TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015

TĨNH TÂM

THÁNG 9 NĂM 2015

NHÀ TA SẼ ĐƯỢC GỌI LÀ NHÀ CẦU NGUYỆN

(Mt 21,13)

 

TÌM BÀI

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 9 năm 2015

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TÂN PHÚC ÂM HÓA CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

TÁI RAO GIẢNG TIN MỪNG

TIẾN TỚI SỰ HOÁN CẢI 

***

Anh chị em thân mến

Các Giám mục chúng tôi xin gửi đến anh chị em lời chào chúc bình an của Thiên Chúa giàu lòng thương xót.  Tiếp nối thư mục vụ tháng 8 về chương trình mục vụ nhấn mạnh đến công tác huấn luyện giáo dân, thư mục vụ tháng 9 nhấn mạnh đến việc tái rao giảng Tin Mừng cho các tín hữu không còn tích cực thực hành đức tin. Vì thế, thư mục vụ tháng 9 có chủ đề “Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ Với Sinh Hoạt Tái Rao Giảng Tin Mừng Tiến Tới Sự Hoán Cải”.

Trước hết toàn thể cộng đồng Dân Chúa trong giáo phận cần luôn ý thức rằng ưu tiên chọn lựa trong sứ vụ của Chúa Giêsu là “đến với chiên lạc con cái nhà Israel” (Mt 10,6). Điển hình như trường hợp của tông đồ Matthêu (Mt 8,9-13), của ông Giakêu (Lc 19,1-10), người phụ nữ Samaria (Ga 4,1-42).

Theo các bài trình thuật của Tin Mừng, bước đầu tiên thực hiện sứ vụ tái rao giảng Tin Mừng là Chúa Giêsu đã đi bước trước đến gặp gỡ con người. Chúa đến gặp họ ngay tại môi trường sống của họ. Chúa gặp ông Giakêu khi ông đang ở trên cây sung và được tiếp đón vào nhà của ông. Chúa gặp người phụ nữ Samaria tại bờ giếng, nơi mà hàng ngày chị đến múc nước. Chúa gặp ông Matthêu tại bàn thu thuế, và đã đồng bàn với ông cùng các bạn thu thuế của ông tại nhà ông.

Chúa đến gặp gỡ để đưa họ vào cuộc đối thoại. Đối với ông Giakêu, đây là lời ngỏ ý muốn thăm nhà ông và ông đã đáp lại bằng nhiệt tình tiếp đón Chúa. Đối với tông đồ Matthêu, đây là lời mời gọi “hãy theo Ta”, và ông đã lập tức rời bỏ bàn thu thuế và gia nhập nhóm 12 tông đồ. Riêng trường hợp của người phụ nữ Samaria là một cuộc đối thoại dài về những vấn đđề nhân sinh của con người và bà đã tìm lại được chính mình. 

Kết quả của cuộc gặp gỡ đối thoại là sự hoán cải và biến đổi bản thân. Ông Giakêu quyết tâm sống một cuộc sống công bình và bác ái. Người phụ nữ Samaria trở thành môn đệ và loan truyền niềm tin của mình cho những người đồng hương. Và ông Matthêu rời bỏ bàn thu thuế để trở thành tông đồ bước theo Chúa.

Đây là mô hình tái rao giảng Tin Mừng bằng sự tháp tùng thiêng liêng. Có 4 đặc điểm trong sự tháp tùng của Chúa Giêsu. Thứ nhất, đây là nền giáo dục đức tin dựa trên sự cảm thông, tình bác ái, và lòng thương xót. “Ta muốn lòng nhân từ chứ không muốn hy lễ”. Thứ hai, nền giáo dục đức tin này tập trung vào mối tương quan của con người với Chúa và với anh em. “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải lưu lại tại nhà ông”. Thứ ba, nền giáo dục đức tin này nhằm giúp con người biết cách nhìn về những vấn đề căn bản của con người với đức tin. “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Và thứ tư, nền giáo dục này nhằm biến đổi con người thành môn đệ của Chúa Giêsu. “Chị hãy gọi chồng chị, rồi hãy trở lại đây”.

Sự tháp tùng thiêng liêng để tái rao giảng Tin Mừng là một công trình của Chúa Thánh Thần, nhưng cũng cần nhiều kiên nhẫn và sáng kiến của con người để phát hiện những thiện chí qua những dấu chỉ thống hối và sự biến đổi. Dấu chỉ thống hối và sụ biến đổi từng bước được thực hiện qua 4 tác động. Một là sự thừa nhận tình trạng tội lỗi của mình và đồng thời tin tưởng vào lòng xót thương của Thiên Chúa và của Hội Thánh. Hai là cử hành tâm tình thống hối và sự hoán cải trong bí tích Giải Tội, để giao hòa với Chúa và với anh chị em. Ba là với trải nghiệm của sự tha thứ và đón nhận, người hoán cải sống tình yêu trong tương quan với Chúa và với anh chị em. Và bốn là thi hành sứ vụ xây  dựng Nước Thiên Chúa bằng sự chia sẻ cảm nghiệm về tình yêu xót thương của Thiên Chúa dành cho mình.

Một cách cụ thể, giáo phận Long Xuyên được mời gọi thực hiện công cuộc tái rao giảng Tin Mừng với các đề nghị sau đây:

1- Trước hết, các linh mục phụ trách các cộng đoàn tín hữu, với đức ái mục tử, sẽ noi gương Thầy Chí Thánh, thực hiện chương trình thăm viếng các gia đình giáo dân trong cộng đoàn. Thực hiện điều này, các linh mục là hiện thân của Chúa Kitô đi bước trước đến gặp gỡ giáo dân ngay trong môi trường sống của họ. Ngoài ra, các linh mục cũng cần sẵn sàng tiếp đón giáo dân khi họ cần sự hướng dẫn, nhất là những hướng dẫn thiêng liêng, của người mục tử.  Ở đây, các mục tử dùng Lời Chúa để đưa ra những giải pháp cho những vấn đề của người giáo dân. Nhất là, các linh mục luôn sẵn sàng và quảng đại trao ban bí tích hòa giải cho giáo dân. Ở đây, các linh mục là người cha tiếp đón những người con của Thiên Chúa trở về.

2- Kế đến, mọi người trong cộng đoàn Kitô hữu, giáo sĩ, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân, với tình huynh đệ trong gia đình của Thiên Chúa, noi gương cộng đoàn Giáo Hội thời sơ khai, luôn cởi mở và tiếp đón mọi người. Mọi người đều có trách nhiệm xây dựng cho cộng đoàn một bầu khí yêu thương, kính trọng, cảm thông, và đồng hành. Thiết yếu phải là trong cộng đoàn này, không một người nào bị kết án và bị loại trừ. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã than: “Tôi rất đau lòng khi thấy một số cộng đoàn Kitô hữu, thậm chí cả những người thánh hiến, có thể dung dưỡng những hình thức thù nghịch, chia rẽ, vu khống, nói xấu, oán thù, đố kỵ và ước muốn áp đặt một số ý tưởng bằng bất cứ giá nào, thậm chí bằng các hành động bách hại giống như những cuộc săn lùng phù thủy thực sự” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng số 100).

3- Lời tuyên xưng “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế” cần phải được thực hành trong các cơ cấu, tổ chức, sinh hoạt cũng như những quy định luật lệ của cộng đoàn giáo xứ giáo họ. Tái rao giảng Tin Mừng là một lời mời gọi vượt ranh để chúng ta đến với anh chị em mình đang ở vùng ngoại biên cộng đoàn. Đây cũng là thái độ mở rộng cửa để đón nhận anh chị em trở về với cộng đoàn, và cùng nhau đến với Chúa và thi hành sứ vụ của Hội Thánh trong thế giới hôm nay.

Các con thiếu nhi yêu quý!

Tết Trung Thu năm nay vào Chúa Nhật 27.9. Các Đức Cha dâng tập thể thiếu nhi cho Thiên Chúa tình yêu. Xin gửi đến chúng con phúc lành của Hội Thánh. Cầu chúc chúng con được hưởng trọn hạnh phúc của tuổi thơ.

+ Giuse Trần Văn Toản                             + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

ĐẠI HỌA

1.

Đang khi đạo tưng bừng chào mừng nhiều đại lễ, và đang khi đời hoan hô mừng nhiều đại hội, thì đó đây xảy ra nhiều đại hoạ. Nước mắt và tiếng khóc. Tàn phá và tan hoang. Mất của và trôi người. Đại hoạ bất ngờ. Đại hoạ lan rộng. Đó là những trận mưa lũ đánh chìm nhiều nơi tại miền Bắc nước ta.

2.

Đại hoạ đó đánh thức lương tâm tôi. Tôi đau cái đau của biết bao đồng bào nạn nhân lũ lụt. Tôi lo cái lo của biết bao người có trách nhiệm đời đạo tại những nơi đó.

3.

Đại hoạ đó là dịp để tôi nghĩ tới một đại hoạ khác đang đánh chìm nhiều nơi trong Hội Thánh tại Việt Nam hôm nay. Đại hoạ mà tôi muốn nói tới ở đây, đó là tinh thần thế tục, cũng gọi là tinh thần tục hóa.

4.

Ngay từ thời các thánh tông đồ, tinh thần thế tục vốn đã là một nguy cơ lớn cho đạo. Nên thánh tông đồ Phaolô đã viết: “Anh em đừng rập theo thói đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em, bằng cách đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa. Cái gì là tốt, cái gì là đẹp lòng Chúa, cái gì là hoàn hảo” (Rm 12,2).

 

5.

Theo lời dạy trên đây, tinh thần thế tục là sống theo ý riêng mình, chứ không theo ý Chúa. Tinh thần thế tục là không nhận ra đâu là cái tốt thật, đâu là cái đẹp lòng Chúa thật, đâu là cái hoàn hảo thật, mà chỉ đánh giá theo ý riêng mình, chứ không theo ý Chúa, rồi cho là đánh giá đúng.

Xét mình sơ qua, tôi cũng đã thấy tinh thần thế tục đúng là một đại hoạ cho chính bản thân tôi. Thí dụ:

6.

Khi cầu nguyện, ăn chay, bố thí hay làm các việc đạo đức khác, nếu tôi để cho mục đích phô trương lẻn vào lòng tôi, thì Chúa sẽ phán với tôi: “Con đã được thưởng công rồi” (Mt 6,18). Phô trương là một hình thức của tinh thần thế tục. Chúa kết án hình thức đó.

7.

Khi coi thường các điều kiện cuộc sống, như thời giờ, sức khoẻ, của cải, địa vị, hoặc lợi dụng chúng vào mục đích hưởng thụ, chớ không dùng chúng vào mục đích đổi mới bản thân mình để trở về với Chúa, thì Chúa sẽ phán về tôi, như xưa Người đã phán về thành Giêrusalem: “Sẽ có ngày thành này sẽ bị phá huỷ, không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận ra thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,44). Dửng dưng với ơn Chúa và sống hưởng thụ, đó là một hình thức khá phổ biến của tinh thần thế tục. Chúa kết án hình thức đó.

8.

Khi đề cập đến những người hiện nay gây nên tội ác, như mất tính người, tôi thường đổ lỗi cho hoàn cảnh này nọ, mà không dám coi đó là dấu chỉ của quyền lực quỷ dữ hoành hành. Nhưng có lúc tôi được Chúa cho nhớ lại trường hợp một người bị quỷ ám đã trả lời với Chúa là “tôi là đạo binh”, nghĩa là trong người đó có rất đông quỷ dữ nhập vào (x. Lc 8,28-37). Không tin có quỷ, đó là một hình thức rất nguy hiểm của tinh thần thế tục, tạo môi trường tốt cho quỷ hoạt động.

9.

Tinh thần thế tục gồm nhận thức sai trái và hành động sai trái, theo thói thế gian.

Nhận thức sai trái đó thường mang tính lừa dối. Hành động sai trái đó thường mang tính cách phá hoại đạo đức. Nhận thức sai trái đó và hành động sai trái đó là những hình thức tai hại của tinh thần thế tục, đang và sẽ bị Chúa kết án nặng nề.

10.

Hiện nay, tinh thần thế tục là cả một hệ thống xấu gồm những lừa dối, những độc ác nối kết với nhau. Cái xấu này tạo nên môi trường để phát sinh ra cái xấu kia. Hệ thống xấu đó đang hình thành trong đạo cũng như ngoài đời.

11.

Để đối phó với đại hoạ trên đây, Chúa dạy chúng ta phải tỉnh thức cầu nguyện, và sống tiết độ (1Pr 5,8).

Hiện nay, chúng ta đang chứng kiến nhiều cảnh đối phó với tinh thần thế tục. Rất buồn là chính cảnh đối phó lại rất nặng tinh thần thế tục.

Quỷ dữ do vậy mà thêm thắng thế.

12.

Tôi tin, cách đối phó đúng nhất và cũng hữu hiệu nhất là tìm về chính nguồn. Nguồn đó là Chúa Giêsu. Tôi phải đến với Nguồn, phải uống nước từ Nguồn, phải để nước nguồn thấm sâu vào tôi, phải để nước nguồn nuôi dưỡng và đổi mới tôi.

13.

Tôi làm những việc đó theo gương Đức Mẹ và những chứng nhân sống động trong lịch sử Hội Thánh.

Một trong những chứng nhân có ảnh hưởng lớn với tôi, là thánh Gioan Maria Vianney, cha sở xứ Ars.

Ngài là con người cầu nguyện gắn kết mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể.

Ngài là con người sống tiết độ trong mọi sự.

Ngài là con người gắn bó với bổn phận mục vụ một cách trung tín.

Ngài là con người tha thiết cứu các linh hồn.

Ngài là con người, mà quỷ tìm cách tấn công bằng đủ mưu mô, nhưng ngài vẫn thoát khỏi tinh thần thế tục, mà quỷ muốn lôi ngài vào.

Ngài là con người luôn khiêm tốn vâng phục Chúa Thánh Thần, để biết phân định, để biết chọn lựa, để biết sống tự do thực sự của người con Chúa.

14.

Đại hoạ hiện nay là tinh thần thế tục, tinh thần tục hóa. Đại hoạ này đang có vẻ phát triển về chiều rộng và chiều sâu. Nhận thức được sự thực trên đây là một khởi đầu tốt, để có những bắt đầu lại, theo Phúc Âm, trong niềm tin vào Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót.

Rất mừng là tại Việt Nam hôm nay, nhiều người đã nhận thức được sự thực đó. Xin hết lòng cảm tạ Chúa.

Long Xuyên, ngày 4.8.2015

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

Suy Niệm Chúa Nhật 23 TN, B

Is 35,4-7a; Gc 2,1-5; Mc 7,31-37

THÍCH ĐIẾC, MUỐN NGỌNG

 

Thời gian qua, các phương tiện truyền thông nói rất nhiều đến sự ô nhiễm. Nào là ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn lương thực. Nào là ô nhiễm khí hậu, ô nhiễm âm thanh. Bên cạnh đó, các nhà giáo dục còn nói đến sự ô nhiễm của thời mở cửa, ô nhiễm tinh thần tục hoá, ô nhiễm về một xã hội điên loạn trong tiêu thụ và hưởng thụ. Hơn lúc nào hết, chúng ta có quá nhiều cái để nghe và cũng có quá nhiều điều để nói, đang khi có biết bao điều ta phải nghe mà chưa nghe được; bao nhiêu điều ta phải nói mà nói không được. Phải chăng một cách nào đó, ta cũng không hơn gì anh chàng vừa điếc vừa ngọng trong bài Tin Mừng hôm nay, khi anh phải nhờ người khác dẫn anh đến với Chúa Giêsu.

Suy nghĩ đến đây, tôi chợt nhớ đến câu hát năm nào: “Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi”. Tác giả của bài hát này chắc phải day dứt lắm, mới viết nên lời ca thống thiết như vậy. Và Phụng vụ Lời Chúa hôm nay còn thống thiết nhiều hơn thế nữa.

Hơn bao giờ hết, điếc và ngọng là chủ đề thật hấp dẫn và cũng dễ đụng chạm. Nguyên chuyện khoái điếc, thích ngọng và giả mù, là những căn bệnh mãn tính lâu ngày hoá quen, được ta coi như là chuyện nhỏ, không thành vấn đề, đã là một cái gì đụng chạm ghê gớm. Ta sẽ đụng ai khi nói đến những căn bệnh mãn tính này? Tại sao ta khoái điếc, khi không còn muốn nghe? Tại sao ta thích ngọng, khi chẳng buồn nói? Ai tập cho ta điếc? Ai dạy cho ta câm? Thưa, khi đề cập đến việc khoái điếc, thích ngọng và giả mù, là ta đụng chạm đến chính linh hồn của mình, đụng chạm đến chính bản thân của ta trước nhất.

Thực vậy! Rất nhiều lần ta điếc đặc trước Lời Chúa. Ta mù loà trước tiếng lương tâm. Ta lãng tai trước những nhu cầu của anh chị em chung quanh, khi ta thoả hiệp với tội lỗi, khi ta nhân nhượng với tính ích kỉ và sống chung với sự hèn nhát. Chính lúc đó, ta chuốc lấy cái căn bệnh câm điếc, mù lòa. Lâu ngày sẽ thành mãn tính. Ta sợ đối diện với Lời Chúa, nên ta ngại đặt mình trước mặt Chúa, vì Lời Chúa là thanh gươm hai lưỡi, thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can. Lời Chúa thẳng băng, luôn mới mẻ, sẵn sàng phanh phui, không nể vì, cũng chẳng thoả hiệp. Ta sợ những phút trầm tư bên Chúa. Ta run rẩy, khi phải lặn sâu xuống cõi lòng mình, vì ở đó, tiếng Chúa đang mời gọi ta, tiếng lương tâm đang kêu réo ta ngày đêm.

Không những ta khoái điếc, mà ta còn thích ngọng. Trước bao gương mù gương xấu, ta ú ớ không nói được lời nào. Ta không dám sửa bảo ai, cũng không còn tự tin để chấn chỉnh con cái, bạn bè và đồng nghiệp… vì lẽ ta chưa làm gương sáng đủ, ngôn hành của ta còn quá nhiều bất nhất. Bởi lẽ đó ta đã trở nên ngọng, thậm chí là câm. Ta giống hệt các Biệt Phái, cũng ham chuộng bề ngoài mà quên mất nội tâm: Miệng thì nam mô, bụng thì mưu mô. Lời thì bác ái, lòng thì “bái ác”. Ngoài thì thương yêu, nhưng dạ thì ưa thiêu. Hết lòng với kẻ ở xa, mà đoạn tình với người ở gần, ngay trong nhà mình, trong cộng đoàn mình. Vì thế, ta ù ù cạc cạc trước bao điều chướng tai gai mắt. Bên cạnh đó, ta sợ liên luỵ, ngại dấn thân, thích an phận… Như thế là ta đã mù lòa, điếc lác và ngọng miệng; một căn bệnh cần được Chúa Giêsu chữa lành.

Lạy Chúa! Xin hãy nói với con: “Ephata” (Mc 7,34), để con nghe được tiếng Chúa, nghe tiếng lương tâm, mà hoán cải tâm hồn, đổi mới con tim.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 24 TN, B

Is 50,5-9a; Gc 2,14-18; Mc 8,27-35

THEO BẠN, CHÚA GIÊSU LÀ AI?

 

Xêdarê Philípphê được xem là miền đất dân ngoại, nơi đây có một trung tâm rộng lớn thờ thần Baan. Tương truyền đây là nơi “chôn nhau cắt rốn” của thần Hylạp có tên là Panias – thần thiên nhiên. Vào năm thứ 2 trước Công Nguyên, chính quận vương Hêrôđê Philípphê đã xây dựng nơi đây thành địa danh linh thiêng đối với dân xứ này. Trên thành này, ông đã cho xây tượng Xêda- hoàng đế Rôma, được ông xem là vị thần, để tôn thờ. Chính tại “linh địa” dân ngoại này, một sự kiện độc nhất vô nhị đã xuất hiện. Đó là sự kiện một người con vô danh của dân làng Nazarét được tuyên xưng là Đấng Kitô. Sự kiện đó thế nào? Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta cùng nhau suy niệm.

Trước khi thăm dò các môn đệ, Chúa Giêsu cũng đã phần nào biết được dư luận đang bàn tán về thân thế của mình. Thật vậy, dư luận dân chúng xem Chúa Giêsu là một Ngôn sứ. Còn vua Hêrôđê Antipa thì khẳng định Chúa Giêsu chính là Gioan Tẩy Giả, người mà ông đã ra lệnh chém đầu, nay đã sống lại (Mc 6,16).

Dư luận thì như thế, còn các môn đệ thì sao? Ta thấy rõ ràng các môn đệ đã không bị cuốn hút vào thông tin từ phía dư luận. Hay nói cách khác, lần này các ông đã “khôn hơn”, chứ không còn “ngu muội” nữa. Các ông đã có cách đánh giá sáng suốt về người Thầy của mình. Ông Phêrô đưa ra một nhận định đầy tính quyết đoán: “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8,29), nghĩa là Đấng Cứu Thế, là Sứ giả của Thiên Chúa. Khi tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, có lẽ ông Phêrô cũng như các môn đệ chưa thật sự hiểu hết ý nghĩa của danh hiệu này. Lí do là ngay sau khi Phêrô tuyên xưng, thì chính ông lại là người “cản mũi kì đà” khi nghe Chúa Giêsu nói Ngài sẽ phải chịu khổ hình (x. Mc 8,31-33).

 

Đối với Phêrô, Đấng Kitô không thể nào chịu khổ hình được. Bởi theo ông cũng như đa số dân Do Thái lúc bấy giờ, Đấng Cứu Thế sẽ là Đấng được Thiên Chúa gìn giữ bảo vệ, và Ngài sẽ được miễn trừ đau khổ và chết chóc. Rất có thể Phêrô và các môn đệ đã hiểu danh hiệu “Đấng Kitô” theo kiểu hoàn toàn thế gian. Nghĩa là danh hiệu đó gắn liền với màu sắc chính trị. Các ông mong muốn Chúa Giêsu sẽ là người có nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành lại nền độc lập tự chủ cho quốc gia. Thế nhưng sứ mệnh của Chúa Giêsu lại không phù hợp với những suy nghĩ mang màu sắc chính trị và tầm thường như ông Phêrô và dân Do Thái. Sứ mệnh của Ngài là chu toàn thánh ý Chúa Cha, cứu độ nhân loại bằng hiến tế tình yêu thập giá. Điều này hoàn toàn mới lạ và khó hiểu với dân chúng thời đó, chứ không riêng gì ông Phêrô. Chính vì thế, phản ứng của Phêrô, xét cho cùng cũng là điều dễ hiểu. “Trứng không khôn hơn vịt”. Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34). Từ đó các ông mới dần dần hiểu rõ danh hiệu đích thực của Đấng Kitô là gì, để rồi các ông quyết tâm dấn thân theo Chúa đến cùng.

Phần chúng ta, những Kitô hữu của thời đại hôm nay, Chúa Giêsu là ai trong tâm hồn mình? Rất có thể ta đang vẽ một Chúa Giêsu khác hẳn với hình ảnh một Thiên Chúa khiêm nhu và hiền hậu. Đó là một Chúa Giêsu hoàn toàn do ta tạo ra: Một Chúa Giêsu quyền lực. Một Chúa Giêsu đầy quyền thống trị. Một Chúa Giêsu được vẽ do trí tưởng tượng của ta, để phục vụ cho những lợi ích tầm thường của ta. Thế nên, “Chúa Giêsu là ai?” mãi mãi vẫn là một câu hỏi rất cần ta từng ngày đi tìm lời giải đáp.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 25 TN, B

Kn 2,12.17-20; Gc 3,16- 4,3; Mc 9,29-36

HÃY CÙNG DÌU NHAU TIẾN BƯỚC

 

Tại thế vận hội đặc biệt Seattle (dành cho những người tàn tật) có chín vận động viên bị tổn thương về thể chất và tinh thần. Họ tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc đua 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng, trừ một cậu bé. Cậu cứ bị vấp té liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc, liền giảm tốc độ, quay lại nhìn. Rồi tất cả chạy về phía cậu bé. Một cô bé bị hội chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé và nói: “Như thế này em sẽ thấy tốt hơn”. Cô nói xong, cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích. Khán giả trong sân vận động như đứng tim, đồng loạt đứng dậy. Những người chứng kiến vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện cảm động này.

