BÁO TĨNH TÂM THÁNG 7/2016

 

TĨNH TÂM

THÁNG 7 NĂM 2016

 

HÃY THƯƠNG XÓT NHƯ CHÚA CHA

(Lc 6,36)

 

TÌM BÀI

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 7 năm 2016

 

MÔI SINH - LÒNG THƯƠNG XÓT  

VÀ TÂN PHÚC ÂM HÓA XÃ HỘI:

VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI SINH

 

Anh chị em thân mến,

Chúng tôi, các giám mục của anh chị em, xin gửi lời chào “bình an và tình yêu của Chúa Kitô ở cùng anh chị em”.

Như anh chị em đã biết, cuối tháng Năm vừa qua, giáo phận tổ chức hai cuộc thường huấn cho linh mục đoàn, để học hỏi về thông điệp “Chăm Sóc Ngôi Nhà Chung – Laudato Si’” của ĐGH Phanxicô. Trong phần thảo luận, các linh mục đề nghị, vấn đề chăm sóc ngôi nhà chung cần được nhấn mạnh cho cả cộng đồng dân Chúa ý thức, cụ thể là trong chương trình huấn giáo. Vừa để đáp lại đề nghị này, vừa theo lời kêu gọi của ĐGH trong số 13 và 14 của thông điệp, giáo phận Long Xuyên cần kết hợp với nhau khẩn thiết bào vệ ngôi nhà chung, và ước mong được đối thoại với những tâm hồn thiện chí để cùng cộng tác bảo vệ Ngôi Nhà Chung. Vì thế, xin đưa ra một vài gợi ý:

1- Giáo phận sẽ nhấn mạnh đến việc huấn luyện về bổn phận chăm sóc ngôi nhà chung trong toàn giáo phận. Cụ thể là trong thư mục vụ hàng tháng. Đối với các giám mục, chúng tôi xin kết hợp việc huấn luyện về trách nhiệm lương tâm và luân lý của bổn phận chăm sóc ngôi nhà chung, với chủ để mục vụ 2016 của HĐGM Việt Nam về Tân Phúc Âm Hóa Xã Hội, trong bầu khí của năm Thánh Lòng Thương Xót. Vì, quả thực, thiên nhiên phải được coi như quà tặng của Lòng Thương Xót Thiên Chúa dành cho nhân loại và là quà tặng chúng ta dành cho nhau và để lại cho con cái của chúng ta. Chăm sóc ngôi nhà chungvới theo giáo huấn xã hội của giáo hội cũng là cách người Kitô hữu đang phúc âm hóa xã hội, nhất là khichúng ta cộng tác vói con người thời đại, nhất là giới hữu trách, để cùng chăm sóc ngôi nhà chung.

2- Từ gợi ý trong các thư mục vụ hàng tháng, xin đề nghị

với các cộng đoàn tín hữu, là giáo xứ giáo họ, là các đoàn thể, các gia đình, hãy cùng nhau đưa ra những sáng kiến để chăm sóc ngôi nhà chung. Xin đặc biệt đề nghị với các cha đang phụ trách các cộng đoàn, sẽ cùng với hội đồng mục vụ giáo xứ, các ban điều hành của các đoàn thể, cùng nhau thảo luận và đưa ra chương trình hành động chăm sóc ngôi nhà chung và cổ vũ cho mọi người trong cộng đoàn cùng thực hiện. Những hoạt động này phải được coi là các sinh hoạt đạo đức môi sinh. Chương trình này có thể mở rộng hơn cho các giáo xứ giáo họ chung quanh, trong cùng một địa phương, để cùng trao đổi và thực hiện chung.

                3- Cũng từ những gợi ý trong thư mục vụ hàng tháng, rất ước mong, các cộng đoàn mời những tâm hồn thành tâm thiện chí, cá nhân cũng như tập thể, cụ thể chính quyền địa phương, các tôn giáo bạn, cùng nhau đối thoại để tìm ra những giải pháp khả thi để chăm sóc ngôi nhà chung tại địa phương mình.

Để bắt đầu thực hiện chương trình trên, xin gửi đến anh chị em thư mục vụ tháng Bảy với chủ chủ đềMôi Sinh - Lòng Thương Xót và Tân Phúc Âm Hóa Xã Hội: Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Sinh.

Anh chị em thân mến,

Trong thông điệp “Chăm Sóc Ngôi Nhà Chung – Laudato Si’”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khởi đầu bằng Bài Ca Vạn Vật của thánh Phanxicô. Theo đó, thánh nhân đã nhắc cho chúng ta nhớ, ngôi nhà chung của chúng ta phải được xem như người chị, mà chúng ta cùng là thụ tạo của Đấng Tạo Thành, cùng được chia sẻ cuộc sống; ngôi nhà chung này còn như người mẹ ôm lấy chúng ta và nuôi sống chúng ta bằng dòng sữa là thực phẩm và nước uống.  Nhưng người chị này, người mẹ này, đang kêu gào vì sự hủy hoại do chúng ta, vì việc sử dụng vô trách nhiệm và bóc lột (số 1 và 2).

Tại Ngôi Nhà Chung của vùng đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta đang chứng kiến một thực trạng là,vấn để ô nhiễm môi sinh đến mức báo động. Quả thật, rác thải là một trong nhiều nguyên nhân chính gây ra sự ô nhiễm này. Rác thải có thể là do phân bón từ các chuồng trại chăn nuôi, cũng như do các hóa chất nông nghiệp độc hại tiêu diệt côn trùng, diệt nấm, diệt cỏ, được sử dụng trong nhà, trong làng mạc hay trong đồng áng. Rác thải cũng có thể là do từ sinh hoạt cá nhân, gia đình và cộng đồng, từ chợ búa và bệnh viện, từ các nhà máy và xí nghiệp. Rác thải còn có thể là là những bụi khói do những chất liệu bị đốt cháy, do các phương tiện giao thông hay do khí thải công nghiệp. Hậu quả tại hại là chậm phát triển, là bệnh tật, là chết chóc, đặc biệt là cho các hài nhi, cho các cụ già, và cho cả các thai nhi còn trong lòng mẹ.

Trong số 8 của thông điệp, Đức Thánh Cha trích dẫn lập trường của Đức Thượng phụ Bartolomeo kêu gọi sự sám hối:“Con người đã tàn phá sáng tạo của Thiên Chúa với nhiều phương cách sinh học; con người đã  phá hoại sự toàn vẹn của trái đât, gây nên sự biến đổi khí hậu; con người đem đến những tai họa cho kẻ khác, gây bệnh hoạn vì làm dơ bẩn nguồn nước, đất đai và không khí bằng những chất độc hại – “đó là tôi lỗi”.“một tôi lỗi chống lại tự nhiên, cũng là tội lỗi chống lại chính chúng ta và là một tội lỗi chống lại Thiên Chúa”. Đức Thượng Phụ cũng kêu gọi các Kitô hữu, biết đón nhận “vũ trụ như một bí tích của cộng đoàn, như một phương tiện chia sẻ với Thiên Chúa và tha nhân trong chiều kích vũ trụ.

Vì thế, trong tháng Bảy, giáo phận chúng ta tập trung vào vấn đề ô nhiễm môi sinh với những đề nghị sau đây:

1.        Để gây ý thức về tương quan giữa ta với Thiên Chúa và với thiên nhiên, ý thức rằng ta có thể hợp với thiên nhiên cùng ca tụng Chúa, nên xin đề nghị các cộng đoàn phổ biến đọc thánh ca Daniel “Muôn Tạo Vật Ca Tụng Chúa” (Dn 3,57-88.56). Ước mong, thánh ca này sẽ được đọc trước khi hát ca nhập lễ của các thánh lễ Chúa Nhật và các thánh lễ có sự hiện diện của Đức Giám Mục, từ nay đến cuối năm Phụng vụ 2016.

2.        Xin các cha gây ý thức về tội và phúc cho cộng đoàn về xử lý rác thải. Tùy theo cách xử lý rác thải mà con người đang phụng sự Thiên Chúa Tạo Thành (là có phúc), hay là sự xúc phạm đến quyền năng và tình yêu của Ngài trong công trình sáng tạo và quan phòng (là có tội). Và tùy theo cách xử lý rác thải mà ta đang tôn trọng và phục vụ tha nhân (là có phúc), hay ta đang cướp đi quyền Chúa ban cho con người, là được hưởng sự tốt lành của khí hậu,nhất là đối với các thai nhi và các hài nhi còn non nớt trong hô hấp (là có tội). Để góp phần vào việc giáo dục lương tâm, các cha nên hướng dẫn cộng đoàn biết cách xử lý rác đúng cách theo những cách thức chúng ta đã được hướng dẫn trong khóa thường huấn vừa qua.

3.        Xin các cha đang phục vụ các cộng đoàn, cùng với các đoàn thể, và rất ước mong mời các tôn giáo bạn và chính quyền địa phương cùng tham gia cuộc đối thoại, để đưa ra giải pháp xử lý rác thải ảnh hưởng tới môi sinh công cộng tại địa phương. Vì, thật ra, đây còn là vấn đề của xã hội, là bổn phận và trách nhiệm của chính quyền, cũng như của toàn xã hội.

4.        Giải pháp xử lý rác thải của cộng đồng sẽ hữu hiệu hơn nhiều, nếu đây là chương trình không chỉ của một giáo xứ giáo họ, nhưng còn liên kết với các giáo xứ giáo họ chung quanh, ví dụ như các giáo xứ trong cùng một kênh của vùng Cái Sắn, hay các giáo xứ trong cùng một ấp, cùng một xã, hay các giáo xứ giáo họ trong cùng một giáo hạt. Ước mong các cha hạt trưởng trao đổi với các cha trong giáo hạt để cùng thực hiện với sự cộng tác của chính quyền và của các tôn giáo bạn trong địa phương.

5.        Cụ thể hơn, chúng ta quyết tâm là trong khuôn viên nhà thờ sẽ có các thùng rác và có các phòng vệ sinh công cộng.

6.        Cách đặc biệt, xin quan tâm giáo dục các thiếu nhi trong các lớp giáo lý, trong các giờ sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể, trong các gia đình, về việc xử lý rác thải. Cụ thể như biết đi vệ sinh đúng chỗ, biết giữ gìn phòng vệ sinh sạch sẽ sau khi sử dụng, không xả rác vô trách nhiệm nhưng biết lượm rác bỏ vào thùng rác, biết quét dọn sân nhà, lớp giáo lý, sân nhà thờ, biết thu gom rác và tiêu hủy rác đúng cách; các em lễ sinh biết gìn giữ phòng thánh và các đồ lễ cho sạch sẽ, trật tự, ngăn nắp… Ước mong, Ban mục vụ thiếu nhi Thánh Thể, các cha tuyên úy, các huynh trưởng của liên đoàn TNTT giáo phận tổ chức những cuộc hội họp và trao đổi, đề ra chương trình giáo dục lương tâm và luân lý cho các thiếu nhi trong gíao phận về cách xử lý rác.

Thư mục vụ đã dài, nhưng thiết nghĩ, là cần thiết và là những gợi ý thiết thực. Ước mong đây là thiện chí của giáo phận muốn hiệp thông với Đức Thánh Cha, với giáo hội toàn cầu, và với toàn thể cộng đồng nhân loại, trong nỗ lực chăm sóc ngôi nhà chung. Chúng ta đặt chương trình “chăm sóc ngôi nhà chung” trong giáo phận dưới sự bảo trợ của thánh Phanxico Assisi. Ý thức rằng, ngôi nhà chung là người chị, người mẹ của ta, do lòng thương xót của Chúa, mà mọi người không trừ ai, được trao tăng, để hoan hưởng và để chăm sóc, như những thành viên trong một gia đình. Trong niềm tin và hy vọng Kitô giáo, ta ý cũng ý thức rằng, mọi người trong toàn xã hội, đang được mời gọi, cộng tác với nhau và với Đấng Tạo Thành, chăm sóc ngôi nhà chung để trở thành “trời mới đất mới nơi công lý ngự trị” cho ta, cho con cháu ta, và cho mọi người. Các giám mục chúng tôi xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

TRỞ THÀNH DỤNG CỤ

CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG XÓT

 

1.

Càng về già, tôi càng rút vắn cách cầu nguyện. Bởi vì sức khoẻ của tôi mỗi ngày mỗi giảm sút. Khó tập trung. Dễ căng thẳng.

Cầu nguyện, nếu là gặp gỡ Chúa, thì cầu nguyện của tôi vẫn dài. Nhưng, nếu cầu nguyện là đọc kinh, thì đọc kinh của tôi bây giờ thường rất vắn.

Tôi thường đọc lời kinh sau đây: “Lạy Chúa, xin thương xót con”.

2.

 Mỗi ngày, tôi cầu nguyện với Chúa bằng lời kinh vắn tắt đó rất nhiều lần. Lần nào cũng là gặp gỡ Chúa. Lần nào gặp gỡ Chúa cũng là như mới.

3.

 Chủ yếu của gặp gỡ Chúa là đón nhận Thiên Chúa giầu tình yêu thương xót.

Tôi càng nghèo khó, bé nhỏ, hèn mọn, thì càng dễ đón nhận  tình yêu xót thương của Chúa.

4.

 Một dấu chỉ giúp tôi nhận ra tôi được đón nhận tình yêu Chúa xót thương là tôi thấy mình được thay đổi sâu sắc. Thay đổi đó có thể gọi là đổi mới. Tôi được đổi mới một cách lạ lùng.

Tôi được đổi mới thế nào?

Thưa đổi mới nơi tôi là tôi cảm thấy mình thuộc về Chúa (Rm 14,8). Tôi cảm thấy mình trở thành của lễ hiến dâng lên Chúa (Rm 12,1). Tôi cảm thấy mình được làm con Thiên Chúa (Rm 8,16), một Thiên Chúa là tình yêu (Ga 4,8). Tôi cảm thấy mình được làm con Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu thương tôi (Ep 2,4).

5.

 Những đổi mới trên đây, mà Chúa cho tôi được cảm thấy trong tôi, cho dù còn mờ nhạt, nhưng đã mở ra cho tôi những con đường mới.

Những con đường mới đó là những gì?

Thưa là những con đường tình yêu mà Chúa đã dạy.

6.

 Ở đây tôi chỉ xin nói sơ qua về con đường tình yêu trong dụ ngôn “người Cha đón người con phung phá” (Lc 15,11-33).

Yêu của Chúa là đợi chờ người con phung phá trở về.

Yêu của Chúa là nhìn đứa con phung phá với tấm lòng xót thương âu yếm.

Yêu của Chúa là chạy ra đón người con trở về.

Yêu của Chúa là tha thứ mà không đòi điều kiện.

Yêu của Chúa là ăn mừng vì con trở về.

Yêu của Chúa là cứng rắn với đứa con kết án việc Chúa xót thương đứa con phung phá.

7.

Đối với tôi, bài học tình yêu mà Chúa dạy trên đây là hãy đi bước trước, hãy bước xa hơn trong những liên đới với những con người, đặc biệt là những con người tội lỗi.

8.

Đi bước trước và bước xa hơn về tình yêu thương xót trong những liên đới mục vụ, truyền giáo và xã hội, đó là điều tôi vui mừng nhận thấy nơi nhiều môn đệ Chúa Giêsu tại Việt Nam hôm nay.

Họ đi bước trước và bước xa hơn về tình yêu trong những điểm rất sát cuộc sống. Như:

Trong tư duy, trong tư cách, trong việc làm, trong đối xử, trong tha thứ, trong hy sinh.

9.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu dạy trong bất cứ lãnh vực nào của tình yêu, trên bất cứ con đường nào của tình yêu, luôn cần phải cụ thể. Như phải biết chào hỏi họ, phải biết cầu nguyện cho họ, phải biết làm mọi sự có thể, để đem lại bình anh cho họ, phải giúp đỡ họ, phải tha thứ cho họ.

10.

Yêu như Chúa dạy là rất khó. Nhưng Chúa quả quyết là khó, mà vẫn làm được, nhờ dựa vào ơn Chúa. Hãy tìm đến với Chúa Giêsu. Người sẽ bổ sức cho, Người sẽ làm cho gánh nặng trở nên nhẹ nhàng (x.Mt 11,30).

11.

Nhiều môn đệ Chúa tại Việt Nam hôm nay, đã có kinh nghiệm quý giá đó.

Khó mà vẫn làm được, nhờ ơn Chúa. Vì thế, họ quan tâm nhiều đến việc “Ở lại trong Chúa” (Ga 15,4). “Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

12.

Với những chia sẻ trên đây, tôi tha thiết cầu chúc cho mọi người con Chúa tại việt Nam hôm nay, mau được ơn Chúa đổi mới chính mình, nhờ đó sẽ trở thành nhân chứng của tình yêu Chúa giàu lòng thương xót, ngay tại môi trường mình sống.

13.

Cách riêng, tôi tha thiết cầu chúc cho các tân linh mục, và các người đang được huấn luyện để lãnh chức linh mục, được thực sự đổi mới bản thân, nhờ đó sẽ mang nơi mình dấu ấn tình yêu thương xót của Chúa là Chúa Giêsu trên thánh giá.

Việt Nam đang rất cần một hàng tư tế mới như vậy.

14.

Tôi hết lòng cảm tạ Chúa vì những đổi mới Chúa thực hiện trong tôi. Nhưng tôi vẫn ý thức sâu sắc về khả năng sụp đổ trong tôi. Bởi vì tôi luôn yếu đuối. Với sự tự do Chúa còn để lại trong tôi, tôi vẫn có thể từ chối và lạm dụng ơn Chúa. Và còn biết bao lực lượng phá hoại khác. Vì thế, tôi không ngừng xin Chúa xót thương tôi. Mỗi ngày tôi như phải bắt đầu lại. Xin anh chị em thương cầu nguyện rất nhiều cho tôi.

Tôi hết lòng phó thác mình cho Chúa giàu lòng thương xót. Xin đón nhận mọi sự, cho dù là thánh giá, vì vâng phục thánh ý Chúa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi luôn vững tin:

Tình yêu thương xót của Chúa là nguồn cứu độ tôi.

Xin Chúa xót thương con.

Long Xuyên, ngày 27.5.2016

 

 

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy niệm Chúa Nhật 14 Thường Niên, C

Is 66,10-14; Gl 6,14-18; Lc 10,1-12.17-20

Ý THỨC TRUYỀN GIÁO

 

Chúa Giêsu phán: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Theo thống kê, thế giới hiện có hơn 7 tỉ người, nhưng chỉ khoảng 1,7 tỉ người Công giáo. Tại Việt Nam có khoảng 90 triệu người, nhưng chỉ có khoảng 7,5 triệu tín hữu Công giáo. Một cánh đồng truyền giáo còn bát ngát về mọi phương diện. Vì thế, Hội Thánh Chúa vẫn cần mọi tấm lòng của mọi tín hữu dành hết tâm huyết của mình cho việc mở rộng biên giới Nước Trời tại trần gian. Chính vì thế, lời Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” mãi mãi mang tính thời sự, mãi mãi vẫn là lời thúc bách dành cho từng người chúng ta.

Bởi tính cấp bách của sứ vụ truyền giáo, nên ngay sau khi thông báo: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít”, Chúa Giêsu vừa căn dặn: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”, vừa phát lệnh: “Các con hãy đi”. Nhưng thật lạ lùng. Lời sai đi của Chúa lại kèm theo lời cảnh báo đáng sợ: “Các con hãy đi. Này Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng”. Như vậy, con đường mà Kitô hữu bước đi để thực hành sứ mạng truyền giáo, không phải là con đường trải thảm, không phải là nhung lụa, càng không phải là con đường mang lại vinh quang, bình an hay lợi lộc theo nghĩa tìm kiếm sự vinh thân, sung túc cho cuộc sống đời này.

Người môn đệ của Chúa thực hành công tác truyền giáo, là người quăng mình vào mọi nơi, mọi ngõ ngách, chỉ có lí tưởng Tin Mừng, lí tưởng tình yêu Chúa Kitô làm lẽ sống. Mang lí tưởng cao cả ấy ra đi, người môn đệ Chúa chỉ còn biết hiến thân mình cho công cuộc mang ơn cứu rỗi đến trong tâm hồn con người. Người môn đệ Chúa Kitô bất chấp mọi hiểm nguy, mọi bấp bênh, mọi thiếu thốn, mọi bách hại, mọi chống đối, mọi thách thức của hoàn cảnh, kể cả thái độ cứng cỏi và lòng người thâm ác, để chỉ sống chết cho sự nghiệp Tin Mừng mà mình đang cưu mang.

Tại Việt Nam đang xảy ra sự chênh lệch quá mức giữa nhu cầu thợ và tính cấp bách của cánh đồng lúa, mà chính Chúa Giêsu đã nhìn thấy cách đây hơn 2000 năm. Bởi sống giữa một đất nước, tuy chưa phải là quốc gia phát triển về kinh tế, nhưng đã có hiện tượng, người ta đâm đầu chạy theo thói hưởng thụ, càng ngày càng đẩy mạnh lối sống tục hóa. Thêm vào đó, giai cấp thống trị không từ một thủ đoạn nào, để khuếch trương chủ nghĩa vô thần. Thậm chí nhiều nơi còn gay gắt trong việc thực hành đạo của người tín hữu, làm cho gánh nặng truyền giáo như nặng hơn.

Cũng tại Việt Nam, nhiều khu vực rộng lớn không có một ngôi nhà thờ nào, không tìm thấy một người Công giáo nào. Thêm vào đó, ý thức về trách nhiệm truyền giáo chưa thật sự ăn sâu nơi tâm tư người Kitô hữu. Nhiều Kitô hữu sống giữa anh chị em lương dân đã trở thành lai căng, pha trộn, hoặc chối bỏ đức tin của mình. Rõ ràng lời kêu gọi của Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít” luôn thiết thực và cấp bách.

Vì thế, vâng lời Chúa và thực hiện mệnh lệnh: “Các con hãy đi. Này Thầy sai các con như con chiên ở giữa sói rừng”, là một đòi hỏi can đảm, một đòi hỏi dấn thân không biết sợ thử thách, mà tất cả những ai ý thức, hãy cố gắng thực hiện cho bằng được, vì lợi ích của Hội Thánh, lợi ích thiêng liêng của chính đồng bào mình.

Lạy Chúa! Xin dạy con biết dấn thân mà không bao giờ mệt mỏi, không bao giờ chùng bước, để danh Chúa được vinh quang và nhiều người được Ơn cứu độ.

 

Suy niệm Chúa Nhật 15 Thường Niên, C

Đnl 30,10-14; Cl 1,15-20; Lc 10,25-37

BÁC ÁI KIỂU MẪU

 

Người ta thường chia bác ái ra làm nhiều loại, tuỳ theo đặc tính của nó. Chẳng hạn: Bác ái đổi chác, theo nghĩa “Có qua có lại, mới toại lòng nhau”. Bác ái ngân hàng, là bác ái kiểu cho vay lấy lời một cách sòng phẳng, theo kiểu “bánh ít đi, bánh qui lại”. Bác ái vị tha, là bác ái hoàn toàn cho đi một cách vô vị lợi. Bác ái quảng đại, là sẵn sàng trao ban hơn cả những gì mà đối tượng chờ mong. Vậy bác ái Kitô giáo là loại bác ái nào?

Câu chuyện dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay cho ta biết bác ái Kitô giáo đúng nghĩa là gì. Theo trình thuật của Thánh Luca, thì cả 3 nhân vật trong câu chuyện: người Samaria, thầy Tư Tế và thầy Lêvi đều trông thấy nạn nhân bên đường, nhưng chỉ có người Samaria là người biết “chạnh lòng thương”. Tuy nhiên, ông không chỉ dừng lại ở mức độ “từ ánh mắt” (trông thấy) “đến trái tim” (chạnh lòng thương); mà còn “đến cả đôi tay”, nghĩa là bác ái được thể hiện bằng hành động rất cụ thể. Ông ta dừng lại, đến bên nạn nhân, cúi xuống, đổ dầu rượu để làm dịu bớt sự đau đớn cho người bị nạn. Sau đó ông băng bó cẩn thận, rồi đặt nạn nhân lên lưng lừa và đưa tới quán trọ mà săn sóc.

Hơn thế nữa, ông còn ở lại với người bị nạn. Tin Mừng kể: “Hôm sau ông đưa ra hai quan tiền”. Từ ngữ “hôm sau”, khiến ta có thể hiểu là ông đã ở lại với nạn nhân qua đêm, để cho người đó qua khỏi cơn nguy kịch, rồi ông mới an lòng ra đi. Chưa hết, ông còn thanh toán mọi chi phí, và dặn dò người chủ quán: “Nhờ bác săn sóc người này, có tốn kém bao nhiêu, chính tôi sẽ chi trả tất cả khi tôi trở về”. “Chính tôi” sẽ chi trả, chứ không phải vợ con anh ta, cha mẹ anh ta, cũng không phải là dịch vụ bảo hiểm y tế.

Lòng quảng đại của người Samaria này thật tuyệt vời! Ông đã không ngại hi sinh thời giờ, sức lực và cả tiền bạc. Nói cách khác, ông đã quảng đại cho đi tất cả, nhất là cho đi chính mình. Chính cung cách cư xử của người Samaria này đã làm nổi bật đức bác ái hoàn hảo của Tin Mừng. Dụ ngôn cũng muốn ám chỉ cho ta thấy Đức Kitô chính là người Samaria nhân hậu đối với nhân loại, khi Ngài đã sống trọn hảo đức bác ái của Tin Mừng. Ngài đã rời bỏ mọi vinh quang Thiên Quốc, để đến trần gian. Ngài đã cúi xuống trên nhân loại khổ đau, để băng bó và chữa lành các vết thương do tội lỗi và sự chết gây ra. Rồi Ngài ra đi, để nhân loại trong quán trọ là Giáo Hội của Ngài, để từ nay Giáo Hội trông nom và chăm sóc hộ Ngài, cho đến khi Ngài trở lại.

