Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 6)

CANH TÂN ĐỜI SỐNG LINH MỤC

THEO GƯƠNG THÁNH PHAO-LÔ

(dựa theo cuốn “Linh mục một vài năm sau, suy gẫm về tác vụ linh mục”

 của ĐHY Carlo Maria Martini)

 

Dẫn nhập

Trong các bài sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau suy tư và chiêm niệm về đề tài “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”. Tuy là những bài suy niệm dành riêng cho linh mục, nhưng cũng hữu ích để canh tân đời sống thiêng liêng cho bất cứ ai muốn đọc và suy niệm.

 

Chúng ta cùng suy gẫm sách Công Vụ Tông Đồ, chương 20, câu 17-38. Đây là “di chúc mục vụ” của thánh Phao-lô. Trong bản văn trên, thánh Tông Đồ nói với các kỳ mục Ê-phê-sô về kinh nghiệm ngài đã trải qua trong 3 năm sống với họ: kinh nghiệm về con người, về đời sống linh mục và về mục vụ.

 

Nhờ tìm hiểu và suy gẫm về “Di chúc mục vụ” của thánh Phaolô do ĐHY Martini triển khai trong cuốn: “Linh mục một vài năm sau…Suy gẫm về tác vụ linh mục”, chúng ta có thể “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”

 

                                                          Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên

 

 

BÀI SÁU

ĐỜI SỐNG LINH MỤC THEO Ý THIÊN CHÚA

 

Chúng ta đã suy niệm câu 22-23 trong bài trước, bây giờ chúng ta tìm hiểu những câu tiếp theo: “Giờ đây tôi biết rằng: tất cả anh em, những người tôi đã đến thăm để rao giảng Nước Thiên Chúa, anh em sẽ không còn thấy mặt tôi nữa. Vì vậy, hôm nay tôi xin tuyên bố với anh em rằng: nếu có ai trong anh em phải hư mất, thì tôi vô can. Thật tôi đã không bỏ qua điều gì, trái lại đã rao giảng cho anh em tất cả ý định của Thiên Chúa” (Cv 20, 25-27).

 

Những việc phục vụ đặc biệt (diaconies particulières)

Thánh Phao-lô dùng nhiều cách để diễn tả việc phục vụ (diaconie) của ngài. Do đó, trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu nghĩa của từ “diaconie” dưới ánh sáng Kinh Thánh. Như chúng ta biết, Tân ước dùng từ “diaconie” nhiều lần để chỉ những việc phục vụ khác nhau. Đôi khi từ đó dùng để chỉ những sự phục vụ vật chất, ví dụ việc phục vụ bàn ăn. Trong 2 Cr 8, 4 thì từ “diaconie” được dùng để chỉ sự đóng góp tiền bạc giúp đỡ Giáo Hội Giêrusalem: đó là việc phục vụ khá nặng nề và đòi hỏi can đảm. Chúng ta có thể nói rằng Tân ước dùng từ “diaconie” để chỉ những việc phục vụ liên quan đến giá trị đời này (đồ ăn, quần áo, sức khoẻ, nhà cửa). Những việc phục vụ này được thực hiện bởi tình yêu đối với Đức Ki-tô: nơi các Ki-tô hữu, nó phát sinh từ đức tin, nó phản ánh sự năng động của đức tin triển nở trong đức ái. Chúng ta có thể gọi những việc phục vụ này là “những phục vụ bởi đức tin” (diaconies ex fide) (phát xuất từ đức tin). Tuy nhiên, Tân ước cũng nói tới “việc phục vụ đức tin” (diaconie fidei) (về đức tin, của đức tin). Việc phục vụ này phân biệt với những việc phục vụ trên, nhưng không tách rời. Đối tượng của việc phục vụ này là thông truyền đức tin: đó là việc rao giảng và tác vụ mục vụ nói chung qua đó, chúng ta phục vụ Chúa Giêsu và anh chị em; họ là những người lắng nghe và chúng ta hiến tặng họ lời cứu độ. Đó là việc phục vụ với ý nghĩa thiêng liêng và cánh chung; nó liên quan tới những giá trị đời sau.

 

Việc phục vụ của thánh Phaolô

Các nhà chú giải tự hỏi thánh Phaolô ám chỉ đến việc phục vụ nào khi ngài nói ở câu 24: miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn công việc phục vụ (chức vụ) tôi đã nhận từ Chúa Giê-su.

