TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015

TĨNH TÂM

THÁNG 7 NĂM 2015

 

 

 

NẾU ANH EM

KHÔNG TRỞ NÊN NHƯ TRẺ NHỎ,

THÌ SẼ CHẲNG ĐƯỢC VÀO NƯỚC TRỜI

(Mt 18,3)

 

TÌM BÀI

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 7 năm 2015

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TÂN PHÚC ÂM HÓA CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

VỚI SINH HOẠT ĐIỀU HÀNH

 

Anh chị em thân mến,

Các giám mục chúng tôi xin gửi đến toàn thể cộng đoàn Dân Chúa trong giáo phận lời chào chúc bình an và tình yêu của Chúa Kitô. Tiếp tục chủ đề “Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ” của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cho năm 2015, chúng tôi xin gửi đến anh chị em thư mục vụ tháng 7 với chủ đề “Giáo Phận Long Xuyên Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ Với Sinh Hoạt Điều Hành”.

Mô hình lý tưởng cho công cuộc Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam giới thiệu là cộng đoàn tín hữu thời Giáo Hội sơ khai trong sách Tông Đồ Công Vụ (Cv 2, 42-47. Đây là một cộng đoàn phong phú bao gồm 4 chiều kích quan trọng và hỗ tương. Chiều kích thứ nhất là phụng vụ (leiturgia); họ “siêng năng bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng” (c 42). Chiều kích thứ hai là hiệp thông (koinonia); “Các tín hữu luôn luôn hiệp thông với nhau” (c. 42). Chiều kích thứ ba là phục vụ (diakonia); “Họ để mọi sự làm của chung. Họ dùng bữa với niềm vui đơn thành” (c.46). Và chiều kích thứ tư là chứng tá (martyria); “Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm người được cứu độ” (c. 47).

Áp dụng giáo huấn của Công đồng Vaticanô II vào công cuộc Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ, thì giáo xứ được định nghĩa là Dân Thiên Chúa. Theo đó, đoàn dân này có vị thủ lãnh là Đức Kitô. Địa vị của đoàn dân này là được vinh dự và tự do làm con Thiên Chúa, và Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong đền thờ. Luật nền tảng của đoàn dân này là yêu thương nhau, yêu thương như chính Chúa Kitô đã yêu thương. Mục đích phải nhắm tới của đoàn dân này là phát triển Nước Thiên Chúa đã được khai nguyên trên trần gian cho đến khi được Ngài hoàn tất trong ngày tận thế. Trong sứ vụ phát triển Nước Thiên Chúa, đoàn dân này được mời gọi tham dự vào sự sống, bác ái, và chân lý từ Đức Kitô, và được Người sử dụng như khí cụ cứu rỗi mọi người bằng cách sai đi khắp thế giới như ánh sáng trần gian và như muối đất (Hiến chế tín lý về Giáo Hội số 9b)

Cụ thể hơn, theo tông huấn Niềm Vui Tin Mừng của Đức Thánh Cha Phanxicô, thì “Nếu giáo xứ tỏ ra có khả năng tự canh tân và thích nghi liên tục, nó sẽ tiếp tục là Hội Thánh sống động giữa các gia đình của các con trai con gái mình. Điều này có nghĩa rằng giáo xứ thực sự tiếp xúc với gia đình và các cuộc đời của những con người, và không trở thành một cơ chế cách ly với con người, hoặc trở thành một nhóm khép kín gồm chỉ một ít người được tuyển chọn. Giáo xứ là sự hiện diện của Hội Thánh tại một địa phương nhất định, một môi trường để lắng nghe Lời Chúa, để lớn lên trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, để rao giảng, để làm việc bác ái, để thờ phượng và để cử hành (số 28). Như vậy, giáo xứ trở thành một gia đình của Thiên Chúa.

Ngoài ra, theo huấn giáo của Liên Hiệp Các Hội Đồng Giám Mục Á Châu, giáo phận Long Xuyên có thể Tân Phúc Âm Hóa cộng đồng giáo xứ theo 4 cách thế để Giáo Hội hiện diện tại Á Châu. (*)Trước hết, cộng đđoàn Kitô hữu phải là cộng đòan hiệp thông, nơi đó, giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ nhận biết nhau, chấp nhận nhận như anh chị em. (*) Kế là một cộng đoàn tham gia, nơi mà các ân sủng của Chúa Thánh Thần trao tặng cho mọi tín hữu, giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ, đều được công nhận và hoạt động. (*) Sau nữa là một cộng đđoàn luôn trung thành làm chứng cho sự sống lại của Chúa Kitô, và luôn vươn đến với người dân có những niềm tin khác bằng sự đối thoại để hướng tới giải thoát toàn diện. (*) Cuối cùng, cộng đđoàn tín hữu phải là một Giáo Hội phục vụ như một dấu chỉ tiên báo, dám vượt trên thế giới này để đạt tới một vương quốc hiển nhiên đang đến.

Tuy nhiên, trong công cuộc Tân Phúc Âm Hóa Cộng đoàn Giáo Xứ với sinh hoạt điều hành, giáo phận Long Xuyên cần ý thức về một bối cảnh xã hội cụ thể và đặc thù của miền tây Nam Bộ ngày nay. Trước hết, một xu hướng nổi bật trong xã hội ngày nay là tương giao giữa con người với con người chủ yếu dựa vào “chức năng” của một người có thể đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Theo xu hướng này, thì sẽ không còn chỗ đứng cho tương quan yêu thương, phục vụ, và hy sinh cho nhau. Kế đến, cũng phải kể đến một xã hội tiêu thụ với chủ trương “kinh tế là trên hết” và “cạnh tranh không thương xót”. Theo đó, thì hệ quả sẽ là sự dửng dưng đến vô cảm trước tình cảnh của tha nhân, vô cảm ngay cả đối với những người trong thân bằng quyến thuộc của gia đình, gia tộc, và làng xóm láng giềng. Cuối cùng, đây cũng còn là một xã hội mà trong đó, các gia đình đang mất dần ảnh hưởng trong xã hội Việt Nam, và đang bắt đầu xuất hiện những mô hình gia đình thả lỏng để buông thả theo dục vọng cá nhân và tự do ích kỷ.

Trong bối cảnh này, công cuộc Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ với sinh hoạt điều hành của giáo phận Long Xuyên cần tiến tới một mô hình giáo hội Hiệp Thông giữa các cộng đoàn nhỏ. Theo đó, các nhóm bổ sung nhau bằng chia sẻ Lời Chúa, sứ vụ và đời sống. Trong đó, các nhóm hiệp nhất với nhau trong việc cử hành phụng vụ, cùng một mục tiêu tông đồ trong việc sống bác ái. Với lý tưởng này, giáo xứ là sự hiệp thông gia đình hơn là một thể chế, hay một cơ cấu nặng nề.

Cụ thể hơn, tại Long Xuyên, các giáo xứ cần được Tân Phúc Âm Hóa với sinh hoạt điều hành tập trung vào 3 sắc thái sau đây:

1. Giáo xứ cần được canh tân trở thành một cộng đoàn bao gồm mọi Kitô hữu và mọi tâm hồn thành tâm thiện chí, luôn sống hiệp thông, để trong sự hiệp thông, tất cả đều nỗ lực góp phần xây dựng Nước Thiên Chúa. Ở đây, bật lên vẻ đẹp của một Thiên Chúa yêu thương, đang ngóng chờ những đứa con trở về để sống phẩm giá con Thiên Chúa và là anh chị em với nhau. Trong gia đình này, không có dấu vết của một vị Thiên Chúa oai nghiêm lạnh lùng của một ông chủ được phục vụ hay một quan tòa kết án, trừng phạt và loại trừ. Trong cộng đoàn này cũng không có những người tín hữu vô danh, không nhìn nhận, và bị mất hút giữa cộng đoàn Dân Chúa.

2. Vai trò lãnh đạo của linh mục trong cộng đoàn: Là hiện thân của Đức Kitô Phục Sinh hiện diện giữa cộng đoàn để làm cộng đoàn sinh động, điều phối, tạo hồn cho mọi sinh hoạt - đồng hành với đồng nghiệp (linh mục) đồng đạo (tu sĩ và giáo dân) và đồng bào (dân chúng):

+ Nối kết giữa thế giới Thiên Chúa với thế giới con người: Bí tích và nhân bản

+ Vâng phục vì tự do của con cái thiên Chúa

+ Sự lắng nghe của linh mục

+ Phối hợp với các nhóm nhỏ trong giáo xứ

+ Mở rộng để ra đi ngoại biên

3. Đào tạo giáo dân trưởng thành trong chiêm niệm và trong hoạt động Tham Gia - Hiệp Thông - Đồng Trách Nhiệm vì sứ vụ

+ Chương trình thường huấn

+ Đào tạo nhân sự tương lai với tinh thần Giáo Hội  toàn cầu.

+ Giuse Trần Văn Toản                             + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

 

Nhân ngày giỗ Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ

CÂY THÁNH GIÁ NHỎ

 

1.

Trên chiếc bàn nhỏ kê ở đầu giường tôi, có một cây thánh giá nhỏ bằng nhôm rất nhẹ. Nhưng đối với tôi, đó là một kỷ vật rất nặng về ý nghĩa, rất nặng về nhắc nhở, rất nặng về niềm tin và hy vọng.

Cây thánh giá nhỏ đó đã để trên giường Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ nhiều năm. Chúa Giêsu trên cây thánh giá đã luôn ở bên Đức Cha Cố. Người là nguồn sức mạnh thiêng liêng cho Đức Cha Cố, nhất là những năm cuối đời đầy thử thách của Ngài. Người nữ tu chăm sóc cho Đức Cha Cố đã đem cây thánh giá ấy đến cho tôi, khi Đức Cha Cố vừa qua đời.

Tạ ơn Chúa vì kỷ vật này.

2.

Tôi thường nhìn vào kỷ vật này, để sống ơn gọi. Tôi nhìn Chúa Giêsu trên thánh giá, rồi nhìn Đức Cha Cố Micae.

Khi nhìn vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá, tôi thường được Người nhắc cho tôi nhớ lại những lời xưa Người đã nói về tình yêu nơi Người. Dưới đây là mấy lời quan trọng của Người đã và đang dẫn đưa tôi sống ơn gọi theo Người. Đức Cha Cố cũng âm thầm khuyên tôi.

3.

Lời thứ nhất là: “Thầy là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).

Cùng với lời đó, Chúa Giêsu cho tôi nhận ra dung mạo của Chúa Giêsu đang ở bên tôi. Dung mạo đó là: mục tử nhân lành, hy sinh mạng sống mình vì chiên. Dung mạo đó được in vào lòng tôi. Chúa Giêsu với dung mạo đó đang ở trong tôi. Người biến đổi tôi nên một chút nào đó giống như Người.

Tự nhiên, tôi cảm nhận được điều Chúa Giêsu muốn nơi tôi, đó là tôi cũng hãy chia sẻ với Người chức vụ mục tử nhân lành, hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

Tôi hỏi Chúa, thế nào là nhân lành, và thế nào là hy sinh mạng sống vì đoàn chiên, như Chúa đã làm và muốn tôi chia sẻ. Thì Chúa trả lời là hãy cầu nguyện và chiêm niệm mới rõ được, chứ lý thuyết trên sách và căn cứ vào các hội thảo sẽ không đảm bảo. Rồi, Chúa cho tôi nhớ lại gương Đức Cha Cố Micae. Ngài quan tâm nhiều đến cầu nguyện và chiêm niệm, nên Ngài sống rất yêu thương và hy sinh cho đoàn chiên với những chi tiết nhỏ thường ngày.

4.

Lời thứ hai là: “Chúa Cha đã yêu thương Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu thương các con như vậy” (Ga 15,9).

Với lời đó, Chúa Giêsu cho tôi hiểu: Người yêu thương đến hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, chính là vâng phục Chúa Cha. Yêu thương với hy sinh của Người có giá trị cứu rỗi các linh hồn là do vâng phục ý Chúa Cha. Vâng phục là yếu tố rất cần trong ơn gọi mục tử.

Rồi, Chúa cho tôi nhìn vào đời sống mục tử của Đức Cha Cố Micae. Ngài luôn vâng phục ý Chúa. Ngài luôn vâng phục các đấng bề trên thay mặt Chúa.

Đời sống mục tử của Ngài có một chiều hướng bước xuống, đó là yêu thương đoàn chiên đến hy sinh tất cả, kể cả mạng sống mình. Cùng một lúc, đời sống mục tử của Ngài có một chiều hướng đi lên, đó là vâng phục ý Chúa, một cách tuyệt đối.

5.

Lời thứ ba là: “Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian” (Ga 17,18).

Với lời đó, Chúa dạy tôi là khi được sai đến thế gian, Chúa Giêsu đã có những chọn lựa nhất định đó là: Cuộc sống nghèo và lo cho người nghèo, cuộc sống tám mối phúc thật, cuộc sống cứu người ta khỏi đàng tội, để họ được lên thiên đàng với Chúa Cha. Đức Cha Cố Micae cũng đã có những lựa chọn như vậy, khi ý thức mình được Chúa sai đi. Ngài ra đi sống những lựa chọn đó, nhưng đồng thời vẫn giữ tinh thần cầu nguyện, để luôn “ở lại trong tình yêu của Chúa” (Ga 15,9), và kết hợp với Chúa, như “cành nho gắn liền với thân cây nho” (Ga 15,5).

6. Lời thứ bốn là: “Lạy Cha, con xin phó dâng linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Với lời đó, Chúa Giêsu dạy tôi hãy hoàn toàn phó thác đời sống ơn gọi của tôi cho Chúa. Dù là một đời sống yêu thương hy sinh, dù là một đời sống vâng phục, dù là một cái chết đau khổ. Nhưng tất cả cuộc sống và cái chết của tôi đều sẽ là của lễ dâng hiến âm thầm, kín đáo. Chúa Giêsu đã là như thế. Đức Cha Cố Micae cũng đã phần nào như vậy. Tôi vui, vì được phó thác tất cả trong tay Chúa.

7.

Tuy nhiên, xin thú thực là tính tôi hay lo, nên tuy phó thác, mà cũng nhiều lúc rất lo hết chuyện này đến chuyện khác.

Chúa thương tôi. Ngài đã cứu tôi. Cũng từ cây thánh giá, Chúa nhắc cho tôi nhớ lại lời Người đã phán xưa, khi còn tại thế: “Hãy nhìn các con chim. Chúng không gieo, không gặt, cũng không có kho lẫm, thế mà Thiên Chúa vẫn nuôi chúng. Anh em còn quý hơn loài chim biết bao! Hãy nhìn hoa ngoài đồng. Chúng không kéo sợi, không dệt vải, thế mà ngay cả vua Salomon, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa ngoài đồng, nay còn mai mất, mà Chúa còn cho mặc đẹp như thế, huống hồ là anh em” (Lc 12,24-28).

8.

Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã dạy tôi thêm về điều đó, khi Người nói: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Với lời đó, Chúa Giêsu dạy tôi là Người đã chu toàn việc mà Chúa Cha trao cho Người, chứ không phải là Người đã hoàn tất hết mọi việc, mà Chúa Cha còn dành cho những người khác.

Đức Cha Cố Micae cũng đã có lần nhắc nhở cho tôi nhớ là: Theo ý Chúa, ơn gọi của tôi có những giới hạn do lòng thương xót Chúa. Tôi hiểu là tôi không nên ôm đồm, nóng vội. Tất nhiên là phải biết lo. Nhưng hãy tập trung làm thực tốt những gì trong phạm vi có giới hạn của mình.

9.

Bây giờ, tôi nhìn cây thánh giá nhỏ, và nhận thấy rằng: Không phải những gì lớn lao đã ảnh hưởng lớn đến cuộc đời tôi, mà là những kỷ vật nhỏ, như cây thánh giá nhỏ của Đức Cha Cố Micae thân yêu. Tự nhiên, tôi cầm lấy chuỗi tràng hạt, để cùng với Đức Cha Cố, đọc kinh tạ ơn Đức Mẹ, cầu cho Hội Thánh, cho Quê Hương Việt Nam, cho giáo phận Long Xuyên và cho chính bản thân tôi.

Long Xuyên, ngày 10.6.2015

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Chúa Nhật 14 TN, B

Êd 2,2-5; 2 Cr 12,7-10; Mc 6,1-6

THÀNH KIẾN

 

Ngày xưa dân làng Nagiarét không thể nào chấp nhận ông Giêsu, một người mà họ đã quá quen biết: Thân thế Ngài thì tầm thường. Gia đình Ngài thì nghèo nàn. Cả họ hàng của Ngài cũng chẳng danh giá gì. Như thế, làm sao ông Giêsu có thể là vị Cứu Tinh, là Đấng Cứu Thế, là Đấng giải thoát cho dân tộc của họ được? Quả thực, họ đã bị thành kiến về giàu nghèo, về giai cấp trong xã hội làm cho họ mù quáng, khiến họ không thể nhận ra bản tính Thiên Chúa, không thể nhận ra sứ mạng cứu chuộc nơi con người Chúa Giêsu. Từ thành kiến sai lầm đó, họ đâm ra hoài nghi về Chúa Giêsu. Họ yêu cầu Chúa làm phép lạ như Ngài đã làm ở những nơi khác. Trước thái độ ít cởi mở và hoài nghi của họ, Chúa Giêsu đã không làm phép lạ.

Thành kiến là một tâm trạng thiên lệch rất tai hại, là một sự yên trí, là phán đoán theo những “cái khuôn” đã có sẵn trong đầu. Khi những tư tưởng có sẵn đó lại sai lạc, thì có thể đưa đến những hậu quả không hay, hoặc rất nguy hại. Thật vậy, ai đeo kính đen, thì nhìn cái gì cũng tối hết. Lưỡi đã đắng thì ăn gì cũng đắng. “Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. “Yêu nên tốt, ghét nên xấu”. Cha ông ta bảo: “Yêu nhau yêu cả đường đi. Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”. Lòng ta có khuynh hướng mạnh về điều gì, thì mắt ta hay tìm, trí ta hay tưởng; và rồi ta phán đoán người khác cũng giống như ta; và hơi một chút, là ta xét đoán về đàng đó liền.

Thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của loài người, không ai thoát khỏi. Ta vẫn to tiếng lên án lối sống phô trương bên ngoài. Nhưng trên thực tế, ta lại hay căn cứ vào những cái bên ngoài mà đánh giá thiên hạ. Đánh giá một người theo bên ngoài, thì có thể đúng và có thể sai. Câu nói: “Trông mặt mà bắt hình dong” không phải là nguyên tắc hoàn toàn chính xác, nên sách Huấn ca đã khuyên ta: “Đừng xem mặt mà bắt hình dong” (Hc 11). Khổng Tử cũng xác nhận: “Người tôi yêu chưa chắc đã tốt. Người tôi ghét chưa chắc đã xấu”. Ca dao cũng có câu: “Người xấu duyên lặn vào trong. Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài”. Lặn vào thì còn. Nhưng bong ra thì mất. Chắc ta cũng không quên câu nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “Xanh vỏ, đỏ lòng”. Cho nên đánh giá một người mà chỉ căn cứ vào bề ngoài, có thể là nông nổi, thiển cận và rất nguy hiểm.

Tóm lại, thành kiến đã làm cho dân làng Nagiarét phán đoán sai lầm về Chúa Giêsu. Họ đã không nhận ra Ngài là Đấng cứu tinh. Đối với chúng ta cũng vậy, thành kiến có thể làm ta mù quáng, không nhận định và phê phán một cách khách quan, đúng đắn. Thành kiến làm cho ta không thể đối thoại, cởi mở với nhau; không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi người khác. Vì thế, ta cần loại bỏ tất cả những gì là thành kiến về bản thân, để khỏi mang mặc cảm tự ti; cũng như loại bỏ mọi thành kiến về người chung quanh, để ta có một cái nhìn thông thoáng, đúng đắn hơn, một nhận xét chân thành hơn, một phán đoán khách quan hơn và một đời sống yêu thương cởi mở hơn.

Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta gạt bỏ cái nhìn hẹp hòi và trần tục, để nhận lấy cái nhìn nhân bản, cái nhìn đức tin, cái nhìn siêu nhiên, cái nhìn của người con Chúa. Chính cái nhìn ấy sẽ giúp ta nhận ra Chúa Kitô nơi những người nghèo khổ, thấp hèn, bệnh tật, khổ đau… Từ đó ta biết tôn trọng và đón nhận họ, như ta đang tôn trọng và đón nhận chính Chúa.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật 15 TN, B

Am 7,12-15; Êp 1,3-14; Mc 6,7-13

SỐNG THANH THOÁT

 

Muốn đất nước phát triển, thì “Hãy loại trừ tham nhũng”. Đó là vấn đề được bàn luận sôi nổi nhất nơi các kỳ họp Quốc hội Việt Nam. Tham nhũng là gì? Tham nhũng không đơn thuần là lấy của công làm của riêng. Tham nhũng không dừng lại ở việc lợi dụng chức quyền để vun quén cho bản thân, mà còn cho cả dòng họ. Đúng như cha ông ta đã nói: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Điều tệ hại của tham nhũng, đó là lòng tham đã ăn sâu vào xương tủy của những người làm quan. Lòng tham khiến họ không còn chí công vô tư khi thi hành chức vụ. Lòng tham khiến họ không thể sống thanh liêm chính trực. Lòng tham dẫn họ đi sâu vào tội ác và dối trá. Nếu xã hội không còn những người thanh liêm, thì làm sao tránh khỏi cảnh ăn bẩn, ăn cướp, ăn chặn những người thấp cổ bé miệng và đói nghèo. Nếu xã hội không còn những con người chí công vô tư, thì làm sao có công lý và tình thương trong xã hội hôm nay. Tất cả chỉ còn là sự dối trá và phỉnh lừa lẫn nhau mà thôi.

Lời Chúa hôm nay gợi lên một hình ảnh thật đẹp về những sứ giả Tin Mừng. Họ là những người được tuyển chọn để cứu nhân độ thế. Họ dấn thân vào đời để giải cứu thế gian khỏi “ba thù” hiểm nguy. Thế gian có quá nhiều mưu mô xảo quyệt. Ma quỉ có quá nhiều phương cách để cám dỗ. Vì thế, người sứ giả Tin Mừng cần phải ra đi với đôi chân nhẹ nhàng và tấm lòng thanh thoát. Họ không được mang bao bị, không được mang bạc tiền của nhân thế. Họ là những người chấp nhận cuộc sống nổi trôi “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh”. Sứ mệnh của họ là đẩy lùi sự dữ và thi thố tình thương. Họ không được bận tâm đến của cải thế gian. Họ không để lòng mình bị ràng buộc bởi nhu cầu vật chất và những tiện nghi tối thiểu.

Nếu người sứ giả Tin Mừng quá quan tâm đến mình, thì họ sẽ bỏ quên đồng loại. Nếu họ quá chú trọng đến vật chất, thì vật chất sẽ dẫn họ đến hưởng thụ và tích góp cho bản thân. Dần dần thiện chí của họ sẽ mất, hướng đi sẽ chệch đường lạc lối, lí tưởng ban đầu sẽ bị đảo ngược. Thay vì cứu đời, thì họ sẽ chỉ còn lại sự lợi dụng địa vị chức quyền để vun quén cho bản thân. Thực vậy, vì tiền bạc mà nhiều người đã đánh mất lí tưởng cuộc đời. Vì tiền bạc mà “nhân chi sơ tính bổn thiện” đã không còn. Vì tiền bạc mà nhiều người chối bỏ niềm tin. Đó là nguy cơ mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào. Đó cũng là bài học cho tất cả chúng ta. Đồng tiền rất cần cho cuộc sống, nhưng nó không phải là cứu cánh cho cuộc đời. Vì thế ta đừng quá lệ thuộc vào của cải vật chất. Nó là con dao hai lưỡi. Nó có thể làm hại cuộc đời ta, nếu ta không khôn ngoan sáng suốt nhận định cho đúng giá trị của nó.

Con người luôn hướng về sự thiện “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Con người luôn mong muốn cống hiến cuộc đời mình cho tha nhân. Đó là mục đích mà Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài. Thế nhưng ma quỉ luôn vẽ lối và xô đẩy ta đi sai đường lối Chúa.

Ước gì Lời Chúa hôm nay thức tỉnh ta: Tìm kiếm những điều đẹp ý Chúa hơn là thế gian. Hãy để tâm phụng sự Chúa hơn là làm tôi cho tiền bạc và tiện nghi. Đừng để lòng mình lệ thuộc vào vật chất mà quên đi giá trị tinh thần. Xin Chúa giúp ta biết sống theo Lời Chúa để được phúc lành. Vì “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật 16 TN, B

Gr 23,1-6; Êp 2,13-18; Mc 6,30-34

KIỂM ĐIỂM

 

Sau thời gian đi thực tập truyền giáo trở về, các Tông đồ sung sướng kể lại cho Chúa Giêsu nghe những thành quả tốt đẹp mà họ đã gặt hái. Nghe xong, Chúa Giêsu mời gọi các Tông đồ hãy vào nơi thanh vắng như Ngài vẫn thường làm, để các ông nghỉ ngơi, cầu nguyện, cũng như để kiểm điểm về những biến cố mà họ đã gặp và đã sống. Trong vài phút ngắn ngủi này, tôi muốn chia sẻ với anh chị em về việc kiểm điểm đời sống, để biết rõ chính bản thân mình.

