+ Chúa Nhật 09/11/2025 – CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN năm C. – CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ. Lễ kính. – Đền thờ là thân thể Chúa Giêsu.
- 08/11/2025 10:00
- 6,646 lượt xem
-
In trang này
Đền thờ là thân thể Chúa Giêsu.
09/11 – CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN năm C. – CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ. Lễ kính.
" Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán ".
* Thánh đường Latêranô là vương cung thánh đường của Đức Giáo Hoàng. Thánh đường này được hoàng đế Contantinô xây dựng năm 320.
Vì thế, đây là thánh đường đầu tiên và danh dự, được mệnh danh “là đầu và là mẹ của mọi thánh đường”. ----- Ngày lễ này nhắc ta nhớ rằng thừa tác vụ của Đức Giáo Hoàng, người kế vị thánh Phêrô, là nguyên nhân và nền tảng hữu hình cho sự hiệp nhất trong Dân Thiên Chúa.
Lời Chúa: Ga 2, 13-22
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giê-ru-sa-lem; Người thấy ở trong đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc. Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ, và bảo những người bán chim câu rằng: "Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán". Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: "Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi".
Bấy giờ người Do-thái bảo Người rằng: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy". Chúa Giêsu trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại". Người Do-thái đáp lại: "Phải bốn muơi sáu năm mới xây được đền thờ này mà ông, ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?"
Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.
Suy niệm CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN năm C
* Đọc GIỜ KINH PHỤNG VỤ link CGKPV
Các bài suy niệm Lễ CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ
Lời Chúa: Ed 47,1-2.8-9.12; 1Cr 3,9c-11.16-17; Ga 2,13-22
MỤC LỤC
1. Tôi sẽ xây dựng lại--Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ.
2. Cung hiến đền thờ Latêranô--Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái
3. Cung hiến Thánh đường Latêranô--Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
4. Cung hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ
5. Latêranô và những ngôi Đền Thờ--Lm. Vũ Xuân Hạnh
6. Cung Hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi
7. Sẵn sàng--Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
8. Thánh Đường – Đền Thờ Thiên Chúa--JM. Lam Thy ĐVD
9. Đền thờ tâm hồn--Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
10. Đừng biến đền thờ của Thiên Chúa thành nơi buôn bán--JKN
11. Sống xứng đáng là thánh đường của Thiên Chúa--Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
12. Nhờ bí tích thánh tẩy, chúng ta trở nên đền thờ của Thiên Chúa--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
13. Linh hồn mọi thánh đường--Lm. Minh Anh
14. Lễ Cung Hiến Ðền Thờ Latêranô--Radio Veritas Asia
15. Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh--Lm. Trần Bình Trọng
16. Lễ Cung Hiến Đền Thờ Latêranô--Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải
17. Thanh tẩy--Lm. Inhaxiô Trần Ngà
19. Đức Giêsu Tẩy Uế Đền Thờ--Lm. PX. Vũ Phan Long OFM
20. Cung hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Hồ Thông
21. Lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Duy Khang
22. Lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô--Lm Trầm Phúc
24. Cung hiến đền thờ Latêranô
29. Cung Hiến Thánh Đường Latêranô
30. Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán--Ga 3,12-22
32. Đền thờ mẹ của tất cả các nhà thờ
34. Chúng ta là đền thờ là của Chúa--Lm. Micae Võ Thành Nhân
35. Đền thờ thân thể Đức Kitô--Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
1.Tôi sẽ xây dựng lại--Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ.
Suy Niệm
Hôm nay chúng ta mừng lễ cung hiến thánh đường Latêranô.
Đây là vương cung thánh đường cổ kính nhất của Hội Thánh,
là nhà thờ chính toà của Đức Thánh Cha, giám mục Rôma,
là Mẹ của mọi nhà thờ trên thế giới.
Cung hiến thánh đường là dâng cho Chúa một ngôi nhà
để dành riêng cho việc phụng tự.
Khi được cung hiến để trở thành nhà của Thiên Chúa,
thánh đường cũng trở nên nhà của các tín hữu.
Nơi Thiên Chúa hiện diện và thi ân,
cũng là nơi con người họp nhau để tôn thờ, cảm tạ.
Dù nguy nga hay nhỏ bé, cổ kính hay hiện đại,
mọi nhà thờ đều là nơi Thiên Chúa hẹn gặp con người.
"Hãy phá hủy Đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại."
Đức Giêsu không có ý nói đến đền thờ Giêrusalem.
Ngài muốn nói đến chính thân thể Ngài,
thân thể bị phá hủy và được xây dựng lại,
thân thể bị giết chết và được phục sinh.
Đức Giêsu phục sinh trở nên Đền Thờ của Giao Ước mới.
Ai ai cũng được mời gọi bước vào Đền Thờ này.
Chỉ nơi đây, con người mới gặp được Thiên Chúa.
Hội Thánh cũng được ví như một Đền Thờ thiêng liêng,
mỗi tín hữu là một viên đá sống động (x. 1Pr 2, 4-8),
và Đức Kitô là viên đá góc, là nền (x. 1Cr 3, 11).
Thánh Phaolô không ngần ngại khẳng định:
"Đền thờ của Thiên Chúa chính là anh em" (1Cr 3,17).
Hơn thế nữa, ngài còn nói:
"Thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần" (1Cr 6,19)
Như thế cả Hội Thánh và từng Kitô hữu đều là Đền Thờ.
Đền Thờ chủ yếu lại không phải là
những toà nhà có thể bị thời gian bào mòn, bị chiến tranh phá hủy.
Đền thờ là những con người sống động.
Đền thờ quan trọng nhất là con người Đức Giêsu phục sinh,
một con người đầy tràn sức sống của Thánh Thần.
Mọi Đền thờ đều phải qui về Đền thờ đó.
Không gắn bó với Đấng phục sinh và Thánh Thần của Ngài,
chẳng Đền thờ nào là Đền thờ thực sự.
Khi thấy nhà Cha trở thành nơi buôn bán,
Đức Giêsu đã nổi giận, vì nhiệt tâm đối với Cha.
Chúng ta thường thiếu một chút giận dữ hồn nhiên như vậy,
vì chúng ta yêu quá ít và sợ quá nhiều.
Chúng ta dửng dưng với những gì liên hệ đến Thiên Chúa.
Có nhiều nhà thờ, đền thờ cần tu bổ.
Nhà thờ đầu tiên là con người tôi.
Xin Đức Giêsu cứ thanh tẩy chúng ta bằng Thánh Thần,
cứ tiếp tục lật đổ và trục xuất những gì ô uế.
Ước gì chúng ta cung hiến lại bản thân mình cho Chúa
để Hội Thánh thật sự là Đền thờ,
nhờ đó cả thế giới cũng trở thành Đền thờ của Chúa.
Gợi Ý Chia Sẻ
1.--Thân xác là Đền thờ của Thiên Chúa. Chưa bao giờ thân xác được chiều chuộng như bây giờ, và cũng chưa bao giờ thân xác bị coi rẻ như bây giờ. Theo bạn, đâu là những hình thức chiều chuộng thân xác quá đáng và đâu là những hình thức khinh miệt thân xác?
2.--Bạn nghĩ gì về nhà thờ bạn thường đến dự lễ? Theo bạn, thế nào là một ngôi nhà thờ lý tưởng?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin thương nhìn đến Hội Thánh là đàn chiên của Chúa.
Xin ban cho Hội Thánh sự hiệp nhất và yêu thương,
để làm chứng cho Chúa giữa một thế giới đầy chia rẽ.
Xin cho Hội Thánh không ngừng lớn lên như hạt lúa.
Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước,
đừng để dễ dãi làm chúng con ngủ quên.
Ước gì Hội Thánh trở nên men được vùi sâu trong khối bột loài người
để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh.
Ước gì Hội Thánh thành cây to bóng rợp
để chim trời muôn phương rủ nhau đến làm tổ.
Xin cho Hội Thánh trở nên bàn tiệc của mọi dân nước,
nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do.
Cuối cùng xin cho chúng con biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời,
nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh.
Ước gì khi thấy Hội Thánh ở trần gian,
nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên. Amen.
2.Cung hiến đền thờ Latêranô--Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái
A. Phân tích (Hạt giống...)
Khung cảnh: thấy Chúa Giêsu gần gũi với những người tội lỗi, nhóm Pharisêu và kinh sư trách Ngài. Chúa Giêsu đã dùng những dụ ngôn để trả lời cho họ. Tất cả những dụ ngôn này đều đề cao hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài xót xa khi một người lầm đường rơi vào tội lỗi. Do đó, Ngài tha thiết tìm cứu người tội lỗi. Khi cứu được một người tội lỗi, Ngài rất vui mừng.
B. Suy niệm (...nẩy mầm)
1. Thật cảm động thái độ ân cần của người chăn chiên đối với con chiên đi lạc: chỉ vì một con chiên nhỏ trong bầy 100 con mà đành bỏ mọi việc để chỉ làm một việc là đi tìm nó, tìm thấy rồi thì vác nó trên vai, mời bạn bè và hàng xóm đến chung vui. Thái độ của người đàn bà mất tiền cũng thế: chỉ một đồng quan mà tìm rất cực khổ và kỹ lưỡng: thắp đèn, quét nhà, moi móc, và cũng mời bạn bè hàng xóm chung vui khi tìm thấy. Nhưng cảm động hơn nữa là cảnh trên thiên đàng: “Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”. Chúng ta hãy im lặng. Không cần suy nghĩ, chỉ chiêm ngưỡng, cảm xúc và cảm tạ tình thương vô biên của Chúa đối với tội nhân.
2. “... hơn là vì 99 người công chính không cần phải sám hối ăn năn”: Những kẻ thấy mình “không cần phải sám hối ăn năn” là những người nghĩ rằng mình “công chính”, nhưng thực ra họ không phải là người “công chính” thật. 99 người như thế không đáng là gì cả so với chỉ một người biết mình tội lỗi nên ăn năn sám hối.
3. “Một trong những hiện tượng tiêu cực rất phổ biến, đó là... ở đâu và thời nào tâm lý con người cũng giống nhau: ai cũng tự đặt mình vào tư thế quan tòa để xét xử, kết án người khác. Chúa Giêsu cảm thông tha thứ mọi yếu hèn của con người. Ngài đồng bàn với người tội lỗi, thể hiện tình bạn với họ. Nhưng chỉ có một thái độ Ngài không thể dung tha, đó là thái độ của những người tự cho mình thánh thiện tẩy chay và kết án người khác. Chúa Giêsu không chấp nhận thái độ như thế, vì đó là tước quyền Thiên Chúa: chỉ một mình Ngài mới có quyền xét xử” (Trích “Mỗi ngày một tin vui”).
4. “Xin chung vui với tôi vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất”. (Lc 15, 6)
Vui với tôi bạn nhé, tôi lại tìm thấy được tình yêu. Đôi mắt tôi không còn nhìn anh em với những thành kiến hẹp hòi. Lời nói tôi thôi làm bạn đau đớn. Tai tôi biết lắng nghe bạn trân trọng, cảm thông. Bàn tay tôi trong tay bạn, ấm nóng yêu thương nhiệt thành. Và tôi đến với bạn với cả tấm lòng của kẻ nhận ra mình được Thiên Chúa yêu thương. Người đặt tình yêu của mình trong hình ảnh bạn và trong mắt tôi.
Cầu nguyện:
Tạ ơn Chúa đã cho con hạnh phúc của người tìm lại được tình yêu bị lãng quên. Xin Cha cho con luôn biết gìn giữ, trân trọng tình yêu của người. (Hosanna)
3.Cung hiến Thánh đường Latêranô--Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
(Ga 2,13-22)
1) Hai loại đền thờ
Khi Đức Giêsu nói với người Do thái: “Hãy phá hủy Đền thờ này đi. Nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại”. Nếu hiểu chữ “Đền thờ” theo nghĩa vật chất thì làm sao xây dựng lại được, vì Đền thờ này lớn lao phải dựng lại mất 46 năm mới hoàn thành? Người Do Thái không thể hiểu câu nói của Đức Giêsu và cho đó là câu nói hồ đồ và có tính cách phạm thượng. Nhưng ý Đức Giêsu muốn nói: Đền thờ ấy chính là thân thể Ngài.
a/ Đền thờ vật chất
Đền thờ vật chất đây là những nhà thờ mà chúng ta xây dựng. Bất cứ một giáo xứ nào, giáo họ nào cũng có một nhà thờ nhà nguyện để giáo dân qui tụ lại tôn vinh Thiên Chúa, nghe lời Chúa và dâng Thánh lễ. Nhà thờ có thể to hay nhỏ, tráng lệ hay bình thường, trang trí bằng mọi hình dạng, nhưng luôn phải có vẻ trang nghiêm đạo đức. Ngày nay các nhà thờ đang mọc lên rất nhiều, đó là một điều tốt, nhưng rồi người ta lại lơ là với nhà Chúa, không chịu đi dự thánh lễ, cầu nguyện, làm các việc đạo đức khiến nhà thờ trở nên... hoang vắng như nhiều nhà thờ ở bên Tây phương!
b/ Đền thờ thiêng liêng ở đây được hiểu là thân xác chúng ta, con người chúng ta hay là Hội thánh. Chúng ta không ngại tốn công, tốn của để sửa sang hay xây cất nhà thờ. Dù phải hy sinh đến mấy, miễn là làm được nhà thờ là chúng ta không quản ngại. Nhưng còn một đền thờ khác nữa, mà có khi chúng ta chưa lo sửa sang cho đủ, đó là con người chúng ta, thân xác chúng ta. Thánh Phaolô nói: “Thân xác anh em là đền thờ Thiên Chúa, nơi Thánh Thần ngự trị”. Vì vậy, song song với việc lo xây cất nhà thờ ở bên ngoài là xây cất nhà thờ nội tâm với một nền móng vững chắc là đức tin và những sự hiểu biết cần thiết về đạo, và những đồ trang trí là những đức tính của một Kitô hữu trưởng thành như khoan dung, quảng đại,thông cảm và tha thứ.
2) Tôn trọng đền thờ chúng ta
a/ Nhiệt thành với đền thờ
Thánh kinh hôm nay nhắc nhở ta: “Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa hun đúc tâm hồn tôi” (Tv 68,10). Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa phải nhắc nhở cho chúng ta biết tỏ ra tôn kính nhà Chúa, biết giữ sạch sẽ cho nhà Chúa. Lòng nhiệt thành cho nhà Chúa phải nhắc nhở ta dạy dỗ cho con cháu biết phân biệt đâu là nơi thờ phượng. Dạy cho con cháu biết tôn trọng nhà thờ, nơi thờ phượng thì phải giữ nghiêm trang, không la hét, trò chuyện, xả rác... Ta cũng nên xét theo phương diện tích cực xem, ta có thể làm gì để tỏ ra tôn kính nhà Chúa như săn sóc, giữ gìn và bảo vệ nhà Chúa.
Nhìn ra các tôn giáo bạn, ta thấy người Hồi giáo khi vào nhà thờ của họ, phải để giày ngoài sân. Ta có thể tưởng tượng giả sử có một ngàn người để một ngàn đôi giầy, tức là hai ngàn chiếc bên ngoài, ra khỏi đền thờ đi tìm chiếc giầy nào là của mình trong hai ngàn chiếc giày thì sẽ lộn xộn và khó khăn như thế nào. Tuy nhiên, để tỏ ra tôn kính nơi thờ phượng, người Hồi giáo vẫn giữ điều lệ này cho tới ngày nay.
b/ Bênh vực nhà Chúa
Nói tới việc bênh vực nhà Chúa theo gương Đức Giêsu, chúng ta cũng cần phân biệt hai loại đền thờ, đó là đền thờ vật chất mà mọi người qui tụ về đó để tôn vinh Thiên Chúa. Và còn một đền thờ nữa là con người chúng ta, thân xác chúng ta.
* Bênh vực đền thờ vật chất
Chúng ta đã có nhà thờ dùng để thờ phượng Chúa, để tổ chức những sinh hoạt phụng vụ hay làm các việc đạo đức. Ai cũng yêu mến nhà thờ của mình. Ai cũng bênh vực, không để cho người khác phạm đến nhà thờ. Có khi chúng ta chịu đổ máu để bênh vực nhà thờ của chúng ta.
Nhưng chúng ta phải lưu ý: nhà thờ là nhà của muôn dân, nơi dành cho mọi người đến cầu nguyện, không phân biệt tôn giáo, giai cấp, màu da, chủng tộc. Nhiều khi vô tình hay hữu ý, ai trong chúng ta cũng có lần thành chướng ngại vật ngăn cản anh em tìm đến gặp Chúa: chỉ cần một lời nói cứng cỏi và thiếu tế nhị, một thái độ lạnh nhạt thiếu nhã nhặn hay một cử chỉ khinh thường tha nhân... là chúng ta đã có thể xua đuổi anh chị em lương dân ra khỏi nhà thờ và sau này họ khó có cơ hội khác để trở lại.
3. Truyện: Mahatma Gandhi vào nhà thờ
Khi còn là một sinh viên, Gandhi được du học tại Nam Phi, một thuộc địa của nước Anh. Tại đây nổi tiếng về tệ nạn phân biệt chủng tộc. Trong thời gian này, Gandhi có dịp đọc Kinh thánh của Kitô giáo và lập tức ông bị giáo thuyết của Đức Giêsu cuốn hút, nhất là kinh Tám mối phúc thật trong Bài Giảng trên núi. Ông rất tâm đắc trước lời Chúa dạy về một tình yêu phổ quát và bình đẳng giữa mọi người, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, địa vị cao thấp, là Do Thái hay lương dân... Gandhi nghĩ rằng: Có lẽ Kitô giáo là giải pháp tối ưu và hữu hiệu để giải quyết tận gốc sự phân biệt giai cấp trong xã hội Ấn Độ quê hương của ông. Gandhi nghĩ mình nên tìm hiểu và sẽ gia nhập vào Kitô giáo.
Ngày nọ, Gandhi có ý định đi bộ đến một nhà thờ để mong được chứng kiến lễ nghi trong đạo và cũng để tìm hiểu thêm về giáo lý. Tuy nhiên, khi ông bước đến cửa nhà thờ thì bị người giữ cửa chặn lại và không cho ông bước vào nhà thờ. Bấy giờ ông cho biết ý định tìm hiểu đạo của mình. Nhưng thật là bất ngờ khi người giữ cửa lại nói như sau: “Đây là nhà thờ dành riêng cho người da trắng. Nếu mi muốn tìm hiểu đạo, thì hãy tìm đến nhà thờ khác dành riêng cho dân da màu mà xin!”
Gandhi rất tức giận và bỏ về nhà, ông ghi lại cảm tưởng trong nhật ký của ông như sau: “Tôi rất thán phục Đức Giêsu và giáo thuyết đầy tình nhân ái khoan dung của Ngài. Thế nhưng tôi rất bất mãn mỗi khi tiếp xúc với các tín hữu là môn đệ của Ngài! Nếu trong đạo Kitô mà cũng còn phân biệt chủng tộc như vậy, thì Kitô giáo có hơn gì Ấn giáo có phân biệt giai cấp của tôi? Thôi, tôi cần chi phải gia nhập đạo này. Tốt nhất là tôi cứ chấp nhận có bất toàn trong Ấn giáo và cố gắng sống theo giáo lý truyền thống của cha ông là đủ!”
4.Cung hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ
Câu chuyện
Mohandas Karamchand Gandhi là anh hùng dân tộc Ấn Độ, lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân của đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của người dân trong đấu tranh bất bạo động.
Du học ở Anh và sau đó về Ấn Độ, Gandhi làm luật sư, tiếp đó làm việc tại Nam Phi - thuộc địa của nước Anh. Nam Phi nổi tiếng về phân biệt chủng tộc. Ở Nam Phi, Gandhi có dịp đọc Kinh Thánh của Kitô giáo, lập tức giáo huấn của Đức Giêsu cuốn hút ông, nhất là tám mối phúc thật. Ông rất tâm đắc trước Lời Chúa dạy về một tình yêu phổ quát và bình đẳng giữa mọi người, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, địa vị cao thấp, Do Thái hay lương dân...
Quyết định học đạo, Gandhi đến một nhà thờ để mong được chứng kiến lễ nghi trong đạo và cũng để tìm hiểu thêm về giáo lý Kitô giáo.
Tuy nhiên, khi ông bước đến cửa nhà thờ, thật là bất ngờ khi người giữ cửa trả lời: “Đây là nhà thờ dành riêng cho người da trắng. Nếu anh muốn tìm hiểu đạo, thì hãy tìm đến nhà thờ khác dành riêng cho dân da màu mà xin”. Gandhi rất sốc, tức giận, bỏ về nhà và không theo đạo Kitô.
Suy niệm
Lễ Vượt qua và các dịp lễ quan trọng của dân Do Thái. Người trưởng thành, sống trong vòng hai mươi lăm cây số chung quanh Giêrusalem phải đến đền thờ dự lễ. Không chỉ người lân cận trong vùng, mà mọi dân Do Thái khắp thế giới có điều kiện cùng trở về đền thánh.
Người hành hương đến đền thờ thường dâng lễ vật như bò, chiên, chim câu..., chúng ta thấy gia đình Chúa Giêsu cũng dâng lễ vật khi dâng Chúa vào đền thánh (x. Lc 2,24). Cho nên, ở đền thánh có người bán bò, chiên, bồ câu để phục vụ cho việc lễ tế của người Do Thái. Người ta phải đổi tiền Rôma sang tiền Do Thái để nộp thuế đền thờ mà mỗi người Do Thái từ 19 tuổi trở lên phải nộp nửa đồng bạc Do Thái (x. Mt 17,27). Một số người khác đổi tiền để tự nguyện dâng cúng cho đền thờ (x. Lc 21,1-2).
Với sự hiện diện của thú vật, đền thờ là nơi thánh bị ô uế và những người đổi tiền đã làm tục hóa sự thánh thiêng của đền thờ. Cho nên, Đức Giêsu đã lên tiếng: “Đừng biến nhà Cha ta thành một cái chợ” (Ga 2,16), và Ngài đã đánh đuổi phường buôn bán cùng với các loài thú vật ra khỏi đền thờ, để trả lại sự thánh thiêng của nơi thờ phượng Thiên Chúa.
Chính trong khi thanh tẩy đền thờ - một đền thờ được xây dựng bằng đá cho việc tôn thờ Thiên Chúa, Chúa Giêsu hé mở cho nhân loại biết một sự tôn thờ mới được hình thành nơi thân thể Ngài: “Cứ phá hủy đền thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại”. Đức Giêsu nói đến cái chết và sự phục sinh của Ngài. Thân thể được phục sinh sẽ là đền thờ mới, nơi nhân loại thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực như văn sĩ Tertullianô khẳng định: “Đức Kitô là đền thờ thật của Thiên Chúa, đền thờ mở cho tất cả, nơi Thiên Chúa đón nhận sự thờ kính thật sự”. Cho nên, việc tôn thờ Thiên Chúa từ nay không chỉ trong đền thánh Giêrusalem lộng lẫy bằng đá với các trang trí vàng ròng, nhưng việc thờ phượng dựa trên căn bản trong chính Ngài: “Là đường là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), với thân thể phục sinh của Ngài. Cách thờ phượng trong chính sự thật, được Ngài mạc khải cho nhân loại khi hé mở cho phụ nữ Samaria (x. Ga 4,21.23).
Tham dự vào mầu nhiệm sự chết, phục sinh của Đức Kitô, chúng ta tin và làm vào những gì Ngài dạy. Người Kitô hữu trở nên đền thờ của Thiên Chúa như thánh Phaolô viết: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?.Vì đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và đền thờ ấy chính là anh em” (1Cr 3,16-17).
Khi thanh tẩy đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu truyền lệnh: “Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây!”, lời đó trực tiếp nói với tôi với bạn, với tất cả mọi tín hữu tin vào Chúa Kitô - đền thờ mới của Thiên Chúa, vốn thường xuyên bị tục hóa, ô uế do chính tội lỗi, cần được thanh tẩy. Thật thế, cần cố gắng thanh tẩy không ngừng, bằng tâm tình sám hối và dấn thân bác ái, đặc biệt trong Mùa Chay, để đền thờ tâm hồn người tín hữu luôn là nơi Thiên Chúa ngự …
Ý lực sống
“Thân xác là đền thờ Thiên Chúa” (1Cr 6,19), “xin Ngài thanh tẩy” (Tv 50,4).
5.Latêranô và những ngôi Đền Thờ--Lm. Vũ Xuân Hạnh
Kể từ sau khi Chúa Giêsu về trời, với việc các thánh tông đồ nói riêng, các Kitô hữu đầu tiên nói chung, ra đi truyền bá Tin Mừng, Hội Thánh bắt đầu hiện diện giữa lòng thế giới. Thay vì đón nhận sự hiện diện ấy, chính quyền đế quốc Rôma bắt đầu nghi kỵ và ác cảm. Gần 300 năm (từ những năm cuối thập niên 50 trải dài đến những năm 310), cuộc bắt đạo lần lượt qua mười triều đại hoàng đế (khởi đi từ Nero đến Diokletian). Thế nhưng, suốt 300 năm ròng rã phải sống chui nhủi trong những hang toại đạo, những hốc đá, rừng rậm… như một thứ “Hội Thánh hầm trú”, vậy mà không một sức mạnh của bạo quyền nào có thể đè bẹp đức tin, tưởng chừng quá non nớt, quá mới mẽ của các Kitô hữu tiên khởi.
Đức tin có sức mạnh riêng, có lý lẽ riêng, có sự sống riêng của nó. Sức mạnh, lý lẽ, cũng như sự sống riêng ấy là một khối tinh thần. Khối tinh thần ấy không thuộc về lý trí, hay trí tuệ, nhưng thuộc về huyền nhiệm thánh thiêng, một huyền nhiệm của trời cao (chứ không phải của con người). Đã là sức mạnh của cả một khối tinh thần thuộc về huyền nhiệm thánh thiêng, làm gì có bất cứ một sức mạnh nào khác có thể vượt qua!
Ngay từ khởi đầu của Hội Thánh, một đức tin xem ra chẳng đáng kể gì về bề dày thời gian, đã có thể lướt thắng mọi trở ngại. Bởi thế, mãi cho đến hôm nay, đức tin ấy, một khối tinh thần thuộc về huyền nhiệm thánh thiêng ấy, đã được tinh luyện hàng ngàn năm, chắc chắn không dễ gì lay chuyển. Lịch sử vẫn còn đó, như dấu tích, như bằng chứng, hơn nữa như bài học xác đáng cho con người thời đại…
Sau một thời gian quá dài, không sao đổi dời lòng tin của các Kitô hữu, đến năm 313, hoàng đế Constantin ký sắc lệnh Milan công nhận Kitô giáo là một tôn giáo hợp pháp trên đế quốc Lamã. Sau thời gian đó, hoàng đế tiếp tục thực hiện một nghĩa cử đáng trân trọng: Ông trao tặng Đức Thánh Cha Miltiad một cung điện lộng lẫy nằm trên đồi Coelius: cung điện Latêranô ngày nay. Một thời gian không lâu sau đó, Đức Thánh Cha đã cho xây bên cạnh cung điện này một Đại Thánh đường, đó là Đại Thánh đường Latêranô. Và ngày 9. 1. 324, Đức Sylvester đã long trọng cung hiến Đại Thánh đường này.
Ngay từ đầu, Thánh Đường Latêranô được dâng kính Đấng Cứu Thế, với tước hiệu Vương Cung Thánh đường Chúa Cứu Thế. Thế kỷ XII, nó cũng được dâng kính thánh Gioan Baotixita và thánh Gioan tông đồ. Đại thánh đường Latêranô được xem là “Mẹ và là Đầu của mọi nhà thờ trên thế giới”. Sở dĩ nhà thờ này có một chỗ đứng quan trọng trong Giáo Hội như thế là vì bốn lý do:
- Đây là ngôi thánh đường đầu tiên được công nhận trong đế quốc.
- Đây là nhà thờ đầu tiên trước mọi nhà thờ trong Giáo Hội. Một ngôi nhà thờ mang nhiều ý nghĩa lịch sử: Trong thời gian bị bắt đạo, Hội Thánh không thể xây một ngôi thánh đường nào. Các thánh lễ và các buổi tụ tập cầu nguyện đều lén lút tổ chức trong các nhà tư, trong các hang toại đạo, trên mộ các thánh Tử Đạo. Sau khi được chính quyền công nhận, các tín hữu, từ chỗ lén lút bước vào xã hội công khai, Đại Thánh đường đầu tiên này là nơi duy nhất và sang trọng nhất, để họ dâng kính Thiên Chúa việc thờ tự của mình.
- Đây là Vương Cung Thánh đường của giáo phận Rôma, có ngai tòa của Giáo hoàng.
- Hội Thánh chính là đền thờ của Thiên Chúa, mỗi Kitô hữu như những viên gạch sống động đắp xây ngôi Đền Thờ Hội Thánh. Vì ý nghĩa lịch sử lớn lao và có cả một bề dày hiện diện giữa lòng Hội Thánh, Đại Vương Cung Thánh đường Latêranô là ngôi Đền Thờ được Hội Thánh chấp nhận như một biểu trưng cho một ngôi Đền Thờ to lớn là chính Hội Thánh, nơi mà Thiên Chúa trao tặng hết tình yêu của Người và ưa thích ngự vào.
Ngoài chính bản thân ngôi Đền thờ Latêranô là Đại Thánh đường cổ xưa nhất, nơi đây còn có giếng rửa tội lâu đời nhất của Rôma. Tại giếng rửa tội này, hàng ngàn tân tòng đã đến đây lãnh phép rửa tội, nhất là trong các đêm vọng Phục Sinh. Cung điện Latêranô còn là nơi hội họp của 250 Công Đồng, trong đó có bốn Công Đồng chung. Các Đức Giáo hoàng đã cư ngụ tại đây trong hơn 1.000 năm, mãi cho đến thế kỷ XIV, Đức Nicôlas V mới dời Giáo Đô về Vatican, cạnh đền thờ thánh Phêrô.
Qua các trận hỏa hoạn, động đất và càn quét của man dân, của Đức, của Pháp… Đền thờ Latêranô phải tái thiết lại nhiều lần. Ngày 28. 4. 1726, sau một công trình tái thiết lớn, Đức Thánh Cha Bênêditô XIII đã thánh hiến lại và công nhận ngày 9. 11 hàng năm làm ngày lễ tưởng niệm cung hiến Đại Thánh đường Latêranô.
Nhưng trong thánh lễ kỷ niệm cung hiến Đền Thờ Latêranô hôm nay, Hội Thánh không dừng lại ở việc tưởng niệm một lịch sử đã qua đi từ lâu. Nhưng qua việc tưởng niệm này, Hội Thánh muốn chúng ta hướng tới sự tôn thờ một Ngôi Đền Thờ sang trọng, lớn lao, chất chứa mọi ngôi đền thờ, và vượt trên mọi ngôi đền thờ, và mọi ngôi đền thờ dù theo nghĩa hiện thực hoặc tinh thần, đều chỉ tìm thấy ý nghĩa của mình nơi Ngôi Đền Thờ ấy. Đó chính là Ngôi Đền Thờ mang tên Giêsu Kitô. Vì chỉ có Chúa Kitô mới là Đền Thờ đích thực như chính Người đã ám chỉ về mình trong bài Tin Mừng của lễ Cung Hiến Đền Thờ Latêranô: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi. Nội trong ba ngày, Ta sẽ xây dựng lại”. Và lời này được thánh Gioan Tông đồ giải thích ở cuối bài Tin Mừng: “Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người”.
Mừng lễ cung hiến Đền Thờ Mẹ của mọi ngôi nhà thờ vật chất, ta hướng về Ngôi Đền Thờ Rất Thánh là Chúa Kitô, để nhận ra Người cũng chính là Ngôi Đền Thờ Mẹ của mọi ngôi đền thờ khác là chúng ta. Ngôi Đền Thờ Mẹ rất Thánh ấy đã chấp nhận “hủy mình ra không”. Và chấp nhận được “phá hủy” như thế, để nên nguồn lợi lớn lao cho mỗi ngôi đền thờ con của Ngôi Đền Thờ Mẹ, là chính chúng ta: Người mang ơn cứu độ, mang lại sự sống trường cửu cho ta.
