Tĩnh tâm tháng 03 năm 2014

“Triều thiên của người già

là đàn con cháu”

 (Cn 17,6)

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 3 năm 2014

 

 

ƠN GỌI CỦA NGƯỜI CHỒNG VÀ NGƯỜI CHA

TRONG CHƯƠNG TRÌNH

PHÚC ÂM HÓA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

 

 

Anh chị em thân mến,

 Để bước vào mùa Chay Thánh từ thứ Tư lễ Tro ngày 5.3 và mừng lễ kính Thánh Giuse ngày 19.3, trong năm Phúc Âm Hóa Đời sống Gia đình, tôi xin được gửi đến cộng đoàn Dân Chúa trong giáo phận thư mục vụ tháng Ba có chủ đề Ơn Gọi của Người Chồng và Người Cha trong Chương Trình Phúc Âm Hóa Đời Sống Gia đình. Chúng ta cùng chiêm ngắm gương mẫu của Thánh Giuse để tìm ra đuòng hướng tu đức và mục vụ cho các gia đình trong giáo phận Long Xuyên.

Theo Phúc Âm Thánh Matthêu, chúng ta có thể tóm tắt ơn gọi của Thánh Giuse trong 3 vai trò chính sau đây:

Một là Thánh Giuse được mời gọi đón nhận Đức Maria và Thai Nhi Giêsu vào cuộc đời mình (Mt 1,20-21), để hình thành một gia đình của Thiên Chúa. Chính trong bầu khí gia đình này, mà mọi thành viên trong gia đình thi hành chương trình Thiên Chúa cứu chuộc toàn thể nhân loại. Thái độ của Thánh Giuse là vâng phục - “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà mình” (Mt 1,24).

Hai là Thánh Giuse đã được yêu cầu bảo vệ Hài Nhi Giêsu khỏi tay vua Hêrôđê đang tìm giết Người, bằng cách cùng Đức Mẹ Maria đưa Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai Cập (Mt 2,13). Thái dộ của Thánh Giuse là mau mắn thi hành - “Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập” (Mt 2,14)

Ba là Thánh Giuse đã dùng sức lao động và nghề thợ mộc của mình để cùng Đức Mẹ nuôi dưỡng Chúa Giêsu, từ hài nhi đến trưởng thành. Vì thế, Chúa Giêsu cũng được gọi là con bác thợ mộc (Mt 13, 55) và cũng đã làm nghề thợ mộc của cha truyền lại (Mc 6, 3).  Thái độ của Thánh Giuse là cần mẫn trong lao động, khiêm tốn trong phục vụ, và tìm được niềm vui trong bổn phận.

Hiện tình của các gia đình công giáo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay, nhất là những người trẻ, là sự di tản đến các phố thị, kể cả nước ngoài, hoặc vì kiếm sống hoặc vì học tập. Trong bối cảnh này, thách đố lớn nhất trong đời sống gia đình là lòng chung thủy vợ chồng và sự thánh thiện của bí tích Hôn Phối. Chính trong bối cảnh đầy cám dỗ và thách đố này mà các gia đình, nhất là các gia trưởng, cần ý thức rằng lòng chung thủy và sự thánh thiện trong đời sống Hôn Nhân là một con đường Thánh Giá. Thánh Giá nhưng có sức đem lại hạnh phúc đích thực, sự bình an và thăng tiến toàn diện trong gia đình. Vì, đó là dấu chứng của tình yêu cao độ nhất - “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám hy sinh vì người mình yêu” (Ga 15,13)

Ở đây chúng ta nhận ra những bài học tu đức trong đời sống cộng đoàn, nhất là cho các gia trưởng, để có thể đi trọn con đường Thánh Giá của mình.

(1) Thánh Giuse tìm ra được ý Chúa qua cuộc gặp gỡ với trung gian của Thiên Chúa là Thiên Thần báo mộng. Đời sống cầu nguyện là rất cần thiết, nhất là cầu nguyện chung trong gia đình.

(2) Khi đã biết ý Chúa, Thánh Giuse thực hiện ngay lập tức, không do dự. Thái độ vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa là một bầu khí tốt nhất để biến gia đình trở thành trường huấn luyện các môn đệ của Chúa Kitô.

(3) Thánh Giuse dùng hết khả năng và nghề nghiệp của mình để chu toàn sứ vụ là chồng và là cha trong gia đình thánh của Thiên Chúa. Tinh thần trách nhiệm là giá trị tinh thần để các gia trưởng hoàn thành sứ vụ đối với nhau trong tương quan gia đình.

Từ gương mẫu của Thánh Giuse, giáo phận chúng ta đề ra 3 việc phải thực hiện cho các gia đình, đặc biệt là cho các gia trưởng:

(1) Các gia đình cần tìm biết ý Chúa trong bầu khí suy tư và cầu nguyện. Một trong những lời cầu nguyện thích hợp nhất cho hoàn cảnh xã hội ngày nay là xét mình và xưng tội. Năng xưng tội và xưng tội theo định kỳ là dấu hiệu của một tâm hồn luôn hoán cải, biết từ bỏ ý riêng để chọn lựa ý Chúa.

(2) Các gia đình cần thực hiện sinh hoạt xây dựng nhau và sửa lỗi cho nhau. Trong sinh hoạt xây dựng và sửa lỗi, cần can đảm để nói lên sự thật, cũng cần khiêm tốn để tôn trọng sự thật. Lý tưởng này chỉ có thể thực hiện như một giá trị thiêng liêng nếu được thực hiện trong bầu khí cầu nguyện, hy sinh, cùng với tinh thần yêu thương và trách nhiệm.

(3) Các gia trưởng cần ý thức về vai trò chủ sự trong các giờ kinh chung của gia đình. Bầu khí gia đình là rất thuận lợi để chúng ta dùng Lời Chúa để nhắc nhủ nhau sống yêu thương và phục vụ, dùng kinh nguyện để thánh hóa nhau, và dùng trách nhiệm Chúa trao để xây dựng gia đình theo gương mẫu gia đình Thánh Gia. Đây là ân huệ và trách nhiệm của bí tích Rửa Tội và bí tích Hôn Phối.

Anh chị em thân mến,

Lễ Thánh Giuse năm nay là điểm nhấn trong chương trình tu đức và sứ vụ của giáo phận trong năm thánh hóa các gia đình. Ước mong các linh mục phụ trách các cộng đoàn có sáng kiến tổ chức cho các gia đình, đặc biệt là cho các gia trưởng, để các gia đình có cơ hội tiếp tục suy tư và cầu nguyện để sống theo gương mẫu của Thánh Giuse trong đời sống gia đình.

Hiệp thông với Đức Cha Gioan Baotixita, tôi xin phó thác các gia đình anh chị em cho Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse. Xin phúc lành của Thiên Chúa hiện diện trong gia đình anh chị em.

 

+ GIUSE TRẦN XUÂN TIẾU

GIÁM MỤC GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

 

 

 

 

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

Theo gương Thánh Giuse,

LÀM CHỨNG THIÊN CHÚA

GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

 

1.

