Giáo xứ Truyền Giáo tại giáo phận Long Xuyên

GIÁO XỨ TRUYỀN GIÁO TẠI GIÁO PHẬN LONG XUYÊN
***


 

Đối Với người công giáo, chắc hẳn ai cũng đã hơn một lần nghe đến hai từ “truyền giáo”, bởi vì truyền giáo là bản chất và sứ mạng của Giáo hội.  Thật vậy “tự bản tính, Giáo hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Chúa Cha” (Công Đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Giáo hội, số 6). Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo hội với sứ mạng loan báo Tin mừng. Sứ mạng đó đã được Chúa trao phó cho Giáo hội qua các Tông đồ khi Người còn tại thế: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Và như thế, loan báo Tin Mừng không chỉ là lời mời gọi nhưng còn là một mệnh lệnh Chúa Giêsu truyền cho Giáo hội. Suốt hơn 2000 năm qua, Giáo hội vẫn luôn trung thành và cố gắng để chu toàn sứ vụ đem Tin Mừng đến cho mọi người nên có thể nói được rằng:  Giáo hội sống còn là nhờ sứ mạng truyền giáo.


Từ định hướng loan báo Tin Mừng, xuất phát từ những quan sát trong thực tế và suy tư cá nhân, trong bài viết này con chỉ nêu lên những thực tế với những thách đố và thời cơ trong lĩnh vực truyền giáo của giáo xứ và thử phác họa việc xây dựng một giáo xứ hướng đến truyền giáo để từ đó có những dự phóng dấn thân tích cực cho sứ vụ loan báo Tin mừng Đức Kitô tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long cụ thể là tại giáo phận Long Xuyên. 


A. NỘI DUNG
I. Vài nét về giáo phận Long Xuyên

Giáo phận Long Xuyên được thành lập ngày 24/11/1960 bởi sắc lệnh Christi Mandata của Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII. Địa giới của giáo phận gồm trọn 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang, và một phần của Thành phố Cần Thơ với diện tích là 10.256 km2 và gồm 9 giáo hạt. Tổng số dân địa phương là 4.174.409 người; trong đó số giáo dân là 250.000 người. Đa số dân chúng làm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và tiểu thủ công nghiệp (mộc, nuôi tằm, dệt lụa…). Có nhiều sắc dân trong vùng như: người Kinh, người Hoa, người Khmer, người Chăm. Trong địa bàn của giáo phận có nhiều tôn giáo đặc biệt của Nam Bộ như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hoà Hảo. Ngoài ra còn có Phật giáo, Tin lành, Hồi giáo và Cao Đài. Như vậy, có thể nói giáo phận Long Xuyên nằm trên một địa bàn đa văn hoá, đa tôn giáo; phần đông là những người chưa đón nhận Tin mừng và là những người nghèo. 


Trước bối cảnh rất đặc thù đa văn hoá, đa tôn giáo, phần lớn dân cư là người nghèo; đồng thời dựa trên nền tảng truyền giáo được khởi đi từ Mầu Nhiệm Ba Ngôi, mỗi người giáo dân phải làm gì để có thể loan báo Tin Mừng Đức Kitô? Con thiết nghĩ, mỗi người cần phải củng cố đời sống đức tin của chính mình cho vững mạnh; có một sự hiểu biết cũng như một cái nhìn khái quát về các tôn giáo, cộng đồng các dân tộc và các nền văn hóa trong khu vực. Đó chính là hành trang để “lên đường” hầu có thể tiếp cận, đối thoại và loan báo Tin mừng trong bối cảnh đặc thù này. Đây cũng chính là nội dung mà Tông huấn Giáo hội tại Á Châu của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nêu lên làm định hướng cho việc truyền giáo tại châu Á: đối thoại tôn giáo, đối thoại văn hóa và quan tâm đến người nghèo (x. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, số 6); với định hướng đó và giới hạn của bài viết, con chủ yếu tập trung vào vấn đề “xây dựng mô hình giáo xứ truyền giáo trong bối cảnh của giáo phận Long Xuyên”.


II. Giáo xứ và giáo dân
1. Khái niệm 

Trong số 42 của Hiến chế về Phụng vụ Thánh, Công Đồng Vaticanô II trình bày: “Vì chính Giám mục không thể đích thân hiện diện mọi nơi mọi lúc trong toàn thể đoàn chiên thuộc Giáo hội Ngài, nên cần phải thiết lập các cộng đoàn tín hữu. Trong đó, nổi bật hơn cả là các giáo xứ được thiết lập tại địa phương dưới quyền một mục tử thay mặt Ðức Giám mục: bởi vì một cách nào đó, các giáo xứ phản ảnh Giáo hội hữu hình đã được thiết lập trên toàn cõi trái đất” (Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý về Giáo hội, số 28).


Theo Bộ Giáo luật 1983: “Giáo xứ là cộng đoàn Kitô hữu nhất định được thiết lập cách bền vững trong Giáo hội địa phương, mà trách nhiệm mục vụ được uỷ thác cho cha sở như là chủ chăn riêng của  giáo xứ ấy, dưới quyền Giám mục giáo phận” (GL 1983, điều 515, §1).


2. Tính truyền giáo của một giáo xứ
Truyền giáo là nhiệm vụ của mọi thành phần dân Chúa nhưng một cách đặc biệt trong bài viết này, con đề cập đến vai trò của các giáo xứ (cụ thể là giáo dân) trong sứ vụ truyền giáo. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong số 26 của Tông huấn Kitô hữu giáo dân năm 1988 đã đưa ra một khái niệm thần học khá phong phú và đầy đủ về tính truyền giáo của giáo xứ: “giáo xứ là cộng đoàn gia đình của Thiên Chúa, là cộng đồng huynh đệ…là mái ấm gia đình…đặt trên nền tảng cộng đoàn đức tin”… Giáo xứ đang đảm nhiệm một sứ vụ không thể thay thế và mang tính rất hiện đại… giáo xứ phải cống hiến cho con người thời đại những lời  giảng huấn về giáo lý cứu độ của Đức Kitô”.


3. Giáo dân 
Theo ngữ nguyên học, hạn từ giáo dân trong tiếng Việt được chuyển ngữ từ chữ “laos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là dân chúng. Trong bản dịch Thánh Kinh Bảy Mươi (LXX), “laos” được dùng để chỉ dân của Thiên Chúa, nhằm phân biệt với các tư tế và các thầy Lêvi. Hiện nay, trong Giáo hội “giáo dân là tình trạng chung của Kitô hữu trong Hội thánh, là thành phần của dân Chúa do bí tích rửa tội, nhưng không chịu chức thánh” (Youcat số 138). 


