng cứu nổi ai.
Họ tắt hơi là trở về cát bụi,
Dự định bao điều: ngày ấy tiêu tan.
Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ
Và cậy trông Chúa, Thiên Chúa họ thờ.” (Thánh Vịnh 145: 1-5)
26.Sống Tháng Các Linh Hồn
((Suy niệm của Lm. Gioan B. Nguyễn Đình Lưu)
“Con hãy nhớ đến mẹ mỗi khi dâng thánh lễ”. Lời thánh Monica cũng chính là ý nguyện mà các linh hồn tiền nhân muốn nhắc nhở cùng chúng ta là con cháu của các ngài.
Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tối Thứ Năm tuần trước có phát đi chương trình: “Những đứa con hiếu thảo”. Một trong những khuôn mặt được giới thiệu đó là anh Kim Sơn. Tuổi thơ của anh là những tháng ngày đen tối, bởi cha mẹ đã sớm ly dị khi đã có với nhau ba mặt con. Thiếu sự yêu thương dạy dỗ, Kim Sơn xa dần trường học để bước vào trường đời. Bài học đầu đời mà Kim Sơn học được đó là bài học lừa lọc, dối trá, đấu đá để dành quyền sống. Kết cục của những tháng ngày ngang dọc là những ngày đen tối trong chốn lao tù, là sự hận đời đen bạc, là nỗi buồn tuyệt vọng cô đơn.
Trong lúc đó, mẹ của anh vẫn tần tảo với gánh bún riêu, lê gót qua các phố chiều, chắt chiu từng đồng, để đổi lấy cho anh những hũ chao, những lon ruốc sả. Trải qua nhiều năm tháng, tình thương của người mẹ không hề xói mòn, hy vọng của mẹ không hề bị dập tắc. Cuối cùng tình mẹ đã chiến thắng. Năm 2005, anh được ra khỏi trại và quyết tâm làm lại cuộc đời. Ổn định cuộc sống, anh lập gia đình và đưa mẹ về sống chung để có dịp phụng dưỡng. Anh dứt khoát không để mẹ phải gánh bún đi bán, anh hứa với lòng mình: mẹ muốn ăn gì, mặc gì, anh sẽ mua cho mẹ. Anh còn tuyên bố: hạnh phúc nhất của đời tôi là được sống với mẹ, là được ở bên mẹ mãi mãi.
Câu chuyện của anh Kim Sơn, hẳn phải làm ấm ấp bao tấm lòng của các bà mẹ, đang được sống trong sự chăm sóc ân cần của con cháu, sau một đời tần tảo vất vả. Tuy nhiên, không phải ai cũng được hưởng những ngày tháng hạnh phúc trong sự đùm bọc của con cái. Lại càng ít người còn nhớ và lo lắng cho cha mẹ khi các ngài đã qua đời. Chính vì thế mà Giáo hội đã dành ngày 2 tháng 11 này, và trọn tháng 11 để khơi dậy lòng hiếu thảo nơi những người Kitô hữu, cũng là những người con của gia đình.
Ai trong chúng ta lại chẳng một lần sinh ra bởi cha mẹ, chẳng được ấp ủ trong mái ấm gia đình. Đây chính là chiếc nôi của tình yêu, ngôi trường của lòng nhân ái. Từ trong cái xã hội nhỏ bé ấy, chúng ta đã được bú mớm, nuôi dạy, và từng ngày lớn lên trong vòng tay yêu thương của tình cha, và tiếng ru ầu ơ của mẹ. Để đổi lấy cho chúng ta sức khỏe, cha mẹ đã phải đổ bao mồ hôi sức lực để có bữa cơm miếng cá cho con; lại còn biết bao trăn trở lo lắng cho chúng ta về đường đức tin, học vấn. Hôm nay, chúng ta thành người, có địa vị, có cuộc sống an lành, có gia đình ổn định, lại chính là lúc mà các ngài nhắm mắt xuôi tay. Cái giá mà các ngài phải trả cho sự thành đạt, thành nhân của chúng ta, đâu chỉ là công sức, là nước mắt, là những héo hắt khổ đau, mà có khi còn cả mạng sống mình. Ca dao ViệtNam đã mượn hình ảnh rất quen thuộc để diễn tả sự hy sinh ấy:
“Con cò lặn lội bờ ao, gánh gạo nuôi chồng…”
hay:
“Cha mẹ thương con như biển hồ lai láng,
con thương cha mẹ tính tháng tính ngày”.
Giờ phút này, nghĩ lại công ơn to lớn của các bậc tổ tiên ông bà cha mẹ, ai trong chúng ta lại không cảm thấy dạt dào niềm xúc động nhớ thương. Nỗi niềm trắc ẩn thôi thúc chúng ta phải làm một cái gì đó cho các ngài, giúp đỡ các ngài, báo hiếu các ngài.
Ai dám quả quyết: hạnh phúc đang ở trong tầm tay của các người thân yêu chúng ta, hay vẫn còn đang là số phận đau thương của chốn hỏa hòa rên xiết.
Vì vậy cùng với lòng tưởng nhớ tri ân, chúng ta hãy thực hiện điều mà các ngài ngày đêm mong chờ khao khát: đó là sớm giúp các ngài ra khỏi chốn luyện hình đau thương, vào chung hưởng hạnh phúc với Chúa. Công việc này, tự sức các ngài không làm được, chỉ biết trông cậy vào chúng ta là con cháu.
Theo lời khuyên bảo của Giáo hội, chúng ta hãy gửi đến cho các đẳng linh hồn nhiều lời cầu nguyện, nhiều việc lành hy sinh, nhất là những thánh lễ trên Bàn Thờ. Bài đọc sách Mikea mà chúng ta vẫn nghe trong thánh lễ an táng đã đề cao việc quyên góp xin lễ cho các linh hồn, là một điều hết sức cần thiết và quí giá. Bởi vì khi cử hành thánh lễ, là tái hiện hy tế Thập giá của Chúa Giêsu, là hiện tại hóa Mầu Nhiệm cứu độ cho các đẳng linh hồn, là mở ra cánh cửa hy vọng cho các người thân của chúng ta, là đưa các ngài từ chốn đau khổ tối tăm vào nơi ánh sáng hạnh phúc.
Và còn gì hạnh phúc hơn, khi chúng ta biết rằng một khi được đón nhận vào tham dự hạnh phúc với Thiên Chúa, các linh hồn sẽ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta là con cháu của các ngài còn đang phải từng ngày chiến đấu vật lộn với những cam go thử thách. Cuộc thử thách ấy đang diễn ra từng ngày không cân sức, giữa thế lực của ma quỷ, của sự tội, của đam mê với niềm tin còn quá mỏng dòn và non yếu của người Kitô hữu.
Như Đức Kitô đã từng an ủi các Tông đồ trong giờ phút biệt ly đầy nước mắt và đau thương: Lòng các con đừng xao xuyến… thì các đẳng linh hồn cũng đang khích lệ và ngỏ lời cùng chúng ta:
– Đừng xao xuyến vì Con Thiên Chúa đã chết để đền thay tội lỗi của chúng ta.
– Đừng xao xuyến vì Ngài đi là để dọn đường cho chúng ta.
– Hãy tin vào Thiên Chúa vì Ngài là Đấng từ bi và giàu lòng thương xót.
– Hãy tin vào Thiên Chúa và trung thành với Ngài qua các công việc bổn phận hằng ngày và việc giữ các giới răn của Chúa.
Xin vì công nghiệp của Đức Kitô, nhờ lời cầu bầu của các thánh và cầu nguyện của cộng đoàn dân Chúa, Chúa sẽ tha thứ, và sớm đưa các đẳng linh hồn về hưởng hạnh phúc, sau cả đời đã tin tưởng phó thác nơi Chúa.
Kim Sơn sau cả một quãng thời gian đi hoang, không màng đến sự hy sinh vất vả và nước mắt của mẹ, nhưng cuối cùng, anh đã làm cho người mẹ mình thỏa lòng mát dạ khi đã hối hận trở về, cùng dành trọn thời gian còn lại để lo lắng chăm sóc tuổi già của mẹ.
Còn phần chúng ta, được đánh thức qua câu chuyện của anh Kim Sơn, chúng ta sẽ làm gì cho các bậc tổ tiên ông bà cha mẹ, anh chị em thân yêu của mình trong ngày hôm nay và trong tháng các đẳng linh hồn này?
Xin Chúa cho mỗi chúng ta, luôn biết tỏ lòng thảo kính đối với các bậc tổ tiên ông bà, cha mẹ, anh chị em đã qua đời, bằng việc đọc kinh, dâng những hy sinh việc lành, và đặc biệt là thánh lễ mồng 2 tháng 11 hôm nay, xin vì công nghiệp của Con Chúa trên Thập giá, mà thứ tha muôn tội lỗi và đưa các ngài về hưởng hạnh phúc tôn nhan Nước Chúa.
27.Lễ Các Linh Hồn
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên)
Trong 4 tháng lang thang trên đất Mỹ, tôi nghe và thấy nhiều cảnh ngộ của cái chết:
Một người VN ở Cali chết thật bình thường, nhưng nghe nói tang lễ cho cụ ít ra cũng 20,000.00 USD, riêng cỗ quan đã hết 7,000.00 rồi. Kể ra cái chết ở đấy cũng có giá cao đấy.
Ở Florida tôi nghe kể về cái chết của một Bác Sỹ VN, sau năm 75, Ông đã nỗ lực để nuôi con ăn học thành tài trên đất khách quê người, ai cũng thành tài và thành công. Bà Cụ thì mất trước khá lâu. Ông đến tuổi hưu. Sống một mình, lấy việc dạy võ dưỡng sinh cho các đồng hương làm niềm vui. Rồi cụ phải vào bệnh viện. Cuối cùng cũng đã chết ở đó, không người thân bên cạnh. Người ta phải theo giấy tờ trong người cụ, để điện cho các con cụ. Khi các con có mặt, tất cả đã ký giấy để hiến cụ cho khoa thí nghiệm của bệnh viện: vì tương lai khoa học! Chuyện ấy cũng rất bình thường, nếu như không có cái chuyện sau đó. Phải, các đồng hương của cụ, vì mến yêu tinh thần hy sinh và phục vụ cộng đồng của cụ, muốn đến làm lễ truy điệu cho cụ tại tang gia. Nhưng ở đây con cái cụ quá ngạc nhiên về cái yêu cầu ấy, vì gia đình không làm gì cả, mọi việc là bệnh viện đã làm theo cách của bệnh viện rồi. Cuối cùng, vì sự tha thiết của các đồng hương, người gia đình bằng lòng cho họ mượn một tấm ảnh cụ để tổ chức lễ truy điệu cho Thầy ở nơi khác.
Ở Arlington, tôi nghe kể về cái chết của một cụ già người Mỹ. Cụ sống với cụ Bà ở đây đã lâu, cho dù có 2 người con, cũng thành đạt, nhưng chẳng bao giờ thấy họ tới thăm các cụ. Trong trường hợp cụ bà thế nào không biết, nhưng hàng xóm thấy mùi hôi nồng nặc từ nhà các cụ, báo cảnh sát, người ta mới khám ra cụ ông đã chết mấy ngày rồi!
Tôi cũng được thông tin về cái chết của 17 thủy binh trên chiến hạm Cole. Tôi nhìn trên TV thấy người ta đang tìm kiếm Thống Đốc Missouri sau tai nạn máy bay. Tôi cũng thấy cảnh chiếu người ta quăng xác 2 cảnh sát chìm Do Thái qua cửa sổ, và những cái chết do sự trả thù.
Cái chết vẫn ám ảnh cuộc sống con người, cho dù con người luôn tự hào về tiến bộ, văn minh, giàu sang và no đủ, dường như là đã đẩy lùi bóng ma sự chết.
Tuy nhiên, có lẽ người ta khá thành công trong việc khiến cho con người không còn nhiều suy nghĩ về những vấn đề siêu hình, kể cả cái chết. Con người hầu như chỉ còn kịp suy nghĩ về công việc làm mỗi ngày của họ thôi. Họ đi bên cạnh cái chết với sự rất xa lạ.
Nếu như chỉ có cái hiện tại là quan trọng, thì tôi thiết nghĩ những cái chết cụ thể trên kia thật vô cùng phi lý. Những cái chết chỉ vì cho một hiện tại tốt đẹp, lại bị chính đứa con mình cưu mang phủ nhận cách thật phũ phàng. Cho dù bằng lý trí, con người muốn chối bỏ cái bên kia sự chết, nhưng bằng chính mỗi một cái chết của mình, con người lại khẳng định họ tin vào thế giới bên kia cái chết, cho dù nó là gì, thì không ai nói thành lời.
Đức Giêsu Kitô, đã đến, và cũng bằng cái chết của mình, Ngài khẳng định bên kia sự chết, có thế giới của sự sống thật: Sự sống chan hòa yêu thương. Tình Yêu được đảm bảo bởi Tình Yêu Vô Biên của MỘT NGƯỜI CHA. Đức Giêsu đến để đem lửa yêu thương ấy vào trần gian, để biến đổi mọi hiện tại của cõi nhân sinh nên hiện tại vĩnh hằng của Tình Cha với con cái mình.
Ngày lễ Các Linh Hồn chỉ có ý nghĩa trong Tình Yêu Vĩnh Hằng ấy:
Cuộc sống hôm nay, không chỉ là cơm bánh, nhưng còn là ánh sáng yêu thương của Cha rọi soi mọi giây phút cuộc đời mình. Tình yêu phải phủ trùm mọi cảnh huống, kể cả cõi sống bên kia cái chết.
28.Lễ Các Đẳng Linh Hồn
(Suy niệm của Hiền Lâm)
1. THÁNH LỄ I – Tin mừng Gioan 6,37-40
Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm các thánh thông công, là sự hiệp thông mật thiết giữa ba thành phần Hội Thánh, bao gồm Hội Thánh Vinh Thắng, Hội Thánh Lữ Hành và Hội Thánh Thanh Luyện. Ngày hôm qua, trong sự tương giao, Hội Thánh Lữ Hành chúng ta hân hoan chia sẻ niềm vui và cảm tạ Chúa với Hội Thánh Vinh Thắng trên trời, thì hôm nay, chúng ta cùng hiệp thông cầu nguyện cho Hội Thánh Thanh Luyện là các đẳng linh hồn trong luyện ngục.
Bài Tin Mừng hôm nay đưa ra cho chúng ta một tiêu chuẩn giúp chúng ta sẽ đạt tới vinh thắng, đồng thời cũng nâng đỡ niềm tin cho chúng ta khi dâng lời cầu xin cho các tín hữu đã qua đời.
1) Vâng theo Thiên Ý (x.Ga 6,37-39)
Mở đầu bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định sứ mạng của Người là đến trần gian để làm theo ý Chúa Cha, hầu cứu độ hết mọi người, không loại trừ một ai.
– Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta sống sứ mệnh người Kitô hữu, là vâng theo ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, để được thông phần vào cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu Kitô, mưu ích cho các linh hồn, và mai sau cũng được phục sinh với Người.
– Các tín hữu đã qua đời, cũng là những người như chúng ta, đã cùng được dìm trong nước Thánh Tẩy, được lãnh lấy của ăn thần linh là Thánh Thể, và đã vượt qua cái chết thể lý. Chúng ta tin tưởng lời Chúa Giêsu hứa hôm nay rằng, những ai Chúa Cha ban cho Tôi thì Tôi không muốn để mất một ai, mà sẽ ban sự sống đời đời cho họ, và cho họ sống lại trong ngày sau hết. Tuy nhiên, trong thời gian còn sống, các linh hồn còn vướng những vết nhơ tội lỗi và chưa được hoàn toàn xứng đáng diện kiến Chúa. Mầu nhiệm hiệp thông các thánh thông công, chúng ta tin tưởng cầu xin cho họ.
2) Tin vào Chúa Giêsu Kitô (x.Ga 6,40)
Chúa Giêsu nói rõ cho chúng ta biết, ý Thiên Chúa Cha muốn mọi người chúng ta là tin vào Con Thiên Chúa, tức là tin vào Chúa Giêsu, để nhờ đó họ sẽ được mãi mãi chiêm ngưỡng thánh nhan Người và được sống lại trong ngày sau hết.
– Như thế, điều kiện tiên quyết để được cứu độ là phải tin và sống niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nên dù mặc nhiên hay minh nhiên, không qua Đức Giêsu Kitô thì không thể vào Nước Thiên Chúa.
Sẽ khó trả lời khi nói điều này với người ngoài Kitô Giáo, nhưng hết những ai qua tôn giáo của họ hoặc qua tiếng lương tâm mà ăn ở tốt lành thánh thiện thì mặc nhiên ở trong Đức Kitô (được rửa tội “bằng lửa”). Cũng thế, những ai dám hy sinh tính mạng vì niềm tin hoặc vì Đức Ái, thì dù chưa được lãnh nhận bí tích rửa tội, thì cũng mặc nhiên ở trong Đức Kitô toàn thể (rửa tội “bằng máu”). Lại nữa, Ơn Cứu Độ của Chúa Giêsu mang tính vượt thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Chính vì thế mà trong bài đọc I, ông Gióp đã nói: “Tôi tin rằng Đấng Cứu Chuộc tôi hằng sống, và ngày sau hết khi thân xác tiêu tan, tôi sẽ được chiêm ngưỡng Người” (G 19,25-27).
– Một điều đáng khích lệ chúng ta nữa là, như trong bài đọc II, thánh Phaolo dạy: “Chúa Giêsu đã chết để cứu chúng ta là tội nhân…” (Rm 5,8). Như thế, dù tội lỗi như thế nào đi nữa, chúng ta không thất vọng, chúng ta chắc chắn sẽ được cứu độ vì đã tin vào Chúa Giêsu Kitô, miễn là chúng sống xứng đáng với niềm tin đó.
Và đó cũng là tâm tình mà chúng ta dâng lên Chúa trong ngày hôm nay, để cầu nguyện cho các linh hồn. Amen.
*******
II. THÁNH LỄ II – Tin mừng Luca 23,33.39-42
Phụng vụ Lời Chúa trong thánh lễ này, tập chú nói về niềm hy vọng đạt tới thực tại tương lai vĩnh hằng:
Hình ảnh ngôn sứ Isaia được nhìn thấy (bài đọc I), miêu tả việc Thiên Chúa bù đắp lại cho những gian lao đau khổ mà con người chịu khi còn sống nơi trần thế là: “…Thiên Chúa sẽ lau khô mọi dòng lệ, xé bỏ khăn tang, xoá sạch mọi ô nhục và thiết đãi muôn dân một bữa tiệc… Chính Người là Đức Chúa ta hằng đợi trông…” (x. Is 25,6a.7-9).
Trong thư Rôma (bài đọc II), thánh Phaolô cho biết chúng ta là con cái Thiên Chúa sẽ được đồng thừa kế gia nghiệp cùng với Đức Kitô. Và gia nghiệp đó vượt xa mọi thực tại hạnh phúc thế gian, bởi vì những đau khổ đời này sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải (x. Rm 8,14-23).
Qua bài Tin Mừng, niềm hy vọng và khích lệ lớn dành cho chúng ta, là dù quá khứ chúng ta có đầy tội lỗi, nhưng chỉ cần một thời gian ngắn ngủi trở về với Chúa, thì tình thương hải hà của Chúa sẵn sàng tha thứ và nhận chúng ta vào Nước của Người.
Tuy nhiên, để được vào Nước Chúa như người “trộm lành” kia, theo Chúa trong “giờ thứ 11”, nghĩa là giờ phút cuối cùng, vẫn cần ít nhất hai thái độ:
1. Nhận ra con người tội lỗi của mình.
Ở Nga, người ta vẫn coi anh chàng “trộm lành” có tên là Dismat này là một vị thánh và là bổn mạng của các tội nhân mang án tử. Anh đã nên thánh ngay phút chót của cuộc đời trần thế, chỉ vì anh đã thống hối và tin vào Chúa Giêsu.
Người trộm lành đã ý thức tội lỗi của mình và đáng chịu phạt xứng với tội lỗi anh đã gây ra.
2. Tin và cầu xin với Chúa Giêsu Kitô.
Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở sám hối mà thôi thì chưa đủ để được vào Nước Thiên Chúa, người trộm lành cần đến niềm tin nơi Đấng bị đóng đinh kia là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ. Đây là một đặc điềm của đạo Công Giáo chúng ta. Chúng ta không chỉ sám hối mà còn phải tin vào Tin Mừng là tin vào Chúa Giêsu Kitô (khác với Phật Giáo), không phải tự cứu mình bằng nỗ lực bản thân mà là cần kết hợp với ơn Chúa, hoàn thiện bản thân trong sự kết hợp với ơn Cứu Độ của Chúa Giêsu Kitô. Cũng không phải chỉ tin là đủ, mà phải hành động cụ thể là sám hối và tin và Tin Mừng.
– Cùng hiệp thông cầu cho các tín hữu đã qua đời hôm nay. Chúng ta cùng biết ý thức về thân phận yếu đuối mỏng giòn của mình, đồng thời tin tưởng vào giá máu cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô, sẽ giải thoát các linh hồn đang phải thanh luyện trong luyện ngục. Các đẳng từng, là những người như chúng ta, đã tin vào Chúa Giêsu Kitô, nhưng trong đời sống niềm tin đó còn thiếu sót, hoặc chưa có một sự sám hối đền tội cho đủ, nên bây giờ còn phải thanh luyện nơi luyện ngục.
Chúng ta tin tưởng và cậy trông vào Thiên Chúa, nhưng không ỷ lại vào giờ phút chót, vì chúng ta không biết lúc nào Chúa gọi mình ra đi, nên cần luôn có một sự tỉnh thức và sẵn sàng.
*******
III. THÁNH LỄ III – Tin mừng Gioan 11,17-27
Trong thánh lễ III, Giáo Hội cho đọc đoạn Tin Mừng Gioan kể về việc Chúa Giêsu đến thăm gia đình Bêtania sau khi được tin Lazarô chết. Đoạn Tin Mừng này làm nổi bật lên hai bài học sau đây:
1. Chân lý đức tin qua các lời tuyên xưng của cô Martha.
– “Lạy Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đã không chết”
Phải, “được Chúa thì được tất thảy, mất Chúa thì mất sạch tay”. Lời nói của Martha như là một lời than trách vì Chúa Giêsu đến chậm nên Lazarô em chị đã chết, nhưng đây là một cách diễn tả của Tin Mừng Gioan là: linh hồn chúng ta được coi là đã chết khi vắng Chúa Giêsu.
– “Bất cứ điều gì Thầy xin thì Thiên Chúa cũng ban cho Thầy”
Nghĩa là dù em con đã chết rồi, nhưng bây giờ Thầy xin thì Thiên Chúa vẫn cho em con được sống lại. Thật vậy, dù linh hồn chúng ta đã bao lần chết đi vì vắng Chúa, chúng ta xưng thú tội lỗi và đón rước Chúa vào lòng thì Chúa Giêsu sẽ lại phục hồi cho ta sự sống thiêng liêng với muôn vàn ơn phúc.
– “Con biết em con sẽ sống lại khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết”
Đây là điều chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Đức tin Công Giáo chúng ta xác nhận rằng, những người lành thánh sau khi lìa đời, linh hồn sẽ được hưởng tôn nhan Chúa, và ngày tận thế thân xác cũng sẽ được phục sinh để hưởng hạnh phúc trường cửu. Niềm tin này đã có từ thời Cựu Ước, mà trong bài đọc I, sách Macabê đã ghi lại việc quyên góp tiền để xin dâng hy lễ đền tội cho các chiến sĩ đã tử trận. Ngày nay, nơi Giáo Hội Công Giáo, trong sự hiệp thông, chúng ta vẫn cầu nguyện, dâng việc lành và xin lễ đền tội cho các linh hồn.
2. Lời khẳng định của Chúa Giêsu về sự sống.
– “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”
Chúa Giêsu Kitô là sự sống của linh hồn. Vì thế, khi chúng ta không ăn Bánh Sự Sống thì linh hồn chúng ta sẽ chết yểu và hư đi.
Chúa Giêsu còn là sự sống lại. Chính Người là Đấng đầu tiên sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai tin vào Người và thông hiệp trong cái chết của Người sẽ được phục sinh như Người.
– “Ai tin vào Thầy thì dù chết rồi thì vẫn sẽ được sống”
Hôm nay chúng ta dâng lễ và viếng nghĩa trang cầu nguyện cho các linh hồn, chính là vì chúng ta đang tin vào điều này. Các đẳng linh hồn vẫn sống vì đã tin vào Chúa Giêsu, nhưng còn mang ít nhiều vết nhơ của tội. Vì thế, lời cầu xin và việc dâng hy lễ của chúng ta là cậy nhờ dòng Máu Sự Sống của Chúa Giêsu đến giải thoát các linh hồn cho về hưởng sự sống vĩnh cửu.
– “Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”
Lời này hướng đến chúng ta là những người đang còn hiện hữu trên trần gian. Vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô nên sẽ không sợ cái chết, cái chết thể lý chỉ là cửa ngõ đưa chúng ta về cuộc sống vĩnh cửu.
29.Kính nhớ tổ tiên
NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ KÍNH NHỚ TỔ TIÊN KHÔNG?
(Suy niệm của Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
Hồi còn nhỏ có mấy bạn hay hỏi tôi rằng: “Chúng mày theo Chúa, thờ mỗi Chúa, thế là khi Bố Mẹ Ông Bà người thân chết đi là quên họ luôn à?”
Tôi cười và đáp: không đâu bạn, trong 10 điều răn Chúa dạy chúng tôi, có 1 điều đó là “Thảo Kính Cha Mẹ”. Còn với Đức Giêsu, Ngài nhắc lại và kèm theo cảnh báo: “Ngươi hãy thờ kính Cha Mẹ; kẻ nào nguyền rủa Cha Mẹ, thì phải bị xử tử” (Mt 15,4).
Và hằng ngày trong các Thánh lễ chúng tôi vẫn cầu cho ông bà cha mẹ, và thân bằng quyến thuộc đã qua đời.
Người Công Giáo chúng tôi còn có dành riêng tháng 11 còn gọi là tháng các linh hồn, để kính nhớ đến ông bà tổ tiên cùng những người đã khuất, và đặc biệt còn dành ngày Mùng 2 tết âm lịch để nhớ về cội nguồn của mình.
Chúng tôi cũng có ngày lễ giỗ. Trong ngày giỗ thay vì mâm cao cỗ đầy mời người đã khuất ăn, rồi sau đó người sống mới ăn, theo quan niệm bên các bạn, chúng tôi quây quần bên bàn thờ được thắp nến chưng hoa quả, tỏ lòng tri ân và để đọc kinh dâng lời nguyện cầu cho linh hồn các ngài được đến nơi vĩnh hằng là Thiên Đàng. Quan niệm của chúng tôi là hãy đối xử tốt với những người thân bên cạnh bạn khi còn sống, còn khi đã khuất mâm cao cỗ đầy cũng để làm gì?
Điều các bạn tin và mong muốn là sống tốt và kiếp sau sẽ được luân hồi tiếp tục trở thành con người… Khác với các bạn niềm tin của chúng tôi, vì chúng tôi tin là không có cuộc trở lại kiếp sau mà con người sau khi chết là về với Chúa, nếu còn thiếu sót thì cần được thanh luyện trong lửa luyện ngục, còn nếu sống đẹp lòng Chúa thì họ vĩnh viễn hưởng hạnh phúc Thiên Đàng nơi đó không còn khổ đau nữa.
Tháng 11 lại về như là lời nhắc nhở chúng ta về một thế giới không phải là âm hồn mà là thế giới thần linh. Một thế giới không còn oán hận, ganh ghét và cũng là một thế giới trả lại công bằng cho cuộc sống trần gian của con người. Kẻ làm điều ác sẽ bị trầm luân trong hoả ngục. Kẻ sống chưa hoàn thiện đủ, hay còn thiếu sót trong cuộc sống dương gian thì sẽ phải đền trả trong luyện tội và kẻ sống trong ơn nghĩa Chúa sẽ ở bên cung lòng Chúa mãi mãi.
Thế nên, tháng 11 phải hiểu là tháng báo hiếu, tháng lập công cho ông bà tổ tiên và thân nhân. Vì người chết thì hết lập công đền tội. Họ cần người sống làm việc thiện và cầu nguyện thay cho họ. Để nhờ công đức và nhờ lời cầu nguyện của chúng ta, Thiên Chúa sẽ tha thứ và ban ơn cứu độ cho các ngài.
Thực ra trong thân phận con người ai mà không thiếu sót. Người thiếu sót công bình. Kẻ thiếu sót bổn phận. Người thiếu sót việc làm. Kẻ thiếu sót lời nói. Vì nhân vô thập toàn nên ai cũng cần những người còn sống hãy nhớ tới họ mà lập công đền bù cho họ.
Trong cuốn sách của Maria Simma, nói về “Các Linh hồn Luyện ngục” bà đã viết rằng: “Những linh hồn khốn khó nói rằng, nước mắt khóc thương không ích gì cho họ, chỉ có lời cầu nguyện mới giúp họ. Họ phàn nàn rằng, nhiều người đi dự đám tang mà không cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho họ, trong khi lại khóc lóc than van, điều này là vô ích!”
Điều mà các linh hồn cần chúng ta quan tâm chính là các việc lành phúc đức và lời cầu nguyện cho họ, đặc biệt là thánh lễ misa để nhờ công ơn cứu chuộc của Chúa Giê-su sẽ ban cho họ hưởng hạnh phúc Nước Trời.
Cha thánh Gioan Vianney đã kể về lợi ích của thánh lễ như sau: “Các con ơi, có một linh mục tốt lành đã mất một người bạn mà ông rất quí mến, vì vậy ông đã cầu nguyện rất nhiều cho linh hồn người bạn ấy được nghỉ yên.
Một hôm, Chúa cho ông biết rằng, người bạn của ông đang ở trong luyện tội và phải chịu đau đớn khủng khiếp. Linh mục thánh thiện ấy tin rằng ông không thể làm gì tốt hơn là dâng lễ cầu cho người bạn thân của mình trong Luyện ngục.
Vào lúc truyền phép, ông cầm Mình Thánh giữa hai tay và thưa: “Lạy Chúa Cha Hằng hữu, con xin đánh đổi: Cha giữ linh hồn người bạn con đang ở trong Luyện ngục, con giữ Mình Thánh Con Cha trong tay con. Lạy Cha đầy lòng thương xót, xin giải thoát người bạn con, còn con xin dâng lên Cha Con của Cha với mọi công phúc của cái chết và cuộc khổ nạn của Người”.
Điều xin đã được chấp nhận, vào lúc dâng Mình Thánh lên, cha thấy linh hồn của bạn mình, sáng láng trong vinh quang, tiến về Thiên đàng.
“Các con ơi, khi chúng ta muốn giải cứu một linh hồn thân yêu của ta khỏi Luyện ngục, ta hãy làm như vậy, hãy dâng lên Thiên Chúa Thánh lễ Misa, Con Yêu Dấu của Ngài với tất cả các công nghiệp sự chết và khổ nạn của Người, Ngài sẽ không từ chối chúng ta bất cứ điều gì. ”
Mỗi người chúng ta đều có người thân đã ra đi về với Chúa. Hãy dành cho họ một chút hy sinh, một chút quà chia sẻ bác ái, và một thánh lễ cầu nguyện cho họ. Đây là cách chúng ta sống tâm tình tri ân những ông bà cha mẹ và những người đã sống chia sẻ cuộc sống với chúng ta. Hãy dành cho họ cũng là chúng ta dành cho Chúa. Vì chưng Chúa Giê-su từng nói: khi anh em cho người đói, người khát, người yếu đau là chúng ta đang làm cho chính Thầy, và Thầy sẽ ban phần thuởng Nước Trời cho ai giúp đỡ Thầy. Amen.