 

1. Nếu loại bỏ văn cảnh, chúng ta sẽ trả lời đó là việc phục vụ có tính trần thế. Thánh Tông Đồ quyên tiền đem đến Giêrusalem; ngài đã bỏ công sức rất nhiều cho việc quyên góp này, ngay cả liều mất danh dự, trước những cộng đoàn ở Macedonia và Achaia; và ngài ước mong làm cho xong. Ngài giữ tiền và ngài muốn đích thân trao cho Giáo Hội Giêrusalem. Các tín hữu Macedonia và Achaia không giàu có, nhưng vào ngày Chúa Nhật, họ sẵn lòng cùng nhau góp quỹ để giúp những người túng thiếu hơn. Như vậy, họ bắt chước Đức Kitô Đấng đã trở nên nghèo khó vì chúng ta, để chúng ta trở nên giàu có (2Cr 8, 9).

 

2. Nhưng ngoài việc phục vụ vì bác ái, đó cũng là việc phục vụ cho sự hiệp thông. Các cộng đoàn Hy Lạp dường như phát triển mà không nghĩ đến cộng đoàn lâu đời và truyền thống (các cộng đoàn ở Giêrusalem). Thánh Phaolô nuốn chứng minh rằng không có sự bất đồng với các cộng đoàn có trước ở Giêrusalem, liên kết với Luật Môsê chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, phần lớn các nhà chú giải đều đồng ý rằng trong diễn từ Mi-lê-tô, chính yếu, thánh Phaolô nói về tác vụ phục vụ của người tông đồ. Thánh Phaolô coi đó là sứ vụ của mình và trong thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô, ngài đã bảo vệ sứ vụ đó một cách mạnh mẽ. Trong thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô và trong thư gởi tín hữu Rôma, ngài cũng nhấn mạnh về tác vụ phục vụ của người tông đồ mà ngài đã nhận lãnh từ Chúa. Do đó, đối với ngài, việc phục vụ có tính trần thế là quyên tiền nằm ở vị trí thứ yếu. Thực sự thánh Phaolô nhấn mạnh đến sứ mạng làm chứng cho ân sủng của Thiên Chúa, và công bố Tin Mừng của Lòng thương xót, hơn là việc quyên tiền.

 

3. Chính Chúa Giêsu đã trao tác vụ phục vụ cho thánh Tông Đồ. Tác vụ đó trở nên một phần của bản thân ngài. Nhưng ngài được Chúa trao phó lúc nào? Chắc hẳn là thánh Phaolô nghĩ đến ơn gọi-hoán cải của ngài, một ơn gọi hoán cải mà ngài luôn nhắc tới khi nói về nguồn gốc sứ mạng của ngài: Chính Chúa Giêsu đã chọn tôi ngay từ khi còn trong lòng mẹ (Gl. 1, 15). Do đó, ngài không bao giờ nhát đảm: Bởi thế, vì Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí (2 Cr 4, 1); nhờ Đức Ki-tô, chúng tôi dám tin tưởng vào Thiên Chúa như vậy. Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí (2 Cr. 3, 4-6). Để kết luận, thánh Tông Đồ diễn tả ý thức ngài có về tác vụ phục vụ của ngài bằng nhiều cách: phục vụ Chúa như người nô lệ, rao giảng, loan báo ý muốn của Thiên Chúa, khích lệ và công bố Nước Chúa trị đến.

 

Tôi biết rằng anh em sẽ không còn thấy mặt tôi nữa

Bây giờ chúng ta suy gẫm về câu 25: Và bây giờ, tôi biết rằng, anh em sẽ không còn thấy mặt tôi nữa. Câu này biến đổi diễn từ thành một di chúc. Mặc dù chúng ta đều biết, qua đời sống và các bức thư mục vụ, thánh Phaolô còn trở lại Mi-lê-tô lần nữa. Nhưng có những giây phút quan trọng trong cuộc sống, thánh Phaolô hướng cái nhìn đi rất xa. Coi như lần cuối, ngài muốn diễn tả rõ ràng và thông truyền tất cả những gì nằm trong con tim của ngài, không giữ lại gì.

