TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012

 

 

DÂNG KÍNH MẸ

LỜI KINH MÂN CÔI

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 10 & 11 năm 2015

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TÂN PHÚC ÂM HÓA CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

VỚI SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG

***

Anh chị em thân mến

Các giám mục chúng tôi xin gửi đến anh chị em lời chào chúc bình an của Thiên Chúa, và phó thác giáo phận cho tình mẫu tử của Mẹ Maria. Hiệp thông với Giáo Hội cầu nguyện cho công cuộc loan báo Tin Mừng, chúng tôi gửi đến anh chị em thư mục vụ tháng 10 có chủ đề “Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ Với Sinh Hoạt Loan Báo Tin Mừng cho muôn dân”.

1. Hướng về công cuộc loan báo Tin Mừng trên phần đất của giáo phận, chúng ta cùng bày tỏ tâm tình tạ ơn vì Tin Mừng đã được trao tặng. Tạ ơn vì từ rất sớm, Chúa đã gửi các vị thừa sai đến Hà Tiên. Một vài khuôn mặt điển hình là cha F. José García (1735), Đức Cha Armand François Lefèbre (1743), các thừa sai dòng Phanxicô (1747), và các cha dòng Đaminh (1749). Tạ ơn vì từ năm 1833 đến 1862, trên phần đất Long Xuyên, có nhiều vị thừa sai đã anh dũng dùng mạng sống mình làm chứng cho niềm tin, nổi bật là cha Phêrô Đoàn Công Quý, và ông Emmanuel Lê Văn Phụng tử đạo tại Châu Đốc năm 1859. Tạ ơn vì những bước chân thừa sai của các cuộc di dân vào thập niên 1920 tại vùng Đất Hứa, vào thập niên 1950 tại vùng Cái Sắn, vào thập niên 1980 rải rác trong tỉnh Kiên Giang. Nhờ những cuộc di dân này, giáo phận được thành lập vào 24-11-1960 và ngày càng trở nên đa dạng và phong phú. Ở đây, chúng ta không thể không bày tỏ lòng tri ân với anh chị em dân cư địa phương, với nhiều triết lý sống, với nhiều tôn giáo, với nhiều sắc thái văn hóa, đã đón nhận chúng ta, đã trân quý niềm tin của chúng ta, và đã chấp nhận cho chúng ta được đồng hành trong gia đình dân tộc.

Chúng ta tạ ơn Chúa và tri ân con người. Trong tâm tình tạ ơn, chúng ta cũng nhìn lại lịch sử loan báo Tin Mừng của giáo phận để nắm bắt được tia sáng gợi hứng, những lý tưởng, những dự phóng, những giá trị đã thúc đẩy bậc tiền bối của chúng ta dấn thân trong công cuộc loan báo Tin Mừng như một di sản truyền lại cho chúng ta.

2. Cùng với tâm tình tạ ơn, giáo phận cũng bày tỏ tâm tình tạ tội về những thiếu sót trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Thiếu sót trong sứ vụ loan báo Tin Mừng khi đa số dân Chúa trong giáo phận, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, vẫn chưa có một nhận thức đúng đắn và đầy đủ về sứ vụ loan báo Tin Mừng như lệnh truyền của Chúa Kitô cũng như giáo huấn của Giáo Hội, cụ thể là sắc lệnh Đến Với Muôn Dân của công đồng Vaticanô II, tông huấn Loan Báo Tin Mừng của ĐGH Phaolô VI, thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Chuộc và tông huấn Giáo Hội Tại Á Châu của ĐGH Gioan Phaolô II, và mới đây, tông huấn Niềm Vui của tin Mừng (NVTM) của ĐGH Phanxicô.

Thực tế là tại các cộng đoàn Kitô hữu, chúng ta lo tổ chức học thuộc các bài giáo lý và bận rộn tổ chức các cuộc lễ mà chưa tích cực sống chứng nhân và dấn thân cho công cuộc loan truyền đức tin. Thêm nữa, đời sống đạo của nhiểu Kitô hữu chỉ được với các thực hành qua những hoạt động bên ngoài của hội đoàn hoặc được đánh giá bằng sự đóng góp xây dựng các cơ sở vật chất hơn là đi vào niềm xác tín với những cảm nghiệm thiêng liêng từ nội tâm. Ngoài ra, sống trong một xã hội đề cao hưởng thụ, duy vật thực hành và tục hóa, nhiều Kitô hữu sống đạo hời hợt, giữ đạo chiếu lệ theo tập quán, và coi thường sứ vụ loan báo Tin Mừng. Cách sống đạo trên, chắc chắn ảnh hưởng tiêu cực đến sứ vụ loan báo Tin Mừng của giáo phận.

Vì thế, giáo phận cần tạ tội và thực hiện một cuộc hoán cải mục vụ như lời hô hào của ĐGH Phanxicô: “Tôi hi vọng tất cả các cộng đoàn sẽ dành những cố gắng cần thiết để tiến tới theo con đường của một sự hoán cải mục vụ và truyền giáo không để tình hình tiếp tục như hiện tại. Việc “quản trị thuần tuý” đã trở nên bất cập. Trên khắp thế giới, chúng ta phải “thường xuyên trong trạng thái truyền giáo. Mọi sự canh tân của Hội Thánh phải lấy truyền giáo làm mục tiêu để tránh rơi vào nguy cơ của một Hội Thánh qui vào chính mình” (NVTM 25 & 27).

3. Hướng về phía trước, giáo phận phải dấn thân với sự ưu tiên chọn lựa cho công cuộc truyền giáo. Cùng với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, “chúng ta hãy đi ra, đi ra để cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giêsu Kitô. Ở đây tôi lặp lại cho toàn thể Hội Thánh điều tôi từng nói cho các linh mục và giáo dân ở Buenos Aires: Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục. Tôi mong rằng, thay vì sợ đi lạc, chúng ta nên sợ bị giam hãm trong những cấu trúc làm cho chúng ta có một cảm giác an toàn giả tạo, những qui tắc biến chúng ta thành những quan toà tàn nhẫn, với những thói quen làm chúng ta cảm thấy an thân, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Đức Giêsu không ngừng nói với chúng ta: “Anh em hãy cho họ ăn đi!” (Mc 6:37) (NVTM 49).

Riêng với các cộng đoàn Kitô hữu, Đức Thánh Cha yêu cầu: “Trong mọi hoạt động của mình, giáo xứ cổ vũ và huấn luyện các thành viên của mình để trở thành những người loan báo Tin Mừng, giáo xứ là một trung tâm thường xuyên vươn ra truyền giáo. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng lời kêu gọi duyệt lại và canh tân các giáo xứ của chúng ta vẫn chưa đủ sức đưa các giáo xứ đến gần người dân hơn, biến các giáo xứ trở thảnh những môi trường sống hiệp thông và tham dự, và làm cho giáo xứ trở nên hoàn toàn hướng về truyền giáo” (NVTM 28).

Anh chị em thân mến,

Cuộc họp mặt tại giáo xứ Đất Hứa vào ngày 16-10 sắp tới trở thành lời tạ ơn, một tạ tội, và cam kết dấn thân trong công cuộc loan báo Tin Mừng của giáo phận. Chúng ta ước mong giáo phận tiếp tục hiện diện và đồng hành với anh chị em đồng bào của mình với sự cam kết dấn thân loan báo Tin Mừng, sẵn sàng ra đi ngoại biên để thiết lập các tương quan mới, với lửa nhiệt tình truyền giáo từ Chúa Thánh Thần, với những sáng kiến đề ra cách thế loan báo Tin Mừng hữu hiệu cho thời đại mới, và với cách diễn tả phù hợp với con người ngày nay. Chắc chắn, chúng ta được hưởng niềm vui của Tin Mừng

Siêng năng lần chuỗi Mân Côi cầu cho công cuộc loan báo Tin Mừng, giáo phận chúng ta tiếp tục bước theo con đường của Chúa Kitô thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng trong mầu nhiệm Nhập Thể (năm sự Vui), mầu nhiệp Nhập Thế (năm sự Sáng), mầu nhiệm Khổ Nạn (năm sự Thương), và mầu nhiệm Phục Sinh (năm sự Mừng).

Xin Chúa và Mẹ Maria chúc lành cho giáo phận chúng ta.

 

+ Giuse Trần Văn Toản                             + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

BÊN MẸ MARIA

 TÔI GẶP GỠ CHÚA GIÊSU

 

1.

Từ nhỏ đến bây giờ, suốt gần 90 năm, tôi vẫn có thói quen sống bên Mẹ Maria.

Sống bên Mẹ, tôi cảm thấy an tâm, hạnh phúc. Tôi thường nói với Mẹ bằng Kinh Mân Côi. Đơn sơ thế thôi. Như trẻ thơ, tôi cũng thường kể cho Mẹ nghe những mong muốn của tôi. Mong muốn thì nhiều. Có những mong muốn ngây thơ. Đôi khi cũng có những mong muốn dại khờ.

2.

Vì yêu thương, Mẹ giúp tôi dần dần biết khát khao điều đáng khát khao nhất, đó là khao khát gặp gỡ Chúa Giêsu.

Khao khát ấy được tôi cảm nghiệm như những cơn đói, cơn khát, cơn bồi hồi, cơn xao xuyến. Tôi cảm thấy mình bần cùng, nghèo túng, mong manh. Tôi cảm thấy mình cô đơn, bơ vơ trong chuyến đi về cõi sau, một chuyến đi đầy trắc trở và có những bất ngờ nguy hiểm. Tôi cần được Chúa cứu.

Tôi khao khát gặp Chúa Giêsu. Bởi vì tôi được Mẹ kể về Chúa Giêsu, qua các kinh đọc, qua Lời Chúa, qua các bậc Thánh.

Khao khát của tôi trở thành cầu nguyện và đợi chờ.

3.

Trong lúc không ngờ, Chúa Giêsu đã đến với tôi. Chúa Giêsu đến bằng nhiều cách khác nhau, trong những giờ phút khác nhau, dưới những hình thức khác nhau. Chúa đến và cho tôi biết Người đến chỉ vì tôi.

4.

Chúa đến với tôi như một cái nhìn yêu thương, như một câu hỏi thăm âu yếm. Chúa muốn tôi trả lời Chúa. Câu trả lời tôi ưa thích nhất là: “Chúa là Đấng cứu thế. Chúa đến để cứu con”. Mẹ dạy tôi trả lời như thế.

Nhìn Chúa Giêsu là Đấng cứu thế, đã là tốt. Nhưng còn phải tin vững vàng như thế nữa.

Tin vững vàng Chúa Giêsu là Đấng cứu thế đã là rất tốt. Nhưng còn phải xin theo Chúa nữa.

Tin Chúa Giêsu và xin theo Chúa Giêsu, đó là điều Mẹ Maria đã không ngừng giúp tôi. Dưới đây là vắn tắt điều Mẹ dạy tôi.

5.

Tôi thấy tôi chỉ tin và theo Chúa Giêsu một cách chân thành, khi tôi thực sự thấy mình tội lỗi, phải cần được Chúa cứu, và khi tôi thực sự khao khát sự sống thánh thiện của Chúa, phải cần được Chúa chia sẻ cho.

Thời Chúa Giêsu biết bao người Do Thái đã được nhìn thấy Chúa Giêsu, đã từng được ăn uống với Người. Nhưng họ đã không tin Người, đã không theo Người. Lý do là họ không nhìn nhận mình nghèo túng về đàng thiêng liêng. Nhất là vì thái độ kiêu căng của họ, nên họ không được Chúa Cha dẫn họ tới Chúa Giêsu. Như Chúa Giêsu đã có lần khẳng định sự tin vào Người là do ơn Chúa Cha ban cho. (x. Mt 16, 17).

6.

Còn theo Chúa Giêsu lại là một việc không dễ dàng. Theo Chúa Giêsu là bỏ lối sống cũ, mà theo lối sống mới. “Ai muốn theo Thầy thì  phải từ bỏ chính mình, vác Thánh Giá mình mà theo”. (Mt 16, 24).

7.

Để theo Chúa, Mẹ dạy tôi về tình hình hiện nay.

Ngay lúc này, tôi nghe nhiều cuộc buôn súng, buôn người xảy ra một cách ghê gớm, nhiều tội ác bùng phát một cách dã man, nhiều cuộc tan vỡ tiếp nối nhau một cách thảm khốc trong nhiều gia đình, những cuộc giết chóc, tự tử, lừa dối trở thành bình thường. Trước tình hình này, tôi được khuyên là nên tự ý từ bỏ vài điều tôi được quyền hưởng thụ, để xin Chúa thương cứu gỡ tình hình đen tối đó. Nhưng tôi đâu có từ bỏ một cách dễ dàng! Tôi yếu lắm.

Lúc này, tôi đang trong cơn đau đớn do nhiều bệnh tật. Tôi được khuyên là nên vác Thánh Giá đó một cách vui vẻ, để đền tội thay cho nhiều người. Nhưng tôi đâu có vui vác Thánh Giá đó của tôi! Tôi yếu lắm.

Lúc này, tôi bước theo Chúa Giêsu trong các hội nghị, trong các cuộc tĩnh tâm, trên lý thuyết tôi hợp ý với Người trong những đớn đau Người chịu. Nhưng khi Chúa bảo tôi hãy biến đời sống thường ngày của tôi thành của lễ có tình yêu và có hy sinh, thì tôi đâu có sẵn sàng bước theo Chúa! Tôi yếu lắm.

8.

 Mẹ cho tôi thấy: Tôi rất yếu đuối. Tôi cần được Chúa cứu. Sự yếu đuối của tôi giúp tôi tìm đến những người cũng yếu đuối như tôi, để cảm thông với họ. Tôi đứng chung với họ trong hàng ngũ những người kêu cầu Chúa đến cứu. Mẹ Maria ở bên tôi.

9.

Trong một lúc không ngờ, Chúa Giêsu đã đến với chúng tôi. Mẹ dạy tôi hãy tự xưng với Chúa là con chiên lạc. Chúa đã ôm lấy tôi. Tôi sực nhớ tới những lời Chúa phán xưa về con chiên lạc được Chúa tìm về với bao yêu thương. Tôi rất cảm động, nhớ lại lời Chúa phán: “Trên trời, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì 99 người công chính không cần phải sám hối ăn năn”. (Lc 15, 7). Tôi biết tôi được cứu nhờ Chúa Giêsu. Người đã chết để cứu tôi.

10.

Mẹ cho tôi nhìn mình như người được mặc áo trắng, mà sách Khải Huyền đã nói tới: “Họ sẽ giặt sạch và tẩy áo mình trong máu Con Chiên”. (Kh 7, 14).

Mẹ khẳng định: Tôi thuộc về loại người được cứu, mà Thánh Phêrô quả quyết là nhờ máu Chúa Giêsu: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô”. (1Pr 1, 29).

11.

Tới đây, tôi thấy Mẹ Maria đã luôn ở bên tôi. Mẹ giúp tôi. Sự giúp đỡ của Mẹ không hệ tại ở lời Mẹ nói và việc Mẹ làm, mà hệ tại ở sự Mẹ hoạt động một cách sâu xa trong trái tim tôi, để tôi trở nên mềm mại, sẵn sàng đặt mình trong Chúa.

Nhờ vậy, tôi hiện diện trước Chúa, nhìn lên Chúa, chăm chú và đợi chờ ở tình yêu Chúa.

Tôi cảm thấy mình được yêu thương. Tình yêu của Chúa là cứu độ. Hạnh phúc của tôi là được vâng theo ý Chúa. Tôi cảm thấy nghèo hèn, tất cả những gì tôi nhận được đều do Chúa ban. Tôi không muốn làm gì cho Chúa, mà chỉ muốn để mình được Chúa làm theo Thánh Ý Người. “Này con là tôi tớ Chúa, con xin vâng như lời sứ thần truyền” (Lc 1, 38). Tôi hết lòng cảm tạ Chúa.

12.

Để kết, tôi không thể không nói lên nỗi lòng của tôi về Mẹ, trước những gì đã xảy ra ở Fatima, ngày 13 tháng 10 năm 1917.

Tháng 10 năm ấy, Mẹ Maria đã cảnh báo sẽ có thảm họa ghê gớm xảy ra cho Hội Thánh và thế giới, nếu không nghe lời Mẹ mà sám hối.

Hôm nay, bên Mẹ Maria, tôi được nhắc nhở sứ điệp quan trọng đó. Chỉ Chúa mới cứu được chúng ta. Tình hình hiện nay là nghiêm trọng và nguy hiểm.

Long Xuyên, ngày 8.9.2015

 

 

 

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Chúa Nhật 27 TN, B

St 2,18-24; Dt 2,9-11; Mc 10,2-16

BẤT KHẢ PHÂN LI

 

Người Biệt phái hôm nay đưa vấn đề li dị ra để hỏi Chúa Giêsu. Họ hỏi không phải là để có thêm kiến thức, hay tranh thủ ý kiến của Ngài; nhưng hỏi là để giăng bẫy Ngài. Một cái bẫy không kém phần thâm độc. Thực vậy! Họ chọn đúng lúc có đông đảo dân chúng tụ tập chung quanh Chúa Giêsu, để đòi buộc Ngài phải tỏ rõ lập trường. Uy tín của Ngài sẽ tùy thuộc vào cách giải quyết của Ngài. Mà theo những người Biệt phái đánh giá, thì phen này Chúa Giêsu sẽ “chết chắc”, không dễ gì thoát được cạm bẫy của họ. Nếu Chúa Giêsu trả lời được phép li dị, thì Ngài sẽ đi ngược lại lề luật của Thiên Chúa (Mc 10,9). Còn nếu Chúa trả lời không được phép li dị, thì Ngài sẽ vi phạm điều ông Maisen đã qui định (x. Đnl 24,14). Thế nhưng Chúa Giêsu đã vạch trần âm mưu của người Biệt phái, bằng cách Ngài kéo họ về với điều Thiên Chúa muốn người ta thực hiện. Chúa đã gợi lại cho họ biết: Ngay từ khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên người nữ để làm vợ người nam, nghĩa là làm người bạn đường, bình đẳng với người nam.

Để diễn tả ý tưởng này, Kinh Thánh cho thấy Thiên Chúa đã dựng nên người nữ, không phải bằng bụi đất, mà bằng chính xương thịt của người nam. Theo quan niệm của người Do Thái, thì lồng ngực được cấu tạo bởi bộ xương sườn, đó chính là trung tâm của sự sống con người. Như thế, giữa người nam và người nữ, giữa người vợ và người chồng, có một mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ xương máu, quan hệ cuộc sống. Và trong ý định của Thiên Chúa, người vợ và người chồng được tạo dựng để trở nên một huyết nhục. Do đó “điều gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân li” (Mc 10,9).

Nhưng trong thực tế, ông Maisen đã cho phép li dị (x Đnl 24, 14). Theo Chúa Giêsu, thì việc làm của Maisen không có tính cách qui định một lý tưởng phải theo đuổi, mà đó chỉ là một sự nhượng bộ, vì sự cứng lòng của người Do Thái lúc bấy giờ mà thôi (Mc 10,5-8). Thực vậy, thay vì thực hiện lí tưởng của khởi đầu cuộc sáng tạo, nghĩa là coi vợ mình như một người bạn đường, như một phần của cuộc sống mình, thì nhiều người đã coi vợ mình như là một phương tiện để thỏa mãn những ước muốn ích kỉ, để rồi loại bỏ khi không cần thiết. Sự ích kỉ đó đã phổ biến đến nỗi ông Maisen phải nhượng bộ họ, để giải quyết sự yếu đuối của những người cùng thời với ông. Đồng thời nó còn phản ảnh một quan niệm trong hôn nhân thời bấy giờ, đó là người vợ không được nhìn nhận là bình đẳng với người chồng.

Đoạn Tin Mừng này vẫn được sử dụng trong Thánh lễ cưới. Câu nói của Chúa Giêsu: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân li” (Mc  10,9), vốn được coi là nền tảng cho sự bền vững của gia đình Công giáo. Thế nhưng ta đừng vội hiểu việc Thiên Chúa liên kết theo một ý nghĩa hoàn toàn pháp lí hay nghi lễ. Thực vậy! Vợ chồng kết hợp với nhau, không phải bằng một nghi lễ, mà bằng chính sự tôn trọng lẫn nhau. Họ đặt mình trong kế hoạch tạo dựng của Thiên Chúa, bằng sự trở nên một huyết nhục, qua hành động, qua tình cảm, qua cuộc sống thường ngày, qua sự chọn lựa diễn ra trong từng giây từng phút. Bởi đó, vợ chồng hãy sống việc Thiên Chúa liên kết, hơn là coi đó chỉ là một nghi lễ có tính cách pháp lí mà thôi.

Xin Chúa chúc phúc cho mọi gia đình, nhất là các gia đình Kitô hữu mà Chúa đã thánh hiến một cách đặc biệt bằng bí tích Hôn phối. Xin cho họ được luôn trung thành yêu thương nhau đến trọn đời, như Đức Kitô yêu thương Hội thánh.

Suy niệm Lễ Đức Mẹ Mân Côi

Lc 1, 26-38

PHƯƠNG THUỐC THẦN DIỆU

 

Mọi tội lỗi của con người đều do một cội rễ mà sinh ra, đó là tội không vâng lời Thiên Chúa (Rm 5,19a). Sở dĩ Nguyên tổ loài người là Ađam và Evà bị trục xuất khỏi vườn Địa đàng, để lại hậu quả tai hại cho con cháu, là vì hai ông bà đã không vâng lời Thiên Chúa. Sự bất tuân này cũng giống như con tầu đi trật đường rầy. Một khi Nguyên tổ là đầu tầu đi trật đường rầy, thì cả đoàn tầu là muôn vàn con cháu cũng bị lao xuống vực thẳm. "Thật vậy, vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân" (Rm 5, 19). Vậy muốn cứu loài người khỏi tội, thì vấn đề tiên quyết là phải diệt trừ tận gốc căn nguyên gây nên tội, đó là tình trạng bất phục tùng Thiên Chúa (Mc 9,19b). Chuỗi Mân Côi được coi là một phương thuốc thần diệu, để diệt trừ tận gốc căn bệnh trầm kha này, vì chuỗi Mân Côi dạy ta sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa, noi gương Mẹ Maria và Chúa Giêsu.

Thứ nhất là mẫu gương vâng phục của Mẹ Maria. Lắm khi ta muốn Thiên Chúa chiều theo ý riêng của mình, hơn là ta phải thi hành ý Chúa. Chẳng hạn: Khi bệnh, ta muốn Chúa chữa ta mau lành. Khi đi thi, ta muốn Chúa giúp ta thi đậu. Khi làm việc, ta muốn Chúa giúp ta thành công v.v... Nếu Thiên Chúa không mau mắn nghe lời ta xin, thì ta sẽ hờn giận Chúa, ta chán nản, ta hăm he bỏ đạo, có khi ta còn hạ bệ tượng Chúa xuống khỏi bàn thờ. Còn Mẹ Maria thì sao? Dù Mẹ được Thiên Chúa đưa lên địa vị cao vời, làm Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa, vậy mà Mẹ vẫn tự coi mình chỉ là nữ tì hèn mọn. Mẹ không hề đòi hỏi Thiên Chúa điều gì. Mẹ chỉ biết vâng theo ý Chúa. "Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1,38). Đó là bài học vâng phục, mà Mẹ dạy ta qua mầu nhiệm sự vui. Chính sự vâng phục trong tinh thần khiêm tốn của người nữ tì, Mẹ đã làm đẹp lòng Chúa. Chúa đã tôn vinh Mẹ, ban cho Mẹ được lên trời cả hồn lẫn xác, làm Nữ Vương Thiên Đàng.

