Trước cuộc truyền tin, Đức mẹ và thánh Giuse đã “đính hôn” hay “thành hôn”?

TRƯỚC CUỘC TRUYỀN TIN, ĐỨC MẸ VÀ THÁNH GIUSE

ĐÃ “ĐÍNH HÔN” HAY “THÀNH HÔN”?

 

Cùng một câu Kinh Thánh, Matthêu 1,18, nhưng Cha Nguyễn Thế Thuấn đã dịch là: “Maria, mẹ Ngài đã “đính hôn” với Yuse”; còn cuốn “Lời Chúa cho mọi người” của “Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ” lại dịch là: “Bà Maria, mẹ Người đã “thành hôn” với ông Giuse.” Vậy cách dịch nào đã chính xác? Và đâu là sự thật?

 

 

Xin thưa, cả hai cách đều không hoàn toàn chính xác, dễ đưa đến sự hiểu lầm! Lý do là vì nghi thức ban đầu đi đến hôn nhân giữa hai người trẻ Do Thái thuở ấy rất khác với nghi thức đính hôn của nhân loại ngày nay, nó nối kết đôi trẻ nhiều hơn là đính hôn nhưng vẫn chưa là thành hôn. Để hiểu rõ hơn, thiết tưởng người ta cần tìm về cội nguồn của “nghi thức” khiến Đức Mẹ đã là “vợ” của thánh Giuse (Mt 1,20) nhưng vẫn chưa thực sự là vợ theo nghĩa thời nay. Nghi thức đó tiếng Do Thái gọi là "Erusin" đi trước giai đoạn thứ hai được gọi là "Nissuin" (thành hôn).

 

Từ Erusin được đã được dịch qua tiếng Anh với nhiều chữ: “to betroth”, “to espouse”, “to engage” hay “to be pledged”.Nhiều bản Hi-lạp đã dùng chữ “ìíçĩơßĩçị” (mnçsteutheisçs) có nghĩa “to be betrothed” hay “to be espoused”. Trên thực tế, nghi thức Erusin đã khiến đôi trẻ được người đời công nhận là vợ chồng và nếu sau đó duyên không thành, họ vẫn phải đi qua tiến trình ly dị như các đôi đã cưới (Nissuin) nhau. Tuy nhiên, Erusin chưa cho phép đôi trẻ về chung sống với nhau như vợ chồng và dĩ nhiên là chưa được “động phòng”. Sau thời gian chuẩn bị, khoảng một năm, để đôi trẻ cùng nhau hình thành ngôi nhà mới cho họ, nghi thức thứ hai (Nissuin) sẽ được cử hành và chàng sẽ chính thức đưa nàng “về dinh” (home taking) như trong tiệc cưới ở Cana (Gioan 2:1). Về phương diện pháp luật, vì đã được coi là vợ chồng nên hình phạt cho kẻ ngoại tình (phụ nữ) sẽ là tử hình (Nhị Luật 22:20-21) bằng cách bị mọi người ném đá cho đến chết.

Trở lại trường hợp của Đức Mẹ và thánh Giuse, các ngài đã nhận nghi thức Erusin trước khi có cuộc Truyền Tin, vì vậy các ngài đã được kể là vợ chồng, nhưng chưa “về chung sống với nhau” (Matthêu 1,18), nghĩa là chưa có Nissuin, chưa thành hôn. Đang khi đó, một sự khó khăn rất lớn đã xảy ra: Đức Mẹ “đã có thai do tự Chúa Thánh Thần”. Kinh Thánh không nói Đức Mẹ có kể chuyện mang thai này với thánh Giuse hay không nhưng có lẽ việc này đã được “nhìn thấy” sau khi Đức Mẹ từ nhà thánh Elizabeth (I-sa-ve) trở về. Lúc đó, Đức Mẹ đã có mang được 3 tháng.