 

Vì vậy, hôm nay tôi xin tuyên bố với anh em rằng: nếu có ai trong anh em phải hư mất, thì tôi vô can. Người ta vẫn ngạc nhiên về lời khẳng định trên. Lời khẳng định đó không phải là một đánh giá có tính cách luân lý đối với các hoạt động của Phao-lô (*nghĩa là ngài không có lỗi do lơ là việc rao giảng Tin Mừng làm cho người khác hư mất), nhưng là một đánh giá tổng quát của người biết hiến trọn vẹn chính mình cho người khác. Đó là một bằng chứng về tình cảm sâu xa đối với cộng đoàn và từng người. Ở đây, chúng ta nhớ lại bản văn tuyệt vời của Đức Phaolô VI, những suy nghĩ ở ngưỡng cửa cái chết: “Tôi có thể nói rằng tôi đã luôn yêu mến Giáo Hội, tôi tin rằng mình đã sống cho Giáo Hội, mà không cho một cái gì khác. Tôi mong muốn Giáo Hội biết điều đó, tôi mong muốn có can đảm nói với Giáo Hội điều đó, như điều bí mật của con tim. Tôi chỉ có sức mạnh làm điều đó vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời”. Đó là ý thức của người hiến trọn vẹn chính mình cho đến giây phút cuối của cuộc đời.

 

Trong cầu nguyện, có lẽ chúng ta có thể thoáng nhận ra điều mà thánh Tông đồ muốn nói khi ngài khẳng định đã hiến dâng tất cả. Có lẽ chúng ta hiệp thông với con tim ngài và hiểu rõ sự dịu dàng cùng sự dấn thân trong toàn bộ sứ vụ của ngài. Có thể nói, ngài kiêu hãnh về những gì mình đã thực hiện. Nhưng đó là sự kiêu hãnh của một người cha muốn nói lên rằng: cha đã làm tất cả cho con. Và điều đó được biểu lộ qua câu ẩn dụ: có ai trong anh em hư mất thì tôi vô can. Ở đây, thánh Phaolô nghĩ rằng chắc chắn một số người sẽ hư mất, và ngài cảnh giác các kỳ mục: Các ông có nghĩ đến điều tôi đã nói không?

 

Từ câu 29, thánh Phaolô cho thấy sự khích lệ còn khẩn thiết hơn: "Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng. Sói mang vẻ ngoài của các mục tử. Ở đây, chúng ta hiểu được sự an tâm của ngài: ngài ý thức mình không có lỗi vì sự hư mất của bất cứ ai. Còn chúng ta, nếu xét mình, chúng ta phải đấm ngực thú nhận mình luôn có lỗi đối với những người Chúa trao phó cho chúng ta để săn sóc mục vụ. Hãy nghĩ tới những người đang rời xa Giáo Hội cách này hay cách khác trong cộng đoàn của chúng ta (trẻ em, thanh thiếu niên, người chết không được lãnh nhận các bí tích, người lớn bỏ đạo). Thử hỏi chúng ta có thể mạnh dạn nói “vô can” như thánh Phaolô khi chúng ta chưa làm hết trách nhiệm của mình không?

 

Thánh Phao-lô đã thực hiện mọi sự vì ngài đã loan báo ý định của Thiên Chúa. Ngài lặp lại 2 lần câu: "… tất cả anh em, những người tôi đã đến thăm để rao giảng Nước Thiên Chúa, … Thật tôi đã không bỏ qua điều gì, trái lại đã rao giảng cho anh em tất cả ý định của Thiên Chúa”. Qua câu nói này, chúng ta thấy trung tâm lời thánh Phao-lô rao giảng là Đức Giêsu Ki-tô, là Đấng Phục sinh và là Chúa (Kyrios).

 

Câu nói trên của thánh Phao-lô biểu lộ sự sẵn sàng bên trong của ngài, đồng thời cũng nói về những hoàn cảnh bên ngoài: trong sự khiêm tốn rất mực và không chần chừ tránh né. Ngài can đảm rao giảng chống lại mọi toan tính bỏ cuộc. Nhưng điều đáng lưu ý là câu: “tất cả ý định của Thiên Chúa”. Thành ngữ này chắc chắn là nói quá vì một phần ý định này vẫn chưa được mặc khải. Tuy nhiên, chúng ta nên lưu ý tới từ “cho anh em”. Điều này có nghĩa là thánh Phaolô đã rao giảng cho các kỳ mục tất cả ý định của Thiên Chúa có liên quan đến họ; rao giảng cho họ mọi điều về tác vụ họ đã lãnh nhận.