Thứ hai là mẫu gương vâng phục của Chúa Giêsu. Trong vườn Cây Dầu, dù phải "lâm vào cơn xao xuyến bồi hồi và mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44), Chúa Giêsu vẫn thưa với Chúa Cha: "Xin đừng theo ý Con, mà theo ý Cha" (Lc 22,42). Khi bị đưa ra toà xét xử, bị đánh đòn, Chúa Giêsu vẫn thưa với Chúa Cha: "Xin cho ý Cha được thể hiện". Khi quân dữ bện vòng gai làm “vương miện” chụp lên đầu Chúa Giêsu, Ngài vẫn bằng lòng chịu đựng và thưa với Cha: "Xin đừng theo ý Con, mà theo ý Cha". Dù phải vác thập giá nặng nề bước lên đồi Canvê như một tên tử tội, Chúa Giêsu vẫn thưa: "Xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha". Dù phải chịu đóng đinh ô nhục và chịu chết đau thương trên thập giá giữa hai tên tử tội, Chúa Giêsu vẫn một lòng vâng theo ý Cha (Lc 23,34). Sự vâng phục tuyệt đối của Chúa Giêsu rất đẹp lòng Chúa Cha, nên Ngài đã cho Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, lên trời vinh hiển và siêu tôn Chúa Giêsu vượt bậc: "Chính vì thế, Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Người, ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu" (Pl 2,9). Nhờ sự vâng phục tuyệt đối của Chúa Giêsu, mà mọi kẻ tin vào Ngài được ơn cứu độ: "Thật vậy, nhờ một người duy nhất (Chúa Giêsu) đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính (Rm 5,19).

Như thế, chuỗi Mân Côi chứa đựng bài học vô giá về đức vâng lời: Vâng lời Thiên Chúa là phương thuốc diệt trừ tận gốc mọi tội lỗi. Vâng lời Thiên Chúa là phương thế giúp con người khỏi sa đoạ. Vâng lời Thiên Chúa là con đường dẫn đưa nhân loại về cõi trời. Phương thuốc thần diệu ấy đã được Mẹ Maria và Hội thánh trao vào tay chúng ta, đó là tràng chuỗi Mân Côi.

 

Suy niệm Lễ Truyền Giáo

Mt 28,16-20

CÁNH CỬA TRUYỀN GIÁO

 

Đối với anh em theo đạo Phật, thì Cửa Phật là nơi náu nương bình yên, sau những ngày họ vật lộn với chốn phong trần. Họ qui y cửa Phật, như muốn nói lên quyết tâm của họ, dũ bỏ đường trần, để tìm sự thanh thoát bình yên nơi Cửa Phật. Còn đối với đạo Công giáo, thì lí do nào khiến người ta trở về với Chúa? Ta giới thiệu Chúa như thế nào, để anh em dân ngoại có thể về với Chúa? Ta có con đường nào cho anh em trở về, như Cửa Phật đã từng rộng mở cho các thiện nam tín nữ không? Về điều này, xem ra nơi Cửa Phật có phần dễ dàng hơn. Cửa Phật luôn rộng mở, miễn là con người muốn quay trở về. Còn với đạo Công Giáo, thì dường như còn phải trải qua rất nhiều “cửa”. Đó là thử thách trong thời kì dự tòng: phải học giáo lí, phải thể hiện ý hướng ngay lành, phải có lí lịch rõ ràng.

Cách nay khá lâu, có một người bạn không Công giáo hỏi tôi: Người ta ai cũng muốn tự do thoải mái. Vậy đi đạo Công giáo làm gì cho mệt, vì phải giữ quá nhiều lề luật? Rồi anh ta nói thêm: Ai cũng có lương tâm. Luật lương tâm là đủ rồi. Tại sao còn phải thêm biết bao lề luật do con người qui định, hoặc thêm thắt vào? Tôi đã trả lời cho anh ta: Ở đời, ai cũng muốn được tự do thoải mái. Nhưng không phải vì thế mà mình muốn làm gì thì làm. Đối với chính bản thân, mình cũng cần có những nguyên tắc phải tuân thủ để bảo vệ và phát triển sự sống. Trong tương quan với tha nhân (gia đình và xã hội) ta cũng có những bổn phận phải chu toàn. Nên cũng cần có những qui định ràng buộc.

Đạo Công giáo qui định những lề luật đối với bản thân, gia đình, xã hội và Giáo Hội, là để giúp cho mọi người được sống an vui hạnh phúc. Ngoài ra, người Công giáo còn có bổn phận tôn thờ Thiên Chúa. Nên mỗi ngày mình bỏ ra khoảng 10 phút, mỗi tuần bỏ ra một tiếng đồng hồ, để thờ phượng Thiên Chúa và cứu rỗi linh hồn, thì đâu có gì là quá đáng, là mất tự do!

            Phân tích như vậy xem ra đúng! Nhưng làm sao để cho anh em lương dân cảm thấy nhẹ nhàng khi theo đạo, thay vì sợ hãi vì cha quá khó, hay luật lệ quá nhiều? Luật Chúa, luật Giáo Hội thì ít, mà luật Giáo xứ lại quá nhiều? Chúa luôn mời gọi con người đến với Chúa, vì “ách của Chúa thì êm ái và gánh của Chúa thì nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Sao ta lại chồng chất lên nhau quá nhiều gánh nặng, khiến đạo của Chúa trở thành nặng nề, khó khăn cho biết bao người?

Có người bảo rằng: “Nếu dễ dãi quá, thì người ta sẽ bỏ đạo?” Tôi hỏi lại: “Vậy quá khó khăn, có chắc họ giữ đạo không? Bởi vì tôi thấy rất nhiều người đã “nín thở qua sông”, “qua cầu rút ván”. Họ học giáo lí, học kinh cho thật thuộc để lập gia đình. Sau đó họ lặn luôn! Người ta vẫn nói: “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi. Con lấy được vợ, con thôi nhà thờ”! Vậy phải làm thế nào để những người lương dân cảm thấy bình an khi họ đến với Chúa, và không cảm thấy khó khăn bởi những yếu tố bên ngoài? Ta hãy nhìn vào cung cách sống và truyền giáo của Chúa Giêsu. Ngài sống hòa mình với hết mọi người, để cảm thông và chia sẻ với họ. Ngài tạo mọi điều kiện cho con người đến với Chúa. Tất cả mọi người đều tìm thấy sự bình an khi đến với Chúa. Chính vì thế, mà Ngài luôn có một số rất đông đi theo Ngài.

Nét son của Kitô giáo là yêu thương. Liệu ta có trở thành dấu chỉ của tình yêu, bình an và hi vọng cho anh chị em mình không? Xin cho đời truyền giáo của ta khởi đi từ những nghĩa cử bác ái, yêu thương, nhân hậu. Đừng bao giờ ta là vật cản anh chị em đến với Chúa, vì đời sống của ta thiếu bác ái, thiếu lòng nhân từ. Và như thế, cánh cửa truyền giáo đã bị khóa chặt.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 30 TN, B

Gr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52

NGƯỜI MÙ HÔM NAY

 

Mù đôi mắt là một bất hạnh. Bất hạnh vì đi lại khó khăn. Bất hạnh vì không còn nhìn thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của người thân yêu, của cuộc sống quanh ta. Song song với cái đáng thương của sự mù loà thể xác, còn có cái đáng thương của mù loà về luân lí, về chân thiện mĩ, đó là sự mù loà của tâm hồn. Cái đáng thương của sự mù loà tâm hồn, là tuy mù nhưng không chấp nhận mình mù. Ta vẫn bước đi trong bóng đêm của tội lỗi, của đam mê, nhưng vẫn không nhận ra sai trái của mình. Chính sự ngộ nhận đó đã giết chết đời ta, gây nên đau khổ, có khi tổn thất cho những người chung quanh, vì sự u tối và dốt nát của mình.

Bài Tin Mừng hôm nay được thánh Maccô ghi lại, có lẽ không nhằm nói về sự bất hạnh của người mù thể xác. Vì thời Chúa Giêsu cũng như thời nay, có rất nhiều người mù về thể xác. Nhưng Chúa Giêsu chỉ chữa lành một vài trường hợp, trong đó có người mù thành Giêricô, tên là Bactimê. Hơn nữa, những phép lạ của Chúa Giêsu thường liên hệ đến việc chữa lành tâm hồn. Anh mù Bactimê chỉ được chữa lành sau khi anh đã cố gắng đến với Chúa. Anh quyết tâm chỗi dậy, dứt bỏ chốn xưa đã giam hãm cuộc đời anh. Anh cậy dựa vào Chúa để mong muốn làm mới lại cuộc đời. Ngày nay, loại mù về tâm hồn nhiều lắm. Nguyên nhân có thể là do hoàn cảnh, do môi trường. Có thể do thiếu hiểu biết. Có thể do đam mê, lười biếng. Có thể do thiếu trách nhiệm, nên nhiều người đã cố tình mù loà, để hưởng bổng lộc của thế gian bố thí. Thí dụ:

            * Có nhiều cô gái trẻ đã phá thai. Đó là hậu quả của những giây phút bồng bột, vì họ đã thấy trong gia đình, trong xóm làng có nhiều người làm như thế, nên họ bắt chước làm theo.

 

* Có nhiều người trở thành con nghiện của xì ke, ma túy. Do thiếu hiểu biết, họ đã sa vào con đường tội lỗi và tự huỷ diệt thân xác mình mà không hay biết.

* Có nhiều người vì đam mê rượu chè, ham thích đỏ đen, mà đã hủy hoại thanh danh của mình, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình. Có người vì rượu chè, cờ bạc đã đẩy cả gia đình đến khánh tận bần cùng, mà họ vẫn trơ trẽn sống theo đam mê của mình.

* Có nhiều người vì một chút bổng lộc thế gian, đã bán mình làm tôi cho ma quỉ, trở thành một Giuđa bán Chúa và làm hại anh em. Cuối cùng họ chỉ còn lại sự thất vọng, cô đơn và chán chường.

Hậu quả của những loại người mù mất ý thức này là: Họ huỷ diệt chính mình, hủy diệt thân xác và cả linh hồn. Còn đâu sự trong sáng của linh hồn là hình ảnh của Thiên Chúa! Tất cả đã bị bôi nhọ bởi sự lầm lẫn đáng thương của chính mình.

Xem ra người mù thành Giêricô thật có phúc, vì anh đã ý thức được sự mù loà của anh. Anh đã vượt qua mọi trở ngại để chạy đến với Chúa, nương nhờ lòng thương xót của Chúa. Ước gì ta luôn khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của mình, để xin Chúa chỉ đường dẫn lối, và chữa lành ta khỏi những u mê của cõi lòng, để ta luôn hân hoan bước đi trong ánh sáng của Tin Mừng, của chân thiện mĩ, của nẻo chính đường ngay.

Lạy Chúa! Xin cho con được thấy. Thấy Chúa yêu thương con; thấy con cần Chúa; và thấy thánh ý Chúa, để con tuân theo.

 

Suy niệm Lễ Các Thánh Nam Nữ

Mt 5,1-12a

CHỌN HẠNH PHÚC ĐỜI SAU

 

Ở đời, người ta vẫn cho rằng: Hạnh phúc là giàu sang, là phú quý, có nhà cao cửa rộng, có vợ đẹp con khôn, có quyền lực, có tiền để hưởng lạc mọi thú vui trần gian. Giới trẻ hôm nay thường mơ ước: Một vợ, hai con, ở nhà ba lầu, đi xe bốn bánh. Chính vì lẽ đó, người ta sẵn sàng làm mọi sự, để đạt được những thứ ấy. Đôi khi họ bất chấp mọi thủ đoạn, họ dùng mọi phương tiện, mọi mưu kế để theo đuổi hạnh phúc trần gian.

Có khi vì những hạnh phúc thông thường ấy, họ không ngần ngại hi sinh, chấp nhận gian nan, kể cả bỏ người thân, để đi kiếm tìm ảo ảnh phù vân. Thông thường họ vẫn nghĩ đó là chuyện nên làm và cần phải làm, để tồn tại trong thế giới đầy thị phi này. Thế nhưng, quan niệm của Chúa Giêsu về hạnh phúc thì hoàn toàn ngược lại với cách suy nghĩ của thế gian. Hạnh phúc của Chúa Giêsu không phải nằm trong cái ta nắm lấy, mà là ở trong cái ta cho đi. Không phải ở trong điều ta tìm cách thoả mãn, hưởng thụ, mà ở việc ta sống tự chủ bản năng, sống thanh thoát với đam mê.

Có lẽ thế gian vẫn cho những ai sống như thế là điên rồ. Thế gian đến rồi đi. Hiện hữu rồi mất đi. Họ nghĩ rằng cuộc sống trần gian là để hưởng thụ, nên họ tìm mọi cách để hưởng thụ, kẻo chết là hết, như ca dao đã từng nói: “Ai ơi! chơi lấy kẻo già. Măng mọc có lứa, người ta có thì. Chơi xuân, kẻo hết xuân đi. Cái già sòng sọc nó thì theo sau”. Thế là họ vội vã lao vào cuộc đời, để tìm kiếm danh lợi thú, thoả mãn cái khát vọng cháy bỏng của mình.

Vâng, nếu chết là hết, thì không cần ăn ngay ở lành, không cần làm việc lành phúc đức, không cần “trồng cây hạnh ở đời”. Nếu chết là hết, thì hãy cố gắng tranh thủ mà hưởng lạc, kẻo uổng phí cuôc đời. Nhưng thực ra, chết không phải là hết. Ngoài sự sống trần gian này, chúng ta còn sự sống hoàn hảo hơn. Nơi đó là trọn vẹn. Nơi đó ta không cần phải bon chen, không phải lo hưởng thụ, vì đã tròn đầy hạnh phúc.

Khi Chúa Giêsu đề ra các mối phúc, Ngài muốn hướng con người tới hạnh phúc trường tồn. Ngài dẫn dắt con người vượt qua hạnh phúc tạm, để đạt hạnh phúc vĩnh cửu. Người ta ví cuộc sống này như cuộc sống của bào thai, một cuộc sống tăm tối trong bụng mẹ. Đó chỉ là cuộc sống tạm bợ ngắn ngủi trong 9 tháng 10 ngày. Nhưng cuộc sống ấy không phải kéo dài tới đấy là hết, mà là để chuẩn bị cho một cuộc sống khác dài hơn gấp bội, có thể tới 100 năm.

Cũng vậy, người Kitô hữu quan niệm rằng: Đằng sau cuộc sống ngắn ngủi này, là cả một đời sống vĩnh cửu dài vô tận. Vì thế người Kitô hữu tuy sống trong thế giới này, nhưng tâm hồn vẫn hướng về một thế giới khác tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, lâu dài hơn rất nhiều.

Hôm nay mừng lễ Các Thánh Nam Nữ ở trên trời. Đây là lời khẳng định có đời sau của niềm tin Kitô hữu. Các Thánh là những người đã vượt qua niềm vui tạm bợ, để tiến vào niềm vui bất diệt. Các Ngài đã sống một cuộc đời không chọn vinh hoa phù vân, nhưng chọn Chúa làm gia nghiệp. Các Ngài đã sống một cuộc đời tự chủ bản năng, để không vì danh lợi thú mà bán rẻ lương tâm, đánh mất nhân phẩm. Các Ngài đã trung kiên làm chứng cho sự thật, cho dù có thua thiệt ở đời này, nhưng các Ngài đã chiếm được trọn vẹn hạnh phúc đời sau.

Xin Các Thánh cầu thay nguyện giúp cho mỗi người chúng ta, biết sống theo Tin Mừng, biết chọn lựa giá trị vĩnh cửu, hơn là giá trị trần gian mau qua. Nhờ lời bầu cử của Các Thánh, xin Chúa ban cho chúng ta ơn khôn ngoan và lòng dũng cảm, để sống theo thánh ý Chúa.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 32 TN, B

1V 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44

GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC

 

Một ông kia ăn mặc sang trọng để đi họp từ thiện. Trước khi đi, ông quyết định sẽ giúp 200.000$. Đến nơi, ông thấy nhiều người cũng giúp 200.000$. Ông muốn nổ hơn người ta, nên quyết định góp 500.000$. Thế nhưng ông lại rút nhầm bao thư 1.000.000$ trao cho hội từ thiện. Vậy đâu là giá trị việc bác ái của ông? Giá trị việc bác ái của ông, xét theo đạo đức học, là ở ý hướng, ở lòng tốt, thiện tâm, thiện chí. Lòng tốt của ông là muốn giúp 200.000$. Đến nơi, ông lại góp 500.000$ để hơn người ta, nổi tiếng hơn người ta, đó là do tính ham danh vọng, ham địa vị của ông, nên ông không được phúc bởi số tiền 500.000$ này, mà lại mắc thêm tội kiêu ngạo. Còn việc ông rút nhầm bao thơ 1.000.000$ là ngoài ý hướng tốt của ông. Đây là việc đóng góp vô ý thức. Nó vô thưởng vô phạt. Nó vô ích đối với ông. Xét về mặt đạo đức, nó không có giá trị gì đối với ông. Ba hạng người trong bài Tin Mừng hôm nay cũng có những hành vi đạo đức tương tự như ông đi họp từ thiện trên đây.

Hạng người thứ nhất là các kinh sư. Họ làm việc đạo đức chỉ vì cầu danh, cầu lợi, cầu địa vị. Họ mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh nguyện lâu giờ, chỉ để mong được kính trọng chào hỏi, mong được ngồi chỗ danh dự nhất, mong kiếm được nhiều tiền của biếu tặng. Họ hoàn toàn có mục đích xấu, vụ lợi, ích kỷ, kiêu ngạo. Xét theo giá trị đạo đức, hạng người này rất xấu. Chúa nói: “Họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” (Mc 12,40).

Hạng người thứ hai là những người giàu có. Họ làm việc đạo đức bằng cách dâng cúng những của dư thừa, hoặc vì gò bó theo tục lệ phải dâng cúng, hoặc vì sợ chê cười, hoặc chỉ làm cho xong chuyện, khỏi bị quấy rầy. Họ làm việc bác ái theo thói quen, sợ dư luận, sợ tội, sợ bị phạt. Họ thiếu lòng thành tâm, thiện chí. Họ không có ý tốt. Xét theo giá trị đạo đức, việc từ thiện, dâng cúng, đọc kinh của họ là vô ích. Họ không được công phúc gì (Mc 12,44).

Hạng người thứ ba là những người sống đạo đức. Họ làm việc bác ái cách thành tâm, thiện chí. Họ cố gắng hi sinh làm việc thiện, việc thiêng liêng một cách sốt sắng như bà góa nghèo, dù chỉ có một phần tư xu để nuôi mình, bà cũng dâng hết. Bà không sợ bị chê cười vì bỏ quá ít so với người khác. Bà chấp nhận cảnh thấp hèn thua kém người khác. Bà là người thành tâm, thiện chí, rất khiêm tốn.

Chúa Giêsu đã đánh giá bà có lòng đạo đức rất cao, đáng làm gương cho các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết, tuy rất túng thiếu, đã bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống bà” (Mc 12,43). Bà góa này cũng giống bà góa thành Sarépta: “Chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò, đang đi tìm mấy thanh củi rồi về nướng cho con trai và mình ăn, rồi chết” (1 V 17,12). Sống trong nạn đói cùng cực như vậy, bà vẫn sẵn sàng hi sinh nhường phần ăn cho Êlia ăn, dù bà chẳng biết Êlia là ai. Chính vì lòng hi sinh bác ái tột độ đó, Thiên Chúa đã cho hũ bột của nhà bà không vơi, vò dầu không cạn, để cứu sống bà, con bà và cả tiên tri Êlia nữa.

Ta phải tự xét mình, xem việc ta làm là giả dối hay chân chính? Nhất là những việc bác ái và đạo đức thiêng liêng, ta có thành tâm, thiện chí thực hiện không? Những Thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện, dâng cúng giúp đỡ của ta có được làm vì lòng mến Chúa yêu người không? Hay vì bó buộc, vì thói quen, vì sợ dư luận; tệ hơn nữa, là làm vì cầu danh, khoe khoang?

 

Suy niệm Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Mt 10,17-33

VIẾT TIẾP TRANG SỬ

 

Mạng sống là điều quí giá nhất trên đời. Vì thế theo bản năng, ai cũng tham sống, sợ chết. Ai cũng tìm đủ mọi cách để bảo tồn sự sống. Gặp một nguy hiểm đe dọa, người ta luôn trốn tránh, lùi bước. Gặp một cơn bệnh, người ta lo chạy chữa thuốc thang, dù phải tốn kém, dù phải đi hết nơi này đến nơi khác. Đó là điều thường tình, là phản ứng chung của con người. Tuy nhiên có một điều không bình thường, một điều đáng khâm phục, đó là có những người vì Nước Trời, vì yêu mến Thiên Chúa, đã thắng vượt sợ hãi, không sợ đau khổ, không sợ chết, sẵn sàng hy sinh mạng sống mình, để bảo vệ cho một lí tưởng cao cả. Đó là các Thánh Tử Đạo Việt Nam, mà hôm nay chúng ta long trọng mừng kính vinh quang của các Ngài.

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là ai? Thưa, các Ngài là những giáo dân, là cụ già 80 tuổi như thánh Lê Bảo Tịnh; là cụ bà 62 tuổi như thánh nữ Anê Đê; là cậu trai 14 tuổi như thánh Phaolô Bột; là thiếu nữ 12 tuổi như cô Lucia Liễu; như Phaolô Đạm 10 tuổi; như em bé Phaolô Túc 9 tuổi… Các Ngài là Giám mục, Linh mục, Nữ tu, Chủng sinh. Các Ngài là Ban hành giáo, là quan chức trong triều đình, là quân lính, công chức, y sĩ, thương gia… Các Ngài thuộc đủ mọi thành phần dân Chúa, dù vô danh tiểu tốt, hay có chức có quyền trong Hội thánh, có địa vị trong xã hội.

Các Ngài đã sống như mọi người. Vậy tại sao hôm nay chúng ta lại nhớ đến các Ngài? Thưa, vì tuy các Ngài đã sống như mọi người, nhưng lại hơn hẳn nhiều người, ở chỗ: các Ngài vì theo Chúa, nên đã bị bắt, bị kết án mà không chối đạo, không bước qua Thánh giá. Các Ngài đã bị kết án tử hình bằng nhiều hình thức hung bạo dã man. Các Ngài đã sống anh hùng, không để mình bị khuất phục, không nhường bước, không thỏa hiệp để được sống thảnh thơi.

Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các Ngài chùn bước. Nhục hình không làm cho các Ngài ngã qụi. Thậm chí ngay cả cái chết cũng không uốn cong được lòng trung tín của các Ngài. Và chính dòng máu của các Ngài đổ ra trên mảnh đất này đã phát sinh một Giáo hội Việt Nam như hôm nay.

Vì thế họp nhau mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, là Tổ Tiên của chúng ta, không chỉ để ta trầm trồ tán dương các Ngài. Nhưng để ta học gương nhân đức của các Ngài, nhất là để ta viết tiếp trang sử hào hùng của các thánh. Ngày nay không còn những bạo chúa bách hại đạo bằng gươm đao; không còn ai dùng bạo lực hay cực hình man rợ để bắt ta bỏ đạo như tổ tiên ta ngày xưa. Nhưng chúng ta vẫn phải đương đầu với những thách thức mới. Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc có thể là những tên bạo chúa, những sức mạnh gây ra những cuộc bách hại, tuy thầm lặng nhưng không kém phần khủng khiếp và tai họa.

Bị bắt, bị chém, bị chặt đầu vì Chúa. Đó là chứng tá cao quí, đó là tử đạo. Không bị bắt, không bị giết, nhưng âm thầm sống cuộc sống Chúa ban, biết chế ngự những đam mê và ước muốn xấu, biết khước từ những tham lam của cải vì lẽ công bằng, biết vui tươi trong những hiểu lầm vu oan, biết hi sinh tha thứ và phục vụ mọi người trong tình yêu thương, đó cũng là những hình thức tử đạo, là chứng tá rất cao quí.