Vì thế bây giờ đến lượt ta tiếp tục nhiệm vụ của người Samaria nhân lành, bên cạnh tất cả những người mà ta gặp gỡ, bằng cách chân tình giúp đỡ, băng bó các vết thương của họ. Vết thương của nghèo đói, đau khổ, bệnh tật, cô đơn, chết chóc. Con đường từ Giêrusalem tới Giêricô chính là con đường đời. Trên đó không thiếu những người bất hạnh, bị bỏ rơi, bị bóc lột, bị để mặc trong tình trạng sống dở chết dở. Họ đang là nạn nhân của bạo lực, bất công, bệnh tật, chiến tranh hận thù. “Hãy đi và làm như vậy” luôn là một mệnh lệnh có tính cấp bách.

            Chính vì thế, sứ điệp Tin Mừng đang thôi thúc ta nỗ lực mỗi ngày làm một việc bác ái cụ thể trong môi trường mình đang sống: nơi thôn xóm, nơi công sở, nơi trường học, trên đường đi. Hãy làm điều tốt với niềm tin tưởng rằng: Mỗi cử chỉ bác ái ta làm cho tha nhân, dù nhỏ bé đến đâu, cũng đều góp phần làm cho tình yêu của Thiên Chúa lan toả; và làm cho nền văn minh tình thương của nhân loại được thăng hoa.

 

Suy niệm Chúa Nhật 16 Thường Niên, C

St 18,1-10a; Cl 1,24-28; Lc 10,38-42

HIẾU KHÁCH

 

Hiếu khách là một đức tính tốt. Một người hiếu khách là người có tính xã hội. Họ dám mở cửa lòng đối diện với đời và với tha nhân. Kinh nghiệm cho ta thấy, trong bất cứ lãnh vực nào, như mở tiệm buôn bán, công ti xí nghiệp, trường học, chùa chiền, nhà thờ, tư gia càng có nhiều người tham gia, sinh hoạt và thăm viếng, thì càng sầm uất và thành công, sinh hoa lợi. Người ta thường nói: “Đa khách đáo, đa ngân vào”. Đúng thế, mở một cửa tiệm hay một dịch vụ mà khách ra vào tấp nập, thì làm ăn sẽ mau khấm khá. Một trong những yếu tố quan trọng là vấn đề nhân sự. Chủ nhân hay người tiếp thị phải là người hiếu khách luôn tươi cười và niềm nở. Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi.

Kinh Thánh kể lại khá nhiều cuộc đón khách. Hôm nay tôi chỉ đề cập đến hai cuộc: một trong Cựu Ước và một trong Tân Ước. Sách Sáng Thế kể lại rằng: Trưa hôm ấy có ba vị khách đi ngang qua nhà ông Ápraham. Ông đã vui vẻ ra chào đón khách một cách niềm nở. Ông thưa: Thưa ngài, nếu tôi được đẹp lòng ngài, thì xin ngài đừng đi qua mà không ghé thăm tôi tớ ngài (Stk 18,3). Thái độ của Ápraham bày tỏ lòng thành kính và hiếu khách. Ông biết thương người và đáp ứng đúng nhu cầu cần thiết. Ông tiếp rước khách một cách rất tận tình: “Tôi xin đi lấy ít bánh, để các ngài dùng cho chắc dạ, trước khi tiếp tục đi, vì các ngài đã ghé thăm tôi tớ các ngài đây”. Khách trả lời: Xin cứ làm như ông vừa nói” (Stk 18, 5). Kết quả của cuộc đón tiếp này là một phần thưởng ngoài sức tưởng tượng của ông bà Ápraham trong lúc tuổi già. Ông bà sẽ sinh một cậu con trai nối dõi tông đường. Đây là lời cầu chúc tốt đẹp của ba vị khách: “Sang năm, chúng tôi sẽ trở lại thăm ông; và khi đó bà Sara vợ ông sẽ có một con trai” (Stk 18, 10).

Sang thời Tân Ước, khi Chúa Giêsu đến thăm nhà chị em Matta và Maria. Hai chị em đã đón tiếp Chúa một cách trọng thị. Mỗi người một cách, làm cho Chúa rất hài lòng (Lc 10,39). Kết quả của cuộc đón tiếp này là: Chúa Giêsu đã biến đổi cả hai tâm hồn chị em nên thánh thiện. Chúa nhìn thấu tâm hồn của Matta và Maria. Hai chị em đã trở thành những chứng nhân đích thực cho Chúa Kitô phục sinh. Giáo Hội đã tuyên phong cả hai chị em lên bậc hiển thánh: Thánh Matta và thánh Maria.

Mở cửa đón khách cũng giống như mở lòng mình ra với tha nhân. Nếu tư gia của ta có mở cửa đón mời anh chị em và bạn bè, thì nhà ta sẽ vui nhộn tiếng cười. Phòng khách sẽ ấm cúng với mối tình thân. Nhà bếp cũng được ấm lên nhờ nấu nướng những món ăn đãi khách. Niềm vui sẽ trào dâng trong lòng mọi người. Càng có đông khách và bạn bè tới thăm, cuộc sống của ta càng nới rộng tình thương mến. Mở cửa như mở lòng. Ta biết rằng: Ai có lòng quảng đại giúp đỡ tha nhân, họ sẽ được đáp trả mối ân tình, như câu chuyện gia đình Ápraham và gia đình Matta trên đây. Cha ông ta vẫn nói: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”. Kinh nghiệm cho ta thấy, khi ta đón tiếp anh chị em bạn bè đến với gia đình, thì niềm vui của ta sẽ được nhân lên. Trái lại, nếu ta chỉ biết đón nhận mà không biết cho đi, thì cuộc sống của ta sẽ bị đóng khung hạn hẹp. Buồn tênh.

Ước gì mỗi ngày, ta hãy cố gắng làm một việc tốt, dù nhỏ bé, nó cũng sẽ sinh hoa kết qủa tốt đẹp. Chẳng hạn: Một lời nói nhẹ nhàng êm dịu, có thể cải hóa lòng người. Một cử chỉ đón tiếp ân cần, có thể làm vui mảnh hồn cô đơn giá lạnh. Một hành động bác ái nhỏ nhoi, như cho đi một li nước vì danh Chúa, sẽ không mất phần thưởng bao giờ. Một ngọn lửa dù bé nhỏ, cũng có thể tỏa lan ánh sáng và sưởi ấm cõi lòng người. Một bàn tay rộng mở ân phước, sẽ ngập tràn niềm vui…

 

Suy niệm Chúa Nhật 17 Thường Niên, C

St 18,20-32; Cl 2,12-14; Lc 11,1-13

CUỘC ĐẤU GIÁ THÚ VỊ

 

Nghe cuộc đối thoại hôm nay giữa Thiên Chúa và ông Ápraham, ta có cảm tưởng như một cuộc trả giá ở chợ của mấy bà, kì kèo từng đồng, từng cắc. Nhưng không phải như thế. Đây là cuộc trả giá để xin tình thương của Thiên Chúa.

Chuyện là dân Xơđôma và Gômôra đã đắc tội với Thiên Chúa; và Thiên Chúa đã nghe tiếng dân kêu than. Thiên Chúa gặp Ápraham và bắt đầu trò chuyện với ông. Ápraham rất dễ thương. Ông hỏi Chúa rằng: Chẳng lẽ Chúa lại tiêu diệt cả người lành một trật với kẻ dữ hay sao? Rồi Ápraham trả giá với Thiên Chúa: Nếu trong thành này có 50 người lành thì sao? Liệu Chúa có dung thứ cho tất cả thành đó không? Thấy con số đó lớn quá, nên Ápraham trả giá còn 45 người. Thiên Chúa vẫn tha nếu như có 45 người lành. Thấy con số 45 vẫn còn lớn, nên Ápraham tiếp tục cuộc trả giá. Trả giá đến lúc còn 10 người. Thiên Chúa cũng tha, vì 10 người lành mà Thiên Chúa không phá thành Xơđôma như lời xin của Ápraham.

Qua câu chuyện này, ta thấy Thiên Chúa và Ápraham trả giá với nhau. Ápraham thương dân, nên đứng ra xin Thiên Chúa tha tội cho dân. Ông trả giá đến con số thấp nhất. Thiên Chúa không chấp tội của dân. Ngài cũng không đòi hỏi con số người lành nhiều như lúc ban đầu Ápraham đã xin. Từ 50 người xuống còn 10 người. Nghĩa là chỉ 1/5 so với con số ban đầu, nhưng Chúa vẫn chấp nhận và tha thứ cho dân. Thế mới biết tình thương của Thiên Chúa bao la biết là dường nào.

Lòng nhân hậu bao dung của Thiên Chúa là như vậy. Trải qua bao thế hệ, dù con người có bội phản, dù con người có quay lưng với Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người. Thiên Chúa luôn tha thứ, tha cho đến tận cùng, đến độ Thiên Chúa còn dám phó nộp cả Người Con duy nhất yêu quí của mình, để cứu độ con người.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện bằng “kinh Lạy Cha”. Kinh Lạy Cha dạy ta xin cho danh Chúa được vinh hiển, triều đại Chúa mau đến, xin cho có lương thực hàng ngày; và đặc biệt là xin ơn tha tội. Lời xin ơn tha tội của ta chỉ có hiệu lực, khi ta biết tha thứ cho anh chị em mình, bởi lẽ chính Thiên Chúa đã tha thứ cho ta. Nếu ta không tha thứ cho anh chị em, thì ta không nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Bài học của sự tha thứ vẫn còn vang vọng sâu rộng trong Tin Mừng: Chẳng hạn: Hình ảnh hai người lên Đền Thờ cầu nguyện. Một người được tha, còn một người thì không. Thiên Chúa luôn tha thứ cho người khiêm cung nhận ra thân phận tội lỗi của mình. Hình ảnh của anh chàng đã được ông chủ tha cho 1000 nén bạc, nhưng anh không can đảm tha thứ cho người bạn chỉ mắc nợ anh một nén bạc. Kết quả là chính anh lại không được chủ tha thứ. Xưa kia Thiên Chúa đã phán qua miệng ngôn sứ Êdêkien rằng: "Ta không muốn kẻ có tội phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối mà được sống" (Ez 33,11).

Như thế, qua bài đọc Sáng Thế cũng như trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi ta hãy có tấm lòng quảng đại, vị tha. Chỉ khi nào ta thật lòng tha thứ cho anh chị em, thì khi ấy Thiên Chúa mới tha tội cho ta mà thôi. Xin Chúa thương mở lòng trí ta, để ta biết tha thứ cho anh chị em. Nhờ đó ta đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa, bây giờ và mãi mãi.

 

Suy niệm Chúa Nhật 18 Thường Niên, C

Gv 1,2; 2,21-23; Cl 3,1-5.9-11; Lc 12,13-21

KHI ĐỒNG TIỀN LÊN NGÔI

 

Nếu nhìn vào toàn cảnh Việt Nam, người ta thấy kinh tế càng ngày càng khó khăn. Đồng tiền kiếm được đã ít ỏi lại mất giá. Giá xăng, giá điện liên tục tăng. Giá vật tư tăng theo. Giá lương thực lại thiếu bình ổn. Trong khi thông tin về tình hình kinh tế không mấy sáng sủa, thì trên các phương tiện truyền thông lại liên tục cập nhật những vụ việc đau lòng. Chẳng hạn: “Mẹ tự thiêu vì con rể nợ 2 chỉ vàng”; chuyện “Con bẻ gẫy tay mẹ vì đòi chia tài sản”...

            Ngày 8/7, báo Bà Rịa-Vũng Tàu đưa tin, người dân ở khu phố Hải Dinh, phường Kim Dinh hết sức bức xúc, việc bà Nguyễn Thị Thanh (61 tuổi) bị con gái là Đặng Thị Thủy đánh gẫy tay, phải vào bệnh viện. Bà Thanh nói: “Nỗi đau của tôi không phải ở bàn tay bị gẫy, mà ở sự hỗn hào, bất hiếu của đứa con”. Câu chuyện đau lòng hơn phải kể đến, là trường hợp cụ bà Nguyễn Thị Bương (83 tuổi), trú thôn Phước Lương, xã Hòa Xuân Tây, Đông Hòa, Phú Yên. Bà đã tự thiêu bằng xăng ngay trước bậc sảnh TAND huyện Đông Hòa, ngày 5/7. Theo người nhà cụ Bương, nhiều khả năng cụ tự thiêu, vì bức xúc chuyện người con rể chưa trả hết 3 chỉ vàng đã mượn, lại còn ngang nhiên đi lấy vợ khác.

Những câu chuyện đắng lòng ấy khiến người ta đặt câu hỏi: Phải chăng kinh tế khó khăn đã khiến tình người thêm cạn kiệt? Đành rằng cuộc sống rất cần tiền, nhưng không phải nhờ tiền mà ta sống được lâu dài hơn. Không phải nhờ giầu có mà ta sống giá trị hơn. Điều quan trọng mà Chúa muốn nhắc ta là phải làm giầu trước mặt Thiên Chúa. Làm giầu ở đây không phải là giầu của cải vật chất, mà là giầu đức hạnh, giầu việc lành bác ái.

Lòng tham của con người thì vô đáy. Nếu cuộc sống chỉ theo đuổi tính tham lam của mình, thì ta sẽ trở nên bủn xỉn keo kiệt với anh em. Nếu cuộc sống ta chỉ biết nghĩ đến mình, thì ta sẽ sống trong ốc đảo cô đơn và tuyệt vọng. Thế nhưng, con người ngày nay xem ra chỉ cần tiền. Đồng tiền là trên hết! Họ quan tâm tới tiền. Họ sống vì tiền. Họ đặt mọi quan hệ trên đồng tiền. Họ coi đồng tiền là phương tiện để họ gắn kết với nhau hơn. Thế nên, thế giới càng giầu của cải, thì tình người càng cạn kiệt. Vì tiền mà người ta phản bội nhau, lừa dối nhau và giết hại lẫn nhau. Vì tiền mà ta đánh mất tình người; và đôi khi đánh mất chính bản thân mình, đến nỗi vì tiền mà nhiều người đã sống hèn hạ, đánh mất danh dự và nhân phẩm.

Có lẽ ta không lạ gì về những câu chuyện bi thương giữa những người thân trong gia đình. Nhiều gia đình đã tàn sát nhau chỉ vì tiền. Cha mẹ bỏ rơi con cái chỉ vì tiền. Con cái sát hại cha mẹ cũng vì tiền. Vợ chồng bất trung với nhau cũng vì tiền. Quả thật! Khi đồng tiền lên ngôi, là lúc tình người đi xuống. Đề cao đồng tiền cũng đồng nghĩa với việc giảm bớt tình người. Sự khôn ngoan của Chúa mời gọi ta xét lại mình: “Nếu ngay đêm nay ta từ giã cuộc đời này, ta sẽ được gì?” Đồng tiền có mua được bạn hữu, khi ta nhắm mắt xuôi tay không? Sự gian ác, thiếu tình người, chỉ vì ta coi trọng đồng tiền, có mang ta về thế giới đời sau trong hạnh phúc không? Hay ta phải lo âu sợ hãi khi đối diện với tử thần?

Con người sinh ra, rồi sẽ chết. Nhưng khi cái chết đến, ta mang theo được điều gì? Mang theo tiền bạc hay việc lành phúc đức? Ta mang theo cái gì để đổi lấy hạnh phúc ngàn thu? Gần hết đời người rồi, mà sao ta vẫn còn nặng trĩu đôi vai kiếm tìm của cải vật chất! Lời Chúa hôm nay bảo: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó".

Ave Maria

GIÊ-RI-KHÔ

V.T

 

1. Tên gọi

Trong tiếng Hy Lạp, Giê-ri-khô được Latin  hóa là “Ierikhô”; trong tiếng Híp-ri là “Yerihô”- có nghĩa là “thành chà là” vì nơi đây trồng nhiều cây chà là. Chà là ở Giê-ri-khô nổi tiếng là sai trái và rất ngọt. Ngoài ra, các nhà ngôn ngữ học còn cho rằng tên gọi của thành này có nguồn gốc từ chữ “Reah” trong tiếng Canaan có nghĩa là “hương thơm”. Tuy nhiên, một số học giả lại có cách giải thích khác. Họ cho rằng Giê-ri-khô xuất phát từ chữ “Yareah” trong tiếng Canaan có nghĩa là “mặt trăng” hoặc từ “Yarikh” là tên vị thần trong tín ngưỡng của cư dân tại đây. Thành Giê-ri-khô nằm thấp hơn mực nước biển 260 m là một trong những thành phố thấp nhất trên thế giới có dân cư sinh sống. Thành phố cách Giê-ru-sa-lem 36 km về hướng Đông; cách biển Chết khoảng 8 km về hướng Bắc và nằm trên trục lộ đến Amman- thủ đô vương quốc Gióc-đan.

2. Trong Cựu Ước

Giê-ri-khô trong Cựu Ước tọa lạc tại địa điểm cách tây bắc thành phố Giê-ri-khô hiện nay khoảng 2 km. Trong Thánh Kinh địa danh Giê-ri-khô được đề cập trên 50. Thành này là một thành thuộc lãnh thổ chi tộc Ben-gia-min (x. Gs 18, 21), nằm đối diện đồng bằng Mô-áp (x. Ds 22, 1). Tên của thành được đặt từ tên của thung lũng gần đó (x. Đnl 34, 3) và thảo nguyên Giê-ri-khô (x. Gs 4, 13). Tên khác của thành này là Thành Chà Là (x. Đnl 34,3; Tl 3,13; 2 Sbn 28, 15). Giê-ri-khô có vị trí chiến lược quan trọng vì nằm gần sông Gio-đan và trên trục đường đến Giê-ru-sa-lem. Là thành phố quan trọng trong thung lũng Gio-đan (Ds 22,1; 34,15). Tại đây có một pháo đài quân sự- được cho rằng- kiên cố bậc nhất trong vùng đất Ca-na-an. Thành này là cửa ngõ vào phía Tây của Pa-lét-tin. Với dân tộc Ít-ra-en, biến cố đánh chiếm thắng thành Giê-ri-khô là mốc lịch sử quan trọng trong cuộc chinh phục đất Ca-na-an. Chính vì vậy, cuộc chinh phục thành này được nhắc đến và mô tả rất chi tiết nhiều hơn bất cứ thành nào khác.

Khi ở Sít-tim, ông Giô-suê gửi hai người đi do thám vùng đất Giê-ri-khô (x. Gs 2, 1). Hai người đi thám thính thành này trở về an toàn nhờ sự giúp đỡ của cô kỹ nữ tên Ra-kháp- là một tổ mẫu  được nhắc đến trong gia phả Chúa Giê-su (x. Mt 1, 4). Sau đó“Khoảng bốn mươi ngàn người được võ trang để ra trận, đi qua trước nhan Đức Chúa, để tiến đánh vùng thảo nguyên Giê-ri-khô.  ( Gs 4, 13) nhưng thành này chỉ có một cổng và được bao bọc bởi những tường thành kiên cố (x. Gs 2, 5.15). Bởi vì “Giê-ri-khô đóng kín cổng thành, phòng thủ chống lại con cái Ít-ra-en: nội bất xuất, ngoại bất nhập” (Gs 6, 1) nên con cái Ít-ra-en chưa thể chiếm được thành. Con cái Ít-ra-en bao vây thành trong bảy ngày và ngày thứ bảy các tư tế thổi còi và toàn dân  lớn tiếng hò vang khiến tường thành sụp đổ (x. Gs 6, 15.20.24). Khi chiếm được thành, con cái Ít-ra-en đã tru hiến tất cả (Gs 6,17; Lv27,28; Đnl 13, 16). Theo lệnh “họ phóng hoả đốt thành cũng như tất cả những gì trong đó; ngoại trừ vàng bạc và những đồ đồng, đồ sắt, thì người ta nộp vào kho tàng nhà Đức Chúa” (Gs 6, 24). Chỉ có cô Ra-kháp với gia đình cha cô  và mọi người thân thuộc được Giô-suê để cho sống (x. Gs 6, 25). Ông Giô-suê tuyên bố “Trước nhan Đức Chúa, khốn cho kẻ đứng lên tái thiết thành Giê-ri-khô này! Kẻ nào đào móng dựng nền, thì con đầu lòng của nó phải chết ; kẻ nào dựng cổng xây tường, thì con út của nó phải mạng vong!” (Gs 6, 26).

Một thời gian sau, vua Éc-lon của Mô-áp liên minh với người Amon và A-ma-lếch tiến quân đánh bại Ít-ra-en và chiếm lấy thành Chà Là của họ. Người Ít-ra-en làm tôi cho vua Éc-lon khoảng 18 năm (x. Tl 13, 14). Một chi tiết khá thú vị là khi bề tôi của vua Đa-vít đến chia buồn với vua Kha-nun về cái chết của vua cha là Na-khát thì bị vua Kha-nun bắt cạo một nửa râu và một nửa áo của họ cho đến mông. Vua Đa-vít báo họ ở lại Giê-ri-khô cho đến khi râu mọc rồi hãy về (x. 2 Sm 10, 1-5). Trong thời vua A-kháp (874-853), ông Khi-ên, người Bết-ên, đã xây cất lại Giê-ri-khô nhưng ông phải mất hai đứa con như lời ông Giô-suê đã nói (x. 1 V 16,34; Gs 6, 26). Ngôn sứ Ê-li-a đã lưu lại nơi thành này trước khi được đưa lên trời (x. 2 V 2, 4). Ông Ê-li-sa làm phép lạ hóa nước độc thành nước lành tại Giê-ri-khô (x. 2 V 2, 18-22). Tại Giê-ri-khô, vua Xít-ki-gia-hu bị bắt trong khi chạy trốn người Babylon vào thế kỷ VI trước công nguyên (x. 2 V 25, 5; Gr 39, 5; Ger 52, 8). Theo sách Étra  (2, 34) và Nkm (7, 36), số người hồi hương trở về Giê-ri-khô là 345 người và một số trong những người hồi hương này đã cộng tác xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem (x. Nkm 3,2). Vào cuối thời quân chủ của Ít-ra-en (thế kỷ 7-6 trước công nguyên) thành phố Giê-ri-khô được mở rộng. Tuy nhiên, Giê-ri-khô cũng cùng chịu chung với số phận của những thành phố khác ở miền Giu-đê khi bị người Babylon xâm chiếm năm 587 trước công nguyên. Trong thời lưu đày trở về, chỉ có phần nhỏ của vùng đất phía tây và bắc của Giê-ri-khô có người cư ngụ.

3. Tân Ước

Trong Tân Ước, Giê-ri-khô ở xa về phía Đông-Nam của thành Giê-ri-khô trong Cựu Ước, gần lối vào thung lũng Anchor. Chúa Giê-su đi ngang qua thành Giê-ri-khô trong hành trình lên Giê-ru-sa-lem và gặp ông Gia-kêu (x. Lc 19, 2-10). Chúa đã mang ơn cứu độ đến cho ông và gia đình. Đức Giê-su cũng chữa hai người mù ở Giê-ri-khô (x. Mt 20, 29-34; Mc 10, 46-52; Lc 18, 35). Thành Giê-ri-khô cũng là bối cảnh cho dụ ngôn người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu (x. Lc 10, 29-37).

4. Khảo cổ

Các nhà khảo cổ học đã khai quật và phát hiện các di vậtđược cho rằng của cư dân thành Giê-ri-khô ngày xưa như: các hộp khảm ngà voi, giường tủ, vật dụng sinh hoạt bằng gốm... theo những nhà chuyên môn, những vật dụng này có niên đại khoảng năm 1600 trước công nguyên. Tuy nhiên dựa vào di tích của một ngọn tháp cổ có niên đại khoảng 8000 năm mà các nhà khảo cổ học đã kết luận Giê-ri-khô là thành phổ cổ xưa nhất trên thế giới. Khoa khảo cổ học lịch sử cũng xác định toàn bộ “địa giới” của thành Giê-ri-khô trong Thánh Kinh liên quan đến hai thành phố của người Ả-rập hiện nay là Tell es-Sultan và Tulul Abu el-Alayiq. Tên thành phố Tell es-Sultan được đặt từ thời Trung cổ theo tên của một con suối chảy qua thành phố. Con suối này có tên là “Ain es-Sultan”. Thành phố mà Tân Ước nhắc đến dưới tên “He-rô-đi-a Giê-ri-khô” chính là Tulul Abu el-Alayiq ngày nay. Thành phố này nằm sát với khu vực Wadi Qelt.

5. Lịch sử

Sau khi tướng Ti-tô của quân đội Rô-ma đánh chiếm Ít-ra-en, thành Giê-ri-khô bị “suy yếu”. Khoảng năm 100 sau công nguyên, quân đội Rô-ma xây dựng tại đây một căn cứ nhỏ có lính đồn trú thường xuyên. Thành phố Giê-ri-khô bị chiếm đóng bởi Vương quốc Gióoc-đan từ năm 1949 đến 1967 và được Cộng hòa Ít-ra-en kiểm soát từ 1967 sau Cuộc Chiến Sáu ngày nổi tiếng. Tuy nhiên, việc quản lý về hành chính được chính phủ Ít-ra-en trao lại cho nhà nước Pa-lét-tin kiểm soát từ năm 1994.