Con người ngày nay thông biết rất nhiều sự, nhưng có một sự cần phải biết hơn cả, thì họ lại mù tịt, đó là biết chính bản thân mình. Thực vậy, con người ngày nay khám phá được rất nhiều thứ, từ những bí mật dưới lòng biển sâu, cho đến những tinh tú trên bầu trời cao xa tít tắp. Nhưng cái cần khám phá hơn cả thì họ lại quên lãng, đó là khám phá chính tâm hồn mình. Từ xa xưa, người ta đã nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng của việc nhận biết mình. Đông phương bảo rằng: “Tri bỉ tri kỉ, bách chiến bách thắng”. Nghĩa là biết mình biết người, thì trăm trận đều thắng. Còn Tây phương thì khuyên: Hãy biết chính mình (Connais-toi, toi-même). Sở dĩ cả Đông phương và Tây phương đều nói đến sự biết mình, vì nếu ai không biết mình, thì khó mà sống khiêm nhường. Ai không khiêm nhường, thì khó mà có nhân đức. Ai không có nhân đức, thì khó mà được vào Nước Trời. Không biết những sai lỗi của mình, thì làm sao có thể uốn nắn mà trở nên hoàn thiện.

Tuy nhiên, biết mình không phải là chuyện dễ, vì con người chúng ta rất khó mà đo được tâm hồn mình cách chính xác, bởi vì cái thước mà ta dùng để đo tâm hồn thì luôn sai lạc, hoặc ngắn quá, hoặc dài quá. Kinh nghiệm cho thấy: Một người đã sạch, thì chỉ cần một vết nhơ nhỏ mọn thôi, cũng đủ để cho họ cảm thấy bứt rứt khó chịu, rồi tắm gội lại ngay. Trái lại, một người đã quen lem luốc bẩn thỉu, toàn thân dính đầy dầu mỡ, thì cho dù bùn đất có dính thêm vào người ấy, họ cũng tỉnh bơ, không cảm thấy gì bứt rứt. Cái bi đát là ở chỗ: Người say thì chẳng bao giờ nhận mình say. Kẻ tội lỗi thì chẳng nhận mình có tội lỗi gì. Chúng ta giống như người đeo hai cái giỏ. Cái giỏ đằng trước thì đựng những sai lỗi của kẻ khác; còn cái giỏ sau lưng thì đựng những sai lỗi của mình. Do kiêu ngạo, nên ta thiếu nhận biết đúng đắn về bản thân và những sai lỗi của mình. Trái lại, những khuyết điểm của người khác thì ta lại biết rất rõ; và kết án họ một cách rất nghiêm khắc.

Bởi đó ta phải luôn tự hỏi: Tôi là ai và tôi như thế nào? Đâu là những cám dỗ tôi thường gặp? Đâu là những tật xấu tôi thường bị ám ảnh? Đâu là những tội tôi thường phạm? Tất cả những câu hỏi ấy, ta chỉ có thể tìm được câu trả lời một cách xác thực nhất trong thinh lặng của cõi lòng mình, rồi chuyên cần cầu nguyện và kiểm điểm đời sống.

Vì thế giữa dòng đời náo động hôm nay, ta hãy biết dành lấy những giây phút thinh lặng để cầu nguyện, để tính sổ cuộc đời với Chúa và nhìn lại những bước đường mình đã đi. Qua những giây phút thinh lặng hồi tâm ấy, ta sẽ trở về nguồn. Rồi từ đó, ta xác định rõ hơn mình đang ở đâu và đã đi tới đâu. Từ đó, ta dễ dàng uốn nắn lại đường đi nước bước của mình. Đồng thời ta cũng lãnh nhận được nguồn sinh lực và ơn sủng dồi dào, nhờ việc kết hợp mật thiết với Chúa. Ước gì được như vậy.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 17 TN, B

2 V 4,42-44; Êp 4,1-6; Ga 6,1-15

HÃY XÓT THƯƠNG NGƯỜI

 

Trong cuộc thi viết truyện dưới 100 chữ, có câu truyện kể rằng: Hai đứa trẻ nghèo đói đang bới móc đống rác ở ven đô thị. Mắt hai đứa sáng rực lên khi nhìn thấy miếng bánh kem thơm ngon của một đứa bé ngồi trên xe hơi vất xuống lề đường. Thằng anh chạy vội đến nhặt, nhưng miếng bánh quá lấm láp bởi đất bụi. Đứa con gái nuốt nước miếng, bảo thằng con trai: "Anh hai thổi sạch rồi mình ăn". Thằng anh phùng má thổi. Bụi đời đã dính thì chẳng chịu bay đi. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó đã làm miếng bánh rơi tõm xuống cống rãnh hôi hám và chìm hẳn. Con bé khóc thút thít: "Ai biểu anh hai thổi chi cho mạnh". Thằng anh ngậm ngùi: "Ừ, tại anh! Nhưng kem vẫn còn dính tay anh nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi!"

Truyện quá ngắn mà lòng quặn đau. Câu truyện không biết thực hư đến đâu. Nhưng cảnh đời “Người ăn không hết, kẻ lần không ra”, thì vẫn còn quá nhiều ở chung quanh chúng ta. Là người môn đệ của Chúa, ta phải làm gì trong hoàn cảnh này?

Năm xưa Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương xót đám dân theo Ngài. Họ nghèo đói tinh thần lẫn vật chất. Họ đói cơm và đói cả tình thương. Thiếu cơm thì không có bữa ăn ngon. Nhưng thiếu tình thương thì bữa ăn cũng mất ngon; và cuộc sống chỉ là những tháng ngày buồn chán và thất vọng. Đó là hai vấn đề, nhưng chung qui vẫn là một: không có tình thương. Không có tình thương sẽ không có chia sẻ. Khi có tình thương, thì "bánh ngon bẻ đôi", "chị ngã em nâng", người ta sẽ sống đùm bọc lẫn nhau đến mức độ "tối lửa tắt đèn có nhau". Ngay cả khi nghèo đói, họ vẫn có thể chia sẻ cho nhau, vì "lá lành đùm lá rách", “lá rách đùm lá nát”. Thậm chí “lá nát cũng tình nguyện đập vụn cho nhau”.

Chúa Giêsu đã khéo gợi lên trong lòng các môn đệ một vấn nạn lương tâm: "Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn?" Dường như các môn đệ đã lặng thinh trước vấn nạn Chúa Giêsu đặt ra. Họ im lặng vì "lực bất tòng tâm". Họ im lặng vì chưa cảm thấy trách nhiệm liên đới với người khổ đau. Philipphê đã nhanh trí thoái thác trách nhiệm khi ông nói: "Thưa Thầy, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút". Anrê cũng ủng hộ lập trường của bạn ông: "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh và hai con cá, nhưng ngần ấy thì thấm vào đâu!"  (Ga 6,9). Quả thực! Khi người ta không cảm thấy liên đới, thì người ta sẽ tìm trăm ngàn lí do để né tránh, để an phận thủ thường, để khỏi bận tâm, để “ngu si hưởng thái bình”. Các môn đệ muốn nại vào khó khăn, để biện minh cho sự thờ ơ của mình. Nhưng Chúa Giêsu đã tận dụng khó khăn ấy để dạy các ông: Cứ bắt đầu bằng nỗ lực của bản thân; rồi chính Thiên Chúa sẽ hoàn tất mọi sự trong tình yêu quan phòng của Ngài. Vì "mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Thực vậy, sau khi đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá từ lòng quảng đại của một em bé, Chúa Giêsu đã nhân rộng ra thành hàng vạn tấm bánh và con cá. Với quyền năng của Thiên Chúa, Ngài có thể tạo dựng mọi sự từ con số không. Nhưng Thiên Chúa lại muốn hành động ngang qua sự cộng tác của con người, vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

Hôm nay Chúa cũng muốn tất cả chúng ta tiếp tục thay mặt Chúa, để đi gieo hạt giống yêu thương vào giữa lòng thế gian. Hay nói cách khác, ta được tạo dựng là để yêu thương. Nếu ta không yêu thương, là ta đang đánh mất chính mình, là ta đang chết dần chết mòn trong ích kỉ và cô đơn. Cám ơn Chúa, lúc này ta đang sống. Sống là để yêu thương, mà nếu không còn khả năng yêu thương nữa, là ta đang đánh mất giá trị bản thân mình.

 

 

VÌ TƯƠNG LAI CON EM CHÚNG TA

Người lớn tận tụy ân cần

Lo cho tuổi nhỏ, góp phần dựng xây

Trẻ em phấn khởi từ đây

Vui chơi thỏa thích, sum vầy bên nhau

Tương lai rạng rỡ muôn màu

Thành công, thắng lợi, nhịp cầu hôm nay

Cùng nhau hợp sức chung tay

Vì đàn em nhỏ, vì ngày mai sau.

HOÀI THANH, Gx Ngọc Thạch

 

 

TRẺ EM TRONG KINH THÁNH

Trung Thành

Trong cuộc đời rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu đã gặp gỡ nhiều đối tượng khác nhau: đám đông quần chúng, giới lãnh đạo tôn giáo, những người tội lỗi, các đối thủ, dân ngoại, những người tàn tật đau yếu. Trong cái đám đông hỗn tạp này, hình ảnh Chúa gần gũi các trẻ em, ôm chúng vào lòng, đặt tay trên đầu chúng mà chúc lành ngời sáng lên sự dịu hiền, sự trìu mến, sự quan tâm của Chúa. Điều này để lại nơi chúng ta những cảm xúc và tâm tình rất nhẹ nhàng, ấm áp, mời gọi chúng ta dừng lại ít phút để tìm hiểu chủ đề trẻ em trong Kinh Thánh.

CỰU ƯỚC

1. Đề cao con cái, dòng tộc. Theo Cựu Ước, việc đông con nhiều cháu là trật tự của tạo thành, là lệnh truyền của Chúa (St 1,28). Vô sinh, hiếm muộn là một tai họa, là điều buồn tủi, một sự bất hạnh (St 15,5; 30,23). Được sinh con là một điều đáng ca ngợi, người ta cầu chúc cho một người phụ nữ được làm mẹ (St 25,21; 30; 1 Sm 1,10). Một em bé được sinh ra là phúc lành, là ơn ban của Thiên Chúa (Tv 127,3tt). Các gia đình được trường tồn nhờ các trẻ em được sinh ra nối tiếp nhau. Do Thái giáo đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh này, quy chiếu nó vào sự tồn vong của dân tộc. Luật Môsê cho phép người chồng chết đi mà không có con thì người em được lấy người vợ góa để “tên của người chết không bị xóa khỏi Ítraen” (Đnl 25,5-6). Việc tránh thụ thai là điều ghê tởm. Việc giao hợp là để sinh con cái. Một cuộc hôn nhân thanh khiết, đức hạnh rất đẹp lòng Chúa. Phá thai, đọa đày con cái, bỏ rơi con cái, đó là theo tục lệ của dân ngoại, đáng bị nguyền rủa. Trong bầu khí tôn giáo và văn hóa đề cao tồn sinh này, ít có trường hợp người ta tự nguyện sống tiết chế tính dục, ngoại trừ những người theo phái Essêni, hoặc để chống lại sự vô độ tình dục.

2. Trẻ em tham gia vào hoạt động tôn giáo. Việc cắt bì là bước khởi đầu cho một em nhỏ được hiệp thông với cộng đoàn phụng tự. Những em trai đầu lòng thì thuộc về Chúa và phải được chuộc lại bằng các lễ vật. Các trẻ em được tham dự vào việc tế tự của gia đình và phải đón nhận những lời giáo huấn của cha mẹ (x. 1 Sm 1,4; Đnl 4,9; Cn 4,11tt). Việc dâng các em còn nhỏ tuổi vào trong đền thờ là điều được chấp nhận nhưng rất ít xảy ra (1 Sm 1,28). Không có trường hợp các trẻ em được làm tư tế. Do Thái giáo đặc biệt chú trọng việc dạy lề luật cho các trẻ em. Các em trai được chỉ dạy lề luật từ rất sớm và chúng phải tuân giữ trọn vẹn mọi điều luật, nghĩa là không được miễn giảm điều khoản nào. Các em trai còn buộc phải tham dự các cuộc đại lễ trong mọi khả năng của mình. Việc cắt bì được coi là một bổn phận đối với các em. Còn các trẻ em nhập đạo thì được rửa tội cùng với cha mẹ của chúng.

TÂN ƯỚC

1. Đức Giêsu. Thừa hưởng truyền thống Cựu Ước về giá trị của sự sống con người cũng như giá trị về gia đình dòng tộc, Chúa Giêsu, mặc dù nhìn nhận có những người không kết hôn vì Nước Trời, đã xác nhận và thánh hóa tình yêu vợ chồng (Mt 5,31; 19,9; 7,9tt). Bằng cuộc sống âm thầm ở Nadarét Chúa Giêsu thánh hóa gia đình như đã được chuẩn bị qua suốt thời Cựu Ước. Chúa Giêsu cùng với Đức Mẹ và các môn đệ đến tham dự tiệc cưới tại Cana cũng là để thánh hóa hôn nhân và đời sống gia đình  (Ga 2,1-10).

Riêng với các trẻ em, Chúa Giêsu đã tỏ thái độ rộng mở đón nhận. Thái độ này có lẽ khác biệt với các kinh sư đương thời, vốn coi trẻ em cùng với phụ nữ không có giá trị trong xã hội. Tin mừng nhất lãm đã ghi lại những lần Chúa gặp gỡ trẻ nhỏ. Người đã chúc phúc cho các trẻ nhỏ (Mc 10,16); Người muốn cho thấy rằng trẻ em là thành phần ưu tiên được vào Nước Trời. Trẻ nhỏ tượng trưng cho những môn đệ đích thực, “Nước Trời dành cho những ai giống như chúng” (Mt 19,14tt). Thật vậy, vấn đề là phải “tiếp nhận Nước Trời như trẻ nhỏ” (Mc 10,15) và đơn sơ đón nhận Nước Trời như một ơn huệ của Cha thay vì đòi hỏi như một món nợ phải trả. Phải “trở về tình trạng con trẻ” (Mt 18,3) và chấp nhận “tái sinh” (Ga 3,5) để vào Nước Trời. Bí quyết để trở nên cao trọng đích thực là “trở nên bé nhỏ” như một đứa trẻ (Mt 18,4): đó chính là sự khiêm nhường đích thực, mà thiếu đi, người ta không thể trở thành con cái của Cha trên trời.

2. Thánh Phaolô. Ngài có nói tới tình trạng đơn sơ của trẻ em (1 Cr 14,20) để sống lời mời gọi của Chúa trong Mt 18,3. Nhưng nếu muốn trở nên một Kitô hữu trưởng thành thì người ta phải có trí phán đoán vững vàng như người lớn (Rm 12,2; 16,19; Ep 4,14; Pl 1,10). Hầu hết những so sánh của Phaolô về con trẻ đều có ý nhấn mạnh sự non nớt, yếu kém của đời sống thiêng liêng (1 Cr 3,1-2; 13,11). Trong thư Do Thái 5, 12-13 tác giả cũng nói tới tình trạng ấu trĩ thiêng liêng giống như vậy.

3. Giáo hội thời kì đầu. Vào thời điểm có nhiều người đặt quá nhiều kì vọng vào ngày cánh chung gần đến, cùng lúc có những người chọn sống tiết chế tính dục để được thanh thoát trong thời gian sau cùng thì người ta không còn đề cao trẻ em nữa. Tuy nhiên, Giáo hội vẫn duy trì giáo huấn Kinh Thánh về công trình tạo dựng, nghĩa là trẻ em cũng nằm trong kế hoạch yêu thương và cứu độ của Thiên Chúa. Chính vì vậy Giáo hội ra sức bảo vệ các giá trị hôn nhân và gia đình, chống lại tình trạng dâm loạn, khiển trách việc tránh thụ thai, phá thai, bỏ rơi con cái vốn thịnh hành nơi dân ngoại vào lúc ấy. Vào những thời kì đói kém, chiến tranh, và xáo trộn người ta coi những phụ nữ, những người già cả đau yếu, những người nô lệ là yếu đuối về thể lí, do đó trở thành vô dụng và gánh nặng cho cộng đồng xã hội. Ở Hi Lạp và Rôma người ta chấp nhận việc bỏ rơi đứa con ngoài ý muốn nơi “đầu đường xó chợ” để cho nó chết đi cho khuất. Thánh Giustinô Tử Đạo (100-165 AD) là tiếng nói mạnh mẽ nhất chống lại thói tục này. Ngài coi đó là hành động thất nhân tâm và ác đức. Qua việc đấu tranh tư tưởng cùng với những giáo huấn tha thiết của ngài, các Kitô hữu tích cực đi tìm những trẻ em bị bỏ rơi lang thang đầu đường xó chợ, đón nhận và đưa về dạy dỗ chúng như con ruột của mình. Việc làm này đã góp phần rửa sạch khuôn mặt dơ dáy của xã hội thời đó.

Thánh Clêmentê thành Alexandria (c.150 – c.215), trình bày một cái nhìn có lẽ được coi là tiêu biểu cho lập trường Kitô giáo thời ấy về trẻ em. Ngài nói đại ý rằng sự thiếu vắng hay việc để các trẻ em bị tổn hại cách nào đó trong cộng đồng là một sự thiệt thòi cho xã hội không gì bù đắp được; ngài đề cao hôn nhân chặt chẽ, theo đúng lễ giáo, coi đó là phương thế căn bản để xây dựng cộng đồng dân tộc, kiến tạo những điều tốt đẹp trong xã hội, sản sinh những thế hệ trẻ em được nuôi nấng và dạy dỗ tốt. Ngày nay đọc lại tư tưởng của ngài, dẫu cách xa chúng ta gần hai ngàn năm chúng ta thấy vẫn đúng. Trong Thư mục vụ năm Thánh hóa Gia đình (2002), các vị chủ chăn của Giáo hội Việt Nam cũng bày tỏ sự quan tâm giống như vậy: “Gia đình là nôi, là trường học đầu tiên, nơi con cái lớn lên cả về thể xác lẫn tinh thần, nơi con cái không chỉ được dạy dỗ bằng lời nói mà còn bằng gương sáng. Vì thế cha mẹ không chỉ lo cho con cái được rửa tội mà còn phải lo cho đức tin con cái được lớn lên trong bầu khí gia đình đạo đức chan hòa tình mến Chúa yêu người. Hướng dẫn con cái trân trọng tình liên đới trong mối liên hệ bác ái giữa các thành viên trong gia tộc.” (s. 8)

*

Ngày nay khi nói về trẻ em, xã hội chúng ta đi theo những chiều hướng quan tâm khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không khỏi băn khoăn là có những đường hướng giáo dục không chỉ làm hại trẻ em, mà còn đưa chúng vào tình trạng phát triển lệch lạc. Tất cả do bởi xã hội ngày nay đã bị tục hóa nặng nề, những giá trị đạo đức và thiêng liêng không mấy được chú tâm. Là những người con Chúa, được lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội hướng dẫn, mỗi người chúng ta trong trách nhiệm của mình, phải luôn tích cực giáo dục và hướng dẫn các trẻ em để chúng trở thành những con người hữu ích cho xã hội và Giáo hội.

 

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 7-2015

Đôi khi chúng ta có cảm tưởng Sách Thánh ít nói đến thiếu nhi. Tuy nhiên khi tìm hiểu chúng ta sẽ thấy không hẳn như vậy. Sách Thánh cũng nói nhiều về các trẻ em như những thành phần khác. CĐKT tháng này mời gọi chúng ta khám phá thế giới của trẻ em đã được Kinh Thánh nói đến.

 

 

 

1- Sách các Vua nói tới một em nhỏ mới 7 tuổi mà đã lên làm vua, đó là ai?

2- Sách Sáng Thế nói tới một thiếu niên 13 tuổi mới chịu phép cắt bì, đó là ai?

3- Sách các Vua quyển thứ nhất nói tới phép lạ một vị tiên tri làm hồi sinh con trai của một bà góa. Vị tiên tri đó là ai?

4- Đứa bé nào được giấu kĩ trong dòng sông Nin để tránh bị Pharaô giết?

5- Đứa bé nào đã tranh giành với em song sinh của mình ngay khi còn trong lòng mẹ?

6- Vị vua nào khi xử kiện cho hai người phụ nữ đã dọa chặt một trẻ sơ sinh ra làm hai?

7- Sách Sáng Thế kể chuyện một em thiếu nhi có hiếu đi tìm những quả ngải sâm mang về cho mẹ mình. Em nhỏ đó là ai?

 

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 5-2015

 

1. XÍPPÔRA (Xh 2,15-22) 2. ÊLISABÉT (Lc 1,41-45) 3. ĐINA (St 34,1) 4. XARAI (St 12,11-13)       5. RUPHÔ (Rm 16,13) 6. NAOMI (R 1,1-6) 7. ĐƠRUXILA (Cv 24,24-27) 8. RAKHEN (St 35,24)      9. ÊUNIKÊ (2 Tm 1,5;3,15)

Chúc mừng những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 5-2015:

1- Don Bosco Phạm Minh Đức, Gx. Long Bình, Kênh G2

2- Vinc. Hoài Thanh, Gx. Ngọc Thạch, Kênh B phố

3- Nguyễn Hồng Diễm, Phương Quý 2, Vinh Quang, Tỉnh KonTum

3- Phạm Thùy Trang, 386, Ấp 3a, Củ Chi, Tp. HCM

5- Maria Vũ Hoài Thương, Trung Tâm Dạy Nghề Phước Lộc, Bà Rịa Vũng Tàu

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

            - Email: jostrung.trung@gmail.com

            - Điện thoại: 01672576777

            - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

            Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên GiangS

 

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

Giáo Hội sơ khai

 

Không một vị thiên sai nào để lại cho tín đồ mình một của nợ thế chấp lớn như Đức Giêsu. Ngài tự để bị hạ nhục, bị tra tấn và cuối cùng bị giết. Và đã không có gì xẩy ra. Không một toán quân đến để kéo Ngài ra khỏi tay những kẻ làm nhục Ngài. Con Thiên Chúa mà lại không tự mình xuống khỏi thập giá. Và cũng chẳng phải hết mọi người tin vào sự sống lại của Ngài. Giờ đây, môn đệ Ngài đang quanh quẩn ở Giêrusalem. Họ sống một phần nhờ vào quà tặng. Nhưng cũng nghe kể rằng, những tín hữu tiên khởi đó sống trong yêu thương và tình anh em: “Mọi người đều cùng một tâm một trí. Không ai trong họ phải khó khăn túng quẫn”. Làm sao mô tả cái Giáo Hội nguyên thuỷ đó? Đó là một kiểu công xã cộng sản? Người ta đã hay so sánh Giáo Hội đó với công xã cộng sản. Nhưng không đúng, vì một đàng là một tổ chức nhà nước trói buộc, một đàng là một cộng đoàn hình thành từ tự do của lòng tin, từ lời rao giảng của các tông đồ trong ngày lễ ngũ tuần.

Sách Công vụ Tông đồ cho ta hay, lời giảng đó đã đi vào lòng người như thế nào. Lời đó đã chạm tới con tim và đã rúng động nó ra sao. Người ta đã cảm nhận được cái gì thực sự mới mà họ đang chờ đợi; mình phải thay đổi, mình phải quay về nẻo chính. Chỉ trong vòng một ngày có tới 3000 người rửa tội, sách viết như thế. Và Giáo Hội tiên khởi đã hình thành từ đó, lúc họ còn đang sống trong nỗi hân hoan của Thánh Linh, trong cảm nhận trực tiếp của ngày ngũ tuần.

Những con người đó đã thực hiện được một cộng đoàn trong đức tin kiểu mẫu, dĩ nhiên không phải có thể áp dụng cho bất cứ ở đâu: Không để ai trong họ phải nghèo đói, họ chia sẻ cho nhau và cùng chung nhau một trái tim, một tâm trí. Trong lịch sử, khuôn mẫu cộng đoàn đó luôn là một cái gai khó chịu cho một Giáo Hội đã tục hoá, sống theo mẫu mực trần thế.  

Cả cuộc sống dòng tu cũng hình thành theo lý tưởng trên. Thánh Augustinô đã đem câu “họ sống cùng một tâm một trí với nhau trong một cộng đoàn” làm trọng điểm áp dụng cho luật dòng của ngài. Ngài hy vọng giáo phận mình ít ra sẽ giữ được ngọn lửa sống động của Giáo Hội tiên khởi,  nhờ sự có mặt của cộng đoàn tu nhỏ bé điển hình đó trong giáo phận. Cùng với tiến trình phát triển của Giáo Hội, khuôn mẫu trên hẳn đã không còn áp dụng được cho bất cứ nơi nào, kể cả từ thời các tông đồ, nhưng nó trước sau vẫn là cái gai. Vấn đề là, không được để ai trong Giáo Hội phải nghèo đói, không được bỏ rơi ai. Đó là đòi hỏi ngày hôm nay đang đánh động ta một cách cụ thể.