Từ mấy năm nay, tại Việt Nam, “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” được tôn vinh một cách sâu rộng.

Với hình ảnh “giàu lòng thương xót”, Thiên Chúa trở nên gần gũi, sống động trong lòng mọi người. Riêng đối với những ai lầm lạc, tội lỗi, yếu hèn, nghèo túng, khổ đau, Thiên Chúa đang trở thành điểm tựa thân thương và là Đấng cứu độ đầy tin tưởng, bởi vì Người giàu lòng thương xót.

2.

Nhiều người xung quanh tôi đã được những ơn xót thương của Chúa. Tôi cũng vậy. Phải nói là tôi đã được Chúa xót thương một cách đặc biệt.

Cách đặc biệt, mà tôi cảm nhận được về lòng thương xót Chúa, rất khó diễn tả, vì có nhiều nét rất riêng tư.

Nhưng để an tâm, chắc chắn tình Chúa xót thương tôi là đặc biệt, tôi đến với thánh Giuse. Tôi trình bày với Ngài nhiều trường hợp cụ thể của tôi, xin Ngài cho tôi biết đó có phải là bằng chứng Chúa xót thương tôi một cách đặc biệt không. Nhất là đó có phải là cách tôi làm chứng về lòng thương xót Chúa không.

Thánh Giuse đã thương trả lời tôi. Dưới đây là vài điều tôi cho là đặc biệt, tôi xin được chia sẻ.

3.

Trước hết, khi tôi được Chúa gọi làm linh mục, rồi giám mục trong những hoàn cảnh rất khó khăn, tôi cảm thấy rất rõ tình yêu Thiên Chúa đã ôm lấy tôi. Tình yêu ấy là vô cùng, là không có giới hạn. Tôi xúc động nhận ra mình được Chúa mở ra về phía Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót. Tôi đón nhận  ơn gọi như một quà tặng tình yêu. Tôi tin tôi được Chúa yêu thương chính là đã được Chúa tha thứ. Tôi cảm tạ đón nhận ơn tha thứ trong ơn Chúa yêu thương.

Tôi nhìn thấy rất rõ tôi được gọi về cõi đời đời. Đời đời là tình yêu. Một tình yêu sẽ đời đời tồn tại.

Tình yêu ấy tôi sẽ phải học suốt đời để “có thể hiểu biết bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó nhờ tình yêu Chúa Giêsu” (x. Ep 3,18-19).

4.

Tình yêu của Chúa xót thương là rất khiêm nhường.

Người hạ mình xuống, chọn một con người hèn yếu, để cộng tác đặc biệt vào công trình cứu độ của Chúa.

Để cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa là trước hết được nếm đủ mùi thân phận mỏng manh, yếu đuối, khổ đau, thiếu thốn của con người.

Thân phận ấy thời nào cũng vậy, nơi nào cũng thế. Nhưng tại quê hương Việt Nam, thân phận ấy được hiện lên một cách đau đớn trong những năm chinh chiến, và cả trong những năm xây dựng hoà bình với muôn vài khó khăn trắc trở.

Số người nghèo khó còn rất đông. Số người đau bệnh còn rất nhiều. Số người cô đơn, thiếu thốn đâu có giảm. Thêm vào đó, lại đang xuất hiện những hạng nghèo khó mới, những thứ đau bệnh mới, những loại cô đơn, thiếu thốn mới. Được cùng với Chúa Giêsu hoà mình vào những thân phận đó, để thực sự nếm những cay đắng nhọc nhằn, tủi nhục của họ, đó là sự khiêm nhường, mà tình yêu giàu lòng thương xót của Chúa muốn mọi người được gọi như thánh Giuse xưa hãy thực hiện. Suốt đời thánh Giuse đã nếm đủ cảnh khổ của thân phận con người.

5.

Tình yêu của Chúa xót thương là rất tha thứ.

Chúa mặc lấy thân phận con người không phải để tố cáo và kết án con người, nhưng để ban tặng cho con người ơn giải thoát. Sự thực sẽ giải thoát họ. Sự thực nói đây là chính Chúa Giêsu, một tình yêu tha thứ, một tình yêu cứu độ. “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”(Ga 14,6).

Thánh Giuse đã nhận được sự thực đó. Ngài đã suốt đời sống sự thực đó. Ngài không kết án ai. Ngài không tố cáo ai. Ngài không buộc tội ai. Ngài luôn âm thầm khiêm tốn bao dung.

Ngài cùng với Chúa Giêsu tự nguyện chịu mọi hy sinh để trở thành của lễ đền tội cho mọi người. Ngài cùng với Chúa Giêsu trao tặng ơn tha thứ của lòng thương xót Chúa cho bất cứ ai thấy mình cần được tha thứ.

Trao tặng ơn tha thứ một cách rất khiêm nhường, đó là điều tôi được nhận thấy nơi thánh Giuse, và đó cũng là điều thánh Giuse khuyên tôi hãy thực hiện tại Việt Nam, quê hương yêu dấu của tôi.

6.

Tình yêu của Chúa xót thương là rất hy sinh.

Hy sinh của Chúa Cứu Thế, mà thánh Giuse được bảo vệ, là thường xuyên, từng phút, từng giây, từ lúc là bào thai trong lòng Đức Mẹ cho đến lúc tắt thở trên thánh giá.

Hy sinh thường xuyên ấy là chịu đủ mọi thử thách, mà mọi người phải chịu, chỉ trừ tội lỗi. Thử thách về thân xác, thử thách về tâm hồn, tất cả đều dữ dằn. Chúa Cứu Thế đã gánh chịu tất cả vì yêu thương. Thánh Giuse cũng đã thực hiện như thế theo gương Chúa. Tình yêu Chúa xót thương là như vậy. Thánh Giuse đã thực hiện như thế, để làm chứng cho tình yêu xót thương Chúa. Tôi cũng được thánh Giuse khuyên hãy đi vào con đường của Ngài, để làm chứng cho Thiên Chúa giàu lòng thương xót tại Việt Nam hôm nay.

Tại Việt Nam hôm nay, mọi tôn giáo đều hướng về từ thiện một cách mạnh mẽ. Trong từ thiện, các tôn giáo tại Việt Nam hôm nay đều nhấn mạnh đến việc hy sinh, không những tránh làm khổ cho người khác, mà còn dám chịu khổ thay cho người khác. Trong một tình hình như thế, nếu các môn đệ Chúa Giêsu đều nhiệt tình theo gương thánh Giuse mà hy sinh, hết sức tránh gây khổ cho người khác, mà còn chịu khổ thay cho người khác, thì đẹp biết bao. Nếu không, thì sẽ tai hại vô chừng cho tương lai đạo Chúa.

7.

Tình yêu xót thương của Chúa là rất tế nhị.

Chúa đem tình yêu xót thương đến để giải thoát con người. Nhưng Chúa không áp đặt. Chúa như một người gõ cửa nhẹ (x. Kh 3,20) . Ai nghe được và mở cửa, đón Chúa vào, thì Chúa sẽ vào và ở lại. Tình Chúa xót thương không là một gánh nặng cho ai. Nếu gọi là một gánh nặng vì mang theo trách nhiệm, thì đó là một gánh êm ái, dịu dàng x. Mt 11,30).