6. Giê-ri-khô ngày nay

Nhờ khí hậu thuận lợi, nền nông nghiệp tại đây khá phát triển. Nông dân tại Giê-ri-khô sản xuất và cung cấp cho thị trường nhiều loại hoa quả tươi như: chuối, cam, các loại cây có múi;  và rau ăn lá và củ quanh năm; đặc biệt là Chà là Giê-ri-khô rất nổi tiếng. Dân số ở Giê-ri-khô hiện nay (2005) vào khoảng 18.346 người.

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

PHỤNG VỤ

 

Thánh lễ có được tính cách lễ hội và tôn kính nhờ qua một cái gì đó rất tuyệt vời và cao cả trong tâm linh công giáo, đó là phụng vụ. Trong phụng vụ, mỗi chữ mỗi cử chỉ đều mang một í nghĩa cá biệt, có thể nói gần như ẩn chứa một bí mật riêng. Qua phụng vụ trần gian, người tín hữu được tham dự trước – điều này cũng được công đồng Vatican II nói tới – vào “phụng vụ thiên đình”. Đây là một điểm rất quan trọng. Phụng vụ không bao giờ chỉ là cuộc lễ hội do một nhóm người tự nghĩ ra và tổ chức. Nhưng ở đây, qua sự thông phần vào việc Đức Giêsu Kitô trình diện trước mặt Thiên Chúa Cha, chúng ta luôn cùng đứng trong cộng đoàn hoàn vũ của toàn thể Giáo Hội cũng như trong cộng đoàn các Thánh. Vâng, có thể nói đây là một phụng vụ thiên đình. Cái thực sự cao cả ở đây là thiên đình mở ra, và chúng ta nhập vào ca đoàn thiên quốc. Đó là lí do mà kinh tiền tụng đã kết thúc bằng: Chúng ta cùng hát với ca đoàn các thiên thần Seraphim và Kerubim. Và ta biết, là ta không đơn độc, nhưng chúng ta đang cùng chung lời ca để thật sự xé tan đi làn ranh ngăn cách trần gian với thiên quốc. Đại giáo phụ Basilius* nhận định rằng, Thánh lễ cũng là nguồn mạc khải lớn như Kinh Thánh. Vì thế ngài cấm nghiêm nhặt không được tuỳ tiện giải thích hay cải đổi phụng vụ. Nếu phụng vụ không do con người làm ra, nhưng là một cái gì qua đó con người được kinh nghiệm với cái tuyệt vời thần linh, thì lẽ ra ta phải coi Thánh lễ cũ của đại giáo chủ Grêgôriô như là một quà tặng từ trên và không được thay đổi nó?

Vấn đề này có một vài phân cách giữa đông và tây. Chẳng hạn Giáo Hội Byzantin thừa nhận hình thái phụng vụ của thế kỉ thứ 4 và 5 với Basilius và Gioan Chrysostomos. Cũng như các Giáo Hội đông phương khác, Giáo Hội Byzantin coi đó là một quà tặng thần linh, không thể sửa đổi: Chúng ta bước vào nó, chứ không tạo ra nó (dĩ nhiên một số chi tiết cũng đã biến chuyển theo thời gian). Phương tây, trái lại, luôn có một nhạy cảm lịch sử mạnh hơn. Họ cũng nhận ra tính cách quà tặng nơi phụng vụ, nhưng quà đó đã được hội hập vào Giáo Hội sống động, và đã cùng lớn lên với Giáo Hội. Ta cũng có thể so sánh với Kinh Thánh. Đó không phải là Lời rơi thẳng từ trời xuống, nhưng là Lời đã được đưa vào lịch sử, và được cùng lớn lên với lịch sử. Vì vậy, Giáo Hội phương tây vẫn chấp nhận tính cách bất khả xâm phạm cơ bản của phụng vụ trong tổng thể nội dung và hình thức của nó, nhưng đồng thời vẫn thận trọng để cho nó lớn lên với lịch sử. Lễ quy thánh lễ Rôma giống như bên phương đông, cũng hình thành trong thế kỉ thứ 4. Sau đó, cả bên tây cũng đã nẩy sinh thêm nhiều kiểu phụng vụ, do ảnh hưởng của Pháp, của Tây-ban-nha, của Đức và tiếp theo từ nhiều nguồn khác. Mỗi quốc gia xuất hiện đều được phép góp vào tiến trình phát triển đó một phần của mình, trong đó Rôma luôn góp í một cách thận trọng và đôi khi phải chận cắt bớt những cái thái quá. Trong quá trình lớn lên này, Rôma là kẻ đã giữ phụng vụ trong hình thái cổ của nó một cách nghiêm nhặt nhất, tôi có thể nói, còn cổ hơn bên đông nữa, ít nhất là nhìn từ mô thức thần học.

Với cách đó, phụng vụ luôn sống động trong quá trình lịch sử - nhờ đó ta có thể đưa vào được những cái mới, đặc biệt các thánh mới - nhưng trong bản chất, phụng vụ vẫn luôn không đổi. Cũng vì vậy bên tây mới có thể nghĩ tới chuyện cải tổ phụng vụ. Song cải tổ không được phép cắt đứt với truyền thống, nhưng phải diễn ra trong sự quan tâm tới những phát triển sống động, cũng như phải canh chừng cái phát triển, để làm sao giữ được sự sống động. Chẳng hạn giáo chủ Piô X đã hạn chế bớt lễ kính các thánh. Ngài cũng đã nhấn mạnh trở lại ngày chủ nhật trong bộ luật của ngài và bỏ bớt những cái dư thừa trong đó. Ngay Piô V cũng đã bỏ đi một số bài ca đã len lỏi vào phụng vụ. Công đồng Vatican II cũng đứng trong quan điểm đó. Việc tiếp tục phát triển để tránh không bị xơ cứng đã thuộc vào truyền thống phụng vụ của Giáo Hội. Nhưng sự khác biệt mà tôi muốn nói ở đây là, tôi đang canh giữ một cái gì đang sinh động phát triển, và biết rằng sự sống của nó không nằm trong tay tôi - nhưng tôi phải phục vụ nó và phải để í tới quy luật nội tại của cái sống động đó - hay là tôi xem cái đó như một thứ sản phẩm con người, nó diễn tiến như kiểu theo quy luật của một chiếc máy mà tôi có thể cải biến hoặc làm khác đi.

Công đồng Vatican II hẳn có quan tâm tới những phát triển và đổi mới cơ chế. Nhưng chúng ta phải thấy rằng, ngày nay đang có nhiều khuynh hướng muốn lắp ráp thêm hoặc tháo gỡ bớt,  chuyện này không phù hợp với bản chất của phụng vụ. Không phải đơn giản các uỷ ban giáo sư tự nghĩ ra chuyện làm sao để phụng vụ được tốt hơn về mặt mục vụ, để nó được thực tế hơn hay là gì gì đi nữa. Nhưng ta phải coi xem chỗ nào cần và có thể thêm gì, chỗ nào cần và có thể bớt gì, trong sự quan tâm lớn tới khối hành trang đã có từ nhiều thế kỉ. Và đây có thể là lời cảnh cáo quan trọng đối với tất cả những ai có trách nhiệm với phụng vụ: Họ nên thi hành công tác với tinh thần phục vụ những gì đã sinh động lớn lên, những gì đã từ bao thế kỉ nay mang lại cho ta đức tin, chứ đừng nghĩ mình là những kẻ toàn năng, có thể sáng tạo hoặc chế biến ra được cái hay hơn. (Còn tiếp).

 

CHUYÊN ĐỀ:

 

LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ

 

Hành Động Của Lòng Thương Xót

THA THỨ

 

Khi nói đến hành động của lòng thương xót, ta không thể không nói đến hành động tha thứ. Vì thương xót con người tội lỗi mà Thiên Chúa tha thứ cho họ những lỗi tội mà họ đã phạm đến Ngài. Ngài tha thứ không phải là để bao che cho tội lỗi của họ, nhưng là để cho họ có cơ hội sống. Chính vì thế, khởi đầu cho sứ mạng cứu độ con người, Chúa Giêsu đã rao giảng sự sám hối, để những ai tin theo Ngài, sám hối những lỗi tội của mình thì sẽ được cứu. "Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: 'Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng'" (Mc 1,14-15). Và Gioan tẩy Giả, Vị Tiền Hô dọn đường cho Đấng Cứu Thế đã nói rất rõ. Tin Mừng ghi lại: "Ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội" Mc 1,4).

Thiên Chúa thương xót chúng ta và đã tha thứ cho chúng ta những lỗi tội, đến lượt mình, chúng ta cũng cần phải sống lòng thương xót đó đối với những anh chị em của mình, hầu có thể tha thứ cho họ những lỗi phạm mà họ gây ra. Thực vậy, việc chúng ta biết tha thứ cho người khác chính là điều kiện cần và đủ để Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta. Trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải biết tha thứ như Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta: "Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con", và Ngài nói rất rõ: "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em" Mt 6,14-15).

Khi ta không biết xót thương và tha thứ cho người khác, chúng ta sẽ phải lãnh hậu quả như tên đầy tớ trong dụ ngôn "Tên Mắc Nợ Không Biết Thương Xót", trong Matthêu chương 18 câu 23-35. Hậu quả đó là: "'Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?' Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình" (c. 32-35).

Thực vậy, tha thứ là hành động của lòng thương xót, và là một trong những bài học trọng tâm của đời sống và những giáo huấn của Chúa Giêsu. Tha thứ đóng một vai trò quan trọng cho sức khỏe tinh thần của mỗi người, vì nó chính là liều thuốc bổ để nuôi dưỡng, đồng thời cũng là bài thuốc chữa lành mỗi một mối tương quan của con người - tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình. Chính vì thế, tha thứ cũng là yếu tố cần thiết cho đời sống của bất cứ cộng đoàn lành mạnh nào, cho dù đó là một cộng đoàn nhỏ bé như gia đình, hay một cộng đoàn rộng lớn như là một quốc gia, nhất là trong một cộng đoàn giáo xứ và Giáo Hội.

Khi chúng ta tha thứ, chúng ta chia sẻ tình yêu của Thiên Chúa với những người khác, và giải thoát chính mình khỏi những độc hại làm ngăn cản chúng ta trưởng thành về đời sống thiêng liêng. Nhưng tha thứ không phải là việc dễ làm. Khó nhưng với ơn trợ giúp của Chúa, chúng ta vẫn có thể thực hiện, và đây là một đòi hỏi triệt để mà Chúa Giêsu muốn nơi mỗi người chúng ta. Tha thứ là một đòi hỏi triệt để là vì, nếu người khác xúc phạm đến chúng ta bao nhiêu lần và xin sự tha thứ, thì chúng ta phải tha thứ bấy nhiêu lần; cũng như bao nhiêu lần chúng ta phạm tội và biết ăn năn sám hối thì Thiên Chúa cũng vẫn tha thứ cho chúng ta. "Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: 'Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?' Đức Giêsu đáp: 'Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy'" (Mt 18,21-22).

Không tha thứ, chúng ta để cho tâm hồn mình đầy những sự giận dữ, oán hận, thất vọng, và băn khoăn lo lắng. Chọn lựa không tha thứ cho một ai đó giống như chúng ta chọn uống thuốc độc và mong muốn người đó phải chết. Khi chúng ta chọn không tha thứ, chúng ta quay lưng lại với Thiên Chúa.

Nếu nói tha thứ cho người khác là hành động của lòng thương xót, nhưng đó mới chỉ là mặt tiêu cực. Mặt tích cực đó là phải yêu thương họ khi chúng ta tha thứ cho họ những lỗi phạm. Trong giáo huấn của Chúa Giêsu về tha thứ, Ngài mời gọi chúng ta phải vượt lên trên sự tha thứ. Tính triệt để của lòng thương xót là: "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em" (Mt 5, 44). Tha thứ cho ai những lỗi phạm, nhưng rất có thể ta không yêu thương họ, và như thế sự tha thứ đó chưa phải là do lòng thương xót. Sự tha thứ phát xuất từ lòng thương xót, đó phải là vì yêu thương.

Yêu thương, tha thứ cho những người lỗi phạm đến mình, và cầu nguyện cho họ là một thách đố quyết liệt mà Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta. Đây là một thực hành tâm linh, và có thể nói là đặc tính của người Kitô hữu, những người môn đệ của Ngài. Vậy chúng ta đã, đang và sẽ thực hành và sống đặc tính của mình như thế nào trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này, và trong suốt hành trình đời sống của chúng ta trong tương quan với những người sống chung quanh mình?

Hương Quê

 

NGỌT NGÀO HAI TIẾNG “XÓT THƯƠNG”

Đóa Hoa Vô Thường

 

Trong tông huấn “Dung Nhan Lòng Thương Xót” (Misericordia Vultus), Đức Giáo hoàng Phanxicô đã mời gọi mọi người rộng mở tâm hồn, để chiêm ngắm khuôn mặt của Thiên Chúa. Xét về ngôn ngữ, chữ “misericordia” được kết hợp từ hai chữ “miseri” và “cor”. Chữ “miseri” nghĩa là “người nghèo, người đau khổ”; và chữ “cor” nghĩa là “trái tim”. Qua đó, Đức Giáo hoàng muốn diễn tả khuôn mặt của Thiên Chúa được biểu lộ qua Trái Tim cực thánh của Ngài, một Trái Tim nhân lành, luôn yêu thương những người nghèo khổ và tội nhân. Vậy thử hỏi, trong thế gian này, có ai mà không là tội nhân, có ai mà không gặp khổ đau? Vì thế, mỗi người đều là đối tượng trực tiếp, cụ thể và rất riêng biệt cho lòng thương xót của Thiên Chúa. Đúng như lời Thánh Vịnh, ta vẫn thường hát: “Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu. Người chậm giận và chan chứa tình thương. Người không xử với ta như ta đáng tội, và không trả cho ta theo lỗi của ta” (Tv 103, 8-10).

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã trân trọng chia sẻ lòng thương xót của Thiên Chúa cho các thính giả đang chăm chú lắng nghe: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Mới nghe qua câu này, ta thấy vấn đề thương xót mà Chúa Giêsu nói thật quá đơn giản, theo kiểu: “Bánh ít đi, thì bánh qui lại”. Nghĩa là sự thương xót có mối liên hệ hỗ tương hai chiều: “Có qua có lại, mới toại lòng nhau”. Nhưng suy nghĩ kĩ, ta thấy vấn đề xót thương không đơn giản như thế, vì đây là “Con đường hẹp”, con đường chông gai, không phải ai cũng dễ đi qua. Để đi qua “Con đường hẹp” này, tôi nghĩ có ba bước.

Bước thứ nhất: là biết xót thương chính mình. Kinh nghiệm cho thấy, đôi khi ta quá nghiêm khắc với bản thân. Ta cứ xát muối vào vết thương lòng. Ta luôn “gặm nhấm” những lỗi lầm của ta. Ta cho rằng cả thế giới này đều biết lỗi lầm của ta và khinh bỉ ta. Thực vậy, tôi thấy nhiều người sau khi đã xưng tội, mà họ vẫn còn bối rối lương tâm, và hay cắn rứt về những tội mà họ đã xưng thú. Kết quả là, họ tự làm khổ họ và có khi còn làm khổ cả những người chung quanh. Qua đó, cũng chứng tỏ rằng: họ chưa thực sự tin vào quyền năng tha thứ và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Ta nên biết điều này, tội lỗi trong đời mình tuy rất nhiều, nhưng đó cũng chỉ là “những viên gạch không được trật tự” giữa hàng trăm hàng ngàn viên gạch khác, đã-đang-và-sẽ được xây lên một cách hoàn hảo trong cuộc đời mình. Xưa kia vua thánh Đavit đã cảm nghiệm về “những viên gạch không được trật tự” ấy, khi ngài thưa với Chúa: “Lạy Chúa! Ngày mới sinh, con đã mắc tội rồi. Trong lòng mẹ, con đã là bất chính” (Tv 50). Đó là một sự thật trần trụi về mỗi con người. Ta rất đáng thương và cần được xót thương. Sự thương xót ấy phải được khởi đi từ chính bản thân mình, một con người rất yếu đuối và hoàn toàn bất lực khi phải đương đầu với tội lỗi. Vì thế, nếu mình không biết xót thương và tha thứ cho chính mình, thì ai, và ngay cả Thiên Chúa, cũng không thể nào xót thương mình được, vì cánh cửa lòng ta đã đóng kín!

Có thể nói, biết xót thương mình, là bước khởi đầu rất quan trọng trên đường nên thánh. Nhờ đó ta mới dễ dàng tha thứ cho chính mình và xót thương nhau. Nói cách khác, ta sẽ không thể xót thương người khác được, nếu ta chưa có kinh nghiệm xót thương chính mình. Có lần Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Thầy cầu nguyện cho con, để đức tin của con không bị lạc mất. Phần con, sau khi đã chỗi dậy, con hãy củng cố anh em con” (Lc 22, 32-34). Vậy, ta hãy cảm ơn về “những viên gạch không được trật tự” của mình và hãy xót thương chính mình. Nhờ có cảm nghiệm thương xót này, ta sẽ hiểu rõ hơn về thân phận con người, về bản thân, về người khác. Đó là bước thứ nhất, để ta nên thánh trên đường thương xót.

Bước thứ hai: là biết xót thương nhau. Khi nói đến sự xót thương, có lẽ ta cần học biết một chút về kĩ thuật thương xót; vì nếu không, ta cũng khó lòng mà xót thương nhau. Một trong những kĩ thuật ấy là học nhìn điểm tích cực nơi người khác. Là con người, ai cũng có những ưu điểm và khuyết điểm, có tính tốt và tính xấu, có điều tích cực và cả những điều tiêu cực. Nhưng vì ta thường bỏ qua những điểm tốt của nhau, có thể vì ta vô tình không biết, hay là cố tình “giấu nhẹm” điểm tốt của nhau, nên cách nhìn đời và nhìn người của ta cũng vì thế mà thay đổi.

Một đôi nam nữ khi mới yêu nhau, họ thường chỉ thấy điểm tốt của nhau; và họ quyết định đi đến hôn nhân. Có thể họ cũng biết một số tật xấu của nhau, nhưng họ rất dễ bỏ qua cho nhau. Nhưng khi về chung sống với nhau, thì những suy nghĩ tiêu cực lại dần dần chiếm chỗ, thậm chí lấn át cả những suy nghĩ tích cực về người mình yêu. Từ đó, những cãi vã, giận hờn bắt đầu xuất hiện. Những điều tiêu cực bé nhỏ ngày nào, giờ đây dường như mỗi ngày một lớn hơn những điều tích cực. Nếu không biết xót thương nhau, thì đến một lúc nào đó, con người mà mình một thời yêu thương sẽ trở thành gánh nặng cho cuộc đời mình. Từ đó, thay vì tìm điểm tốt của nhau và khích lệ nhau sống tốt, thì họ chỉ thấy điểm xấu của nhau và chỉ trích nhau. Đó là hậu quả của cái nhìn tiêu cực về người khác. Đó cũng là hậu quả của việc không học kĩ thuật xót thương và tha thứ cho nhau.

Thực vậy! Khi ta xót thương ai, thì hành động ấy không chỉ có tác dụng giữa ta và người ấy, mà còn ảnh hưởng rất lớn trong mối quan hệ xã hội. Biết đâu nhờ thái độ thương xót của ta với ai đó, mà ta có thể góp phần vào hạnh phúc của họ và gia đình họ! Biết đâu hành động thương xót của ta hôm nay, sẽ giúp cho ai đó có một giấc ngủ ngon, thậm chí là giúp họ đổi đời, đổi mới nhiều người khác! Như thế, việc thương xót người khác không chỉ ảnh hưởng giữa ta và người ấy, nhưng còn là hành động trao ban cho nhiều người một món quà, tạo cho xã hội một sức sống mới. Đồng thời ta cho họ một niềm hi vọng và niềm tin vào cuộc đời. Ta cho họ biết rằng lòng thương xót vẫn còn hiện diện cụ thể ở đây, lúc này, trong một thế giới có quá nhiều hận thù và thiếu bao dung. Đó là bước thứ hai, để ta nên thánh trên đường thương xót.

Bước thứ ba: là hãy để cho Thiên Chúa xót thương mình. Kinh nghiệm đời sống nội tâm cho ta hiểu điều này: Nhiều lúc ta rất mệt mỏi và chán chường khi đi tìm Thiên Chúa. Nhưng cho dù ta có mệt mỏi khi đi tìm Thiên Chúa, thì Thiên Chúa cũng không bao giờ mệt mỏi đi kiếm tìm ta. Đó chính là cái nghịch lí làm cho ta đau khổ. Tại sao vậy? Thưa vì ta không chấp nhận để cho Thiên Chúa nhìn ta là con của Ngài. Ta không tin tưởng vào sự bao dung và tha thứ của Thiên Chúa. Ta không cảm nếm được Ơn Thương Xót của Chúa. Trái lại, ta chỉ thấy nơi ta toàn là “những viên gạch không được trật tự” và sự kết án nghiêm khắc của chính mình; và đó đây là “những ánh mắt hình viên đạn” của người khác đang ghim vào mình, kể cả “sự vắng mặt đến lạ lùng” của Thiên Chúa: “Lạy Chúa, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

Thomas Merton đã nói: “Đối với thánh nhân, khi nhớ đến tội của mình, thì họ không chỉ nhớ đến tội, nhưng trên hết mọi sự, họ nhớ đến lòng thương xót của Chúa. Vì thế, những yếu đuối và tội lỗi của ta ngày hôm qua, sẽ biến thành ân phúc và niềm vui cho ta trong ngày hôm nay, ở chính giây phút này”.

Đức Hồng Y Fulton Sheen cũng nói: “Mai đây khi diện kiến Thiên Chúa, có ba điều làm cho ta hết sức ngạc nhiên: (1) Có những người ta tưởng là họ sẽ lên Thiên Đàng, nhưng ta không thấy họ ở đó. (2) Có những người ta không bao giờ nghĩ là họ có thể được vào Thiên Đàng, nhưng họ lại có mặt ở đó. (3) Và cuối cùng, ta cũng sẽ hết sức ngạc nhiên, khi thấy mình ở trên Thiên Đàng, chỉ vì ta luôn tín thác vào lòng Thương Xót của Chúa”.

Tiên tri Isaia đã nói: “Liệu người mẹ nào có thể quên đứa con của mình?… Nhưng cho dù người mẹ ấy có quên nó đi chăng nữa, thì Ta, Ta sẽ không bao giờ quên con” (Is 49, 15). Những chia sẻ trên đây, hi vọng sẽ góp phần củng cố lòng tín thác của ta vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì thế cho dù cả thế giới này chỉ là sự gian dối và bất công, thì ta vẫn tin một điều là: Thiên Chúa không bao giờ làm ngơ khi ta gục đầu van xin lòng thương xót của Ngài. Đó là bước thứ ba, để ta nên thánh trên đường thương xót.

Một vài hình ảnh minh họa cho ba bước đường thương xót: Trong Kinh thánh có khá nhiều những cặp đối xứng về lòng xót thương. Ở đây tôi chỉ xin đưa ra 3 cặp đối xứng.

1- Cặp đối xứng thứ nhất: là hai người lên đền thờ cầu nguyện (Lc 18, 9-14). Người thu thuế và người biệt phái. Người thu thuế đã trải nghiệm 3 bước đường thương xót: Anh xót thương mình là kẻ tội lỗi cần được thứ tha. Anh cũng cần sự thương xót của mọi người. Anh đặt hi vọng đời anh vào lòng thương xót của Chúa. Còn người biệt phái thì không đi qua 3 bước đường ấy: Anh không xót thương mình; chẳng xót thương ai; và cũng không cần đến lòng thương xót của Chúa. Kết quả câu chuyện ấy như thế nào, ta đã biết.

2- Cặp đối xứng thứ hai là Tông đồ Phêrô và Giuđa (Mt 26; 27). Cả hai ông đều phản bội Thầy mình. Nhưng cách hành xử của họ sau đó lại rất khác nhau. Phêrô đã trải lòng mình ra qua 3 bước đường thương xót: Phêrô ý thức mình là kẻ phản bội, nên Phêrô đã thương xót mình và ăn năn khóc lóc. Phêrô cũng tin vào sự thương xót và bao dung của anh em Tông đồ. Phêrô hoàn toàn tín thác vào Chúa. Còn Giuđa, anh không thương mình, cũng chẳng để ai thương anh, kể cả Thiên Chúa. Kết quả câu chuyện ấy như thế nào, ta đã biết.

3- Cặp đối xứng thứ ba là hai tên trộm cùng bị đóng đinh trên thập giá (Lc 23, 39-43). Tên trộm lành đã đi qua 3 bước đường thương xót: Anh thương xót cho một đời tội lỗi của anh. Anh cũng thương xót cho người bạn tội lỗi cùng chịu đóng đinh với mình. Anh đặt niềm tín thác vào lòng Chúa xót thương. Còn tên trộm kia đã không chấp nhận đi vào con đường thương xót. Kết quả câu chuyện ấy như thế nào, ta đã biết.