Hiểu được ý nghĩa của bài học về sự tự hiến nơi Chúa Giêsu như thế, đến lượt mình, bạn và tôi cũng hãy là những người biết dùng tất cả tài năng, sức lực, sự khôn ngoan để chung tay xây dựng cuộc đời, xây dựng Hội Thánh. Nếu một ngôi đền thờ vật chất bị phá hủy, nó chỉ trơ lại một đống đổ nát. Nhưng nếu một ngôi đền thờ là chính mỗi con người biết “phá hủy” và chấp nhận để cuộc đời “phá hủy” mình, nghĩa là biết chấp nhận tự hiến, ngôi đền thờ ấy sẽ sinh ra không biết bao nhiêu lợi ích cho chính mình và cho muôn người.
Lạy Chúa, Chúa đã chọn chúng con như những ngôi đền thờ sống động, để cùng nhau xây nên một ngôi đền thánh vinh hiển là Hội Thánh của Chúa. Xin cho chúng con biết cho đi chính bản thân để phụng sự Chúa và phục vụ con người. Chỉ có cho đi trong tinh thần tự hủy, chúng con mới có thể làm rạng danh Chúa và xứng đáng là những ngôi đền thờ có Chúa ngự. Hay nói cho đúng, chỉ khi nào có Chúa ngự, con người chúng con mới xứng đáng gọi là đền thờ.
6.Cung Hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi
- Ga 2,13-22
Thánh đường là nơi qui tụ dân Chúa, là nơi các tín hữu tới cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Thánh đường là nơi Chúa ngự, là nơi Mình Máu Thánh Chúa luôn hiện diện, là nơi dân Chúa lãnh nhận muôn vàn ơn huệ, muôn vàn hồng ân của Chúa.
ĐỀN THỜ LATÊRANÔ
Đền thờ Latêranô là nhà thờ chánh toà của Đức Giáo Hoàng. Đức Thánh Cha với tư cách là Giám Mục Roma, cũng đặt ngai tòa của mình tại nhà thờ chánh tòa. Đền thờ này được xây dựng vào năm 320 khi Giáo Hội Chúa Kitô, tượng trưng cho Tòa Thánh Roma vừa thoát qua khỏi một thời kỳ cấm cách, bắt bớ khủng khiếp . Đền thờ này do công của Hoàng đế Constantinô xây dựng để tôn vinh danh Chúa và để dân Chúa có nơi tụ tập, đọc kinh cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích . Đền thờ này đã được cung hiến vào khoảng thời gian nói trên.Lịch sử thuật lại rằng khi hoàn tất ngôi thánh đường này, nhiều đoàn người khắp trong thành phố Roma đã tuôn đến để dự lễ khánh thành và hiệp ý trong nghi lễ cung hiến ngôi thánh đường dùng đặt ngai tòa của Đức giáo hoàng, với tư cách là Giám Mục Roma. Ngôi đền thờ Latêranô đã trải qua biết bao nhiêu biến cố, biết bao nhiêu thăng trầm của đạo giáo, biết bao nhiêu thử thách, khó khăn của các thời Hoàng đế Roma trị vì. Biết bao nhiêu người đã tới thánh đường Latêranô để xin rửa tội, gia nhập dân thánh Chúa trong những đêm phục sinh và mừng lễ vượt qua tại đây.
ĐỀN THỜ LATÊRANÔ NGÀY NAY
Ngày nay, đền thờ Latêranô vẫn vút cao, vẫn đứng sững như muốn nói với mọi người Thiên Chúa luôn yêu thương dân người. Ngày nay, vẫn có đoàn đoàn lớp người tới dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Hàng năm, ngày thứ năm tuần thánh Đức Thánh Cha vẫn tới cử hành lễ với hàng linh mục Roma, với các Hồng y, Giám mục và Ngài diễn tả lại hành động, cử chỉ của Chúa Giêsu xưa nơi nhà tiệc ly là rửa chân cho các tông đồ.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết kính yêu Đức Giáo Hoàng, cầu nguyện cho Ngài và cho Giáo Hội luôn trung tín với sứ mạng rao giảng Tin Mừng.
7.Sẵn sàng--Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta vẫn luôn cảm thấy lúc nào cũng có những điều mới lạ, những dụ ngôn, những ví dụ, những câu chuyện Chúa đưa ra để dạy dỗ, để răn đời luôn hấp dẫn, luôn mới mẻ dù rằng có những đọan Tin Mừng chúng ta đã đọc rất nhiều lần.Chúa Giêsu luôn dùng những gì thực tế nhất, ấn tượng và đánh động nhất để dạy con người, để giới thiệu Nước Trời. Dụ ngôn 10 trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể là một ví dụ điển hình. Dụ ngôn này có người đã thuộc nằm lòng, có người đã nghe nhiều lần, nhưng hầu như lúc nào đoạn Tin Mừng này cũng làm con người say mê vì sự khôn ngoan của Chúa Giêsu, dạy dỗ nhân loại, dạy dỗ con người phải tỉnh thức để đón nhận nước trời, đón nhận Thiên Chúa.
Đoạn Tin Mừng này là một dụ ngôn bởi vì chẳng có một đám cưới nào ở trần gian này lại tổ chức cái kiểu đó. Mà cũng chẳng có cuộc rước dâu nào lại như thế.Chàng rể nếu có đến trễ. Các cô dâu cũng chẳng thể nào ngủ được vì quần áo cưới, đầu tóc, trang điểm. Tất cả những hình thức bề ngoài như quần áo, đầu tóc, sự trang điểm luôn phải làm các cô dâu phải tỉnh thức. Dụ ngôn này là một lời cảnh tỉnh nhân loại, cảnh tỉnh mọi người phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng. Trong dụ ngôn này, chàng rể cư xử một cách khác thường không như các chàng rể bình thường. Chúa Giêsu muốn nói đến một chàng rể đặc biệt và tiệc cưới, đám cưới cũng rất đặc biệt. Tiệc cưới này đòi mọi người phải tuân thủ những luật lệ khác với những luật lệ thông thường nơi những đám cưới chúng ta thường tham dự. Ở đây 10 cô trinh nữ phù dâu biểu tượng cho toàn thể nhân loại, toàn thể con người trên thế gian này được Thiên Chúa yêu thương, đón mời vào dự tiệc cưới nước trời. Dầu và đèn là những phương tiện cần có để tham dự tiệc cưới. Mười cô phù dâu lại có năm cô khôn ngoan và năm cô khờ dại. Đó là hình ảnh của nhân loại, của con người. Trong nhân loại hay giữa con người, có người khôn, có người dại. Đó là cái trớ trêu của con người và là cái dí dỏm của đoạn Tin Mừng này. Khôn hay dại được đánh giá bằng việc con người có sẵn sàng hay không sẵn sàng tỉnh thức. Tất cả 10 trinh nữ phù dâu đều ngủ chứ chẳng có cô nào thức. Đó là cái nghịch lý của dụ ngôn. Tuy nhiên, cái khôn và cái dại được đo lường dựa trên tiêu chuẩn các cô có cẩn thận và sẵn sàng hay không? Năm trinh nữ khôn ngoan đã ngủ vùi nhưng họ khôn trong tư thế, trong thái độ sẵn sàng. Còn năm cô khờ dại đã ngủ trong tư thế thờ ơ, chểnh mảng. Nên khi nghe tin chàng rể đến thì đã quá muộn rồi. Việc chàng rể đến chậm, đến trễ, đến bất ngờ ám chỉ giờ của Chúa đến. Chắc chắn Chúa sẽ đến nhưng Ngài đến cách bất ngờ, đột xuất, nên ai khôn sẽ sẵn sàng. Dầu cũng có nghĩa là dầu bác ái, dầu yêu thương. Chỉ có tình yêu mới thắp sáng được ngọn đèn đức tin của người tín hữu.
Chúa Giêsu đã luôn cảnh tỉnh mọi người: “Hãy tỉnh thức và sẵn sàng”. Tỉnh thức để mau mắn nghe bước chân Chúa đến và sẵn sàng đón Chúa để cùng vào nước trời với Ngài. Bởi vì, muốn đón Chúa, chúng ta phải có đèn, đèn muốn có tác dụng, muốn cháy sáng phải có dầu, mà dầu đốt mãi, đốt liên tục thì cũng sẽ hết, giờ Chúa đến lúc nào chúng ta cũng chẳng rõ, cũng chẳng hay biết được.Bởi vậy, muốn chắc chắn, chúng ta phải khôn ngoan dự trữ dầu mà càng dự trữ dầu càng nhiều càng tốt. Dầu ở đây tượng trưng cho đức tin, cho đời sống thánh thiện, cho đời sống công chính, bác ái, và đời sống lương thiện, chân chính và thiện hảo của chúng ta. Đời sống của mỗi người luôn là một cái gì đó xem ra rất mỏng manh, cuộc đời mau tàn, mau chấm dứt. Nhưng chúng ta nào thấy trước hoặc biết được lúc nào cuộc đời của chúng ta sẽ chấm dứt, sẽ qua đi. Tốt nhất là chúng ta phải khôn ngoan như năm cô trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn là tỉnh thức và sẵn sàng, nghĩa là chúng ta phải sống theo ý Chúa, sống đời sống của Chúa như thánh Phaolô viết: “Đối với sống là Đức Kitô”; “Tôi sống không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Tôi đã sống và loan báo Tin Mừng cho người Dân tộc Kơho từ nhiều năm nay. Điều anh chị em Dân tộc gây ấn tượng cho tôi nhiều nhất đó là sự hồn nhiên, phó thác của họ cho Thiên Chúa hằng ngày bởi vì họ không bôn chen, không tham lam và không dự trữ của cải như những người khôn ở thế gian thường làm. Tuy nhiên, sự hồn nhiên, trong sáng của họ là dầu họ đang dự trữ tràn trề để sẵn sàng đón Chúa và lãnh nhận nước trời.
Xin mượn lời của Nicolas Tarralle để kết thúc bài chia sẻ này: “Trong ngày lễ cung hiến Đền Thờ Latêranô, Tin mừng cho chúng ta nghe một lệnh cứng rắn của Đức Giêsu: “Đừng biến nhà Cha tôi…”. Điều nói về Đền Thờ Giêrusalem cũng đúng cho nhà thờ chính tòa giáo phận Roma, cũng như cho mỗi ngôi nhà thờ của chúng ta.Nhưng khi đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ, Đức Giêsu chủ yếu báo tin về một ngôi đền mới của Thiên Chúa: không chỉ làm bằng đá mà bằng xương bằng thịt; không chỉ giới hạn trong một khuôn viên thánh thiêng, mà được nới rộng theo chiều khích của thế giới. Ngôi Đền mới này là chính thân thể người… Cùng với Đức Kitô, chúng ta vượt qua các không gian phụng vụ chúng ta cử hành để đi vào đức tin. Cuộc vượt qua này được thể hiện ở những địa điểm cụ thể, như ngôi mộ trống nơi ông Gioan nhìn thấy tấm khăn liệm xếp lại: “Ông đã thấy và đã tin…” Các ngôi nhà thờ chúng ta là những địa điểm biệt đãi, nơi chúng ta nhận ra những dấu chỉ tương ứng với lời kinh Thánh, để tia sáng đức tin lóe lên: “Vâng, lạy Chúa, chúng con tin !”
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết tỉnh thức và sẵn sàng để đón Chúa đến bất cứ lúc nào và Xin cho chúng con trở nên Đền Thờ xứng đáng cho Thiên Chúa ngự. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
1. Bữa tiệc nói tới trong đoạn Tin mừng hôm nay là bữa tiệc nào?
2. Thế nào là khôn, thế nào là khờ theo Tin mừng?
3. Đèn là gì? Dầu là gì?
4. Đền thờ Chúa nói là Đền thờ nào?
5. Mười cô trinh nữ tượng trưng cho ai?
8.Thánh Đường – Đền Thờ Thiên Chúa--JM. Lam Thy ĐVD
Đời sống người tín hữu luôn gắn liền với Thánh đường, nên mỗi Thánh đường thường chất chứa biết bao kỷ niệm vui buồn của họ. Chính từ nơi thánh thiêng ấy, họ lớn lên trong niềm tin và trào dâng niềm hy vọng giữa cuộc đời đầy thử thách gian nan. Theo từ nguyên thì Thánh đường là ngôi nhà lớn của người có đức hạnh siêu phàm, thông đạt mọi sự. Việt Nam dùng từ Thánh đường để chỉ Đền Thờ Thiên Chúa, vì thế người bình dân thường gọi là Nhà Thờ. Ngay từ Cựu Ước đã có chuyện vua Đa-vit mơ ước xây một ngôi nhà cho Đức Chúa ngự, “Nhưng ngay đêm ấy, có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Na-than rằng: “Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: ĐỨC CHÚA phán thế này: Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao? ĐỨC CHÚA báo cho ngươi biết là ĐỨC CHÚA lập cho ngươi một nhà… Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi – một người do chính ngươi sinh ra – và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi.” (2Sm 7, 4-13). Ngôi nhà để tôn kính danh Chúa chính là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Tuy nhiên, theo thời gian, thì dần dần con người đã lợi dụng Đền Thờ làm nơi buôn bán, thậm chí còn coi Đền Thờ như một nơi để mua quan bán tước, tranh danh đoạt lợi, tranh bá đồ vương, bàn mưu tính kế để xâm lấn cõi bờ giữa những quốc gia (đế quốc xâm lăng tiểu nhược quốc). Đó là lý do giải thích tại sao Đức Giê-su phải “Tẩy uế Đền Thờ” (Tin Mừng CN.XXXII/TN-A – Ga 2, 13-22). Cơn thịnh nộ của Chúa bốc cao: “Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” (Ga 2, 15-16). Và từ một sự kiện hữu hình (tẩy uế Đền Thờ Giê-ru-sa-lem), Đức Giê-su cho đám đông biết chính Người mới là Đền Thờ Thiên Chúa đích thực, và tiên báo: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.” Cuộc khổ nạn và phục sinh vinh hiển của Người đã nói lên tất cả.
Tất cả đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Ngôi Đền thánh thiêng Giê-su Ki-tô bị phá hủy (cuộc Tử Nạn) và tới ngày thứ ba đã được xây dựng lại (Phục Sinh). Và ngôi đền vật chất Giê-ru-sa-lem cũng bị đế quốc La-mã san thành bình địa vào năm 70. Cũng vì thế, nên ba thế kỷ đầu Giáo Hội tiên khởi không có Thánh đường. Thực ra, không phải người Công Giáo không có khả năng xây dựng; nhưng vì đế quốc Rô-ma bách hại các tín hữu, nên mọi sinh hoạt tôn giáo thời ấy phải làm lén lút tại nghĩa trang ngầm dưới lòng đất, gọi là hang toại đạo. Chỉ đến thế kỷ IV, khi tướng Constantino giao chiến với đạo quân của hoàng đế Massenzio, thì có phép lạ xảy ra: Trên bầu trời bỗng xuất hiện hình ảnh cây Thánh Giá với hàng chữ La-tinh sáng tỏ: “cứ dấu hiệu này ngươi sẽ chiến thắng”. Constantino đã cho khắc hình Thánh giá trên các khiên thuẫn của binh sĩ và quả nhiên ông đã chiến thắng. Sau khi lên ngôi hoàng đế, thì đến năm 313, ông ra chiếu chỉ tại Milano, ngưng bách hại Ki-tô hữu, cho tự do hành đạo, và ra lệnh trả lại tất cả tài sản đã tịch thu của Giáo Hội trong thời kỳ bách hại của các hoàng đế tiền nhiệm. Sau cùng, hoàng đế Constantino trở lại đạo Công giáo và ấn định Chúa nhật là ngày nghỉ hằng tuần; đồng thời dâng hiến cung điện của ông làm Đền Thờ Chúa Cứu Thế. Không những thế, ngài còn khuyến khích, động viên các tín hữu xây cất Đền Thờ ở khắp nơi.
Đền thờ do hoàng đế Constantino cung hiến được gọi bằng tên của ngài: Đền Thờ La-tê-ra-nô. Đó là Thánh đường đầu tiên của Giám mục Rô-ma (Giáo hoàng), và cũng là Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Rô-ma. Thánh đường này được gọi là “Mater et Caput”, là Mẹ và là Đầu của tất cả Nhà thờ khác trên thế giới. Đền thờ này đánh dấu sự trỗi dậy của Ki-tô giáo. Thật vậy, sau chiếu chỉ của hoàng đế Constantino công bố lệnh cấm bách hại Ki-tô giáo, một cộng đoàn Ki-tô hữu đã xuất đầu lộ diện, công khai cử hành phụng vụ và biểu lộ đời sống đức tin. Từ đó, Đền Thờ La-tê-ra-nô trở thành biểu trưng cho chính Giáo Hội. Vì tầm quan trọng này, nên lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Gio-an La-tê-ra-nô hằng năm được cử hành với bậc lễ kính vào ngày 9 tháng 11, quan trọng hơn cả lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Phê-rô và Phao-lô (cử hành với bậc lễ nhớ vào ngày 18 tháng 11). Vào thế kỷ thứ XVI, mặc dù Đền Thờ La-tê-ra-nô không còn ưu việt là Đền Thờ Mẹ, vì đã có hai Đền Thờ lớn mới được xây dựng: Đền Thờ thánh Phê-rô và thánh Phao-lô. Tuy nhiên, vì Đền thờ La-tê-ra-nô lúc đầu được dâng kính Chúa Cứu Thế, nên lễ Cung Hiến Đền Thờ La-tê-ra-nô vẫn còn mang dấu chỉ Đền Thờ Mẹ để hướng lòng mọi người xây dựng đời mình trở nên Đền Thờ cho Chúa ngự. (1Cr 3, 16-17).
Thánh Phao-lô rất ưu ái với khái niệm Đền Thờ, ngài nói với tín hữu Cô-rin-tô: “Trong Người, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí.” (Ep 2, 21-22); “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1Cr 3, 16); “Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?” (1Cr 6, 19). Rõ ràng trong bối cảnh các Thư gửi giáo đoàn tại Cô-rin-tô và Ê-phê-xô, thì đền thờ không phải chỉ là một kiến trúc vật chất, mà còn là hình ảnh tiêu biểu sự thánh thiện mà Chúa Thánh Linh tạo ra nơi những người sống trong Chúa Ki-tô và liên kết với Giáo Hội.
Nói như vậy, thì những Đền Thờ được kiến trúc bằng vật chất có còn cần thiết nữa không? Thực ra, khi nói Đức Giê-su là Đền Thờ Thiên Chúa đích thực; mỗi Ki-tô hữu vì được đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô nên đã trở thành Đền Thờ của Thiên Chúa, thì cốt ý chỉ là nhằm để xác định tính biểu trưng, tầm quan trọng bậc nhất của Đền Thánh – nơi thờ phượng Thiên Chúa và cũng là nơi Người ngự. Còn với con người trần thế, với tư tưởng bất toàn nhưng lại chỉ thích được “thực mục sở thị” (trông thấy nhãn tiền), nên những Thánh đường thì vẫn rất cần phải có cụ thế. Ấy cũng bởi vì Đền Thờ vật chất là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa, để lắng nghe Lời Người và thân thưa với Người (Ds 7, 89). Hơn thế nữa, Đền Thờ vật chất còn là dấu chỉ ơn Cứu Độ, bởi vì Đền Thờ và Hội Thánh đều bởi nguyên ngữ trong Thánh Kinh bằng tiếng La-tinh: “Ecclesia”. Như thế, chính Đền Thờ (kiến trúc bằng vật chất) diễn tả cụ thể sự hiện diện của Giáo Hội; đồng thời trở nên dấu chỉ sứ mệnh của Hội Thánh là công bố và ban phát ơn cứu độ của Thiên Chúa (sứ vụ Truyền Giáo). Đó là lý do giải thích tại sao Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa muốn người Do Thái xây Đền Thờ Giê-ru-sa-lem thật đẹp, để tiên trưng vẻ huy hoàng của Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc, diễn tả Nước Trời (Kh 21, 2-27).
Trong Đền Thánh vinh quang đó, “các tôi tớ Người sẽ thờ phượng Người. Họ sẽ được nhìn thấy tôn nhan Người, và thánh danh Người ghi trên trán họ. Sẽ không còn đêm tối nữa, họ sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời.” (Kh 22, 3-5). Đó là những tín hữu khi còn tại thế đã thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí như lời Thánh Phao-lô xác quyết: “những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, là những người hiên ngang hãnh diện vì Đức Ki-tô Giê-su, chứ không cậy vào xác thịt” (Pl 3, 3). Sự thánh thiện đó trở nên việc đích thực thờ phượng Thiên Chúa hằng sống trong tinh thần và chân lý, như Thánh Gio-an khẳng định: “Thiên Chúa là Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (Ga 4, 24).
Ý thức vấn đề, người Ki-tô hữu không chỉ mừng kính ngày “Cung hiến Thánh đường La-tê-ra-nô” bằng hình thức bề ngoài, mà cần phải nâng cao và đi sâu vào ý nghĩa cao trọng của Đền Thờ Thiên Chúa nơi các Thánh đường cũng như nơi chính thân xác của mình. Từ đó, hãy cầu nguyện xin Thần Khí Chúa luôn “Tẩy uế Đền Thờ” bản thân cho khỏi những tì vết xấu xa, những tội lỗi chất chồng, ngõ hầu xứng đáng là Đền Thờ Thiên Chúa, hiệp thông cùng Giáo Hội trong Đền Thánh Rô-ma (Vatican). Chính tại Đền Thờ Giáo Hội, người Ki-tô hữu và Giáo Hội chia sẻ trong Thần Khí Sự Thật dưới tất cả mọi dạng thức thánh hóa: thanh tẩy khỏi tội lỗi (1 Pr 4, 8), soi sáng trí khôn (Ga 14, 26), tuân giữ các giới răn (Ga 14, 23), kiên trì trong hành trình tới sự sống đời đời (Ep 1, 13-14; Rm 8, 14-16), và lắng nghe điều chính Chúa Thánh Linh nói với Hội Thánh: “Ai có tai, thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh: Ai thắng, Ta sẽ cho ăn quả cây sự sống trồng nơi ngự uyển của Thiên Chúa.” (Kh 2, 7). Ước được như vậy.
Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã chọn chúng con như những viên đá sống động để xây nên một ngôi đền thánh, nơi Chúa ngự muôn đời. Xin cho Hội Thánh là dân Chúa ngày càng thêm đông và dồi dào ân sủng để trở nên thành thánh Giê-ru-sa-lem trên trời. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Cung hiến Thánh đường La-tê-ra-nô).
9.Đền thờ tâm hồn--Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Kỷ niệm ngày cung hiến Vương cung thánh đường Latêranô là dịp suy nghĩ về đền thờ đích thực, là chính thân thể Đức Giêsu Kitô (Ga 2,21). Chính nơi đền thờ này, Thiên Chúa đã thi thố tất cả quyền năng cứu độ nhân loại. Cũng chính nơi đền thờ này sự thờ phượng đích thực mới được dâng lên Thiên Chúa.
1. Giới thiệu Đền Thờ Latêranô
Vương cung Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô là một trong những thánh đường đầu tiên được xây cất sau những cuộc bách đạo ban đầu. Thánh đường được Hoàng Đế Constantinô xây và được ĐTC Sylvester thánh hiến năm 324. Thánh Đường này tiếp tục là Nhà Thờ Chánh Tòa của Giám Mục Rôma, Đức Thánh Cha. Thánh Đường này được gọi là ‘Mater Ecclesiae Romae Urbis et Orbis’, Mẹ của tất cả các thánh đường ở Rôma và trên thế giới.
Năm 313, sau khi ra chiếu chỉ ở Milano cho Giáo hội được tự do hành đạo, Hoàng Đế Constantine cho xây đền thờ ở Laterano trong thời gian 313-318 để dâng kính Chúa Cứu Thế. Thời Đức Giáo Hoàng Gregorio I (590-604) đền thờ được dâng kính cả Thánh Gioan Tẩy Giả và Thánh Gioan Tông Đồ. ĐGH Lucio II đã ấn định tên đền thờ như hiện nay, Đền Thờ Thánh Gioan ở Laterano, năm 1144.Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 14, đền thờ này là trung tâm của giáo hội Roma, trụ sở và biểu tượng của Đức Giáo Hoàng.
Như các đền thờ khác, Đền Thờ Thánh Gioan ở Laterano nhiều lần bị tàn phá, hỏa hoạn, hoang tàn sau hơn 73 năm vắng chủ khi giáo triều dời về Avignon, Pháp, đươc xây lại như ngày nay thời ĐGH Sisto V (1585-1590).
Thánh đường dài 130m, có 5 gian. Gian chính dài 87m, rộng 16m, có tượng 12 Thánh Tông Đồ bằng đá cẩm thạch trắng. Bước vào đền thờ, bên phải có đàn phong cầm vĩ đại với hai ngàn ống. Sau tòa giám quản cóGiếng Rửa Tội (theo truyền thuyết, chính Hoàng Đế Constantine được ĐGH Silvestro rửa tội nơi đây). Ngoài nhà thờ, bên hông trái, có tháp bút cao nhất (47m) và cổ kính nhất ở Roma bằng đá hoa cương đỏ của Ai Cập có từ thế kỷ 14 trước Chúa KiTô. Là Mẹ của các nhà thờ và là nhà thờ chánh tòa của giáo phận Roma, đền thờ Thánh Gioan ở Laterano nhắc nhở các tín hữu “hồng ân rửa tội” với tất cả ý nghĩa của ơn này và mời gọi các tín hữu cảm tạ Thiên Chúa bằng chính cuộc sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. (x.BGCN 2008).
2. Chúa Giêsu thánh tẩy đền thờ
Đối với Do thái giáo, Lễ Vượt Qua là một đại lễ, tưởng niệm cuộc vượt qua Biển Đỏ tiến về Đất Hứa. Lễ Vượt qua được tổ chức vào ngày 15 tháng Nissan, tức là tháng 4 dương lịch.
Mọi người trong đất nước Palestin đều về Giêrusalem dự lễ. Cả những người tản mác khắp thế giới không bao giờ quên tôn giáo, tổ tiên cũng về dự đại lễ quan trọng nhất này.
Dầu sống ở xứ nào, người Do thái vẫn ước mơ và hy vọng được dự lễ Vượt Qua tại Giêrusalem ít nhất là một lần trong đời.
Trong dịp này Chúa Giêsu cùng đi dự lễ Vượt qua với các môn đệ.
Thuế Đền Thờ là một sắc thuế mà mỗi người Do thái từ 9 tuổi trở lên đều phải đóng.Tiền thuế là ½ siếc-lơ, tương đương với 2 ngày công nhật.
Trong việc giao dịch thương mại, mọi loại tiền đều co giá trị tại Palestin. Nhưng tiền thuế Đền thờ phải nộp bằng đồng siếc-lơ Galilê hoặc siếc-lơ của Đền Thờ.
Khách hành hương đến Đền Thờ phải đổi tiền siếc-lơ. Vì vậy trong sân Đền Thờ có nhiều người làm nghề đổi tiền.Tiền huê hồng khi đổi là ¼ ngày công cho 1đồng. 4 đồng siếc-lơ thì người đổi được lợi một ngày công. Do đó số tiền thuế Đền thờ và lợi tức đổi tiền thật là lớn.
Điều khiến Chúa Giêsu nổi giận là khách hành hương phải chịu những tệ nạn của bọn đổi tiền bóc lột với giá cắt cổ.Thật là bất công và càng tệ hơn nữa khi người ta nhân danh Tôn giáo để trục lợi.
Bên cạnh bọn đổi tiền còn có một số người bán bò, chiên, bồ câu để khách hành hương mua làm lễ vật toàn thiêu. Điều hết sức tự nhiên và tiện lợi là có thể mua đựơc các con vật ở sân Đền Thờ. Luật quy định các con vật làm của lễ phải lành lặn không tỳ vết. Có những chức sắc kiểm tra khám xét con vật. Mỗi lần khám xét phải trả 1/12 siếc-lơ, không được mua vật ở ngoài Đền thờ. Khốn nổi, mỗi con vật mua trong đền thờ đắt gấp 15 lần ở bên ngoài. Khách hành hương nghèo bị bốc lột trắng trợn khi muốn dâng lễ vật. Sự bất công này lại càng tệ hại thêm vì nó làm dưới danh nghĩa tôn giáo.
Chính vì những điều ấy đã làm Chúa Giêsu bừng bừng nổi giận. Chúa lấy dây thừng bện thành roi đánh đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ;còn tiền của những người đổi bạc,Người đổ tung ra,và lật nhào bàn ghế của họ.
Trong Phúc âm hiếm khi ta thấy Chúa Giêsu nổi giận. Ngài bình thản đón lấy nụ hôn phản bội của Giuđa; lặng lẽ trước những lời cáo gian buộc tội; xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình vì họ không biết việc họ làm. Chính Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta học lấy nơi Ngài bài học hiền lành và khiêm nhường. Vậy mà ở đây, Chúa đã nỗi giận đùng đùng, lật tung bàn ghế, lấy dây thừng làm roi xua đuổi tất cả.
Khung cảnh đền thờ phải là nơi yên tĩnh, thánh thiêng. Thế mà nay lại ồn ào huyên náo, mua bán đổi chác, tranh giành, cãi cọ, đôi co như là một cái chợ buôn bán sầm uất. "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây,đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán" (Ga 2,16). "Nhà của Ta là nhà cầu nguyện,còn các ngươi làm thành hang trộm cướp" ( Mt 21,12-13).Chúa Giêsu thất vọng biết bao trong tiếng than thở ấy."Nơi buôn bán", "Hang trộm cướp", Đền thờ nơi tôn nghiêm thờ phượng Đức Chúa, nay lại quá bất kính, quá bát nháo khiến Chúa Giêsu phải đau lòng. Lời ngôn sứ Giêrêmia quở trách dân Do thái xưa đã nên ứng nghiệm ( x Gr 7,11).
Thế là Chúa Giêsu thực hiện một cuộc thanh tẩy Đền thờ vì Ngài yêu mến Đền thờ.
"Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân" (Tv 69,10).Lòng nhiệt thành với Đền thờ sẽ dẫn Đức Giêsu đến chỗ bị người đời bách hại (x Ga 15,5).
3. Tại sao Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ?
* Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ vì nhà Thiên Chúa đã bị xúc phạm.
Trong sân đền thờ có thờ phượng mà không có lòng tôn kính.Thờ phượng mà không có lòng tôn kính là việc bất xứng.Đó là việc thờ phượng hình thức chiếu lệ. Trong sân Đền thờ người ta cãi vả về giá cả,tiếng ồn ào huyên náo tạo thành một cái chợ chứ không phải là Đền thờ.
* Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ để chứng minh rằng việc dâng thú vật làm lễ tế không còn thích đáng nữa.
Các ngôn sứ đã loan báo: “Đức Chúa phán, ngần ấy hy lễ của các ngươi đối với Ta nào có nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu,mỡ bê mập, Ta chán ngấy. Máu chiên dê Ta chẳng thèm.” (Is 1,11). "Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận" (Tv 50,16).
Thái độ thanh tẩy Đền thờ của Chúa Giêsu chứng tỏ Chúa đòi hỏi lòng thành kính.Lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa là tấm lòng chân thành.
* Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ vì "Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện"
Đền thờ là nơi Thánh, là chốn Thiên Chúa hiện diện tiếp nhận phụng tự của người dâng lễ và thông ban cho họ sự sống và các ân huệ của Người.
Các chức sắc Đền thờ,các con buôn người Do thái đã biến Đền thờ thành nơi huyên náo, nổi loạn. Tiếng bò rống, tiếng chiên kêu, tiếng rao hàng, lời qua tiếng lại mặc cả, cãi cọ mua bán làm cho khách hành hương không thể cầu nguyện được.
4. Xây dựng đền thờ tâm hồn.
Chúa Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem. Chúa muốn chúng ta thanh tẩy Đền thờ tâm hồn mình.