Thánh Giuse đã cảm thấy như vậy, nên Ngài rất tế nhị, luôn mau lẹ vâng theo ý Chúa mà thay đổi ý riêng mình, chứ không khăng khăng cứ theo chương trình của mình đã tự đặt ra một cách cứng nhắc, theo khuôn của mình một cách ngạo mạn.

Tế nhị của Ngài còn là tập trung lòng xót thương vào những con người, chứ không phải vào những công trình vật chất.

Tế nhị của Ngài cũng còn là một thái độ hoà nhã. Biết phục vụ cho đi như một người đầy tớ, và biết đón nhận như một người bé nhỏ, nghèo hèn.

8.

Tình yêu của Chúa xót thương là dạt dào đời sống nội tâm.

Tất cả đều từ cái tâm. Một cái tâm đầy Chúa Thánh Thần. Một cái tâm đầy sự sống chỉ toàn là tình yêu. Một cái tâm chan chứa hạnh phúc của tám mối phúc, mà Chúa Giêsu đã rao giảng như hiến chương Nước Trời (x. Mt 5,1-12). Một cái tâm coi tình yêu của thánh giá Chúa là một vinh dự.

Đời sống nội tâm đang là niềm khát khao của mọi người thiện chí tại Việt Nam hôm nay. Đời sống nội tâm đang là thứ lửa thiêng có thể đốt nóng lên tình yêu xót thương đích thực. Hình như đời sống nội tâm lại đang là một thiếu hụt nơi nhiều môn đệ Chúa tại Việt Nam hôm nay.

Nếu đúng là như thế, thì việc làm chứng cho tình yêu thương xót Chúa nên được xem xét lại một cách rất khiêm nhường, khởi đi từ sự sám hối và cầu nguyện, trở về với Chúa.

9.

Nên nhớ điều này, thời nay đang diễn ra một cuộc chiến thiêng liêng cam go gay gắt: Một bên là tình yêu thương xót của Chúa, một bên là ghen ghét ác độc của Satan, chúng ta hãy tỉnh thức luôn đứng về bên tình yêu thương xót của Chúa.

Lạy Chúa, con tin lời Chúa hứa “Phúc thay ai thương xót người, vì họ sẽ được Chúa xót thương” (Mt 5,7). Xin Chúa giúp con phấn đấu, vượt qua mọi thứ khó khăn, để thực hiện lòng xót thương đối với mọi người. Amen.

Long Xuyên, ngày 14 tháng 2 năm 2014

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật I Mùa Chay, A

St 2,7-9 3,1-17; Rm 5,12.17-19; Mt 4,1-11

CƠN CÁM DỖ THỜI @

 

Đã mang thân phận con người, chẳng ai thoát khỏi cám dỗ. Cám dỗ tựa như tấm mạng nhện khổng lồ sẵn sàng chụp xuống để bao bọc và giết chết con mồi. Vậy cám dỗ là gì? Thưa, cám dỗ là khơi dậy lòng ham muốn đến mức làm cho sa ngã. Cám dỗ là tìm mọi cách quyến rũ làm việc không tốt. Như thế, động lực của cám dỗ là xấu, là đi ngược lại với luân thường đạo lý; và để lại những hậu quả không tốt nơi bản thân cũng như những người xung quanh. Thực vậy, cám dỗ chẳng buông tha ai. Những cơn cám dỗ rất đa dạng, muôn màu muôn vẻ. Cám dỗ thường núp bóng dưới những ngôn từ bóng bẩy và những lời mời chào đường mật. Cha ông ta nói “Mật ngọt chết ruồi” mà! Biết bao người đã dại dột ảo tưởng nghe theo những lời đường mật. Đến khi tỉnh ngộ thì đã quá muộn. Trong thời buổi kinh tế thị trường, những cơn cám dỗ còn kèm theo một “nghệ thuật quảng cáo và tiếp thị” trên cả tuyệt vời, đầy ma lực hấp dẫn. Tôi xin kể ra đây vài cơn cám dỗ trong cuộc sống hôm nay.

Cơn cám dỗ thứ nhất là phủ nhận sự có mặt của Thiên Chúa. Núp dưới những danh từ rất ấn tượng như là “nhân bản”, “tự do”, “giải phóng”, một số người đã muốn phủ nhận Thiên Chúa và tuyên dương chủ nghĩa vô thần. Họ hô to khẩu hiệu: “Thiên Chúa đã chết”, hoặc “Tôn giáo là thuốc phiện mê dân”. Trong khi đó, họ lại coi con người là “thượng đế”. Họ phủ nhận mọi tôn giáo cũng như các thần linh.

Cơn cám dỗ thứ hai là tôn thờ của cải vật chất. Trong nền kinh tế thị trường, xã hội bị biến đổi thành cái chợ rộng mênh mông. Chợ là nơi mà lợi nhuận là mục đích hàng đầu. Chợ cũng là nơi mà người mua kẻ bán chẳng ai tin ai, dù có là xóm làng hay thân thích. Khi cuộc sống này đã biến thành cái chợ, thì mọi sự đều là hàng hoá. Từ đất đai, nhà cửa cho đến tình nghĩa vợ chồng; từ con cá mớ rau cho đến tình thân huyết nhục. Tất cả đều là món hàng để người ta mua đi bán lại. Hậu quả là tiền bạc vật chất lên ngôi, gây ra biết bao xung đột, khiến tình huynh đệ tương tàn, vợ chồng xa cách. Người ta vì vật chất mà dám đánh đổi cả tương lai. Người ta vì vật chất mà chấp nhận những cuộc hôn nhân như một canh bạc đỏ đen may rủi, hên xui.

Cơn cám dỗ thứ ba là sự hận thù, chia rẽ. Theo tâm lý thông thường, người ta dễ tin dư luận xấu hơn là dư luận tốt. Những thông tin tiêu cực về một cá nhân lại được loan truyền nhanh hơn những thông tin tích cực. Không ít người đã cả nể dễ tin và rơi vào cạm bẫy của những cơn cám dỗ này. Hậu quả là bao gia đình tan nát, bao trái tim trở nên chai đá, hận thù, lạnh lùng. Không thể một sớm một chiều mà nguôi ngoai.

Xưa kia Chúa Giêsu đã đối diện với các cơn cám dỗ và Ngài đã chiến thắng. Chúng ta cũng sẽ chiến thắng cám dỗ, nếu ta sống đời nội tâm sâu xa và thực thi Lời Chúa. Chúa luôn mời gọi chúng ta: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ” (Mc 14,38). Hôm nay Ngài vẫn đang hiện diện bên cạnh chúng ta, để nâng đỡ chúng ta trong cuộc chiến cam go trên hành trình nên thánh.

Lạy Chúa! Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi sự dữ.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật II Mùa Chay, A

St 12,1-4a; 2Tm 1,8b-10; Mt 17,1-19

HÃY CHỖI DẬY. ĐỪNG SỢ!

