Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 7)

CANH TÂN ĐỜI SỐNG LINH MỤC

THEO GƯƠNG THÁNH PHAO-LÔ

(dựa theo cuốn “Linh mục một vài năm sau, suy gẫm về tác vụ linh mục”

 của ĐHY Carlo Maria Martini)

 

Dẫn nhập

Trong các bài sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau suy tư và chiêm niệm về đề tài “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”. Tuy là những bài suy niệm dành riêng cho linh mục, nhưng cũng hữu ích để canh tân đời sống thiêng liêng cho bất cứ ai muốn đọc và suy niệm.

 

Chúng ta cùng suy gẫm sách Công Vụ Tông Đồ, chương 20, câu 17-38. Đây là “di chúc mục vụ” của thánh Phao-lô. Trong bản văn trên, thánh Tông Đồ nói với các kỳ mục Ê-phê-sô về kinh nghiệm ngài đã trải qua trong 3 năm sống với họ: kinh nghiệm về con người, về đời sống linh mục và về mục vụ.

 

Nhờ tìm hiểu và suy gẫm về “Di chúc mục vụ” của thánh Phaolô do ĐHY Martini triển khai trong cuốn: “Linh mục một vài năm sau…Suy gẫm về tác vụ linh mục”, chúng ta có thể “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”

                                                                                 Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên

 

 

BÀI BẢY

TỈNH THỨC

 

Chúng ta sang phần thứ ba của diễn từ Mi-lê-tô: huấn thị cho các kỳ mục, hay đúng hơn là sự khích lệ (c. 28-31): "Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình. Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng. Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng, suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm khi phải rơi lệ”. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu các kỳ mục Ê-phê-sô là ai; tỉnh thức theo Tân Ước là gì, và chúng ta cần tỉnh thức đề phòng những gì.

 

1. Các kỳ mục Ê-phê-sô là ai?

Khi nói đến các kỳ mục là chúng ta nói đến những người hữu trách. Đó là những giáo dân, phần lớn có gia đình và lao động kiếm sống, ở độ tuổi 35-40. Có thể so sánh họ với hội đồng mục vụ giáo xứ của chúng ta hiện nay. Chỉ một vài người trong số họ là những người rao giảng Tin Mừng (évangélistes) toàn thời gian hoặc rày đây mai đó. Họ dành một vài năm để phục vụ cộng đoàn. Hoặc họ nghiên cứu Kinh thánh và các cộng đoàn lo cho họ. Tuy nhiên, cách chính thức, đó là các linh mục mà người ta cũng gọi là kỳ mục (épiscopes); họ thay phiên nhau chủ toạ lễ tạ ơn khi thánh Tông Đồ vắng mặt; họ rửa tội; điều hành các lớp giáo lý và lo cho những người trở lại đạo. Có người trong họ lãnh trách nhiệm về hành chánh; có người thì lo xem xét những trường hợp hôn nhân khó khăn. Họ khuyên bảo và lo cho cộng đoàn được bình an khi có những tranh chấp. Họ họp nhau theo định kỳ để xem xét các vấn đề chính yếu. Vào thời đó, các tông đồ còn sống, nên cộng đoàn là loại cộng đoàn tông đồ, chứ không phải cộng đoàn có giám mục. Khi thánh Tông Đồ không ở đó, họ viết để trình bày cho ngài những trường hợp quan trọng nhất, hoặc họ hỏi ý kiến trực tiếp như ở Mi-lê-tô.

 

Để được gọi, ứng viên vào hàng kỳ mục phải có đời sống thiêng liêng và đạo đức thích hợp: một cảm nhận tình yêu huynh đệ trên mức trung bình, luôn sẵn sàng phục vụ (từ bỏ thời gian tự do, kể cả công việc đang làm …), một cảm nhận nhanh nhạy về những tương quan con người với nhau để có thể gia nhập nhóm – hợp nhất với thánh Tông Đồ - và để xây dựng và duy trì tinh thần huynh đệ trong cộng đoàn. Người ta không đòi làm việc toàn thời gian, hay phải độc thân. Thánh Phaolô không ngừng qui chiếu về kỳ mục đoàn, bởi vì chính ngài đã thiết lập, viếng thăm, củng cố và khích lệ cộng đoàn. Sau khi các tông đồ ra đi, khuôn mặt của giám mục sẽ nắm vai trò quan trọng: được chọn trong số các kỳ mục, giám mục sẽ thi hành quyền bính đặc biệt của các tông đồ.

