Bí tích Hôn nhân

BÍ TÍCH HÔN NHÂN

 

Qua rồi cái độ nồng nàn xác thịt, Hết rồi cái khoái lạc lứa đôi, còn duy một lời thề trung tín, câu đoan hứa trước Đấng vô hình bao năm không hề phai lạt...

 

 

Ông bà ấy “lấy nhau” từ thuở đôi mươi, do người làm mối mát tay đưa đẩy. Ngày xưa có lệ ở rể, người nam cầu hôn phải sang nhà người nữ muốn sánh đôi  một thời gian, để nhạc gia nhạc mẫu và cả họ tộc nhà gái tương lai xem xét ý tứ, sát hạch lời ăn tiếng nói, kiểm tra cần cù công việc, nhất là đạo hạnh lễ phép, căng lắm chứ chẳng xoàng.

 

Cửa ải cam go rốt cuộc đã vượt, do hiền lành và siêng năng nên được chấp thuận. Phần đạo tiến hành, bố mẹ đôi bên dẫn vào nhà xứ, để xin “vào cụ” khảo kinh chiều hôm ban sáng, nhắn nhủ dăm nhời, làm phép cưới xong người chứng phải ấn chỉ (lăn tay) bảo lãnh, cam kết giúp họ nên một đôi chồng vợ, bí tích thứ bảy bắt đầu có hiệu lực, niêm phong linh hồn và xác họ, tuy là một động tác dấu chỉ, nhưng hai con người thụ hưởng ân huệ này, gắn bó keo sơn khắng khít. Rồi phần đời chẳng cần hôn thú giao kèo, lệ cheo cưới hỏi rườm rà, thôi kệ giầu kép hẹp đơn, miễn là hai họ chứng giám, làng xã nhìn vào, hoàn toàn hợp lệ.

 

Từ đấy, ông xem ra hăng hái hẳn, thường nhật sáng sớm vác cày ra đồng, trong túi mấy miếng trầu têm sẵn, ấm chè lủng lẳng trên tay. Con trâu đi trước gục gặc đôi sừng, tiếng “vắt - ọ” vang vang, luống cày thẳng tắp, người và vật chăm chỉ cam chịu cuộc sống cần lao, Bà về nhà chồng làm dâu, thức khuya dậy sớm,  lam làm chịu thương chịu khó, ù ì xay thóc giỏi giang, nia-mẹt-dần-sàng vén khéo, dâu-bèo-cám bã-lợn-gà chăm chút, kính mến săn sóc song thân bên chồng chu đáo, họ nhà giai đắc ý, họ nhà gái nở mặt nở mày, thiên hạ nhìn vào tấm tắc khen lao. Gia đình Công giáo ấy hạnh phúc quá, dòng đời cứ trôi, cứ làm cứ ăn và cứ… đẻ.

 

Bất ngờ thời thế xảy đến cuộc ồ ạt tổng di cư, không biết nút thắt khó gỡ làm sao, khúc rối gút mắc thế nào, mà ông dẫn hai con lớn vào Nam, bà giữ một con út ở lại Bắc, hẹn vài năm trở lại đoàn viên. Ôi cuộc chia ly kẻ đi người ở thầm lặng não nùng, ông cúi đầu cắn răng bước mà sợ không dám quay lại, bà ôm con run rẩy mím lợi nuốt ngược nỗi lòng, tay áo gạt dòng nước mắt, tình yêu đang nồng nàn bỗng chốc phân ly, vì hai chữ chế độ.

 

Ông ở miền Nam định cư lập nghiệp, lại cày cấy sinh nhai, đào ao đắp thổ, thương nhớ vợ hiền con dại quê nhà mà chẳng biết làm sao, cậy người có tí chữ lên tận đô thành “đánh dây thép” (tê lếch gam) thăm hỏi, bức điện tín phải qua hội Hồng Thập Tự quốc tế, một đơn vị bảo lãnh của nước trung gian rồi chuyển về Bắc, cả mấy tháng mới đến tay người nhận, vỏn vẹn mấy chữ: “Bố con tôi bình an, mẹ con ở quê yên trí”,  hết! Chỉ có vậy.

