Một số rét riêng trong thánh lễ Việt Nam (P2)

V. Vái nhang - Đổ hương vào lư hương

Ngày 25.9.1974, thông cáo của Ủy ban Giám mục về Phụng vụ đã cho phép (thí nghiệm) bỏ hương vào lư hương hoặc đốt nhang và cắm vào bát hương thay cho xông hương. Đến năm 1992, cũng liên quan đến vấn đề này, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra thông cáo [do Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, Chủ tịch, ký tại Đà Lạt ngày 1.1.1992] hướng dẫn rằng trong các thánh lễ, có thể hoặc dùng “bình hương” hoặc “xông hương”, hoặc dùng “lư hương” và “dâng hương” (số 4c), có nghĩa là được phép vái nhang hoặc bỏ hương vào lư hương thay cho xông hương. Hiện nay, quyết định này được chính thức đưa vào trong QCSL [2002] và thực hành như sau:

 

 

1. Lúc đầu lễ

Theo QCSL 49, khi tới cung thánh, linh mục, phó tế và các thừa tác viên sẽ cúi mình chào bàn thờ. Để tỏ lòng tôn kính, linh mục và phó tế hôn bàn thờ; rồi linh mục tùy nghi xông hương thánh giá và bàn thờ. Tại Việt Nam, chủ tế có thể vái nhang và cắm vào bát hương trước bàn thờ, hoặc đổ hương vào bình than cháy trong lư hương đặt trước bàn thờ. Nếu vái nhang, chủ tế cầm nhang, giơ cao lên để dâng rồi cúi mình ba lần để tỏ lòng tôn kính, sau đó cắm nhang vào bát nhang (QCSL 277).

2. Lúc chuẩn bị lễ vật

QCSL 277 phiên bản tiếng Việt chỉ rõ có thể chọn một trong 2 cách:

Thứ nhất là vái nhang. Trong trường hợp chỉ một mình chủ tế vái nhang thì làm y như lúc đầu lễ, nghĩa là chủ tế cầm nhang, giơ cao lên để dâng rồi cúi mình ba lần để tỏ lòng tôn kính, sau đó cắm nhang vào bát nhang. Trong trường hợp chủ tế vái nhang chung với một số người đại diện tiến lên dâng của lễ, thì nên vái nhang ngay sau khi nhận của lễ để những người dâng của lễ khỏi phải đứng chờ trên cung thánh. Chủ tế không nên tới bàn thờ dâng bánh và dâng rượu rồi sau đó mới quay trở lại cùng vái nhang với những người này.

Thứ hai là đổ hương vào bình than cháy trong lư hương. Sau khi đổ hương, chủ tế cùng những người giúp lễ sẽ chắp tay cúi mình một lần để tỏ lòng tôn kính.

 

 

3. Trước khi truyền phép Mình Máu Thánh

Lúc này chỉ có thể đổ hương như lúc đầu lễ hay sau khi dâng bánh và rượu chứ không vái nhang. Trong trường hợp này, chủ tế không bỏ bàn thờ xuống đổ hương nhưng để cho thừa tác viên khác làm việc này [đang khi cộng đoàn hát bài Thánh, Thánh Thánh] (QCSL 277).

Cần lưu ý là không đổ hương trước khi đi đọc Tin Mừng, vì lần xông hương này chủ ý để tôn kính Sách Tin Mừng, vì thế phải làm trước Sách Tin Mừng, chứ không làm trước bàn thờ (QCSL 277).

VI. Chúc bình an

Theo QCSL 82 và 154: Các Hội đồng Giám mục sẽ tuỳ theo tinh thần và phong tục của mỗi dân tộc mà ấn định cách thức chúc bình an. Tuy nhiên, để thuận tiện thì mỗi người chỉ nên chúc bình an cho những người gần nhất một cách đơn giản thôi. Chủ tế có thể chúc bình an cho các thừa tác viên, tuy nhiên, bao giờ cũng phải ở lại trong cung thánh, kẻo làm xáo trộn việc cử hành. Khi có lý do chính đáng, nếu muốn, vị tư tế cũng có thể chúc bình an cho một số ít tín hữu.

Tại Việt Nam, để chúc bình an cho cộng đoàn, chủ tế dang hai tay, quay về phía cộng đoàn và nói: “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”Cộng đoàn đáp lại “Và ở cùng cha”, và không làm cử chỉ gì khác nữa. Sau câu kêu mời của chủ tế hoặc phó tế: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”, thì chủ tế quay sang vị đồng tế hoặc phó tế, hoặc thừa tác viên đứng bên, cúi mình và nói: “Bình an của Chúa ở cùng cha (hoặc thầy)”. Vị đồng tế hoặc thừa tác viên đứng kế bên cũng cúi mình và nói: “Bình an của Chúa ở cùng cha (thầy)”. Các vị đồng tế hoặc thừa tác viên khác đứng bên nhau cũng làm như vậy. Giáo dân hai bên lòng nhà thờ cũng quay vào nhau cúi mình để chúc bình an cho nhau mà không cần nói gì (QCSL 82). Thực hành này thật ra chỉ là nhắc lại quyết định đã được HĐGM đưa ra trong thông báo ra ngày 8.1.1970 ở mục số 8.