Tại sao những người Do-thái theo đạo đầu tiên lại bỏ tục cắt bì?

Đó là cuộc tranh luận lớn, chủ yếu do Phaolô tạo ra. Thoạt tiên, người ta công nhận Đức Giêsu Kitô là vị cứu tinh của Israen. Họ nhìn ra nơi Ngài một kiểu sống Do-thái giáo khác. Nhưng câu hỏi: Như vậy luật cũ, đặc biệt là một thói quen đã có trước luật Maisen như tục cắt bì, còn tiếp tục có giá trị không? Câu hỏi này đã không có câu trả lời một cách đương nhiên được. Tiến trình đi tới với những người ngoại giáo diễn ra từng bước một. Đã có cuộc gặp gỡ giữa Phêrô với Corneliô, người lính đội Rôma. Trong một thị kiến, Phêrô thấy tất cả mọi người đều được thanh tẩy, và sự thanh tẩy đó đến từ đức tin, chứ không phải do máu huyết Abraham, như người ta lúc đó vẫn tin. Và cuối cùng, khi người ngoại ở Antiokia bước chân vào đền thờ, họ nghe và muốn đón nhận sứ điệp của Đức Kitô, thì câu hỏi được đặt ra: Nếu giờ đây họ muốn trở thành kitô hữu, thì họ buộc phải tuân theo tục lệ Do-thái hay sao? Họ phải cắt bì ? Từ đó nẩy sinh ra nhận thức: Muốn thành môn đệ Đức Kitô, người ta không buộc tuân theo tục lệ Do-thái một cách bề ngoài, nhưng phải bước vào cộng đoàn tinh thần của Ngài. Nhận thức trên đây chủ yếu do Phaolô khởi xướng và đã được công nhận. Nhận thức đó ngài đã lãnh hội được qua cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa ngài với Chúa Kitô phục sinh. Chính Đức Kitô là sức mạnh thanh tẩy. Và nghi thức dẫn vào Dân Thiên Chúa mới đó là phép rửa. Và ai đã nhận phép rửa, chẳng còn cần cắt bì.

Phaolô chẳng phải luôn là người cấp tiến, như ngài đã chứng tỏ trong việc cắt bì. Trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Côrintô, ngài đã nói về địa vị phụ nữ trong Giáo Hội, họ phải đội khăn che mặt mỗi khi dự lễ, như là “dấu chỉ của sự phục tùng”. Và nữa: “Trong buổi họp họ phải im lặng. Họ không được phép mở miệng. Họ phải phục tùng, như luật đã ra. Nếu muốn biết gì, nên về nhà hỏi chồng. Bởi vì chuyện phụ nữ mở miệng trong buổi họp là điều không xứng hợp”. Phải chăng đó là sự khinh miệt phụ nữ? Quan điểm của Phaolô đã thắng thế trong Giáo hội?

Ngay điểm này, các thư Phaolô phải được hiểu theo nhiều cách. Một mặt, câu trên dĩ nhiên gợi lên ý tưởng phụ nữ phải phục tùng. Đã có người muốn vứt đoạn đó ra khỏi thư ngài, nhưng làm vậy là vô nghĩa. Mặt khác, phụ nữ ngày nay cũng hay nại tới Phaolô, bởi vì họ thấy nhiều chỗ trong các thư ngài các bà đóng một vai trò đặc biệt và có sự cộng tác rất chặt chẽ với ngài. Ngài nói với người này, bà là mẹ của tôi. Với những người khác, họ là « những kẻ mang ách đồng hành », những người cùng hợp tác với ngài để phục vụ Tin Mừng. Một chỗ khác, ngài gọi một bà là tông đồ.

Nói vậy thì nghe vậy.

Đức Giêsu đã được các phụ nữ thông cảm, đi theo và hỗ trợ. Cũng thế, các bà cũng đã đóng một vai trò rất đặc biệt trong sứ mạng của Phaolô. Chẳng hạn như Lydia, cô bán phẩm đỏ ở Philipi, đã ép ngài và những bạn đồng hành nghỉ lại nơi nhà cô, và như thế cô đã trở thành khởi điểm của truyền giáo. Như vậy thì Phaolô chẳng phải là “tay tranh đấu cho nam quyền một cách ẩu tả”, như cảm tưởng tạo ra bởi câu trích trên, nhưng ngài đã tiếp tục làm theo gương của Đức Giêsu Kitô trước đó.

Hẳn nhiên, ta cũng thấy tính cách hai mặt nơi Phaolô. Ngài là kẻ đã vượt qua luật lệ Do-thái để tới với dân ngoại, và nhờ vậy đã mở ra chiều kích hoàn vũ cho Giáo Hội; là kẻ chống lại Phêrô trong tục lệ ăn uống. Nhưng cũng một Phaolô đó là người vẫn coi một số thói  tục cũ là tốt và không muốn bỏ chúng. Mỗi con người, dù sao, đều muốn giữ lại một góc bảo thủ cho mình, nếu ta muốn nói như thế. Tóm lại, tôi nghĩ, có hai mặt nơi Phaolô. Một mặt, ngài không cho phụ nữ giảng trong phụng vụ. Mặt khác, ngài lại dành cho phụ nữ một vai trò lớn trong toàn bộ lịch sử Giáo Hội. (Còn tiếp).

 

 

CỐ TĨNH TÂM

Đường đi tới Nước Thiên đàng

Trải bao đau khổ gian nan cõi trần

Nguyện xin Đức Chúa Thánh Thần

Mong Ngài dìu dắt bước chân ngập ngừng

Với bao thử thách chưa từng

Phải năng cầu nguyện không dừng tĩnh tâm

Chúa Trời nghĩa nặng tình thâm

Lòng lành thương xót, lỗi lầm thứ tha

Thế gian, xác thịt, quỷ ma

Ba thù cám dỗ làm ta sai lầm

Tĩnh tâm, tâm tĩnh, tĩnh tâm

Đừng cho tội lỗi giam cầm đời ta.

Phêrô Đào Viết Sang, Gx Mong Thọ

 

CHUYÊN ĐỀ GIÁO XỨ & THIẾU NHI

 

NGƯỜI CÔNG GIÁO NĂNG ĐỘNG

 

Để xây dựng Giáo Xứ thành một cộng đoàn sống Tân Phúc Âm Hóa, mọi thành phần trong Giáo Xứ phải biết nỗ lực cộng tác với nhau để xây dựng Giáo Xứ thành một gia đình, là nơi mà mọi người Quy Tụ, Chia Sẻ Và Cầu Nguyện; Lắng Nghe Và Thực Hành Lời Chúa; Và Hiệp Thông Với Nhau. Bên cạnh đó, những đặc tính mà mọi người phải quan tâm đến trong việc Tân Phúc Âm Hóa là: Dành Ưu Tiên Cho Việc Tìm Kiếm Những Chiên Lạc; Có Một Ước Muốn Khôn Nguôi Để Bày Tỏ Lòng Thương Xót; Và  Biết  Để Tâm Đến Đời Sống Hằng Ngày Của Con Người, để làm cho cộng đoàn Giáo Xứ của mình thành một cộng đoàn "Mở Ra Đi Ra" để đến với con người, hầu nói cho họ biết Trọng Tâm Của Sứ Điệp Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa. Thế nhưng, để thực hiện được những điều trên trong việc Tân Phúc Âm Hòa Đời Sống Cộng Đoàn Giáo Xứ, mỗi người cần phải được đào tạo và tự đào tạo mình trở thành Người Công Giáo Năng Động, nghĩa là, là một người Công Giáo "luôn hoạt động và nhạy bén tìm mọi cách để thực hiện những mục đích đã định". Mục đích chính của người Công Giáo trong việc sống tân Phúc Âm Hóa là: Sống và Rao Truyền Trọng Tâm Của Sứ Điệp Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa. Vậy đâu là dấu hiệu cho thấy mình là một người Công Giáo năng động? Có bốn dấu hiệu chính: Đời Sống Cầu Nguyện, Nghiên Cứu Học Hỏi, Quảng Đại Bao Dung, và Sống Phúc Âm Hóa.

1. Đời Sống Cầu Nguyện

Một người Công Giáo năng động phải có một đời sống gắn bó với việc cầu nguyện. Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa ở xa con người. Ngài ở ngay bên con người như một người bạn, như một người cố vấn của con người. Về phần mình, để được Thiên Chúa là bạn, là người cố vấn, con người cần phải cố gắng để lắng nghe tiếng của Thiên Chúa, tin vào những ý định của Ngài, và sống theo điều mình tin thì sẽ được Thiên Chúa dẫn đi trên con đường dẫn đến hạnh phúc. Như vậy, là người con Chúa, là người Công Giáo, ta cần phải gắn bó với Chúa trong cầu nguyện. Vì, cầu nguyện là ta hướng lòng mình lên với Chúa, sống tình thân mật với Ngài, lắng nghe tiếng Ngài, và nhờ vậy ta kín múc được sức mạnh từ nơi Ngài, hầu có thể sống tốt và sống trọn vẹn những huấn lệnh của Ngài trong đời sống hằng ngày. Quả vậy, đối với những người Công Giáo năng động, cầu nguyện là ưu tiên một trong đời sống đạo và trong những hoạt động tông đồ của họ. Chính trong cầu nguyện, họ tìm ra được đâu là ý Chúa, và tìm được sự đỡ nâng để thực thi ý Chúa. Có những thực hành cụ thể thể hiện đời sống cầu nguyện nơi những người Công Giáo năng động. Thánh lễ là việc thực hành ưu tiên và quan trọng đối với họ. Họ đi tham dự Thánh lễ không chỉ ngày Chúa Nhật, những lễ trọng và lễ buộc, mà còn cả những ngày thường. Họ tham dự Thánh lễ cách tích cực và sốt sắng. Nghĩa là họ tham dự Thánh lễ cách trọn vẹn từ đầu đến cuối, cùng với cộng đoàn phụng vụ thưa kinh cách nghiêm trang, chăm chú lắng nghe Lời Chúa, và hướng trọn vẹn tâm hồn mình lên với Chúa. Bên cạnh việc tích cực tham dự Thánh lễ mỗi ngày, những người Công Giáo năng động còn quan tâm đến những hình thức cầu nguyện khác như: đọc kinh mai, kinh hôm như cách để dâng một ngày mới cho Chúa, với những công việc trong ngày, để xin Chúa hướng dẫn và nâng đỡ; như để tạ ơn Chúa một ngày đã qua và dâng giấc ngủ đêm cho Chúa. Ngoài ra, đọc Kinh Thánh và đọc sách đạo đức cũng là những cách thức khác nữa mà những người Công Giáo năng động thường làm như là một cách cầu nguyện. Thực thế, Thiên Chúa nói và hướng dẫn với con người qua Lời của Ngài trong Kinh Thánh. Khi cầu nguyện bằng cách đọc Kinh Thánh, chúng ta được lắng nghe cách trực tiếp Lời của Thiên Chúa, và qua những đoạn sách đạo đức, chúng ta được Thiên Chúa hướng dẫn nhờ những tư tưởng đạo đức của những nhà đạo đức.

2. Nghiên Cứu Học Hỏi

Người Công Giáo năng động là người không ngừng học hỏi. Với người Công Giáo năng động, trung bình mỗi ngày họ dành ít nhất 15 phút để đọc sách để bồi đắp thêm những kiến thức về đạo, nhất là đọc Kinh Thánh. Họ tự xem mình là học trò của Chúa Giêsu và của Giáo Hội của Ngài, và luôn sẵn sàng để cho Ngài đào tạo qua những Lời của Ngài trong Kinh Thánh và qua những giáo huấn của Giáo Hội. Thật vậy, Chúa Giêsu không chỉ cần những người theo mình, mà cần những người môn đệ đích thực. Những người đi theo thì có thể rất đông, nhưng những người là môn đệ đích thực thì chỉ có ít. Để là người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, việc đầu tiên phải là "ngồi dưới chân Chúa" để nghe Lời Ngài. Chính vì thế, những người Công Giáo năng động luôn tin rằng, Chúa Giêsu đang dạy họ qua Lời của Ngài trong Kinh Thánh và qua những giáo huấn của Giáo Hội. Siêng năng đọc Kinh Thánh và học hỏi những giáo huấn của Giáo Hội chính là việc chúng ta đang "ngồi dười chân Chúa" để học hỏi. Nhờ vậy, những hiểu biết về đạo của chúng ta sẽ nên phong phú hơn, và đức tin của chúng ta sẽ được Chúa củng cố ngày càng vững mạnh hơn.

3. Quảng Đại Bao Dung

Một dấu hiệu nữa nơi người Công Giáo năng động là lòng quảng đại bao dung. Điều này được thể hiện qua tinh thần phục vụ của họ. Họ sẵn sàng dùng thời giờ, tài năng và tiền của, nhất là tình yêu và gương lành, để phục vụ người khác. Người Công Giáo năng động luôn coi trọng lòng quảng đại bao dung, và coi đó như là trọng tâm và căn cốt của đời sống của họ. Vì là người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, những người Công Giáo năng động luôn cố gắng để trở nên giống Thầy mình về lòng quảng đại bao dung. Họ là những người tình quảng đại và bao dung, là những người cha người mẹ quảng đại bao dung. Họ quảng đại và bao dung với những đồng nghiệp tại nơi làm việc, với những người hàng xóm, với những người họ gặp gỡ hằng ngày, và nhất là với những người làm hại họ, những người làm cho họ bị tổn thương. Họ sống quảng đại và bao dung với sự kiên trì, tử tế và cảm thương, và coi đó không phải là một đòi hỏi của tôn giáo mà là một cách thế để mang tình thương của Thiên Chúa vào thế giới.

4. Sống Phúc Âm Hóa.

Khi sống được ba điều trên, đời sống của những người Công Giáo năng động sẽ là lời mời gọi những người khác biết nỗ lực để được lớn lên về đời sống tinh thiêng liêng. Quả thế, với những người Công Giáo năng động, họ sống tốt không phải chỉ là cho bản thân họ, nhưng còn là vì và cho những người khác. Bằng chính đời sống tốt lành của mình, họ chia sẻ cho những người khác tình yêu của Thiên Chúa. Họ Phúc Âm Hóa người khác bằng chính đời sống sống tốt lành của họ. Đây chính là dấu hiệu thứ tư được thể hiện nơi những người Công Giáo năng động. Với người Công Giáo năng động, để có thể Phúc Âm Hóa người khác, trước hết họ Phúc Âm Hóa chính bản thân mình. Ta không thể thánh hóa người khác khi bản thân mình chưa được thánh hóa; ta không thể giúp người khác sống tốt khi bản thân mình chưa tốt; và ta không thể củng cố đức tin cho người khác khi bản thân mình chưa vững tin. Nói cách khác, những người Công Giáo năng động luôn quan tâm sống tinh thần Phúc Âm, để rồi làm cho tinh thần Phúc Âm thấm nhuần vào môi trường họ sống, hầu thánh hóa những người khác. Tóm lại, để Giáo Xứ trở thành một cộng đoàn sống đức tin, rất cần những người Công Giáo năng động. Vậy mỗi người hãy tự hỏi mình: Tôi có thực sự là một người Công Giáo năng động chưa?

Hương Quê

 

NHI

Lm. JB. TRẦN ĐINH TỬ

 

Trong Tân Ước hình ảnh THIẾU NHI đã được nhắn đến nhiều lần, nhưng có hai điều đáng chú ý “Trẻ-Thơ đơn sơ”: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng." (Mt 19,14; Mc 10,14; Lc 18,16) và “Con-Nít ranh”: Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói: ‘Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than.’ (Mt 11,16-17; Lc 7,32).

 

Với lối chiết tự thì chữ NHI thật đẹp nó cho thấy thật đúng về giai đoạn trẻ thơ, nhu cầu ăn uống để phát triển là chính đáng. Trong đầu của trẻ không chất chứa điều gì ưu tiên hơn là thức ăn, đúng là ‘ăn để lớn’. Tuổi thơ thì đơn sơ, trong đầu, tâm trí trẻ thơ không có những chiêu thức tính toán hơn thua. Các bậc cha mẹ sẽ thật buồn khi con trẻ thiếu “tinh thần ăn uống”, là biếng ăn, chậm lớn, chậm phát triển toàn diện. Nhu cầu ưu tiên ăn uống của thời trẻ thơ là chính đáng, là một điều tốt. Người lớn phải có trách nhiệm lo cho trẻ có đầy đủ thực phẩm bổ dưỡng để nuôi sống. Chúc các em mạnh khỏe ăn nhiều chóng lớn; sống thật hạnh phúc đơn sơ tận hưởng trọn thời trẻ thơ. Thánh Phaolô đã chí lý khi nói đến từng giai đoạn Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con” (1Cr 13,11). Khi hết tuổi trẻ thơ mà trong đầu chỉ ưu tiên tìm và chiếm đoạt những “thứ thức ăn vật chất”; thì thật buồn và bị người đời gọi là “con nít sống lâu năm”, “con-nít ranh” vậy. Phải chăng đây là điều đáng buồn cho nhiều người dù đã hết thời thơ bé, nhưng vẫn chưa thể bỏ được “tất cả những gì là trẻ con”. Đó cũng là chưa sống được đúng VỊ (vị trí, địa vị) mà chúng ta sẽ bàn đến trong dịp tới.

 

 

MỪNG SINH NHẬT CHÁU NGOẠI

Mừng cháu ngoại tôi bốn tuổi tròn

Tuổi thơ trong trắng búp măng non

Ông bà chúc cháu ngoan và khỏe

ha mẹ mừng con giỏi lại khôn

Muốn búp măng to, tre phải tốt

Mong cây trái lớn, đất cần phân

Ông bà cha mẹ tạ ơn Chúa

Bổn phận gia đình chăm sóc con.

Song Kiên, Gx Đài Đức Mẹ

 

 

PHÚC ÂM HÓA VIỆC GIÁO DỤC

 

1- Lễ cưới, cô dâu thường ôm một lẵng hoa tươi đẹp. Thời gian sau, thay vì bó hoa, nàng ôm ẵm trong tay, áp sát vào lòng, một đứa con. Con cái là hoa quả tuyệt diệu cụ thể của tình yêu trao hiến thủy chung của vợ chồng. Nàng được làm mẹ, chàng lên chức bố: Con nằm giữa cha, con nằm giữa mẹ. Cuộc đời nằm giữa yêu thương. Cùng với đứa con là niềm vui, hạnh phúc, tương lai; và cũng là trách nhiệm nặng nề và cao cả của người làm cha làm mẹ. Con cái là búp trên cành, là măng trong khóm tre; là bình minh của gia đình; là chồi lộc của giáo xứ, là rường cột của xã hội.

2- Vì lợi ích trăm năm, trồng người=Giáo dục. Nhân chi sơ, tính bản thiện. Không có đứa trẻ nào sinh ra đã hư hỏng đồi bại. Chính môi trường giáo xứ, cộng đoàn, xã hội và sự giáo dục của gia đình đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách của đứa trẻ. Chủng viện thứ nhất, trường Sư Phạm thứ nhất là Gia đình. Không vị giám đốc tài ba nào, không nhà chuyên viên xuất sắc nào có thể làm thay cha mẹ được: “Vì là người truyền sự sống cho con cái, cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng. Họ là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu. Quyền và bổn phận giáo dục con cái là căn bản, bất khả nhượng của cha mẹ”.

3- Cha mẹ không chỉ cho con cái sự sống, mà còn phải dạy chúng cách sống; phải trang bị cho chúng những đức tính nhân bản căn cơ cần thiết; người xưa gọi là Ngũ Thường: Có lòng NHÂN, yêu người, thì sẽ được người yêu. Không có NHÂN, ắt sinh ra hận thù, chia rẽ xâu xé tang thương. Có NGHĨA, thì được đền đáp và tín trung. Không có NGHĨA, ắt có bội thề, phản trắc, tranh giành. Có LỄ, thì được kính trọng, nể vì. Không có LỄ, sinh ra hỗn hào, loạn lạc, vô phép vô tắc. Có TRÍ, thì được nể phục, vâng nghe. Không có TRÍ, ắt dốt nát, tụt hậu, chậm tiến, nghèo khổ. Có TÍN, thì được mọi người tin tưởng. Không có TÍN, sẽ có gian dối tham ô, mánh mung lừa đảo.

Gia đình còn là trường dạy đức tin, là cái nôi thông truyền đức tin và Lời Chúa, là lò đào tạo con cái thành Kitô hữu vững mạnh và gương mẫu đạo đức, sống đúng ơn gọi làm con Thiên Chúa. Không một vĩ nhân, không một thánh nhân nào, thời thơ ấu mà đã không ngồi trên đầu gối cha, không nằm trong vòng tay ấm mẹ, để được dạy dỗ nên người.

4- Giáo dục con cái là việc chung của cha lẫn mẹ: Thiên Chúa ban cho người mẹ bản tính dịu hiền; và người cha tính tình cương nghị, để bổ túc cho nhau trong việc giáo dục con cái. Mẹ dịu dàng, cha khôn ngoan. Trí tuệ của người cha và trái tim của người mẹ hòa hợp với nhau kết dệt nên cho đời một nhân cách hoàn hảo, đó là đứa con đẹp người đẹp nết.

Tre già măng mọc. Đó là quy luật sinh tồn. Nhưng tre cong, măng khó thẳng. Cha nào con nấy; cha lành con thảo. Con hơn cha là nhà có phúc; nhưng nếu hơn cha về đam mê tệ trạng thói hư tật xấu, bê trễ kinh sách lễ lạt, thì đó là nhà vô phúc, bất hạnh, đại họa! Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Mẹ tròn, con vuông; mẹ đã méo, con phải mó; mẹ đã lọ, con phải lem. Thượng bất chính, hạ tắc loạn; giậu đổ bìm leo; cá thối tự đầu; nhà dột từ mái.

Cha mẹ là “người mẫu”, là gương soi của con cái từ lời ăn tiếng nói đến việc làm. Trách nhiệm của cha mẹ cực kỳ quan trọng: “Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái ? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Cây tốt sinh trái tốt, cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7,16-17). Phúc đức tại mẫu. Nhìn vào một gia đình hạnh phúc, chắc chắn ở đó có một người mẹ biết hy sinh quên mình. Điều này đúng cho thánh gia Chúa Giêsu, và cho mọi gia đình nhân loại.

5- Hoàng hậu Thụy Sĩ, khi được hỏi tại sao bà không đội triều thiên, không mang nữ trang, xứng với chức vị hoàng hậu. Bà đưa tay chỉ vào 7 đứa con và trả lời: Đó là nữ trang, là triều thiên của tôi. Quả thật, “triều thiên của cha mẹ là những đứa con lành thánh” (Cn 17,6). Con cái là niềm vinh dự hạnh phúc hay là nỗi cay đắng của gia đình, điều đó không tùy thuộc giàu nghèo, mà phần lớn tùy thuộc phong cách giáo dục của cha mẹ. Cả kho tàng thế giới cũng không quý bằng có một người con được giáo dục tốt.

Muốn diệt cỏ, hãy trồng thật nhiều hoa. Hoa không nở, cỏ cú cỏ dại mọc đầy. Mỗi người là một cánh hoa đẹp, mỗi gia đình là một cụm hoa tươi, cả tập thể, cộng đoàn, giáo xứ sẽ là một vườn hoa vĩ đại, khoe sắc rực rỡ, tỏa hương thơm tốt lành, góp phần Truyền giáo, Phúc Âm hóa cộng đoàn, giáo xứ : Giáo dục hôm nay, Giáo hội ngày mai.

Hạt Cải (Huế)

 

 

 

TUỔI THƠ BỊ “ĐÁNH CẮP”

 

Không có tuổi nào đẹp bằng tuổi thơ, cái tuổi được yêu thương, nâng niu, chăm sóc. Cái tuổi hồn nhiên, trong sáng mà chính Chúa Giêsu đã nói: “Nếu anh em không nên giống trẻ thơ, anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời.” Thế nhưng trong tình hình đất nước thời hội nhập với biết bao tiến bộ vượt bậc, những trào lưu mới xuất hiện, dường như tuổi thơ của các em bị “đánh cắp” về nhiều mặt.