 

Ngày nay, người ta sợ rất nhiều thứ. Chẳng hạn:

Người ta sợ bị tấn công khủng bố, nhưng người ta vẫn ra sức cổ súy cho bạo lực. Từ bạo lực trong gia đình đến học đường, bạo lực trong xã hội, bạo lực trên thế giới. Người ta thích sống trong hòa bình, nhưng người ta cũng thích chiến tranh. Các nước ngấm ngầm chạy đua vũ trang, thử nghiệm đủ thứ tên lửa, vũ khí và tàu ngầm…

Người ta sợ bệnh tật, nhưng lại ít có biện pháp để bảo vệ sức khỏe. Thực phẩm sản xuất ra tuy rất nhiều, nhưng chất độc hại đang làm cho sức khỏe bao người phải điêu đứng.

Người ta sợ khủng hoảng năng lượng và lương thực, nhưng con người lại đang hít thở nhiều khí độc hại; và ăn uống những thứ có hại cho sức khỏe nhiều hơn.

Có một điều mà ai cũng sợ, và phải nói là sợ hơn cả, đó là sợ sự dữ, sợ tội lỗi. Thế nhưng người ta cũng không dám loại trừ sự dữ, từ bỏ tội lỗi. Xem ra con người ngày nay đang có khuynh hướng chọn thái độ chấp nhận và sống chung với sự dữ và tội lỗi, dung túng cho sự dữ và tội lỗi. Hậu quả là con người ngày càng tàn nhẫn hơn; thế giới ngày một nhiễu nhương hơn; và tội lỗi ngày một lan tràn hơn. Vì kết thân với tội lỗi và sự dữ, nên ta đang mất dần đi sự nhạy cảm với những điều thánh thiêng. Nhiều người cho rằng: “Lương tâm thua lương tháng. Lương tháng thua lương lậu”. Cứ thế, lương tri con người ngày một băng hoại. Hậu quả của lối sống này là ta ngại sống tốt; và thậm chí là không dám sống cho điều tốt, điều hay và lẽ phải.

Người Kitô hữu nhiều khi cảm thấy đơn độc, vì thế giới quanh ta tràn ngập sự dữ và tội lỗi. Chúng ta được mời gọi sống và làm chứng cho giá trị Tin Mừng, mà mỗi ngày chúng ta tuyên xưng. Nhưng vì thiếu vắng những con người đồng cảm, nên dần dần ta cũng thấy ngại sống, sợ sống những điều Chúa dạy. Ước gì mỗi lần ta thấy mình đơn độc vì phải lội ngược dòng đời, để sống cho những đòi hỏi của Tin Mừng, ta hãy nhớ lại Lời Chúa hôm nay: “Hãy chỗi dậy. Đừng sợ”.

Biến hình là một biến cố quan trọng. Chúa mạc khải chính căn tính Kitô của Ngài cho các môn đệ. Hình ảnh huy hoàng của núi Tabor làm cho các môn đệ hoảng sợ. Thế nhưng cái hoảng sợ của các ông đã được Chúa Giêsu làm cho thức tỉnh. Chúa đến chạm tay vào các ông và bảo: “Hãy chỗi dậy. Đừng sợ”.

Đòi hỏi của Lời Chúa nhiều khi cũng làm ta mệt mỏi. Chiến đấu với sự dữ nhiều khi cũng làm ta rã rời và ngã gục, nhưng ta đừng sợ. Chính Chúa sẽ đến, cầm nắm tay ta, kéo ta lên và Ngài cũng nói: “Con ơi, hãy chỗi dậy. Đừng sợ”.

Ước gì hôm nay ta hãy đưa tay cho Chúa Giêsu nắm lấy, để Ngài kéo ta ra khỏi những tăm tối cuộc sống. Ước gì ta hãy mở mắt ra mà chiêm ngưỡng vinh quang của Đấng Cứu Độ. Nếu ta tin tưởng vào Chúa, Chúa sẽ xóa tan những ngại ngần và mệt mỏi của ta. Ngài sẽ làm cho ta có đủ niềm tin, để dám sống những điều mà Tin Mừng mời gọi.

Lạy Chúa! Cuộc trần làm cho con nhiều phen ngã quỵ. Tội lỗi và bóng đêm của sự sợ hãi làm con chới với, ngụp lặn mãi mà chưa tìm thấy hơi thở sự sống thật, ánh sáng thật của Chúa. Xin Chúa đến và kéo con ra khỏi tình trạng u mê tăm tối.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật III Mùa Chay, A

Xh 17,3-7; Rm 5,1-2.5-18; Ga 4,5-42

CUỘC GẶP GỠ KỲ DIỆU

 

Đời người, ai cũng có những lần gặp gỡ. Có cuộc gặp gỡ chỉ như gió thoảng, như mây trôi… Gặp đó rồi tan biến đi, không nhớ, không thương, không để lại một dấu ấn nào trong cuộc đời. Nhưng cũng có cuộc gặp gỡ làm thay đổi cả đời người. Đó là cuộc gặp gỡ kỳ diệu của người con gái làng Samaria với Chúa Giêsu, bên bờ giếng Giacob. Hơn hai ngàn năm trước, giữa trưa hè oi bức, trong lúc mọi người đang nghỉ trưa, nhìn trước nhìn sau không thấy bóng ai, người con gái ấy đã len lén mang bình ra giếng để múc nước, với hy vọng không phải gặp mặt người nào.

Người con gái ấy muốn chạy trốn mọi người, vì cái gốc gác thấp hèn không trong sạch của cô, nên những người hàng xóm láng giềng luôn tìm cách xa lánh cô. Người con gái ấy muốn chạy trốn mọi người, vì nàng đã trót mang thân phận “hồng nhan đa truân”, tình duyên lỡ làng với 5 đời chồng, nên những người họ hàng bà con luôn nhìn nàng bằng nửa con mắt! Người con gái ấy muốn chạy trốn mọi người, vì xã hội này đã quay lưng lại với nàng, đã không có chỗ dành cho nàng, đã âm thầm kết án nàng là phường đàng điếm tội lỗi. Nhiều người nhìn nàng với đôi mắt hình viên đạn…

Một mình nàng bước đi trong cuộc đời. Và hôm nay một mình nàng bước ra bờ giếng giữa trưa hè nắng gắt, với hy vọng không phải gặp mặt bất cứ người nào. Nhưng kìa! Một người đàn ông Do Thái đang ngồi nghỉ trưa bên bờ giếng. Ông ta ngước mắt nhìn nàng. “Bốn mắt nhìn nhau nhoẻn miệng cười. Nụ cười méo mó thế mà xinh”. Nàng không còn cách nào chạy trốn, nên đành phải cúi đầu bước đi trong thinh lặng. Nàng bước đi nhưng trong lòng vẫn nhớ ánh mắt và nụ cười thân thương ấy. Bỗng dưng người đàn ông ấy lên tiếng gợi chuyện: “Chị ơi! cho tôi xin miếng nước” (Ga 4,8). Nàng bâng khuâng ngỡ ngàng về giọng nói trầm ấm đó. Nàng ngạc nhiên về lời xin nước để uống. Nàng len lén nhìn ông ta, nhìn vào vầng trán cao với khuôn mặt nhân hậu… nhìn vào cặp mắt sáng ngời với nụ cười hiền hoà tươi vui… Bỗng nhiên nàng nhủ thầm trong lòng: “Chắc ông này không phải là hạng tầm thường”.