 

 

VII. Bình thánh làm bằng đồ sơn mài?

Được phép làm bình thánh bằng đồ sơn mài vì theo quyết định của HĐGM, tại Việt Nam, các bình thánh cũng có thể được làm bằng những chất liệu cứng khác mà theo cách đánh giá chung được coi là quý, ví dụ: những đồ làm bằng ngà voi, gỗ quý, đồ sơn mài, miễn là thích hợp để dùng vào công việc thánh. Trong trường hợp này, luôn ưu tiên cho những vật liệu khó vỡ và khó mục nát, và không phải là những chén đĩa thường dùng trong các bữa ăn (QCSL 332). Điều này có giá trị đối với các loại bình để đựng Mình Thánh, như đĩa thánh, bình thánh, hộp đựng Mình Thánh để đưa cho kẻ liệt, mặt nhật (hào quang) và những loại khác như vậy (QCSL 329).

VIII. Y phục cho thừa tác viên đọc sách?

Tại số 339 của Quy chế Tổng quát Sách Lễ Roma, chúng ta đọc thấy như sau: Các thừa tác viên giúp lễ, đọc sách, và các thừa tác viên giáo dân khác có thể mặc áo trắng dài (alba) hoặc một kiểu áo khác được Hội đồng Giám mục chấp thuận cách hợp pháp cho mỗi miền. Tại Việt Nam, ngoài áo trắng dài chung cho các thừa tác viên phụng vụ, các thừa tác viên nam không chức thánh, có thể mặc âu phục với cà vạt hoặc áo dài khăn đóng; nữ có thể mặc áo dài thông thường hoặc áo dài với khăn vành truyền thống Việt Nam.

IX. Linh mục có thể sử dụng áo dài khăn đống thay cho áo lễ không?

Xin thưa là không bởi vì về hình thức phẩm phục, các Hội đồng Giám mục có thể định đoạt và đề nghị sang Tòa Thánh những thích nghi phù hợp với nhu cầu và phong tục của mỗi miền (PV 128). Trong khi đó, tại Việt Nam, vấn đề này chưa được quyết định. HĐGM Việt Nam hướng dẫn rằng đang khi còn cần phải nghiên cứu về lễ phục phụng vụ sao cho hợp với truyền thống dân tộc thì trong khi cử hành thánh lễ, không được sử dụng những lễ phục chưa được Hội đồng Giám mục chuẩn nhận và Tòa Thánh châu phê (QCSL 342).

X. Lễ an táng có thể sử dụng áo lễ màu trắng thay cho màu tím không?

Từ sau Công đồng Vatican II, người ta thấy có hiện tượng sử dụng phẩm phục màu trắng cho lễ an táng vì màu này gợi lên ý tưởng phục sinh. Đối với một số tôn giáo ở Viễn Đông, màu trắng lại ám chỉ sự than khóc. Tuy nhiên, QCSL 346d [phiên bản tiếng Việt 2002] đã xác định rõ ràng là không được dùng lễ phục trắng trong tang lễ, vì như vậy vừa làm lẫn lộn ý nghĩa của màu phụng vụ truyền thống, vừa trái ngược với quy định về chất liệu phẩm phục (theo phong tục Việt Nam, tang phục màu trắng thường được may bằng vải xô, vải mùng). Lễ phục tím được sử dụng cho tang lễ vì theo tập quán cổ truyền của Hội Thánh, màu tím được quy định dùng trong mùa Vọng, mùa Chay, trong thần vụ và các lễ cầu cho người đã qua đời. Còn màu trắng được dùng trong các dịp sau: giờ Thần vụ và các lễ mùa Phục Sinh và mùa Giáng Sinh; các lễ kính, lễ nhớ về Chúa, không phải là lễ kính nhớ cuộc thương khó của Người; các lễ kính, lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria, các thiên thần, các thánh không phải là thánh tử đạo, lễ Các thánh nam nữ (1-11), lễ thánh Gioan Tẩy giả (24-6), lễ thánh Gioan Tông đồ (27-12), lễ kính Tông Tòa Thánh Phêrô (22-2), lễ thánh Phaolô Tông đồ trở lại (25-1), chứ không dùng trong dịp lễ an táng (QCSL 346a).

XI. Lễ phục màu vàng sử dụng trong dịp nào?

HĐGM Việt Nam quyết định rằng trong những ngày lễ long trọng hơn, có thể dùng phẩm phục ngày lễ hoặc những phẩm phục quý trọng hơn, dù không phải màu của ngày lễ. Tại Việt Nam lễ phục màu vàng được coi là lễ phục long trọng vì là màu vương giả quý phái (QCSL 346g).

(HẾT)

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS(cgvdt)

Chia sẻ:

Bài viết liên quan:

Những điều cần lưu ý liên quan đến Phụng Vụ Tam Nhật Vượt Qua & Mùa Phục Sinh
Một số rét riêng trong thánh lễ Việt Nam (P1)
Nghệ thuật cử hành Thánh lễ 2
Đoàn rước chủ tế buộc cần có Thánh Giá và Nến không?
Ý nghĩa việc chủ tế rửa tay trong phần chuẩn bị lễ vật
Hòa rượu với nước trong thánh lễ
Giải đáp phụng vụ: Tấm khăn phủ quan tài có các ý nghĩa nào?
Có nghi thức nào gọi là “trao tác vụ linh mục” không?
Vài chi tiết nên xem lại trong một số Thánh lễ long trọng tại Việt Nam
Làm phép Đất Thánh
Page 1 of 2 (15 items)
Prev
[1]
2
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 850
Tất cả: 42,911,618