 

Về phần thánh Giuse, “vì là người công chính và không muốn tố giác bà, nên định tâm bỏ bà cách kín đáo.” (Mt. 1:19). Cần nhớ rằng, ở khoảng thời gian này, thánh nhân chưa được thiên thần báo mộng (Mt. 1:20-25). Vì vậy, đây là cách “giải quyết vấn đề” của thánh Giuse:

Trước tiên, ngài là “người công chính” (just man) được diễn tả trong Thánh Vịnh (1,1-2) và có nghĩa: “Người công chính ví thể chà là (cây dừa) trổ hoa, mọc cao dường thể bách tùng (hương bá) Liban” (TV 92 [91]:13). Một người như vậy, dĩ nhiên là không ưa tội lỗi; tuy vậy, ngài vẫn không tố cáo Đức Mẹ; nếu ngài tố cáo, Đức Mẹ sẽ bị tử hình bằng cách ném đá như trong sách Nhị Luật (22,20-21). Mặt khác, lúc đó, ngài vẫn chưa là “thánh” để bất chấp tất cả và cứ “cưới” (Nissuin) Đức Mẹ mà không cần biết nguyên nhân. Cuối cùng, ngài đã chọn giải pháp thứ ba: “Âm thầm ly dị” Đức Mẹ. Như vậy, khi bào thai lớn hơn và mọi người đều biết, họ sẽ cho rằng đó là con của Giuse và đó là hậu quả của việc “ăn cơm trước kẻng”. Hai người, có lẽ, sẽ bị các tư tế khiển trách và chịu nộp một khoản tiền vạ nào đó.

 

Việc này đối với “người công chính” Giuse thật là nặng nề và ô nhục, nhưng thánh nhân vẫn chấp nhận vì không thể nào để cho Đức Mẹ bị tử hình bằng cách ném đá. Trong khi người đàn ông nào cũng có thể làm như vậy, để thỏa cơn tức giận và vì muốn trả thù người yêu của mình. Dĩ nhiên, Chúa đã không để cho tôi tớ của Ngài phải chịu đau khổ lâu. Ngài đã sai thiên thần báo mộng và mặc khải cho thánh Giuse biết chương trình của Chúa (Mt. 1,21-24). Như thoát được gánh nặng ngàn cân, dĩ nhiên, thánh nhân đã rất hoan hỉ vâng lời Chúa và “đưa Đức Mẹ về nhà mình”.

 

Nhưng đến khi phải xuống Bethlehem để khai kiểm tra dân số (6 tháng sau), dường như các ngài vẫn không (hay chưa) cử hành nghi lễ hôn phối (Nissuin). Bằng chứng là Phúc Âm theo thánh Luca (2:5) vẫn dùng chữ “betroth” (erusin) để ám chỉ Đức Mẹ: “To be enrolled with Mary, his BETROTHED, who was with child.” Và hai bản dịch qua tiếng Việt kể trên vẫn dùng những chữ “đính hôn” và “thành hôn”.

 

Như vậy, để tránh gây hiểu lầm, có lẽ các bản dịch Kinh Thánh qua tiếng Việt cần chọn một từ khác cho chữ Erusin, thay vì dịch là “đính hôn” hay “thành hôn”. Người đời sẽ thắc mắc: “Đính hôn” thì chưa thể gọi là vợ, mà “thành hôn” thì tại sao chưa ăn ở với nhau? Trong khi chờ đợi một từ tương xứng, cần giữ nguyên chữ “Erusin” để diễn tả bước đầu đặc biệt của hôn nhân Do Thái, giữa thánh Giuse và Đức Mẹ, vào thuở Chúa Giáng Trần.

 

LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng

 

Bài viết liên quan:

Vai trò của lương tâm trong những quyết định luân lý liên quan đến gia đình+ ĐGM Matthew Nguyễn Văn Khôi
Vua David - Vua David và Chúa Giêsu
Theo giáo luật, hôn nhân phải được cử hành nơi giáo xứ nào?
Ba kiểu mẫu kiến trúc nhà thờ trong lịch sử
Dấu chỉ thời đại là gì?
Lý do vì sao cấm bánh thánh không có chất gluten
Việc kính hài cốt các thánh có từ bao giờ?
Trao tác vụ, phong chức hay truyền chức linh mục và phó tế?
Ngộ đạo là gì?
Thắc mắc về tước vị "Đức Ông"
Page 1 of 15 (144 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
13
14
15
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 454
Tất cả: 43,753,134