 

Giáo Hội ngày càng đông các tín hữu. Sự đông đảo đó giải thích tại sao lại có các Giáo Hội giám mục, các giáo phận hoặc các miền đặc biệt. Được hợp thành bởi “tình huynh đệ” ngày càng đông, các giáo hội hiện nay có các linh mục được phong chức phục vụ. Cương vị xã hội của các “kỳ mục” hay “giám mục (épiscope)” đã thay đổi theo lịch sử. Từ khoảng 15 thế kỷ, các vị này thi hành một tác vụ thường đòi hỏi và bao gồm những trách nhiệm lớn hơn những trách nhiệm của các kỳ mục tiên khởi của cộng đoàn Ê-phê-sô. Vào thời đó, các kỳ mục vẫn là giáo dân, dù trong thâm tâm họ, họ được kêu gọi theo Đức Kitô cách triệt để. Vai trò và địa vị các kỳ mục được thành hình vào thế kỷ thứ III và thứ IV, theo nhịp tiến triển của Giáo Hội và những đòi hỏi gia tăng của việc thờ phượng, của cơ cấu tổ chức và sự gặp gỡ các nền văn hoá.

 

Sự thánh hiến đời sống linh mục ngày càng giống với sự thánh hiến của các tông đồ là những vị được mời gọi bỏ hết mọi sự để theo Chúa Kitô. Các vị ngày càng ít giống với các kỳ mục ở Ê-phê-sô. Có thể nói, chúng ta ở cùng phía với thánh Phaolô, Phêrô, Luca, Sila và Ti-mô-thê-ô, nghĩa là phía các vị hiến dâng xác và hồn cho việc phúc âm hoá và phục vụ cộng đoàn. Dần dần, linh mục chấp nhận hình tượng đời sống thiêng liêng của những người trở thành môn đệ Chúa Giêsu và được mời gọi theo Chúa Kitô, bỏ lại lưới cá và gia đình. Dĩ nhiên, tất cả những điều đó có những đường nét và mức độ khác nhau tuỳ theo những điều kiện xã hội trong tiến trình lịch sử của Giáo Hội. Điều kiện của đời sống chúng ta khác trước, nhưng chắc chắn nhiều đòi hỏi hơn khi so sánh với linh mục đoàn tiên khời.

 

2. Tỉnh thức trong Tân ước là gì?

Sự khích lệ các kỳ mục Ê-phê-sô chứa đựng một từ chìa khóa: Hãy tỉnh thức (c. 28.31). Chúng ta hãy xem xét ngắn gọn ý nghĩa chung của sự tỉnh thức và điều nó muốn diễn tả trong Tân Ước.

 

a. Trong Tân ước, có nhiều từ chỉ tỉnh thức với nhiều nghĩa khác nhau. Riêng từ “hãy tỉnh thức” trong câu 31 dịch từ hy lạp gregorette, nghĩa là “hãy thức tỉnh” hay “trong tình trạng thức tỉnh” của người đã ngủ. Từ này được dùng nhiều trong Tân Ước. Chúng ta tỉnh thức vì nhiều lý do: - Tỉnh thức vì sợ hãi: người chủ sợ kẻ trộm đến nên tỉnh thức. Cũng vậy, người đầy tớ tỉnh thức vì sợ chủ về bất ngờ bắt gặp mình đang mê ngủ vì say sưa với bạn bè; -Tỉnh thức vì mong ước: Cô dâu tỉnh thức đợi chú rể: đó là điều đã được gợi lên trong sách Diễm ca và trong dụ ngôn mười trinh nữ. Khi đợi chú rể, người ta đốt đèn sáng. Đó là sự tỉnh thức của sự mong ước: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!” Đó cũng là sự tỉnh thức trong phụng vụ: “Chúng con chờ đợi Chúa trở lại”. - Sau cùng là tỉnh thức vì tình bạn mà Chúa Giêsu đã mời gọi các tông đồ.