“Giáo dân gồm tất cả các Kitô hữu trừ những thành viên có chức thánh và bậc tu trì đã được Hội Thánh công nhận, nghĩa là các Kitô hữu, đã được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa Tội, đã được thiết đặt vào dân Thiên Chúa, được tham dự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô theo cách thức của mình, theo phần vụ của mình mà thực thi sứ vụ của toàn dân Kitô giáo trong Hội Thánh và trên trần gian” (GLHTCG, số 897).


4. Vai trò của người giáo dân trong sứ vụ truyền giáo
Trước Công đồng Vaticanô II, mô hình của Giáo hội là mô hình kim tự tháp mang dáng dấp của “triều đình phong kiến”, áp đặt từ trên xuống dưới và người giáo dân luôn ở đáy của kim tự tháp ấy. Với họ, công việc chính gồm tóm trong ba việc: đọc kinh xem lễ, vâng lời và đóng góp! Chính vì vậy, người giáo dân luôn có não trạng sứ vụ truyền giáo là của “các Đấng các Bậc”. Chính các giáo dân vẫn còn “tự hạ thấp mình”. Họ rất thụ động nếu không muốn nói là nhiệt tình truyền giáo ở mức zê-rô. Nhiều giáo dân vẫn tự cho mình chỉ là một “dụng cụ hỗ trợ”, một chiến sĩ thứ yếu, hơn là xem và cho mình là những người đồng trách nhiệm trong cùng một sứ mệnh mà Chúa trao phó. 
Công đồng Vaticanô II đã mang lại một luồng gió mới cho Giáo hội. Giờ đây, Giáo hội mang một mô hình rộng mở hơn, một mô hình đồng trách nhiệm không phân biệt. Tất cả mọi người, dù là giáo sĩ hay giáo dân đều có bổn phận rao giảng Tin mừng vì đó là lệnh truyền của Chúa. Mọi tín hữu “được sai đi để giới thiệu Ngài cho thế giới, là chứng nhân đầy tràn Chúa Thánh Thần” (x. Lc 24, 48; Cv 1, 8); “được kêu gọi để ra đi làm cho mọi người thuộc mọi dân nước trở thành môn đệ của Chúa Kitô” (x. Mt 28,19). Giáo hội có những cải tổ trong cơ cấu tổ chức và tin tưởng giao trách nhiệm cho giáo dân. Nhờ đó người giáo dân đã đóng một vai trò tích cực và hiệu quả hơn trong sứ vụ loan báo Tin mừng.


III. Những thách đố cho sứ vụ truyền giáo
Bên cạnh những thuận lợi, bối cảnh xã hội hiện nay đang đặt ra cho sứ vụ loan báo Tin mừng không ít những thách đố và khó khăn.


1. Những thách đố nội tại 
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và sinh sống bằng nghề nông. Một xã hội nông nghiệp với những phong tục, tập quán, nếp nghĩ, cách sống đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt. Sống ở nông thôn, người Việt gắn bó với cánh đồng, ruộng lúa, vườn rau, cây đa bến nước, mái đình làng… Điều này tạo nên nếp sống hài hòa và thân thiện với thiên nhiên, sống nặng về tình cảm, giàu tình nghĩa. 


Từ lâu người Việt đã sống quần cư thành làng, xã và hình thành nên một lối sống mang tính cộng đồng khép kín trong lũy tre làng. Điều này làm cho người Việt- trong đó có người Công giáo- thường mang óc cục bộ, địa phương, thậm chí loại trừ nhau…Ngoài ra, vẫn còn đó- trong không ít người giáo dân- não trạng độc tôn tôn giáo, sống quy tụ lại những làng toàn tòng công giáo và khép kín không mở cửa giao lưu với lương dân theo cách “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Những làng công giáo này được ví như những ghetto của người Do Thái. Với lý do rất đơn giản là để bảo vệ đức tin được “nguyên tuyền” cách ly khỏi người lương dân cũng như niềm tin khác với niềm tin của mình. Chính vì vậy, không ít giáo dân có thái độ cực đoan: kỳ thị, chê bai các tôn giáo bạn, xem đạo mình là số một xem thường các tôn giáo khác. Đôi khi, còn tự cho mình là người tốt nên dễ dàng phê phán những người khác!


Một khó khăn khác nữa là nền văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Tam giáo (Nho-Phật-Lão). Những tư tưởng này đã ăn sâu vào lối suy nghĩ và cách sống của người Việt. Người Việt có đặc điểm rất tôn trọng truyền thống, có xu hướng bảo thủ; chọn lối sống an phận, ngại thay đổi, câu nệ truyền thống, sợ gặp rắc rối nên chẳng thể hay nếu có cũng chẳng dám phát huy sáng kiến. Thế nên, người Việt khó có thể đón nhận những gì ngoài “truyền thống” ấy; nhất là những gì đến từ bên ngoài (Tây phương) như những giá trị Kitô giáo.


Chính ý thức về truyền giáo nơi người giáo dân cũng là một cản trở không nhỏ cho sứ vụ loan báo Tin mừng. Nhiều giáo dân chưa cảm thấy được nhu cầu loan báo Tin mừng, nên việc nhiệt tình dấn thân cho sứ vụ này còn khá mờ nhạt. Nguyên do có thể xuất phát từ tâm lý lệ thuộc từ cơ cấu văn hóa cũng như tâm thế bị trị và tình trạng nghèo đói. Chính tâm lý này đưa đến cách suy nghĩ và hành động- thường là- trông chờ, xin xỏ chứ không cho đi mà cho đi lại là đặc tính của tinh thần truyền giáo. Thật vậy, với nhiều người chỉ cần giữ đạo là đủ; chỉ cần biết đến bản thân và trong phạm vi giáo xứ không cần quan tâm đến việc phải nên chứng nhân loan báo Tin mừng! 


2.  Những thách đố ngoại tại 
Thế giới ngày nay biến động không ngừng. Đó không chỉ là những biến động bên ngoài do hiện tượng toàn cầu hóa, bùng nổ truyền thông, sự biến đổi về khí hậu môi trường... nhưng còn là chuyển động bên trong do những trào lưu tư tưởng mới phát sinh và sự cọ sát giữa các nền văn hóa trong thế giới đa dạng và đa nguyên. Thật vậy, thế giới hiện nay có đặc điểm là: (i) một đàng thế giới này như ngày càng thu nhỏ tới mức giống một ngôi làng nhỏ bé không còn rào cản nào mà không thể vượt qua; (ii) đàng khác thế giới ấy đang bị rạn nứt khi các mối tương quan liên vị ngày càng lỏng lẻo do số hóa và óc thực dụng, do chủ nghĩa cá nhân và tiêu thụ, do sự phát triển không toàn diện (thường chỉ chú trọng trọng đến phát triển kinh tế), gia tăng khoảng cách giàu nghèo…Những thay đổi này có những tác động không nhỏ đến sứ vụ và kết quả loan báo Tin mừng.