Rồi nàng lên tiếng nói với người khách lạ: “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samaria, cho ông uống nước sao?” Nghe nàng nói, người đàn ông lại nở một nụ cười thật tươi, thật hiền hòa, như muốn trả lời với nàng rằng: “Hãy đợi đấy!”.

Thực vậy! Qua cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, người con gái ấy mới hiểu ra rằng: Ông ta chỉ giả vờ xin nước, để gợi chuyện với nàng mà thôi. Ông ta không khát nước! Nhưng từng bước rồi từng bước, ông ta tế nhị chỉ bảo cho nàng biết: Chính nàng mới là người khát, khát Nước Hằng Sống.

Qua cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, ông ta đã nhìn thấu suốt cuộc đời nàng: Nào là những cuộc tình vụng trộm chóng qua; Nào là những thù hận và trốn chạy trong cuộc đời; Nào là những vết thương lòng nhói đau… Tất cả mọi chuyện, ông ta đều biết rất rõ.

Qua cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, ông ta đã chỉ cho nàng biết về Thiên Chúa: “Thiên Chúa là thần khí, và những ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong thần khí và sự thật" (Ga 4,24).

Và cũng qua cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, khi nghe nàng nhắc đến Đức Kitô, ông ta đã lên tiếng: “Đấng ấy chính là Tôi, người đang nói với chị đây" (Ga 4,26). Thế là kết thúc câu chuyện. Mọi sự đã được “bật mí”.

Nghe xong, người con gái ấy bủn rủn chân tay. Nàng đánh rơi vò nước bên bờ giếng, rồi chạy như bay về nhà. Vừa chạy, nàng vừa thông báo với bà con họ hàng, với mọi người, những người mà chỉ vài giờ trước đây nàng còn chạy trốn, không muốn gặp mặt. Nay nàng mạnh dạn lớn tiếng nói với họ: “Hãy đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đức Kitô sao?” (Ga 4,29).

Lạy Chúa Giêsu! Cuộc gặp gỡ kỳ diệu bên bờ giếng Giacob năm xưa đã biến đổi đời người con gái xứ Samaria. Nay xin Chúa cũng biến đổi đời con, giúp con trở thành con người mới với trái tim mới, trái tim của yêu thương và hy sinh phục vụ. Xin cho con được gặp gỡ Chúa mỗi ngày trong suốt cuộc đời con.

 

Suy Niệm Chúa Nhật IV Mùa Chay, A

1Sm 16,1b.6-7.10-13; Ep 5,8-14; Ga 9,1-41

SỰ MÙ TỐI CỦA TÂM HỒN

 

Phúc Âm hôm nay không chỉ thuật lại phép lạ Chúa Giêsu chữa anh mù về mặt thể lý; nhưng còn cho thấy việc Chúa mở mắt Đức Tin cho anh, để anh tin vào Chúa. Anh mù được chữa lành, vì anh đã tin và làm theo lời Chúa dạy. Đó là đi rửa mắt ở hồ Silôác. Điều trái ngược trong câu chuyện này là: Anh mù, tuy bị mù loà, nhưng lại nhìn thấy những điều mà người Pharisiêu sáng mắt không thấy được: Anh ta đã nhận ra lòng nhân lành của Chúa, đã đặt niềm tin nơi Chúa, khác hẳn thái độ của người Pharisiêu sáng mắt nhưng lại mù loà, vì họ từ chối nhìn nhận phép lạ của Chúa và khước từ tin vào Ngài.

Như thế, để có thể nhìn rõ mọi sự, thì có một đôi mắt tinh anh mà thôi vẫn chưa đủ. Bởi vì ngoài bệnh mù loà của thân xác, còn có rất nhiều dạng mù loà khác, không cho phép chúng ta tiếp nhận ánh sáng của Chúa. Đó là lòng ích kỷ, ngăn cản ta nhìn thấy nhu cầu của những anh em nghèo khổ. Đó là sự kiêu căng, không cho phép ta nhận ra những lỗi phạm của mình. Đó là những thành kiến, khiến ta bưng bít sự thật. Đó là lòng ham muốn vật chất, khiến linh hồn ta không còn thấy những giá trị thiêng liêng. Kinh nghiệm cho biết, bằng đôi mắt của tâm trí và của linh hồn, ta có thể nhìn ra những điều mà đôi mắt xác thịt không thể nhìn thấy. Nhưng chỉ với đôi mắt đức tin, ta mới có thể nhìn thấy những thực tại về Thiên Chúa và về ơn cứu độ.

Có thể nói đoạn Phúc Âm hôm nay là câu chuyện kể về đức tin. Thật vậy, cao điểm của câu chuyện này là ở việc anh mù tuyên xưng niềm tin của anh vào Đức Kitô khi nói: "Lạy Ngài, tôi tin!" Nhờ tin, anh đã được chữa lành cả thể xác lẫn tâm hồn.

Trong Phúc Âm, ta thấy Chúa Giêsu không chỉ chữa tật mù loà về thể lý, mà còn chữa tình trạng mù loà tâm hồn. Loại người thứ hai này gồm những kẻ lầm lạc, thiếu khả năng thấy đường về nhà Cha. Chẳng hạn: Chúa đã mở mắt cho ông Giakêu, để ông thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi của ông (Lc 19,1-10). Ngài đã mở mắt cho một cô gái lỡ đường, để cô dứt bỏ quá khứ không mấy tốt đẹp của mình (Lc 7,36-50). Ngài cũng đã mở mắt cho người trộm lành cùng chịu đóng đinh với Ngài trên đồi Gôngôtha, để anh ta nhận ra ánh sáng của lòng Chúa thương xót (Lc 23,32-43). Chính nhờ Chúa Giêsu mà những người này đã tìm lại được ánh sáng dẫn đưa tới Nước Thiên Chúa. Ngược lại, những người Pharisiêu vì cố chấp, cứng tin, nên đã bị bỏ lại trong bóng tối. Họ đã không tin nhận Chúa Giêsu, cũng không đón nhận ơn cải hoá được khơi dậy nơi tâm hồn họ (Ga 9,41). Còn chúng ta thì sao? Bằng cách này hay cách khác, ta cũng đang vướng mắc những chứng mù loà bẩm sinh. Đó là những thói xấu và tội lỗi. Vậy ta cần được Chúa Giêsu soi sáng, cứu chữa đôi mắt tâm hồn ta, đã từng bị mù loà do từ khước ánh sáng của Chúa. Chúa Giêsu luôn đến với mọi người đau yếu, tật bệnh, tội lỗi, để kêu mời và giúp họ hoán cải và được chữa lành. Ta hãy can đảm đến với Chúa, để Ngài chạm đến chỗ thâm sâu nhất của cõi lòng mình. Đồng thời ta hãy vâng lời Chúa, chấp nhận đi gột rửa tâm hồn mình ở hồ Silôác thiêng liêng, đó là Lời Chúa. Hãy trút lại nơi đó sự mù loà của tâm hồn ta, để mặc lấy ánh sáng của Lời Chúa.