Vậy, ước gì chúng ta hãy noi Tổ tiên, để viết tiếp trang sử mà các Ngài còn đang viết dở dang. Đó là “Hãy để cho mình bị bách hại, nhưng đừng bách hại ai. Hãy để cho mình bị đóng đinh, nhưng đừng đóng đinh ai. Hãy để cho mình bị vu khống, nhưng đừng vu khống ai”.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 34 TN, B

Đn 7,13-14; Kn 1,5-8; Ga 18,33b-37

LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT

 

Chuyện kể rằng: Có 200 người đang du hành trên một chuyến bay liên lục địa. Nhưng không may, sau 24 giờ cất cánh, máy bay bị trục trặc kĩ thuật, nên phải hạ cánh khẩn cấp xuống một hải đảo xa lạ nằm giữa lòng đại dương. Phúc thay, nơi đây là một miền đất thần tiên với vô vàn hoa thơm cỏ lạ và cảnh vật đẹp mê hồn, lại có sẵn cả một dãy lâu đài nguy nga tráng lệ đầy đủ tiện nghi dành cho mọi người an dưỡng. Bên trong lâu đài có đầy đủ thức ăn, nước uống cho mọi người. Tuy nhiên, nơi đây không có một bóng người. Các du khách hết sức vui mừng phấn khởi, vì vừa thoát chết trong gang tấc, lại được nghỉ dưỡng trong những cơ ngơi rất tuyệt vời. Nhưng có một vấn đề mà ai nấy đều nôn nao muốn biết và cần phải biết ngay, đó là: Ai là chủ nhân của tòa lâu đài sang trọng và của giang sơn trù phú này? Vị chủ nhân đó thuộc hạng người nào? Thuộc dạng tiên ông hiền lành tốt bụng, hay là phù thủy nham hiểm, hung ác? Lẽ nào mình được hưởng những tiện nghi do người chủ lâu đài cung ứng, mà lại không biết người chủ đó là ai.

Tương tự như thế, mỗi người chúng ta cũng được “hạ cánh” xuống địa cầu, để trở thành những người khách trọ trong thế giới huy hoàng tráng lệ này, lẽ nào ta lại không đặt câu hỏi: “Ai là chủ của thế giới và vũ trụ rất tuyệt vời này? Ngài là Đấng như thế nào, hiền lành tốt bụng, hay nham hiểm, hung ác?” Không ai trong loài người có thể trả lời được câu hỏi nêu trên, vì tất cả mọi người cũng chỉ là khách trọ trong thế giới này như ta. Không ai trên đời biết Đấng nào đã dựng nên vũ trụ càn khôn cùng muôn vật muôn loài trong đó, ngoại trừ Đấng từ trời xuống là Chúa Giêsu Kitô. Khi ra trước tòa án Philatô, Chúa Giêsu đã tuyên bố: "Tôi đã sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật. Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Tôi" (Ga 18, 37).

Qua những lời đó, Chúa Giêsu cho thấy sứ mạng của Ngài là bày tỏ cho nhân loại biết những sự thật lớn lao có ảnh hưởng đến vận mệnh loài người. Sự thật quan trọng mà Chúa Giêsu vén mở cho nhân loại bao gồm hai điều chính yếu sau đây: Điều thứ nhất: Thiên Chúa là Chúa Tể của vũ trụ. Đồng thời Ngài cũng là Người Cha đầy lòng yêu thương nhân loại là con cái của Ngài. Điều thứ hai: Tất cả mọi người trên thế giới này đều là anh chị em, con cùng một Cha là Thiên Chúa. Nên mọi người phải yêu thương nhau như Cha trên trời đã yêu thương họ.

Sự thật này vô cùng quan trọng, vì nhờ đó, mọi người trên khắp thế giới được liên kết thành anh chị em một nhà, có cùng một Người Cha. Sự thật này sẽ đẩy lùi oán thù, ghen ghét, chia rẽ, chiến tranh, vì ngộ nhận tha nhân là thù địch hay là người xa lạ. Sự thật này cũng là nền tảng vững chắc xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại, bởi vì ở đâu có yêu thương huynh đệ, ở đấy sẽ có hạnh phúc, an hòa.

Là người con của Thiên Chúa, là công dân trong vương quốc của Vua Giêsu, chúng ta phải tiếp nối sứ mạng rất lớn lao của Ngài. Đó là làm cho thế giới này nhận biết Thiên Chúa là Cha yêu thương, và mọi người là anh em, con cùng một Cha trên trời, nên ta phải yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta. Nhờ đó, thế giới sẽ không còn chiến tranh. Hòa bình và hạnh phúc sẽ đến với mọi người, mọi nhà và lan tỏa trên khắp cùng trái đất.

Lạy Chúa Giêsu là Vua cai trị mọi loài. Xin Chúa là Vua cai trị lòng con suốt đời.

 

 

 

 

CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA

Trung Thành

 

Từ ngữ cộng đồng (cộng đoàn) ngày nay đã trở nên rất quen thuộc đối với chúng ta. Tuy nhiên từ ngữ này không chính thức xuất hiện trong Kinh Thánh mặc dù chúng ta thường gặp những từ có nội dung tương tự như: Đại hội, công hội, hội họp, dân Thiên Chúa, nhà Thiên Chúa. Tân Ước gọi nhóm những người môn đệ của Chúa Giêsu là “Giáo hội”. Từ đó, khi đọc Kinh Thánh chúng ta cần lưu ý đến nội dung cũng như thực tế, từ ngữ cộng đoàn trong Kinh Thánh khác biệt với ý nghĩa chúng ta thường hiểu về thực tại này như thế nào.

CỰU ƯỚC

Mặc dù một số từ ngữ Kinh Thánh dường như rất quen thuộc đối với chúng ta, nhưng nhữnghình thức  tổ chức và định chế xã hội của nó thì lại rất khác biệt. Những người Do Thái và các Kitô hữu thời xưa chỉ thuộc về hai tổ chức xã hội duy nhất này, đó là quan hệ gia đình và quan hệ chính trị. Trong thực tế, tương quan mạnh mẽ hơn chính là quan hệ gia đình với những mối dây chằng chịt, đan xen lẫn nhau.

Cộng đồng và gia đình. Khi nói về cộng đồng người ta luôn nghĩ đến một đại gia đình trải rộng, gồm có ông bà, cha mẹ, con cái, dâu rể, cháu chắt, con ăn người ở, nô lệ, tất cả cùng sống chung dưới một mái nhà. Căn tính của một cá thể nào đó tùy thuộc vào gia đình này, cùng với mối liên hệ mở rộng của nó tới một gia tộc, một dòng họ, một bộ tộc. Từ đây, xuất hiện ý nghĩa của việc chung chia tài sản của cùng một gia tộc, thí dụ: giếng nước, ruộng đất, địa giới,các đàn súc vật, v.v…cùng với cả một mạng dây nâng đỡ và bảo vệ lẫn nhau, bảo vệ danh thơm tiếng tốt của nhau. Hôn nhân lí tưởng là hôn nhân kết nối những người trong cùng một dòng tộc, như thế là củng cố mối dây tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời làm gia tăng của cải lẫn sức mạnh giữa các gia đình và dòng họ. Như vậy, khái niệm căn bản về cộng đồng chính là một tổ hợp các mối liên hệ thân tộc, với tầng tầng lớp lớp những tương quan phong phú đan xen lẫn nhau, cùng một lònggắn bó, tín nhiệm, tương trợ nhau.

Những cộng đồng dựa trên quan hệ gia đình thường có khuynh hướng tụ họp nhau để cử hành phụng tự chung, nhất là trong những biến cố quan trọng liên quan đến sự sống còn của họ tộc, hoặc với chủ đích gắn chặt tình thân trong gia đình. Quan trọng nhất là các hôn lễ, đó là việc nối kết hai gia đình hay hai bộ tộc với nhau; và tang lễ, cơ hội để củng cố tình thân của các thành viên trong gia đình. Những lễ mừng, đặc biệt là lễ thu hoạch mùa màng và lễ Vượt Qua, cũng là những dịp quan trọng để quy tụ gia đình, thân tộc. Qua những yếu tố này chúng ta thấy việc một cộng đồng tham dự phụng tự, dù là ở trong đền thờ hay trong hội đường, sẽ rất khác biệt với phụng vụ giáo xứ mà ngày naychúng ta cử hành trong các nhà thờ. Và xét đến những khía cạnh sinh hoạt khác cũng tương tự như vậy.

Cộng đồng và những định chế chính trị. Những tổ chức chính trị là hình thức quan hệ xã hội quan trọng thứ hai trong đời sống Do Thái và các Kitô hữu nguyên thủy; hình thức này ít trực tiếp và bó buộc hơn. Những chi tộc Ítraen về căn bản là những nhóm dân có quan hệ huyết tộc với nhau, nhưng thỉnh thoảngvì lí do quân sự nào đó hoặc để ủng hộ lập trường chính trị của một lãnh tụ, họ cũng được lệnh để quy tụ nhau lại thành một cộng đồng lớn. Chúng ta cần ghi nhận rằng trong tiếng Hípri, từ ngữ cộng đồng (qahal) bao hàmmột sự tham dự được mời gọi hay được triệu tập. Điều này cho chúng ta thấy một cuộc quy tụ rộng lớn là điều bất thường hoặc ngoại lệ. Người Ítraen quy tụ theo hiệu lệnh hay yêu cầu của một nhân vật lãnh đạo vì mục đích phối hợp quân sự hay để tấn công một mục tiêu nào đó. Trong các buổi quy tụ đó, mỗi chi tộc có đại diện là các đầu mục (2 Sbn 5,2), các kì mục (Gr 26,17), người lãnh đạo (Tl 20,2), và những chiến binh riêng được tham dự. Và điều này lại cho chúng ta thấy có sự khác biệt nữa: đây không phải là một cuộc họp “đa thành phần” mở rộng như ngày nay, mà chỉ có những đại diện là nam, và có vai vế, có uy thế trong một nhóm thân tộc mới được tham dự cộng đồng mà thôi.

TÂN ƯỚC

Cộng đồng là gia đình kết nghĩa. Những ai thuộc về những nhóm dân ngoài liên hệ huyết tộc được gọi như là những gia đình kết nghĩa (fictive family). Cộng đồng những người môn đệ của Đức Giêsu tự coi mình là một gia đình kết nghĩa. Trước những người bà con thân quyến đứng ngoài nhà, Đức Giêsu hướng về những người đang nghe Người giảng và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3,34-35). Còn thánh Phaolô thì tự cho mình là “cha” của cộng đoàn (1 Cr 4,14-15), những cộng sự viên là “anh em” của ngài (1 Cr 1,1; Pl 2,25). Cũng vậy, ngài gọi những người trong Hội Thánh là “ người bà con” (1 Tx 4,6; 1 Cr 5,11). Ngài mong muốn những thành viên trong cộng đoàn kết nghĩa đối đãi với nhau một cách kính trọng, nâng đỡ nhau, khoan dung với nhau như chính là người bà con trong huyết tộc (x. 1 Cr ,8,11, 13; Rm 14,10-15). Tại Côrintô cả nhà ông Têphanô gia nhập Hội Thánh (1 Cr 1,16; x. Cv 16,15), và cộng đồng huyết tộc này lại mở rộng bà con kết nghĩa với những người khác trong đại đình của Thiên Chúa.

Kitô giáo mượn lại từ ngữ của Do Thái giáo. Từ ngữ Hípri chỉ cộng đồng thật là đa dạng, nhưng từ ngữ phổ thông và quan trọng nhất là qahal hay là cuộc triệu tập được mời tham dự. Từ này được dịch sang tiếng Hi Lạp là ekklesia hay synagoge. Trong thế giới Hi Lạp, ekklesia hay “cộng đoàn” thường chỉ một nhóm người có chung một khuynh hướng chính trị và cùng được thừa hưởng quyền công dân trong một tổ chức nhà nước. Khi Kitô giáo mượn lại từ ngữ này để diễn ta các cộng đoàn của mình, thì những công dân mới đó có cùng một căn tính, đó là họ thuộc về vương quốc của Thiên Chúa. “Quê hương của họ ở trên trời” (Pl 3,20). “Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, những là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa” (Ep 2,19). Mặc dù vào thời đầu Giáo hội, người Do Thái và các Kitô hữu cùng tụ họp nhau trong hội đường (synagoge), synagoge ở đây chỉ một cuộc họp chung chứ không nhất thiết là một cuộc họp mang ý nghĩa tôn giáo. Cũng được gọi là synagoge khi những người đàn ông Do Thái tụ họp nhau lại dưới những dãy hiên nhà ngoài chợ để mua bán, trao đổi, chuyện vãn…Đây là sinh hoạt cộng đồng hằng ngày của họ, có khi diễn ra vào chính ngày sabát lúc đang đọc sách Luật. Các thành phố lớn thường có những nơi để tụ họp như thế, thậm chí có những ngôi nhà lớn dànhriêng cho hoạt động này (Cv 9,2). Chúng ta biết đến những synagoge đặc thù, gọi là hội đường (cộng đồng) của nhóm nô lệ được giải phóng (Cv 6,9), và những hội đường dựa trên yếu tố dân tộc tính, đó là hội đường của nhóm người Kyrênê và nhóm Alexanria (Cv 6,9b). Những buổi hội họp Kitô giáo cũng được gọi là synagoge(Gc 2,2).

Trong năm mục vụ 2015 chúng ta được mời gọi để tân phúc âm hóa cộng đồng giáo xứ. Giáo xứ là một gia đình mà mối dây liên kết chính là đức tin vào Thiên Chúa. Qua bí tích thánh tẩy mọi người là anh chị em của nhau. Chúng ta nghĩ có lẽ mối tương quan này không thể sâu đậm bằng quan hệ huyết thống. Tuy nhiên sách Châm ngôn có câu: “Anh em xa không bằng láng giềng gần” (Cn 27,10), và người Việt chúng ta cũng thường nói “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Vậy nếu chúng ta luôn yêu thương nhau để xây dựng cho nhau thì cộng đoàn giáo xứ cũng chính là gia đình thứ hai của chúng ta vậy.

 

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 10&11-2015

 

Chúa luôn săn sóc để cộng đoàn dân Chúa có những vị lãnh đạo. Nhưng không phải tất cả các vị lãnh đạo đều hành động theo ý Chúa, như chúng ta sẽ thấy trong phần CĐKT tháng này.

 

 

1- Ai đã cho xây những kho thóc để dự phòng nạn đói?

2- Ai khởi xướng cuộc hoán cải của dân thành Ninivê?

3- Ai đã cho đắp tượng con bê bằng vàng?

4- Ai lãnh đạo cuộc đánh chiếm thành Giêrikhô?

5- Vị tông đồ nào đã hướng dẫn người Hi Lạp để họ tin vào Chúa Kitô?

6- Ai là vị vua đầu tiên của Ítraen?

7- Ai lãnh đạo một cuộc nổi dậy cướp ngai vàng của cha mình?

8- Ai đã giảng cho người Do Thái trong ngày lễ Ngũ Tuần?

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 9-2015

 

1–E(St 30,25);2-A (St 35,23);3-K(St 42,24);4-B(St 39,7); 5-F (St 33,18);

6-H (St 37,36); 7-G (St 30,22-24); 8–J (St 37,28); 9–D (St 41,25); 10-I (St 29,5-7); 11-C (St 37,36)

Chúc mừng những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 9-2015:

1- Giuse Nguyễn Quang Trường, Sn. 326, Gx. Hải Hưng, kênh C1

2- Maria Nguyễn Thị Thu Thảo, Trường Khuyết Tật Tình Thương

3- Maria Nguyễn Phạm Ánh Xuân, Gx. Đa Minh, kênh 10B

4-Maria Nguyễn Thị Nhiệm, Gx. Vạn Đồn, kênh B1

5-Vinc. Phạm Viết Vỹ, Gx. Đồng Tâm, kênh 3B

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                        - Email: jostrung.trung@gmail.com

                        - Điện thoại: 01672576777

                        - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên GiangS

 

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

TRUYỀN GIO

 

Năm 1492, với con thuyền Santa Maria, Christophus Columbus đã tìm ra Tân Thế Giới. Ông đặt tên cho hòn đảo nơi đặt chân đầu tiên là San Salvador, Đảo Cứu Thế rất thánh. Đó là khởi đầu của một cuộc truyền giáo vô tiền khoáng hậu, Kitô giáo hoá toàn lục địa châu Mĩ. Cuộc truyền giáo ở châu lục này, dĩ nhiên, đã không hẳn chỉ có vinh quang. Bên châu Phi, mãi cho tới trong thế kỉ 19, Kitô giáo vẫn bị Islam cản bước ở miền bắc và đông bắc. Cả Ấn Độ và Trung Hoa, hai vùng đông dân nhất thế giới, Kitô giáo cũng chưa bén rễ được. Tại sao?

Anh nói đúng, Kitô giáo trong hai vùng văn hoá lớn Ấn Độ và Trung Hoa vẫn chỉ mới tạm có mặt hoặc chỉ mới thành công trên một vài nơi nhất định. Trong thế kỉ thứ 5 và 6, các đoàn truyền giáo thuộc phái Nestorius đã xuống tới Ấn và Trung. Họ đã để lại đó dấu vết và có lẽ cả ảnh hưởng trên việc tổ chức Phật giáo, nhưng rồi lại biến mất. Tại sao? Theo tôi, mà có thể cũng rất sai, là vì hai nơi đó đã sẵn có một nền văn hoá cao rồi. Trong khi các tôn giáo bộ lạc ở Phi châu, khi đối diện với các nền văn minh lớn, đã mở ra để đón nhận cái mới, mà cũng bởi vì chúng chỉ là những văn hoá bộ lạc, nên chúng phải biến đi, thì ở Ấn và Trung ta có những nền văn hoá cao, trong đó tôn giáo, nhà nước, trật tự xã hội, chẳng hạn như lối phân cấp xã hội mang tính tôn giáo ở Ấn, quyện vào nhau không rời và những nền văn hoá đó cũng bước đi trên một tầm mức tinh thần cao và lớn. Ấn Độ và cả Trung Hoa có một triết lí tôn giáo cao. Việc chuyển tiếp sang Kitô giáo ở đó khó hơn, là vì người ta nghĩ rằng, họ đã có sẵn một hình thái tối ưu rồi, trong đó sự tổng hợp của nhà nước, triết lí, lí trí và tôn giáo đề kháng lại những gì lạ từ ngoài vào.  Tuy nhiên, ở đây ta phải nói thêm, sự có mặt của Âu châu từ thế kỉ 19 đã làm bộ mặt Ấn giáo biến đổi nhiều. Những gì do các khuôn mặt quen thuộc như Ghandi* hay Radha Krishan* loan báo, chẳng còn mang tính chất Ấn giáo thuần tuý nữa, nhưng là một Ấn giáo pha trộn nhiều yếu tố Kitô giáo. Rõ ràng, Kitô giáo đã không thể bám rễ được, nhưng nó là một thứ lực đổi mới được Ấn giáo hút vào cho mình.

Trường hợp ngoại lệ: Hàn quốc. Hình như thông điệp Đức Kitô đã trực tiếp đi vào lòng người ở đây mà không do các thừa sai. Chuyện đó xẩy ra thế nào?

Đã có một nhóm người Hàn theo học ở Trung Hoa và họ đã tiếp xúc với các linh mục Kitô giáo. Từ động lực ban đầu đó, khi trở về quê hương, họ tự học Kinh Thánh, xác tín rằng đó là lời Chúa thật và đã cố gắng mang Lời đó ra thực hành, nhưng luôn với tâm vọng là được nối kết với Giáo Hội hoàn vũ. Thoạt tiên, tâm vọng đó đã không đạt được, và trải qua nhiều thời kì họ bị bách hại nặng nề. Quả thật đó là một diễn biến lạ lùng. Một đàng, động lực đưa họ tìm về Đạo là Giáo Hội sống động chứ không phải chỉ có Kinh Thánh. Nhưng mặt khác, khi đã bị đánh động, họ quay ra tìm hiểu kinh sách. Và cuộc gặp gỡ kinh sách đã đưa họ vào Đạo, nhưng không phải giữ Đạo trong tâm tưởng, mà đã trở thành cộng đoàn nối kết chặt chẽ với Giáo Hội sống động.

Sẽ còn có người ở đất Á châu vào Đạo? Hay cánh cửa vùng này đã được khép lại?

Tôi nghĩ, ta không nên đóng khung hi vọng. Như ta thấy đó, nhờ qua các trí thức Ấn mà men Kitô giáo đã dậy được trong Ấn giáo. Con số những người Ấn kính thờ và yêu mến Đức Kitô, thoạt tiên người Ấn coi Đức Kitô chỉ là một trong nhiều vị thần cứu độ, lớn không thể tả, lớn hơn nhiều so với con số tín hữu Kitô giáo. Nước Nhật tỏ ra đặc biệt khó khăn đối với Kitô giáo. Dân Nhật thích học trường Kitô giáo, thích phong tục Kitô giáo, ngay cả thích được làm phép cưới trong nhà thờ công giáo, nhưng tinh thần của người Nhật thì lại dị ứng với Kitô giáo. Trung Hoa thì đang nằm dưới quyền lực í hệ. Í hệ này được coi là lực duy nhất để đoàn kết dân, giữ bản sắc dân tộc và tạo đà cho họ tiến vào thế giới. Nhưng nơi đây cũng có tín hữu dấn thân lạ lùng cho Chúa Kitô, có thể nói họ là men trong bột. Vì vậy có thể nói lịch sử chưa chấm dứt trên miền đất này. Hẳn có nhiều vùng Á châu hiện chống lại Kitô giáo rất mạnh, coi đó là Đạo ngoại bang. Ta đã thấy lòng thù hận ở Ấn đối với Giáo chủ công giáo như thế nào, đã thấy dân ở đó chống í niệm cải đạo và phúc âm hoá ra sao. Phản ứng thật gay gắt. Nhưng cũng có thể hiểu như vầy, sở dĩ người ta chống, là vì người ta cảm thấy đó là một sức mạnh thật sự. Hiện lúc này chưa thể có được một dự đoán tương lai nào, nhưng ta cũng không nên bực dọc mà bảo rằng miền đất đó đã có chủ.

Trên nhiều quốc gia vẫn không ngừng xẩy ra những cuộc bách hại Kitô giáo, mà dư luận Phương Tây chẳng quan tâm gì tới.

Vâng, trên nhiều quốc gia. Ta đã thấy ở Trung-hoa. Ta đã thấy ở Việt Nam, trên toàn vùng Đông Dương. Ta cũng thấy diễn tiến đang trên đà nguy hiểm ở Ấn Độ. Ta thấy con đường sống của đức tin luôn phải trả bằng giá máu. (Còn tiếp).

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ XÂY DỰNG GIÁO XỨ

NÓI KHÔNG

VỚI TINH THẦN THẾ TỤC

 

Trong việc Tân Phúc Âm Hóa đời sống cộng đoàn giáo xứ, ta cần phải có những chương trình, kế hoạch và những việc làm cụ thể thì mới có thể làm cho tinh thần của tinh thần của Tin Mừng thấm nhập vào đời sống của từng người trong giáo xứ. Những việc làm cụ thể đó là chính những cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức. Qua những cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức, chính Thiên Chúa hiện diện với cộng đoàn và với từng người. Nhờ vậy mà tinh thần truyền giáo, hay tinh thần Tân Phúc Âm hóa của cộng đoàn và của mỗi người được hun đúc và được củng cố, hầu có thể hăng say truyền giáo và tái truyền giáo cho những người khác bằng một đời sống gương mẫu của mình.

Thế nhưng, để Thiên Chúa thực sự hiện diện với cộng đoàn và với mỗi người, qua những cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức, mỗi người trong cộng đoàn cần phải biết nói không với tinh thần thế tục. Bởi vì, nếu ta không nói không với tinh thần thế tục, thì chính tinh thần đó sẽ tục hóa những cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức của cộng đoàn. Và như vậy, thay vì ta mời Chúa đến hiện diện với cộng đoàn qua những việc cử hành của ta, ta lại đẩy Chúa ra xa, và ta không thể gặp được Chúa.