30.Lễ Các Linh Hồn
(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
“Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân biết kính sợ Người”. (Gv 3, 14)
Suy niệm 1: XIN NHỚ ĐẾN TÔI
Người ta kể rằng: Có một người duy nhất sống sót trong một tai nạn đắm tàu và trôi dạt trên một hoang đảo nhỏ. Kiệt sức, nhưng cuối cùng anh đã gom được những mẫu gỗ trôi dạt và tạo cho mình một túp lều nhỏ để trú ẩn và cất giữ một vài đồ đạc còn sót lại. Ngày ngày anh nhìn về chân trời cầu mong được cứu thoát, nhưng dường như vô ích.
Thế rồi một ngày, như thường lệ anh rời khỏi chòi để tìm thức ăn trong khi bếp lửa trong lều vẫn cháy. Khi anh trở về thì túp lều nhỏ đã ngập trong lửa, khói cuộn bốc lên trời cao. Điều tồi tệ nhất đã xảy đến. Mọi thứ đều tiêu tan thành tro bụi. Anh chết lặng trong sự tuyệt vọng: “Sao mọi việc lại thế này lại xảy đến với tôi hở trời!”.
Thế nhưng, rạng sáng hôm sau, anh bị đánh thức bởi âm thanh của một chiếc tàu đang tiến đến gần đảo. Người ta đã đến để cứu anh. “Làm sao các anh biết được tôi ở đây?” – Anh hỏi những người cứu mình. Họ trả lời: “Chúng tôi thấy tín hiệu khói của anh”.
Những người đã chết cũng đang sống trong hoài bão chờ mong. Họ chờ mong có ai đó nhớ đến họ. Họ chờ mong có ai đó cứu thoát họ. Họ đã bị âm dương xa cách ngàn trùng. Cuộc đời của họ đã trôi dạt vào một bến bờ xa lắc. Không lối thoát. Không tự mình cứu mình. Họ chỉ còn trông mong nơi những người còn sống.
Người thanh niên trên đảo đã vô tình đốt lều tạo thành khói lửa báo hiệu cầu cứu. Những người đã chết theo những mạc khải tư họ vẫn hiện về với lửa, với nóng, với lời cầu xin “xin cứu giúp họ”. Những ánh lửa vẫn là lời mời gọi con người hãy nhớ đến những người đã khuất. Họ đang chịu sự hình phạt do tội mình gây nên. Họ đang phải thanh luyện nên hoàn hảo hơn. Thế nhưng, họ bất lực vì không thể làm gì khác hơn để cứu mình. Họ mong chúng ta hãy cứu giúp họ.
Trong bí mật Fatima chúng ta cũng thấy: Mẹ Maria đã mạc khải qua lời chị Lucia như sau:
“Đức Mẹ đã tỏ cho chúng con thấy một biển lửa lớn, dường như ở dưới lòng đất. Ma quỉ và các linh hồn dưới hình người bị chìm ngập trong lửa này, giống như những cục than hồng thông suốt, hoàn toàn như thỏi đồng đen đủi hay bóng láng, bập bềnh trong một đám cháy rực lửa, lúc thì bị tung lên không trung bởi những ngọn lửa xuất phát từ chính mình họ cùng với những đám khói cả thể, lúc thì bị rớt một cách nhẹ bỗng xuống khắp nơi như những tia lửa của một đám cháy khổng lồ, với những tiếng la thất thanh và rên xiết đớn đau tuyệt vọng, khiến chúng con kinh khiếp và rùng mình sợ hãi. Có thể nhận ra đám ma quỉ bằng những hình thù rùng rợn và ghê tởm giống các con thú kinh khiếp chưa từng thấy. đen ngòm và thông suốt. Thị kiến này kéo dài trong giây lát. Chúng con làm sao có thể tỏ lòng biết ơn cho đủ đối với Người Mẹ thiên đình nhân ái của chúng con, Đấng mà trong lần hiện ra thứ nhất đã sửa soạn trước cho chúng con bằng lời hứa sẽ đem chúng con về thiên đàng. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết đi vì sợ hãi và kinh hoàng.
Tháng 11 Giáo hội mời gọi chúng ta nhớ tới những người thân yêu của chúng ta đã ly trần. Họ có thể là ông bà, cha mẹ của chúng ta. Họ có thể là bằng hữu của chúng ta. Họ cũng có thể là những người đã gây nên không biết bao nhiêu đau khổ cho chúng ta. Họ đã hối hận nhưng không còn cơ hội sửa lỗi hay lập công. Họ đang trải qua ngọn lửa thanh luyện để được xứng đáng vào dự yến tiệc Con Thiên Chúa.
Theo giáo lý về luyện ngục, Giáo hội cũng khẳng định: “Tất cả những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, nhằm đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phước Thiên Đàng. Hội Thánh gọi việc thanh luyện cuối cùng của những người được chọn là luyện ngục. Điều này khác hẳn với hình phạt đời đời” (các số 1030-1031).
Vậy chúng ta có thể làm gì cứu giúp các linh hồn?
Trong sách Macabêô II, 12: 25, tác giả nói rằng việc nhìn nhận phần thưởng dành cho những người an nghỉ cách đạo đức mang ý nghĩa lành thánh; do đó ông Yuda đã xin dâng lễ tế cầu ơn xá tội cho những linh hồn người chết để họ được tha thứ tội lỗi”.
Mỗi người chúng ta đều có những người rất thân yêu đã ly trần. Họ chỉ mong chờ chúng ta một lời kinh, một thánh lễ,một việc lành thay cho họ. Họ đang nói với chúng ta “Xin đừng quên tôi”. Xin cho chúng ta biết dùng tháng 11 như là một tháng đền ơn đáp nghĩa những người đã yêu thương chúng ta mà nay đã ly trần bằng việc nhớ và cầu nguyện cho họ. Amen.
Suy niệm 2: DỤ NGÔN CÂY CHUỐI
Có một cậu bé hỏi bố rằng:
“Bố ơi, trong cuộc đời của một cây chuối nó sinh ra được bao nhiều buồng?”
“Chỉ một buồng duy nhất.” – Bố tôi trả lời.
Cậu nhỏ ngạc nhiên về câu trả lời của bố. Nó cứ đinh ninh trong cuộc đời của mình một cây chuối ít nhất cũng phải cho vài buồng quả.
“Khi buồng chuối chín cũng là lúc cây chuối mẹ chết đi.” – Bố nói thêm.
Thực vậy, nếu có dịp quan sát một cây chuối mang một buồng quả chín ta sẽ thấy: Lá của cây chuối mẹ héo rũ và xác xơ, và thân của nó oằn xuống như sắp gãy vì nó phải mang trên mình một buồng chuối nặng trĩu quả. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, khi buồng chuối chín hoàn toàn, cây chuối mẹ sẽ gục hẳn xuống.
Trong quá trình nuôi buồng chuối, cây chuối mẹ đã hy sinh những phần tinh túy nhất của mình – chất dinh dưỡng trong gốc, thân và lá – để dồn cho những quả chuối được chín, để dâng cho đời những trái chuối ngon ngọt.
Hóa ra lâu nay hàng ngày tôi vẫn ăn chuối và thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy một bụi chuối mà không hề hay biết cây chuối tượng trưng cho một hình ảnh đẹp về sự hy sinh.
Cây tốt lại sinh trái tốt. Cây chuối từ đời này đến đời kia cứ tiếp tục dâng hiến, hy sinh để cho một mần sống mới phát triển. Phẩm chất của cây chuối không chỉ là thơm ngon, là chất bổ dinh dưỡng mà còn là bài học quý báu của tình yêu hy sinh đến quên cả tính mạng mình. Đó là mẫu gương của sự hy sinh, của tình yêu bất diệt.
Tháng 11 là dịp để chúng ta nhớ tới biết bao hy sinh của những bậc làm cha mẹ đã quên mình vì chúng ta. Họ đã đánh đổi cuộc đời cho chúng ta sự sống, cho chúng ta tiếng cười và bình an. Họ đã một cuộc đời tận hiến thân mình như cây chuối chỉ mong mang lại cho đời trái chin thơm ngon và chấp nhận gục ngã theo số phận an bài.
Vâng, khi nói đến cha mẹ, chúng ta không thể quên những hy sinh mà các ngài đã dành cho chúng ta. Điều này đã thể hiện qua biết bao ca từ của lời hát, của những câu ca. Văn học luôn phát triển cùng với những vần thơ ca tụng về tình cha tình mẹ. Và có lẽ, từ bé đến già, không nhiều thì ít, ai cũng cảm thấy thấm thía ơn đức cao cả của mẹ cha:
“Công cha đức mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết thờ song thân”.
“Biết thờ song thân”, thờ trong khi sống, thờ sau khi chết, thờ thế nào cho phải đạo làm con, cho xứng đáng phần nào công lao tảo tần nuôi con của mẹ:
“Nuôi con buôn tảo bán tần
Chỉ mong con lớn nên thân với đời
Những khi trái nắng trở trời
Con đau làm mẹ đứng ngồi không yên
Trọn đời vất vả triền miên,
Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.
Thế nên, nếu so sánh công đức của mẹ hiền như non cao cũng chưa xứng đáng:
“Ai rằng công mẹ như non
Thực ra công mẹ lại còn lớn hơn”.
Tình thương của cha mẹ thật lớn lao. Tình thương ấy thật bao la, bát ngát, nên mỗi khi mẹ cất tiếng ru con thì đời con thêm tươi sáng:
“Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học mẹ đi trường đời”.
Vậy, những tình yêu mà cha mẹ dành cho chúng ta, các ngài cần gì nơi chúng ta? Chắc chắc không phải là tiền bạc, vì tiền bạc các ngài dành giụm để cho chúng ta. Chắc chắc đó không phải là danh vọng, vì tuổi gìa chẳng còn ham muốn những tham sân si của dòng đời. Các ngài cần tình yêu của chúng ta qua sự chăm sóc, thăm nom của chúng ta khi các ngài còn sống. Niềm mơ ước đó đã thể hiện qua những lời mẹ ru con:
“Ai về tôi gửi buồng cau,
Buồng trước kính Mẹ, buồng sau kính Thầy.
Ai về tôi gửi đôi giầy,
Phòng khi mưa gió để Thầy Mẹ đi”.
Trong đạo hiếu đôi khi những người con còn dám chấp nhận hy sinh hạnh phúc, hy sinh cuộc đời riêng tư của mình, một lòng chỉ quyết phụng dưỡng mẹ cha:
“Ơn hoài thai, to như bể!
Công dưỡng dục, lớn tợ sông!
Em nguyện ở vậy không chồng,
Lo nuôi cha mẹ hết lòng làm con”.
Không chỉ ở nhà mới phụng dưỡng cha mẹ mà ngay cả khi sang nhà chồng hay khi làm ăn nơi xa vẫn một niềm lắng lo, vẫn canh cánh bên lòng một cuộc đời già nua của cha mẹ:
“Chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu, mẹ già.
Bát cơm đôi đũa, kỹ trà ai dâng?
Lòng thảo hiêu ấy được tỏ bày một cách chân thành khi các ngài đã qua đời, luôn cầu nguyện, thắp hương tưởng nhớ mẹ cha.
Giáo Hội Công Giáo mời gọi chúng ta lấy tinh thần thảo hiếu của người Việt vào trong đời sống tôn giáo bằng việc dùng tháng 11 như là tháng ân hiếu mẹ cha.
Đạo hiếu luôn dạy chúng ta “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đạo hiếu luôn nhắc nhở chúng ta phải tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ. Xin cho chúng ta luôn sống thảo hiếu với cha mẹ. Khi còn sống biết kính trọng vâng lời. Khi các ngài đã qua đời luôn nhớ đến các ngài trong kinh tối, kinh sáng và trong thánh lễ hằng ngày. Amen.
31.Buồn trong kỷ niệm
(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
Tháng 11 lại về, bầu trời như có chút u buồn, cái buồn của trời lập đông mau tối nồng thêm cái không khí se lạnh làm cho người ta cảm thấy chạnh lòng khi nghĩ về cuộc đời, nghĩ về người cha, người mẹ đã không còn. Nghĩ về cuộc đời thật chóng qua như loài hoa sớm nở chiều tàn. Nghĩ về những người cha người mẹ mà công đức của họ quá cao vời khiến chúng ta ngậm ngùi tưởng nhớ và mong làm một chút việc gì đó có ích cho mẹ cha.
Thật chạnh lòng khi nhớ về những người đã khuất. Thật nuối tiếc về tình yêu mẹ cha dành cho ta nay đã không còn, chỉ đọng lại trong ta một nỗi buồn miên man.
Có một bạn trẻ hồi ức về tuổi thơ của mình. Một tuổi thơ mất mẹ khi còn quá nhỏ nên chẳng hiểu hết nỗi đau. Chỉ thấy vắng mẹ rồi đơn sơ hỏi cha rằng:
“Một ngày hỏi mẹ ta đâu?
Cha buồn cố nén giọt sầu hôn con
Bảo rằng mẹ đã lên non
Suối vàng ở đó nhặt xong mẹ về
Đứa trẻ ngày lại ngày ngóng trông mẹ về mà sao cứ hun hút bóng mẹ. Suối vàng ở đâu mà mẹ nhặt mãi không về. Con ngày đêm mong nhớ. Mẹ vẫn biền biệt. Con tưởng rằng vì ham nhặt suối vàng mà mẹ chẳng chịu về. Khiến lòng buồn và lệ cứ rơi.
“Sớm chiều trông ngóng mẹ quê
Ham chi giàu có mẹ ơi! con buồn
Mưa tuôn nước đổ trên nguồn
Lệ con tuôn mãi mỏi mòn tháng năm.
Rồi nỗi buồn lại nối tiếp nỗi buồn. Khi đứa trẻ mồ côi nhận ra nỗi đau vì mẹ đã về suối vàng là vĩnh viễn không về trần gian, thì cũng là lúc ngậm đắng nỗi đau của kẻ mồ côi cả mẹ lẫn cha.
“Nhớ nhung ngậm đắng âm thầm
Thế rồi cha cũng bạc phần ra đi
Lên non tìm mẹ làm chi?
Giật mình …. con hiểu biệt ly – vô thường.
Cuộc đời thì vô thường, nay còn mai mất. Dẫu biết vậy, nhưng mất cha mất mẹ là một mất mát mà không có gì bù đắp được. Vì mẹ cha là một tác phẩm tuyệt đẹp về tình yêu con người, đó chính là bông hoa đẹp nhất của tạo hóa, là những nốt nhạc trầm bổng, những cung thanh cung điệu của bản nhạc giữa cuộc đời này. Tình yêu mẹ cha đã làm nên niềm vui và hạnh phúc cho con. Tình yêu ấy đã làm nên biết bao hình ảnh đẹp về tình người cho con cái.
Hôm nay, trong không gian nghĩa trang đang ấm dần bởi những nén hương, những ngọn nến của biết bao người con đang thắp lên trên phần mộ của những bậc sinh thành. Chúng ta cũng trào dâng niềm cảm mến tri ân về biết bao nghĩa cử cao đẹp mà cha mẹ đã làm cho chúng ta khi còn sống. Họ đã lặng im nơi chín suối hay dưới nấm mồ hoang lạnh. Điều họ cần nơi chúng ta không chỉ là một nén hương tỏ lòng tri ân, mà quan yếu là nhớ đến họ để cầu nguyện cho họ, để làm việc hy sinh phúc đức cho họ. Đây là bổn phận đối với Thiên Chúa mà họ phải làm khi còn sống, thế nhưng trong thân phận bất toàn họ đã thiếu sót. Họ đã không chu toàn đủ vì còn phải lao nhọc vì chúng ta. Họ còn phải hy sinh vì chúng ta. Nay họ cần được thanh luyện để xứng với tình yêu của Chúa. Thế nhưng, “lực bất tòng tâm”. Họ lại không còn cơ hội hay khả năng để lập công cho mình.
Vì thế, trong đạo hiếu Việt Nam luôn mời gọi con cái hãy biết đền ơn đáp nghĩa mẹ cha qua những thánh lễ cầu nguyện cho tổ tiên, qua những hy sinh bác ái để lập công đền tội cho cha mẹ chúng ta. Sách giáo lý Công Giáo đã viết:
“Chúng ta hãy cứu giúp và tưởng nhớ đến những người đã qua đời. Nếu con cái ông Job được thanh luyện nhờ sự hy sinh của ông, thì tạo sao chúng ta lại nghi ngờ rằng những việc hiến dâng của chúng ta sẽ đem lại an ủi cho các linh hồn ấy? Vậy chúng ta đừng ngần ngại giúp những người đã qua đời và cầu nguyện cho họ”.
Ước mong tháng 11 sẽ là cơ hội để chúng ta tỏ lòng tri ân với cha mẹ, ông bà, anh em bạn hữu không chỉ bằng nén hương thắp lên trước phần mộ mà bằng cả tấm lòng mong muốn làm điều gì đó để đền bù cho họ vì những thiếu sót trong thân phận con người. Xin cho các linh hồn sớm được nghỉ yên trong tình yêu Chúa qua những lời cầu nguyện và những hy sinh của chúng ta trong tháng dành cho các đẳng linh hồn này. Amen.
32.Sự thanh luyện cần thiết
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
Tháng 11, trong tinh thần hiệp thông, Giáo hội tưởng niệm và cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời hiện đang còn thanh luyện trước khi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.
1/ Các linh hồn cần được thanh luyện.
Những tín hữu đã chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng chưa sạch hết mọi tội và chưa đền tội bằng những hình phạt tạm thời này thì không thể vào thẳng thiên đàng được, chưa xứng đáng hưởng nhan thánh Chúa nên họ phải chờ đợi thanh luyện xong mới vào thiên đàng. Thời gian đó là thời gian xa cách Chúa. Công đồng Floren đã định tín: “Có luyện ngục để thanh luyện các linh hồn”. Các linh hồn ra khỏi trần gian không còn có thể làm được việc gì lành để cứu mình nên chỉ trông cậy vào những người còn sống lập công cầu nguyện cho mình để rút ngắn thời gian thanh luyện. Vì thế mà Giáo hội kêu gọi tín hữu cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội. Đặc biệt là việc dâng thánh lễ, dành tháng 11 cầu nguyện cho họ. Giáo hội còn mở kho tàng ân xá là công nghiệp của các Thánh để nhường cho các linh hồn nơi luyện tội. Giáo hội khuyến khích việc đi viếng các nghĩa địa, sửa sang mồ mả và cầu nguyện cho các linh hồn theo câu tục ngữ: mồ thật chôn các người chết là trái tim người sống.
Công đồng Vatican II đã xác tín lại tín điều Giáo hội cùng thông công giữa ba thành phần: lữ hành, thanh luyện và vinh thắng. Cả ba thành phần đều hiệp thông với nhau trong đức mến và truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng. “Trong số những môn đệ của Chúa, có những kẻ tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế, có những kẻ hoàn tất cuộc sống này nhưng đang được thanh luyện, và có những người đang được chiêm ngưỡng “rõ ràng Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có”…Sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh em đã yên nghĩ trong bình an Chúa Kitô không hề bị gián đoạn. Nhưng trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh hơn nhờ việc truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng. Quả thực, nhờ kết hiệp mật với Chúa Kitô hơn, các người ở trên trời cũng cố toàn thể Giáo hội vững bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng mà hiện nay Giáo hội tại thế dâng lên Thiên Chúa được cao cả hơn, và họ góp phần phát triển Giáo hội rộng rãi hơn bằng nhiều cách”. (LG, chương 7, số 49).
Trong số 50, Hiến Chế Lumen Gentium viết: nhận biết sự đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Giáo hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết vì “cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh tốt đẹp” ( 2 Mac 12,46).
Việc lành thánh tốt đẹp ấy được nói đến trong Thánh kinh và giáo huấn của Giáo hội.
1. Thánh kinh:
Hai đoạn văn thường được nhắc đến là 2 Macabê 12,39-46 và 1Côrintô 3,10-15. Một bản văn thuộc Cựu ước và một thuộc Tân ước.
2. Sách Macabê II: sách được viết vào khoảng năm 124 trước công nguyên, đánh dấu nhiều bước tiến trong mạc khải cánh chung. Ở chuơng 7, chúng ta gặp thấy chứng tích về niềm tin vào sự sống lại dành cho các vị tử đạo. Chương 11, chúng ta lại thấy chứng tích về việc cầu nguyện cho người đã qua đời được thúc đẩy bởi niềm tin vào sự phục sinh.
3. Thư thứ nhất Côrintô: Bản văn nói đến sự thanh luyện. Đoạn văn đã được sử dụng để nói tới sự phân biệt ba hạng người sau khi chết: những người lành được lên thiên đàng, những người xấu phải xuống hoả ngục, hạng người thứ ba được cứu rỗi nhưng cũng cần được thanh luyện bằng lửa, tức là lửa thanh luyện.
Trong bối cảnh tổng quát của mạc khải, có thể biện minh sự hiện hữu của việc thanh luyện tội lỗi sau khi chết với ba lý chứng sau đây: sự thanh sạch cần thiết để được đến gần Chúa (x.Xh 29,4; Lêvi 11; Tv 24,3-4; Is 35,8.52,1; Mt 5,8.48; Kh 21,27); trách nhiệm cá nhân trong việc đền tội (x. 2Sm 12,13-15); và giá trị của sự cầu nguyện cho người qua đời (x. 2Mac 12,40; 1Cor 15,29; 2 Tim 1,16-18).
4. Giáo huấn Giáo hội:
Công đồng Vatican II bàn đến tình trạng thanh luyện sau khi chết ở chương VII của hiên chế Lumen Gentium. Số 49, Công đồng nhìn nhận rằng “có những tín hữu đã qua đời và đang được thanh luyện”. Số 50, đạo lý về sự thông hiệp giữa hết mọi phần tử Giáo hội được dựa trên thói tục bắt nguồn từ thưở ban đầu Kitô giáo về sự tưởng niệm người chết và cầu nguyện cho họ. Phần kết chương VII trình bày về đường hướng mục vụ, Công đồng tái khẳng định đạo lý cổ truyền của Giáo hội: “ Thánh Công Đồng kính cẩn đón nhận niềm tin cao trọng của tiền nhân chúng ta trong việc hiệp thông sống động với các anh em được vinh hiển trên trời hay còn phải thanh luyện sau khi chết, và lấy lại các sắc lệnh của thánh Công đồng Nicêa II, Firence, Trento ( số 51 a)”
Sách giáo lý Giáo hội Công giáo
Các số 1030 -1032 bàn đến sự thanh luyện. Có thể tóm lại trong các điểm sau:
– Các linh hồn cần được thanh luyện để hoàn tất sự thánh thiện cần thiết để được vào thiên đàng. (Số 1030). Lưu ý là sự thanh luyện được hiểu về trạng thái hơn là một ‘nơi chốn’, lại càng không thể nói “thời gian” bao lâu.
– Các linh hồn có thể được chúng ta giúp đỡ bằng lời cầu nguyện. (Số 1032)
– Luyện ngục không phải là một hoả ngục ngắn hạn (Số 1031), luyện ngục hoàn toàn khác xa hoả ngục.
– Sách giáo lý có trích dẫn cụm từ ‘lửa thanh luyện” (x. 1Cor 3,15; 1Pr 1,7) nhưng không nói là phải hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng ( Số 1032).
2/ Các linh hồn được thanh luyện bằng cách nào?
Truyền thống Giáo hội nói rằng: các linh hồn được thanh tẩy bằng lửa, lửa tình yêu (x. Dc 8,7), lòng khát khao thấy Thiên Chúa. Sự đau khổ trong day dứt hối hận tột độ. Các linh hồn mong hưởng nhan thánh Chúa nhưng lại chưa được vì mình chưa trong sạch xứng đáng nên phải thanh luyện bằng sự hối hận đầy lòng mến. Thánh Tôma cho rằng nguyên sự nôn nao muốn về thiên đàng cũng đã đủ tạo nên cực hình rồi (x. IV Sent, d.21, q.1 de Purgatorio,a.3). Thực vậy, nếu các tội nhân hoả ngục đau đớn vì mãi mãi lìa xa Chúa, thì các linh hồn đang thanh luyện phải trải qua một thứ cực hình khác: họ mong mỏi mau đựoc về với Chúa. Sự náo nức vì chờ đợi kẻ thân yêu cũng đã đủ “thiêu đốt tâm can” rồi! Dù sao, một khi họ biết được lý do vì sao họ chưa được vào thiên đàng, họ sẽ đau buồn vì trước kia họ chưa mến Chúa cho đủ, họ đã coi nhẹ việc thống hối đền tội.
Do đó có thể hiểu rằng nổi thống khổ của các linh hồn thanh luyện tuy cực độ nhưng đượm màu hân hoan và tràn trể hy vọng. Đức Cha Tihaner quan niệm rằng: luyện ngục là một hoả ngục đầy hân hoan, là một thiên đàng đầy đau khổ. Chính linh hồn ý thức tình trạng bất xứng của mình trước sự thánh thiện của Thiên Chúa, vì thế tự nguyện được thanh tẩy. Giống như khi ta vào căn nhà nào lát gạch men bóng loáng, thì tự nhiên phải để dép ở ngoài. Nếu chân ta dính nhiều bùn đất mà muốn vào phải rửa chân cho sạch. Chính linh hồn muốn trở nên thanh khiết hơn, trưởng thành hơn, trong sáng hơn để được hiệp nhất với Thiên Chúa nên đón nhận những đau khổ do việc thanh luyện như là một phương thế cần thiết. Bởi đó trong luyện ngục, hạnh phúc đã bắt đầu chớm nở. Đây là một thứ đau đớn làm sung sướng hay một thứ hạnh phúc pha lẫn đau khổ. Nhìn dưới lăng kính tình yêu, các linh hồn đau đớn do hình phạt đền tội, do sự khắc khoải vì chưa được lên thiên đàng. Nhưng họ vui sướng bởi vì chính tình yêu Chúa đang thanh luyện họ, họ đang tập “yêu mến” cách trọn hảo hơn, cắt đứt những ràng buộc với thọ tạo. Họ cũng vui sướng vì họ đã được đảm bảo về phần rỗi, bởi vì họ chắc chắn rằng mình sống trong ân sủng và đức ái.
Sự thanh luyện nói lên lòng lân tuất của Thiên Chúa: Ngài muốn chúng ta nên hoàn thiện, thanh sạch ngõ hầu xứng đáng chiêm ngắm nhan Ngài. Sự thanh luyện cũng nói lên tình yêu của Thiên Chúa: Ngài muốn cho chúng ta dành trọn cả mối tình cho Ngài chứ không quyến luyến với thọ tạo nào.
3/ Cần phải cầu nguyện cho các linh hồn
Sự thanh luyện thuộc về “cánh chung trung thời” bởi vì nó sẽ không tồn tại sau ngày tận thệ thế nữa. Luyện ngục chỉ là thời gian tạm trú. Không ai có hộ khẩu thường trú ở đó cả. Luyện ngục chỉ là một chuyến đò ngang. Thiên Chúa mới là bến bờ. Đời sống vĩnh cửu mới là cùng đích, là phần thưởng Thiên Chúa hứa ban.
Đạo lý về sự thanh luyện thúc giục chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời. Tập tục này đã có từ cuối thời Cựu ước và trong suốt lịch sử Giáo hội (x. GLCG số 1032; 958; 1371; 1689). Ngoài những hình thức cầu nguyện riêng tư, phụng vụ Giáo hội khuyến khích tục lệ này. Khởi đầu từ Thánh lễ, nơi đó Giáo hội hiệp thông với Các Thánh trên trời cũng như với các linh hồn còn đang chịu thanh luyện. Hằng năm, ngày 2 tháng 11 được dành để cầu nguyện cho tất cả các linh hồn đã qua đời tiếp sau lễ kính Các Thánh. Giáo hội còn dành cả tháng 11 nhớ đến các linh hồn và mời gọi con cái mình cầu nguyện, hy sinh hãm mình, làm việc bác ái như là nghĩa cử biểu lộ lòng yêu thương đối với họ cũng như tình hiệp thông trong nhiệm thể Chúa Kitô.
33.Lễ Các Đẳng Linh Hồn
(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)
Thời Cựu ước, người ta vẫn tin rằng, những người còn sống có thể làm việc đền tội thay cho những người đã chết. Sách Macabê đã kể lại rằng: “Ông Giuđa quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về Giêrusalem để xin dâng lễ tế đền tạ cho những người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi” (x. 2 Mcb 12, 43-46). Ngay từ những thời gian đầu, Giáo hội cũng đã tôn kính và tưởng niệm những người đã qua đời bằng việc dâng lễ, cầu nguyện, làm việc bố thí, hưởng các ân xá và thi hành những việc đền tạ để giúp những người đã qua đời (x. GLHTCG số 1032). Giáo hội luôn khuyến khích và mời gọi các Kitô hữu còn sống tiếp tục thực thi những điều trên đây để cứu giúp các linh hồn. Khi như vậy, không những chúng ta giúp các linh hồn mà còn thực thi sự công bằng, bác ái và đặc biệt đem lại lợi ích cho chúng ta.
1. Khi chúng ta cứu giúp các linh hồn là chúng ta đang thực thi sự công bằng. Bởi vì, các linh hồn đang chịu đau khổ trong luyện ngục có thể là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, thân nhân của chúng ta. Họ đã có công sinh thành dưỡng dục chúng ta nên người. Họ đã góp phần làm nên cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay. Có thể vì chúng ta mà họ phải giam cầm trong lửa luyện ngục. Vì vậy, cách nào đó chúng ta đang mắc nợ các ngài.
Các linh hồn đang chịu đau khổ trong luyện ngục cũng có thể là những ân nhân của chúng ta, họ đã từng làm cho đời chúng ta được tốt đẹp hơn: Đó là các thầy cô giáo đạo đời; đó là các Đấng bậc trong Giáo hội, nhất là các linh mục quản xứ đã từng giảng dạy khuyên nhủ chúng ta, ban các Bí tích, giúp chúng ta giao hòa với Thiên Chúa và anh chị em mình; đó là các ân nhân xa gần có thể giúp đỡ chúng ta về tinh thần cũng như vật chất: một lời khích lệ động viên, một sự nâng đỡ, một chén cơm, một món qùa khi chúng ta thiếu thốn, đói khát…
Cho nên, khi chúng ta xin lễ, cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục là chúng ta đang thực thi lẽ công bằng, đang làm việc bổn phận của chúng ta.
2. Khi chúng ta cứu giúp các linh hồn là chúng ta thực thi tinh thần bác ái: khi thấy ai đói khổ, bệnh tật, gặp hoạn nạn rủi ro…chúng ta thường ra tay giúp đỡ. Chẳng hạn, trong trận lụt lịch sử do thiên tai và nhân tại xảy ra tại miền Trung vừa qua để lại bao nhiêu hậu quả nặng nề: nhiều người chết, hàng chục ngàn người phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất, thiếu lương thực thuốc men…Trong hoàn cảnh bi đát đó, chúng ta thấy có rất nhiều cá nhân, tập thể khắp nơi quyên góp tiền của gửi tới đồng bào Miền trung, trong đó có các giáo xứ trong giáo hạt chúng ta. Tinh thần liên đới đó giúp họ phần nào vơi đi sự đau khổ, mất mất, nhất là giúp họ sớm ổn định cuộc sống.