1.      ÁM ẢNH CHUYỆN HỌC HÀNH

Trong công ước về quyền trẻ em điều 8 nói rõ: “Trẻ em phải nhận được sự giáo dục cần thiết, được giúp đỡ để phát triển về thể chất, trí tuệ và xã hội, trở thành người công dân có trách nhiệm và biết tôn trọng những quyền của người khác” Và câu nói trong ngành giáo dục chúng ta thường nghe: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư thông minh nhất.” Có lẽ vì điều này mà ngành giáo dục nước ta không ngừng thay đổi hình thức: Lúc thì dạy chương trình cải cách, khi thì hô hào dạy chương trình đổi mới, tích hợp, rồi  thay sách liên tục khiến cho giáo viên lẫn học sinh rối tung cả lên. Chương trình học thì ngày càng nặng nề, căng thẳng. Có trường học ngày thường chưa đủ lại tranh thủ học cả ngày Chúa nhật, ngày lễ hội nào có trong lịch nghỉ thì phải học bù vào những ngày Chúa nhật kế tiếp. Ngày xưa, bọn học trò chúng tôi chỉ học có một buổi, còn một buổi thì ở nhà học bài, giải trí, đọc thêm sách. Ngày nay các em phải học cả sáng lẫn chiều. Nếu là lớp tốt nghiệp THCS hay THPT thì phải học phụ đạo và tăng cường “tụng” thêm vào buổi tối. Hơn nữa, về phía phụ huynh, với tâm lý ngày xưa mình không có điều kiện học tập, bây giờ kinh tế khá giả nên họ đầu tư tối đa cho con cái mình: nào là học chính qui, học ngoại khóa, học tại gia. Có phụ huynh vừa đón con ở trường liền hối hả đưa con đến lớp học thêm.  Nào là học đàn, học vẽ, học múa, học ngoại ngữ. Cứ nghĩ rằng mình đầu tư tất cả cho con là thể hiện tình yêu thương của cha mẹ, nhưng vô tình lại đặt lên vai con mình một gánh nặng. Kỳ vọng vào con quá sức sẽ là một áp lực rất lớn về mặt tâm lý của trẻ.

2. ĐÂU RỒI NHỮNG TRÒ CHƠI TUỔI THƠ?

Nếu thời thơ ấu của tôi và của các thế hệ thuộc những năm 1970 trở về trước thì tuổi thơ được gắn với các trò chơi, và trò chơi chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày.  Nếu giờ ra chơi, bọn con gái xúm nhau chơi chuyền chuyền, búng thun, tùm nụm tùm nịu, thì bọn con trai lại chơi ném lon, trốn tìm, đá cầu. Những ngày hè, khi cánh đồng chỉ còn trơ lại những gốc rạ hoặc khi người nông dân đã đốt đồng rồi, chúng tôi lại tung tăng thả mình trên ruộng ngắm những cánh diều bay cao mang theo biết bao ước mơ hồn nhiên của tuổi thơ, thì ngày nay, hình ảnh lãng mạn ấy lại trở thành gánh lo âu cho các bậc phụ huynh, nhất là ở những khu chung cư với không gian chật hẹp vì có những tai nạn đáng tiếc đã xảy ra.

Hơn nữa, việc  học quá tải khiến các em không có thời gian vui  chơi.  Điều này lý giải vì sao trẻ em ở các đô thị ngày càng ít chơi, thậm chí không biết đến các trò chơi dân gian. Giờ ra chơi các em gái thường tụ nhau đọc truyện tranh Nhật Bản, và đặc biệt là hầu hết các em đều biết chơi Haifline, Empire, nhảy Audison (những chương trình của trò chơi điện tử). Trong các lớp mẫu giáo hiện nay, nếu giáo viên đưa ra một số đồ chơi lắp ráp, thì 100% các em sẽ ráp súng, kiếm để đánh nhau, những hình ảnh đó các em đã thu nhận được từ các phim Siêu nhân. Điều này trả lời cho câu hỏi: tại sao ngày nay các em thích dùng bạo lực để giải quyết các vấn đề mà các em gặp phải. 

3. TRÁCH NHIỆM THUỘC VỀ AI?

Rõ ràng ngày hôm nay, tuổi thơ của các em bị đánh cắp về nhiều mặt: về mặt sức khỏe, về quyền được bảo vệ, nhất là gần đây báo chí liên tục đưa tin về nạn buôn bán trẻ em, bóc lột sức lao động, trẻ em bị đánh đập tàn nhẫn, thậm chí có những bà mẹ còn cắt gân asin của con mình và dùng con mình làm phương tiện để kiếm tiền. Ngày nay, nhìn trên gương mặt của các em, chúng ta không còn thấy những ánh mắt trong veo, những nụ cười hồn nhiên, trong sáng, vô tư nữa, mà là những ánh mắt đờ đẫn, mỏi mệt, thất vọng, vô hồn. Về phía nhà trường phải có đủ không gian để cho các em vui chơi, giải trí sau những giờ học căng thẳng. Cần bớt thời gian học để các em có thời gian nghiên cứu, tìm tòi, va chạm thực tế hơn là cứ học dồn dập mà mức độ tiếp thu của các em chẳng được bao nhiêu. Tuổi thơ là tuổi đẹp nhất của đời người. Xin hãy để cho các em được sống trọn vẹn với tuổi thơ của mình. Hãy cho các em được sống đầy đủ trong tình yêu thương của cha mẹ, gia đình, nhà trường và xã hội, để ánh mắt của tuổi thơ mãi hồn nhiên, tâm hồn tuổi thơ mãi trong sáng.

Sr. Trúc Băng

 

 

HỌC LÀM NGƯỜI ĐỂ NÊN THÁNH

Đóa Hoa Vô Thường

 

Nói đến giới Thiếu nhi, là nói đến độ tuổi đang đi học. Vào độ tuổi này, các em phải học rất nhiều thứ. Không những học chữ để trau dồi kiến thức, mà còn phải “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Học ở trong gia đình, học ở trường lớp, học ở cuộc sống. Học để sống nên người hữu ích. Những năm gần đây người ta nói nhiều đến chương trình “Học làm người có ích”. Đây là mô hình đào tạo phát triển kĩ năng cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Từ năm 2011, chương trình này đã được thực hiện rộng khắp tại các trường phổ thông; và nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ nhà trường và gia đình học sinh. Cụ thể ngày 7/4 vừa qua, tại trường Tiểu học Lê Lợi, Long Xuyên, đã diễn ra lớp huấn luyện ngắn hạn với chủ đề “Học làm người có ích” do Thành đoàn Long Xuyên tổ chức. Lớp học dành cho các thanh thiếu niên thường trú trên địa bàn, có độ tuổi từ 10 đến 21 tuổi. Tham gia lớp học, các học viên sẽ được trang bị những kiến thức như: xu thế tình nguyện của tuổi trẻ thế giới; những thói quen có ích; cách ứng xử trong gia đình với người lớn tuổi và người chung quanh; cách chăm sóc bản thân; kĩ năng thuyết phục, sáng tạo; kĩ năng đọc sách… Đây là những kĩ năng sống, giúp cho nên người hữu ích (theo Báo Angiang online).

Kinh nghiệm cho thấy, “học làm người” là môn học căn bản nhất. Ai không học làm người, thì chẳng thể làm con Thiên Chúa. Ai không học làm người, thì chẳng thể giúp ích cho xã hội. Hay nói cách khác, ai chưa học “làm người” thì chưa thể lớn lên thành người. Hơn nữa, học làm người là việc học suốt đời, chẳng bao giờ tốt nghiệp. Nhân số báo Tĩnh Tâm với chủ đề “Thiếu nhi”, tôi chỉ muốn gợi lại một số bài học làm người, để giúp cho giới Thiếu nhi, và có thể cho cả người lớn nữa, về việc “học làm người để phúc âm hóa chính mình”, dựa trên một số bản văn Kinh Thánh.

Thứ nhất là học nhận lỗi. Con người thường không chịu nhận lỗi về mình. Tất cả mọi lỗi lầm, nếu có thể đổ cho người khác, thì người ta cũng không ngần ngại. Ta cho rằng bản thân mình đúng, còn người khác sai. Quan niệm như thế là một sai lầm rất lớn, tai hại vô cùng. Thật ra, người nào không biết nhận lỗi, thì chưa phải là con người thực sự. Xưa kia vua Đavid đã phạm tội tầy trời, nhưng vì ông biết nhận lỗi, nên Chúa đã tha thứ cho ông (2 S 11,1-18.15-27). Các thánh cũng là những tội nhân, nhưng các Ngài đã biết nhận lỗi của mình và quyết tâm cộng tác với ơn Chúa, để làm mới lại cuộc đời, cho nên người hơn và nên thánh hơn. Đối tượng mà ta nhận lỗi có thể là Chúa, bề trên, cha mẹ, bạn bè, mọi người trong xã hội. Thậm chí ta nhận lỗi với người dưới, với con cháu; nhận lỗi với cả những người không tốt với mình. Khi ta nhận lỗi, thì bản thân ta chẳng mất điều gì. Trái lại, ta còn thể hiện được sự khiêm tốn của bản thân và nhận được sự bao dung giải thoát. Người xưa đã nói không sai: “Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng”. “Nhận lỗi” cũng là chìa khóa mở cửa Nước trời cho người trộm lành năm xưa (Lc 23,39-43). Vì thế, “học nhận lỗi” là một điều hữu ích, góp phần vào việc tu tâm dưỡng tính con người mình.

Thứ hai là học nhu hòa. Người có cái tâm nhu hòa thì luôn tìm những lời lẽ ôn hòa, nhẹ nhàng nhất để giao tiếp. Thực tế cho thấy, răng của ta rất cứng, lưỡi của ta rất mềm. Đi hết cuộc đời, răng ta có thể rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn y nguyên. Từ đó, ta cần học sự mềm mỏng, nhu hòa, để đời mình được thư thái bình an hơn; chứ cứng cỏi làm chi để chính mình phải chịu sự thiệt thòi và bất an. Người nào biết tập cho mình có cái tâm nhu hòa, thì người ấy sẽ sống an vui hơn và được người đời quí trọng. Chính Chúa Giêsu đã “bật mí” cho các môn đệ cái bí quyết “làm người hữu ích” của Ngài: “Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Vì thế, ai biết sống “nhu hòa”, sẽ có nhiều cơ hội thành công trên đường đời và nhất là được nên thánh. Người ta hình dung kẻ cố chấp giống như bức tường khô cứng. Tính cách của họ thì lạnh lùng và cứng như sắt. Cách ứng xử của họ cũng thiên về lí hơn là về tình. Vì thế cuộc sống của họ thường đóng khung trong những giáo điều lạnh lẽo, vô hồn. Chúa Giêsu đã nhiều lần trách các luật sĩ và biệt phái về lối sống đóng khung vụ hình thức (x Mt 23). Cha ông ta cũng khuyên con cháu nên học sự nhu hòa: “Một trăm cái lí, không bằng một tí cái tình”. Người sống nhu hòa sẽ điều hòa được thân tâm, làm cho cuộc sống mình như dòng nước, rất uyển chuyển mềm mại, nhưng lại tích tụ một sức mạnh lớn lao. Vì thế, “học nhu hòa” là một điều hữu ích, góp phần vào việc tu tâm dưỡng tính con người mình.

Thứ ba là học nhẫn nhục. Cuộc sống hôm nay quá xô bồ. Dòng đời tuôn chảy ngược xuôi xuôi ngược với tốc độ chóng mặt. Trong bối cảnh đó, học làm người là tập sống nhẫn nhục. Thực vậy! Giữa dòng đời vạn biến, nếu ta nhẫn được một chút, thì sóng đời mình sẽ yên, biển đời mình sẽ lặng. Giữa dòng đời cuồn cuộn chảy, nếu ta biết nhẫn nhục lùi lại một bước, thì ta sẽ có cơ hội để cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc đời, của tình người. Bằng không, thì mình sẽ bị chao đảo giữa biển đời mênh mông. Có thể nói, sống trên đời là phải biết “nhẫn” và biết “nhục”, để thấy cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu; thậm chí ta cũng phải chấp nhận cả cái tốt cái xấu cùng cộng sinh trong cuộc đời và bản thân mình, như cỏ lùng xen lẫn trong ruộng lúa, chờ mùa gặt mai sau (x. Mt 13,24-30). Kinh nghiệm cho thấy: Ai học được chữ “Nhẫn”, thì vạn sự dù khó khăn biết mấy cũng sẽ được hóa giải. Thực vậy, “nhẫn” là biết xử sự trong khiêm tốn, nhẹ nhàng. “Nhẫn” là biết hóa giải mọi việc mà cứ như không hóa giải. Nghĩa là biết dùng trí tuệ và năng lực nội tâm của mình để làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không. Các tình tiết trong biến cố thương khó của Chúa Giêsu là những bài học rất tuyệt vời của Chúa về hai chữ “nhẫn nhục” (x. Mt 26-27). Vì thế, “học nhẫn nhục” là một điều hữu ích, góp phần vào việc tu tâm dưỡng tính con người mình.

Thứ bốn là học xót thương. Xã hội hôm nay đầy dẫy những sự vô cảm, vì lòng người thiếu sự xót thương. Hệ quả của lối sống vô cảm, là người ta sống rất dửng dưng với nhau; không quan tâm đến cảnh ngộ của nhau; không dám bày tỏ sự đồng cảm; không dám dấn thân phục vụ cho công ích. Người ta thích sống khép kín, an phận thủ thường “Đèn nhà ai, nhà ấy rạng”, “Sống chết mặc bay”. Sống như thế, làm sao có thể lớn lên thành người hữu ích! Sống như thế, làm sao thành con Chúa! Chúa Giêsu đã chia sẻ bí quyết “làm người hữu ích” của Ngài cho các môn đệ: “Các con hãy thương xót như Cha các con là Đấng hay thương xót” (Lc 6,36). Chúa còn chúc phúc cho người có lòng thương xót: "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương" (Mt 5, 7). Là Kitô hữu, là người sống có ích, lẽ nào ta lại không có lòng thương xót? Lòng thương xót là trung tâm của Tin Mừng, vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,16b). Trung thành với giáo huấn này, Giáo hội vẫn lặp đi lặp lại cho các con của mình: “Hãy biết thương xót”, như Thiên Chúa là Đấng Giầu Lòng Xót Thương. Vì thế, “học xót thương” là một điều hữu ích, góp phần vào việc tu tâm dưỡng tính con người mình.

Để kết thúc, tôi xin chia sẻ mẩu chuyện này: Đại sư Tinh Vân có một đệ tử học rất giỏi. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh đã cố gắng học lên Thạc sĩ, rồi hoàn thành xuất sắc luận án Tiến sĩ. Vui mừng và tự hào về đường học vấn của mình, anh trở về quê, đi thăm lại thầy cũ, trường xưa. Trong câu chuyện, anh thưa với thầy: "Bạch Sư Phụ, nay con đã có học vị Tiến sĩ. Vậy sau này con sẽ phải học thêm những gì nữa?" Đại sư Tinh Vân bảo: "Con hãy học làm người".

 

 

GIÁO DỤC ĐỨC TIN CHO TRẺ EM

Felicitas

 

Dẫn nhập:

Những biến chuyển về kinh tế-xã hội, các quan niệm sống, cách thức lựa chọn bậc thang giá trị dựa trên cái nhìn chủ quan thực dụng cũng như sự du nhập của nhiều nền văn hóa từ nhiều nước trên thế giới, tất cả sẽ là một cơ hội giúp những người trẻ - nhất là các em thiếu nhi - phát triển về mọi mặt. Nhưng nó cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và đời sống đạo của các em. Vì vậy, để có thể tận dụng được những cơ hội mà thời đại mang đến nhằm giúp các thiếu nhi phát triển toàn diện và hội nhất, rất cần một định hướng đúng đắn và sự đồng hành của những người có trách nhiệm mà trước nhất là cha mẹ. Với viễn tượng ấy, người viết xin trình bày một số vấn đề trong đề tài rộng lớn: Giáo dục đức tin cho trẻ em trong bối cảnh hiện nay - nhất là trong phạm vi gia đình.

1.      Thực trạng:

a.    Xã hội

Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và những thay đổi của cấu trúc, quan niệm xã hội cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ em. Chính hệ thống giáo dục và sinh hoạt của thời đại đô thị hóa đã giới hạn sự giao tiếp của trẻ em không chỉ trong các mối tương quan trong xã hội bên ngoài mà còn thiếu tiếp xúc với môi trường. Thật vậy, chỉ vì quá lo lắng và chiều chuộng con cái một cách thái quá (việc gì cũng làm sẵn, chuẩn bị sẵn, lo cho con từ A- Z) mà nhiều bậc cha mẹ làm cho khả năng tư duy độc lập, sống tự lập cũng như khả năng sáng tạo, khám phá và hiếu động của trẻ không được phát huy và phát triển đúng mức. Họ chỉ muốn mãi giữ con trong tầm kiểm soát của mình. Chẳng hạn, ngoài thời gian đi học không ít các em thiếu nhi chỉ ở nhà, thậm chí là chỉ ở trong phòng. Thời đại hôm nay đang giam cầm trẻ em trong bốn bức tường bê-tông. Cha mẹ không biết rằng chiều con cách tiêu cực lại là cách hại con. Tất cả những tiền đề trên khiến sự phát triển thể chất và tinh thần cũng như tâm sinh lý của trẻ em giảm sút và có hướng thiếu quân bình. Ngoài ra, sức hấp dẫn và dễ dàng tiếp cận của các thiết bị công nghệ số gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây là nguyên nhân gây nên hiện thượng “nghiện game online”; về nhà là đóng cửa phòng vùi đầu vào các trò chơi, mạng xã hội….đây chính là nguyên nhân gây chứng nghiện công nghệ, sống ảo thiếu thực tế nơi các em. Chỉ vì muốn con em mình “bắt kịp thời đại” hay “bằng chị bằng em” mà cha mẹ sẵn sàng đầu tư “công nghệ” cho các em mà thiếu quan tâm định hướng giúp các em biết sử dụng những thiết bị ấy đúng cách để phục vụ cho việc học cách hiệu quả nhất. Các em có nhiều tự do và dành quá nhiều thời gian để sử dụng các thiết bị kỹ thuật số hay công nghệ thông tin nhưng không phải để học mà để chơi vô ích, chiếm hết thời gian cho những hoạt động khác. Từ đó gây ra chứng nghiệm game, ảo giác, và thậm chí là tội ác.

Thêm vào đó, tốc độ đô thị hóa và hiện tượng di dân ồ ạt từ miền quê lên các đô thị và trung tâm công nghiệp gây những bất ổn và khó khăn trong việc giáo dục đức tin cho trẻ em. Cha mẹ từ các miền quê cùng con cái di chuyển lên thành phố nhưng suốt ngày đi làm chẳng còn thời gian quan tâm, chăm sóc và giáo dục cho con cái cho chu đáo. Vì thiếu tình thương gia đình nên thiếu nhi thường hay tìm những phương tiện hay đối tượng nào đó để bù trừ cho tình cảm gia đình và cũng không loại trừ khả năng ảnh hưởng từ những bạn bè xấu. Từ đó, rất có thể là tiền đề khiến trẻ em rời xa gia đình để gia nhập những băng đảng xấu trong xã hội và thường phạm pháp để chứng tỏ bản thân. Tính cách của các em sẽ phản ánh và bị ảnh hưởng hiện thực của xã hội cũng như gia đình. Chính những tác động từ xã hội ấy cũng ảnh hưởng lên đời sống đạo của các em.

b.    Tôn giáo

Một thực tế, các em thiếu nhi rất ít thuộc những kinh thường đọc ngày Chúa nhật. Một phần là vì các giáo xứ đã bỏ thói quen đọc các kinh này nên hệ quả nhiều em chẳng thể đọc thuộc được kinh thương người có 14 mối, 8 mối phúc thật hay ngẫm các mầu nhiệm kinh Mân Côi! Lý do được đưa ra là vì chúng quá dài dòng. Thực ra, có một quan niệm nhầm lẫn tai hại trong việc giáo dục đức tin là cha mẹ không quan tâm đến việc dạy các con đọc và hiểu các kinh thường đọc. Chính các kinh là những tác nhân giúp hun đúc và sống đời sống đức tin, là một cách dễ dàng và thuận lợi để các em đón nhận và hiểu các chân lý và mầu nhiệm đức tin. Ngoài ra, các bậc phụ huynh quá chú trọng đến việc học văn hóa. Ưu tiên tất cả cho việc học của con. Cho con đi học chính khóa, học thêm, học phụ đạo, học vi tính học Anh văn mà sẵn sàng dễ dãi cho con cái trong việc bỏ học giáo ý hay tham dự thánh lễ; hoặc nếu có tham dự thì cũng để chiếu lệ cho đúng luật giữ ngày Chúa nhật mà quên đi tâm tình, thái độ cần có khi tham dự thánh lễ. ngay cả các giờ kinh gia đình cũng bị “cắt xén” hay “lãng quên”.

Nên nhớ rằng các bậc phụ huynh ngoài trách nhiệm chăm lo về thể xác còn có trách nhiệm giáo dục đức tin cho con cái. Cha mẹ được mời gọi công tác với Thiên Chúa trong việc giáo dục con cái nên những người có ích cho xã hội và người Kitô hữu tốt của Thiên Chúa. Bên cạnh việc giáo dục những đức tính nhân bản để trở thành một con người có nhân cách trưởng thành, cha mẹ có bổn phận phải giáo dục và chịu trách nhiệm trước mặt Chúa trong việc giáo dục đức tin cho con cái. Dạy giáo lý là một phương cách tốt nhất để truyền đạt các chân lý đức tin và kiến thức tôn giáo cho các em nhưng theo người viết, việc dạy và học giáo lý tại các giáo xứ còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn, phương pháp dạy và học cứ theo lối mòn cũ kỹ thiếu tư suy nghĩ và phản biện cũng như tranh luận trong lớp học, xây dựng tiết học giáo lý theo kiểu lấy người dạy giáo lý làm trung tâm. Thiếu các phương pháp dạy thu hút, làm tiết học thiếu sinh động và lôi cuốn. Vai trò của các em trong các lớp giáo lý là rất thụ động. Thật ra, theo quan điểm cá nhân, không thể đổ lỗi cho các giáo xứ hay những lớp giáo lý hay người giảng dạy vì cha mẹ các em đâu thể “khoán trắng” việc này cho giáo xứ. Thực trạng này một phần cũng có nguyên nhân từ phía các em, nhưng sâu xa hơn là do các phụ huynh chưa quan tâm đúng và đầy đủ trong việc giáo dục và công tác vào chương trình truyền đạt đức tin cho các em. Người viết xin mạo muội thử hỏi, có mấy người trong các bậc phụ huynh hỏi han và sát cánh với con em mình trong những kiến thức giáo lý, giảng dạy cặn kẽ những chân lý đức tin, mầu nhiệm cho con hay chính các bậc phụ huynh cũng còn “mù mờ” về kiến thức giáo lý? Một lỗ hổng đáng báo động.

Nếu không có một định hướng rõ ràng đúng đắn trong việc giáo dục nhân cách và đức tin cho trẻ em, sẽ khiến các em mất định hướng cho cuộc đời vì theo các nhà xã hội học và tâm lý học thì giai đoạn này là giai đoạn hình thành nên tính cách, tâm lý cũng như “dự phóng” sống đạo sau này của trẻ em. Vì vậy, cần phải mạnh dạn nhìn nhận thực tế và tìm cách giải quyết.

2.      Những đề xuất

a- Quan tâm đủ

Thật vậy, “Một trong những ơn của bí tích Hôn phối là giúp hai vợ chồng nên thánh trong đời sống vợ chồng, trong việc đón nhận và giáo dục con cái” (GLHTCG 1641).  Tuy thế, hiện nay dường như các bậc phụ huynh chẳng quan tâm cho đủ và đúng. Nếu người lớn không quan tâm sát sao hay đồng hành cùng các em, lơi lỏng sự quan tâm, có thể các em sẽ có những định hướng lệch chuẩn cho cuộc sống xã hội cũng như đạo. Một lý do cũng cần lưu tâm là khoảng cách giữa hai thế hệ.  Cha mẹ cần phải bắc một nhịp cầu để gặp gỡ trao đổi hướng dẫn bằng ngôn ngữ của các em thiếu nhi, đừng cố gắng áp đặt suy nghĩ của mình trên các em. Cần xóa bỏ mọi ngăn cách để hòa mình trở nên như các em. Người viết còn thấy một thực tế, chương trình giáo lý hay huấn luyện các em thiếu nhi tại các giáo xứ cần được tổ chức lại và hoàn thiện hơn. Thiết kế, nghiên cứu chương trình dạy và học mang tính liên tục và đồng bộ. Nên có những lớp hay hình thức giáo lý cho các em ngoài thời gian học chính khóa. Đơn cử, một số giáo xứ chỉ tập trung dạy giáo lý và sinh hoạt thiếu nhi trong dip hè còn thời gian còn lại trong năm thì bỏ ngỏ. Hay phải xây dựng một tiết dạy giáo lý hấp dẫn, sinh động để tạo hứng khởi và hăng say cho các em mỗi khi tới lớp giáo lý. Nếu các lớp giáo lý không thu hút các em thì việc các em bỏ học và tham gia những hình thức vui chơi khác ngoài nhà thờ là điều cũng dễ hiểu. Giáo dục là một tiến trình lâu dài và cần có sự liên tục cũng như tiệm tiến.

b- Đồng hành cùng các em trong việc trau dồi đức tin

Cha mẹ và những người có trách nhiệm cần nỗ lực trau dồi đức tin và kiến thức về giáo lý và thần học để có thể đồng hành với con ngay từ nhỏ, cũng như khi con tham gia các lớp giáo lý để có thể giải thích cho con cái hiểu và nắm vững. Cha mẹ cần nêu gương và nhắc nhở con cái tham gia giờ kinh tối trong gia đình bởi vì đọc kinh chung (khẩu nguyện) là cách dễ và hiệu quả để củng cố nuôi dưỡng và phát triển tâm tình tôn giáo và đời sống cũng như cảm thức đức tin cho các thiếu nhi. “Nhờ ơn bí tích Hôn Phối, cha mẹ nhận trách nhiệm và đặc quyền giáo dục đức tin cho con cái. Cha mẹ là những sứ giả đầu tiên của đức tin, khai tâm cho con về các mầu nhiệm đức tin từ lúc chúng còn nhỏ…” (GLCG 2225). Trong lĩnh vực giáo dục đức tin, các phụ huynh không chỉ khoán trắng cho nhà thờ, giáo lý viên hay huynh trưởng mà cần có sự quan tâm phối hợp để cùng cộng tác với những người có trách nhiệm để giáo dục đức tin cho con cái. Chẳng hạn, trong việc dạy giáo lý, cha mẹ, các giáo lý viên có thể thành lập nhóm giáo lý có người đồng hành nhằm giúp các em ngoài các giờ giáo lý trong việc học hỏi đức tin. Các nhóm này giúp các em biết sống chiều kích xã hội, cũng như tâm tình tôn giáo hầu có thể phát triển nhân cách và đức tin cách toàn diện.

c- Làm gương sáng

Tục ngữ có câu “lời nói gió bay, gương bày lôi cuốn”, chính việc cha mẹ sống đức tin trong cuộc sống sẽ là cách giáo dục thuyết phục nhất. “Gia đình của anh chị em phải trở nên như một trường học về đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa” (Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980, số 12).