Một khó khăn khách quan trong thực tế nữa là mặt bằng về trình độ văn hóa của giáo dân vùng sông nước Cửu Long (cụ thể là tại giáo phận Long Xuyên) nhìn chung còn thấp so với chuẩn chung của cả nước nên cũng gây không ít khó khăn trong việc truyền giáo. Ngoài ra, đa phần người dân còn sống trong mức nghèo khổ làm cho mối bận tâm duy nhất của họ- không ít trong đó là tín hữu- chỉ là cơm-áo- gạo-tiền.


Một nguyên nhân khách quan khác đến từ chính nơi các giáo sĩ và tu sĩ. Các ngài được ví như là những người “lĩnh ấn tiên phong” trong sứ vụ loan báo Tin mừng trong giáo xứ hay cộng đoàn mình được sai đến để phục vụ nhưng dường như sứ mạng này chưa được các ngài quan tâm cho đủ. Thật vậy, con nhận thấy rằng ngay chính trong gian đoạn đào tạo khai tâm tại Đại Chủng viện, không ít ứng sinh linh mục chỉ quan tâm đến sứ vụ mục vụ cho người đang giữ đạo, còn người lơ là hay người không biết Chúa thì chưa được quan tâm lắm. Tại các giáo xứ, nhiều linh mục còn tập trung công sức vào mục vụ chứ chưa nhắm đến mục vụ truyền giáo dù trong thực tế sứ vụ loan báo Tin mừng là nhắm đến ba đối tượng: người chưa hề biết Chúa, người lơ là đạo và người đang giữ đạo. Một nguyên nhân cho thực trạng trên mà cá nhân con nhận thấy là chương trình đào tạo các ứng sinh linh mục dường như vẫn chưa được quan tâm đủ đến việc giúp các ứng sinh ý thức sứ vụ truyền giáo là mục đích của ơn gọi và lý tưởng linh mục, để sẵn sàng lên đường, đi ra ngoại biên, tới bất cứ nơi đâu có nhu cầu truyền giáo, hơn là ở những nơi an toàn, dễ chịu; hoặc là lĩnh vực đối thoại văn hóa-liên tôn hay mục vụ cho người nghèo trong viễn tượng loan báo Tin Mừng dù bối cảnh của khu vực đồng bằng sông Cửu Long là đa tôn giáo-văn hóa và nhiều người nghèo. 


Ba nhiệm vụ căn bản của linh mục là: rao giảng-cử hành bí tích và quản trị giáo xứ. Tuy nhiên, trong thực tế con vẫn nhận thấy nhiều linh mục xem ra chỉ hài lòng với việc cử hành các bí tích, tổ chức các cuộc lễ cách hình thức mà chưa chú trọng lắm đến việc tiếp xúc, gặp gỡ người nguội lạnh bỏ đạo, nói chi đến việc gặp gỡ, đối thoại và giới thiệu Chúa cho người chưa biết Chúa.


IV. Một dự phóng cho sứ vụ loan báo Tin mừng 
 “Nét nổi bật của lục địa là sự khác biệt về dân tộc, thừa kế những nền văn hóa, tôn giáo và truyền thống cổ xưa; nên định hướng cho việc truyền giáo tại châu Á là đối thoại tôn giáo, đối thoại văn hóa và quan tâm đến người nghèo” (ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Ecclesia in Asia, số 6). Xuất phát từ thực tế Giáo phận Long Xuyên với những thực tại kể trên, đâu là dự phóng cho việc xây dựng một giáo xứ hướng đến sứ mạng loan báo Tin mừng? 


1. Một sự canh tân
Với thực tế nêu trên, con thiết nghĩ cần phải thay đổi não trạng, tâm thức cũng như nhiệt tình truyền giáo nơi giáo dân. Người giáo dân cần phải được “tái loan báo Tin mừng” để rồi ra đi đem Chúa đến cho anh chị em chung quanh. Thư chung của HĐGM Việt Nam năm 2013 đã kêu gọi thực hiện công cuộc loan báo Tin mừng với một nhiệt tâm- phương pháp và cách diễn tả mới: “…mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả. Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm” ( số 4); và “đổi mới cách nghĩ, đổi mới cách làm cách sống của mình theo tinh thần Đức Kitô để có thể sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng cho mọi giới đồng bào thân yêu” (x. HĐGM Việt Nam, Thư mục vụ tháng 10/2000, các số 2,3,5,8). Khi đó, mỗi người sẽ tìm ra phương cách truyền giáo với những thích ứng, linh động, can đảm và sáng tạo để rao giảng Đức Kitô cho phù hợp với thực tế. 


Để làm được điều này, con thiết nghĩ chính các mục tử, tu sĩ cần giúp người giáo dân:
(i) có được nhiệt huyết tông đồ nhờ đời sống thiêng liêng; tập sống với tâm tình, thái độ của Chúa Kitô; (ii) học cách diễn tả mới cho hợp với con người của thời đại hôm nay. Cụ thể là áp dụng những phương pháp mới trong công cuộc loan báo Tin mừng cho thích hợp với thời đại như các phương tiện truyền thông, công nghệ thông tin... và (iii) sống tinh thần dấn thân, sẵn sàng chấp nhận được sai đi đến mọi chân trời góc bể; luôn trong tư thế đi đến các vùng ngoại biên, những vùng chưa có bóng thánh giá.  


Một điều quan trọng là chính mỗi người giáo dân cần ý thức cộng tác để canh tân và tái Phúc Âm hóa bản thân mỗi ngày cũng như hướng nhiệt tình của mình đến sứ vụ loan báo Tin mừng. Bởi vì sống đạo không chỉ hệ tại ở các lý thuyết và hình thức nhưng phải sống đức tin cách chân thực, thiết ái và trung thành, sống cảm nghiệm và thể hiện Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày hướng đến việc rao truyền Lời Chúa.


2.  Một đời sống cầu nguyện sâu sắc với một đức tin sống động
 Đây là một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất trong sứ vụ loan báo Tin mừng vì chính nhờ cầu nguyện mà mỗi giáo dân có thể cảm nghiệm và kết hợp mật thiết với Chúa. Thật không sai khi nói rằng: nếu không cầu nguyện-cảm nghiệm về Chúa được thì những lời rao giảng về Chúa chỉ là những tiếng kêu la inh ỏi, thùng rỗng, vô hồn không có sức sống và sự thuyết phục. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 1-5). 