Cuộc đua nào cũng cần chiến thắng. Nhưng chiến thắng không phải là tất cả, mà ý nghĩa thật sự của cuộc sống là ở chỗ ta giúp đỡ người khác cùng vươn lên, dù ta phải chậm một bước. Bởi lẽ đó, nền văn minh thực sự chỉ có khi con người cùng dìu nhau tiến bước. Không để ai ở lại phía sau. Không đạp đổ ai ngã quị, nhưng cùng nhau vun trồng cây tình thương giữa dòng đời. Cuộc đời này sẽ không còn khoảng cách quá xa giữa người giầu và người nghèo. Nhân phẩm được tôn trọng, khi chúng ta cùng nắm tay nhau, dìu nhau tiến bước. Nhưng thật đáng tiếc, nhiều người trong chúng ta vẫn tham quyền cố vị. Họ cần địa vị, cần có chức, có quyền, để “ăn trên ngồi trốc”. Họ đua nhau leo lên đài danh vọng, để hưởng những đặc quyền, đặc lợi, mà chức tước mang lại cho họ. Vì quyền, vì lợi, mà biết bao người đã chẳng ngại lừa thầy, phản bạn, sống vô ơn. Vì bổng lộc, mà biết bao người đã chẳng sợ đánh mất nhân phẩm của mình, để “thượng đội hạ đạp”, chà đạp người dưới và luồn cúi cấp trên. Được mấy ai thực sự sống vị tha, sống quên mình vì lợi ích chung của anh chị em?

Năm xưa Chúa Giêsu đã rất đau buồn, khi nghe các môn đệ thân tín của mình kèn cựa với nhau về địa vị và bổng lộc. Nỗi lòng của Chúa, các ông không muốn chia sẻ. Chúa Giêsu thật cô đơn. Cô đơn vì chẳng ai hiểu mình. Cô đơn vì các môn đệ vẫn còn tính vụ lợi. Chẳng ai giống Thầy. Thầy thì quên mình vì lợi ích nhân sinh. Trò thì cứ lo vinh thân phì gia. Thầy thì đang đi đến đỉnh cao của hiến tế cứu độ nhân loại. Trò lại tìm kiếm vinh hoa phú quí trần gian. Vì thế Chúa Giêsu đã không ngần ngại đặt thẳng vấn đề với các môn đệ: “Dọc đường anh em bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9,33). Các ông im lặng. Im lặng vì có mấy ai trong lòng không chứa đầy danh vọng, mà các ông tưởng chừng như sắp đến tay mình. Im lặng để lắng nghe. Lắng nghe lòng mình, để thấy tính tham sân si của mình vẫn còn đó, sau bao ngày tháng theo Thầy tầm đạo. Lắng nghe lời Thầy giáo huấn, để sửa đổi và bước theo gương Thầy.

Chúa buồn, nhưng không trách mắng. Chúa kêu gọi các ông thay đổi cách suy nghĩ, chứ không ra lệnh. Chúa mời gọi các ông: “Ai làm lớn hãy hết mình phục vụ” (Mc 9,35). Phục vụ với thái độ như một người đầy tớ. Phục vụ không phân biệt sang hèn. Đỉnh cao của sự phục vụ là không toan tính theo kiểu “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”. Chúa Giêsu dùng hình ảnh trẻ nhỏ, làm biểu tượng cho những người tay trắng, yếu đuối; và chắc chắn không có gì để đền ơn đáp nghĩa. Họ đang cần ta giúp đỡ. Họ thực sự có nhu cầu để van xin lòng tốt của ta. Họ thực sự là đối tượng mà Chúa cần ta rộng tay giúp đỡ. Chúa còn đồng hoá họ là chính Chúa (x. Mt 25,31-46). Thế nên ai tiếp đón họ là tiếp đón chính Chúa. Và ngược lại, ai từ chối họ là từ chối chính Chúa. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu hằng ao ước ta phải suy đi nghĩ lại trong cuộc đời; và đem ra thực hành với trọn lòng mến yêu.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 26 TN, B

Ds 11,25-29; Gc 5,1-6; Mc 9,37-42.44.46-47

TÂM VÀ TẦM CỦA CHÚA GIÊSU

 

Khi chứng kiến một số người không phải là môn đệ, mà lại dám nhân danh Thầy mình để làm phép lạ, ông Gioan đã ngăn cấm họ. Không những thế, Gioan còn chạy về khoe với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỉ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Hiểu thấu cái tâm trạng bè phái của Gioan, Chúa Giêsu đã nhẹ nhàng chỉ dạy: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi lại đi nói xấu Thầy. Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,38-40). Qua mấy lời đối thoại giữa Chúa Giêsu và Tông đồ Gioan, ta nhận ra hai điều này:

Thứ nhất: Lời nói và việc làm của Gioan đã bộc lộ “cái tâm, cái tầm” của ông. “Cái tâm” của Gioan là “cái tâm” của người ích kỉ, ghen ghét và đố kị. Nên tầm nhìn của Gioan rất hạn hẹp, gò bó trong cái khung của phe nhóm. Có thể nói, “cái tâm, cái tầm” của Gioan chẳng tiến bộ hơn “cái tâm, cái tầm” của ông Giôsuê thời Maisen (x Gs 7, 6tt).

Thứ hai: Lời chỉ dạy của Chúa Giêsu mạc khải “cái tâm, cái tầm” của Ngài: “Cái tâm” của Chúa là “cái tâm” vị tha, “cái tâm” của người xây dựng hoà bình, luôn nghĩ tốt, nói tốt và làm điều tốt cho người khác, không phân biệt phe phái. Nên tầm nhìn của Chúa Giêsu rất xa và rất rộng, vượt không gian và thời gian, thấu đáo lòng dạ con người; và thấy rõ bản chất của từng sự việc: Chúa nhìn thấu và biết rõ ai là người ủng hộ, ai là kẻ chống đối Ngài. Chúa thấy rõ giá trị lớn lao của hành vi bác ái, dù chỉ là một “chén nước lã” (Mc 9,41). Chúa thấy rõ sự tai hại khôn lường của tội lỗi và gương mù gương xấu. Nếu không dứt khoát khử trừ chúng, chúng sẽ dìm con người chết chìm trong lửa hoả ngục (Mc 9,42-50). Vì thế, ta cần phải loại bỏ “cái tâm, cái tầm” của Gioan; và mặc lấy “cái tâm cái tầm” của Chúa Giêsu. Nếu ta có “cái tâm, cái tầm” của Chúa Giêsu, thì ta có thể cảm nhận một cách khách quan về thế thái nhân tình, nhất là những sự kiện đang xảy ra trên đất nước Việt Nam chúng ta trong những ngày gần đây.

Chuyện kể rằng: “Có một người lính từ chiến trường trở về, bị cấp trên gọi lên khiển trách. Sau khi nghe cấp trên trút giận, người lính ôn tồn nói: Tôi và các đồng đội ra trận, người thì chết, kẻ thì bị thương. Còn thủ trưởng thì ngồi ở sở chỉ huy ra lệnh, chẳng hề hấn gì. Tôi sống sót từ mặt trận trở về, mình đầy thương tích! Đáng lẽ thủ trưởng phải động viên, an ủi tôi mới phải chứ! Đàng này, thủ trưởng lại la rầy trách móc tôi, làm đau thêm vết thương tâm hồn tôi. Tôi là cấp dưới thuộc quyền thủ trưởng, làm theo lệnh thủ trưởng, mà thủ trưởng lại không cảm thông, không động viên, thì ai còn muốn làm lính của thủ trưởng nữa!”

Đời là một cuộc chiến khốc liệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự thiện và sự ác. Nếu mỗi người biết sống bao dung hơn, thông thoáng hơn, đùm bọc người khác hơn, thì cuộc sống sẽ mỗi ngày một tốt hơn! Đặc biệt những “kẻ làm lớn”, nếu biết sống vị tha, hi sinh bản thân mình và bảo vệ những người thuộc về mình, chắc chắn cuộc sống này sẽ bình an hơn; và kẻ thuộc quyền sẽ cảm thấy yêu mến và gắn bó nhiều hơn trong nhiệm vụ được trao!

Lạy Chúa! Xin ban cho con trái tim và cái nhìn của Chúa, để con có “cái tâm, cái tầm” của Chúa. Nhờ đó con biết yêu và biết nhìn như Chúa.

Ave Maria

 

 

Ý NGHĨA

CỦA ĐỀN THỜ

 

Trung Thành

Đền thờ giữ vai trò thiết yếu trong sinh hoạt tôn giáo của Ítraen. Đối với Ítraen cũng như đối với các tôn giáo thời cổ xưa, tôn giáo tự bản chất là một hiện tượng xã hội. Niềm tin tôn giáo được thể hiện qua việc cộng đồng tham dự vào những nghi thức phụng tự riêng biệt vốn chỉ có thể diễn ra trong đền thờ. Trong thế giới thời xưa, quan niệm về một thứ tôn giáo cá nhân, tách biệt khỏi đền thờ và hệ thống tư tế là điều không thể có. Các sách Tin Mừng cũng cho thấy đền thờ Giêrusalem là nơi diễn ra những hoạt động cứu thế của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, về sau việc đón nhận Dân Ngoại vào cộng đồng Kitô hữu đã hạ giảm vai trò và ý nghĩa của đền thờ. Hình ảnh đền thờ đã được Phaolô dùng một cách ẩn dụ để chỉ cộng đoàn tín hữu. Và cuối cùng hình ảnh đền thờ còn giữ vai trò quan trọng trong cử hành phụng vụ.

1.Trong Cựu Ước xuất hiện thái độ lưỡng diện về dấu chỉ đền thờ. Đó là vào thời các vua. Trong khi đền thờ vẫn giữ vai trò trọng yếu trong sinh hoạt phụng tự của Ítraen thì dấu chỉ đền thờ dần dần mang tính cách lưỡng diện. Đối với những người có ý thức tôn giáo nông cạn, các nghi lễ diễn ra tại đền thờ bắt đầu trở nên những cử điệu rỗng tuếch. Ngoài ra, lòng ngưỡng mộ của họ đối với nó lại có nguy cơ biến thành một sự mê tín. Người ta chỉ kêu lên: “Đền thờ của Giavê! Đền thờ của Giavê!” (Gr 7,4) như thể Thiên Chúa có nhiệm vụ phải bảo vệ nó bằng mọi giá, cả những lúc dân chúng lui tới đền thờ mà không hề thực thi Lề Luật. Chính những sai lệch này đã giải thích thái độ uyển chuyển của các tiên tri đối với đền thờ. Thật vậy, chính đền thờ là nơi Giavê tỏ mình cho Isaia trong thị kiến khởi nghiệp của ông (Is 6), và cũng chính vị tiên tri này đã loan báo rằng nơi ấy sẽ không thể bị vua ngoại đạo Xankhêríp tàn phá (Is 37,16-20, 33-35). Thế nhưng các tiên tri Isai, Gêrêmia, Êdêkien đua nhau tố giác tính cách nông cạn của việc phụng tự diễn ra tại đó (Is 1,1-17; Gr 6,20; 7,9 tt, cả đến những việc sùng bái ngẫu tượng cũng đã được đưa vào chốn linh thiêng này (Ed 8,7-18). Cuối cùng các tiên tri xét tới sự kiện Giavê bỏ rơi nơi cư ngụ Ngài đã chọn và loan báo việc đền thờ sẽ bị tàn phá để phạt tội quốc gia (Mk 3,12; Gr 7,12-15; Ed 9-10). Thật vậy, thái độ đích thực của việc phụng tự Ítraen còn quan trọng hơn dấu chỉ vật chất mà có lúc Giavê đã dùng để chỉ sự hiện diện của Ngài.

2. Chúa Giêsu và đền thờ Giêrusalem. Cũng như các tiên tri, Chúa Giêsu đã tỏ lòng tôn kính sâu đậm đối với đền thờ. Người đã được Đức Maria dâng hiến ở đó (Lc 2,22-39). Trong các dịp đại lễ, Người lên đó như một nơi gặp gỡ Cha Người (Lc 2,41-50; Ga 2,14). Người chuẩn nhận những việc thực hành phụng tự trong đó, đồng thời Người luôn luôn lên án chủ trương vụ hình thức đang phá hoại chúng (Mt 5,23-24; 12,3-7; 23,16-22). Đối với Người đền thờ là nhà của Thiên Chúa, một ngôi nhà để cầu nguyện, nhà của Cha Người, và Người nổi giận vì người ta biến nó thành nơi buôn bán; thế nên bằng một hành động có tính cách tiên tri, Người đã xua đuổi những người bán bồ câu để thanh tẩy nó (Mt 21,12-17; Ga 2,16-22; x. Is 56,7; Gr 7,11). Và tuy vậy, Chúa Giêsu cũng loan báo việc ngôi đền tráng lệ sẽ sụp đổ không còn viên đá nào trên viên đá nào (Mt 23,37-39; 24,2). Trong vụ xử án Người, người ta tố cáo Người đã tuyên bố sẽ phá thánh điện do tay con người xây dựng, và nội trong ba ngày sẽ xây lại một ngôi đền khác không do tay người phàm làm ra (Mc 14,58), và người ta đã lặp lại lời quở trách ấy một cách hỗn xược khi Người hấp hối trên thập giá (Mt 27,39-40). Nhưng thực sự đây là một lời nói bí nhiệm chỉ tương lai mới giải thích nổi ý nghĩa. Trong khi chờ đợi tương lai ấy, thì ngay phút Người trút hơi thở cuối cùng, bức màn nơi cực thánh bị xé đôi minh chứng đền thờ cũ đã mất hẳn đặc tính thần thiêng của nó: đền thờ Do Thái đã chấm dứt vai trò làm dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa.

3. Những lập trường khác trong các bản văn Tân Ước

- Sách Công vụ Tông đồ. Các môn đệ chuyên cần cầu nguyện trong đền thờ (Cv 2,46), ông Phaolô cũng được một thị kiến trong đền thờ (22,17) và ông đã dâng hi lễ trong đó để kết thúc thời gian tẩy uế (21,26). Tuy nhiên, ông Têphanô lại biện luận rằng Đấng Tối Cao không ở trong những ngôi nhà do tay người phàm làm ra, và đền thờ chỉ có tính cách tạm thời (7,48-50).

- Trong một số các bản văn khác. Từ ngữ đền thờ cũng như những từ ngữ liên quan: dân chúng, hàng tư tế đã thay đổi ý nghĩa và chỉ một cộng đồng phổ quát thuộc về Chúa Kitô. Thí dụ trong 1 Pr 2,4tt hình ảnh đền thờ được coi là công trình của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu là viên đá sống động và quý giá, còn các Kitô hữu mỗi người là một viên đá liên kết với nhau. Và chính cộng đồng Kitô hữu cũng là đền thờ (1 Cr 3,9; 2 Cr 6,16-17; Ep 2, 19tt). Còn trong 1 Tm 3,15 cộng đồng này được gọi là nhà của Thiên Chúa, oikos theoú (x. 1Pr 4,17; Dt 3,6; 10,21).

- Sách Khải Huyền. Khai triển hình ảnh mới về đền thờ. Những người chiến thắng sẽ là cột trụ của đền thờ Thiên Chúa. Khi thành Giêrusalem mới từ trời ngự xuống như hiền thê của Chiên Con được trang điểm để dự một tiệc cưới vĩnh cửu, lúc ấy sẽ không còn cần đền thờ trong thành Giêrusalem nữa: đền thờ của Giêrusalem bấy giờ sẽ là chính Thiên Chúa và Chiên Con (21,22). Đền thờ chính là sự hiện diện vĩnh cửu của Thiên Chúa ở trên ngai của Ngài (7,15; 11,19; 14,15; 15,5-6; 16,1,17).

*

Cuối cùng, đó là thái độ của chúng ta đối với nhà  thờ. Trong các giáo xứ của chúng ta nhà thờ vẫn là trung tâm các sinh hoạt đạo đức. Nhà thờ luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống đức tin của các tín hữu. Theo gương Chúa Giêsu chúng ta cần có thái độ tôn kính và yêu mến nhà thờ để nơi đây luôn được tôn nghiêm, thánh thiện, xứng đáng là nơi gặp gỡ Chúa và cử hành phụng vụ. Sách Giáo Lí dạy chúng ta: “Nhà thờ, nhà của Thiên Chúa, là nơi thích hợp cho kinh nguyện phụng vụ của cộng đoàn giáo xứ. Đây còn là nơi đặc biệt để thờ lạy Đức Kitô đang hiện diện thật sự trong Bí tích cực thánh.” (GLHTCG 2691). Tuy nhiên, đền thờ vật chất mà chúng ta xây dựng lên, dù xinh đẹp, đồ sộ và lộng lẫy thì chỉ có giá trị tương đối. Chúng ta cần phải quan tâm đến đền thờ thiêng liêng là chính tâm hồn chúng ta, nơi Thiên Chúa hằng ưu ái ngự trị. Đền thờ ấy không được xây dựng bằng những chất liệu vật chất cao cấp, nhưng bằng các bí tích, đời sống thánh thiện, lòng mến Chúa và tha nhân. Và đền thờ ấy sẽ có giá trị mãi mãi.

 

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 9-2015

 

Câu chuyện ông Giuse trong Cựu Ước gồm nhiều tình tiết làm chúng ta cảm động. Ông Giuse nổi bật lên như một thanh niên đầy chí khí, một nhà lãnh đạo tài giỏi, và một người từ tâm nhẫn nại. CĐKT tháng này mời bạn tìm hiểu những mối quan hệ gia đình trong cuộc đời của Giuse bằng cách nối kết mỗi đề mục của cột phải với đề mục ở cột trái. Và nhớ trích dẫn các câu Kinh Thánh bạn nhé!

 

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 8-2015

 

1–G(St 29,25);2-H (St 29,25);3-K(St 29,28);4-D(St 35,18); 5-A (St 37,3); 6-J (St 25,21-26);7-E (St 25,21);8–B (St 25,26); 9–F (St 29,32);10-I (St 30,3); 11-C(30,21)

Chúc mừng những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 8-2015:

1.      Maria An Thị Ngọc Oanh, Gx. Đài Đức Mẹ, Tân Hiệp

2.      Ant. Lê Anh Khoa, Gx. An Hòa, Châu Thành, An Giang

3.      Maria Phạm Khánh Băng, Gx. Long Bình, Kênh G2

4.      Maria Lê Cẩm Vân, Gx. Kiên Lương, Rạch Giá

5.      Têr. Nguyễn Khổng Minh Thư, Gx. Hiếu Sơn, Kênh H2

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                        - Email: jostrung.trung@gmail.com

                        - Điện thoại: 01672576777

                        - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên GiangS

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

Truyền giáo

Đại giáo chủ Grêgôriô lệnh cho các nhà truyền giáo người Anh: “Không được phá các đền thờ của dân ngoại, nhưng chỉ phá các thần thánh để trong đó mà thôi. Rồi chuẩn bị nước thánh, rẩy lên các đền thờ đó. Lập bàn thờ, rồi mang vật thánh của mình vào”. Và tiếp: “Khi chính dân đó không thấy đền thờ họ bị phá, họ sẽ vui lòng từ bỏ lầm lẫn mà trở về nhìn nhận và cầu nguyện Thiên Chúa chân thật”. Cái khôn của Kitô giáo là đó. Grêgôriô viết: “Vì họ đã quen giết trâu bò tế lễ quỷ thần, mình nên lập ra những lễ hội khác cho họ tiếp tục tế”.

Do đâu cuộc truyền giáo đã thành công vượt bực, vượt qua mọi văn hoá và ngôn ngữ, như thế? Nhờ vào cách hiện diện khôn ngoan? Nhờ vào những phép lạ? Hay nhờ vào những mệnh lệnh và phương thức truyền giáo khôn khéo như của đại giáo chủ Grêgôriô?

Tại sao cuộc truyền giáo đã quá thành công và đã bao trùm cả đế quốc nhanh như thế? Đó là một câu hỏi lớn. Vì nó mang tầm vóc quá lớn, nên ta đừng nên quá lạm trong câu trả lời. Dưới thời Constantinô*, Kitô giáo chỉ có vài phần trăm, dù được hoàng đế này coi đó là thành phần quyết định cho tương lai. Thành công nhờ đâu? Là vì tôn giáo của dân ngoại đã mệt mỏi, và không còn đáp ứng lòng tin cậy của con người. Nó chỉ còn là một cỗ xe chính trị, chẳng ai tin vào huyền thoại thần thánh nữa. Ở thôn quê, nó vẫn còn là một yếu tố thiết thân với đời sống với những cuộc rước xách, nhưng tại các thành phố, các thần thoại một cách nào đó đã trở thành trò cười cho thiên hạ. Các thần thoại có nhiệm vụ tạo ổn định cho Đế quốc (Rôma), nhưng khi người ta không còn tin nữa, thì đương nhiên vai trò ổn định đó không còn. Vào giai đoạn sau của Đế quốc Rôma, người ta bắt đầu đặt câu hỏi về con người và Thượng Đế. Thời đó đã có những phong trào triết học đề cập tới một Thiên Chúa duy nhất, nhưng Chúa đó là do con người nghĩ ra, không thể cầu khẩn gì được với vị đó. Giờ đây bỗng nhiên nổi lên một phong trào cũng rao giảng về một Chúa, nhưng Chúa này phát xuất từ nguồn gốc tôn giáo. Ở đây phải thêm điểm này: Ngay từ cuối Cổ thời, trong khi đi tìm một đức tin phù hợp với lí trí, người ta bắt gặp một lôi cuốn đặc biệt nơi Do Thái giáo. Nhiều người coi tín ngưỡng độc thần đó là tôn giáo có thể nối kết với khoa minh triết Hi Lạp, là tôn giáo loan báo một thứ Chúa mà các triết gia hay các đầu óc khai hoá có thể hiểu được một cách nào đó. Vì thế lúc đó, nhiều nhóm người được gọi là dân kính sợ Chúa đã hình thành quanh các đền thờ Do Thái, họ không thể trở thành dân Do Thái được, nhưng muốn bằng mọi cách liên kết với tôn giáo này được chừng nào hay chừng nấy. Từ đó các tập thể đó bắt đầu làm quen và thân thiết với Kitô giáo. Và vì đối với Do Thái giáo họ chỉ được làm cảm tình viên ở vòng ngoài mà thôi, nên dần dà họ trao hẳn niềm tin vào vị Thiên Chúa đã tự tỏ mình ra và đi tới với con người qua Đức Kitô. Bằng cách đó, có sự gặp nhau ở đây giữa một tôn giáo đã được thanh tẩy và có thể hiểu được bằng lí trí, với sức mạnh tín ngưỡng của một đức tin hoàn toàn không do con người nghĩ ra, nhưng được ban tặng và kinh nghiệm từ Thiên Chúa.

Quả là một thời điểm lí tưởng.

 

Về những yếu tố cơ bản giúp ta hiểu sự thành công ban đầu của Kitô giáo, tôi hiểu như vầy: Thứ nhất đó là sự tinh ròng của đức tin Kitô giáo, rồi tới cái dễ hiểu của nó, và cuối cùng là yêu sách đạo đức của đạo này, một tôn giáo đã làm sống lại các định đề triết học khắc kỉ một cách trong sáng dễ hiểu trước một thế giới đã mục nát. Và nhất là Kitô giáo đã mang lại một yếu tố hoàn toàn mới lạ vào thời điểm đó, đó là bác ái Kitô giáo; đây được coi là một chứng thực của đức tin, thể hiện qua việc chăm sóc những người đau khổ, một điều từ trước tới giờ chưa hề có. Yếu tố này làm cho bộ mặt Thiên Chúa trở nên thật đáng tin. Qua nó, người ta nhận ra đó là một Thiên Chúa mới và thật.