Một số đề xuất khác:

Cần biên soạn những giáo trình và những khóa huấn luyện cách toàn diện cho giáo lý viên cũng như các bậc phụ huynh về: Kiến thức giáo lý, Tân Ước, Cựu Ước, một số khái niệm thần học cơ bản, tâm sinh lý lứa tuổi để có thể hiểu và đồng hành với các em theo từng nhóm tuổi. Vì một thực tế có nhiều phụ huynh và giáo lý viên nắm rất sơ sài về kiến thức căn bản để truyền đạt cho các em. Bên cạnh đó, các lớp giáo lý cần thay đổi các truyền đạt kiến thức giáo lý cho sinh động, mạnh dạn thoát ra những cách học từ chương, lấy học viên làm trung tâm giúp các em tự khám phá, tìm hiểu đặt và giải quyết vấn đề, đó sẽ là cách giúp các em hiểu sâu và nhớ lâu vì nó tạo cho các em một sự hứng thú, động lực học tập và hiểu sâu sắc hơn kiến thức giáo lý. Chúng ta có thể sử dụng các phương tiện truyền thông để giáo dục các em giúp các em dùng chúng cách nào để giúp các em lớn lên trong đức tin và sống đức tin: truyền thanh, truyền hình, báo chí, thu băng, quay phim, và băng, đĩa nhạc…)

Kết luận

Không phải việc giáo dục đức tin cách hiệu quả cho trẻ em là một việc một sớm một chiều hay là một tiến trình đơn gián nhưng đây là một quá trình dài và cần nhiều công sức cũng như phải kiên nhẫn. Một khi các em bị “mai một” kiến thức cơ bản về đức tin hay sống đức tin cách “hời hợt”, việc phục hồi cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo xứ, cha mẹ và chính các em. Nhưng thiết nghĩ việc cha mẹ quan tâm giáo dục và hun đúc tinh thần đức tin cho con trong gia đình là bước đi đầu tiên cho tiến trình ấy. Ước mong các bậc phụ huynh hãy luôn quan tâm, chăm sóc giáo dục các em với con tim yêu thương, tận tụy, ân cần để các em có thể phát triển toàn diện con người nên một người công dân tốt và người Ki tô hữu tốt.                                                                              

 

 

GIÁO LUẬT

 

“Thưa cha, có phải tội phá thai bị dứt phép thông công không? Linh mục có quyền tha vạ này khi ban bí tích giải tội không?”

 

Trả lời:

1. Hình phạt đối với tội phá thai

Giáo luật, điều 1398, quy định: “Người nào thi hành việc phá thai và nếu việc phá thai có hiệu quả, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết”.

Phá thai là việc giết chết phôi thai bằng bất cứ phương tiện nào và vào bất cứ thời điểm nào, trong giai đoạn người mẹ mang thai (AAS 80, năm 1988, tr. 1818-1819). Như vậy, việc phá thai bao gồm cả việc trục phôi thai ra khỏi lòng mẹ cũng như việc tiêu hủy thai còn ở trong bụng mẹ, bất kể thời gian thụ thai là bao lâu.

Vạ tuyệt thông (bị dứt phép thông công) chỉ áp dụng khi việc phá thai “có hiệu quả”, nghĩa là thai nhi đã chết do chính hành vi của đương sự.

Vạ tuyệt thông này là vạ tuyệt thông tiền kết, nghĩa là người nào thi hành việc phá thai đương nhiên bị mắc hình phạt do chính sự kiện phạm tội, không cần Giáo Hội tuyên bố hình phạt.

Vạ tuyệt thông tiền kết dùng để phạt “người nào thi hành việc phá thai”, thì không những phạt vạ người mẹ là phạm nhân chính, mà còn phạt vạ tất cả những người đồng lõa phạm tội, tức là những người cộng tác thực hiện cùng một hành vi tội phạm, mà nếu không có sự hỗ trợ của họ, tội ác không xảy ra: người đã xúi giục, cả các bác sĩ, y tá đã thực sự tham gia vào việc phá thai này... (x. Điều 1329).

2. Thẩm quyền của linh mục giải tội tha vạ tuyệt thông tiền kết do tội phá thai

Ở đây chúng ta chỉ nói tới thẩm quyền của linh mục giải tội tha vạ tuyệt thông tiền kết, nhưng chưa được tuyên bố, do tội phá thai. Tại Giáo phận Long Xuyên, dựa trên Bản Năng Quyền Thập Niên 1971-1980 (x. số 23, trang 47), Đức Giám Mục Giáo phận đã ban năng quyền cho tất cả các linh mục triều và linh mục dòng đang phục vụ trong Giáo phận được tha vạ tuyệt thông tiền kết, trong khi ban bí tích Giải Tội, cho những ai thi hành việc phá thai có hiệu quả (Hướng Dẫn Mục Vụ và Năng Quyền, số 5.6, trang 22).

Khi giải vạ tuyệt thông tiền kết lúc ban bí tích Giải Tội, thì linh mục không phải thay đổi công thức Giải Tội, nhưng có ý tha vạ là đủ rồi (x. Prot. số CD 1200/83, ngày 12/09/1983, bí tích Giải Tội, phụ lục 1, số 1).

LG Huỳnh Phước Lâm

 

 

GIÁO DỤC

 

PHẬN NGƯỜI MỎNG MANH

 

Nếu theo quy luật sống của một đời người mà ông bà ta thường nói sẽ là: “ Sinh – Lão - Bệnh – Tử”. Nghĩa là đời người bắt đầu bằng ngày sinh, sau đó sẽ là giai đoạn già, rồi đến thời kỳ bệnh, và cuối cùng là thời khắc chết. Đó là một trình tự hợp lý của một đời người. Ai ai cũng chấp nhận. Nhưng trên thực tế bạn và tôi đôi lúc thấy cuộc đời con người không chạy theo quy luật này: Sinh ra chưa lão đã tử. Chưa bệnh đã chết.

Tôi có dịp đến thăm một gia đình có người con duy nhất đang tuổi cắp sách đến trường, tuổi xuân với bao ước mơ, bao hoài bão, bao sức sống, nhưng trong người lại mang căn bệnh ung thư. Khi gia đình phát hiện thì đã muộn, ba mẹ bó tay, bác sĩ hết thuốc chữa, họ hàng thầm khóc cho số phận của một đứa trẻ không may mắn. Nhìn đứa trẻ ngồi vui chơi với bạn, vẫn cười, vẫn đùa giỡn một cách vô tư, nhưng bố mẹ, những người lớn không thể ngăn chặn đôi dòng nước mắt cứ trực tuôn trào. Cuộc sống của em chỉ còn đếm từng ngày. Buồn. Tuyệt vọng. Bây giờ chỉ còn biết cầu nguyện với Chúa. Đó là chỗ tựa cuối cùng. Đứng trước cuộc đời sắp giã từ vĩnh viễn của em, tôi phải suy nghĩ. Suy nghĩ về số phận con người mỏng manh và có cả sự bất ngờ. Từ sự bất ngờ đó tôi thấy có hai thái độ, hay nói cách khác là có hai trạng thái tâm lý  được  thể hiện.

Thứ nhất là thái  độ tích cực - lạc quan của chính đối tượng và của người thân. Họ vẫn tin tưởng, phó thác, vẫn hy vọng. Còn nước còn tát. Họ đón nhận như  là một thập giá Chúa trao, nếu không vác nổi Chúa sẽ gởi người đến giúp. Còn đứa trẻ thì vẫn vui chơi, vẫn đến lớp học hành. Tuy có đau, nhưng em không khóc lóc kêu than, chấp nhận đau để mọi người khỏi phải khổ, chịu đau một mình để bố mẹ khỏi mang trong mình nỗi buồn sắp mất con.

Thái độ  thứ hai là thái độ tiêu cực - bi quan. Đây là thái độ mà bạn và tôi thường thấy trong xã hội con người ngày nay. Mang tâm trạng sắp mất người thân mà đáng lý ra chưa “tới số”, bạn và tôi dễ rơi vào thái độ này. Than thân trách phận, thất vọng, buồn tủi, không chịu đón nhận và chấp nhận số phận nghiệt ngã như vậy. Họ có thể mất niềm tin, họ ngồi để rồi: Sao Chúa không gởi căn bệnh này đến gia đình khác đông con, mà lại rơi vào gia đình họ. Chúa không công bằng, không thương gia đình họ. Gia đình tôi có đi lễ, có đọc kinh, có làm việc bác ái mà! Vậy sao Chúa lại cho gia đình tôi phải chịu thế này và còn nhiều những lý lẽ giống như vậy.

Người ngoài cuộc như bạn và tôi khi đến thăm phải nói gì? An ủi như thế nào? Khuyên họ phải làm sao? Gia đình họ chỉ có một đứa con duy nhất mà? Tâm lý bình thường của con người rất dễ dẫn họ đến những suy nghĩ tiêu cực, bi quan, thất vọng trước những nghịch cảnh của cuộc sống. Có người nói đó là số phận; người lại nói đó là thánh giá Chúa trao; người khác lại cho rằng do tội lỗi của một ai đó trong gia đình; nhưng cũng có người suy nghĩ là Chúa thương Chúa mới gọi về sớm như vậy? Bạn và tôi giải thích thế nào để họ hiểu được mầu nhiệm của Thiên Chúa muốn thực hiện nơi con người, nhất là những người đang đứng trước vực thẳm của sự tuyệt vọng.

Là người Kitô hữu, bạn và tôi vẫn cầu nguyện cho những người đang gặp đau khổ, cầu nguyện cho họ không phải để Chúa cất những đau khổ đó đi, không phải cầu nguyện cho họ khỏi phải vác thánh giá, mà cầu nguyện cho họ có thêm sức mạnh, nghị lực để đón nhận ý Chúa đang thực hiện nơi họ. Bạn và tôi hãy tin vào Chúa như Chúa đã từng nói với Thánh Phaolô: “Ơn Ta đủ cho con”.

Vs. Lê Đình

 

GIÁO DÂN

PHONG TRÀO CURSILLO

 

1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PT CURSILLO.

Ta cùng điểm qua những nét chính trong các sự kiện liên quan dẫn đến sự hình thành và phát triển PT Cursillo, một PT của Giáo Hội Công Giáo đang có mặt trên 800 giáo phận trong hơn 60 quốc gia với ngoài 10 triệu người tham dự.

1.1 Cuộc nội chiến Tây Ban Nha:

Cuộc nội chiến khốc liệt giữa những người Công Giáo sùng đạo và những người Công Giáo làm chính trị (Phe Quốc gia và phe Cộng Hòa) tại Tây Ban Nha từ năm 1936 kết thúc 1939 đã để lại hậu quả vô cùng đau thương: Con số người bị giết chết thật đáng kinh ngạc: 4.184 linh mục triều và chủng sinh; 2.365 tu sĩ dòng; 283 nữ tu; gần 80.000 giáo dân. Điểm tệ hại hơn nữa là đang có nhiều người Công Giáo và ngoài Công Giáo quay lưng lại với Thiên Chúa.

1.2 Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Piô XII, và sự đáp trả của ông Eduardo Bonnin

1.2.1 Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Piô XII

Ngày 6.2.1940, Đức Giáo Hoàng Piô XII đau buồn thừa nhận: Đã có một số lớn các giáo hữu xa rời đời sống Kitô hữu. Ngài kêu gọi các giáo sĩ và giáo dân với nỗ lực của mình hãy tìm cách đưa những giáo hữu này trở về với các giá trị Kitô Giáo.

1.2.2 Sự đáp trả của ông Eduardo Bonnin

Bài diễn văn của ĐTC đã tạo cảm hứng và thao thức cho ông Bonnin. Ông đã dành nhiều thời gian, tâm sức để suy tư và nghiên cứu toàn diện một cách sâu sắc vấn đề ĐTC đặt ra. Ông đã viết  một đề cương với tên gọi là: NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG, và tìm cách biến môi trường thành MÔI TRƯỜNG KITÔ GIÁO. Trong thời gian này, tại Tây Ban Nha có PT Công Giáo Tiến Hành hoạt động rất mạnh mẽ do ông Manolo Aparici làm chủ tịch. Những lần hành hương tới Santiago de compostela, nơi có Đền Thánh Tông Đồ Giacôbê, số người tham dự có lúc lên đến cả 100.000 tín hữu. Ông Bonnin được mời trình bầy đề tài: NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG trong các khóa học một tuần lễ cho các Thủ Lãnh Hành Hương. Tháng 11 năm 1944 ông Eduardo Bonnin trở thành Chủ Tịch Công Giáo Tiến Hành tại Mallorca.

1.3 Khóa Cursillo đầu tiên

Ông Bonnin khi làm Chủ Tịch CGTH đã nhận thấy các khóa học cho các thủ lãnh CGTH kéo dài một tuần rất khó khăn. Cùng với những suy tư, thao thức và kinh nghiêm cá nhân, ông thấy khóa học cho thủ lãnh hành hường cần được đổi mới. Ông nghĩ phải có một khóa học tương tự ngắn hơn, ba ngày thôi không chỉ đáp ứng cho các cuộc hành Hương, mà còn đạt được sự năng động Kitô Giáo trong đời sống thế tục hàng ngày, tại các môi trường thực thụ và cụ thể. Có như thế, mới đáp ứng lời kêu gọi của ĐTC là làm dậy men tinh thần Kitô Giáo trong xã hội. Và từ ý tưởng đó, Khóa Cursillo đầu tiên từ ngày 20 đến ngày 23.8.1944 được tổ chức tại Mallorca nước Tây Ban Nha được thực hiện. Ông Bonnin là khóa trưởng của khóa Cursillo đầu tiên này. Từ 1944 đến 1948 đã có sáu khóa Cursillo được mở.

1.4 Vai trò của Tiến Sĩ Hervás, Giám mục giáo phận Mallorca với phong trào Cursillo

Năm 1947 Đức Thánh Cha Piô XII tấn phong và bổ nhiệm cha Tiến Sĩ Hervás làm Giám mục giáo phận Mallorca, Tây Ban Nha. Đức Cha Hervás đã chấp thuận cho phép PT Cursillo hoạt đông trong giáo phận. Đức Cha Hervás bổ nhiệm hai linh mục trụ cột của giáo phận Mallorca trợ giúp PT Cursillo. LM Juan Carpó đưa quan điểm thần học vào các Rollos trong các khóa học 3 ngày; và LM Sebastina Gayá viết tài liệu Kim Chỉ Nam Cursillista. Ngày 28.5.1966 tại Rôma, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã khuyến khích và giao trách nhiệm cho PT: “giữ vai trò tiên phong trong việc canh tân thế giới cho Chúa Kitô theo tinh thần Công đồng Vatican II”. Ngày 31.5.2004 PT Cursillo là thành viên các tổ chức Công Giáo Quốc Tế thuộc Hội đồng Giáo Hoàng có tư cách pháp nhân và phê chuẩn nội qui của PT. Ngày 13.6.2011, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi còn là Đức Hồng Y Jorge Mario Bergoglio, Tổng Giám mục Buenos Aires, đã gởi thư cho anh chị em Cursillistas: “Các Cursillistas thân yêu của tôi: “Hạt giống tốt là con cái của thiên quốc”(Mt. 13, 38)… Mới đây, ngày 30.4.2015 tại Đại thính đường Phaolô 6 ở nội thành Vatican, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gặp gỡ, khích lệ và nhắn nhủ hơn 7000 anh chị em Cursillistas Châu Âu tham dự Đại Hội Ultreya lần thứ 3 “Ultreya có nghĩa là đi ra ngoại biên, hãy đi xa hơn nữa! Luôn đi xa hơn!”. Ngài khích lệ: “Các thành viên PT Cursillo trở thành những thừa sai đích thực, nâng đỡ đức tin của tha nhân”. Hiện nay PT Cursillo có Văn Phòng Điều Hành Thế Giới, gọi tắt là OMCC (Organismo Mundial De Cursillos de Cristiandad) và được chia thành 4 khu vực:

- Nam Mỹ- Bắc Mỹ- Châu Âu- Châu Á Thái Bình Dương

- Bốn khu vực sẽ luân phiên điều hành Văn Phòng Thế Giới (nhiệm kỳ 4 năm)

- Mỗi Quốc gia có Văn Phòng Điều hành Quốc gia

- Mỗi giáo phận có Văn Phòng Điều Hành cấp giáo phận đặt dưới sự hướng dẫn của Đức Giám mục qua cha Linh hướng. Việt Nam hiện đã có Văn Phòng Điều Hành Quốc Gia và Cha Antôn Hà Văn Minh hiện là Linh Hướng của PT Cursillo Việt Nam. Năm 2015 các giáo phận: Cần Thơ, Huế, Phát Diệm sẽ được tổ chức khóa ba ngày đầu tiên.

Từ những sự kiện như đã nêu trên, ta có thể nói: PT Cursillo không ngẫu nhiên mà được hình thành, mà đó là do ý muốn của Thiên Chúa. Điều này đúng như lời nhắn nhủ của Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II với PT Cursillo ngày 6.5. 2000: Đây là dụng cụ Thiên Chúa tạo nên để loan báo Tin Mừng trong thời đại chúng ta”.

2. TÂM TƯỞNG CỦA NHỮNG VỊ SÁNG LẬP PT CURSILLO

Vị sáng lập PT, ông Eduardo Bonnin (1917-2008) trong phần nghiên cứu về môi trường đã nhận thấy rằng: Sở dĩ con người trở nên hung hãn, nghi kỵ, chống đối, chiến tranh, chém giết nhau là bởi vì con người đã phạm một tội quá lớn, đó là:“đã quay lưng lại với Thiên Chúa”. Họ đã cố gắng loại trừ Thiên Chúa ra khỏi suy nghĩ, đời sống của họ. Họ đề cao con người quá mức, và chỉ tin vào con người và khoa học mà thôi. Tóm lại, theo cách nhìn của PT Cursillo con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống là nguyên nhân chính làm cho thế giới bất ổn, con người không có hạnh phúc đích thực. Để cứu vãn con người và thế giới, các vị sáng lập thao thức với tâm tưởng chính yếu sau đây:

2.1 Tâm tưởng thứ nhất của PT là làm cách nào để mọi người nhận ra được Tình Yêu bao la và quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Dù họ có nhận hay không nhận thì Thiên Chúa cũng đã dựng nên họ, chịu chết và sống lại vì họ, và Ngài vẫn tiếp tục ban muôn Hồng Ân trên họ, mà trung tâm là Phép Thánh Thể. Vì Chúa đã hứa ở với ta cho đến tận thế.

2.2 Tâm tưởng thứ hai của PT là bằng đời sống  chứng nhân gương mẫu của người cursillista (Người Kitô hữu đã đựơc tham dự khóa 3 ngày của phong trào Cursillo) sẽ giúp cho người bạn của mình hiểu ra, và tự nguyện trở về với Thiên Chúa Tình Yêu.

2.3 Và tâm tưởng thứ ba của PT là tin tưởng và hy vọng vào lòng sốt mến, nhiệt thành sẵn sàng của mỗi Cursillista. Sau khi được tuyển chọn để học khóa 3 ngày, trở về môi trường họ đang sống, họ sẽ là men, là muối trong môi trường mình sống và “làm dậy men tinh thần Kitô Giáo trong xã hội bằng tình bạn”. Họ đưa những người bạn thân thiết của họ từ chưa biết hoặc chống đối loại trừ Thiên Chúa trở về với Thiên Chúa và nhận ra: Chỉ có Chúa Kitô là giải pháp duy nhất cứu được nhân loại khỏi sự phong tỏa của tội lỗi. Tội lỗi là nguyên nhân sâu thẳm của mọi bất an, của hận thù, của đố kỵ, của chiến tranh, mất hạnh phúc đời này và đời sau. Họ, từng nhóm năm ba người, tạo ra cột sống Kitô Giáo trong xã hội, họ luôn “một tay nắm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh em” như phương châm của phong trào đề ra. Tức là họ là những Kitô hữu đích thực thể hiện qua: Sùng đạo, Học đạo và Hành đạo

3. MỤC ĐÍCH CỦA PT CURSILLO

“Vì là một PT của Giáo Hội, PT Cursillo cũng có cùng mục tiêu tông đồ như chính Giáo Hội. Và như ĐGH Phaolô VI đã từng nhắn nhủ chúng ta rằng: Giáo Hội tồn tại để rao truyền Phúc Âm”. Và muốn Phúc Âm hóa môi trường, thì trước tiên phải Phúc Âm hóa bản thân. Do đó, PT Cursillo có hai mục đích sau đây:

3.1 Mục đích gần:

Tạo cho tham dự viên có một nền tảng có thể sống những điều căn bản để trở nên những Kitô hữu đích thực. Đó là yêu mến Thiên Chúa và tha nhân đã được cảm nghiệm qua ba cuộc gặp gỡ trong khóa 3 ngày: gặp gỡ chính mình; gặp gỡ Chúa Kitô; và gặp gỡ tha nhân

 3.2 Mục đích tối thượng:

Xây dựng cột sống Kitô Giáo trong xã hội, với những người sống những điều căn bản để trở nên Kitô hữu đích thực. Họ làm dậy men môi trường họ đang sống bằng Phúc Âm hóa môi trường đó. Để trở thành một Kitô hữu đích thực, PT trang bị cho họ một kỹ năng và phương thức sống đạo với hình ảnh kiềng ba chân vững chắc: Sùng đạo, Học đạo, và Hành đạo. Điều đó luôn được các Cursillitas chia sẻ hàng tuần, hàng tháng với nhóm bạn thân hữu từ 5 đến 7 người, do chính họ lựa chọn (Sinh hoạt ngày thứ tư cho đến hết đời). Ngoài Hội nhóm, PT còn sinh hoạt Ultreya (Tiến lên) định kỳ 3 tháng, 6 tháng hay một năm một lần, gồm nhiều nhóm thân hữu họp lại. Đây là sinh hoạt hậu Cursillo rất quan trọng cho mỗi Cursilliasta cũng như của PT. 

Để làm: “dậy men tinh thần Kitô giáo trong môi trường” mình đang sống và làm việc, mà mỗi người đều có như: gia đình, xóm làng, họ hàng, xứ đạo, nhà trường, bệnh viện, nhà máy, nông trường, hầm mỏ,  khu chợ, siêu thị… Cursillista cần “nghiên cứu môi trường” mình đang sống và làm việc theo gương vị sáng lập PT khai sinh đã dầy công nghiên cứu thuở PT mới khai sinh. PT nghiên cứu về văn hóa, kinh tế, tôn giáo, chính trị, xã hội của môi trường đó. Tìm ra những đặc điểm, nét văn hóa riêng biệt của môi trường mình sống. Nhờ nghiên cứu môi trường, ta biết rằng việc Phúc Âm hóa ở môi trường Việt Nam khi chỉ có khoảng 7% là người Công Giáo, còn 93% là các tôn giáo như Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành,  Hồi Giáo, sẽ khác với việc Phúc Âm hóa ở các nước như Brasil, Tây Ban Nha, Philippines hầu như toàn người theo đạo Công Giáo. Phúc Âm hóa ở đất nước nông nghiệp, thương mại khác với đất nước công nghiệp.

Ngay tại Việt Nam Phúc Âm hóa ở môi trường đồng bằng SCL khác với miền núi, cao nguyên. Dẫu có những khác biệt, song ta vẫn tìm ra được những điểm chung nhất để việc Phúc Âm hóa môi trường đem lại hiệu quả cao. Trước tiên và quan trọng nhất là các Cursillistas phải làm gương sáng về đời sống công bằng, bác ái, yêu thương, sống Tám Mối Phúc, 14 mối thương người. Bởi vì: “Lời nói thì bay qua, gương lành thì lôi cuốn”. Đức Gioan-Phaolô II cảnh báo: “Người thời nay thích nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có nghe những thầy dạy thì đó là vì những thầy dạy này là những chứng nhân”. Chính vì lẽ đó, mà những người được sai đi trình bày Rollo phải là người làm chứng cho những điều mình nói, nên được gọi là “Tuyên giảng” chứ không phải là thuyết giảng. Phương châm hoạt động của PT là: “Một tay nắm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh em”. Vì thế, người Cursillista luôn luôn phải cầu nguyện trước khi khởi sự công việc.