Một giáo xứ truyền giáo trước hết và trên hết phải là một giáo xứ biết cầu nguyện cho việc truyền giáo. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi đoàn thể và toàn giáo xứ phải biết cầu nguyện cho việc truyền giáo qua các thánh lễ, giờ kinh chung trong giáo xứ, giờ kinh gia đình cũng như các giờ cầu nguyện khác. Do đó, con thiết nghĩ, nơi các giáo xứ cần chú trọng và củng cố việc cử hành phụng vụ. Tông huấn Giáo hội tại Á châu số 22 đã viết: “phụng vụ là phương thế có vai trò quyết định trong việc Phúc Âm hóa, nhất là tại Á Châu, vì tại đây các lễ hội, việc phụng tự và các việc sùng bái bình dân có sức cuốn hút tín đồ của các tôn giáo biết chừng nào”. Đây chính là lời nhắc nhở cho các vị mục tử cần lưu tâm đến việc cử hành phụng vụ trong giáo xứ. Có thể nói được rằng: một nền phụng vụ không có tinh thần truyền giáo là nền phụng vụ chết. Bởi vì tất cả phụng vụ nhằm giúp tín hữu gặp gỡ Chúa và để Chúa lưu lại trong bản thân rồi sau đó mới có thể mang Chúa đến với anh chị em mình. 


3. Củng cố và phát triển chương trình huấn giáo
Người giáo dân cần phải được trang bị những kiến thức thích hợp và đủ để có những phương thế truyền giáo phù hợp với hoàn cảnh, não trạng và tâm thức của thời đại. Tuy nhiên, nhìn chung tại các giáo xứ trong giáo phận, con nhận thấy giáo dân hiểu biết rất ít về Thánh Kinh và thần học. Không ít giáo dân chỉ sống đạo chứ chưa biết nói về đạo cho người khác. Điều này là một trở ngại lớn cho việc loan báo Tin mừng. Thế nên, con nghĩ rằng, tại các giáo xứ cần giúp cho người giáo dân nắm vững về sứ điệp Tin mừng cũng như những kiến thức cơ bản về thần học hầu có thể giúp họ nên nhân chứng trong chính môi trường sống của mình. Tông huấn dạy Giáo lý số 18 có viết: “…giữa việc dạy giáo lý và Phúc Âm hóa không có sự tách biệt hay đối lập nào, cũng không có sự đồng nhất đơn thuần, nhưng có những mối tương quan mật thiết nhập hiệp và bổ túc hỗ tương” để từ đó, giáo dân có thể “…ra đi với một nhiệt tình tông đồ mới, đến với những người đang cần ánh sáng Tin mừng” (Thư chung của HĐGM Việt Nam năm 2003, số 6). Để đào tạo nhân sự cho sứ vụ loan báo Tin mừng, cá nhân con đề xuất:


a. Đào tạo chiều kích tâm linh 
Cần mở các lớp và các trung tâm tĩnh tâm để huấn luyện chiều kích tâm linh cho giáo dân. Đây là công việc hết sức quan trọng. Bởi vì, trước nay, người ta thường nghĩ việc huấn luyện và đào tạo đời sống tâm linh là việc dành riêng cho các giáo sĩ, tu sĩ mà họ quên rằng chiều kích tâm linh sống gắn bó kết hiệp với Thiên Chúa là điều quan thiết không thể thiếu với mọi người Kitô hữu không trừ một ai. Thật vậy, hơn bao giờ hết, giáo dân cần được đào sâu về chiều kích tâm linh để trở thành những Kitô hữu đích thực những người có kinh nghiệm và cảm nghiệm thiêng liêng sâu sắc trong mối tương quan cá vị với Thiên Chúa để khởi đi từ đó họ có thể làm chứng cho niềm tin của mình ngay trong môi trường sống và làm việc của mình.


b. Đào tạo Thánh Kinh và thần học cho giáo dân
Đây là một nhu cầu cấp thiết như Thánh Giáo hoàng Gioan Phao lô II đã nói : “tôi xin hiệp ý với các nghị phụ thượng hội đồng đề nghị thành lập ở cấp giáo phận hay cấp quốc gia những trung tâm đào tạo giáo dân, để chuẩn bị cho họ làm công việc thừa sai như những chứng nhân cho đức Kitô” (Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, số 45c). Tuy vậy, cũng cần chú ý đến sự liên kết, phối hợp cách đồng bộ và thống nhất giữa các trung tâm và chương trình đào tạo trong giáo phận cũng như toàn quốc.


c. Giáo dục nơi gia đình
Gia đình phải là nơi ươm trồng và là những tác nhân đầu tiên cho công cuộc phát triển con người toàn diện và thông truyền đức tin . “Các bậc cha mẹ cũng cần phải quan tâm hơn nữa đến đời sống đức tin của con cái giúp đức tin của chúng được phát triển đến mức trưởng thành” (Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, số 2); củng cố chuẩn bị cho các gia đình nên những “chủ thể của công cuộc Phúc Âm hóa” .


4. Xây dựng giáo xứ thành một cộng đoàn hiệp thông 
Để trở nên một cộng đoàn hiệp thông cần phải xóa tan ranh giới phân chia giữa giáo sĩ và giáo dân cũng như giữa các giáo dân với nhau. Nhờ đó, cộng đoàn giáo xứ sẽ nên hiệp nhất phát triển và hướng đến việc truyền giáo. Vì vậy, người mục tử cần đổi mới mối tương quan giữa giáo dân và chính mình cũng như giúp mọi thành phần trong giáo xứ hiệp nhất với nhau- một sự hiệp nhất dựa trên tinh thần hiệp thông đồng trách nhiệm để bổ túc cho nhau trong sứ mạng. Sự hiệp thông đồng trách nhiệm này rất cần thiết vì tại nhiều nơi các linh mục còn thiếu cho việc truyền giáo thì khi đó các giáo dân chính là những cộng sự viên đắc lực cho công cuộc truyền giáo trong các công tác như: dạy giáo lý, thăm viếng, chia sẻ Lời Chúa… Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhận xét: “tại nhiều nước Châu Á, người giáo dân đang phục vụ như những nhà thừa sai đích thực tiếp xúc với những anh em Á Châu chưa bao giờ có dịp gặp gỡ các giáo sĩ và tu sĩ” ( Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, số 54a).


5. Thái độ cởi mở chân thành 
Người giáo dân cần thoát ly ra khỏi “chủ nghĩa độc tôn tôn giáo”, không nên bảo thủ khép kín nhưng biết cởi mở để đón nhận và tiếp thu những nhân tố tích cực. Mỗi giáo dân cũng là một thành phần của xã hội vì vậy không nên tự tách mình ra khỏi xã hội nhưng cần biết hòa mình và mang những nhân tố Tin mừng vào trong dòng chảy của cuộc sống xã hội hôm nay. Giáo dân cần nhận ra, đọc và lấy những ưu tư của thời đại để suy tư và định hướng cho việc loan báo Tin mừng; nỗ lực cộng tác để xây dựng con người vì ích chung của tất cả mọi người. Đó cũng chính là nội dung “đồng hành và sống phúc Âm giữa lòng dân tộc” của Thư chung Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980.


6. Sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại trong sứ vụ loan báo Tin mừng 
Ngày nay không ai phủ nhận những lợi ích lớn lao mà cuộc cách mạng thông tin cùng những tiến bộ trong ngành truyền thông, kỹ thuật thông tin và Internet mang lại. Chính Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đề cập đến trong Thông điệp Truyền thông và phát triển rằng: “các phương tiện truyền thông hiện đại đem lại những cách thế mới để đưa con người đối diện với thông điệp của Tin mừng”. Ngài nói rằng Giáo hội “có lỗi trước mặt Chúa” nếu không sử dụng các phương tiện truyền thông cho việc truyền bá Tin mừng. Quả vậy, nhờ các phương tiện truyền thông mà Tin mừng của Chúa có thể đến với mọi nơi, vượt qua mọi chướng ngại của thời gian, không gian và ngôn ngữ; trình bày nội dung đức tin trong những cách thế đa dạng nhất…Do đó, chẳng có lý do gì để mỗi giáo dân, giáo xứ ngần ngại hay lo sợ trước việc mở rộng cửa truyền thông xã hội ra cho Đức Kitô để Tin mừng của Người có thể được nghe từ trên mái nhà của thế giới.


7. Thành lập ban loan báo Tin mừng tại các giáo xứ
Thực tế cho thấy hầu hết các chương trình, sự kiện hay phong trào cổ vũ cho việc truyền giáo chỉ mang tính phong trào, tạm thời chứ chưa được quan tâm đầy đủ, đúng mức và lâu dài. Biết bao chương trình được thực hiện với đầy đủ lễ hội, cờ quạt, nghi thức sai đi (nhưng liệu có mấy người ra đi thực sự?); rồi sau đó mọi việc vẫn “như đã có trước vô cùng”! “Mỗi giáo xứ cần thiết lập một ban truyền giáo dưới sự hướng dẫn của cha xứ và sự cộng tác của mọi giới cũng như mọi đoàn thể. Ban truyền giáo sẽ cổ vũ sự cầu nguyện, tạo điều kiện học tập và động viên mọi thành phần dân Chúa tham gia việc loan báo Tin mừng” (Thư chung HĐGMVN năm 2004, số 12). Ban truyền giáo cần phải có một sự đào tạo và huấn luyện cơ bản về kiến thức giáo lý, Thánh Kinh, đời sống tâm linh, phương thế truyền giáo tùy tuộc vào hoàn cảnh tại địa phương... Cần nhân rộng ra không chỉ cho những thành viên ban truyền giáo nhưng còn cho cả giáo dân trong giáo xứ. 


8. Chăm sóc mục vụ cho những người trẻ và di dân
Tại các giáo xứ có đông di dân nhất là tại các thành phố lớn, cần có sự quy tụ và học hỏi cũng như trao đổi các kinh nghiệm, kiến thức về truyền giáo cho các di dân. Thật thế,  không chỉ quan tâm về đời sống đức tin trong nhà thờ thôi nhưng cần phải chú trọng đến việc truyền giáo vì đây là một lực lượng đông đảo làm chứng cho Chúa Kitô trong các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học.
Cách cụ thể, cần phải có các vị hữu trách tháp tùng và chương trình đồng hành cùng di dân để họ được nâng đỡ, giáo dục nên những tác nhân tích cực và hiệu quả cho sứ vụ truyền giáo. Qua các chương trình này, người di dân sẽ ý thức hơn về tầm quan trọng của đời sống đức tin, thiêng liêng trong cuộc sống và nhiệm vụ phải rao truyền đức tin ấy. Nhờ các chương trình này, sẽ giúp họ thủ đắc và nội tâm hóa chiều kích nhân bản của thế giới quan Kitô giáo, hoán cải đạo đức tâm linh trước những trở ngại của các trào lưu tục hóa, vô thần và mất cảm thức tôn giáo giúp họ sống như những Kitô hữu đích thực luôn sẵn sàng cho sứ vụ chứ không là một “Kitô hữu vô thần”.


9. Trình bày Đức Kitô sống động
Để rao giảng và trở nên nhân chứng sống động của Tin mừng Đức Kitô, thì phải có Người hiện diện cách sống động trong mình. Có như thế, những lời rao giảng mới có sức thu hút mãnh liệt. Chính bản thân mỗi giáo dân đều được kêu mời nên chứng nhân cho Thiên Chúa, có thể ví  von là trở thành một “Alter Christus”. Nhưng trong thực tế dường như điều này chưa được thể hiện cách thực sự thuyết phục nếu không muốn nói có vẻ Đức Giêsu đang yếu và đang chết trong chính mỗi người. Để có thể giúp người khác cảm nhận được Thiên Chúa, điều cần thực hiện là cần làm cho Thiên Chúa sống lại trong bản thân; diễn tả một Thiên Chúa tình yêu đang sống giữa nhân loại (x. Ga 1, 14); là một Emmanuel (x. Mt 1, 23). Tục ngữ Việt Nam có câu: “trăm nghe không bằng mắt thấy”. Chỉ có cảm nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa nơi bản thân thì chính mỗi người mới có được sự hiện diện sống động, họa lại hình ảnh Thiên Chúa. Từ đó mới giúp người khác cảm nếm, thấy được chính Thiên Chúa.


V. Những lĩnh vực dấn thân cụ thể cho sứ vụ loan báo Tin mừng
Với bối cảnh đặc thù của của giáo phận Long Xuyên, người giáo dân cần phải có những thích ứng, can đảm và sáng tạo để rao giảng Đức Kitô cho phù hợp với thực tế. Việc truyền giáo ấy phải luôn luôn lưu động và tiến về những vùng “ngoại biên” mới nhất là vùng ngoại biên của người nghèo,  đối thoại tôn giáo và đối thoại với văn hóa bản địa (để hội nhập văn hóa).