Trong tương quan với ngoại giáo, đã có nhiều diễn tiến phức tạp. Xét chung, cuộc truyền giáo không thống nhất. Đã có những nhà truyền giáo cuồng tín, họ đập phá các đền thờ ngoại giáo, coi đó là những thứ phục vụ ngẫu thần, cần phải dẹp triệt để. Người ta thấy có điểm tương đồng nơi triết học của dân ngoại, nhưng nơi tôn giáo họ thì không, vì nó xem ra nặng tính chất thoả hiệp. Lúc đại giáo chủ Grêgôriô khôn ngoan muốn vận dụng sự liên tục của lòng đạo nơi con người vào lối truyền giáo của mình, thì tôn giáo của lương dân từ lâu đã chẳng còn là một lực cạnh tranh nữa. Nó đã kiệt sức từ lâu rồi. Tuy nhiên, lệnh của Grêgôriô yêu cầu bảo tồn sự tiếp nối những gì thánh thiêng đã trở thành một quy luật Kitô giáo. Cái nhìn của ngài thật thâm sâu. Ngài hiểu rằng, các tôn giáo tiền Kitô giáo, dù mang nhiều nội dung trái ngược, vẫn là một tìm kiếm, một ngưỡng vọng về Thượng đế. Vì thế, thay vì cắt đứt những tâm tình tín ngưỡng trong sáng này, ta nên tìm cách nối vào chúng và làm biến đổi chúng. Như vậy, mình vẫn ở trong cái liên tục của không gian thánh thiêng, nhưng đã đưa vào đấy một nội dung mới.

(Còn tiếp)

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIÁO XỨ VÀ NHÀ THỜ

LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN

VÀ TÂN PHÚC ÂM HÓA

ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

 

Chúng ta đã nghe nhiều và nói nhiều về Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống cộng đoàn giáo xứ. Có lẽ chúng ta cũng đã đề ra và thực hiện nhiều chương trình để cho việc sống Tân Phúc Âm Hóa mang lại những lợi ích thiêng liêng cho cộng đoàn giáo xứ. Thế nhưng, có một hình thức, có thể rất hữu ích cho việc khơi lên ý thức nơi mỗi người trong giáo xứ để sống Tân Phúc Âm Hóa, thì chúng ta lại bỏ quên hoặc ít quan tâm, đó là Lòng Đạo Đức Bình Dân. Thực vậy, trong công cuộc Tân Phúc Âm Hóa, Mẹ Giáo Hội mời gọi người Kitô hữu tái khám phá vẻ đẹp và giá trị của Tin Mừng. Cụ thể, trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng - Evangilii Gaudium - Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đề cập đến nhiều khía cạnh và phương thế để thực hiện công cuộc Tân Phúc Âm hóa. Một trong những vấn đề mà Ngài đề cập rất ấn tượng là: “Sức mạnh của lòng đạo đức bình dân”.

Lòng đạo đức bình dân là gì?

Lòng đạo đức bình dân "chỉ những biểu hiện phụng tự mang tính cá nhân hay cộng đồng, mà trong khuôn khổ đức tin Kitô Giáo, diễn tả trước hết, không phải là theo các thể thức Phụng Vụ, nhưng vay mượn những sắc thái đặc thù thuộc tinh hoa của một dân tộc hay một sắc tộc, nghĩa là thuộc văn hóa của họ" (HĐGM Việt Nam, Ủy Ban Văn Hóa, Ban Dịch Thuật, Hướng Dẫn Về Lòng Đạo Đức Bình Dân Và Phụng Vụ, Nguyên Tắc Và Định Hướng, số 9).

Giá trị của lòng đạo đức bình dân

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khẳng định về giá trị của lòng đạo đức bình dân trong tông huấn Evangilii Nuntiandi: “Lòng đạo đức bình dân diễn tả một khao khát Thiên Chúa mà chỉ những kẻ đơn sơ và nghèo nàn mới nhận ra được” và “nó giúp lòng quảng đại và hy sinh đến mức độ anh hùng khi nói về việc biểu lộ đức tin”. Nghĩa là, động lực để cho các Kitô hữu dám can đảm tuyên xưng đức tin chính là nhờ lòng đạo đức bình dân.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đề cao lòng đạo đức bình dân qua các tông huấn và huấn dụ, đặc biệt qua tông thư Kinh Mân Côi. Theo ngài, “Lòng đạo đức bình dân là một thực tại luôn được Chúa Thánh Thần triển khai vì chính Người là tác nhân tiên khởi”. Trong Tông thư Vicesimus Annus, ngài cho rằng: “Lòng đạo đức bình dân không thể bị phớt lờ hoặc khinh thường, bởi vì nó mang nhiều giá trị phong phú và tự nó đã biểu lộ thái độ tín ngưỡng trước mặt Thiên Chúa. Tuy nhiên, nó cần được tiếp tục Tin Mừng hóa, ngõ hầu niềm tin mà nó biểu lộ, luôn luôn được trưởng thành và chân chính”.

Gần đây hơn, Đức Bênêđictô XVI đã ca ngợi lòng đạo đức bình dân là “kho tàng quí giá của Giáo Hội Công Giáo” bởi vì qua đó người ta “thấy được cái hồn của nó”.

Còn Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ca ngợi lòng đạo đức bình dân “là hoa trái của Tin Mừng đã được gieo rắc, nơi đó có một sức truyền giáo thật năng động mà chúng ta không thể đánh giá thấp được: như thế là không công nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần”. Cũng theo Ngài, lòng đạo đức bình dân có giá trị bởi vì “nó có nhiều điều để dạy chúng ta, và đối với người biết nhận ra chúng, chúng là vị trí thần học mà chúng ta phải chú tâm, đặc biệt ngay lúc chúng ta nghĩ đến việc Tân Phúc Âm Hóa” (x. Lm. Antôn Nguyễn Minh Trí, Tân Phúc Âm Hóa bằng “lòng đạo đức bình dân” ở Việt Nam. Nguồn: http://lamhong.org/2015/03/01/tan-phuc-am-hoa-bang-long-dao-duc-binh-dan-o-viet-nam/ftn9).

Những hình thức đạo đức bình dân

Ngày nay nơi các giáo xứ, chúng ta thấy có nhiều hội đoàn với những hình thức đạo đức rất đa dạng như: Hội Mân Côi, hội Tận Hiến, hội Con Đức Mẹ, Hội Legio Maria, với lòng sùng kính Đức Mẹ; Hội Lòng Chúa Thương Xót, kính Lòng Thương Xót Chúa; Gia Đình Phạt Tạ, tôn sùng Thánh Tâm Chúa; Gia Đình Thánh Thể, tôn sùng Thánh Thể Chúa v.v.

Ngoài ra, khi đề cập đến lòng đạo đức bình dân, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo trình bày:

"Ngoài phụng vụ bí tích và các á bí tích, việc dạy giáo lý còn phải kể đến những hình thức đạo đức của các tín hữu và những hình thức của lòng đạo đức bình dân. Cảm thức tôn giáo của dân Kitô Giáo luôn luôn được diễn đạt bằng những hình thức đa dạng của lòng đạo đức, kèm theo đời sống bí tích của Hội Thánh, như việc tôn kính các di tích thánh, kính viếng các đền thánh, những cuộc hành hương, những cuộc rước kiệu, chặng đàng thánh giá, các vũ điệu tôn giáo, kinh Mân Côi, đeo ảnh thánh." (số 1674).

Vị trí của lòng đạo đức bình dân trong Phụng Vụ của Giáo Hội

Tuy lòng đạo đức bình dân có một giá trị đặc biệt trong việc củng cố đức tin của người Kitô hữu, làm cho họ trở thành những chiến sĩ can trường trong việc sống Tân Phúc Âm Hóa, nhưng nó không thể được xem như một hình thức thay thế cho những hình thức Phụng Vụ chính thức của Giáo Hội, đặc biệt là Thánh Lễ và các Bí Tích. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo trình bày:

"Những hình thức đạo đức này tiếp nối chứ không thay thế đời sống phụng vụ của Hội Thánh: Quả vậy, phải sắp xếp việc thực hành những hình thức đạo đức đó theo các mùa phụng vụ, sao cho chúng hòa nhịp với phụng vụ thánh, một cách nào đó phát xuất từ phụng vụ, dẫn đưa dân tới phụng vụ, vì tự bản chất của nó, phụng vụ ưu việt hơn hẳn những hình thức đạo đức đó'" (số 1675).

Những lạm dụng

Khi nói đến những lạm dụng là ta nói đến những gì đã và đang làm sai lệch lòng đạo đức bình dân. Những sai lệch, nhất là nhiều khi các hội đoàn đạo đức coi việc đạo đức của hội đoàn mình quan trọng hơn những phụng vụ chính thức của Hội Thánh, và chỉ chú tâm đến những sinh hoạt đạo đức của hội đoàn mình. Thực tế cho thấy, đã có rất nhiều người sẵn sàng đi hành hương khắp mọi nơi, sẵn sàng tham gia các hội đoàn đạo đức, nhưng xem ra rất coi thường việc đi tham dự thánh lễ mỗi ngày, kể cả ngày Chúa Nhật và lễ buộc.

Hơn nữa, một lạm dụng phổ biến khác là, một số người đã biến hội đoàn đạo đức thành một "diễn đàn" để thỏa mãn những ý đồ cá nhân. Thay vì hội đoàn là nơi diễn ra những sinh hoạt đạo đức, mọi người hun đúc cho nhau tinh thần bác ái và đạo đức để sống đạo, để yêu thương và nâng đỡ nhau, thì đã biến hội đoàn thành nơi để chia bè chia phái, công kích, chỉ trích, nói xấu người khác: làm việc đạo đức thì ít, nói xấu nhau thì nhiều. Lòng đạo đức giờ đây trở thành lòng hận thù. Đấy là chưa nói đến việc trong một giáo xứ có nhiều hội đoàn đạo đức, hội đoàn này công kích hội đoàn khác, gây ra những xáo trộn, chia rẽ trong giáo xứ. Rồi nữa, hội đoàn nào cũng muốn kéo cha xứ về phe mình, nếu không thì quay ra chống đối cha xứ. Đấy là chưa kể đến các hội đoàn bất phục tùng cha xứ, nên thay vì cùng cộng tác với cha xứ xây dựng giáo xứ ngày càng thăng tiến về đời sống đạo đức, thì làm cho giáo xứ ngày càng trở nên tồi tệ hơn.

Thanh luyện

Trước những lạm dụng và lệch hướng như đã nêu trên, các hội đoàn, với những hình thức đạo đức cần phải được thanh luyện để đi đúng hướng theo như Giáo Hội muốn, hầu tất cả những sinh hoạt và thực hành đạo đức thực sự trở nên hữu ích và mang lại lợi ích thiêng liêng cho mỗi người và cho cộng đoàn giáo xứ, nhất là thực sự góp phần vào công việc Tân Phúc Âm Hóa. Đây là trách nhiệm của các mục tử. Thực vậy, "các mục tử cần phải phân định để nâng đỡ và ủng hộ lòng đạo đức bình dân, và nếu cần, để thanh luyện và điều chỉnh cảm thức tôn giáo tiềm ẩn dưới những việc sùng kính này, để liệu sao cho người ta tiến triển trong việc nhận biết mầu nhiệm Đức Kitô. Việc thực hành những hình thức đạo đức này là theo sự chăm sóc và xét đoán của các Giám mục, và theo những quy định chung của Hội Thánh" (SGLHTCG, số 1676).

Tóm lại, các hội đoàn, với những hình thức đạo đức, rất cần thiết trong một giáo xứ để hun đúc lòng đạo đức của mọi người, nhất là trong việc sống Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống cộng đoàn giáo xứ. Chính vì cần thiết nên cần phải được thanh luyện để tất cả những sinh hoạt đạo đức đó không bị lệch hướng, để luôn hướng về mầu nhiệm Chúa Kitô, nghĩa là luôn quy hướng về những cử hành phụng vụ chính thức của Hội Thánh, mà đỉnh cao của những cử hành ấy là Thánh lễ. Chính trong Thánh lễ, Giáo Hội cử hành mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng vừa là Hy Lễ vừa là Bàn Thờ, dâng lên Chúa Cha, để làm của lễ đền tội cho nhân loại. Như vậy, các hình thức đạo đức nơi các hội đoàn đều phải quy hướng về việc những cử hành phụng vụ chính thức của Hội Thánh, nếu không thì những sinh hoạt đạo đức ấy không còn cần thiết nữa; và thay vì chúng mang lại những lợi ích thiêng liêng thì lại trở nên án phạt cho những ai lạm dụng và làm cho những sinh hoạt đạo đức bị lệch hướng.

Hương Quê

 

 

NHÀ THỜ

Lm. Huỳnh Trụ

 

Theo các từ điển, nhà thờ chỉ có hai nghĩa: (1) Nhà thờ là “nhà để mà thờ phượng”[1]: Nhà thờ tổ; Nhà thờ họ (2) Cũng gọi là giáo đường hay thánh đường, là nơi các tín hữu thờ phượng Thiên Chúa: Đi lễ nhà thờ.

Theo nghĩa thứ nhất, nhà thờ (A: The cult house; P: La maison de culte) là tiếng gọi tắt của nhà thờ họ hay nhà thờ tổ tiên, Hán Việt gọi là từ đường. A: The ancestral temple; P: Le temple des ancêtres, là một trong những thứ mà chỉ có ở các nơi có đạo Khổng. “Nhà cất riêng hoặc một gian của nhà ở, dùng thờ ông bà[2].

Theo nghĩa thứ hai, nhà thờ còn gọi là giáo đường, hay thánh đường, L: ecclesia; A: church; P: église, là:

- Nơi các tín hữu thờ phượng Thiên Chúa, cầu nguyện và tham dự các nghi thức phụng vụ (x. GL 1214).

- Nơi đặc biệt để con người gặp gỡ Thiên Chúa.

- Nơi đặc biệt để thờ kính Đức Chúa Giêsu hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể (x. GLHTCG 2691).

- Tượng trưng cho sự hiện diện của Hội Thánh trong địa phương đó [3].

Trong tiếng Latin, chữ Ecclesia (viết hoa) có nghĩa là một cộng đoàn tín hữu hay Giáo Hội; còn chữ ecclesia (viết thường) có nghĩa là thánh đường, nhà thờ. Chữ Église trong tiếng Pháp và chữ Church trong tiếng Anh khi viết hoa hay viết thường cũng có nghĩa như vậy. Tự điển ngoài đời thường nhầm lẫn hai thuật từ Giáo Hội và nhà thờ, họ hay dùng từ nhà thờ thay vì Giáo Hội. Các định nghĩa: Nhà thờ là “tổ chức điều hành Đạo Kitô: Những qui định chung của nhà thờ.” hay “tổ chức nắm quyền cai quản giáo dân: Thế lực nhà thờ.” hoàn toàn xa lạ với quan niệm của Công Giáo.

Ngày xưa, khi đạo Công Giáo mới được truyền sang Việt Nam, các cộng đoàn tín hữu có tổ chức theo địa dư, thường tụ tập để cầu nguyện và cử hành thánh lễ (khi có linh mục) trong những căn nhà nhỏ được dựng lên dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, tương tự như những nhà thờ tổ, và họ cũng gọi đó là “nhà thờ” hay “nhà thánh”. Paulus Của (1895) cũng gọi “nhà thờ đạo Thiên Chúa” là nhà thánh[4]. Nhưng về sau, thuật từ “nhà thánh” được dành chỉ các “chapel” (P. chapelle)[5] mà ngày nay chúng ta gọi là “nhà nguyện” hay “nguyện đường”, tức là nhà thờ nhỏ, gắn liền với nhà thờ chính của giáo xứ hoặc toà nhà biệt lập nằm trong địa hạt giáo xứ hoặc một phòng dành riêng cho việc phụng tự trong tu viện, bệnh viện, trường học hay tư gia. Tương tự như ở các nước khác, khi Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam tiến đến trưởng thành thì cũng xuất hiện nhiều nhà thờ với các qui mô và vai trò khác nhau, nên cũng có thêm những tước hiệu khác nhau:

- Những nhà thờ có tầm mức từ một ngôi nhà nhỏ đủ đặt bàn thờ đến những ngôi nhà đồ sộ, được xây cất và dâng hiến để tôn kính riêng một vị thánh hoặc một sự kiện lớn trong Đạo, gọi là đền, đền thờ hay đền thánh (santuarium, shrine[6]). Ví dụ: Đền thánh Antôn, đền thánh Matthêu Lê Văn Gẫm.

- Những nhà thờ chính của giáo phận hay tổng giáo phận, nơi có toà giám mục hoặc toà tổng giám mục cai quản giáo phận đó, gọi là nhà thờ lớn hay nhà thờ chính toà (cathedral). Ví dụ: Nhà thờ chính toà Hà Nội, nhà thờ chính toà Huế, nhà thờ chính toà Sài Gòn.

- Những nhà thờ với kiến trúc to đẹp và cổ kính, vì đã có lâu đời hay vì tầm quan trọng của nó, nên đã được Toà Thánh ban cho tước hiệu “Minor Basilica” tức là “Tiểu vương cung thánh đường”. Tại Việt Nam hiện nay có hơn 5.456 nhà thờ nhưng chỉ mới có 4 nhà thờ được nâng lên bậc (tiểu) vương cung thánh đường đó là nhà thờ Đức Bà (Sàigòn, được nâng lên vương cung thánh đường năm 1961), nhà thờ La Vang (Quảng Trị, 1961), nhà thờ Phú Nhai (Nam Định, 2008), và nhà thờ Sở Kiện (Hà Nam, 2010). Như vậy, vương cung thánh đường có thể là một nhà thờ chính toà, một đền thờ nào đó hay cũng có thể là một nhà thờ bình thường.

4. Thánh đường.

Tín hữu Công Giáo ở Trung Quốc gọi nơi thờ phượng của mình là thánh đường (nhà thánh) hay Thiên Chúa đường (nhà của Thiên Chúa). Người Công Giáo ở Việt Nam cũng gọi nhà thờ là thánh đường, tức là nhà thuộc về Thiên Chúa, dành cho Thiên Chúa.

Thánh đường là từ Hán Việt, có nghĩa hẹp là “nhà thánh”. Như đã nói ở trên, hiện nay từ “nhà thánh” đã được thay bằng thuật từ “nhà nguyện”. Thánh có nghĩa là thuộc về Đấng tối cao, đường là phòng họp chính và lớn. Thiết nghĩ những nơi thờ phượng nhỏ hẹp nếu gọi là nhà thờ thì thích hợp hơn là thánh đường. “Thánh Đường” có thể sử dụng thay cho thuật từ “nhà thờ” để nói lên tính cách quy mô về kiến trúc, hoặc trang trọng về hình thức, hoặc trong những ngữ cảnh quen thuộc như: Nói “vương cung thánh đường”, chứ không thể nói “vương cung nhà thờ”; nói “nhà thờ chính toà”, chứ không nói “thánh đường chính toà” hay “chính toà thánh đường”.

5. Nơi thờ phượng của các tôn giáo.

Nơi thờ phượng của một tôn giáo thường có cách xưng hô riêng, như:

- Cao Đài gọi là thánh thất. Ví dụ: Thánh thất Mỹ Tho, Thánh thất Đa Phước;

- Đạo Giáo thì gọi là đạo quán[7]. Ví dụ: Trấn Vũ Quán hay đền Quán Thánh; Huyền Thiên Quán hay chùa Huyền Thiên; Đồng Thiên Quán hay chùa Kim Cổ; Đế Thích Quán hay chùa Vua, tất cả đều ở Hà Nội.

- Hồi Giáo gọi là thánh đường, nhà thờ hay đền thờ (mosque). Ví dụ: Thánh Đường Al Rahman ở Quận 1, TP. Hồ Chí Minh, được xây dựng sớm nhất (1885) tại Việt Nam; Thánh Đường Al Mubarak ở An Giang, thường được gọi là “chùa Chăm An Giang”.

- Phật giáo gọi là chùa, tự  hay già lam. Ví dụ: Chùa Vĩnh Nghiêm, Việt Nam Quốc Tự, Bát Nhã Già Lam ở Bình Thạnh, Già Lam Cổ Tự ở Phụng Hiệp.

- Tin Lành thì cũng gọi là nhà thờ, giáo đường hay thánh đường, nhưng có thêm hai chữ Tin Lành. Ví dụ: Nhà thờ Tin Lành Đà Lạt, thánh đường Tin Lành Khánh Hội (Quận 4), giáo đường Tin Lành tại Trường Xuân, Cát Lâm.

6. Kết luận.

Cha Đỗ Quang Chính (SJ.) giải thích lý do Giáo Hội ở Đàng Trong lúc ban đầu sử dụng từ “Họ” để chỉ các giáo xứ như sau[8]: “Từ Họ theo nguyên ngữ có nghĩa là gia đình, họ hàng, thân thích, và nếu hiểu rộng hơn cũng chỉ các hiệp hội, hội đoàn, phường, có cùng một chí hướng... Khi cha ông ta sử dụng từ Họ là muốn làm nỗi bật sự liên kết chặt chẽ giữa các bổn đạo trong Họ chứ không lỏng lẻo như ở châu Âu. Vì ở đó có thể nói được những cá nhân liên hệ với nhau bằng việc duy nhất là họp nhau tham dự kinh lễ tại nhà thờ trong những ngày giờ nhất định. Trái lại, ở Việt Nam các bổn đạo trong Họ còn liên kết với nhau bằng nhiều cách, trong nhiều tổ chức, sinh hoạt, không phải chỉ tới nhà thờ tham dự kinh lễ mà thôi. Vì thế, Họ là một cơ sở hay nói đúng hơn là một cơ thể thực sự vững mạnh và sống động, mà chính L. Cadière cũng phải nhận xét như thế...”.

Thiết nghĩ, các vị tiền bối đã sử dụng từ Họ để chỉ cộng đoàn tín hữu cư ngụ gần nhau, để nói lên sự kết hợp chặt chẽ giữa bổn đạo với nhau như giữa những người cùng chung huyết thống, dòng họ. Và ở Việt Nam, mối dây họ hàng được nối kết chặt chẽ bằng việc tôn kính tổ tiên, cụ thể qua những việc tế tự tại nhà thờ tổ hay nhà thờ họ.

Vì vậy, việc gọi nơi sinh hoạt tôn giáo thường xuyên của các tín hữu, nơi gắn bó các gia đình Công Giáo với nhau cách chặt chẽ như những người trong cùng một Họ, không từ ngữ nào thích hợp hơn là “nhà thờ”.

Trong một số trường hợp, để tránh hiểu lầm “nhà thờ” (Công Giáo) với “nhà thờ họ” hay nhà thờ tổ tiên, thì chúng ta có thể nói rõ là “nhà thờ Công Giáo” cũng như anh em Tin Lành luôn nói rõ là “nhà thờ Tin Lành” vậy.

 

 

TÂN PHÚC ÂM HÓA NHÀ THỜ

Đóa Hoa Vô Thường

 

Số báo Tĩnh tâm tháng 9 có chủ đề “Nhà thờ”, nên bài viết này chỉ giới hạn ba điểm: (1) Nhà thờ là gì? (2) Chúa Giêsu thanh tẩy Nhà thờ. (3) Chúng ta Phúc Âm hóa Nhà thờ.

1. NHÀ THỜ LÀ GÌ? “Nhà thờ, giáo đường hay thánh đường là nơi các tín hữu thờ phượng Thiên Chúa, cầu nguyện và tham dự các nghi thức Phụng Vụ (x. GL 1214). Nhà thờ là nơi đặc biệt để thờ kính Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể (x. GLHTCG, số 2691) và cũng là nơi đặc biệt để con người gặp gỡ Thiên Chúa.

Nhà thờ vừa là nơi cộng đoàn Giáo xứ quy tụ để thờ phượng Thiên Chúa, vừa tượng trưng cho sự hiện diện của Hội Thánh trong địa phương đó. Cấu trúc nhà thờ gồm có phần cung thánh và phần dành cho giáo dân. Phần cung thánh gồm: Bàn Thờ để cử hành Thánh Lễ; Giảng Đài để công bố Lời Chúa; Nhà Tạm để cất giữ Mình Thánh Chúa” (Tự điển Công giáo, HĐGMVN, 2011).