Từ hình ảnh trên, chúng ta liên tưởng đến những đau khổ mà các linh hồn ngày đêm phải chịu trong luyện ngục: đau khổ vì phải xa mặt Chúa; đau khổ vì phải chịu lửa thiêu đốt hằng ngày. Các ngài không tự cứu mình được. Các ngài đang trông chờ sự cứu giúp của chúng ta. Vậy, chúng ta hãy phát động một cuộc quyên góp, nhất là trong tháng các linh hồn này. Hàng quyên góp của chúng ta không phải là cơm áo, gạo tiền nhưng chính là thánh lễ, lời cầu nguyện, việc hy sinh bác ái và các việc lành phúc đức khác… Nhờ có những của quyên góp chúng ta gửi tới các linh hồn, các ngài sẽ sớm được ra khỏi luyện hình để về với Chúa trên Thiên đàng. Khi làm như thế, là chúng ta đang thực thi lòng bác ái đối với các linh hồn.
3. Khi chúng ta cứu giúp các linh hồn là chúng ta đang làm một việc có ích cho chúng ta. Bởi vì, khi các linh hồn trong luyện ngục được về Thiên đàng, các ngài sẽ bầu cử cho chúng ta trước mặt Chúa. Mặt khác, khi chúng ta nhớ tới các hình khổ mà các linh hồn phải chịu, sẽ nhắc nhở chúng ta cố gắng sống tốt hơn, đền tội nhiều hơn ở đời này để ngày sau giảm bớt thời gian đền tội trong luyện ngục. Hơn nữa, khi chúng ta làm việc giúp các linh hồn đòi buộc chúng ta phải cố gắng sống trong ơn nghĩa Chúa. Bởi vì, theo ý kiến của Thánh Tôma Aquinô, để những việc làm của chúng ta sinh ích cho các linh hồn, một trong những điều kiện cần phải có đó là phải làm khi có ơn nghĩa Chúa, nghĩa là sạch tội trọng.
Truyện kể rằng, một người cha đang khi hấp hối dặn đứa con trai nhớ đến và năng cầu nguyện cho cha sau khi cha qua đời. Người con hiếu thảo vâng lời ngay, chàng siêng năng cầu nguyện, dâng việc lành phúc đức cầu cho linh hồn cha.
Sau 33 năm người cha nói trên hiện về với con, quanh mình phủ đầy lửa, cay đắng phàn nàn:
- Tại sao con quên cha lâu năm như vậy, không cầu nguyện cứu giúp cha.
Người con hết sức ngạc nhiên không hiểu câu nói của cha, chàng liền hỏi:
- Những lời cầu nguyện, việc lành, bố thí của con không giúp ích gì cho cha sao?
Người cha trả lời:
- Không con ơi, các việc lành phúc đức con làm không sinh ích gì cho con và cho cha, bởi con làm khi con mắc tội trọng. Con xưng tội, nhưng không có lòng ăn năn chừa tội thật. Chúa nhân từ cho phép cha hiện về với con để làm ích cho cha con ta.
Từ đó, người con thật lòng ăn năn chừa tội và chẳng bao lâu sau đã cứu được linh hồn cha khỏi Luyện ngục lên Thiên đàng rực rỡ vô ngần (x. Bài “Những phương thế cứu giúp các linh hôn luyện ngục” của Lm. Mark, CMC).
Lạy Chúa, nhờ thánh lễ chúng con dâng hôm nay và lời cầu nguyện và những hy sinh chúng con làm trong suốt tháng này, xin Chúa giảm bớt những hình khổ mà các linh hồn phải chịu trong luyện ngục, sớm đưa các ngài về hưởng trọn vẹn hạnh phúc với Chúa. Xin cho chúng con biết xa tránh tội lối, ra sức làm việc lành để ngày sau được lên Thiên đàng. Amen.
34.Nguồn yêu thương
(Suy niệm của Lm. Jos. DĐH.)
Có những sự thật khá nhạy cảm: không phải cứ ra nghĩa trang, nghĩa địa, mới thấy có sự chết, không phải cứ khóc to, khóc lớn, khóc nhiều ngày, mới là thương người đã khuất, cũng chẳng phải ông bà, bố mẹ, cứ có mồ yên mả đẹp là ta đã chu toàn bổn phận thảo hiếu. Đâu phải 02.11 hàng năm, người công giáo mới có dịp nhớ tới tổ tiên ông bà, truyền thống uống nước nhớ nguồn, tất cả đều được nghe biết từ thuở nhỏ. Có mặt ở nghĩa trang, xin lễ cầu nguyện, thắp nén hương lòng, hẳn người Kitô hữu không ai làm vì hình thức, đúng hơn là từ chữ tình, chữ hiếu, Thiên Chúa cội nguồn yêu thương Ngài đã khéo đặt để nơi tâm hồn con người.
Hai anh trộm cướp năm xưa bị treo trên thập giá vì thiếu sự chăm sóc của gia đình, hay vì lúc đó xã hội chưa có chế độ ưu đãi với người nghèo, hoặc vì công bằng yêu thương chưa được thực thi? Đức Giêsu bị đóng đinh thập giá như phạm nhân, chẳng biết có khi nào chúng ta suy xét vì sao như thế không? Tin mừng cho biết trước khi trút hơi thở, Chúa Giêsu cầu nguyện, và xin Chúa Cha tha thứ vì chúng không biết việc chúng làm. Nếu không phải yêu thương, điều gì sẻ xảy ra đối với những kẻ đóng đinh, những kẻ nhục mạ Con Thiên Chúa? Có một số người thắc mắc vui vui, tại sao anh trộm bên hữu chuyên gia cướp bóc, tội lỗi, thế mà trước khi tắt thở anh ta lừa được cả Chúa, chỉ với câu ngăn gọn vu vơ, thế mà Chúa Giêsu lại hứa thiên đàng cho anh ta?
Khởi đi từ yêu thương, Chúa Giêsu hôm nay cũng rất mong có nhiều người biết sám hối thật lòng, để được hạnh phúc nước Thiên Chúa, được hiểu rõ hơn tại sao Đức Giêsu dám chết cho tội lỗi nhân loại. Suy gẫm về tình yêu, liệu có khi nào vì cơm áo gạo tiền, lo cho gia đình, vì yêu thương con cháu, các ngài bị tai nạn, hoặc phát bệnh mà chết không? Có khi nào vì không nỡ để con cháu thua chị kém em, đấng bậc sinh thành đã liều lỗi đức công bằng để rồi đang phải chịu thanh luyện không? Chúa Giêsu cứu độ nhân loại trong đó có người tội lỗi, người thánh thiện, đấng bậc sinh thành yêu thương con cháu, dù số con cháu còn có những tâm hồn mê muội chưa nhận ra!
Tổ tiên dòng tộc thì ai cũng có, sống đạo làm con thế nào để thể hiện rõ tâm tư hiếu kính: cha là núi mẹ là sông, dù ở đâu, mẹ cha vẫn che chở đời con. Tin tưởng Chúa Giêsu quyền năng, nhân hậu, hiểu yêu thương tha thứ, và sám hối cậy trông, luôn là những cụm từ không thể mang lại ý nghĩa gì, khi chúng bị tách rời nhau. Anh trộm lành nhờ có lòng sám hối cậy trông vào Đức Giêsu nên anh ta được cứu. Chúa Giêsu vì yêu thương và tấm lòng bao dung tha thứ, Ngài không thể im lặng trước thái độ thật tình nơi anh trộm bên hữu. Chúa Giêsu lúc này vẫn là Chúa quyền năng và hay thương xót, Ngài sẵn lòng tha thứ cho các linh hồn nơi luyện ngục, khi chúng ta ý thức dâng hy sinh cầu nguyện, hiệp lòng cậy trông vào Đấng từ bi nhân hậu.
Xin thương cứu các linh hồn sẽ không chỉ là khẩu hiệu, các ngài là ông bà tổ tiên, hoặc là các linh hồn ta không quen biết ; lễ dâng chân thành hôm nay, ơn toàn xá lúc này, sẽ là phúc lộc Nước Trời được ban cho các ngài vì công nghiệp Chúa chịu chết và sống lại. Chúa Giêsu lúc trên thập giá đã cảm hoá được anh trộm lành sám hối ăn năn, ông bà tổ tiên cả một đời đã sống vì con vì cháu, nhất định mỗi người chúng ta không thể nào quên. Anh trộm lành không bày tỏ niềm tin vào Chúa Giêsu bằng việc làm, nhưng qua hành động sám hối: “phần chúng ta, chúng ta chịu như thế này là đích đáng, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu….?”.
Không phải tại nghĩa trang này, hay 02.11 là ngày Giáo hội nhắc chúng ta cầu nguyện cho kẻ chết được sống, người tội lỗi biết ăn năn trở lại, đúng hơn vì Đức Kitô, Đấng đã chiến thắng sự chết đang minh chứng tình yêu của Ngài cho nhân loại chúng ta. Ở nơi đây và lúc này, chúng ta không bình luận đúng sai, được cứu rồi hay còn phải chịu thanh luyện, nhưng kính nhớ tổ tiên, dâng lễ cầu nguyện cho các ngài là điều các linh hồn hằng chờ mong. Chia sẻ, cầu nguyện, ý thức sống đạo, sống bài học yêu thương là bổn phận của con cháu nhớ đến cội nguồn. Chớ gì chúng ta nghe được lời nhắn gởi của các linh hồn nơi luyện ngục: nói đi các bạn, đâu là việc làm yêu thương, đâu là tình hiệp thông cao quý. Amen.
35.Tấm lòng thanh
(Suy niệm của Trầm Thiên Thu)
Mừng Chư Thánh Hiển Vinh Nơi Thiên Quốc
Xót Các Hồn Thanh Luyện Chốn Ngục Hình
Theo lẽ thường thì “xa mặt, cách lòng.” Hầu như các mối quan hệ đều có “điểm chung” như vậy. Chẳng hạn, họ hàng cùng cấp độ, nhưng với người ở gần thì mức độ tình cảm khác với người ở xa. Tuy nhiên, về phương diện tâm linh không như vậy, đặc biệt là tâm linh Kitô giáo.
Thật vậy, Tháng Mười Một xác định cái “lý lẽ” đó: Các thánh và những người đã qua đời là những người ở rất xa, thế mà họ vẫn rất gần chúng ta – thậm chí còn gần hơn khi họ còn sống trên thế gian này.
Họ ở hai nơi khác nhau như họ đều là các thánh nhân, chỉ khác tình trạng một chút: ĐÃ sạch và CHƯA sạch, ĐÃ là thánh và chắc chắn SẼ là thánh. Cầu nguyện với các thánh là điều rõ ràng rồi, nhưng chúng ta vẫn có thể cầu xin các linh hồn giúp đỡ chúng ta, mặc dù họ không thể tự giúp chính họ được nữa. Cầu nguyện với các linh hồn hiệu quả lắm – nhất là trong Mùa Cầu Hồn này.
THANH SẠCH
Các thánh trên Thiên Đàng là những người đã thanh sạch. Chắc chắn như vậy, bởi vì không thanh sạch thì không thể chiêm ngưỡng Thiên Chúa và không được đến gần Ngài.
Tv 24:3-6 cho biết: “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người? Đó là kẻ TAY SẠCH LÒNG THANH, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối. Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng. Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp.” Người sống thanh sạch là người được công chính hóa, và còn thêm ích lợi khác: “Kẻ tay sạch lòng thanh sẽ được thêm sức mạnh.” (G 17:9b)
Nói đến lòng thanh sạch, chúng ta có thể nhớ ngay tới người trưởng thu thuế là ông Da-kêu mà trình thuật Lc 19:1-10 đề cập. Ông là một người lạ lùng lắm. Tên Da-kêu là Zacchaeus, Hy ngữ là Ζακχαῖος hoặc Zakchaios, có nghĩa là TRONG SẠCH và CÔNG CHÍNH. Cái tên rất đặc biệt, rất ý nghĩa. Nhưng không chỉ là cái tên suông, mà chính ông đã thực hiện ngay lập tức. Ông nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Câu nói của ông cho thấy rằng ông làm một lúc hai việc: Bác Ái và Đền Tội. Ông bác ái bằng cách dùng phân nửa tài sản để giúp người nghèo, và đền tội bằng cách đền gấp bốn những gì ông đã tham lam bằng cách nào đó.
Các thánh cũng đã một thời là phàm nhân, nghĩa là cũng có thể phạm tội, nhưng các ngài đã mau mắn sám hối và đền tội. Ngày xưa người ta có cách “đánh tội” khá phổ biến, tức là lấy dây và tự đánh mình, có khi rỉ máu ra, đã có nhiều vị thánh áp dụng “biện pháp” này. Chịu đau khổ là cách đền tội ở đời này và hiệu quả, chịu đau khổ như vậy để mong không phải vào Luyện Hình – tức là “lên thẳng” và vào Thiên Đàng ngay.
Là phàm nhân đồng nghĩa với là tội nhân. Là tội nhân nghĩa là “dơ bẩn” lắm. Nếu dơ bẩn thì phải giặt cho sạch, tốt nhất là “giặt” bằng Bửu Huyết của Đức Giêsu Kitô. Các thánh là những người “đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên.” (Kh 7:14) Và đó là điều diễm phúc: “Phúc thay những kẻ giặt sạch áo mình, để được quyền hưởng dùng cây Sự Sống và qua cửa mà vào Thành!” (Kh 22:14)
Đền tội là điều tự nguyện, nhưng vẫn phải nhờ ơn Chúa giúp sức: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.” (Tv 51:12) Đền tội là hoàn thiện theo ý Chúa, không cần bề ngoài, mà cần tự đáy lòng: “Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.” (Tv 51:19) Thế là hết bẩn, thế là được sạch, được sạch thì thoát “ngưỡng” Luyện Hình. Thật tuyệt vời biết bao!
THANH LUYỆN
Các linh hồn nơi Luyện Hình là những người chưa thanh sạch, vì thế mà cần thanh luyện một thời gian để có thể xứng đáng bước vào Thiên Đàng. Luyện Hình như “phòng chờ” đến lượt nhận phần thưởng đời đời. Ở “phòng chờ” lâu hay mau tùy mức độ “dơ bẩn” nhiều hay ít. Vào Luyện Hình là chắc chắn được vào Thiên Đàng.
Luyện Hình còn gọi là Luyện Ngục – nơi thanh tẩy linh hồn trở nên sạch sẽ, thanh luyện tới mức tinh tuyền. Chính cái tên gọi cho thấy đó là nơi đau khổ. Nên nhớ rằng hình phạt ở Luyện Hình cũng đau khổ như ở Hỏa Ngục, không hề “nhẹ nhàng” hơn. Có điều khác nhau là đau khổ ở Luyện Hình có giới hạn, linh hồn chịu thanh luyện đủ mức thì được lên Thiên Đàng; còn đau khổ ở Hỏa Ngục vô hạn, “mất trắng” đời đời, phải “khóc lóc và nghiến răng” vĩnh viễn. Lửa ở hai nơi đó không như lửa ở thế gian; so với lửa ở hai nơi đó thì lửa ở thế gian chỉ như “gió nhẹ hiu hiu” mà thôi. Thật đáng sợ! Thế nên Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hãy biết RUN SỢ mà GẮNG SỨC lo sao cho mình được cứu độ.” (Pl 2:12)
Gọi là hình phạt nhưng không phải là Thiên Chúa không nhân từ, mà đó là hồng ân thương xót của Ngài. Chính hình phạt đó là sự công bằng của Thiên Chúa, bởi vì tại chúng ta chiều chuộng mình, thích dễ dãi, khoái ung dung, sợ khó, sợ khổ, không chịu “tu thân” ở đời này, thế nên phải chịu thanh luyện ở Luyện Hình. Phải vào Luyện Hình cũng là diễm phúc rồi. Không phải vào đó thì quá tuyệt vời rồi. nhưng làm sao có thể “lên thẳng” chứ? Cố gắng thanh luyện mình ở đời này, tức là sống đền tội ở thế gian. Nhưng “phương pháp” tự thanh luyện ở đời này là gì? Thánh Phêrô cho biết: “Nhờ VÂNG PHỤC sự thật, anh em đã THANH LUYỆN tâm hồn để thực thi tình huynh đệ chân thành.” (1 Pr 1:22a)
Chấp nhận sự hèn yếu của mình cũng là cách tự thanh luyện – đền tội liên lỉ, đền tội bền bỉ, đền tội không nghỉ. Thánh Phaolô nói: “Trong một ngôi nhà lớn, không phải chỉ có những đồ vật bằng vàng bằng bạc, nhưng cũng có những đồ vật bằng gỗ bằng sành; thứ thì dùng vào việc cao quý, thứ thì dùng vào việc thấp hèn. Vậy ai THANH TẨY mình cho sạch những điều xấu nói trên, người đó sẽ là một đồ vật dùng vào việc cao quý, một đồ vật được thánh hiến, có ích cho chủ, sẵn sàng làm mọi việc lành.” (2 Tm 2:20-21)
Không phải vào Luyện Hình có thể là phúc hoặc khốn. Có thể “vào thẳng” nơi nào đó: Không phải vào Luyện Hình là PHÚC nếu vào thẳng Thiên Đàng, không phải vào Luyện Hình là KHỐN nếu vào thẳng Hỏa Ngục. Những kẻ khốn là ai? Thánh Phaolô nói: “Anh em phải biết rõ điều này: KHÔNG một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào – mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng – được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa. Đừng để ai lấy lời hão huyền mà lừa dối anh em, chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống những kẻ KHÔNG VÂNG PHỤC.” (Ep 5:5-6)
Thánh Antôn Padua, tiến sĩ Phúc Âm, có lời khuyên cấp bách: “Ngay hôm nay, anh em hãy làm một việc tốt cho người mà anh em không ưa.” Đó là thiện cử rất phù hợp với khuyến cáo của Chúa Giêsu Kitô: “Hãy yêu kẻ thù cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, và làm ơn cho kẻ ghét anh em.” (Mt 5:44; Lc 6:27) Đó không chỉ là sống yêu thương, thi hành luật bác ái, mà còn là cách tự thanh luyện ở đời này để hy vọng không phải vào Luyện Hình – dù chỉ một thoáng.
Chúa Giêsu yêu thương mọi người, muốn ai cũng được ở với Ngài đời đời kiếp kiếp. Thật vậy, chính Ngài đã cầu xin với Thánh Phụ: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành.” (Ga 17:24)
Tháng Mười Một – Tháng Cầu Hồn, và các ngày Thứ Hai trong tuần, là cơ hội tốt để chúng ta nhớ đến những người đã khuất bóng trần gian. Cầu nguyện cho họ cũng là cầu nguyện cho chính mình. Khi hiện ra tại Fátima năm 1917, Đức Mẹ dạy cầu nguyện cho các linh hồn: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hoả ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.” (Lời Nguyện Mân Côi sau mỗi chục Kinh Kính Mừng) Không có linh hồn nào mồ côi đâu!
Lạy Thiên Chúa công bình như giàu lòng thương xót, con đã phạm bao nhiêu tội lỗi, bao nhiêu lần con đã phản nghịch, đã đắc tội với Ngài, xin cho con được biết. (G 13:23) Xin thêm các nhân đức đối thần và đối nhân để con có thể tôn vinh Ngài trong cuộc sống đời thường, mặc dù con hèn hạ với thân tro kiếp bụi. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
36.Gọi tình
(Suy niệm của Trầm Thiên Thu)
Chắc chắn không ai muốn đau khổ, nhưng đau khổ lại là một phần tất yếu của cuộc sống. Đau khổ đúng là… KHỔ thật, và chỉ những ai đã trải qua đau khổ mới hiểu được nỗi khổ của người đau khổ! Ông Gióp đã từng than thở: “Nỗi đau, nỗi sầu của tôi lại nặng hơn cát biển; chính vì thế mà tôi phải nghẹn ngào, nói năng lúng túng” (G 6:3). Chỉ mới là niềm đau nỗi khổ ở trần gian mà còn khổ đến thế, huống chi đau khổ ở Luyện Hình, chắc chắn không thể diễn tả btrọn vẹn bằng phàm ngôn. Tiếng than của ông Gióp cũng là tiếng than của mỗi chúng ta – những người đang trên đường lữ hành trần gian.
Đau khổ không vô ích mà có giá trị cao, nếu không thì Chúa Giêsu đã chẳng động viên chúng ta chịu đau khổ – tức là “vác thập giá” theo Ngài (Mt 10:38; Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23; Lc 14:27). Đau khổ không chỉ trong vài ngày, vác thập giá không chỉ trong vài tháng, vài năm hoặc một thời gian nào đó, mà PHẢI vác hàng ngày, bất kể ngày hay đêm. Thật là “căng” chứ chẳng thoải mái chút nào ráo trọi.
Tháng Cầu Hồn lại về, đâu đó vẫn vang vọng tiếng kêu thảm thiết: “Xin đừng quên tôi!”. Các linh hồn nơi Luyện Hình chẳng ai xa lạ, họ là thân nhân của chúng ta, họ rất cần lời cầu nguyện của chúng ta, và họ tha thiết van xin chúng ta giúp đỡ họ. Forget-Me-Not (Don’t Forget Me) là tên một loài hoa, theo Anh ngữ là “Xin đừng quên tôi”, Việt ngữ gọi Lưu Ly Thảo. Loại hoa này nhỏ và có màu tím buồn. Ý nghĩa của loài hoa này nói về sự chung thủy trong tình yêu đôi lứa. Tuy nhiên, nó vẫn mang những ý nghĩa khác. Với người Công giáo, Lưu Ly Thảo cũng đang nhắc nhở về lời kêu cứu khẩn khoản của các linh hồn nơi luyện hình, xin chúng ta hãy NHỚ tới họ, chứ ĐỪNG QUÊN họ.
Chúng ta là những lữ khách trần gian đang trên đường tiến về Quê Trời, là những người thuộc Giáo hội Chiến đấu, Giáo hội Lữ hành. Thật vui mừng và trần trề hy vọng khi chúng ta vừa mừng kính chư thánh thuộc Giáo hội Khải hoàn, những người đã được hưởng Phúc Trường Sinh, và chúng ta gọi họ là Thánh. Giáo hội muốn chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho các vị-thánh-tương-lai, đặc biệt trong Tháng Cầu Hồn, vì chắc chắn họ sẽ được hưởng phúc trường sinh nay mai, trong đó có những người thân thiết của chúng ta. Họ được vào Thiên đàng sớm hay muộn là nhờ chúng ta, vì lúc này họ đành “bó tay”, chịu thúc thủ, không thể làm gì được cho chính họ.
Ngày xưa, người-môn-đệ-Chúa-yêu Gioan đã được thị kiến liên quan Luyện Hình: “Tôi thấy những người chết, lớn cũng như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác cũng đã mở ra: đó là Sổ Trường Sinh. Các người chết được xét xử tuỳ theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách. Biển trả lại những người chết nó đang giữ; Tử thần và Âm phủ trả lại những người chết chúng đang giữ, và mỗi người chịu xét xử tuỳ theo các việc đã làm. Tử thần và Âm phủ bị quăng vào hồ lửa. Hồ lửa này là cái chết thứ hai. Ai không có tên ghi trong Sổ Trường Sinh thì bị quăng vào hồ lửa” (Kh 20:12-15). Các linh hồn nơi luyện hình đã được cấp Visa-Trường-Sinh, chỉ còn chờ “chuyến bay” trực chỉ tới Thiên Đàng thôi.
Mỗi khi cầu nguyện cho họ cũng chính là cầu nguyện cho mình. Đúng như Thánh Phanxicô Assisi nói: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Tuy nhiên, dù các linh hồn không tự “cải thiện” để được giảm án, nhưng các ngài vẫn có thể cầu nguyện cho chúng ta, cầu nguyện với các linh hồn cũng rất hiệu quả. Hy vọng mai đây mỗi chúng ta cũng được “phân loại” là “chiên” và được nghe Chúa nói: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ” (Ga 11:25-26).
Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 và 16). Ngài là tình yêu nên Ngài luôn yêu thương mọi người và tình yêu đó bất biến, Ngài chỉ muốn mọi người được về sống chung với Ngài trên Thiên quốc, Ngài không phân biệt ai và không muốn ai phải mất Ngài. Thánh Phaolô nói: “Phải chăng Thiên Chúa đã ruồng bỏ dân Người? Không phải thế! Chính tôi đây cũng là người Ít-ra-en, thuộc dòng dõi Áp-ra-ham, thuộc chi tộc Ben-gia-min. Thiên Chúa không ruồng bỏ dân Người, dân mà Người đã biết từ trước” (Rm 11:1-2a).
Để chúng ta hiểu biết thêm, Thánh Phaolô nói: “Phải chăng Ít-ra-en đã vấp đến mức phải ngã quỵ? Không phải thế! Nhưng vì họ sa ngã mà Thiên Chúa cho các dân ngoại hưởng ơn cứu độ, khiến họ phải ganh tị. Nếu vì người Do-thái sa ngã mà thế giới được ơn phúc dồi dào, nếu vì họ suy vi mà các dân ngoại được ơn phúc dồi dào, thì khi họ trở về đông đủ, tình trạng còn tốt đẹp hơn biết mấy!” (Rm 11:11-12).Thật kỳ diệu biết bao!
Người ta nói: “Vô tri bất mộ” – không biết thì không thích. Biết rồi thích. Thích rồi mến. Mến rồi yêu. Yêu rồi mê. Mê rồi say. Say rồi bạo (bạo dạn – chỉ hiểu theo nghĩa tốt là sự can đảm). Thánh Phaolô đã theo “chuỗi hệ lụy” đó, thế nên ngài phải nói ra: “Thưa anh em, tôi không muốn anh em chẳng hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự cho mình là khôn, đó là: một phần dân Ít-ra-en đã ra cứng lòng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ. Như vậy, toàn thể Ít-ra-en sẽ được cứu độ, như có lời chép: Từ núi Sion, vị Cứu Tinh sẽ đến, Người sẽ loại bỏ những điều vô đạo khỏi nhà Gia-cóp. Đó sẽ là giao ước của Ta với chúng, khi Ta xoá bỏ tội lỗi chúng” (Rm 11:25-27).
Chúng ta biết chắc rằng Thiên Chúa luôn thể hiện lòng yêu thương, lòng thương xót, thế nên Ngài mới kêu gọi chúng ta theo Ngài. Theo Ngài để làm gì? Để Ngài trao ban hạnh phúc trường sinh. Ngài là Đấng trung tín tuyệt đối: “Khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi thì Người không hề đổi ý” (Rm 11:28-29). Thật là hạnh phúc cho phàm nhân chúng ta, mặc dù chúng ta chỉ là những tội nhân khốn nạn mà thôi.
Hoàn toàn không sai, thật đúng như vậy, và Thánh Vịnh gia đặt giả thuyết: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130:3). May mà đó chỉ là giả thuyết, không là sự thật. Bằng chứng minh nhiên là “Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài” (Tv 130:4). Kiếp lữ hành quá khổ, ai cũng muốn được giải thoát, nhưng chẳng tìm đâu ra ngoài Thiên Chúa: “Mong đợi Chúa, con hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người. Hồn con trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông” (Tv 130:5-6). Lính gác đêm hoặc ngày cũng đều mỏi mệt lắm, chỉ mong hết giờ gác. Nhưng niềm khao khát Chúa còn hơn vậy. Thật tốt lành cho người nào biết tìm kiếm Chúa như thế! Tìm được Ngài rồi thì hạnh phúc gấp bội, hoàn toàn an tâm: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Tv 23:1).
Chúng ta không ngừng tìm kiếm Chúa, nhưng để làm gì? Có ai thấy Chúa đâu mà tìm kiếm? Những người vô thần bảo “tôn giáo là thuốc phiện ra ngủ”, chính Karl Marx còn quyết tâm triệt tiêu niềm tin tôn giáo kia mà? Không thấy Chúa sao vẫn sợ và muốn triệt? Thiên Chúa là Sự Sống mà sao họ lại muốn giết chết sự sống? Thật là tự mâu thuẫn quá! Gương Saolê nhãn tiền còn đó. Cũng tương tự, người ta công khai nhận mình theo chủ nghĩa duy vật mà sao vẫn thắp nhang khấn vái người quá cố? Phải chăng duy vật chỉ là “cái hộp” đựng “duy tâm” hoặc “duy linh” bên trong? Lại tiếp tục tự mâu thuẫn nữa!
Kinh Thánh cho biết rằng, một ngày nọ, tại hội đường Ca-phác-na-um, Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6:51).
Nghe Chúa Giêsu nói vậy, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ thắc mắc: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:52). Nếu lúc đó chúng ta nghe Chúa Giêsu nói vậy, có lẽ chúng ta cũng phản ứng như vậy thôi!
Chúa Giêsu biết họ nghĩ gì và bàn tán điều gì, nhưng Ngài vẫn mạnh mẽ nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:53-58). Tuy nhiên, trí tuệ nông cạn của phàm nhân không thể hiểu được!
Cũng chẳng ai xa lạ, ngay cả các môn đệ nghe Thầy mình nói vậy mà còn lùng bùng lỗ tai: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6:60). Các đệ tử ruột còn chưa nghe nổi thì ai nghe nổi chứ? Chúa Giêsu biết các đệ tử xì xầm, nhưng Ngài làm ngơ, không cần nói chi thêm!
Khi sinh thời, các linh hồn đang được thanh luyện nơi Luyện Hình cũng đã vâng lời Chúa Giêsu mà ăn Thịt và uống Máu Ngài, rồi các ngài cũng sẽ được sống đời đời như lời Chúa Giêsu đã hứa, dù lúc này còn phải chịu thanh luyện trong “lửa” một thời gian (loại “lửa” ở Luyện Hình không như lửa bình thường trên thế gian, bởi vì lửa chúng ta sử dụng hàng ngày chỉ là “gió thoảng” nếu so với “lửa” ở Luyện Ngục – mà “lửa” ở Luyện Ngục cũng không khác “lửa” ở Hỏa Ngục, chỉ khác nhau về mức độ: có hạn và vô hạn). Bất cứ điều gì Thiên Chúa đã hứa thì chắc chắn trở thành hiện thực.
Đã từng được thị kiến Hỏa Ngục và Luyện Hình, Thánh Faustina chân thành tâm sự: “Tôi bị thiêu đốt trong lòng bằng lửa yêu mến Chúa và muốn cứu các linh hồn mà tôi cảm thấy mình bị thiêu đốt. Tôi sẽ chiến đấu với ma quỷ bằng Vũ khí Lòng Chúa Thương Xót. Tôi khao khát cháy bỏng là cứu các linh hồn. Tôi đi xuyên qua sức mạnh và hơi thở của thế giới và mạo hiểm đến nỗi các biên giới và các vùng đất hoang vu nhất để cứu các linh hồn. Tôi làm điều này bằng cách cầu nguyện và hy sinh” (Nhật Ký, số 754). Tình yêu của Thánh Faustina lớn lao quá!
Không chỉ trong Tháng Cầu Hồn mà mọi lúc, các linh hồn vẫn ngày đêm kêu than van vỉ: “Xin đừng quên tôi!”. Giáo hội Lữ hành hãy lắng nghe họ, xin cho họ hưởng nhờ những “giọt nước mát lạnh”. Giúp đỡ họ là cứu thoát chính mình.
Có Thiên Chúa là có tất cả. Ước gì mỗi chúng ta đều có thể xác định như Thánh Thomas Aquino, Linh mục Dòng Đa-minh, Tiến sĩ Giáo hội và tác giả bộ Tổng luận Thần học, rằng: “Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài mà thôi”. Đó là phần thưởng cao quý nhất và tuyệt vời nhất.
Lạy Thiên Chúa, vì cuộc khổ nạn đau thương và cuộc tử nạn của Đức Giêsu Kitô, xin tha thứ cho các linh hồn để họ được sớm được hưởng Thánh Nhan Ngài theo lòng thương xót bao la của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
37.Lịch sử ngày Lễ Các Đẳng Linh Hồn
(Suy niệm của Lm. Nguyễn Phước).