4. BẢN CHẤT CỦA PT CURSILLO

4.1 Định nghĩa:

Bản chất là: thực chất cơ bản bên trong của sự vật (Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam). Vậy bản chất thì trái với những gì là ngẫu nhiên, tình cờ, phù du, thay đổi liên tục, nay có mai không.

4.2 Những yếu tố tạo ra bản chất của PT Cursillo

Bản chất của Phong trào Cursillo gồm có những yếu tố sau:

4.2.1 Là một phong trào;

4.2.2 Là phong trào của Giáo Hội;

4.2.3 Có phương pháp riêng;

4.2.4 Tạo cơ hội để sống và chia sẻ những điều căn bản để trở thành Kitô hữu đích thực;

4.2.5 Giúp mỗi người khám phá và chu toàn ơn gọi  của mình;

4.2.6 Thúc đẩy thành lập các nhóm Kitô hữu cốt lõi;

4.2.7 Làm cho các nhóm này có thể làm dậy men môi trường của họ bằng Phúc Âm. (số 75 Tư tưởng nền tảng)

                                                     Cursillista Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

 

XIN XÉT LẠI

Đức An

           

Xã hội nhày nay biết bao cám dỗ, người lớn còn bị mê hoặc, nói chi đến các em. Trong gia đình cha mẹ thương con quá làm chúng hư, vì cái “tôi” của chúng cũng như ý riêng được chiều theo quá. Khi khó dạy, chúng ta gán cho xã hội, nếu có cũng chỉ là một phần, phần lớn là do gia đình thiếu giáo dục, cuộc sống đô thị quá phức tạp, phải chạy đua với cuộc sống vì đồng lương quá ít, nên họ không có thì giờ nói về đức dục cho các em. Câu “Tiên học lễ, hậu học văn” có lẽ đi vào quá khứ. Tờ nhật báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Trẻ lơ mơ về giá trị cuộc sống” của tác giả Nguyễn Diêu. Ông đã nói thực trạng của trẻ em ngày nay: Trong giờ giải lao thầy giáo gọi các em lại và đưa ra một bức ảnh cậu bé nông thôn khoảng 6-7 tuổi vừa gánh lúa vừa khóc, bức ảnh lột tả rất sinh động và nhiều cảm xúc. Không ngờ những cảm xúc được phát biểu: nhảm nhí! chẳng có gì đáng xem? bình thường có gì đâu? Thầy hỏi các em không thương cảm hoàn cảnh này sao? Có gì đâu mà thương?

Đã từ lâu người ta lên án hội chứng “Makeno” đã trở thành thói quen của tuổi trẻ, chúng không xác định được giá trị cuộc sống. Lớn lên các em sẽ trở thành con người vô cảm, bàng quan trước đau khổ của đồng loại. Gia đình chúng ta phải có trách nhiệm với con cái của mình. Có người còn phát biểu: Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Thật là một quan niệm sai lầm và vô trách nhiệm. Nói về các em ở nông thôn đã thiếu may mắn lại còn vất vả, hoàn cảnh mỗi gia đình đều khác nhau do những hạn chế về giáo dục và nhận thức. Nhận ra được thực trạng tác động. Những nhà giáo dục không thể đứng ngoài dửng dưng, nếu để thế hệ này hư mất  chúng ta có tội với lương tâm và lịch sử. Khi xưa Đức Giêsu ra giảng đạo, Người rất yêu thương trẻ em, Người đã dùng hình ảnh trẻ em để giảng về nước trời, Người cũng đã lên án nặng những kẻ làm gương xấu cho trẻ em hư đi. Với hiện tình, chúng ta phải trông chờ vào các nhà giáo dục có đạo đức và tâm huyết. Họ có tinh thần và hoạt động trong các tổ chức tôn giáo. Đó là môi trường tốt và trong sạch để con trẻ hoàn thiện nhân cách. Chúng ta là các bậc cha mẹ đã được Chúa trao ban thiên chức sinh thành thể xác và nuôi dạy tinh thần của con cái. Nên người hay công dân tốt hay không đó là trách nhiệm và nghĩa vụ mỗi chúng ta. Con trẻ chỉ là nạn nhân của những quan điểm sai lầm về giáo dục ngày nay.

 

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

CON CHIP

 

1.  Món quà vô giá.

Đứa bé là mơ ước của cả hai bên nội ngoại, vì bố mẹ nó, cả hai anh chị Hoàng, Lan đều là con một. Trong tiềm thức tập thể của hai gia đình, cái thành kiến trọng nam khinh nữ: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” chưa chết hẳn, vẫn thấp thoáng đâu đó, nên dù không nói ra, ai cũng mong đứa bé là con trai. Đó là một gánh nặng tâm lý làm cho chị Lan sợ, đến nỗi mỗi lần khám thai, chị không dám hỏi tới giới tính đứa bé. Khi ông giáo Xuân, bố chồng hỏi, chị thẹn thùng:

- Bộ Y tế đã cấm các cơ sở y tế, phòng khám siêu âm công bố giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, bố ạ! Con làm sao biết được?

Ông giáo cười hóm hỉnh, nửa đùa nửa thật, mà nửa đùa thua nửa thật:

- Cái quy định ấy của bộ Y tế phá sản từ lâu rồi. Chỉ cần cái phong bì năm, bảy chục ngàn đồng thôi, các vị “lương y như từ mẫu” xé rào ngay. Đây, con xem.

Ông đưa cho con dâu phiếu kết quả siêu âm còn thơm mùi mực in:

- Con khám ở phòng khám Vuông Tròn phải không? Bệnh nhân: Lê Thị Ngọc Lan, 27 tuổi. Giới tính thai nhi: Nữ. Con biết không? Chồng con mất có năm mươi ngàn để có tờ giấy này đấy.

Chị Lan lí nhí điều gì đó, ông nghe không rõ, phải hỏi lại:

- Con nói gì vậy?

Chị lí nhí hơn nữa, nhưng lần này vì để tâm, ông nghe rõ mồn một:

- Con hỏi: Bố có buồn không?

Ông giáo cười ha hả, nhưng ở đuôi mắt, hình như có hai giọt nước rỉ ra. Ông an ủi chị, nhưng tự an ủi mình nhiều hơn:

- Sao lại buồn? Con nào cũng là con, gái hay trai cũng vậy, đều là món quà vô giá Chúa ban tặng, phải không?

2. Tường Vi

Nhà thêm một người, thêm nhiều niềm vui. Đứa bé, cái sinh linh nhỏ bé, yếu ớt, mong manh ấy trở thành trung tâm điểm của mọi sinh hoạt của mọi người trong nhà. Nhưng đến gần ngày Chúa Nhật đầu tháng, ngày rửa tội cho trẻ sơ sinh trong giáo xứ, phải đặt tên cho đứa bé thì không ngờ lại phiền toái đến thế. Từ ngày xây nhà thờ tổ, cả họ có những quy định mới về hiếu hỉ, về giỗ chạp, về sự tương thân tương ái, về khuyến học, và cả về việc đặt tên cho con cháu. Vì thế, anh Hoàng phải về quê mãi tận ngoài Hải Dương, lễ nhà thờ họ, xin cụ trưởng tộc cho phô-tô co-py gia phả từ ông cố năm đời đến nay. Anh lại còn phải cậy cục, quà cáp, nhờ một ông thầy giáo dạy Hán Nôm ở Hà Nội phiên dịch sang chữ quốc ngữ, lại phải soi từng chữ để tránh kỵ húy. Ngày về, cụ trưởng tộc móm mém chào tiễn anh:

- Giấy rách phải giữ lấy lề, kỵ húy thì phải giữ, ít ra về trực hệ. Nhưng thời buổi văn minh rồi, phiên phiến đi một tí, chắc là liệt tổ liệt tông cũng chẳng chấp đâu. À, mà này, anh có biết cây mai trắng không? Ở bên Tàu người ta làm ô mai (còn gọi là xí muội) bằng quả của nó đấy. Quả mai cũng là quả mơ. Tôi cho đứa bé một cái tên, anh về thưa với bố anh xem sao. Tên nó là Mai Nhiên (nghĩa là nó đương nhiên là ước mơ vậy), được không?

Anh Hoàng mừng rỡ cúi gập người xuống:

- Con cảm ơn cụ trưởng tộc.

Suốt từ giáo xứ Ngọc Lý quê anh, ra sân bay Nội Bài, tới sân bay Tân Sơn Nhất, về đến nhà, lúc nào anh Hoàng cũng lẩm bẩm: Mai Nhiên, con gái Mai Nhiên của ba.

Chị Lan vừa tắm cho con xong, đon đả:

- Ba con về kìa, con chào ba đi.

Anh Hoàng quên hết mệt nhọc sau chuyến đi có đến cả ngàn rưỡi cây số. Anh hí hửng bồng con:

- Ứ ừ! Ngoan nào, con gái Mai Nhiên của ba!

Con bé vặn mình, ọ ọe, phẹt một tiếng. Có cái gì đó văng đầy người anh. Anh thấy mùi phân trẻ con chua loét. Hình như nó muốn nói:

- Chuyến đi của ba vô tích sự, tên con đâu phải Mai Nhiên.

Ông giáo Xuân từ trên gác nói vọng xuống:

- Hoàng về rồi đấy à? Ngoài ấy có an lành không? Mọi người có khỏe mạnh không? Cụ trưởng tộc nhà mình còn minh mẫn không?

- Ơn Chúa, mọi sự đều tốt lành cả! Cụ trưởng tộc còn sáng suốt lắm. Cụ còn cho tên con bé nhà mình nữa. Tên nó là Mai Nhiên, bố ạ!

Ông giáo bước xuống cầu thang, vỗ vỗ tay lên trán:

- Cái tên dung dị, dân dã, dễ thương, lại có ý nghĩa. Ơ, ơ… Nhưng mà, không được.

Chị Lan nhanh nhảu:

- Cái tên đẹp như thế, sao lại không được hả bố?

- Mai Nhiên nói lái là miên nhai. Cả cơ nghiệp có được đứa cháu nội, lại để cho Miên nó nhai à! Bố nói không được là không được.

Có tiếng con Mi Mi sủa dồn. Ông giáo đưa mắt ra cổng:

- Cha mẹ ơi! Chuyện lạ: ‘‘Rồng đến nhà tôm’’, cha xứ với thầy xứ tới thăm. Hoàng ơi! Mau ra mở cổng.

Ông giáo vội khoác lên người chiếc áo sơ mi cũ, màu trắng đã ngả sang màu nước xáo lòng, bước ra. Ông khoanh tay cúi gập người, chào như ngày xưa, thuở những năm 1960-70:

- Con xin phép lạy cha ạ! Con lạy cụ sáu ạ!

Thầy xứ có vẻ vẻ ngượng:

- Con không dám đâu, thưa cụ giáo.

Vì ông giáo là thầy dạy tiểu học của ông cố, bà cố của thầy xứ. Ông còn lớn tuổi hơn cả ông bà cố của cha xứ nữa. Cha xứ vô tình, không rào đón, vào thẳng mục đích cuộc viếng thăm:

- Cha nghe nói ông giáo vẫn giữ được cuốn Từ Điển Danh Từ Triết Học của cha Trần Văn Hiến Minh; và cuốn Triết Lý Cái Đình của cha Kim Định, phải không? Ông giáo có thể cho cha mượn để thầy xứ sao ra, làm tài liệu cho thư viện nhà xứ, được không?

Không hiểu sao ông giáo xịu mặt xuống, dứt khoát:

- Rất không may, thưa cha! Con có đấy, nhưng không thể cho mượn được. Không ai lại dại dột cho mượn sách bao giờ.

Suy nghĩ một lát, ông thay đổi nét mặt, phì cười mà không ai biết vì sao:

- Nếu thư viện nhà xứ cần, con chỉ có thể xin dâng cúng thôi.

Cha xứ xuýt xoa:

- Quý hóa quá! Cha cám ơn ông giáo lắm.

Ông giáo đứng lên, bước về phía tủ sách. Cha xứ lơ đễnh nhìn ra ngoài ngõ:

- Giàn hoa trước cổng nhà ông giáo đẹp quá, nhỉ?

Ông giáo thổ lộ tâm can:

- Vâng, con trồng hơn một năm, chẳng được bông hoa nào; nhưng hơn tháng nay, từ khi mang cháu bé từ bệnh viện về, nó nở rộ, chi chít những hoa, cha ạ! Con cũng chẳng biết nó là hoa gì.

- Thật không, ông giáo? Nó là hoa tường vi đấy.

- Thế thì đúng là Ý Chúa. Xin cảm ơn cha, con đặt tên con bé nhà con là Tường Vi được đấy, phải không, thưa cha?

Anh Hoàng tra lại gia phả, không có ông cố bà cố nào tên Vi. Thế là đứa bé được đặt tên là Tường Vi.

3. Con Chip

Anh Hoàng, vốn là kỹ sư tin học, nói với vợ:

- Con mình là Tường Vi. Vi làm anh liên tưởng tới vi mạch, gọi tắt là IC, hay còn gọi là ‘‘chip’’ theo tiếng Anh. Từ nay, trong nhà, mình gọi con là con Chip, em có chịu không?

Chị Lan ngúng nguẩy:

- Không chịu cũng chẳng được với anh. Anh lại còn hỏi em cơ à?

Con Chip được bú sữa mẹ. Ngoài ra nó còn được bổ sung nào là sữa tăng trọng, tăng chiều cao, lại còn DHA+ tăng trí thông minh. Nó lớn nhanh như thổi. Kinh nghiệm dân gian bảo rằng: ‘‘Ba tháng biết lẫy, bẩy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi’’. Được ba tháng, nó biết lẫy. Vài tháng sau, nó ngồi dậy được, nhưng đến tháng thứ tám, nó vẫn chưa biết bò. Anh chị Hoàng, Lan lo lắm. Một hôm chị Lan đặt con ngồi dưới chân bàn ăn với một đống đồ chơi:

- Chip, Chip! Ông nội cao tuổi rồi khó ăn khó uống. Con ngồi chơi ngoan nhé, để mẹ muối xổi cho ông mớ cà pháo, nấu cho ông bát canh cua đồng.

Chị cắm cúi làm. Đột nhiên, con Chip vịn chân bàn, đứng lên, cười khanh khách, bước nhào tới, ôm chầm lấy cổ chị. Chị thét lên như bị cháy nhà:

- Ông nội ơi! Anh Hoàng ơi!

Hai người hốt hoảng chạy xuống. Chị Lan mừng rỡ:

- Con Chip biết đi rồi, đây nè!

Chị đặt con đứng bám vào chân bàn, đi giật lùi, vỗ vỗ tay gọi. Con Chip buông tay, chập chững bước tới mấy bước, ôm chân mẹ.

Anh chị Hoàng, Lan mừng lắm. Ông giáo cũng mừng, nhưng ông cảm thấy một nỗi lo sợ mơ hồ, mà lại hình như rất thực:

- Con bé chưa biết bò đã biết đi. Không biết sau này ra sao, chứ những đứa trẻ trốn bò khó nuôi, khó dạy lắm. Rồi xem.

4. Thần đồng

Con Chip cực kỳ thông minh. Vào trường mầm non, nó đã dạn dĩ hát hay, múa giỏi, vẽ đẹp. Học lớp lá thôi, nó đã biết đọc, biết viết. Vào lớp một, nó thuộc lòng bản cửu chương, làm được toán lớp hai. Ba lần làm trắc nghiệm IQ cho nó, kết quả đều trên 140, anh Hoàng hãnh diện khoe:

- Con Chip nhà mình thuộc 2% số người thông minh nhất, có thể nói là cận-thiên-tài đấy, bố ạ!

Ông giáo Xuân lo âu hơn vui mừng:

- Có mấy thiên tài có một cuộc sống suôn sẻ, hạnh phúc đâu?

Con Chip thông minh như thế, nhưng hai năm đầu bậc tiểu học, nó chỉ đạt loại khá. Kín đáo dò hỏi, chị Lan tìm ra lý do: con bé không chịu “tự nguyện” học thêm ở nhà cô chủ nhiệm. Từ năm lên lớp ba, nó được (bị thì đúng hơn) đi học thêm. Ngày thường, mỗi buổi chiều, vì trái đường, chị Lan phải mang bữa ăn đến trường, cho con ăn vội vội vàng vàng ở ghế đá ngoài sân, chở con tới nhà cô chủ nhiệm, ngồi chờ nó học xong, đón về. Những ngày nghỉ cuối tuần, nó chưa bao giờ được nghỉ. Thứ Sáu: Chiều học vẽ, tối học Giáo lý khai tâm. Thứ Bảy: Sáng học thể dục ở nhà Thiếu nhi, chiều học Anh Văn mãi trên Sài Gòn, cách nhà có đến hai chục cây số, tối học đàn ở trung tâm Suối Nhạc. Chúa Nhật: Bảy giờ đi lễ thiếu nhi rồi đi học bơi, chiều học vi tính, tối học thanh nhạc ở trung tâm Đô Rê Mi. Như một thần đồng, môn học nào nó cũng học rất nhanh, luôn luôn đạt danh hiệu xuất sắc. Ba năm trời, giấy khen nó mang về, phòng khách không còn chỗ treo. Anh chi Hoàng, Lan vui lắm, nhưng ông giáo Xuân ái ngại:

- Sức người có hạn. Cho con học vừa vừa thôi, phải cho nó nghỉ ngơi chứ!

Anh Hoàng ngắt lời bố:

- Con Chip nhà mình phải là một người xuất sắc toàn diện, bố ạ.

Ông giáo lắc đầu, ngán ngẩm.

Cuối năm lớp năm, con Phượng bạn thân nhất của con Chip bị xe đụng chết. Con Phượng nhà nghèo. Nó chết, bố mẹ nó không mua được đất chôn, phải mang hỏa thiêu. Con Chip ngồi hàng giờ trước nắm tro cốt của bạn trong nhà Chờ Phục Sinh của giáo xứ. Nó suy tư lung lắm, như một người lớn:

- Phượng ơi! Mày cũng như mọi người, rồi tao nữa, chỉ là một dúm tro bụi kia hay sao?

Con Chip bị khủng hoảng, nó co rút lại trong cái vỏ ốc cá nhân của nó. Nó sợ chết quá, hóa ra sợ sống. Trừ ông nội nó ra, nó sợ mọi người, kể cả bố mẹ nó. Nó sợ chính nó những khi một mình. Nó sợ sách vở, nhạc, họa, vi tính, sợ ăn uống, sợ mọi thứ. Giữa đêm, tiếng thét của nó xé lòng ông giáo Xuân và anh chị Hoàng, Lan.

Đưa con Chip đi mấy bệnh viện, các bác sĩ không tìm ra bệnh của nó. Họ kết luận vu vơ rằng nó bị trầm cảm gì đó. Nó suy sụp hoàn toàn, phải nghỉ học tất cả mọi môn, suốt ba tháng hè.

5. Chiếc xuồng ba lá

Ông giáo Xuân ngồi một mình bên chiếc điếu cày và ấm trà Thái Nguyên nóng hổi. Ông đăm chiêu nhớ về thời trai trẻ, cái thời mà ông đã phạm một lỗi lầm không thể tha thứ được. Hôm ấy nhà ông tát đìa, chú Hạ, em út ông bị rắn hổ mang đất cắn, phải chở đi cấp cứu. Chiếc xuồng ba lá hai chục giạ, đặt chiếc Kohler 4 thì vừa, nhưng muốn cho nhanh, ông đặt hẳn chiếc BS 9. Chiếc xuồng xé nước, lướt trên mặt sông như bay, rung lên bần bật. Tới đầu kênh, phải cua gấp, nó không chịu nổi, vỡ toang hoác, nước ào vào, chìm nghỉm. “Muốn nhanh, hóa chậm”, sự đời vốn thế. Vớt được chú Hạ lên, đưa tới bệnh viện, thì quá trễ, nọc rắn độc đã ngấm vào tim, không cứu được. Nhớ chuyện cũ, gẫm chuyện mới, ông thở dài:

- Con Chip dù sao cũng chỉ là một đứa trẻ. Làm sao nó chịu được áp lực học hành ghê khiếp kia mà không suy sụp! Như chiếc xuồng ba lá mỏng manh ngày ấy không chịu nổi cỗ máy chín mã lực, đã chìm nghỉm giữa sông nước, con Chip không đang chìm giữa sóng đời cuồn cuộn đó sao?

Ông giáo lấy tay áo lau mắt, chép miệng:

- Ôi! Gánh nặng thiên tài, gánh nặng thiên tai!

Rồi ông nhìn lên bàn thờ, làm dấu Thánh Giá:

- Chúa ơi! Con biết: Thế giới này có bảy tỷ người thì Chúa có bảy tỷ kế hoạch, mỗi kế hoạch riêng cho từng người. Nhưng Chúa đã gởi con Chip tới nhà này, xin cho chúng con biết phải làm gì, làm thế nào với con bé, cho hợp theo Thánh Ý.

lãongu

 

 

Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Trong bầu khí hồ hởi của bữa nhậu, một chiến hữu, sắp sửa bước vào tình trạng ngắc ngư con tàu đi, đã phát biểu một câu xanh lè, khiến cho bàn dân thiên hạ phải ngẩn tò te: Tớ vừa mới khám phá ra một qui luật của muôn đời, đó là: Đàn ông, muốn hư thì phải có tiền, còn đàn bà, muốn có tiền thì phải hư.

Dĩ nhiên, câu nói này không hoàn toàn đúng “một chăm phần chăm”, bởi vì nhiều ông có tiền, được liệt vào hàng đại gia, giàu nứt đố đổ vách mà đâu có hư, đồng thời cũng có nhiều bà đã kiếm được tiền bằng chính công sức, mồ hôi, nước mắt của mình và họ cũng chẳng bao giờ hư cả. Tuy nhiên, câu nói trên cũng phản ảnh phần nào sự thật, nhất là sự thật về một hạng người nào đó trong xã hội Việt Nam ngày hôm nay.

ĐỜN ÔNG MUỐN HƯ, THÌ PHẢI CÓ TIỀN.

Kinh nghiệm cho thấy: Khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn, người ta dễ dàng đạo đức ăn ra, trái lại khi khó khăn đã qua đi và hoàn cảnh trở nên tươi sáng hơn, người ta trở về nếp sống cũ và lại khô khan nguội lạnh, nếu không muốn nói là còn xấu xa hơn trước nữa.

Có anh chàng “Hai Lúa” được cha mẹ cho lên Saigon du học. Trước khi khăn gói quả mướp lên đường, anh ta đã thề độc thề địa với người yêu bé bỏng của mình rằng: Nếu không lấy được em thì anh sẽ chết. Em ráng chờ đợi anh nhé. Và trong đầu óc đơn sơ, anh chàng Hai Lúa này đã vẽ nên một cảnh tượng huy hoàng như người xưa diễn tả: Võng anh đi trước, võng nàng theo sau. Nhưng rồi sau khi đã khều được mảnh bằng, anh chàng Hai Lúa năm nào đã trở thành dân Saigon chính hiệu con nai vàng. Vì cần phải có hộ khẩu ở thành phố, vì cần phải có ô dù che chắn trước sau, vì cần phải mở ra con đường tiến thân, vì cần phải bảo đảm cho công danh sự nghiệp, nên anh ta đã lấy một cô vợ mà nhà thì giàu, bố thì thế lực và quên béng mất cô gái miền quê năm xửa năm xưa. Thật đúng với lời bàn của tác giả Cổ Học Tinh Hoa: “Ngán thay thói đời giàu hay quên bạn, sang hay phụ vợ. Lắm kẻ lúc còn hàn vi, vợ nuôi cho ăn đi học, một mai được chút tiền của, chức tước, đã phụ ngay vợ cũ mà kiếm vợ mới, hoặc kiếm vào chỗ giàu, chỗ sang hay người trẻ tuổi xinh đẹp hơn. Nhưng kẻ như thế dù viện lẽ gì, cũng chỉ là kẻ phụ bạc cả mà thôi”.

Kinh nghiệm cũng cho thấy: Có tiền, người ta sẽ dễ dàng “rửng mỡ”, lao mình vào chơi bời trác táng. Hay nói cách khác, muốn chơi bời thỏa thích, thì phải có sẵn tiền trong túi.

Bình thường, sau một ngày lao động mệt mỏi hay căng thẳng,  khi chiều xuống, bè bạn thường rủ nhau tới quán nhậu, làm một chầu để mở mang trí hóa, cũng như giải bớt cơn sầu. Tuy nhiên, nếu chỉ nhậu tăng một, thì dù có say một tí, cũng chỉ là chuyện thường ngày ở huyện. Thế nhưng, người ta lại tiếp tục tăng hai và ở tăng hai này, người ta nhậu ở đâu và nhậu như thế nào thì chỉ có ông trời mới biết được mà thôi. Cũng vì tăng hai ấy mà người ta phải chi ra không biết bao nhiêu tiền và cũng dễ bị hư đi.