Đền thờ tâm hồn không xây dựng bằng vật liệu cao cấp của các thứ kim loại, bằng những loại gỗ quý giá. Đền thờ tâm hồn được xây bằng các bí tích, các việc lành thánh thiện, những hy sinh, lòng yêu mến Thiên Chúa.
Trong Đức Kitô, chúng ta đã trở nên đền thờ sống động và đã được cung hiến ngày lãnh nhận phép Thánh Tẩy. Thánh Phaolô minh định: “Anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong đền thờ ấy”. Đó là một hồng ân cao cả mà Thiên Chúa dành cho mỗi tín hữu qua Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa yêu thích ngự nơi đền thờ tâm hồn chúng ta hơn là đền thờ bằng gỗ đá, dù là gỗ thơm đá quý. Bởi lẽ đền thờ bằng gỗ đá, dẫu có xinh đẹp và đồ sộ như đền thờ Latêranô đi chăng nữa thì một ngày kia, cũng sẽ tiêu tan. Không có đền thờ nào đẹp bằng đền thờ Giêrusalem. Một công trình nguy nga tráng lệ xây cất ròng rã 46 năm. Khi đi qua, các môn đệ tự hào chỉ cho Chúa Giêsu thấy sự huy hoàng của Đền thờ, nhưng Người lại nói rằng: sẽ có ngày không còn hòn đá nào trên hòn đá nào. Khi người Do thái chất vấn: Ông lấy quyền nào mà làm như vậy? Chúa Giêsu bảo: cứ phá Đền thờ này đi,trong 3 ngày Ta sẽ xây dựng lại. Chúa ám chỉ đến cái chết và sự phục sinh của Người. Đền thờ ở đây chính là thân thể Đức Giêsu mà mỗi người Kitô hữu là một viên đá sống động xây dựng nên đền thờ ấy. Thân thể phục sinh của Chúa là đền thờ mới, nơi con người thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực, trong tinh thần và trong chân lý. Chỉ có Thân thể Chúa Kitô và tâm hồn chúng ta mới là đền thờ vững bền.
Kỷ niệm ngày cung hiến Vương cung thánh đường Latêranô là dịp suy nghĩ về đền thờ đích thực, là chính thân thể Đức Giêsu Kitô (Ga 2,21). Chính nơi đền thờ này, Thiên Chúa đã thi thố tất cả quyền năng cứu độ nhân loại. Cũng chính nơi đền thờ này sự thờ phượng đích thực mới được dâng lên Thiên Chúa. Quả thế, Thánh Linh đã phục sinh thân thể Đức Giêsu. Chúa Cha đã đặt Người làm Trung gian duy nhất để chuyển cầu cho nhân loại (x. 2 Tm 2:5; Dt 9:15; 12:24). Tất cả mọi giá trị và ý nghĩa của vương cung thánh đường Latêranô cũng như mọi thánh đường khác đều phải bắt nguồn từ đền thờ này. Thật vậy, “không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô.” (1Cr 3,11). Máu và nước từ cạnh sườn Đức Giêsu tuôn chảy như giòng sông. “Sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống.” (Ed 47,9). Người được phúc đón nhận sự sống đó là Kitô hữu. Vì họ là “thân thể Đức Kitô.” (2 Cr 12, 27). Bởi đó, họ cũng là “Đền Thờ của Thiên Chúa.” (1 Cr 3,16).
Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Chúa đã đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ vì họ đã đem đền thờ biến thành nơi buôn bán, đổi chác;
Xin Chúa xua đuổi nhưng thói hư tật xấu ra khỏi tâm hồn chúng con, để tâm hồn chúng con xứng đáng là đền thờ sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị. Amen.
10.Đừng biến đền thờ của Thiên Chúa thành nơi buôn bán--JKN
Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao Đức Giêsu lại tỏ ra tức giận đến nỗi dùng tới bạo lực như vậy?Sự kiện đó nói lên điều gì? Những điều gì làm Ngài ghê tởm nhất trên đời?
2. Thiên Chúa, Đức Giêsu, việc phụng vụ hay thờ phượng Ngài có thể bị biến thành đối tượng kinh doanh, buôn bán không?
3. Thân xác, tâm hồn hay bản thân ta cũng là đền thờ của Thiên Chúa. Ta có kính trọng đền thờ nội tâm của ta một cách xứng đáng không? Những hành động nào biểu lộ sự kính trọng hoặc coi thường đền thờ đó?
Suy tư gợi ý:
1. Hai điều Đức Giêsu ghê tởm nhất trên đời
Đức Giêsu đã phản ứng hết sức mạnh mẽ trước cảnh tượng đền thờ bị biến thành nơi buôn bán. Trong Tin Mừng, phản ứng mạnh như thế của Đức Giêsu rất hiếm thấy. Có hai lần Ngài phản ứng rất mạnh, khác hẳn với thái độ hiền lành hòa nhã bình thường của Ngài: lần đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ (x. Ga 2,13-16), và lần Ngài chửi bọn Pharisêu thậm tệ (x. Mt 23,13-36). Điều này cho ta thấy hai điều làm Ngài ghê tởm nhất trên đời:
* một là biến nơi thờ phượng thành nơi buôn bán (x.Ga 2,16), biến việc thờ phượng, lời cầu nguyện, lễ nghi tôn giáo thành hàng hóa mua bán, thành đối tượng kinh doanh để sinh sống…
* hai là đạo đức giả, lợi dụng hay núp bóng đạo đức hoặc tôn giáo để tiến thân, để ngồi lên đầu lên cổ thiên hạ (x. Mt 23,2.6), để bóc lột người nghèo (23,14), để thần thánh hóa những thực tại vốn chẳng phải là thần thánh hầu đem lại lợi nhuận (23,16-22), để làm mọi người lầm tưởng mình đạo đức bằng cách giữ nhiệm nhặt những luật lệ không quan trọng nhưng lại bỏ qua những điều quan trọng nhất của lề luật là tôn trọng “chân lý, công lý và tình thương” (x. 23,23-24), hoặc tìm cách tôn vinh các ngôn sứ thời xưa để che đậy việc bách hại hay bạc đãi những ngôn sứ đồng thời với mình (23,29-36)…
2. “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”
Bài Tin Mừng hôm nay nói về điều ghê tởm thứ nhất của Ngài. Phải công nhận rằng Ngài đã phản ứng hết sức mạnh mẽ khi thấy “trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền”. Cách hành xử của Ngài thật là hung hăng và đáng sợ: Ngài “lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc thì đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ”. Trước sự việc ấy, chắc các tông đồ phải lấy làm lạ vì Ngài làm trái với điều Ngài thường dạy: “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39). Tại sao vậy? - Vì Ngài đang phải đối diện với một cảnh tượng mà Ngài cho là hết sức kinh tởm: người ta đã biến đền thờ hay nhà Cha Ngài thành nơi buôn bán, thành một cái chợ.
Trong bài Tin Mừng này, những vật bị đưa ra mua bán chỉ là “chiên, bò, bồ câu” mà Ngài đã phản ứng dữ dội như thế! Không biết Ngài sẽ phản ứng mãnh liệt thế nào khi con người đem chính Thiên Chúa, Cha Ngài, đem chính Ngài, hay chính những lễ nghi thờ phượng Ngài ra làm đối tượng để kinh doanh buôn bán, để mặc cả, trao đổi. Tình trạng tương tự như thế vẫn đang xảy ra nhan nhản trong các tôn giáo. Các thầy cúng mặc cả với tín đồ về số tiền phải trả cho một buổi lễ cúng, không đủ tiền thì thầy không cúng. Hoặc các thầy đưa ra một bảng giá (tarif) cho những buổi lễ tùy theo mức độ trang trọng của chúng, bảng giá đó áp dụng chung cho cả người giầu lẫn người nghèo, v.v…
Nhiều thầy cúng coi việc cúng tế như một nghề nghiệp để sinh sống. Lúc ấy thần thánh trở nên một loại phương tiện, một loại hàng hóa phục vụ cho nghề nghiệp của họ.
So sánh với thái độ hiền lành và đầy tính bênh vực của Đức Giêsu trước người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (x. Ga 8,2-12) với thái độ dữ tợn của Ngài trước cảnh buôn bán trong đền thờ, ta thấy Ngài coi tội sau nặng hơn như thế nào! Và càng nặng hơn biết bao tội buôn thần bán thánh! Trong sách Công Vụ, có thuật lại một trường hợp buôn bán thần thánh như sau: «Ông Simon thấy rằng khi các tông đồ đặt tay cho ai thì Thánh Thần được ban xuống tren người ấy, nên ông đem tiền đến biếu các tông đồ và nói: “Xin cũng ban ban quyền ấy cho tôi, để tôi đặt tay cho ai thì người ấy cũng nhận được Thánh Thần”. Nhưng ông Phêrô đáp: “Tiền bạc của anh hãy tiêu tan luôn với anh cho rồi, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua được ân huệ của Thiên Chúa!”» (Cv 8,18-21). Quả thật, hiện nay, biết bao kitô hữu đã hành động như Simon, muốn dùng tiền bạc để mua chuộc các ân huệ, sự tha thứ, sự giảm hình phạt của Thiên Chúa, hoặc chức tước trong Giáo Hội cho mình hoặc cho người thân của mình! Họ làm như lòng nhân từ của Thiên Chúa có thể mua chuộc được bằng tiền bạc!
3. Bản thân ta cũng là đền thờ, đừng biến nó thành nơi buôn bán
Thánh Kinh cho biết: đền thờ vật chất ở bên ngoài không quan trọng bằng đền thờ tâm linh ở bên trong ta. Thánh
Phaolô nói: “Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ và muôn loài trong đó, không ngự trong những đền thờ do tay con người làm nên” (Cv 17,24). Thánh Têphanô cũng nói tương tự (x. Cv 7,48). Vậy thì Ngài ngự ở đâu? Thánh Phaolô trả lời: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? (…) Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em” (1Cr 3,16-17; x. 2Cr 6,16b). Ngay cả thân xác của chúng ta cũng là đền thờ của Thiên Chúa: “Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?” (1Cr 6,19), thậm chí còn là một phần bản thân của Đức Kitô: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?” (1Cr 6,15).
Sự hiện diện của Thiên Chúa trong đền thờ vật chất không được “đậm đặc” như đền thờ tâm linh trong tâm hồn ta. Thế mà khi nó bị trần tục hóa Đức Giêsu đã tỏ ra tức giận như vậy! Vậy thì khi đền thờ tâm linh trong tâm hồn ta bị trần tục hóa, Ngài sẽ tức giận đến thế nào?
Chúng ta trần tục hóa đền thờ trong bản thân ta và người khác khi ta coi thường phẩm giá con người của mình và của người khác. Thiên Chúa đã dựng con người theo hình ảnh của Ngài, giống như Ngài, đồng thời nâng con người lên hàng con cái Ngài. Con người trở nên một cái gì hết sức quí giá trước mặt Thiên Chúa, đến nỗi khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã phải hy sinh chính Con Một rất yêu quí của Ngài để cứu con người. Thánh Kinh nói Thiên Chúa quí con người đến mức “luôn ấp ủ, dưỡng dục, giữ gìn, chẳng khác nào con ngươi mắt Ngài” (Đnl 32,10). Thiên Chúa quí con người như vậy, nhưng con người lại coi thường chính bản thân, phẩm giá của mình và người khác, đến nỗi sẵn sàng bán rẻ hoặc xúi giục người khác bán rẻ lương tâm và phẩm giá - thậm chí cho kẻ ác - để chỉ nhận được những lợi ích chóng qua: tiền bạc, hư danh, địa vị, sự an toàn bản thân… Không chỉ những phường gái điếm, những tay nghiện rượu, nghiện ma túy mới coi thường thân xác hay linh hồn mình, mà cả những kitô hữu trí thức, những người được coi là đạo đức cũng sẵn sàng coi thường đền thờ Thiên Chúa nơi bản thân. Chẳng hạn sẵn sàng hy sinh sự trong sáng của lương tâm, hoặc hy sinh sức khỏe, sự an toàn bản thân để đổi lấy một niềm vui nho nhỏ của miếng ăn, của thú vui thể xác, của tiện nghi vật chất… để rồi cuối cùng trở nên một con người tầm thường, hoặc chuốc lấy một căn bệnh, một thương tật hoặc có khi mất mạng…
Chúng ta trần tục hóa tâm hồn ta khi ta nuôi trong tâm trí những quan niệm sai lầm, những tư tưởng kiêu căng, vị kỷ, những ý định độc ác, những tâm tình ghen ghét, vô ơn, v.v… Chính những tư tưởng này xúc phạm và làm ô uế đền thờ của Thiên Chúa trong tâm hồn ta. Vì thế, để tỏ lòng kính trọng đền thờ này, chúng ta hãy mặc lấy những quan niệm đúng đắn, những tâm tình yêu thương, vị tha, xả kỷ… Những tâm tình này chính là những thứ trang hoàng đền thờ nội tâm ta xứng đáng làm nơi Thiên Chúa ngự.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con biết thật sự kính trọng đền thờ của Cha nơi tâm hồn và thân thể con. Xin đừng để con làm ô uế đền thờ của Cha bằng những tư tưởng xấu, những tâm tình ích kỷ, kiêu căng. Xin giúp con trang hoàng đền thờ của Cha bằng những tư tưởng và hành động tốt đẹp, bằng những nỗ lực sống thuận theo thánh ý Cha. Để Cha cảm thấy hài lòng khi ngự trong tâm hồn con. Amen.
11.Sống xứng đáng là thánh đường của Thiên Chúa--Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
(Ed 47:1-2.8-9.12; Ga 2:13-22)
Hôm nay, Giáo Hội cử hành lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô ở Rôma. Đây là thánh đường cổ nhất và có vị trí cao nhất trong bốn thành đường ở Rôma. Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô là nhà thờ chính toà của địa phận Rôma, là ngai của Đức Giáo Hoàng, giám mục của Rôma, không phải là thánh đường thánh Phêrô như nhiều người hiểu sai. Thánh đường cũng còn được gọi là Nhà Thờ của Đấng Cứu Thế hoặc Nhà Thờ Thánh Gioan Tẩy Giả. Trong thời Rôma cổ xưa, nhà thờ này là nơi mà mọi người được rửa tội. Nó là nhà thờ cổ nhất bên phương tây, được xây dựng bởi Constantine và được thánh hiến bởi Đức Thánh Cha Sylvester năm 324. Thánh lễ này trở thành phổ quát để tôn kính thánh đường mẹ, được gọi là “mẹ” của tất cả các nhà thờ ở Rôma và trên thế giới. Thánh đường này là dấu chỉ của tình yêu và sự hiệp nhất với thánh Phêrô và những người kế nhiệm ngài. Cử hành thánh lễ cung hiến hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại đền thờ của Thiên Chúa nơi cuộc đời mỗi người chúng ta. Hãy để lời Chúa hướng dẫn chúng ta trong việc thánh hiến lại cuộc đời mình hầu trở thành đền thánh xứng đáng cho Chúa ngự.
Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta thị kiến Êdêkien thấy nơi cửa Đền Thờ. Êdêkien nhìn thấy một dòng nước “vọt ra từ dưới ngưỡng cửa Đền Thờ và chảy về phía đông, vì mặt tiền Đền Thờ quay về phía đông. Nước từ phía dưới bên phải Đền Thờ chảy xuống phía nam bàn thờ. Người ấy đưa tôi ra theo lối cổng bắc và dẫn tôi đi vòng quanh theo lối bên ngoài, đến cổng ngoài quay mặt về phía đông, và này: nước từ phía bên phải chảy ra.” (Ed 47:1-2). Đặc tính quan trọng của dòng nước này là nó chảy ra Biển Chết và làm cho nước biển hoá lành. Sông chảy đến đâu thì mọi sinh vật lúc nhúc ở đó sẽ được sống. Sẽ có rất nhiều cá, vì nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống. Trên hai bờ sông sẽ mọc lên mọi giống cây ăn trái, lá không bao giờ tàn, trái không bao giờ hết: mỗi tháng các cây đó sẽ sinh trái mới nhờ có nước chảy ra từ thánh điện. Trái dùng làm lương thực còn lá để làm thuốc” (Ed 47:8-9.12). Ở đâu có dòng nước này, ở đó có sự sống và chữa lành. Chi tiết này cho thấy có một sức sống mãnh liệt xuất phát từ đền thờ. Điều này mời gọi chúng ta nhìn lại đền thờ cuộc đời mình. Những ai tiếp xúc với chúng ta có tìm được sự sống và có được chữa lành không? Nhiều người trong chúng ta quên rằng mình là đền thờ của Thiên Chúa nên đã không sống một đời sống xứng đáng. Nhiều khi chúng ta có những thái độ mang lại sự chết cho những ai tiếp xúc với chúng ta hơn là mang lại sự sống; chúng ta mang thương tích hơn là chữa lành. Hãy trở nên những đền thánh xứng đáng của Thiên Chúa nơi người khác tìm được sự nghỉ ngơi, sự bình an, tình yêu, sự cảm thông và sự tha thứ.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta hành vi “thánh hiến” Đền Thờ Giêrusalem của Chúa Giêsu. Một cách cụ thể, bài Tin Mừng này nói về dấu chỉ của sự phục sinh. Hành động thánh hiến đầu tiên mà Chúa Giêsu thực hiện là “lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: ‘Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán’” (Ga 2:15-16). Đây là hành động lấy đi những gì không xứng đáng ra khỏi đền thờ. Chi tiết này mời gọi chúng ta bỏ đi những thái độ sống, những lời ăn tiếng nói, những hành động cử chỉ không tương xứng với đền thánh của Thiên Chúa là chính mình. Cuộc sống của chúng ta phải là một hành vi thờ phượng [hay một nơi mà chính chúng ta và người khác gặp được Thiên Chúa]. Chúng ta không thể sử dụng đền thờ là thân mình để làm lợi về mặt con người mà trở nên nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa.
Điều cần thiết thứ hai cho việc thánh hiến Đền Thờ chính là việc “phá huỷ” và “dựng lại”: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2:19). Những lời này ám chỉ về chính thân thể của Người: “Nhưng Đền Thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy, khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói” (Ga 2:21-22). Hai hành động “phá huỷ” và “dựng lại” này nói đến mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu: Ngài phải chết nhưng ba ngày Ngài sẽ sống lại. Chi tiết này mời gọi chúng ta thánh hiến đền thánh cuộc đời chúng ta bằng việc “chết đi cho tội” và “sống lại cho Chúa.” Đây chính là hành động thánh hiến cao đẹp nhất mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta thực hiện mỗi ngày.
12.Nhờ bí tích thánh tẩy, chúng ta trở nên đền thờ của Thiên Chúa--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Việc dùng một nơi đặc biệt để cầu nguyện và thờ phượng đã có từ rất xa xưa. Tuy nhiên, mãi khoảng năm 1000 trước Công nguyên ngôi đền thờ đầu tiên mới được vua Solomon xây dựng tại Giêrusalem để dành riêng cho Thiên Chúa, công trình này mất khoảng bảy năm rưỡi, lễ cung hiến đền thờ kéo dài tám ngày, và hằng năm được người Do Thái nhớ lại.
Vào những thế kỷ đầu của Kitô giáo, Giáo hội bị bách hại không thể xây dựng đền thờ, buộc phải cử hành các mầu nhiệm của Thiên Chúa tại nhà riêng hoặc trong các hầm mộ, hay trên các ngôi mộ của các vị tử đạo.
Năm 313 sau khi hoàng đế Constantinô ban hành đạo luật cho phép các kitô hữu tự do hành đạo, đền thờ đầu tiên được cất. Hoàng đế đã nhượng cho Đức Giáo hoàng Melchiade khu đất của dòng họ Laterani, và truyền xây đền thờ. Năm 324 thánh Giáo hoàng Silvestro cử hành lễ cung hiến đền thờ mang tước hiệu kính Chúa Cứu thế này, và chỉ từ sau thế kỷ VI mới thêm các tước hiệu hai thánh Gioan Tiền hô và Gioan thánh sử, từ đó được gọi là đền thánh Gioan Lateranô. Sau đó vào năm 334 Constantinô cho xây một giếng rửa tội nơi mà thánh Giáo hoàng Silvestro rửa tội cho ông, một dinh giáo chủ, nơi các giáo hoàng cư ngụ cho đến khi di chuyển sang Avignon. Đền thờ Lateranô hôm nay chúng ta mừng kỷ niệm ngày cung hiến được mệnh danh là “mẹ của tất cả các đền thờ ở Rôma và trên toàn thế giới”.
Câu hỏi được đặt câu hỏi: Cung hiến nhà thờ này có nghĩa là gì? Tại sao phải mừng kỷ niệm cách trọng thể ?
Giữa lòng thế giới, trước cái nhìn của Thiên Chúa và loài người, trong một hành vi đức tin khiêm tốn và vui mừng, con người với khả năng trí tuệ khôn lường Chúa ban là những kiến trúc sư, thợ mộc, thợ nề, nghệ nhân ưu tú, kiến thiết công trình nghệ thuật đã dùng những tài nguyên thiên nhiên như phiến đá, cây gỗ, đất cát, xây dựng lên một khối lượng vật chất là đền thờ. Đây là một dấu chỉ hữu hình về Thiên Chúa vô hình, Đấng là Ánh sáng, là chiều cao cả và là chính vẻ đẹp.
Trong bối cảnh ấy, vị kiến trúc sư đã nối kết thực tại thế giới và lịch sử cứu độ. Ông đã đưa vào trong thánh đường này những viên đá, cây cối và đời sống con người, để tất cả công trình sáng tạo đều hợp tiếng chúc tụng Chúa. Ông đã vượt thắng sự tách biệt giữa lương tâm con người và lương tâm Kitô, giữa cuộc sống ở trần thế chóng qua này và sự cởi mở đối với đời sống vĩnh cửu, giữa vẻ đẹp của vạn vật và Thiên Chúa Đấng là chính vẻ đẹp, bằng những viên đá, những đường nét, mặt bằng và chiều thẳng.
Đền thờ là thân thể Chúa Kitô
Salomon đã xây cho minh một ngôi đền bằng đá và gỗ vì ông là một tiên tri, … Còn Thiên Chúa hằng sống Đấng dựng nên cả đất trời, ngự trên chín tầng trời… Tại sao Thiên Chúa lại đòi xây dựng một đền thờ ? Phải chăng Ngài bị tước mất chỗ ngự ? Hãy nghe lời Stêphanô lên tiếng trước Công nghị, trước lúc chịu khổ hình : “Còn Salômôn, đã xây nhà cho Người. Nhưng Ðấng Tối Cao hẳn không phải ngụ nhờ trong những vật tay phàm làm ra, như tiên tri đã nói” (Ac 7,47- 48). Vì thế từ đó đền thờ được xây để tiên báo thân thể Đức Kitô. Đền thờ đầu tiên chỉ là “bóng” của các điều sẽ đến; còn với Ðức Kitô mới có “mình”. (Col 2,17) : khi ánh sáng xuất hiện, bóng tối sẽ rút lui. Hiện nay chúng ta tìm kiếm đến thờ do vua Salomon xây ư ? Chỉ còn một đống đổ nát. Tại sao nó bị đổ nát ? Thưa là vì thực tại mà ông loan báo đã hoàn thành. Đền thờ đích thực là chính thân mình Chúa Kitô, cũng bị đổ vỡ, nhưng Người đã trỗi dậy, và sẽ không bao giờ đổ nát nữa…(Thánh Augustinô 354-430, Bài giảng số 3, 4 ; PLS 2, 664)
Nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta trở nên đền thờ của Thiên Chúa
Còn thân xác chúng ta thì sao ? Là chi thể của thân mình Đức Kitô. Thánh Phaolô nói : “Anh em không biết sao? thân xác anh em là những chi thể của Ðức Kitô!” (1Cr 6,15). Khi nói :“Thân xác anh em là những chi thể của Ðức Kitô” nghĩa là thân xác chúng ta liên kết với đầu là Đức Kitô “Ngài là đầu của Thân mình” (x. Cl 1, 18), làm thành một đền thờ duy nhất, đền thờ Thiên Chúa.
Cùng với thân mình Đức Kitô, thân xác chúng ta là đền thờ đích thực và sống động của Thiên Chúa. Trước khi được thanh tẩy, chúng ta là miếu thờ ma quỷ, nhưng sau khi được thanh tẩy, chúng ta thành đền thờ của Đức Ki-tô. Thiên Chúa không chỉ ngự trong những đền do tay con người làm ra, cũng không chỉ ngự trong những ngôi đền bằng gỗ bằng đá, nhưng đặc biệt Người ngự trong linh hồn đã được dựng nên giống hình ảnh Người và do chính tay Người xây lên : Vì thế, thánh Phaolô đã nói : “Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Vì đền thờ của Thiên Chúa là thánh mà chính anh em là đền thờ ấy” (1 Cr 3,16-17).
Gia đình là đền thờ
Như Thánh Gia Nazareth khi xưa, hoàn cảnh sống ngày nay đã biến đổi sâu xa và người ta đã đạt được những tiến bộ rất lớn trong các lãnh vực kỹ thuật, xã hội và văn hóa. Chúng ta không thể hài lòng với những tiến bộ ấy. Chúng ta còn phải luôn nghĩ đến những tiến bộ về luân lý, như sự quan tâm, bảo vệ và giúp đỡ gia đình, vì tình yêu quảng đại và không thể phân ly giữa một người nam và một người nữ là khung cảnh hữu hiệu và là nền tảng sự sống con người trong khi được cưu mang, sinh ra, lớn lên và kết thúc tự nhiên. Nơi nào có tình thương và lòng chung thủy, thì nơi đó tự do đích thực được nảy sinh và trường tồn.
Hân hoan mừng ngày cung hiến đền thờ, chúng ta không được dùng những hành động xấu xa để phá huỷ đền thờ sống động của Thiên Chúa nơi chúng ta. Mỗi khi đến nhà thờ, chúng ta muốn thấy nhà thờ đó thế nào, thì chúng ta cũng phải chuẩn bị chính tâm hồn chúng ta như thế.
Chúng ta muốn thấy ngôi thánh đường sạch sẽ ư ? Đừng làm cho linh hồn bạn ra ô uế vì những nhơ bẩn của tội lỗi. Chúng ta muốn vào ngôi thánh đường kia như thế nào, thì Thiên Chúa cũng muốn vào linh hồn bạn như thế, theo lời Người đã hứa : Ta sẽ ngự giữa họ và sẽ đi đi lại lại giữa họ.
13.Linh hồn mọi thánh đường--Lm. Minh Anh
BASILICA “Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người!”.
Một trong các triết gia ảnh hưởng đến việc trở lại của Augustinô là Victorinus – ông nổi tiếng đến nỗi được dựng tượng trong toà Rôma. Về già, ông đọc Thánh Kinh và các tác phẩm Kitô giáo. Ngày kia, thăm Simplicianus, ông nói, “Tôi muốn ngài biết, tôi là một Kitô hữu!”. Simplicianus đáp, “Tôi sẽ không tin cho đến khi ông đến nhà thờ!”; “Tường nhà thờ làm cho người ta thành Kitô hữu sao?”. Sau đó, học đạo, ông công khai trở lại!
Kính thưa Anh Chị em,
Đúng như Victorinus nhận định, “Những bức tường nhà thờ không làm cho người ta thành Kitô hữu!”. Hôm nay, lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô, một hình ảnh biểu tượng cho Hội Thánh, chúng ta không chỉ tôn vinh một đại giáo đường với các bức tường, nhưng tôn vinh Đấng ngự trong đó – Chúa Kitô – ‘linh hồn mọi thánh đường!’.
Dẫu không có toà nhà nào trên thế giới đủ lớn để chứa đựng sự bao la của Thiên Chúa; nhưng trong lịch sử, con người đã cảm thấy cần dành một số địa điểm nhất định cho các cuộc gặp gỡ cá nhân và cộng đồng với Ngài. Lúc đầu, nơi tụ tập của các tín hữu là nhà riêng của họ, các nhóm họp nhau để cầu nguyện và ‘bẻ bánh’ ở đó. Thời gian trôi qua, những cộng đoàn này đã xây dựng những ‘ngôi nhà’ dành riêng cho việc cầu nguyện, đọc Lời Chúa và cử hành phụng vụ. Và đây là cách Kitô giáo – từ những cuộc đàn áp đầu tiên cho đến ngày có tự do tôn giáo trong đế chế La Mã – bắt đầu xây dựng các nhà thờ, nhà nguyện lớn nhỏ và các vương cung thánh đường; trong đó, quan trọng nhất vẫn là đại giáo đường thánh Gioan Latêranô ở Rôma.
“Latêranô” biểu trưng cho sự hiệp nhất của tất cả các Giáo Hội hoàn vũ với Giáo Hội Rôma, và đây là lý do tại sao đại giáo đường này tự hào trưng bày trên hiên chính của mình danh hiệu “Mẹ và Đầu của tất cả các nhà thờ trong thành phố và trên thế giới”. Thậm chí nó còn quan trọng hơn Vương Cung Thánh Đường Phêrô, một đền thờ được xây trên mộ Phêrô và là ‘nơi ở’ hiện tại của Giáo Hoàng với tư cách Giám mục Rôma; dẫu thế, “Latêranô” vẫn là nhà thờ chánh toà của ngài. “Hôm nay, lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô, chúng ta hãy nhớ, Chúa Kitô muốn ngự trong mọi tâm hồn. Ngay cả khi chúng ta rời xa Ngài, Ngài vẫn tìm kiếm chúng ta; và dù chỉ ba ngày, cũng đủ cho Ngài xây dựng lại đền thờ Thiên Chúa trong linh hồn mỗi người!” – Phanxicô.
Anh Chị em,
“Những bức tường nhà thờ không làm cho con người thành Kitô hữu!”. Đúng thế, chúng ta đừng bao giờ quên sự thật rằng, điểm gặp gỡ thực sự giữa con người và Thiên Chúa chính là Chúa Kitô Phục Sinh, nguồn mạch ân sủng, “Nước từ phía dưới bên phải Đền Thờ chảy ra” – bài đọc một. Ngài là ‘linh hồn mọi thánh đường’. Đó là lý do tại sao Ngài được trao quyền dọn dẹp nhà cửa của Cha Ngài. Phaolô nhắc nhở, “Đền thờ của Thiên Chúa là thánh mà chính anh em là đền thờ ấy” – bài đọc hai. “Mỗi người chúng ta có thể tự hỏi – Chúa có cảm thấy thoải mái trong cuộc sống của tôi không? Chúng ta có để Ngài ‘thanh tẩy’ trái tim và xua đuổi các ngẫu tượng, những thái độ tham lam, ghen tị, thế tục, đố kỵ, hận thù không? “Thưa Đức Thánh Cha, con sợ roi vọt!”. Dẫu thế, đừng quên, lòng thương xót là cách thanh tẩy của Ngài!” – Phanxicô.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, chớ gì đừng có một ‘ngẫu tượng’ nào ngấp nghé trong bốn bức tường linh hồn con – ngoài Ngài. Con sợ roi vọt!”, Amen.
14.Lễ Cung Hiến Ðền Thờ Latêranô--Radio Veritas Asia
Hôm nay (Ngày 9 tháng 11) kỷ niệm ngày Cung Hiến Vương Cung Thánh Ðường Latêranô ở Rôma. Ôn lại một vài nét lịch sử là điều cần thiết để giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của ngày lễ này:
Năm 324 sau Công Nguyên, Hoàng đế Constantinô của Ðế quốc La Mã ra lệnh ngưng cuộc bách hại đối với tín hữu Kitô. Chỉ trong một thời gian ngắn vừa ra khỏi hang toại đạo, với đức tin được nung nấu trong suốt những năm dài bị bách hại, Cộng đồng tín hữu Kitô tại Rôma đã chấn hưng và phát triển nhanh chóng. Vì nhu cầu phụng tự và nhất là để nói lên niềm phấn khởi của những người vừa thoát khỏi những cơn bách hại. Người ta bắt đầu xây cất nhưng ngôi Thánh Ðường. Ngôi Thánh Ðường được xem là cổ xưa nhất đồng thời cũng là nhà thờ Chánh Tòa của vị Giám Mục Rôma, tức là Vương Cung Thánh Ðường Latêranô.