 

b. Tân ước dùng nhiều nghĩa khác nhau về tỉnh thức cho thấy tầm quan trọng của thái độ này. Phải tỉnh thức, bởi vì nếu mê ngủ về đàng thiêng liêng, chúng ta sẽ mau chóng bị ma quỉ, tội lỗi, tà dâm kéo đến, và nhục dục cám dỗ, trí tưởng và tò mò sẽ xuất hiện. Một số trong chúng ta sa ngã bất ngờ bởi vì, khi đã cầu nguyện, chúng ta tin rằng mình vững mạnh, mà quên đi sự mỏng dòn, yếu đuối luôn đi liền với bản tính con người chúng ta. Chúa đòi hỏi chúng ta cầu nguyện để cái chết không bất ngờ đến khi chúng ta ở trong tình trạng tội lỗi, để khẩn cầu cho Nước Thiên Chúa đến trên thế gian và ngày trở lại của Chúa chúng ta, để đồng hành với Chúa Giêsu trong những giờ phút cầu nguyện lâu giờ khi hấp hối; nhờ đó chúng ta được thanh luyện khỏi những ước muốn tội lỗi hão huyền.

 

c. Tỉnh thức mong chờ Chúa đến, theo Kinh Thánh, đó là thái độ tiêu biểu của con người Phúc âm, của người không dừng lại ở những an toàn hiện tại nhưng hướng tới tương lai. Vì lý do đó, Tân Ước diễn tả sự tỉnh thức bằng những từ khác, ngoài hai từ mà thánh Phao-lô dùng trong bản văn chúng ta đang suy niệm. Đặc biệt, trong những diễn từ cánh chung của các Tin Mừng nhất lãm. Ở đây, chúng ta có thể nói đến Mc 13, 33 và tt, trong đoạn này, “tỉnh thức” được dịch bằng từ hy lạp có nghĩa là “chiến đấu chống lại sự buồn ngủ”. Hơn nữa, khuyến khích tỉnh thức thường đi liền với lời mời gọi cầu nguyện liên tục, không ngừng. Cũng cần nói thêm, lời nhắc nhở “hãy tiết độ” cũng nằm trong thái độ tỉnh thức, bởi vì rượu làm người ta mê ngủ và ra tối tăm.

 

3. Chúng ta tỉnh thức đề phòng những gì?

Ngày nay, chúng ta sống trong một thế giới không còn ý thức về việc Chúa lại đến, trong khi các ki-tô hữu tiên khởi lại tin rằng ngày Chúa trở lại đã rất gần. Đúng hơn, thời đại chúng ta chỉ sợ chiến tranh hoặc tai họa hạt nhân có thể huỷ diệt nhân loại. Vì thế, nhiều người, nhất là giới trẻ muốn chiến đấu chống lại những xung đột trên thế giới và chống lại việc chạy đua vũ trang. Đó là sự diễn dịch có tính thế tục của sự tỉnh thức, trong khi hi vọng của Tân Ước là sự chờ đợi vị Hôn Phu sẽ đến. Đối với con người, sợ hãi sự kết thúc là một thái độ hiện sinh thường xuyên; nhưng chúng ta phải diễn dịch sự sợ hãi đó cách đúng đắn và thanh tẩy nó. Lịch sử sẽ có một kết thúc; những thực tại của thế giới này sẽ biến đổi. Nhưng đối với linh mục chúng ta, tỉnh thức Phúc âm phải được diễn dịch cụ thể thế nào?

 

a. Trước hết, chúng ta cần tỉnh thức để thắng vượt lối sống cá nhân cực đoan.

TK XVI-XVII, phương Tây khám phá ra giá trị của “cái tôi”. Có thể nói đến sự trỗi dậy của “cái tôi” từ trước tới nay bị xoá nhoà bởi “cái chúng tôi”. Sự trỗi dậy đó nếu hiểu theo nghĩa là tự do, trách nhiệm và trưởng thành của “cái tôi” thì rất tốt. Tuy nhiên, theo thời gian, “cái tôi” đó ngày càng được chú trọng quá mức biến thành một thứ chủ nghĩa cá nhân cực đoan. “Cái tôi” ngày càng tách rời khỏi “cái chúng tôi”. “Cái tôi” trở thành quan trọng nhất. “Cái tôi” là trung tâm mọi sự. “Cái tôi” trổi vượt hơn mọi người. “Cái tôi” hoàn hảo, không một khiếm khuyết. Nói tóm lại “Cái tôi” là tất cả. Một khi đã có “Cái tôi” như thế, chúng ta trở thành một người có lối sống cá nhân cực đoan nhất. Nguy hiểm hơn là sự đề cao thái quá “Cái tôi” thường được che dấu sau những lời nói và thái độ hết sức khiêm tốn, hết sức phục vụ. Là linh mục, sống trong bầu khí của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, chúng ta cần tỉnh thức thắng vượt lối sống cá nhân cực đoan của “Cái tôi”. Đó là sự tỉnh thức thường xuyên, luôn kèm theo một đời sống cầu nguyện liên lỉ, cùng với sự xét mình chân thành trước nhan Chúa, cũng như can đảm lắng nghe và ngay cả nếm vị đắng của những góp ý thẳng thắn. Thắng vượt “Cái tôi” của lối sống cá nhân thái quá, chúng ta mới có thể sống liên đới, vị tha, yêu thương và chấp nhận lẫn nhau. Chấp nhận trong đời sống chung giữa anh em linh mục cùng phục vụ một giáo xứ, một cộng đoàn; chấp nhận giáo dân trong tôn trọng, yêu thương và tha thứ. Thật đáng buồn nếu chính chúng ta, những người tông đồ của Chúa, lại chỉ nghĩ đến mình, gia đình mình, người thân và bạn hữu của mình.