Những tinh thần thế tục đang tục hóa những cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức của cộng đoàn có rất nhiều, và dưới những hình thức rất tinh vi. Ta rất khó nhận ra. Thực vậy, ngày nay xem ra tinh thần thế tục đã và đang đi sâu vào những cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức tại các giáo xứ. Thường thì, "lễ đi với lạc". Tổ chức lễ càng hoành tráng, tiệc càng to thì được coi là buổi lễ, hay những buổi sinh hoạt đạo đức càng thành công, và người ta đánh giá buổi lễ dựa trên những tiêu chuẩn đó. Dựa trên những tiêu chuẩn như vậy, nên ta chỉ chú trọng đến những hình thức bề ngoài, mà ít để tâm đến tâm tình bên trong. Chính vì thế, thay vì ta chuẩn bị cho cộng đoàn có được tâm hồn sốt sáng để tham dự những cử hành, ta chỉ lo chuẩn bị những cái bề ngoài, những cái phụ thuộc. Cũng vì chỉ chú tâm đến những hình thức bề ngoài, nên dễ xảy ra những xích mích, bất đồng khi chuẩn bị tổ chức lễ.

Đó là nói đến việc tổ chức những buổi lễ lớn. Điều nguy hại hơn nữa là đôi khi ta biến những buổi cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức để thể hiện mình, mà không để cho Chúa được thể hiện. Ta cử hành các nghi lễ không phải để tôn vinh Chúa, mà để tôn vinh mình. Ta không cử hành theo ý Chúa và Giáo Hội muốn, mà là theo ý mình, theo thị hiếu của những người tham dự, theo số đông, nên ta sáng chế ra đủ kiểu, đủ mọi hình thức trong khi cử hành Phụng vụ và những sinh hoạt đạo đức, không theo sát những chỉ dẫn của Giáo Hội. Ta đã biến những buổi cử hành đó thành những buổi "tấu hài cho người khác cười". Đấy là chưa nói đến việc, nhiều khi, ta lợi dụng những buổi cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức để kiếm tiền. Thực tế là đó đây đã có những người làm như vậy.

Nếu mọi người trong cộng đoàn giáo xứ không nói không với những tinh thần thế tục như đã nói ở trên và những hình thức khác nữa, ta không thể sống tốt sứ vụ Tân Phúc Âm Hóa trong cộng đoàn. Ta chỉ có thể sống tốt sứ vụ Tân Phúc Âm Hóa khi ta được thấm nhuần tinh thần của Chúa. Chính tinh thần của Chúa, hay nói cách khác, chính tinh thần của Tin Mừng, sẽ thánh hóa và thanh luyện những cử hành của cộng đoàn. Vậy điều cần thiết là ta phải biết nói có với tinh thần của Chúa, qua việc theo sát những hướng dẫn của Giáo Hội mỗi khi ta cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức.

Nói không với tinh thần thế tục trong những cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức để ta có thể nói có với tinh thần của Chúa. Chắc chắn Chúa không cần ta phải tổ chức cho Ngài những buổi lễ hoành tráng, mà Chúa cần ta có một tâm tình sốt sáng trong khi cử hành Phụng Vụ và những sinh hoạt đạo đức. Chúa đang muốn hiện diện với ta qua những cử hành đó để Ngài biến đổi ta, huấn luyện ta thành những người môn đệ đích thực của Chúa Kitô, hầu chúng ta đến được với những người khác trong sứ vụ Tân Phúc Âm Hóa. Chúa đang muốn ta trở thành cầu nối để Chúa đến với con người. Hãy mời  Chúa đến hiện diện giữa cộng đoàn, nhờ vậy ta mới có thể thấm nhuần được tinh thần của Chúa, một tinh thần ân cần phục vụ nhau trong yêu thương, hầu sống tốt ơn gọi Tân Phúc Âm Hóa của mình.

Hương Quê


XÂY DỰNG GIÁO XỨ

Đóa Hoa Vô Thường

 

Muốn xây dựng một công trình nào, dù lớn hay nhỏ, thì việc đầu tiên người ta tính đến là phải có một nền tảng. Nền tảng có vững, thì công trình mới vững. Cũng thế, muốn xây dựng giáo xứ vững bền, thì phải có một nền tảng bền vững. Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết này, xin được đưa ra một số chất liệu, để góp phần xây dựng một nền tảng vững bền cho giáo xứ.

Chất liệu thứ nhất là Lời Chúa. Giáo xứ nào biết sử dụng chất liệu Lời Chúa, để xây dựng, thì Giáo xứ ấy đang đi đúng hướng của Chúa, vì “Lời Chúa là đèn soi bước chân con” (Tv 119). Giáo xứ nào được thấm nhuần Lời Chúa, sẽ có sức biến đổi diệu kì, vì “Thầy có lời ban sự sống đời đời” (Ga 6, 68). Giáo xứ nào để tâm phát triển Lời Chúa, sẽ như tòa nhà được xây trên nền đá. “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví như người khôn xây nhà trên đá” (Mt 7, 24-25). Giáo xứ nào nhiệt tâm sống Lời Chúa, sẽ nhận được sức sống của chính Chúa, một sức sống dồi dào và vững mạnh, như Lời Chúa hứa: “Ta đến để cho chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10).

Kinh nghiệm cũng cho thấy, giáo xứ nào biết lắng nghe Lời Chúa, thì sẽ được Chúa chúc phúc, vì mình được chính Vị Mục Tử Tối Cao chăm sóc: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 10, 27). Giáo xứ nào biết thực hành Lời Chúa, thì được Chúa kết nạp vào trong gia đình của Chúa: “Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hành những điều Thầy truyền dạy” (Ga 15, 14). “Mẹ Ta và anh em Ta, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21).

Kết quả là giáo xứ ấy sẽ được hạnh phúc Nước trời: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa, Lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7, 21). Ngoài ra, Lời Chúa còn giúp cho cả giáo xứ chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng khắp muôn dân. Thánh Phaolô nói: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Không ai có thể cho người khác điều mình không có. Như thế, muốn loan báo Tin Mừng theo lệnh truyền của Chúa Giêsu (Mt 28, 19-20), người tín hữu cần biết lắng nghe, suy niệm và thực hành Lời Chúa trước; rồi sau đó “hữu xạ tự nhiên hương”. Lời Chúa sẽ được loan truyền.

Đức Giáo hoàng Phaolô VI trong thông điệp “Sứ Vụ Đấng Cứu Thế” số 42 đã viết như sau: “Con người ngày nay tin vào các chứng nhân hơn là các thầy dạy; tin vào kinh nghiệm hơn là đạo lý; tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết”. Kết quả vững mạnh trên đây chỉ có thể có, khi cả giáo xứ đồng tâm nhất trí xây dựng cộng đoàn của mình dựa vào chất liệu Lời Chúa.

Chất liệu thứ hai là các Bí tích. Các Bí tích là những phương thế tuyệt hảo mà Chúa Giêsu đã thiết lập và ân cần ban cho Hội thánh, để giúp Hội Thánh nên thánh thiện hơn và tỏa lan sự thánh thiện cho đời, như muối, như men, như ánh sáng. Vì thế, giáo xứ nào siêng năng tham dự các Bí tích và cử hành các Bí tích một cách sống động và hữu hiệu, thì giáo xứ ấy đang sử dụng chất liệu của chính Chúa ban tặng mà xây dựng thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Chất liệu Bí tích có sức mạnh của Chúa, làm cho ta được nâng đỡ cả phần hồn cũng như phần xác.

Mỗi người chúng ta đã có chút cảm nghiệm này là: Khi ta đọc hay nghe Lời Chúa, khi ta tham dự các Bí tích (nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải) ta đều được thăng tiến trên đường nhân đức và làm theo lời Chúa Giêsu dạy. Thực vậy, ta không chỉ trung thành tuân giữ các qui tắc đạo đức để giáo dục lương tâm mình, mà còn phải có kinh nghiệm đời sống cộng đoàn Kitô giáo với những hồng ân Bí tích. Chính Lời Thiên Chúa và đời sống Bí tích làm cho ta luôn nhạy cảm với ơn gọi cao cả nhất của mình, là được làm con Thiên Chúa. Điều này làm tăng thêm sức mạnh nơi ta hơn ta tưởng.

Chúng ta tin rằng: Các Bí tích không chỉ là những hình thức bên ngoài, mà còn thể hiện và truyền đến cho giáo xứ của ta ơn cứu rỗi của Chúa, như nguồn mạch của sự sống mới. Qua đó, mọi thành viên trong giáo xứ nắm bắt được sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa ngay trong đời sống mình.

Có thể nói, nhờ đời sống chung, tham dự Lời Chúa và các Bí tích, các giáo xứ thấy rõ hơn ơn cứu độ của Chúa Kitô đã thực sự ghép vào đời sống thường nhật và thân xác của chính mình. Các Bí tích đang tiếp nối và áp dụng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Ki-tô vào thực tại của đời sống. Như thế, mỗi lần ta nhận lãnh Bí tích, là mỗi lần ta tiếp rước Chúa Kitô. Mỗi lần ta sống Bí tích, là ta đón nhận Chúa Kitô đến với mình. Do vậy, các Bí tích là một chất liệu hết sức cần thiết trong việc xây dựng Giáo xứ.

Chất liệu thứ ba là đời sống cầu nguyện. Cầu nguyện là một chất liệu không thể thiếu trong việc xây dựng giáo xứ. Kinh nghiệm cho thấy, giáo xứ nào chuyên chăm cầu nguyện, thì sẽ mau phát triển về đời sống đức tin, đức cậy và đức mến. Hơn thế nữa, nhờ đời sống cầu nguyện, giáo xứ ấy sẽ được phát triển đồng bộ trên nhiều lãnh vực khác nhau của trần thế. Ngược lại giáo xứ nào sao nhãng việc cầu nguyện, thì cũng giống như một tòa nhà xây trên nền cát (Mt 7, 26-27). Tòa nhà ấy có thể rất đẹp, có mẫu mã bắt mắt, có hoạt động đoàn thể sôi nổi, nhưng không có “thực chất Kitô”. Vì Kitô hữu phải là người biết cầu nguyện, như chính Chúa đã nêu gương và truyền dạy: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn” (Lc 21, 34-36).

Đối với người Kitô hữu, tin không chỉ là chấp nhận một hệ tư tưởng, hay một hệ thống luân lý, nhưng trước hết và trên hết, là bước vào mối quan hệ yêu thương với Đấng mình tin. Vì thế, khi ta tuyên xưng các chân lý đức tin, cử hành niềm tin và sống niềm tin, ta phải luôn có một mối quan hệ sống động và cá nhân với Thiên Chúa. Mối quan hệ yêu thương ấy chính là đời sống cầu nguyện mật thiết với Chúa.

Tác giả sách Công vụ Tông đồ viết: “Chính ở nơi Thiên Chúa mà chúng ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17, 28). Đức tin sẽ dẫn ta đến chỗ nhìn nhận Thiên Chúa là sự sống thật và là tất cả của chúng ta. Vì thế, ta phải hít thở Thiên Chúa như hít thở không khí, nghĩa là ta phải cầu nguyện không ngừng (Lc 18, 1). Nhưng ta không thể cầu nguyện liên lỉ, nếu ta không có những giây phút cầu nguyện đặc biệt, mà dư âm ấy được kéo dài trong suốt từng ngày sống của ta, như hơi thở, như nhịp đập của con tim.

Do đó, khi cầu nguyện, ta phải đến với Chúa bằng tất cả con người mình: tâm tình, tư tưởng, thái độ, lời nói, cử chỉ, đặc biệt nhất là tấm lòng: nơi sâu kín nhất để gặp gỡ Chúa. Thiếu tấm lòng thì mọi hình thức và phương cách cầu nguyện đều vô ích. Vì cầu nguyện là sự kết hợp thân mật giữa ta với Chúa, là đi vào quan hệ giao ước yêu thương với Chúa Cha, nhờ Chúa Con, bởi Chúa Thánh Thần. Chính nhờ vậy, mà tác dụng diệu kì của cầu nguyện là đưa ta đến sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi. Như thế, cầu nguyện là một chất liệu không thể thiếu, để giúp ta xây dựng Giáo xứ vững mạnh.

Kết luận: Ba chất liệu: Lời Chúa, các Bí tích và cầu nguyện tựa như chiếc kiềng ba chân, giúp cho các giáo xứ có một nền tảng vững chắc, để xây dựng và phát triển cộng đoàn của mình. Ba chất liệu ấy cũng là ba tác vụ của người mục tử: Rao giảng Lời Chúa, mục vụ Bí tích và thánh hóa đời sống cộng đoàn. Thiết tưởng những chia sẻ trên đây cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh cộng đoàn giáo xứ, trước khi chúng ta kết thúc “Năm tân phúc âm hóa đời sống các Giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”.


 

XÂY DỰNG GIÁO XỨ

 

Tân phúc âm hóa đời sống giáo xứ là bước kế tiếp của việc tân phúc âm hóa đời sống gia đình. Nếu tân phúc âm hóa đời sống gia đình thường bắt đầu từ người gia trưởng, thì tân phúc âm hóa đời sống giáo xứ phải được bắt đầu từ chính hàng linh mục, như thư mục vụ cùa Hội đồng Giám mục Việt nam gửi cộng đồng dân Chúa ngày 1.11.2014 đã khẳng định. Cha xứ là người cầm đầu, người lãnh đạo, là tác nhân thúc đẩy quá trình tân phúc âm hóa giáo xứ trong sự cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần. Mẫu mực phúc âm hóa đời sống giáo xứ đã được các cộng đoàn Kito hữu đầu tiên thực hiện theo sách công vụ tông đồ. Điều quan trọng là chúng ta cần thực hiện có chiều sâu, có sáng kiến, phù hợp với thời đại, với thực tế cuộc sống, với tầm  hiểu biết của người giáo dân đã được nâng lên, để tinh thần phúc âm thấm đậm nơi từng thành viên cộng đoàn, nơi toàn thể giáo xứ và làm chiếu tỏa ánh sáng phúc âm ra chung quanh đến với muôn dân. Ở đây ba vấn đề trong việc tân phúc âm hóa đời sống giáo xứ được đặt ra:

1/ Giáo xứ là nơi quy tụ các gia đình để cùng siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện. Rõ ràng Thánh lễ là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng giáo xứ. Hàng ngày linh mục cử hành Thánh lễ sốt sắng, chu đáo, cảm nghiệm sâu xa, giáo dân tham dự cách trọn vẹn với ý thức và linh hoạt sẽ cùng gặp được Đức Kitô, cảm nghiệm được sự linh thánh và đào sâu đức tin, từ đó hàng ngày biến đổi chính mình, mang nặng dấu ấn Thiên Chúa trong tâm hồn, bước vào một ngày sống với tất cả tình yêu Chúa và tình yêu tha nhân. Do vậy, cha xứ thường tạo điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất, thoải mái nhất để mọi giáo dân, mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp có thể tham dự Thánh lễ. Các ngài sẽ không tùy tiện thay đổi giờ lễ; không rềnh ràng kéo dài, phức tạp hóa các nghi thức; không kéo chuông inh ỏi và mở nhạc ca hát lúc 3 giờ sáng; không đặt nặng hình thức, đón rước, lễ hội hoành tráng tốn kém và phô trương như một niềm tự cao, tự đại, tự đắc trước mắt người lương dân; không đòi hỏi mọi người phải đồng phục cho đẹp mắt, có thể “hơi lộn xộn” một tí, nhưng ở trong đó giáo dân được kính trọng, chứ không để trật tự phải trả giá bằng nhân phẩm” (Cha Pio Ngô Phúc Hậu), thực ra đó chỉ là cái diện tôn giáo trong khi cái chất đạo đức mới là vô cùng cần thiết; không diễn lại những hình ảnh phản cảm từ xa xưa chẳng còn hợp với người thời đại; không để cho nhà thờ nhà xứ lúc nào cũng cửa đóng then cài hoặc biến thành cơ quan hành chánh, nhưng luôn mở  rộng để mời gọi và chào đón mọi người trong và ngoài giáo xứ đến với ngôi nhà của Chúa, ngôi nhà chung. Đức Thánh Cha Phanxicô nói: Tôi muốn cánh cửa nhà thờ lúc nào cũng phải luôn mở rộng. Và Đức Cha Đặng Đức Ngân thì nói: Mở rộng để mời gọi mọi người và đón nhận sự cộng tác. Thật là không công bằng giáo dân được mời gọi đóng góp để xây dựng thánh đường, nhà xứ, nhưng khi hoàn thành, thánh đường đó, nhà xứ đó lại kín cổng cao tường, trở thành lãnh địa riêng, thế giới riêng, không được ai làm phiền. Không quá đặt nặng vật chất trong việc thu bổng lễ và quyên tiền gây chia trí, các ngài cho rằng phần rỗi giáo dân phải là nhưng không, Thánh lễ là vô giá và ơn thánh Chúa thì không thể mua được bằng tiền bạc, các ngài không bao giờ để những người nghèo không được lãnh bí tích vì lý do nghèo túng, các ngài tận tình phục vụ giáo dân với tinh thần trách nhiệm, bởi  vì chính để phục vụ các tín hữu mà Đức Kito đã thiết lập chức vụ tư tế thừa tác “chúng tôi chỉ làm những gì chúng tôi phải làm”(Lc 17,10).

2/ Giáo xứ còn là cộng đoàn cầu nguyện. Người giáo dân ngày nay cần được hướng dẫn cách cầu nguyện. Bởi vì cầu nguyện là hiện diện trước Chúa, đối thoại với Chúa, xây dựng mối tương quan thân tình với Ngài, có Chúa ở với mình, cùng đi, cùng suy nghĩ, cùng nói, cùng làm việc với mình, sống kết hợp mật thiết phó thác vào Chúa, từ đó tỏa sáng trong đời sống. Cầu nguyện và phụng tự chính là cách bày tỏ đức tin và chiếu tỏa đức tin trong cuộc sống. Chúng ta không nhất thiết chỉ cầu nguyện bằng lời kinh tiếng hát, nhưng mỗi người phải được hướng dẫn thực hành và tìm ra phương pháp cẩu nguyện phù hợp cho riêng mình. Riêng lời kinh tiếng hát cũng mong cần được rà soát để chỉnh sửa cho phù hợp Kinh Thánh và sinh hoạt của Giáo Hội hiện tại để không còn sự mâu thuẫn giữa lời kinh đọc và thực tế sống.

3/ Giáo xứ là cộng đoàn chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, chia sẻ lời Chúa. Người giáo dân cần được các linh mục cắt nghĩa lời Chúa, giúp đem lời Chúa vào cuộc sống thực tế, giúp giảng dạy giáo lý để vững vàng sâu sắc trong đức tin, từ đó làm chứng cho đức tin và niềm hy vọng Kitô giáo. Tột đỉnh của việc rao giảng lời Chúa là bài giảng trong Thánh lễ. Đây là lúc quan trọng để người tín hữu gặp gỡ Chúa. Vì vậy người tín hữu mong ước:

* Bài giảng của các linh mục luôn luôn và chỉ từ cội nguồn Kinh Thánh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và các quy tắc cho đời sống. Làm sao giáo dân khám phá sự hiện diện và tính năng của lời Chúa trong cuộc sống cụ thể hàng ngày. Do vậy cần ngôn ngữ rõ ràng, quyết liệt, ngắn gọn súc tích, thực tế, không mơ hồ trừu tượng

* Người giảng thuyết cần được cá nhân hóa về lời. giảng là nói chứ không đọc. Vì đọc chỉ là chuyển chữ thành lời theo ngữ điệu của văn bản có sẵn, còn giảng là nói, là đối thoại, là trao đổi trực tiếp cách tự nhiên, truyền cảm, thân tình, từ tất cả những suy niệm cầu nguyện nghiền ngẫm và sự xác tín say mê, chân thành khát vọng, cũng như vốn sống của mình, kèm theo ngữ điệu, nét mặt cử chỉ điệu bộ có sức thuyết phục.

* Linh mục ngày nay là những người thánh thiện và tri thức, ngoài ra các ngài còn biết lắng nghe nhu cầu của dân chúng, họ muốn nghe gì, họ đang bận tâm về những điều gì, họ có thể tập trung chú ý nghe giảng được bao lâu, họ có thể làm được những gì để sống lời Chúa hàng ngày và tác động vào các người  chung quanh, các ngài bén nhậy nhận ra những gì đang ảnh hưởng vào đời sống của họ để hướng dẫn họ.

* Lời Chúa chi phối hướng dẫn tất cả tâm tư, thái độ, lời nói, hành động, cách sống của linh mục. Tấm gương sáng sống lời Chúa, yêu thương, phục vụ của ngài sẽ tác động vào từng thành viên, từng gia đình trong giáo xứ giúp họ biết cách rao giảng tin mừng bằng đời sống và bằng lời nói. Ngoài ra rất cần việc tổ chức các nhóm nhỏ chia sẻ lời Chúa, tiến tới từng cá nhân siêng năng đọc, suy niệm và sống lời Chúa hàng ngày, sẽ làm cho niềm vui tin mừng của Chúa lan tỏa và chiếu sáng cho mình và cho người khác .

 4/ Giáo xứ là cộng đoàn luôn hiệp thông với nhau, trong đó có sự nối kết mật thiết giữa cha xứ và giáo dân, giữa giáo dân với nhau, thể hiện qua sự tôn trọng, cộng tác, chia sẻ cùng xây dựng ngôi nhà chung giáo xứ cùng thi hành sứ vụ chung là loan báo tin mừng cho muôn dân. Cha xứ là linh hồn, là chỗ dựa vững chắc cho cộng đồng giáo xứ, ngài khám phá làm tươi trẻ lại dung mạo giáo xứ đúng theo ý muốn của Chúa Kitô, ngài giữ vai trò tổ chức, lãnh đạo nhưng là lãnh đạo hợp tác, lãnh đạo phục vụ, lãnh đạo đồng trách nhiệm, lãnh đạo tạo điều kiện, đồng hành cùng giáo dân của mình. Giáo xứ của ngài phải là sự hiện diện của Hội Thánh trong một lãnh thổ, để lắng nghe lời Chúa, để cầu nguyện, để lớn lên trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, để làm việc bác ái, để thờ phượng và tham dự lãnh nhận các bí tích, để rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Người giáo dân trưởng thành ngày nay có thể đảm trách nhiều công việc để cha xứ tập trung vào việc tổ chức lãnh đạo và chuyên lo công việc mục vụ.

Để làm được việc này đòi hỏi cha xứ phải biết tin tưởng và mạnh dạn trao phó công việc cho giáo dân, nâng cao vai trò, địa vị và thăng tiến phẩm giá của người giáo dân, khuyến khích họ có sáng kiến có năng lực có phương pháp và hoạt động nhiệt tình tham gia quản trị điều hành giáo xứ, lãnh nhận các tác vụ, lập và tham gia các hội đoàn, các hoạt động tông đồ một cách tự do và là những cộng sự viên đích thực. Hội đồng mục vụ phải là những người trực tiếp điều hành giáo xứ, đối nội và đối ngoại, có phân công trực nhật, có thư ký, kế toán, thủ quỹ và chủ tài khoản để điều tiết và minh bạch tài chánh của giáo xứ. Công việc này rất cần thiết phải tổ chức các khóa đào tạo huấn luyện, hội thảo, thảo luận để nâng cao năng lực trình độ và ý thức trách nhiệm của người giáo dân. Từ đó tổ chức phân công điều hành những việc chung của giáo xứ một cách chuyên nghiệp. Mỗi người giáo dân trong giáo xứ đều có vai trò của mình, cách công khai hoặc âm thầm, trong đời sống hiệp thông với giáo xứ, trong việc sống bác ái và rao giảng Tin Mừng.