Tóm lại, lộ trình thương xót luôn có 3 bước: Trước hết, sự xót thương phải khởi đi từ chính bản thân mình (biết xót thương mình). Kế đến, sự xót thương phải lan tỏa đến hết mọi người (biết xót thương nhau). Sau cùng, sự xót thương qui hướng về chính Thiên Chúa, là Người Cha rất giầu lòng thương xót (hãy để cho Chúa xót thương). Trên lộ trình xót thương ấy, ta đi với niềm tin và hi vọng. Ta tin rằng Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về bất cứ ai, vì mỗi người đều là con của Chúa và được Chúa cứu độ. Ta hi vọng và tín thác vào Chúa, vì Chúa chẳng bỏ rơi ai bao giờ (x. Is 49, 15).

Có thể nói, sự xót thương của Chúa đã trở thành chiếc cầu nối thật kì diệu, dẫn đưa từng bước chân hoang đàng của ta gần lại với Thiên Chúa, với con người và với chính mình. Cầu chúc mọi người vững tâm đi vào con đường thương xót, để nhận sự chúc lành của Thiên Chúa: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

 

XÓT THƯƠNG

“Vì xưa Ta đói cho ăn

Khát cho nước uống, mình trần mặc cho

Khách lạ tiếp rước, chăm lo

Yếu đau thăm viếng, ngồi tù hỏi han

Các ngươi lòng biết xót thương

Phúc ân đáng hưởng Thiên đường hôm nay

Chúa ơi! Đâu Chúa thế này?

Mà sao Chúa nói: ngươi đây đã làm

Đức Chúa liền đáp lại rằng

Ai làm cho kẻ khốn thương như vầy

Là làm cho chính Ta đây

Bởi Ta luôn ở, ngày ngày hiện thân

Nơi người cùng khổ thế trần

Xem lòng trắc ẩn, cảm thông chân thành…”

    Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

 

MỐI PHÚC THỨ 5

 “Phúc thay ai có xót thương người,

vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”

 

1- Từ ngữ:

Từ “thương xót” trong tiếng Việt được chuyển ngữ từ từ tiếng Anh “mercy” và tiếng Pháp “miséricorde”. Những từ này có nguyên ngữ trong tiếng Latin là “misericordia, được cấu tạo từ “misereri” và “cor”. Trong đó “misereri” có nghĩa là “thương xót” “cor” có nghĩa là“con tim”. Lòng thương xót là nhân đức của con tim biết nhận thức chia sẻ sự khốn cùng của người khác để giúp đỡ người đó. Trong Thánh Kinh, lòng thương xót dùng để chỉ thuộc tính tối cao của Thiên Chúa[1]. Lòng thương xót diễn tả bản chất của Thiên Chúa, bản chất của con người và tương quan giữa Thiên Chúa với con người (x. Misericodia Vultus, 1).

2- Ý nghĩa

Mối phúc này cũng như các mối phúc khác, là một câu bao gồm 2 mệnh đề: điều kiện thực thi và phần thưởng.Theo người viết, thực ra hai vế này là một hành động duy nhất. Một khi làm tốt mệnh đề một, sẽ được mệnh đề hai. Hai vế có một mối quan hệ hỗ tương khắng khít.

a. “Họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”.

Lòng thương xót là một định nghĩa diễn tả tình yêu trong mối tương quan giữa Thiên Chúa - Đấng Sáng tạo và con người - loài thụ tạo; và giữa con người với nhau. Lòng thương xót của Thiên Chúa là một ơn Thiên Chúa ban nhưng không, không cần điều kiện từ con người; và nó phát xuất từ Thiên Chúa. Thực vậy, dù con người sa ngã phạm tội nhưng Ngài không bỏ rơi con người. Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót, tha thứ của Ngài ngay khi “trừng phạt”. Với ông bà nguyên tổ dù bị đuổi khỏi vườn “địa đàng” nhưng chính ngay lúc đó Thiên Chúa cũng đã hứa ban Đấng Cứu độ đến cứu chuộc con người (x.St 3,5). Hay, ngay khi phạt Cain vì hành động giết Abel, em mình, hành động tội ác giết người đầu tiên, thì Thiên Chúa cũng tỏ lòng thương xót đối với Cain khi Ngài hứa che chở Cain (x.St 4,5). Hoặc, khi phạt lụt đại hồng thủy thì Thiên Chúa cũng hứa sẽ không bao giờ hủy diệt con người (x.St 8,21; St 9,9-11.27). Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và luôn tha thứ. Ngày nay, nhiều nhà chuyên môn đã có một hướng nhìn mới về dụ ngôn được thánh sử Luca trình bày trong Lc 15,11-32. Trước đây, dụ ngôn này thường được nhắc đến với “tiêu đề” là “người Cha nhân hậu” hay “Đứa con hoang đàng”. Hiện nay thì không ít người xem đây là dụ ngôn “Người cha phung phí”. Ông đã phung phí tình thương. Ông đã phung phí lòng thương xót với hai người con của mình. Hành động của người Cha là một sự phung phí cách vô lý, một sự thương xót quá độ. Phung phí đến cách không thể lý giải được. Người Cha ấy chính là hình ảnh về Thiên Chúa giàu lòng thương xót mà Chúa Giêsu muốn trình bày. Thiên Chúa là hiền phụ chứ không phải là người Cha nghiêm minh và hà khắc với con cái mình. Thiên Chúa yêu thương con người là thế nhưng con người đối với nhau thì sao?

b. “phúc cho ai xót thương người”

Người Kitô hữu phải làm cho lòng thương xót của Thiên Chúa được thể hiện và thực hiện trong chính đời sống mình. Không phải chỉ kêu gọi, trình bày bằng lý thuyết mà thôi nhưng quan trọng hơn là phải hiện thực hóa, hiện tại hóa những lý thuyết ấy. Phải nên chứng tá cho lòng thương xót của Thiên Chúa qua lời rao giảng và hành động. Đức Giáo hoàng Phanxicô luôn kêu gọi “Bất cứ nơi đâu có con người, Giáo Hội đều được kêu gọi hãy đến với họ và mang cho họ niềm vui Tin Mừng, lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa” (ĐGH Phanxicô, Bài giảng khai mạc năm thánh Lòng thương xót tại quảng trường thánh Phêrô, Rôma, 08.12.2015).

c. Một số trở ngại

“Xót thương người”: xem ra điều này tưởng chừng đơn giản nhưng thật khó thực hiện. Nhiều nhà tu đức vẫn nói: Con đường dài nhất là con đường từ con tim đến bàn tay. Chúng ta vẫn chưa có con tim yêu thương, tấm lòng thương xót thì khó có thể mở ra đến với anh chị em. Mà nguyên nhân chính yếu là chúng ta chưa cảm nhận được lòng thương xót mà Thiên Chúa dành cho chính mình. Đôi khi, chúng ta thường hay làm ngơ trước những Lời nhắc nhở của Chúa Giêsu, sống và rơi vào tuyệt vọng, thiếu tin tưởng vào sự tha thứ của Thiên Chúa. Khi ấy, người Kitô hữu đã vô hình biến mình thành người anh cả trong dụ ngôn của Lc 15,11-32.Chúng ta đã đi hoang trong tâm hồn như người anh cả ấy. Con tim biết xót thương trong chúng ta đã chết. Trái tim ấy không còn đập và rung lên những nhịp đập yêu thương. Trái tim ấy bị lấp đầy bởi những ích kỷ nhỏ nhen, những vun vén ích kỷ cá nhân nên đâu còn “khoang trống” để hướng đến anh chị em chung quanh. Chúng ta sống với anh chị em bằng một tâm hồn hẹp hòi, kết án và khép kín. Sống gần bên những anh em đau khổ nhưng tâm hồn lại xa cách biết bao. Không quan tâm nên chẳng thể hiểu được tâm tư, nguyện vọng, thao thức của anh chị em đang cần đến chúng ta.

Thứ đến, con người ngày nay chỉ biết nghĩ đến mình, chủ nghĩa ích kỷ, cá nhân đã ngấm ngầm ăn sâu vào đời sống khiến chúng ta không còn khả năng nhận biết đau khổ của anh chị em và nhạy bén đến với họ. Trong thực tế không ít lần, người Kitô hữu đã vô tâm, vô cảm, dửng dưng và làm ngơ trước những nỗi thống khổ của anh chị em mình. Những nỗi  thống khổ không chỉ về vật chất nhưng còn là những vết thương tâm hồn. Những anh chị em ấy cần lắm một bàn tay vỗ về, một câu nói khích lệ, một nụ cười cảm thông nhưng chúng ta lại quá “keo kiệt” đến nỗi không thể trao tặng những điều không tốn sức và rất dễ ấy. Và, một quan niệm lệch lạc cố hữu: chúng ta thường hài lòng với vài kinh nguyện, tham dự thánh lễ Chúa nhật cách lơ đãng vài cử chỉ bác ái nhưng không có cam đảm để ra khỏi mình mang Chúa Kitô đến với người khác (x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Yết kiến chung 27.3.2013). Do đó, dù chúng ta biết nhưng vẫn không hành động. Nghe và nghĩ về điều phải làm nhưng không dám dấn thân vào cuộc sống. Nhưng làm thế nào để có thể có được thái độ và hành động đến với anh chị em cần giúp đỡ?

d. Thực hành

Một điều quan trọng là phải thực sự cảm nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa trong chính cuộc sống của mình. Người Kitô hữu cần khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi, để có thể xác tín về lòng thương xót và sự tha thứ mà Thiên Chúa dành cho mình vì “Thiên Chúa không mỏi mệt để tha thứ, chính chúng ta mới mỏi mệt để van xin lòng nhân từ của Người” (ĐGH Phanxicô, Evangelii Gaudium, 3). Chúng ta cần học người thu thuế biết đấm ngực ăn năn: “Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,9-14). Chúng ta cần “liên tục chiêm ngắm mầu nhiệm của lòng thương xót” (MV 2) để có thể đi vào, sống  và bước theo Đức Kitô trong mầu nhiệm vượt qua để được biến đổi nên con người mới trong Đức Kitô. Khi đó, chúng ta có thể ra khỏi mình, ra khỏi lối sống đức tin mệt mỏi và nhàm chán bằng chính các phương thế mà Giáo Hội “dọn sẵn” cho con cái mình “sống trong Giáo hội, chúng ta có cơ hội để gặp Chúa qua các bí tích, qua lời Chúa và làm cho chúng ta sống trong tình bác ái, trong tình thương của Thiên Chúa đối với mọi người” (Đức Giáo hoàng Phanxicô, Yết kiến chung ngày 02.10.2013). Được như vậy, người Kitô hữu sẽ phải luôn biết “nhạy bén” lắng nghe, sống và nói lại lời thương xót của Chúa đã nói với mình đến những người mình gặp gỡ, tiếp xúc. “Chính khi làm như vậy mà chúng ta có thể chiêm ngắm lòng thương xót của Thiên Chúa và mới có thể biến lòng thương xót của Ngài thành phong cách sống của chúng ta” (MV 13).

Người Kitô hữu “phải chọn lựa cho mình thái độ giống như Con Thiên Chúa, Đấng vẫn hằng đến gặp gỡ tất cả mọi người, không loại trừ ai” (MV 12). Chúng ta cần phá bỏ những bức tường ngăn cách, chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ để quảng đại cho đi. Cũng cần tập đặt mình vào vị trí của anh chị em đang gặp đau khổ để có cách nhìn, lối suy nghĩ và con tim cảm xúc giống như họ để có thể chung kinh nghiệm về kiếp người như chính Chúa Giêsu đã làm khi xưa. Ngài có sự quan tâm đến tất cả mọi người nhất là những người có “hoàn cảnh đặc biệt”, những người bị loại trừ, bị gạt ra ngoài xã hội bởi chính những người có thế lực, những người giàu có và ngay chính những người lãnh đạo tôn giáo. Họ là những người nghèo khổ (x.Lc 4,18; Lc 7,2), người bị xem là “tội lỗi ê chề” (x.Lc 7,34; Ga 8,1-11), người bệnh tật (x.Lc 5,12-13; Lc 17,12-14) và cả những người phụ nữ và trẻ em nữa, thành phần bị xem là cùng đinh của xã hội Do Thái (x.Mt 19,14-15; Mc 10,17-22; Lc 18,18-23; Ga 4,27; Ga 8,10-11) vì“những người ấy cần được xoa dịu các vết thương bằng thứ dầu an ủi, để băng bó chúng bằng lòng thương xót và chăm sóc chúng bằng tình liên đới và sự quan tâm” (MV 15).

Kết luận

Một khi chúng ta khiêm tốn nhận ra rằng mình đã nhận quá nhiều từ lòng thương xót của Thiên Chúa, thì tới lượt mình chúng ta sẽ dễ dàng sống lòng thương xót ấy với anh chị em của mình. Họ là những người cần được quan tâm, đón nhận và nâng đỡ. “Bắt chước Đức Kitô trong việc ra khỏi mình và đến gặp người khác. Để đức Kitô nên trung tâm điểm đời sống chúng ta thì chúng ta sẽ ra khỏi mình và mở lòng mình cho người khác” (Bài  huấn dụ của Đức thánh Cha dành cho các tham dự viên trong Đại hội quốc tế về giáo lý, 27.9.2013.)  Noi gương Chúa, chúng ta được mời gọi để mạnh dạn ra đi trở thành những người bạn của những người đau khổ, lắng nghe, hiểu, đón nhận và mang lại niềm an ủi, hy vọng, bình an và niềm tin cho họ (x.MV số 13).  Khi đó, chính tình yêu trong Đức Kitô sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta đến với anh chị em. Nhờ đó, chúng ta sẽ dễ dàng để mở mắt và nhìn thực tại này với những cảnh đời bằng đôi mắt của Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Được như thế chúng ta sẽ dễ dàng để mở con tim để cùng đồng cảm và đập những nhịp đập yêu thương, sống cùng những thao thức, khó khăn của anh chị em mình và mở đôi tay xoa dịu những vết thương, nỗi đau của anh chị em mình. Như thế con đường từ con tim đến đôi tay sẽ không còn xa nữa và như thế thật là “phúc cho những ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”.

                                                                                        V.T

 

HƯƠNG THƠM

CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

 

1- Tôi và người bạn vào một quán phở nổi tiếng gần thành phố Venise, nước Ý. Cùng lúc, có một ông bước vào ngồi bàn bên cạnh và gọi anh hầu bàn: một tô phở, và "ủng hộ một tô". Chúng tôi quan sát thấy ông ấy ăn 1 tô phở, nhưng trả tiền cho 2 tô. Khi ông rời quán, anh hầu bàn dán lên tường một mảnh giấy có ghi hàng chữ "ủng hộ một tô". Tiếp đó, có hai bà vào quán và gọi : 2 tô trên bàn và "ủng hộ một tô". Họ ăn 2 tô, nhưng trả tiền cho 3 tô, rồi rời quán. Lần này cũng vậy, anh hầu bàn dán lên tường một mảnh giấy có ghi hàng chữ "ủng hộ một tô". Chúng tôi thấy lạ, nên quan sát tìm hiểu. Một cụ già tiều tụy, ăn mặc tồi tàn bước vào, nhìn lên tường và gọi "một tô ủng hộ". Anh hầu bàn liền mang phở đến cho cụ với tất cả sự trân trọng. Cụ ăn xong, rời quán mà không trả tiền. Anh hầu bàn gỡ một mảnh giấy trên tường và loại bỏ. Giờ thì chúng tôi đã hiểu. Sự tôn trọng và yêu thương tuyệt vời dành cho người nghèo được thể hiện bởi những người đến ăn phở, đã khiến chúng tôi cảm kích và khâm phục. Người nghèo, đói, khổ vào quán ăn mà không phải hạ thấp lòng tự trọng. Họ không cần ngả tay xin tiền kiếm ăn. Họ không cần hỏi hay biết về người ủng hộ tô phở, chỉ nhìn vào bức tường và gọi. Một sáng kiến tuyệt vời. Có lẽ đây là bức tường đẹp nhất mà chúng tôi từng nhìn thấy.

2- Con mắt là cửa sổ tâm hồn. Chúa nhìn đám đông, quan tâm đến số phận từng người. Từ ánh mắt đến trái tim: Ngài biểu tỏ tình thương bằng các việc làm cụ thể thiết thực: an ủi, đồng cảm, chữa lành, nuôi dưỡng; nhất là vui lòng chết thay cho nhân loại khốn cùng. Thập giá là tột đỉnh hy sinh (x Pl 2,7), là cao điểm tình yêu hy hiến của Ngài (x Ga 15,13). Ngài đã  "thương xót như Chúa Cha " (Lc 6,36). Ngài còn giới thiệu một mẫu gương, một tấm lòng vàng, để ta bắt chước noi theo; đó là một người Samaria đi đường, đã thấy kẻ khốn khổ và chạnh lòng thương” (Lc 10,33), bèn lăn xả vào mà trợ giúp. "Hãy đi, và làm như vậy” (Lc 10,37).

3- Oái oăm thay, căn bệnh ung thư bất trị của xã hội xưa nay là ích kỷ, chai lương tâm (x Gl 6,2; Pl 2,21). Sự dữ lớn nhất trên thế giới là dửng dưng hờ hửng, vô cảm vô tâm đối với người xung quanh. Đó là điều mà Chúa nêu bật khi kể dụ ngôn "người giàu có và anh nghèo khó Ladarô" (x Lc 16,19-31). Ông nhà giàu đã phạm tội gì đến độ phải chịu khổ hình trầm luân trong âm phủ? Thưa, đó là tội nhắm mắt làm ngơ trước anh Ladarô nghèo khổ đói rách, nằm bẹp nơi cổng nhà mình. Chỉ có con vật mới có thể quay lưng trước nỗi khổ của con người, để chăm sóc bộ lông của nó. Thế nhưng bầy chó của đại gia đã biết liếm láp xoa dịu ghẻ chốc lở loét của anh Ladarô liệt lào đói khổ. Chỉ vài bước chân thôi, chỉ một ánh mắt liếc nhìn, chỉ một bàn tay chìa ra, sao mà khó đến vậy? Âu cũng chỉ vì ông nhà giàu mắc bệnh vô cảm bất nhân, lương tâm ông đã chai lì, trái tim ông đã khô đét cứng đờ. Bởi vậy, "Anh em phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu... Đồ ngốc, nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?" (Lc 12,5.20). Ra đời hai tay trắng; lìa đời trắng hai tay; sao mãi nhặt cho đầy, túi đời như mây bay!

3- Sống đạo không chỉ là đọc kinh cầu nguyện, ăn chay hãm mình kiêng thịt, mà còn là và nhất là phải tích cực thể hiện đức tin qua các việc bác ái cụ thể: "Hãy bán tài sản mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá" (Lc 12,32). Người đời đề cao giá trị vô song của đồng tiền: có tiền mua tiên cũng được; tiền là chìa khóa mở được mọi cánh cửa. Nhưng cánh cửa thiên đàng chỉ mở được, không phải nhờ chìa khóa vàng có đính kim cương đá quý, mà bằng tấm lòng vàng của bác ái yêu thương. Lòng thương xót là thẻ visa có giá trị nhất cho phép ta nhập cảnh vào Nước Trời vĩnh phúc; lòng thương xót là tiêu chuẩn nhận diện con cái đích thực của Chúa; và vào buổi xế chiều của đời sống, mọi người sẽ được xét xử và thưởng phạt căn cứ vào tình yêu (x Mt 25,31-46). Cái gì ở trong túi bạn không quan trọng; quan trọng là cái gì ở trong tim bạn. Không phải tiền bạc hay danh tiếng, mà chính tình yêu và lòng thương xót mới là thứ quý nhất, lớn nhất của cuộc sống. Tình yêu có đôi mắt nhân ái để thấy nỗi bất hạnh và khốn đốn của cận thân; có đôi tai để nghe tiếng thở than rên rỉ ai oán buồn phiền của tha nhân; có đôi chân kịp thời viếng thăm cứu giúp họ. Bàn tay tặng hoa thì phảng phất mùi thơm. Bàn tay quảng đại trao ban các việc làm tốt đẹp của lòng thương xót, thì thơm ngát lừng hương biết chừng nào! Đó là bàn tay đẹp, bàn tay thánh!

Hạt Cải

 

TÌNH YÊU VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT

Sơn Nữ Phà Ca

           

Trong tình yêu đời thường, ngoài sự rung động của trái tim, người đàn bà con gái hay lấy lòng thương xót của mình ra, để tìm hiểu và suy xét về người đàn ông con trai đang tỏ ý yêu họ tha thiết. Chính vì lòng thương xót này đã khiến cho các cô nàng dễ dàng chấp nhận. Dễ dàng tha thứ. Có khi còn dễ dàng đi tới chuyện cho đi tất cả. Ca mình rất hên! Ca không bị anh ấy lợi dụng gì cả, ngược lại Ca mình còn được anh ấy yêu một cách say đắm và được cưới về làm vợ nữa chứ. Khổ thay! Ca lấy chồng vì lòng thương xót anh ấy chiếm hết 80%. Còn lại 20% gọi là tình yêu thì ‘hên – xui’ và tùy vào ngày hôm đó nước dưới sông đang rong hay đang cạn, cũng như tùy vào bầu trời đêm này có trăng sao lấp lánh trên cao, hay hoàn toàn không có lấp lánh sao trăng. Và, chuyện lòng, có từ lòng thương xót của Ca, xin kể cho quí vị và các bạn nghe như sau:

            Thuở ấy, chồng của Ca vừa đẹp trai vừa học cao hiểu rộng khó có ai dạy chung trong trường đại học với anh mà bì kịp. Vậy mà anh lại đi thầm yêu Ca, một cô nàng làm thư ký nghiêm túc trong Phòng Đào Tạo của trường, nơi anh thường lui tới. Thời gian trôi nhanh, mới đó đã có năm năm anh yêu Ca như điên như dại! Còn Ca, Ca có năm năm Ca ghét cay ghét đắng anh! Ai biểu mỗi lần có dịp đối diện với Ca, anh ấy cứ hay nhìn Ca với ánh mắt tinh ranh của con mèo to xác cố ý rình bắt cho được một con chuột nhỏ xíu tội tình làm chi. Cho đến một ngày, được tin anh đi nằm bệnh viện vì bệnh cao huyết áp làm anh bị choáng người suốt ngày, chữa hoài không khỏi hẳn. Lòng thương xót anh trong Ca bỗng dậy bừng lên. Và, Ca đã thu xếp đi tới bệnh viện thăm anh.

            Vừa nhìn thấy Ca đứng gần bên giường bệnh, nước mắt anh trào ra và cứ thế, nước mắt anh tiếp tục lăn dài theo hai bên khóe mắt anh khép kín. Ai bảo nước mắt của người đàn ông không có giá trị làm xiêu lòng người phụ nữ, giống như người phụ nữ hay dùng nước mắt của mình để đánh ‘sập tiệm’ các đại gia hôm nay, hay đã từng làm ‘rung rinh’ đền đài vua chúa ngày xưa kia, thì lầm chết đi được! Và, thế là Ca đã lên xe hoa cùng anh, sau buổi Lễ Hôn Phối long trọng, với sự chứng kiến của đôi bên gia đình.

            Về làm vợ anh rồi, Ca mới khám phá ra anh còn một thú đam mê khác, có thể nói anh mê chúng hơn mê Ca nhiều. Đó là một phòng sách với số sách bằng phân nửa số sách quý trong thư viện lớn tại Sài Gòn. Ngoài giờ đi dạy, anh thường xuyên rút vào phòng sách, để anh hết ngồi đọc sách mải mê tới phiên anh ngồi dịch thuật các trang sách từ tiếng Anh tiếng Pháp sang tiếng Việt và ngược lại. Cho nên dù muốn hay không muốn, ngoài giờ làm việc tại trường đại học ra, Ca cũng có thêm một ‘chức vụ cao quí’ trong gia đình, đó là nàng Oxin tuyệt vời của anh! Oxin người ta, làm hết giờ hợp đồng thì được nghỉ ngơi thoải mái. Còn Oxin Ca, có lúc trước khi tắm rửa bản thân khi trời tối dần xuống, Ca phải nấu ấm nước nóng để tắm cho chồng trước. Đã vậy, đêm nào anh cũng nhờ Ca đấm cho cái lưng, xoa dầu nóng cho cặp đùi của anh ngồi lâu máu lưu thông không đều.

            Cũng may là lúc nào chồng Ca cũng đều nhẹ nhàng dịu ngọt với Ca. Chứ anh ấy mà giở trò trâu chứng, hay đày đọa vợ nhà, và thường phùng mang trợn trắng la hét Ca, có ngày Ca chịu đựng hết nổi, chắc là Ca đành phải làm đau lòng Thiên Chúa, và buộc phải bỏ chồng mà đi. Vì trong tình nghĩa vợ chồng, tình yêu và sự trân trọng nhau mới là điều cần thiết dành giữ cho cuộc sống hạnh phúc bền lâu. Còn lấy lòng thương xót trong chính mình ra để ưng thuận chuyện hôn nhân, như Ca, thì đúng Ca mình quá ư là liều lĩnh.