2. CHÚA GIÊSU THANH TẨY NHÀ THỜ: Vào dịp lễ Vượt Qua, người Do Thái ở khắp mọi nơi tuôn về Nhà thờ Giêrusalem để hành hương. Khách hành hương phải chuẩn bị các của lễ đúng theo qui định: Một con bò hoặc một con chiên cho trường hợp những người giàu có (x. Xh 12, 3- 4). Một con bồ câu cho trường hợp những người nghèo khó (Lc 2, 24). Và một nửa đồng bạc Do Thái để đóng thuế Nhà thờ (x. Mt 17, 27).

Để phục vụ cho khách hành hương, nên có các quầy bán bò và cho đổi tiền là việc bình thường. Các cửa hàng của những người bán bò và chiên được bố trí dưới các cổng vào Nhà thờ. Bàn của những người đổi bạc được đặt ngay ngoài trời, đã biến vùng sân Nhà thờ này thành một cửa hàng tạp hóa vĩ đại. Việc đổi tiền bạc có ăn lời đôi chút. Kinh Talmud qui định: “Mỗi người cần có nửa đồng bạc, người ấy phải chi cho người đổi bạc chút ít tiền lời”. Nhưng chính tại Nhà thờ này, khách hành hương phải đổi bạc với giá cắt cổ. Chính trong cảnh mua bán đổi chác gây huyên náo hỗn độn ở Nhà thờ; nhất là ở nơi Nhà thờ đã có sự lạm dụng. Thực vậy, luật qui định là bất cứ con vật nào dùng làm lễ tế đều phải lành lặn, không tỳ vết (Xh 12,5). Nên các chức sắc quản trị Nhà thờ đã bổ nhiệm những người kiểm tra, để khám xét con vật. Mỗi lần khám xét đều phải trả lệ phí một phần mười hai đồng bạc. Nếu khách hành hương mua một con vật ở ngoài Nhà thờ, chắc chắn con vật ấy sẽ bị từ chối khi khám xét. Ngoài ra, mỗi con vật mua trong Nhà thờ có khi phải trả giá đắt gấp 15 lần so với giá mua bên ngoài. Cho nên, khách hành hương nghèo bị bóc lột trắng trợn khi muốn dâng lễ vật. Sự bất công xã hội này càng tệ hại thêm vì nó làm dưới danh nghĩa tôn giáo. Chúa Giêsu nhìn thấy cảnh Nhà thờ, Nhà Cha của Ngài, nơi cầu nguyện, đã trở nên địa điểm của phường buôn bán. Hơn nữa Ngài nhìn thấy những sự bóc lột trắng trợn, bất công quá đáng, lạm dụng Nhà thờ để trục lợi, nên Ngài đã bừng bừng nổi giận. Thánh Gioan là người có mặt ở Nhà thờ lúc đó cho biết là Chúa Giêsu đã lấy dây bện thành một ngọn roi xua đuổi bọn họ và đạp đổ tung thùng tiền, lật nhào các chuồng bồ câu (Ga 2, 13-16).

3. CHÚNG TA PHÚC ÂM HÓA NHÀ THỜ:

a. Phúc Âm hóa nhà thờ vật chất: Như đã nói ở trên, Nhà thờ là nơi tiêu biểu cho một cơ sở tôn giáo linh thiêng, chứ không đơn thuần chỉ là một khu kiến trúc. Người người về đây không chỉ để hưởng làn gió mát, chiêm ngưỡng nét đẹp kiến trúc, mà còn để hưởng bầu không khí của sự an bình, của sự bảo vệ thánh thiêng. Đoàn người đến đây để gặp gỡ Thiên Chúa, để gặp gỡ vị Mục Tử Tối Cao, để lắng nghe lời dặn dò của vị Mục Tử. Để từ đó khi ra về, trong tâm hồn họ như có một niềm vui mới, một đức tin vững vàng hơn, một sự bảo đảm linh thánh, để họ tiếp tục sống tốt, sống đẹp giữa những cảnh đời vô cùng khắc nghiệt và phức tạp, để họ có thể hoàn thành sứ mệnh cao cả, hoàn thành nhiệm vụ mà Chúa đã ban tặng cho loài người.

Nhân tiện đây thiết tưởng cũng nên nhắc lại một số điều Giáo luật đã qui định về việc “Phúc Âm hóa nhà thờ”. Giáo luật điều 1217 qui định: (1) Khi đã hoàn tất việc xây cất, Nhà thờ mới phải được cung hiến hay làm phép theo quy luật phụng vụ thánh càng sớm càng tốt. (2) Các Nhà thờ, đặc biệt Nhà thờ Chính tòa và Nhà thờ Giáo xứ phải được cung hiến với nghi lễ trọng thể. Mỗi Nhà thờ phải mang một tước hiệu riêng, và một khi đã cung hiến, thì không thể thay đổi tước hiệu nữa (Giáo luật điều 1218).

Điều 1220: (1) Những người có trách nhiệm coi sóc Nhà thờ phải lo giữ Nhà thờ sạch sẽ và trang nghiêm, xứng đáng là Nhà của Chúa, cùng ngăn cản tất cả những gì nghịch với sự thánh thiện của nơi ấy. (2) Để giữ gìn các đồ vật thánh và quý giá, cần phải sử dụng những phương tiện bảo trì thường lệ và những biện pháp an ninh thích hợp.

Điều 1222: Khi có những lý do khác quan trọng xui khiến không tiện sử dụng một Nhà thờ vào việc phụng tự nữa, thì Đức Giám mục Giáo phận, sau khi tham khảo ý kiến Hội đồng Linh mục và được sự thỏa thuận của những người có quyền lợi hợp lệ trong Nhà thờ, có thể cho sử dụng Nhà thờ ấy vào việc phàm tục không uế tạp, miễn là không vì thế mà làm thiệt hại đến ích lợi của các linh hồn.

b. Phúc Âm hóa nhà thờ tâm hồn: Chúng ta đang sống trong “Năm tân Phúc Âm hóa đời sống các Giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”. Vì thế việc Phúc Âm hóa Nhà thờ tâm hồn nhắc nhở chúng ta hai điều:

Thứ nhất: Qua Bí tích Rửa tội, mỗi người tín hữu được coi là một Nhà thờ di động của Thiên Chúa. Nhưng hiện giờ ngôi Nhà thờ ấy có còn xứng đáng để Thiên Chúa ngự trị hay không? Hay ta chỉ còn là một cái chợ trưng bày đủ thứ, nhất là những thứ cấm kỵ như: tham vọng, ích kỷ, hận thù, bất trung, ghen ghét, gian dối? Không nhiều thì ít, có lẽ Nhà thờ tâm hồn ta còn đang bất xứng. Vì thế ta cần thanh tẩy, trùng tu ngôi Nhà thờ là chính tâm hồn mình.

Thứ hai: Các gia đình Kitô hữu cũng được mời gọi trở nên những Nhà thờ của Thiên Chúa giữa dòng đời. Liệu trong ngôi Nhà thờ ấy, các thành viên có biết lấy Lời Chúa, đức yêu thương và sự khoan dung tha thứ mà đối xử với nhau không? Hay ngôi Nhà thờ ấy đã trở thành quán trọ lạnh lẽo và khô khan, mạnh ai nấy sống? Liệu trong ngôi Nhà thờ gia đình mình có Thiên Chúa ngự trị không? Hay gia đình mình đang bị đủ thứ ngẫu tượng chi phối, như tiền bạc, gian tà, giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, chứng gian và vu khống? (Mt 15,19)

Có thể nói, mỗi Kitô hữu, mỗi gia đình chúng ta đều là Nhà thờ của Thiên Chúa ngự trị (1Cr 3,9). Nhưng rất có thể hôm nay Thiên Chúa đã bị mất chỗ. Nghĩa là tội lỗi, những cái xấu, những cái tiêu cực trong ta đã chiếm chỗ của Chúa. Vì thế, ta cần dứt khoát loại bỏ tất cả những thứ đó ngay lập tức, để trả lại chỗ thánh thiêng cho Thiên Chúa, bằng sự ăn năn sám hối và cải thiện đời sống. Đó là tinh thần tân Phúc Âm hóa chính mình hằng ngày.

Tôi tin rằng, khi mình kết hợp mật thiết với thân thể phục sinh Chúa Kitô, thì chính thân xác ta cũng là Nhà thờ của Chúa Thánh Thần (1 Cr 3,16-17). Nhà thờ thánh thiêng ấy có thể đã trở nên phàm tục do đam mê vô độ của thân xác, tội lỗi đã trục xuất Chúa Thánh Thần. Do đó ta cần Phúc Âm hóa thân xác mình hằng ngày, thanh tẩy mọi tội lỗi như Chúa Giêsu đã truyền: “Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây” (Ga 2,16). Qua Bí tích Giải tội, ta hãy đưa Nhà thờ thân xác mình trở lại với sự thanh sạch thánh thiêng thuở ban đầu, khi mình mới lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy; như lời thánh vương Đa-vít: "Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết lỗi lầm. Tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy!” (Tv 51,4).

 

NHÀ THỜ GIÁO XỨ

 

1- Thiên Chúa là Đấng cao cả, vĩ đại. Vũ trụ bao la mênh mông và mọi cung điện nguy nga lộng lẫy đến đâu cũng không xứng đáng làm nơi Ngài ngự. Chỉ vì yêu thương con người, Ngài muốn đến ngự trong nhà thờ giáo xứ chúng ta, để hiện diện, đồng hành với chúng ta.

Nhà thờ là nơi thân thương, đầy ắp kỷ niệm của đời tín hữu: Tại đây, Chúa đón nhận và biến họ thành con cái Ngài nhờ bí tích Rửa tội; Chúa Thánh Thần xuống trên họ qua bí tích Thêm sức; đã ban ơn tha thứ và thanh tẩy lương tâm cho biết bao tội nhân qua bí tích Giải tội; Chúa đã chứng nhận, kết hợp và chúc phúc cho biết bao đôi vợ chồng qua bí tích Hôn phối.

Trong nhà thờ, biết bao người đã mài mòn đầu gối sốt sắng quỳ cầu nguyện; nhờ đó phát sinh nhiều ơn gọi sống đời thánh hiến. Cũng tại đây, xác thân người quá cố được đưa đến lần cuối, xin Chúa, qua thánh lễ an táng, đoái thương đón nhận linh hồn họ về với Ngài.

2- Tâm điểm của nhà thờ là Chúa Giêsu Thánh Thể trong Nhà Tạm: “Tôi mừng vui mỗi khi nghe nhủ rằng nào ta tiến về nhà Thiên Chúa” (Tv 121,1). Hằng ngày qua Phụng vụ, Ngài giảng dạy chúng ta qua Thánh Kinh và nuôi dưỡng chúng ta bằng Thánh Thể.

Con người cầu nguyện; Ngài lắng nghe và ban ơn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28); để rồi với Chúa, họ ra đi, lên đường loan báo Tin Mừng, Phúc Âm hóa giáo xứ, cộng đoàn, xã hội…

3- Nhà thờ cũng là trái tim của giáo xứ, là trung tâm sinh hoạt của cộng đoàn tín hữu. Cuộc sống người tín hữu xoay quanh nhà thờ: “Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng “ (Tv 27,4). “Phúc thay người ở trong thánh điện, họ luôn luôn được hát mừng Ngài” (Tv 84,5).

4- Nhà thờ còn là biểu hiệu hữu hình của Hội Thánh Chúa trên trần gian: “trong Chúa Kitô, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa cũng được xây dựng cùng với người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí” (Ep 2,21-22).

5- Nói đến nhà thờ, tự nhiên ta liên tưởng đến ngôi nhà bằng gạch đá, sắt thép, mà quên mất rằng nhờ bí tích Rửa tội, “chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2 Cr 6,16; 1 Pr 2,5). Nhờ việc rước Thánh Thể, người tín hữu trở nên “hòm bia giao ước”, trở thành ”nhà tạm di động” của Thiên Chúa giữa trần gian. Được cứu chuộc nhờ Máu thánh Chúa, chúng ta hãy sống xứng đáng với ơn Chúa; quyết tâm không làm vấy bẩn tâm hồn mình qua lối sống tội lỗi, nhếch nhác xàm xỡ, đồi bại. Chớ để bị Chúa quở trách :”Nhà Ta là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp “(Lc 19,46), thành nơi buôn bán (x Ga 2,16), thành quán trọ chực ních người ngợm, không còn chỗ trống đón tiếp Chúa (x Lc 2,7).

Đức Hồng Y Régnier, TGM Cambrai, Pháp, khi nhìn thấy nhà thờ chính tòa phát hỏa, đã đứng lặng đau xót. Bỗng ngài thốt lên : một nhà thờ bị lửa thiêu rụi, dù sao vẫn ít buồn ít khổ hơn một linh hồn liều mình phạm tội trọng. Nếu không kịp thời sám hối ăn năn đổi mới, họ sẽ bị hỏa thiêu đời đời trong lửa hỏa ngục: “Ai phá hủy Đền thờ Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền thờ ấy chính là anh em “(1 Cr 3,17). “Anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em “(1 Cr 6,20).

6- Đến nhà thờ, chúng ta muốn thấy nhà thờ sạch sẽ ư? Chớ làm linh hồn ta ra ô uế vì những dơ bẩn tội lỗi. Chúng ta muốn nhà thờ có hoa đẹp hương thơm ư ? Đừng làm hôi hám bản thân, chớ làm ô danh đạo Chúa. Chúng ta muốn nhà thờ rực sáng ư? Thiên Chúa cũng chẳng muốn chúng ta sống trong u minh tối tăm, mà phải quang tỏa ánh sáng các việc lành phúc đức. Chúng ta muốn vào nhà thờ thế nào, Thiên Chúa cũng muốn vào linh hồn chúng ta như thế: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy" (Ga 14, 23).

Nhà thờ gạch đá của giáo xứ là niềm vinh dự và tự hào của người tín hữu; nhưng đền thờ người tín hữu mới là niềm tự hào và vinh quang của Thiên Chúa.

Nhà thờ giáo xứ là dấu chỉ cho lương dân biết có đạo Chúa; nhưng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta mới có sức thuyết phục người ngoại đạo tin yêu Chúa.

Hạt Cải 

 

 

Đây nguồn trông cậy

Những ai muộn phiền

Đây niềm kính tin

Trọn tình yêu mến

 

Lung linh ánh nến

Đồng vọng lời cầu

Giờ lễ, giờ chầu

Hồng ân chan chứa.

Têrêsa Thiên Lý

Gx Đài Đức Mẹ Tân Hiệp

 

 

TIẾNG CHUÔNG

 

Tiếng chuông giáo đường

Tiếng gọi tình thương

Giục lòng tín hữu

Mau mau lên đường

 

Sớm chiều tiếng chuông

Ngân nga mời gọi

Tín hữu bốn phương

Về đây thờ lạy

 

 

NHÀ TA LÀ NHÀ CẦU NGUYỆN

 

Đọc Phúc Âm, không lần nào thấy Chúa Giêsu nổi giận như khi Ngài vào đền thờ Giêrusalem, thấy đền thờ đã bị biến thành  nơi buôn bán. Phúc Âm Thánh Gioan (Ga 2,13-17) và Matthêu (Mt 21,12-13) thuật lại: Ngài lấy dây thừng làm roi, xua đuổi dân chúng, xô đẩy, lật nhào bàn ghế, tiền bạc. Ngài trách mắng họ đã biến đền thờ của Chúa thành hang trộm cướp, chợ búa. Rồi Ngài nhấn mạnh: Nhà Ta là nhà cầu nguyện.

            Nhà thờ là nhà cầu nguyện, có nghĩa là nơi thường xuyên thờ phượng Thiên Chúa, nơi cử hành các nghi lễ phụng tự, nơi Thiên Chúa hiện diện với dân Ngài, nơi con người sống mật thiết gần gũi với Thiên Chúa, nơi luôn mở rộng đón nhận mọi người đến với Thiên Chúa. Như vậy nhà thờ không là nơi thể hiện sự giàu sang cách biệt, nhưng luôn phù hợp chan hòa với đời sống dân chúng địa phương, những kiến trúc to lớn hoành tráng quá sang trọng là không thực tế. Chúng ta còn nhớ không thời nào Giáo Hội xây nhiều nhà thờ như thời trung cổ, nhưng cũng không thời nào Giáo Hội trải qua những đen tối như thời trung cổ. Cuối thế kỷ 20, một quốc gia Phi châu nghèo đói đã xây một thánh đường đồ sộ nguy nga nơi đồng không mông quạnh, nhận ra không thực tế Nhà Nước đã dâng cho Tòa Thánh và Tòa Thánh đã không nhận vì không biết sử dụng vào việc gì. Ngày nay nhiều nhà thờ ở Âu Mỹ đã bỏ hoang, bán làm khách sạn, tiệm buôn. Riêng tại  Hoa Kỳ, ngoài những nhà thờ chính tòa đồ sộ khang trang hòa nhập với những nhà cao tầng hoành tráng chung quanh, thì ở từng địa phương nhà thờ tuy rộng rãi đủ phòng ốc sinh hoạt, bãi đậu xe, sân cỏ, nhưng thường thấp, chan hòa với nhà dân địa phương. Có phù hợp không khi nhà dân chúng rách nát lại tọa lạc chung quanh một nhà thờ và nhà xứ đồ sộ hoành tráng? Linh mục Nguyễn Trung Thành khẳng định: “Nhà thờ là hình ảnh của Giáo Hội, ngày nay Giáo Hội muốn xuất hiện giữa thế giới loài người với dáng vẻ khiêm tốn, thân thiện, giản dị và khó nghèo”. Trong Nhật ký truyền giáo, Linh mục Ngô Phúc Hậu thắc mắc: “Nhà thờ được xây cất để tôn vinh Thiên Chúa hay để nghệ sĩ gửi gắm sự nghiệp của mình?” Còn Linh mục Nguyễn Tầm Thường thì than thở: “Giáo xứ nghèo tiếp tục rách nát. Chỉ chờ xin ngoại quốc. Thiếu nâng đỡ nhau giữa các họ đạo trong cùng địa phận. Tội nghiệp cho các linh mục vất vả suốt đời ở đó”. Người ta thắc mắc tại sao mỗi địa phận không có ban thẩm định xem nơi nào cần sửa, nơi nào cần xây mới, để huy động nội lực của toàn địa phận, có thiếu mới huy động ra bên ngoài, để các giáo xứ nâng đỡ nhau, để các linh mục xứ giàu không còn phải lo tự hào ghi dấu ấn và các linh mục xứ nghèo không phải tội nghiệp vật lộn với tiền bạc. Nếu ngày nào đó nhà thờ trở thành nơi hội họp chính trị, nơi mặc cả bầu bán, nơi tiệc tùng, nơi phô trương sức mạnh, nơi lễ hội hoành tráng, nơi tham quan du lịch, nơi hội chợ triển lãm, lúc đó chúng ta đã biến nhà thờ thành chợ búa, nơi buôn bán.

            Nhà thờ là nơi cầu nguyện còn có nghĩa là nơi dân Chúa hiệp thông, nơi kết nối mọi phần tử trong một thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô, nơi ta được  nghe giảng lời Chúa, nơi ta được mời gọi tin và đón nhận lòng thương xót, sự tha thứ của Thiên Chúa để yêu thương và tha thứ cho nhau. Như vậy nhà thờ không thể là nơi để xét đoán, tự ái, tìm danh lợi. Ta không dâng hiến đóng góp xây dựng nhà Chúa để làm vinh danh mình. Ta không đến nhà thờ để làm đẹp lòng người khác, để được khen là đạo đức, để được xứng đáng là ông chánh ông trùm, để so sánh nhan sắc, giàu sang, tài năng, chức vụ, quần áo, xe cộ, dòng họ, uy tín. Ta không xây nhà thờ cho to, hoành tráng, tốn kém, không đụng hàng, để được khen ngợi nổi danh. Nhà thờ cũng không thể là nơi thù địch, chia rẽ, loại trừ. Ngày xưa người Do Thái và người Samari không được vào nhà thờ của nhau. Người ta kể ông Gandhi ở Ấn Độ tìm hiểu đạo Thiên Chúa, ông tìm đến một nhà thờ Công giáo, các người có trách nhiệm đã đón tiếp ông nồng hậu lịch sự nhưng xin ông đến nhà thờ dành cho người da đen. Ông đã lặng lẽ cúi đầu ra đi và không bao giờ trở lại nữa.

Đúng là nhiều người đang mất niềm tin vì nhà thờ. Những cuộc đón rước các vị chức sắc giáo quyền long trọng hoành tráng còn hơn nhiều lần đón rước Chúa vào thành Gied6rusalem, những lễ tạ ơn rầm rộ tốn kém vì vinh danh mình chứ không vì cảm tạ Chúa, những cuộc rước tưng bừng pháo hoa như lễ hội. Chúng ta đã quá chú trọng hình thức, biến nhà thờ thành niềm tự hào, kiêu hãnh, tự đắc trước người lương dân và các xứ đạo chung quanh. Điều này phỏng có ích gì cho việc truyền giáo? Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân nhận định: “Niềm tin vào thần thánh ở Việt Nam là niềm tin hời hợt nông cạn, hối lộ thần thánh, mặc cả đi đêm với thần thánh”. Một người viết blog, ông Bút, thì nhận định: “Những người theo đạo họ chỉ cần cái diện tôn giáo chứ họ đâu cần cái chất đạo đức làm gì”. Người ta đã nhầm lẫn cho Thiên Chúa coi trọng của lễ chiên bò, của lễ dâng cúng, nhưng có biết đâu điều Ngài cần là tâm hồn. Chính Chúa đã có lần cảnh cáo: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta” (Is 29,13).

       Nhà thờ là nhà cầu nguyện bởi vì nhà thờ là nơi Thiên Chúa ngự trị, là nơi thánh, nơi chúng ta tuyên xưng củng cố niềm tin vào Đức Kitô. Chúng ta tới nhà thờ để nơi đó trở nên thánh và cho mình trở nên thánh thiện hơn, để canh tân đổi mới tâm hồn và lối sống. Ta không đến nhà thờ để làm ra ô uế, không lạm dụng làm mất bầu khí thánh thiêng, không buôn bán thủ lợi. Có những lúc nhiều nơi trong Giáo Hội cần tiền xây nhà thờ đã bán ân xá. Đó là một trong lý do làm Luther ly khai khỏi Giáo hội. Linh mục Nguyễn Tầm Thường nhận xét: “Xin tiền không còn nói là mình kém, nó trở thành như mình có quyền nhân danh cái nghèo”. Do vậy lạm dụng danh nghĩa nhà Chúa để quyên góp lấy tiền dùng vào những việc không chính đáng, hoang phí, thủ lợi riêng, tiếp tay con buôn, quan chức kiếm lời làm giàu cho bản thân  là chúng ta đã làm ô uế nhà Chúa, biến nhà Chúa thành chợ búa. Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân cảnh báo: “Đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam có nguy cơ tha hóa và lũng đoạn mạnh vì tính vụ lợi trong số người giầu, quan chức, được tiếp tay bởi một số tu sĩ và các cơ sở tôn giáo”.

       Để kết luận xin nhắc lại nhận định của Linh mục Nguyễn Trung Thành trong một bài viết: “Nhà thờ là hình ảnh của Hội Thánh, nhà thờ là Hội Thánh bằng gạch bằng đá, Hội Thánh là nhà thờ được xây dựng bằng những tâm hồn. “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng” (1P 2,5). Như vậy việc xây dựng nhà thờ chỉ có ý nghĩa khi có được sự liên kết mật thiết với Thiên Chúa với Hội Thánh, đồng thời với việc xây dựng được một cộng đoàn phụng tự, vì: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công”. (Tv 126)

NĐP

 

 

        

 
 

Xin quý bạn đọc vui lòng

thanh toán tiền báo năm 2015,

Và ghi tên mua báo năm 2016

nơi Cha Sở của mình.