Ngay từ thời tiên khởi, Giáo Hội đã khuyến khích chúng ta cầu nguyện cho người chết như một nghĩa cử bác ái. Thánh Augustine viết, “Nếu chúng ta không lưu tâm gì đến người chết, thì chúng ta sẽ không có thói quen cầu nguyện cho họ.” Tuy nhiên, các nghi thức cầu cho người chết có tính cách dị đoan thời tiền-Kitô Giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nỗi mãi cho đến đầu thời Trung Cổ, nhờ các dòng ẩn tu có thói quen cầu nguyện cho các tu sĩ đã qua đời hàng năm thì một nghi thức phụng vụ cầu cho người chết mới được thiết lập.
Vào giữa thế kỷ 11, Thánh Odilo, Tu Viện Trưởng dòng Cluny, ra lệnh rằng mọi tu viện dòng Cluny phải cầu nguyện đặc biệt và hát kinh Nhật Tụng cầu cho người chết vào ngày 2 tháng Mười Một, ngay sau lễ Các Thánh. Truyền thống này được lan rộng và sau cùng được Giáo Hội chấp nhận đưa vào niên lịch Công Giáo La Mã.
Ý nghĩa thần học làm nền tảng cho ngày lễ này là sự thừa nhận bản tính yếu đuối của con người. Vì ít có ai đạt được một đời sống trọn hảo, mà hầu hết đã chết đi với vết tích tội lỗi, do đó cần có thời gian thanh tẩy trước khi linh hồn ấy được đối diện với Thiên Chúa. Công Đồng Triđentinô xác nhận có luyện tội và nhấn mạnh rằng lời cầu nguyện của người sống có thể rút bớt thời gian thanh luyện của linh hồn người chết.
Sự dị đoan vẫn còn dính dấp đến ngày lễ này. Thời trung cổ người ta tin rằng các linh hồn trong luyện tội có thể xuất hiện vào ngày lễ này dưới hình thức các phù thủy, các con cóc hay ma trơi. Và họ đem thức ăn ra ngoài mộ để yên ủi người chết.
Tuy nhiên việc cử hành lễ với tính cách tôn giáo vẫn trổi vượt. Người ta tổ chức đọc kinh cầu nguyện ở nghĩa trang hay đi thăm mộ người thân yêu đã qua đời và quét dọn, trang hoàng với nến và hoa.
***
Có nên cầu nguyện cho người chết hay không là một tranh luận lớn khiến chia cắt Kitô Giáo. Vì sự lạm dụng ơn xá trong Giáo Hội thời ấy nên Luther đã tẩy chay quan niệm luyện tội. Tuy nhiên, đối với chúng ta, cầu cho người thân yêu là một phương cách cắt bỏ sự chia lìa với người chết. Qua lời cầu nguyện, chúng ta cùng đứng với những người thân yêu, dù còn sống hay đã ra đi trước chúng ta, để dâng lời cầu xin lên Thiên Chúa.
***
“Chúng ta không thể coi luyện tội là một nhà tù đầy lửa cận kề với hỏa ngục – hoặc ngay cả “một thời gian ngắn của hỏa ngục.” Thật phạm thượng khi nghĩ rằng đó là một nơi chốn mà Thiên Chúa bủn xỉn đang bòn rút từng chút thân xác… Thánh Catherine ở Genoa, vị huyền nhiệm của thế kỷ 15, viết rằng “lửa” luyện tội là tình yêu Thiên Chúa “nung nấu” trong linh hồn đến nỗi, sau cùng, toàn thể linh hồn ấy bừng cháy lên. Đó là sự đau khổ của lòng khao khát muốn được xứng đáng với Đấng được coi là đáng yêu quý vô cùng, họ đau khổ vì sự mơ ước được kết hợp đã cầm chắc trong tay, nhưng lại chưa được hưởng thật trọn vẹn” (Leonard Foley, O.F.M., Tin Chúa Giêsu).
***
Lạy Chúa Giêsu,
nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này
thì thật là phiền toái.
Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn
vì phải chia tay với những người thân yêu,
vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.
Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết
như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý,
nhưng như một hành trình trở về nguồn cội yêu thương.
Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,
Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,
và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,
để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống Vĩnh Hằng.
Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.
Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,
chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.
Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.
Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành
đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.
Sống một đời và chết một lần.
Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.
Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống.
Amen!
(theo Maranatha 89)
38.Khi thần chết lên tiếng
(Suy niệm của Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương)
Cử hành lễ các Đẳng Linh Hồn là dịp rất thuận tiện để chúng ta suy tư về cái chết.
Trong Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy những lời quả quyết khá rõ ràng trong sách Khôn Ngoan: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong… Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người. Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian (Kn 1,13.24).
Từ trích đoạn này, chúng ta hiểu tại sao khi thần chết đến, mọi sự phải kết thúc, mọi sự bị hủy diệt. Theo đó, sự chết xem ra không phải là một điều “tự nhiên” đối với chúng ta. Bởi vì, nó không đến từ Thiên Chúa, nó không nằm trong trật tự tạo thành. Cái chết là kết quả “sự ganh tị của quỷ dữ.” Bởi đó, chúng ta phải chiến đấu chống lại cái chết với tất cả sức mạnh của mình. Khát vọng triền miên của con người là “tham sống sợ chết.” Đó là bằng chứng hùng hồn nhất về chân lý con người không được tạo dựng để diệt vong, nhưng để được sống. Chết không phải là hạn từ cuối cùng của cuộc sống. Bài đọc I của thánh lễ này khẳng định lại với chúng ta điều đó: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa, và chẳng cực hình nào đụng tới được nữa” (Kn 3,1).
Tham sống sợ chết là bản năng sinh tồn được khắc sâu trong xương tủy mỗi con người. Có một số nhà nghiên cứu cho rằng mọi hoạt động của con người đều chịu ảnh hưởng và tác động bởi bản năng tính dục. Từ đó, họ giải thích mọi sự theo cái nhìn này, cả trong nghệ thuật và tôn giáo. Nhưng nỗi lo sợ chết còn mạnh hơn cả bản năng tính dục. Chết là điều xảy ra sau cùng, nhưng nó lại tác động trên mọi việc ta làm trước đó. Tất cả mọi người đều kêu lên rằng: “Tôi không muốn chết.”
Như thế, tại sao chúng ta lại được mời gọi hãy suy nghĩ về cái chết khi biết rằng ai cũng phải chết? Câu trả lời rất đơn giản: Bởi vì chúng ta thường trốn tránh nó, không muốn nghĩ về nó, vì mỗi lần như thế làm chúng ta sợ. Chúng ta cũng thường cho rằng chắc mình chưa chết đâu, cái chết chỉ đến với người khác, chứ không đến với mình.
Nhưng việc suy nghĩ về sự chết không cho phép chúng ta gạt nó sang một bên cách dễ dàng. Vì thế, chúng ta tìm mọi cách để ngăn cản nó hoặc là chấp nhận nó. Con người không ngừng tìm kiếm những biện pháp, những phương thuốc để được trường sinh. Một trong số những bài thuốc này được gọi là sinh sản con cái: một người tiếp tục kéo dài sự sống mình bằng cách sinh ra một đứa con. Người khác thì tìm kiếm sự nổi tiếng, để được lưu danh hậu thế. Trong thời đại chúng ta, nhiều người hôm nay lại chạy theo thuyết luân hồi.
Chúng ta phải nói rằng thuyết luân hồi là không thể phù hợp với Đức tin Kitô giáo. Nó cho rằng người chết tiếp tục đầu thai và sống một kiếp mới trong một con vật nào đó để tu luyện chờ được giải thoát. Theo niềm tin Kitô giáo, được Kinh Thánh mạc khải: “Phận con người chỉ chết một lần rồi sau đó chịu phán xét” (Hr 9,27). Thuyết luân hồi cũng dạy rằng hình thức đầu thai luân hồi là kết quả của một sự sai lầm. Xét cho cùng, luân hồi không thêm gì cho sự sống, nhưng thêm đau khổ; nó không phải là nguồn mang lại sự an ủi, nhưng mang lại sợ hãi. Thuyết luân hồi như một cảnh báo cho mọi người: “Hãy cẩn trọng không làm điều dữ, bởi vì bạn sẽ phải đầu thai để đền tội!” Điều này giống như nói người nào đó trong tù đang gần hoàn tất thời gian giam cầm của mình rằng hình phạt của anh đã được nới rộng, anh phải vượt qua tất cả.
Kitô giáo có cái gì đó rất khác để trình bày liên quan đến vấn đề sự chết. Người Kitô hữu tuyên xưng rằng “một Người đã chết vì mọi người,” nhờ đó cái chết đã bị tiêu diệt; nó không có là một vách tường mà từ đó mọi sự phải lao xuống, nhưng đúng hơn là một chiếc cầu để đi sang bến bờ bên kia – là sự trường tồn, là hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa. Tuy nhiên, suy niệm về cái chết là điều rất có ích cho các tín hữu. Bởi vì đặc biệt nó giúp chúng ta sống tốt hơn.
Bạn có bị lo lắng bởi những vấn đề, những khó khăn và những xung đột khi nghĩ về cái chết không? Hãy nghĩ rằng những điều này sẽ xuất hiện lúc chết, nhưng với cái nhìn của đức tin, bạn sẽ thấy chúng có một ý nghĩa khác như thế nào? Chúng ta không phải là cam chịu và thụ động chờ chết. Ngược lại, chúng ta sẽ làm nhiều điều hơn và làm tốt hơn bởi vì chúng ta bình tâm hơn và thanh thoát hơn trước cái chết. Như Thánh Vịnh nói: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 89,12). Chúng ta hãy nhớ đến các linh hồn là những người thân của chúng ta và cầu nguyện cho họ để họ sớm hưởng hạnh phúc với Chúa trên thiên đàng. Amen!
39.Tưởng nhớ người đã ra đi
(Suy niệm của Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long)
Khi tưởng nhớ đến người đã qúa cố, tâm tình buồn thương nhớ tiếc khơi dậy nơi những người còn đang sống trên trần gian.
Tâm tình này đạo đức và rất tình người. Tâm tình này cũng dẫn đưa chúng ta đến suy nghĩ về những khác biệt trong đời sống của con người. Nhưng mọi người đều có ngày mở mắt chào đời từ trong cung lòng mẹ đi ra. Và ai cũng có ngày sau cùng của đời sống rồi được bọc trong cỗ áo quan chôn vùi dưới lòng đất.
Những người đã ra đi khỏi cuộc sống trần gian về thế giới bên kia và những người còn đang sống, trước sau vẫn thuộc về nhau. Tất cả đã cùng chung sống với nhau. Chúng ta và họ đã cùng chia sẻ cuộc sống niềm tin, cuộc sống tình người với nhau.
Họ đã ra đi. Nhưng họ vẫn hằng hiện diện trong trái tim tình yêu mến của chúng ta. Họ vẫn hằng sống động trong tâm tình biết ơn của chúng ta, cùng trong những kỷ niệm ngày đã cùng nhau sống trải qua.
Mỗi khi cùng nhau dâng thánh lễ tưởng nhớ đến người qúa cố, chúng ta muốn nói lên: Không chỉ một mình tôi làm việc này. Nhưng tất cả mọi người trong thánh đường đang cùng dâng thánh lễ cũng tưởng nhớ đến thân nhân của họ đã qúa cố.Vì cuộc đời ai mà không có lần đau buồn chia lìa vĩnh biệt người thân của mình đã qua đời.
Và trong thánh lễ tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô không chỉ chúng ta người còn đang sống, mà cả những người đã qúa cố cùng quây quần bên bàn tiệc thánh lễ: Tôi tin các Thánh cùng thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy. Amen.
Bánh Thánh, Mình Máu Chúa Giêsu nối kết người còn sống và người đã qua đời lại với nhau trong niềm tin và tình yêu mến.
Với niềm tin và tâm tình yêu mến chúng ta hôm nay:
1. Tưởng nhớ đến Tổ tiên, Ông Bà, cha mẹ đã ra đi về cùng Thiên Chúa.
Họ là những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ chúng ta nên người khôn lớn. Họ là những người đã không chỉ nuôi dưỡng chúng ta bằng sữa, bằng cơm ăn áo mặc, lo lắng cho sức khỏe. Nhưng họ đã hy sinh suốt cả cuộc đời làm tròn nhiệm vụ là cha mẹ được Thiên Chúa giao phó, nuôi dạy uốn nắn đời sống đức,tin tinh thần đạo đức của chúng ta.
Tình yêu đó, công ơn đó xin muôn đời ghi nhớ, và mỗi khi dâng Thánh lễ chúng con đều nhớ đến và mang dâng lên bàn thờ Chúa.
2. Tưởng nhớ đến những người thân yêu ruột thịt trong gia đình đã an giấc ngàn thu: họ là chồng hay vợ; là con cái, cháu chắt, anh chị em, cậu cô chú bác, cô dì.
Với họ chúng ta đã cùng nhau trải qua những chặng đường đời sống vui buồn cay đắng ngọt bùi, đã cùng nhau sống những giờ phút thành công cũngnhư thất bại, hy vọng có lo âu sợ sệt cũng có. Một phần đời sống của ta từ nơi họ và một phần đời sống của họ cũng từ nơi ta.
Ân nghĩa, tình yêu và những kỷ niệm này luôn hằng khắc ghi trong tâm khảm ngươì còn đang sống, và xin dâng lên bàn thánh hợp cùng hy lễ Chúa Giêsu trên thánh giá.
3. Xin tưởng nhớ đến các linh mục, những người được Thiên Chúa và Hội Thánh trao nhiệm vụ săn sóc việc tinh thần đạo đức cho các tín hữu trong các xứ đạo. Sau những năm tháng âm thầm hy sinh làm việc tông đồ, họ đã nghe tiếng Chúa gọi trở về đời sau.
Sự hy sinh và lòng quảng đại sống rao giảng, làm nhân chứng cho niềm tin vào Thiên Chúa trong các xứ đạo của linh mục là ân đức của Chúa ban tặng cho con người.
Người tín hữu Chúa Kitô vui mừng và cảm thấy an ủi vì có linh mục, vị hướng dẫn tinh thần, là người cùng đồng hành với trong cuộc sống niềm tin vào Thiên Chúa.
Linh mục vui và cảm thấy được nâng đỡ vì có Thiên Chúa ở cùng ông trong mọi hoàn cảnh và nhất là được cùng chung sống xây dựng phát triển đời sống niềm tin với mọi người tín hữu.
Các cha nằm nơi nghĩa trang sâu trong lòng đất mẹ. Nhưng những người tín hữu xưa kia đã cùng chung sống trải qua trong xứ đạo không quên ơn các cha. Nơi bàn thánh xưa kia các cha cùng dân Chúa dâng thánh lễ, ngày nay khi dâng thánh lễ họ cùng hợp với của lễ Chúa Giêsu nhớ đến cầu nguyện cho các cha.
4. Xin nhớ đến các Nữ Tu cùng các Thầy Dòng đã chọn đời sống thanh tịnh theo tiếng gọi của Chúa trong Hội Dòng, đã được Thiên Chúa gọi về đời sau.
Xưa kia các Thầy, các chị em Nữ Tu đã nghe tiếng Gọi của Chúa từ trời cao từ bỏ mọi sự có thể có và được phép hưởng dùng, chọn nhận sống đời khiết tịnh nhiệm nhặt, đời phục vụ cho ích chung của nước Chúa và cho con người.
Đời sống từ bỏ hy sinh vác thánh giá và âm thầm cầu nguyện của các Thầy, các chị em Nữ tu là nhân chứng sống động cho tình yêu Thiên Chúa giữa trần gian.
Xin dâng lên bàn thờ Chúa trong các thánh lễ cầu cho các Thầy, các anh chị em Nữ tu.
5. Xin nhớ đến các Bạn Bè người quen thân, các vị ân nhân ngày xưa đã cùng nhau trải qua những giờ phút vui buồn, những kỷ niệm êm đẹp. Giờ đây họ đã thành người thiên cổ.
Xin cám ơn lòng ưu ái tình người chúng ta đã trao cho nhau và xin dâng các Bạn lên bàn thờ Thiên Chúa, Đấng là đời sống và ơn cứu chuộc của con người chúng ta.
6. Xin nhớ đến những nạn nhân đã qua đời vì thiên tai bão lụt, hạn hán, chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật và những người mồ côi bơ vơ không có ai nhớ đến.
Họ tất cả cũng là con Chúa và niềm tin dạy chúng ta: Họ cũng được Thiên Chúa cứu độ. Nơi bàn tiệc thánh Chúa Giêsu họ có chỗ ngồi đồng hàng với tất cả mọi người.
Xin cùng với ánh nến tình tương liên đới dâng lên bàn thờ Thiên Chúa nguồn tình yêu thương lời kinh cầu nguyện cho linh hồn họ đã về nơi chín suối ngàn thu.
7. Xin tưởng nhớ đến những thành viên trong Cộng đoàn chúng ta đã được Thiên Chúa gọi trở về đời sau.
Cộng đoàn chúng ta được thành lập cho chúng ta, và do chúng ta cùng chung lưng đấu cật xây dựng nên từ những chục năm qua. Những hy sinh đóng góp của mỗi người trong cộng đoàn là những viên gạch xây dựng nên ngôi nhà cộng đoàn đức tin sống động vào Thiên Chúa Ba ngôi.
Mỗi khi nhớ đến những người xưa kia đã cùng chung vai sát cánh xây dựng nên Cộng đoàn, mà giờ đây họ đã ra đi về với Chúa trước chúng ta, Cộng đoàn chúng ta ngậm ngùi nhớ đến họ với lòng biết ơn và cảm phục.
Xin cùng dâng lời kinh tiếng hát hòa lẫn trong làn hương khói và ánh nến cầu nguyện cho họ trước bàn thờ Thiên Chúa Ba ngôi.
8. Xin nhớ đến các em hài nhi đã qua đời hay bị phá hủy sự sống ngay khi đang còn là thai nhi trong thời kỳ phát triển thành hình nơi cung lòng mẹ.
Các em thai nhi vô tội bị phá hủy hình hài sự sống là những Thiên Thần bé nhỏ tí hon của con người trước tòa Thiên Chúa, Đấng là nguồn sự sống và lòng nhân lành.
Xin thắp những ngọn nến hồng nhỏ bé nhớ về các Thiên Thần vô tội. Các Thiên Thần tí hon vô tội là những vị cầu bầu cho chúng ta trước ngai tòa Thiên Chúa tình yêu.
9. Trước nấm mồ chúng ta muốn đọc lại sứ điệp của những người đã ra đi về đời sau nhắn gửi lại:
– Tôi ra đi bây giờ nằm sâu dưới lòng đất, hay đã bị thiêu hủy thành tro bụi. Nhưng tôi tin rằng tôi trở về cùng Thiên Chúa, Đấng sinh thành ra tôi.
– Tôi nằm sâu trong lòng nấm mồ này. Nhưng tôi vẫn hằng hy vọng trông mong Thiên Chúa sẽ cứu độ linh hồn tôi và sẽ cho tôi sống lại được hưởng đời sống bất diệt, như Ngài đã cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết.
– Tôi bây giờ nằm chôn kín trong nấm mồ xây kín bằng xi-măng cát đá. Nhưng tôi hằng có tâm tình yêu mến Thiên Chúa của tôi. Vì Ngài là Cha đời tôi, Ngài hằng yêu mến tôi.
Và tôi tâm niệm rằng:
– Những gì ngày xưa tôi xây dựng làm ra, giờ này tôi phải bỏ lại.
– Những gì ngày xưa tôi thu góp tích lũy để dành, giờ này tôi không mang đi được.
– Nhưng những gì ngày xưa tôi cho đi, bây giờ tôi nhận lãnh trở lại.
40.Tri ân tình cha, tình mẹ
(Suy niệm của Lm Giuse Tạ Duy Tuyền)
Đây là một câu chuyện có thật về sự hy sinh của một người mẹ trong trận động đất kinh hoàng ở Nhật Bản năm 2011. Sau khi trận động đất đã qua đi, khi các nhân viên cứu hộ đến thu dọn ngôi nhà của một người phụ nữ trẻ, họ nhìn thấy thân thể cô ấy qua các vết nứt. Nhưng cách tạo hình cơ thể của cô có gì đó rất lạ, tựa như một người đang quỳ gối cầu nguyện, cơ thể nghiêng về phía trước, và có một vật gì đó được hai tay của cô đỡ lấy. Ngôi nhà bị sụp và đổ ập lên lưng và đầu cô.
Người đội trưởng đội cứu hộ đã rất khó khăn khi luồn tay mình qua khoảng cách hẹp trên tường để chạm tới cơ thể của người phụ nữ. Anh ấy đã hy vọng rằng người phụ nữ này có thể vẫn còn sống. Nhưng, cơ thể lạnh và cứng của cô nói với anh rằng, cô ấy chắc chắn đã qua đời.
Đội cứu hộ rời khỏi ngôi nhà và tìm kiếm tại những toà nhà sụp đổ khác. Nhưng không hiểu sao, người đội trưởng dường như bị một lực hút kéo trở lại căn nhà sụp đổ của người phụ nữ đã chết. Một lần nữa, anh quỳ xuống, và lần tìm qua những khe nứt hẹp một chút không gian dưới cơ thể đã chết. Rồi đột nhiên, anh hét lên đầy phấn chấn: “Một đứa bé!!!! Có một đứa bé!”.
Cả đội cùng nhau cẩn thận bỏ từng cái cọc trong đống đổ nát xung quanh xác người phụ nữ. Có một bé trai 3 tháng tuổi được bọc trong một tấm chăn hoa ngay bên dưới xác người mẹ. Người phụ nữ rõ ràng đã thực hiện một hành động hy sinh cuối cùng để cứu con trai mình. Khi ngôi nhà của cô rơi xuống, cô đã dùng cơ thể của mình để làm tấm chắn bảo vệ con trai mình. Cậu bé vẫn ngủ một cách yên bình khi đội trưởng đội cứu hộ nhấc bé lên.
Bác sĩ đã nhanh chóng kiểm tra sức khoẻ cậu bé. Sau khi ông mở tấm chăn, ông nhìn thấy một chiếc điện thoại di động bên trong. Có một tin nhắn văn bản trên màn hình, nói rằng, “Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con”…
Chiếc điện thoại này đã đi từ bàn tay này đến bàn tay khác và qua bàn tay khác… Tất cả những người đọc tin nhắn đều đã khóc. “Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng… mẹ rất yêu con…”.
Tháng 11 lại về đem lại cho chúng ta một chút tâm tình tri ân tình cha, tình mẹ. Một tình yêu bao la như trời bể mà cha ông ta vẫn nói rằng:
“Công cha đức mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết thờ song thân”.
“Biết thờ song thân”, thờ trong khi sống, thờ sau khi chết, thờ thế nào cho phải đạo làm con, cho xứng đáng phần nào công lao tảo tần nuôi con của mẹ:
“Nuôi con buôn tảo bán tần
Chỉ mong con lớn nên thân với đời
Những khi trái nắng trở trời
Con đau làm mẹ đứng ngồi không yên
Trọn đời vất vả triền miên,
Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.
Thế nên, nếu so sánh công đức của cha mẹ như non cao cũng chưa xứng đáng. Tình cha tình mẹ còn vượt xa không gian và thời gian. Có thể nói tình cha tình mẹ mãi không già luôn tươi trẻ trong cuộc đời của con. Cha mẹ có thể không để lại cho con gia tài lớn lao hay những công trình vĩ đại nhưng cha mẹ luôn để lại cho con một tình yêu thương vô ngần dành cho con. Vì thế mà có ai đó nói rằng:
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ
Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha
Tình cha mẹ thương con là một tình yêu không biên giới. Một tình yêu vượt qua mọi toan tính vật chất để có thể bảo vệ che chở đời con. Đó là một tình yêu to lớn đầy hy sinh cho đàn con khôn lớn:
Mây trời lòng lộng không phủ kín công Cha
Tần tảo xóm hôm Mẹ nuôi con khôn lớn
Lá cây trong rừng dẫu nhiều cũng không thể sánh bằng công ơn của cha mẹ. Sao trên trời thật khó đếm, nhưng công ơn của cha mẹ lại càng khó đếm hơn những vì sao:
“Đố ai đếm được lá rừng,
Đố ai đếm được mấy từng trời cao
Đố ai đếm được những vì sao,
Đố ai đếm được công lao mẫu từ”.
Chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, sinh lực hao mòn, nặng nhọc gánh chịu, làm sao ta có thể quên được tình mẹ bao la như biển cả ấy:
“Nhớ ơn chín chữ cù lau
Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình”.
Tình ở đây là tình mẹ thương con. Tình thương ấy thật bao la, bát ngát, nên mỗi khi mẹ cất tiếng ru con thì đời con thêm tươi sáng:
“Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học mẹ đi trường đời”.
Vậy, đổi lại sự hy sinh của tình cha tình mẹ, các ngài cần gì nơi chúng ta? Chắc chắc không phải là tiền bạc, vì tiền bạc các ngài dành giụm để trao lại cho chúng ta. Chắc chắc đó không phải là danh vọng, vì tuổi gìa chẳng còn ham muốn những tham sân si của dòng đời. Các ngài cần tình yêu của chúng ta qua sự chăm sóc, thăm nom của chúng ta khi các ngài còn sống. Và khi các ngài đã qua đời, đó chính là lời cầu nguyện của chúng ta dành cho các ngài.
Người phụ nữ Nhật trước khi chết chỉ để lại một thông điệp cho con chính là: “con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con”… Đó chính là thông điệp của tất cả các đấng sinh thành kẻ còn sống cũng như người đã qua đời đang nói trong con tim mỗi người chúng ta. Chúng ta được sinh ra trong tình cha tình mẹ, được lớn lên trong tình thương đó và tình thương đó mãi mãi theo chúng ta trong suốt hành trình cuộc đời. Đó cũng là bổn phận mà chúng ta phải báo hiếu qua hai chữ yêu thương. Yêu thương thể hiện của lòng thảo kính vâng phục các ngài. Yêu thương thể hiện qua chữ hiếu luôn phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Yêu thương thể hiện qua lời cầu nguyện ngày đêm dành cho những người đã qua đời.
Ước gì mỗi người chúng ta từng được cưu mang trong tình yêu của cha mẹ thì hãy sống sao cho tròn chữ hiếu. Hãy biết tận dụng tháng 11 để tích luỹ ơn ích thiêng liêng mà cầu nguyện cho các ngài. Hãy làm việc bác ái, hy sinh và cầu nguyện giúp các ngài vượt qua cuộc thử thách trước toà phán xét của Thiên Chúa. Ước gì những hy sinh và lời cầu nguyện chân thành của chúng ta là lễ vật đẹp nhất để dâng về Thiên Chúa và dâng kính tổ tiên. Amen.
41.Bóng câu cửa sổ
Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong,
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
(Tv 103, 15-16)
Vào ngày 31 tháng giêng năm 2000, một hung tín được loan ra: chuyến bay 261 của hãng Alaska với 83 hành khách và 5 nhân-viên phi-hành-đoàn, cất cánh từ Mễ Tây Cơ để đi Seattle, tiểu bang Washington, đã rớt xuống Thái-Bình-Dương, cách Los Angeles chừng 20 dặm đường chim bay. Khoảng 10 xác chết đã được vớt lên, số còn lại đã bị tan nát trong lòng biển cả. Trong số nạn-nhân nầy, có một bé gái thiên-thần mới được bốn tháng. Vì thân-mẫu là người gốc Mễ-Tây-Cơ, cha mẹ đã đưa em về quê ngoại để được rửa tội.
Chỉ trong năm 1999, ba cánh chim sắt đã lao xuống biển cả. Đêm 16 tháng bảy năm 1999, máy bay do Kennedy, 38 tuổi, con trai duy-nhất của cố Tổng Thống John Kennedy, chở vợ là Carolyn Bessette và chị vợ là Lauren Bessette, đi dự lễ cưới cháu mình, đã bị rớt xuống Đại Tây Dương. Một tuần sau, đoàn cấp cứu đã vớt được các thi-hài.
Mấy tháng sau, chiếc máy bay của Ai-Cập với trên 200 hành-khách, đã rớt xuống Đại-Tây-Dương và không một xác nào được tìm thấy.
Vào sáng thứ ba (11-09-2001). một đại-họa khủng-khiếp đã làm chấn-động thế-giới: nhóm khủng-bố Osama Bin Laden đã cướp giựt bốn máy bay và chỉ trong một giờ đồng-hồ đã làm nổ tung hai ngọn tháp chọc trời của Trung-Tâm Thương-Mại Thế-Giới ở Nữu-Ước và sau đó đánh sập một cánh của Ngũ-Giác-Đài ở Hoa-Thịnh-Đốn. Tổng số thương-vong khoảng trên ba ngàn người, trong số đó không thiếu những chuyên-gia lỗi -lạc về kinh-tế, tài-chánh, ngân-hàng, kỹ-thuật và quân-sự…
Trong huấn-từ nhân cuộc triều-yết chung vào sáng thứ tư (ngày 12-09-2001), Đức Thánh Cha Gioan-Phaolồ Đệ-Nhị đã mô tả đại-họa đó là “một ngày đen tối nhất trong lịch-sử loài người, một xúc phạm ghê-gớm cho phẩm-giá con người.”
Tôi mới có dịp nói chuyện với một người bạn rất khỏe mạnh, nhưng ba hôm sau, người bạn đó đã được khâm-liệm vì bị ngã gục dưới họng súng tấn-công của một địch-thủ.
Ngay cả hôm nay đây, biết bao người đang nối tiếp nhau lìa đời bằng sự chết chóc để đi vào nơi vĩnh-cữu. Những trường-hợp ra đi vĩnh-viễn được nêu ra đây quả rất thông thường, nhưng cũng đủ cho chúng ta hiểu rằng tử-thần sẽ đến viếng chúng ta một cách bất ngờ không một lời báo trước.
Khi quan-sát một số người đang cuồng-nhiệt theo đuổi danh-vọng, thú vui hay của-cải vật-chất thì chúng ta sẽ hết sức ngạc-nhiên với ý-nghĩ là họ đang sống mà không chút ưu-tư về cuộc sống đời đời. Con người trong thời-đại văn-minh tiến-bộ nầy dường như đang sống theo lý-tưởng quá ư trần-tục của một tư-tưởng-gia thời xưa: “Chúng ta đừng quan-tâm đến sự chết, nhưng hãy nghĩ đến sự sống thiên-đàng mà chúng ta tìm kiếm không phải là những đường phố bằng vàng nhưng là những túi vàng vậy. Những khát vọng của chúng ta chỉ thuộc về cõi tạm nầy chứ không phải thuộc về cõi đời đời, và thiên-đàng mà chúng ta suy tưởng phải là một cõi phong-phú về tiền bạc và đủ các tiện-nghi cho chúng ta hưởng-thụ. Quả thật, chúng ta không cần phải lo nghĩ đến sự chết.” Tuy-nhiên, sách Giảng-Viên đã nói rõ ràng: “Có thời để sinh ra, có thời để lìa đời.” (Gv 3, 2).
Kinh Thánh cũng cho biết ông A-Dong sống đến chín trăm tuổi rồi mới qua đời. Ông Sết hưởng thọ chín trăm mười hai tuổi rồi từ trần. Ông Hê-nóc sống chín trăm lẻ năm tuổi rồi cũng phải từ giả cõi đời. Hơn sáu tỷ người đang sống trên mặt đất hiện nay rồi cũng sẽ ra đi trong vòng một trăm năm nữa, không ai sẽ thấy ánh mặt trời của thế-kỷ hai mươi hai. Trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, Thánh Phaolồ đã viết: “Thân phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét.” (Dt 9, 27).