 

 

GIÁO DÂN

PHONG TRÀO CURSILLO

GÓP PHẦN THỰC THI SỨ MẠNG

LOAN BÁO TIN MỪNG

 

Là Cursillista, người đã học khóa Cursillo ba ngày, thì ai cũng hiểu rằng mục đích tối hậu của Phong Trào Cursillo là: “Làm dậy men tinh thần Kitô giáo trong xã hội”. Ta cùng tìm hiểu: Phong Trào Cursillo có những phương cách đặc biệt nào để việc “Loan Báo Tin Mừng” mang lại hiệu quả tốt đẹp? Trước khi đi vào vấn đề, thiết tưởng ta nên xác định: “Phong Trào Cursillo là một phương thế cung ứng cho Giáo Hội một Phong Trào tông đồ gồm những người nỗ lực hình thành đời sống Kitô hữu trong mọi môi trường họ sống. Nhiều người trong số này sẽ làm việc trong giáo xứ và những tổ chức tông đồ khác, nhưng mục đích của Phong Trào thì không nhắm vào những tổ chức, Phong Trào chỉ giúp họ trở thành tông đồ trong những nơi họ hiện diện.” Tiếp đến, ta cùng tìm hiểu cách Loan Báo Tin Mừng thời Giáo Hội sơ khai:

Lời rao giảng ban đầu của các Tông Đồ (Kerygma)

Sách Công vụ Tông Đồ đã ghi lại bài giảng của Thánh Phêrô tại nhà ông Conêliô: “Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc đến đó. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng: Phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội” (Cv 10,34.37-43). Lời rao giảng của thánh Phêrô được các nhà Thánh Kinh gọi là Kerygma, tức là bài giảng truyền giáo. Mỗi Kerygma cho dù có khác nhau trong những chi tiết phụ, nhưng luôn gồm những yếu tố chính về Đức Giêsu: a/. Cuộc sống trần thế của Ngài;  b/. Cái chết của Ngài; c/. Việc Ngài sống lại; d/. Kêu gọi tin vào Ngài để được cứu độ”, (Lm Carôlô Hồ Bạc Xái, Giám Đốc Đại chủng viện Á Thánh Quý Cần Thơ). Từ khi Chúa về trời, Giáo Hội đã trải qua gần 2000 năm, nhưng nội dung rao giảng Tin Mừng đó vẫn không có gì thay đổi. Vì Chúa Giêsu là Đấng Cứu Chuộc độc nhất cho nhân loại. Còn tân Phúc Âm hóa theo Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là ở ba khía cạnh: Mới trong sự nhiệt tâm; mới trong phương pháp; mới trong cách diễn tả mà thôi. Ta cùng tìm hiểu:

Phương thức để thực thi sứ mạng Loan Báo tin Mừng của Phong trào Cursillo

Phong Trào đã đưa ra một tiến trình thực hiện gồm ba giai đoạn: Tiền Cursillo; Khóa Cursillo Ba Ngày, và Hậu Cursillo.

Tiền Cursillo

Đây là giai đoạn Phong Trào của từng giáo phận: nghiên cứu kỹ càng môi trường của giáo phận mình, từ đó chọn, và mời được những tham dự viên theo đúng những yêu cầu mà Ban Phục Vụ, và Trường Lãnh Đạo Phong Trào giáo phận đã đề ra trong kế hoạch năm, hoặc nhiệm kỳ. Sách Cẩm Nang Lãnh Đạo của Phong Trào đã chỉ rõ: “những người có tiềm năng trở thành những cột sống sinh động khích lệ được các cộng đồng của con người, và mang họ đến cùng Chúa Kitô. Đây là những người với nhân cách và sự trưởng thành có thể ảnh hưởng môi trường mình bằng gương sáng của đời sống hằng ngày của chính mình”.

Việc chọn lựa ứng viên cho Khóa Cursillo Ba Ngày hoàn toàn tùy thuộc vào nét văn hóa đặc thù của từng giáo phận, của từng quốc gia. Chọn lựa để người của Phong Trào hiện diện trong mọi môi trường, mọi lãnh vực trong xã hội: Sĩ, Nông, Công, Thương mà hiện đã phân ra hàng trăm ngành khác nhau như: Y, Dược, Sư phạm, Nông Nghiệp, Ngư nghiệp, Giao thông, Thương mại, Công nghiệp, Dịch vụ Tin Học, thì đó quả là một điều lý tưởng và nhờ đó, việc Phúc Âm hóa xã hội mau được thực hiện, nước Chúa được mở rộng… 

Tuy nhiên, trong hàng trăm môi trường, ngành nghề đang có trong xã hội, tôi đặc biệt chú ý đến: Môi trường giáo dục với hơn 22 triệu học sinh, sinh viên và hơn 1 triệu thầy cô giáo. Nếu thầy cô giáo là người của Phong Trào, và sống đúng là một Kitô hữu đích thực “mến Chúa và yêu người” như trong Khóa Cursillo Ba Ngày họ đã được học và trải qua, thì quả thực, môi trường sẽ được ảnh hưởng và biến đổi rất lớn lao.

Một lãnh vực mà tôi chú tâm nữa trong thời đại hôm nay, đó chính là môi trường Viễn thông và Công nghệ thông tin ở Việt Nam và trên thế giới. Đây là thời đại bùng nổ thông tin, chỉ cần một cái nhắp chuột, một cuộc điện thoại, thì thế giới được gần lại như người ở cùng một nhà, và có khi còn hơn thế nữa. Tại Việt Nam với 90,7 triệu dân thì có 39,8 triệu người sử dụng internet chiếm 44% dân; trong khi thế giới với 7,2 tỉ người thì có 3 tỉ người  dùng Internet, trung bình có 42 %; Việt Nam có 128,3 triệu người sử dụng điện thoại di động tỉ lệ 141%, trong thế giới chỉ có 51%; Qua những con số nêu trên, ta thấy sự quan trọng lớn lao khi sử dụng mạng xã hội để “Loan Báo Tin Mừng” trong thế giới hôm nay nói chung, và Việt Nam nói riêng.

Khóa Cursillo Ba Ngày

Nói một cách khái quát, Khóa Cursillo Ba Ngày, thì ngày thứ nhất quí cha Linh Hướng và các Rollistas giúp tham dự viên nhận ra chính mình; ngày thứ hai giúp nhận ra tình yêu vô bờ nơi Thiên Chúa; ngày thứ ba giúp tham dự viên sẵn sàng làm muối và men khi họ trở về nơi trước đây họ sống và làm việc. Khóa Cursillo Ba Ngày còn giúp ta hiểu sâu sắc thế nào là: Sùng đạo, Học đạo và hành đạo. Phong Trào Cursillo đưa ra một hình ảnh sống động: “Một tay năm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh em”. Ta phải đưa anh em đến trình diện Chúa, trước khi đưa Chúa đến anh em.

Từ nội dung phong phú, sâu sắc như đã nêu trên, được chuyển tải từ những nhân chứng sống thực, bằng một phương pháp kỹ thuật và tâm lý chiều sâu, cộng với một không gian và thời gian gần như thánh thiêng, dành trọn vẹn cho Chúa, đã giúp các tâm hồn tham dự viên lắng đọng, trải nghiệm một cách trọn vẹn các sứ điệp của Khóa Cursillo Ba Ngày. Họ được biến đổi và sớm trở thành những Kitô hữu đích thực, sẵn sàng làm muối men và ánh sáng cho đời.

Ngày thứ tư hay Hậu Cursillo

Ta có thể nói, Hậu Cursillo là giai đoạn quan trọng nhất của Phong Trào Cursillo. Bởi lẽ, chính Hậu Cursillo cung cấp cho Phong Trào những con người thực hiện mục đích tối hậu của Phong Trào là Loan Báo Tin Mừng, một sứ mạng của Giáo Hội Công Giáo, mà Phong Trào cùng chia sẻ gánh vác. Còn Tiền Cursillo và khóa Cursillo Ba Ngày mang ý nghĩa tìm kiếm mời gọi cùng học hỏi để có những anh chị em sống Ngày Thứ Tư với ý hướng Phúc Âm Hóa môi trường nơi họ đang sống. Đúng như người xưa đã nói: “Tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ”. Ta có thể tóm gọn: Tiền Cursillo là tìm Chúa Kitô, Khóa Cursillo Ba Ngày là gặp Chúa Kitô, còn Hậu Cursillo là đi theo Chúa Kitô. Để giúp các thành viên Phong Trào thực hiện được sứ mạng cao cả nhiều khó khăn như đã nêu trên. Phong Trào Cursillo dâng hiến cho các thành viên hai phương thế chính: Hội Nhóm và Ultreya.

Hội Nhóm

Nhóm thân hữu từ hai đến năm người hàng tuần hay hàng tháng gặp nhau một lần là để chia sẻ với nhau về ba mặt: Sùng đạo, Học đạo, hành đạo. Nhờ đó, từng thành viên được nâng đỡ, được học hỏi nhau để ngày một thăng tiến trong sống đạo qua tình bạn, khi họ có cùng một lý tưởng phụng sự Chúa. Mỗi lần Hội nhóm là mỗi lần các thành viên Phong Trào tặng nhau những bó hoa tinh thần mà mình đã chăm sóc cả tuần cả tháng. Vui biết bao!

Đại Hội Ultreya:

Đây là dịp nhiều nhóm thân hữu gặp nhau hàng tháng hay hai tháng một lần. Tại đây anh chị em có những người bạn mới, những nhóm mới, nhờ đó việc trao đổi kiến thức, kinh nghiệm sống về ba mặt: Sùng đạo, Học đạo và Hành đạo được mở rộng, phong phú hơn. Trong Đại Hội Ultreya, anh chị em được đón nhận hai hoặc ba chia sẻ chứng nhân tiêu biểu nhất được chọn ra từ các nhóm đến dự. Ta có thể nói: “Phương pháp Cursillo không cho chúng ta hệ thống tổ chức (rất ít sự chỉ dẫn) nhưng giúp chúng ta trở thành người Kitô hữu đích thực trong đời sống… Nó dẫn chúng ta đến một viễn tưởng, một tinh thần, một lý tưởng, một sự dâng hiến, một cam kết. Cursillo cung cấp một nền tảng Kitô hữu, với căn bản là Đức Kitô” (Trích vị trí của Phong Trào, Hội thảo cấp I).

Lời kết

Nỗi ưu tư thao thức của Giáo Hội, chính là làm cách nào để mọi người cùng nhận ra Thiên Chúa, Vua tình yêu, đã xuống thế làm người, đã chịu chết và đã sống lại để cứu chuộc nhân loại. Từ việc nhận ra đó, nhân loại không còn lạc đường, thờ ngẫu tượng, mà trở về thờ phượng Thiên Chúa duy nhất. Cursillo xin được góp phần nhỏ vào việc chia sẻ những thao thức của Giáo Hội và cùng Giáo Hội ra sức Loan Báo Tin Mừng cho muôn dân.

Phong Trào Cursillo Việt Nam xin ghi ơn Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, vị Tôi tớ của Chúa, Người đã khai mở Phong Trào Cursillo vào Việt Nam năm 1967.

                                      

Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

CON NGƯỜI MỚI

Felicitas

 

Dẫn nhập

Đời sống thánh hiến là một hành trình tiến lên không ngừng. Hành trình ấy là những nỗ lực đáp trả lời mời gọi từ Thiên Chúa mỗi ngày cách xác tín và mới mẻ. Những đáp trả này sẽ là động lực để người sống đời thánh hiến được “sinh lại” trong Chúa Kitô với tác động của Chúa Thánh Thần. Bài viết dưới đây là những khám phá cá nhân về cuộc “sinh lại” thành con người mới của người sống đời thánh hiến trong tương quan tình yêu và hiệp thông với Đức Kitô, cộng đoàn để rồi ra đi trở thành người loan báo niềm vui mới- niềm vui Tin Mừng cho mọi người.

Con người mới trong Đức Giê-su Kitô

a. Người mẫu Giê-su

Con người thời xưa tôn thờ những thế lực mà họ không chinh phục được: hổ, báo, thần sấm sét, mặt trời, mặt trăng. Con người ngày nay “thần tượng” người mẫu, diễn viên điện ảnh, cầu thủ bóng đá. Vì mải đi tìm những “người mẫu tạm thời”, chóng qua mà con người quên mất người mẫu toàn hảo là Đức Kitô - một người mẫu thật sự trẻ đẹp, mạnh mẽ - để “đúc cuộc sống mình theo” người mẫu ấy. “Chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô” (Ep 2, 10). Thật vậy, Đức Giêsu chính là người mẫu tuyệt hảo nhất cho người sống đời thánh hiến noi gương. Khi người mẫu Giêsu đã thấm nhập vào cuộc sống, thì dù ở vị trí hay môi trường nào người sống đời thánh hiến cũng vẫn làm tròn sứ vụ cùng với và trong Đức Kitô.  Nếu người sống đời thánh hiến chọn Giêsu là cầu thủ, họ sẽ đá đẹp như Giêsu trên sân cỏ của đời dâng hiến. Nếu chọn Giêsu làm ca sĩ, họ sẽ hát mãi khúc ca yêu thương trong cuộc sống phục vụ. Nếu chọn Giêsu làm nhạc sĩ, họ sẽ như cây đàn rung lên bao điệu nhạc Giêsu cho đời và cho người. Nếu chọn Giêsu làm lực sĩ, họ sẽ phát huy sức mạnh của lực sĩ trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Thiết nghĩ, một khi đã chọn rồi thì phải để cho “người mẫu Giêsu” tan biến và hòa nhập vào con người của mình chứ không phải để chiêm ngắm hay bàn luận. Điều quan trọng hơn cả là biến tất cả những gì của Người là của ta để ta và người mẫu Giêsu là một trong: lời nói, ước muốn và hành động (x. Ep 2,10). Để được như vậy, người sống đời thánh hiến cần phải chịu cắt tỉa theo khuôn mẫu Giêsu.

b. Chịu cắt tỉa theo Giêsu

Người sống đời thánh hiến phải chấp nhận cắt tỉa những xấu xí, dư thừa trong con người cũ để chỉ còn lại trong mình là vẻ đẹp của Giêsu mà thôi. Một khi chịu cắt tỉa để đón nhận Đức Kitô vào trong nơi sâu thẳm nhất của con người với niềm xác tín “tôi biết tôi tin vào ai” (2Tm 1,12) và “ơn Ta đủ cho con” (2Cr 12,9), cuộc sống của người sống đời thánh hiến dần trở thành một cuộc sống trong Đức Kitô để rồi trong họ một “tạo vật cũ đã biến đi, một tạo vật mới xuất hiện” (2Cr 5,17). Nhờ đó, người sống đời thánh hiến sẽ có cam đảm đón nhận thương đau, mất mát với ý thức biết mình đang đi và đến với Đức Ki-tô- Đấng mà mình đã thuộc về để được tự do vươn cao lên, đón nhận sự sống mới trong Đức Kitô. Đây chính là hành trình để “theo dấu chân Người”. Có bước theo thì mới được treo lên với Đức Kitô trên thập giá và chết đi cho những cái cũ. Bởi vì muốn có cái mới phải phá hủy cái cũ tựa như hình ảnh cây lúa mọc lên từ hạt lúa mục nát; hay muốn có chồi non thì lá già phải rơi rụng. Nhờ vậy, người sống đời thánh hiến mới có kinh nghiệm sống và được được lớn lên trong Người để mạnh dạn thốt lên như thánh Phaolô: “tôi sống nhưng không còn phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20).

c. Con người mới với Thiên Chúa

Qua Bí tích Rửa tội, người sống đời thánh hiến được tái sinh thành “thụ tạo mới” (x.2 Cr 5,17), được Thiên Chúa yêu thương và hơn thế nữa được mời gọi làm chứng nhân cho tình yêu của Chúa. Nhưng nhiều khi người sống đời thánh hiến vẫn chưa thực sự biểu lộ được tình yêu ấy trong đời sống thường ngày của mình: chưa biết cảm tạ tình yêu ấy qua những điều nhỏ bé tầm thường; còn trách móc Thiên Chúa khi gặp khó khăn thử thách; chưa vâng phục Cha với tình con thảo. Thiết nghĩ, người sống đời thánh hiến cần phải phản tỉnh và nhìn lại cốt lõi của vấn đề. Một khi đã được tái sinh nên con người mới thì phải sẵn sàng cho sứ vụ và luôn xác tín sứ vụ ấy không phải là một chuyến du hành nhàn hạ, thoải mái nhưng là một hành trình với những chông gai và đau khổ luôn chờ sẵn. Vì vậy, hãy để Thiên Chúa sửa chữa và chỉnh hướng tâm hồn từ bên trong hầu có thể “mặc lấy con người mới” trong Thiên Chúa (x.Ep 4,24), sống hiệp thông, trao dâng trọn vẹn con người của mình, đón nhận mọi sự từ Thiên Chúa để luôn nhạy bén với tiếng gọi của Ngài, và với sứ điệp tinh tế mà Ngài gửi đến trong cuộc sống qua anh chị em chung quanh. “Chúng ta được kêu gọi làm con Thiên Chúa không chỉ cho chính mình nhưng còn cho người khác. Được biến đổi trong Đức Ki-tô, gặp gỡ Đức Ki-tô là phải làm điều Đức Ki-tô đã làm là ra đi và đến gặp gỡ người khác”(ĐGH Phanxicô, Huấn dụ lễ vọng Hiện Xuống, ngày 18/05/2013).

d. Con người mới với anh em

§  Những trở ngại

Chúa Giêsu đã đón nhận mọi người và cứu độ tất cả dù họ là mục đồng, cô gái điếm, người thu thuế hay viên sĩ quan Rô-ma. Trong cuộc sống cộng đoàn người sống đời thánh hiến vẫn còn loại trừ anh chị em: chưa bắc nhịp cầu hiệp thông, chưa để Chúa biến đổi, nên họ vẫn là họ của ngày hôm qua: ích kỷ, lo vun vén cho bản thân; chưa sống lời dạy yêu thương của Thầy Giêsu: “Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương” (Ga 15, 12). Chúng ta chỉ trở nên chính mình trong và nhờ người khác. “Người ta không sinh ra là Kitô hữu, mà người ta trở thành Kitô hữu” (Tertulianô) nhờ anh chị em của mình. Người sống đời thánh hiến đã chọn cộng đoàn là gia đình mới của mình thì phải xem người khác như những anh chị em của mình. Vì vậy, mỗi người có nhiệm vụ cộng tác để xây dựng cộng đoàn nên cộng đoàn yêu thương và hiệp nhất. Tuy nhiên, rất có thể người sống đời thánh hiến sống trong tình trạng “tuy gần mà xa”: gần thể lý nhưng xa trong tâm tưởng, xa trong cõi lòng và xa trong con tim. Chính những xa cách ấy khiến cho tình yêu thương, hiệp nhất trong cộng đoàn bị hủy hoại dần, hạnh phúc thật sự bị sụp đổ. Sống nhưng không liên đới với nhau mà đối xử với nhau như những người xa lạ. Thậm chí đôi lúc còn nhân danh Chúa để loại trừ nhau. Điều đáng nói là chính mỗi người trong cộng đoàn vừa là nguyên nhân và cũng là nạn nhân cho những lối sống ấy. Vì thế, thay vì cộng đoàn ngày phải nên tốt đẹp hơn thì mỗi người lại khiến nó trở nên xấu đi, già nua, chết dần chết mòn về vật chất cũng như tinh thần. Một khó khăn khác để sống yêu thương với anh chị em là cái tôi ích kỷ trong mỗi người. Cái tôi là những bức tường ngăn cách người sống đời thánh hiến với Chúa và với anh em. Nó giam hãm, thậm chí trói buộc Thần Khí Thiên Chúa. Điều này làm người sống đời thánh hiến khép kín không thể mở ra được cho Thầnh Khí tác động biến họ nên con người sống yêu thương và biết cảm thông.

§  Những đề xuất

Muốn được như Đức Ki-tô, người sống đời thánh hiến cần phải tập để nhịp đập con tim mình hòa nhịp với nhịp đập con tim Giê-su, nhịp đập yêu thương nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (Rm 8,29) trong lời nói, suy nghĩ và hành động dưới tác động của Thánh Thần. Thật vậy, chỉ nhờ Thần Khí biến đổi, người sống đời thánh hiến mới có thể sống tâm tình đổi mới liên lỉ với Thiên Chúa để đến với anh em. Một khi để Chúa Thánh Thần biến đổi bên trong, người tu không còn “kiêu căng với Thiên Chúa nữa, không còn khép kín với nhau để rộng mở cho Thiên Chúa và cùng nhau loan báo lời tình thương mà Thiên Chúa đổ vào con tim ta (x.Rm 5,5) hầu có thể sống hòa giải, tha thứ, hòa bình và hiệp nhất.” (ĐGH Phanxicô, Yết Kiến chung, ngày 22.5.2013). Nhờ Thần Khí biến đổi, người sống đời thánh hiến sẽ cởi mở và lắng nghe anh chị em. Thần Khí sẽ dạy họ học cách cởi mở; cởi mở để đón nhận. Thần Khí sẽ dạy họ học cách lắng nghe; lắng nghe để tôn trọng anh chị em; lắng nghe để biết tách mình ra khỏi cảm nghĩ của mình mà đón nhận người khác. Lắng nghe có thể phá vỡ hàng rào cách biệt giúp người sống đời thánh hiến biết đón nhận; đón nhận chính mình như mình là để có thể đón nhận người khác như họ là với những đặc điểm và lịch sử cá nhân khác biệt. Bởi vì, mỗi người có một giá trị riêng nên khi chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt này cũng chính là lúc người tu chấp nhận và trân trọng chính mình. Qua đó, họ mới phát triển chính mình bởi vì khai trừ anh chị em là cắt xén Đức Kitô. Kết quả của con người mới nơi người sống đời thánh hiến được thể hiện qua thái độ sống tích cực với anh chị em trong cộng đoàn. Thái độ ấy là sống như Đức Kitô đã sống: lắng nghe bằng cả đôi tai, nhìn bằng cả đôi mắt, hiểu với cả khối óc và yêu thương anh chị em bằng trọn con tim. Khi ấy, cộng đoàn sẽ là một cộng đoàn “đầy tràn tình Chúa và chan chứa tình người”. “Tề gia” đã vững mạnh thì người sống đời thánh hiến sẽ sẵng sàng lên đường cho sứ vụ. Sứ vụ ấy chính là công bố tính mới mẻ của Tin Mừng của Đức Kitô với sự “táo bạo” ở mọi nơi mọi lúc, ngay cả khi bị chống đối. Bởi vì một khi một người đã nhận được tình yêu Thiên Chúa là điều đem lại chọ họ ý nghĩa cuộc đời thì làm sao người ấy có thể ngồi yên được mà không truyền thông cho người khác (x.Niềm vui tin mừng, số 8).

e. Niềm vui mới

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắn nhủ: “Hãy lay động thế giới. Hãy chiếu sáng thế giới bằng chứng tá ngôn sứ của mình”. Người sống đời thánh hiến cần cố gắng để tìm gặp, lưu lại và ở với người mẫu Giêsu Kitô cách trọn vẹn hơn để được Giêsu biến đổi nên một con người mới: một con người sẵn sàng sống yêu thương, vui tươi, can đảm và hiệp thông. Vui tươi vì con đường mình đã chọn và vì Tin Mừng đã lãnh nhận, đã sống và sẽ rao giảng. Can đảm để tín thác và vững tin vào của Thiên Chúa dù ở hoàn cảnh nào. Hiệp thông để múc nguồn sức sống từ tình yêu Thiên Chúa để mang lại niềm vui cho mọi người. Khi ấy, người sống đời thánh hiến sẽ trở thành những chứng tá cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa trước mặt thế giới; là những “chứng nhân di động” đến với mọi người để rao giảng Tin Mừng với động lực mạnh mẽ thúc đẩy là tình yêu Đức Kitô.

Kết luận

Đức Kitô quy tụ tất cả trong một gia đình Thiên Chúa (x.Ga 11,53) là Giáo Hội. Tuy nhiên, Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người đển hoàn thành sứ mạng này. Mỗi người sống đời thánh hiến cần phải được tái sinh lại làm một con người mới. Con người được sinh lại bởi lòng tin vào Đức Kitô (x.Ga 1,12) và mặc lấy “người mẫu Giê-su”. Chính con người mới trong Đức Kitô sẽ thôi thúc người sống đời thánh hiến đứng lên ra khỏi cái chật hẹp của cuộc sống, nhập cuộc và chủ động lên đường.  Một con người đổi mới sẽ góp phần làm cộng đoàn, xã hội và vũ trụ đổi mới. Đó cũng chính là cách họa lại hình ảnh Thiên Chúa và cộng tác để hoàn thiện công trình của Ngài. Người viết thiết nghĩ rằng sẽ chẳng ích lợi gì nếu chỉ được biến đổi rồi thôi mà không khám phá và dấn thân cho một sứ vụ mới. Sứ vụ ấy là căn tính của người Kitô hữu và Giáo hội và cũng là lệnh truyền gắn liền với cuộc sinh lại này: truyền giáo (Mc 16,15). “Sống yêu mến Thiên Chúa và tha nhân không phải là điều gì đó trừu tượng nhưng rất cụ thể: nghĩa là nhìn thấy nơi mỗi người khuôn mặt của Thiên Chúa để phục vụ cách cụ thể” (ĐGH Phanxicô, Huấn dụ dành cho thành viên tại nhà Dono di Maria, ngày 21.5.2013). Ước mong mỗi người luôn ý thức để trở nên “bài giảng di động” và sẵn sàng ra đi cách mạnh mẽ cho sứ vụ “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19) trong thế giới hôm nay.