Chân thành cám ơn.

Tĩnh Tâm

 

 

 

 

 


 

NHÀ THỜ XÂY MÃI ĐỜI TA

Mic. Nguyễn Văn Xuân

         

Đêm nay tôi nghĩ đến nhà thờ.

Có nhiều kiểu nhà thờ. Có nhà thờ bằng tràm tre lá, nhà thờ vách gỗ, lợp ngói, lợp tôn, nhà thờ xi măng cốt thép, nhà thờ nguy nga tráng lệ, kiến trúc theo lối Tây phương, hay hùng vĩ cổ kính của nền triết Đông xưa nọ. Có nhà thờ bỏ hoang đìu hiu hút gió, xác xơ cùng mưa nắng. Có nhà thờ biến thành công sở, chợ búa. Có nhà thờ giầu, nhà thờ nghèo. Có nhà thờ cổ xưa từ thời các Cố Tây truyền đạo, nay đã phủ mờ rêu phong, thì thầm, lặng lẽ bên cạnh vị  cha già.

Tôi miên man suy nghĩ: Thời buổi văn minh vật chất tiến bộ, đang ồ ạt tràn vào với những mời gọi đảo lộn, làm phai mờ dần cái nền đạo đức nhân bản của đời sống tâm linh. Đời sống vật chất, tiền của đang là thước đo xứ đạo này với xứ đạo kia, cha xứ này với cha xứ khác, đoàn thể này với đoàn thể nọ. Người ta đang coi đời sống vật chất như một ngẫu tượng. Quyền lực vật chất đang mỗi ngày mỗi đi vào trong đời sống tôn giáo, pha mùi tục luỵ. Chúa ở đây giầu, Chúa ở chỗ khác thì nghèo. Cứu cánh và phương tiện gần như đã không còn được minh định một cách rạch ròi.        

Mải mê nghĩ đến chuyện nhà thờ. Tôi lại nhớ đến trong Phúc Âm có lần Chúa đã lấy dây thừng xua đuổi bọn người buôn bán trong nhà thờ: “Nhà Ta là nơi cầu nguyện, mà các ngươi lại dùng làm nơi trộm cắp”.

Vậy tôi sẽ tìm ra Chúa ở đâu? Trong những ngôi thánh đường lộng lẫy, hay trong những bộ đồng phục đoàn này hội nọ. Những phù hiệu này, phù hiệu kia đeo ở trước ngực. Chúa có phải bằng thạch cao, bằng sắt hay bằng đồng không?  Hay Chúa đang hiện diện, đang sống động giữa nhân sinh. Chúa làm người. Ngày xưa Chúa xuống cứu đời lập đạo, triệu tập môn sinh. Ngài cũng không chọn chốn lầu son gác tía, đền thờ nguy nga tráng lệ,  mà lại sinh ra từ nơi cỏ rác trong đêm đông với vài đứa chăn bò. Chúa vào rao giảng trong đền thờ nhưng Chúa cũng chẳng kết nạp được môn đệ nào ở đấy. Chúa lang thang thâu thập môn sinh khắp nẻo đường đời. Chúa cũng chẳng gắn phù hiệu, cho mặc đồng phục, hay một hình thức bề ngoài nào đó để cho người ta nhận ra họ là môn đệ Chúa. Hình như Chúa không thích dáng vẻ bề ngoài. “Để cho người ta nhận biết các con là môn đệ của Thầy là các con hãy thương yêu nhau”. Cái phù hiệu Chúa gắn cho người ta nhận biết chúng ta là môn đệ Chúa, không hình tượng. Nó sâu thẳm trong tim óc mỗi người nên thật khó nhìn thấy, khó đeo vào. Đeo hoài, đeo mãi mà có khi nhận cũng chưa ra, nó thật nhẹ nhàng mà sao khó thế, cứ gãy xuống, cứ vỡ giập. Có khi cả đời đeo mãi chẳng xong.

Đêm nay tôi lại nhớ đến câu mà cha xứ tôi an ủi bà con: “Cứ vui lên. Mình nghèo nhưng nghèo vì mọi người”. Câu nói thật bình dị như lúa như khoai giữa ruộng giữa đồng, mà sao lớn lao vời vợi, như đất như trời, mênh mông bát ngát tình người, gần gũi và thân thương tình Chúa quá đỗi.

Xây dựng nhà thờ của Chúa ngay trong tâm hồn mỗi người bằng những viên gạch bác ái và yêu thương như lời Chúa dạy. Nhà thờ không bon chen, ích kỷ, ganh tỵ, khinh chê, tự cao, tự đắc, mà là nơi chung sức chung lòng trong tình thương huynh đệ. Đến với Chúa là đến với anh em, yêu Chúa là yêu anh em, biết cảm thông và chia sẻ với nhau dù là người anh em hèn mọn. “Mình nghèo nhưng nghèo vì mọi người”. Có được như vậy, thì nhà thờ mà chúng ta xây đựng, chắc chắn sẽ là nơi Chúa ngự đến. Nhà thờ tình yêu thương. Nhà thờ tâm hồn. Nhà thờ không biên cương, không ranh giới. Nhà thờ xây mãi đời ta.

 

HÀNH HƯƠNG

 

Dẫn nhập

Nhờ toàn cầu hóa và sự tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, các quốc gia và con người ngày nay đã xích lại gần nhau hơn. Những rào cản về khoảng cách địa dư, ngôn ngữ, văn hóa dần được thu hẹp và xóa bỏ. Nhờ đó, con người có thể dễ dàng “xuất hành” tham quan nhiều địa điểm du lịch trong cũng như ngoài nước trong thời gian rất ngắn. Nhờ các tour du lịch mà phạm vi hiểu biết thực tế của con người ngày được mở rộng chứ không chỉ gói gọn trong một khu vực, một quốc gia. Một phân khúc của nghành công nghiệp không khói là loại hình du lịch tâm linh. Bài viết ngắn dưới đây, xin nêu lên một số vấn đề xoay quanh vấn đề du lịch tâm linh của người Kitô hữu.

1- Từ ngữ

Du lịch tâm linh - hành hương (pilgrimage- tiếng Anh, pèlerinage- tiếng Pháp) - là một từ được Việt hóa từ chữ “pelegrin” trong phương ngữ Provençal, có nguồn gốc từ chữ peregrinus trong tiếng Latin có nghĩa là nước ngoài, hải ngoại, được thành lập từ tiền tố per: xuyên quaager vùng đất, cánh đồng. Hành hương là hành trình của cá nhân hay cộng đoàn Kitô hữu về một nơi thánh ở cách xa một khoảng cách nào đó hay một nơi đã được thánh hiến. Các cuộc hành hương có căn bản và mục tiêu là yếu tố tâm linh và tôn giáo. Quả vậy, ngày nay với nhiều áp lực trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc, con người tìm đến hành hương như là giải pháp xả stress và thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Hành hương là sự kết hợp giữa tôn giáo và nhu cầu hiểu biết, tham quan, học hỏi thêm về con người và vùng đất nơi mình đến.

2- Mục đích

Ngay từ thời thượng trung cổ, người Kitô hữu có quan niệm những chuyến đi như thế là sự biểu lộ của sự  hy vọng về một quê trời đích thực. Theo các sử gia công giáo thì vào Thế kỷ thứ 4 khi Constantinus I ban hành "Sắc lệnh Milanô" năm 313 bãi bỏ các hình phạt bách hại dã man Kitô hữu trên toàn đế quốc và công nhận Kitô giáo là quốc giáo, việc hành hương được “nở rộ”. Người Kitô hữu thường hành hương đến Giêrusalem viếng các nơi thánh và đến Rôma viếng mộ thánh Phêrô và thánh Phaolô (ad limina apostolorum ), mà ngày nay các Giám mục vẫn giữ truyền thống này; đi viếng các hầm mộ và các vương cung thánh đường. Cũng vậy, việc hành hương mộ Thánh Giacôbê ở Compostella (nước Tây Ban Nha) được tổ chức rất thường xuyên giữa thế kỷ IX và XVI và còn mãi đến nay. Các Kitô hữu ở Việt nam cũng tổ chức các cuộc hành hương đến Đức mẹ La Vang, Trà Kiệu, Tà Pao, Bãi Dâu, Hòn Chông, cha Diệp như là phương thế giúp nuôi dưỡng, củng cố và làm phong phú đời sống đạo.

Ban đầu, khách hành hương xem mục đích của những cuộc hành hương nhằm ăn năn đền bù những tội đặc biệt nặng. Vì thế, khi đi hành hương họ thường đi bộ để đền bù tội lỗi vì họ tin rằng nhờ “công nghiệp” của những hy sinh hãm mình ấy họ sẽ lập được đại công trước mặt Chúa, xóa bỏ tội lỗi, trở nên công chính và được hưởng phúc thiên đàng (x.Youcat, số 276); nhưng ngày nay thì quan niệm lệch lạc này dần được “thanh tẩy” khi các Kitô hữu đã ý thức được ý nghĩa đích thực của việc hành hương là giúp cho họ kiếm tìm được sự bình an trong tâm hồn và có thể lấy được sức mạnh từ những nơi thánh. Ngoài ra, những chuyến hành hương ấy giúp họ củng cố lòng đạo đức; tìm được sự nâng đỡ tinh thần hoặc có thể là bước ngoặt giúp thay đổi cuộc sống vì được gặp Chúa, hiện diện trước Ngài, tôn kính thờ lạy và mở tấm lòng ra với Chúa để được biến đổi…

3- Người Việt Nam và hành hương

Cách chung người Việt sống nặng về tình cảm nên có những cảm thức tâm tình rất đặc biệt với các hoạt động tâm linh. Ngay từ khi đạo Chúa được các thừa sai truyền đến nước Việt, nắm được tâm lý thích lễ hội và ca hát của người Việt, nên các thừa sai và những mục tử bản xứ cũng có những cách thích nghi để truyền tải giáo lý, đức tin phù hợp với tâm tính và văn hóa Việt; sáng tác những bài giáo lý, kinh thường đọc theo cung giọng của các bài hát bình dân, truyền thống, những lễ hội. Đây là cách thích nghi và hội nhập văn hóa rất tốt và rất sâu. Đó là những hình thức của lòng đạo đức bình dân, đặc biệt người Việt rất “nhiệt tình” tổ chức các cuộc hành hương về các trung tâm kính Đức Mẹ, các vị thánh, hay cả ở đất thánh tại Israel.

Thật vậy, cuộc sống thường nhật với những bon chen, vội vã khiến con người cảm thấy nặng nề, nhiều người đã đến với hành hương như  một phương thế thoát ra những bó buộc ấy, để tìm về với chính mình, nhìn lại bản thân và kết nối với Thiên Chúa và họ đã tìm được sự bình an sâu lắng trong tâm hồn. Tuy nhiên, bên cạnh những điều tốt đẹp lãnh nhận từ những cuộc hành hương ấy, nhiều người Kitô hữu có những ngộ nhận về việc hành hương.

Người Kitô hữu có thể rơi vào những lệch lạc mà không ý thức được như: mê tín, thể hiện niềm tin cách thái quá, có phần lệch lạc như vuốt ảnh tượng Chúa, các thánh và thoa lên chỗ đau cần chữa trị trên cơ thể, nên không lạ gì khi các bức tượng ở các trung tâm hành hương hay bị “tróc nước sơn”; hay phàm tục hóa, thương mại hóa các cuộc  hành (đứng ra tổ chức thành các nhóm, để thu lợi mà không nhắm đến ý nghĩa đích thực của hành hương). Hơn thế nữa, nhiều người còn mang tâm lý “trả giá, thử nghiệm”- đi thử xem sao nếu xin được ơn thì đi tiếp, nếu không thì thôi! Hay bị tác động bởi tâm lý đám đông theo kiểu “Tấp tễnh người đi tớ cũng đi (Trần Tế Xương, Đi Thi). Những lệch lạc đó làm mất đi ý nghĩa thánh thiêng và tôn giáo; mang tính hình thức giả tạo chứ không đi vào ý nghĩa đích thực. Thế nên, cần xét lại xem đâu là động lực chính cho cuộc hành hương của chúng ta. Động lực tình yêu hay lợi nhuận? Làm phong phú đời sống thiêng liêng qua những cảm nhận có được từ hành hương hay nhu cầu du lịch đơn thuần? Để điều chỉnh cần phải thanh luyện để có một nếp suy nghĩ mới, nếp sống mới, nhờ đó thực sự gặp gỡ được chính Đức Kitô qua những lần hành hương và không chỉ dừng lại ở đó, nhưng phải để cho tinh thần của cuộc gặp gỡ và cảm nghiệm ấy kéo dài trong cuộc sống thường nhật.

Ngoài ra, không ít Kitô hữu “quên” mất điều quan trọng này: mỗi người Kitô hữu và toàn thể Hội Thánh cũng đang là những người đang lữ hành tiến về thành Giêrusalem trên trời; một cuộc hành hương tối hậu về vương quốc trường cửu của Thiên Chúa. Quả vậy, không ai được thờ ơ với cuộc hành hương này vì hiện nay chúng ta là khách lữ hành đang trên đường tiến về quê hương đích thực trên trời. Vì vậy, cần phải điều chỉnh và thanh luyện những ngộ nhận này để hướng người Kitô hữu đến việc trưởng thành hơn trong việc hiểu và sống đức tin (x. Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Catechesis Tradendae, số 54)

4- Những điều chỉnh

Theo người viết, trước hết cần xác tín chính Chúa Giêsu cùng đích duy nhất mà con người phải hành hương và vẫn khuyến khích các cuộc hành hương tôn giáo. Thật ra, cũng có nhiều ý kiến muốn “tẩy chay” việc hành hương tôn giáo, tâm linh. Những người ủng hộ chủ trương này lý giải rằng: Ở đâu mà chẳng có Chúa, Chúa ở khắp mọi nơi mà. Quan điểm này chưa hoàn toàn xác đáng và thuyết phục. Những nơi gắn liền với những sự kiện trong Kinh Thánh, hay những cuộc “hiện ra” được nhìn nhận sẽ là những nơi dễ dàng khơi lên trong lòng những khách hành hương những tâm tình tôn giáo và lòng đạo đức cách mãnh liệt. Ông bà ta có câu: trăm nghe không bằng một thấy mà! Nhưng điều quan trọng là cần phải kết hợp việc hành hương tâm linh và hướng đến đi vào chiều sâu linh thánh để có được những cảm thức đức tin tốt hơn và ý thức đúng đắn về cuộc lữ hành tiến về thiên quốc. Đó chính là động lực thúc đẩy mạnh mẽ cho bước chân chúng ta dù cuộc lữ hành tối hậu đầy những gian lao và thách thức phải vượt qua. Tại sao? Xin thưa, nhờ sự kết hợp này sẽ giúp chúng ta có những tâm tình, thái độ đúng đắn hơn vì theo cách nói triết học thì có hình thức sẽ dễ đi vào nội dung hơn. Qua những cuộc hành hương theo kiểu tâm linh người tín hữu sẽ có cơ hội nhận ra rằng không phải những cuộc hành hương ấy là cùng đích, nhưng chỉ là phương tiện giúp chúng ta thờ phượng Chúa cách chân thật, là theo chân Đức Kitô, Đấng“là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6).

Kết luận

Qua Bí tích Rửa tội, đời sống Kitô hữu được tháp nhập vào Hội Thánh, Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô và được mời gọi bước theo Đức Kitô trên hành trình tiến về Giêrusalem trên trời.  Một thái độ đúng đắn về những cuộc hành hương tôn giáo về những trung tâm hành hương sẽ giúp người Kitô hữu sống và diễn tả niềm tin cách phong phú để từ đó biết kết hợp tâm tình, cảm thức từ những chuyến hành hương, hầu có thể đón nhận dồi dào ơn sủng Chúa ban, dám can đảm từ bỏ con người cũ để Chúa biến đổi trở nên nhạy bén nhận ra thánh ý Chúa và thi hành. Hành hương là một cách thế sống những giá trị thiêng thánh ngay ở đời này, để hướng đến những thực tại trời cao. Đó chẳng phải là bàn đạp và điểm tựa vững chắc cho cuộc lữ hành về quê trời vĩnh cửu sao?

Felicitas

 

 

GIÁO LUẬT

HỘI ĐỒNG MỤC VỤ

 

Kính thưa cha,

Con là người công giáo nhưng không am hiểu tường tận về bầu “Ban hành giáo", nhiều người lương họ hỏi con nhưng con không biết giải thích thế nào với họ cho đúng với tinh thần của Giáo Hội và Giáo phận Long Xuyên. Con có những thắc mắc sau:

- Nhiệm kì Ban hành giáo là bao nhiêu năm?    

- Cách thức bầu Ban hành giáo như thế nào? có mấy cách?

- Nếu một người từ nhiệm thì cha sở bầu lại thế nào? (Khi chưa hết nhiệm kì). (Hậu Đức).

Trả lời:

Anh Hậu Đức thân mến,

Quy chế HĐMVGX của GPLX, được Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu ban hành ngày 25.01.2007 và có hiệu lực từ ngày 25.4.2007, quy định như sau:

1. Nhiệm kỳ Ban Hành Giáo

Điều 20: “Nhiệm kỳ của Ban Thường vụ, các Ban Điều hành giáo họ và các Ban Điều hành khu xóm là bốn (4) năm, với quyền tái cử, nếu có sự chấp thuận của linh mục chính xứ”.

2. Cách thức bầu cử

Điều 11: “Thể thức tuyển chọn sẽ do Nội quy HĐMVGX của từng địa phương hoạch định, nhưng phải theo lối bỏ phiếu kín”.

Mỗi giáo xứ có thể hình thành Nội quy riêng triển khai Quy chế HĐMVGX của GP, xác định chi tiết về việc tuyển chọn. Tuỳ hoàn cảnh, mỗi giáo xứ có thể sử dụng một trong các phương thức sau:

1/. Người đi bầu:

- Mỗi tín hữu từ 18 tuổi trở lên đi bầu;

- hoặc mỗi gia đình cử một đại diện đi bầu;

- hoặc thành viên các đơn vị mục vụ (giáo họ, ban mục vụ, giới, và hội đoàn) cử đại diện đi bầu.

2/ Thể thức:

- Bầu phiếu kín từng người vào năm (5) chức vụ: chủ tịch, phó chủ tịch nội vụ, phó chủ tịch ngoại vụ, thư ký, thủ quỹ;

- hoặc bầu phiếu kín chọn một lượt năm (5) vị có tên trong danh sách ứng viên.

3. Trường hợp từ nhiệm

Điều 23: “Vì lý do chính đáng, một thành viên có thể xin từ chức và chỉ được nghỉ việc khi linh mục chính xứ chấp thuận, sau khi ngài đã tham khảo ý kiến các Ban liên hệ”.

Điều 22: “Trong trường hợp chức vụ trở nên khuyết vị vì bất cứ nguyên nhân nào thì:

- Khi nhiệm kỳ còn hơn một năm, phải bầu lại, nếu xét là cần. Sẽ tổ chức bầu cử trong vòng một tháng kể từ ngày chức vụ trống ngôi.

- Khi nhiệm kỳ còn dưới một năm, không phải bầu lại”.

Trong trường hợp không phải bầu lại, HĐMVGX, với sự đồng ý của linh mục chính xứ, nên đề cử một thành viên kiêm nhiệm. Trường hợp người thay thế khi phải bầu lại và trường hợp kiêm nhiệm, Quy chế HĐMVGX của GPLX không quy định cần phải có sự bổ nhiệm hoặc phê chuẩn của Đức Giám Mục.

Kính chúc anh Hậu Đức bình an trong Đức Kitô.

Lm LG Huỳnh Phước Lâm

 

GIÁO DỤC

HỌC

(H+O+C = Hiểu biết + Ôn luyện + Cần mẫn)

 

Nhân tháng chín bước vào năm học mới, chúng ta cùng chiết tự chữ học. Học là một công việc đòi hỏi sự nghiêm túc của cả thầy lẫn trò. Chữ Học hiện rõ hình ảnh dưới mái nhà: Thầy đứng trước và trên các học trò với roi trúc trên tay khi giảng bài để giữ bầu khí học tập nghiêm túc; các cậu học trò thì ngồi ngay ngắn lắng nghe.

Theo kết quả những nghiên cứu cho biết, học trò ngày nay thường không tiếp thu kiến thức tốt, không phải vì kém thông minh mà vì không nghiêm túc lắng nghe giảng bài. (Mạo muội phân tách chữ HỌC: H+O+C = Hiểu biết + Ôn luyện + Cần mẫn), hiểu học như vậy sẽ dẫn đến cố gắng Hiểu, đã hiểu nên ham thích để Ôn đi ôn lại, và từ ham thích mà Chuyên cần hơn, nên kết quả học tập không chỉ là những chỉ tiêu hình thức kém chất lượng. (Chúng ta sẽ cùng chiết tự chữ Giáo vào số tháng mười, có Ngày Nhà Giáo).

Nhân năm học mới, mến chúc các em trong độ tuổi đến trường biết nghiêm túc hơn trong các giờ học trên lớp. Hãy lắng nghe thầy cô giảng để có thể hiểu bài học ngay tứ trên lớp, như vậy mới có thời giờ để mở rộng thêm khi học ở nhà. Đừng tự mãn mà xao lãng trong giờ nghe giảng, cho là mình đọc sau sẽ hiểu. Thật sai lầm! Trong khi thầy cô hơn hẳn chúng ta cả cái đầu, giảng mà chúng ta còn không hiểu thì làm sao tự chúng ta đọc mà có thể hiểu đúng được. Học chính là cố gắng Hiểu, rồi Ôn đi ôn lại, với sự Cần mẫn nhé. Hoa quả của việc học không chỉ là để BIẾT mà là đế SỐNG vậy. Chúc công việc học tập thành công.

Thân ái,

Lm. JB. Trần Đinh Tử.

 

CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG

Phần II

 

Con người bằng cách nào có thể biến môi trường ngày tốt hơn? Môi trường tác động trên con người là điều hiển nhiên trong cuộc sống này như ta đã đề cập đến ở phần I. Nhưng con người có thể tác động trên môi trường, biến đổi môi trường ngày một tốt hơn không?  Muốn làm được thế, con người cần phải làm gì? Đây là vấn đề quá rộng lớn, ta không thể bàn hết trong một sớm một chiều với năm mười trang viết. Lịch sử của nhân loại với sự góp sức của bao lớp người, bao tôn giáo và của những nhà khoa học, những bậc thánh nhân đã cho thấy con người có khả năng làm biến đổi môi trường tốt hơn, và cũng chính con người đã làm cho môi trường hủy hoại và xấu đi.

Từ những nhà khoa học chân chính trong mọi lãnh vực như nhân năn, xã hội, tự nhiên; toán lý hóa, sinh học, y học, địa lý, thiên văn, đến các nhà tu đức chân chính, hiền triết, các nhà văn; qua bao đời, đã ngày đêm nghiên cứu, làm việc, có khi hy sinh cả mạng sống mới phát minh ra được bao điều hữu ích đem đến cho nhân loại một nền văn minh tiến bộ vượt bực về: Giao thông, thông tin, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội, y học như ngày nay. Những giá trị đạo đức từ: Nhân, lễ, nghĩa, trí tín của Khổng Mạnh đến từ, bi, hỷ, xả của Phật giáo; tiếp đến là công bằng, bác ái, yêu thương, Tám Mối Phúc của Công Giáo thời Tân Ước và 10 Điều Răn thời Cựu Ước, đã tạo ra một kho tàng văn hóa đầy tính nhân văn cao đẹp, vô giá giúp cho con người sống có kỷ cương, ngày một hạnh phúc hơn, xã hội ngày một phát triển và văn minh hơn.