 

Trách nhiệm của các kỳ mục

Có thể kết luận rằng trách nhiệm quan trọng mà thánh Phaolô không bỏ qua, chính là toàn bộ sự khích lệ luân lý rút ra từ Tin Mừng dành cho các kỳ mục. Sự khích lệ luân lý đó có thể thấy qua lời khuyên trong các thư mục vụ của thánh Tông Đồ, như trong 1 Tm 3, 2-3: “Vậy giám quản phải là người không ai chê trách được, chỉ có một đời vợ, tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, hiếu khách, có khả năng giảng dạy; người ấy không được nghiện rượu, không được hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, không hay gây sự, không ham tiền…”  Ở đây, nói đến các giám quản của cộng đoàn (ngày nay là linh mục đoàn). Thánh Phao-lô tiếp tục khuyên Ti-mô-thê-ô: “… Còn những chuyện hoang đường nhảm nhí của bà già, thì hãy loại bỏ. Hãy luyện tập sống đạo đức; vì luyện tập thân thể thì lợi ích chẳng là bao, còn lòng đạo đức thì lợi ích mọi bề” (1Tm 4, 7-8). “Trong khi chờ tôi đến, hãy chuyên cần đọc Sách Thánh trong các buổi họp, …Anh hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong lời giảng dạy. Hãy kiên trì trong việc đó. Vì làm như vậy, anh sẽ cứu được chính mình, lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy” (1 Tm 4, 13-16). Thánh Phaolô đã khuyên nhủ cẩn thận, đầy tình thương đối với Ti-mô-thê-ô. Ngài ý thức mình không trốn tránh trách nhiệm: ngài không chiều theo sự thông thái của các kỳ mục bằng những hệ tư tưởng cao sâu, nhưng nhắc cho họ mọi chi tiết thuộc ý định của Thiên Chúa về đời sống họ. Và dĩ nhiên, những chi tiết đó cũng biểu lộ ý định của Thiên Chúa về đời sống chúng ta. Những lời khuyên trên phát xuất từ con tim của thánh Phaolô, tôi tớ của Đức Ki-tô, người rao giảng Chúa Giêsu và mầu nhiệm phục sinh của Người và những lời khuyên nhủ đó diễn dịch đức tin cách cụ thể cho đời sống và kỷ luật hàng ngày (cầu nguyện, giữ gìn các giác quan, giở giấc, trung thực, giữ sức khoẻ nhưng không quá chú trọng đến gánh nặng của sự mệt nhọc). Đời sống và sứ vụ của thánh Phaolô là kiểu mẫu cho hàng linh mục chúng ta, vì đó là sự diễn dịch cụ thể Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.

 

Câu hỏi gợi ý:

1. Việc phục vụ tông đồ, tức việc rao giảng Tin Mừng về ân sủng và lòng thương xót của Chúa nơi tôi thế nào? Ưu tiên hàng đầu hay tôi đang lơ là và xem là thứ yếu?

2. Tôi có nói được với cộng đoàn giáo xứ tôi phục vụ, hay gia đình, lớp học, hội đoàn, v.v.  tôi phục vụ như thánh Phao-lô: “Tôi đã làm tất cả cho anh chị em” không? Tôi có thể an tâm như thánh Phao-lô khi nói: “Nếu có ai trong anh em phải hư mất thì tôi vô can” không?

3. Tôi giữ “kỷ luật hàng ngày” của đời sống linh mục, hay của đời sống người công giáo thế nào, để chính đời sống của tôi cũng là lời rao giảng Tin Mừng về ân sủng và lòng thương xót của Chúa?

 

 

 

Bài viết liên quan:

Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 5)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 4)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô(3)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (2)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (1)
Một vài nguyên tắc Kitô giáo bất di bất dịch trong Linh Đạo Tính Dục (4)
Định nghĩa Kitô giáo về tính dục (3)
Tính Dục đối đầu với Quan hệ tình dục (2)
Tính dục như Ngọn Lửa Thiêng (1)
Để lại bình an là món quà từ giã của chúng ta cho người thân
Page 1 of 21 (210 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
19
20
21
Next
Lời Chúa mỗi ngày
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 211
Tất cả: 68,123,478