 

GIÁO LUẬT

 

MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP VỀ SỰ VIỆC VÀ NGƯỜI CÓ THỂ CHO PHÉP TIẾN HÀNH VỤ ÁN TUYÊN BỐ HÔN NHÂN BẤT THÀNH QUA TỐ TỤNG NGẮN GỌN HƠN

Lm LG Huỳnh Phước Lâm

 

Trong Tự Sắc “Mitis Iudex Dominus Iesus” (Chúa Giêsu Thẩm Phán Nhân Từ), khoản 14 §1 quy định như sau: “Trong số những trường hợp về sự việc và người có thể cho phép tiến hành vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành qua tố tụng ngắn gọn theo các điều 1683-1687, có thể nêu lên chẳng hạn: người thiếu đức tin khiến có thể nảy sinh gian ý hay lầm lẫn chi phối ý chí, thời gian chung sống vợ chồng ngắn ngủi, phá thai có hiệu quả cốt để tránh không sinh con, ngoan cố duy trì một quan hệ ngoài hôn nhân trong thời gian kết hôn hay ngay sau đó, cố tình dấu diếm tình trạng vô sinh hay một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng hay đã có con cái từ một quan hệ trước đó hay đã từng bị tù, kết hôn với động lực hoàn toàn xa lạ với đời sống vợ chồng hay kết hôn chủ yếu do người phụ nữ đã lỡ có thai trước, bạo lực thể lý để ép buộc bên kia ưng thuận, thiếu sử dụng trí khôn có giấy chứng nhận của bác sĩ…”

Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng điểm được đề cập trong khoản 14 §1 này:

1. Người thiếu đức tin khiến có thể nảy sinh gian ý hay lầm lẫn chi phối ý chí

Nguyên việc “thiếu đức tin” không là điều kiện cốt yếu làm cho hôn nhân vô hiệu. Vì chưng, thật ra người ta khó có thể đánh giá đúng mức một người “thiếu đức tin” hay là “đủ đức tin”; và nếu thiếu, thì thiếu bao nhiêu? Tuy nhiên, sự thiếu đức tin lại được chú trọng trong các vụ án vô hiệu hôn nhân. Lý do là sự thiếu đức tin có thể là nguồn phát sinh sự gian ý trong kết ước hôn nhân hoặc sự lầm lẫn chi phối ý chí.

1.1. Kết hôn gian ý

Kết hôn gian ý (giả vờ) hệ tại bởi sự có ý không muốn tuân giữ theo đúng những điều chính yếu của kết ước hôn nhân.

Giả vờ toàn phần là khi loại trừ chính hôn nhân (kết hôn chỉ là hình thức để được xuất cảnh, chứ không phải vì chính hôn nhân) hoặc loại trừ yếu tố tương quan bản vị (sự hiệp thông trọn cả cuộc sống hướng về lợi ích của đôi bạn).

Giả vờ bán phần là khi loại trừ yếu tố sinh sản (có ý chống lại việc sinh con), hoặc loại trừ đặc tính duy nhất (có ý chống lại sự chung thủy), hay đặc tính bất khả phân ly (có ý chống lại tính bền vững của hôn nhân).

Một sự ưng thuận kết hôn gian ý (giả vờ) như vậy làm cho hôn nhân vô hiệu. Giáo luật điều 1101§2 quy định: “Nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân, thì họ kết hôn với nhau bất thành”.

1.2. Lầm lẫn chi phối ý chí

Có những trường hợp thiếu đức tin lại bao gồm sự lẫm lẫn về chính hôn nhân. Sự lầm lẫn này, theo luật không nhất thiết loại trừ sự ưng thuận (Điều 1100), nhưng nếu nó chi phối vào ý chí thì ưng thuận có thể bị khiếm khuyết và làm cho hôn nhân vô hiệu (Điều 1099). Chẳng hạn một người kết hôn mà nghĩ rằng sự không chung thủy không đi ngược lại bản chất của hôn nhân, và thậm chí chủ trương chấp nhận được phép có những quan hệ ngoài hôn nhân, thì sự ưng thuận vẫn thành, bởi vì những quan niệm sai lầm này vẫn còn nằm trong tâm trí. Tuy nhiên, nếu người đó kết hôn, mà vẫn thực sự có ý định giao du tình cảm với một hay nhiều người khác nữa, thì sự lẫm lẫn đó đã chi phối ý muốn và sự ưng thuận là vô hiệu. Trường hợp sau đây có thể dẫn đến các lý do tiêu hôn:

Một người tân tòng đã được lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Hôn Phối, nhưng bản thân người này “thiếu đức tin”. Sự kiện không có đức tin được thể hiện qua cách sống và lời tuyên xưng của họ. Chẳng hạn: sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Hôn Phối, người này về nhà vẫn thờ phượng theo tôn giáo cũ và không bao giờ thực hành đời sống đạo Công giáo. Như vậy, người này giả vờ kết hôn hoặc hiểu lầm về hôn nhân Công giáo (quan niệm hôn nhân Công giáo chỉ như một hình thức diễn tả tình cảm mà thôi).

- Hôn nhân này bất thành vì lý do họ không công nhận tính bí tích của hôn nhân  hay chính hôn nhân Công giáo, theo Giáo luật điều 1101 §2, hoặc theo Giáo luật điều 1099.

- Hoặc hôn nhân này bất thành vì người Công giáo đã bị lừa gạt nên mới nhận lời kết hôn, chiếu theo Giáo Luật điều 1098: “Người kết hôn do bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, với chủ ý để mình ưng thuận, và nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng, thì hôn nhân bất thành”. (còn tiếp)

 

 

CHÚT TÂM TƯ

 

Đây thênh thang, khoảng trời đầy gió lộng

Vây quanh ta cả một dải nắng chiều

Hồn lâng lâng những mê say, ước vọng

Tựa mây ngàn phiêu lãng cõi tiêu diêu.

Tâm tư ta hào sảng như cánh diều:

Vút vút cao, muốn òa vào Thượng Đế

Chín rồi chăng kiếp người – mùa trần thế?

Khi rộn ràng hương sắc những huyền siêu.

“Lửa trọn lành” xin hãy đốt thiêu

tim thổn thức tan thành ngàn Yêu Mến

Thiên Đường xa, ta mơ ngày về bến

Sau những ngày đã mỏi bước hoang liêu.

Phạm Minh Hưng, Gx Ninh Cù

 

GIÁO DỤC

 

MỸ (tốt đẹp)

Lm. JB. Trần Đinh Tử

Trong bài ra số 03-2015-TTLMLX chúng ta đã có dịp bàn qua chữ Mỹ: MỸ = Dương (con dê, là một trong những con vật dùng làm vật tế thần) + Đại (to lớn). MỸ là Đẹp: vật tế sinh mập to là tấm lòng đẹp, và đẹp cả lễ vật (chuyện Ca-in và A-ben). Như đã đề cập khi bàn về chữ THIỆN, ngày nay phần lớn người ta thường chỉ hiểu ngầm, hoặc hiểu theo những định nghĩa khá xa với nghĩa gốc, có lẽ vì nhiều lý do; ở đây chúng ta mạo muội bàn luận dưới góc độ chiết tự, mong góp được phần nào để hiểu rõ hơn, sát hơn nghĩa chữ MỸ. Có nhiều người nhận ra ngay chữ MỸ gồm hai chữ DƯƠNG đặt trên chữ ĐẠI, nhưng không hiểu vì sao con Dê Lớn lại là Đẹp, bởi trong thực tế chú Dê Lớn không chắc phải là loại, có dung mạo dễ coi. Nhưng khi hiểu theo hướng con Dê là một trong ba con vật dùng để tế thần (Tam Sinh: ngưu, dương, thỉ ) thì thật dễ hiểu và còn nhận ra một ý nghĩa sâu xa hơn nơi chữ Dương không có chân. Thật là tốt đẹp biết bao khi dùng một chú Dê Lớn để tế thần, điều này diễn tả thật chính xác về tấm lòng tôn kính và thành khẩn.Từ xa xưa MỸ là nhằm diễn tả cái đẹp tinh thần hơn chỉ là thể chất. Tiền nhân dạy: “Cái nết đánh chết cái đẹp (bên ngoài)” là vậy. Bản thân cái xác con Dê Lớn không là điều đáng khen; mà dám dùng cả một con Dê Lớn để làm của lễ đó mới đáng khen, đáng nói. Một chiếc bánh trung thu bao bì thật đẹp mà để 10 năm không hư vì chứa lượng bảo quản quá nhiều thì đó là chiếc bánh Đẹp nhưng không Tốt. Những trái sầu riêng non được tẩm hóa chất dù vàng Đẹp nhưng không phải là Tốt. MỸ trong CHÂN THIỆN MỸ luôn đi với Tốt: Tốt Đẹp. Tốt mà thiếu Đẹp thì kém hấp dẫn; nhưng Đẹp mà thiếu Tốt thì thật là tai họa.

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” hẳn là điều ai cũng biết nhưng thực tế thì chúng ta lại dễ bị lừa vì cái đẹp bên ngoài. Mẫu mã là cần thiết để tôn vinh cái giá trị thật, chứ đừng dùng mẫu mã để che giấu những sự giả dối. Ước chi được như vậy.

 

 

KÍNH TRÁI TIM CHÚA

Hồn con xin được tựa nương

Trái Tim của Chúa dẫn đường con đi.

Dẫn con Ngài chẳng ngại chi

Mặc con yêu đuối, hay nghi hay ngờ.

Thánh Tâm Chúa Cả con thờ

Xin Ngài thương xót và chờ đợi con.

Lòng này thề nguyện sắt son

Một niềm thờ kính, vuông tròn nghĩa ân.

Giuse Nguyễn Trường An, Gx Quý Phụng

 

NẤC THANG TRÁCH NHIỆM

 

Qua cách dạy dỗ con cái, ông bà ta đã để lại những kinh nghiệm mang đầy ý nghĩa và giá trị. Trong kho tàng kinh nghiệm ấy có câu: “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Một lối so sánh mang đầy ý nghĩa sâu xa. Ai ai cũng biết, cá muốn để lâu thì phải ướp muối, nếu không trong ít giờ cá đó sẽ ươn. Chỉ còn cách đổ đi. Hình ảnh này được liên kết qua cách dạy con. Nếu người con nào được cha mẹ quan tâm dạy dỗ mà không nghe, thì khả năng hư là rất cao và nếu nó còn cãi lại, thì sẽ bị cho là bất hiếu, nặng hơn nữa là mất dạy.  Nghĩa là hết cách.

Cá không ăn muối cá ươn là chắc chắn trăm phần trăm, nhưng con cãi cha mẹ có thật là đứa con đó sẽ hư hay không? Nói là như vậy. Nhưng bạn và tôi thử đặt lại một câu hỏi liệu có trường hợp nào con cái cãi lại cha mẹ mà không hư? Có những bạn trẻ lý luận rằng: Thời ba mẹ sống không giống thời nay, ba mẹ không hiểu và cũng không biết lối sống và cách suy nghĩ của con cái bây giờ. Ngay việc quen biết và kết hôn cũng đã thay đổi, trước thì cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, giờ thì con đặt đâu cha mẹ ngồi đó. Nghe có vẻ thiếu sự tôn trọng, thiếu đạo đức. Nhưng thực tế là vậy. Có nhiều cha mẹ nếu biết cách dạy, thì không có gì phải bàn. Còn nếu không biết cách dạy, không biết cách hòa nhập, không hiểu con thì vấn đề dạy con thành người sẽ là một điều nhiêu khê.

Tôi có dịp tiếp xúc với những bậc làm cha làm mẹ được coi là khó tính và cổ lỗ. Vì thế, con cái phải răm rắp làm theo những chỉ thị của cha mẹ, ngay cả việc quen biết và chọn lựa bạn đời. Cha mẹ cho quen thì thì ok, còn cha mẹ không cho thì lo chia tay sớm, để bớt đau khổ. Hay có những trường hợp trước kia ba mẹ đã phải sống trong một hoàn cảnh đói khổ, thiếu đầu này hụt đầu kia, bị người khác xem thường, vì không có tiền, nên bây giờ có dạy con cái lo kiếm tiền là trên hết. Có tiền mới có tiếng nói, và nói người khác mới nghe, mới nể. Những chỉ thị như vậy khiến đứa con hết được tự do sống và theo đuổi lý tưởng của bản thân.

Làm cha mẹ ai lại không muốn con mình được hạnh phúc, được giàu có, được bằng bạn bè. Nhưng muốn theo kiểu quá khắc khe, luôn cho mình là đúng, luôn cho mình là nhất, bắt con cái phải thành tài trong tương lai, phải thành công trong việc làm, phải thành đạt trong mắt người khác mà lại quên việc dạy con thành nhân, liệu những bậc cha mẹ như vậy có thật sự dạy con đúng nghĩa không? Có thật sự quan tâm đúng cách và có thật sự trở thành một cái thang đúng nghĩa để cho con cái mình bước lên cao hơn không?

Với vài suy nghĩ của bản thân, không phải để chối bỏ cách giáo dục của người xưa, cũng không phải để ủng hộ một lối sống của thế hệ trẻ ngày nay. Nhưng điều tôi muốn đề cập đến là thái độ và cách áp dụng cho đúng cách, đúng thời và đúng người. Điều quan trọng là biết dung hòa giữa cái cổ và cái tân, giữa thế hệ trước và thế hệ sau, giữa người lớn đầy kinh nghiêm với lớp trẻ đây sức sống và tài năng. Bậc làm cha mẹ hãy quan tâm thật sự đến con cái. Dạy dỗ không phải chỉ để con mình được sống hạnh phúc với khả năng và mơ ước của mình, mà còn phải trở thành người tốt. Đừng trao phó hoàn toàn con cái cho nhà trường, cho người khác, mà quên nhiệm vụ của chính mình. Bậc làm con cũng hãy sống thế nào để thể hiện thái độ hiếu thảo, biết ơn và làm cho cha mẹ được hạnh phúc trong tuổi già. Là con trong gia đình, bạn cũng có tiếng nói để bày tỏ quan điểm và mơ ước để cho cha mẹ hiểu, và từ đó, những kinh nghiệm của cha mẹ sẽ như là những nấc thang giúp chúng ta tìm được bình an và niềm vui đích thực của đời người.

 

Vs Lê Đình

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

QUÊN

 

Chiều hôm ấy, mười mấy năm rồi, tôi tỉ mỉ cắt xước mang rô cho mẹ. Cả tiếng đồng hồ sau, tôi lấy hết can đảm thủ thỉ:

- Mẹ ơi! Con lấy chồng.

Tôi chưa bao giờ thấy mẹ cười tươi đến thế:

- Hai mươi lăm tuổi đầu rồi, chứ còn bé bỏng gì? Thật lòng, mẹ mừng lắm. Mẹ chờ con nói câu ấy mấy năm nay rồi. Nhưng con lấy ai vậy? Sao không mời “người ta” đến nhà, ra mắt mẹ và ông nội?

- Mẹ có biết anh Ất con bác Giáp ngoài chợ không?

Mẹ mím môi, có vẻ suy nghĩ:

- Thằng Ất thì không, nhưng vợ chồng lão Giáp thì mẹ biết, giàu có, nhà cao, cửa rộng, nổi tiếng đại gia, chủ tiệm thuốc tây Từ Nhân ngoài chợ phải không?

Tôi gật đầu. Mẹ, mặt đỏ bừng, lắc đầu:

- Không được.

- Nhưng chúng con yêu nhau.

Cơn giận bốc lên ngùn ngụt, mẹ gào lên:

- Đã bảo không là không. Cha con mất sớm, trăm sự mẹ phải lo. Con lấy ai cũng được, bất cứ ai, miễn là không phải con cái nhà ấy. Mẹ nhắc lại, con có thể cưới bất cứ ai, dù cho đó là kẻ câm điếc đui què.

Từ nhà trong, có tiếng ghế đổ, ly vỡ gì đó. Ông nội chống nạng, khập khiễng bước ra, bước chân ông không dài hơn một bàn chân. Ông nói với mẹ, không to tiếng, nhưng có một chút gì phiền muộn:

- Con muốn nói què quặt như bố cũng được chứ gì? Nhưng có gì thì cũng phải giải thích cho con nó biết chứ?

Mẹ có vẻ ngượng:

- Con xin lỗi bố. Con lỡ miệng. Vâng, bố biết rồi, chuyện như thế này.

*  *  *

Ông bác sĩ luống cuống:

- Thằng bé bị bệnh tả, thời kỳ toàn phát, bắt buộc phải khẩn trương bù nước điện giải sớm. Anh chị ra nhà thuốc Từ Nhân mua gấp hai chai nước và thuốc theo toa. Lẹ lên.

Anh đàn ông cắm đầu cắm cổ chạy đi. Anh trình toa thuốc, bà chủ tiệm thuốc mau mắn:

- Tétra, có. Natri cloride, có 3 đồng 80 xu.

Anh đưa tờ giấy bạc mệnh giá 10 đồng. Bà chủ tiệm thuốc lắc đầu:

- Không có tiền thồi lại đâu. Chúng tôi chỉ nhận tiền nhỏ thôi... Cảm phiền, chú đi đổi tiền hoặc là đi chỗ khác mua vậy.

Lúc ấy, thuốc men ít ỏi. Cả nước mới đổi tiền xong, tiền đồng mệnh giá nhỏ, tiền xu cực kỳ khan hiếm. Nghe nói trên Long Xuyên, tờ tiền 10 đồng chỉ đổi được 7 hoặc 8 đồng bạc nhỏ thôi. Anh vội chạy đi. Hơn một tiếng đồng hồ, không đổi được tiền cũng không mua được thuốc, anh trở lại nhà thuốc Từ Nhân:

- Chị thương cho, con trai em bị dịch tả, cần cấp cứu, chị lấy cả 10 đồng cũng được.

Có tiếng chuông nhà thờ ban chiều vọng lại, chắc không xa lắm.

- Chú coi tôi là hạng người nào? 3 đồng 8, lấy 10 đồng, lỗi đức công bằng, lỗi phép đạo dạy. Chuông nhất rồi, cảm phiền chú đi cho, tôi đóng cửa ăn cơm tối, nhà còn phải đi lễ.

Cánh cửa sắt đóng sầm lại, đóng luôn cả cửa sống của con anh. Anh vội vã trở lại bệnh viện. Chỉ mới chưa đầy hai tiếng đồng hồ thôi, mắt thằng bé trũng sâu, lõm xuống, tay chân lạnh ngắt, đầu ngón tay nhăn nhúm teo tóp lại, nó thều thào, ú ớ nói không thành tiếng. Anh chỉ còn kịp nhìn nó co rúm người lại, vật vã, thở hổn hển, lịm đi, rồi chết.

Anh vừa dìu vợ đã lả người đi, vừa bồng xác đứa con xuống bến đò. Đi qua nhà thuốc Từ Nhân, anh nhổ toẹt một bãi nước bọt:

-Từ nhân gì? Ác nhân hay bất nhân thì có. Sát nhân mới đúng.

  *  *  *

Mẹ lau nước mắt nhìn tôi:

- Con có một người anh trai, hơn con năm tuổi. Anh con đã chết như vậy đó.

Ông nội trầm ngâm:

- Thời buổi nó thế. Nhưng ở đời, có những điều không thể quên, có những điều nên quên, có những điều phải quên. Con có muốn nghe chuyện què chân của bố không?

*  *  *

Chị Nhiêu van vái:

- Lạy cụ Lý! Rước cụ lên giường ngồi, rồi con mới dám thân thưa ạ!

Cụ Lý mân mê hàng ria mép cá chốt, rồi lên chiếc chõng tre, ngồi chễm chệ:

- Được, xem chuyện gì nào.

- Không giấu gì cụ, thằng Tũn nhà con đã mười ba tuổi đầu, được nhờ rồi, nhưng vợ chồng con mới sinh thêm con Hĩm, xét mình không nuôi nổi nữa. Cúi xin cụ rủ lòng thương.

Cụ Lý đang cần một thằng ở để chăn trâu, điếu đóm. Nhưng cụ giả vờ:

- Lại thêm một miệng ăn, giữa lúc khó khăn.

- Con cắn cỏ lạy cụ.

- Thôi, cũng được, tao nhận cho. Nhưng tao nói trước, không được thì thôi ngay. Cái ăn thì con ăn kẻ ở ăn thế nào, nó ăn thế ấy. Cái mặc thì mỗi năm hai bộ quần áo vải dường bâu. Cấm mắt trước mắt sau, táy máy ăn cắp ăn trộm. Cấm nghỉ giữa chừng. Công việc thì nhẹ thôi: ngày, chăn trâu; tối, có việc gì lặt vặt thì làm.

Chị Nhiêu quỳ sụp xuống đất:

- Đội ơn cụ cho thằng bé nhà con được ăn mày miếng cơm manh áo nhà cụ. Đội ơn cụ cải tử hoàn sinh cho cháu, vợ chồng con xin kết cỏ ngậm vành.

Thế là thằng Tũn được đi ở, chăn trâu cho cụ Lý. Ông nhạc sĩ Phạm Duy viết bài Em Bé Quê: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ.” là ông viết tào lao, “ấm ớ hội Tề”, lừa dối chính ông và lừa dối “giai cấp mục đồng”, là không biết gì về sự cực khổ, nhục nhằn của trẻ chăn trâu. Suốt ngày phơi người giữa trời bất kể nắng mưa. Chỉ vài vết chân trâu trong ruộng lúa của người, của nhà đến tai cụ Lý, đều được một trận đòn. Chưa kể những trận đánh nhau chí chóe, giành bãi cỏ với đám chăn trâu thôn khác. Tối về, chỉ cần hai lõm bên hai bạng con trâu không căng, cũng một trận đòn. Ấy là “thương cho roi cho vọt” đấy, còn không thương thì không biết thế nào.

Một buổi chiều đông rét căm căm, thằng Tũn dắt trâu vào chuồng, đóng cửa cài then lại. Nó vội vội vàng vàng đem bữa ăn của nó gồm nửa vắt cơm nắm, chút muối vừng, về cái ổ rơm trong chuồng trấu. Tấm thân gầy guộc của nó vừa làm ấm cái ổ rơm thì cụ Lý xuống tới, tỏ ra rất mực xót thương:

- Trời rét lắm phải không? Đi xay thóc đi, chỉ một cối thôi là người ấm ngay.

Trời lạnh cắt da, thế mà xay xong cối thóc, người thằng Tũn đổ mồ hôi hột. Nửa vắt cơm nắm chỉ cho nó đủ sức xay cối thóc kia thôi. Nó cảm thấy đói cồn cào. Chị Mẹo, người ở của cụ Lý đem mẻ thóc vừa xay đi sàng. Thằng Tũn quét quáy cối xay được dễ thường có đến một bụm thóc lửng. Nó không chống lại được cơn cám dỗ, bỏ vào cái mảnh nồi đất vỡ rang lên. Nó đang mường tượng sẽ được cắn chắt những hạt thóc rang thơm tho kia thì cụ Lý lù lù hiện ra:

- Biết ngay mà, mùi thóc rang xông lên đến nhà trên. Tũn! Mày đang làm gì vậy?

Nó lắp bắp:

- Con... Con... có làm gì đâu?

- Không làm gì à? Ăn trộm thóc, rang lên, sáng mai mang về nhà cho thằng bố mày đang ốm chứ gì?

Cụ hắt mấy hạt thóc rang còn nóng vào mặt thằng Tũn:

- Bay đâu. Trói thằng ăn cắp vào cót thóc cho tao.

Đêm ấy, thằng Tũn bị một trận đòn chí tử bằng đòn gánh. Nó bị đánh gãy chân. Sáng hôm sau, chị Nhiêu được gọi tới, cõng con về. Thằng Tũn bị lột hết quần áo, trần truồng, da thịt tím bầm, quặt quẹo trên lưng mẹ. Nó khóc, mẹ nó cũng khóc.

*  *  *

Ông nội buồn hiu hắt, nói với mẹ:

- Bố đã rắp tâm “Sống để bụng, chết đem đi”, nhưng đã đến nước này. Con biết thằng Tũn là ai không? Là bố đó. Còn cụ Lý là ông nội của con đó. Vì một nắm thóc lửng, ông nội con đánh bố què chân, tàn tật suốt đời. Thế mà, con là con dâu của bố, con thấy có khi nào bố có chút gì oán hận, đối xử không nên không phải với con không?

Rồi ông cười buồn:

- Chịu ơn thì không thể quên, làm ơn thì nên quên, oán thù thì phải quên. Bố nói vậy, con nghe có lọt tai không?

Mẹ im bặt một lúc lâu, nước mắt chảy dài trên hai gò má. Mẹ ôm tôi vào lòng:

- Mẹ cho phép đó. Con mời anh Ất ngày mai đến chơi, ăn cơm trưa với nhà mình.

Tôi mừng quýnh, mừng đến rơi nước mắt. Có phải mẹ đã quên điều phải quên không?

lãongu

 

 

LÀM VỢ

Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Lỡ sinh vào kiếp đờn ông con trai, khi đến  tuổi trưởng thành, thì như người đứng trước ngã ba đường. Một là đi lấy vợ lập gia đình. Hai là ở vậy độc thân. Con đường ở vậy độc thân được dành cho bậc tu trì, hiến dâng đời mình cho Thượng Đế hay hy sinh đời mình cho một lý tưởng cao đẹp nào đó. Tuy nhiên, đây lại là con đường hẹp, ít người bước vào. Hiện nay con số những người đi tu tại nhiều nơi đã bị giảm sút thê thảm, tạo nên một cuộc khủng hoảng lớn cho các tôn giáo. Còn phần đông bàn dân thiên hạ đều đi vào con đường lập gia đình. Nói một cách cụ thể là đi lấy vợ. Thế nhưng, trước khi đi lấy vợ, thì cần phải nhìn cho rõ vợ là gì, đồng thời cũng cần phải cân nhắc những “hệ lụy” do việc lấy vợ đem lại cho bản thân. Vậy trước hết vợ là gì?