Như vậy xây dựng gíáo xứ chính là xây dựng sự hiệp thông qua sự tôn trọng, cộng tác, chia sẻ cùng cử hành phụng vụ, cùng đón nhận kín múc ân sủng và cùng cử hành trong đời sống. Đó chính là việc tân phúc âm hóa đời sống giáo xứ. Để thực hiện, mỗi thành viên trong giáo xứ cần đổi mới chính mình trong việc tham dự các bí tích, cầu nguyện, đọc suy niệm sống lời Chúa, khiêm tốn kiên trì thực hiện vai trò của mình trong giáo xứ, làm chứng cho tin mừng và tham gia công việc truyền giáo. Đức Thánh Cha Phanxicô cho rằng “Giáo hội phát triển nhờ sự thu hút, chứ không phải chiêu dụ tín đồ”. Điều này nói lên tân phúc âm hóa sẽ làm cho giáo xứ trở thành chứng nhân có thể truyền cảm hứng cho người khác để từ đó họ tìm về với Thiên Chúa của mình.

 

NDP.

 

GIÁO DÂN VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO

Dẫn nhập

 

Xuất phát từ bí tích Rửa tội, người giáo dân có ơn gọi sống dấn thân trong đời sống xã hội để làm cho nước Thiên Chúa lớn mạnh nơi trần thế (GLHTCG 877-913, 940-943). Quả vậy, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, người Kitô hữu được tham dự vào chức tư tế cộng đồng. Qua chính đời sống của mình, giáo dân giúp những người xung quanh nhận biết Chúa Kitô. Nhờ đó môi trường họ sống được thấm nhuần đức tin. Nhưng với một bối cảnh đa phức và đa dạng về văn hóa và tôn giáo của xã hội hiện nay, người giáo dân có thể làm làm những gì và thế nào để đem Tin mừng của Chúa cho những người chưa biết Đức Kitô? Bài viết dưới đây xoay quanh một số vấn đề về nhiệm vụ truyền giáo của người giáo dân với bối cảnh đặc thù của giáo phận Long xuyên.

  1. Giáo dân là ai?

Theo ngữ nguyên học, từ giáo dân trong Việt ngữ được chuyển ngữ từ chữ “laos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là dân chúng. Trong bản dịch Bảy Mươi, “laos” được dùng để chỉ dân của Thiên Chúa, nhằm phân biệt với các tư tế và các thầy Lêvi. Hiện nay, trong Giáo Hội, giáo dân là tình trạng chung của Kitô hữu trong Hội Thánh, là thành phần của dân Chúa do bí tích Rửa tội, nhưng không chịu chức thánh (Youcat số 138, trang 123). Công đồng Vaticanô II đã định nghĩa giáo dân là những tín hữu được tham dự vào chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Đức Kitô theo cách thức của mình, với một sứ mạng truyền giáo đặc biệt trong lĩnh vực trần thế (x. GLHTCG 897-913).

  1. Vai trò của người giáo dân trong việc truyền giáo

Trước Công đồng Vaticanô II, mô hình của Giáo Hội là mô hình kim tự tháp mang dáng dấp của “triều đình phong kiến”, áp đặt từ trên xuống dưới và người giáo dân luôn ở đáy của kim tự tháp ấy. Với họ, công việc chính gồm tóm trong ba việc đọc kinh, xem lễ, vâng lời và đóng góp! Chính vì vậy mà người giáo dân luôn có não trạng việc truyền giáo là của các Đấng Papa, Vítvồ, Thầy Cả, của các Đấng Bậc. Họ rất thụ động nếu không muốn nói là nhiệt tình truyền giáo ở mức zêrô.

Công đồng Vaticanô II đã mang lại nguồn sinh khí mới và canh tân nhiều lĩnh vực trong Giáo Hội. Giờ đây, Giáo Hội mang một mô hình rộng mở hơn, một mô hình đồng trách nhiệm không phân biệt. Vai trò của người giáo dân ngày càng được nâng cao, đặt đúng vào vị trí trong việc rao truyền Tin Mừng.

Tất cả mọi người, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều có bổn phận rao giảng Tin Mừng vì đó là lệnh truyền của Chúa. Mọi tín hữu “được sai đi để giới thiệu Ngài cho thế giới, là chứng nhân đầy tràn Chúa Thánh Thần (x. Lc 24,48; Cv 1,8); “được kêu gọi để ra đi làm cho mọi người thuộc mọi dân nước trở thành môn đệ của Chúa Kitô(x. Mt 28,19).Cùng với việc thay đổi não trạng cũ, Giáo Hội đã tin tưởng giao trách nhiệm cho giáo dân và có những cải tổ trong cơ cấu tổ chức, nhờ đó mà người giáo dân đã đóng một vai trò tích cực và hiệu quả hơn trong sứ vụ của Giáo Hội.

  1. Truyền giáo bằng cách nào?

Không chỉ phục vụ trong những công việc khác nhau tại các giáo xứ, người giáo dân còn phải dấn thân vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống như: xã hội, kinh tế và chính trị cùng định hướng đem Tin Mừng thấm nhập vào những môi trường này.Với bối cảnh đặc thù của của giáo phận Long Xuyên, người giáo dân cũng cần phải có những thích ứng, linh động, can đảm và sáng tạo để rao giảng Đức Kitô cho phù hợp với thực tế. Việc truyền giáo ấy phải luôn luôn lưu động và tiến về những vùng “ngoại biên” mới, nhất là vùng ngoại biên của người nghèo và bị loại trừ, bệnh nhân và đối thoại tôn giáo.

  1. Người nghèo và bị loại trừ

Hiện nay, toàn cầu hóa giúp con người có cuộc sống tiện nghi hơn. Đã qua rồi cái cảnh “cần ăn no” và thay vào đó là “phải mặc đẹp”. Chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích và tiến bộ mà phát triển kinh tế đem lại nhưng cùng với sự phát triển ấy lại là một thực tế đáng buồn: sự phân cách giàu nghèo càng ngày càng rộng và càng sâu.

Người nghèo vẫn còn chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng số khoảng 224.157 giáo dân của giáo phận (năm 2013, nguồn Wikipedia Tiếng Việt). Vì cái nghèo mà nhiều người loại trừ, cô lập và phân biệt đối xử không xứng với phẩm giá. Đơn cử một thực tế, chúng ta sẽ không khó để bắt gặp những người lang thang, cơ nhỡ, vô gia cư, và những người với“rất nhiều cái không” luôn gắn liền với họ. Xã hội cũng đã có những chương trình được mở ra để giúp họ. Những tưởng họ sẽ được quan tâm và no đủ khi vào các trung tâm bảo trợ xã hội, viện dưỡng lão của xã hội, nhưng người viết đã nhiều lần “mục sở thị” thực tế cuộc sống của những người ấy. Chính trong nơi được xem là tổ ấm yêu thương ấy lại là một thực tế xót xa. Người nghèo và bị loại trừ bị đối xử rất tệ. Nơi họ sống như những trại tập trung và họ như những “tù nhân không tuyên án”.

Nên, cần lắm những trợ giúp về vật chất, nhưng họ càng cần hơn nữa sự quan tâm, đồng cảm, yêu thương và được đối xử đúng với nhân vị. Cái họ thiếu và cần là tình yêu. Họ cần phải được đối xử đúng với phẩm giá của mình.Đây chính là lĩnh vực mà người Kitô hữu cần “dấn thân” sâu hơn. Bên cạnh những giúp đỡ về vật chất, người Kitô hữu phải mang tình yêu của Đức Kitô đến với họ. Thực sự sống để họ cảm nhận được tình Chúa, tình người nhưng không phải chỉ đến với họ một lần nhưng cần phải luôn hiện diện để họ cảm nhận được tình thương ấy.

  1. Các bệnh nhân

Ngày nay, đã có nhiều giáo dân họat động trong lĩnh vực y tế phục vụ các bệnh nhân. Họ đã có những đóng góp không nhỏ trong việc phục vụ và nâng cao phẩm giá con người. Thật thế, ngoài các linh mục, nữ tu, ngày càng có nhiều các giáo dân có chuyên môn cao và có tâm huyết đã nhiệt tình quan tâm, chăm sóc đến các bệnh nhân, nhất là những bệnh hiểm nghèo, AIDS, phong cùi, với một tấm lòng quảng đại và một con tim yêu thương. Riêng tại giáo phận Long Xuyên, có không ít giáo dân là bác sĩ, y sĩ, nha sĩ, dược sĩ đã phối hợp cùng nhau hoặc với các cá nhân, tổ chức phi lợi nhuận tổ chức các buổi thăm khám miễn phí cho các bệnh nhân tại các trại phong, người nghèo vùng xa còn nhiều khó khăn, các cô nhi viện, trung tâm bảo trợ xã hội, những người neo đơn và những người tàn tật; tổ chức phẫu thuật mắt, mổ tim; cung cấp thuốc miễn phí, tổ chức bếp ăn từ thiện. Đơn cử, về các cơ sở y tế công giáo, các linh mục và những cộng sự viên tâm huyết đã thành lập Bệnh xá Tình ThươngKênh 7, Tân Hiệp, Kiên Giang, điều trị cho các bệnh nhân không phân biệt vùng miền, tôn giáo, địa vị. Bệnh xá này không chỉ là một địa điểm của hoạt động nhân đạo, bác ái nhưng còn là một dấu chứng rõ ràng nhất cho việc đối thoại tôn giáo. Năm tôn giáo: Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành, Công giáo cùng nhau chung tay góp sức phục vụ bệnh nhân nghèo. Hoặc người viết còn được biết, giáo xứ Chính tòa còn tổ chức chương trình “nồi cháo bệnh viện” cung cấp cháo miễn phí cho các bệnh nhân, người nhà bệnh nhân…trong các bệnh viện ở khu vực thành phố Long Xuyên.

Những hoạt động ấy là những cố gắng nhỏ nhoi so với nhu cầu trong thực tế, nhưng nó rất thiết thực để thông qua những hoạt động ấy người giáo dân có thể đem hình ảnh và Tin Mừng của Đức Giêsu đến cho anh chị em. Dù sao đó cũng là một đốm lửa nhỏ đã được nhen nhúm và tôi tin chắc rằng sẽ có ngày nào đó đốm lữa ấy sẽ bùng lên cháy sáng.

  1. Đối thoại tôn giáo

Giáo phận Long Xuyên là khu vực có nhiều tôn giáo nội sinh và ngoại sinh, các tín đồ sống chung với nhau nên vấn đề đối thoại tôn giáo để có thể hiểu nhau thêm là điều cần thiết. Thế nhưng thực tế, rất ít giáo dân có một kiến thức đủ về các tôn giáo khác đang hiện diện trong vùng đất giáo phận như Phật giáo, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa…dù tinh thần có thể không thiếu. Không biết thì thật khó để có thể đối thoại với anh chị em và tìm ra một cái nhìn chung để có sự thông cảm. Đây là một công việc không hề dễ dàng chút nào vì nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nữa về thần học, giáo lý, giáo huấn…người viết xin đơn cử một khó khăn của việc đối thoại này. 

Từ Công đồng Vaticanô II, Giáo Hội Công giáo nhìn nhận những giá trị tích cực nơi các tôn giáo khác, cũng như nhìn nhận rằng những người ăn ngay ở lành cũng có thể được rỗi linh hồn. Tuy nhiên, từ quan điểm này, hẳn một số người có thể sẽ đặt câu hỏi: Nếu vậy thì cần chi phải truyền giáo? Đạo ai người nấy giữ, đạo nào mà chẳng tốt? Đây là một vấn đề thần học rộng lớn và phức tạp người viết không đủ khả năng để bàn đến, nên xin dành cho những vị hữu trách. Nhưng có một điều chắc chắn rằng nhờ đối thoại tôn giáo cách cởi mở và chân thành giúp người giáo dân khám phá thêm sự sung mãn của chân lý nơi các tôn giáo bạn, cũng như có thể tự nhìn lại và chỉnh sửa những điểm thiếu sót (do con người) của mình.

Ngoài ra còn có các lĩnh vực khác mà người giáo dân có thể dấn thân cho việc truyền giáo mà người viết không đi vào phân  tích như: sáng tạo hội nhập các giá trị đức tin vào văn hóa Việt, đến những vùng xa xôi chưa có bóng thánh giá (mà người viết được biết Đấng Bản quyền của giáo phận đang hướng đến đưa nhân sự vào các vùng truyền giáo xa xôi cả giáo dân lẫn các ứng sinh linh mục nhằm mang Tin Mừng của Chúa đến cho người dân), lĩnh vực truyền thông, truyền hình và báo chí công giáo cách rộng rãi trong tương lai.

  1. Một thực tế

Từ sau Công đồng Vaticanô II, người giáo dân có được vị trí, trách nhiệm cũng như tham gia tích cực vào các hoạt động truyền giáo Giáo Hội như: hoạt động phụng vụ, dạy giáo lý và việc tông đồ; nhưng một thực tế, nhìn chung, theo cá nhân người viết, Giáo Hội tại Việt Nam nói chung và giáo phận Long Xuyên vẫn chưa quan tâm đủ đến vai trò người giáo dân trong Giáo Hội. Bởi vì ngay chính các giáo dân vẫn còn “tự hạ thấp mình”. Nhiều giáo dân vẫn tự cho mình chỉ là một “cánh tay” cho hàng giáo sĩ, một dụng cụ hỗ trợ, một chiến sĩ thứ yếu, hơn là xem và cho mình là những người chia sẻ trách nhiệm trong cùng một sứ mệnh mà Chúa trao phó. Quả thật, đây vẫn còn là một thách đố cho Giáo Hội tại Việt Nam cũng như giáo phận Long Xuyên trong việc truyền giảng Tin mừng.

Một điều quan trọng cho những lĩnh vực truyền giáo chính là động lực truyền giáo. Có động lực đúng đắn sẽ giúp công cuộc ấy bền vững và đạt được kết quả tốt. Theo suy nghĩ cá nhân, động lực ấy trước tiên phải xuất phát từ tình yêu Chúa, một tình yêu vô vụ lợi và quảng đại mang Chúa đến cho anh chị em. Thứ đến là hướng đến việc thăng tiến con người. Ngoài động lực và sức mạnh thiêng liêng từ Thiên Chúa, sự hướng dẫn của Thánh Thần, làm mới não trạng, thì phương cách truyền giáo của người Kitô hữu cũng rất quan trọng. Người của sứ vụ truyền giáo phải chủ động đến hiện diện thường xuyên với anh chị em, không thụ động hay chỉ đến một lần rồi thôi nhằm giúp anh chị em ấy luôn được “đốt cháy” bởi lửa Tin Mừng và giữ mãi được lửa ấy; và cần xóa khoảng cách và thái độ “đối địch” với người lương dân. Người viết nhận thấy, còn có một thái độ “chưa đúng”, loại trừ thậm chí chống đối của người Kitô hữu với anh chị em lương dân nhất là với những nơi càng có truyền thống đạo lâu đời.

Kết luận

Dù là giáo dân hay giáo sĩ, tất cả đều bình đẳng và được trân trọng trong Giáo Hội vì tất cả đều là chi thể của Chúa Kitô và đều có nhiệm vụ phải truyền giáo; vì Thiên Chúa lúc nào cũng muốn con người, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, được vào dự tiệc trong nước Người (x. Mt 8,11; Lc 13,29).Với điều kiện của mình, người giáo dân có thể truyền giáo tại “…những môi trường địa lý chưa bao giờ được nghe rao giảng Tin Mừng, những vùng đất chưa in sâu dấu chân nhà truyền giáo. Đó là những môi trường văn hóa, chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật.. Đó là những lãnh vực cần có sự hiện diện của Chúa Kitô, chứng tá của Giáo Hội và ánh sáng của Tin Mừng. Hãy hiện diện trong mọi môi trường của nhân loại, vì không có gì của con người mà xa lạ với Giáo hội”. (x. Thư mục vụ năm 2003 của Hội đồng Giám mục Việt Nam).Ước mong, giáo dân giáo phận Long Xuyên và tất cả mọi tín hữu sẽ “trở thành cộng sự viên của hàng giáo sĩ trong việc xây dựng và phát triển Giáo Hội, chứ không mãi là những thần phần tiêu cực, thụ động trước thúc bách canh tân của Giáo Hội để đem Tin Mừng đến cho mọi người, không mãi là những tín hữu chỉ biết sống lo toan phần rỗi cho riêng mình, nhưng biết tham gia “vào các sinh hoạt trong cộng đoàn với tất cả tinh thần trách nhiệm, không chấp nhận ‘độc tài’ nhưng cũng không đồng hóa ‘tham gia’ với “dân chủ cực đoan’, vì tất cả đều phải vâng phục Thiên Chúa và cùng nhau hướng đến mục đích chung là xây dựng và phát triển cộng đoàn”(Tài liệu làm việc Đại Hội Dân Chúa 2010, số 16).

                                                                                                      Felicitas

 

THỰC THI SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG

 

Trước đây, đã có quan niệm cho rằng việc truyền giáo hay loan báo Tin Mừng là của quí cha, quí thầy, nói chung là của những đấng bậc tu hành, còn người giáo dân thì chỉ lo việc sáng lễ, tối chầu là đủ rồi! Và người giáo dân yên tâm “giữ đạo” như thế là khi chết chắc chắn được về Thiên Đàng. Nhưng rồi quan niệm “giữ đạo” được thay thế bằng “sống đạo” tích cực hơn. Người giáo dân được hướng dẫn, cùng với việc họ học hỏi, tìm hiểu Thánh Kinh, Thánh Truyền, Thánh Công Đồng Vaticanô II (1962-1965), Tông Huấn của các Đức thánh cha, Thư Mục vụ của Hội đồng Giám mục, của Giám mục địa phương, qua sách báo và các phương tiên truyền thông Công giáo. Nhờ thế, ngày nay người giáo dân hiểu rằng truyền giáo không chỉ là sứ mạng của hàng giáo phẩm, mà truyền giáo còn là sứ mạng của mỗi Kitô hữu: “Các con hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng cho muôn loài thọ tạo” (Mc 16,15)

Giáo Hội Công giáo với việc loan báo Tin Mừng:

Truyền giáo, hay loan báo Tin Mừng là bản chất của Giáo Hội Công giáo. Điều này đã được Thánh Công Đồng Vaticanô II minh định trong Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội: “Tự bản tính, Giáo hội lữ hành là người được sai đi, vì cội nguồn của Giáo hội gắn liền với việc Chúa con và Chúa Thánh Thần được sai đến theo ý định của Thiên Chúa Cha”.

Giáo dân với việc loan báo Tin Mừng.

Trong thư thứ nhất của Thánh Phêrô chương 2 câu 9 đã nói: “Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng dịu hiền”. Như thế, khi một người được chịu Phép Rửa tội, họ trở thành một Kitô hữu và được tham gia vào ba sứ vụ chính của Giáo hội: Sứ vụ Tư tế, sứ vụ Ngôn sứ, sứ vụ Vương đế.

Sứ vụ Tư Tế: Tư tế là người dâng của lễ lên Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu là của lễ cao trọng nhất, khi người chịu Chết trên Thập giá. Chúa Giêsu còn là linh mục thượng phẩm. Vì yêu thương nhân loại, Chúa giao chức vụ Tư tế này cho Hội Thánh. Có hai chức vụ Tư tế: Chức Tư tế (chức linh mục) phổ quát được trao ban cho giáo dân, người đã chịu Phép Rửa. Họ dâng tất cả những vui buồn trong cuộc sống, những hy sinh, lời cầu nguyện, những việc bác ái làm của lễ dâng lên Thiên Chúa. Chức Tư tế (chức linh mục) phẩm trật: Chức này được ban cho một số tín hữu qua bí tích Truyền chức để các ngài thánh hóa, giáo huấn và cai quản dân Chúa. Đó là các Linh mục, Giám mục.

Sứ vụ Ngôn sứ: Ngôn sứ là người được sai đi nói lời Thiên Chúa. Chúa Giêsu là vị đại Ngôn sứ của Chúa Cha. Người được Chúa Cha sai đến trần gian để loan báo Tin Mừng nước Thiên Chúa qua lời rao giảng trong đời sống, qua sự chết và sống lại của Người. Người trao chức vụ Ngôn sứ cho Hội Thánh. Người tín hữu được đón nhận chức vụ Ngôn sứ khi chịu Phép Rửa. Người tín hữu thi hành chức vụ Ngôn sứ bằng lời nói và bằng chính đời sống chứng nhân của mình trong cuộc sống đời thường.

Chức vụ Vương đế: Chúa Giêsu là vua, Vua tình yêu, Người đã chiến thắng sự chết. Người muốn cho các Kitô hữu được thông phần hưởng vương quyền của sự sống đời đời, khi người tín hữu biết làm chủ bản thân, làm chủ của cải, làm chủ thế giới vật chất quanh ta, mà Chúa trao cho họ cai quản, họ không để cho vật chất thống trị; cùng với việc họ chiến thắng được tội lỗi, sống đời thánh thiện, dấn thân loan báo Tin Mừng cho anh em chưa nhận biết Thiên Chúa.

Chương trình Mục vụ ba năm (2014-2016) của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN)

Trong chương trình Mục vụ ba năm của HĐGMVN từ năm 2014 đến 2016 được phân ra: năm 2014: tân Phúc Âm hóa đời sống gia đình; năm 2015: tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến; năm 2016: tân Phúc Âm hóa đời sống xã hội. Đến hôm nay, chương trình Mục vụ đã đi được gần 2/3 đoạn đường. Phân chia ba năm chính là tạo điểm nhấn để mỗi thành phần dân Chúa dành thời giờ và điều kiện hầu chú tâm nhiều hơn đến môi trường của mình đang hiện diện như: gia đình, giáo xứ và xã hội. Thực chất, việc Phúc Âm đã có từ ngàn xưa và còn mãi đến mai sau khi thế giới này còn người chưa nhận biết Thiên Chúa. Trong Tông huấn Loan Báo Tin Mừng chương I mục 7, Đức Phaolô VI đã nói: “Chúa Giêsu nhà rao giảng tin mừng đầu tiên. Ngài đã rao giảng đến cùng: nghĩa là đến mức hoàn hảo, đến hy sinh cả mạng sống dương thế của Ngài.” và cũng trong chương I mục 8 và 9 Đức thánh cha còn dạy: loan báo Tin Mừng là “loan báo nước Thiên Chúa và loan báo ơn cứu độ giải thoát. Ơn cứu độ được khởi sự suốt đời Đức Kitô và được hoàn tất qua cái chết và sự Phục sinh của Ngài..”

Vậy tân Phúc Âm hóa là gì? Trong thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ:“tân phúc Âm hóa không phải là rao giảng một Phúc Âm mới  vì “Đức Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt13,8), nhưng là “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”. Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lãnh hội được sứ điệp Phúc Âm” (HĐGMVN Thư chung gởi cộng đồng dân Chúa 11-10-2013).

Giáo xứ với việc loan báo tin mừng: Trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium), Đức thánh cha Phanxicô đã viết: “Giáo xứ là sự hiện diện của Hội thánh tại một địa phương nhất định, một môi trường để nghe Lời Chúa, để tăng trưởng đời sống Kitô hữu, để đối thoại, rao giảng, làm việc bác ái, thờ phượng và mừng lễ”. Trong thư chung của HĐGMVN năm 2014 đã chỉ: “Gia đình giáo xứ cần được Phúc Âm hóa, nghĩa là thấm đẫm tinh thần Phúc Âm và làm chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm ra chung quanh, đến với muôn dân. Để thực hiện công việc này, chúng ta cùng chiêm ngắm cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự Lễ Bẻ Bánh, và cầu nguyện không ngừng”  (Cv 2,42)”.