Mặc dầu khoa-học đã tiến-bộ, sau khi vượt qua giới-hạn của không-gian địa-cầu và đang tiến sâu vào không trung, nhưng trên cương-vị con người, chúng ta luôn luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống trên mặt đất. Có rất ít bài giảng-luận về sự chết, thiên-đàng, hỏa-ngục. Tuy-nhiên, chân-lý bất-biến là tất cả mọi người trên mặt đất đều phải kết-thúc bằng sự chết và vấn-đề chuẩn-bị cho cuộc sống trong đời sau rất là hệ-trọng, như lời Thánh-Kinh: “Nếu con luôn luôn suy gẫm về sự chết, sự phán xét, thiên-đàng, hỏa-ngục thì con sẽ không bao-giờ phạm tội.”
Ở Âu-Mỹ, có một thành-ngữ như sau: “Ở đời nầy, chỉ có hai việc chắc-chắn không ai thoát khỏi là sự chết và nộp thuế.” Chúng ta thường lo lắng dành tiền dể nộp thuế mà quên mất vấn-đề quan-hệ hơn là sự chết. Ta cần phải ý-thức hơn về việc tử-thần đang tiến gần mỗi người chúng ta một cách nhanh chóng. Lời Chúa đã căn dặn: “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên-Chúa, trả về Thiên-Chúa.” (Mt 22, 21).
Người giàu không thể nhờ tiền bạc xin sửa đổi hình phạt đang chờ đợi mình thành một án treo; người nghèo cũng không thể nói với sự chết cho mình sống thêm một ngày nữa vì nó đã chiếm-hữu con người từ lúc mới lọt lòng mẹ cho tới khi đi vào mồ-mả. Sẽ có lúc sau khi mọi người đông-đảo họp nhau cầu-nguyện thì đã ra về và “còn lại một mình tôi” trong nơi hoang vắng…!
Thánh Giacôbê đã viết: “Anh em không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, anh em chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi.” (Gc 4, 14). Như đám sương mù buổi sáng, rất mong manh, bốc thành hơi nước dưới ánh triêu-dương rồi biến mất giữa ban ngày, đời người cũng giống như giọt sương mai hiện ra chốc lát rồi lại tan ngay.
Thật vậy, sự sống chẳng khác gì cái thoi dệt cửi: “Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa và chấm dứt, không một tia hy-vọng.” (Gióp 7, 6). Một văn-sĩ đã viết: “Chỉ khi nào thời gian, với một bàn tay không biết chán, xé hết phân nửa số trang sách của đời mình để nung đốt lò dục-vọng, lúc ấy con người mới bắt đầu nhận thấy những trang còn lại của đời sống mình không còn bao nhiêu nữa”. Tiên-tri I-Sai-A đã suy ngắm: “Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mãi dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38, 12). Sách Biên-Niên-Sử quyển I cũng viết: “Ngày đời của chúng con trên mặt đất như bóng câu cửa sổ, không để lại dấu vết.” (1 Sb 29, 15).
Khi William Russel lên đoạn đầu đài, ông đã lấy đồng hồ trong túi áo ra rồi trao cho vị y-sĩ săn-sóc ông và nói: “Xin ông làm ơn giữ hộ cái đồng-hồ nầy vì tôi không cần đến nó nữa. Bây giờ tôi sắp bước vào cõi đời đời.”
Thánh Gióp cũng đã từng than-thở: “Vì tuổi con người đã được Ngài ấn-định, sống được bao năm tháng là tùy thuộc ở Ngài. Ngài định giới-hạn rồi, sao có thể vượt qua.” (G 14, 5). Tác-giả Thánh-Vịnh cũng đã nói: “Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103: 15,16).
Ngày nầy nối tiếp ngày khác, trôi qua với một tốc-độ tăng dần mãi dường như theo nhịp tiến của chúng ta tới tuổi già. Những ngày của chúng ta trên mặt đất nầy giống hệt kiếp hoa: “Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi thần khí Đức Chúa thổi qua.” (Is 40, 6-7).
Trong những giờ phút cuối cùng đời mình, Cesar Bergia đã nói: “Trong suốt đời sống của tôi, tôi đã tiên-liệu mọi sự, trừ sự chết, và bây giờ, ôi, thật khốn nạn cho tôi, tôi phải chết mà không chuẩn-bị được gì trước cho sự chết của tôi.”
Một thanh-niên mới hai mươi bốn xuân xanh, suốt đời mạnh khỏe, nhưng bất thình-lình lâm trọng bệnh. Trước khi sắp từ-giả cõi đời, anh đã rên-rỉ, than-van và quằn-quại trên giường bệnh với những lời gào thét sau đây: “Ôi, tôi đã phung-phí những ngày xanh của tôi, tôi đã làm khánh-tận đời tôi. Tôi sẽ thưa gì với Đức Chúa, khi tôi phải ứng hầu trước mặt Ngài?” Thánh Phaolồ. trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, đã cảnh-cáo: “Và nếu mọi vi-phạm cũng như bất tuân đều bị phạt đích đáng, thì làm sao chúng ta thoát khỏi, nếu chúng ta thờ-ơ với ơn cứu-độ cao-quý như thế?” (Dt 2, 3).
Một văn thi-sĩ khuyết-danh đã viết những câu sau đây, trong bài thơ ‘Sách Sự Sống’:
“Tôi quì cầu-nguyện, nhưng chẳng lâu được; tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp-tốc đi làm vì hóa-đơn đòi tiền chồng chất.
Vì vậy, tôi quì gối, đọc vội một kinh và nhảy đứng dậy. Việc bổn-phận Kitô-hữu của tôi đã làm xong và tâm-hồn tôi thanh-thản, bình-an.
Suốt ngày tôi không có thời-giờ để buông một lời chào hỏi vui-vẻ hoặc nói về Chúa Kitô với bạn-bè vì sợ họ cười nhạo tôi.
Tôi luôn miệng la lớn: Không có thời-giờ, không có thời-giờ, nhiều chuyện phải làm quá! Không có thời-giờ để lo cho việc rỗi linh-hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến.
Tôi trình-diện trước mặt Đức Chúa; tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Đức Chúa đang cầm trong tay một quyển sách, sách sự sống.
Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói: ‘Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự-tính viết xuống, nhưng Cha chẳng lúc nào có thời-giờ.’ “
Khi thể xác của chúng ta chết và sự sống của chúng ta ở trên mặt đất nầy chấm dứt, phần linh-hồn của chúng ta vẫn tiếp-tục sống động trong cõi đời đời. Victor Hugo, một đại văn-hào Pháp đã nói: “Tôi cảm biết có sự sống tương-lai trong tôi.” Cyrus cũng đồng ý-kiến: “Tôi không thể nghĩ rằng linh-hồn chỉ sống khi còn ở trong một thân-thể hay chết.” Chính Emerson cũng nói: “Bằng chứng hiển-nhiên về sự bất-diệt của linh-hồn là chính nơi sự bất mãn của chúng ta đối với mọi kết-luận trái ngược.” Mark Twain đã viết: “Tôi không bao giờ tìm thấy mảy-may sự thật có thể chứng-minh về đời sống tương-lai, nhưng tôi có khuynh-hướng chờ-đợi nó.”
Xưa kia Đức Chúa đã phán với vua Hezekiah: “Hãy lo thu xếp việc nhà, vì ngươi chết, chứ không sống nổi đâu.” (2 V 20, 1). Do môi miệng của tiên-tri A-mốt, Đức Chúa cũng tuyên phán cho mọi người: “Ngươi hãy chuẩn-bị đi gặp Thiên-Chúa của ngươi.” (Am 4,12). John Bunyan, tác-giả cuốn “Thiên-lộ lịch-trình”, đã nói lúc ông gần qua đời: “Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy than khóc cho chính các bạn. Tôi sẽ về nhà đời đời nơi có Đức Chúa Trời là Cha Đức Giêsu Kitô: Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội-nhân bởi công-lao cứu chuộc của con Ngài. Tôi tin rằng chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống sung-sướng trong cõi đời đời.”
Chúng ta hãy lợi-dụng những giây phút chóng qua của đời người để chuẩn-bị cho cuộc sống đời đời: “Thiên-Chúa yêu thương thế-gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3,16).
“Sinh ký tử qui” (sống gởi thác về). Người có Đức Tin đặt niềm tín-thác trọn-vẹn nơi Chúa Quan-Phòng trong cuộc sống cũng như giờ phút lâm-chung, như lời Thánh Phao-Lồ đã nói: “Vì đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi.” (Pl. 1,21).
Trong tinh thần phó-thác tuyệt-đối đó, các Anh Chị trong dòng Tiểu-Muội và Tiểu-Đệ, mỗi ngày đã đọc kinh “Dâng Mình” của Cha Charles de Foucauld như sau:
“Lạy Cha, con phó-thác mình con cho Cha. Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha. Cha làm cho mặc lòng, con cũng cám ơn Cha. Con sẵn-sàng luôn luôn, con nhận lãnh tất cả, miễn ý Cha được trọn-vẹn trong con, trong tất cả loài Cha tạo-dựng. Con chẳng ước muốn chi khác nữa. Lạy Cha là Chúa Trời con, con phó-thác linh-hồn con trong tay Cha. Con dâng linh-hồn con cho Cha. Lạy Cha, với tất cả tình yêu của lòng con, vì con mến Cha và vì mến Cha nên con thấy cần phải hiến-thân con, phó trót mình con trong tay Cha, không do-dự đắn-đo song vô-cùng tin cậy, vì Cha là Cha của con. Amen.”
42.Lễ Các Linh Hồn
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
MUỐN SỐNG ĐỜI ĐỜI HÃY ĂN BÁNH GIÊSU
Lễ Nhất – Ga 6, 51 – 59
Con người sinh ra là để sống, để vươn lên. Ai trong chúng ta cũng đều có một mơ ước, một khát vọng riêng cho mình, cho dù đó là mơ ước nhỏ hay lớn, cao xa hay thấp hèn. Nếu con người sống mà không có mơ ước thì chỉ như một cỗ máy. Khát vọng vươn lên đó chính là mục đích sống của con người. Niềm tin Kitô giáo dạy cho chúng biết, con người có xác có hồn, có đời này và đời sau. Vì thế, ngoài sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc ở đời tạm thế này, người tín hữu phải đạt được sự sống đời đời mai sau nữa. Nhưng đâu là bí quyết để sống trường sinh là một câu hỏi lớn?
Khởi đi từ việc thấy đám đông dân chúng theo mình, Chúa Giêsu đã “chạnh lòng thương”, làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi sống họ, sống đời tạm này. Từ của ăn vật chất nuôi sống thể xác, Chúa gợi lên nơi lòng họ sự khát vọng tìm kiếm thay vì của ăn hay hư nát, thì tìm kiếm của ăn thiêng liêng, lương thực trường tồn, lương thực ấy là chính Chúa Giêsu (x. Ga 6). Thế là khát vọng sống trường sinh nổi lên trong họ, Chúa mạc khải luôn cho họ: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời” (Ga 6, 51).
Ngày xưa Chúa Giêsu gọi mời những người Do thái, ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy đến mà ăn Bánh Giêsu. Nếu chúng ta muốn sống trường sinh, thì đây là cơ hội tốt để có được mầm sống ấy. Hãy đến gặp Chúa Giêsu và đón nhận Người, bởi chính Người: “Là Bánh Hằng Sống … ai ăn … sẽ được sống đời đời” (Ga 6,51).
Sự sống đời đời, tự chúng ta không thể có được, phải cậy nhờ vào Thiên Chúa là Đấng làm cho sống, là nguồn mạch sự sống. Vì thế, chúng ta thật hạnh phúc khi được mời gọi ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu để được sống đời đời (x.Ga 6, 54). Hơn nữa còn được Chúa đến cắm lều ngay nơi lòng chúng ta: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy” (Ga 6, 56).
Chúa Giêsu khẳng định, Người là bánh bởi trời xuống, Người đến làm no thỏa cái đói, cái khát, nhất là lấp đầy khát vọng lớn nhất của con người mọi nơi mọi thời là trường sinh bất tử.
Nếu như trong sa mạc xưa kia, Manna là quà tặng do lòng thương xót của Chúa dành cho dân, lương thực cứu đói tạm thời, thì nay Mình Máu Thánh Chúa là lương thực giúp người tín hữu có đủ sức, đủ nghị lực vượt qua trần thế về tới quê trời hưởng phúc vinh quang. Chẳng có gì chân thật và an ủi hơn cho những linh hồn khát khao nên thánh.
Phụng vụ lễ trọng kính Các Thánh Nam Nữ của Thiên Chúa hôm qua, với lời kinh, tiếng hát, các bài đọc, thánh ca lôi cuốn tâm hồn chúng ta vượt qua không gian và thời gian, bay lên cõi trời cao để chiêm ngưỡng Các Thánh, những người được coi là diễm phúc của Thiên Chúa. Khi chiếm ngắm các ngài, chúng ta có thêm động lực để phấn đấu hầu lấp đầy khát vọng làm thánh của chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy cho chúng con biết tìm kiếm Chúa là sự sống trường sinh, ẩn mình trong Bí tích Thánh Thể, và siêng năng lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa để được sống đời đời. Amen.
43.Xin Nhớ Đến Con Cùng
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
Lễ Nhì – Luca 23, 33. 39-43
Mọi tạo vật đều muốn mình được nhớ đến
Có một loài hoa tên là Lưu Ly có màu tím, màu trắng, xanh hoặc vàng tuyệt đẹp, người ta hay hái để tặng nhau. Các cô thiếu nữ thường gọi tên hoa là ” xin đừng quên em “, còn các chàng trai một mực khăng khăng gọi Lưu Ly là “xin đừng quên anh”. Cho dù gọi hoa theo tên nào thì đây cũng là một loại hoa luôn luôn gợi nhớ một niềm thương cảm mênh mông, một kỷ niệm sâu xa thầm lặng không quên được.
Chuyện kể rằng: ngày xửa ngày xưa có một đôi nam nữ yêu nhau. Một sáng mùa xuân trời trong vời vợi. Họ dắt nhau dạo chơi bên bờ một con suối, hoa Lưu Ly mọc dày, cố vươn cành, nghiêng mình soi bóng xuống dòng nước trong xanh. Trong khi chàng trai tần ngần ngắm nhìn dòng thác đổ thì cô gái say sưa hái hoa. Cô nhoài người ra bờ suối hái mấy nhành hoa đẹp, chẳng may nàng bị trượt chân ngã xuống suối bị dòng nước cuốn trôi. Nàng cố hết sức ném lại nhành hoa có ý trao tặng người yêu và gọi với “Xin đừng quên em”.
Còn theo một truyền thuyết Công giáo, ngày nọ, Thiên Chúa đi ngang qua vườn địa đàng sau khi sáng tạo ra thế giới muôn loài. Người bỗng chú ý đến một bông hoa nhỏ và hỏi nó tên gì. Bông hoa ngượng ngùng thì thầm: “Thưa Chúa, con sợ rằng con đã bị lãng quên mất rồi ạ”. Thiên Chúa ôn tồn trả lời: “Uh, Ta sẽ không bao giờ quên con”.
Chúng ta thấy, chẳng những con người luôn mong mình được người khác nhớ đến, mà cả loài hoa cũng muốn mình không bị lãng quên.
Giáo hội lữ hành nhớ đến Giáo hội khổ đau
Sau khi đã cử hành lễ vinh quang và danh dự của Giáo hội Khải Hoàn (Các Thánh), Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta hôm nay đặc biệt nhớ đến đến và cầu nguyện cho Giáo hội Khổ Đau: những tâm hồn tội lỗi đang ở trong thời gian thanh luyện đang rất cần sự nhớ đến và lời cầu nguyện, lễ hy sinh, việc đền tội của chúng ta, để họ nhanh chóng được giảm bớt hình phạt hiện tại, được thứ tha tội lỗi mà giờ đây họ không làm được gì cho chính mình.
Hôm nay không phải là ngày buồn và tang tóc: nhưng là ngày Giáo hội là Mẹ năn nỉ nài van cùng Thiên Chúa cho con cái mình đã qua đời còn đang bị giam cầm nơi Luyện Tội chờ ngày thanh luyện cho đủ sớm được giải thoát. Vì thế, Giáo hội kêu lên: “Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời, và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn… “
Xin nhớ đến con cùng
Trong khi tất cả những người khác nói với Chúa Giêsu một cách khinh miệt: “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa!” (Lc 23, 39). Thì người trộm lành đã phạm bao lỗi lầm trong cuộc sống, cuối cùng lại sám hối, níu lấy Chúa Giêsu đang chịu đóng đinh và cầu xin: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi” (Lc 23, 42). Chính vì anh xin Chúa một đặc ân là nhớ đến anh, nên Chúa Giêsu hứa với anh: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23, 43).
Chúa Giêsu là Con Một Chúa Cha, chỉ nói lời tha thứ, chứ không nói lời kết án; và khi con người biết can đảm xin ơn tha thứ, Chúa không bao giờ bỏ rơi lời cầu xin ấy. Lời hứa của Chúa Giêsu với người trộm lành cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao: lời ấy nói với chúng ta rằng, ơn Chúa bao giờ cũng phong phú hơn lời cầu xin. Người rất quảng đại, luôn ban cho nhiều hơn điều con người cầu xin.
Ngày lễ nhớ cầu cho các linh hồn tổ tiên, các đấng, các bậc, ông bà cha mẹ, thân bằng quyến thuộc đã qua đời hôm nay gợi lên cho chúng ta về sự nhớ thương và đừng quên những người đã khuất. Khi dâng lễ giỗ cầu cho người thân, chúng ta như nhắc nhớ Chúa: “Lạy Chúa… người thân yêu này, chúng con không thể quên, lẽ nào Chúa lại không nhớ đến” (Lời nguyện nhập lễ giỗ – Ngoài Mùa Phục Sinh SLRM tr. 1005). Và trong Kinh Nguyện Thánh Thể II, chúng ta vẫn xin Chúa: “Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người…”
Hôm nay, chúng ta nhớ tới tất cả mọi người, kể cả những người không ai nhớ tới. Chúng ta nhớ tới các nạn nhân của chiến tranh và bạo lực; các “trẻ em” trên thế giới bị đói khát và bần cùng đè bẹp; những người vô danh đã yên nghỉ; các anh chị em bị giết vì là kitô hữu; và biết bao nhiêu người đã hy sinh mạng sống để phục vụ tha nhân. Chúng ta hãy phó thác cho Chúa cách đặc biệt những người đã lìa bỏ chúng ta trong năm nay và xin Chúa nhớ đến họ và thương cho họ được hưởng ánh sáng tôn nhan.
Giờ đây, Thánh lễ là sự trợ giúp tinh thần tốt nhất mà chúng ta có thể ban tặng cho các linh hồn, đặc biệt các linh hồn bị bỏ rơi. Như Công Ðồng Chung Vaticăng II đã nhấn mạnh: “Giáo Hội lữ hành trên trần gian ý thức đựơc sự hiệp thông này của tất cả Thân Mình Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, ngay từ các thời kỳ đầu của Kitô giáo đã vun trồng với lòng đạo hạnh lớn lao việc tưởng nhớ các người đã qua đời” (LG 50).
Hôm nay chúng ta tưởng nhớ và dâng lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời, chúng ta không chỉ dừng lại nơi họ để cầu nguyện cho họ mà thôi, chúng ta còn phải nài xin Chúa thương xót tất cả chúng ta nữa, để chúng ta cũng được đồng hưởng sự sống đời đời, cùng với Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Thánh Giuse Bạn Đức Trinh Nữ, các Thánh Tông Ðồ, và toàn thể các Thánh đã sống đẹp lòng Chúa qua mọi thời đại, và cùng với các Ngài, chúng ta được ca ngợi và tôn vinh Chúa.
Lạy Chúa, Chúa từng phán cùng kẻ trộm lành: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23, 43). Xin Chúa thương nhớ đến những tín hữu đã qua đời còn trong luyện tội và xin đừng để họ phải trầm luân đời đời trong hỏa ngục! Amen.
44.Lễ Các Linh Hồn
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
Tin Tưởng và Cậy Trông Vào Thiên Chúa Tình Yêu
Lễ Ba – Luca 23, 33. 39-43
Từ trưa ngày lễ Các Thánh cho đến hôm nay, biết bao nhiêu người đi viếng thăm vườn thánh là “nơi an nghỉ” của những người đã chết chờ ngày sống lại. Chúng ta đi viếng họ với niềm tin yêu, dừng lại bên mộ của những người đã yêu thương và làm điều tốt cho chúng ta trong sự cậy trông, phó thác họ cho lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa Tình Yêu.
Chân lý Đức tin Kitô giáo dạy chúng ta rằng giữa Trời và Đất có một trung gian gọi là Luyện ngục, nơi ấy dành cho những người chết trong khi mắc tội mọn hay là đền tội chưa đủ, cần phải được thanh tẩy để trở nên tinh tuyền, mà thánh Gioan Thánh Giá gọi là “Lửa Tình Yêu”. Hôm nay chúng ta cầu nguyện cho những người đã qua đời, săn sóc phần mộ và nhất là dâng lễ Misa nại vào Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng đã tạo dựng, hy sinh và cứu chuộc chúng ta, nay lại dùng tình yêu mà thanh luyện những người đã qua đời và sớm cho họ được hưởng tôn nhan Chúa.
Tin vào Thiên Chúa Tình Yêu
Người ta nói rằng: nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai họa nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết “Thiên Chúa là Tình Yêu”, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó.
Thiên Chúa đã yêu con người bằng một tình yêu hào phóng khi tạo dựng con người, ban cho con người những hồng ân bên trong và bên ngoài; Ngài cũng đã yêu chúng ta với một tình yêu khổ đau, sắn sàng hy sinh cả mạng sống, cho đi đến cùng, để minh chứng cho ta thấy: “Tình Yêu là bản chất của Thiên Chúa”.
Trong tác phẩm Quo Vadis, một người ngoại giáo hỏi Thánh Phêrô khi ngài mới đến Rôma như thế này: Nhã Điển đem đến cho chúng tôi sự thông thái, Rôma đem đến quyền lực, còn tôn giáo của ông đem lại cho chúng tôi điều gì? Thánh Phêrô trả lời: Tình yêu!
Vâng, Thiên Chúa yêu con người bằng tình yêu hào phóng, mang theo sự tha thứ và nguyện cầu. Thánh Phaolô thốt lên “Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5, 7-8). Con người có thể là kẻ thù của Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa mãi mãi không là kẻ thù của con người. Kinh nguyện vô cùng cảm động của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha cầu cho con người chứng minh tình yêu vô biến ấy (x. Ga 17, 1-26).
Sau khi tôn vinh Chúa Cha (x. Ga 17, 1); cầu nguyện cho các môn đệ (x. Ga 17, 11), và những kẻ nhờ các môn đệ mà tin vào Chúa: “Con còn cầu cho tất cả những kẻ, nhờ chúng mà tin vào con (Ga 17, 20-26 ); Người cầu cho chúng ta nên “một”: “Để cả chúng cũng nên một trong Ta” (Ga 17,22). Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu thì luôn luôn hiệp nhất, do đó, trong Thiên Chúa không có sự chia rẽ ở đời này, kể cả đời sau nữa.
Hy vọng và cậy trông vào Chúa
Bản chất là Tình yêu, mang trong mình một tình yêu thương xót, thứ tha và cứu chuộc nên Thiên Chúa luôn canh cánh trong lòng, mong sao cho nhân loại được cứu chuộc. Người khẩn cầu tha thiết cùng Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thi Con muốn rằng: Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con” (Ga 17,24). Chúa Giêsu ở đâu? Ở trong tình yêu Chúa Cha, trong lòng Chúa Cha; ở trong sự thật; ở trong Thánh Ý Chúa Cha; Ở trên Thập Giá và ở trên thiên đàng và Người muốn chúng ta cũng ở với Chúa.
Chính Chúa Cha đã sai Chúa Con đến trần gian để yêu thương con người như Chúa Cha đã yêu thương Chúa Con. Nên trước khi về trời, Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta rằng Chúa Cha đã yêu thương chúng ta như đã yêu thương Chúa Giêsu.
Lạy Chúa là Thiên Chúa Tình Yêu, xin cho những người đã qua đời được ở trong tình yêu của Chúa luôn mãi, và cho chúng con ngay từ khi còn ở dưới thế cũng luôn ở trong vòng tay yêu thương của Chúa. Amen.
45.Lễ Các Đẳng Linh Hồn
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
Nếu như hôm qua, lời kinh, tiếng hát, các bài đọc, thánh ca phụng vụ lễ Các Thánh Nam Nữ của Thiên Chúa lôi cuốn tâm hồn chúng ta vượt quá những giới hạn của không gian và thời gian, bay lên cõi trời cao để chiêm ngưỡng các thánh, những người được coi là diễm phúc ở “đô thành thiên quốc, thành Giêrusalem trên trời là mẹ của chúng ta” (Tiền tụng lễ Các thánh). Thì hôm nay, mùng 02 tháng 11, màu sắc, âm thanh, phụng ca của ngày lễ hướng tâm hồn chúng ta về các thực tại mai hậu, tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời “ những người đã ra đi trước chúng ta với dấu ấn đức tin và nay đang nghỉ giấc bình an” (Kinh nguyện Thánh Thể số I), ở nơi luyện ngục, để dâng lễ cầu nguyện cho họ.
Chân lý Đức tin Kitô giáo dạy chúng ta rằng giữa Trời và Đất có một trung gian gọi là Luyện ngục, nơi ấy dành cho các tâm hồn chết khi mắc tội mọn hay là đền tội chưa đủ, cần phải được thanh tẩy để trở nên tinh tuyền, trong một mầu nhiệm đáng sợ mà thánh Gioan Thánh Giá gọi là “Lửa Tình Yêu”. Chúng ta lo lắng cho những người thân đã qua đời con đang bị giam cầm nơi luyện ngục, chịu khổ đau là phải. Việc những kẻ con sống cần phải làm là đọc kinh cầu nguyện, hy sinh, làm phúc, nhất là xin Lễ Misa cho những người ấy. Điều trên giúp chúng ta hiểu việc chúng ta phải làm cho họ. Dù đang sống cuộc sống dương gian, hay hưởng phúc thiên đàng hoặc đang thanh luyện nơi luyện ngục, tất cả mọi người đều liên đới với nhau trong Đức Kitô. Đó chính là ý nghĩa của tín điều các Thánh Thông Công mà chúng ta tuyên xưng và thực hành.
Đức tin được thể hiện
Một câu hỏi lớn. Hỏi: Các thánh thông công nghĩa là làm sao?
Thưa. Các thánh ở trên trời cùng các linh hồn ở luyện ngục và các bổn đạo dưới đất đều thông công với nhau. Các bổn đạo tôn kính cầu xin các thánh, và các thánh cầu bầu cho các bổn đạo trước mặt Đức Chúa Trời. Các bổn đạo dâng việc lành phúc đức cầu cho các linh hồn ở luyện ngục, mà khi các linh hồn ấy đã được lên thiên đàng thì cùng cầu bầu cho các bổn đạo nữa. Các bổn đạo có lòng kính mến Đức Chúa Trời cùng thương yêu nhau thì chẳng những lập công cho mình mà lại làm ích cho kẻ khác nữa. (Sách Bổn Hà Nội tr. 39-40)
Những câu bổn căn bản trên giúp chúng ta hiểu tại sao Giáo Hội dành hẳn tháng 11 hàng năm để cầu nguyện cho anh chị em đã qua đời. Vì niềm hy vọng Kitô giáo không bao giờ chỉ mang tính cách cá nhân, nhưng còn là hy vọng cho tha nhân nữa. Vì thế, cuộc sống của chúng ta được liên kết với nhau, và điều tốt hay điều xấu của người này liên quan tới người kia nữa. Thế nên, lời cầu nguyện của một người còn đang lữ hành trên dương thế có thể giúp đỡ một linh hồn khác đang được thanh luyện sau khi đã qua đời. Đó là lý do vì sao ngày hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu đã qua đời, và đến viếng thăm mộ của họ. Vì chúng ta có trách nhiệm phải nhớ đến nhau, cầu nguyện, hy sinh, đền tội thay cho nhau.
Còn tin còn cầu nguyện, còn chia sẻ một Thánh Thể là còn nhớ đến nhau, thuộc về nhau. Tình yêu thương bác ái dành cho các linh hồn trong lúc này chính là lời cầu nguyện, Lễ Misa và sự hy sinh.
Khi cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, Giáo Hội hướng về Chúa Kitô phục sinh, Ðấng đã chết và sống lại để cho tất cả chúng được sống lại. Tin vào sự sống lại của thân xác là nhìn nhận rằng sẽ có một chung cục, một cùng đích cho mọi người.
Đức tin không giải thoát những kẻ tin khỏi sự khổ não phải chết, nhưng đức tin sẽ làm êm dịu với hy vọng: “Nếu có buồn sầu vì số phận phải chết… cũng sẽ được ủi an”. (Kinh Tiền Tụng lễ các linh hồn).
Cầu nguyện cho người quá cố, chúng ta không chỉ tưởng nhớ đến những người thân và các tín hữu Kitô. Nhưng còn được mời gọi để tưởng nhớ và cầu nguyện cho tất cả mọi người quá cố, dù tin hay không tin, dù thuộc về Giáo hội hay ở ngoài Giáo hội hữu hình. Với niềm xác tín, Chúa Kitô là trung gian duy nhất và là Đấng Cứu Độ duy nhất, tình thương của Thiên Chúa ôm trọn tất cả mọi người. Do đó những ai không do lỗi của họ mà không biết Tin Mừng của Chúa Kitô và Giáo Hội của Chúa, nhưng thành tâm tìm kiếm Chúa và hành động theo lương tâm của mình nhờ ơn Chúa thúc đẩy, mà thực thi ý muốn của Chúa, họ cũng thuộc về Chúa, cho dẫu chúng ta không thấy và do đó cũng có thể được phần rỗi đời đời. Chỉ một mình Chúa mới biết lòng tin của họ.
Đạo hiếu được thi hành
Báo hiếu là bổn phận thiêng liêng của tất cả mọi người. Ðông cũng như Tây, xưa cũng như nay, những người có hiếu, không ai là không nghĩ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Nhưng cách thể hiện tấm lòng cụ thể tùy theo trình độ văn minh và phong tục tập quán của mỗi dân tộc mà có những khác biệt.
Ở Việt Nam ta, với triết lý Á Đông vốn đề cao chữ hiếu. Có hai cách báo hiếu: khi cha mẹ còn sống, con cái phải chu cấp đầy đủ những nhu cầu vật chất cũng như tinh thần để cha mẹ được an vui; khi cha mẹ qua đời, con cái phải phụng thờ và thực hiện những di chúc để lại.
Ðây là cơ hội quý báu để những người con hiếu thảo báo đáp phần nào công ơn trời bể của tổ tiên, ông bà, cha mẹ: “Cây có cội, nước có nguồn, Con người có tổ có tông: có cha có mẹ, có ông có bà”. Ai trong chúng ta cũng đều thuộc nằm lòng những câu ca dao tục ngữ của người xưa răn dạy về đạo hiếu, đạo làm người ấy.
Cũng như muôn tạo vật, con người cũng có cội, có nguồn, có tổ có tông. Họ là những “tiền nhân” đã ra đi trước chúng ta, để lại hậu duệ là chính chúng ta, với ước mong giòng giống của các ngài được trường tồn, đó chính là quy luật “bảo tồn sự sống” mà Thiên Chúa đã thiết lập.
Thảo kính cha mẹ phải phát xuất từ trái tim, thôi thúc lòng người hiếu thảo thấm thía ơn đức cao cả của mẹ cha:
Mẹ cha vất vả nuôi mình
Từ khi trứng nước công trình biết bao.
Làm con phải nhớ công lao,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. (Ca dao)
Việc thảo kính cha mẹ không chỉ là việc: con cái trả ơn sinh thành mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng gắn liền với huyết thống, máu mủ, tình thân, hay là một qui định của xã hội mà là một điều răn của Chúa dạy: “Thứ bốn thảo kính cha mẹ”.