Tiếp đến, như các cụ ta thường bảo: Có tiền mua tiên cũng được. Một số người lại thích cầm tiền đi mua những cô tiên qua những cuộc tình thầm lén và vụng trộm, những cuộc tình chớp nhoáng và ngoài luồng, hay đèo bòng bồ nhí. Có những ông già đang bước vào cảnh hoàng hôn của cuộc đời, thế mà vẫn cứ anh dũng bỏ vợ trốn con, bỏ tiền ra xây tổ ấm và trang bị những tiện nghi hiện đại cho cô bồ nhí trẻ măng của mình, để rồi cuối cùng đã phải chịu nỗi đắng cay như ngậm bồ hòn trong miệng: Bắc thang lên hỏi ông trời, mang tiền cho gái, có đòi được không?

Từ những sự việc kể trên, gã có thể kết luận: Đờn ông muốn hư thì phải có tiền. Chứ nghèo rớt mồng tơi thì làm sao dám bước chân vào những nhà hàng cao cấp, những chốn chơi bời du hí và dù có nằm mơ thì cũng chẳng thấy được những người đẹp chân dài.

ĐỜN BÀ MUỐN CÓ TIỀN, THÌ PHẢI HƯ.

Sống trên đời, ai mà chẳng muốn có được nhiều tiền. Nhưng để thực hiện ước muốn hoành tráng này, nhiều người đã cố gắng phấn đấu để vươn lên. Và họ trở thành những người tốt lành, cũng như đã giúp ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng có những kẻ đã rơi xuống vực thẳm tội lỗi và đã hư đi. Ở đây, gã chỉ xin bàn đến phe đàn bà con gái đã hư đi vì muốn có nhiều tiền một cách dễ dàng mà thôi. Gã xin tạm chia thành hai loại.

Loại thứ nhất là vì hoàn cảnh.

Họ có thể là những cô gái nông thôn, muốn thoát khỏi cảnh nghèo túng của miền quê bằng cách lên thành phố tìm việc làm, vừa để đổi đời, vừa để kiếm tiền giúp đỡ gia đình, nhưng rồi bị lừa gạt. Lúc đầu chỉ là phụ giúp bán cà phê, rồi tiến đến bán cà phê ôm và sau cùng là bán tất cả cái vốn mình tự có.

Họ có thể là những sinh viên nghèo, nhưng lại muốn theo đuổi việc học, vì thế ngoài những giờ đến trường hay lên lớp, họ phải tìm việc làm để kiếm thêm chút tiền còm, bù lỗ cho những chi phí của mình. Những việc làm thêm này, chẳng hạn như dạy kèm cho trẻ, bán hàng tại cửa tiệm, rửa chén bát cho các nhà hàng, lắm lúc thật vất vả mà lương bổng lại chẳng bao nhiêu. Vì thế, có những cô đã vào làm trong quán cà phê đèn mờ, những vũ trường hay cam phận với kiếp sống tầm gửi, làm vợ hờ, làm bồ nhí. Sở dĩ như vậy, vì những dịch vụ này thu nhập vừa cao, lại vừa nhàn hạ. Và rồi từ đó bị trượt chân, như viên bi lăn mãi lăn hoài cho tới tận cùng con dốc mới thôi. Gã xin đưa ra một vài chứng từ sống động cho vấn đề này.

Để có tiền trang trải cho chuyện ăn, chuyện ở và chuyện học, Hằng quyết định làm thêm công việc tiếp thị bia vào ban đêm tại một quán nhậu. Vơi thân hình khá bắt mắt của một cô gái đương thì, cộng với tính tình nhanh nhẹn vui vẻ, Hằng nhanh chóng được lòng rất nhiều anh lẫn “ông” nhậu lui tới quán. Trong số những khách hàng thường xuyên uống bia ủng hộ cô, có Khánh, một dược sĩ  32 tuổi, chủ nhân tiệm thuốc tây tọa lạc gần nơi Hằng tiếp thị bán bia mỗi đêm. Sau vài lần gặp gỡ, trò chuyện, Hằng bằng lòng cho chàng dược sĩ này đưa đón, đi ăn uống và về nhà trọ khi hết giờ làm việc ở quán nhậu. Chỉ sau một tháng đưa đón, Hằng đã sẵn sàng ngã vào vòng tay của chàng dược sĩ, mà cô nghĩ có thể bao bọc được cho mình trong những tháng ngày ăn học khó khăn. Đúng như Hằng nghĩ, để tiện bề lui tới, Khánh thuê hẳn cho Hằng một căn nhà nhỏ trong hẻm. Tuy nhiên, sự cung phụng của Khánh dành cho Hằng chỉ được một năm thì người thứ ba xuất hiện. Đó là một ông nhà thầu xây dựng, cũng là bạn nhậu của Khánh. Ông nhà thầu 42 tuổi này đã có vợ con đề huề. Sau vài lần gặp Hằng, ông đâm ra “kết” cô. Sau đó không lâu, đã diễn ra một thỏa thuận rành mạch giữa ba người: Ông nhà thầu bỏ tiền ra cho Hằng mướn nhà trọ và ăn học. Anh chàng dược sĩ cung phụng cho cô mua sắm. Phần cô sinh viên Hằng tự chia lịch: 2-4-6 dành “tiếp ông thầu”, còn 3-7-5 thì “đi chơi” cùng anh dược sĩ. Chủ nhật là ngày cô được tự do.(Báo Phụ nữ Chủ nhật, số 7 ra ngày 19.2.2006).

Loại thứ hai là vì đua đòi

Có những cô gái, đua đòi cách ăn chơi của bè bạn, với những mốt áo quần hàng hiệu, theo kiểu bóc ngắn cắn dài, vung tay quá trán, con nhà lính tính nhà quan. Vì thiếu tiền chi ra, nên sẵn sàng chấp nhận thân phận làm bồ nhí, làm gái bao. Thanh xuất thân trong một gia đình khá giả. Thi đậu đại học. Bất chấp lời khuyên của những người thân, Thanh dọn ra ở riêng trong một căn phòng cho thuê khá tiện nghi. Không có sự kiểm soát của người thân, Thanh tự do bay nhảy, đàn đúm. Để có tiền ăn chơi, Thanh không ngần ngại cặp bồ với nhiều người đàn ông lớn tuổi nhưng có tiền. Trong số các “đại gia” ấy, Thanh chọn ông Phát đã có vợ con, nhưng lại là ông chủ cửa hàng kinh doanh xe gắn máy làm “bến đậu lâu dài” vì mọi chi phí thuê nhà, sắm sửa đều được ông Phát chu cấp hậu hĩ. (Báo Phụ nữ Chủ nhật, số 7, ra ngày 19.2.2006).

Có những cô gái khác vì cám dỗ của đồng tiền, hay vì một cuộc sống buông thả, sẵn sàng đánh đổi cả thân xác và không ngần ngại kinh doanh bằng cái vốn tự có, bằng cái vẻ tươi mát trời cho. Lúc ban đầu, có thể chỉ lâu mới nhảy dù, tiếp khách một lần để có phương tiện tiếp tục nếp sống chơi bời quậy phá của mình. Nhưng rồi thấy việc kiếm tiền bằng phương cách này quá dễ dàng, nên bỗng trở thành chuyên nghiệp lúc nào không hay. Và khi hàng đã quá đát, thì chỉ còn nước đứng ra ngoài vỉa hè và trở thành một loại bướm đêm, mà thiên hạ vốn thường thấy bay lượn dọc theo những quãng đường vắng hay tại những  công viên, khi thành phố đã lên đèn. Và cuối cùng, đàn ông cũng như đàn bà, tất cả đều phải cúi đầu lãnh nhận một kết thúc đáng buồn!

 

 

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH

3

 

Từ hoàn cảnh gia đình nó.

Nó được sinh ra ngày 02 tháng 02 năm 1970, trong một gia đình có sáu anh em, bốn trai hai gái. Nó là con thứ ba trong gia đình (một anh, một chị, nó, hai em trai và em gái út).

Không biết từ khi nào, nó rất tự hào về ngày tháng năm sinh của nó. Ngày nó được mẹ cha sinh ra đời. Con số tròn trịa, ngày và tháng cũng đẹp vì thời điểm này là tiết Xuân (trước hoặc sau Tết Nguyên Đán). Hơn nữa, theo lịch phụng vụ, “Những Ngày Lễ Công Giáo” thì là ngày Lễ: Mẹ Dâng Chúa Trong Đền Thờ, hay còn gọi là Lễ Nến.

Thật là đẹp và ý nghĩa làm sao! Khi biết được ý nghĩa ngày lễ này, nhất là khi nó được nhìn thấy tấm hình lúc còn bé tẹo teo, mẹ nó ẵm nó trong đoàn rước các bà mẹ ẵm con tiến vào nhà thờ trong ngày lễ này. Nó tự hào và hạnh phúc lắm, nhất là cho tới hôm nay, mỗi lần tới ngày Lễ này, nhìn các bà Mẹ bồng ẵm con trên tay trong nhà thờ, trong nó lại trào dâng niềm hạnh phúc ngẹn ngào khó tả!

Hơn nữa, nó biết được ngày sinh nhật của nó trùng với ngày sinh nhật của Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ, Giám Mục tiên khởi của Giáo phận mà nó đang là con chiên và là linh mục đoàn.

Tạ ơn Chúa, Đấng tạo dựng nên nó từ đời đời.

Tạ ơn mẹ cha đã sinh nó ra trong tình yêu và hạnh phúc!

Tạ ơn Giáo Hội đã cưu mang và sinh nó ra trong Ơn Thánh.

Nó được trải qua một tuổi thơ êm ả mặc dù sống trong những biến cố và xáo trộn trong xã hội. Từ đó, nó càng cảm nhận và chân quý ơn cha nghĩa mẹ của nó, đã yêu thương, lo lắng đùm bọc anh chị em nó, để tất cả được sống trong bình an và hạnh phúc.

Khi nó có trí khôn (6 – 7 tuổi), nó đã thấy gia đình nó đang sống ở dưới quê, vùng Cái Sắn rồi. Cha nó thì không có nhà, phải đi cải tạo sau biến cố 1975. Nó được nghe kể lại rằng gia đình nó không phải ở đây, mà là ở Sài Gòn. Cha nó là quân nhân cấp sĩ quan trước năm 1975. Biến cố 1975, cha nó đưa mẹ con nó về quê sinh sống nhằm tránh những bất ổn. Sau đó, cha nó được báo đi học tập ít tháng ít tuần gì đó, nhưng đi rồi thì thực tế là 5 năm rưỡi. Tội nghiệp cha nó làm sao! Và cũng thương mẹ nó làm sao! Vì giờ đây, phải lủi thủi ở quê làm ruộng nuôi con và thăm nuôi chồng.

Mẹ nó một mình nuôi năm anh chị em nó (lúc này chưa có em gái út). Lúc đó nó chưa biết gì nên cứ hồn nhiên sống. Nó chưa đủ lớn để cảm thông với nỗi buồn của mẹ (xa chồng), nỗi nhục nhằn của cha (xa vợ con và biết bao cơ cực trong trại cải tạo). Đã có những lúc nó vô tâm kêu trách cha mẹ nó vì như thấy bị thua thiệt hơn so với anh chị em chúng bạn lối xóm. Sau này, nghĩ lại, nó càng cảm thấy yêu thương cha mẹ nó biết chừng nào. Cha nó trầm tính, điềm đạm, cương trực, ít nói nhưng khi nói thì đó là khuôn vàng thước ngọc cho con cái. Mẹ nó cũng ít nói nhưng tính khí mạnh mẽ, khẳng khái. Một mình làm lụng vất vả, lo toan nuôi dạy năm anh chị em chúng tôi trong độ tuổi choai choai (nhỏ nhất 1 tuổi, lớn nhất 10 tuổi). Đặc biệt là việc giáo dục con cái: mẹ dạy các con răm rắp mỗi đứa một việc, tham dự thánh lễ mỗi sáng và kinh tối gia đình mỗi ngày. Mẹ được biết đến trong xóm làng như người phụ nữ giỏi dang, cương nghị, cần mẫn, đảm đang và hy sinh. Cuộc đời mẹ thật là ý nghĩa vì đã để lại gương và đức cho con cháu.

Long xuyên ngày 02/02/2015

Ôi Khanh!

 

 

CHUYỆN NHÀ XỨ 3

                                                                                                                              Lôrensô

Đời sống chung luôn cần có những quy ước. Quy ước giúp cho mọi việc tiến triển tốt đẹp. Hơn thế nữa, quy ước để mọi người hiểu và trợ lực cho nhau. Cha sở và cha phó đặt ra những quy định trong công tác mục vụ thế này: Mỗi người làm lễ sáng một tuần. Người kia làm buổi chiều. Chúa nhật bốn lễ. Mỗi người làm 2 lễ. Phụ trách hội đoàn: Cha sở phụ trách gia trưởng và hiền mẫu. Cha phó phụ trách giới trẻ và thiếu nhi cùng ca đoàn. Xức dầu bệnh nhân: Mỗi người phụ trách hai tuần. Người này không đi được thì người kia đi thế. Nếu ban đêm, cha phó tình nguyện đi. Đám cưới, đám tang vào tuần của ai làm lễ buổi sáng thì người đó phụ trách. Về phần tiền ăn, cha sở nói cha phó khỏi đóng. Cha sở làm “Bao Công”. Cha phó thì nghĩ ngợi nên xin được “Campu-chia”.  Nhờ những quy ước với nhau rõ ràng và ứng xử tình nghĩa mà giáo dân nhận ra cha sở và cha phó là một “cặp đôi hoàn hảo”. Cả hai không những hiểu ý mà còn rất ăn ý với nhau.

Trong những đám tiệc, cha phó và cha sở ngồi gần nhau trong một bàn. Bao giờ cha phó cũng mời cha sở trước thể hiện tinh thần “kính lão đắc thọ”. Sau đó cũng không kém phần hiểu biết, cha sở mời lại cha phó để khuyến khích tinh thần “tre già măng mọc”. Hai cha “đi bài” chuẩn không cần chỉnh. Không ai nói được gì. Sau đó là hai người uống rất ít. Cả hai đều là những người uống rượu khá nhưng rất chừng mực. “Cặp đôi hoàn hảo” ấy bảo vệ nhau kỹ như hậu vệ Ý bảo vệ khung thành. Cha sở có tài uống rượu theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”. Ai mời thì ngài vui vẻ nhận lời. Giơ cao ly rượu lên, uống kêu một cái rất to và rất ngọt. Nhìn kỹ thì ly rượu vơi đi rất ít. Có lẽ là ngài uống được 10% cũng có khi là 10 phần nghìn. Người ta thấy cha sở uống thế thì không dám nói gì. Đến lượt cha phó họ tưởng ngài sẽ khá hơn. Vì ngài là “măng mọc” nên sẽ uống cạn đến giọt cuối cùng. Nhưng, không ngờ cha phó cũng sao y bản chính chiêu của cha sở. Ngài lập luận: “Tôi là cha phó nên không thể vượt mặt cha sở được. Phải “kính lão” mới “đắc thọ” chứ! Thế thì… Amen. Chẳng ai nói được gì. Cả hai đều ra sức chống đỡ cho người kia. Thấy “đội mình” yếu thế là phải “tiếp viện” liền. Hôm nào cha sở thấy cha phó muốn vui vẻ thêm là ngài biết ý, đi về trước và không quên dặn dò bà con giáo dân: “Các ông liệu đấy! Cha phó có sứt mẻ gì thì các ông biết tay tôi”. Câu này vừa nhắc nhở những “anh hùng tửu chiến” nhưng đồng thời cũng khuyên cha phó phải biết làm chủ bản thân. Vui chơi nhưng không được bỏ rơi nhiệm vụ.

Sự hiện diện của hai cha trong các dịp hiếu, hỷ làm cho bà con giáo dân thấy ấm áp và phấn khởi. Hai cha không chỉ hiện diện mà còn đem đến những câu chuyện hài hước. Ở một đám cưới nọ, có người hỏi cha sở thế này: “Cha sở cho con được mạn phép hỏi một câu này: Cha không ăn được món gì ạ? Để chúng con biết mà tránh làm những món đó.” Cha sở đáp: “Tôi thì món gì cũng ăn được hết, trừ món đu đủ nấu cơm mẻ. Còn uống thì cũng vậy, trừ món sinh tố đu đủ xay với rau má. Tài năng chơi chữ của cha sở thật thâm thúy. Trong bàn có người cười giòn tan, có người thì hơi gượng vì chưa hiểu mô tê gì cả.

Một ông khác tiếp lời: “Chúng con chắc chắn là không dám làm hai món đó đãi cha đâu ạ! Tội chết! Cha sở vui tính quá! Nhân đây con mời cha phó một ly ạ!” Cha phó uống chút xíu rồi đưa lại cho khổ chủ.

- Trời ơi! Cha lại đi bài cũ rồi!

- Ừ! Thì nó là “truyền thống” của nhà xứ mà!

- Con nghe nói cha văn chương hay lắm. Bây giờ cha chỉ nói một câu thôi. Nếu câu đó con không đối đáp lại được thì không chỉ ly này, mà ai mời cha ly nào, con xin “thầu”  hết cho cha luôn.

- Cái này là ông tự nguyện ra điều kiện nhé! Không ai ép uổng nghen! Có cha sở và mọi người làm chứng. Tôi sẽ nói để ông uống phần còn lại của ly rượu nè: “Thà cho tôi mù chứ đừng để cái cù trong ly. Thà giết tôi đi chứ đừng để cái ly còn cù.” Mời ông uống cho.

Cao thủ! Ông kia không thể đối đáp lại câu nói của cha phó. Ông chỉ còn biết câm nín mà uống phần còn lại của ly rượu đã được cha phó “ngự ban”. Chẳng lẽ lại để cho cha phải mù hay giết cha. Câu này thật là hóc búa. Tâm phục khẩu… nhập. Thế mới biết tài năng văn chương của cha phó thật là lợi hại.

            Cha sở và cha phó quả là “người tám lạng kẻ nửa cân”. Bà con giáo dân hết sức tự hào và hạnh phúc về các cha của mình. Bà con vui hơn khi nhìn thấy hai cha yêu thương và đoàn kết. Hai cha trở thành mẫu gương cho cả giáo xứ noi theo. Người này nói với người kia về gương sống của hai cha. Cả giáo xứ sống thật hạnh phúc.

Laurensô

 

 

LỜI KINH TIN YÊU

Con về thắp sáng lời kinh

Trầm ngân vọng tiếng tâm linh ru hồn

Tâm tư sầu lắng, bồn chồn

Chuông chiều vội vã, dập dồn trong tim

Trời cao lạc lõng cánh chim

Rạc rài cánh mỏng bay tìm ước mơ

Lênh đênh lạc bến, xa bờ

Sóng xô, gió cuốn vật vờ tháng năm

Rưng rưng... dấu thánh ăn năn

Lời kinh đẫm lệ, muộn mằn xót xa

Ngước nhìn Thập tự thiết tha

Vô biên tình Chúa hải hà yêu thương

Con về bên Chúa náu nương

Hương kinh tỏa ngát Thiên đường tin yêu.

Jos, Nhật Quang

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

 

 

Tấm lòng chân thật

Suy nghĩ còn vơi

Chỉ biết vui chơi

Chỉ lo ăn học.

Hồn nhiên tuổi ngọc

Tuổi bắt bướm chim

Khiêm nhu đi tìm

Bên ai nương tựa.

Trên cao có Chúa

Đời có mẹ cha

Em là nụ hoa

Người người thương mến.

Giuse Trn Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

NỤ HOA TRONG NHÀ

 

Em đây còn bé

Tuổi búp măng mềm

Ngày tháng ấm êm

Đẹp như tia nắng.

Tuổi thơ trong trắng

Bao nhiêu mơ màng

Theo bước xuân sang

Chồi non đua nở.

Nụ hồng nho nhỏ

Đơn sơ dại khờ

Tuổi hằng nên thơ

Câu ca đẹp nhất.

 

 

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA THIẾU NHI

Cho con cuộc sống tuyệt vời

Trí khôn, miệng lưỡi nói lời dịu êm

Khôn ngoan càng tuổi càng thêm

Xin ban nhân đức để nên hiền lành

Giúp con chăm chỉ học hành

Vâng lời lễ phép đàng hoàng nết na

Giúp con điều xấu tránh xa

Luôn là đứa trẻ hiền hòa dễ thương.

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ – Tân Hiệp

 

ĐÀO LUYỆN THIẾU NHI

Thiếu nhi, thế hệ ngày mai

Lớp người làm chủ, tương lai vững bền

Cả hai: giáo xứ, gia đình

Muốn được thăng tiến, trưởng thành đi lên

Phải lo đào luyện đức tin

Khuyên răn dạy dỗ, bảo ban ân cần

Giúp cho con cái thấm nhuần

Thánh Kinh, giáo lý, biết đường đúng sai

Thúc giục con cái hằng ngày

Siêng năng học hỏi, hiểu lời Chúa hơn

Các nơi đều có Xứ đoàn

Tiếp tay đắc lực, góp phần nâng cao

Thiếu nhi sống Đạo ra sao

Là do cộng tác, với bao nhiêu người

    Yuse Phạm Đình, Gx Thạnh An

 

Bé cũng cầu xin
Cho Cha cho Mẹ
Ông Bà Cô Bác

Hồn xác an lành
Bé lại cầu xin
Cho Em gái bé
Lớn mau mạnh khoẻ
Cả nhà cùng vui.
Lời kinh đã hết
Bé kết vòng tay
Con ạ Đức Bà
Con đây đi ngủ.
      FX Đức Hnh. Gx Thái Hoà

 

 

BÉ ĐỌC  KINH TỐI
Bé mới lên ba
Nhưng mà rất giỏi
Tối nào cũng vậy
Cùng Bà đọc kinh.
Đầu tiên Bé bước
Ra trước Bàn Thờ
Đưa tay làm dấu
Lúc lâu mới thành.
Rồi Bé cầu xin
Cho con khoẻ mạnh
Cho con ngoan ngoãn
Chăm chỉ học hành.
       

 

NGƯỜI LINH MỤC!

Người vui sứ mạng ra đi

Tin Mừng rao giảng là vì muôn dân

Gặp người đau khổ ân cần

Thấy người tội lỗi thông phần sẻ chia

Người luôn dấn bước mỗi ngày

Cũng như nến cháy sớm mai hao mòn

Trung kiên giữ vững lòng son

Một đời tận hiến tình con cho Ngài!                           Giuse.Trần Thanh Tú

 

TẢN MẠN

 

GIÁO DỤC TUỔI THƠ

Trong bối cảnh hiện nay, cuộc sống đang dần thay đổi một cách nhảy vọt, do đó những luồng tư tưởng mới hướng đến sự tục hóa đang dần lôi kéo con người lao vào đó. Trẻ thơ là lứa tuổi trong trắng như tờ giấy, cư xử rất hồn nhiên và chân thật, nên sẽ dễ dàng bị ảnh hưởng bởi những trào lưu duy vật này. Vì vậy các bậc cha mẹ phải thực sự quan tâm, bằng việc tác động và chỉ dẫn những điều căn bản trong cuộc sống, từ đó hình thành nơi chúng một nền tảng ngay từ những bước chân đầu tiên.

Đaminh Lê Hữu Quý, Giáo Xứ Sáu Bọng

 

TRÊN ĐƯỜNG VỀ

Trên đường về, đường về với Chúa, chúng ta đã bao lần ngã xuống đứng lên, đã bao lần mệt mỏi rã rời, lòng mang hoài bão ước mơ mà chân thì cứ ngại ngùng vấp ngã, trước những gian nan, chông chênh và thử thách với thân phận con người yếu đuối mỏng dòn. Chính vì thế: Đường về nhà Cha hay là lối đi thập tự. Với những khúc quanh, những ngõ rẽ cuộc đời của mỗi người, phải chăng là những chặng đường Thánh Giá, hay những đêm tối mịt mùng, vắng đi bóng dáng của đức tin, và những nỗi cô đơn của vườn cây dầu, mà chỉ một mình mình mới hiểu, để rồi chỉ biết thinh lặng, khổ đau hay tuyệt vọng. Có những bóng dáng trong đời và những bước đi như vậy. Nhưng cũng lại có những ngõ về suy tư với  kinh nghiệm và ân sủng, biến thành những động lực cho ta bước tiếp cuộc hành trình trên đường về như những cánh chim không mỏi.