Lời kết

Để việc loan báo Tin Mừng mang lại nhiều kết quả trong môi trường ta đang sống, chúng ta cùng nhớ lại và thực hành lời dạy của Đức thánh cha Phaolô VI trong thông điệp loan báo Tin Mừng: “Thế giới cần đến và mong đợi ở chúng ta một đời sống giản dị, một tinh thần cầu nguyện, một đức bác ái đối với tất cả mọi người, nhất là đối với thành phần thấp hèn và nghèo khó, một đức tuân phục và khiêm hạ, một tấm lòng không dính bén và biết hy sinh bản thân mình”. (số 76). Và Ngài còn nói: “Người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy, và người ta có nghe người thầy dạy vì người thầy dạy cũng là chứng nhân”.

                                                   Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

 

 

 

 

 

 GIÁO LUẬT

THÁNH LỄ TẠI TƯ GIA

Quy định của Giáo phận Long Xuyên như thế nào về việc cử hành  thánh lễ tại tư gia?

Trả lời:

Quy định hiện hành của Giáo phận Long Xuyên về việc cử hành thánh lễ tại tư gia như sau:

1. Được cử hành thánh lễ tại tư gia khi còn xác tại đó, cho trường hợp linh mục, phó tế, đại chủng sinh và tu sĩ nam nữ, không giới hạn về số lễ và về loại lễ (độc tế hay đồng tế).

2. Được cử hành thánh lễ tại tư gia khi còn xác tại đó, cho trường hợp cha mẹ đẻ hoặc đồng hóa của linh mục, phó tế, đại chủng sinh và tu sĩ nam nữ, không giới hạn về số lễ và về loại lễ (độc tế hay đồng tế).

3. Được cử hành một thánh lễ độc tế duy nhất tại nhà tang dịp an táng khi còn xác hiện diện tại đó và được an táng tại đất tư nếu muốn, với điều kiện là vì ở xa nhà thờ quá hoặc vì không tiện đem xác đến đó theo sự xét đoán tại chỗ của cha sở.

4. Được cử hành thánh lễ tại tư gia ở các phân sáp (diaspora) thuộc vùng sâu, vùng xa, không có nhà thờ, ở rất xa các xứ đạo.

5. Được cử hành thánh lễ tại tư gia, một năm một lần, riêng cho các bệnh nhân liệt giường lâu năm.

Ngoài ra, không được cử hành thánh lễ tại tư gia, nếu không có phép đặc biệt cấp trên giấy của Đức Giám Mục, như: lễ tạ ơn dịp Việt kiều về thăm; lễ thượng thọ, lễ ngọc khánh, kim khánh, ngân khánh hôn phối của ông bà cha mẹ; lễ thôi nôi hay đầy tháng của con cái. Càng không được cử hành thánh lễ tại tư gia, khi chỉ do ý thích hay lập dị của linh mục.

Lm LG Huỳnh Phước Lâm

GIÁO DỤC

TRUYỀN

(Truyền là người có thực Chuyên)

Theo phép Hội Ý của Lục Thư thì chữ TRUYỀN được ghép từ hai chữ NHÂN và CHUYÊN; ý của TRUYỀN là: người phải có chuyên môn (nắm rõ sự việc, tập trung tâm chí, chú ý hết sức vào một việc) mới truyền lại cho người khác đúng được, vì “không thể cho điều mình không có”, cũng không thể truyền cho người tài giỏi hơn mình được.

Tháng Mười có Lễ Khánh Nhật Truyền Giáo (Truyền Đạo), chúng ta cùng cầu nguyện cho công cuộc Truyền Giáo cũng được gọi là “Loan Báo Tin Mừng”. Phải chăng hơn hai ngàn năm qua ước mong của Chúa Giêsu “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc16,15) chưa đạt kết quả nhiều vì thiếu Tính CHUYÊN nơi Người TRUYỀN, là nơi mỗi Kitô hữu chúng ta! Tính CHUYÊN đó được nhận thấy rõ nơi Cha Gioan Maria Vianey, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Mẹ Têrêsa Calcutta…Đó là tinh thần Phúc Âm “Mến Chúa Yêu Người” được thể hiện trong cuộc sống hằng ngày của các Đấng.

Xin đừng lầm: tính Chuyên của việc Truyền Đạo chỉ là kiến thức giáo lý lý thuyết hay khả năng hùng biện, kiểu giới thiệu chào hàng; mà cần biết “Con người ngày nay tin tưởng vào các nhân chứng hơn là vào các thầy dạy” (xem ĐTC Phaolô VI, Tông Huấn Evangelii Nuntiandi, đoạn 41). Nói cách khác, trong sứ vụ Truyền Đạo (Giáo) tính Chuyên chính là Chứng Nhân, còn Thầy Dạy chỉ là một trong những phương cách; thiếu Chứng Nhân thì người Truyền Đạo chỉ là Thầy Dạy đồng nghĩa với “Thầy Cãi Lý”, không thể Truyền Đạo vốn Hiền Lành và Khiêm Nhường của Chúa được.

Lm. JB. Trần Đinh Tử

 

NÓI DỐI

 

Đâu đó bạn và tôi vẫn được nghe: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Đó là sự kinh nghiệm của tuổi già và sự đơn sơ của trẻ nhỏ. Sự kết hợp hài hòa và mang lại một hiệu quả tốt bất ngờ. Nhưng với thời đại và xã hội ngày nay, tôi xin ghi lại vài suy nghĩ cá nhân về một nửa của câu nói trên: về nhà hỏi trẻ. Xem câu nói này còn đúng trong lớp trẻ ngày nay không? Đây có thực là một sự quan tâm của bạn và tôi hay không? Vì trong xã hội ngày nay với nhiều điều ảo tưởng và sự thật không còn là điều mà nhiều người nghĩ tới, mà thay vào đó là sự giả tạo đang dần dần chiếm lĩnh con người và xã hội. Hàng giả, đồ giả, và cả người cũng giả. Thực hư thế nào? Và từ cách sống của người lớn chúng ta đã gieo vào tâm trí những đứa trẻ bắt đầu biết nói dối.

Tôi được nghe rất nhiều những lời của cha mẹ dạy con cái mình biết nói dối: Nào là nói dối mẹ không có nhà khi người ta đến đòi nợ. Ba đi nhậu dạy con nói dối mẹ ba đi họp. Vợ gọi điện hỏi chồng đang ở đâu? Chồng nói rằng: Anh đang họp, nhưng thực sự đang ở đâu thì trời mới biết và nhiều hình thức giống như vậy. Khi chiếc điện thoại di động được sử dụng phổ biến trong xã hội, thì đây là phương tiện giúp cho bạn và tôi dễ dàng lừa gạt người khác như trở bàn tay. Phương tiện này cũng có mặt tích cực, những bên cạnh đó cũng có mặt tiêu cực. Quan trọng là bạn và tôi sử dụng nó như thế nào.

Trẻ em như tờ giấy trắng. Bạn và tôi viết lên những gì là in mãi trong đó. Dạy gì thì những đứa trẻ sẽ học cái đó. Dạy sự chân thật sẽ nảy sinh sự chân thật. Dậy sự gian dối sẽ có những gian dối sau này. Ở độ tuổi còn nhỏ, các em dễ tiếp thu những gì bạn và tôi dạy dỗ. Cho nên, nếu muốn cho con em bạn và tôi là một người có ích sau này, thì ngay bây giờ và chính lúc này bạn và tôi phải dạy và sống những điều hay lẽ phải.

Với thực trạng hiện nay, bạn và tôi không lạ gì lắm những kiểu nói dối nghe là biết. Trốn đi chơi nói dối rằng đi học thêm. Đi với người yêu nói dối rằng đi học nhóm với bạn bè. Đang ở đây nói dối rằng đang ở xa lắm. Ngay cả trong gia đình bạn và tôi rất dễ thấy cái kiểu giống như vậy. Một đứa trẻ khi làm hư đồ vật gì hay có lỗi gì đó mà hỏi đến tội, bạn và tôi ít thấy có những đứa trẻ dám nhận là chính mình làm, mà chỉ tìm cách trốn tội hay đổ thừa cho ai đó, hoặc theo kiểu nói: Con không biết. Thế là huề.

Trong lịch sử giáo hội, bạn và tôi ít nhiều được nghe về việc nói dối này. Ngay từ thuở tạo thiên lập địa, khi hai ông bà nguyên tổ Ađam Eva ăn trái cấm, khi Thiên Chúa đến hỏi tội thì ông đổ lỗi cho bà, bà đổ lỗi cho con rắn. Hay trong câu chuyện ông Giacóp và Esau, chính người mẹ là bà Rêbêca đã liều lĩnh và cả gan dạy cho Giacóp lừa gạt cha là ông Isaac để dành lấy lời chúc phúc. Và đến thời Chúa Giêsu, ngay chính vị tông đồ cả đã thốt lên ba lần nói dối là không biết Thầy Giêsu, sự dối trá đến mức độ không thể ngờ. Thế nhưng, nhờ cái nhìn của Thầy Giêsu mà thánh Phêrô đã nhận ra cái sai để sửa. Điều quan trọng hiện nay, bạn và tôi phải sống và phải dạy con em mình nhận ra những sự gian dối đó, để biết tu sửa bản thân và thực hiện điều Chúa dạy: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm bớt điều gì là do ma quỷ. Vì ma quỷ là cha của sự gian dối.

Với xã hội ngày nay, có nhiều điều cần phải nói đến, và điều mà bạn và tôi cần quan tâm là sự chân thật nơi những đứa trẻ mà bạn và tôi có trách nhiệm phải sống và dạy cho đúng với điều Chúa dạy. Năm học mới đã bắt đầu. Thời gian ở nhà ít hơn ở trường và ngoài xã hội, vậy bạn và tôi phải có những phương thức để giúp thế hệ trẻ không bị lây nhiễm những thói hư nết xấu mà người khác mang đến. Đừng vì sợ tội mà bạn và tôi dám sống và làm sai sự thật. Và nguy hiểm hơn là dạy con em bạn và tôi biết nói dối, và làm sai những gì cần làm đúng. Chúa ghét tội chứ không ghét kẻ có tội. Bạn và tôi hãy can đảm sống theo điều Chúa dạy và dạy cho người khác những gì Chúa muốn, để bạn và tôi sẽ là những chứng nhân của tình yêu Chúa và sự chân thật mà Chúa đã dạy bạn và tôi: có thì nói có, không thì nói không, thêm bớt điều gì là do ma quỷ.

Vs. Lê Đình

 

 

       
 

 

CHUI MÂN CÔI

 

Chuỗi hồng nở thắm trên tay

Từng đêm dâng Mẹ, nồng say ân tình

Vần xoay từng hạt lung linh

Thanh âm trầm đọng, hương kinh ngạt ngào

 

Vương bay ngan ngát trời cao

Vọng ngân Thiên sứ mừng chào Mẹ yêu

Mẹ đầy ơn phúc diễm kiều

"Xin Vâng" hai tiếng dặt dìu, khoan thai

 

 

Thế trần bừng tỏa ban mai

Bình minh cứu độ trần ai mong chờ

Đất trời se kết duyên mơ

Kết vòng chuỗi ngọc, vần thơ muôn trùng

 

Bốn mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng

Hương kinh thắm đượm, không ngừng trên môi

Lời kinh như khúc ru nôi

Ru hồn nhân thế cõi trời phúc vinh.

 

JOS, Nht Quang

 

 

 

 

 


 

GIÁO DÂN

PHÚC ÂM HÓA XÃ HỘI

Truyền giáo

 

Tại Bắc Kinh, có hai sinh viên học chung trường Y, yêu nhau; ra trường, họ kết hôn. Là người có đạo, chị đã cố thuyết phục chồng theo đạo công giáo; nhưng không thành công. Sau đó chị sinh con. Thập niên 1960, Trung Quốc có một giai đoạn rối loạn chính trị, ông chồng cùng với nhiều trí thức khác bị đưa đi cải tạo. Thời gian xa cách là thời kỳ hết sức khó khăn đối với bà vợ. Làm việc cật lực ban ngày, chăm sóc con thơ ban đêm. Đã phải chịu cảnh cô đơn và khổ cực, chị còn chịu áp lực từ nhiều phía, đòi chị phải bỏ đạo, phải làm giấy ly dị chồng phản động, để được thăng quan tiến chức. Chị thẳng thừng từ chối. Hằng đêm, về nhà, chị và đứa con quỳ cầu nguyện, tìm sức mạnh nơi Lời Chúa để có thể kiên trì giữa những khó khăn. Cuối thập niên 1970, nghe tin chồng và nhiều người được tha về, đúng ngày đã báo, chị đi đón chồng. Tại sân ga, hai mẹ con là những người duy nhất có mặt. Các bà vợ khác do không chịu nổi áp lực và thời gian xa cách, đã ly dị chồng và tái giá. Khi hiểu được lý do chung thủy của vợ, ông chồng hết sức xúc động, mắt đức tin của ông mở ra, và nhìn thấy Chúa. Ông học giáo lý và xin được rửa tội.

 Khi cho người mù được sáng mắt, Chúa cũng chữa anh khỏi mù lòa nội tâm: “anh ta nhìn thấy được và đi theo Chúa” (Mc 10,52). Truyền giáo là gì nếu không phải là hăng say loan báo Tin Mừng Tình yêu của Chúa cho mọi người? Phúc Âm hóa là công việc của người tín hữu say mê Chúa đến độ muốn làm cho mọi người nhận biết và yêu mến Ngài. Thánh Phaolô không thể không nói đến Chúa ngoài miệng, vì ông đã khắc ghi Chúa trong trái tim mình :“Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5, 14).

Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Với lời đó, xưa Chúa đã sai các tông đồ đi loan báo Tin Mừng; nay Ngài sai chúng ta đi Phúc Âm hóa cộng đoàn, giáo xứ, xã hội.

Đầu tháng 10, Giáo Hội mừng kính thánh nữ Têrêsa Hài Đồng, quan thầy các xứ truyền giáo, trong đó có Việt Nam. Chị thánh viết thư gửi mẹ bề trên: “Em muốn đi khắp mặt đất, rao giảng danh Chúa Giêsu và trồng cây Thánh giá vinh hiển của Ngài trên mảnh đất vô đạo; đồng thời em muốn loan báo Phúc Âm trên khắp năm châu bốn bể cho tới tận những hải đảo xa xôi nhất. Em muốn là nhà truyền giáo không phải chỉ trong vài năm, nhưng muốn là như vậy từ khi có vũ trụ này cho đến tận thế. Em muốn đổ tới giọt máu cuối cùng vì Chúa” (Truyện một Tâm hồn, tr. 382). Về cuối đời, vâng lời nữ tu y tá coi sóc, chị thánh phải đi bộ mỗi ngày 15 phút. Thấy chị đi lại quá mệt nhọc, một nữ tu khuyên: Em nên nằm nghỉ thì hơn. Chị đáp: “Đúng thế. Nhưng chị có biết em lấy sức mạnh ở đâu mà đi được như vậy không? Em đi để cầu nguyện cho một xứ truyền giáo, với ý nghĩ rằng ở nơi xa xăm đó có vị truyền giáo đang kiệt sức vì miệt mài lo mở mang Nước Chúa; em muốn dâng lên Chúa những bước đi mệt nhọc này để cho vị tông đồ ấy đỡ mệt mỏi” (id, tr.383).

Cuối tháng 10, Giáo Hội dành một ngày, gọi là Chúa Nhật Truyền giáo, kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa ý thức, cầu nguyện, hiệp với Mẹ Maria Mân Côi, tích cực dấn thân, đóng góp công của trong việc Phúc Âm hóa, đem Chúa đến cho mọi người, mọi nơi. Mỗi người phải là muối, là men cho đời, là hoa tươi hữu xạ tự nhiên hương; ướp mặn đời mình bằng Lời Chúa; để Lời Chúa như là dầu sẽ thắp sáng đời họ; để đến lượt mình, họ tỏa sáng cho đời: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp của anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em trên trời” (Mt 5,14.16). Một trách nhiệm cao quý; một vinh dự tuyệt vời.

“Người thời nay thích nghe chứng nhân hơn thầy dạy. Nếu họ nghe thầy dạy là bởi thầy dạy cũng là chứng nhân. Trong rất nhiều trường hợp, đây là cách thế duy nhất để truyền giáo” (Đức Phaolô VI). Người ta chỉ tin Chúa Kitô, khi họ chứng kiến đời sống mẫu mực tốt lành của người giới thiệu Ngài. Cuộc sống và cách sống của Kitô hữu rất hệ trọng, bởi có thể xua đuổi hoặc cuốn hút người ta đến với Chúa. Xưa nay, có rất nhiều Tôma chỉ tin Chúa và gia nhập Hội Thánh sau khi đã được tận mắt chứng kiến cuộc sống tốt đẹp của kitô hữu (x Cv 2,42-47).

Khi tiếp kiến Đức Giáo Hoàng Bênêđitô 16 tại Mỹ ngày 5.4.2008, Ông George W Bush, tổng thống Mỹ (2000-2008) nói: “nhìn vào cặp mắt Đức Giáo Hoàng, tôi thấy Thiên Chúa!”

Truyền giáo là làm cho người ta tin, thấy và chạm được Thiên Chúa. Sứ mệnh Phúc Âm hóa của cộng đoàn, giáo xứ, sẽ hữu hiệu và thành công mỹ mãn, nếu mỗi người công giáo nói được như Chúa Kitô: “Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha”. (Ga 14,9).

Hạt Cải

 

 

 

 
 

Xin quý bạn đọc vui lòng

thanh toán tiền báo năm 2015,

Và ghi tên mua báo năm 2016

nơi Cha Sở của mình.

Chân thành cám ơn.

Tĩnh Tâm


 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

CHƯA BAO GIỜ TRỜI XANH ĐẾN THẾ

 

1.

“Thế gian được vợ hỏng chồngcó đâu lại được cả ông lẫn bà”. Vậy Mỹ Lan, vợ tôi là một người tài sắc vẹn toàn (chắc nàng tưởng tượng ra thôi), thì tôi, chồng nàng, chẳng ngu cũng dốt, chẳng xí trai thì cũng thuộc loại Chí Phèo. Thế nhưng, quái lạ, không biết tại được voi đòi tiên, hay đứng núi nọ trông núi kia cao, nàng vẫn không hài lòng về nhan sắc của mình. Một buổi chiều nhạt nắng, nàng khát khao trái cấm:

- Anh coi, chị Kim Loan, vợ anh Hóa, ba đứa con rồi, đi mỹ viện về, đẹp hẳn ra, trông như như diễn viên Hàn Quốc ấy.

Rồi nàng rót mật vào tai tôi:

- Mình ơi, mình à! Mình có biết không? Người ta, gái một con trông mòn con mắt. Còn vợ của mình thì gái một con trông mù con mắt. Hay là mình cho em sửa mũi nhé! Nâng lên một xăng ti mét thôi, coi dễ thương liền à! Mình chiều em nhé!

Tôi véo mũi nàng một cái:

- Không! Anh thương nhất cái mũi tẹt của em, di sản của ông bà tổ tiên người Á Đông mình. Với lại trời sinh sao để vậy, của thật không hơn của giả hay sao?

Nàng lườm tôi bằng ánh mắt mang hình viên đạn:

- Không nói chuyện với con người cổ lỗ sĩ nữa. Tới giờ tan trường rồi, anh ở nhà nấu cơm, cho heo ăn, em đi đón con đây.

2.

Ấy, tôi chưa nói gì về gia cảnh vợ chồng tôi, phải không? Vì cái tôi là cái đáng ghét, nên tôi chỉ nói về tôi vài câu thôi cũng đã nhiều. Đại để, tôi sinh ra vào thời buổi khó khăn. Nghe bố tôi kể, ngày ấy thiếu đói, cả nhà phải ăn khoai sắn, bo bo (được gọi là cao lương) trừ cơm, nên người tôi gầy quắt, đen sạm như củ tam thất. Tôi bị suy dinh dưỡng nặng, được chữa trị bằng xuyên tâm liên, một thứ thuốc ngày ấy trị đựơc bá bệnh(!), nên đần, nhưng không đần lắm, chắc chỉ hơi đần thôi. Bảo rằng tôi dốt đặc cán mai, hoặc nói tôi một chữ cắn làm đôi không biết thì oan cho tôi quá. Bố mẹ tôi nghèo, đông con nên càng nghèo, mà thân phận tôi lại như thế, nên ba mươi tuổi đầu, tôi vẫn chưa lấy được vợ. May mà trời sinh ra Mỹ Lan. Nàng là con út trong một gia đình có ba anh em. Nhà không giàu có lắm, tạm gọi là đủ ăn đủ mặc. Anh Cả lấy vợ, sinh con đẻ cái, đến nay vẫn ở chung với mẹ. Anh Hai đi tu, đỗ cụ, nên bà cụ được gọi là bà cố. Có điều ngày xưa ấy bà cố trở lại đạo để kết hôn với ông cố, nên đôi khi lỡ miệng, người ta gọi bà là bà cố tân tòng(!). Là tân tòng, nhưng về việc sống đạo, mến Chúa yêu người, việc xây dựng giáo xứ, bà cố đúng là gương sáng cho nhiều người tự hào là đạo gốc, đạo dòng. Ông cố mất sớm, Mỹ Lan vừa là con út lại vừa thua thiệt vì mồ côi cha từ khi còn bé, nên được nuông chiều phải biết. Chiều quá hóa hư. Nàng đỏm dáng, đỏng đảnh không ai chịu được, thế nên ế. Nhờ vậy, mẹ tôi nhờ người đánh tiếng, nàng đồng ý lấy tôi ngay.

Hai vợ chồng ra riêng. Nhờ gia đình hai bên giúp đỡ, vay mượn thêm vào, chúng tôi tậu được năm công ruộng. Tôi chạy xe ôm kiếm thêm, dần dần trả hết nợ. Cuộc sống vất vả, không được gọi là sung túc nhưng cũng không đến nỗi đầu tắt mặt tối. Con trai tôi, thằng cu Tí, năm nay năm tuổi, là hy vọng, là tương lai, là hạnh phúc của chúng tôi. Chúng tôi yêu nhau lắm. “Yêu nhau lắm, cắn nhau đau”, ông bà mình nói vậy. Dù duyên trước tình sau, tôi yêu vợ tôi lắm, vậy mà tôi cam đoan chưa hề cắn nàng đau một lần nào. Nhưng chắc nàng mới thực sự yêu tôi, nên cắn rứt tôi đau lắm. Không một ngày nào mà nàng không năm lần bảy lượt, lải nhải so sánh tôi với người khác. Nào là tôi không ga lăng bằng anh An chồng chị Bình, không thông minh bằng anh Chương chồng chị Trình, không đẹp giai bằng anh Giang chồng chị Thủy, không làm ra tiền bằng anh Giao chồng chị Hòa… Tôi chẳng nói gì nhưng uất lắm, bụng bảo dạ: “Rồi có ngày em biết tay anh”.

Đã ba ngày nay rồi, Mỹ Lan kêu ốm, đeo mặt nạ suốt ngày đêm. Ốm thì nghỉ ngơi. Tôi bỏ chạy xe ôm, làm tất cả mọi việc trong nhà thay cho vợ. Tôi bảo đi khám bệnh, nàng không. Bảo mua thuốc uống, không. Bảo mời bác sĩ, cũng không. Hình như Mỹ Lan có chuyện gì bí mật lắm, muốn giấu tôi. Ngay đêm hôm ấy, trời đã khuya, Mỹ Lan ngủ rất say, tôi rụt rè, rón rén gỡ mặt nạ của nàng ra. Dưới ánh đèn ngủ mờ mờ, trời ơi! Mũi nàng đã được nâng cao, đẹp, dễ thương không chịu được. Theo thói quen, tôi véo mạnh một cái. Nàng ngồi bật dậy, lu loa:

- Anh định giết tôi đấy hả? Mới sửa mũi được ba ngày, chưa tháo chỉ. Trời ơi! Nó vẹo đi thế này, phải làm sao bây giờ?