Thiên Chúa đã nâng điều răn thứ bốn lên ngang hàng với các điều răn khác ; điều đó chứng tỏ con cái phải hiếu kính đối với cha mẹ đến mức nào. Môisen đã nói “Hãy thảo kính cha mẹ và ai rủa cha mẹ, sẽ phải xử tử”(Mc, 7-13).
Nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục, tất cả chúng ta đều phải biết sống hiếu thảo, vâng lời, giúp đỡ cha mẹ lúc sinh thời cũng như khi đã khuất bóng.
Bên Đông phương người ta đề cao chữ HIẾU và nâng lên thành ĐẠO, đó là ĐẠO HIẾU. Theo truyền thống Nho giáo, trong các tội người ta phạm thì tội bất hiếu là tội nặng nhất.
Cùng tột điều thiện, không gì hơn hiếu,
Cùng tột điều ác, không gì hơn bất hiếu (Kinh Nhẫn Nhục)
Không ai có thể phủ nhận được công ơn cha mẹ trong việc sinh thành và dưỡng dục con cái. Thiên Chúa đã dựng nên con người, nhưng không trực tiếp mà phải qua trung gian cha mẹ. Trước tiên, Thiên Chúa dựng nên ông Adam và bà Evà, rồi từ đó con cháu nối tiếp. Đúng là: “Người ta có cố có ông, Như cây có cội như sông có nguồn”
Lý thuyết là như thế, nhưng trong ngày nay chúng ta hãy nhìn qua lại lòng hiếu thảo của chúng ta đối với cha mẹ để mà yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời (theo sách giáo lý Tân định). Đồng thời, Lời Chúa nhắc cho chúng ta phải thi hành bổn phận thảo hiếu của chúng ta.
Ai mà phụ nghĩa quên công
Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm (Ca dao)
Hướng về thực tại mai hậu
Khi cầu nguyện cho những anh chị em tin hữu đã qua đời, chúng ta không chỉ dừng lại nơi họ, cho họ, vì họ, mà còn cho chúng ta nữa những người còn sống. Sự ra đi trước của họ, nhắc nhớ chúng ta về một cõi đi về mà ai ai trong chúng ta cũng phải về, đó là quê trời vinh phúc. Trong khi cầu nguyện cho anh chị em đã qua đời, chúng ta cũng xin Chúa làm cho đức tin vào Con Chúa đã sống lại từ cõi chết được lớn mạnh nơi chúng ta. Nhờ niềm tin vào sự sống đời sau, tin vào Đức Kitô là sự sống lại và là sự sống mà mỗi người chúng ta ngày nay luôn bước tới trong niền hy vọng. Cùng đích của người Kitô hữu là được trở về nhà Cha hưởng vinh phúc. Cùng đích này cũng giúp chúng ta sống cuộc sống hiện tại sao cho thật có ý nghĩa, thật có giá trị, không hổ thẹn là con cháu của những người đã khuất, không hổ thẹn là người môn đệ của Đức Kitô, Đấng hằng sống. Hy vọng rằng sau khi qua cõi đời này, tất cả chúng ta lại được cùng nhau đoàn viên trong nhà Cha trên Trời.
Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Chúa đời đời. Amen.
46.Bông hồng cho mẹ cha
(Suy niệm của Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
Tháng 11, tháng của báo hiếu. Tháng của lòng tri ân tình cha, tình mẹ. Thế nên , khi nghe những ca từ của những bài hát về cha, về mẹ, ôi sao thật ngọt ngào, thắm thiết! Có lẽ nhiều người vẫn thầm hát bài “Bông Hồng cài áo” mỗi khi chạnh lòng nhớ về mẹ cha:
“Mẹ, Mẹ là dòng suối diệu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăm sâu
Là ánh đuốc trong đêm
Khi lạc lối.
Tình mẹ thật nhẹ nhàng như dòng suối làm mát cuộc đời từng người con. Thật ấm cúng nồng nàn như nắng ấm nương rau:
Mẹ, Mẹ là dòng suối ngọt ngào.
Mẹ, Mẹ là nải chuối, buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương rau
Là vốn liếng yêu thương
Cho cuộc đời.”
Thế nhưng, cho dù có thương cha, nhớ mẹ thì cũng có ngày con không còn mẹ cha, sẽ là những ngày tăm tối như lời bài hát so sánh:
“Như đóa hoa không mặt trời,
Như trẻ thơ không nụ cười,
Và đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm”
Ý của bài hát này tác giả đã lấy cảm hứng từ ngày Mother’s day được tổ chức vào Chúa nhật thứ 2 của Tháng Năm tại Châu Âu. Và năm 1962 được tổ chức tại Nhật với phong tục cài cho những ngươì con không còn mẹ một bông hồng trắng, và còn mẹ một bông hồng đỏ. Và nhà sư Nhất Hạnh đã đem về Việt Nam, cổ võ trong ngày Vu Lan. Thế nên, phong tục này không phải là truyền thống của Phật Giáo mà là của Tây Phương. Biểu tượng của Phật Giáo là hoa sen, còn bông hồng là biểu tượng tình yêu của Châu Âu, nhưng dù sao chúng ta cũng thấy việc cầm bông hồng trên tay hay cài lên áo để nhớ về tình thương của mẹ thật nồng ấm biết bao.
Nồng ấm bởi vì Mẹ là một dòng suối, là một kho tàng vô tận. Mẹ là một món qùa lớn nhất mà Thiên Chúa đã tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Thế nên, đừng đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: “Trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ!”. Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất mình mới có cảm nghĩ: “Thật như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ!”
Thế nên, tôi nghĩ rằng bài hát muốn nói với chúng ta những người còn mẹ, ngay hôm nay hãy cầm tay mẹ mà hỏi: “Mẹ ơi, mẹ có biết không?”. Và chắc chắn Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và lúc này hãy nhìn vào mắt mẹ, mà nói: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?”. Mẹ sẽ rất sung sướng, sẽ rất hạnh phúc vì được nghe những lời yêu thương từ con.
Không chỉ là mẹ mà cả những người cha tuy thầm lặng nhưng luôn hết lòng yêu thương ta. Tình cha không mặn mà như tình mẹ nhưng tình cha vẫn mãi là chỗ dựa cho con sự tự tin vào đời. Không có cha con cái sẽ cảm thấy mình hụt hẫng giữa chợ đời đầy mưu mô xảo quyệt mà không có chỗ tựa nương. Thế nên, hãy trân trọng tình cha, tình mẹ. Hãy dành cho các ngài sự quan tâm, tình yêu mến, đừng đợi đến khi không còn họ mới thảng thốt nói lên lời xót xa ân hận vì mình đã không sống tròn đạo hiếu làm người.
Hôm nay nhân ngày lễ các linh hồn, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy dành tình yêu cho ông bà cha mẹ qua việc cầu nguyện cho các ngài. Chúng ta hãy nài xin lòng thương xót của Chúa đón nhận các ngài và tha thứ những yếu đuối trong thân phận con người của các ngài. Vì nhân vô thập toàn, ai mà không có lỗi trước mặt Thiên Chúa là Đấng vô cùng chí thánh. Chúng ta hãy nhớ đến người quá cố để làm điều gì đó nhằm cứu vớt họ. Có thể là nhường cho các ngài những ơn toàn xá trong 8 ngày đầu tháng. Có thể là làm những việc lành phúc đức để đền bù cho những thiếu sót trong cuộc đời các ngài. Có thể là những lời kinh ta trao gởi họ cho lòng thương xót của Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria.
Xin Chúa cho chúng ta luôn biết tận dụng những ngày này như là mùa báo hiếu cha mẹ và tri ân anh em bè bạn những người đã giúp đỡ chúng ta mà nay đã không còn. Xin cho họ được nghỉ yên bên Chúa. Amen.
47.Sống trọn đạo làm con
(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
“Mẹ ơi, con thương bố mẹ nhiều; Con chết vì không thở được; Con xin lỗi bố mẹ nhiều mẹ ơi; Con đường đi nước ngoài không thành”
Đó là những dòng tin nhắn cuối cùng của một cô gái trẻ tên Trà My gửi cho gia đình trong lúc tuyệt vọng. Cô là một trong 39 nạn nhân di cư nhập cảnh vào Anh đã bị chết cóng trong một thùng xe container, được cảnh sát Anh phát hiện vào tuần qua. Cho đến nay, cảnh sát Anh cho biết hầu hết các nạn nhân đều là người Việt Nam. Cả thế giới bàng hoàng trước thông tin này, các tờ báo lớn trên thế giới đều đưa tin động trời này. Tại Anh Quốc và nhiều nơi, nhiều người đã thắp nến cầu nguyện cho 39 nạn nhân xấu số, mặc dù họ không biết các nạn nhân là ai. Tòa Đại Sứ Anh cũng ra thông cáo và gửi lời chia buồn đến gia đình các nạn nhân. Riêng chính phủ và báo chí Việt Nam hầu như không mấy quan tâm. Ở đây không bàn về sự kiện đúng, sai hoặc lý do nào khiến cho 39 người này đã phải đánh đổi cả cuộc đời để đi tìm một chân trời mới, nhưng muốn nói đến tâm trạng của cô gái trẻ đã để lại qua những dòng tin nhắn cuối cùng.
Các tờ báo nước ngoài có đăng đoạn tin nhắn này, nhưng có lẽ nhiều người nước ngoài sẽ không thể hiểu tại sao lúc cận kề với cái chết, cô gái này lại nói lời: “Con xin lỗi bố mẹ nhiều mẹ ơi. Con đường đi nước ngoài không thành.” Người Việt khi đọc đoạn tin nhắn này sẽ hiểu ngay đó là lời xin lỗi của một người con đối với cha mẹ vì chữ hiếu chưa trọn, đạo làm con chưa thành, chưa kịp làm gì để báo ân mà nay lại còn để lại nỗi đau cho cha mẹ.
Đạo Hiếu của người Việt Nam và giới răn Thứ Bốn của Thiên Chúa nhắc nhở và đòi buộc con cái phải biết kính trọng yêu mến mẹ cha. Sự hiếu thảo được thể hiện bằng sự ngoan ngoãn vâng lời cha mẹ trong mọi sự. Cãi lại cha mẹ hoặc không vâng lời bị coi là bất hiếu. Sự hiếu thảo con được thể hiện qua việc giúp đỡ cha mẹ khi tuổi già, làm mọi việc để cha mẹ già vui lòng. Khi cha mẹ đau yếu bệnh tật, phận làm con phải hết lòng chăm sóc chạy chữa. Khi các Ngài qua đời phải lo tang lễ, chôn cất, xây mồ và cúng giỗ hàng năm. Nhắc lại một vài điểm trong đạo hiếu của người Việt chúng ta sẽ hiểu tại sao trong giờ phút cận kề với cái chết, cô gái trẻ Trà My kia đã mấy lần lặp lại lời xin lỗi cha mẹ. Cô xin lỗi vì với lứa tuổi đôi mươi chưa kịp làm gì để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Cô đánh đổi mạng sống của mình với hy vọng khi đến được vùng đất mới, cô có điều kiện làm việc, kiếm tiền giúp đỡ trả ơn cho cha mẹ. Cô mơ ước một ngày nào đó cha mẹ và gia đình cô sẽ bớt khổ. Vậy mà ý trời không muốn, cô chỉ kịp đặt chân đến xứ sơ mơ ước trong một chiếc xe cùng với 38 người khác trong tình trạng đã chết dưới cái lạnh âm 37 độ của chiếc xe đông lạnh. Cô hối tiếc và xin lỗi vì giấc mơ đi nước ngoài không thành, vì chưa kịp làm gì cho cha mẹ bớt khổ, mà nay còn để lại cho cha mẹ thêm món nợ và thêm nỗi sầu.
Cử hành lễ cầu cho tổ tiên ông bà và cho các linh hồn hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng nhau suy niệm về mầu nhiệm của sự chết, đồng thời nhắc cho chúng ta bổn phận chu toàn Đạo Hiếu và những đòi buộc của giới răn thứ bốn: “Thảo kính cha mẹ.” Chúng ta phải sống thế nào để khi phải rời xa nhau ta không phải sợ hãi và không hối tiếc vì chưa sống trọn đạo với những người đã khuất.
Đối với niềm tin Kitô Giáo, cái chết không còn là điều kinh sợ nữa, vì cái chết của mỗi người đã được Đức Kitô biến đổi nhờ cái chết trên thập giá của Ngài và biến cái chết của mỗi người thành niềm hy vọng lớn lao. Thuở ban đầu, cái chết chỉ là một qui luật của tự nhiên, có sinh ắt có tử, có bắt đầu sẽ có kết thúc. Sau khi nguyên tổ loài người phạm tội, cái chết đã mang một ý nghĩa kinh khủng hơn, nó trở thành một án phạt cho sự chối từ Thiên Chúa. Đức Giêsu là một vị Thiên Chúa, đã chấp nhận vâng phục hoàn toàn thánh ý Chúa Cha, đến trần gian và sống trọn vẹn đạo hiếu với Thiên Chúa. Đức Giêsu luôn tìm mọi cách để làm vui lòng Cha, vâng theo sự hướng dẫn và ý muốn của Cha, cuối cùng, Ngài chấp nhận hy sinh cả mạng sống vì vâng phục Chúa Cha và vì muốn đem lại sự sống mới cho các anh em của Ngài là nhân loại. Thiên Chúa Cha đã đón nhận sự hy sinh vâng phục của Chúa Giêsu và đã dùng quyền năng Thiên Chúa để làm cho Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại. Thiên Chúa đã tha thứ tất cả tội lỗi cho nhân loại cùng ban cho nhân loại sự sống mới của Chúa Giêsu. Từ đây, nhờ cái chết của Chúa Giêsu, cái chết của nhân loại không còn là điều ghê sợ nữa, mà đã trở thành một ngưỡng cửa mà mọi người phải bước qua để được vào chung hưởng sự sống với Chúa Kitô.
Tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và sống theo giáo lý Tin Mừng của Ngài, thì sẽ được sống và không phải chết đời đời nữa. Đây chính là điều kiện tiên quyết cho tất cả những ai muốn được chung hưởng hạnh phúc và được sống đời đời với Chúa: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy Người con và tin vào Người con thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.” Tin Mừng Luca thuật lại câu chuyện hai người trộm cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu. Một tên không tin Chúa Giêsu là Đấng cứu thế, anh ta còn nặng lời mỉa mai, thách thức Đấng đang cùng chịu đóng đinh bên cạnh mình: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa.” Trái lại, tên bên kia đã tin rằng, người đang bị đóng đinh bên cạnh mình là một Đấng quyền năng. Mặc dù đức tin của anh còn rất mỏng manh, nhưng anh đã bênh vực Chúa và trách tên trộm đồng nghiệp kia, anh thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi!” Chúa Giêsu đã cho anh điều vượt sức mong đợi của anh khi Ngài trả lời: “Ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Trong câu chuyện Chúa cho Lazarô chết bốn ngày được sống lại, Ngài cũng đã giúp cho cô Matta tin vào Ngài và tuyên xưng: “Thưa Thầy! Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.” Phép lạ đã xảy ra, Lazarô được gọi từ trong mồ bước ra.
Như vậy, khi đặt niềm tin chắc chắn vào Chúa Giêsu là Đấng cứu độ, chúng ta sẽ được sống, được sống lại sau cái chết và được chia sẻ vào sự sống của Chúa. Cử hành lễ cầu cho các linh hồn tổ tiên ông bà, chúng ta một lần nữa cùng nhau tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa và tuyên xưng niềm tin, niềm hy vọng của chúng ta: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại; Tôi tin cuộc sống đời đời mai sau.”
Cử hành ngày cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, chúng ta đặc biệt nhớ đến ông bà tổ tiên, cha mẹ và những người thân đã ra đi trước chúng ta. Các Ngài đã trải qua sự chết và ta tin rằng có những người đã hoàn tất giai đoạn thanh luyện, đang được chung hưởng hạnh phúc đời đời với Thiên chúa. Có nhiều người khác vì còn thiếu sót cách nào đó trước mặt Chúa, còn đang phải trải qua thanh luyện đền bù, chúng ta dâng những thánh lễ, lời kinh và những việc lành hy sinh để cầu nguyện cho các Ngài. Xin Chúa cho các Ngài mau được về hưởng tôn nhan Thiên Chúa.
Đứng bên nấm mồ của những người thân, có nhiều người trong chúng ta đang bị lương tâm dày vò vì mình đã chưa chu toàn bổn phận Đạo Hiếu đối với các ngài khi các ngài còn sống. Có những người con đã không làm cho cha mẹ vui lòng, ngỗ nghịch quậy phá. Có những người con đã khiến cha mẹ mất ăn mất ngủ vì phải lo lắng cho mình. Nhiều người khác đã thiếu kính trọng, không vâng lời, nhất là đã thiếu sót hoặc đã cố tình cư xử tệ bạc, bất hiếu với cha mẹ và người thân khi các Ngài còn sống. Đứng bên cạnh mộ của vợ, của chồng, nhiều người hối hận vì đã tỏ ra coi thường, không chu toàn bổn phận, không tôn trọng, yêu thương đối với vợ, với chồng khi họ còn sống dưới một mái nhà. Còn nhiều người khác đang bị dằn vặt, hối tiếc vì chưa bao giờ nói được một lời yêu thương, chưa kịp làm gì cho người thân khi họ còn sống.
Cử hành thánh lễ cầu cho các linh hồn, nhắc cho tất cả chúng ta ngay từ bây giờ cần phải sống trọn đạo đối với Thiên Chúa, sống trọn đạo với cha mẹ ông bà và sống trọn tình nghĩa vợ, chồng, anh chị em. Một điều chắc chắn là chúng ta không thể sống mãi trên trần gian này. Vì thế, cần biết tận dụng mọi cơ hội để chu toàn đạo làm con đối với Thiên Chúa. Chúng ta cũng sẽ không ở bên nhau mãi mãi, sẽ đến ngày cha mẹ, người thân, hoặc chính chúng ta sẽ phải ra đi, bỏ lại tất cả mọi mối liên hệ. Vì thế, hãy sống với nhau cho trọn đạo, trọn tình; sống với nhau cho hết mình, trọn nghĩa để khi cha mẹ, vợ chồng, người thân hay chính mình phải ra đi, chúng ta sẽ không hối tiếc vì chưa làm được gì cho người thân.
Dù có muộn màng cũng mạnh dạn nói với cha mẹ như cô gái Trà My: “Mẹ ơi, con thương bố mẹ nhiều; Con xin lỗi bố mẹ nhiều mẹ ơi; Con đường làm người và làm con của con đã chưa trọn”
48.Kính nhớ tổ tiên
(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
Hàng năm, cứ đến những ngày đầu tháng 11, khi tiết trời vào thu, hàng cây thay lá, Giáo hội lại nhắc chúng ta nhớ đến cùng đích đời đời của mỗi người là Nước Trời. Giáo hội cũng dành tháng 11 để dạy mỗi người bày tỏ lòng thảo hiếu biết ơn ông bà tổ tiên, đồng thời nhắc các tín hữu chuẩn bị cho ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Kính nhớ ông bà tổ tiên là nét đẹp trong văn hoá Việt Nam. Việc bày tỏ lòng thảo hiếu không chỉ là văn hoá mà còn là Đạo hiếu, Đạo làm người. Như thế, những ai không chu toàn đạo làm con, đạo làm người này, thì cũng không thể chu toàn đạo làm con Chúa được. Tuy nhiên, không phải mọi người Công Giáo đều ý thức được điều này, vì thế, đã xảy ra biết bao tình trạng ngược đãi đối với ông bà cha mẹ, bỏ bê việc hiếu thảo, khiến cho nhiều người ngoại giáo nghĩ rằng: Theo đạo Công Giáo là phải từ bỏ ông bà tổ tiên, không được giỗ chạp.
Chắc chắn là con người, ai cũng phải chết. Người ta tưởng rằng khoa học ngày nay có thể kéo dài tuổi thọ, xua đi cái chết của con người, nhưng thực tế lại không như vậy. Con người dường như chết trẻ hơn, các bệnh tật, nhất là ung thư, ngày càng phổ biến hơn. Có những người giàu có, cuộc sống không thiếu thốn, họ đủ tiền để đi chữa bệnh ở ngoại quốc, nhưng vẫn không thoát khỏi cái chết. Có những người mới ngày hôm qua còn gặp mặt cười nói, thì hôm sau đã nằm yên bất động. Nhắc lại một vài trường hợp như thế để mỗi người thấy rằng, cuộc sống này thật mong manh, kiếp nhân sinh thật vắn vỏi. Vậy mà có nhiều người vẫn cố tình quên điều đó, họ bỏ qua Thiên Chúa để bám vào trần gian như cùng đích của cuộc đời mình.
Ông Gióp đã trải qua những quãng đời giàu có phong lưu, rồi mất trắng trở về tay không, từ một người khoẻ mạnh, bạn hữu tới lui, trở thành một người bệnh tật ghê tởm, mọi người xa tránh. Dù vậy, ông vẫn xác tín vào Thiên Chúa và hy vọng mạnh mẽ vào cuộc sống đời sau. Trong bài đọc một, ông Gióp đã nói lên niềm xác tín của mình: Tôi biết rằng, Đấng cứu chuộc tôi hằng sống, và sau hết, tôi sẽ từ bụi đất sống lại, và trong chính xác thịt tôi, tôi sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa của tôi. Lời tuyên xưng này cho thấy, ông đặt trọn niềm hy vọng cuộc đời của ông vào nơi Chúa. Điều ông chờ đợi duy nhất sau cuộc sống này là được nhìn thấy Thiên Chúa bằng chính con mắt của mình chứ không còn phải nhìn bằng đức tin nữa.
Niềm tin vào sự sống đời sau được củng cố nhờ vào lời mặc khải của Chúa Giêsu. Ngài đã quả quyết với chúng ta rằng: Ai đến với Tôi sẽ không bao giờ bị loại trừ, không bao giờ bị hư mất, nhưng Tôi sẽ ban cho họ sự sống đời đời. Thiên Chúa khi tạo dựng con người, Ngài muốn cho con người hạnh phúc. Tuy nhiên do tội nguyên tổ và tội của mỗi người, cũng như do sự lôi kéo của ma quỷ, xác thịt và thế gian đã khiến chúng ta xa Chúa và quên mục tiêu đời mình là tìm về với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã được sai đến để chỉ cho con người con đường hạnh phúc, để đưa tất cả nhân loại về với Chúa Cha. Ngài đã chấp nhận cái chết để đem lại sự sống cho con người. Tuy nhiên, chỉ những ai tin Chúa Giêsu, lắng nghe và bước theo Ngài thì mới có thể đạt tới sự sống hạnh phúc được.
Tham dự ngày lễ Cầu hồn hôm nay, mỗi người hãy dừng lại để suy nghĩ và chỉnh sửa cuộc sống của mình, để sống làm sao cho trọn đạo với Chúa và với những bậc tiền nhân.
Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Chúng ta không thể kể hết, không thể đo đếm được công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha. Chúng ta có thể nhìn thấy những tấm gương hy sinh của các bậc cha mẹ: Có những người cha già tám mươi tuổi vẫn phải vất vả nuôi những đứa con tật nguyền, có những người mẹ hốc mắt thâm quầng vì nhiều đêm thức trắng trông con đau ốm. Ngược lại, có những người con ném cha mẹ ra đường để giành của cải, có những người cha phải nhắm mắt trong tủi nhục vì con cái ngỗ nghịch.
Ngày lễ Cầu hồn hôm nay nhắc chúng ta sống thảo hiếu, sống trọn tình với người còn sống cũng như những người đã khuất. Chắc chắn đứng bên phần mộ người thân đã ra đi, những hình ảnh, những ký ức của người thân sẽ lại trở về với mỗi người. Có thể là những ký ức, kỷ niệm thật vui và hạnh phúc, vì những năm tháng tròn đầy được sống cùng nhau, đã sống hết mình, hết tình với nhau ; nhưng cũng có nhiều ký ức khiến mỗi người tự xấu hổ và hối hận. Có những người khi cha mẹ người thân còn sống đã tỏ ra vô tình dửng dưng, thiếu yêu thương, thiếu chăm sóc. Có những người cứ nghĩ rằng mỗi tháng trả cho cha mẹ vài triệu là đã hết công sinh thành dưỡng dục, vì thế, khi cha mẹ đau yếu liệt lào, họ chưa được một lần tự tay chăm sóc cho cha mẹ. Nay khi cha mẹ qua đời, họ cố gắng xây mộ thật to để che mắt thế gian và để đánh lừa sự áy náy trong tâm hồn mình.
Không chỉ bổn phận thảo hiếu với cha mẹ, mỗi người còn mang trách nhiệm, bổn phận với vợ, chồng, con cái. Nhiều người khi vợ, chồng còn sống đã thiếu sót bổn phận, coi thường khinh rẻ nhau, chửi bới đánh đập nhau suốt ngày, thế nhưng, lúc người kia mất đi, họ khóc vật vã, kể lể để dối lòng mình. Có những người lúc sống không nhìn mặt nhau, thế nhưng lúc chết lại đòi cho được nằm cạnh nhau, việc làm đó chỉ là sự giả dối để che mắt thế gian. Điều quan trọng không phải nằm chỗ nào, sang hay hèn, mộ to hay nhỏ, những điều quan trọng là mình đã sống, đã đối xử với người thân thế nào khi họ còn sống. Điều quan trọng hơn nữa là phải sống làm sao để cùng nhau lên thiên đàng, để tránh rơi vào cảnh “Thiên đàng hoả ngục hai bên”.
Chúng ta hãy sống sao cho mỗi lần tháng 11 về, mỗi lần ra thăm mộ, mỗi người không phải áy náy hối hận, không còn những giọt nước mắt muộn màng. Muốn vậy thì ngay bây giờ, chúng ta hãy sống với nhau cho tròn đầy:
Với mẹ cha, hãy hết lòng yêu thương kính trọng, vâng lời. Hãy chia sẻ gánh nặng kinh tế và lo lắng với các ngài. Hãy làm vơi đi sự nhọc nhằn trên đôi vai của cha mẹ, hãy làm cho cha mẹ nở nụ cười hạnh phúc và tự hào vì con cháu. Lúc các Ngài tuổi cao sức yếu, hãy kiên nhẫn và kính trọng, vì ngày xưa các ngài đã từng hết sức kiên nhẫn với chúng ta. Đừng làm gì khiến cha mẹ tủi nhục, đừng đối xử với cha mẹ như con ăn đứa ở trong gia đình, cũng đừng kể công, tính sổ với các ngài, vì các ngài chưa bao giờ tính công sinh thành, nuôi dưỡng chúng ta. Sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó, hôm nay chúng ta biết kính trọng, yêu mến mẹ cha của mình, thì sau này, con cháu cũng sẽ biết yêu mến, kính trọng chúng ta. Đừng bao giờ trở thành gương xấu cho con cháu trong việc thảo hiếu mẹ cha.
Với anh chị em, vợ chồng và những người chung quanh, hãy nhớ rằng, chúng ta sẽ không sống mãi trên cuộc đời này, sẽ có ngày chúng ta phải chia tay nhau. Vì thế, khi còn có cơ hội gần nhau, bên nhau, hãy yêu thương nhau cho thật tình, hãy yêu mến hết mình, đừng so đo tính toán thiệt hơn. Cuộc sống thật vắn vỏi, hãy loại trừ những tranh chấp hơn thua, nhỏ mọn để sống quảng đại với nhau ; hãy nói với nhau những lời lẽ chân tình, dễ nghe và cư xử với nhau với lòng nhân ái, để khi người thân mất đi, chúng ta sẽ không phải hối hận vì đã yêu quá ít.
Sau cùng hãy nhớ rằng, sau cánh cửa sự chết, chúng ta sẽ gặp lại nhau. Chúng ta sẽ muốn nhìn thấy nhau trong tình trạng nào, vui hay buồn, hạnh phúc hay bất hạnh? Vì thế, đừng bao giờ nuôi hận thù đối với nhau, cũng đừng đem hận thù xuống nấm mồ, vì thù hận sẽ không thích hợp với Nước Trời là nơi hạnh phúc. Nếu cố tình nuôi dưỡng thù hận, chúng ta sẽ không vào Nước Trời và không thể gặp lại nhau được nữa.
Thiên đàng là nơi hạnh phúc, có Thiên Chúa là Cha đang chờ đợi mỗi chúng ta, nơi đó là quê hương đích thực và cùng đích của mọi người. Xin cho chúng ta trên hành trinh trần thế đừng bao giờ quên cùng đích cuộc đời của mình. Xin cho mỗi người luôn biết chuẩn bị sẵn sàng cho ngày trở về, để khi ngày ấy đến, chúng ta thanh thản ra đi mà không phải hối tiếc vì đã không làm gì cho Chúa, cho mình và cho những người chung quanh. Amen.
49.Sợi dây chuyền liên đới
(Suy niệm của Logos)
Nhà văn Khái Hưng đã viết một truyện ngắn mang tựa đề “ Bóng Người Trong Sương Mù” có nội dung như sau:
Vào một đêm mưa gió, người ta điều một bác lái tàu lửa đi gấp để lái đoàn tàu đưa một vị quan toàn quyền về tỉnh. Bác 1ái tàu đành bỏ ngừơi vợ đang đau nặng ở nhà để lên đường.
Vào khoảng nửa đêm, đoàn tàu đang lao vun vút trong làn sương mù dày đặc, bỗng nhiên bác lái tàu thấy một bóng người in trên sương mù ngay trước đoàn tàu. Người ấy mặc áo choàng rộng đang khoát tay như có ý bảo: “dừng lại! dừng lại!”. Bác lái tàu hoảng sợ không biết thực hư thế nào. Bóng người trong sương mù lúc ẩn lúc hiện như vung tay hét lên: “dừng lại! dừng lại!”. Bác tài càng phân vân hơn nữa, không biết người hay ma? Có nên dừng lại không? Thế rồi như có một linh tính báo trước, bác kéo thắng tàu. Đoàn tàu từ từ dừng lại. Mọi người chạy xuống xem thì thấy cây cầu ngay phía trước đã gãy đổ hoàn toàn vì mưa lũ. Suýt nữa cả đoàn tàu đã lao xuống dòng sông chảy xiết!
Mọi người mừng rỡ vì thoát chết, còn bác tài thì tìm thấy một con bướm lớn bị vướng vào đèn pha, đang vùng vẫy tìm cách thoát ra. Chính con bướm trước ánh đèn pha đã in hình trên nền sương mù giống như một con người đang vẫy tay.
Sáng hôm sau, khi trở về nhà, vợ bác đã chết và chết đúng vào lúc nửa đêm hôm trước, lúc bóng người trong sương mù ra hiệu cho đoàn tàu dừng lại. Bác tài đã ép khô con bướm ấy và giữ làm kỉ niệm vì tin rằng linh hồn vợ bác đã nhập vào con bướm để cứu bác.
Câu chuyện trên diễn tả một quan niệm thông thường cho rằng người sống và kẻ chết luôn có mối liên hệ với nhau. Còn đối với người Kitô hữu, chúng ta tin rằng giữa người sống và người chết luôn có một sự hiệp thông sâu sắc qua lời nguyện cầu và sự tưởng nhớ hằng ngày.
Sợi dây chuyền liên đới.