Ðược gọi là Latêranô vì Ngôi Thánh Ðường này tọa lạc trên một vùng đất đã từng có ngôi biệt thự của dòng họ Latêranô. Ðược trùng tu vào cuối thế kỷ thứ X, trước đây đã dâng hiến cho Thánh Gioan tẩy giả, cho nên từ đó Ngôi Thánh Ðường này cũng còn được gọi là Vương Cung Thánh Ðường Thánh Gioan Latêranô. Sở dĩ mỗi năm, Giáo Hội tưởng niệm lại biến cố này là bởi vì trước tiên Ngôi Thánh Ðường này là nhà thờ Chánh Tòa của vị Giám Mục Rôma, điểm quy chiếu và hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội. Ngoài ra, còn có một ý nghĩa khác không kém quan trọng mà biến cố này luôn gợi lại. Ðó là cuộc trở lại đức tin Công Giáo của cả Ðế Quốc La Mã vào thế kỷ thứ IX. Với việc xây cất và Cung Hiến đền thờ Latêranô, Giáo Hội không chỉ xây cất một nơi phụng tự bằng gỗ đá mà còn muốn hiến dâng cả một Ðế Quốc thành đền thờ cho Thiên Chúa.
Quý vị và các bạn thân mến,
Mỗi một tín hữu Kitô và mỗi một tạo vật đều phải được cung hiến để trở thành đền thờ cho Thiên Chúa. Ðây chính là ý nghĩa đích thực mà Giáo Hội muốn gợi lại trong ngày lễ hôm nay và đây cũng chính là ý nghĩa mà Chúa Giêsu đã nêu bật khi đuổi những người buôn bán và bọn đổi tiền ra khỏi đền thờ. Chúa Giêsu không chỉ thanh tẩy một nơi phụng tự, Ngài đến để khử trừ các thần tượng giả trá ra khỏi tâm hồn con người. Ngài đã từng tuyên bố: "Không ai có thể làm tôi hai chủ một lúc" (Mt 6:24). Nơi nào tiền bạc ngự trị thì nơi đó không còn chỗ cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu biết trước rằng, người ta sẽ xua đuổi Ngài ra khỏi đền thờ và treo Ngài trên thập giá. Ngài liền thách thức họ: "Hãy phá hủy ngôi đền thờ này và trong 3 ngày Ta sẽ xây lại" (Ga 2:19). Lúc ấy không ai hiểu được ngôn ngữ của Chúa Giêsu, về sau, sau khi Chúa Giêsu sống lại. Thánh Gioan tẩy giả đã nhớ lại câu nói của Chúa Giêsu và hiểu rằng: Ngài muốn nói đến ngôi đền thờ là thân xác của Ngài. Nhờ Thánh Thần mà Chúa Giêsu thông ban qua Phép Rửa tất cả mọi tín hữu Kitô cũng trở thành đền thờ của Thiên Chúa, Thánh Phaolô đã tuyên bố: "Anh em không biết rằng, anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần ngự trị trong anh em sao" (1Cor 3:16). Nói như thế không có nghĩa là chối bỏ những ngôi nhà thờ bằng gỗ đá. Niềm tin chỉ được thể hiện cách trọn vẹn khi các tín hữu được quy tụ và thờ phượng một cách công khai. Ðây vốn là nhu cầu thiết yếu của niềm tin Công Giáo. Các tín hữu Kitô Việt Nam chúng ta luôn thấy được nhu cầu cần thiết ấy, cho nên dù có vất vả lầm than và nghèo đói đến đâu, người ta vẫn quảng đại đóng góp để xây cất Thánh Ðường.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn mà có lẽ ngày lễ hôm nay nhắc nhở chúng ta chính là xây cất những Ngôi Thánh Ðường sống động, những Ngôi Thánh Ðường không nhất thiết phải xây bằng gỗ đá mà phải bằng cả cuộc sống của người tín hữu Kitô chúng ta. Trong ý nghĩa thiêng liêng ấy thì Giáo Hội phải được xây dựng trước tiên trong gia đình, nơi công sở, ngoài phố chợ, trong bất cứ nơi nào có sự gặp gỡ và trao đổi giữa người với người. Có như thế thì Giáo Ðường mới thực sự là nơi gặp gỡ để thờ phụng Chúa và có như thế thì con đường nào cũng sẽ dẫn về Giáo Ðường.
Cuốn phim có tựa đề "Sám Hối" của đạo diễn Nga được thực hiện cách đây 20 năm kể lại câu chuyện của một viên thị trưởng độc ác dã man của thời Liên xô. Hoạt động tàn ác tiêu biểu nhất của ông là lấy đền thờ làm chỗ thí nghiệm khoa học rồi cho nổ tung đền thờ. Ông muốn nhổ tận gốc rễ điều được cho là thuốc phiện ru ngủ quần chúng. Khi ông nằm xuống thì đám tang của ông cũng được tổ chức linh đình. Thế nhưng, chỉ một ngày sau thì xác của ông đã bị đào lên đến 3 lần do một phụ nữ vốn là con của một nạn nhân do chính ông gây ra. Ra trước tòa, người đàn bà cho biết sẽ còn tiếp tục quật mồ của ông.
Cuốn phim kết thúc với cuộc tự vẫn của cháu nội ông thị trưởng vì nó sám hối. Ðến lượt người con trai của ông cũng sám hối bằng cách đào mả ông và quăng xác ông xuống vực thẳm. Cảnh cuối cùng trong phim là cảnh bà cụ già đi ngang qua nhà của người phụ nữ đã quật mồ của ông thị trưởng, người này đang sống bằng nghề làm bánh ngọt, trên mỗi chiếc bánh đều có hình của tháp nhà thờ. Thấy vậy, bà cụ hỏi:
- Ðường này có đưa tới nhà thờ không?
Người phụ nữ đưa mắt nhìn về phía Ngôi Thánh Ðường đổ nát trả lời:
- Không, thưa cụ.
Bà cụ liền trợn mắt bảo:
- Ðường không đưa tới nhà thờ để làm gì?
Phải, thưa anh chị em, trong cuộc sống của mỗi người tín hữu Kitô chúng ta, biến cố nào cũng phải là sinh hoạt của nhà thờ và con đường nào cũng phải đưa vào nhà thờ bởi vì mỗi một người tín hữu Kitô chúng ta vốn là đền thờ của Thiên Chúa.
Sống như thế nào để trở thành con đường dẫn đến nhà thờ. Sống như thế nào để nhà thờ ấy không bị hoen ố. Ðó là điều mà Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta trong ngày lễ "Cung Hiến Ðền Thờ Latêranô" hôm nay.
15.Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh--Lm. Trần Bình Trọng
Triết gia cũng như thần học gia luôn tìm kiếm xem Thiên Chúa hiện diện ở đâu và hiện diện thế nào trong vũ trụ. Người ta biết Chúa hiện diện khắp mọi nơi, nhưng họ cũng dành những cách thế đặc biệt và những nơi đặc biệt cho Chúa ngự trị. Trong Cựu ước, đền thờ và hòm bia giao ước được coi là những nơi ngự trị đặc biệt của Chúa như Chúa phán Ta đã chọn và thánh hoá nhà này, để muôn đời Danh Ta ngự tại dây (2Sb 7:16). Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu tỏ ra khó chịu với những người đổi tiền bạc vì họ đã biến nhà Chúa Cha thành nơi buôn bán (Ga 2:16). Trong Tân Ước, ta có thánh đường và nhà tạm là nơi Mình thánh Chúa ngự. Ta biết Chúa hiên diện khắp nơi, nhưng đặc biệt Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh thể nơi nhà tạm.
Có những người có thể tự hỏi tại sao hôm nay Giáo Hội mừng nơi thờ phượng thay vì mừng kính ông thánh no, bà thánh kia. Giáo hội mừng kính nơi thờ phượng vì đền thờ Latêranô, nhà thờ chính toà của Đức Giáo Hoàng, tượng trưng cho các thánh đường công giáo, còn là biểu hiệu của hai sự vật quan trọng. Trước hết thánh đường là biệu hiệu của sự hiệp nhất và cộng đồng, qui tụ giáo dân lại trong một nhiệm thể màu nhiệm của Đức Kitô, để cầu nguyện, thờ phượng, cảm ta và xin ơn. Thánh đường còn là biểu hiệu của sự tiếp nối và truyền thống, có liên kết với quá khứ và cùng nhau hướng về tương lai để đối phó với những đổi thay và thách đố mới trong xã hội và trong Giáo hội.
Có những người cho rằng Chúa hiện diện khắp mọi nơi nên họ cho rằng không cần đến nhà thờ cầu nguyện và thờ phượng. Họ cần nhận thức rằng, loài người cần những biểu hiệu bên ngoài để khơi dậy những tâm tình bên trong. Loài người cũng cần những biểu hiệu đạo giáo để đưa họ vào thế giới thần linh và để khơi dạy những tâm tình thiêng liêng. Nếu là thiên thần, họ không cần biểu hiệu. Còn loài người thì lại cần biểu hiệu như thánh đường, bàn thờ, tượng ảnh, đèn nến... trong việc thờ phượng thể khơi dạy đức tin và tâm tình đạo đức bên trong. Do đó người chủ trương giữ đạo tại tâm, không cần thờ phượng ở thánh đường, là lừa dối mình. Đến thánh đường thờ phượng, đức tin của người tín hữu được nâng đỡ một cách tối đa. Khi thờ phượng công cộng tại thánh đường thì người có đức tin mạnh có thể giúp củng cố đức tin của người yếu đức tin. Đến thánh đường thờ phượng, người tín hữu được bổ dưỡng và tăng sức bằng lời Chúa và Mình thánh Chúa. Khi kiệt sức về đàng thiêng liêng, họ lại đến nhà thờ để được bổ dưỡng và tăng sức bằng lời Chúa và mình thánh Chúa.
Thánh đường công giáo được cung hiến để làm nơi thờ phượng công cộng. Trong thánh đường có sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh thể trong nhà tạm. Một dấu chỉ có Chúa hiện diện trong Bí tích thánh thể trong nhà tạm là khi đèn nhà tạm, thường là màu đỏ, được thắp sáng ở gần nhà tạm. Do đó người công giáo cần biểu lộ lòng tôn kính khi vào nhà Chúa. Người công giáo nên học hỏi với người thuộc các đạo khác xem họ tỏ ra tôn kính nơi thờ phượng của họ thế nào? Chẳng hạn người Do thái luôn tỏ ra tôn kính đền thờ và bàn thờ dâng lễ vật của họ. Họ luôn cảm tạ Thiên Chúa cho họ có được đền thờ và bàn thờ dâng lễ vật. Còn người Hồi giáo khi vào đền thờ, họ phải để giày dép ở ngoài để tỏ ta tôn kính nơi thờ phượng của họ.
Nhà thờ là trung tâm điểm của đời sống đức tin của người công giáo. Nhà thờ là nơi ta thường lui tới để cầu nguyện và thờ phượng hàng tuần hoặc hàng ngày, để nghe lời Chúa và rước Mình thánh Chúa. Sau khi chào đời, ta được đưa đến nhà thờ để lãnh nhận bí tích rửa tội. Ta được rước lễ lần đầu và thêm sức ở trong nhà thờ. Khi sa phạm tội, ta đến nhà thờ để lãnh phép cáo giải. Khi cưới hỏi, ta lại đến nhà thờ để lãnh nhận bí tích hôn phối. Khi một người đươc gọi lên bàn thánh, ta đến nhà thờ chính toà để dự lễ truyền chức linh mục. Khi mang bệnh nặng, ta còn được chịu phép sức dầu trong nhà thờ, hoặc tại nhà tư hay ở nhà thương. Và khi nằm xuống vĩnh viễn, xác ta được đem đến nhà thờ để được cử hành thánh lễ an táng.
16.Lễ Cung Hiến Đền Thờ Latêranô--Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC
Thưa anh chị em,
Hôm nay chúng ta mừng lễ kỷ niệm cung hiến thánh đường Latêranô. Đây là vương cung thánh đường cổ kính nhất của Hội Thánh, là nhà thờ chính toà của Đức Thánh Cha, giám mục thành Rôma, và là Mẹ của mọi nhà thờ trên thế giới.
Cung hiến thánh đường là dâng cho Chúa một ngôi nhà, để dành riêng cho việc phụng tự. Đồng thời nhà thờ là nơi các tín hữu họp nhau để tôn thờ, cảm tạ Chúa và cử hành mầu nhiệm đức tin. Dù nguy nga hay nhỏ bé, cổ kính hay hiện đại, mọi nhà thờ đều là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người. Chỉ nơi đây, con người mới gặp gỡ được Thiên Chúa trong niềm tin.
Mừng kỷ niệm cung hiến Đền Thờ Latêranô hôm nay, Hội Thánh không dừng lại ở việc tưởng niệm một công trình mang tính lịch sử. Nhưng qua việc tưởng niệm này, Hội Thánh muốn chúng ta hướng tới sự tôn thờ một Ngôi Đền Thờ lớn lao hơn, chất chứa mọi ngôi đền thờ, và vượt trên mọi ngôi đền thờ, đó chính là Ngôi Đền Thờ mang tên Giêsu Kitô.
Thật vậy, chỉ có Chúa Kitô mới là Đền Thờ đích thực như chính Ngài đã ám chỉ về mình trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày, Ta sẽ xây dựng lại”.
Như thế, Đức Giêsu không có ý nói đến đền thờ Giêrusalem, nhưng Ngài muốn nói đến chính đền thờ thân thể Ngài, thân thể bị phá hủy và được xây dựng lại; thân thể bị giết chết và được phục sinh. Đức Giêsu phục sinh trở nên Đền Thờ của Giao Ước mới, mọi tín hữu được mời gọi bước vào Đền Thờ này.
Anh chị em thân mến,
Hội Thánh sánh ví như một Đền Thờ thiêng liêng và mỗi tín hữu là một viên đá sống động, mà Đức Kitô là tảng đá nền.
Thánh Phaolô khẳng định “ Đền thờ của Thiên Chúa chính là anh em”. Hơn thế nữa, ngài còn nói: “Thân xác anh em là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần”. Như thế cả Hội Thánh và từng Kitô hữu chúng ta đều là Đền Thờ thiêng liêng, được thánh hiến qua Bí tích rửa tội.
Đền thờ Giêrusalem là nơi để thờ phượng Thiên Chúa; nhưng người Do thái đã tục hóa biến đền thờ thành nơi tụ tập buôn bán, đổi chác… vì thế, Chúa Giêsu đã thịnh nộ xô đổ bàn ghế, xua đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ.
Theo tư tưởng của thánh Phaolô tông đồ, tâm hồn mỗi Kitô hữu cũng là một đền thờ, thế nhưng, nhiều Kitô hữu đã biến đền thờ tâm hồn mình thành nơi đổi chác, buôn bán khi quá bận tâm về tiền tài, đam mê xấu, danh vọng thấp hèn, địa vị trần thế…
Mỗi người chúng ta, dù là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân -lúc này đây- thử xét xem: Nếu hôm nay Chúa Giêsu ‘bước vào’ đền thờ tâm hồn tôi, Ngài sẽ nổi giận về điều gì? Ngài xua đuổi những gì? Ngài hất đổ những gì?
Chớ gì nhân ngày mừng kỷ niệm cung hiến thánh đường Latêranô, Mẹ của các nhà thờ Công giáo trên toàn thế giới hôm nay, chúng ta được mời gọi bảo vệ ngôi nhà thờ giáo xứ chúng ta. Hơn nữa, không chỉ làm đẹp ngôi nhà thờ vật chất này, mỗi người chúng ta cũng nên ý thức giữ gìn tâm hồn luôn trong sạch để xứng đáng là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Đồng thời, chúng ta cũng luôn mở rộng vòng tay, sẵn sàng chia sẻ với những anh chị em bất hạnh, để tất cả chúng ta cùng liên kết với nhau trong một tình yêu. Nhờ đó, chúng ta có thể xây dựng một ngôi Đền thờ thật đẹp, ấm cúng tình người, tình Chúa, nơi mà muôn dân có thể đến để tôn thờ cảm tạ Chúa.
Chúng ta chung lời tạ ơn Chúa vì Chúa đã ban cho giáo xứ chúng ta có được ngôi nhà thờ khang trang, để hằng ngày, chúng ta đến gặp gỡ Chúa hiệp thông với nhau trong lời kinh, nhất là cử hành thánh lễ thờ phượng tôn vinh Chúa. Đồng thời, chúng ta càng hạnh phúc hơn khi được Chúa ngự vào đền thờ tâm hồn mình.
Tuy nhiên, vì mải mê lo toan cho cuộc sống hằng ngày, cùng với những tội lỗi chất chồng theo năm tháng, ngôi đền thờ tâm hồn chúng ta lắm khi trở nên tục hóa. Vì thế, xin Chúa thanh tẩy đền thờ tâm hồn chúng ta như Chúa đã thanh tẩy đền thờ Giêrusalem năm xưa.
Qua lời Chúa hôm nay, xin cho chúng ta biết quan tâm trân trọng nhà thờ, vì nhà thờ là nhà của Chúa, là nơi thờ phượng Chúa. Xin cho chúng ta biết gìn giữ đền thờ tâm hồn trong sạch để xứng đáng là nơi Chúa ngự. Amen.
17.Thanh tẩy--Lm. Inhaxiô Trần Ngà
Từ thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem...
Chúa Giêsu là Đấng rất hiền lành, và Ngài cũng là mẫu mực của sự hiền lành như lời Ngài dạy: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường...” ( Mt 11, 29 )
Khi Chúa Giêsu và các môn đệ bị người Samaria ngăn chặn không cho đi qua làng của họ mà tiến về Giêrusalem, Giacôbê và Gioan nổi giận đùng đùng, muốn khiến lửa trời xuống đốt, Chúa Giêsu quở trách Giacôbê và Gioan vì lối xử sự nóng nảy của các ông. (Lc 9, 54)
Khi có người cho Chúa là người mất trí (Mc 3, 21), là kẻ nói phạm thượng (Mt 9, 3), là người lấy phép của tướng quỷ mà trừ quỷ (Mt 9, 34), thậm chí là người bị quỷ ám (Ga 7, 20), là người dại dột... Chúa Giêsu cũng chẳng lấy làm điều.
Nhất là trong cuộc thương khó, người ta lăng nhục hành hạ Chúa đủ điều, Chúa vẫn nín thinh không nói một lời. Khi chịu treo trên thập giá đau đớn lại còn bị chế nhạo, Chúa Giêsu chẳng những không giận mà lại còn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho kẻ hành hạ lăng nhục Ngài. Nói chung, Chúa Giêsu là Đấng rất dịu hiền và rất bao dung khiến ta nghĩ rằng Ngài không hề biết giận là gì.
Vậy mà... khi Chúa Giêsu vào Đền Thờ Giêrusalem, thấy người ta làm ô uế đền thờ thì Ngài không thể nào chịu nổi. Ngài nổi giận thật sự. Tin Mừng Gioan ghi lại: Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”
Thế là để thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem khỏi bị tục hoá, Chúa Giêsu phải dùng đến roi vọt, dùng đến biện pháp cứng rắn không ai ngờ như “đổ tung tiền của những người đổi bạc”, “lật nhào bàn ghế”, dùng roi để ‘xua đuổi tất cả bọn’ ra khỏi Đền Thờ!
Thật không thể ngờ được! Một Chúa Giêsu rất mực hiền lành khiêm nhượng, Đấng mà “cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi” ( Mt 12, 20 )... giờ đây phải dùng roi vọt và biện pháp cứng rắn đối với những người xúc phạm đến sự linh thánh của Đền Thờ Giêrusalem. Điều đó chứng tỏ cho thấy rằng việc làm ô uế Đền Thờ là một hành vi rất tai hại khiến Chúa Giêsu đau khổ và bất bình xiết bao!
Đến thanh tẩy đền thờ thân thể chúng ta
Thân thể chúng ta cũng là những Đền Thờ, xét ra còn cao trọng hơn Đền Thờ Giêrusalem xưa. Trong chương 3 của thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô dạy: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3, 13) và qua chương 6, Thánh Phaolô tái khẳng định chân lý này: “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?” (1 Cr 6, 19)
Chúa Giêsu cũng dạy rằng có Thiên Chúa Ba Ngôi hằng ngự trị nơi những ai yêu mến và tuân giữ lời Ngài: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23).
Bản thân chúng ta là những Đền Thờ cao quý hơn mọi thánh đường trên khắp thế gian, vì đây là những Đền Thờ sống động, có linh hồn, có trí khôn... chứ không phải bằng gỗ đá vàng bạc vô tri vô giác, được chính Ba Ngôi Thiên Chúa xây dựng nên theo hình ảnh Ngài, được Chúa Giêsu đổ Máu Thánh ra mà cứu chuộc, được Chúa Thánh Thần xức dầu thánh hiến trong ngày lãnh Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức, được Chúa Giêsu tô điểm và bồi bổ bằng lời hằng sống cũng như bằng chính Thịt Máu Ngài và nhất là mai sau được đưa lên cõi trời vinh hiển. Không một ngôi Thánh Đường vật chất nào trên thế gian có được những vinh dự lớn lao như thế.
Vậy nếu Chúa Giêsu yêu quý Đền Thờ Giêrusalem một thì Ngài còn yêu quý các Đền Thờ sống động này gấp trăm. Thế nên, Ngài đã không tiếc khi lấy chính Máu Thánh mình mà thanh tẩy chúng; không tiếc hiến mạng mình để chuộc lại chúng. Như thế thì bản thân mỗi người Ki-tô hữu là Đền Thờ vô giá!
Những người làm ô uế Đền Thờ Giêrusalem thì bị Chúa Giêsu đuổi đi bằng roi vọt; còn ai làm hư hại Đền Thờ thiêng liêng nơi người tín hữu thì bị Chúa đe phạt nặng nề hơn: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.” (Mc 9, 42) Có lẽ không còn răn đe nào nghiêm khắc hơn!
Xin hãy hồi tâm...
Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy cảnh tỉnh nhìn lại mình, nhìn thật sâu vào nội tâm sâu thẳm của bản thân chúng ta là Đền Thờ Thiên Chúa để nhận ra những ý tưởng đen tối, những tham vọng xấu xa, những đam mê tội lỗi đang ẩn mình trong đó... để sớm quét sạch chúng đi. Chính mỗi người chúng ta là thủ phạm trực tiếp làm ô uế Đền Thờ thân thể mình chứ không ai khác. Vậy hãy liệu mà thanh tẩy kịp thời trước giờ Chúa Giêsu lại đến.
18.Đền Thờ Tâm Hồn--Enzodi
Khoảng năm 312, hoàng đế Rôma Constantinô vừa mới trở lại Kitô giáo, đã dâng tặng Đức giáo hoàng Miltiade (311-314) cung điện Latêrani trên núi Coelius. Một ít thời gian sau, Đức giáo hoàng cho xây ở đây một thánh đường, đó là vương cung thánh đường Latêranô, là ngôi thánh đường cổ nhất và có địa vị cao nhất trong số các thánh đường của phương Tây. Một truyền thống nói rằng thánh đường này được Đức Giáo Hoàng Sylvestre (314-335) cung hiến ngày 9 tháng 1 năm 324. Bảng chữ trên cửa lớn của thánh đường ghi: "Mẹ và Đầu của mọi thánh đường". Thật vậy, vương cung thánh đường này là nhà thờ chính của Đức giáo hoàng trên cương vị Giám mục Rôma, nhưng vì ngài cũng là mục tử tối cao của Hội Thánh Công Giáo, nên các nhà thờ thuộc nghi lễ Rôma trên toàn thế giới, khi long trọng mừng kỷ niệm thánh đường Latêranô, thì đồng thời cũng mừng sự hiệp nhất hoàn vũ của Hội Thánh Chúa Giêsu Kitô, và thánh đường là biểu tượng của sự hiệp nhất đó.
Ban đầu thánh đường được cung hiến dưới tước hiệu Vương cung thánh đường Chúa Cứu Thế, sau đó được dâng kính hai thánh Gioan Tẩy Giả và Gioan Tông Đồ ; thực vậy, thánh đường này có giếng rửa tội cổ xưa nhất của Rôma: hàng ngàn tân tòng đến đây lãnh phép rửa tội, nhất là trong đêm Phục Sinh. Vì vậy thánh đường này đã giữ lại tước hiệu Thánh Gioan Latêranô (Saint-Jean-de-Latran). Sau khi bị hư hại nặng vì chiến tranh, hoả hoạn và bỏ hoang, thánh đường đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIII cho xây dựng lại và được cung hiến lại năm 1726.
Cung điện Latêranô là một phức hợp gồm các căn hộ, phòng họp lớn của các công đồng, thư viện và tu viện, và đã là toà của các vị Giáo hoàng trong hơn một ngàn năm, cho đến khi Đức Giáo Hoàng Nicolas V (1477-1455) rời Coelius và đến ở Vaticanô. Cung điện này cũng từng là nơi nhóm họp của 250 công đồng, trong đó có 4 Công Đồng Chung. Bị hỏa hoạn năm 1308 và bị bỏ hoang trong thời các Giáo hoàng đến ở Avignon, cung điện đã bị tàn phá và được xây dựng lại thời Đức giáo hoàng Sixtô Quint (1585-1590). Trong một toà nhà ngày nay được ngăn đôi, có gian Thánh và gian Cực Thánh (nhà thờ cũ của Giáo hoàng).
Thông điệp và tính thời sự
a. Đoạn sách thứ nhất trong hai đoạn được đề nghị cho bài đọc 1 trích từ sách Êdêkien (47, 1. . .12) có đoạn này: Có nước vọt ra từ dưới ngưỡng cửa Đền Thờ và chảy về phía đông... Người ấy đưa tôi ra ngoài và nói với tôi: "Nước này chảy về miền đất phía đông, xuống vùng thung lũng Giorđan, và đổ ra biển Chết và làm cho nước biển hóa lành. Nước chảy đến đâu thì mọi sinh vật sẽ được sống và sinh sôi nảy nở. . ."
Trong đoạn sách này, ta thấy rõ ràng biểu tượng về phép rửa, và về Hội Thánh như là Dân Thiên Chúa và như là Đền Thờ. Điều này cũng nhắc nhớ chúng ta rằng lịch sử cứu độ có tính đặc trưng bí tích và được hoàn thành nơi Đức Kitô, Đấng thể hiện nơi bản thân Người chân lý viên mãn của mỗi biểu tượng, kể cả biểu tượng về Đền Thờ, như thánh Gioan nhấn mạnh trong Tin Mừng của thánh lễ (2, 13-22): "Nhưng Đền Thờ mà Người (Chúa Giêsu) nói đến, đó là thân mình Người."
Tiếp theo chủ đề bí tích, phép rửa và Kitô học, đoạn sách thứ hai được đề nghị cho bài đọc 1 (1 Cr 3, 9. . .17) triển khai chủ đề giáo hội học, vì các tín hữu giống như những viên đá sống động, những vật liệu làm thành toà nhà thiêng liêng được đặt trên viên đá góc là Đức Kitô: Anh em là nhà được Thiên Chúa xây lên. . .Vì không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô.
b. Trong nhiều thế kỷ, thánh đường Latêranô từng là nơi mà nền phụng vụ của Giáo hoàng được triển khai những bước đầu tiên, trước khi nó truyền lại kiểu cách cử hành của nó cho tất cả các Giáo Hội phương Tây. Ở đây thánh đường Latêranô không chỉ là một "trung tâm mới của thế giới", thay thế cho Giêrusalem, mà còn là một kiểu mẫu cho mọi thánh đường, cũng được gọi là mẹ, vì sinh ra những con cái Thiên Chúa qua phép rửa, và cũng vì sinh ra những Giáo Hội và cộng đoàn khác qua lực đẩy truyền giáo của những thánh đường này. Do đó, cử hành lễ kỷ niệm này cũng có nghĩa là trở về nguồn khai sinh và phát triển của người Kitô hữu, phần tử của một Giáo Hội địa phương được sinh ra bởi phép Rửa, được trở nên phong phú bởi phép Thêm Sức và được nuôi dưỡng bởi Thánh Thể. Tuy nhiên, mọi Giáo Hội địa phương đều gắn kết với Giáo Hội Mẹ, được biểu trưng bằng Giáo Hội Rôma, với nhà thờ lớn là vương cung thánh đường Latêranô, "Mẹ và Đầu của mọi Giáo Hội".
c. Chúng ta thấy rõ tính thời sự của lễ này: là những phần tử sống động của Giáo Hội địa phương, tất cả chúng ta có trách nhiệm làm cho Giáo Hội này noi gương Giáo Hội mẹ, sinh ra những Giáo Hội và cộng đồng khác, đi ra khỏi những bức tường kín hay những ranh giới địa lý của mình, để mở ra cho toàn thế giới.
Cũng vậy, mừng lễ cung hiến thánh đường Latêranô nhắc chúng ta nhớ lại phép rửa tái sinh của chúng ta: "... Trước khi chịu phép rửa, chúng ta là những đền thờ của ma quỉ ; sau khi chịu phép rửa, chúng ta được trở nên những đền thờ của Thiên Chúa. . .Vì thế, thánh Phaolô đã nói: Đền thờ của Thiên Chúa là thánh, và đền thờ đó chính là anh em." Nhưng ân huệ này đòi hỏi chúng ta rất nhiều: "Anh em muốn có một thánh đường sáng láng ư? Đừng để tội lỗi làm nhơ bẩn tâm hồn anh em. Nếu anh em muốn thánh đường được chiếu sáng, và Thiên Chúa muốn điều đó, hãy để ánh sáng của các việc lành chiếu sáng nơi anh em. . ." (Trích một bài giảng của thánh Césaire d'Arles, trong Giờ Kinh Sách).
19.Đức Giêsu Tẩy Uế Đền Thờ--Lm. PX. Vũ Phan Long OFM
1. Ngữ cảnh
Lần đầu tiên, tác giả Ga có một bản văn song song với các TMNL (Mc 11,15-19; Mt 21,12-17;Lc 19,45-48). Tuy nhiên, có những khác biệt:
- Trong khi TM IV đặt biến cố này vào đầu sứ vụ của Đức Giêsu, các TMNL lại đặt ở đầu tuần Khổ Nạn.
- Lý do đã thúc đẩy Đức Giêsu can thiệp được gợi hứng bởi các bản văn ngôn sứ, cũng không giống nhau: “một nơi buôn bán” (Ga 2,16) thì nhắm đến chuyện mua qua bán lại, còn “sào huyệt của bọn cướp” (Mc 11,17 và các bản văn song song) thì hàm chứa một cáo giác về sự trộm cắp.
- Cuối cùng, cuộc cãi vã giữa Đức Giêsu và các đối thủ xảy ra ngay sau đó (theo Ga), hoặc lại vào ngày hôm sau (theo các TMNL: Mc 11,28 và các bản văn song song).
Trong quá khứ, người ta thường đề nghị một giả thuyết, theo chiều hướng dung hòa (concordism): Đức Giêsu đã đuổi những người buôn bán khỏi Đền Thờ 2 lần, vào đầu sứ vụ (Ga) và cuối sứ vụ (TMNL). Nhưng dường như khó tin được rằng Đức Giêsu có thể lặp lại được một thách đố như thế đối với giới lãnh đạo Do Thái giáo. Đàng khác, giữa bản văn của Ga và của các TMNL, có những nét tương đồng, khiến người ta phải nghĩ rằng hầu chắc các bản văn ấy đều đề cập tới một biến cố duy nhất: nơi cả hai bên, ta đều thấy cùng một cơ hội đã khiến Đức Giêsu làm cử chỉ ấy (sự hiện diện của những người buôn bán và đổi tiền trong Đền Thờ), có một lời Đức Giêsu trách mắng những người bán hàng, sự can thiệp của các thủ lãnh Do Thái, và nhất là dây liên hệ chặt chẽ giữa hành động này và cái chết của Đức Giêsu (Ga 2,17.19; Mc 11,18; Lc 19,47).
Vậy phải chọn giữa bài của Gioan và bài của TMNL: bài nào đã đặt biến cố này vào đúng thời điểm?