                                                                          Mic. Nguyễn Văn Xuân

 

GỬI EM, THẦY GIÚP XỨ

Thời gian trôi nhanh thật em nhỉ. Mới đó mà đã 3 năm rồi. Nhớ ngày nào em còn sụt sùi khóc khi tạm rời xa gia đình gia nhập mái nhà chung trong đời tu - chủng viện, để bắt đầu một giai đoạn mới, mà nay em trông rất chững chạc trong chiếc áo chùng thâm. Nhìn em ra dáng lắm, chị thầm mừng cho em và cho gia đình mình nữa. Giúp xứ hay còn gọi là năm thử là một giai đoạn người chủng sinh nào cũng phải trải qua em nhỉ? Sau 3 năm miệt mài tu luyện và trao dồi những khả năng, kiến thức, đây là  thời gian để thực tập và giúp em làm quen cũng như học tập các công việc của một  linh mục trong tương lai cũng như xác tín cách chắc chắn hơn về ơn gọi của mình. Em biết rồi đó, chị chẳng hiểu biết gì nhiều về đời tu và chương trình đào tạo các ứng viên linh mục đâu em ạ. Nhưng chắc chắn là em sẽ gặp không ít khó khăn trong thời gian đi thử đó. Chị có cảm nghiệm rằng khi mình biết bám víu vào Chúa thì Chúa sẽ không bỏ mình đâu. Dù khó khăn, chán nản, thất vọng nhưng em đừng nản chí nhé

Chị của em,

    

Vô Thường

 

THIẾU NHI TRONG XÃ HỘI VÀ GIÁO HỘI HÔM NAY

Ngày nay, thế hệ trẻ rất được quan tâm, mà đặc biệt là thiếu nhi. Xã hội và luật pháp đưa ra nhiều luật bảo vệ lợi ích cho trẻ em. Trong đó có nhiều điều nhấn mạnh đến quyền của trẻ em, bởi lẽ đó cũng là thành phần của xã hội, cũng là công dân của một đất nước. Còn đối với Giáo Hội thì sao? Chúng ta có thể thấy từ thời Chúa Giêsu, các trẻ nhỏ đã được đến gần bên Chúa Giêsu, “Hãy để các trẻ nhỏ này đến với Ta”, không những thế, Chúa còn khẳng định và bảo đảm với chúng ta rằng: “Ai muốn vào Nước Trời thì phải trở nên nhỏ bé như những trẻ nhỏ này”. Thế tại sao Chúa lại muốn chúng ta trở thành trẻ nhỏ? Đó có phải là một điều phi lí hay không? Bỏi lẽ đã lớn rồi thì sao nhỏ lại được? Nhưng ở đây hoàn toàn khác, tôi cảm nhận được trong sâu thẳm Lời Chúa, chính là muốn chúng ta trở nên nhỏ bé nơi tâm hồn, nơi đời sống thường ngày, cũng như nhỏ bé ở lời ăn tiếng nói. Bởi vì nơi trẻ nhỏ, có tâm hồn thơ dại, sự hồn nhiên, không có sự so đó tính toán, không có sự ganh ghét hơn thua; hơn thế nữa, ở trẻ nhỏ còn có sự chân thật. Chân thật trong suy nghĩ, trong lời nói và trong cả hành động. Qua những bài học từ trẻ nhỏ, ước chi Lời Chúa thấm nhuần trong tâm hồn chúng ta, để nhìn vào đó mà trở nên trẻ nhỏ để được vào Nước Trời.

Lưu Hành.

 

THIẾU NHI MẦM NON CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI

Ai trong chúng ta cũng phải thừa nhận rằng: Trong cuộc đời mình, quãng thời gian gọi là thiếu nhi là quãng thời gian tươi đẹp nhất của một đời người. Thật vậy, tuổi ấu thơ hội tụ nhiều đức tính tốt đẹp (nhân chi sơ tính bản thiện) như: Thật thà, trong sáng, vô tư, hồn nhiên và đơn sơ. Cũng chính ở quãng thời gian này mà con trẻ sẽ ghi nhận và tiếp thu những sự giáo dục, cũng như sẽ hấp thụ những điều tốt xấu xảy ra quanh mình mà từ đó hình thanh nhân cách và phẩm giá của chính bản thân mình.

Đaminh Trần Văn Chính, Gx Đền Thánh Giuse An Bình

 

NGHĨ VỀ CHA

Thời gian cứ lặng lẽ trôi. Chúng con giờ đây đã trưởng thành. Ngồi nhớ lại một thời đã qua, chúng con thương cha mẹ thật nhiều. Tuy chúng con chưa trở thành “ông này, bà kia” nhưng cũng là những người sống có ích cho gia đình và xã hội. Công ơn trời biển của cha mẹ đôi lúc bị chúng con xem nhẹ. Khi đọc bài thơ “Có con mới hiểu lòng cha mẹ” của tác giả Hoàng Lan, chúng con càng thương cha mẹ nhiều hơn và nhận ra những hờ hững của mình đối với các đấng sinh thành: “Có con rồi, mới hiểu lòng cha mẹ, vô bến vô bờ, thương mến bao la…”

Vinh sơn Hiếu Nghĩa, Tỉnh Dòng Thừa Sai Đức Tin Việt Nam

 

THIẾU NHI XƯA VÀ NAY

Thiếu nhi ngày nay và thiếu nhi ngày xưa khác nhau rất nhiều, thiếu nhi ngày nay ăn xong chỉ lo đi chơi bên ngoài. Chơi game và nghiện game cũng có thể được coi là một trong những tệ nạn xã hội, bởi chúng ảnh hưởng không tốt đến nhiều mặt trong đời sống như mất thời gian, sức khỏe cả tiền bạc và hơn thế nữa là mất đi nhân cách của một thiếu nhi trong sáng và lành mạnh. Còn thiếu nhi ngày xưa thì chăm chỉ, ham học hỏi và chỉ chơi những trò chơi dân gian dành cho thiếu nhi. Giữa ngày nay hiện đại và ngày xưa lạc hậu thế nhưng không phải thiếu nhi ngày xưa thì buồn tẻ nhưng ngược lại là rất vui. Tuổi thiếu nhi của tôi hay ở quê còn gọi là thời “trẻ trâu” vào buổi tối thường hay tập họp những đứa trong xóm bằng bằng tuổi nhau lại rồi chơi những trò chơi dân gian. Những trò chơi rất vui, ngày nào khi đi chơi về áo tôi cũng ướt đẫm mồ hôi. Như chúa Giêsu nói: “anh em hãy nên giống như trẻ nhỏ”, bởi vì chúng trong sáng và hiền lành như như chim bồ câu. Dù thiếu nhi hôm nay hay thiếu nhi hôm qua thì chúng cũng là một tương lai nền tảng, khi đó người lớn đi trước cần phải hướng dẫn, phân thích cho chúng đâu là một con đường thành công.

Nguyễn Anh Kiệt, Gx Đồng Công

 

 

       
   
     
 

 

SỬA PHẠT CON CÁI CÁCH NÀO HIỆU QUẢ?

 

Cha mẹ nào cũng biết rằng trong bổn phận giáo dục con cái, việc sửa phạt luôn là một nhiệm vụ cần thiết, khó khăn và phức tạp. Có người chỉ nghĩ đơn giản là “Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi”. Thực tế cho thấy không  phải lúc nào roi đòn cũng là thượng sách, cũng như không phải lúc nào ngọt bùi cũng là vô tác dụng. Trong quá trình dạy dỗ con cái, cha mẹ nên tự đề ra cho mình những nguyên tắc hướng dẫn sửa phạt thích hợp nhờ đó mình biết cách hành xử với con cái sao cho thấu tình đạt lý, khiến chúng dễ dàng chấp nhận, nghe theo. Dưới đây là một vài cách đơn giản hi vọng sẽ giúp công việc sửa phạt của cha mẹ đối với con cái đạt kết quả tốt.

1- Tuyệt đối không sửa phạt con cái lúc cha mẹ đang giận dữ.

Một danh nhân đã nói “Lúc giận bạn đừng làm gì hết vì có ai giăng buồm ra khơi giữa lúc bão tố không”. Nếu cha mẹ dạy dỗ sửa phạt con cái khi mình đang nóng giận thì chẳng khác gì như đổ dầu vào lửa. Vì một đàng sự nóng giận sẽ khiến cha mẹ mất tự chủ, từ đó phát sinh những hành động quá đáng, thiếu kiềm chế. Một đàng con cái sẽ cố chịu đựng hình phạt của cha mẹ với tâm trạng bất mãn, khó chịu, từ đó có thể phát sinh thái độ ức chế, chống đối, tiêu cực. Tốt nhất là khi đã nguôi cơn giận, cha mẹ sẽ trừng phạt con cái. Chính lúc tỉnh táo, cha mẹ mới đủ bình tĩnh để ứng phó nên làm gì và làm như thế nào cho phù hợp trong hoàn cảnh cụ thể.

2- Phạt nhưng không làm hư hại con.

Có nhiều trường hợp cha mẹ phạt con khiến con bị tổn thương cả về thể xác lẫn tinh thần. Nhiều khi con cái chỉ mắc một lỗi nhỏ thôi mà cha mẹ cố tình làm to chuyện khiến chúng lo lắng, hoảng sợ. Khi sửa phạt con cái, cha mẹ nên cân nhắc việc chọn lựa hình phạt nào thích hợp nhất, chẳng hạn khi con ăn cắp thay vì chửi rủa, đánh đập chúng, cha mẹ buộc con đem trả lại cho người chủ. Khi con bỏ học hay trốn việc nhà, cha mẹ có thể bắt con quỳ gối, cấm vận không cho ra ngoài chơi giải trí hay cúp tiền ăn quà. Khi cần dùng roi vọt, nhất là đối với trẻ cứng đầu, khó bảo, cha mẹ chỉ nên coi đó như là phương tiện bất đắc dĩ và dùng roi vọt để cảnh cáo hơn là đánh đập. Thực vậy, “Khi cha mẹ thường xuyên dùng roi vọt sẽ khiến trẻ bắt đầu hình thành tính khiếp nhược, dễ dàng sợ hãi. Đây cũng là nguyên nhân khuyến khích trẻ nói dối và gợi lên tính độc ác ở trẻ. Nó sẽ sẵn sàng đánh nhau với bạn bè khi còn bé, lớn lên thì dùng chính roi vọt đánh đập vợ con, ‘trả thù’ lại quãng thời gian tuổi thơ bị đàn áp…” (Theo Ngọc Diệp - Pháp luật Việt Nam).

3- Mức phạt tùy theo lỗi nặng nhẹ.

Trong cuốn “Giáo dục gia đình”, tác giả LM Phạm Tuấn Tri có viết như sau: “Có nhiều cha mẹ nghe con chửi thề, nói tục hay ăn cắp, bỏ lễ, bỏ học thì vẫn làm thinh, cùng lắm là chỉ la rầy qua loa, trong khi chúng lỡ tay làm vỡ chén bát thì lại chửi rủa nhiếc mắng không tiếc lời. Cha mẹ hãy nghiêm khắc khi con làm điều sai quấy và hãy khoan dung khi chúng chưa làm gì quá đáng hay xấu xa tội lỗi. Sửa phạt cho đáng chuyện. Chuyện chưa đáng phạt thì nên bỏ qua và chỉ nên nhắc nhở cho chúng hiểu thôi”. Trong tất cả các trường hợp, cha mẹ luôn chú ý tới những lời khuyên bảo, động viên, khích lệ hơn là la mắng, kết án. Lỗi lầm của con cái có thể nặng nhẹ khác nhau, mức độ hình phạt có thể không giống nhau, nhưng chính yếu vẫn là thái độ đúng mực của cha mẹ. Làm sao để con cái thấy rằng lúc nào cha mẹ cũng yêu thương, kính trọng chúng. 

4- Giữa cha và mẹ, tránh tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược

Trong khi sửa dạy con cái, hai bên cha và mẹ đều nên thống nhất phản ứng và cách thế ra hình phạt. Không vì lí do tình cảm nặng nhẹ mà một trong hai người tỏ vẻ bênh vực con cái, khiến chúng không muốn chấp nhận hình phạt, coi đó như sự bất công. Đó là tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược hay ông nói gà bà nói vịt. Trẻ sẽ lợi dụng tình trạng “phân hóa” này mà thoái thác không vâng phục thi hành sự trừng phạt của cha hay mẹ. 

5- Sửa phạt bằng tất cả sự yêu thương và cảm thông.

Phải sửa dạy con cái cách nào để chúng mến phục chứ không nuôi lòng oán giận, hờn ghét. Đó là sửa phạt với tất cả tình thương và sự cảm thông. Nhiều bậc cha mẹ, khi dạy dỗ con cái, thường hay trút lên đầu chúng mọi thứ giận dữ, khó chịu, bằng những lời chửi rủa thậm tệ và những trận đòn thập tử nhất sinh. Làm như vậy cha mẹ đã làm hỏng việc dạy dỗ của mình, làm hỏng hình ảnh đáng kính yêu trước mặt con cái và làm hỏng nhân cách bé nhỏ đáng yêu của chúng.  Thực vậy, “Hằng ngày, rất nhiều ông bố, bà mẹ sử dụng ‘uy quyền’ xây dựng trên sự đàn áp con cái mà không biết. Họ cứ ngỡ việc càu nhàu, giận dữ, thậm chí là dùng roi vọt với con bất cứ lúc nào là bình thường. Với họ, việc con cái làm sai thì bị phạt là điều đường nhiên, phải phạt lần sau con mới nhớ, mới chừa… Điều này dẫn đến hậu quả trẻ trong tâm trạng sợ hãi, thậm chí một số trẻ muốn xa lánh bố mẹ” (Theo Ngọc Diệp - Pháp luật Việt Nam).

Aug. Trần Cao Khải

 

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

CHA GIUSE NGUYỄN VĂN VIỆT QUA ĐỜI

Toà Giám Mục Long Xuyên trân trọng kính báo: CHA GIUSE NGUYỄN VĂN VIỆT, ĐẠI DIỆN GIÁM MỤC - TRƯỞNG ỦY BAN CARITAS GIÁO PHẬN LONG XUYÊN đã an nghỉ trong Chúa hồi 9g30, ngày 27.4.15 Hưỏng thọ 79 tuổi. Thánh lễ an táng được cử hành vào lúc 9g30 thứ Sáu, ngày 01.5.2015 tại Nhà thờ Đền Thánh Giuse Rạch Giá, Kiên Giang, do Đức Giám Mục Giáo Phận chủ sự, cùng với Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giám mục giáo phận Mỹ Tho, hơn 250 cha đồng tế và đông đảo bà con giáo dân tham dự.

 

MỪNG 40 NĂM GIÁM MỤC VÀ 60 NĂM LINH MỤC

CỦA ĐỨC CHA JB. BÙI TUẦN

Sáng ngày 30.4.2015, tại Tòa Giám mục Long Xuyên, Quý Đức Cha, Quý Cha, Quý Tu Sỹ nam nữ, anh em Cựu Chủng sinh và đông đảo bà con giáo dân đã đến hiệp dâng Thánh lễ Tạ ơn mừng 40 năm giám mục và 60 năm linh mục của Đức cha GB. Bùi Tuần. Mở đầu, Cha Tổng Đại diện đã thay mặt cho cộng đoàn Dân Chúa trong Giáo phận chúc mừng Đức Cha. Trong phần chia sẻ, Đức Cha đã nói lên tâm tình của mình, đó là XIN CẢM TẠ, XIN THA THỨ và XIN CẦU NGUYỆN.

 

LỄ ĐẶT VIÊN ĐÁ ĐẦU TIÊN XÂY DỰNG HỘI DÒNG MTG LONG XUYÊN

Sáng thứ sáu, ngày 08.5.2015, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã chủ tọa Thánh lễ làm phép viên đá đầu tiên xây dựng dòng Mến Thánh Giá Long Xuyên. Đây là một công trình có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển 55 năm của Giáo phận (1960-2015). Là một Giáo phận non trẻ, được khai sinh đồng thời với Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhưng lại tràn đầy sức sống vươn lên. Việc thành lập và xây dựng Hội Dòng MTG Long Xuyên cũng nhằm nói lên được nguồn sức sống mạnh mẽ đó.

 

THƯỜNG HUẤN

Khóa thường huấn năm 2015 được tổ chức tại Tòa Giám Mục và chia thành hai đợt. Đợt I từ ngày 18 đến 21 tháng 5, dành cho các linh mục trẻ và đã quy tụ được 102 cha. Đợt II từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 5, dành cho các linh mục già và đã quy tụ được 98 cha. Trong những ngày họp mặt, quý cha đã thảo luận về đề tài “Tân Phúc Âm Hóa cộng đoàn giáo xứ và giáo họ”. Quý cha đã đưa ra những kinh nghiệm cụ thể về mục vụ trong lãnh vực di dân, giảng dạy, phụng vụ, đối thoại với các tôn giáo bạn, phục vụ người nghèo, cũng như những sinh hoạt của giáo xứ, Hội đồng Mục vụ và các đoàn thể.

 

 

 THÁNH LỄ ĐẶT VIÊN ĐÁ ĐẦU TIÊN XÂY DỰNG

NHÀ DỰ TU TÊRÊSA

Sáng ngày 28.5.2015, Đức cha Phụ tá, thay mặt Đức cha chánh Giáo phận, đã chủ sự Thánh lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Nhà Dự Tu Têrêsa tại giáo xứ An Châu. Việc xây dựng Nhà Dự Tu Têrêsa là một yêu cầu thiết thực và chính đáng, bởi Nhà Têrêsa Long Xuyên hiện nay quá chật hẹp và gần đường lộ: xe cộ ồn ào và náo động, không thích hợp cho việc đào tạo. Mặt khác, theo Đức cha Phụ tá Giuse, công trình xây dựng Nhà Dự Tu Têrêsa ở vùng ngoại biên của thành phố là một đường hướng của Giáo Phận, vì nơi đây có những người giáo dân nghèo khổ sẽ giúp cho các chú dự tu làm quen với đời sống cộng đoàn của những người nghèo và là hướng đi của linh mục tương lai trong giáo phận: linh mục, người của Thiên Chúa và người của quần chúng.

 

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

GIÁM MỤC PHÓ GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

Ngày 4.6-2015, Phòng báo chí Tòa Thánh thông báo: ĐTC đã bổ nhiệm Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo làm Giám mục Phó với quyền kế vị tại Giáo Phận Xuân Lộc. Đức Cha Đinh Đức Đạo năm nay 70 tuổi, sinh ngày 2-3-1945 tại Thức Hóa, Giáo Phận Bùi Chu. Năm 1964, khi được 19 tuổi, ngài gia nhập Đại chủng viện thánh Giuse Sàigòn và năm sau đó, du học tại Trường Truyền giáo ở Roma và thụ phong linh mục ngày 27-3 năm 1971 khi được 26 tuổi. Ngài đậu tiến sĩ thần học luân lý tại Học viện Alfonsianum của Dòng Chúa Cứu Thế, và tiến sĩ Truyền giáo tại Đại học Giáo Hoàng Gregoriana của dòng Tên ở Roma. Năm 2009 Cha Đinh Đức Đạo về nước và làm Giám đốc đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc. 4 năm sau đó, ngày 28.2.2013, ngài được ĐTC Biển Đức 16 bổ nhiệm làm GM hiệu tòa Gadiaufala, Phụ tá giáo phận Xuân Lộc. Trong HĐGM Việt Nam, Đức Cha Đinh Đức Đạo làm Chủ tịch Ủy ban GM về giáo dục.

 

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

15 VỊ TỬ ĐẠO CỦA LÀO ĐƯỢC NHÌN NHẬN

Ngày thứ Sáu 05.6.2015 là một ngày vui mừng cho Giáo hội Lào: Đức Thánh Cha đã ký sắc lệnh nhìn nhận rằng linh mục Giuse Thao

Nhà thớ Chánh Tòa Thánh Tâm Chúa Giêsu tại Vientiane, Lào

 

Tien và 14 tu sĩ và giáo dân khác là những vị tử đạo. Tất cả đã hy sinh mạng sống từ năm 1954 đến năm 1970, bị sát hại, bị hành hình hay chết vì kiệt sức. Họ đã chết vì đức tin trong bối cảnh các du kích quân quyết định loại trừ tất cả những gì là ngoại lai và Kitô giáo. Một số vị là người Lào, thường là giáo lý viên, những vị khác là các nhà thừa sai nước ngoài, thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP) hoặc Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm (OMI). Tất cả đã phải trả giá bằng mạng sống vì dấn thân phục vụ Tin Mừng và quyết định ở lại Lào, bất chấp những đe dọa nghiêm trọng đối với mình. Linh mục người Lào, Joseph Tien (1918-1954) được coi là vị tử đạo đầu tiên của Lào.

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ BA HÒN

THỊ TRẤN KIÊN LƯƠNG

HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG

Năm thành lập: 2005

Bổn Mạng: Thánh Phanxicô Xavie (03-12)

 

Ai cũng biết Kiên Lương là một vùng đất rộng, đồng chua nước mặn, cò bay thẳng cánh, nhưng được thiên nhiên ưu đăi có nhiều núi đá vôi và nằm sát bờ biển. Do đó, trở thành khu công nghiệp, có nhiều nhà máy xinăng mọc lên, cùng với cảng cá thuận lợi cho việc đánh bắt, và cũng từ đó dân chúng khắp nơi về đây sinh sống mỗi ngày một đông. Giáo xứ Kiên Lương ra đời cùng thời với nhà máy ximăng Hà Tiên 2. Năm 1958 là năm đầu tiên Giáo Xứ Kiên Lương hiện diện do Cha Martinô Nguyễn Ngọc Thạch, và cũng là năm các kỹ sư Pháp chọn địa điểm mở nhà máy. Lúc đó Giáo Xứ Kiên Lương chỉ có vài gia đình có đạo, con số chưa được 10 người. Thế mà chưa đầy 50 năm sau (1958-2007) giáo xứ Kiên Lương đă có trên dưới 4.000 giáo dân. Ba Hòn là một khu vực nằm trên địa bàn của Kiên Lương. Trước năm 1975 đă có một nhà nguyện nhỏ nằm sát lộ cách Kiên Lương 7 cây số. Sau trận lụt 1978 và biến cố giặc Miên 1978, nhà nguyện bị gió cuốn và người có đạo tứ tán khắp nơi, nên bị chìm vào quên lãng. Nhận thấy điểm Ba Hòn càng ngày dân càng đông, nên từ năm 1989 linh mục Nguyễn Văn Ngọc đă tìm đất để hy vọng xây dựng lại ngôi nhà nguyện. Nhưng từ đó đến nay sau bao nhiêu thách đố về nhiều mặt, măi đến năm 2005 mới có tín hiệu tốt.

Thời điểm thuận lợi:

1. Ngày 17.7.2005 Ban Tôn Giáo Tỉnh Kiên Giang thông báo chính thức chấp thuận đơn của linh mục Nguyễn Văn Ngọc, Chánh xứ Kiên Lương, về việc xin xây dựng nhà nguyện mới tại ấp Ba Hòn, thị trấn Kiên Lương.

2. Ngày 18.01.2006 UBND cấp 8.712m² cho giáo xứ Kiên Lương, tại ấp Hạ Lập, thị trấn Kiên Lương, để làm nhà nguyện.

3. Ngày 18.02.2006 linh mục Nguyễn Văn Ngọc làm đơn xin UBND thị trấn cho cất nhà tạm.

4. Ngày 06.3.2006 Ban Hành Giáo Kiên Lương làm đơn thông báo tổ chức lễ khởi công nhà tạm tại Ba Hòn vào ngày 13.3.2006.

5. Ngày 26.4.2006 linh mục Nguyễn Văn Ngọc xin làm nhà nguyện bằng cây lá: dài 21m, rộng 7m, cao 7.6m. Có hành lang hai bên, mỗi bên rộng 1.5m. Sau nhà nguyện là nhà xứ: ngang 10m, dọc 6.5m, cao 5m Thị trấn chứng ngày 27.4.2006. UBND Huyện chuyển ngày 28.4.2006. Ban Tôn Giáo Tỉnh chấp thuận ngày 04.5.2006.

6. Văn thư cho phép thành lập giáo xứ, lấy tên giáo xứ Chúa Ba Ngôi do Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu ký ngày 11.5.2006. Ngày 29.6.2007 UBND Tỉnh Kiên Giang cho phép giáo xứ Kiên Lương thành lập giáo xứ Ba Ngôi theo đơn xin ngày 21.5.2007.

Theo nhu cầu của Đan Viện Ngày 14.02.2008, linh mục Nguyễn Văn Ngọc về Trà Vinh. Linh mục Phêrô Lê Văn Thượng về coi sóc giáo xứ và xây dựng nhà thờ hiện nay, cùng nhà Mục Vụ. Hiện Ba Hòn đã có 260 hộ công giáo với con số gần 1.000 người, nhưng số người có rửa tội chưa được ½. Đa số dân du cư từ các nơi tới. Cũng như Kiên Lương, dân chúng Ba Hòn mỗi ngày một tăng và trở thành trọng điểm của Huyện Kiên Lương. Nếu hôm nay, ai có dịp tới Ba Hòn sẽ không khỏi ngạc nhiên vì Ba Hòn đã thay da đổi thịt quá mau. Chắc chắn tương lai của Ba Hòn cùng với giáo xứ Chúa Ba Ngôi sẽ là một thành phố đẹp của vùng Hà Tiên.

 

 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 8. 2015:

GII TR

CHĐỀ THÁNG 9.2015:

NHÀ TH

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.giaophanlongxuyen.org

Đa tạ.

 

 

 

 

 

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 02 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1113
Tất cả: 45,856,420