a. Người nghèo và bị loại trừ
Hiện nay, toàn cầu hóa giúp con người có cuộc sống tiện nghi hơn. Thật không thể phủ nhận những lợi ích và tiến bộ mà phát triển kinh tế đem lại nhưng cùng với sự phát triển ấy lại là một thực tế đáng buồn: sự phân cách giàu nghèo càng ngày càng rộng và càng sâu. Người nghèo vẫn còn chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng số khoảng 4.174.409 trong khu vực thuộc địa giới của giáo phận . Do đó, “lựa chọn ưu tiên của Giáo hội là những người nghèo và những người bị loại trừ” (Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô, Tông thư Tiến đến Thiên niên kỷ thứ Ba, số 51); và “mỗi Kitô hữu và mỗi cộng đoàn phải nhận thức được con đường mà Chúa đã chỉ ra, và tất cả chúng ta được kêu gọi để vâng theo mệnh lệnh của Thiên Chúa, tức bước ra khỏi những vùng thoải mái để đi đến những vùng ‘ngoại biên’, nơi cần có ánh sáng của Tin mừng” (ĐGH Phanxicô, Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 20). Chính Đức Kitô là mẫu gương tuyệt vời. Người đã đến với những người đau khổ, bị bỏ rơi và loại trừ trong xã hội Do Thái (x. Mt 11, 5; Lc 7, 22) để có thể cảm thông, đồng cảm cũng như đồng hành cùng những anh chị em ấy, tôn trọng, quan tâm và chăm sóc đúng với nhân vị của họ. 
Thật vậy, vì nghèo khổ mà nhiều người loại trừ, cô lập và phân biệt đối xử không xứng với phẩm giá. Vì vậy, việc loan báo Tin mừng không chỉ dừng lại ở việc chuyển đạt một số chân lý đức tin, tín điều hay lý thuyết nhưng còn phải là xây dựng tình liên đới, nối dài những cánh tay yêu thương, nhịp cầu nhân ái để giúp đỡ, chia sẻ, cảm thông với những kiếp người vì “Tình yêu thương đối với con người, và trước hết là đối với người nghèo, vì nơi họ, Giáo hội nhìn thấy Đức Kitô… mang lại sự trợ giúp sao cho toàn bộ những dân tộc bị gạt ra ngoài cũng như bị loại trừ được hội nhập vào chu kỳ phát triển về mặt kinh tế và nhân bản…” (Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Bách chu niên, số 58).


Người nghèo cần lắm những trợ giúp về vật chất nhưng họ càng cần hơn nữa sự quan tâm, đồng cảm, yêu thương. Cái họ thiếu và cần là tình yêu. Họ cần phải được đối xử đúng với phẩm giá của mình. Đây chính là lĩnh vực mà người giáo dân cần “dấn thân” sâu hơn. Bên cạnh những giúp đỡ về vật chất, người giáo dân cần mang tình yêu của Đức Kitô đến với họ; thực sự sống để họ cảm nhận được tình Chúa, tình người; không phải chỉ đến với họ một lần nhưng cần phải luôn hiện diện để họ cảm nhận được tình thương ấy. Mỗi giáo dân cần “chọn lựa cho mình thái độ giống như con Thiên Chúa, Đấng vẫn hằng đến gặp gỡ tất cả mọi người, không loại trừ ai” (ĐGH Phanxicô, Tông sắc Khuôn mặt thương xót, số 12). Học cách “ra đi” đến với những người đau khổ, bị bỏ rơi và loại trừ vì“những người ấy cần được xoa dịu các vết thương bằng thứ dầu an ủi, để băng bó chúng bằng lòng thương xót và chăm sóc chúng bằng tình liên đới và sự quan tâm” (Tông sắc Khuôn mặt thương xót, số 15).


b. Đối thoại tôn giáo
Giáo phận Long Xuyên là khu vực có nhiều tôn giáo nội sinh và ngoại sinh, các tín đồ sống chung với nhau nên vấn đề đối thoại tôn giáo để có thể hiểu nhau thêm là điều cần thiết. Giáo hội luôn“khuyến khích con cái mình, ngõ hầu với khôn ngoan và bác ái, qua đối thoại và hợp tác với các tín đồ các tôn giáo khác, luôn biết làm chứng cho đức tin và đời sống Kitô, giúp họ nhận biết, bảo tồn và phát huy các giá trị thiêng liêng, luân lý văn hóa, xã hội vốn có trong họ” (Công đồng Vaticanô II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2). Thế nhưng thực tế, có rất ít giáo dân có một kiến thức đủ về các tôn giáo khác đang hiện diện trong vùng đất giáo phận như Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa…dù tinh thần có thể không thiếu. Đôi lúc người giáo dân còn có những đánh giá sai lạc về chân lý, giá trị truyền thống các tôn giáo khác nên còn khép kín nên chưa có thể có những hiểu biết và đối thoại phù hợp. Không biết thì thật khó để có thể đối thoại với anh chị em và tìm ra một cái nhìn chung để có sự thông cảm. Đây là một công việc không hề dễ dàng chút nào vì nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nữa về thần học, giáo lý, giáo huấn… 


 Một phương cách hiệu quả trong lĩnh vực này là việc “đối thoại không lời” tức là bằng việc làm cụ thể. Chẳng hạn, mỗi gia đình trong giáo xứ có thể kết nghĩa với một gia đình không công giáo để cùng quan tâm, sẻ chia vui buồn, đồng hành cùng nhau trong những thăng trầm, khắc khoải và âu lo của cuộc sống. Con thấy rằng đây cũng chính là phương cách dễ làm và có hiệu quả để mang Đức Kitô đến cho những người chưa biết Chúa. Một đời sống chứng tá trong sự hiệp nhất, liên đới, yêu thương và trách nhiệm trong giáo xứ và với anh chị em lương dân chính là lời chứng hùng hồn trong việc rao giảng Tin mừng. Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã nói trong Tông huấn Loan báo Tin mừng: “con người ngày hôm nay cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy” (số 41). Ngoài ra, trong thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2008, số 10 có viết: “trước khi rao giảng bằng lời nói hãy rao giảng bằng đời sống…nỗ lực xây dựng nếp sống lành mạnh nơi khu phố, xóm làng….hãy nêu gương về đời sống hiệp nhất yêu thương. Không có lời rao giảng nào có sức thuyết phục bằng sự hiệp nhất, yêu thương trong gia đình, xóm làng, trong giáo xứ”.  