1. Đa số các nhà chú giải Công Giáo và nhiều nhà chú giải Tin Lành ủng hộ bài của Ga. Luận điểm chính nằm trong chi tiết về thời gian do Ga 2,20 cung cấp: Công việc xây dựng Đền Thờ bắt đầu từ năm 20/19 tCN (Fl. Josèphe, Ant XV, 380); vào lúc này là năm 28/27 sau CN: thời điểm này phù hợp với khởi đầu sứ vụ của Đức Giêsu hơn. Khi đó, người ta hiểu các TMNL đã đặt biến cố này vào cuối sứ vụ của Đức Giêsu, bởi vì các TMNL chỉ nói đến một chuyến đi lên Giêrusalem duy nhất và một lễ Vượt Qua duy nhất. Còn khi đọc TM Ga, chúng ta thấy ít nhất Đức Giêsu lên Giêrusalem ba lần để tham dự lễ Vượt Qua (Ga 2,13; 6,4 và 11,55).
2. Những người nghiêng về các TMNL thì ghi nhận trước tiên rằng dây liên kết giữa thách đố này của Đức Giêsu và cái chết của Người không mấy phù hợp với thời gian khởi đầu sứ vụ của Người. Tại cuộc xử án Đức Giêsu, lời của các nhân chứng nhắc lại câu tuyên bố của Người về việc phá Đền Thờ giả thiết là sự việc mới xảy ra, nên người ta còn nhớ rõ. Nhưng luận điểm mạnh nhất, là tác giả Ga đã đưa bài tường thuật này ra đầu sứ vụ của Đức Giêsu, vì ngài trung thành với quan điểm ngài đã biểu lộ trong bài tường thuật Dấu lạ Cana (2,4.11): ngài muốn quy hướng toàn thể sứ vụ của Đức Giêsu ngay từ đầu về “giờ” Khổ Nạn của Người; hơn nữa, ngài muốn rằng Do Thái giáo chính thức được chứng kiến Đức Giêsu biểu lộ tư cách Mêsia của Người ngay từ đầu, để những người Do Thái phải ở trong một tư thế bị phán xét.
Nói cho cùng, thật khó chọn bài nào, bởi vì cả hai luận đề đều có những lập luận vững chắc.
Đặt vào trong ngữ cảnh TM IV, chúng ta thấy bài này nối tiếp truyện Tiệc cưới Cana ở 2,1-11. Trong truyện Tiệc cưới Cana, có nhiều phạm trù chỉ thời gian (trước/sau; thiếu/dồi dào; rượu xoàng/rượu ngon); trong bài tường thuật Thanh tẩy Đền Thờ, lại có nhiều phạm trù chỉ không gian (Đền Thờ/xua đuổi/khỏi nơi đây/nhà Cha tôi). Do đó, có thể nói rằng, trong ngày đầu, tác giả Gagiới thiệu Đức Giêsu như là Đấng thánh hóa cả những thời gian lẫn những không gian thánh thiêng của Israel.
2. Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ (2,13-17);
2) Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (2,18-22);
3) Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (2,23-25).
3. Vài điểm chú giải
- Gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái (13): Thời gian của dấu lạ này dĩ nhiên gợi nhớ tới lễ Vượt Qua trong đó Đức Giêsu sẽ bị xử tử. Tương quan giữa việc tẩy uế Đền Thờ và cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu đã được ám chỉ. Mc 11,18 và Lc 19,47t sẽ ghi nhận rằng sự can thiệp của Đức Giêsu, vì kết án cả giới lãnh đạo Do Thái giáo, sẽ khiến các thượng tế và các kinh sư quyết định “giết Người”.
- trong Đền Thờ (en tô hierô, 14): Đây là tiền đường của Đền Thờ (đối lại với naos là Đền Thờ đúng nghĩa, gần gian Thánh và gian Cực Thánh, có thể gọi là “cung thánh”). Từ ngữ hierôn được dùng 13 lần (x. cả naon trong Ga 2,19.20.21).
- Các môn đệ của Người nhớ lại (17):Sau khi Đức Giêsu sống lại, khi Thánh Thần đã ban cho các ông hiểu các dấu lạ Thầy đã làm, các môn đệ đã hiểu biến cố hôm nay.
- Người Do Thái (18): Trong thực tế, đây là giới lãnh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh), những người chịu trách nhiệm về tình trạng tiêu cực vừa bị Đức Giêsu kết án. Như ở khắp nơi trong TM IV, tác giả không phân biệt giữa các nhà lãnh đạo và Dân Do Thái đã từ chối tin vào Đức Kitô. Vậy phải nói là toàn thể hệ thống phượng tự của Dân này đang được đề cập đến.
- Các ông cứ phá hủy (làm tan rã) Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy) (19): Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hãy phá hủy…”, hoặc như một câu ở thì tương lai: “Các ông sẽ phá hủy…”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy…”. Thật ra, các động từ “làm tan rã” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một tòa nhà vật chất cả. Từ ngữ naos có thể hiểu là Đền Thờ đúng nghĩa.
- bốn mươi sáu năm (20):Đền Thờ, với phần cung thánh và tiền đường, đã được vua Hêrôđê rộng tay cung cấp tiền bạc sửa sang lại thật huy hoàng. Khởi công vào năm 16 triều đại ông (x. Fl. Josèphe, Ant. jud., 15, 11, 1) vào năm 734-735 thành Rôma, là năm 20-19 tCN, các công việc đã kéo dài cho tới thời Tổng đốc Anbinô, năm 62-64 (Ant. jud., 20, 9, 7). Vào thời điểm của bài tường thuật này, chúng ta ở vào năm xây dựng thứ 46. Lấy khởi điểm là năm 20 hoặc 19, sự cố tẩy uế Đền Thờ đã xảy ra vào lễ Vượt Qua năm 27 hoặc 28. Điều này phù hợp với Lc 3,2, vì bản văn này đã xác định phép rửa của Đức Giêsu xảy ra vào năm 15 triều đại Tibêriô, tức giữa ngày 1-10-27 và 30-9-28.
- là chính thân thể Người (21): Đền Thờ mới sẽ thay thế Đền Thờ cũ đã bị tục hóa chính là thân thể phục sinh của Đức Kitô. Với lời giải thích của thánh Phaolô (1 Cr 3,16 và 12,27; x. Ep 2,21 và 4,12), Đền Thờ mới là Giáo Hội, thân thể vinh hiển của Đức Kitô Phục Sinh, và tất cả các tín hữu được kết hợp với Người.
- Vậy, khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại … Họ tin (22): Mc cứ đều đặn ghi nhận rằng các môn đệ không hiểu. Ga thì nói cách tích cực rằng các môn đệ hiểu sau khi Đức Kitô đã sống lại (12,16). Chỉ khi Đức Giêsu được tôn vinh, các ông mới được nhận Thánh Thần (7,39), và Thánh Thần mới cho các ông hiểu tất cả những dấu lạ Đức Giêsu đã thực hiện (14,26; 15,26t). Vậy, đức tin của các môn đệ không được liên kết với cuộc Phục Sinh như với một bằng cớ về tính xác thực của những gì Đức Giêsu đã nói, nhưng như với nguyên do (= nguồn) ban Thánh Thần, là Đấng duy nhất cho phép hiểu.
- Họ tin vào Kinh Thánh (22): Không thể xác định rõ tác giả Ga ám chỉ tới đoạn Cựu Ước nào. Có thể so sánh Cv 2,24t; 13,34tt, trong đó có những bản văn thường được Giáo Hội tiên khởi nhắc đến trong quan hệ với sự Phục Sinh của Đức Giêsu (đặc biệt Tv 15/16,10). Chúng ta ghi nhận rằng Kinh Thánh (Lời Thiên Chúa) và lời Đức Giêsu được đặt trên cùng một bình diện (so sánh Ga 18,9.32) để làm nên đối tượng đức tin của các môn đệ.
- nhiều kẻ tin (23):Nhiều người tin rằng Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa (3,2), nhưng không tin vào tất cả mầu nhiệm bản thân Người. Lòng tin của họ chỉ dựa trên các phép lạ, nên không phải là không có giá trị, nhưng bất toàn (4,48; 20,29).
4. Ý nghĩa của bản văn
Đức Giêsu cũng tham dự vào mộtđại lễ khác. Đây không phải là mộtlễ của mộtđôi vợ chồng được cử hành bởi gia đình và mọi người thân thuộc trong khung cảnh mộtthôn làng như Cana ở Galilê, nhưng là lễ Vượt Qua, lễ trọng nhất của Israel, khi đó toàn dân quy tụ lại Giêrusalem. Israel tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi Ai Cập và tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã làm cho họ thành mộtdân độc lập và thành Dân Ngài.
* Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ (13-17)
Tại Đền Thờ, Đức Giêsu đã không góp phần cứu lấy và gia tăng niềm vui của ngày đại lễ, nhưng đã làm tăng thêm tình trạng náo nhiệt trên sân Đền Thờ. Con người đã rảo qua xứ sở cách an hòa (1,29.36) và đã ra tay cứu chữa lễ mừng Cana cách hiệu quả, nay lại tỏ mình ra dưới mộtphương diện hoàn toàn khác. Là mộtngười khách hành hương vô danh đến từ miền Galilê, Người đã gây ra mộtsự cố “động trời” tại Đền Thờ Giêrusalem. Theo TM IV, vào chuyến hành hương đầu tiên thuộc đời sống công khai của Người, Đức Giêsu đã bắt đầu hoạt động tại Giêrusalem như thế đó, bắt đầu từ sân dành cho Lương dân, phần ít cao quý nhất của tiền đường, phần duy nhất mà người ngoại quốc được đặt chân đến.
Truyền thống vẫn yêu cầu người ta tỏ ra trang nghiêm kính cẩn tại vùng sân này, chẳng hạn, phải tránh đi qua đó chỉ để đi tắt. Nhưng các quy định này, đặc biệt vào dịp lễ Vượt Qua, không được tuân giữ: do khách hành hương phải chuẩn bị các của lễ đúng quy định (một con bò hoặc một con chiên cho trường hợp những người giàu, một con bồ câu cho trường hợp những người nghèo), và một nửa đồng bạc Do Thái (một siklos, hoặc šeqel bằng 4 ngày công) đóng thuế Đền Thờ, họ đã mua bán đổi chác gây huyên náo hỗn độn ngay tại đây. Các cửa hàng của những người bán bò và chiên được bố trí dưới các cổng, bàn của những người đổi bạc được đặt ngay ngoài trời, đã biến vùng sân này thành một cửa hàng tạp hóa vĩ đại. Tất cả tùy thuộc cách người ta quan niệm việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền Thờ. Hẳn là dân chúng nghĩ rằng có thú vật và tiền lẻ ngay tầm tay và đặt mọi sự dưới quyền kiểm soát của giới hữu trách Đền Thờ là tiện nhất. Nhưng điều này lại không phù hợp với quan niệm của Đức Giêsu về nhà của Cha Người. Người gọi Thiên Chúa là Cha và xác định cách cư xử dựa trên ý tưởng Người có về nhà Thiên Chúa. Không phải là mọi chuyện đều có thể chấp nhận. Không phải là cứ chuyện nào tiện lợi hoặc đưa lại tiền bạc là đúng đắn. Buôn bán thú vật được dùng làm lễ hy sinh là mộtsinh hoạt đáng trọng, nhưng phải cách xa nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa và nơi người ta tôn kính Người. Đức Giêsu thấy có những lạm dụng.
Nay đã được đặt để trong chức năng Mêsia-Con Thiên Chúa, Đức Giêsu không chỉ vào Nhà Thiên Chúa như một khách hành hương, mà còn là người quản lý và chủ nhân. Nếu Người đã làm hành vi chứng tỏ uy quyền này ngay tại Đền Thờ có lẽ là để tự mạc khải ngay giữa lòng Do Thái giáo, trước mặt các nhà lãnh đạo và đám đông đa tạp các khách hành hương, nhờ thực hiện sấm ngôn Malakhi: “Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mới mà các ngươi đợi trông đang đến … Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim… Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi (các thừa tác viên Đền Thờ) …” (Ml 3,1-3).
Không màng tới các rủi ro, Đức Giêsu không ngần ngại nối kết sức lực của cánh tay vào sức mạnh của lời nói để thực hiện nguyện vọng của Cha Người, được diễn tả qua miệng ngôn sứDacaria: “Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong Nhà Đức Chúa các đạo binh nữa” (Dcr 14,21). “Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân” (Is 56,7), nhưng “Phải chăng các ngươi coi nhà này, nơi danh Ta được kêu khấn, là hang trộm cướp sao?” (Gr 7,11). Đức Giêsu đã can thiệp bằng biện pháp rõ ràng và dứt khoát: “Người xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: ‘Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây’” (2,15-16). Trong nhà Chúa Cha, Chúa Cha đang hiện diện; người ta phải suy nghĩ và hành động tương ứng với chân lý này.
Cử chỉ này, trực tiếp nhắm đưa Đền Thờ trở lại với sự thanh sạch vẫn có, dường như có một tầm mức biểu tượng. Bằng cử chỉ này, Đức Kitô muốn nói rằng Người sẽ truất các tư tế mất quyền điều hành Đền Thờ Thiên Chúa và sẽ loại bỏ tất cả các lễ hy sinh thú vật để thay thế bằng lễ dâng tinh tuyền mà Thiên Chúa cũng đã loan báo qua miệng ngôn sứ Malakhi: “Ta chẳng ưng nhận lễ phẩm từ tay các ngươi dâng … Và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta” (Ml 1,10-11). Đúng là đã tới “Giờ” rồi.
Vào lúc ấy, hẳn là sự can thiệp cương quyết của Thầy đã khiến các môn đệ thắc mắc, nhưng nhất là khiến các ông lo sợ rằng Người sẽ phải gánh chịu những hậu quả tệ hại, từ phía những lái buôn và những thừa tác viên Đền Thờ. Khi đó, các môn đệ đã nghĩ tới tiếng kêu của tác giả Tv 68/69: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân …”, thiệt thân vì sự nhiệt thành của mình và vì những đối thủ. Vào lúc chịu Khổ Nạn, khi tuyên bố rằng Tv này được ứng nghiệm nơi Người (Tv 68/69,5; x. Ga 15,15), Đức Giêsu công nhận rằng các ông đã linh cảm đúng: sự nhiệt thành đã thiêu đốt Người bên trong vào lễ Vượt Qua đầu tiên, sẽ thiêu đốt Người hoàn toàn vào lễ Vượt Qua cuối cùng, để biến Người thành một lễ hy sinh “đẹp lòng Chúa hơn bò bê đủ móng đủ sừng” (Tv 68/69,32). Người chính là Đấng công chính chịu đau khổ để thanh tẩy Đền Thờ và nền phượng tự cũ hầu xây dựng một Đền Thờ mới và thiết lập một nền phượng tự mới (cc. 19-21). Việc chuyển đi từ cái cũ sang cái mới sẽ được thực hiện nhờ cái chết của Đức Giêsu.
* Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (18-22)
“Người Do Thái” đây là giới lãnh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh), nhưng cũng là dân Do Thái, đã hỏi: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (c. 18). Đây là đề tài căn bản của tất cả những xung đột sau đó giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Do Thái giáo. Đức Giêsu đã yêu cầu trả lại phẩm cách trang nghiêm cho nhà Chúa Cha; điều này không thỏa mãn người Do Thái, cũng như tất cả những gì Đức Giêsu sẽ nói và sẽ làm cũng chẳng thỏa mãn họ (x. 5,16; 6,30; 9,16; 11,45-53). Hẳn là các nhà chức trách Do Thái cảm thấy khó chịu gai chướng bởi một sáng kiến vừa lạ lùng vừa cách mạng như thế: dù không có chức tư tế và không có nhiệm vụ gì ở Đền Thờ, Đức Giêsu vừa kết án một hệ thống được các nhà chức trách chuẩn nhận, mà như thế là tự cho mình có một uy quyền cao hơn uy quyền của họ. Thậm chí Người còn muốn nói là Người triệt tiêu nền phượng tự đã từng được Thiên Chúa thiết lập ở đấy, và như thế là tự gán cho mình có một uy quyền ngang bằng với uy quyền của Thiên Chúa mà Người gọi là “Cha Người”! Bởi vì Người cho rằng Người có một uy quyền thần linh, thì Người phải chứng minh điều ấy bằng cách làm một dấu lạ: một hành động phi thường cho thấy dấu ấn của Thiên Chúa trên sứ mạng cứu thế của Người (x. Mt 11,38; 16,1; Mc 8,11; Lc 11,16; 1 Cr 1,22).
Đức Giêsu đáp: “Các ông cứ phá hủy (làm tan rã) Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy)” (c. 19). Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hãy phá hủy …”, hoặc như một câu ở thì tương lai: “Các ông sẽ phá hủy…”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy …”. Trong bối cảnh của cuộc tranh luận, Đức Giêsu dường như ám chỉ việc phá hủy và xây lại ngôi Đền Thờ bằng đá tọa lạc ngay gần bên. Người Do Thái nghĩ ngay đến Đền Thờ ấy, và cho rằng không thể làm như thế được. Quả thật, phải là điên thì mới nghĩ có thể xây lại trong ba ngày; cũng phải là điên thì mới nghĩ rằng có thể đụng chạm được tới Đền Thờ này! Cứ lấy lương tri mà xét, lẽ ra người Do Thái không nên gán những ý tưởng ấy cho một người có đầu óc sáng suốt: là những người Đông phương, đã quen với giọng văn bóng bảy cũng như những câu nói hiểm hóc, hẳn là họ phải ngờ rằng ở đây có một ý hướng biểu tượng, nhất là những động từ “làm tan rã” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một tòa nhà vật chất cả. Nhưng họ cố ý nhắm vào ý nghĩa vật chất, cũng như người phụ nữ Samari khi đề cập tới nước ban sự sống (4,11-15), như những người Do Thái khi đề cập tới bánh ban sự sống (6,34) [xem lời các nhân chứng tạo tòa án (Mt 26,61; Mc 14,58) và những người qua đường (Mt 27,40; Mc 15,29)]. Dấu lạ Đức Giêsu loan báo ở đây tương ứng với câu trả lời cho người Pharisêu trong Mt 12,39t và 16,4.
Người Do Thái quy các lời Đức Giêsu nói vào ngôi Đền Thờ bằng gạch đá nên đã hiểu sai ý Người (x. 3,4). Đức Giêsu đang nói với họ: Các ông có thể giết chết tôi. Các ông có thể đẩy tôi đến thử thách lớn lao cùng cực nhất. Nhưng rồi tôi sẽ hoàn tất công trình của tôi và sẽ tự mạc khải ra vĩnh viễn. Trong TM IV, có nhiều lần người Do Thái hiểu lầm Đức Giêsu; thường các hiểu lầm đó liên hệ đến mầu nhiệm bản thân Đức Giêsu (Kitô học Ga): 2,19-21; 6,51-53; 7,33-36; 8,21-22; 12,32-34; 13,36-38; 14,4-6; 16,16-19.
Phần các môn đệ, sau khi Đức Giêsu sống lại, các ông mới hiểu được ý nghĩa của câu nói huyền bí ấy, và “đã tin vào lời Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói” (c. 22). Nhưng ở đây tác giả Ga cho chúng ta được hiểu trước biến cố ấy: Đức Giêsu nói, không phải về Đền Thờ bằng gạch đá, nhưng hoàn toàn về Đền Thờ là thân thể của Người, nhân tính của Người. Các từ ngữ Người dùng phù hợp với ý nghĩa đó hơn: “Cứ làm tan rã Đền Thờ là thân thể của tôi đi (Các ông sẽ gây ra sự tan rã, cái chết, cho thân thể tôi), và trong ba ngày, tôi sẽ dựng lại (sẽ đánh thức dậy khỏi giấc ngủ ấy)”. Đàng khác, ý nghĩa hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh. Nếu các môn đệ đã linh cảm rằng lòng nhiệt thành của Đức Giêsu đối với ngôi nhà vật chất của Thiên Chúa sẽ khiến Người bị các đối thủ hãm hại (c. 17), Đức Giêsu còn biết rõ hơn các ông rằng cử chỉ này sẽ đưa Người tới cái chết. Như vậy, cái chết đối với Đức Giêsu không phải là một tai nạn bất ngờ hoặc một thất bại không thể tránh được, nhưng là một thử thách Người tự do chấp nhận, để rồi tiếp theo là một Sự Sống dồi dào phong phú hơn. Đã được báo trước như vậy, người Do Thái sẽ không thể coi đó là một chiến thắng, còn các môn đệ không thể coi đó là một cớ vấp phạm được.
Ở đây, ngay trong cuộc gặp gỡ đầu tiên này, ta đã thấy rõ các hậu quả của cuộc xung đột sẽ là thế nào và mục tiêu của con đường Đức Giêsu theo là gì: chết và sống lại. Cuộc Phục Sinh sẽ chuẩn nhận cho tư cách của Đấng đã bị đẩy đến mộtcái chết khốc liệt do việc làm và yêu sách của Người. Do cái chết này, Đền Thờ mới sẽ được xây lên. Đức Giêsu Phục Sinh là “nơi” vĩnh viễn có Thiên Chúa hiện diện với Dân Người và có Dân Người thờ phượng Thiên Chúa: đây là “ngôi nhà Cha” hoàn hảo. Lời tiên báo của Đức Giêsu một phần cảm hứng từ một sấm ngôn của ngôn sứHôsê (Hs 6,2). Theo lời hứa của Đức Giêsu cho Nathanaen, các môn đệ khi ấy sẽ thấy Thầy họ là “Bết-Ên” thật, là Nhà Thiên Chúa và Cửa thiên đàng (1,51). Một cách gián tiếp, Đức Giêsu mạc khải cho các thính giả rằng Chúa Cha cư ngụ nơi Người một cách viên mãn và vĩnh viễn (8,16; 10,38; 14,10;16,32) và chỉ nơi Người, các tín hữu mới có thể gặp được Chúa Cha vô hình (14,6-10).
* Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (23-25)
TM IV nổi bật với sự đối kháng giữa Đức Giêsu và các đối thủ. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên, đã lộ rõ các yếu tố tiêu biểu của cuộc chiến đấu này: các người tranh chấp, đối tượng của cuộc tranh chấp và kết luận. Cuộc xung đột liên hệ đến quan niệm đúng đắn về Thiên Chúa: Đức Giêsu nhận biết Thiên Chúa như là Cha Người; tất cả những gì Người làm đều do Thiên Chúa gợi hứng và Người làm chứng về những điều đó; còn các đối thủ của Người lại cảm thấy bị Người gây chuyện, nên yêu cầu Người trưng ra những bằng chứng khác, và họ loại trừ Người. Phần các môn đệ, do đã để cho Người dẫn dắt, các ông đạt tới đức tin và sự hiểu biết đầy đủ. Còn đám đông bị đánh động bởi những gì Đức Giêsu thực hiện; nhưng Đức Giêsu không tin họ, nên Người giữ khoảng cách với họ. Tình trạng xung đột này sẽ đưa Đức Giêsu đến cái chết dữ dội, nhưng Người sẽ được xác nhận trọn vẹn bằng cuộc Phục Sinh.
+ Kết luận
Hôm ấy, Đức Giêsu đã vào Đền Thờ như vào “nhà Cha Người”; hôm ấy, vì yêu mến Chúa Cha, Người đã đuổi những con buôn khỏi Đền Thờ. Vì nhiệt thành lo cho nhà của Chúa Cha, vì muốn hoàn toàn dành ngôi nhà này cho Chúa Cha, Đức Giêsu đã nổi cơn nghĩa nộ mà bảo vệ quyền lợi của Chúa Cha, trong khi vẫn làm chủ chính mình.Như thế, Đấng “có lòng hiền hậu và khiêm nhường”, là bạn của kẻ tội lỗi, cũng biết nổi giận khi cần, vì vinh quang của Thiên Chúa Cha.
Sau này, đàng sau tấm màn bị xé rách của Đền Thờvà xuyên qua thân thể bầm dập của Đức Giêsu hấp hối, Thiên Chúa xuất hiện, bằng một tấm thân con người thật sự, đầy vinh quang thần linh. Giấc mơ của Cựu Ước, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, nay được thực hiện mãi mãi trong Đức Giêsu Phục Sinh.
5. Gợi ý suy niệm
1. Theo Đức Giêsu, người ta không thể chấp nhận hay nhượng bộ mọi sự. Người ta có thể thông cảm cho việc trục trặc này, chuyện không xuôi chảy kia. Nhưng khi sự việc liên hệ đến việc thờ phượng Thiên Chúa, thì không được phép có lối suy nghĩ tương-đối-hóa. Khi sự việc liên hệ đến làm chứng cho mầu nhiệm Thiên Chúa, thì không được phép nửa vời. Phần chúng ta, chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta đang có quan niệm nào về “nhà của Cha”, hoặc về nhiệm vụ và mục tiêu mà Ngài đã ban cho con người? Chúng ta có vận dụng trọn bản thân mình cho điều đó không?
2. Các đối thủ của Đức Giêsu cứ đòi Người phải trưng ra thêm các bằng chứng. Lý do không phải là để họ đạt được niềm tin tròn đầy, nhưng nói có vẻ nghịch lý, họ đòi các bằng chứng là để phủ nhận đức tin, để họ có cớ mà nói rằng họ không tin là phải. Toàn bộ TM IV là một bài học với nhiều minh họa về niềm tin như mộtsự phó thác vào Đấng được Thiên Chúa sai phái tới, là Đức Kitô. Trong những trường hợp nào, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đề ra những ranh giới dè dặt cho niềm tin tưởng của chúng ta vào Đức Giêsu, chúng ta nêu ra những điều kiện, và chúng ta đòi những đảm bảo?
3. Chứng từ của các môn đệ còn đấy: lời của Đức Giêsu có mộttrọng lượng như chính lời Kinh Thánh. Nhờ được Kinh Thánh thôi thúc, các ông hiểu lý do khiến Đức Giêsu phải chết; nhờ được lời Đức Giêsu soi sáng, các ông hiểu Đấng Phục Sinh chính là “nơi” vĩnh viễn có sự hiện diện và chăm sóc ân cần của Thiên Chúa. Đấy là một kinh nghiệm quan trọng được chia sẻ cho chúng ta, để hôm nay chúng ta biết tiếp tục dựa vào ánh sáng của Kinh Thánh mà khám phá thêm nữa mầu nhiệm Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể, đã chết và đã sống lại.
4. Để thực hiện được điều này, cần nhận lấy bài học khác của các môn đệ. Các ông đã rảo qua mộtđoạn đường dài cùng với Đức Giêsu và đã được Người liên tục dạy dỗ, rèn luyện. Chúng ta có thể chờ đợi để được dẫn đến chỗ hiểu biết đầy đủ về con đường của Đức Giêsu và con đường của chúng ta chăng?
20.Cung hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Hồ Thông
Đại thánh đường La-tê-ra-nô được gọi “là Mẹ và là Đầu của mọi nhà thờ trên thế giới”, bởi vì đây là Đền Thờ đầu tiên được chính quyền hợp pháp công nhận trên đế quốc Rô-ma và cũng là nhà thờ chánh tòa của địa phận Rô-ma, nơi có ngai tòa Đức Giáo Hoàng.
Lễ Cung Hiến Thánh Đường La-tê-ra-nô được ghi nhận vào thế kỷ XI. Thánh đường này đã bị tàn phá, đoạn được tái thiết, được Đức Thánh Cha Benoit XIII vào năm 1726 cung hiến một cách long trọng và được xác định mừng lễ vào ngày 9 tháng 11.
Nhưng Giáo Hội không cử hành một hoài niệm, cho dù quan trọng đến mấy đi nữa. Khi tưởng niệm lễ Cung Hiến Thánh Đường La-tê-ra-nô, Giáo Hội muốn nhấn mạnh sự hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội. Giáo Hội liên kết vào ngày lễ cung hiến nầy tất cả mọi thánh đường là Nhà Thiên Chúa và là nơi cầu nguyện. Hơn thế nữa, Giáo Hội cử hành Đền Thờ còn cao quý hơn nhiều, đó là Giáo Hội và tất cả thành viên của mình là những viên đá sống động. Thử hỏi có đền thờ nào, dù lớn lao đến mầy đi nữa cũng do bàn tay con người xây dựng nên, làm thế nào có thể so sánh với đền thờ là con người được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh của Ngài? “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1Cr 3: 16).
Ed 47, 1-2, 8-9, 12
Bài Đọc I trích từ sách Ê-dê-ki-en. Đây là sứ điệp của ngôn sứ lưu đày ở Ba-by-lon gởi đến cho toàn thể dân Thiên Chúa. Trong thị kiến, ông đã miêu tả Đền Thờ lýý tưởng sẽ thay thế Đền Thờ của vua Sa-lô-mon bị đạo quân Ba-by-lon tàn phá. Ông thấy dòng nước không bao giờ cạn tuôn trào từ bên phải Đền Thờ. Dòng nước thần diệu nầy chảy đến đâu sức sống dâng trào đến đó.
1Cr 3, 9-11, 16-17
Trong thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô sánh ví cộng đồng Ki-tô hữu với Nhà Thiên Chúa mà nền móng là Đức Giê-su Ki-tô. Ngôi nhà nầy được xây dựng bằng cuộc sống của những người Kitô hữu, những viên đá sống động. Mỗi người Kitô hữu cũng là Đền Thờ Thiên Chúa, nơi Chúa Thánh Thần cư ngụ.
Ga 2, 13-22
Tin Mừng Gioan thuật lại sự kiện Đức Giê-su đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ. Qua đó, Đức Giê-su muốn cho hiểu rằng Đền Thờ đích thật sẽ là thân thể phục sinh của Ngài.
BÀI ĐỌC I (Ed 47: 1-2, 8-9, 12)
Trước tiên, sứ điệp của ngôn sứ Ê-dê-ki-en là sứ điệp của một vị ngôn sứ lưu đày. Sau khi Na-bu-cô-đô-nô-so, vua Ba-by-lon, đánh chiếm kinh thành Giê-ru-sa-lem vào năm 598 trước Công Nguyên, tư tế Ê-dê-ki-en là một trong số đoàn người đầu tiên bị phát lưu đến Ba-by-lon. Chính từ một ngôi làng Tel-Aviv nhở bé bên bờ sông Cơ-va bên Ba-by-lon, nơi ông sống và qua đời có lẽ vào năm 571 tCN, mà vị ngôn sứ ngỏ lời với toàn thể đồng bào của ông. Để tưởng nhớ ông, vị ngôn sứ tiên báo sự phục sinh của dân Ít-ra-en, người ta lấy tên Tel-Aviv đặt cho một thành phố hiện nay.
Sứ điệp của ngôn sứ Ê-dê-ki-en cũng là sứ điệp của một tư tế. Đã là tư tế trước khi Thiên Chúa gọi ông làm ngôn sứ của Ngài, ông có một tâm hồn tư tế, ưu tư về tính thánh thiện của phụng tự và tôn kính những định chế tôn giáo. Ông tiên báo Đền Thờ Giê-ru-sa-lem sẽ bị phá hủy thành bình địa. Trong lưu đày, ông biết rằng sấm ngôn của ông đã được ứng nghiệm, nhưng trong thị kiến, ông nhìn thấy một Đền Thờ Mới và miêu tả Đền Thờ này cách tỉ mỉ.
Sứ điệp của Ê-dê-ki-en cũng là sứ điệp của một nhà thị kiến, vì thế, chứa đựng biết bao những cuộc xuất thần. Bản văn được trích dẫn hôm nay kết thúc với việc mô tả Đền Thờ lý tưởng sẽ thay thế đền thờ Giê-ru-sa-lem bị phá hủy. Thị kiến của vị ngôn sứ trộn lẫn thực tại địa lýý với biểu tượng vườn địa đàng, nhưng mặc khải một ýnghĩa mới.