Phải làm sao ư? Tôi làm sao biết được. Tôi thộn mặt ra, im lặng. Nàng khóc, tru tréo:

- Tích cóp mấy năm trời, phải hốt hụi non, vay thêm chỗ này chỗ này chỗ khác mới có tiền nâng mũi. Thế là hai mươi triệu bạc vất xuống sông xuống biển. Trời ơi là trời! Thằng chồng nhà quê cù lần của tôi nó hại tôi, nó giết tôi.

Tôi chợt thông minh đột xuất, tính nhẩm nhanh như thần:

- Cô có biết hai mươi triệu là bao nhiêu không, hả? Hai mươi triệu chia cho bốn ngàn, là năm tấn thóc, giống 50404. Một năm trời, hai vụ lúa, thức khuya dậy sớm, nhà này chưa giôi ra được bấy nhiêu. Thế mà chỉ đủ đổ vào cái mũi của cô. Cả cái giáo xứ Bắc Xuyên này, cả cái kênh E này, có ai tiêu xài vô lương tâm, vô trách nhiệm như cô không? Cô đõng đợt vừa vừa thôi chứ!

Nàng gào toáng lên, giữa đêm:

- Hôm nay tôi mới biết anh là thứ lòng lang dạ thú, miệng thì nói yêu vợ, nhưng lại coi của trọng hơn người. Tôi không thèm nhìn mặt anh nữa, mai tôi về bên mẹ tôi.

Cơn giận của tôi bốc lên ngùn ngụt:

- Cô về ngay đi còn được, việc gì phải chờ đến mai.

3.

Mỹ Lan về bên ngoại đã gần một tháng. Không có vợ, tôi vẫn chịu đựơc, vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ việc nhà. Nhưng tôi cũng phải thú nhận rằng trong nhà không được ngăn nắp, sạch sẽ, gọn gàng như trước. Đêm, hai bố con ôm nhau ngủ, thấy chiếc giường rộng thênh thang. Nhất là thằng cu Tí, bữa ăn nào cũng chê tôi nấu ăn không ngon bằng mẹ nó. Lại còn mỗi lần xoa lưng cho nó ngủ, nó chê tay tôi không mát, không mịn, không êm bằng tay mẹ. Thì cũng phải chịu thôi. Tôi đang cho heo ăn thì có tiếng xe máy ghé trước cửa, rồi nghe ông anh vợ thứ hai của tôi, linh mục ở mãi huyện Giồng Riềng về, oang oang:

- Cu Tí đấy hả? Mau lớn quá. Có ngoan không? Bác mới mua cho con bộ quần áo đẹp đây. Thay quần áo mới vào rồi đi mừng lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, bổn mệnh bà ngoại.

Cha bác ra tận chuồng heo:

- Chú rửa chân tay, tôi chở hai bố con lên bà, ăn mừng lễ.

Tôi nghĩ trong bụng: “Đi thì đi, sợ quái gì”, nhưng ngoài miệng lại ngần ngừ:

- Con chịu thôi! Con sợ lắm, thưa cha!

Cha bác xuề xòa:

 -Cái gì mà cha con? Anh em thôi. Chú phải đi.

Thật ra mừng lễ là chính, nhưng cũng là cái cớ để dàn xếp chuyện vợ chồng tôi thôi. Trong bữa ăn, lời qua tiếng lại, anh chị cả về phe tôi 100%, bà cố thì bênh con gái ra mặt, Mỹ Lan đòi tôi phải xin lỗi mới chịu về. Tôi ngoan cố:

- Có chân đi thì có chân về. Xin hỏi cả nhà, ai phải xin lỗi ai mới được chứ?

Tôi gọi thằng cu Tí, ra lệnh:

- Tí đâu? Về. Chiều nay bố con mình ra đồng thả diều.

Nó không nghe lời tôi, chạy lại ôm cổ mẹ nó:

- Mẹ ơi! Về nhà đi, về với con đi.

Cha bác không giảng Kinh Thánh, không trích dẫn Giáo luật, gắt gỏng như một gã nhà quê chân lấm tay bùn:

- Vợ phải có chồng, chồng phải có vợ, con phải có bố có mẹ.

Cha nghiêm mặt nhìn bà cố:

- Mẹ phải bảo cô ấy về, không được chứa chấp. Nếu không, con nói với cha xứ dứt phép thông công mẹ luôn.

Ai cũng biết cha bác nói để mà nói thôi, nhưng bà cố tưởng thật chăng:

- Giêsu, lạy Chúa tôi! Thế thì con Lan về đi, về ngay đi, không thì mẹ mất linh hồn mất.

Chúng tôi đưa nhau về. Tôi suy nghĩ mông lung: Mình là một Kitô hữu, hai gia đình nội ngoại đều đạo hạnh, lại có một ông anh vợ là linh mục. Chứ không ấy à? Biết đâu đã chẳng có một gia đình tan vỡ, một người vợ không chồng, một người chồng không vợ, và một đứa con nhỏ mồ côi, dù cả cha lẫn mẹ còn sờ sờ ra đó… Tôi lâm râm khấn nguyện: “Lạy Chúa, con xin cảm tạ Chúa hết lòng”.

Trên cao, chưa bao giờ trời xanh đến thế.

lãongu

 

KHI VỢ HƠN CHỒNG

Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Đời sống hôn nhân giống như một bức tranh. Có những cuộc tình đẹp do vẻ hài hoà cân đối. Chẳng thế mà các cụ ta ngày xưa, khi dựng vợ gả chồng cho con cái, thường tuân thủ định luật về “môn đương hộ đối”. Thế nhưng, cũng có những cuộc tình đẹp do nét tương phản: So với chị vợ, anh chồng thường phải cao hơn một tí, già hơn một tí và giỏi hơn một tí. Tuy nhiên, nếu tình thế bị lật ngược, có nghĩa là so với anh chồng, chị vợ cao hơn một tí, già hơn một tí và giỏi hơn một tí, lúc đó trời đất sẽ quay cuồng, mọi người sẽ không ngớt bàn ra tán vào. Cũng chính vì thế, hôm nay gã xin trình bày đôi ba nét về cái “định lý đảo” này.

Thứ nhất, đó là khi chị vợ cao hơn anh chồng

Chồng cao hơn vợ một cái đầu, đó chỉ chuyện thường ngày ở huyện. Thế nhưng, điều không được bình thường cho lắm khi áp dụng định lý đảo này vào chị vợ, nghĩa là chị ta lại cao hơn anh chồng một tí. Có lẽ chính chị vợ cũng đã ngán ngẩm khi nhận ra sự trục trặc ấy, như ca dao đã từng diễn tả:

 - Bây giờ chồng thấp vợ cao,

  Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.

Còn bàn dân thiên hạ thì lại nhìn anh chàng bằng cặp mắt soi mói, cộng thêm một chút thương hại:

- Chồng thấp mà lấy vợ cao,

  Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa.

Viết tới đây, gã bỗng cảm thấy ngao ngán thay cho những cô hoa hậu Việt Nam, bởi vì trong những năm gần đây, người ta thường hay bình chọn những cô cao khoảng một mét bảy đổ lên, để được bằng chị bằng em, lỡ có phải ra nước ngoài thi thố. Nhưng người ta đâu có nghĩ tới tình trạng “lệch pha” của những người đẹp chân dài khi bước vào đời sống vợ chồng.

Thứ hai, đó là khi chị vợ già hơn anh chồng

Anh chồng nhiều hơn chị vợ một vài tuổi, đó là chuyện bình thường. Có khi còn hơn cả một hai con giáp, thì cũng chẳng ai nhòm ngó. Thậm chí ngày nay nhiều cô gái trẻ lại thích lấy anh chồng già, vì anh chồng già xem ra chững chạc hơn, và nhất là biết chiều chuộng hơn: Chồng già vợ trẻ là tiên! Chứ còn lấy anh chồng trẻ, tuổi tác xấp xỉ ngang nhau, cả hai tính khí vẫn như con nít, xoay như chong chóng, chẳng biết đường nào mà mò. Vợ chồng trẻ con, thích đấy rồi lại chán đấy. Thế nhưng, nếu chị vợ chẳng may già hơn anh chồng một tí, thì lập tức liền bị bàn dân thiên hạ chõ miệng vào mà chê bai là duyên con bò, hay:

- Chồng già vợ trẻ là tiên,

  Vợ già chồng trẻ là con điên lấy thằng khùng.

Bạn bè thì khuyên nhủ: Bây giờ cậu còn trẻ, giỏi giang, hắn mê cậu thật, nhưng sau mười năm nữa, cậu sẽ trở thành một bà già và hắn sẽ bỏ cậu để chạy theo những đứa con gái trẻ đẹp cho mà xem. Bản thân chị vợ nhiều lúc cũng bực bội tức tối không ít, như câu chuyện dưới đây:

Vừa về đến nhà, bà M vứt phịch cái túi xuống rồi ngồi thừ trên ghế. Đứa con gái vừa mon men lại gần, bà liền quát um lên. Ông chồng dựng xe xong đi vào. Con gái cười cười hỏi bố: Bố lại vừa phạm tội gì à? Tao trẻ hơn mẹ mày là tao có tội hử? Chỉ chờ có thế, bà M liền nổi trận lôi đình. Thì ra hai vợ chồng bà vừa đi ăn cưới về, tiện thể rẽ vào nhà đứa con gái lớn chơi. Mấy người họ hàng thông gia bên ấy không hiểu mắt mũi thế nào mà lại đồng thanh chào: Cháu chào bà, cháu chào chú! Bực nhất là có đứa còn hỏi ông chồng ra vẻ quan tâm: Chú đưa mẹ vợ đi chơi đấy à? Hai vợ chồng bà M mặt…ngắn tũn, sượng sùng! (Diên Vỹ). Tình trạng “lệch pha” này, được cánh báo chí hiện nay diễn tả một cách cụ thể và chính xác bằng cụm từ “phi công trẻ lái máy bay bà già”!

Thứ ba, đó là khi chị vợ giỏi hơn anh chồng

Theo các chuyên gia tâm lý, thì sự chênh lệch về học thức rất dễ tạo nên những mâu thuẫn trong nhiều lãnh vực, chẳng hạn như giáo dục con cái, kế hoạch chi tiêu, quan hệ xã hội và thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục. Những anh chồng học vấn thấp thường cảm thấy ấm ức trước những ý kiến của chị vợ, nhất là khi chị vợ lại tỏ ra áp đặt. Rồi từ đó, anh chồng mang một thái độ tiêu cực và bất cần, không chịu chia sẻ công việc gia đình với chị vợ, và nhiều khi còn tìm cách bạo hành vợ để “bù đắp” những khuyết điểm của mình. (Minh Long).

Tác giả Lâm Thanh trên báo Phụ Nữ, khi phân tích về tình trạng “vợ giỏi”, cũng đã ghi nhận như sau:  Do quan niệm Á Đông đề cao nam giới, nên người vợ giỏi sẽ rất dễ làm nảy sinh mặc cảm và những suy nghĩ tiêu cực nơi anh chồng. Chị vợ thành đạt không còn có nhiều thời gian như trước đây, chị bận bịu hơn, nên thời gian dành cho gia đình cũng ít hơn, khiến anh chồng lại càng mặc cảm. Anh ngộ ra rằng vợ không còn đoái hoài gì đến mình, và mình cũng chẳng còn giá trị gì nữa. Từ đó, anh chồng thường tỏ ra bất hợp tác với mọi việc làm của vợ, thậm chí còn quát mắng, đánh đập để thể hiện uy quyền của mình… Không thiếu những anh chồng nghĩ rằng: Là phụ nữ, dù có giỏi giang, thành đạt đến đâu chăng nữa, thì cũng vẫn là phụ nữ, nghĩa là vẫn phải nấu cơm, vẫn phải giặt quần áo cho chồng”. Có anh chồng đã quan niệm: Phụ nữ sinh ra không được quyền tài giỏi hơn chồng. Thậm chí có anh chồng còn hung hăng phát biểu: Làm đàn ông có thể chịu khổ, chứ không thể chịu nhục được.

Sau cùng thứ tư, đó là chị vợ giàu hơn anh chồng

Chữ giàu ở đây được hiểu theo hai nghĩa, đó là gia đình thuộc vào hàng khá giả và bản thân lại kiếm được nhiều tiền. Người con gái nếu lấy được anh chồng giàu, thì mọi người đều trầm trồ khen ngợi, cho đó là một sự may mắn và số phận dường như mỉm cười với chị ta. Trong khi đó, người con trai chẳng may lấy được cô vợ giàu, thì lại bị miệng lưỡi thế gian xỉa xói: Đũa mốc mà lại chòi mâm son, chuột sa chĩnh gạo. Thậm chí còn được phong làm kỹ sư đào mỏ.

Một khi đã bước vào cuộc sống lứa đôi, để xây dựng mái ấm gia đình, thì anh chồng và chị vợ phải biết cộng tác với nhau: Chồng như đó vợ như hom, của chồng công vợ. Tiền của ai cũng được, miễn là thu nhập một cách chính đáng. Tuy nhiên, sự đời lại không đơn giản, nhất là khi chị vợ có thu nhập cao hơn chồng. Đây chính là một con dao hai lưỡi, luôn đe doạ cắt đứt những sợi chỉ mỏng manh dệt nên tấm vải hạnh phúc. Hệ luỵ của nó, nhẹ thì ở mức vợ chồng lục đục, còn nặng thì đổ vỡ hay con cái hư hỏng.

Chị HM là một người phụ nữ xinh đẹp, tháo vát và khéo nuôi con, nhưng lại mắc phải một tật xấu duy nhất là kiếm tiền giỏi hơn chồng. Bản thân chị không bao giờ chê chồng kém, nhưng ngặt một nỗi, cứ bàn đến chuyện gì trong gia có liên quan tới tiền, thì anh chồng lại nói dỗi: Tôi làm sao được bằng cô, cô giỏi mà! Thế nhưng, chị vẫn tôn trọng anh và cho biết: Một tháng tôi có thể làm thêm được hai ba chục triệu, nhưng nhìn một triệu anh đưa, tôi vẫn cảm thấy sung sướng, vì tôi biết mình đang cầm những đồng tiền do mồ hôi của chồng đổ xuống.

Còn anh chồng, trong những lúc sa cơ thất thế, hay bị sao quả tạ chiếu tướng, thay vì có thái độ tiêu cực, mặc cảm và bất hợp tác hãy khẳng định mình bằng những hành vi cộng tác và giúp đỡ cho chị vợ.

 

 

 

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH

6

 

Vẫn từ hoàn cảnh gia đình nó.

Một ngày trong năm êm ả, lặng lẽ và âm thầm đến độ nó không nhớ chính xác được ngày và tháng, mà chỉ sau này, nó biết được là năm 1981, cha nó đi cải tạo về. Anh chị em nó vui và mừng lắm, và chắc chắn mẹ nó là người vui và hạnh phúc nhất sau những năm tháng buồn tủi trong âm thầm lặng lẽ bên đàn con thơ dại! Bản thân nó thì mang tâm trạng vui mừng hớn hở của một đứa trẻ với tâm hồn ăn uống cao cả. Nó đoán rằng, rồi đây nhà mình sẽ mở tiệc mừng lớn nhất từ trước nay, vì cha nó đã “mất” nay lại trở về! Nó nghĩ thế và rồi nó đợi chờ và chờ đợi qua ngày, qua tuần, qua tháng và qua năm sao không thấy tiệc mừng chi hết! Nó thắc mắc tự hỏi, thế này là thế nào? Nhà mình ngộ nhỉ, sao không giống như những nhà khác, cứ có việc lớn, việc nhỏ là “yến tiệc linh đình”? Nghĩ như thế, rồi không thấy và không được như thế, nó lại buồn buồn, tủi tủi sao ấy! Với thời gian, nó hiểu được rằng, vấn đề không đơn giản như nó nghĩ và nó tưởng. Cha nó có thể rất muốn tổ chức tiệc mừng để loan báo tin vui với anh em rằng, ông đã được về đoàn tụ với vợ con! Mẹ nó cũng muốn tổ chức đại tiệc để loan tin mừng với chị em rằng, chồng tôi đã được tự do về đoàn tụ gia đình! Anh chị em chúng tôi cũng muốn có một bữa tiệc để loan tin vui, tin mừng với chúng bạn rằng, Bố tao đã về! Nhưng vấn đề xem ra rất tế nhị vì “thời cuộc”. Cha nó được về rồi đấy nhưng vẫn có chú “áo xanh, áo vàng” gì đó ghé “thăm hỏi”. Và nó nghe được từ ngữ họ xử dụng cho trường hợp của cha nó là vẫn còn bị “quản thúc”, chưa “xả chế”. Khi biết được như thế, nó lại thấy tội nghiệp và thương cha, thương mẹ, thương anh chị em nó hơn.

Trong âm thầm, nhưng không kém niềm vui và hạnh phúc được sống bên cha bên mẹ trong mái ấm gia đình nó. Nó tung tăng nghĩ rằng, giờ đây, có cha nó tiếp giúp mẹ nó trong công việc gia đình, mẹ sẽ khỏe hơn vui hơn và anh chị em nó nhờ đó cũng sẽ được thoải mái hơn, bớt việc hơn, xin đi chơi dễ dàng hơn vì đã có cha nó- đấng bênh vực, chở che và bào chữa cho tui nó bên mẹ nó. Nó là thế, nói đến là ăn uống là vui chơi. Nó thấy nó cũng hồn nhiên, hớn hở và yêu đời sao ấy! Nhưng mà thấy dzậy chứ không phải dzậy và không được dzậy! Sau những tháng ngày ổn định tại gia đình, cha nó bắt đầu thể hiện phong cách và đường hướng giáo dục con cái. Cha nó ít nói và rất nóng tính. Lờ vờ là ăn roi ngay. Bản thân nó cũng đã bị những trận đòn chí tử. Số là thế này, nó và em trai nó đi chơi. Đầu xóm nhà thờ có điểm chơi bài (đếm nút, ba lá gì đó). Anh em nó châu đầu vào xem (có tiền đâu mà chơi). Một đứa cũng trong xóm về mách cha nó rằng, hai anh em nó đang chơi bài ở đầu xóm. Đểu ghê! Hai anh em đâu biết gì (về chuyện có kẻ thọc mạch), khi vừa về tới, bước vào nhà là lãnh ngay một trận mưa roi túi bụi! Cha nó ghét bài bạc lắm và không muốn cho anh em nó dính bén vào, nên khi nghe nói anh em nó lờ vờ vào đó là điên tiết lên quất một trận đã, mọi sự tính sau! Và với năm tháng, nó nhận ra rằng, cha nó là một cặp bài trùng với mẹ nó trong việc giáo dục con cái trong buổi giao thời (thập niên 1980), khó khăn, tranh tối tranh sáng, vàng thau lẫn lộn… Vì vậy, cha nó giờ đây trở thành “gọng kìm” thứ hai sáp vào với mẹ nó thành những “gọng kìm” hoàn hảo uốn nắn những “thanh sắt” thô là anh chị em nó trở nên những bộ khung vững chắc cho “tòa nhà” là mỗi con người anh chị em nó hôm nay. Nó thầm tạ ơn Chúa đã cho cha nó về đúng thời điểm như thế.Nó cũng tạ ơn Chúa đã cho nó cảm nghiệm được tình cha nghĩa mẹ như thế. (Còn tiếp).                                      

Ôi Khanh!

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

THƠ

XỨ ĐẠO 50 NĂM

Năm mươi năm chẵn một mùa xuân

Xứ đạo quê ta đẹp vô ngần

Chung xây hiệp nhất trong tình Chúa

Nhịp vang câu hát luôn trải hoài.

Năm mươi năm chẵn lối đường dài

Dẫu nhiều gian khổ, lắm chông gai

Buồn vui chia sẻ bao thương mến

“Tốt đời đẹp đạo” chẳng phôi pha.

Năm mươi năm chẵn chặng đường xa

Hồng ân Thiên Chúa những chan hòa

Gọi niềm tin yêu thêm bừng cháy

Tin Mừng đem đến khắp gần xa.

Năm mươi năm chẵn một mùa hoa

Xứ đạo quê ta mãi vươn xa

Nên vườn xuân mới khoe sắc thắm

Hoan ca tiến bước về nhà Cha.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

MƯA HỒNG ÂN

Nhìn trời tháng bảy mưa ngâu

Nghe người Tân Lập nhớ câu chuyện dài

Tiên nhân khai hóa xứ này

Nắng mưa khó nhọc đêm ngày lo toan.

Bốn bề dày đặc cỏ hoang

Nước chua đất mặn phèn loang khắp đồng

Bao người vất vả khổ công

Đợi ngày cây lúa đơm bông chín vàng.

Đêm đêm từng tiếng thở than

Lạy trời ban xuống muôn vàn ân thiêng

Nhờ trời đã được bình yên

Trải qua gian khổ nên duyên thắm nồng.

Thương cha tiên khởi nhiều công

Khó khăn không ngại một lòng chung xây

Dựng nên Tân Lập xứ này

Nhớ ơn cha Thể đã dầy công lao .

Cha về xứ Lạng vùng cao

Đoàn con lưu luyến nghẹn ngào chia tay

Đón mừng cha sở thứ hai

Mùa mưa năm thánh tuôn dài ân ban.

Kính thương cha sở Gioan

Tận tâm thao thức truyền loan Nước Trời

Nhịp cầu nối kết đạo đời

Lửa thiêng tình Chúa tình người tỏa lan.

Cộng đoàn tràn ngập hân hoan

Gạo thơm chia sẻ ủi an khổ sầu

Nghĩa tình thắm thiết dài lâu

Mừng vui hay lúc cơ cầu có nhau.

Chén trà tâm sự gửi trao

Rượu nồng san sẻ biết bao vui buồn

Cuộc đời tươi đẹp mãi luôn

Cùng đồng trách nhiệm tròn vuông chẳng nề.

Mỹ Lâm thắm đượm tình quê

Kính nhường thảo hiếu tràn trề nghĩa nhân

Nguyện xin Chúa đổ hồng ân

Chở che  gìn giữ xứ Tân Lập này.

Pr. Hồng Khải

Kỷ niệm 25 năm thành lập 1990 - 2015

giáo xứ Tân lập, Giáo hạt Hà Tiên

 

TẢN MẠN

TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO XỨ

Người Kitô hữu xem giáo xứ và nhà thờ là ngôi nhà thiêng liêng. Ở đây, họ được lãnh nhận các bí tích, được học hỏi và lớn lên trong đức tin, vững vàng trong đức cậy và sốt sắng trong đức mến. Theo đà phát triển của xã hội, mỗi giáo xứ cũng tu sửa và chỉnh trang các công trình trong giáo xứ một cách hoàn chỉnh. Ngay từ nhà thờ, nhà xứ, nhà chờ phục sinh và cả nghĩa trang cũng được tô điểm. Ngoài mục đích về mặt thẩm mỹ, chúng ta còn thấy cách tô điểm ấy mang lại giá trị tinh thần cao cho mỗi người giáo dân, vì đây là đền thờ của Thiên Chúa, nơi mà mỗi người Kitô hữu được trưởng thành, và dù có đi đâu rồi cũng sẽ trở về sau khi kết thúc cuộc đời này. Như vậy có thể nói giáo xứ gắn liền với cuộc đời của mỗi người. Mặt khác, giáo xứ còn là một gia đình hiệp nhất và yêu thương, chính vì thế, việc xây dựng ở đây là sự liên kết giữa các gia đình trong giáo xứ, sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau tạo điều kiện tốt và thúc đẩy giáo xứ phát triển. Ngoài ra, chúng ta cũng cần thay đổi chính bản thân mình nên tốt hơn để góp phần thay đổi chính giáo xứ, việc phát triển giáo xứ phải phát xuất từ nền móng, mà nền móng ở đây là mỗi người giáo dân trong chính giáo xứ ấy, chính vì thế, tầm quan trong của việc xây dựng và phát triển giáo xứ là do mỗi người giáo dân tỏng chính giáo xứ ấy.