Sách Cựu ước kể chuyện Giuđa Macabê, nhà lãnh đạo Do Thái, đã dâng lễ tế đền tội cho người chết: “Cầu cho người đã chết là một ý tưởng lành thánh và đạo đức, để họ được tha thứ tội lỗi” (2 Mcb 12,45-46). Như thế, lời cầu nguyện không những liên kết những người đang sống với nhau, mà còn liên kết người sống với kẻ chết đang được thanh luyện. Hình ảnh sợi dây chuyền liên đới diễn tả tín điều “ Các Thánh Cùng Thông Công ” trong Giáo Hội. Mỗi người dù sống hay chết đều là một móc xích liên kết với người khác tạo nên một chuỗi sự hiệp thông gắn bó với nhau. Nếu tách rời nhau, mỗi vòng khoen của sợi dây chuyền trở nên nhỏ nhoi vô nghĩa. Cũng vậy, nếu tách lìa nhau, mỗi con người chỉ là một cá thể lẻ loi cô độc không thể thăng tiến được. Nếu móc nối với nhau, những khoen tròn nhỏ bé kia hợp lại thành một sợi dây bền chắc. Cũng thế, nếu mỗi người dù sống hay chết biết nối chặt vòng tay sẽ tạo nên sức mạnh, tình hiệp thông và sự thăng tiến.
Chúng ta cầu nguyện cho người sống là một điều tốt lành và cầu nguyện cho người chết đang được thanh luyện lại càng là một điều lành thánh và đạo đức. Vì những linh hồn đang còn ở luyện ngục hoàn toàn trông chờ vào lời cầu nguyện của chúng ta nơi dương thế vì họ không thể cầu nguyện hay lập công phúc cho chính mình nữa. Họ chỉ còn biết trông đợi vào tình thương của Thiên Chúa qua lời cầu nguyện của chúng ta. Tuy nhiên, các linh hồn nơi luyện ngục vẫn liên kết với chúng ta bằng những lời cầu bầu của họ trước mặt Thiên Chúa cho chúng ta.
Tuy nhiên, có một điều quan trọng: sợi dây chuyền liên đới ấy phải được khởi đầu từ Đức Kitô và kết thúc nơi Đức Kitô. Đức Kitô chính là “đầu mối” liên kết tất cả nên một. Ngài là đích điểm của mọi nguồn hy vọng và sự cậy trông của người sống cũng như kẻ chết: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy , sẽ không chết bao giờ.” (Ga 11, 25-26)
Tất cả lời cầu nguyện của chúng ta dù cho người sống hay kẻ qua đời đều phải đặt căn bản trên niềm tin vào Đức Kitô tử nạn và Phục Sinh. Ngài là sự liên kết vững bền nhất cho sự hiệp thông giữa chúng ta với nhau và với Thiên Chúa.
Cuộc thanh luyện tình yêu
Thánh Phaolô đã hé mở cho thấy Ngày của Thiên Chúa sẽ tỏ rạng trong ánh lửa hồng. Chính ngọn lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người (1 Cor 3.13). Ngọn lửa ấy luôn cần thiết trong bất cứ cuộc thanh luyện nào.
Sợi dây chuyền người ta đeo trên người dù bằng bạc hay vàng đều được nung chảy bằng lửa, kéo thành sợi, cắt thành khúc, uốn thành khoen, được hàn móc lại với nhau và được gọt dũa chau chuốt, làm nên sợi dây chuyền bền chắc.
Cũng thế, mỗi người dù sống hay chết đều được thanh luyện bằng ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa. Khi còn sống ở dương gian, người tín hữu được tình yêu Thiên Chúa thử luyện bằng những hy sinh đau khổ và thập giá. Nếu những ai chưa tinh toàn, người ấy lại tiếp tục được thanh luyện sau khi chết để trở nên tinh ròng hơn. Cầu nguyện cho các linh hồn là xin cho họ sớm được tinh tuyền trong tình yêu vô biên của Chúa. Xin cho ngọn lửa tình yêu của Chúa nung đốt chúng ta để chúng ta được liên kết với nhau và hòa tan trong Chúa.
Hôm nay, chúng ta qui tụ nơi đây (chúng ta tụ họp trong nghĩa trang này) để được gần gũi với những người thân yêu đã nằm xuống. Dù có 1 khoảng cách xa nghìn trùng giữa thế giới người sống và thế giới kẻ chết, nhưng chúng ta lại thật gần nhau bằng lời cầu nguyện qua những nén nhang và những ngọn nến được thắp lên. Khi những người thân còn chung sống với chúng ta, chúng ta có thể cho họ nhiều thứ, nhưng giờ đây họ chỉ mong đợi một điều thôi đó là lời cầu nguyện. Chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện cho họ như một món quà thân thương nhất chúng ta dành cho họ trong giây phút này.
Tại giáo xứ kia, khi người ta giải toả nghĩa trang trong giáo xứ để làm công viên, có một người chủ thầu xây dựng đến xin gặp cha xứ và nói:
– Thưa cha, con xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn.
Thấy người lạ mặt, cha xứ liền hỏi:
– Ông là ai?
– Thưa cha, con là người ngoại giáo đang ủi nghĩa trang làm công viên. Khi ủi đất, con nhìn thấy nhiều nhúm xương tàn nằm dưới đất, con sợ đã xúc phạm đến các linh hồn nên đến xin lễ cầu an.
Một người ngoại giáo xin lễ cho các linh hồn! Điều đó cho thấy niềm tin vào mối liên hệ giữa người sống và kẻ chết rất được trân trọng, kể cả nơi người chưa nhận biết Chúa. Điều đó cũng nhắc nhở chúng ta hãy biết siêng năng cầu nguyện cho các linh hồn với sự tưởng nhớ và lòng mến yêu.
50.Tôi là sự sống lại và là sự sống
(Suy niệm của Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa)
Ga 11, 17-27
Theo truyền thống Giáo Hội, tháng 11 này chúng ta đặc biệt lưu ý đến việc cầu nguyện cho những người đã qua đời:
Họ là một phần của đời sống và lịch sử của tất cả chúng ta. Sự ra đi của họ là một cuộc chia ly đau khổ và nuối tiếc đối với chúng ta. Trong số những người ra đi đó, có những người ra đi rất thanh thản vì họ sống những giây phút đời sống của họ cho cuộc gặp gỡ Thiên Chúa.
Cầu nguyện cho người đã qua đời là làm sống lại hy vọng của chúng ta khi đối mặt với thực tại bí ẩn của cái chết. Chúng ta nhớ rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu mở ra một con đường cho chúng ta. Với Chúa Giêsu, chúng ta chắc chắn sẽ chiến thắng cái chết và tội lỗi, bây giờ và mãi mãi.
Cầu nguyện cho người đã qua đời cũng mời chúng ta suy ngẫm về cuộc sống chúng ta và xem điều gì làm cho đời sống chúng ta có giá trị. Điều giá trị duy nhất là tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa và cho tất cả anh em chúng ta.
- Chúa Giêsu đã nói: “Mỗi lần các người không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy”
- Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II nói: "Bạn hãy nói cho tôi biết tình yêu của bạn thế nào, thì tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là ai”.
Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết con đường đến một cuộc sống hoàn toàn khác: "Tôi là sự sống lại và là sự sống, ai tin Tôi, dù có chết cũng sẽ được sống”. Sứ điệp này càng phấn khích niềm khát khao sống của mỗi người chúng ta. Như chúng ta đã thấy, xã hội chúng ta ngày càng đang bảo vệ chính mình bằng cách tham gia bảo hiểm để tránh mọi rủi ro:
- Người ta tìm cách kéo dài tuổi trẻ càng lâu càng tốt; người ta đấu tranh hết sức có thể để chống lại bệnh tật.
- Người ta còn mơ tưởng những người đã chết cũng sẽ được sống lại nhờ nền văn minh khoa học tiên tiến.
Đó không phải là đức tin của người kito chúng ta Kitô. Toàn bộ sứ điệp Tin mừng hôm nay được xây dựng trên sự phục sinh của Chúa Giêsu. Không có Chúa Giêsu sống lại, đức tin của chúng ta sẽ vô ích.
Sứ điệp của bài tin mừng hôm nay có thể tóm gọn trong một từ “Vượt qua”. Tin mừng nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống chúng ta là chuẩn bị cho cuộc vượt qua thế giới này mà về cùng Cha. Nhưng chúng ta cũng nhớ rằng vào ngày rửa tội, chúng ta đắm chìm trong tình yêu Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, Thiên Chúa là tình yêu. Từ đó, không có gì có thể giống như trước đây. Chúng ta phải liên tục đi từ một cuộc sống không có Chúa đến một cuộc sống tràn ngập tình yêu của Ngài..
Chúng ta khám phá ra chặng đường vượt qua này nhờ đức tin của chị Mat-ta. Chị nói: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, em con sẽ sống lại”. Nhưng Chúa Giêsu mời gọi chị tiến thêm một bước: "Thầy là sự sống lại và là sự sống, ai tin vào Thầy, dù có chết cũng sẽ được sống”. Tin kẻ chết sống lại vào ngày tận thế, không có gì là sai. Nhưng với bài Tin mừng hôm nay, chúng ta được mời gọi đi xa hơn: sự sống lại là tin vào Chúa Giêsu, như Martha cuối cùng đã khẳng định: “Thưa Thầy, vâng, con tin Thầy là Đức kito, Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trong thế gian”.
Tin mừng viết tiếp: “Thế là người ta cất tảng đá ra” Lúc bấy giờ Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, rồi Ngài kêu lớn tiếng: “Lagiaro, hãy ra đây”! Thực sự Lagiaro đã chết. Chúa Giêsu không che giấu nỗi buồn của Ngài. Ngài khóc vì người bạn thân của Ngài vừa mới qua đời cũng như khi chúng ta mất một người thân làm.
Nhưng Ngài xác định rằng cái chết của người bạn thân này hướng đến vinh quang Thiên Chúa. Sự thương tiếc này là cơ hội mặc khải điều đó. Đồng thời, chúng ta thấy Mat-ta thực hiện một bước chuyển quan trọng: Matta đi từ "Con biết" sang "Con tin”, từ sự chắc chắn về mặt lý thuyết đến sự công nhận Chúa Giêsu là sự sống lại.
Đó là tin mừng lấp đầy con tim hy vọng của chúng ta: Ai tin vào Chúa Giêsu, sẽ khám phá một cách kỳ diệu rằng: cái chết không phải là từ ngữ cuối cùng. Từ nay trở đi cuộc sống chúng ta có một ý nghĩa. Điều quan trọng lúc này là theo Chúa Giêsu và trung thành với Ngài. Ngài đảm bảo với chúng ta rằng không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ngài: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Hiện tại, chúng ta đang trên con đường lữ hành với những bước thăng trầm. Nhưng Chúa Giêsu luôn ở với chúng ta để ban cho chúng ta sức mạnh và can đảm để giữ vững đến cùng.
Đức tin của chúng ta vào sự phục sinh gắn liền với đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa đích thực:
- Ngài là Tình Yêu và là Sự Sống.
- Ngài không phải là Thiên Chúa của sự chết, mà là Thiên Chúa của sự sống.
- Dự án tuyệt vời của Ngài là chia sẻ cho chúng ta trọn vẹn sự sống và tình yêu của Ngài.
Chúng ta tin vào sự sống lại của chính chúng ta sau này. Nhưng lúc này chúng ta cũng đang sống lại, nếu chúng ta cho phép mình được Chúa Giêsu biến đổi trong sâu thẳm chính mình.
Bí tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành, cho chúng ta cơ hội hiệp thông vào sự sống trọn vẹn được hoàn thành trong sự sống lại. Vì cuộc sống mới này, chúng ta hãy chúc tụng ngợi khen vinh quang Thiên Chúa.
51.Cái chết
(Suy niệm của Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
Chết về thân xác, ai rồi cũng đến, nhưng những cái chết đáng sợ là những cái chết về tâm hồn, cái chết về tinh thần, cái chết về tâm linh, ngay khi còn sống.
Cái chết về tâm hồn.
Không đâu còn là những thắng cảnh thiên nhiên của những khu rừng tự nhiên, những con suối chảy hoang sơ, những động vật hoang dã. Ở bất cứ nơi đâu, người ta thấy có thể kiếm ra tiền, kiếm ra những lợi ích cá nhân hay nhóm, người ta có thể lấy nhiều lý do phá rừng lấy gỗ, lấy đất. Những con suối chảy giữa khe núi có thể bị chặn lại để bắt nó sản sinh những nguồn lợi thu về cá nhân. Không còn vẻ đẹp của tự nhiên cũng chẳng còn vẻ đẹp tâm hồn.
“Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Lc 23, 31).
Con người với nhau, cũng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, đuổi những người thấp cổ bé miệng ra khỏi nơi họ đang sống để chiếm đoạt. Tiếng kêu của họ bị nghẹn lại với những oan ức nhưng lại chẳng được nghe. Đối với người ngoài thì nhu nhược, đối với người trong nhà thì bạo lực, khủng bố. Vì lợi ích cá nhân sẵn sàng hạ bệ, loại trừ người khác. Chết về tâm hồn nên không còn đối thoại để hiểu nhau và cảm thông, chia sẻ. Chết về tâm hồn nên dửng dưng và đôi khi còn mừng vui trước những sự dữ đến với những ai mình không ưa thích, cho là đáng đời. Chết về tâm hồn nên còn lên án ngay cả khi những người anh chị em gặp lúc nghiệt ngã, đau thương.
Cái chết về tinh thần.
Chỉ có một tư tưởng chung dẫn lối, chỉ có một đường lối phải theo, làm chết tinh thần tự do của mỗi người. Đời sống tinh thần cần có đa dạng, đa diện, đa chiều để bồi bổ. Đụng đâu trái ngược với hướng chung đều dẫn đến sợ hãi, rụt rè, không dám tỏ bày chính kiến. Cái chết về tinh thần chịu chết trong “Sự thinh lặng của bầy cừu”, cam chịu để bị xén lông.
Chết về tinh thần nên không có nhiều sáng tạo, hầu như chỉ làm theo máy móc, bó buộc trong khuôn khổ, cơ chế. Cái chết về tinh thần không đáng có, để mãi một dân tộc không chịu lớn lên, lấy điều không chính yếu làm kiêu hãnh, tôn vinh sự giả tạo, lấy cái hào nhoáng bên ngoài che đậy sự trống rỗng, tệ hại bên trong.
Chết về tinh thần nên không có nhiều những cộng đồng cùng sống, cùng chia sẻ. Ở đâu cũng thấy những ích kỷ, nhỏ nhen, hơn thua, ganh ghét. Mỗi người là một thế giới riêng, không cùng nhau làm việc chung được. Nếu có cộng đồng, nhóm, một thời gian sau là phát sinh mầm mống chia rẽ.
Lòng trắc ẩn không còn thấy nhiều, thay vào đó những trò ném đá nhau, câu view với cảnh tang thương, lợi dụng để kiếm thêm tài chánh, lợi lộc…
Đôi khi dừng lại hỏi tại sao đã mất rồi cảnh xóm làng xưa kia, người trong làng xóm, biết nhau, thân nhau, chẳng nhà nào có tường rào, cửa đóng. Tình làng nghĩa xóm đã mất bởi những ngôi nhà cao, cửa rộng, nhưng đóng kín. Không còn những tự do qua lại giữa xóm làng mà chỉ có những phân cách giàu nghèo ngày càng rõ ràng xa cách. Tinh thần chung đã chết, giờ mạnh ai nấy sống, liên minh nhóm lợi ích, những liên kết làm ăn.
Cái chết về tâm linh
Cái chết về tâm linh có lẽ bắt đầu từ những xu thế tục hoá. Từ những lễ hội trở thành những show trình diễn, câu khách. Không còn tính cách trang trọng đời sống tâm linh. Ở đâu cũng thấy những hoành tráng ngày lễ, nơi này cử hành lớn hơn nơi kia. Sự cạnh tranh ngày càng thấy rõ nơi thờ tự, hành hương, lễ hội.
Chết về tâm linh nên cũng mất đi cảm thức về tội lỗi. Một nguy cơ hiện rõ khi Thánh Phao lô cảnh báo: “Không ai còn có lương tri, không ai tìm kiếm Thiên Chúa! Hết thảy đều lầm lạc, hư đốn cả lũ. Hành thiện, không có ai, một người cũng không!” (Rm 3, 11 – 12).
Tương đối hoá sự thiện. Thuyết tương đối hoá đã hình thành từ cổ xưa và càng ngày càng tinh vi trong các hoạt động. Đức Thánh Cha Benedicto XVI cảnh báo về những tương đối sự thiện: Không tin, không xác tín, huấn quyền xem nhẹ,cử hành phụng vụ vụng về, trang hoàng màu mè. Xem nhẹ tội lỗi, không cố gắng vượt qua những cám dỗ, yếu nhược tâm linh. Cậy dựa vào Lòng Thương Xót của Chúa mà bỏ qua những cố gắng tự sửa chữa lỗi lầm, bù đắp thiếu sót…
Suy nghĩ về những cái chết đáng sợ. Chúng con hầu như cái chết nào cũng có, ít hay nhiều. Xin cho chúng con biết Chúa nhiều hơn bằng những học hỏi chân lý, để tránh những sai lầm, tương đối hoá. Xin ban cho chúng con thêm nghị lực để chiến thắng được cái tôi ích kỷ, tìm về sống với anh chị em, nối lại những tình thân không đáng mất, tránh xa những dục vọng, đam mê.
Xin cho chúng con được sống và sống dồi dào!
52.Đời vô thường. Nay còn mai mất
(Suy niệm của Lm. Phêrô Nguyễn Văn Sơn)
Ngày mùng 10 tháng 10 năm 2020, giáo phận Thanh Hóa và nhiều người thân quen với tân linh mục Phêrô Mai Văn Khương bàng hoàng, đau đớn, chua xót khi hay tin tân linh mục về nhà Cha khi mới tròn 32 ngày trong sứ vụ linh mục. Cha mới Phêrô đã ra đi trên đường dâng lễ về. Bao tình cảm trào dâng khi nghĩ về cha. Ai mà không xót thương cho được, dẫu là không quen biết hay chưa một lần gặp gỡ cha Phêrô. Cha ra đi vội quá, cha ra đi nhanh quá, cha ra đi chóng vánh quá! Sự ra đi của cha hoàn toàn bất ngờ và chẳng ai bao giờ nghĩ đến. Giữa bao nhiêu cảm xúc tâm trạng trước sự ra đi của cha Phêrô, có lẽ tâm trạng suy nghĩ nhiều nhất đó chính là sự vô thường của con người. Nay còn mai mất và mất có thể bất cứ lúc nào, có thể mất ngay đêm nay như đêm mùng 10 tháng 10 vừa qua với cha Phêrô.
Sự ra đi của cha Phêrô làm cho tôi một lần nữa lại nghĩ về phận người mong manh và có thể ra đi như một cơn gió thoảng. Và có lẽ chữ “ngờ” là chữ mà con người không bao giờ nghĩ đến. Nhưng thật ít có ai lại thường hay suy nghĩ về cái chết của mình, và cũng ít người nào coi cái chết như một người bạn thường đi bên cạnh để giúp họ vượt qua những nỗi chán chường trong cuộc sống. Phần nhiều, những người còn trẻ còn khỏe thì bảo còn lâu mới chết, nên họ cứ lao đầu vào công việc, ăn chơi, thế nhưng cuộc đời cho thấy, đã có biết bao người chưa kịp hưởng nếm tuổi già thì đã ra đi, người khác lại cứ nghĩ rằng sự sống trần gian này là mãi mãi nên đã vun quén cuộc đời mình bằng mọi thủ đoạn, bất chấp tất cả, không tình người, thiếu tình Chúa. Thế nhưng thình lình cái chết ập đến mà chẳng thể mang theo được gì.
“Kiếp người như gió thoảng qua mau
Chưa thỏa lợi danh đã bạc đầu
Trẻ đẹp tài trí đều vô nghĩa
Thời gian tàn phá hết còn đâu!
Còn đâu giấc mộng đẹp giàu sang
Ái dục tham sân lắm bẽ bàng
Lãng phí chuỗi ngày vì danh lợi
Hết duyên dứt nghiệp sẽ tiêu tan
Đua tranh thành bại để làm chi?
Ganh ghét hơn thua để được gì?
Sẽ có một ngày buông tất cả
Vô thường chợt đến phải ra đi!
Ra đi bỏ hết lại trần gian
Danh nghiệp tài cao lẫn bạc vàng
Tất cả phải chăng là hư ảo
Chỉ còn tội phước phải vương mang” (Huỳnh Ngọc Anh Kiệt)
Như thế, chết là định luật tất yếu của con người, có sinh ắt có tử, như có nhà triết gia đã nói: “khi sinh ra là lúc khởi đầu con người tiến về cõi chết”. Tuy nhiên, chết ở đâu, hay chết cách nào, khi nào mới chết thì không ai hay biết. Nhưng chết không phải là dấu chấm hết tất cả, như các tôn giáo vẫn tin: Chết là về với Đấng Ala, về Niết Bàn, về miền Cực Lạc, về Nước Thiên Đàng… và hôm nay đứng trước nấm mồ của người thân yêu chúng ta, họ đã ra đi, nhưng đâu phải mất hẳn, nên chúng ta mới đi tảo mộ và xin lễ cầu nguyện cho linh hồn người thân yêu của mình. Một cái gì đó làm ta tin chắc rằng, họ vẫn ở bên ta. Vậy thì chết đâu phải hết. Cuộc đời này đâu phải chỉ dừng lại ở đây. Còn một cái gì khác hơn, siêu việt hơn bên kia cuộc sống chứ? Cho nên Chúa Giêsu mới căn dặn các môn đệ về sự tỉnh thức trước cái chết hay để đón chờ Chúa đến lần thứ hai trong cuộc đời của mỗi người.
Tinh thần đón chờ này được ví như người đầy tớ đón chờ ông chủ đi ăn cưới về (Lc 12, 35-38). Người đầy tớ không hề biết bao giờ ông chủ về, vì đám cưới của người Do thái thường kéo dài có khi buổi sáng, có khi cả ngày hay tới đêm khuya… Tuy nhiên, sự chờ đợi của họ không phải chỉ có ngồi và chờ, nhưng phải thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Như vậy, họ phải luôn trong tư thế làm việc sẵn sàng. Tại sao vậy? Thưa! Vì người đầy tớ không hề mảy may biết được lúc nào, giờ nào ông chủ trở về. Sự xuất hiện của ông bất thình lình đến độ như tên trộm.
Như vậy, tỉnh thức mà Đức Giêsu nói đến ở đây chính là mỗi người cần có thái độ sẵn sàng đón chờ ngày Chúa đến; chờ đợi cái chết của chính mình trong tinh thần của kẻ tỉnh thức với đầy đủ đèn, dầu trong tay là một cuộc sống lành thánh, chan hòa với anh chị em.
Có khó gì đâu một nụ cười,
Một lời tử tế thấy đời tươi.
Chung vui bạn hữu tình thân ái
Quên sớm, chiều, trưa nhọc kiếp người.
Cùng với đó là những hy sinh, những việc đạo đức và chu toàn bổn phận… để sống trong ơn Chúa. Đừng vì lười biếng mà ru ngủ đời mình trong những đam mê yếu đuối, và lầm lạc. Trong thư của thánh Phêrô (1Pr1, 13-16) giải thích thế nào là tỉnh thức: “Đừng chiều theo những đam mê… sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em”. Hãy luôn đủ khôn ngoan để chuẩn bị dầu đèn luôn cháy sáng là những hành vi bác ái đầy yêu thương thấm đượm tình Chúa, tình người. Để một khi đối diện cái chết chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, bình an và thanh thản như người con đi vào giấc ngủ trong bàn tay của cha và sau cùng được hưởng nếm nguồn vui, hạnh phúc bất diệt cùng với ông chủ của mình là Thiên Chúa trong Nước Trời.
53.Ra đi cũng là trở về
(Suy niệm của Lm. Inhaxiô Trần Ngà)
Ga 14, 1 - 4
Đối với những ai không tin có sự sống đời sau thì cái chết là thảm hoạ khủng khiếp nhất trên đời, vì khi chết đến, nó sẽ cướp đi tất cả, không những là tất cả tài sản, của cải tiền bạc, công danh sự nghiệp của một đời người, mà còn cướp luôn mạng sống của họ.
Tuy nhiên, đối với các Ki-tô hữu, cái chết không còn bi đát hãi hùng, không phải là một mất mát, nhưng là một sự trở về: chết là về nhà Cha.
Xin mượn câu chuyện sau đây để minh họa cho chân lý nầy:
Năm người con đưa tiễn người mẹ yêu quý xuống tàu vượt biển đến một bến bờ xa cách vạn dặm nằm bên kia bờ đại dương bát ngát.
Tàu rời bến, họ vẫy tay tiễn biệt mẹ mà lòng tê tái buồn đau. Họ đứng lặng trên bờ, đăm đăm nhìn con tàu rẽ sóng đưa mẹ ra khơi cho đến khi con tàu chỉ còn là một đốm trắng li ti và mất hút ở cuối chân trời. Mắt mỗi người đều ngấn lệ vì mẹ đã đi xa, tưởng như không bao giờ trở lại.
Mấy ngày sau đó, ở bờ bên kia của đại dương, ông bà ngoại, cậu, dì và nhiều người thân yêu đang tụ tập trên bến chờ đón mẹ về. Và khi thấy thấp thoáng từ xa con tàu buồm trắng mà họ tin là có mẹ trên đó, thì họ cảm thấy tâm hồn nao nức mừng vui. Đến khi mẹ vừa ra khỏi tàu, thì ông bà ngoại, cậu dì chạy ra ôm choàng lấy mẹ, mọi người rất vui mừng hân hoan vì đã chờ đợi mẹ rất lâu mà mãi tới hôm nay mới có ngày sum họp.
Thế là việc ra đi của mẹ ở bờ bên nầy lại là sự trở về của mẹ ở bờ bên kia. Sự vĩnh biệt đau thương bên nầy được tiếp nối với cuộc đoàn tụ hân hoan hạnh phúc ở bờ bến khác.
Chúa Giê-su dạy ta biết sự chết như là con tàu buồm trắng trong câu chuyện trên đây, đưa người ta rời khỏi bến nầy để đưa họ sang bờ bến khác, giúp con người từ giã thế giới tạm bợ đời nầy để bước vào thế giới vĩnh cửu, để được đoàn tụ với Thiên Chúa, với ông bà tổ tiên và thân nhân đã lìa đời trên thiên quốc.
Chính vì thế, qua trích đoạn Lời Chúa trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su an ủi những ai còn ở bờ bên nầy, nghĩa là những người còn sống trên dương gian rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,1-3).
Như thế, ngày chết mà người ta gọi là ngày đại hoạ, ngày kinh hoàng, thì đối với người tin Chúa, đó lại là ngày đoàn tụ sum vầy. Ngày đó, chúng ta sẽ được “đồng hưởng sự sống đời cùng với Đức Trinh nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa; Thánh Giu-se bạn trăm năm Đức Trinh nữ; các Thánh Tông đồ và toàn thể các Thánh đã sống đẹp lòng Chúa qua mọi thời đại[1]”, nếu hôm nay ta sống theo Lời Chúa dạy.
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa đi trước để dọn chỗ cho đoàn con và mai đây Chúa sẽ trở lại để đưa đoàn con về với Chúa.
Xin cho anh chị em tín hữu đã ly trần nhưng còn đang được thanh luyện, sớm thoát khỏi chốn luyện hình để đến nơi Chúa đã dọn sẵn cho họ trên thiên quốc và được đồng hưởng hạnh phúc cùng với Ba Ngôi Thiên Chúa và triều thần thánh đến muôn đời. Amen.
----------------------
[1] Kinh nguyện Thánh Thể II
54.Nấm mồ cuộc đời
(Suy niệm của Lm. Jos Nguyễn Huy)
Như “đến hẹn lại lên”, Giáo hội dành cả tháng cầu hồn không chỉ như là một cơ hội để chúng ta suy ngẫm về cuộc đời mà cũng còn là cơ hội để chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người thân yêu bằng việc đi đến với các mộ phần của những người thân yêu và dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện cho họ. Những mộ phần ấy tuy có thể khác nhau về vị trí, về kích thước, về kiến trúc và hình dáng … Có những nầm mồ có thể được làm bằng những tảng đá khang trang và vững chắc hoặc chỉ đơn giản là một nấm đất cát lụi tàn với thời gian và mọc trên nó là những đám cỏ vàng úa, màu của mùa Thu, mùa của những chiếc lá rơi về cội.
Tuy khác nhau như vậy, nhưng tất cả các nầm mồ ấy có chung một điểm đó là nó mang trên mình triết lý của cuộc đời và ý nghĩa sâu xa của cuôc sống.
1. Nầm mồ là bằng chứng hùng hồn về một thực tại mà không ai có thể chối cãi được, đó là sự chết. Thật trớ trêu và nghịch lý khi cái chết lại chính là một phần của cuộc sống.Cố nhạc sĩ Trinh Công Sơn đã viết rằng: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về cát bụi.” Được sinh ra từ lòng đất mẹ và khi nhắm mắt xuôi tay con người cũng được đất mẹ ôm vào lòng. Dù có ốm đau hay mạnh khoẻ, dù có đoản thọ hay trường thọ thì con người trước sau cũng phải nằm xuống nơi những nấm mồ lạnh lẽo u ám. Chính vì thế mà nhà thơ Nguyễn Du đã có vẻ bi quan mà thốt lên rằng:
“Trăm năm nào có gì đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.”
Vâng, nếu ai đó sánh vì cuộc đời của con người ở trần thế này như một bản nhạc thì “một nấm cỏ khâu xanh rì” chính là dấu chấm hết cho bản nhạc cuộc đời ấy.
2. Nầm mồ mang trên mình một sứ mạng lịch sử bởi vì nó mang trong mình thân xác của một con người. Dù người đó là già hay trẻ thì cũng đã từng tồn tại, đã từng sống nơi làng quê, thôn xóm chúng ta. Họ là những con người ở những thế hệ khác nhau và họ đã chứng kiến biết bao nhiêu những thăng trầm lịch sử, sự hình thành và phát triển của làng quê ấy. Và khi họ nằm xuống thì họ mang theo lịch sử của nơi mà họ đã từng sinh sống. Nếu như các thế hệ con cháu không lưu tâm để ý học hỏi thì rất có thể lịch sử sẽ bị chôn vùi và quên lãng dưới những nấm mồ lạnh lẽo.
3. Nấm mồ trả lại cho con người sự công bằng. Con người ai sinh ra cũng đều trần trụi với hai bàn tay nắm chặt và cất lên những tiếng khóc chào đời. Có một triết gia còn ví von rằng: Đứa trẻ khi sinh ra lúc nào cũng nắm chặt tay như ích kỉ muốn chiếm lĩnh cả thế gian. Nhưng khi nó còn quá nhỏ và không làm được điều đó thì nó khóc thét lên. Khitrưởng thành, con người có thể bị chia rẽ, phân biệt đối xử vì sự giàu có và quyền lực khiến cho cuộc sống đôi khi bất công bằng. Nhưng khi chết thì ai cũng nhắm mắt xuôi tay. Như thế, khi sinh ra thì tay nắm và lúc chết đi thì xuôi tay, ai cũng giống ai, chẳng mang theo được gì và nấm mồ đã san bằng mọi khoảng cách của mọi con người, đưa họ trở về với điểm xuất phát và trả lại cho họ sự công bằng.
4. Nấm mồ giúp họ nhận thức giá trị của cuộc sống bởi vì đơn giản không có cái chết thì sẽ chẳng ai có thể nhận thức ra cuộc sống và giá trị của nó. Nếu mỗi con người nhận thức ra được giá trị đích thực của cuộc sống thì họ sẽ nhận biết được Đấng đã làm lên sự sống và nhờ đó họ sẽ biết trân trọng sự sống và sống tốt hơn.