 

b. Kế đó, chúng ta cần tỉnh thức để thắng vượt lối sống cực đoan về thời gian.

Ngày nay, tiêu chuẩn của xã hội là cái gì cũng phải nhanh. Càng nhanh càng tốt. có lần đi Metro (xe điện ngầm) ở Paris, một em bé độ 7 tuổi nói: 1’28”. Em bé có ý nói về thời gian từ trạm vừa rời tới trạm kế đó. Em tính từng giây. Nghĩa là đối với em, càng nhanh càng tốt. Không nói đâu xa, điện thoại di động chúng ta gọi nghe cũng trong xu hướng đó. Chú dế đời sau luôn nhanh hơn những chú dế đời trước. Hiệu quả kinh tế, hành chánh, v.v. đều được đánh giá bằng thời gian nhanh hay chậm. Làm chậm, cho sản phẩm ra thị trường chậm chỉ có chết trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

 

Từ lãnh vực kinh tế, xã hội, quan niệm thời gian lấn sang lãnh vực tôn giáo. Cụ nào làm lễ nhanh, giảng ngắn được ưa thích. Cụ nào lề mề, dài dòng sẽ bị chê bai và tránh né. Về đời sống thiêng liêng cũng vậy, chúng ta muốn chính mình, giáo xứ và giáo dân phải mau lẹ đổi mới. Có thể nói, con người chúng ta ngày nay bị lôi cuốn bởi cái “tức khắc”, “tức thời”. Trong khi đó, Kinh Thánh không ngừng nói đến sự kiên trì, sự nhẫn nại, sự chờ đợi. Là mục tử, chúng ta đến với người khác với tình yêu phục vụ, mà tình yêu phục vụ đòi hỏi sự nhẫn nại và thời gian. Không thể có cái tức khắc cho sự đổi thay một con người. Người tông đồ phải cố gắng sống và giúp mọi người sống nhịp điệu tôn trọng bản tính con người, nghĩa là hãy coi thời gian là bạn, chứ không phải kẻ thù phải chinh phục.

 

Một khía cạnh khác cần lưu tâm, đó là nhiệt tâm tông đồ muốn làm mọi sự không để một khoảng trống thời gian nào. Đây cũng là cách gián tiếp chúng ta muốn chinh phục thời gian, muốn làm thật nhiều trong một khoảng thời gian ngắn nhất. Đây cũng có thể là mặt trái của sự kiêu căng cho rằng mình có thể làm mọi sự, giải quyết mọi sự. Cần tìm kiếm thời gian thinh lặng trong cầu nguyện. Cần tách rời khỏi môi trường đang sống để suy nghĩ, nhìn lại chính mình và những hoạt động tông đồ của mình.

 

Ngược lại với nhiệt tâm tông đồ như muốn chinh phục thời gian, một thái độ khác cũng cần tránh đó là phí phạm thời gian. Có lẽ linh mục chúng ta thường rơi vào thái độ này. Thời gian rảnh rỗi quá nhiều vì nhiều lúc chúng ta không biết làm gì. Ở không sẽ dẫn đến lười biếng. Lười biếng lại đưa đến bê trễ bổn phận. Đầu óc chúng ta trở nên mụ mẫm, không còn suy nghĩ được, đọc một đoạn Tin Mừng nhiều khi chúng ta không biết nói gì, nên một là lấy bài giảng cũ ra giảng lại, hai là vào internet tìm kiếm và tải xuống; thế là xong bổn phận. Tệ hơn nữa, vì lười biếng, dần dà chúng ta sẽ chỉ uể oải làm những cái tối thiểu của bổn phận. Tận dụng thời gian Chúa ban và không vội chinh phục thời gian bằng mọi giá, đó là thái độ trung dung và đó là sự “tiết độ”, một nhân đức trong 4 nhân đức nền tảng là khôn ngoan, can đảm, công bình và tiết độ.