Lạy Chúa! Như Thánh Phaolô trên đường về Đamát, xin cho con trở nên mù lòa vì ánh sáng rạng ngời của Chúa. Để nhờ biết mình mù lòa, mà con được sáng mắt và nhìn thấy tình Chúa xót thương.

Ave Maria

THẢO KÍNH ÔNG BÀ

 

Ai ai cũng có cội nguồn

Tổ tiên, nòi giống: vẫn luôn ghi lòng

Gia đình, dòng họ ấm nồng

Yêu thương hiệp nhất mãi không phai nhòa

Cháu con thảo kính ông bà

Vâng lời cha mẹ, mới là con ngoan

Cùng nhau chung sức lo toan

Ông bà vui sống bên đàn cháu con

Nghĩa tình đằm thắm sắt son

Gia đình êm ấm lưu tồn mai sau

Phải luôn gìn giữ ân sâu

“Kính trên, nhường dưới” nơi đâu cũng cần

Dựng xây cuộc sống tương thân

Hài hòa thân thiện muôn phần đẹp thay

Thuận hòa vun đắp dựng xây

Mọi người  hạnh phúc tràn đầy yêu thương

 

HOÀI THANH (Gx Ngọc Thạch)

 

NHÀ ĐAVÍT

Khi đọc Kinh Thánh đôi khi chúng ta gặp từ ngữ “Nhà Đavít”. Từ ngữ này mang âm hưởng chung của kiểu nói “Nhà Ítraen”, “Nhà Giuđa”, xuất hiện 26 lần trong Cựu Ước, vừa có nghĩa là vương triều vua Đavít, vừa có nghĩa là gia đình riêng của ông. Cũng như gia đình Ápraham và Sara là đối tượng của lời Thiên Chúa hứa cho Ítraen về đất đai, về dân tuyển chọn và lời chúc phúc thì nhà Đavít lại tiêu biểu cho lời hứa về vương quyền Ítraen được bền vững mãi, nghĩa là mỗi vị vua Ítraen đều thuộc dòng tộc Đavít.

Trước hết, chúng ta cần lưu ý là các trình thuật về gia đình của Đavít, từ sách Samuen quyển 2 đến sách các Vua quyển 2 minh họa cho điều được gọi là thần học về sự thưởng phạt theo quan điểm của trình thuật đệ nhị luật. Khi một người trung thành với Thiên Chúa và tuân phục Lề Luật của Ngài thì các phúc lành chắc chắn sẽ theo sau; còn những ai bất trung thì không thể tránh khỏi án phạt. Những nhân vật như vua Saun, kẻ “không thi hành các mệnh lệnh của Đức Chúa” (1 Sm 15,11), Amnôn cưỡng hiếp em gái (2 Sm 13,1 tt), rồi Giônathan kẻ tạo phản chiếm ngai vàng của cha mình, đều có một kết thúc bi thảm. Về sau, khi một phần của vương quốc bị tước khỏi con cháu nhà Đavít, thì một lần nữa, quan điểm của trình thuật đệ nhị luật đã cho đó là sự sự trừng phạt do tội của Salômôn và của Rơkhápam con vua.

Giữa một mảng tối của những con người từ bỏ đường lối của Đức Chúa, Đavít được mô tả như là một người trung thành với Giao ước và luôn sống trước nhan Đức Chúa. Lòng thành tín ấy đã được Chúa đoái thương, Ngài cất nhắc ông lên làm vua và ban cho ông một triều đại: chi tộc Giuđa được dành riêng cho Đavít và nó sẽ tồn tại dưới quyền cai quản của nhà Đavít (x. 1 V 11,12-13,32,34; 15,4; 2V 19,34; 20,6; xem thêm 1-2 Sử Biên Niên). Khi nói Đavít trung thành với Đức Chúa thì điều đó không có nghĩa là bản thân ông không vướng mắc đầy tội lỗi và những yếu kém tệ hại. Truyền thống Thánh Kinh đã đặt Đavít như là một trong những nhân vật trung tâm của lịch sử thánh và những hồi tưởng về Đavít theo sau dòng lịch sử ấy vẫn coi ông như là người “đã đánh tan địch thù tứ phía”, và “Thiên Chúa đã ban cho ông vương quyền muôn năm tồn tại, và ngai vinh hiển trong Ítraen” (Hc 47,7,11). Tuy nhiên, Lời Chúa là sự sống và ơn cứu độ cho con người, nên những trình thuật về Đavít không chỉ ghi lại những thành công rực rỡ và vinh quang tột bậc của một vị vua được mang danh là “người được chọn như lòng Chúa mong ước” (1 Sm 13:13-14), mà còn cho thấy những lỗi lầm nghiêm trọng trong cuộc đời của ông: Phạm tội với nàng Bát Seva, giết tướng Urigia, không tuân lệnh Chúa khi thực hiện cuộc kiểm tra dân số, không xử phạt những lỗi lầm của con cái. Những lỗi lầm của vua Đavít vừa cho chúng ta thấy thân phận yếu đuối của con người, vừa cho thấy tình thương vô biên của Thiên Chúa. Chính từ những lỗi lầm của Đavít mà chúng ta như cảm nhận được sự gần gũi với ông, để từ đó, chúng ta thêm can đảm và cậy trông vào tình Chúa tha thứ mỗi khi lầm lỗi. Giờ đây chúng ta có thể nhìn vào một khía cạnh trong cuộc đời của Đavít, đó là gia đình của ông.

Đavít phạm tội nặng nề khi lấy nàng Bát Seva, vợ của tướng Urigia làm vợ mình (2 Sm 11; x. Đnl 22,22) rồi ông lập mưu giết Urigia. Tiên tri Nathan cảnh báo Đavít rằng lưỡi gươm sẽ không rời bỏ gia đình ông (2 Sm 12,10). Các chương từ sách 2 Samuel 13 đến 1 Vua 2 thuật lại một số chi tiết những bi kịch của gia đình Đavít. Người con đầu của Đavít với Bát Seva chết (2 Sm 12, 14-31). Rồi người con gái của Đavít tên là Tama bị người anh cùng cha khác mẹ là Amnôn cưỡng hiếp (2 Sm 13,1-17). Chàng Ápsalôm đã giết Amnôn để rửa nhục cho em mình (2 Sm 13, 28-32). Tiếp theo Ápsalôm trốn chạy khỏi cơn thịnh nộ của cha (2 Sm 13,34,37) để rồi sau đó trở lại mưu phản chiếm đoạt ngai vàng vua Đavít (2 Sm 15,1-6). Để thỏa cơn tức giận, Ápsalôm đã hãm hiếp các tỳ thiếp của Đavít ngay giữa thanh thiên bạch nhật (2 Sm 16,21-22). Rồi Giôáp, một đại tướng của Đavít đã kết thúc mạng sống của tên tạo phản, Ápsalôm bằng một nhát giáo (2 Sm 18,14). Cuối cùng, Ađônigiahu là con bà Khácghít và là con vua Đavít, lại muốn cưới bà Avisác, một người vợ của cha, nên Salômôn đã giết anh ta vì cho rằng anh ta đã tỏ lộ động cơ chiếm ngai vàng của mình (1 V 2,12-24).