1. Thực tại địa lý.
Dòng nước chảy đến đâu đem lại màu xanh tươi cho đôi bờ sông đến đó: đủ loại cây trái mọc lên, cành lá sum sê, đơm bông kết trái quanh năm. Có thể thị kiến nầy diễn tả thực tại địa lýý miền Pa-lét-tin. Dòng suối Xê-đơ-ron, khi chảy đến chân đền thờ, nước dâng cao nhờ hợp lưu với dòng suối Ghi-bon (dòng suối nầy cung cấp nguồn nước chính cho thành thánh Giê-ru-sa-lem và hồ Si-lô-ê) và một con sông nhánh Ain Rogel. Nhờ yếu tố thiên nhiên nầy, vua Giô-si-gia (716-687 tCN) đã xây dựng hệ thống dẫn nước vào thành thánh Giê-ru-sa-lem. Cũng có thể Ê-dê-ki-en đã mượn hình ảnh mà ông thấy ở Ba-by-lon những hệ thống dẫn thủy nhập điền, nhờ đó đất khô cằn trở thành những cánh đồng màu mỡ xanh tươi.
2. Biểu tượng vườn địa đàng.
Nhưng thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en trước hết là biểu tượng vườn địa đàng như được miêu tả trong St 2, theo đó có bốn dòng sông chảy bao quanh để nuôi dưỡng cây trái xanh tươi, biểu tượng sự phú túc tâm linh, đặc quyền của con người trước khi phạm tội.
Đền Thờ tương lai mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en miêu tả là dấu chỉ của việc Đức Chúa sẽ trở về và ngự trị giữa dân Ngài tại Giê-ru-sa-lem. Dân Ngài sẽ tìm lại sự thánh thiện và phong nhiêu tâm linh, được biểu tượng bởi dòng nước trào dâng từ thánh điện, nghĩa là Đức Chúa sẽ rộng lòng tha thứ cho dân và ban cho họ muôn vàn ân sủng.
Đức Giê-su sẽ hiện tại hóa sứ điệp nầy vào chính mình. Vào ngày bế mạc tuần lễ Lều, ngày người ta dâng hy lễ cầu xin mưa thuận gió hòa tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su cất tiếng kêu mời: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.” Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh” (Ga 7: 37-38).
Nước biểu tượng sự sống thần linh chạy xuyên suốt Cựu Ước. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en diễn tả sứ điệp của mình theo lối nói ngoa ngữ báo trước thể loại văn chương khải huyền. Quả thật, kiểu nói nầy tái xuất hiện trong các sách khải huyền Do thái (sách Kha-nốc), cũng như trong sách Khải Huyền của thánh Gioan: “Rồi thiên thần chỉ cho tôi thấy một con sông có nước trường sinh, sáng chói như pha lê, chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và của Con Chiên. Ở giữa quảng trường của thành, giữa hai nhánh sông, có cây Sự Sống sinh trái mười lần, mỗi tháng một lần; lá cây dùng thuốc chữa lành các dân ngoại” (Kh 22: 2).
3. Bên phải Đền Thờ:
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en cũng nói về thần dược và thánh thánh Giê-ru-sa-len trên trời. Ngôn sứ xác định nước tuôn trào từ bên phải Đền Thờ. Bên phải là biểu tượng phía mặt trời mọc, phía ánh sáng và sự sống. Thật là ý nghĩa biết bao khi nghệ thuật Kitô giáo trong suốt nhiều thế kỷ trình bày Đức Giê-su trên thập giá mang lấy ở bên cạnh sườn phải của Ngài vết thương bị lưỡi đồng đâm thâu, từ đó máu và nước phun vọt ra, dấu chỉ bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thánh Thể phát sinh sự sống đời đời.
4. Đền Thờ.
Vào Ngày lễ Cung Hiến Đền Thờ, phụng vụ mời gọi chúng ta suy niệm về Đền Thờ. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en là một tư tế, ông không thể quan niệm một tôn giáo của Đức Chúa mà không có một nơi được thánh hiến để dân Ngài có thể cùng nhau quy tụ lại để phụng sự Thiên Chúa của mình cho thật xứng hợp. Nói cách khác, với tư cách là một tư tế, ngôn sứ không thể nào quan niệm rằng cuộc sống đạo mà không có Đền Thờ được. Tuy nhiên, trong cảnh lưu đày, dân Ít-ra-en không có Đền Thờ, vì thế họ không thể dâng lên Thiên Chúa của mình những lời khẩn nguyện và những hy lễ. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en thực sự là một trong số những người sống trong cảnh ngộ nầy. Trong những cơn xuất thần của mình, ông thấy vinh quang Thiên Chúa rời bỏ Đền Thờ Giê-ru-sa-lem (11: 32-33) đến bên bờ sông Cơ-va, nơi ông cùng với dân chúng đang sống cảnh lưu đày (1: 1). Lúc đó, vị ngôn sứ thoáng thấy hình thức phụng tự tinh thần. Đức Chúa đích thân hiện diện ở giữa dân Ngài, vì thế, ở đâu dân Ngài hiện diện ở đó Thiên Chúa đồng hiện diện với dân Ngài. Ngài đồng hiện diện giữa dân Ngài để cùng chia sẻ cảnh lưu đày khổ cực với dân Ngài. Dân Ngài thực sự là Đền Thờ của Thiên Chúa (ch. 37-38).
BÀI ĐỌC II (1Cr 3: 9b-11, 16-17)
Thánh Phao-lô đã thành lập Giáo Đoàn Cô-rin-tô vào những năm 50-52. Thánh nhân đã sống 18 tháng trong thành phố nầy. Sau ngài, các vị loan báo Tin Mừng khác đến tiếp nối công việc của thánh nhân.
Dân Cô-rin-tô, vốn ham mê tranh luận, thích những bài diễn thuyết lời hay ý đẹp. Vì thế, cộng đoàn Kitô hữu Cô-rin-tô cũng chia bè kết nhóm, mỗi nhóm ngưỡng mộ một nhà giảng thuyết: nhóm theo phe thánh Phao-lô, nhóm theo phe ông A-pô-lô, một nhà giảng thuyết có tài hùng biện, và nhóm trưng dẫn thánh Phê-rô. Thánh Phao-lô cực lực lên án thái độ chia bè kết nhóm nầy, bởi vì, chúng biến cộng đoàn Kitô hữu thành những trường phái khôn ngoan của các bậc hiền nhân Hy-lạp. Trong đoạn thư trích dẫn hôm nay, thánh Phao-lô bày tỏ những lời khiển trách và những lời khuyên nhủ như phần kết luận. Như thói quen của mình, thánh nhân đưa ra cuộc tranh luận và định nghĩa cộng đoàn Ki-tô hữu là gì.
1. Nhà Thiên Chúa.
Cộng đoàn Ki-tô hữu là Nhà Thiên Chúa. Dù các nhà loan báo Tin Mừng tiếp nối nhau để xây dựng toà nhà này là ai đi nữa, nền móng không ai khác chính Đức Giê-su Ki-tô. Nếu thánh Phao-lô đã đặt viên đá đầu tiên, thì mỗi nhà loan báo Tin Mừng khác lần lượt góp phần vào việc xây dựng công trình nầy theo cách thức của mình. Thánh nhân tự xem mình có trách nhiệm gìn giữ nền tảng vững chắc của tòa nhà cũng như nếp sống đạo hạnh của những người tiếp nối sứ mạng của ngài. Dù ám chỉ đến những bè phái của các Kitô hữu Cô-rin-tô, nhưng những lời khuyên này có giá trị đối với tất cả các cộng đoàn Kitô hữu ở khắp nơi và muôn thế hệ. Những lời khuyên của thánh Phao-lô thường hằng bảy tỏ nỗi bận lòng của thánh nhân về đức chính trực của những người loan báo Tin Mừng. Trong thư thứ nhất của mình, thánh Phê-rô cũng sử dụng cùng một hình ảnh: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giê-su Kitô” (1P 2: 5).
2. Đền Thờ Thiên Chúa.
“Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?”. Chúng ta lưu ý rằng ở đây thánh Phao-lô không dùng từ “hieron” theo nghĩa đơn thuần “nơi thánh”, nhưng từ “naos” theo nghĩa “nơi cực thánh” của Đền Thờ, chúng ta có thể dịch “thánh điện” hay “cung thánh”. Cộng đoàn Kitô hữu đích thật là nơi cực thánh vì Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài và mỗi người Ki-tô hữu là “nơi cực thánh”, nơi Chúa Thánh Thần cư ngụ trong chúng ta.
Khái niệm “đền thánh tinh thần” thật ra có cội nguồn ở Cựu Ước, đặc biệt từ thời lưu đày Ba-by-lon. Những người bị phát lưu đã kinh qua một tôn giáo trơ trụi, không Đền Thờ, không hy lễ, một tôn giáo nội tâm. Vào lúc đó, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã phác họa ý tưởng theo đó Đền Thờ đích thật của người tín hữu là chính Đức Chúa (Bài Đọc I).
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, đương thời với ngôn sứ E-dê-ki-en, đã loan báo rằng sẽ đến một ngày Luật của Thiên Chúa sẽ không còn ghi khắc trên bia đá nhưng trong lòng của mỗi người, đó sẽ là dấu chỉ Giao Ước Mới (Gr 31: 31-33). Ngay trước thời Đức Ki-tô, phái Ét-xê-nô đã đoạn tuyệt với Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, không thừa nhận hy lễ và chuyên tâm vào đời sống cộng đoàn. Đối với họ, đền thờ đích thật đó là cộng đoàn Kum-ran trên bờ Biển Chết.
Sau cùng, không phải Đức Giê-su đã công bố rằng đền thờ đích thật chính là “thân thể Ngài” trong đoạn Tin Mừng Gioan hôm nay sao? Đó là Đền Thờ tinh thần mà thánh Phao-lô xác định. Vả lại ý tưởng này không xa lắm với khái niệm Giáo Hội là thân thể của Đức Ki-tô, mà thánh nhân sẽ khai triển sau nầy. Đó là đời sống thánh thiện của cộng đoàn Ki-tô hữu, vừa bao gồm toàn thể vừa mỗi một thành viên, ở đó Thánh Thần cư ngụ. Việc dẫn nhập những bè phái vào trong cộng đoàn Ki-tô hữu không gì khác hơn là hành động phá hoại Đền Thờ Thiên Chúa và là hành động tự hủy, vì “Đền Thờ nầy chính là anh em”. Thánh Phao-lô mạnh mẻ cảnh báo các Kitô hữu Cô-rin-tô bị phân năm xẻ bảy nầy.
TIN MỪNG (Ga 2: 13-25)
Sự kiện Đức Giê-su đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ được cả bốn Tin Mừng tường thuật. Ba Tin Mừng Nhất Lãm đặt sự kiện nầy vào tiền cảnh của biến cố Tử Nạn, vì thế, biến cố nầy được xem như giọt nước làm tràn ly phẩn nộ của giai cấp lãnh đạo Do thái giáo; trong khi thánh Gioan đặt sự kiện này vào đầu sứ vụ công khái của Đức Giê-su, ngay sau tiệc cưới Ca-na và sau thời gian lưu lại ít ngày ở Ca-phác-na-um.
Phần mở đầu của câu chuyện nầy xác định khung cảnh và địa điểm: “Gần đến lễ Vượt Qua của người Do thái”. Trong Tin Mừng Gioan, diễn ngữ nầy được lập đi lập lại đến ba lần (2: 13; 6: 4; 11: 5) xác định ba lần Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua, phù hợp với hai năm rưỡi đời sống công khai của Ngài.
Phản ứng của Đức Giê-su thật khác thường. Ngài lấy dây bện làm roi mà xua đuổi những người buôn bán, lật nhào bàn ghế, đổ tung tất cả tiền bạc của họ và giải thích hành động của mình: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”. Phải chăng qua hành động của mình, Đức Giê-su muốn nói rằng Ngài đến để phục hưng tôn giáo Ít-ra-en qua việc thanh tẩy Đền Thờ mà chẳng bao lâu sau sẽ bị phá hủy? Để hiểu trọn vẹn ýý nghĩa của sựu kiện quá đặc biệt nầy, trước hết phải đặt nó vào khung cảnh ngoại tại, đoạn vào khung cảnh tôn giáo, tức khung cảnh của lễ Vượt Qua, và sau cùng vào văn mạch của Tin Mừng Gioan.
1. Khung cảnh bên ngoài.
Đền Thờ tọa lạc trên một khuôn viên rộng lớn được bao quanh bởi những hàng hiên. Khi bước qua những dãy hàng hiên, người ta vào trong tiền sảnh được gọi “tiền sảnh dân ngoại”, vì lương dân được phép đến đây để cầu nguyện với Thiên Chúa của dân Do thái. Tiếng Hy lạp: “hieron”, được sử dụng ở đây phải được hiểu là “nơi thánh” hay “thánh địa” chứ không phải “naos” (nơi cực thánh) ở bên trong Đền Thờ. Tiếp đó, phạm vi thánh, nơi được dành riêng cho dân Do thái, được phân chia thành những tiền đình riêng biệt, tiền đình dành cho nữ giới và tiền đình dành cho nam giới, và cuối cùng tiền đình dành cho các tư tế.
Chính ở nơi “tiền sảnh dân ngoại” mà những người buôn bán súc vật dùng cho các hy lễ. Công việc buôn bán rất thịnh đạt. Có nhiều lý do để nghĩ rằng những vị tư tế cao cấp – đứng đầu là thượng tế - đã hưởng nhiều lợi nhuận ở đây. Những người đổi tiền cũng ở trên tiền sảnh nầy đáp ứng nhu cầu mộ đạo của các tín hữu, vì người Do thái không được phép dâng hiến cho Đền Thờ những hiện kim được xem đồng tiền “ô uế” do có đúc hình vị hoàng đế hay vị thần ngoại giáo nào đó (Mt 22: 15-21). Những người đổi tiền hưởng huê hồng. Phải nhận ra rằng sự hiện diện của những người buôn bán súc vật và những người đổi tiền đáp ứng nhu cầu cần thiết của khách hành hương từ xa lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem dâng hy lễ hay cúng tiền bạc cho Đẻn Thờ, đặc biệt vào những ngày đại lễ.
2. Khung cảnh lễ Vượt Qua.
Khung cảnh lễ Vượt Qua đem lại cho sự kiện nầy ý nghĩa sâu xa. Đức Giê-su đuổi những người buôn bán súc vật ra khỏi khuôn viên Đền Thờ, vì đây là thánh địa được dành riêng cho cầu nguyện. Nhưng hơn nữa, Ngài xua đuổi những súc vật dành cho các hy lễ, vì chính Ngài sẽ là “Con Chiên” sát tế, lễ tế đích thật của lễ Vượt Qua, lễ tế duy nhất nầy từ nay sẽ thay thế tất cả lễ tế khác. Như vậy, kiểu nói: “Gần đến lễ Vượt Qua của người Do thái” cũng ngụ ý rằng còn có một lễ Vượt Qua khác nữa, lễ Vượt Qua của người Ki-tô hữu mà con chiên bị sát tế là Đức Giê-su. Sau cùng, Đức Giê-su thanh tẩy “tiền sảnh dân ngoại”, vì từ nay Ngài đã phá hủy mọi hàng rào ngăn cách giữa Do thái và dân ngoại. Dân ngoại cũng được mời gọi dự phần vào cùng ơn cứu độ như dân Ít-ra-en.
3. Văn mạch của Tin Mừng Gioan.
Khi đặt biến cố nầy vào thời kỳ đầu sứ vụ công khai của Đức Giê-su, thánh kýý để lộ những ý định của mình: ông muốn dẫn đưa người đọc vào trong mầu nhiệm của Đức Giê-su: Đấng mà thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu là Đấng Mê-si-a, Đấng ấy ở Giê-ru-sa-lem hành xử như Con Thiên Chúa trong mối quan hệ mật thiết chưa từng có.
Trước hết, ở tiệc cưới Ca-na, Đức Giê-su đã ban rượu mới, tiên báo rượu sẽ là máu của Ngài. Ở Giê-ru-sa-lem, đáp lại việc người Do thái đòi hỏi dấu lạ, Đức Giê-su loan báo một đền thờ mới sẽ là thân thể của Ngài: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”, ám chỉ đến cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Trong ba Tin Mừng nhất lãm, lời tuyên bố nầy của Đức Giê-su được các người làm chứng gian lập lại trong phiên toà của Thượng Hội Đồng, nhưng được sửa đổi với ác tâm, thay vì: “Các ông cứ phá hủy đền thờ nầy đi” thì lại: “Tôi có thể phá hủy…” (Mc 14: 58).
Ngoài ra, thánh Gioan chủ ý đặt lời nầy trên môi miệng của chính Đức Giê-su: “Nội ba ngày, tôi sẽ xây lại” để chỉ biến cố Phục Sinh của Ngài, như sau nầy Ngài tiên báo về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10: 18).
Hơn nữa, trong cùng một câu chuyện, thánh Gioan có ý sử dụng từ “hieron” với nghĩa “nơi thánh” để chỉ Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nhưng dành riêng từ“naos” với nghĩa “thánh điện” hay “cung thánh”, tức là nơi cực thánh nhất của Đền Thờ, để nói về Thân Thể của Ngài. Sau khi Đức Giê-su sống lại, các môn đệ nhớ lại những lời mà Đức Giê-su đã nói vào dịp nầy: “Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói”.
Tình tiết Đức Giê-su đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ “gần đến lễ Vượt Qua của người Do thái” theo Tin Mừng Gioan chất chứa biết bao ý nghĩa.
21.Lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô--Lm. Duy Khang
Mừng lễ Cung hiến Đền thờ thánh Thánh Gioan ở Latêranô hôm nay nay gợi lên nhiều ý nghĩa :
1/ Đền thờ Giêrusalem lịch sử :
Khi nói đến đền thờ khiến chúng ta nghĩ tới một dinh thự, một công trình xây cất với phong cách kiến trúc đồ sộ, đẹp mắt. Một dinh thự thường dành riêng cho một nguyên thủ quốc gia, một chính khách thế giá, một phú gia,..
Một Đền thờ hơn cả một dinh thự trần thế, vì nó mang một giá trị đặc biệt thánh thiêng, mà lịch sử của Dân Israel được kể trong Thánh Kinh Cựu Ước có nhắc đến, đó là Đền Thờ Giêrusalem do vua Salomon xây dựng. Giêrusalem ngày xưa đã là nơi Dân Israel găp gỡ với Thiên Chúa trong lời cầu nguyện: bên trong Đền Thờ có Hòm Bia Giao Ước, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người; và trong Hòm Bia Giao Ước có các Bảng Lề Luật, có Bánh Manna và cây gậy của ông Aharon: một nhắc nhớ tới sự kiện Thiên Chúa đã luôn luôn ở trong lịch sử của dân Người, đồng hành với họ trên đường và hướng dẫn bước chân họ. Đền Thờ nhắc nhớ lịch sử này.
2/ Đền thờ là Nhà Cha :
Bài Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giêsu lên đền thờ Giêrusalem, và Ngài nhìn thấy cảnh người ta đang biến đền thờ này làm nơi buôn bán, đổi tiền bạc.
Đền thờ là Nhà Cha của Ngài, là nơi thánh thiêng nhất, đáng lý ra phải được mọi người trân trọng; thế mà người ta lại biến Nhà Cha của Ngài thành ra ô uế. Chúa Giêsu đã tự nhận Đền Thờ là Nhà Cha của Ngài khi nói với những kẻ bán bồ câu: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” Vì thế Chúa Giêsu đánh đuổi mọi kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ, và Ngài muốn dạy cho dân chúng biết cách thờ phượng Thiên Chúa cách trong sạch và theo sự thật; không lệ thuộc vào tiền bạc cách bất chính.
3/ Đền thờ là Thân Thể của Đức Kitô :
Chúa Giêsu nói với người Do Thái : “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.” Ngài muốn ám chỉ “Đền Thờ này” là chính thân thể của Ngài. Ngài muốn tiên báo cho dân Do Thái biết : Thân thể Ngài sẽ hiến tế trên Thập giá để dâng mình cho Đức Chúa Cha, và trở thành giá máu cứu chuộc toàn thể nhân loại, thanh tẩy tội lỗi của con người.
4/ Đền thờ là Giáo Hội của Đức Kitô :
Chúa Kitô là Đền Thờ sống động của Thiên Chúa Cha, và chính Chúa Kitô xây ”ngôi nhà tinh thần của Người” là Giáo Hội, được làm không phải bằng các viên đá vật chất, mà bằng các ”viên đá sống động” là chúng ta.
Thánh Tông Đồ Phaolô nói với các tín hữu Êphêxô rằng: ”Anh em đã được xây trên nền tảng của các tông đồ và các ngôn sứ, có cùng ”đá tảng góc tường là chính Chúa Kitô Giêsu. Trong Người toàn công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí”. (Ep 2,20-22).
Chúng ta là một trong những thành phần của Giáo Hội Chúa, nên có bổn phận xây dựng Giáo Hội, để làm cho Giáo Hội ngày một phát triển. Nhưng bằng cách nào ? Thưa : bằng đời sống thánh thiện, yêu thương và phục vụ của chúng ta; bằng việc cộng tác với Giáo Hội nhiệt tình truyền giáo; bằng việc đóng góp xây dựng Giáo Hội,…
5/ Đền thờ tâm hồn mỗi người :
Đền thờ Latêranô nhắc nhở các tín hữu “hồng ân rửa tội” với tất cả ý nghĩa của ơn này và mời gọi các tín hữu cảm tạ Thiên Chúa bằng chính cuộc sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.
Thân thể chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa Ba Ngôi, đã được xây dựng trên nền tảng là chính Đức Kitô. Chúng ta phải thường xuyên xem xét để bảo đảm chất lượng và xứng đáng là đền thờ cho Thiên Chúa ngự trị; nếu không, nó sẽ biến thành chỗ ở của sự dữ.
22.Lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô--Lm Trầm Phúc
Nhân ngày lễ cung hiến thánh đường Latêranô, là thánh đường đầu tiên được vua Contantinô xây dựng sau khi đã nhận được hồng ân đức tin, Giáo hội nhắc lại một hành động có tính cách không thường của Chúa Giêsu. Ngài vào Đền thờ trong dịp lễ Vượt Qua và thấy những người buôn bán đang rộn rịp trong sân Đền Thờ, và Ngài đã ra tay đánh đuổi họ. Hành động đó đã gây phẫn nộ cho các viên chức Đền Thờ. Họ cật vấn Ngài và Ngài đã tuyên bố những lời mà chúng ta cần lưu ý: “Đừng biến Nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”.
Chúa Giêsu gọi Đền Thờ là Nhà Cha tôi. Chưa ai đã dám nói như thế. Người Do Thái rất tôn trọng Đền Thờ vì là nơi Chúa ngự, nhưng chưa ai dám nói là nhà Cha của họ. Có lẽ những người nghe lúc bấy giờ không để ý gì vì họ đang lộn xộn dọn dẹp hàng của họ. Nhưng đối với chúng ta lời đó mang một ý nghĩa quan trọng. Chúa Giêsu khẳng định Đền Thờ là nhà của Cha Ngài. Một cách nói để chứng minh Ngài là Con Thiên Chúa, và Ngài tỏ ra tôn trọng Đền Thờ cách rõ rệt. Ngài xem việc buôn bán này như một xúc phạm đến vinh quang của Cha Ngài, lợi dụng Đền Thờ để trục lợi.
Việc buôn bán này là một mối lợi cho Đền Thờ vừa là một mối lợi cho các chức sắc Đền Thờ vì họ đánh thuế vào những người buôn bán và như thế những người đến dự lễ sẽ mua các con vật làm của lễ mà không cần phải đi xa. Nó đã trở thành một tục lệ từ lâu, nhưng Chúa Giêsu không thể chấp nhận điều đó. Cái chợ này kéo dài suốt trong thời gian chuẩn bị lễ và kéo dài suốt tuần lễ Vượt Qua. Làm sao việc thờ phượng lại biến thành một dịp để trục lợi? Làm sao có thể chấp nhận một sự thể như thế được?
Nếu chúng ta trở về lịch sử của dân Do Thái, chúng ta sẽ thấy rằng Đền Thờ không chỉ là một nơi để làm việc thờ phượng mà thôi mà là dấu hiệu của sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người, dân mà Người đã chọn giữa các dân, là dân riêng của Người, là dân thánh.
Từ khi Chúa thiết lập Giao Ước với dân Do Thái ở núi Xinai, Người đã tuyên bố: “Ta là Chúa của họ và họ là dân của Ta”. Người đã bảo ông Môsê làm Hòm Bia và Người ngự nơi Hòm Bia đó.
Suốt trong thời gian bốn mươi năm lang thang trong sa mạc, dân Do Thái vẫn mang Hòm Bia đó đi theo mình và khi đến nơi dừng chân, ông Môsê cho dựng một lều và để Hòm Bia trong lều, và Chúa cho một áng mây bao phủ lều đó. Chỉ có Môsê mới được vào trong lều để nói chuyện với Chúa mà thôi.
Khi định cư ở Canaan, Hòm Bia được giữ trong một Đền nhỏ ở Xilô và người ta đến đó dâng của lễ và cầu khẩn Chúa.
Vua Đavít, sau khi củng cố ngai vàng, đã long trọng mang Hòm Bia về Giêrusalem. Ông lập dự án xây cất cho Chúa một Đền Thờ xứng đáng, nhưng chính vua Salômôn mới là người xây Đền Thờ. Từ đó, Đền Thờ trở nên trung tâm thờ phượng của người Do Thái. Họ hãnh diện vì được Chúa chọn làm dân riêng và nhất là vì Đền Thờ nguy nga lộng lẫy. Việc thờ phượng được tổ chức rất long trọng. Hằng năm, mọi người Do Thái dù ở đâu, cũng hành hương về Giêrusalem trong hân hoan. Khi hành hương, họ vui mừng hát những khúc ca lên đền: “Tôi mừng vui khi nghe người ta nhủ rằng nào ta hãy lên đền thánh Chúa”. Đền Thờ là nguồn vui của họ. Nhưng con người vẫn là con người. Dần dần theo năm tháng, lòng nhiệt thành hao mòn, việc thờ phượng trở thành thói quen. Họ mất dần tâm thức về tình thương và sự cao cả của Thiên Chúa. Họ quên rằng vì yêu thương mà Chúa đã muốn ở giữa họ và Người luôn che chở bảo vệ họ.
Vào cuối đời, vua Salômôn lại sa đọa và con cháu của Salômôn cũng trở thành vô đạo. Dân Do Thái cũng theo đó mà lãng quên Thiên Chúa. Chúa dùng các tiên tri để nói lên sự vô tình của dân: “Dân này thờ Ta bằng môi bằng miệng mà lòng nó xa Ta muôn trùng…” “Tình yêu của các ngươi như sương mai mau tan mau biến…” Nhưng Chúa vẫn không bỏ rơi dân Người, và sai các tiên tri đến giúp họ trở về với Giao Ước. Nhưng gần như vô hiệu. Vì lòng vô đạo của dân, Thiên Chúa cho vua Nabukôđônôso đến phá hủy Đền Thờ và bắt dân Do Thái lưu đày suốt bảy mươi năm. Nhờ cuộc lưu đày đó, dân Do Thái mới cảm nghiệm được tình thương của Chúa và trở về: “Không còn lễ tiến, lễ hương, không còn nơi để chúng con dâng của đầu mùa lên Chúa…” Việc thờ phượng không còn tập trung ở một nơi mà trở nên nội tâm hơn.
Sau cuộc lưu đày, dân Do Thái đã xây lại một Đền Thờ thứ hai và từ đó, việc thờ phượng được tái lập lại sôi nồng hơn, nội tâm hơn. Nhờ đó Chúa cho họ thấy rằng việc thờ phượng nơi Đền Thờ chỉ là tạm thời, việc thờ phượng đích thực phải được thực hiện ngay trong lòng con người.
Chúa Giêsu đánh đuổi những người buôn bán trong Đền Thờ và khẳng định: “Hãy phá hủy Đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây lại”. Và thánh Gioan đã giải thích: “Ngài muốn nói đến chính thân thể Ngài”. Các môn đệ lúc ấy cũng không hiểu gì, nhưng khi Chúa sống lại các ông mới hiểu và tin vào Kinh Thánh và tin vào lời Chúa đã nói. Như thế Chúa quả quyết Ngài chính là Đền Thờ, là trung tâm của việc thờ phượng. “Chính nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài mà mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Chúa là Cha toàn năng…” Ngài cũng quả quyết với người phụ nữ bên bờ giếng Giacob: “Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng Chúa đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và trong sự thật…”
Ngài cũng tiên báo Đền Thờ sẽ bị tàn phá.
Tuy nhiên, sau khi Chúa lên trời, các môn đệ vẫn tiếp tục đến Đền Thờ cho đến khi cơn bách hại buộc họ phải đoạn giao với Do Thái giáo và khởi đầu việc thờ phượng trong Chúa Kitô. Chúa Giêsu trở thành Đền Thờ mới như Ngài đã nói. Sách Khải Huyền cũng nói rõ: “Chúa Giêsu là của lễ và là bàn thờ”. Không còn của lễ chiên bò, nhưng là của lễ duy nhất, thánh thiện, tinh tuyền là chính Chúa Giêsu. Tuy nhiên, việc xây cất thánh đường vẫn cần thiết để dân mới của Chúa quy tụ và tôn vinh Chúa.
Thánh Phaolô cũng thấy rằng “Chúa Giêsu là nền móng đã đặt sẵn” của một Đền Thờ mới, không do tay người làm ra, đó là Giáo hội, là thân thể Chúa Giêsu, trong đó Chúa luôn hiện diện và chúng ta múc lấy ơn cứu độ và sự sống từ sự sung mãn của Chúa. Thánh Phaolô cũng nói đến một thứ Đền Thờ khác: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần ngự trong anh em sao?” Và ngài cũng nói một cách đanh thép: “Ai hủy hoại Đền Thờ Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy và Đền Thờ ấy chính là anh em”. Thánh Phêrô cũng không dạy gì khác.
Chúa đã thương tẩy sạch chúng ta trong Chúa Kitô và chọn chúng ta làm dân thánh của Ngài, thành Đền Thờ của Ngài. Thánh Thần Chúa luôn ngự trị, giúp chúng ta cầu nguyện, biến cuộc sống chúng ta thành của lễ, giúp chúng ta sống hoàn toàn là con Thiên Chúa.
Hãy gìn giữ tâm hồn chúng ta luôn gần bên Chúa, luôn chú ý đến Đấng đang ngự giữa chúng ta như Đền Thánh của Ngài. Đền Thánh này chính là Đền Thánh của Thiên Chúa Tình Yêu. Đừng để hận thù ghen ghét làm ô nhơ Đền Thánh Chúa. Đừng để cho những ham mê trần tục biến nó thành nơi buôn bán, tranh giành. Hãy dành cho Chúa vinh quang danh dự. Hãy biến nó thành của lễ hằng ngày, tôn vinh Chúa là Đấng đã yêu thương chúng ta và đã cho chúng ta danh dự làm Đền Thánh Chúa.
Chúa Giêsu vui nhận của lễ mọn hèn của chúng ta. Ngài luôn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, vì chính Ngài đã muốn trở thành của ăn cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta đừng bao giờ lìa xa Ngài mà mãi mãi ở lại trong tình yêu của Ngài. Hãy sống yêu thương để Đền Thánh Chúa luôn rực sáng bằng tình yêu.
23.Tẩy uế Đền Thờ--tgpsaigon
Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán (Ga 2,16)
Suy niệm:
Vào thời Đức Giêsu, lễ Vượt Qua là một trong ba đại lễ, buộc người Do Thái ở khắp nơi phải hành hương về Đền thánh Giêrusalem để sát tế và ăn bữa tiệc chiên Vượt Qua, kỷ niệm biến cố Xuất Hành, trong đó Đức Chúa đã dùng Môsê giải phóng con cháu Giacóp là dân Do Thái khỏi ách làm nô lệ cho dân Ai Cập.
Đền Thờ là dấu chỉ Đức Chúa hiện diện giữa dân Người. Không kể đền thờ tạm là Nhà Lều trong thời gian 40 năm dân Do Thái đi qua sa mạc, còn có ba Đền Thờ được xây dựng tại Giêrusalem là Đền Thờ Salômôn, Đền Thờ Sau Lưu Đầy và Đền Thờ thời vua Hêrôđê.