 

3.  Cuối cùng, chúng ta cần tỉnh thức để thắng vượt lối sống hướng hạ, dành ưu tiên cho những sự đời này.

Lối sống này được biểu lộ qua 3 khía cạnh:

- Người thời nay không còn nhận biết có một Thiên Chúa là Cha yêu thương, sáng tạo và cứu chuộc. Họ theo một thứ chủ nghĩa nhân bản vô thần. Quan tâm, giúp đỡ, dấn thân trong những hoạt động nhân đạo vì tình người là đủ; không cần một Đấng Linh Thiêng Siêu Việt nào. Tuy nhiên, một lối sống nhân bản vô thần không mở ra với Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu và thương xót rất dễ lạc hướng. Có khi người ta chỉ giúp đỡ những người cùng một niềm tin, cùng một lối sống, cùng một dân tộc, cùng một nền văn minh. Có khi người ta chỉ giúp đỡ những khía cạnh giới hạn tự đặt ra mà không giúp đỡ toàn diện con người, v.v.

 

- Không tin có Thiên Chúa thì cũng không tin có đời sau, hoặc niềm tin vào đời sau rất mờ nhạt. Hậu quả là gì? Những người này đánh mất niềm hi vọng thực sự. Họ đánh mất hi vọng bởi vì phải chết. Cái chết là điều chắc chắn nhất, không ai tránh được. Chính vì không tin vào đời sau vĩnh cửu, đánh mất hiềm hi vọng hạnh phúc, mà thời đại chúng ta là thời đại đáng thương, một thời đại trong đó con người làm mồi cho mọi thứ trào lưu nhất thời, thay đổi, và nhất là làm mồi cho stress dẫn đến rất nhiều trường hợp tự tử của giới trẻ.

 

- Hậu quả của sự không tin có Thiên Chúa, không tin có đời sau là gì? Đó là lối sống hưởng thụ tối đa, và buông thả tình dục. Người ta tìm mọi cách để hưởng thụ. Người ta tôn thờ những thần tượng khác thay cho Thiên Chúa. Ai đam mê kỹ thuật, tín đồ công nghệ thì tôn thờ Iphone, Ipad. Ai đam mê bóng đá thì tôn thờ thần tượng Messi, Ronando… Ai đam mê sang trọng, de luxe thì sắm xe Roll-Royce; mặc đồ hàng hiệu Nhật Ý… Ngoài ra, trên tivi và các phương tiện thông tin, người ta đề cao tự do tình dục. Lối sống thác loạn của một bộ phận giới trẻ qua những viên thuốc lắc, những quán bar nhảy múa, ăn chơi thâu đêm suốt sáng là một minh hoạ. Lối sống này là hậu quả nhưng đồng thời cũng là dấu chỉ cho sự không tin có Thiên Chúa, có đời sau,

 

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con tỉnh thức, đừng đi theo thế gian mà ngủ mê khi Chúa đến.

 

Câu hỏi gợi ý:

1. Chúng ta có luôn “tỉnh thức” không? Và chúng ta có luôn cầu nguyện không?

2. Chúng ta có tỉnh thức để nhận ra lối sống đôi khi quá cá nhân của chúng ta không? Đâu là những cách sống quá cá nhân chúng ta thường thể hiện trong đời sống hàng ngày?

3. Chúng ta có tỉnh thức để nhận ra cách mình nghĩ và dùng thời giờ thế nào không? Và đâu là những dấu hiệu không ổn trong cách nghĩ và dùng thời giờ của chúng ta?

4. Lối sống của chúng ta là lối sống hướng về Thiên Chúa, về niềm tin đời sau hay vẫn mang nặng tính cách trần thế?

 

 

Bài viết liên quan:

Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 6)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 5)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 4)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô(3)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (2)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (1)
Một vài nguyên tắc Kitô giáo bất di bất dịch trong Linh Đạo Tính Dục (4)
Định nghĩa Kitô giáo về tính dục (3)
Tính Dục đối đầu với Quan hệ tình dục (2)
Tính dục như Ngọn Lửa Thiêng (1)
Page 1 of 22 (211 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
20
21
22
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 685
Tất cả: 69,105,582