Nhưng cũng chính con người đã tạo ra những cuộc đối đầu âm thầm, hay những cuộc chiến tàn khốc với nhau, gây bao đau thương chết chóc cho nhân loại khắp mọi nơi trên thế giới như trong hai cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918 và 1939-1945, đã làm hàng chục triệu người chết và tàn phế, và còn biết bao cuộc chiến khác đã cướp đi phần hạnh phúc của con người, đẩy con người vào vùng tăm tối, lao đao, chết chóc, tuyệt vọng. Từ nhiều đời nay và ở khắp nơi, con người đã có biết bao giải pháp từ chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự hầu mong giúp thế giới được hòa bình, nhân loại được hạnh phúc. Nhưng hiện thế giới vẫn còn nhiều nơi đang chiến tranh, bao người vẫn sống trong bất an, phập phồng lo sợ. Hiện tại, các tôn giáo, trong đó có nhiều đoàn hội, phong trào đang ra sức tìm mọi giải pháp với mong ước thực hiện được lý tưởng của đạo giáo của mình là đưa thế giới đến bình an, con người được hạnh phúc đời này và đời sau. Đó là điều thật quí và đáng trân trọng biết bao! Ở đây, trong phạm vi thật khiêm tốn, chúng tôi chỉ xin nêu một sự cố gắng của Phong Trào Cursillo, một Phong Trào của Giáo Hội Công Giáo hầu tìm được hạnh phúc cho con người.

Theo cách nhìn của phong trào Cursillo con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống là nguyên nhân chính làm cho thế giới bất ổn, con người không có hạnh phúc đích thực. Để cứu vãn con người và thế giới, Tâm tưởng còn gọi là tâm thức của phong trào Cursillo là “Loan truyền tin hay nhất về một thực tại đẹp nhất, đó là Thiên Chúa yêu thương chúng ta; được truyền đạt bằng phương tiện tốt nhất là tình bạn; hướng tới phần thiện hảo nhất của mọi người. Ấy chính là việc làm người có khả năng: xác tín, quyết định, trung kiên”. Tâm tưởng đó được làm rõ hơn:

Ý thứ nhất Tâm tưởng của phong Trào Cursillo là làm cách nào để mọi người nhận ra được Tình Yêu bao la vô bờ bến của Thiên Chúa. Dù họ có nhận hay không nhận thì Thiên Chúa cũng đã dựng nên họ, chịu chết và sống lại vì họ và Ngài vẫn tiếp tục ban muôn Hồng ân trên họ, mà trung tâm là Phép Thánh Thể. Chúa hứa ở với ta đến tận thế.

Ý thứ hai Tâm tưởng  của phong trào là bằng chính đời sống  chứng nhân gương mẫu của người cursillista (Người Kitô hữu đã đựơc tham dự khóa 3 ngày của phong trào Cursillo) sẽ giúp cho người bạn của mình hiểu ra, và tự nguyện trở về với Thiên Chúa Tình Yêu.

Ý thứ ba tâm tưởng của phong trào là tin tưởng và hy vọng vào lòng sốt mến, nhiệt thành sẵn sàng của mỗi Cursillista. Sau khi được tuyển chọn để học khóa 3 ngày, trở về môi trường họ đang sống, họ sẽ xác quyết, quyết định và trung kiên là men, là muối trong môi trường mình sống và “làm dậy men tinh thần Kitô giáo trong xã hội bằng tình bạn”. Họ đưa những người bạn thân thiết của họ từ chưa biết hoặc chống đối loại trừ Thiên Chúa trở về với Thiên Chúa và nhận ra: chỉ có Chúa Kitô là giải pháp duy nhất cứu được nhân loại khỏi sự phong tỏa của tội lỗi. Tội lỗi là nguyên nhân sâu thẳm của mọi bất an, của hận thù, của đố kỵ, của chiến tranh. Họ, từng nhóm năm ba người tạo ra cột sống Kitô giáo trong xã hội, họ luôn “một tay nắm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh em” như phương chăm của phong trào đề ra.

Mới đây, ngày 30 tháng 04 năm 2015 tại Đại thính đường Phaolô VI ở Vatican, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gặp gỡ, khích lệ và nhắn nhủ hơn 7000 anh chị em cursillistas Châu Âu tham dự Đại Hội Ultreya lần thứ 3. “Ultreya có nghĩa là đi ra ngoại biên, hãy đi xa hơn nữa! Luôn đi xa hơn!”. Ngài nhắn nhủ: “Tôi khuyến khích các anh chị hãy “luôn đi xa hơn” trung thành với đoàn sủng của mình! Hãy giữ cho lòng nhiệt thành, ngọn lửa của Chúa Thánh Linh luôn thúc đẩy các tín hữu Chúa Kitô tìm đến những người ở xa, ra khỏi cuộc sống tiện nghi thoải mái của mình và có can đảm đi tới mọi khu ngoại ô đang cần đến ánh sáng Tin Mừng”. Và Ngài còn nhắc nhở các Cursillistas cần thực hiện 14 mối thương người của đạo Công Giáo. Đức Thánh Cha nói: “Tôi sẽ đặt một câu hỏi cho anh chị em: anh chị em có thể đọc 7 việc thiện phần xác và 7 việc thiện phần hồn không? Thương xác bảy mối: Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn; Thứ hai: Cho kẻ khát uống; Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc; Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc; Thứ năm: Cho khách đỗ nhà; Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi; Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết. Thương linh hồn bảy mối: Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người; Thứ hai: Mở dạy kẻ mê muội; Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo; Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội; Thứ năm: Tha kẻ dể ta; Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta; Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết”. Rồi Ngài nói: “Có bài tập cho anh chị em về nhà làm: đi tìm và học các việc thiện. Tại sao? Để mang các điều này ra thực hiện. Trong cộng đoàn Giáo Hội, tất cả đều nhằm mục đích để người ta có thể sờ mó được lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa”. Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Roma: “Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần khí của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể thấy được qua những công trình của Người” (Rm 1, 20).

                                                   Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

GIÁO DÂN

 

SỐNG ĐẠO ĐANG BÁO ĐỘNG

Đức An

 

Nhìn vào cuộc sống đạo ngày nay nói chung và giới trẻ nói riêng, chúng ta không khỏi ưu tư và đau lòng. Phải chăng, lòng đạo đức đang bị xuống dốc, tinh thần giữ đạo theo hình thức được phổ biến, chủ nghĩa duy vật đang gặm nhấm đức tin bị sói mòn. Tôi xin gợi ra một số hình ảnh, mà ta tạm gọi là “biến chứng của xã hội”, và coi đó là những hiệu chứng.

Hiệu chứng thứ nhất: số người thất nghiệp ở nông thôn lên thành phố để kiếm việc làm. Cuộc sống thành thị hoàn toàn khác ở nông thôn: Vẻ hào nhoáng và ăn chơi tự do khiến họ ngỡ ngàng, nhưng rồi họ cũng dễ bắt kịp và mau hòa nhập. Chủ nghĩa “thực dụng” khiến họ dễ biến chất. Vẻ thật thà chất phác của người nông dân không còn, lại kéo theo cả niềm tin Kitô giáo.

Hiệu chứng thứ hai: Số người còn lại tại nông thôn đành bám lấy đất để sống. Mỗi năm hai vụ lúa cũng đủ sống, còn nói tới làm giầu thì không dám mơ. Ngoài hai vụ lúa phải vất vả trong lúc thu hoạch, còn lại là cả một thời gian dài ăn không ngồi rồi, vì thế phải tìm cách để đốt thời gian. Với tuổi trẻ, họ giải trí bằng cách tìm độ đá gà, đánh bài, nhậu nhẹt. Người lớn giải trí bằng tivi, hoặc sang hàng xóm tán gẫu.

Hiệu chứng thứ ba: Những người chạy lo kiếm tiền, họ gặp cơ hội trở nên mau giầu như diều gặp gió. Thế là phải tìm cách xài tiền, họ vào những nhà hàng sang, những hộp đêm, tổ chức tiệc tùng.

Tóm lại, ba hiệu chứng nêu trên đều có một mẫu số chung: Giữ đạo hình thức và theo luật. Một linh mục tâm sự với tôi: Họ đi lễ ngày Chúa nhật, không biết dùng từ nào cho đúng; đi xem lễ, không đúng; đi dự lễ càng không đúng; đi coi lễ cũng không. Thật tội nghiệp cho Chúa. Đã đến lúc con người phải hồi tâm, hãy mau quy chiếu vào Tin Mừng để Lời Chúa thâm nhập vào tâm hồn sớm trở thành con người mới. Đã đến lúc con người phải phản tỉnh để suy nghĩ về thân phận mình, đừng trì hoãn kẻo không kịp. Vì mỗi người chỉ có một cuộc sống trên trần thế, do đó phải chuẩn bị, nếu không sẽ vô cùng hối tiếc, mà đôi khi sự hối tiếc đó sẽ muôn đời muôn kiếp.

 

 

GIEO GÌ GẶT ĐẤY

Tình cờ vào một buổi sáng nọ, tôi ngồi ăn sáng bên cạnh một gia đình gồm ba mẹ và một đứa con trai khoảng 7-8 tuổi. Lát sau, có một bà cụ với dáng người gầy gò, xanh xao. Nhìn hình dáng của bà cụ tôi đoán bà nhịn đói đã mấy bữa nay. Bà cụ từng bước đi đến các bàn ăn để xin những đồ ăn còn dư, hay xin ít tiền để mua ít lương thực sống qua ngày. Bà cụ cũng từ từ bước đến bàn ăn mà gia đình đang ngồi cạnh tôi để xin. Bà vừa xòe tay xin thì đứa con trai đã vội vàng thò tay vào trong túi móc ra ít tiền lẻ để cho bà cụ. Em vừa định đưa, thì người mẹ ngăn lại và nói: Coi chừng bà già này giả nghèo khổ để lừa gặt đó, con đừng có cho. Đứa bé đang tươi cười, giờ đây nét mặt buồn xụi khi nghe người mẹ nói như vậy. Bà cụ nghe xong cũng phải lê bước chân nặng trĩu rời khỏi chỗ đó.

Chứng kiến sự kiện, tôi không thể không suy nghĩ về cách cha mẹ thời nay giáo dục con em của mình. Dạy sống vô cảm trước những cảnh đời bất hạnh hơn là dạy thương cảm. Dạy sống lạnh nhạt với người xung quanh hơn là dạy có tình có lý. Dạy cách đối phó trước những lừa gạt của người khác hơn là dạy sự chân thành. Dạy sống ích kỷ nhiều hơn là dạy tấm lòng rộng lượng. Dạy cách xòe tay đón nhận chứ không dạy cách cho đi.

Nhìn vào những đứa trẻ ngày nay, tôi có cảm giác như sự hồn nhiên, ngây thơ trong trắng đã biến đâu mất, thay vào đó là sự cảnh giác, vô cảm, khôn mà không ngoan, khôn theo kiểu khôn lỏi. Tuổi thơ là tuổi của sự hồn nhiên, vui chơi với bạn bè, tuổi được sự yêu thương chăm sóc của cha mẹ và người lớn. Thế nhưng, với xã hội chạy theo những nhu cầu vật chất, lối sống cho bản thân, kiểu sống hưởng thụ để đạt được những mục đích cá nhân mà bất chấp sự ràng buộc của đạo đức, của lương tâm, đã đưa con em bạn và tôi phải đặt trên vai những gánh nặng mà chính người lớn như chúng ta áp đặt lên. Từ việc học hành, ăn uống, đi lại đến cả những mối quan hệ bạn bè gần như con cái phải theo sự sắp đặt và quản lý của ba mẹ. Việc chiều chuộng con cái quá mức không phải là cách tốt nhất giúp con cái mình trưởng thành hơn. Và buông thả để con quá tự do cũng không phải là cách tốt nhất để giáo dục con cái mình trở thành người có ích cho xã hội.

Qua sự việc trên, đôi lúc bạn và tôi vô tình hay cố ý đã gieo vào đầu con cái mình cách ứng xử với người khác ngược lại với suy nghĩ của những đứa trẻ. Nhận thay vì cho, ghét thay vì thương, từ chối thay vì giúp đỡ. Như vậy, nguyên nhân chủ yếu vẫn là môi trường giáo dục ngay từ trong gia đình. Ông bà ta vẫn nói: xem quả thì biết cây.  Nhìn con cái là biết cách bố mẹ giáo dục như thế nào. Một gia đình luôn yêu thương, đầm ấm, có nề nếp, gương mẫu thì không có những đứa con hư hay quậy phá. Ngược lại một gia đình một tuần mà cãi lộn đánh nhau sáu ngày, cha say xỉn, mẹ bài bạc, thì không thể có những đứa con ngoan hiền, hiếu học được. Nếu có cũng là tỉ lệ rất thấp.

Đánh giá như vậy không phải để làm cho bạn và tôi nản chí buông xuôi hay tự hào, tự cao. Mà đây là lúc bạn và tôi nhìn lại những khoảng khắc dạy con. Phương pháp thì rất nhiều, kỹ năng sống thì bao la. Quan trọng là bạn và tôi áp dụng vào cuộc sống của chính bản thân và trên con cái bạn và tôi nữa. Giáo dục con cái thành người tốt, người có ích không phải trong một thời gian ngắn mà cả cuộc đời. Không chỉ bằng lý thyết từ môi miệng, nhưng phải là từ thực hành, những gương mẫu từ bố mẹ, của những người lớn có trách nhiệm giáo dục. Nuôi con đã là khó, dạy con nên người tốt thì càng khó gấp bội. Nhà triết học Michael Smile có nói: Nếu bạn gieo suy nghĩ bạn sẽ gặt hành động. Nếu bạn gieo hành động bạn sẽ gặt thói quen. Nếu bạn gieo thói quen bạn sẽ gặt tính cách. Nếu bạn gieo tính cách bạn sẽ gặt số phận.

Bạn và tôi là những Kitô hữu có đức tin vào Thiên Chúa. Lịch sử Giáo Hội đã để lại cho bạn và tôi rất nhiều cách thức giáo dục con cái nên người tốt. Đó là kim chỉ nam cho bạn và tôi đưa vào cuộc sống để dạy dỗ con em. Và nhất là ơn Chúa. Nếu chỉ dựa vào sức mình thì kể như muối bỏ biển. Nếu bạn và tôi biết dựa vào những khả năng, kiến thức bên ngoài và bằng đời sống nội tâm từ bên trong, chắc hẳn bạn và tôi sẽ tìm ra được cách giáo dục con cái mình trở thành những đứa con ngoan hiền như Chúa Giêsu ngày xưa. Bạn và tôi hãy thật sự quan tâm để giáo dục con cái ngay từ nhỏ, cả bằng những lời nói, gương sáng và hành động của bạn và tôi. Từ đó những đứa trẻ sẽ thấy và làm theo những gì mà bạn và tôi đã làm trong cuộc sống. Gieo gì thì sẽ gặt đấy bạn nhé.

 

Vs. Lê Đình


TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

ĐẾN NHÀ THỜ

 

Không biết từ bao giờ, những người có con đi tu được gọi là ông cố, bà cố. Lại có hai loại cố phân biệt: Cố đứng là người có con trai đi tu triều hay dòng, cố ngồi là người có con gái sống đời thánh hiến. Ông cố Vinh là ông cố ngồi. Qua cơn tai biến mạch máu não, nhờ Lòng Thương Xót, dù ông cố Vinh chẳng có chút của ăn của để nào, nhưng mấy đứa con ông tuy không khá giả gì cho cam, cũng không để ông thiếu thốn, lại may mắn gặp thầy gặp thuốc, nên sức khỏe của ông nhanh chóng hồi phục, trí nhớ dần dần trở lại với ông. Mỗi tối, cứ nhắm mắt lại, là quá khứ ấu thơ lại ùn ùn kéo về, ngồn ngộn trong trí não ông. Ông nhớ hết những chuyện ngày xưa còn bé. Nào là những lần bắt cá thia thia bọt, lấy chai đựng rượu của bố thả cá, bị bố đánh. Nào là những lần bắt chuột đốt đồng, bắt cua mưa đầu mùa, bắt cá lung mỗi cơn hạn bà chằng. Nào là mỗi lần xay cà phê bằng cái cối xay tiêu cho cha Phêrô Bùi Minh Chúc, được cha cho hai đồng (hai đồng ngày ấy đối với ông, là cả một gia tài). Nào là mỗi lần giúp lễ, uống vụng rượu lễ bị cha Giuse Nguyễn Hưng cốc cho u đầu (Quái lạ! nghịch ngợm, phá phách thế, mà cha vẫn thương như con, là thế nào, nhỉ?). Nào là những lần đi học, giờ ra chơi tắm truồng bông nhông ở cầu nhà thờ bị thầy giáo Thận bắt gặp, giấu nhẹm quần áo, làm mười mấy đứa tồng ngồng vào lớp, làm trò cười cho đám con gái.

Đó là những chuyện của non sáu mươi năm về  trước, ông không quên gì hết. Nhưng ông không thể nhớ nổi ông đã ăn cơm tối chưa, đã uống thuốc chưa, đã đọc kinh tối chưa. Cái khổ của ông còn là nửa người bị tê liệt, không cử động được, nên không tự phục vụ được. Mọi chuyện từ viên thuốc, miếng cơm, hớp nước, đến việc vệ sinh cá nhân, tất tất đều phải trông nhờ người khác. Đã có lần ông thầm thưa với Chúa, xin cất ông về để đỡ làm khổ con cháu. Nhưng ông nghĩ lại, việc sinh tử nằm trong tay Chúa, ông tự trách mình thiếu lòng cậy trông. Ông mặc cả với Chúa:

- Con xin vui lòng vác Thánh giá Chúa gởi. Để xin cho con cháu con được ơn Bình-an-của-Chúa.

Đó là cái khổ về thể lý. Cái khổ nội tâm làm cho ông còn đau đớn hơn nhiều. Vì tuy bị bán thân bất toại, nhưng trí óc ông còn minh mẫn, miệng ông còn nói được dù ngọng nghịu như trẻ tập nói, đôi tai ông còn thính, đôi mắt ông còn tinh tường. Ông nhìn thấy hết, nghe thấy hết, kể cả những xích mích, những bất hòa của lũ con. Nên ông hiểu ra Thánh giá của ông là tuổi già bệnh hoạn, còn Thánh giá của con cháu ông lại là chính ông. Vì thế, ông không có bất cứ một đòi hỏi nào với con cháu. Ngày con gái út của ông, sơ Rosa thuộc hội dòng Đa Minh miền Bà Rịa, về thăm, mua cho ông bao nhiêu là quà. Người chị dâu rỉa rói:

- Cô cho ông ăn toàn những của ngon vật lạ, toàn đồ bổ dưỡng. Có gì thì cô lo vệ sinh cho ông đấy nhá!

Cô Út nhẫn nhục, không một chút khó chịu, tươi cười với chị dâu:

- Chị vất vả quá. Em cám ơn chị nhiều lắm. Vâng, chị nghỉ ngơi đôi chút, em sẽ chăm sóc bố suốt kỳ nghỉ của em.

Sơ Rosa chăm sóc ông cố kỹ càng, bài bản như một chuyên viên y tế. Sơ hiểu được sự vất vả của người chị dâu nhà quê nên càng thông cảm, kính trọng và quý mến người chị dâu hơn. Ngoài vai trò của một chuyên viên, sơ còn chăm chút cho ông cố bằng tấm lòng biết ơn của một người con hiếu thảo, và nhất là bằng tình yêu trong Chúa. Nhờ vậy, ông đã thổ lộ với sơ những yêu cầu, những mơ ước dù rất nhỏ nhoi. Một lần ông cố nói với sơ:

- Con có biết rau dền gai không? Ngày ấy bố học lớp Đệ Nhất ở trường Phụng Sự. Cha giám đốc Đa Minh Nguyễn Văn Lãng (Sau này là Đức giám mục Xuân Lộc) thương mấy đứa học sinh nhà nghèo dưới kênh, cho ở nhờ nhà kho. Bố thường hái rau dền hoang, đầy gai, luộc, chấm nước mắm cá linh mang dưới nhà lên. Ngon lắm, ngọt lắm, bùi lắm. Bố thèm quá, nhưng bố nói vậy thôi, không đòi ăn đâu nhé.

Sơ Rosa cúi đầu xuống chiếc xe lăn:

- Bố còn thích gì nữa không?

Ông cố chớp chớp mắt nhìn con, khát khao:

- Bố là thành viên gia đình Tận hiến Đồng công. Nếu bố có mệnh hệ nào, các con nhớ phải ghi tên thánh của bố là Giuse Maria đấy. Ngày 15 tháng 9 này là ngày kính Đức Mẹ Sầu Bi (Bố không thích chữ “bi” này lắm, vì Mẹ có thể sầu khổ, sầu đau, chứ Mẹ không “bi” bao giờ), bố mong được tham dự Thánh lễ mừng quan thầy gia đình Đức Mẹ giáo xứ mình một lần nữa, một lần nữa thôi, có khi là lần cuối trong đời.

Cả nhà chuẩn bị cho ông cố đi lễ còn hơn người ta chuẩn bị cho chú rể ngày thành hôn. Ông cố được mặc quần áo mới tinh, còn thơm mùi vải. Anh Cả xỏ cho ông đôi giày mới bóc tem. Sơ Rosa chải chuốt cho ông, gắn huy hiệu Gia đình Đồng công lên ngực áo, lại còn lục lọi trong tủ, mang ra thắt cho ông chiếc cà vạt từ ngày đám cưới của ông bà cố, cài lên chiếc kẹp cà vạt hình trái tim có hai chữ VH, viết tắt tên Vinh-Hoa của ông bà cố. Sơ Rosa tự tay đẩy xe cho ông cố. Người ta đang cải tạo, nâng cấp con đường quê ngang qua nhà ông cố và nhà thờ. Đất đỏ được chở từ nơi khác về làm nền đường. Xe cơ giới ì ầm, gầm gừ suốt ngày. Bụi đỏ phủ lên mọi thứ, mái nhà, sân, vườn, cây cối, nhất là đám muống rừng trồng ở ven kênh để giữ bờ thì không ai còn nhìn thấy một chiếc lá xanh nào. Nhìn rặng hoa muống rừng nở rộ trong ánh nắng ban mai như rừng hoa, tím trắng, sạch sẽ, thanh khiết, ông cố xót xa:

- Chúa là Đấng hoang phí vô cùng. Đám hoa dại đẹp như thiên đàng thế kia mà sớm nở, tối tàn, nắng lên là bụi đỏ che lấp hết, không còn gì, có phí của giời không?!

Nhìn các em Thiếu nhi Thánh Thể quàng khăn đủ màu, hồng nhạt, lá mạ, xanh lơ, vàng, đỏ, và nhìn anh chị em Gia đình Tận hiến nườm nượp  tiến về nhà Chúa, ông cố cười tươi như chưa bao giờ. Ông lẩm bẩm câu nói của bà cụ già trong phim Sám Hối: “Nếu đường này không dẫn tới nhà thờ thì quả thực là vô ích”. Tới sân nhà thờ, ông chợt thấy thất vọng. Nhà thờ xứ mới được cung hiến năm ngoái, được xây dựng theo kiểu mới. Tầng trệt đựợc dùng làm hội trường và các phòng hội họp. Tầng trên mới thực là nhà thờ. Muốn lên nhà thờ, người ta phải đi lên mấy chục bậc thang, ông không thể lên được. Ông có cảm tưởng như mình bị loại trừ, nhà thờ là của những người khỏe mạnh chứ không phải của ông. Ông ước ao:

- Phải chi có ai khiêng mình lên trên nhà thờ nhỉ? Nhưng mình làm phiền con cái chưa đủ sao, còn làm phiền các anh chị ấy làm gì?

Rồi ông nói với sơ Rosa bằng một giọng buồn buồn:

- Con đẩy bố tới chỗ bóng râm của tượng thánh Giuse kia kìa. Bố đành tham dự thánh lễ hàm thụ bằng tai qua mấy cái ô pạc lơ kia vậy. Đã đến Cửa Thiên Đường (vì trên vòm cửa nhà thờ đắp nổi ba chữ Cửa Thiên Đường) mà không được vào, xót xa lắm chứ!