Sự bất kính do bọn con buôn gây ra đã khiến Đức Giêsu rất đau lòng. Người nổi cơn thịnh nộ và đã dùng dây thừng cột thú vật được ném bừa bãi ở đó, chắp lại thành roi rồi dùng mà đánh đuổi bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ.
“Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”: Nói câu này, Đức Giêsu tự xưng là Con Thiên Chúa. “Nơi buôn bán” hay “hang trộm cướp” là kiểu nói diễn tả tình trạng bất kính ở trong Đền Thờ, một nơi tôn nghiêm thờ phượng Đức Chúa. Thế là ứng nghiệm lời các ngôn sứ đã tuyên sấm quở trách dân Do Thái xưa (Gr 7,11).
“Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”: “Sẽ phải thiệt thân” nghĩa là “sẽ phải chết”. Như vậy ý nghĩa lời Thánh Vịnh 69,10 như sau: lòng nhiệt thành với Đền Thờ sẽ dẫn Đức Giêsu đến chỗ Người sẽ bị người đời bách hại (Ga 15,5).
“Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?”: “Người Do Thái” trong câu này ám chỉ các chức sắc Đền Thờ là các Tư tế và thầy Lêvi. Họ bực tức khi thấy Đức Giêsu tự động đuổi bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ. Do đó họ hạch hỏi Đức Giêsu dựa vào dấu lạ nào để chứng minh mình có quyền làm như thế. Trước đây họ cũng nhiều lần đòi Đức Giêsu chứng minh do Thiên Chúa sai đến, bằng cách phải làm các phép lạ cho họ thấy mà tin (Mt 12,38 ; Mc 8,11 ; Lc 11,16).
“Các ông cứ phá Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”: Ở đây, Đức Giêsu cho họ một phép lạ làm chứng Người được Thiên Chúa sai đến, là phép lạ Người sẽ sống lại nội trong ba ngày. Tuy nhiên Đức Giêsu sử dụng kiểu nói dụ ngôn mà các ngôn sứ hay dùng là đã gọi thân thể của mình là Đền Thờ. Câu này có nghĩa là: Dù họ có giết chết Người thì cũng chỉ trong ba ngày Người sẽ sống lại.
Thế nhưng các đầu mục Do Thái đã hiểu sai ý của Đức Giêsu. Họ hiểu lời Người theo nghĩa đen nên mới nói về thời gian xây dựng Đền Thờ mất 46 năm (Khởi công năm 20 trước Công Nguyên và đến năm 26 sau Công nguyên mới tạm hoàn thành những công trình chính), đang khi ý Đức Giêsu ám chỉ Đền Thờ là Thân Thể của Người. Sau này khi Thượng Hội Đồng Do Thái xét xử Đức Giêsu dưới quyền chủ tọa của Caipha, có hai kẻ đã đứng ra cáo gian Người rằng: “Tên này đã nói: Tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa và nội trong ba ngày sẽ xây cất lại” (Mt 26,61). Họ còn nhắc lại lời tố cáo này khi lăng nhục Người trên thập giá (Mt 27,40). Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người: Thân Thể Đức Giêsu phục sinh là nơi Thiên Chúa hiện diện và tỏ mình ra cho loài người (Ga 1,14). Thân thể ấy là Đền Thờ Mới, là nơi thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật (Ga 4,23-24).
Khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó: Chỉ dưới ánh sáng Phục Sinh và được ơn Thánh Thần tác động, các môn đệ mới hiểu chính xác về lời nói và việc làm của Đức Giêsu (Ga 12,16 ; 14,26). Với lòng nhiệt thành yêu mến Thiên Chúa, Đức Giêsu không thể chấp nhận được cảnh tượng bát nháo diễn ra nơi Đền Thờ của Chúa Cha. Người đã biểu lộ uy quyền của Con Thiên Chúa bằng việc dùng roi xua đuổi bọn con buôn cùng với tiền bạc, chiên bò, chim câu của họ... ra khỏi Đền Thờ. Người tẩy uế Đền Thờ của Chúa Cha và khẳng định rằng: Từ nay việc thờ phượng đẹp lòng Thiên Chúa sẽ phải được cử hành mãi mãi trong Đền Thờ Mới là thân xác Phục Sinh của Người, thay cho sự thờ phượng tạm bợ trong Đền Thờ Giêrusalem bằng gỗ đá.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã tỏ ra oai nghiêm và quyết liệt
khi dùng roi xua đuổi bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ
mà không ngại bị họ thù ghét, làm hại.
Nếu Chúa sống trong thời đại của chúng con hôm nay,
chắc hẳn Chúa cũng đã phải mạnh tay hơn để tẩy uế,
khi nhiều ngôi Thánh Đường bị coi thường.
Một số nhà thờ vì không có khuôn viên và chung quanh là đường đi,
nên bị một số người thiếu ý thức đem rác đến đổ bừa bãi,
biến sân nhà thờ trở thành một bãi rác công cộng,
mất vẻ mỹ quan nơi Nhà Chúa.
Rồi những phần tử bất hảo cũng kéo đến
tổ chức ăn nhậu, bài bạc, hút chích...
gây cảnh ồn ào náo loạn,
àm mất sự trang nghiêm trật tự
lẽ ra phải có ở nơi dành riêng cho việc thờ phượng.
Xin cho chúng con can đảm đóng góp phần mình
vào việc tẩy uế đền thờ bằng mọi phương cách.
Nhất là xin cho chúng con biết quan tâm
đến đền thờ tâm hồn nơi mỗi con người. Amen.
24.Cung hiến đền thờ Latêranô
Hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng lễ cung hiến đền thờ Latêranô, đền thờ này là nhà thờ chính tòa của giáo phận Rôma, được hoàng đế Constantinô xây cất dưới thời Đức Giáo Hoàng Silvester I. Với tư cách là nhà thờ chính tòa giáo phận Rôma, trung tâm hiệp thông và hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội Công Giáo. Đền thờ Latêranô được xem như là Đền Thờ Mẹ của tất cả mọi đền thờ của thành Rôma và của toàn thể thế giới.
Toàn thể Giáo Hội Công Giáo hôm nay mừng kính việc cung hiến Đền thờ này để nói lên sự hiệp thông Giáo Hội. Giáo Hội Chúa hiện diện khắp nơi trên thế giới, được hiệp nhất và hiệp thông với nhau. Như thế Đền thờ Latêranô còn là dấu hiệu mời gọi hiệp thông và hiệp nhất, sự hiệp thông và hiệp nhất này đã được bắt đầu nơi tâm hồn con người đón nhận Tin Mừng của Chúa và tôn thờ Thiên Chúa trong sự thật và trong tinh thần. Đền thờ bằng đá không còn ý nghĩa nếu không có đền thờ tinh thần nơi tâm hồn con người, nếu con người không biến tâm hồn mình làm đền thờ sống động cho Thiên Chúa ngự trị.
Qua mọi thời đại con người luôn bị mời gọi trần tục hóa đền thờ, trần tục hóa niềm tin tôn giáo như những kẻ buôn bán chiên bò, đổi tiền được nhắc đến hôm nay qua đoạn Phúc Âm “đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán…” (Ga 2, 13-22). Không có lòng tin, không tôn thờ Thiên Chúa trong tâm hồn con người, thì việc tôn thờ nơi đền thờ bằng đá sẽ không có giá trị đích thực và tệ hơn nữa là người Kitô hữu có thể bị cám dỗ trần tục hóa đền thờ, như những kẻ buôn bán và đổi tiền thời Chúa Giêsu. Mọi việc tôn thờ Thiên Chúa cần được bắt đầu nơi tâm hồn lãnh nhận sự thật mạc khải và được ơn thánh Chúa biến đổi. Mỗi người Kitô hữu chúng ta cần xác tín điều này và góp phần giúp anh em xung quanh cũng được soi sáng hiểu như vậy. Đây là một trách nhiệm trong những trách nhiệm của từng người Kitô hữu đối với anh em mình, trách nhiệm chỉ cho anh em mình biết phải tôn thờ Thiên Chúa Cha như thế nào cho phải đạo.
Trong tập sách “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã kể lại kinh nghiệm sống đạo của chính mình như sau:
* Xin cho phép tôi nhắc lại đây những năm thời tuổi trẻ của tôi. Tôi nhớ rằng một ngày kia, cha tôi cho tôi một cuốn sách kinh có ghi lời cầu nguyện với Chúa Thánh Thần. Cha tôi bảo tôi hằng ngày phải đọc đi đọc lại kinh này. Từ ngày đó trở đi tôi đọc kinh này theo lời yêu cầu của cha tôi, và lần đầu tiên tôi đã hiểu được ý nghĩa của lời Chúa Giêsu nói về kẻ đích thực thờ phượng Thiên Chúa, những kẻ thờ phượng Ngài trong Thánh Thần và trong Sự Thật. Giờ đây tôi nghĩ rằng lời khuyên của cha tôi đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi vì những lời đó đã hướng dẫn tôi đến việc cố gắng trở thành một trong những kẻ tôn thờ đích thật của Thiên Chúa, một trong những kẻ tôn thờ Thiên Chúa trong Tinh Thần và Sự Thật.
* Tôi đã khám phá ra Giáo Hội như là một cộng đoàn của ơn cứu rỗi, từ từ tôi học được ý nghĩa của công cuộc cứu rỗi được hoàn thành trong Chúa Kitô, từ đó như hậu quả kéo theo tôi hiểu được ý nghĩa của các bí tích và đặc biệt là của Thánh Lễ. Tôi đã hiểu được, chúng ta đã hiểu được ơn cứu chuộc với giá cả như thế nào? Và tất cả những điều này lôi kéo tôi một cách sâu xa hơn vào trong mầu nhiệm Giáo Hội, một Giáo Hội chính vì là mầu nhiệm nên có chiều kích vô hình.
Công đồng Vaticanô II cũng đã nói đến điều này: “Mầu nhiệm Giáo Hội này rộng rãi hơn cơ cấu hữu hình và có tổ chức của Giáo Hội. Cơ cấu và tổ chức của Giáo Hội là để phục vụ cho mầu nhiệm của Giáo Hội. Giáo Hội như là Nhiệm Thể Chúa Kitô thấm nhập và ôm trọn lấy tất cả chúng ta. Những chiều kích thiêng liêng và huyền nhiệm của Giáo Hội thật là cao cả hơn bất cứ chiều kích nào mà những con số thống kê xã hội học có thể chỉ cho thấy”.
Đó là những lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong tập sách “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng”, những lời trên giúp ta suy tư và hiểu chiều kích mầu nhiệm Giáo Hội vượt ra bên ngoài cơ cấu hữu hình, và đồng thời nhắc cho mỗi người chúng ta về bổn phận phải làm sao để làm chứng cho anh em hiểu và trở thành những kẻ thờ phượng Thiên Chúa đích thật trong Thánh Thần và trong Sự Thật. Đây chính là ý nghĩa mừng kỷ niệm cung hiến thánh đường Latêranô nhắc lại cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Lạy Chúa, xin hãy biến đổi mỗi người chúng con trở thành đền thờ sống động của Chúa và trở thành những kẻ tôn thờ Chúa đích thật như lòng Chúa mong ước trong Thánh Thần và trong Sự Thật. Xin giúp mỗi người chúng con tránh được cám dỗ trần tục hóa đền thờ, trần tục hóa niềm tin vào Chúa. Amen.
25.Đền thờ mới
Theo tập tục của người Do Thái, thì những khách hành hương trở về đền thờ vào những dịp lễ lớn, thường phải dâng lễ vật và nộp thuế. Lễ vật có thể là chiên bò, cũng có thể là bồ câu tuỳ theo khả năng tài chánh của mình. Lễ vật có thể từ xa đem tới, nhưng để cho tiện, người ta đã tổ chức việc buôn bán các giống vật này ngay tại khuôn viên đền thờ. Mặt khác, người ta không thể dùng loại tiền của nhà nước đang lưu hành để mua các lễ vật hay để nộp thuế vì sợ ô uế, cho nên phải đổi ra những đồng tiền của đền thờ. Do đó việc buôn bán và đổi tiền ở đây đã trở thành một thứ dịch vụ phục vụ cho việc tế lễ.
Trước cảnh tượng ồn ào và huyên náo ấy Chúa Giêsu đã hành động và hành động của Ngài đã làm cho người Do Thái hết sức kinh ngạc. Thực vậy, Ngài đã đánh đuổi những người buôn bán bò chiên, bồ câu và những người ngồi đổi tiền. Không phải chỉ bằng những lời quát mắng mà bằng cả roi vọt. Ngài săn đuổi cả người lẫn vật ra khỏi đền thờ, lật đổ bàn ghế của những kẻ đổi tiền. Và Ngài đã xác định cho thấy ý nghĩa của việc Ngài đã làm: Hãy mang khỏi nơi đây những vật này. Đừng biến nhà Cha thành một cái chợ. Đồng thời Ngài cũng còn muốn nói lên rằng: Kiểu tế lễ của người Do Thái đã lỗi thời, đã mất hết ý nghĩa, và đã biến dạng thành một việc buôn bán để trục lợi. Như vậy thì đền thờ chỉ còn là một cái chợ không hơn không kém. Tình tạng này không thể được tiếp tục.
Người Do Thái có lẽ đã hiểu được dụng ý sâu xa của Chúa Giêsu, cho nên họ đã đòi Chúa Giêsu phải cung cấp cho họ một dấu chứng tỏ Ngài có quyền làm như vậy. Và Chúa Giêsu đã đưa ra một dấu chứng hoàn toàn mới lạ, mà người Do Thái không bao giờ ngờ tới, Ngài đã xác quyết: Đền thờ chính là thân xác của Ngài. Câu trả lời của Ngài chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng của sự chết và sống lại.
Thực vậy, được chứng kiến việc Chúa Giêsu chịu chết và sống lại, các tông đồ mới có thể xác quyết được rằng: Khi nói đến một đền thờ bị phá huỷ và được xây dựng lại ba ngày sau đó, Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến chính thân xác của Ngài. Qua câu trả lời, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy việc tế lễ theo kiểu cũ đã qua và với sự hiện diện của Ngài, thì đã bắt đầu một giai đoạn mới trong việc tôn thờ Thiên Chúa. Đền thờ là nơi con người thờ phượng Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng là nơi Thiên Chúa hiện diện giữa con người. Một sự hiện diện tạo hạnh phúc và cứu độ. Trong niềm tin của các tông đồ, chính Đức Kitô sống lại đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa của đền thờ. Ngài chính là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa con người. Đồng thời cũng là trung tâm thờ phượng trong tinh thần và chân lý. Bởi đó, mỗi người chúng ta cũng cần phải kiểm điểm lại quan niệm về đạo cũng như cách thức sống đạo của chúng ta. Để xem chúng ta đã thực sự đi đúng con đường mà Chúa muốn chúng ta bước đi hay chưa. Con đường dẫn chúng ta tới ơn cứu độ và tới niềm hạnh phúc Nước Trời.
26.Nhà thờ trở nên cộng đồng
Hai anh chị kia sắp cưới. Trong khi chuẩn bị hôn nhân, họ xin cha làm lễ cưới tại một cảnh thơ mộng trên núi. Họ ngạc nhiên thấy cha nói không được. Họ phải làm lễ cưới tại nhà thờ xứ của họ. Họ tỏ ra bất mãn. Cha cho biết đó là luật của địa phận nhưng họ thắc mắc làm sao đám cưới của họ mà họ không được làm nơi họ muốn?
Điều anh chị này thắc mắc có liên quan đến lễ chúng ta cử hành hôm nay, lễ kỷ niệm Dâng Hiến Thánh Đường Lateranô. Thánh đường này từ thế kỷ thứ 12 vẫn được coi là mẹ, là đầu của các nhà thờ. Thánh đường này cũng là nhà thờ chính toà của Đức Giáo Hoàng. Lễ này cũng nhắc nhớ chúng ta nghĩ đến nhà thờ của giáo xứ, cộng đoàn chúng ta.
Nhà thờ tượng trưng cho thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô và mỗi Kitô hữu được kêu gọi để xây dựng thân thể mầu nhiệm này. Nhà thờ ví như bào thai cho ra đời những người con cùng một trí một lòng truyền tụng và phục vụ Nước Trời.
Để thực hiện điều đó, mỗi nhà thờ luôn thực hiện việc xây dựng cộng đồng. Như các đường chỉ được dệt với nhau thành tấm vải, mỗi người cũng có một sứ vụ hiệp thông trong trong chiều hướng để sứ vụ chung được kết quả tốt đẹp trong tinh thần Chúa Kitô.
Những người trong giáo xứ hoặc là lạnh nhạt với mọi người và điều đó không xứng với Kitô Giáo; hoặc mọi người tích cực liên hệ đến giáo xứ, kiến tạo một cộng đồng một trí một lòng.
Mỗi lần chúng ta tham dự vào một bí tích nhắc nhớ chúng ta mục đích của bí tích là xây dựng thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô, nuôi dưỡng tinh thần cộng đồng, liên kết chặt chẽ với nhau hơn trong sự dấn thân chung đó là hiệp thông và thi hành sứ mệnh. Vì thế bí tích được khuyến khích cử hành tại nhà thờ. Nhà thờ trở nên nơi liên kết, để tinh thần thân thiện được triển nở chứ không phải chỉ là nơi tụ họp của những muốn giữ thái độ xa lạ.
Chúng ta cố gắng làm cho giáo xứ chúng ta nên cơ hội thuận tiện cho tinh thần hợp nhất Chúa Kitô được phát triển. Chúng ta không thể chấp nhận thái độ chia rẽ, không thể đầu hàng trước các phe nhóm.
Giống như cặp anh chị sắp cưới được nói cho biết là họ cử hành bí tích hôn phối của họ nơi nhà thờ của họ. Cùng với những lý do khác, các giáo dân cùng cử hành với họ, dâng họ lên Chúa, cầu nguyện cho họ, và nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời.
Để kết thúc, chúng ta đọc lại lời Thánh Phaolô trong bài đọc II: "Anh em không còn là người xa lạ, là khách ngoại bang. Anh em là công dân của các thánh, là phần tử nhà của Chúa".
27.Latêranô
Hôm nay chúng ta mừng kính ngày cung hiến đền thờ Latêranô, đền thờ đầu tiên của Giáo hội La mã, được coi như là mẹ của các đền thờ khác. Đền thờ Latêranô là nhà thờ chánh tòa của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Giám mục Rôma. Đền thờ này được hoàng đế Constantinople xây dựng vào năm 320, thời gian Giáo hội vừa thoát khỏi cơn bách hại tàn khốc để bước vào giai đoạn huy hoàng.
Trong tất cả các tôn giáo, đền thờ là nơi thánh thiêng, là nơi thần linh hiện diện với con người để tiếp nhận những sự thờ kính và cho họ thông phần vào các ân huệ và sự sống thần linh.
Chắc hẳn nơi cư ngụ của các thần linh không thuộc trần gian này, nhưng có thể nói, đền thờ đồng hóa với nơi cư ngụ ấy, nhờ đó con người giao tiếp được với thế giới của các thần linh. Chính trong chiều hướng này mà chúng ta tìm thấy những hình ảnh của đền thờ Giêrusalem.
Đền thờ Giêrusalem là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người, nhưng đó mới là một dấu chỉ tạm thời, sẽ được thay thế bằng thân xác Đức Kitô với Giáo hội của Ngài, như là một đền thờ mới và có tính cách vĩnh cửu. Vào thời các tổ phụ, người Do thái không biết đến đền thờ, cho dù họ vẫn có những nơi thánh để kêu cầu với Đức Giavê như Bêtal, như Sichem, như Sinai…Nhưng rồi sau đó, họ đã dùng một thánh điện lưu động, để Thiên Chúa có thể ngự trị thường xuyên giữa dân chúng đang được Ngài dẫn qua sa mạc. Đó là nhà tạm với hòm bia giao ước.
Sau khi người Do thái đã tiến vào miền đất hứa và lập thành vương quốc, bấy giờ Đavid mới nghĩ đến việc xây dựng đền thờ dâng kính Thiên Chúa. Ước mơ ấy được Salomon thực hiện. Ông đã xây dựng đền thờ Giêrusalem với tất vả vẻ huy hoàng của triều đại ông, và Thiên Chúa đã nhận đền thờ ấy như nơi cư ngụ của Ngài. Vì thế, đền thờ Giêrusalem trở nên trung tâm sinh hoạt chính trị về tôn giáo của người Do thái. Người ta từ khắp nơi hành hương về Giêrusalem vào những dịp lễ lớn để cầu nguyện, kết hiệp và tôn thờ Thiên Chúa.
Năm 587 trước công nguyên, đền thờ Giêrusalem bị vua Nabucodonosor phá hủy và bắt một số người Do thái phải lưu đày sang Babylon. Sống dưới ách nô lệ với những đau khổ và nặng nhọc, nhưng lòng họ vẫn hướng về đền thờ Giêrusalem. Thế nhưng, bây giờ đền thờ Giêrusalem đã bị đổ vỡ hoang tàn. Vì thế, họ đã tìm thấy một chiều hướng tôn thờ mới, đó là tôn thờ thiêng liêng, tôn thờ trong tâm hồn vì Thiên Chúa ở khắp mọi nơi.
Trong Tân ước, đền thờ chính là thân xác Đức Kitô: Đền thờ ấy bị phá hủy nhưng dã được xây dựng lại trong ba ngày. Đây mới chính là đền thờ vĩnh cửu, không do tay người trần thế làm nên, nhưng do chính Ngôi lời. Đền thờ ấy nói lên sự hiện diện thiết thực của Thiên Chúa ở giữa chúng ta.
Ngoài ra, các Kitô hữu còn ý thức rằng chính họ kết thành đền thờ mới, đền thờ thiêng liêng nơi thân thể Đức Kitô, đó chính là Giáo hội. Giáo hội là đền thờ của Thiên Chúa, thiết lập trên Đức Kitô. Ngài là nền móng, là đầu và là viên đá góc tường.
Còn chúng ta thì sao? Tâm hồn mỗi người cũng phải là một đền thờ cho Thiên Chúa ngự trị. Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, vị linh mục đã nói với chúng ta: Hỡi thần ô uế, hãy xéo đi, hãy ra khỏi người này để nhường chỗ cho Thần Linh Thiên Chúa.
Bao lâu sạch tội trọng, bao lâu còn sống trong ân nghĩa Chúa thì linh hồn chúng ta chính là một ngôi đền thờ sống động cho Thiên Chúa. Trái lại, khi phạm tội trọng, chúng ta là những kẻ dám nói với Thiên Chúa như sau: Hỡi Thiên Chúa, xin Ngài hãy ra khỏi tâm hồn tôi để nhường chỗ cho ma quỷ.
Chúng ta hãy gìn giữ tâm hồn mình cho trong sạch, xứng đáng là nơi cho Chúa ngự trị, chứ đừng biến nó thành hang trộm cướp. Chúng ta hãy noi gương bắt chước ông Giakêu đã tiếp đón Chúa tại nhà mình. Chính sự hiện diện của Chúa đã đem lại cho ông niềm vui mừng và hy vọng, để rồi ông đã hoán cải bản thân, làm lại cuộc đời. Hãy sửa đổi những sau lỗi để tâm hồn chúng ta thực sự là một đền thờ được dâng hiến cho Thiên Chúa.
28.Nhà thờ
Mỗi vị vua đều có cung điện riêng của mình. Và chính từ cung điện này, ông điều hành mọi công việc của đất nước. Cung điện chính của nhà vua thường được tọa lạc tại thủ đô. Còn Chúa Giêsu, vua của chúng ta thì sao? Cung điện của Ngài ở tại mỗi thành phố, ở tại mỗi thôn ấp. Cung điện ấy chính là ngôi thánh đường, ngôi nhà thờ của chúng ta. Đồng thời từ những ngôi thánh đường, từ những ngôi nhà thờ ấy, Ngài đã ban phát cho chúng ta biết bao ơn lành.
Thực vậy, biết bao nhiêu trẻ nhỏ đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, để trở thành những người con của Thiên Chúa. Biết bao nhiêu em thiếu nhi đã được diễm phúc rước lấy Chúa lần đầu và thề quyết trung thành với Chúa mãi mãi. Biết bao nhiêu lần cánh cửa nhà tạm đã mở ra, để nuôi sống linh hồn chúng ta. Biết bao nhiêu lần Chúa Giêsu qua bàn tay của linh mục đã thăm viếng những người đau yếu bệnh tật. Từ ngôi thánh đường này, từ ngôi nhà thờ này và nhất là từ nhà tạm này, Chúa Giêsu đã điều hành mọi công việc đem lại lợi ích cho tâm hồn chúng ta. Chính tại ngôi thánh đường này, hằng ngày Chúa Giêsu đều tái diễn hy lễ thập giá và thay mặt cho nhân loại dâng lên cho Chúa Cha lễ vật đền tội và hòa giải. Đồng thời Ngài luôn mời gọi chúng ta tới tham dự Bàn tiệc Thánh Thể. Thế nhưng, chúng ta có đáp trả lời mời gọi đầy yêu thương ấy hay không?
Chúng ta không phải chỉ tới nhà thờ vào những ngày lễ buộc như ngày Chúa nhật, nhưng mỗi khi có thể, chúng ta hãy cố gắng đến tìm gặp Chúa tại đây. Vì thế, ngôi thánh đường này, ngôi nhà thờ này không phải chỉ là nhà của Chúa, mà còn là nhà thật của mỗi người chúng ta. Khi được hân hạnh gặp gỡ một nhân vật quan trọng, chẳng hạn một ông Bí thư, một ông Tổng thống hay một ông vua… chúng ta thường phải ăn mặc sạch sẽ. Cũng vậy, khi đến gặp Chúa Giêsu, vua của mọi cõi lòng, chúng ta phải có một tâm hồn trong sạch, một thái độ trang nghiêm xứng đáng. Thái độ trang nghiêm của chúng ta ở trong nhà thờ sẽ biểu lộ niềm tin tưởng và yêu mến của chúng ta đối với Chúa và chắc chắn sẽ làm cho Chúa được hài lòng.
Từ hình ảnh của ngôi nhà thờ này, của ngôi thánh đường này, chúng ta đi tới một kết luận, đó là mỗi người chúng ta đều có bổn phận biến tâm hồn chúng ta trở thành một ngôi nhà thờ, một gian cung thánh cho Chúa ngự trị. Trong ngôi thánh đường, ngôi nhà thờ thiêng liêng ấy, chúng ta hãy thắp lên ngọn nến đức tin, hãy trang điểm bằng những bông hoa nhân đức, và hãy rung lên những tiếng chuông nhỏ đó là tiếng nói của lương tâm, giúp chúng ta bước đi trên nẻo đường của Chúa. Và hơn thế nữa trái tim của chúng ta chính là chiếc bàn thờ, trên đó, mỗi ngày chúng ta hãy dâng lên cho Chúa của lễ xuất phát từ lòng cuộc đời, đó là những hy sinh chúng ta gặp phải trong cuộc sống hằng ngày.
29.Cung Hiến Thánh Đường Latêranô
Trong những thế kỷ đầu, Hội thánh luôn bị bách hại nên không xây dựng được ngôi Thánh đường nào. Các cuộc lễ và cầu nguyện đều tổ chức trong các nhà tư hoặc trong các hang toại đạo, trên mộ các thánh tử đạo.
Mãi đến năm 324, Đức Giáo Hoàng Synvếttrô mới cung hiến cung điện Latêranô làm Đại Thánh Đường dâng kính Chúa Cứu Thế. Cung điện này do hoàng đế Côngtăntin nhường cho ngài làm nơi cư ngụ. Và ngài đã trú ngụ tại đây cho đến thế kỷ 14 mới dời về Vaticăn. Đây là ngôi Thánh Đường cổ kính nhất, được gọi là “Mẹ và Đầu của tất cả mọi Thánh đường trên thế giới”.
Thánh Đường Latêranô được gọi là mẹ tất cả các Thánh Đường vì là Thánh Đường đầu tiên được chính quyền công nhận trong đế quốc Lamã, và cũng vì đây là Vương Cung Thánh Đường của giáo phận Rôma, có ngai tòa của Đức Giáo Hoàng.
Thánh đường dài 130m, có 5 gian. Gian chính dài 87m, rộng 16m, có tượng 12 Thánh Tông Đồ bằng đá cẩm thạch trắng. Bước vào đền thờ, bên phải có đàn phong cầm vĩ đại với hai ngàn ống. Sau tòa giám quản có Giếng Rửa Tội (theo truyền thuyết, chính Hoàng Đế Côngtăntin được Đức Giáo Hoàng Synvếttrô rửa tội nơi đây). Ngoài nhà thờ, bên hông trái, có tháp bút cao nhất (47m) và cổ kính nhất ở Rôma bằng đá hoa cương đỏ của Ai Cập có từ thế kỷ 14 trước Chúa Kitô.
Để kỷ niệm ngày cung hiến Đại Thánh Đường này, Hội thánh tổ chức mừng lễ hôm nay. Ngày lễ này đáng chúng ta mừng kính, vì nó nhắc mọi người nhớ thánh đường là nhà cầu nguyện, là nhà của Thiên Chúa, là nơi Thánh và đáng kính sợ, là hình ảnh Giêrusalem trên trời và là cửa Thiên đàng. Tất cả các đồ dùng nơi đây đều được thánh hiến: giếng rửa tội là nơi chúng ta được tái sinh làm con Chúa, tòa cáo giải là nơi chúng ta được lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa, tòa giảng giúp chúng ta nghe Lời Chúa, bàn thờ nơi dâng hiến Chiên Thiên Chúa là Đấng xóa bỏ tội lỗi thế gian, nhà tạm là nơi Vua muôn vua ẩn mình… Kể cả những viên gạch xây dựng đền thờ cũng nhắc chúng ta nhớ tâm hồn mỗi người là những viên đá sống động của ngôi thánh đường thiêng liêng, như lời thánh Xêdariô nói: “Anh em rất thân mến, hôm nay nhờ ơn Chúa, chúng ta hân hoan cử hành ngày giáp năm của đền thờ này. Nhưng chính chúng ta phải là đền thờ đích thực và sống động của Thiên Chúa. Dĩ nhiên Kitô hữu có lý để lấy lòng tin mà tôn kính ngày trọng đại của Mẹ Hội thánh, vì họ biết nhờ Mẹ Hội thánh họ đã được tái sinh một cách thiêng liêng. Bởi vì khi sinh ra lần thứ nhất, chúng ta đã là đối tượng cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, còn nhờ cuộc tái sinh, chúng ta đã được trở nên đối tượng của lòng Người thương xót. Quả thế, lần sinh ra thứ nhất đưa tới sự chết, còn cuộc tái sinh gọi ta về sự sống thật…”
“Vì vậy anh em rất thân mến, nếu chúng ta muốn hân hoan cử hành ngày kỷ niệm cung hiến Đền thờ, chúng ta không được dùng những việc xấu xa phá đổ đền thờ sống động của Thiên Chúa nơi chúng ta. Nói thế là để mọi người hiểu rằng: Mỗi khi đến nhà thờ, chúng ta muốn thấy nhà thờ đó thế nào, thì ta cũng phải sửa soạn tâm hồn ta như thế”.
“Bạn muốn thấy Thánh đường sạch sẽ ư? Đừng làm linh hồn bạn nhơ nhớp vì dơ bẩn tội lỗi. Bạn muốn thấy Thánh đường trong sáng ư? Thì Thiên Chúa cũng muốn bạn đừng để tâm hồn tối tăm, nhưng hãy làm như lời Chúa nói, để ánh sáng việc lành chiếu sáng trong tâm hồn chúng ta, và Đấng ngự trên trời sẽ được hiển vinh. Bạn muốn vào nhà thờ thế nào, thì Thiên Chúa cũng muốn vào linh hồn bạn như thế, đúng như lời Người đã hứa: và Ta sẽ ở với chúng và đi lại với chúng”
* Ghi nhớ
Hằng ngày tôi lo gìn giữ linh hồn sạch tội, trong sáng, để xứng đáng nên đền thờ Chúa ngự.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã chọn chúng con như những viên đá sống động để xây nên một ngôi đền thánh, nơi Chúa ngự muôn đời.