5. Nấm mồ là trạm dừng chân trong cuộc hành trình phục sinh. Không ai tạo dựng nên cái gì chỉ để ngay sau đó tự tay mình hủy hoại nó đi. Thiên Chúa không tạo dựng nên con người để hủy diệt, để chết đi nhưng là để yêu thương và mời gọi họ tham dự vào sự sống đời đời nơi Thiên Chúa. Và như thế, nấm mồ trở thành một trạm dừng chân để những ai tin vào Đức Kitô sẽ sống lại trong ngày sau hết và sống hạnh phúc đời đời.
Như thế, nấm mồ không chỉ đơn thuần là những nấm đất vô nghĩa hay những tảng đá lạnh lẽo vô hồn mà nó mang trên nó cả một triết lý của cuộc đời. Nơi đó, những ai tin vào Thiên Chúa đang chờ ngày sống lại vinh quang. Amen.
55.Xin đừng quên tôi
(Suy niệm của Trầm Thiên Thu)
“Xin đừng quên tôi!” là ý nghĩa theo tiếng Anh của một loài hoa: Forget-me-not. Tiếng Việt gọi là Lưu Ly Thảo. Hoa nhỏ và có màu tím buồn. Ý nghĩa của loài hoa này nói về sự chung thủy trong tình yêu đôi lứa. Tuy nhiên, nó vẫn mang những ý nghĩa khác. Với người Công giáo, Lưu Ly Thảo cũng đang nhắc nhở về lời kêu cứu khẩn khoản của các linh hồn nơi luyện hình: “Xin đừng quên tôi!”.
Là những người thuộc Giáo hội Chiến đấu, Giáo hội Lữ hành, chúng ta vừa mừng kính chư thánh thuộc Giáo hội Khải hoàn, những người đã được hưởng Phúc Trường Sinh, chúng ta gọi họ là Thánh. Giáo hội muốn chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho các vị-thánh-tương-lai, đặc biệt trong Tháng Cầu Hồn, vì chắc chắn họ sẽ được hưởng phúc trường sinh nay mai, trong đó có những người thân thiết của chúng ta. Họ được vào Thiên đàng sớm hay muộn là nhờ chúng ta, vì lúc này họ đành “bó tay”, chịu thúc thủ, không thể làm gì được.
Thánh Gioan Tông đồ cho biết thị kiến: “Tôi thấy những người chết, lớn cũng như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác cũng đã mở ra: đó là Sổ Trường Sinh. Các người chết được xét xử tuỳ theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách. Biển trả lại những người chết nó đang giữ; Tử thần và Âm phủ trả lại những người chết chúng đang giữ, và mỗi người chịu xét xử tuỳ theo các việc đã làm. Tử thần và Âm phủ bị quăng vào hồ lửa. Hồ lửa này là cái chết thứ hai. Ai không có tên ghi trong Sổ trường sinh thì bị quăng vào hồ lửa” (Kh 20:12-15). Các linh hồn nơi luyện hình đã được cấp Visa-Sự-Sống, chỉ còn chờ ngày “bay” về Thiên Đàng thôi.
Khi cầu nguyện cho họ thì lại là chính cầu nguyện cho chúng ta. Đúng như Thánh Phanxicô Assisi nói: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Tuy nhiên, dù các linh hồn không tự “cải thiện” mức án, nhưng các ngài vẫn có thể cầu nguyện cho chúng ta. Hy vọng mai đây mỗi chúng ta cũng được “phân loại” là “chiên” và được nghe Chúa nói: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ” (Ga 11:25-26).
Thiên Chúa yêu thương mọi người, chỉ muốn mọi người được về sống chung với Ngài trên Thiên quốc, Ngài không phân biệt ai và không muốn ai phải mất Ngài. Thánh Phaolô nói: “Phải chăng Thiên Chúa đã ruồng bỏ dân Người? Không phải thế! Chính tôi đây cũng là người Ít-ra-en, thuộc dòng dõi Áp-ra-ham, thuộc chi tộc Ben-gia-min. Thiên Chúa không ruồng bỏ dân Người, dân mà Người đã biết từ trước” (Rm 11,1-2a).
Thánh Phaolô nói thêm: “Phải chăng Ít-ra-en đã vấp đến mức phải ngã quỵ? Không phải thế! Nhưng vì họ sa ngã mà Thiên Chúa cho các dân ngoại hưởng ơn cứu độ, khiến họ phải ganh tị. Nếu vì người Do-thái sa ngã mà thế giới được ơn phúc dồi dào, nếu vì họ suy vi mà các dân ngoại được ơn phúc dồi dào, thì khi họ trở về đông đủ, tình trạng còn tốt đẹp hơn biết mấy!” (Rm 11:11-12).
Vô tri bất mộ – không biết không thích. Biết rồi thích. Thích rồi mến. Mến rồi yêu. Yêu rồi mê. Mê rồi say. Say rồi bạo (bạo dạn), tức là can đảm. Thánh Phaolô đã theo “chuỗi hệ lụy” đó, thế nên ngài phải nói ra: “Thưa anh em, tôi không muốn anh em chẳng hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự cho mình là khôn, đó là: một phần dân Ít-ra-en đã ra cứng lòng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ. Như vậy, toàn thể Ít-ra-en sẽ được cứu độ, như có lời chép: Từ núi Sion, vị Cứu Tinh sẽ đến, Người sẽ loại bỏ những điều vô đạo khỏi nhà Gia-cóp. Đó sẽ là giao ước của Ta với chúng, khi Ta xoá bỏ tội lỗi chúng” (Rm 11:25-27).
Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa thương xót, thế nên Ngài mới kêu gọi chúng ta theo Ngài. Để làm gì? Để Ngài trao ban hạnh phúc trường sinh. Ngài là Đấng trung tín tuyệt đối: “Khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi thì Người không hề đổi ý” (Rm 11:28-29). Thật là hạnh phúc cho những tội nhân khốn kiếp như chúng ta.
Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh đặt giả thuyết: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? (Tv 130:3). May mà đó chỉ là giả thuyết, không là sự thật: “Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài” (Tv 130:4). Kiếp lữ hành quá khổ, ai cũng muốn được giải thoát, nhưng chẳng tìm đâu ra ngoài Thiên Chúa: “Mong đợi Chúa, con hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người. Hồn con trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông” (Tv 130:5-6). Lính gác đêm hoặc ngày cũng đều mỏi mệt lắm, chỉ mong hết giờ gác. Nhưng niềm khao khát Chúa còn hơn vậy. Thật tốt lành cho người nào biết tìm kiếm Chúa như thế! Tìm được Ngài rồi thì hạnh phúc gấp bội, hoàn toàn an tâm: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Tv 23:1).
Tìm kiếm Chúa làm gì? Có ai thấy Chúa đâu mà tìm? Những người vô thần bảo “tôn giáo là thuốc phiện ra ngủ”, chính Karl Marx còn quyết tâm triệt tiêu niềm tin tôn giáo kia mà? Không thấy Chúa sao vẫn muốn triệt? Thiên Chúa là Sự Sống mà sao họ lại muốn giết chết sự sống? Phải chăng tự mâu thuẫn? Gương Saolê nhãn tiền còn đó! Cũng tương tự, người ta công khai nhận mình theo chủ nghĩa duy vật mà sao vẫn thắp nhang khấn vái người quá cố? Phải chăng duy vật chỉ là “cái hộp” đựng “duy tâm” hoặc “duy linh” bên trong? Lại tự mâu thuẫn!
Một hôm, tại hội đường Ca-phác-na-um, Chúa Giêsu nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6:51).
Thế nên, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:52). Nếu là chúng ta lúc đó thì chắc chắn cũng thế thôi!
Nhưng Đức Giêsu nói “dài hơi” và đầy tính quyết liệt: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:53-58). Tuy nhiên, đầu óc “bã đậu” của phàm nhân làm sao hiểu thấu!
Nghe nói vậy, không ai khác là chính các môn đệ còn nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6:60). Kiểu như phàm nhân nói: “Giòi trong xương giòi ra”. Các đệ tử ruột còn chưa nghe nổi thì ai nghe nổi? Chúa Giêsu biết các đệ tử xì xầm, nhưng Ngài làm ngơ, nói với đầu gối còn hơn!
Các linh hồn nơi luyện hình cũng đã từng ăn Thịt Chúa và uống Máu Chúa, rồi các ngài cũng sẽ được sống đời đời như lời Chúa Giêsu đã hứa, dù lúc này còn phải chịu thanh luyện trong “lửa”. Mà Chúa đã hứa thì chắc cú!
Thánh Faustina tâm sự: “Tôi bị thiêu đốt trong lòng bằng lửa yêu mến Chúa và muốn cứu các linh hồn mà tôi cảm thấy mình bị thiêu đốt. Tôi sẽ chiến đấu với ma quỷ bằng Vũ khí Lòng Chúa Thương Xót. Tôi khao khát cháy bỏng là cứu các linh hồn. Tôi đi xuyên qua sức mạnh và hơi thở của thế giới và mạo hiểm đến nỗi các biên giới và các vùng đất hoang vu nhất để cứu các linh hồn. Tôi làm điều này bằng cách cầu nguyện và hy sinh” (Nhật Ký, số 754). Tình yêu của Thánh Faustina lớn lao quá!
Các linh hồn ngày đêm kêu than van vỉ: “Xin đừng quên tôi!”. Giáo hội Lữ hành hãy lắng nghe họ, xin cho họ hưởng nhờ những “giọt nước mát lạnh”.
Thiên Chúa là tất cả. Ước gì mọi người đều nói được như Thánh Thomas Aquino, Linh mục Dòng Đa-minh, Tiến sĩ Giáo hội, tác giả bộ Tổng luận Thần học “kếch sù”, rằng: “Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài mà thôi”. Đó là phần thưởng cao quý nhất và tuyệt vời nhất.
Lạy Thiên Chúa, xin thương xót mà tha thứ hình phạt cho các linh hồn, cho họ được sớm mãn hạn tù tội, xin cho các linh hồn về hưởng phúc trường sinh bên Ngài muôn đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
56.Sứ điệp từ những nấm mồ
(Suy niệm của Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long)
Khi còn sống với nhau trên trần gian, chúng ta chia sẻ với nhau những lo âu, những hy vọng, những kỷ niệm buồn vui, những thành công, thất bại, những lời chê trách hay những vỗ về, an ủi, phấn chấn nhau? nhưng khi một bên đã quá cố, sợi dây liên lạc đó không còn cụ thể hữu hình như khi xưa nữa. Người còn sống và người quá cố liên lạc với nhau qu tâm tình nhớ nhung thương mến. Đó đây như vong linh người quá cố vẫn luôn vảng vất trong cuộc sống người còbn đang sống.
SỢI DÂY LIÊN LẠC
Người đã đi về thế giới bên kia nằm sâu dưới lòng đất hay đã tiêu tan ra tro bụi. Người còn sống trên mặt đất buồn sầu tưởng nhớ người đã vĩnh viễn ra đi không có ngày trở lại cuộc sống trên trần gian nữa.
Người còn sống lần giở lại những hình ảnh kỷ niệm xa xưa, những giờ phút năm tháng chung sống cùng nhau đã trải qua để nhớ về người đã quá cố. Những kỷ niệm này làm sống lại đời sống năm xưa hy vọng phần nào củng cố tinh thần nghị lực tiếp tục cuộc anh phải sống trên trần gian.
Tâm tình này rất nhân bản và cần thiết cho đời sống mỗi người. Tâm tình này nói lên lòng trung thành và lòng biếty ơn với nhau:khi còn chung sống với nhau hay đã ra người thiên cổ, chúng ta vẫn có nhau!
Tâm tình này sống động trong mọi dân tộc vào mọi thời gian. Đâu đâu những nghĩa trang cũng được chăm sóc cẩn thận.
Người Công giáo hằng năm vào ngày 2-11 có tập tục đạo đức hiếu thảo tốt lành thăm viếng phần mộ người thân thuộc đọc kinh cầu nguyện cho họ. Ở các xứ đạo sau thánh lễ ngày 1 - 11 hoặc những ngày kế tiếp, cha xứ và giáo dân trong xứ tụ tập ở nghĩa trang đọc kinh và làm phép mồ mả. Vào ngày này thân nhân người quá cố dọn dẹp trang hoàng mồ mả với hoa nến, để nói lên lòng thành kính thương mến với người quá cố và cũng để nói lên niềm tin: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại và sự sống đời sau!
SỨ ĐIỆP TỪ NHỮNG NẤM MỒ
Trên những phần mộ thường có cây Thánh giá. Cây Thánh giá nói lên niềm tin: Chúa Giêsu đã hy sinh chịu chết trên đó để cứu chuộc con người khỏi vòng liên lụy của tội lỗi. Thánh giá Chúa Giêsu là ơn cứu độ niềm hy vọng cho con người.
Trên đó cũng thường có tấm bia có khắc ghi di ảnh người quá cố với ngày tháng năm cùng nơi sinh ra và ngày tháng qua đời. Cũng trên tấm bia có khắc 3 chữ: R. I. P. Đây là 3 chữ tắt của câu bằng Latinh: requiescat in pace - Ông, bà, anh, chị, em?an giấc ngàn thu!
Có những tấm bia trên phần mộ ghi lại câu kinh thánh hay những lời từ biệt lời cám ơn. Phải chăng chết đi về thế giới bên kia là hết, là chấm dứt mọi liên đới?
Chúa Giêsu trong bữa Tiệc ly với các tông đồ đã nói với họ lời từ giã trước khi tự nguyện hy sinh chịu chết: Thày đi về cùng Cha Thày! (Ga 14, 1-14). Lời từ biệt này nói lên mối dây ràng buộc niềm tin và tình yêu vào Thiên Chúa.
Người thân yêu đã ra đi, theo niềm tin của người Công giáo chúng ta, cũng như Chúa Giêsu: về cùng Thiên Chúa Cha. Như thế họ cũng để lại di chúc lời từ giã như sau:
Tôi ra đi bây giờ nằm sâu dưới lòng đất, nhưng tôi tin rằng tôi trở về cùng Thiên Chúa, Đấng sinh thành ra tôi.
Tôi nằm sâu trong lòng nấm mồ này, nhưng tôi vẫn hằng hy vọng trông mong Thiên Chúa sẽ cứu độ tôi và sẽ cho tôi sống lại được hưởng đời sống bất diệt như Ngài đã cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết.
Tôi bây giờ nằm chôn kín trong nấm mồ xây kín bằng ximăng cát đá, nhưng tôi hằng có tâm tình yêu mến Thiên Chúa của tôi, vì Ngài là Cha đời tôi. Và tôi biết Ngài hằng yêu mến tôi.
Đứng trước nấm mồ người quá cố, tâm tình buồn thương nhớ tiếc làm sống lại những hình ảnh kỷ niệm buồn vui năm xưa. Thánh Giá Chúa Giêsu và cây nến cháy sáng trên phần mộ tựa như những lời nhắn nhủ của người quá cố nói với người thân còn sống: Tôi đi về cùng Thiên Chúa Cha, về cùng Đấng là nguồn sự sống và nguồn tình yêu.
57.May mắn được sống sót
(Suy niệm của Mark Link SJ.)
Bài đọc: Đn 12 ; 1-3 ; Dt. 10: 11-14 ; Mc 13: 24-32
Chủ đề: Trong ngày cuối cùng, chỉ có hai điều là đáng kể, là tinh thần phục vụ và tình thương ta dành cho tha nhân.
Bộ phim Occurrence at Owl Creek Bridge (biến cố xảy ra ở cầu Owl Creek) kể lại chuyện một người đàn ông sắp bị treo cổ. Bọn lính địch của anh dẫn bộ anh ra một chiếc cầu bắc ngang qua sông Owl Creek. Chúng lấy một tấm ván đặt một phân nửa lên cầu còn phân nửa kia để lòi ra khỏi thành cầu. Đoạn một tên lính đứng lên nửa tẩm ván trên thành cầu, còn người tử tội bị dẫn ra đứng trên nửa tấm để lòi ra khỏi thành cầu. Kế đó, người ta cột chặt tay chân người tử tội, đoạn thòng một sợi dây từ đỉnh cầu xuống quấn vào cổ anh ta. Khi mọi sự đã sẵn sàng, viên chỉ huy sẽ ra hiệu lệnh thì người lính sẽ nhảy ra khỏi tấm ván, lập tức người tử tội bị hất xuống phía dưới với sợi dây siết vào cổ anh.
Ngay bấy giờ một điều kỳ lạ đã xảy ra. Sợi dây bị đứt và người tử tội rơi tỏm xuống lòng sông. Anh ta chìm sâu dưới nước. Lúc bấy giờ anh ta ý thức được mình vẫn còn sống và anh cố gắng tháo gỡ dây trói nơi tay và chân ra. Thật kỳ diệu thay, anh đã tự cởi trói cho chính mình được. Thế rồi khi nhận ra mình có cơ may sống sót, anh ta bắt đầu lặn sâu xuống. Sau đó, anh bơi ngang qua một cành cây đang bềnh bồng trên mặt nước. Anh xúc động vì vẻ đẹp của những tàu lá cây. Anh sững sờ vì những đường gân phức tạp nơi tàu lá. Một lúc sau, anh nhìn thấy một chú nhện đang giăng lưới. Anh lại xúc động trước vẻ đẹp của nàng nhện và những giọt nước bám vào đó lấp lánh không khác gì những hạt kim cương. Anh cảm thấy mình sũng nước, anh liền ngước lên nhìn vào bầu trời xanh biếc, đối với anh, chưa bao giờ thế giới lại xinh đẹp thế!
Bỗng nhiên đám lính đứng trên đầu cầu bắt đầu nhả đạn xuống. Anh liền cố gắng lướt tới dưới làn mưa đạn, bơi nhanh nhẹn như một chú rắn nước băng qua nhiều ghềnh thác. Cuối cùng, anh cũng bơi được vào bờ và hoàn toàn kiệt sức. Anh ngã xuống cát, lăn qua lăn lại. Khi ngước nhìn lên anh trông thấy một bông hoa. Anh liền bò tới đưa mũi ngửi và thầm nhủ: Ôi! Mọi sự sao mà đẹp thế! được sống sót quả là một điều vĩ đại biết bao! Nhưng ngay sau đó có tiếng đạn rít qua các tàng cây; anh vội đứng lên và bắt đầu co giò chạy tiếp. Anh chạy hoài chạy mãi tới khi đến được một căn nhà có hàng rào trắng bao quanh. Những cánh cổng bỗng mở ra một cách kỳ diệu. Anh không thể nào tin vào mắt mình: thế là anh đã về được đến nhà bình an. Anh gọi tên vợ anh và nàng vội chạy thật nhanh ra cổng giang tay chào đón anh.
Ngay khi họ vừa ôm nhau, máy quay phim mang chúng ta trở lại chiếc cầu Owl Creek. Bây giờ, chúng ta lại không thể tin được vào mắt mình khi nhìn thấy xác của chính anh ta bị treo thòng xuống đang đong đưa qua lại với sợi dây siết quanh cổ. Té ra anh đã chết rồi!
Quả thực ai cũng cảm thấy sững sờ: thế là mọi nỗ lực trốn chạy và cơ may được sống sót chỉ là sản phẩm thuần tuý của trí tưởng tượng thôi. Người đàn ông ấy chả hề chạy thoát được chút nào. Anh ta chỉ tưởng tượng ra điều ấy trước giây phút cảm thấy cái chết cận kề. Anh mơ thấy mình có cơ may được sống lần thứ hai. Và bỗng dưng anh cảm nhận sự sống ấy bằng đôi mắt hoàn toàn mới lạ.
Lần đầu tiên, người tử tội cảm thấy thế giới này quả là một nơi tuyệt hảo. Lần đầu tiên anh ta thấy cuộc sống quả là món quà quí báu mà anh và những người thân yêu của anh cũng được hưởng. Phải chi anh đã thực sự trốn thoát được và có một dịp may được sống sót lần thứ hai. Lúc đó chắc hẳn anh sẽ sống cuộc sống mới này một cách khác thường biết bao!
Điều này gợi lên cho ta một câu hỏi. Tác giả bộ phim đã nghĩ gì trong trí ông dựng một câu chuyện này. Ông muốn nói gì với khán giả? Nói cách khác tại sao tác giả đã cố ý phỉnh gạt chúng ta? Tại sao ông lại dựng nên một sự thất vọng khủng khiếp đến thế? Tại sao ông lại làm cho chúng ta tưởng rằng người tử tội ấy có được cơ may sống sót?
Theo tôi, điều nằm trong tâm trí tác giả bộ phim cũng chính là điều nằm trong tâm trí Chúa Giêsu qua bài Phúc Âm hôm nay. Tác giả cuốn phim nói với chúng ta: “Người tử tội trong câu chuyện của tôi là chính các bạn. Anh ta đã không có may mắn được sống sót, nhưng nhờ chia xẻ Kinh nghiệm của anh ta mà các bạn chắn chắn sẽ có được cái cơ may đó”. Tác giả nói tiếp: “Rồi một ngày nào đó các bạn cũng sẽ phải chết giống như người tử tội trên. Không ai biết được bao giờ mình sẽ chết, nhưng chắc chắn giờ đó sẽ đến cũng như nó đã đến với người tử tội trên”.
Cách đây vài năm, bà bác sĩ Kubler-Ross thuộc trường Đại học Chicago có viết cuốn sách nhan đề: Chết và hấp hối (Death and Dying). Cuốn sách được viết ra là vì bà thường xuyên tiếp xúc với những bệnh nhân sắp chết. Bàn về những cảm nghĩ của những bệnh nhân ấy về cuộc sống lúc họ nhìn ngược lại quá khứ khi đối diện với cái chết, bà viết: “Khi phân tích mọi sự lần cuối cùng, họ thấy rằng chỉ có hai điều này là quan trọng thôi: Tình yêu đối với tha nhân, và tinh thần phục vụ tha nhân. Tất cả những gì khác mà ta đã từng cho là quan trọng, chẳng hạn như danh tiếng, tiền bạc, uy tín, quyền lực, thì đều là vô nghĩa”. Nhận xét này hoàn toàn phù hợp với điều Chúa Giêsu dạy bảo lúc Ngài còn ở dương trần. Ngài nói: “Con Người không đến để được phục vụ, mà Người đến để phục vụ” (Mc 10: 45) và Ngài cũng nói: “Các con hãy yêu thương nhau như ta yêu thương các con” (Ga 15: 12)
Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ đến lúc chúng ta sẽ phải gặp Chúa Giêsu vào cuối đời chúng ta hoặc vào lúc tận cùng thế giới - bất kể lúc nào xảy ra trước. Bài Phúc Âm này mời gọi chúng ta tự vấn chính mình xem liệu vào lúc ấy, tinh thần phục vụ và tình tình yêu của chúng ta có được kể là thoả đáng không?
Không giống như người tử tội trong câu chuyện, chúng ta có được dịp may còn sống để chuẩn bị cho giờ phút ấy, bắt đầu ngay từ bây giờ. Chúng ta sẽ làm gì với dịp may này của chúng ta? Chúng ta có chân thành nỗ lực yêu thương như Chúa Giêsu đã làm không? chúng ta có chân thành nỗ lực phục vụ tha nhân như Chúa Giêsu đã làm không?
Chỉ chúng ta mới có thể tự trả lời cho câu hỏi ấy, câu trả lời rất quan trọng, có thể là quan trọng nhất trong tất cả những câu trả lời của con người.
Trước khi kết thúc, tôi xin đọc một đoạn văn trích trong tác phẩm God’s Trombones (Tiếng kèn của Chúa) của tác giả Weldon Johnson, trong đó ông mô tả cái chết của một phụ nữ thánh thiện.
“Chị đã thấy những cái chúng ta không thấy được. Chị đã thấy Thần Chết. Chị đã thấy ông ta đến như một ngôi sao băng. Nhưng cái chết đâu có làm cho chị nữ tu Caroline sợ hãi. Chị đã nhìn Thần Chết như một người bạn thân, như một vị khách qúi. Chị đã thì thầm nói với chúng tôi: “Tôi đang trở về nhà tôi”. Rồi chị mỉm cười nhắm mắt lại”.
58.“Con Người sẽ đến trên đám mây”
(Suy niệm của Noel Quesson)
Khi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ngã bệnh nặng, các bác sĩ không nói gì về bệnh tình, nhưng người biết mình khó sống và thường nói: “Tôi đã sắp sẵn hành trang”. Vào ngày cuối cùng, vị thư ký riêng tới bên giường hôn tay Đức Giáo Hoàng và hỏi thăm xem ngài biến chuyển ra sao. Đức Gioan trả lời;
- Cha thấy dễ chịu và an bình trong tay Chúa, nhưng cũng hơi lo.
Vị thư ký nói:
- Cha không phải lo. Nhưng chúng con đang lo đây. Chúng con mới nói chuyện với các bác sĩ…
Đức Giáo Hoàng ngắt lời hỏi:
- Họ nói với con thế nào?
Vị linh mục thư ký nghẹn ngào nói:
- Thưa Đức Thánh Cha, con phải nói sự thật: Hôm nay là ngày của Chúa. Hôm nay Cha sẽ về Thiên đàng.
Nói xong, vị thư ký quỳ xuống bên giường ôm mặt khóc. Đức Giáo Hoàng âu yếm xoa đầu vị thư ký và ôn tồn nói;
- Mọi khi con can đảm lắm, sao giờ mềm yếu vậy? con vừa cho ta nghe những lời hay đẹp nhất mà một vị linh mục có thể nói: Hôm nay Cha sẽ về Thiên Đàng.
Phải có một niềm tin vững mạnh, người ta mới có thể bình thản như vậy lúc từ giã cõi đời. Kết thúc cuộc sống trần gian cũng như ngày tận thế mà Chúa muốn được thưởng thì phải qua thử thách, và cũng chắc chắn nếu ta cầu xin và cố gắng, Chúa sẽ ban ơn để ta thắng vượt cơn thử thách này.
Những thử thách trước tận thế thuộc ba loại; Trước hết là các ngôn sứ giả hiệu và cả Mêsia giả nữa, họ tìm cách lừa dối, lung lạc niềm tin các tín hữu. Rồi đến các tai nạn tự nhiên, đói khát, chiến tranh, thiên tai động đất… Sau cùng các Kitô hữu sẽ bị bách hại.
Những thử thách này cốt luyện niềm tin các tín đồ, người nào trung kiên sẽ được vui mừng đón Chúa trong vinh quang. Đây là lần đầu tiên Chúa nói tới quyền uy của Người: Chúa sẽ ngự trên mây cao xét xử trần gian. Kiểu nói này vốn dành cho Thiên Chúa, và như vậy Chúa Giêsu đã xưng mình là Thiên Chúa.
Trong bài giảng này Chúa nói về hai biến cố một lúc: biến cố phá huỷ thành đô Gialiêm và việc tận thế. Người Do Thái coi việc phá huỷ Gialiêm là hình ảnh ngày thế mạt. Khi thánh Marcô viết Tin Mừng thì việc đó xảy ra rồi. Nhưng trong tư tưởng người Do Thái lúc đó, thì ngày thế mạt cũng sắp tới, và trong kinh nguyện các tín hữu, ta thường nghe nhắc lại lời cầu xin: Xin Chúa đến! Mọi người nóng lòng chờ ngày Chúa quang lâm như lịch sử đã ghi nhận Chúa xuống trần. Chúa đến lại lần thứ hai như người cha đi vắng trở về nhà, như ông chủ đã gieo vãi hạt giống Tin Mừng, bây giờ tới thu hoạch hoa lợi.
Chúng ta là môn đệ Chúa, chúng ta mong chờ gặp lại Chúa là phải. Tuy Chúa không xa cách chúng ta, nhưng chúng ta mong được thấy Chúa trong vinh quang của Người. Tuy nhiên muốn có được lòng mong chờ như vậy, chúng ta phải có đủ tư cách, phải sẵn sàng để không ngại đối diện với Chúa. Phải là đứa con thảo, phải là người môn đệ trung thành với Lời Chúa, sống theo Tin Mừng, theo đường lối Chúa vạch định. Phải là người đầy tớ nhận tiền vốn Chúa để lại và đã sinh lợi như Chúa muốn.
Lạy Cha, xin giúp chúng con sẵn sàng chờ đón Chúa, với tâm hồn trong sạch và cuộc sống bác ái, như người tôi trung, như người con thảo, mong được Cha đón nhận vào vinh quang Chúa muôn đời.
59.Với uy quyền và vinh quang
(Suy niệm của Gm. Arthur Tonne)
Jim mới được 10 tuổi, một nhóm thiếu niển trong tuổi 15 đã làm em khổ sở. Chúng đẩy em xuống đường, làm em trượt té trên sân trường, và còn lấy cắp tiền ăn trưa của em nữa. Chúng doạ đánh em, đâm em bằng con dao sáng loáng. Jim không bao giờ nói cho ai hay. Một hôm, đám du côn làm quá, em phải thốt lên: “Tao sẽ méc anh tao cho tụi bay”. Chúng chế nhạo: “Đem nó lại đây, càng lớn té càng đau”.
Ít ngày sau, đám du côn thấy Jim đi phố, bên cạnh một người lực lưỡng, cao một mét tám trong bộ đồng phục nhà binh với những giây chiến thắng. Đó là anh của Jim tên Bob. Bất thần Bob ra lệnh: “Nhãi con, trả tiền cho em tao” chúng móc hết túi ra và còn phải hứa trả tiền ăn cắp còn lại.
Chợt nhớ câu chuyện khi chúng ta nghe bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói về Người trong bài phán xét chung; “Họ sẽ thấy con Người đến trong mây trời với uy quyền và vinh quang”.
Thường thường ý tưởng về ngày phán xét chung gợi cho chúng ta lòng kính sợ Chúa. Như hôm nay, tôi nghĩ rằng; “Ngày phán xét chung cho những người phụng sự Chúa; một hy vọng lớn lao, một niềm cậy trông vui mừng, một cái gì giông giống niềm hy vọng của Jim: Anh của Jim làm sáng tỏ vấn đề.
Với chúng ta, những người theo Chúa Kitô: ý tưởng và ngày phán xét tận cùng phải là một ngày hạnh phúc, vui mừng.
Đó là dề tài của lời cầu nguyện sau Kinh Lay cha trong Thánh lễ:” Trong lòng nhân từ của Cha, xin giữ chúng con khỏi tội lỗi và che chở chúng con khỏi mọi nỗi lắng lo. Trong khi chúng con trông đợi, trong hy vọng hân hoan sự trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc chúng con”.
Rồi linh mục và giáo dân hô to: “Vì nước trời, uy quyền và vinh quang là của Cha. Bây giờ và mãi mãi”.
Lời Kinh nguyện thứ ba dùng thành ngữ: “Sẵn sàng đón mừng Người khi Người trở lại”.
Cũng trong lời kinh nguyện ấy. Trong việc tưởng nhớ Người chết, chúng ta tuyên xưng đức tin: “Chúa Kitô sẽ làm cho thân xác hay chết của chúng ta trở nên giống thân xác của Người trong vinh quang… Chúng con hy vọng được chia sẻ vinh quang của Chúa. Khi mọi nước mắt của chúng con được lau sạch”.
Chúng ta trông đợi trong niềm cậy tin và hy vọng hân hoan sự trở về của người anh cả: Đức Giêsu đầy quyền uy và vinh quang với tình yêu vô hạn đối với em nhỏ của Người là bạn và tôi. Người chỉ đáng sợ đối với những kẻ khinh thường Người; Những kẻ coi nhẹ Người và các kẻ không theo Người. Nhưng Người đầy uy quyền và vinh quang đối với những kẻ ca tụng Người, tôn vinh Người và theo Người như chúng ta hôm nay và ngày mai.
Xin Chúa chúc lành bạn.
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC:
DẪN LỄ & LỜI NGUYỆN TÍN HỮU CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG NĂM A - 2025

+ Chúa Nhật 14/12/2025 – CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG năm A – Đấng phải đến.