Gã xin thưa vợ chính là người đờn bà. Và người đờn bà này đã được một tác giả minh họa như sau :

Đờn bà thật giống con công!

Mắt xanh, mỏ đỏ, xòe lông cả ngày.

Đờn bà thật giống con cày!

Nhe nanh, múa vuốt, dọa mày yếu tim.

Đờn bà thật giống con chim!

Nay đây, mai đó, biết tìm ở đâu?

Đờn bà thật giống con trâu!

Nhai rồi, nhai lại, ít câu lắm lời…

Các rắc rối của sự đời hệ tại việc “mặc dù ta đã biết đờn bà là như rứa, thế mà ta lại vẫn cứ thương đờn bà”. Thành thử ta như con thiêu thân lao mình vào lửa, ta bỗng chui đầu vào rọ, tự nộp mình làm thân trâu ngựa. Vậy thì việc lấy vợ mang lại những hệ lụy nào? Trong một bài viết ngăn ngắn trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số ra ngày 05.3.2006, tác giả Trọng Giáp đã tham khảo đúng một trăm “quí anh” đang sống trong cảnh “cá chậu chim lồng”. Quí anh này đã nói về vợ bằng chính kinh nghiệm “xương máu” của mình và rút ra từ đó những kết luận cụ thể. Gã xin dựa vào những kết luận cụ thể ấy để bàn rộng tán dài thêm một tí.

Trong một trăm anh chồng, thì có hai mươi lăm anh cho vợ là kế toán viên xuất sắc, dù họ không qua một trường lớp đào tạo nào cả, bởi vì lương tháng ta lãnh bi nhiêu, nộp lại cho vợ và chi tiêu hết bi nhiêu, trong bóp ta hiện còn bi nhiêu, đều hiển thị rõ mồn một trong bộ nhớ của vợ. Trước hết, chị vợ nào cũng có một bộ nhớ trên cả tuyệt vời, bao nhiêu chi tiêu của anh chồng đều được lưu giữ, chẳng hề sai trật một đồng xu cắc bạc nào cả, nên rất dễ dàng trách cứ:

- Trong nhà sẵn món ngon lành,

Sao anh còn khoản tiêu nhanh ngoài luồng. (Linh Cơ)

Tiếp đến, chị vợ còn là một thứ ngân hàng đặc biệt, chỉ biết đầu vào mà chẳng biết đầu ra. Thu vào thi vui vẻ, bao nhiêu cũng nhận. Còn phát ra thì bủn xỉn, xẻn so từng đồng:

Vào ngày tui mới lãnh lương,

Vợ tui bỗng chốc dễ thương vô cùng.

Về nhà, “bả” vội ôm ‘hun”,

Cõi lòng bả những nhớ nhung quá trời,

Xong rồi bả mới mở lời:

Tiền lương cuối tháng em coi xem nào.

Dứt lời, túi trước túi sau,

Hai tay bả móc, tui đau đớn lòng.

Chỉ vài ba phút là xong,

Tiền trong tay bả, tui không còn gì. (Trần Thành Nghĩa)

Ngoài ra, phần lớn các chị vợ còn mắc phải chứng bệnh than, nào là vật giá leo thang, nào là gạo đường, mắm muối tăng lên vùn vụt. Và thế là anh chồng bèn phải bất đắc dĩ điều chỉnh những chi phí của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh:

Để em khỏi phải than ôi,

Nâng khăn sửa túi, thủng rồi lại lo. (Linh Cơ)

Trong một trăm anh chồng, thì có hai mươi ba anh ca cẩm rằng họ đã lấy phải những bà vợ mang dòng họ So! Bởi vì các chị vợ chỉ chăm lo liếc trộm qua nhà hàng xóm, rồi so sánh, chì chiết nặng nhẹ nọ kia. Hội chứng so sánh này còn được gọi là hội chứng đứng núi này trông núi nọ, được voi đòi tiên, chẳng bao giờ biết bằng lòng với số phận của mình: Chồng người ta thì thế lọ thế kia, còn anh thì cứ thế lày. Thế lày nghĩa nà nàm thao? Cái điệp khúc trên được rỉ rả suốt cả ngày và được rù rì suốt cả đêm, đến độ quỷ thần cũng không chịu nổi, huống lọ là anh chồng. Ấy là chưa nói tới cái danh dự, cái tự ái to bằng cái rế của anh chồng bị xúc phạm năng nề, vì dù sao mình cũng là thằng đờn ông kia mà.

Trong một trăm anh chồng, thì có hai mươi hai anh lại ví vợ như sư tử Hà Đông. Theo điển tích thì cụm từ “sư tử Hà Đông” được dùng để ám chỉ người vợ hay ghen và có tính hung dữ.  Trần Quí Thường là bạn của thi hào Tô Đông Pha. Ông ta có một người vợ nổi tiếng là hay ghen và hung dữ. Mỗi lần Tô Đông Pha đến chơi, đều nghe tiếng bà ta la hét ầm ĩ. Thấy vậy, họ Tô mới làm một bài thơ cám cảnh như sau:

Ai hiền hơn cư sĩ Long Khâu,

Đọc kinh giảng đạo suốt canh thâu.

Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,

Tay run gậy rớt lòng hoang mang.

Trong một trăm anh chồng, thì có mười chín anh đề bạt vợ giữ chân kiểm sát viên, bởi vì mọi “tiền án”, “tiền sự”, liên quan tới chuyện lăng nhăng “chim chuột” trước hoặc sau ngày cuới đều được chị vợ đưa vào “hồ sơ tội trạng” và thường xuyên được lôi ra truy tố, cho đến lúc lìa đời mới thôi. Đây là chuyện rất bình thường, không có chi là khó hiểu. Thực vậy, phe đờn bà con gái sống bằng trái tim. Đối với họ, tình yêu là tất cả và chi phối mọi sinh hoạt. Vì thế, những lỗi phạm tới tình yêu trở nên như một vết chém, không bao giờ nguôi ngoai trong cõi lòng họ. Tình yêu của họ giống như bát nước đầy, một khi đã bị hắt xuống đất, thì không thể nào hốt lên được. Bởi đó, anh chồng đừng tơ tưởng vung vít. Một khi đã bị lưu vào hồ sơ, thì chẳng thể nào bôi xóa hết được.

Sau cùng, trong một trăm anh chồng, thì có mười một anh cho rằng vợ là một siêu cường quốc, mỗi khi xảy bất đồng, thì y như rằng họ sẽ tiến hành biện pháp cấm vận ngay lập tức. Khi anh chồng làm điều gì sai trái, thì lập tức chị vợ bèn sử dụng biện pháp cấm vận, như một thứ vũ khí lợi hại để cho anh chồng biết thế nào là sức mạnh của đờn bà con gái, cũng như để dạy cho anh chồng một bài học nhớ đời. Sự cấm vận ở đây được hiểu là không nhìn, không nghe, không nói. Nếu gia đình khá giả thì phòng ai người ấy ở, giường ai người ấy nằm. Còn nếu không có điều kiện, thì vẫn nằm chung giường, nhưng mền ai người ấy đắp, làm thành một bức tường vô hình lạnh lùng ngăn cách.

Tuy nhiên, phải công bằng mà nói chính nhờ những hệ lụy trên mà nhiều anh chồng đã trở nên tốt lành hơn. Chẳng thế mà đối với những cậu con trai ba bứa, các cụ ta ngày xưa đã khuyên: Cứ lấy cho nó con vợ là xong tuốt. Chỉ có vợ nó mới trị được nó mà thôi. Có những anh chàng trước kia ngang tàng, thì nay đã trở thành những anh chồng ngoan hiền, mềm nhũn như con chi chi.

Trong một cuộc đại hội nam giới, hầu như tất tật một chăm phần chăm các anh chồng đều thò tay ký vào bản “Tuyên ngôn…nam quyền” rất oách như sau:

“Mọi tên đờn ông con giai sinh ra trên cõi đời này đều được huởng những quyền lợi và bình đẳng như nhau. Nhưng rồi nhiều tên đã phản phé mà đi lấy vợ!!!”

 

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH

11

 

Năm tháng Dự Tu và học lại Đại Học

Nó đang chơi vơi giữa dòng đời cứ trôi chảy mãi như không biết chờ đợi một ai cả, thì có người mách cho nó rằng, Giáo Phận Cần Thơ mở khóa Dự Tu, mang tên Carôlô (tên thánh của cha hướng dẫn lúc đó). Người này còn nói: anh có đi không, em xin cha xứ nhà thờ Lộ 20 (vì ký túc xá nó ở gần nhà thờ), giới thiệu cho, ngài đã giới thiệu cho em rồi. “Cái phao” cho kẻ chơi vơi, dấu chỉ cho kẻ lạc đường và cơ hội cho kẻ lầm lẫn là chỗ này. Tại sao lại là lúc này? Tại sao lại là người này? Anh ta cũng là dự tu của Long Xuyên, cùng hạt với nó. Mà dự tu cùng hạt với nó thì thú thật là “đối thủ” của nhau. Xin mở ngoặc một tí ở đây cho rõ.

Những năm đầu thập niên 90’ (khoảng từ năm 1991 trở đi), hạt của nó dự tu đông lắm, có đến 60 người. Lúc này Đại Chủng Viện Cần Thơ tổ chức hai năm thi vào một lần cho ba giáo phận, Cần Thơ, Vĩnh Long và Long Xuyên. Hai năm tuyển một lần, lấy 36 người, chia cho 3 giáo phận. Như thế, mỗi giáo phận được 12 người. Cũng ở thời điểm này, phía Nhà Nước cho đầu vào của Đại Chủng Viện với chỉ tiêu là mỗi tỉnh 10 người. Hạt Thốt Nốt của nó thuộc tỉnh Cần Thơ. Như thế sẽ liên quan đến tuyển sinh của giáo phận Cần Thơ. Tỉnh Cần Thơ lúc đó gồm 9 huyện (nó không nhớ rõ lắm), 8 huyện thuộc giáo phận Cần Thơ và 1 huyện Thốt Nốt (có hạt Thốt Nốt thuộc giáo phận Long Xuyên). Vậy nếu cho mỗi tỉnh 10 người, thì chia ra, mỗi huyện được đi một người, và Thốt Nốt được đi hai người đã là ân huệ từ giáo phận Cần Thơ nhường cho. Nó nhẩm tính thế này, hai năm tuyển một lần, và chỉ được đi hai người. Vậy, với con số 60 dự tu nêu trên, nếu không rơi rụng sẽ là 60 năm sau mới hết huhu, ấy là chưa kể cứ mỗi năm lại có thêm những lớp đàn em đăng ký. Một chút giải thích về hoàn cảnh lúc đó để hiểu cho nó khi dùng từ “đối thủ” với anh em.

Trở lại chuyện “cái phao”, dấu chỉ và cơ hội nêu trên, nó thực sự ngạc nhiên khi người anh em này cho nó biết là có lớp dự tu và còn gợi ý xin giấy giới thiệu cho nó nữa. Sau vài ngày suy nghĩ, nó đã nhận lời. Thú thật là không dễ đối với nó lúc này, tuy rằng nó đang như ở vực thẳm trong học vấn. Vì nhận lời sẽ là chọn con đường tu trì, con đường mà nó đã xao nhãng từ sáu, bảy năm nay (từ cuối năm lớp 11, đi học xa nhà và không còn giúp lễ nữa). Hơn nữa, nhận lời sẽ là tự đặt mình vào bài toán khó đã nêu ở trên- mỗi năm được một người đi Đại Chủng Viện. Ngao ngán làm sao! Thế nhưng nó đã liều chọn, và rồi từng bước nó nhận ra và cảm nghiệm rằng, chính Thiên Chúa đã dẫn dắt và uốn nắn nó ngay trong những lúc khó khăn, ngao ngán, muốn tháo lui, bỏ cuộc để rồi nó phải xác tín rằng: những gì nó đang có hôm nay là do chính Chúa chứ không phải công trạng của nó như đã có những lúc nó tự hào với anh em.

Ôi Khanh!

 

 

NHNG GÌ ĐÃ QUA

Bạn ơi bạn à!

Hãy đẩy cho xa

Những gì đã qua

Xin đừng da diết.

Em ơi em à!

Quá khứ đã qua

Dẫu là xót xa

Thôi thì cho qua.

 

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

THƠ

NGƯỜI THƯƠNG XÓT

Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu,

Tình Yêu Ngài trổi vượt tận trời xanh,

Chúa xuống mưa trên kẻ ác, người lành,

Ngài xót thương ai có lòng thương xót.

Người thương xót biết lấy lời lành, ngọt,

An ủi ai đang trong cảnh u sầu,

Khuyên nhủ người mang nặng gánh lo âu,

Biết Tín Thác vào Tình Cha Nhân ái.

Người thương xót không nề hà, quản ngại,

Hướng dẫn, răn đe kẻ sống lạc đường,

Nhịn nhục, thứ tha vì Chúa Tình Thương,

Cho những ai đã làm mình đau khổ.

Người thương xót luôn nhớ người quá cố,

Cầu Chúa thương cho kẻ đã qua đời,

Nguyện cho người còn sống khắp nơi nơi,

Mai sau được bên Ngài, Quê hằng sống.

Người thương xót yêu thương bằng hành động,

Chia miếng cơm cho những kẻ đói lòng,

Và cho người đang khát bát nước trong,

Phủ ấm thân những anh em rách rưới.

Người thương xót giải thoát người tôi mọi,

Thăm anh em đang ở chốn lao tù,

Tiễn biệt người vừa vào cõi thiên thu,

Nơi nghĩa trang, nằm trong lòng đất lạnh.

Lạy Thiên Chúa, Đấng Nhân từ Chí Thánh,

Xin Ngài thương thánh hóa cõi lòng con,

Để cho con có một trái tim son,

Biết xót thương như Ngài hằng thương xót.

AnSiêu

 

TRONG TÌNH XÓT THƯƠNG

Có những lúc đôi vai em trĩu nặng

Trên đường đời đầy nước mắt sầu vương

Hãy về đây bên lòng Chúa xót thương

Nơi nguồn mạch niềm ủi an, nâng đỡ.

Có những lúc đôi chân em quỵ ngã

Giữa dòng đời bao giông tố bủa vây

Hãy về đây bên tình Chúa tràn đầy

Nơi chính Lời hoài đưa em bước tới.

Có những lúc tâm tư em bối rối

Biết tìm đâu được bến bờ bình yên

Hãy về đây bên Trái Tim dịu hiền

Nơi vòng nôi hằng ấp ủ em mãi.

Có những lúc em sa đàng tội lỗi

Dẫu bao phen bội nghĩa ân tình Cha

Hãy về đây bên tình Chúa thứ tha

Lòng xót thương, Người bao dung yêu mến.

Trái tim Người, em luôn mau tìm đến

Những lãnh nhận ân tình Chúa xót thương

Trong tin yêu, em vui bước trên đường

Nguyện một đời cũng đem niềm thương xót

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

THƯƠNG XÓT ĐỂ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG

 

“Dẫu xây chín cấp phù đồ

Không bằng làm phúc cứu cho một người”.

Lòng thương xót thật tuyệt vời

Mỗi khi thực hiện với người anh em.

Lật tìm Kinh Thánh đọc xem

Gương người Nhân Hậu mà đem học đòi.

Suy ra cái lẽ ở đời

Xót nuôi phần xác, thương lo phần hồn.

Chẳng hề suy tính thiệt hơn

Thương người sẽ được hưởng muôn phúc lành.

Xót thương, thương xót rành rành

Hướng về Thiên Chúa ngọn ngành bao la.

                         FX Đức Hạnh - Gx Thái Hoà

 

THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

 

Thánh Tâm của Chúa Giêsu

Chạnh lòng thương xót, khiêm nhu hiền lành.

Xót thương cho thánh Matthêu

Nên môn đệ Chúa sớm chiều cận thân.

Giakêu – thu thuế - tội nhân

Xót thương ghé mắt ân cần viếng thăm.

Macđala biết khóc than

Chúa thương tha thứ, dẫn đàng chính ngay.

Ngoại tình bị bắt tận tay

Chúa không kết án mà Ngài thứ tha.

Phêrô chối Chúa lần ba

Trong dinh gà gáy, xót xa giật mình.

Chúa không ghi lấy tội tình

Còn cho cơ hội sửa mình ăn năn.

Rằng: “Con yêu Chúa vô ngần

Nhưng con yếu đuối muôn phần Chúa ơi!”

Đến khi sắp chết trên đồi

Vẫn thương xót kẻ bề tôi trộm lành.

Phaolô tội chứng rành rành

Bắt Kitô hữu khắp thành khi xưa.

Chúa cho ngã ngựa trên đường

Ban cho ánh sáng, mở đường Đức Tin.

Còn tôi trên bước hành trình

Tìm về với Chúa công minh nhân hiền

Dù tôi yếu đuối mọn hèn

Bao lần vấp ngã, bao lần bất tuân

Trăm lần bất xứng muôn phần

Nghìn lần bất nghĩa, vạn lần vong ân.

Chỉ cần thống hối ăn năn

Quay về với Chúa, bỏ đàng quanh co

Chúa thương Chúa vẫn chăm lo

Ban ơn tha thứ đầy no phúc lành.

Tôi sao phụ Chúa cho đành?

Thánh Tâm Ngài mãi luôn dành yêu tôi.

Mời tôi cũng xót thương người

Như Thiên Chúa đã thương đời tôi trung.

KIM XUYẾN

 

XÓT THƯƠNG, CHIA SẺ VỚI NGƯỜI

 

Cuộc đời cần phải có nhau

Vui thì chung hưởng, khổ đau chia cùng

Dựng xây ý hợp tình chung

Để cho cuộc sống điệp trùng hân hoan

Thương người cơ khổ lầm than

Đem niềm vui tới đầy tràn mãi luôn

Những khi gặp cảnh u buồn

Vượt qua trở ngại,  tạo nguồn vươn lên

Khuyên người “oan ức” cố quên

Cũng đừng “trả đũa”, chớ nên hận thù

Vượt trên “tăm tối mịt mù”

Ra miền ánh sáng cho dù khó khăn

Gíup người vất và quanh năm

“Hạt cơm, manh áo”: che thân ấm lòng

Thỏa lòng, toại dạ ước mong

Cuộc đời tốt đẹp để không đói nghèo…

HOÀI THANH (Gx Ngọc Thạch)

 

XIN DẠY CON

Xin dạy con có lòng thương xót

Biết yêu người như chính thân con

Biết xẻ chia manh áo, đọi cơm

Giúp đỡ người neo đơn, bệnh tật

Biết ủi an, thăm người tù rạc

Đem niềm vui cho kẻ khổ sầu

Đem niềm tin cho kẻ lo âu

Đem thứ tha vào nơi lăng nhục

Xin dạy con lòng thương xót thực

Để muôn người nhận biết Chúa Cha

Ngài là nguồn thương xót bao la

Là ân phúc muôn đời muôn chốn…

Têresa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ

 

BÊN THÁNH TÂM CHÚA

 

Về đây bên Thánh Tâm Cha

Dâng lời cảm tạ, thiết tha, ân tình

Tòa cao tỏa ngát hương kinh

Tin yêu thắp sáng lung linh nến hồng.

Đoàn con hợp khúc tơ lòng

Ca khen tình Chúa thắm nồng, đầy vơi

Ơn thiêng tuôn đổ muôn nơi

Là nguồn mạch sống, giữa đời lầm than.

Chúa là nguồn suối ủi an

Lữ hành trần thế, gian nan, muộn phiền

Biển đời sóng gió triền miên

Trái tim ấm áp, dịu hiền chở che.

Thế trần phủ ngập đam mê

Tình yêu Chúa dẫn đưa về đường ngay

Qua bao dâu bể, đắng cay

Lòng luôn tín thác, mê say tình Người

Thánh Tâm Chúa, ôi, cao vời !

Tiếng ca rung cảm nên lời yêu thương

Về đây bên Chúa náu nương

Nhẹ nhàng bao gánh sầu vương cuộc đời.

Jos. Nhật Quang

 

TAY LÍNH BINH NHÌ!

Con muốn làm một tay lính binh nhì

Và Chúa là trung sĩ của đời con

Khi hành quân binh nhì đi với Chúa

Vào đồng hoang mà chẳng chút bồn chồn

Con muốn làm một tay lính binh nhì

Sát bên Chúa vào chiến trận trần gian

Dẫu xuống biển, hay trèo cao dốc núi

Dù hạn hán, lụt lội có tràn lan.

Con vẫn muốn làm tay lính binh nhì

Không vũ khí, gươm đao và gậy gộc

Nhưng nụ cười là khí cụ con mang

Tình trong tim là hành trang con bước

Con vẫn muốn – và con vẫn muốn

Được trở thành một tay lính binh nhì

Chẳng sợ chi, nhưng hăng say đi trước

Đến nơi đâu có Trung sĩ chỉ đàng

Bước một hai, cuộc trần dài hun hút

Lấy niềm vui làm thước chuẩn hành quân

Miệng reo mừng, có Trung sĩ đồng hành.

Binh nhì đây, con sẵn sàng tiến bước

Mar. PA

 

NGƯỜI CÓ LÒNG XÓT THƯƠNG

(Toa thuốc diệu kỳ)

Không là bác sĩ ngành y

Mà là bác sĩ chỉ vì Xót thương

Bệnh nhân đau yếu trên giường

Ra toa chữa bệnh tình thương diệu kỳ

Hỏi bà, ông cụ bệnh gì ?

Bà liền khẽ nói: Bệnh nghèo khó khăn

Không tiền chữa bệnh thiếu ăn

Bệnh suy dinh dưỡng xác thân gầy mòn

Xót thương với tấm lòng son

Thắm tình quà tặng xác hồn vui tươi

Chính là toa thuốc tuyệt vời

Cụ ông khỏe mạnh nhiều người vui lây

Năm lòng thương xót là đây

Chúa luôn ban xuống tràn đầy hồng ân

Yêu thương thăm hỏi ân cần

Ủi an giúp đỡ bệnh nhân khó nghèo

Song Kiên, Gx Đài Đức Mẹ

 

 

TẢN MẠN

 

CƠM WÉT NƯỚC WEB?

Nhìn vào xã hội Việt Nam hôm nay, đứng trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đúng ra con người có thể gần nhau hơn. Thế nhưng, một thực tế hết sức đau buồn đang diễn ra. Dường như con người dần dà đánh mất nhân vị tương quan của mình với những người thân trong gia đình, nói đúng hơn là thiếu sự quan tâm hay chỉ là sự hời hợt mà thôi. Tôi muốn nói tới những mối tương quan trong gia đình qua những bữa cơm. Đây là cơ hội của cuộc gặp gỡ gia đình đúng nghĩa để cùng chia sẻ với nhau một cách thân tình từ mọi vấn đề trong cuộc sống. Dường như người ta quá bận rộn đến nỗi trong một bữa cơm ngắn ngủi cũng không dành trọn thời gian để thưởng thức những món ăn ngon làm giàu dinh dưỡng cho cơ thể và giàu tình thương cho mọi người. Những chiếc smart phone không ngừng hoạt động, người ta quên là mình đang ăn để rồi những ngón tay không ngừng quét dế yêu của mình. Không biết có chuyện gì quan trọng hơn? Rồi từng thành viên không ai muốn nói với ai một lời nào nữa, một bầu khí tẻ nhạt xuất hiện, cơm canh thì lạnh lẽo, ai ăn xong thì cứ việc đi thoải mái và tự do. Với cái tự do như thế liệu có còn đúng nghĩa với ý nghĩa của bữa cơm gia đình nữa không? Tại sao mình quan tâm tới những người ở tận đâu đâu mà không thể dành một phút để có thể hỏi thăm, thể hiện sự quan tâm với những người thân yêu của mình? Thứ đến là những cuộc gặp gỡ tại các quán cà phê. Đa phần mọi khách vào quán điều đầu tiên là móc chiếc smart phone ra và hỏi người phục vụ Password của quán mình là gì hé? Khi cuộc gặp gỡ đủ mặt các thành viên thì vẫn tiếp tục phiên bản mạnh ai nấy lướt web. Dường như đây mới là việc chính, thay vì gặp gỡ để chia sẻ, để cùng lên kế hoạch cho mọi công việc. Chuyện gì trên thế giới cũng biết, lĩnh vực nào cũng thông, sự kiện nào cũng tỏ tường…đáng buồn thay những người đồng bàn thì mình không thể hiểu được vì có quan tâm đâu mà hiểu. Hy vọng mọi người ý thức vấn đề này để có thể hiểu và giữ được giá trị và ý nghĩa của bữa cơm gia đình, cũng như lợi ích của những cuộc gặp gỡ thân tình.  