Nhờ đối thoại tôn giáo cách cởi mở và chân thành giúp mỗi người hiểu biết những giáo huấn về tín lý, phong hóa của Giáo hội cùng những kiến thức giáo lý của các tôn giáo khác cũng như có thể học cách lắng nghe, đón nhận những giá trị tích cực nhưng vẫn giữ được những điều căn bản của đức tin Kitô giáo. Nhờ đó, giáo dân có thể hiểu biết mình hơn, hiểu biết các tôn giáo bạn cách công bằng và trung thực, xua tan những sợ hãi và hiểu lầm, khám phá thêm sự sung mãn của chân lý nơi các tôn giáo bạn, cũng như có thể tự nhìn lại và chỉnh sửa những điểm thiếu sót (do con người) của mình và làm phong phú cho nhau hơn. 


c. Hội nhập văn hóa
Hội nhập văn hóa là sự biến đổi thâm sâu các giá trị văn hóa đích thực nhờ tháp nhập chúng vào Kitô giáo và đưa Kitô giáo vào trong các nền văn hóa khác nhau của nhân loại (Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Loan báo Tin mừng, số 63). 


c.1.Thuận lợi
Với sự sáng tạo của riêng mình, các thừa sai và  người dân Việt đã mặc cho các nghi lễ, cử hành đức tin, biểu tượng Kitô giáo… một bộ áo văn hóa Việt tạo nên một nếp sống đạo theo cung cách rất Việt Nam. Nó không khác với niềm tin mà Chúa và Giáo hội dạy nhưng vẫn thích hợp với phong hóa Việt Nam. Dần dần theo thời gian và nhất là sau Công Đồng Vaticanô II, với cái nhìn mới và nhiều hướng dẫn cụ thể cho cách diễn diễn tả đức tin theo truyền thống dân tộc bản địa, Giáo hội Việt Nam đã có những cố gắng đáng kể cho việc hội nhập đức tin vào nền văn hóa làm cho đạo Công giáo trở nên gần gũi hơn với dân Việt, chẳng hạn: dịch và in ấn kinh sách bằng tiếng Việt, ngôn ngữ cử hành phụng vụ cũng bằng tiếng Việt……đây là một tín hiệu tốt cho việc hội nhập văn hóa. Tinh thần hội nhập và đổi mới trong cách diễn tả ấy đã mang lại một luồng sinh khí mới vào đời sống đạo của dân tộc Việt.


c.2. Những trở ngại
Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có những nỗ lực và cố gắng để thích ứng cách diễn tả đức tin Kitô giáo vào nền văn hóa Việt. Tuy nhiên, con vẫn nhận thấy còn nhiều hạn chế như:
Theo chính con được biết, ngay trong việc đào tạo các Đại Chủng sinh ở Đại Chủng viện, môn học về các tôn giáo bản địa, nội sinh chưa được quan tâm đủ và đúng mức, nhiều chủng viện còn xem những môn học đó chỉ là phụ kèm theo một chương nhỏ vào giáo trình: Triết học Đông phương, văn hóa tôn giáo hay văn hóa Việt Nam; môn học so sánh đối chiếu tương đồng và dị biệt giữa các tôn giáo cũng chưa đươc quan tâm; hoặc có chăng chỉ dạy thôi nhưng chỉ dừng lại ở việc hiểu biết, một số “lý thuyết” chứ chưa đi sâu vào trình bày phương cách áp dụng những kiến thức ấy vào việc diễn tả chân lý đức tin Kitô giáo cho phù hợp với truyền thống văn hóa và đức tin. Điều này gây ra một khó khăn không hề nhỏ cho các linh mục trẻ khi thi hành tác vụ linh mục nhất là vùng truyền giáo. 


Hơn nữa, ngôn ngữ trong nhà đạo không chỉ gây nhiều điều khó hiểu với lương dân nhưng ngay chính người Kitô hữu cũng chưa thể hiểu hết các từ ngữ nhà đạo. Đơn cử là những từ ngữ tên riêng các nhân vật và địa danh trong Kinh Thánh cho đến nay vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong các bản dịch. Phải công nhận đã có nhiều cố gắng để hội nhập nhưng chưa đủ và chưa phù hợp giữa văn hóa Việt và đức tin Kitô giáo. Một  trong số những ví dụ tiêu biểu là hình ảnh “Lưỡng long chầu nhật” nơi nhà tạm ở một số nhà thờ là một cố gắng để thích nghi với văn hóa dân tộc. Tuy nhiên với đức tin Kitô giáo thì con rồng là biểu trưng cho sự dữ như trong sách Khải Huyền có nói đến (x. Kh 12, 3).


Thêm vào đó là những ngộ nhận từ nhiều phía nên trong quá khứ đã có những hiểu lầm, tranh cãi thậm chí là những cấm đoán làm việc hội nhập đức tin vào văn hóa gặp nhiều trở ngại. Điều này đã gây ra không ít hiểu lầm, nghi kỵ giữa những người Kitô hữu và lương dân mà hậu quả của nó vẫn còn kéo dài đến tận ngày nay. Nhiều người lương không có thiện cảm thậm chí chống đối đạo công giáo. Trong tâm thức của nhiều người lương, họ xem đạo công giáo là đạo chối bỏ ông bà cha mẹ. Đây là một trong những trở ngại rất lớn cho sứ vụ. 


Con xin đưa ra một ví dụ cụ thể về thách đố vừa nêu. Đó là việc thờ kính tổ tiên của dân tộc Việt đã là đề tài gây ra cuộc tranh luận gay gắt và kịch liệt giữa các nhà thừa sai, nên hay không nên? Nghịch đức tin hay không? Cho phép hay ngăn cấm? Đây là một trong những vấn đề lớn trong quá trình thích nghi đức tin Kitô giáo vào nền văn hóa Việt với nhiều sự kiện, bàn thảo và quyết định được đưa ra. Cuối cùng, sau khi đã nghiên cứu kỹ, Tòa thánh đã chấp nhận cho phép giáo dân các nước theo văn hóa Á đông (nhất là Trung Hoa và Việt Nam) được phép thờ kính, vái lạy ông bà tổ tiên như là một cử chỉ tôn kính bậc sinh thành. Hướng dẫn này được áp dụng áp dụng từ năm 1965, một thời gian rất lâu sau khi Giáo hội công giáo cho phép thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Một sự thích nghi, hội nhập có vẻ hơi chậm? Hơn thế nữa, năm 1974 một số Đức Giám mục Việt Nam đã đưa ra một thông cáo nhắc lại việc cho phép của Giáo hội trong việc thờ kính tổ tiên ông bà. Điều này là minh chứng cho thấy giáo dân Việt vẫn chưa am tường hết và thực hành hướng dẫn này cách rộng rãi. 


Người giáo dân cần được khuyến khích, hướng dẫn và sáng tạo trong việc thích ứng giữa nền văn hóa địa phương của mình với các giá trị Kitô giáo phù hợp với đức tin và giáo huấn của Giáo hội. Một khi đã thấm nhuần đức tin Kitô  giáo thì cách sống ấy sẽ trở thành kinh nghiệm làm biến đổi và Phúc Âm hóa mọi người chung quanh. Tuy vậy, trong việc hội nhập văn hóa, cần trung thành với 2 nguyên tắc: (i) phải luôn luôn phù hợp với Tin mừng và (ii) không được chia cắt, làm lạc hướng hay biến chất Giáo hội địa phương khỏi mối hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ (Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio, số 54). 