Thánh lễ đã bắt đầu, ông nhìn ra chung quanh sân nhà thờ. Chỗ kia một cặp tình nhân đùa giỡn nhau cười khúc khích. Chỗ khác mấy chú choai choai thi nhau phì phèo điếu thuốc lá thơm. Ngay trước mặt ông, mấy cô gái tuổi teen đang mổ mổ quẹt quẹt lên chiếc smartphone. Xa hơn, một ông trung niên đang gọi điện thoại a lô inh ỏi. Sau lưng ông cố, mấy ông xồn xồn oang oang chứi tục rồi cười phá lên. Ông tiếc nuối:

- Giá mà mình đổi được một giờ đồng hồ của mình với họ, mình sẽ vào nhà thờ ngay, có khi mình lên hàng ghế trên cùng ấy chứ, càng gần bàn thờ, càng gần Chúa càng tốt.      

Ông lại nhớ tới lời bà cụ trong phim Sám Hối: “Nếu đường này không dẫn tới Nhà thờ thì quả thực là vô ích”. Rồi ông cau mày:

- Nhưng đến nhà thờ mà không gặp Chúa thì cũng chẳng lợi ích gì!

Hình như có một giọt nước to đùng lăn trên má ông, chắc là một giọt nước mắt.                    

lãongu

 

 

 

 

LOÀI NGƯỜI CHẲNG ĐỜN ÔNG

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Vào một đêm trăng sáng, có một tốp các bà các chị quyết đi vào rừng trúc, tìm cho được Nguyệt lão, hầu trình bày nỗi khổ của mình. Nhìn thấy các bà các chị hùng hổ tiến đến, xem chừng Nguyệt lão cũng run. Để giữ bình tĩnh, Nguyệt lão bèn vuốt chòm râu bạc, rồi hắng giọng nói: Các ngươi muốn xin gì? Tất cả đều nhất tề thưa lên: Chúng tôi muốn dứt bỏ cái sợi chỉ đỏ mà ngày xưa ngài đã buộc chân chúng tôi với chân những lão ấy, để trở thành vợ thành chồng với nhau. Một chị khác, xem chừng như một cô đào cải lương, đã vội ngâm mấy câu thơ sau đây:

- Lấy chồng, lấy phải chồng ghen,

  Như đeo trên mắt cục ghèn hổ ngươi.

  Lấy chồng, lấy phải chồng lười,

  Một mình gánh cục nợ đời nặng vai.

  Nguyệt lão bèn trầm ngâm suy nghĩ rồi nói: Vậy ý các ngươi như thế nào? Một lần nữa, tất cả đều nhất trí và đồng ý: Xin ngài hãy làm cho bọn đờn ông biến khỏi mặt đất này, để chúng tôi thực sự được giải phóng và hạnh phúc. Một chị bèn thỏ thẻ:

- Ước chi không có đờn ông,

thì em đâu phải tay bồng nách mang.

Nguyệt lão gật đầu: Ta sẽ cho các ngươi được phỉ chí toại lòng. Nói rồi, Nguyệt lão giơ cây gậy trúc và hô: Đờn ông con giai biến. Và thế là kể từ giây phút trọng đại ấy, chẳng còn một mống đờn ông con giai nào trên mặt đất này cả. Và lịch sử bắt đầu một kỷ nguyên mới.

Một tác giả tên là Kim Hương đã ghi nhận buổi bình minh của kỷ nguyên mới ấy như thế này: Sáng hôm đó, tôi thức dậy hơi bị sớm, bỗng phát hiện ra một việc là ông chồng mập nằm kế bên mình bị “mất tích”. Chà, không biết ổng đi đâu sớm thế, chứ bình thường cũng phải hơn bảy giờ mới ra khỏi giường. Tôi lo lắng chạy bay ra đường nghe ngóng coi có tin tức gì của chồng mình không. Ai ngờ, vừa ra tới ngoài đường, tôi thấy rất nhiều bộ dạng của những người phụ nữ: Già có, trẻ có mà sồn sồn cũng có; quần áo tươm tất có và cả đồ ngủ cũng “xuống đường”. Hỏi ra mới biết, tất cả các lão chồng đều biến mất. Đầu tiên ai cũng tỏ ra lo lắng, không biết chồng mình đi đâu hay bị “bắt cóc?” Nhưng nhìn qua nhìn lại, thấy bà nào cũng bị mất chồng, nên mọi người đều nghĩ: Chừng nào chồng họ xuất hiện, thì tất chồng mình cũng thế, chẳng sợ. Và cứ  vậy mà yên chí lớn, ai về nhà nấy.

Thật sung sướng không sao kể xiết khi bắt đầu một ngày mới không có đờn ông. Tôi lên kế hoạch đàng hoàng, chẳng phải lo đồ ăn sáng cho “ổng”, đỡ tốn thêm cái khoản cà phê, thuốc lá. Lại nữa, đi chợ thích gì ăn nấy, không phải đắn đo suy nghĩ coi ổng thích ăn món chi? Và không gì bằng đi siêu thị mà không sợ ai to mồm rằng “mua gì lắm thế”. Đã thế lại còn tiết kiệm được khá nhiều tiền, khi không cần đến mỹ viện để làm gầy, lại còn được tha hồ ăn, chả sợ béo, chả sợ ai chê là mập. Và không phải giả bộ cười khi thấy bản mặt “dễ ghét” của ổng. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao! Mới tính toán sơ sơ thôi, mà tôi đã cảm thấy lâng lâng, dễ chịu và thoải mái vô cùng. Tôi sẽ trở lại thời con gái, thời mà tôi chưa bị đờn ông đem nhốt vô lồng với bao nhiêu công việc không tên bù đầu bù cổ. Nhưng từ đây, tôi và các chị sẽ đổi thay hoàn toàn, tự do hoàn toàn. Tôi đã chuẩn bị “tư thế mới” để bắt đầu lăn xả vào cuộc sống không đờn ông. Hầu như tất cả quí bà quí chị đều hăm hở lên chương trình cho cuộc sống riêng, cũng như cho khoảng trời riêng của mình.

Ban sáng ta có thể nằm ngủ nướng mặc sức, chả phải dậy sớm mà chui vào bếp. Cứ việc thoải mái cho tới khi mặt trời xỏ lỗ mũi cũng chẳng hề hấn gì. Nếu muốn thì đánh răng rửa mặt, còn không thì cứ việc đầu bù tóc rối, có ai để ý đâu mà sợ. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao! Nếu thích trang điểm, thì ta cứ việc ngồi vào bàn, tô son trét phấn mặc sức. Cứ việc vô tư biến khuôn mặt mình trở thành khuôn mặt của dân phường chèo cũng vẫn là hết ý. Rồi sau, đó ướm thử hết bộ này đến bộ kia, bộ nào ưng ý nhất thì khoác vào thân, cho dù bộ ấy có “một phần da ba phần thịt”, cũng chẳng sợ ông xã nhăn mặt. Ôi cuộc đời mới tuyệt  làm sao! Còn nếu mắc chứng bệnh “lươi huyền mãn tính”, thì ta cứ việc để nguyên bộ đồ ngủ mà đi lại trong nhà, hay xuống phố mà chẳng cần đeo vào mình những thứ phụ tùng lỉnh kỉnh. Thật là nhẹ nhõm. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao! Không phải chui đầu vào bếp nấu nướng cho ông xã đã đành, mà ta còn tha hồ xơi theo sở thích của mình. Muốn gì xơi nấy. Thậm chí có thể anh dũng ngồi bên vỉa hè, húp chùn chụt một lúc vài tô bún riêu, hay vài tô bún ốc cho đã thèm, cho khoái khẩu mà chả sợ ma nào chê. Ta cũng có thể rít một hơi thuốc lá, rồi thả hồn mơ theo làn khói. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao! Ta có thể ngồi hát karaoke hết bài này sang bài khác, từ những bài tình cảm ướt át cho đến những khúc “quân hành ca” thật oai phong lẫm liệt. Ta không sợ giọng hát vượt thời gian của ta hành hạ, làm rúng động con tim và làm điếc lỗ nhĩ của hàng xóm, bởi vì hàng xóm gần gũi nhất của ta, lão đã biến mất tiêu rồi, đâu còn nữa. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao! Ta có thể bật đầu máy coi hết những bộ phim tình cảm lâm ly bi đát  nhiều tập của Hồng Kông hay của Hàn Quốc mà chẳng sợ bị một ai phá đám. Xem từ sáng đến tối cho thỏa cơn ghiền, khi nào  mắt mờ và tai lùng bùng mới thôi. Ôi cuộc đời mới tuyệt  làm sao! Ta có thể mải mê đọc những tờ báo lá cải, “ngâm kíu” từng vụ án cướp bóc, nhất là từng chuyện tình éo le, từng cuộc đánh ghen, ngay cả những tin xe cán chó, ta cũng chẳng bỏ qua, để rút tỉa những kinh nghiệm quí giá, làm giàu cho đầu óc và làm đẹp cho bản thân. Ôi cuộc  đời mới tuyệt  làm sao! Ta có thể kéo nhau sang nhà bà hàng xóm, tụm năm tụm ba đấu hót vung vít. Tha hồ cà kê dê ngỗng, kể tội bọn đờn ông, từ lão này sang lão khác. Hết chuyện phe địch thì lại bắt quàng sang chuyện phe ta. Nào là nhỏ này dễ ghét, nào là nhỏ kia chả ra cái thể thống gì. Ngôn ngữ tuôn trào rông rổng. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao! Ta còn có thể lôi nhau đi “shop”, ngắm hết gian hàng này đến gian hàng kia. Tha hồ mua sắm mà chẳng phải dè chừng cặp mắt cú vọ của lão chồng keo kiệt, hay những tiếng thở dài của tên bồ mắc chứng bệnh than trầm trọng. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao! Rồi khi màn đêm buông xuống, ta cứ việc nhảy phóc lên giường đánh một giấc cho đẫy con mắt, mà chẳng sợ bị ai khều, ai gọi. Rồi sáng hôm sau, một ngày tuyệt vời vắng bóng đờn ông con giai lại được bắt đầu. Và cứ thế, cứ thế. Ôi cuộc đời mới tuyệt làm sao!

Thế nhưng, sau những quá độ đầy phấn chấn này, thời gian như ngừng đọng, không gian như đi vào một mùa đông ảm đạm. Người ta bỗng thấy quí bà quí cô trầm hẳn xuống. Ít cười và ít nói. Hình như ai cũng anh ách một bầu tâm sự riêng tư.

Bước ra khỏi giường, nhìn thấy xấp nhỏ ngây ngô và ngơ ngác, bởi vì toàn là “vịt giời”. Ta bỗng dưng tiếc nhớ những cái nghịch ngợm của mấy thằng nhóc, phá phách như quỉ sứ. Bực bội đấy nhưng mà lại vui. Còn xấp nhỏ hôm nay ngơ ngác là do không có cha. Con mà không cha thì  như nhà “không có nóc”. Tự thâm tâm ta nghiệm ra rằng đờn ông là như cây tùng, cây bách phủ bóng mát xuống cuộc đời và là chỗ dựa tốt cho con cái cũng như cho bản thân ta nữa, nếu như “lão” không quá xệ. Thực vậy, không có đờn ông con giai trong nhà, bóng đèn tắt không ai thay, cầu chì hư không ai sửa, bàn ghế gẫy chẳng ai thèm lấy đinh ra đóng. Ta mà cầm cái búa, thì cứ lóng nga lóng ngóng. Đầu đinh không đóng, chỉ chực đóng xuống ngón tay. Hồi trước ấy hả? Bao nhiêu việc nặng nhọc, ta khoán trắng cho bọn đờn ông con giai. Chỉ cần cười ruồi một phát, hay cho bọn họ uống tí nước đường bằng một lời khen là xong tuốt luốt. Nặng nhọc đến mấy, họ cũng vẫn làm hùng hục, lại còn cảm thấy thích thú và khoái chí nữa. Thế mới chết. Sao mà họ mà ngu quá đỗi vậy!

Ngoài ra do ăn uống thả giàn, không cần kiêng khem, thân thể ta cứ liên tục phát triển bề ngang. Lúc này eo ếch mà làm chi. Không còn đờn ông con giai thì ta cần chi mà phải làm đẹp. Bởi vì có làm đẹp thì cũng chẳng ma nào ngắm và xuýt xoa khen tặng. Thôi thì hãy vứt quách nó đi áo quần thời trang, giày dép “mô đen”, son phấn đủ kiểu. Bị ăn theo vào đó, các thẩm mỹ viện cũng như các tiệm uốn tóc, sửa móng tay móng chân đều tự động “phẹc mê bu tích”, có nghĩa là đóng cửa, giải nghệ, kiếm việc khác làm mà kiếm sống…

Lúc bấy giờ ta thầm ước có một gia đình để mà ra công chăm sóc. Gia đình ấy có một bờ vai vững chắc để tựa vào, hầu tìm lấy một sự chở che, một sự cảm thông và một sự chia sẻ. Ta lấy làm tiếc xót, chỉ vì sự nghiệp giải phóng mà ta đã nỡ bẻ gẫy cái gông đeo cổ.  Ta lấy làm đớn đau, chỉ vì muốn đòi quyền sống cũng như muốn được bình đẳng với bọn đờn ông con giai, mà ta đã lỡ phá hủy cái chương trình muôn thuở của đất trời. Ta lấy làm hối hận, chỉ vì nghĩ rằng không gì quí hơn độc lập tự do mà ta đã dại dột xin Nguyệt lão hô biến đi tất cả bọn đờn ông con giai:

Ôi, giá mà ta được làm lại từ đầu. Ôi, giá mà! Giá mà!

 

 

 

 

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH

5

 

Vẫn từ hoàn cảnh gia đình nó.

Nó được sống trong một gia đình trung nông, không giàu cũng không nghèo. Khi nó có trí khôn, thì biết được mẹ nó đang là lao động chính trong nhà. Một mình mẹ vừa làm ruộng, vừa nấu rượu và nuôi heo. Mẹ dạy chúng tôi giá trị của lao động và qua lao động để sống, để lớn lên và để thành người.

Anh chị em chúng tôi, dưới sự giáo dục của mẹ, răm rắp mỗi đứa một việc, không léng phéng gì hết. Xong việc mới được đi chơi. Và đi, thì phải nói đi đâu và bao lâu phải về chứ không kiểu ê a, lêu lỏng, cà lơ phất phơ... muốn tới bao giờ thì tới. Đây chính là điều mà nhiều khi nó mắc cỡ với anh em chúng bạn, đang chơi vui, phải về; đang chơi vui, bị gọi về… và đã nhiều lần nó gắt gỏng, khó chịu, càm ràm, giận dỗi với mẹ nó.

Nhưng nó đâu biết rằng mẹ nó có cách giáo dục của mình. Mẹ trông xa thấy rộng, lo lắng và muốn cho con cái nên người, người ngoan, người tốt. Hơn nữa, nó đâu biết rằng hoàn cảnh gia đình nó khác hoàn cảnh gia đình lối xóm, nên không thể lấy gia đình khác và anh em bạn bè lối xóm mà đưa vào nhà nó hay áp dụng cho chính nó được. Tính của nó hay để ý, đi đâu, thấy gì, nó đều so sánh cách khập khiễng như thế, rồi lại buồn lại tủi, tại sao nhà mình thế này, tại sao mình lại không được như thế kia, tại sao thằng đó, đứa nọ lại được sống trong gia đình giàu như thế. Với sự phản ứng bồng bột và non dại của nó, chắc hẳn nó đã làm cho mẹ nó phải buồn thêm, phải khổ thêm nhiều vì con cái.

Sau này, nhìn lại nó thấy thương mẹ nó lắm. Vì nó hiểu được rằng, chính qua hoàn cảnh của chính gia đình nó; chính nhờ sự giáo dục trong kỷ luật của mẹ nó, đã làm cho nó nên người, người con Chúa và giờ đây đang là linh mục của Chúa. Nó đâu biết rằng, chính nhờ hoàn cảnh gia đình này, nhờ sự giáo dục này đã kết tinh nên con người nó hôm nay. Những gì nó đang sống, đang thể hiện, một cách nào đó là kinh nghiệm nó có được từ chính lối sống, cách ứng xử và giải quyết vấn đề từ chính mẹ nó khi nuôi dạy anh chị em nó.

Tạ ơn Chúa đã cho nó được sinh ra trong gia đình này.

Tạ ơn Chúa đã ban cho nó người mẹ, người cha này.

Tạ ơn Chúa đã đặt nó trong những hoàn cảnh này để huấn luyện nó.

Tạ ơn Chúa đã cho nó biết nhận ra ý nghĩa và đón gia đình và hoàn cảnh của nó, để rồi trong chính gia đình này, cách giáo dục này và hoàn cảnh này, nó mới thực sự là chính nó như nó đang là hôm nay! (Còn tiếp).

Ôi Khanh!

 

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

 

NHÀ THỜ

Cung đàn trầm nhẹ lời kinh,

Cung đàn trầm nhẹ ân tình bao la.

Nhà thờ mỗi sớm chiều sa,

Lâng lâng nhịp khúc hoan ca chan hòa.

Ngọt ngào thắm đượm tình Cha,

Suối nguồn ân phúc mưa sa, dâng đầy.

Chúa ở đây từng phút giây,

Trong nơi Nhà Tạm đêm ngày náu thân.

Chúa ở đây giữa gian trần,

Cho ai tìm đến lãnh phần ủi an.

Tiếng chuông còn mãi trong ngần,

Gọi người lạc bước nhanh chân trở về.

Nhà thờ, cung điện Giavê,

Tình người, tình Chúa tràn trề khôn ngơi.

Là nơi ta gặp Chúa Trời,

Là nơi gặp được bao người anh em.

Thánh Lễ dâng tô đẹp thêm,

Lời kinh hiệp nhất vang lên sớm chiều.

Nhà thờ, Nhan Chúa mỹ miều,

Ba Ngôi ngự trị ban nhiều Thánh ân.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

LỜI KINH TIN YÊU

Con về thắp sáng lời kinh

Trầm ngân vọng tiếng tâm linh ru hồn

Tâm tư sầu lắng, bồn chồn

Chuông chiều vội vã, dập dồn trong tim

Trời cao lạc lõng cánh chim

Rạc rài cánh mỏng bay tìm ước mơ

Lênh đênh lạc bến, xa bờ

Sóng xô, gió cuốn vật vờ tháng năm

Rưng rưng... dấu thánh ăn năn

Lời kinh đẫm lệ, muộn mằn xót xa

Ngước nhìn Thập tự thiết tha

Vô biên tình Chúa hải hà yêu thương

Con về bên Chúa náu nương

Hương kinh tỏa ngát Thiên đường tin yêu.

Jos, Nhật Quang

 

TIẾNG CHUÔNG NHÀ THỜ

Nắng vàng trổ nhạt chiều buông

Hoàng hôn nghe vọng tiếng chuông nhà thờ

Tiếng chuông vừa gọi vừa chờ

Vừa khuyên bổn đạo tới giờ đọc kinh

Nguyện cầu Thiên Chúa hiển vinh

Cậy nhờ Đức Mẹ đồng trinh phù trì

Lầu chuông như có tiếng gì

Nghe như tiếng gió thầm thì bên tai

Chuông vang, trong lễ ban mai

Chuông vui, già trẻ gái trai đủ đầy

Chuông ơi! Chuông có công dày

Khi nào có lễ nơi này ngân nga

Chuông mừng đã giúp các cha

Tĩnh tâm làm lễ Misa ngày thường

Tháp chuông làm đẹp thánh đường

Tiếng chuông hâm nóng yêu thương nguội tàn

Chuông ngân rung lũy tre làng

Nghe như tiếng Nước Thiên Đàng gọi ta.

Phêrô Đào Viết Sang, Gx Mong Thọ

 

NHÀ THỜ

Thánh đường, nơi cử hành Phụng vụ

Đến tham dự, lòng trí hân hoan

Muôn vàn ơn Chúa thương ban

Giáo dân hợp nhất, cộng đoàn yêu thương

Sáng chiều lễ, Thánh đường đông đảo

Mới thấy lòng mộ đạo giáo dân

Tôn thờ Thiên Chúa thành tâm
Ngợi khen, chúc tụng, tri ân hết lòng

Nhà Cha đây, là nơi cầu nguyện

Muôn dân đến, tôn kính Chúa Trời

Sao cho xứng đáng bệ ngai

Uy danh Chúa ngự, trong ngoài chúng ta

Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

 

XỨ ĐẠO QUÊ MÌNH

Quê mình Xứ đạo thân thương

Giáo dân đoàn kết, chung đường dựng xây

Yêu thương hiệp nhất tràn đầy

Giúp nhau thăng tiến, sum vầy ấm êm

Đức tin sống động vững bền

Nết na thánh thiện, tạo nền vươn cao

Niềm vui chan chứa dâng trào

Yêu người, mến Chúa dạt dào tình thân

Quyết tâm hun đúc tinh thần

Tin Mừng thực hiện muôn phần hoan ca

Đồng tâm vui vẻ thuận hòa

Siêng năng dự lễ, thiết tha nhiệt thành

Cùng nhau đón nhận ơn lành

Nẩy sinh nhân đức như cành trổ hoa

Dâng lời cầu nguyện thiết tha

Người người hạnh phúc, nhà nhà Chúa thương

Sáng soi dẫn lối chỉ đường

Đoàn con theo bước thân thương trọn tình…

Hoài Thanh, Gx Ngọc Thạch

 

NIỀM VUI ƠN GỌI

Yêu tha thiết nhưng vẫn còn chưa đủ

Nỗi vui buồn con gói trọn tâm tư

Theo chân Ngài từ giã cảnh phù du

Chỉ có Chúa là tình yêu vĩnh cửu

Con vốn biết dấn thân là gian khổ

Sống cuộc đời phục vụ với yêu thương

Như người đi chiến đấu chốn xa trường

Mà vũ khí là "tình thương" duy nhất

Nhưng con vẫn vui lòng tiến bước

Quyết tận trung với ơn gọi của Ngài

Và thành tâm khấn nguyện cho ngày mai

Nên khí cụ bình an của Thiên Chúa.

 Gx Bình Lộc

 

TIN YÊU TÌNH CHÚA

Đưa chân con bước vào đời,

Vô bờ tiếng gọi, lời mời tương lai.

Bước chân chọn hướng ngày mai,

Trải dài lý tưởng  thiên sai rạng ngời.

Nắng chiều vẫy gọi bên đời,

Toả vùng lửa ấm  mây trời bao la

Tình con dâng Chúa thiết tha

Giữa đời biển khổ xót xa vô bờ.

Đêm thương, đêm đợi, đêm chờ,

Chúa là hạnh phúc con mơ một đời.

Chúa ơi tình Chúa cao vời,

Cho con sống mãi trọn đời tin yêu.

Mic. Nguyễn Văn Xuân

 

 

TẢN MẠN

 

VÙNG TRỜI BÌNH YÊN

Khi cuộc sống của chúng ta bị xen kẽ giữa những mệt nhoài công việc và vật chất phù phiếm, ta muốn tìm về một khoảng lặng cho riêng mình để được nghỉ ngơi và bồi dưỡng lại tinh thần. Có nhiều cách cho nhiều người chọn lựa hình thức nghỉ ngơi cho riêng mình, và khi tìm thấy, họ cho đó là nơi bình yên. Riêng tôi, tôi lại muốn tìm đến một không gian yên tĩnh khác đó không đâu xa lạ với người Công giáo chúng ta, nơi yên bình đó chính là nhà thờ. Từ khi còn bé, vào những buổi trưa oi bức, bọn con nít chúng tôi thường rủ nhau đến nhà thờ để cùng chơi chung với nhau những trò chơi dân gian, vì nơi đây thật mát mẻ vô cùng. Hàng bàng xanh rợp bóng với những tàn lá che phủ toàn bộ không gian Nhà thờ, tạo cho chúng tôi cảm thấy không khí trong lành bình yên đến lạ lùng. Ngây ngất thả hồn vui chơi mà không biết chán, tíu tit cùng nhau leo trèo trên những cành bàng thấp, để rồi trao cho nhau những chiếc lá  và từng trái bàng chín vàng thơm đẹp đẽ. Tuổi thơ của chúng tôi là như thế đó, bình dị nhưng thật là vui.