Đavít và các con ông đều có nhiều vợ. Riêng Đavít có tám người, trong số đó có Mikhan, con gái vua Saun (1 Sm 18,27), Akhinôam và Avigagin (1 Sm 25,43), rồi Bát Seva (2 Sm 11,27; x. 2 Sm 5,13). Còn Salômôn không chỉ cưới con gái của Pharaô vua Ai Cập làm vợ, ông còn lấy thêm nhiều phụ nữ ngoại giáo khác (1 V 11,1-3). Hầu hết các con cháu của Đavít lên ngôi miền Giuđa đều được ghi thêm tên các bà mẹ của họ. Điều đó có nghĩa là không chỉ một người là con của một người cha, anh ta cũng là con của một người vợ riêng của cha mình, và người phụ nữ này được ghi tên theo (x. 1 V 15,2; 22,42; 2 V 8,26).

Nhìn vào gia đình của Đavít chúng ta có thể tự hỏi: gia đình ông “nát như tương” như thế thì làm sao “trị quốc”, mà theo đường lối Á Đông thì trước tiên phải “tề gia”?- Trứơc tiên, chúng ta thấy dân Ítraen phải chịu khổ vì sự hủ bại và nhũng lạm của các tư tế và thủ lãnh, họ mong muốn có một vị vua để tổ chức và điều hành đất nước như các dân chung quanh. Điều này dù phật ý Chúa, Ngài cũng chọn một người là Saun lên làm vua. Nhưng khi đã thiết lập đường lối quân chủ rồi, những vấn đề căn bản của đất nước cũng không giải quyết được. Chúa đã dùng những đường lối khác nhau và những trung gian khác nhau để lãnh đạo dân Chúa: thủ lãnh, tư tế, tiên tri, vua. Những nhân vật như Êli, Samuen, Saun, và Đavít tiêu biểu cho những hình thái lãnh đạo khác nhau. Tuy nhiên, người lãnh đạo chỉ đạt được thành công nếu biết đặt nền tảng sự lãnh đạo trên lề luật của Chúa và quy hướng về Ngài. Họ sẽ thất bại nếu cậy dựa vào vị thế, quyền lực, và sự khôn ngoan cá nhân. Riêng Đavít, Chúa đã đưa ông lên làm vua từ một người chăn chiên, từ số không, ex nihilo, để cho thấy chỉ có Chúa mới thực sự lãnh đạo dân Ngài, và mọi quyền bính đều phát xuất từ nơi Chúa và phải quy hướng về Chúa. Chính Chúa Giêsu đã khẳng định với quan Philatô: “Nếu ơn trên chẳng ban cho ông thì ông chẳng có quyền gì trên tôi” (Ga 19,11), bởi vì, “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3,27). Vì thế cho dù triều đại Đavít có lẫy lừng và huy hoàng vượt bậc thì vẫn còn vô số khuyết điểm, và nó cũng chỉ là hình bóng mờ nhạt của vương quyền Chúa Kitô mà thôi! (Còn tiếp)

Trung Thành

 

 

        CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 2-2014

 

Chúng ta vừa bắt đầu năm mới Âm lịch, năm Giáp Ngọ. Nhân dịp này CĐKT thử tài bạn về các con vật trong Kinh Thánh. Các bạn nhớ trích dẫn các câu Kinh Thánh trong phần trả lời nhé!

 

1- Ông Nôê đã thả con vật nào ra khỏi tàu đầu tiên sau khi nước rút?

a. Bồ câu               b. Quạ              c. Chiên                  d. Bò

2- Theo sách Khải Huyền, Tử Thần cỡi trên một con vật nào?

a. Ngựa ô               b. Lừa câm      c. Ngựa xanh                        d. Bạch mã

3- Con vật nào đã giúp tiên tri Êlia vượt qua nạn đói tại Cơrít?

a. Chó                    b. Bồ câu        c. Quạ                      d. Dê

4- Vị thủ lãnh nào đã cột đuốc cháy rực vào đuôi 300 con chó sói?

a. Ghítôn             b. Gíptác            c. Ápđôn                 d. Samsôn

5- Tiên tri Êlisa đã dùng con vật nào để sát phạt những đứa trẻ trêu chọc ông?

a. Gấu                 b. Rắn                c. Sư tử                    d. Quạ

6- Con vật nào đã cứu chủ của mình là ông Bơliam khỏi sự giáng phạt của thần sứ Đức Chúa?

a. Chó                  b. Lừa                 c. Dê                                  d. Ngựa

7- Ông Môsê đã tạo hình con vật nào và treo lên một khúc cây cho dân Ítraen?

a. Sư tử                           b. Rắn               c. Bê                    d. Chiên

 

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 1-2014

 

1. c (Lc 22,51) 2. d (Ga 8,6) 3. a (1 Sm 25,3) 4. d (2 Sm 14,26)  5. c (Lv 16,29-34/Xh 30,10)  6. b (Xh 33,11/Đnl 34,10) 7. d (Tv 2,4/ Tv 59,9)

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 1-2014:

1. GB. Đào Hoàng Hải, Gx. Rạch Sỏi, Rạch Giá

2. Nguyễn Ngọc Sơn, sinh viên Đại học Cần Thơ

3. Anna Hồ Thị Quỳnh Nhi, Gx. Cù Lao Giêng, Chợ Mới, An Giang

4. Maria Phạm Thị Tuyết Dung, Gh. Vô Nhiễm, Gx. Antôn, K. 1A

5. Fx. Ngô Minh Trí, Gh. Giuse, Gx. Đồng Phú, K 2B

 

* Địa chỉ liên hện với người phụ trách:

- Email: jostrung.trung@gmail.com

- Điện thoại: 01672576777

- Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên Giang

 

 

ÔNG BÀ VÀ CON CHÁU

 

ÔNG là cổ thụ trong nhà,

BÀ là gió mát toả ra trong đời.

MẪU gương gia thất tuyệt vời,

MỰC kia in đậm nên lời thành câu.

CON người hiếu nghĩa làm đầu,

CHÁU con nhớ lấy ghi sâu trong lòng.

THẢO cha kính mẹ mới mong,

HIỀN ngoan sẽ được Chúa đong ơn lành.