KẾT LUẬN

Những thách đố ghê ghớm được đặt ra bởi thế giới hôm nay không thể làm cho các mục tử và người Kitô hữu mất niềm tin vào sứ mạng loan báo Tin mừng. Dù là giáo dân hay giáo sĩ, tất cả đều có nhiệm vụ phải truyền giáo; vì Thiên Chúa lúc nào cũng muốn con người, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, được vào dự tiệc trong nước Người (x. Mt 8,11; Lc 13, 29) và đó cũng là lệnh truyền của Đức Kitô (x. Lc 24, 48; Cvtđ 1, 8; Mt 28,19). Trong bối cảnh hiện nay, sứ mạng truyền giáo phải là sự kết hợp giữa định hướng “đến với muôn dân” (missio ad gentes) và “đến giữa muôn dân” (missio inter gentes). Định hướng này nhấn mạnh đến một phương thức hiện diện và thông truyền đức tin vào Đức Kitô một cách thân thiện và đối thoại hơn. Cụ thể chính là việc: củng cố nội tại nơi từng người và trong giáo xứ để hướng tới những lĩnh vực cụ thể trong sứ vụ loan báo Tin mừng tại khu vực theo ba thực tại mà Tông huấn Giáo hội tại Á Châu đề cập đến: một tâm thế đến với người nghèo, đối thoại với các tôn giáo, thích nghi văn hóa. Mọi thành phần trong giáo xứ từ vị mục tử đến các vị hữu trách (Hội đồng mục vụ) và giáo dân đều được mời gọi cộng tác dấn thân cho sứ vụ loan báo Tin mừng. Ước mong sao mọi thành phần dân Chúa luôn ý thức về sứ vụ và luôn chuẩn bị những hành trang cần thiết hầu sẵn sàng lên đường đem Tin mừng của Chúa đến mọi nơi trong mảnh đất giáo phận Long Xuyên, tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và toàn thể dải đất hình chữ S- Việt Nam thân thương này.


Riêng với cá nhân con, kết thúc môn học “sứ mạng học” nhưng đồng thời mở ra một giai đoạn và một điểm phát xuất mới cho bản thân con. Suy tư nhắm đến hành động. Vì môn học này giúp con có những hiểu biết, cảm nghiệm cũng như bài học áp dụng cho bản thân. Biết sống tâm tình tạ ơn Thiên Chúa- tri ân tiền nhân để rồi có thể có những dự phóng cá nhân để loan báo Tin mừng theo điều kiện của bản thân và bối cảnh đặc thù ở giáo phận cũng như khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 


Con luôn cầu xin cùng Mẹ La Vang. Xin Mẹ đồng hành với con trong sứ vụ loan báo Tin mừng. Mẹ là mẫu gương cho con trong sự: vâng phục-ngợi khen-kiên vững. Vâng phục để đón nhận và thi hành thánh ý Thiên Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc sống. Sống tâm tình ngợi khen cảm tạ vì nhiều ơn lành đã lãnh nhận từ Chúa. Kiên vững để vui vẻ đón nhận những thập giá hay thử thách của sứ vụ truyền giáo để “quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc, hòa mình vào cuộc  sống hiện tại của đất nước…” bởi vì “quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Ngài, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ” (Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung năm 1980, số 9).

Felicitas

 

Bài viết liên quan:

");' onmouseout="hidetip();">Thiệp mời: Thánh lễ truyền chức linh mục
VIDEO lễ Giỗ 10 năm Đức cha Già Micae Nguyễn Khắc Ngữ
Lễ Giỗ 10 năm Đức Cha Già Micae Nguyễn Khắc Ngữ
Thường huấn linh mục đoàn giáo phận 2019
Thánh lễ Cung hiến Thánh đường Trinh Vương kinh B1, Vĩnh Thạnh
RAO BÁO PHONG CHỨC LINH MỤC
Thánh lễ kỷ niệm 102 năm Đức Mẹ Fatima tại Tân Hiệp
Cung hiến và khánh thành nhà nguyện An Phú, GP Long Xuyên
Sa mạc huấn luyện Chuyên Hiệu đầu tiên dành cho Huynh Trưởng
Đại lễ Lòng Chúa Thương xót tại giáo xứ An Sơn, kinh E2
Page 1 of 42 (413 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
40
41
42
Next
Bài viết mới
  • Cuộc đời là một công việc bề bộn

    Việc làm, tương giao, tình yêu, dục tính, tình bạn, tuổi già, tất cả đều phức tạp, trần tục, là những công việc bề bộn, lúc nào cũng có ...

  • Tản mạn về ân sủng của bí tích

    Không chỉ bí tích Thánh Thể, cả các bí tích khác cũng dễ làm cho chúng ta dấy lên cảm giác “nghi ngờ” với những hình thức bên ngoài như dầu, ...

  • Suy niệm Chúa nhật 12, Lễ Mình Máu Thánh Chúa, Năm C

    Thật tuyệt vời khi Chúa Giê-su là Trưởng Tử “cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng” thì làm sao Chúa ...

  • Giữ thăng bằng cho đức tin

    Đời sống thiêng liêng chỉ dừng lại ở cầu nguyện và đạo đức cá nhân. Dù quan trọng như nhau, nhưng chúng chưa đủ. Và chìa khóa cho sức khỏe là ...

  • Phẩm chất và giá trị của linh mục

    Sở dĩ phải nói đến vấn đề này là vì mấy năm gần đây Hồng Y, giám mục, linh mục thường được đưa lên mạng với những cáo buộc về các tội danh ...

  • Làm thế nào để khơi dậy đức tin cho con cháu?

    Vai trò của ông bà thường rất quan trọng trong việc trao truyền đức tin, nhiều người đặt câu hỏi làm sao để trao truyền tốt nhất.

  • Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini

    Nhìn lại lịch sử đời tôi, tôi thấy đâu là những sáng kiến, những chương trình của Thiên Chúa về tôi, và Ngài muốn tôi làm gì?

  • Đừng đi tu để hưởng thụ

    Khấn khó nghèo, nhưng họ sống giàu sang, tiện nghi và sung túc. Khấn vâng lời, nhưng họ thích làm theo những sở thích của riêng mình. Khấn khiết ...

  • Tình yêu Ba Ngôi và đời sống hôn nhân

    Nền tảng tình yêu Ba Ngôi được diễn tả qua tình yêu hiệp thông, dâng hiến- đồng sáng tạo và bền vững- chung thủy. Đó cũng chính là những ...

  • Ký ức một đời tu

    Những ai đi theo ơn gọi tận hiến đều phải trở nên một “Đức Ki-tô khác” (Alter Christus), chứ không phải một mục tử sống “khác Đức Ki-tô”...

Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 862
Tất cả: 57,548,453