Mộng uyên, gh Bakhu

 

CHIÊC CẦU NỐI

Từ lúc sinh ra đến giờ, Thiên Chúa đã ban cho tôi ba ngôi nhà. Nhà ở, nhà trường và nhà thờ. Cả ba nơi này đều rất quan trọng cho cuộc sống, tương lai và cả hạnh phúc đời sau của tôi. Nhưng tôi nhận thấy rằng nơi mà cả thể xác lẫn linh hồn tôi cần nhất là nhà thờ. Sau những giờ làm việc, lao động, bon chen với cuộc sống, tôi thường lui tới với sự thinh lặng trong những giờ cầu nguyện, với lời ca tiếng hát dâng lên Chúa trong Thánh lễ. Nhà thờ là nơi bồi bổ tâm hồn tôi, tôi có thể gặp gỡ Chúa cách dễ dàng hơn. Ngoài những việc cầu nguyện, tham gia Thánh lễ tôi còn có thể gặp gỡ anh chị em mình trong những giờ sinh hoạt, làm việc đạo đức và phục vụ... Chính nhà thờ là chiếc cầu nối chúng ta đến với tay người Cha hiền hậu hằng chờ đợi con cái. Vì thế chúng ta hãy cố gắng dành nhiều thời gian để lui tới nhà thờ giáo xứ của mình. Tham gia cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, tham gia vào các hội đoàn, sinh hoạt phục vụ nhằm giúp cho cuộc sống của chúng ta được vui tươi, hạnh phúc.

Têrêsa Thủy Tiên

 

MỘT CÕI RIÊNG TƯ

Đối với tôi, nhà thờ chính là nơi có không gian yên tĩnh nhất, để tôi thả hồn mình trong sự ấp ủ yêu thương của Thiên Chúa chí tôn, đặt mình trước sự hiện diện của Thánh Thể Chúa và nói với Ngài những điều thầm kín trong tâm tư của mình. Như một bài hát đã viết rằng: "Giữa những u hoài và lo lắng ngày mai, giữa những đổi thay được mất hơn thua này, giữa những cuồng say đam mê trần thế này, xin giữ lại một cõi rất riêng tư cho Giêsu, Đấng là nơi náu thân. Một cõi riêng tư trong lòng con luôn dành cho Chúa, một cõi riêng tư trong lòng con Chúa thương ngự trị. Chúa là đỉnh cao nơi con trở lại, để sống trong ân tình nguồn vui phút an bình."

Nguyễn Anh Kiệt, Gx.Đồng Công

 

QUÊ HƯƠNG LONG XUYÊN

Con xin cảm tạ Chúa đã cho con sinh ra và lớn lên nơi nhà thờ Chánh Tòa và thành phố LX thân yêu này, một thành phố luôn ồn ào náo nhiệt của cuộc sống và không kém phần nên thơ. Hình ảnh của quê hương đã khắc sâu trong tâm trí của con để mỗi lần trở về quê hương là mỗi lần con được sống lại những ký ức. Đó là nơi con vụng về tập đọc kinh, được học giáo lý qua quý Cha, quý cô Giáo Lý Viên, được vui chơi sinh hoạt, được tham gia các hội đoàn như Giúp Lễ, Ca Đoàn, Huynh Trưởng. Rồi từ đó, con dần dần khám phá tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với con người nói chung và đối với riêng con. Đây cũng là điểm đến sự trưởng thành của con, nơi đã đào tạo con trở thành người mang danh Kitô hữu và đặc biệt là giúp con trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa” một cách thiết thực. Chính ở nơi này con cảm thấy thanh bình êm ấm, giúp con nhẹ nhàng, thanh thản cho dẫu không thiếu những thách đố khiến có những lúc cũng phải ngậm ngùi rơi lệ. Nơi đây, con được cùng cộng đoàn tham dự các giờ chầu và các Thánh lễ để cảm nhận được rằng: Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn sống bất diệt của hồn con.

Cêcilia Têrêsa Lê Trần Thảo Thanh, GX. Chánh Tòa

 

ĐỀN THỜ TÂM HỒN

Buổi tối ngày Đức Cha dâng lễ khánh thành nhà thờ, ông Trương  Hiếu hỏi thằng con trai: Trong bài giảng lễ thánh hiến sáng nay Đức Cha nói gì con có nhớ không? Con nhớ không hết chỉ nhớ được  một phần thôi bố ạ. Thế con nói lại cho bố nghe đi. Đức Cha nói: “Việc xây dựng nhà thờ vật chất cho đẹp đẽ, khang trang vững bền để có nơi cho tín hữu đến thờ phượng Thiên Chúa và cử hành các bí tích cho xứng hợp là rất cần thiết, tuy nhiên quan trọng và cần thiết hơn vẫn là phải ý thức xây dựng lại đền thờ tâm hồn chúng ta để xứng đáng là nơi Thiên Chúa ngự trị: Anh em không biết rằng  thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần hay sao?” Con trai của bố giỏi quá - ông Trương Hiếu khen - thôi con ngũ sớm để ngày mai còn đi hoc.

Đaminh Trần văn Chính, Gx Đền Thánh Giuse An Bình

       
   
     
 

 

TÌNH YÊU VỢ CHỒNG

TRONG ĐỜI  SỐNG

 

Có một câu danh ngôn đã bảo: Trong cuộc đời có ba vấn đề quan trọng nhất, đó là làm nhà, đi thi và lấy vợ lấy chồng.  Theo tôi nghĩ: Việc lấy vợ lấy chồng là việc chung thân đại sự. Nó không phải chỉ ảnh hưởng tới cá nhân chúng ta trong một khoảng khắc nào đó, mà hơn thế nữa, nó còn ảnh hưởng tới cả hai người, tới cả con cái cháu chắt, trong suốt cuộc đời mình đã đành, mà nhiều khi còn lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Tình yêu vợ chồng quan trọng như vậy, nhưng trong thực tế, có nhiều người quả thật đã cẩu thả và liều lĩnh, họ đi vào hôn nhân mà chẳng có lấy một sự chuẩn bị tối thiểu nào đó. Và có nhiều cuộc hôn nhân đã thất bại một cách đắng cay, khiến người ta đã phải thở dài phát biểu: Có bao nhiêu vỏ sò trên bãi biển, thì cũng có bấy nhiêu khổ đau trong tình yêu.

Đây cũng là một kinh nghiệm sống thực mà tôi đã nhiều lần được nghe. Thực vậy, nhìn vào một gia đình nheo nhóc vì nghèo túng, bất hòa vì vắng bóng tình yêu, những người trong cuộc vốn thường tâm sự cho tôi hay: Đi tu như mấy cha, mấy thầy, mấy sơ thế mà lại sướng, chứ còn đèo bòng như tụi này khổ lắm. Câu nói ấy mặc dù không hoàn toàn đúng với sự thật, bởi vì bông hồng nào mà chẳng có gai, cuộc đời nào mà chẳng có những khổ đau cay đắng của nó, chỉ những người sống trong hoàn cảnh ấy mới nhận thấy và cảm nghiệm được một cách chính xác và đầy đủ mà thôi. Tuy nhiên, nó cũng nói lên được những băn khoăn và lo âu, những khắc khoải và khó khăn của đời sống gia đình. Một cuộc hôn nhân thất bại sẽ là một tai họa đớn đau nhất, trái lại, một cuộc hôn nhân thành công sẽ làm cho cuộc đời được an vui và hạnh phúc.

Thực vậy, do tình yêu mà có được sự cộng tác chân thành: Chồng như đó, vợ như hom. Do tình yêu mà có được sự hòa thuận, trợ giúp và bổ túc lẫn nhau: Chồng khôn vợ được đi hài, vợ khôn chồng được nhiều bài cậy trông. Với tình yêu và sự cộng tác như vậy, tôi nghĩ: Khó khăn nào cũng có thể vượt qua, thử thách nào cũng có thể giải quyết như một câu danh ngôn đã bảo: Hai cái đầu bao giờ cũng hơn một cái đầu. Hay như tục ngữ đã nói: Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn. Sau đây, tôi xin đưa ra một vài thí dụ chứng thực cho kinh nghiệm vừa mới trình bày.

Trước hết là những khổ đau mà vợ chồng có thể gây ra cho nhau. Chẳng hạn trường hợp của Socrate. Ông là một triết gia lừng danh thời cổ xưa của Hy lạp. Triết lý của ông ngày nay vẫn còn giá trị. Nhưng ác hại thay, đang khi ông là một  bậc thầy đáng kính của đông đảo môn đệ và sau này muôn thế hệ vẫn coi ông như một bậc tôn sư, thì ông lại là nạn nhân của một bà vợ. Bà đã chanh chua, khinh rẻ ông là hạng trói gà không chặt. Lần kia sau khi đã chửi bới ông một trận kịch liệt, bà đã tặng cho ông nguyên cả một chậu nước dơ lên người, nhưng ông vẫn thản nhiên và nói: Tôi biết mà, sau khi đã có sấm chớp thì tất nhiên trời sẽ đổ mưa.

Trái với thí dụ trên là những trường hợp vợ chồng thực sự cộng tác với nhau và đã đi đến chỗ thành công cũng như hạnh phúc. Chẳng hạn trường hợp của cặp vợ chồng bác học, ông bà Curie. Bí quyết của họ là yêu thương nhau trong sự cộng tác. Về tài năng, có thể nói ông tám lạng thì bà cũng nửa cân, nhưng cả hai đều biết tôn kính và nể trọng nhau. Cùng học và cùng làm việc trong phòng thí nghiệm. Bằng chứng là ghế giáo sư vật lý tại đại học đã được dành cho bà, là người phụ nữ đầu tiên, thế chỗ cho ông, sau khi ông mất. Lúc nhận chức, bà chỉ khiêm tốn nói: Tôi thử cố gắng dạy.Và quả nhiên, bà đã thành công không kém gì ông.

Xem thế, chúng ta thấy được rằng: Tình yêu vợ chồng đã chiếm một chỗ đứng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Nó ảnh hưởng đến suốt cả cuộc đời chúng ta đã đành mà nhiều khi còn ảnh hưởng đến cả đời con, đời cháu. Bởi vậy, một cuộc hôn nhân thất bại, như chúng ta đã nói, sẽ là một sự khổ đau, đắng cay và chua xót nhất. Trái lại, một cuộc hôn nhân thành công sẽ là một niềm hạnh phúc tuyệt vời và trở nên như một động lực thúc đẩy chúng ta thăng tiến, gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp hay ít nữa cũng dễ dàng chấp nhận những thử thách và bất hạnh có thể xảy ra.

Hơn nữa, như chúng ta đã từng xác quyết: Gia đình chính là con tim của xã hội. Nếu con tim mà đau yếu thì toàn thân sẽ mệt mỏi và bải hoải. Nếu gia đình lủng củng, thì xã hội cũng sẽ tan rã. Thế nhưng, con tim trong gia đình là gì nếu không phải là tình yêu vợ chồng? Thực vậy, vợ chồng có yêu thương nhau thì gia đình mới hòa thuận và công việc làm ăn mới được tốt đẹp. Còn nếu vợ chồng cãi cọ, lục đục với nhau thì chắc chắn gia đình sẽ rạn vỡ và đi tới chỗ sụp đổ. Tuy nhiên trong gia đình, muốn được hòa thuận và cảm thông, thì việc làm cốt yếu phải là việc làm của cả hai vợ chồng. Chính trong khi hai vợ chồng cùng nhau cố gắng xây dựng một mái ấm gia đình hạnh phúc, thì họ đã góp phần xây dựng xã hội và Giáo Hội rồi vậy.

Tụy Hiền

 

       
     
 
   

 

BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

LỄ NHẬN CHỨC CỦA HĐMVGX KHÓA II

NHIỆM KỲ 2015-2019

Sáng ngày 26.7.2015, tại Trung Tâm Hành Hương Giáo xứ Đài Đức Mẹ Tân Hiệp, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu cùng quý cha đã dâng thánh lễ trọng thể kính hai thánh Phêrô Đoàn Công Quý và Emmanuel Lê Văn Phụng, bổn mạng của HĐMVGX giáo phận Long Xuyên. Tham dự thánh lễ có khoảng 1400. Đức Cha nhấn mạnh vai trò loan báo Tin Mừng của người giáo dân mà đặc biệt là HĐMVGX. Đây chính là cánh tay nối dài của các vị chủ chăn. Với tư cách là Chủ tịch UBGD trực thuộc HĐGMVN, Đức cha đã cử hành nghi thức Tưởng Lệ và Tuyên Hứa Nhậm Chức HĐMVGX khóa II nhiệm kỳ 2015-2019. Thánh lễ kết thúc với nghi thức Đón Nhận Thánh Thần và Lời Nguyện Đặt Tay Sai Đi rất cảm động.

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ GIÁO HỌ BA KHU

Sáng ngày 29.7.2015, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến kinh C2 để chủ sự Thánh lễ Tạ ơn và Khánh Thành Nhà Thờ giáo họ Ba Khu. Tham dự thánh lễ đồng tế còn có quý cha và quý ân nhân, thân nhân và đông đảo bà con giáo dân. Ngôi thánh đường giáo họ được khởi công xây dựng vào ngày 09.01.2013, dài 40m và rộng 14m. Giáo họ Ba Khu hiện nay có 174 hộ  gia đình với 784 giáo dân và kinh phí để xây dựng ngôi nhà thờ này đều do bà con giáo dân trong giáo xứ đóng góp là chính. Bài chia sẻ của Đức Cha là hãy chú trọng tới việc xây dựng ngôi đền thờ nơi tâm hồn mỗi người. vì đó mới chính là nơi Chúa cần và là ngôi nhà Chúa hằng ưa thích.

 

MỪNG KÍNH HAI THÁNH PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG QUÝ VÀ EMMUEL LÊ VĂN PHỤNG TẠI CHÂU ĐỐC

Sáng ngày 31.7.2015, giáo phận Long Xuyên đã long trọng mừng kính 156 năm tử đạo của hai thánh Phêrô Đoàn Công Quý và Emmanuel Lê văn Phụng, tại giáo xứ Châu Đốc, nơi hai thánh đã được diễm phúc tử đạo. Trong dịp trọng đại này, Đức Cha chánh Giuse đã nhắn nhủ bà con giáo dân noi gương hai vị thánh của giáo phận mà sống đức tin và làm chứng cho niềm tin. Ngoài ra, Đức Cha cũng đã làm phép viên đá đầu tiên để xây dựng hội trường giáo xứ Châu Đốc

 

 

KHÁNH THÀNH NHÀ NGUYỆN DÒNG THÁNH GIA

Sáng ngày 15.8.2015, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến chủ sự Thánh lễ Cung hiến nguyện đường và bàn thờ của Nhà Dòng Thánh Gia. Tham dự thánh lễ có khoảng 70 cha đồng tế, đông đảo

 

bà con giáo dân trong và ngoài giáo phận. Ngôi nguyện đường nhà dòng được khởi công xây dựng vào ngày 20.11.2014. Sau chưa đầy một năm thi công với biết bao nhiêu khó khăn, nay đã được hoàn thành. Trong bài chia sẻ, Đức cha nhấn mạnh đến việc xây dựng ngôi thánh đường nơi tâm hồn mỗi người. Việc xây dựng ngôi thánh đường khang trang phải đi đôi với việc xây dựng tình liên kết giữa cả cộng đoàn, được đặt nền tảng trên Đức Kitô, các Tông đồ và mỗi người phải là một viên đá sống động, trong đó Tình yêu được sánh ví như chất xi măng kết dính mọi người trong toàn Giáo Hội.

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

LỄ CÔNG BỐ VÀ TRAO QUYẾN ĐỊNH THÀNH LẬP

HỌC VIỆC CÔNG GIÁO VIỆT NAM

Vào lúc 16g00 ngày 06.8.2015, tại Trụ sở Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam đã diễn ra lễ công bố và trao quyết định thành lập Học viện Công giáo Việt Nam. Ông Đặng Trung Thành, Vụ trưởng Vụ Công giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, đã thay mặt Ban Tôn giáo Chính phủ công bố “Quyết định về việc chấp thuận thành lập Học viện Công giáo Việt Nam” và ông Lê Bá Trình, Phó Chủ tịch UBTWMTTQVN, đã trao quyết định này cho ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc - Chủ tịch HĐGMVN. Về phía Giáo hội, ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc đã thay mặt HĐGMVN chia sẻ: “Chúng tôi cũng thấy chính quyền rất thiện chí và cởi mở đón nhận tinh thần đối thoại của chúng tôi. Kết quả thực tế lớn là việc đẩy mạnh thành lập Học viện Công giáo Việt Nam”.

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

ĐTC GẶP GỠ CÁC LỄ SINH

ĐTC Phanxicô mời gọi các bạn trẻ giúp lễ chia sẻ với tha nhân niềm vui được lòng thương xót của Thiên Chúa chọn lựa và cứu độ.

Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong buổi hát kinh chiều ngày 4.8 vừa qua với 12 ngàn bạn trẻ đến từ 23 nước, tham dự Đại hội quốc tế lần thứ 11 của Liên hiệp các Hội giúp lễ. Đại hội nhóm 5 năm một lần ở Roma. Và ĐTC nhắn nhủ rằng: ”Các bạn trẻ giúp lễ thân mến, hễ các con càng gần bàn thờ, thì các con hãy nhớ đối thoại với Chúa Giêsu trong kinh nguyện hằng ngày, hễ các con càng nuôi dưỡng mình bằng Lời Chúa và Mình Thánh Chúa, thì các con càng có thể đến gần tha nhân, trao ban cho họ điều các con đã nhận lãnh, hăng say trao ban niềm vui mà các con đã được trao tặng”. Trong phần cuối của buổi gặp gỡ, một thiếu niên giúp lễ người Ucraina đã trao tặng ĐTC khăn quàng cổ màu trắng, tượng trưng cho hòa bình mà đất nước này đang cần.

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

GIÁO XỨ ĐẤT HỨA

 

1. Địa chỉ:

09, Thạnh Lợi, Xã Hòa Điền, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang.  ĐT: 0773.753.763

2. Lịch sử hình thành & phát triển:

* Tước Hiệu Nhà Thờ: Trái Tim Chúa Giêsu (trung tuần tháng 6).

* Thành lập năm 1931, do cha Gioan Merdrignac, trải qua 14 đời linh mục và cũng gặp biết bao thăng trầm vất vả, dân chúng nghèo nàn vì sống giữa vùng đồng chua nước mặn.

3. Địa giới hiện nay - Số giáo dân:

* Họ Đất Hứa dài 10km.

* Số tín hữu hiện tại: 2.600 người.

4. Cơ sở mục vụ - xây dựng và chỉnh trang:

* Nhà thờ đầu tiên được xây dựng vào năm 1931, do Cha Médrignac (MEP), với vật liệu là vôi và lợp ngói.

* Qua 10 lần tu sửa và đến năm 1994, được Cha Antôn Giang Trung Thu xây dựng lại hoàn toàn mới.

* Giáo xứ có nhà xứ, nhà dì phước, 3 phòng giáo lý, 1 phòng giữ trẻ, tháp chuông, đài Đức Mẹ, tất cả đều được xây kiên cố.

* Giáo xứ có Đất Thánh rộng và đã nhường một phần cho Giáo xứ Kiên lương và Giáo xứ Ba Hòn.

* Giáo xứ có một Giáo họ Cờ Trắng, cách Nhà thờ Đất Hứa 4 cây số (hướng đi Hà Tiên), gồm 1000 giáo dân. Giáo họ có Cha Phó coi sóc, ngài đang xây Nhà thờ.

* Giáo xứ có mua 2 miếng đất tại xã Phú Mỹ- huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang,  cách Nhà thờ Cờ Trắng 15 cây số. Giáo dân đang sinh sống tại huyện Giang Thành khoảng 80 hộ gia đình.

5. Các Linh mục coi sóc :

* Tháng 02-1931 : Cha Médrignac. (Cha xứ tiên khởi)

* Tháng 10-1931 : Cha Nguyễn Trung Quân.

* Tháng 06-1934 : Cha Phạm Thanh Nhàn.

* Tháng 05-1935 : Cha Lê Đức Trị.

* Tháng 06-1942 : Cha Nguyễn Trung Quân (lần 2)

* 1949-1951        : Cha Võ Thành Trinh

* Tháng 07-1951 : Cha Trần Quang Nghiêm.

   + Cả hai cha Trinh và Nghiêm ở đến cuối năm 1954 đi tập kết.

* Tháng 12-1955 : Cha Nguyễn Văn Liêu

* Tháng 09-1957 : Cha Nguyễn Ngọc Thạch

* Tháng 11-1962 : Cha Trần Văn Năng

* Tháng 12-1968 : Cha Giuse Hoàng Thượng Hiền.

* Tháng 11-1975 : Cha Antôn Giang Trung Thu

                                Với các cha phó  :

                         - 1976-1990 : Cha Giuse Nguyễn Văn Thắng

                          - 2000-2001 : Cha Giuse Nguyễn Hải Bằng

                    - 2004-2006 : Cha Đaminh Đỗ Quốc Tuý

       - 2006 -2008: Cha Giuse Nguyễn Hải Bằng

* Tháng 01-2009 : Cha Giuse Nguyễn Hải Bằng

và cha phó Giuse Trần Trọng Trí

6. Nữ tu:

* Từ năm 1935 đến nay, luôn có các nữ tu thuộc dòng Chúa Quan Phòng đến phục vụ. Hiện nay có 3 dì phước đang phục vụ.

7. Những đặc điểm Kinh tế – xã hội:

Đây là vùng đa sắc tộc, đa tôn giáo, là xứ truyền giáo. 1/4 là nông dân. 3/4 là tiểu thương, công nhân lò vôi, nuôi tôm và công nhân.

8. Những đặc điểm:

Giáo dân sống tập trung gần nhà thờ. Một số giáo dân ở những nơi khác đến sinh sống rồi lại ra đi, đa số giáo dân là nghèo làm thuê mướn, buôn bán nho nhỏ, vì sống lẫn lộn với lương dân cho nên có nhiều hôn phối khác đạo.

 

 
 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 10&11. 2015:

XÂY DỰNG GIÁO XỨ

THÁNG 12.2015:

GIÁNG SINH

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.giaophậnlongxuyen.org

Đa tạ.

 

 

 

 

 

 

 

 


* Flavius Valerius Constantinus (272/3 – 337): Hoàng đế Đế-quốc Rôma, ra dụ đặc ân cho Kitô giáo, nhờ đó Kitô giáo đã dần có thế lực và về sau trở thành quốc giáo của Đế-quốc.

[1] Huình Tịnh Paulus Của, ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ, Rey, Curiol & Cie, Sài Gòn, 1895. nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1974, tr. 730.

[2] Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, TỰ ĐIỂN VIỆT NAM, nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1970, tr. 1068.

[3] Tiểu ban từ vựng HĐGMVN, TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO - 500 MỤC TỪ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2011, tr. 255.

[4] Huình Tịnh Paulus Của, sđd., tr. 730.

[5] Lm. Eugène Gouin, MEP, DICTIONNAIRE VIETNAMIEN CHINOIS FRANÇAIS, D’Extrême Orient, Sài Gòn, 1957, tr. 951.

[6] Các đền thờ thời Cựu Ước và đền thờ ngoại giáo thì gọi là templum (A & P: temple).

[7] Đa phần các đạo quán hay am cốc ở Việt Nam chỉ tồn tại đến đầu thế kỷ 20, về sau thì tàn lụi mất dần, chỉ còn là phế tích. Một số đạo quán thì gian chính thờ Tam Thanh nhưng không thu hút bằng gian thờ bên trên, cạnh bên thờ chư Phật và Bồ Tát, kinh thì tụng kinh Phật, cúng kiếng theo nghi thức nhà Phật, cho nên tuy mang danh đạo quán nhưng thật ra nó đã là chùa.

[8] Lm. Đỗ Quang Chính, SJ., TẢN MẠN LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM, Nxb Antôn & Đuốc sáng, Montreal, 2003, tr. 241-242.

 

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 02 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1005
Tất cả: 45,856,196