Jos. Trần Thanh Tú

 

SỐNG TÌNH YÊU THA NHÂN

Linh mục nhạc sĩ Thái Nguyên đã mời gọi chúng ta ý thức về sứ mạng của mình trong cuộc sống này, khi ngài viết: “Chúa gọi con vào đời không phải để làm điều chi, nhưng là để sống tình yêu” (Tình ca Giêsu, bài “Sống cho tình yêu”). Thật vậy, khi hiện hữu trên thế gian này con người luôn hướng về Thiên Chúa là cội nguồn của tình yêu. Chính Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Để tình yêu luôn hiện diện trong cuộc sống, mỗi người hãy biết quan tâm đến tha nhân: “Khi có thể, con đừng từ chối làm điều lành cho ai đáng được hưởng. Khi có thể cho ngay, thì con đừng có nói: đi đi, mai trở lại rồi tôi mới cho anh.” (x.Cn 3,27-34). Như thế, người từ bi nhân hậu và công chính sẽ bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành. Và thật hạnh phúc cho những người biết cảm thương và cho vay mượn, biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình (x.Tv 111). Bên cạnh đó, Chúa Giêsu cũng khuyên chúng ta hãy biết làm hòa với anh em trước khi dâng của lễ cho Thiên Chúa (x.Mt 5,23-24). Và Thánh Phaolô cũng khuyên: “Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai” (1Cr 10,32). Vì vậy, ta hãy yêu thương tha nhân như chính mình, đó là dấu chỉ hữu hình tình yêu của ta đối với Thiên Chúa “vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20). Chính tình yêu là dấu chỉ của sự sống, còn không biết yêu thương thì  đã đi vào cõi chết (x.1Ga 3,14).

Trần Thiết

 

HỌC VỚI THẦY GIÊ SU

Chúng ta có một người thầy vĩ đại, hoàn hảo: THẦY GIÊSU. Yêu mến thầy Giêsu,  chúng ta học nơi Ngài, như lời Ngài dạy: “ Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường thật trong lòng.” Ngài còn nói:” Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em ở trên trời là Đấng trọn lành”(Mt 5, 48). Quả thật, Ngài có thể nói: “Anh em hãy nên trọn lành như ta là đấng trọn lành”, vì  Ngài và Cha là một. Nhưng vì khiêm nhường Ngài không nói vậy. Ngài còn nói: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như  Cha anh em là Đấng nhân từ.” (Lc 6,36; Mt 7,1-2). THẦY GIÊSU đã để lại cho ta gương sống yêu thương, phục vụ, quên mình. Khi xưa, trên bước đường rao giảng nước Thiên Chúa, Ngài đã làm nhiều phép lạ để biểu lộ quyền năng Thiên Chúa nơi Ngài, để các Tông đồ và dân chúng tin Ngài. Ngoài ra, Ngài thực hiện các phép lạ đó còn vì lòng thương xót của ngài đối với con người khổ đau, lầm lạc...

     Học với Thầy GIÊSU, chúng ta cũng hãy xót thương nhau, tha thứ cho nhau, chia sẻ cơm áo với những người anh em đang lâm cảnh quẫn bách, ngặt nghèo, đang cần chúng ta. Học nơi Thầy GIÊSU, Chúng ta cũng cần an ủi, động viên,  nâng đỡ những anh chị em đang đang đau khổ  vì bị phụ bạc, mất mát. Học nơi Thầy GIÊSU, chúng ta cũng hãy xót thương nâng đỡ những người đang đau đớn vì bệnh tật, già cả, neo đơn không nơi nương tựa. Đây là điều kiện để chúng ta tiếp tục được đón nhận lòng xót thương của Thiên Chúa.

Tom Điều, gx Môi Khôi- Láng Sen

 

PHÚC THAY KẺ BIẾT THƯƠNG XÓT

Trong mối phúc thật thứ năm, chúng ta được dạy rằng: “Ai thương xót người, ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được thương xót vậy”. Nghe qua điều ấy, con tự hỏi mình phải thương xót như thế nào và bằng cách nào mới đẹp lòng Chúa để được Ngài xót thương? Khi nhìn lại đời sống đạo của mình, con tự nhận thấy phải xót thương người từ trong suy nghĩ: phải có cái nhìn trong suy nghĩ luôn thánh thiện, tốt đẹp về mọi người xung quanh, khi ấy mới tạo được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người. Kế đến là phải xót thương trong lời nói: người ta vẫn thường nói họa từ miệng mà ra, chúng ta phải biết nói lời hay ý đẹp để làm chứng nhân cho Chúa, làm cho người ta nhận ra chúng ta là con Chúa qua hình ảnh của lòng xót thương như Ngài. Sau đó mới tới xót thương trong hành động: mỗi cử chỉ quan tâm, giúp đỡ dù là nhỏ bé nhất cũng thật đẹp lòng Chúa, một phần tư đồng xu của bà góa nghèo bỏ vào nhà Chúa thì được xem là lớn nhất, chính vì thế, chúng ta cũng phải biết quảng đại giúp đỡ người nghèo khổ hơn mình, ấy cũng là điều đẹp lòng Chúa. Đặc biệt năm thánh Lòng thương xót, chúng ta hướng đến sự xót thương của Thiên Chúa, dù con người tội lỗi, Ngài vẫn tha thứ nếu họ ăn năn hối cải. Chính vì điều ấy, chúng ta cũng phải biết xót thương như Cha chúng ta là Đấng hay xót thương.

Lưu Hành.

 

 

       
 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

TÌM HIỂU

 

Như chúng ta đã thấy: Hôn Nhân Kitô giáo đòi buộc vợ chồng phải chung sống trọn cả cuộc đời với nhau. Vì thế trước khi đặt tay ký bản án chung thân ấy, chúng ta cần phải hiểu biết nhau, khả dĩ có thể cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình. Càng biết rõ nhau, càng tránh được những sai lầm và đổ vỡ. Chỉ khi nào nắm vững được người bạn cùng với những hoàn cảnh chúng ta sắp dấn thân vào, thì mới nên tiến tới hôn nhân.

Trong việc tìm hiểu và chọn lựa, chúng ta đừng căn cứ vào những cái phù phiếm chóng qua, những cái nhãn hiệu bên ngoài, chẳng hạn như nhan sắc, tiền bạc và địa vị. Bởi vì có tuổi trẻ nào mà lại không già, có nhan sắc nào mà không bị tàn phai với thời gian. Còn tiền bạc và địa vị, là như một thứ của đồng lần, thiên hạ tiêu chung, nay còn mai mất, nay người mai ta. Sự tìm hiều và chọn lựa của chúng ta nên dựa vào những tiêu chuẩn sau đây:

1- Sức khỏe thể xác

Sức khỏe là một yếu tố cần thiết trong đời sống hôn nhân. Tình yêu của chúng ta chắc chắn sẽ gặp nhiều trở ngại khi hai người thay phiên làm y tá cho nhau, hoặc một người phải làm y tá suốt đời cho người kia. Gia đình sẽ không thể vui vẻ hạnh phúc trong cảnh đau ốm triền miên. Do đó, cần phải tìm hiểu và cân nhắc xem mình và người ấy có khả năng và sức khỏe để gánh vác đời sống gia đình hay không? Chẳng hạn một người mắc bệnh truyền nhiễm mà bước vào cuộc sống hôn nhân thì đó là một hành động liều lĩnh, sẽ đem lại những hậu quả tai hại không thể lường trước được, cho bản thân cũng như cho con cái. Nếu mắc phải bệnh nặng, đặc biệt là những bệnh di truyền thì lương tâm đòi buộc phải chữa cho lành trước khi tính tới chuyện hôn nhân. Nếu không chữa được, thì tốt hơn là đừng nghĩ tới chuyện hôn nhân nữa. Vì lập gia đình trong hoàn cảnh như thế, là đặt người  kia vào vòng đày đọa vô lý.

2- Khả năng nghề nghiệp

Bước vào đời sống lứa đôi, chúng ta phải có một khả năng chuyên môn, hay nói một cách cụ thể, chúng ta phải có một nghề nghiệp để sinh sống, để bảo đảm chén cơm manh áo cho cả gia đình. Danh ngôn Tây phương đã nói: Chỉ có con người xấu chứ không có nghề nghiệp xấu. Bởi đó, nghề nghiệp nào cũng đáng quí trọng. Kết hôn với một người có nghề nghiệp tức là đã có được một bảo đảm tương đối an toàn về phương diện vật chất. Của cải cha mẹ để lại ăn tiêu hoài rồi cũng có lúc hết. Song nếu có được một nghề nghiệp, thì gặp cảnh ngộ nào cũng có thể xoay xở được: Trâu ruộng bề bề không bằng nghề trong tay. Vì thế, cha ông ta cũng đã bảo: Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Điều quan trọng trong nghề nghiệp sinh sống là phải kiên nhẫn. Bởi vì thất bại là mẹ thành công.

3- Trình độ học thức

Hai người nên có một trình độ học thức tương đương với nhau, để sau này dễ thông cảm hòa hợp với nhau. Vì nếu người chồng học lực cao mà người vợ lại quá thấp, thì thật khó mà trao đổi bàn luận với nhau về bất cứ vấn đề gì. Còn nếu người vợ có học thức cao hơn người chồng, thì thường hay kiêu căng khinh dể và đó là nguồn gốc sinh ra những bất hòa và lục đục trong gia đình.

4- Tính tình và lòng đạo đức

Cần phải chọn lựa người có nhiều đức tính tốt, chẳng hạn như hiền hòa, tiết kiệm, chịu khó làm ăn, Bởi vì: Cái nết đánh chết cái đẹp, chứ không phải cái đẹp đè bẹp cái nết. Chính nhân đức mới là nét duyên thầm, không bao giờ bị tàn phai với thời gian. Người thiếu nữ kết hôn với một chàng trai con nhà giàu, nhưng vừa lười biếng, lại vừa đam mê rượu chè, cờ bạc, thì đó chính là tự hủy đời mình. Còn chàng trai kết hôn với một thiếu nữ vừa điêu ngoa xảo trá lại vừa nỏ mồm nỏ miệng, làm thì ít mà ăn hàng cũng như chưng diện thì nhiều, đó là tự mình ký lấy cho mình bản án khổ sai chung thân.

Thiết tưởng về tính tình cũng cần phải lựa chọn người có thể hòa hợp với mình, nghĩa là có thể cùng nhau cảm thông về công việc làm ăn, cũng như về cách thức tổ chức, điều hành gia đình và giáo dục con cái. Không nhất thiết hai người phải có những tính tình và sở thích giống hệt nhau, nhưng cần thiết là phải hòa hợp được cùng nhau. Một trong những phương thế giúp chúng ta dễ hòa hợp cùng nhau, đó là tình thần đạo đức. Đạo đức ở đây không phải chỉ là siêng năng tới nhà thờ, xưng tội rước lễ, mà là có được một đời sống đức tin trưởng thành, luôn hành động theo tinh thần của Chúa.

5- Gia đình và dòng họ

Xét tới gia đình và dòng họ không phải là cân nhắc xem có môn đăng hộ đối theo quan niệm của người xưa trong xã hội Việt Nam, nghĩa là có cân bằng cùng nhau về tuổi tác, địa vị và tiền bạc, nhưng là cân nhắc xem gia đình và dòng họ có đạo đức, có tiếng tốt hay là mang tiếng cờ bạc, rượu chè, gian tham và lừa đảo. Vì thế, tục ngữ Việt Nam cũng đã bảo: Lấy vợ xem tông, lấy chồng  xem giống. Đặc biệt đối với người thiếu nữ, cần phải cân nhắc xem khi về làm dâu, liệu mình có thể sống chung với bà mẹ chồng và những cô em chồng như thế hay không, kẻo lại lâm vào hoàn cảnh bi đát của muôn đời: Thật thà như thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.

Qua những điều vừa trình bày, chúng ta nhận thấy tìm hiểu nhau là điều rất cần thiết trước khi tiến đến hôn nhân. Tuy nhiên, phải tìm hiểu một cách công khai và đứng đắn, trong gia đình trước sự chứng giám của những người thân yêu, chứ đừng tìm hiểu một cách thầm lén vụng trộm trong rạp chiếu bóng, trong quán cà phê đèn mờ. Bởi vì, với một bối cảnh như thế, thì ma dẫn lối, quỉ đưa đường, khiến chúng ta dễ có những lạm dụng xấu và những dư luận không tốt.

Trong thời gian tìm hiểu, người thiếu nữ nên ghi nhớ đặc điểm tâm lý này, đó là người con trai hay hướng chiều về tình dục và rất muốn chiếm đoạt. Vì thế, chúng ta cần phải tỏ ra đoan trang và đứng đắn. Chính sự đoan trang và đứng đắn này sẽ làm cho chúng ta có được một sự hấp dẫn riêng, vì một cuộc chinh phục càng khó khăn bao nhiêu, thì chiến thắng càng giá trị bấy nhiêu. Một khung cửa mà ai cũng qua được thì nào có hay ho gì. Đồng thời cả hai người cần phải biết tôn trọng lẫn nhau, giúp nhau giữ đức trong sạch trong đấng bậc của mình, bằng cách đặt ra một lằn mức cuối cùng không được phép vượt qua. Nhờ đó, cuộc tình hôm nay và cuộc hôn nhân mai ngày sẽ được Thiên Chúa chúc phúc.

 

Tụy Hiền

 

TÌNH CHÚA

Chúa ơi! Tình Chúa cao vời,

Hằng luôn tuôn đổ sáng ngời Thánh ân.

Chúa ơi! Tình Chúa vô ngần,

Trái tim quảng đại muôn vàn thứ tha.

Chúa ơi! Tình Chúa chan hòa,

Lòng thương xót Chúa bao la trải hoài.

Chúa ơi! Tình Chúa tràn đầy,

Đời con có Chúa tháng ngày hoan ca.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ DỰ TU TÊRÊSA, AN CHÂU

Sáng ngày 27.5.2016, Quý Đức cha và hơn 100 cha trong giáo phận đã đến An Châu, để dâng Thánh lễ tạ ơn và làm phép Nhà Dự Tu Têrêsa. Đây là công trình được quý Đức cha, quý Cha và bà con giáo dân trong cũng như ngoài Giáo phận rất quan tâm và nhiệt tình giúp đỡ, nên chỉ trong vòng một năm, công trình xây dựng đã hoàn thành. Mở đầu, Đức cha đã làm phép tượng Thánh Têrêsa, bổn mạng của Nhà Dự tu. Tiếp đến, cha Giám đốc Vinc. Nguyễn Văn Thanh đã bày tỏ lời tri ân đến quý Đức Cha, quý Cha, quý Tu Sỹ nam nữ, anh em Cựu Chủng sinh và bà con giáo dân đã góp phần xây dựng. Ngôi nhà mới này có thể tiếp nhận được 40-60 chú dự tu và được coi như tiểu chủng viện.

 

THÁNH LỄ PHONG CHỨC LINH MỤC

Sáng ngày 03.6.2016, tại nhà thờ Đài Đức Mẹ Tân Hiệp, Đức cha Giuse Trần Văn Toản cùng với khoảng 250 linh mục trong và ngoài giáo phận đã cử hành Thánh lễ Phong chức cho 13 phó tế:

1/ Giuse Lưu Phước Đại, Gx Núi Tượng

2/ Phaolô Nguyễn Minh Đăng, Gx Fatima

3/ Gioan Baotixita Nguyễn Công Lệnh, Gx Núi Sập

4/ Gioan Nguyễn Minh Nhựt, Gx Cần Thay

5/ Anrê Mai Thanh Toàn, Gx Chi Lăng

6/ Phêrô Bùi Minh Chiến, Gx Long Thạnh, C2

7/ Stêphanô Nguyễn Quốc Thắng, Gx Thanh Long, D1

8/ Gioan Bosco Trần Hoàng Đăng Tâm, Gx Đồng Phú, 2b

9/ Giuse Đinh Phi Thoàn, Gx Thức Hóa, 5a

10/ Phêrô Cao Quang Vinh, Gx Thái Hòa, Kinh Rivêra

11/ PX Maria Trần Đình Hoành D.Đồng Công, Gx Hòa Phú

12/ GB Maria Nguyễn Đức Thảo D.Đồng Công, Gx Hòa Phú

13/Phêrô Nguyễn Hoàng Tú, Gx Hòa Hưng.

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

ĐỨC CHA NGUYỄN VĂN LONG,

TÂN GIÁM MỤC CHÁNH TÒA PARRAMATTA, AUSTRALIA

Hôm 5.5.2016, ĐTC Phanxicô đã bổ nhiệm Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long, làm tân Giám Mục chính tòa giáo phận Parramatta bên Australia. Đức Cha Long, 55 tuổi, thuộc dòng Phanxicô Viện Tu và cho đến nay là GM Phụ tá Tổng giáo phận Melbourne.

 

 

ĐỨC CHA GIUSE NGUYỄN THẾ PHƯƠNG,

TÂN GIÁM MỤC KAMLOOPS, CANADA

Ngày 01.6.2016 ĐTC Phanxicô đã bổ nhiệm cha Giuse Nguyễn Thế Phương -Tổng đại diện Tổng giáo phận Vancouver, làm Giám mục chính toà giáo phận Kamloops, Canada, thay thế Đức cha David Monroe, mãn nhiệm theo giáo luật (75 tuổi). Đức cha Monroe đã coi sóc giáo phận Kamloops từ năm 2002, và cũng như vị giám mục kế nhiệm, ngài cũng là nguyên Tổng đại diện của Tổng giáo phận Vancouver.

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

THÀNH LẬP BỘ GIÁO DÂN, GIA ĐÌNH VÀ SỰ SỐNG

Hôm 4.6.2016, ĐTC Phanxicô đã cho công bố việc thành lập và qui chế thử nghiệm của Bộ (dicastero) giáo dân, gia đình và sự sống, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-9 tới đây. Bộ giáo dân, gia đình và sự sống do một vị Bộ trưởng điều khiển với sự trợ giúp của một Tổng thư ký, có thể là giáo dân, và có 3 Phó tổng thư ký giáo dân, với một số viên chức thích hợp, giáo sĩ và giáo dân, được chọn bao nhiêu có thể từ những vùng khác nhau trên thế giới, theo qui luật hiện hành của các cơ quan trung ương Tòa Thánh (Đ.2, 1). Bộ được chi làm 3 phân bộ: giáo dân, gia đình và sự sống, mỗi phân bộ do một phó Tổng thư ký đứng đầu.

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

 

GIÁO XỨ TÂN LẬP

Sóc Sơn –Hòn Đất – Kiên Giang

 

1/ Bổn mạng Nhà Thờ: 19.03

2/ Lịch sử hình thành: Từ năm 1989.

Khởi đầu là cuộc di dân của Hợp tác xã kinh 4A, xã Tân Hiệp A. Những người dân nơi đây đi khai thác vùng kinh tế mới. Có Cha Giuse Nguyễn Văn Tiếu phụ trách. Về sau Cha Tiếu bàn giao lại cho Cha Quản Hạt Rạch Giá là Cha Giuse Nguyễn Văn Việt. Từ đó Tân Lập trở thành họ lẻ của Nhà Thờ Rạch Giá. Ngày 10.5.1990, Thầy Giuse Nguyễn Ngọc Thể chịu chức linh mục và làm Cha phó phụ trách coi sóc họ đạo Tân Lập. Đến năm 1994, họ đạo Tân Lập chính thức trở thành giáo xứ Tân Lập cùng với một số giáo dân Kiên Hảo. Cha Giuse Nguyễn Ngọc Thể trở thành linh mục chánh xứ tiên khởi. Cũng năm 1994 cha sở họ đạo ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM - Hòn Đất, cha JB Nguyễn Văn Nghị bàn giao họ đạo MỸ HIỆP SƠN cho giáo xứ Tân Lập.

3/ Địa giới hiện nay:

Gồm 3 xã: Mỹ Thuận, Mỹ Phước và Mỹ Hiệp Sơn thuộc Huyện Hòn Đất, Tỉnh KG.

4/ Số tín hữu: 2.250 người.

5/ Cơ sở mục vụ:

- Năm 1989 Nhà Thờ ban đầu bằng tre lá do giáo dân dựng lên.

- Năm 1993, Nhà Thờ được xây dựng kiên cố do cha Giuse Thể.

- Năm 1994, cha Giuse Thể đảm nhận thêm Giáo họ Mỹ Hiệp Sơn và dựng lên một nhà nguyện nhỏ bằng trẻ lá ở đây.

- Năm 2002, Cha JB Nguyễn Văn Lý xây dựng kiên cố Nhà Thờ Mỹ Hiệp Sơn và mua thêm 5 công ruộng, cộng thêm phần đất Nhà Thờ Mỹ Hiệp Sơn hiện nay. Năm 2004 xây dựng nhà xứ.

- Kiên Hảo hiện nay có 103 gia đình công Giáo, 420 giáo dân. Tháng 6/2004  vừa qua, cha Lý đã làm đơn xin chính quyền tỉnh Kiên Giang chấp thuận cho Kiên Hảo là một họ đạo độc lập, nhưng chưa trả lời.

- Nhà xứ Tân Lập được xây dựng bán kiên cố vào năm 1994 do Cha Giuse Thể. Năm 1997 Cha Giuse Thể làm thêm một nhà tiền chế cho nữ tu và một nhà trẻ mẫu giáo.

6/ Các linh mục phục vụ :

- Giuse Nguyễn Văn Tiếu        1989-1990

- Giuse Nguyễn Văn Việt         1990-1990

- Giuse Nguyễn Ngọc Thể       1990-1999 cha xứ tiền khởi

- Luca Phạm Tuấn Khanh        1999-2000

- Gioan B. Nguyễn Văn Lý      2000-2016

- Phaolô Nguyễn Đức Thiện    2016- nay

- Cha Phó Giuse Vũ Thiện Mỹ 2016- nay

- Đaminh Cao Văn Luận          2004-2013 cha phó biệt cư phụ trách Mỹ Hiệp Sơn

- Gioan B. Mai Thanh Trúc     2013…….cha phó biệt cư phụ trách Mỹ

           Hiệp Sơn.

7/ Nữ tu phụ trách:

Từ Năm 1998-2003 có các nữ tu Dòng Nữ Tử Bác Ái Chúa Kitô phục vụ. Hiện nay không còn.

8/ Kinh tế- Xã hội:

Giáo xứ nằm trong  khu vực trũng của vùng tứ giác Long Xuyên – một vùng đa tôn giáo, là xứ  truyền giáo. 100% là nông dân. Giáo xứ có 7 mẫu đất đang canh tác.

 

 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 8. 2016:

NGƯỜI CÓ TÂM HỒN TRONG SẠCH

CHỦ ĐỀ THÁNG 9.2016:

NGƯỜI XÂY DỰNG HÒA BÌNH

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.giaophậnlongxuyen.org

Đa tạ.

 

 

 

 

 

 


* Basilius (khoảng 330-379): Việc đào sâu giáo lí Chúa Ba Ngôi của ngài và các bạn ngài đã dứt điểm cuộc tranh cãi về thuyết Arius tại công đồng Constantinopel (381).

[1]Olivier de la Bross, Antonin-Marie Henry, Philippe Rouillard, Dictionnaire de la Foi Chrétienne, Tome I,  Les Éditions du Cerf, Paris, 1968, trang 473.

 

 

 

Bài viết liên quan:

BÁO TĨNH TÂM THÁNG 8/2017
BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 8/2017
BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 7/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 7/2017
BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 6/2017
BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 5/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 4 /2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 03/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 2/2017
Page 1 of 5 (41 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
Next
Bài viết mới
  • Các bạn trẻ có nên xăm mình không?

    “Luân lý quyết định xem là liệu chuyện con sắp làm có tốt hay xấu. Hay nói khác đi, luân lý chính là nguyên tắc hay quy luật giúp con phân ...

  • Nỗi cô đơn tinh thần

    Nơi chốn chúng ta cô đơn nhất là ở phần tinh thần của tâm hồn, chính xác đó là nơi chúng ta cảm nhận mãnh liệt nhất tất cả mọi sự và là nơi chúng ...

  • Bệnh nghiện tình dục

    Tôi muốn chấm dứt với người cũ vì còn yêu vợ con, nhưng lại cũng muốn gặp người cũ chỉ để thỏa mãn tình dục. Tôi đang suy nghĩ về điều này ...

  • Suy niệm Chúa nhật 24 TN A

    Một cản trở có thể nói là duy nhất khiến cho con người khó thứ tha cho người khác, là vì không biết rõ mình cũng cần được tha thứ.

  • Bí quyết dạy con kiểm soát tốt hành vi mà không cần đánh mắng

    Thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng khi trẻ lớn lên. Dưới đây là 9 cách để bố mẹ giúp kiềm chế hiệu quả ...

  • Chẳng có gì là tuyệt đối của riêng chúng ta

    Chúng ta không sở hữu thứ gì. Những quyển sách đó thật sự không phải là của tôi. Chúng được trao cho tôi sử dụng tạm thời. Chẳng có gì thuộc ...

  • Ơn gọi là một chuyến đi + GB. Bùi Tuần

    Chuyến đi ơn gọi là những chuỗi dài, những bước đi khác nhau. Có những bước đi trong tăm tối, nghe từng hơi thở rên xiết. Có những bước ...

  • Tản mản đời tha hương: Thiên đàng hai kiếp

    Sống trên đời, ai cũng khát khao hạnh phúc. Chúng ta bây giờ phải nhìn thẳng vào bản thân Bill và Melinda Gates, để tự kết luận rằng, để được ...

  • Sức mạnh của lời nói (P 2)

    Nói ít hay ít nói, điều nào tốt hơn? Tùy bản tính mỗi người, nhưng nói ít, rõ ràng, gọn nhẹ vẫn tốt hơn. Nói ít không phải là ít nói, mà ...

  • Làm sao đi xưng tội, khi đã bỏ nhiều năm

    Một hướng dẫn thực hành cho những người thấy ngại ngùng trở lại với các bí tích. Với những người còn ngại ngần đón nhận lòng thương xót Chúa, ...

Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1317
Tất cả: 44,630,424