Lưu Hành

 

XÂY DỰNG TÂM HỒN

Giáo xứ cần phải được đổi mới và xây dựng mỗi ngày để mọi người, kể cả có đạo cũng như ngoại đạo, đều nhận thấy nhà thờ là nơi trang nghiêm để cầu nguyện. Xây dựng và đổi mới giáo xứ như thế nào? Đây là câu hỏi của nhiều người đã đặt ra. Chúng ta có nhiều cách để xây dựng nhà thờ như trồng cây, dọn dẹp vệ sinh, hoặc chúng ta cũng có thể bỏ tiền vào thùng để giúp đỡ người nghèo, tàn tật, thiên tai ở những nơi vùng sâu vùng xa, đó cũng là cách để xây dựng giáo xứ. Nhưng đó chỉ là những gì chúng ta xây dựng về mặt vật chất mà thôi, chúng ta cần phải xây dựng cả trong Thánh lễ nữa. Chúng ta không nên quá phô trương để rồi tham dự Thánh lễ với một tâm hồn lạnh lẽo, trống rỗng. Nói như vậy chúng ta phô trương ở chỗ nào, cầu kì ở chỗ nào? Đó là chúng ta ăn mặc đẹp, đi xe đẹp, rồi trang điểm làm đẹp cho thể xác, nhưng vào nhà thờ thì chưa chắc chúng ta đã tham dự Thánh lễ một cách sốt sắng. Chúng ta chỉ cần đến nhà thờ với một tâm hồn đơn sơ là đến để tham dự Thánh lễ, cầu nguyện, ăn năn. Như thế thay vì làm đẹp cho diện mạo bề ngoài thì chúng ta nên làm đẹp cho tâm hồn thì hơn, bởi vì tâm hồn chính là đền thờ của Chúa Thánh Thần ngự trong ta.

Nguyễn Anh Kiệt - GX Đồng Công

XÂY DỰNG GIÁO XỨ

Tôi đã lớn lên nơi vùng đất biên giới, trưởng thành trong xứ truyền giáo. Nơi đây tôi được sống cùng với các anh em khác dân tộc, khác tôn giáo, mọi người rất hòa nhập với nhau. Giáo xứ của tôi có thể gọi là một giáo xứ thuộc vùng sâu vùng xa. Nhưng nơi đây có sự thân tình, sự yêu thương, hiệp thông và cả sự mến khách. Trước đây xứ tôi không có các hội đoàn, ca đoàn thì ít người tham gia, thiếu nhi thì chỉ có vài đứa…Nhưng thời gian gần đây, xứ tôi có sự đổi mới, phát triển khá nhiều. Vì mọi người thường xuyên tham dự Thánh lễ hơn. Gia trưởng, hiền mẫu cũng đã có hội đoàn. Ca đoàn được cũng cố nhờ sự nhiệt tình tham gia của mọi người. Thiếu nhi thì mỗi ngày một đông do sự ý thức từ cha mẹ đã dạy dỗ khuyên ngăn con mình. Tất cả là nhờ sự hiệp thông, đoàn kết của mọi người trong xứ. Vì thế chúng ta nên bỏ qua những cái riêng và hãy nghĩ đến cái chung, tất cả là vì Thiên Chúa của chúng ta.

Têrêsa

                                                                               

               
   
     
 
     
 
 
     

 

TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG TRONG CỰU ƯỚC

 

Dựa vào sách Sáng Thế Ký 1,26-28 nói về việc Thiên Chúa dựng nên loài người và Sáng Thế Ký 2,7-25 nói về việc Thiên Chúa ấn định thể thức hôn nhân của nhân loại. Chúng ta ghị nhận được những điểm chính yếu sau đây:

1- Con người trổi vượt hơn loài vật. Thực vậy, cũng như loài vật, con người bởi đất mà ra để rồi sẽ trở về với đất. Thế nhưng, con người trổi vượt lên trên mọi tạo vật, bởi vì nơi con người có luồng sinh khí thần linh, được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, có trí khôn và ý muốn. Con người là một thần khí trong một thân xác. Và như thế, Kinh Thánh muốn nói rằng: Thiên Chúa trực tiếp dựng nên linh hồn con người và kết hiệp nó với một thân xác để làm thành một thụ tạo mới.

2- Hôn nhân là một thể chế do chính Thiên Chúa đã qui định. Thực vậy, ngay từ thuở ban đầu, hôn nhân đã bao gồm hai đặc tính, đó là một vợ một chồng và bất khả phân ly, nghĩa là phải trung thành với nhau cho đến chết. Sự gắn bó chặt chẽ này còn được Kinh Thánh nhấn mạnh hơn nữa: Người nam sẽ lìa  bỏ cha mẹ để kết hợp với vợ mình và cả hai sẽ trở nên một xương một thịt.

3- Người nữ là bạn của người nam và cùng chia sẻ trách nhiệm với  nhau. Chúng ta thường nói: Con người không thể nào sống cô độc lẻ loi một mình, nhưng sống là sống với người khác. Do đó, tự bản chất con người luôn hướng tới kẻ khác trong một cộng đoàn, trong một xã hội. Chính Thiên Chúa cũng đã nói: Adong ở một mình không tốt, Ta phải dựng nên cho nó một người nội trợ giống như nó.

Tuy nhiên, Thiên Chúa muốn để cho chính con người khát mong có được người bạn đồng hành, người bạn tri kỷ. Bởi vì, như chúng ta đã thấy: Adong nhìn ngắm các tạo vật do Thiên Chúa dựng nên, nhưng ông không tìm ra được một người tương xứng với bản thân mình. Sự tìm kiếm ở đây không có nghĩa là Adong chỉ mong tìm thấy được một bổ túc cho mình hoặc thêm tay chân để chăm sóc thửa vườn địa đàng mà Thiên Chúa đã trao phó. Nhưng sâu xa hơn, Adong mong mỏi tìm thấy được một đồng thanh tương ứng, một đồng khí tương cầu, một đồng loại có thể đối thoại với mình, có thể chung sống với mình. Adong khao khát tìm thấy một ai khác, tuy hai mà một. Thánh Augustinô đã nhận xét một cách dí dỏm: “Thiên Chúa dựng nên người nữ từ chiếc xương sườn của người nam. Chiếc xương sườn ấy ở cạnh trái tim, cho nên nàng phải được yêu mến và tôn trọng. Thiên Chúa không dựng nên người nữ từ chiếc xương sọ của người nam, để nàng la hét và chỉ huy chàng. Ngài cũng không dựng nên người nữ từ chiếc xương gót chân của người nam, để chàng dày vò và đày đọa nàng”. Người nam và người nữ tuy khác biệt nhau nhưng lại bình đẳng với nhau về bản tính và trách nhiệm, đồng thời bổ túc lẫn cho nhau.

Đoạn sách Sáng thế ký chương hai nhấn mạnh đến sự trợ giúp lẫn nhau. Đây chính là một chân lý mà ngay từ thuở ban sơ, Giáo Hội đã từng chủ trương để chống lại nhiều dân tộc cho rằng nữ giới thua kém nam giới. Trong khi đó, đoạn sách Sáng thế ký chương một lại nhấn mạnh tới việc sinh sản: Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều đầy mặt đất. Như thế, chúng ta thấy hai mục đích của hôn nhân đã được gói ghém ngay từ những trang đầu của Kinh thánh, đó là giúp đỡ lẫn nhau và sinh sản con cái.

Adong Evà chính là lứa đôi đầu tiên xuất phát từ lòng bàn tay Thiên Chúa, không một bóng mờ, không một vẩn đục, không một gợn mây đen. Đám cưới thứ nhất tiến vào vườn địa đàng dưới cái nhìn trìu mến và chúc phúc của Thiên Chúa trong ánh bình minh tươi hồng của một vũ trụ vừa mới được khai sinh. Thế nhưng, tội lỗi đã nổ tung như một tiếng sét, phá vỡ cái trật tự tuyệt vời của thuở ban đầu và kéo theo những hậu quả tai hại mà tội nguyên tổ đã đem vào trong lãnh vực tình nghĩa vợ chồng. Evà lôi kéo Adong  phạm tội rồi Adong tố cáo Evà. Họ không còn hòa hợp với nhau. Tình nghĩa vợ chồng bị rạn nứt. Khi Thiên Chúa không còn được kính trọng, thì tình yêu của con người cũng sẽ bị phai mờ và đổ vỡ.

- Sự sinh sản bị tổn thương: Người nữ sẽ phải sinh con trong đau đớn, còn người nam sẽ phải đổ mồ hôi mới kiếm được chén cơm nuôi sống gia đình. Vì thế, ngày nay nhiều người đã khước từ việc sinh sản bởi họ coi đó như là một gánh nặng.

- Sự bẽ bàng và cay đắng: Sau khi phạm tội, mắt họ mở ra. Mở ra không phải để thấu suốt mọi sự như ma quỉ đã hứa hẹn, mà chỉ thấy bẽ bàng và cay đắng. Xuất phát từ bàn tay Thiên Chúa, thân xác con người mặc lấy sự thánh thiện và trong sạch, nhưng sau khi vấp phạm, thân xác ấy trở nên dịp tội cho mình và cho người khác, nên phải che đậy lại. Như thế, tình yêu không còn tốt đẹp và tuyệt vời như thuở ban đầu. Kinh thánh còn cho hay biết bao nhiêu thương tổn khác nữa. Nào giết người, nào ngoại tình, nào gian dâm và đủ mọi thứ tội ác.

Dầu vậy, tình yêu vẫn chưa hoàn toàn bị hủy diệt, vì mỗi khi một đôi nam nữ ý thức được tình nghĩa vợ chồng và quyết định thành lập một gia đình mới, họ vẫn còn thấy được tia sáng hạnh phúc ban đầu của nó trong vườn địa đàng.

Tụy Hiền

 

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

THÁNH LỄ KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2015-2016

Sáng ngày 01.9.2015, tại TGM Long Xuyên, Đức cha phụ tá Giuse và quý cha trong Ban Giảng Huấn đã dâng thánh lễ khai giảng năm học niên khóa 2015-2016 cho Nhà Dự Tu Têrêsa. Trong thánh lễ, dựa vào bài Tin mừng, Đức cha đã nhắn gửi các chú tâm tình của những người đi theo Chúa và nguy cơ có thể xảy ra: Các chú coi đời tu là con đường để tiến thân, các chú muốn nghỉ ngơi, muốn tận hưởng cuộc sống mà không muốn dấn thân. Ba chữ T là tình, tiền và tửu có thể liên kết với chữ T thứ tư là cái TÔI (quyền hành) sẽ làm đời tu của mình biến chất. Đức cha muốn các chú hãy luôn theo sát và kết hợp với Đức Kitô để có sức mạnh chiến đấu với ma quỷ. Niên khóa năm nay có 39 chú dự tu thuộc 2 lớp. Lớp năm I gồm 20 chú đã dự tu được 1 năm và lớp năm II gồm 19 em mới thi tuyển vào nhà Têrêsa.

 

GIA ĐÌNH TẬN HIẾN CHO ĐỨC MẸ MIỀN CÁI SẮN

MỪNG BỔN MẠNG

Sáng ngày 08.9.2015, tại giáo xứ Thạnh An, Đức cha phụ tá Giuse cùng với quý cha đã hiệp dâng thánh lễ bổn mạng và mừng 30 năm thành lập gia đình Tận Hiến Đồng Công miền Cái Sắn(1985-2015). Tham dự thánh lễ còn có sự hiện diện của cha Giuse Maria Lương Thiên Triều là Tổng phụ trách Gia Đình Tận Hiến Đồng Công  toàn quốc cùng quý cha thuộc Dòng Đồng Công và trên 2500 thành viên của gia đình Tận Hiến cho Đức Mẹ thuộc 40 giáo xứ trong miền Cái Sắn. Trong bài huấn đức và giảng lễ, Đức cha đã nhấn mạnh đến việc thiết lập mối tương quan: tương quan với Chúa Giêsu, với Đức Mẹ và với người nghèo. Chính Đức Mẹ là người đã thiết lập và sống tốt những mối tương quan này. Được biết gia đình Đức Mẹ miền Cái Sắn có rất nhiều người đã được tận hiến và sống linh đạo của Hội Dòng Đồng Công: nhờ Mẹ để đến với Chúa Giêsu “Per Mariam ad Jesus”.

 

ĐẠI HỘI ULTREYA CỦA PHONG TRÀO CURSILLO

Sáng ngày 13.9.2015, hơn 100 thành viên thuộc phong trào Cursillo của giáo phận đã quy tụ về Tòa Giám Mục để tham dự đại hội Ultreya và mừng lễ Suy Tôn Thánh Giá, bổn mạng của phong trào Cusillo. Đại hội Ultreya thường diễn ra sau thời gian dự khóa thường huấn 3 ngày trước đó. Năm nay, phong trào Cusillo đã có 3 ngày thường huấn tại TTMV giáo phận Cần Thơ. Và hôm nay, đại hội Ultreya quy tụ các thành viên lại với nhau nhằm mục đích để chia sẻ những cảm nghiệm và cùng nhau thảo luận về 3 nội dung: Sùng đạo, Học đạo và Hành đạo. Hơn 100 thành viên trong phong trào đã chia thành hơn 20 nhóm nhỏ để chia sẻ với nhau nhửng cảm nghiệm sống đạo của mình và chon lựa ra 3 mẫu gương sống đạo điển hình để trình bày trước đại hội. Kết thúc ngày đại hội là thánh lễ mừng lễ Suy Tôn Thánh giá, bổn mạng của phong trào do cha Tổng Đại Diện LG. Huỳnh Phước Lâm và quý cha linh hướng của phong trào Cusillo cử hành.

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

ĐẠI HỘI LOAN BÁO TIN MỪNG TOÀN QUỐC LẦN III

Đúng 14 giờ ngày 01.9.2015, Đại hội LBTM toàn quốc lần III do UBLBTM trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam tổ chức đã khai mạc tại trung tâm mục vụ Tổng Giáo phận Huế với chủ đề: “Canh tân hoạt động loan báo Tin Mừng tại Việt Nam ngày nay.” Ngoài sự hiện diện của Đức cha Alph. Nguyễn Hữu Long, Giám mục phụ tá Hưng Hóa, Chủ tịch Ủy ban LBTM, Đức cha Giuse Nguyễn Năng, Giám mục giáo phận Phát Diệm, Chủ tịch Ủy ban Giáo lý Đức tin và cha Đaminh Ngô Quang Tuyên, Tổng Thư ký cùng các thành viên trong Ủy ban, Đại hội còn quy tụ 78 linh mục trong đó có quý cha đặc trách Ban LBTM của 26 giáo phận, 73 tu sĩ nam nữ và 70 anh chị em giáo dân. Mục đích của Đại hội nhằm xác định phương hướng hợp tác và đối thoại trong việc LBTM; đổi mới phương pháp làm việc của Ủy ban LBTM; thúc đẩy sự dấn thân của giáo sĩ, tu sĩ đang làm mục vụ với việc truyền giáo và huấn luyện tác viên Tin Mừng cho công cuộc truyền giáo.

 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Hội nghị Thường niên Kỳ II (14.9.2015-18.9.2015)

Hội nghị Thường niên kỳ II của HĐGM diễn ra tại TGM giáo phận Xuân Lộc, từ ngày 14-18.9. Như mọi khi, Hội nghị khai mạc với giờ Chầu Thánh Thể lúc 20 giờ ngày 14.9. Xin Chúa ban muôn ơn trên các Đức cha. Hội nghị lần này vắng mặt ĐGM Bắc Ninh không tham dự được vì đau bệnh và một vị khác bận công tác mục vụ xa. Hội nghị lần này bàn đến các vấn đề như: Tổ chức Năm Thánh Lòng Thương Xót; duyệt các bản văn phụng vụ; tiến trình thành lập Học viện Công giáo; chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới về Gia đình; bàn thêm về Mục vụ Di dân; soạn Thư mục vụ 2016 gởi Cộng đồng Dân Chúa; các giáo phận và các Uỷ ban chia sẻ thông tin sinh hoạt năm qua; xúc tiến án phong chân phước 2 vị Giám mục tiên khởi Lambert De La Motte và François Pallu. Hội nghị kết thúc vào tối thứ Năm 17.9. Ngày hôm sau, các Đức cha hiệp thông với giáo phận Xuân Lộc trong Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng công trình Hành Hương Thánh Mẫu tại Núi Cúi.

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

LỘ TRÌNH CỦA ĐTC TẠI HOA THỊNH ĐỐN

Ngày 23 tháng 9, sau khi gặp gỡ với Tổng Thống Obama tại Tòa Bạch Ốc, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ đi trên chiếc xe Popemobile từ công trường Ellipse. Đây là cơ hội cho hàng vạn người sẽ quy tụ tại Hoa Thịnh Đốn để được thấy Đức Thánh Cha khi ngài đến viếng thăm thủ đô Hoa Kỳ từ ngày 22-24 tháng 9,2015. Lịch trình của ĐTC gồm có buổi nói chuyện với các Giám Mục Hoa Kỳ tại Nhà Thờ Chánh Tòa Thánh Matthêu Tông Đồ, cũng như Thánh Lễ phong thánh cho chân phước Junipero Serra. Thánh lễ buổi chiều sẽ được tổ chức tại cửa phía đông của Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ.

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ THÁNH TÂM KINH, B2

THÁNH BỔN MẠNG ĐỨC MẸ LAVANG

Địa chỉ: Ấp B2, xã Thạnh Lợi, huyện Vĩnh Thạnh,

Thành phố Cần Thơ. Số điện thoại: 0939.502.756

 

+ ĐỊA LÝ:

Giáo xứ Thánh Tâm phía đông giáp Ấp C2, phía tây giáp Ấp A2, phía nam giáp giáo xứ Vạn Đồn B1, phía bắc giáp xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Giáo xứ có chiều dài là 4000m, chiều ngang 1800m Dân chúng sống rải rác ở hai bên bờ kênh B2, và tuyến sông Ba Thê, chợ Bình Thành. Giáo dân: 1.851 người, với 420 hộ gia đình. Là dân Công Giáo toàn tòng, người Bắc di cư năm 1954; 90 % gốc Thái Bình. Bao gồm:

* Giáo xứ Thánh Tâm:  1.175 người, với 255 hộ.

* Giáo họ Mẫu Tâm:  676 người với 165 hộ.

* Giáo điểm Bình Thành: Đang thành hình. Hiện có 12,2 công ruộng.

+  LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN:

* Năm 1954, dân di cư từ Bắc vào, tạm trú tại Biên Hòa, rồi đến năm 1956 di chuyển xuống Cái Sắn, tới kênh B, từ cây số 1 đến cây số 12, chia làm hai giáo xứ: phía Long Xuyên thuộc về tỉnh An Giang, do cha Phêrô Mai Trí Thuật phụ trách, gọi là giáo xứ Vạn Đồn, phía Rạch Giá thuộc về tỉnh Kiên Giang, do cha Phêrô Trần Minh Tân phụ trách, gọi là giáo xứ Bình Cát.

* Năm 1958, nhập hai phía Long Xuyên và Rạch Giá lại làm một địa giới hành chính, thuộc về tỉnh An Giang.

* Năm 1961, thành lập Giáo Phận Long Xuyên, Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ nhập giáo xứ Vạn Đồn và giáo xứ Bình Cát làm một, lấy ranh giới từ 600 mét đến sông Đòn Dông  ở cả hai bên gọi là giáo xứ Vạn Đồn, B1, còn từ sông Đòn Dông đến cuối kinh ở cả hai bên gọi là giáo xứ Thánh Tâm, B2. Cha Đaminh Nguyễn Trinh Đức được cử về làm cha xứ tiên khởi ngày 07.7.1961.

* Ngày 11.01.2012: Giáo họ Hợp Tiến thuộc giáo xứ Thánh Tâm được nâng lên thành giáo xứ Hợp Tiến.

CƠ SỞ CHUNG CỦA GIÁO XỨ:

Năm 1961: mới thành lập giáo xứ, nên lấy Nhà Thờ Trà Vy, nhà thờ đầu tiên của giáo xứ.

* 1962: Chuyển nhà thờ Trà Vy về nhà thờ mới ở vị trí hiện tại.

* 1965: Đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ.

* 1973: Nới rộng 2 mái hiên.

* 07.8.1993: Đức Cha Gioan B. Bùi Tuần làm phép khánh thành nhà thờ mới hiện nay.

* Năm 1985: Xây dựng Đài Đức Mẹ.

* Năm 1997 Thánh Tâm Linh Địa (đất thánh) được Đức Cha JB Bùi Tuần làm phép.

* Ngày 12.7.2011: Khánh thành nhà xứ, nhân dịp mừng kim khánh ngày thành lập giáo xứ năm 1961, được Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu làm phép.

SINH HOẠT:

Thánh lễ mỗi ngy. Riêng sáng Chúa Nhật sau lễ nhì, các em thiếu nhi tham dự các lớp giáo lý tùy lứa tuổi: Khai Tâm, Xưng Tội, Thêm Sức, Vào Đời. Buổi tối: Chầu Mình Thánh Chúa.

QUÝ CHA ĐÃ PHỤC VỤ:

* 1961 - 2001: cha Đaminh Nguyễn Trinh Đức, cha xứ tiên khởi, xây dựng ngôi thánh đường, đặt tên cho giáo xứ là Thánh Tâm, nhận Thánh Tâm Chúa Giêsu làm bổn mạng, sau  đổi lại nhận Đức Mẹ La Vang làm bổn mạng.

Với các cha phó:

* 1975  - 1976 : cha phó Giuse Nguyễn Văn Đình

* 1977  - 1985 : cha phó Andrê Nguyễn Minh Từ.

* 1991  - 2000 : cha phó Giuse Hà Trung Hoàng.

             -  2000: Ra Bắc, giúp giáo phận Lạng Sơn.

- 2000 : Trở về giúp giáo họ Mẫu Tâm, xây dựng nhà thờ

giáo họ Mẫu Tâm, khánh thành ngày 19.04.2005.

- Lập nghĩa trang kính Đức Mẹ Sầu Bi, sau 04 năm từ 2001 đến năm 2005 thì hoàn thành.

* 1993 - 2002: Cha phó Giuse Bùi Ngọc Lịch phụ trách giáo họ Hợp Tiến.

            - Thánh đường mừng kính Thánh Cả Giuse được khánh

thánh thành ngày 24.11.1993.

- Ngày 18.07.1995 : Đức Cha JB Bùi Tuần dâng lễ Tạ Ơn và cầu cho các linh hồn tại Tàng Cốt Đường – nghĩa trang của giáo họ Hợp Tiến.

* 2000 - 2000: Cha phó Phêrô Lã Văn Cường, giúp được hơn 04 tháng.

+ 2001 - 2007: Cha JB Nguyễn Công Từ, lên chính xứ.

+ 2007 - 2014: Cha Giuse Hà Trung Hoàng, lên chính xứ.

+ 2014 -  nay : Cha Bênêđictô Bùi Đức Hiền

Với các cha phó:

*  2007 – 2010: Cha phó Vinh Sơn Bùi Trung Hiếu, 01 năm sau phụ trách giáo họ Hợp Tiến  

* 2010 – 2012: Cha phó Giuse Phạm Văn Thoán.

* 2012 – 2013: Cha phó Giuse Đỗ Tiến Trình.

* 2013 – 2014: Cha phó Phêrô Nguyễn Hữu Phước.

 

 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 12. 2015:

GIÁNG SINH

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.giaophậnlongxuyen.org

Đa tạ.

 

 

 

 

 

 


* Mahatma  (1869 – 1948): Luật sư người  Ấn Độ, nhà tranh đấu nhân quyền, lãnh đạo phong trào đòi độc lập cho Ấn từ tay người Anh bằng đường lối bất bạo động.

* Radha Krishan (1907 – 1988): Đại hiền giả người Ấn.

 

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 02 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 992
Tất cả: 45,856,165