 

Ngỡ rằng hẹn vài năm đoàn viên, ai dè chinh chiến kéo dài, đằng đẵng thời gian mà chưa có cơ may đoàn tụ, hai con theo ông nay cũng học hành bằng người, rồi đã thành gia thất, ông cứ ở vậy mà mong mỏi kiên nhẫn chờ bà, đêm đêm đọc kinh lần hạt cậy trông, sáu mươi tuổi dư ập đến, lưng còng gối mỏi, răng long mắt mờ mà nỗi lòng canh cánh khôn nguôi, hơn bảy ngàn đêm ngước mắt khấn trời, nhớ thương vò võ. Dòng sông Bến Hải còn ngăn cách hai miền, chàng Ngâu nàng Chức đôi bờ mỏi mòn trông ngóng, mà nhịp ô thước chẳng nối giao duyên, năm qua năm lại tới, thương hải tang điền, đầu xanh xưa đã ngả màu trắng bạc.

 

Rồi cũng đến sau hơn hai mươi năm cách biệt, chiến tranh kết thúc, thằng út phương ấy đã trưởng thành dắt mẹ lọm khọm vào Nam, tràng hạt đeo cổ xin trời cao chúc phúc, châu về hợp phố, cả xóm thăm hỏi lao xao, hân hoan hân hoan, ông bà lom khom đi lễ, thiên hạ vỗ tay reo vui, cha xứ mừng rỡ tươi cười, quả là thú vị cho đôi già hạnh phúc.

Ông khi xưa may ra đọc thông viết thạo, bà chữ i bẻ đôi chẳng biết, hành xử đời do nghe mấy câu tục ngữ dân gian, biết chi triết thần mà khảo luận, vậy mà thôn xóm mến yêu, cái đức hiền lành chiến thắng cả thời gian nghiệt ngã, câu thuỷ chung tạc bia trong óc, trân trọng thực hành, gìn giữ như báu vật.

 

Qua rồi cái độ nồng nàn xác thịt, Hết rồi cái khoái lạc lứa đôi, còn duy một lời thề trung tín, câu đoan hứa trước Đấng vô hình bao năm không hề phai lạt, đức tin ăn rễ sâu trong hồn chất phác, bí tích thứ bảy quả là thiêng liêng kỳ diệu, sợi tơ hồng bất chấp địa hình vươn dài nam bắc, bờ Hiền Lương đã nối, cầu ô thước đã bắc một nhịp dài, Ngưu lang – Chức nữ đoàn viên, không chỉ tháng ngâu sụt sùi, mà suốt đời còn lại. Thời gian cứ lặng lẽ trôi, ông bà hai năm mươi về già, tiền vận vất vả hậu vận an nhàn, nhưng định luật không thể cưỡng, thân xác phải về với đất, con cháu mai táng song song sát cạnh trong phần đất Thánh, hạnh phúc cả lúc lìa đời. Sinh tiền không chức vị công danh, đâu ăn trên ngồi trốc, nào mũ cao áo rộng, chả văn vẻ hoa hoè, chỉ sống cần cù lam lũ, hoà hợp hàng xóm láng giềng. Mà đời sau ngưỡng mộ hai chữ hiền lành, đơn sơ như củ khoai củ sắn..

 

Mấy mươi năm rồi đấy, mỗi lần về quê ra nghĩa trang viếng mộ song thân, lần nào tôi cũng nghiêng mình chào di ảnh hai cụ, kính trọng một nhân cách tầm thường mà cao vợi, nhỏ bé lại lớn lao. Chẳng thân bằng quyến thuộc, không máu mủ ruột rà, chỉ là cận lân hàng xóm, mà sao cứ cảm mến bồi hồi. Người trẻ hôm nay ơi! Nhìn vào để chiêm nghiệm.

Bùi Nghiệp

 

 

Bài viết liên quan:

Giáo dục con cái, thực hành nêu gương
Đi qua những đổ vỡ của cuộc đời
Dạy đạo cho con cái có phải là tẩy não chúng?
Tình yêu, hôn nhân là vĩnh cửu
Triệu chứng ly hôn
Tiền bạc và tình yêu, rốt cuộc thứ nào mới là quan trọng nhất?
Khoảng cách trong tình yêu
Nghệ thuật giáo dục con cái
Tình yêu vợ chồng tổng thống Pháp đẹp quá bạn ơi!
Mười câu nói hữu ích cho gia đình và ba chữ kỳ diệu
Page 1 of 11 (107 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
9
10
11
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1140
Tất cả: 43,783,934