Xin cho Hội thánh là dân Chúa ngày càng thêm đông và dồi dào ân sủng, để trở nên thành thánh Giêrusalem trên trời.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.
30.Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán--Ga 3,12-22
Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng lễ cung hiến thánh đường Latêranô.
Đây là vương cung thánh đường xưa nhất và mang nhiều ý nghĩa nhất trong số rất nhiều thánh đường ở Roma.
1. Theo lịch sử thì đền thờ này được xây nên ngay sau khi Hội Thánh vừa thoát ra khỏi tình trạng hang toại đạo có nghĩa là vừa thoát ra khỏi tình trạng bị bắt bớ dưới các triều hoàng đế Rôma. Năm 313 lệnh bắt đạo được bãi bỏ. Năm 320 tự do tôn giáo được pháp luật công nhận và bảo hộ. Sự việc này đã làm nức lòng các tín hữu và ngay lập tức người ta nghĩ ngay đến việc phải xây dựng những đền thờ để làm công việc thờ phượng Chúa cho xứng đáng. Trong số những nhà thờ được xây vào lúc đó người ta đặc biệt chú ý đến ngôi đền thờ dành cho vị Giám Mục Roma đồng thời cũng là vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội phụ trách. Chính Hoàng đế Constantinô đã xin hiến nơi ông đã được rửa tội trong cung điện Latêranô để làm cơ sở cho việc xây dựng ngôi đền thờ này. Người ta cũng đã khiêng cái bàn thờ nơi các Giám mục Roma đã từng dâng lễ trong những năm bị bắt bớ về đặt ở trong ngôi thánh đường mới. Lúc đầu người ta dâng đền thờ này để kính Đấng Cứu Thế. Về sau người ta lại gọi đền thờ này là Vương cung Thánh đường dâng kính Thánh Gioan Tẩy giả. Rồi từ đời này qua đời khác, đền thờ Latêranô luôn được coi là Nhà thờ chính tòa của các vị Giám mục thành Roma mà tất cả các Giáo Hội trên thế giới đều coi là Giáo Hội Mẹ. Đến thế kỷ thứ XVI thì ngôi vị này mới được chuyển đổi qua một ngôi Đền thờ mới: đó là Đền thờ thánh Phêrô hiện ở trong cung điện Vaticanô. Xét về phương diện lịch sử và ý nghĩa, thì sự thay ngôi đổi vị này không có ảnh hưởng gì đến ngôi đền thờ đặc biệt chúng ta mừng kính hôm nay. Chính vì thế mà hằng năm cả Hội Thánh vẫn hướng về nó như người mẹ muôn thuở đã sinh ra hàng hà sa số những người con trên mặt đất này.
Như vậy, về phương diện lịch sử chúng ta thấy việc mừng kính có một giá trị rất thiết thực. Nó hướng chúng ta về một quá khứ hào hùng của Giáo Hội, một quá khứ nói theo kiểu của Renan đã có thời phải thở bằng máu, nhưng lại là một quá khứ để lại những tấm gương về đời sống anh hùng, về niềm tin bất khuất và nhất là về một lòng yêu mến vô bến bờ đối với Thiên Chúa, làm cho những thế hệ đi sau phải noi gương. Nhắc lại những biến cố như thế thật là việc nên làm nhất là đối với chúng ta ngày hôm nay.
2. Nhưng thử hỏi có phải khi mừng lễ cung hiến thánh đường Lateranô, Giáo Hội chỉ có ý nhắm tới mục đích này mà thôi không? Không! Giáo Hội còn muốn cho chúng ta nghĩ tới những mục đích khác.
Như anh chị em đã biết: Đền thờ có một vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt của cộng đoàn dân Chúa.
* Tiên tri Ézékiel đã cho chúng ta thấy một quan niệm rất đẹp về đền thờ. Đền thờ là nhà của Thiên Chúa. Chính từ nơi đây mà Thiên Chúa thi thố ân huệ cho dân của Người. Chính vì quan niệm về đền thờ như thế cho nên những người Do Thái rất quí trong đền thờ. Hằng năm những người Do Thái ngoan đạo đều phải lên đền thờ để được chu toàn bổn phận của mình đối với Thiên Chúa.
* Đó là hình ảnh một đền thờ trong Cựu Ước. Đến Tân ước thì chúng ta thấy ý nghĩa của đền thờ không còn dừng lại ở đó. Chúa Giêsu đã đẩy ý nghĩa của nó lên một cấp độ cao hơn. Đền thờ trong Cựu Ước tuy đã là vô cùng quí giá, thế nhưng dù quí đến đâu đi nữa thì giá trị của nó cũng chỉ là vật chất. Dù được làm bằng những thứ quí giá nhất trên đời đi nữa thì đây cũng chỉ là những thứ bằng vàng, bằng bạc, chưa phải là thứ đền thờ Thiên Chúa mong muốn. Thiên Chúa còn muốn một loại đền thờ khác. Đây không phải là đền thờ bằng những nguyên liệu đất đá nhưng là bằng chính cõi lòng của con người. Trong câu truyện Chúa thanh tẩy đền thờ mà bài Tin Mừng hôm nay ghi lại chúng ta thấy được điều đó.
* Như vậy thì chúng ta đã rõ việc mừng lễ cung hiến đền thờ Lateranô hôm nay không phải chỉ là một việc làm ôn lại lịch sử mà là một việc làm củng cố niềm tin của chúng ta. Chúng ta mỗi người là đền thờ của Thiên Chúa. Mỗi người là đền thờ cũng có nghĩa là mỗi người có chỗ cho Chúa trong tâm hồn của mình. Một thi sĩ Đức nói: Chúa có giáng sinh ra cả 1000 lần ở Belem cũng vô ích cho bạn nếu Ngài không sinh ra được ở trong hồn của bạn” Như vậy thì trách nhiệm của mỗi người thật nặng nề. Thánh Phaolô nói một câu mà tôi cho là rất khủng khiếp: “Vậy ai phá huỷ Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em”. (1Cr 3,17)
“Ai phá hủy đền thờ của Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy”.
Vậy phải biết quí trọng con người chúng ta. Anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Chúng ta phải làm gì để chu toàn được bổn phận đó? Tôi xin đề nghị một vài công việc.
Giống như một toà nhà muốn cho nó được đứng vững và tồn tại lâu dài chúng ta phải biết bảo trì nó. Bảo trì bằng cách săn sóc chăm lo cho nó. Chăm lo như thế nào?
1. Trước hết hãy lo cho nó được sạch sẽ. Trong Tin Mừng Chúa Giêsu đã mô tả tầm hồn của một người tội lỗi là tâm hồn chất chứa đầy những thói hư tật xấu như “gian tà, giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian, và vu không” và Chúa bảo “đó là những cái làm cho con người ra ô uế”(Mt 15,19-20). Một tâm hồn như thế không thể xứng đáng với sự hiện diện của Thiên Chúa được.
2. Tiếp theo muốn cho một ngôi nhà được đẹp đẽ chúng ta phải biết trang hoàng cho nó.Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Galata đã mô tả tâm hồn thánh thiện là một tâm hồn được trang hoàng bằng hoa quả của Thánh Thần. Hoa quả đó là: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa và tiết độ” (Ga 5,22-23)
3. Sau cùng một ngôi nhà dù được trang hoàng đẹp đẽ cách mấy đi nữa nhưng nếu nó không có sức sống thì nó cũng trở thành vắng lạnh không phát huy được tác dụng. Tôi có dịp đi thăm nhiều nơi bên Âu Mỹ….nơi có rất nhiều nhà thờ bây giờ không còn hoạt động. Nhiều nhà thờ trở thành một tụ điểm du lịch cho khách đến tham quan…Tâm hồn của chúng ta cũng vậy nếu không có sức sống sớm muộn gì nó cũng trở thành lạnh lẽo hoang tàn. Hãy làm cho tâm hồn chúng ta có sức sống bằng cách để cho ơn Chúa hoạt động trong chúng ta. Thánh Phaolô đã dám tự hào mà nói: “Tôi đã không để cho ơn Chúa ra vô ích trong tôi”(1Cr 15,10)
Ngày kia Bà thánh Catarina thành Sienna bị một cơn cám dỗ dường như quá sức của mình. Bà phải vất vả lắm mới qua được cơn cám dỗ này. Sau khi cơn cám dỗ qua đi, Bà thấy Chúa hiện ra và bà liền hỏi Chúa:
- Lạy Chúa lúc tâm hồn con bị cám dỗ đầy rẫy những hình ảnh tối tăm nhơ nhớp như thế thì Chúa ở đâu?
Chúa trả lời:
- Con yêu quí của Cha, Cha ở ngay trong lòng của con.
- Trong lòng của con? Lẽ nào Chúa lại ở trong lòng của con trong những lúc như thế được?
- Vậy con hãy trả lời cho Cha hay: Cơn cám dỗ đó đã làm cho con vui sướng hay cực khổ?
- Lạy Chúa khi đó con vô cùng đau buồn và khổ cực.
- Con biết ai đã làm cho con đau buồn và cực khổ như vậy nếu không phải là Cha ở trong lòng con? Con có tin rằng nếu không có Cha ở trong con thì cơn cám dỗ dã lôi kéo con, làm cho con sa ngã phạm tội rồi không? Phần con, con đã hết sức chống cự, còn Cha Cha đã giúp con chiến thắng. Chiến đấu sẽ làm cho con trở nên vững mạnh và giúp con có thêm nhiều công nghiệp”.
31.Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ
1. Lời nguyện mở đầu
Lạy Thiên Chúa của sức mạnh và lòng thương xót,
Xin hãy che chở chúng con khỏi mọi nguy biến.
Xin ban cho chúng con sự tự do tinh thần,
sức khỏe trong tâm trí và cơ thể để làm công việc của Chúa trên thế gian.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa,
Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần,
Một Thiên Chúa, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
2. Suy Niệm
- Bối cảnh: Đoạn Tin Mừng của chúng ta có một giáo huấn rõ ràng và không thể nhầm lẫn của Chúa Giêsu trong Đền Thờ. Trước đây, ông Gioan Tẩy Giả đã được chứng kiến Chúa Giêsu nói rằng Người là Đấng Mêssia (1:29); các môn đệ đầu tiên, dựa trên biểu lộ của Gioan Tẩy Giả, đã công nhận Người là Chiên Thiên Chúa, Đấng Thiên Sai đích thực: để mở đầu cho một lễ Vượt Qua mới và một giao ước mới, để mang đến sự giải thoát cho nhân loại (Ga 1:35-51); tại Cana, Chúa Giêsu ban phép lạ đầu tiên để cho thấy vinh quang của Người (Ga 2:1-12): vinh quang sẽ được nhìn thấy, sự vinh quang có thể được dự liệu trước; do đó, tự nó biểu lộ. Đó là vinh quang của Chúa Cha hiện diện trong con người của Đức Giêsu và tự biểu lộ tại lúc khởi đầu hoạt động của Người, bằng cách này, dự đoán “giờ” của Người đã đến (17:1). Vinh quang của Chúa được thể hiện bằng cách nào? Thiên Chúa khôi phục lại mối quan hệ mới với nhân loại cách nhưng không; Người kết hợp mật thiết với loài người và ban cho họ có khả năng yêu thương như Ngài yêu thương, qua Chúa Thánh Thần, Đấng thanh tẩy tâm hồn loài người và làm cho loài người trở thành con Thiên Chúa. Tuy nhiên, thật là cần thiết để nhận thức được rằng tình yêu Thiên Chúa không thay đổi, được thể hiện trong Đức Giêsu, tương ứng với đức tin, với lòng gắn bó riêng.
- Chúa Giêsu và Đền Thờ: Giờ đây Chúa Giêsu đang ở tại Giêrusalem, trong Đền Thờ ứng nghiệm lời tiên Malakhi (Ml 3:1-3), Người công bố mình là Đấng Cứu Thế. Sự có mặt như thế của Chúa Giêsu thì đã tạo ra sự căng thẳng hơn cả những giáo lý của Người. Bây giờ, người đọc hiểu rằng làm thế nào mà các cuộc tranh chấp lớn với người Do Thái luôn luôn xảy ra trong Đền Thờ; ở nơi này, Chúa Giêsu đã nói lên lời tố giác đáng kể của mình; nhiệm vụ của Người là xua đuổi người ta ra khỏi Đền Thờ (2:15; 10:4). Trong trường hợp cuối cùng, Chúa Giêsu bị kết án bởi vì Người bị coi như là mối nguy hiểm cho Đền Thờ và cho người Do Thái. Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái: đây là dịp Người biểu lộ công khai và mặc khải cho tất cả mọi người rằng chính Người là Đấng Cứu Thế. Trong dịp lễ, thành Giêrusalem đầy những khách hành hương đến từ tất cả các miền và do đó các hành động của Người sẽ có tác dụng lớn trong toàn cõi Paléstine. Khi đến Giêrusalem, Chúa lập tức được nhìn thấy trong Đền Thờ, nơi có một số người bán bò, cừu, và bồ câu và những người đổi tiền ngồi ở đó. Cuộc chạm trán trong Đền Thờ không phải với những người tìm kiếm Thiên Chúa mà với những kẻ buôn thần bán thánh: số tiền trả để mở một sạp bán hàng phải được nạp cho thày thượng tế. Chúa Giêsu dùng cơ hội này (Lễ Vượt Qua) tại nơi này (Đền Thờ) để ban cho một phép lạ. Người lấy dây roi, một dụng cụ biểu tượng của Đấng Mêssia, Đấng trừng phạt những tệ nạn và hành động tội lỗi, và Người xua đuổi tất cả mọi người ra khỏi Đền Thờ, cùng với chiên cũng như bò. Điều đáng ghi nhận là hành động của Người đối với những kẻ bán chim bồ câu (câu 15). Chim bồ câu là động vật được dùng cho của lễ toàn thiêu tạ tội (Lv 9:14-17), là phương tiện hy sinh đền tội và thanh tẩy (Lv 12:8; 15:14,29), đặc biệt là nếu người dâng của lễ là người nghèo (Lv 5:7; 14:22,30 và các câu tiếp theo). Những người bán chim bồ câu, có thể xem như là, đã buôn bán sự hòa giải với Thiên Chúa bằng tiền bạc.
- Nhà của Cha Ta. Câu nói muốn chỉ ra rằng Chúa Giêsu trong hành động của mình cư xử như một Người Con. Chúa đại diện cho Chúa Cha trên thế gian. Họ đã biến nơi thờ phượng Thiên Chúa thành nơi mua bán đổi chác. Đền Thờ không còn là nơi để gặp gỡ Thiên Chúa, mà là một cái chợ nơi mà sự hiện diện của tiền bạc đang làm chủ. Việc thờ phượng đã trở thánh cái cớ để trục lợi. Chúa Giêsu công kích vào cơ quan đầu não của người Do Thái là đền thờ: biểu tượng của dân chúng và của sự chọn lựa. Người tố cáo rằng Đền Thờ đã bị tước bỏ nhiệm vụ lịch sử của nó: là dấu chỉ nhà của Thiên Chúa ở giữa dân của Người. Phản ứng đầu tiên về hành động của Chúa Giêsu đến từ các môn đệ là những người liên đới đến Thánh Vịnh 69:10: “Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi”. Phản ứng thứ hai đến từ các thượng tế là những kẻ lợi dụng danh nghĩa của những người buôn bán trong Đền Thờ: “Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy?" (câu 18). Họ đòi hỏi Người tỏ ra một dấu chỉ; Người cho họ biết đó là cái chết của Người: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại" (câu 19). Chúa Giêsu là Đền Thờ bảo đảm sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế gian, sự hiện diện tình yêu của Chúa; cái chết trên cây thập giá sẽ làm cho Người là Đền Thờ duy nhất và khẳng định của Thiên Chúa. Đền Thờ được tạo ra bởi bàn tay loài người đang bị mục nát; Đức Giêsu sẽ thay thế cho Đền Thờ ấy, bởi vì bây giờ Người là sự hiện hữu của Thiên Chúa trên thế gian này; Chúa Cha hiện diện trong Người.
3. Một vài câu hỏi cá nhân
• Bạn có hiểu rằng dấu hiệu tình yêu của Thiên Chúa dành cho bạn không còn là Đền Thờ nữa mà là một Người: Đức Giêsu bị đóng đinh không?
• Bạn có biết rằng dấu hiệu này được trao cho riêng bạn để mang lại sự giải thoát dứt khoát của bạn không?
4. Lời Nguyện Kết
Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.
Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo.
Nên dầu cho địa cầu chuyển động, núi đồi có sập xuống biển sâu, ta cũng chẳng sợ gì. (Tv 46,1-2)
32.Đền thờ mẹ của tất cả các nhà thờ
Hôm nay, toàn thể Giáo Hội mừng lễ cung hiến đền thờ Latêranô. Đền thờ xây cất với tư cách là nhà thờ của giáo phận Rôma, trọng tâm hiệp thông và hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội công giáo.
Đền thờ Latêranô được xem như là đền thờ mẹ của tất cả mọi nhà thờ của thành Rôma và của toàn thế giới. Toàn thể Giáo Hội công giáo mừng lễ kỷ niệm cung hiến đền thờ này để nói lên sự hiệp thông Giáo Hội. Giáo Hội Chúa hiện diện khắp nơi trên thế giới được hiệp nhất và hiệp thông với nhau. Như thế, đền thờ Latêranô còn là dấu hiệu mời gọi hiệp thông và hiệp nhất. Sự hiệp thông và hiệp nhất này đã được bắt đầu trước hết nơi tâm hồn con người đón nhận Tin Mừng của Chúa và tôn thờ Ngài trong sự thật và trong tinh thần. Đền thờ bằng đá không còn ý nghĩa nếu không có đền thờ tinh thần nơi tâm hồn con người, nếu con người không biến tâm hồn mình làm đền thờ sống động cho Thiên Chúa ngự trị.
Con người mọi thời đại đều bị cám dỗ trần tục hóa đền thờ, trần tục hóa niềm tin tôn giáo như những kẻ buôn bán đổi tiền được nhắc đến trong Phúc Âm hôm nay. Mỗi người Kitô chúng ta từng xác tín điều này và góp phần của mình để giúp anh chị em chung quanh cũng được soi sáng hiểu như vậy. Đây là một trong những trách nhiệm của từng người Kitô đối với anh chị em mình. Đó là chỉ cho anh chị em mình phải biết tôn thờ Thiên Chúa như thế nào cho phải đạo.
Chiều kích mầu nhiệm của Giáo Hội vượt ra bên ngoài cơ cấu hữu hình và đồng thời nhắc nhở cho mỗi người chúng ta về bổn phận phải làm sao, hay làm chứng cho anh chị em được hiểu và trở thành kẻ thờ phượng Thiên Chúa đích thực trong Thánh Thần và trong sự thật. Đây chính là ý nghĩa mà lễ mừng cung hiến đền thờ Latêranô nhắc lại cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Lạy Chúa,
Xin biến đổi mỗi người chúng con trở thành đền thờ sống động của Chúa và trở thành những kẻ tôn thờ Chúa đích thực như lòng Chúa mong ước trong sự thật và trong Thánh Thần.
33.Nhà thờ của giáo xứ
Hôm nay, chúng ta mừng kỷ niệm ngày cùng hiến đền thờ Latêranô. Đền thờ này vốn được coi như là nhà thờ chính tòa của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Giám Mục giáo phận Rôma. Nhân dịp này tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ về vai trò của nhà thờ, của thánh đường trong giáo xứ.
Khi một em nhỏ mở mắt chào đời, cha mẹ của em thường bàn bạc với nhau xem sẽ đặt tên gì cho em. Các ngài mở lịch và đặt cho em không những một tên gọi bình thường, mà còn chọn cho em một tên thánh nữa. Chẳng hạn như Maria, Giuse, Phêrô, Anna…
Vị thánh mà em nhỏ ấy mang tên sẽ là vị thánh bổn mạng, vị thánh quan thầy của em. Vì thánh ấy sẽ nâng đỡ và gìn giữ em trên vạn nẻo đường đời.
Cũng thế đối với ngôi nhà thờ của giáo xứ. Cụ thể là ngôi nhà thờ của giáo xứ An Sơn chúng ta, được đặt tên là nhà thờ Vô Nhiễm, vì được đặt dưới sự bảo trờ của Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Và rồi trong một năm, cứ đến ngày 8 tháng 12, tất cả chúng ta, những người con trong giáo xứ, đều mừng kính Mẹ như vị bổn mạng của mình. Chính vì thế, chúng ta hãy chạy đến kêu cầu để xin Mẹ luôn nâng đỡ và gìn giữ cộng đoàn chúng ta trong sự bình an, yêu thương và hợp nhất.
Chúng ta đã thấy trong thời gian chiến tranh, biết bao nhiêu ngôi nhà thờ đã đã bị tàn phá, đã bị sụp đổ do bom đạn của hận thù, để rồi chỉ còn là một đống gạch vụn. Chúng ta hãy cầu xin Mẹ che chở cho ngôi nhà thờ của giáo xứ, được luôn luôn an toàn.
Tới đây chúng ta nhắc cho anh chị em một sự thật: Giáo xứ là một gia đình. Chính tại gia đình này, chúng ta tìm thấy được một tình mến thương đậm đà và những kỷ niệm thật êm đềm và tươi đẹp.
Phải, giáo xứ chính là một gia đình và ngôi nhà thờ này chính là ngôi nhà tổ được dành cho mọi người.
Thực vậy, chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta đã được cha mẹ bồng ẵm tới, sau khi đã mở mắt chào đời, để lãnh nhân bí tích Rửa Tội, sinh chúng ta trong đời sống siêu nhiên của người con cái Thiên Chúa.
Chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta được lãnh nhận bí tích Thêm sức, giúp chúng ta trưởng thành trong đời sống đức tin, nhờ đó chúng ta trở thành những người lính can đảm, chiến đấu dưới bóng cờ của Đức Kitô.
Chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta được rẽ vào một khúc quanh mới của cuộc đời, khi chúng ta cùng với người chúng ta thương mến, tay trong tay tiến lên bàn thánh để cử hành bí tích Hôn phối.
Và sau cùng chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta sẽ từ giã mọi người để trở về nhà Cha sau cuộc hành trình dương thế, hầu đón nhận niềm hạnh phúc vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã hứa ban cho những người tôi tớ trung thành phụng sự Ngài.
Và nhất là chính tại ngôi nhà thờ này, mỗi ngày đều diễn ra cái quang cảnh xum họp thật đầm ấm và dạt dào yêu thương. Thực vậy, trong một gia đình, cha mẹ và con cái thường quây quần bên mâm cơm nóng sốt, chứ không phải ngày nào cũng ăn cơm hộp hay giắt nhau ra hàng quán, ra tiệm ăn. Cũng vậy, chính tại ngôi nhà thờ nay, mỗi ngày chúng ta đều cùng nhau quây quần bên bàn tiệc Thánh Thể để chia sẻ với nhau một của ăn thiêng liêng nuôi sống linh hồn, rồi từ đó, chúng ta sẽ có được những hành động bác ái và yêu thương, tha thứ và gíup đỡ cho những người chung quanh.
Tuy nhiên, chúng ta đã thực sự cư xử với nhau như những người con của gia đình giáo xứ hay chưa?
34.Chúng ta là đền thờ là của Chúa--Lm. Micae Võ Thành Nhân
Đền thờ được xây lên bằng những viên đá do công sức của con người chúng ta, nhưng chủ sở hữu của Đền thờ lại là Chúa. Tại làm sao có vẻ nghịch lý này? Vì:
+Đền thờ là nơi Chúa ngự, Chúa ban ơn cho chúng ta từ nơi đây: “Người phán: Đây là chốn Ta nghỉ ngơi đến muôn đời. Ta sẽ ngự nơi đây, vì Ta ưa thích“ (Tv 132, 14).
+Đền thờ là nơi quy tụ chúng ta lại để làm việc thờ phượng Chúa, để Chúa chúc lành và ban ơn cho chúng ta: “Nhà Ta là nhà cầu nguyện cho muôn dân tộc“ (Is 56, 7).
Do chủ quyền Đền thờ là của Chúa, Chúa mới xua đuổi những người buôn bán xung quanh Đền thờ Giêrusalem ra khỏi nơi ấy vì họ đã biến nhà của Chúa để cầu nguyện thành nơi ồn ào, náo nhiệt, bán buôn, chửi thề văng tục, trao đổi tiền bạc….mặc dù chính họ đã bỏ công sức ra xây dựng bốn mươi sáu năm (xGa 2, 13 – 22).
Qua đó chúng ta nhận thấy:
-Con người chúng ta là Đền thờ Chúa ngự: “Nào anh em chẳng biết anh em là Đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần của Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Ai phá hủy Đền thờ Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền thờ ấy chính là anh em“ (1Cor 3, 16 – 17). Như vậy, chúng ta phải biết thường xuyên quét dọn căn nhà Đền thờ linh hồn chúng ta sạch sẽ các rác rưởi, và lau chùi những tanh hôi, nhơ dớp, thúi tha bằng cách xa lánh các tội lỗi, từ bỏ các tính hư tật xấu, đam mê xác thịt, tham sân si… Và nếu có tội là phải đến tòa Giải tội để xứng thú, xin Chúa tha thứ, thì Chúa mới ngự trong con người chúng ta. Lúc đó, chúng ta mới có “Chất Chúa“ trong con người chúng ta, để rồi chúng ta sống và làm theo ý Chúa, Chúa mới xót thương ban ơn cho chúng ta nhiều hơn.
Đàng khác, để xứng đáng Chúa ngự trong con người chúng ta, chúng ta còn phải biết trang hoàng linh hồn con người chúng ta một cách thật xứng hợp, dù là tối thiểu nhất. Đó là bằng cách chúng ta luôn nghe lời Chúa dạy mà luyện tập các nhân đức: Nhân đức khiêm nhường, nhịn nhục, từ tâm, nhân hậu, độ lượng, khoan dung, tiết độ…..nhất là mến Chúa yêu người. Lúc đó, linh hồn chúng ta sẽ xinh đẹp, lộng lẫy, thơm tho, Chúa sẽ đi đi, lại lại trong chúng ta, và chúng ta sẽ tràn ngập niềm vui, bình an, hạnh phúc.
Chúng ta đừng để con người chúng ta bị biến chất ra hư đốn trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Vì mọi sự suy đồi, xuống cấp đạo đức của chúng ta là bởi chúng ta xua đuổi Chúa ra khỏi con người chúng ta, cuộc sống chúng ta, để rồi chúng ta rước âm binh thần tướng và những thứ vô lại ghê tởm vào trong con người chúng ta, làm cho chúng ta hư mất đời đời. Chúng ta đừng làm điều này trong cuộc sống. Nếu không, chúng ta sẽ khổ đau bây giờ và mãi mãi.
Lạy Chúa, xin Chúa hãy cư ngụ trong con người chúng con, xin Chúa cho chúng con luôn là viên đá tốt, sống động tức là các việc lành phúc đức chúng con làm để xây dựng Hội Thánh Chúa ở trần gian này. Amen.
35.Đền thờ thân thể Đức Kitô--Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã muốn cho Dân Chúa được gọi là Hội Thánh, xin Chúa nhìn đến chúng ta đang tụ họp nơi đây, nhân danh Chúa, mà ban cho chúng ta biết kính thờ, yêu mến và phụng sự Chúa cho phải đạo, hầu đạt tới phúc lộc quê trời Chúa hứa ban. Thánh đường Latêranô là vương cung thánh đường của Đức Giáo Hoàng. Thánh đường này được hoàng đế Contantinô xây dựng năm 320. Vì thế, đây là thánh đường đầu tiên và danh dự, được mệnh danh “là đầu và là mẹ của mọi thánh đường”. Ngày lễ này nhắc ta nhớ rằng thừa tác vụ của Đức Giáo Hoàng, người kế vị thánh Phêrô, là nguyên nhân và nền tảng hữu hình cho sự hợp nhất trong Dân Thiên Chúa.
Kính thờ, yêu mến và phụng sự Chúa, tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô: Anh em phải là những viên đá sống động… Hỡi thành thánh Giêrusalem, mọi bức tường của ngươi sẽ xây toàn đá quý, các tháp canh bằng trân châu bảo ngọc, các cửa thành được xây bằng lam ngọc, các đường hào bao quanh được xây bằng đá quý.
Kính thờ, yêu mến và phụng sự Chúa, trở nên đền thờ đích thực và sống động của Thiên Chúa, không được để cho linh hồn ra tối tăm, nhưng, phải chiếu sáng bằng Lời Chúa, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Xêdariô Áclơ: Nhờ Bí Tích Thánh Tẩy, tất cả chúng ta được trở nên đền thờ của Thiên Chúa… Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông Đền Thờ tuôn ra, và tất cả những người được nước ấy thanh tẩy đều hưởng ơn cứu độ, và cất tiếng reo mừng. Ngày cung hiến thánh đường, dân chúng hát mừng ca ngợi Chúa.
Kính thờ, yêu mến và phụng sự Chúa, vững tin vào sự che chở của Chúa, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Êdêkien: Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông Đền Thờ tuôn ra, và tất cả những ai được nước ấy thanh tẩy đều hưởng ơn cứu độ. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 45: Một dòng sông chảy ra bao nhánh đem niềm vui cho thành của Chúa Trời: đây chính là đền thánh Đấng Tối Cao. Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta. Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo. Nên dầu cho địa cầu chuyển động, núi đồi có sập xuống biển sâu, ta cũng chẳng sợ gì. Trong bài đọc hai của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côrintô: Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đức Chúa phán: Ta đã chọn và thánh hóa nhà này, để Danh Ta ngự nơi đây đến muôn đời. Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan nói: Đền thờ Đức Giêsu muốn nói là chính thân thể Người. Đức Kitô là Đầu, còn, chúng ta là các chi thể, tất cả chúng ta làm một trong Đức Kitô, được liên kết với nhau thành Ngôi Đền của Thiên Chúa, chính Thiên Chúa đã chọn và thánh hóa Nhà Người, không ai có thể đặt nền móng nào khác, ngoài, nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô. Nước từ Đền Thờ chảy ra, đổ về biển Chết và làm cho nước biển hóa lành. Chúng ta là đền thờ của Chúa, vì thế, ta đừng biến Nhà Chúa thành nơi buôn bán. Chúng ta không được dùng những hành động xấu xa, để phá hủy đền thờ sống động của Thiên Chúa nơi ta. Nếu ta muốn ngôi thánh đường rực sáng, thì, Chúa cũng muốn ta không được để cho linh hồn ra tối tăm, nhưng, phải để cho các việc lành chiếu sáng trong ta, và như thế, Thiên Chúa sẽ ngự vào linh hồn ta như lời Người đã hứa: Người sẽ ngự giữa ta và sẽ đi đi lại lại giữa ta. Chúa đã muốn cho Dân Chúa được gọi là Hội Thánh, ước gì chúng ta biết kính thờ, yêu mến và phụng sự Chúa cho phải đạo, hầu đạt tới phúc lộc quê trời Chúa hứa ban. Ước gì được như thế!
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC:
+ Chúa Nhật 14/12/2025 – CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG năm A – Đấng phải đến.
Thứ Bảy 13/12/2025 – Thứ Bảy tuần 2 mùa vọng. – Thánh Luxia, trinh nữ, tử đạo. Lễ nhớ. – Gioan Tẩy Giả là Elia.
Thứ Sáu 12/12/2025 – Thứ Sáu tuần 2 mùa vọng. – Chủ quan, phiến diện.
Thứ Năm 11/12/2025 – Thứ Năm tuần 2 mùa vọng. – Gioan Tẩy giả được Chúa khen.
Thứ Tư 10/12/2025 – Thứ Tư tuần 2 mùa vọng. – Dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng.
Thứ Ba 09/12/2025 – Thứ Ba tuần 2 mùa vọng. – Con chiên lạc đàn.
Thứ Hai 08/12/2025 – ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI. Lễ trọng. Lễ HỌ. Cầu cho giáo dân. – Xin Vâng.
+ Chúa Nhật 07/12/2025 – CHÚA NHẬT 2 MÙA VỌNG năm A – Ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến.