             

Phêrô Nguyễn Đức Thời, gx  Thái Hòa

 

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Các phép lạ

Không ai trong Giáo Hội được tôn kính như Mẹ Thiên Chúa, với vô số nhà thờ, bàn thánh, với bao nhiêu bài hát, kinh cầu, lễ kính và cuộc hành hương. Hàng ngàn địa điểm hành hương Đức Mẹ trở thành như một mạng lưới tế bào thần kinh toả khắp thế giới. Và xem ra không ai làm nhiều phép lạ như Mẹ. Những nơi hiện ra treo đầy chứng tích và tài liệu về những biến cố không giải thích được. Bernard ở Clairveaux, chẳng hạn, gán cho Đức Mẹ một năng lực khó tin: “Cứ cầu Mẹ, và anh chị chẳng bao giờ mất hi vọng”. Thưa hồng y, tất cả đều là phép lạ thật?

Không thể kiểm chứng được hết mọi biến cố. Thường đó là những chuyện xẩy ra lạ lùng, nhưng có lẽ không nên coi tất cả là phép lạ theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên, tất cả những cái đó nói lên lòng tín thác đặc biệt của con người nơi Maria. Qua Mẹ, họ nhìn ra khuôn mặt của Chúa và Đức Kitô, và nhờ đó mà họ có thể hiểu được Thiên Chúa. Những dữ kiện mà anh vừa kể, một lần nữa cho thấy là qua Mẹ, con người hiểu được một cách đặc biệt những bí ẩn của Con Chúa và của Thiên Chúa. Đó là lý do nói lên lòng tin sâu xa của con người đối với Mẹ. Maria là cánh cửa mở đưa tới Thiên Chúa. Người ta có thể nói với Mẹ một cách thoải mái, có thể cầu khẩn Mẹ với ngôn ngữ và lòng tin con trẻ, những chuyện mà ta thường ngại làm trước mặt Đöc Kitô. Đó là ngôn ngữ của trái tim. Ngôn ngữ đó, hiện diện ở khắp các địa điểm hành hương, càng cho thấy việc Mẹ đã đánh động sâu xa trái tim con người như thế nào. Đó là thứ đức tin mà Đức Kitô bảo là có thể dời non chuyển núi. Phải chăng các phép lạ thật đã xẩy ra? Đó lại là một chuyện khác. Quan trọng là người ta có lòng tín thác sâu xa, và lòng tín thác đó cũng đã được đáp trả. Qua sự tín thác đó đức tin trở nên thật sống động, đến nỗi nó có thể thấm vào được trong cái vật lí, vào được trong cái hàng ngày, và qua đó ta nhận ra được bàn tay nhân lành của Chúa qua sức mạnh từ ái của Mẹ. Lấy thí dụ Fatima: Ngày 13.5.2000 Đức Gioan Phaolo II phong ba trẻ đã nhìn thấy Mẹ lên hàng chân phước. Chính ngài bảo, ngài thoát chết trong cuộc ám sát ngày 13.5.1981 là do ơn lạ của Mẹ. Và ngài còn nói, biến cố phép lạ đó đã ấn dấu sâu đậm lên toàn bộ nhiệm kì giáo chủ của ngài.

Việc gì đã xẩy ra? Gần giữa trưa ngày 13.5.1917 ba em chăn thú tại một miền quê hẻo lánh Bồ-đào-nha là Lucia (10) cùng hai anh em Jacinta (7) và Francisco (9) đã có một thị kiến lạ lùng. Các em kể, một lằn sáng chói chang xuất hiện trên gốc sồi đá chiếu toả vào “một bà tuyệt đẹp”. Bà ấy bảo “Các con đừng sợ”, và bà nói rằng, bà mang đến một sứ điệp hoà bình cho con người. Thoạt tiên câu chuyện đã là trò cười và giễu cợt cho mọi người. Nhưng vào ngày 13.10 năm đó có khoảng 70 ngàn người đã tuôn về để được chứng kiến tận mắt cảnh tượng. Người ta kể, sự lạ xuất hiện vào khoảng giữa trưa. Trời bỗng dưng ngừng hẳn mưa. Màn mây xé ra và mặt trời bắt đầu xoay tít quanh nó như một bánh xe quay. Cây cối và con người bỗng như chìm vào trong ánh sáng huyền diệu đó. Đám đông la thét, vì tưởng như sắp bị mặt trời sa xuống đè bẹp.

Chuyện gì thuần khoa học tự nhiên đã xẩy ra hoặc không xẩy ra ngày 13.10, ta không thể kiểm chứng. Quan trọng là con người đã bị đánh động bởi biến cố có một không hai lúc đó. Họ đã có thể cảm nhận có một chuyện gì xẩy ra. Và một cách nào đó, mặt trời đối với họ đã trở thành dấu chỉ ẩn chứa một bí mật nào đó. Sách Khải Huyền nói về một bà bận áo mặt trời chân đạp mặt trăng. Thoạt tiên, điều đó muốn ám chỉ dân Thiên Chúa trong toàn bộ giao ước cũ và mới, nhưng nó cũng ám chỉ đặc biệt Maria. Áo mặt trời của bà ám chỉ Đức Kitô là ánh sáng thật cho thế gian. Hình ảnh đó như vậy nói lên sự gắn bó cội rễ với Đức Kitô. Mặt trăng – hình ảnh của sự chóng qua – bị bà giẫm dưới chân. Hình ảnh giẫm đạp đó một mặt nói lên chiều kích lớn lao có thể làm ta khiếp sợ, nhưng mặt khác cũng cho thấy đó là một sức mạnh ủi an. Và những ai tới Fatima, Lộ Đức hay Guadeloupe đều cảm thấy cái lớn lao cũng như lực ủi an và cứu độ đó.

Nói tới Fatima tất phải nói tới những “bí mật Fatima”. Đó là những sứ điệp mà ba em đã nhận được vào năm 1917. “Bí mật” thứ nhất cho thấy hoả ngục (Các con đã thấy hoả ngục, nơi những người tội lỗi đáng thương đang sa chân vào). Bí mật thứ hai tiên báo việc chấm dứt thế chiến thứ nhất, nhưng (Nếu người ta cứ tiếp tục thoá mạ Thiên Chúa) một cuộc chiến “khốc liệt hơn nữa” sẽ xẩy ra. Bí mật đó cũng báo trước về cuộc trở lại của nước Nga. Nhưng chuyện này chỉ xẩy ra sau khi Gioan Phaolô II dâng nước Nga cho Đức Mẹ; và một năm sau ngày dâng đó, Gorbachow đã mở ra chương trình tái tổ chức và bức màn sắt đã sập đổ sau đó mười năm.

Về bí mật thứ ba, đã có nhiều phỏng đoán từ nhiều chục năm nay, đặc biệt phỏng đoán về cuộc tận thế hay ít ra là một cuộc sụp đổ của Giáo Hội. Người ta bảo, bí mật này chỉ liên quan tới cá nhân giáo chủ Rôma mà thôi, nên không được công bố. Trong kỳ viếng Fatima lần thứ ba, chính Giáo chủ đã hé lộ cho thiên hạ biết về bí mật đó. Hồng y Sodano đã được uỷ thác thông báo tóm tắt nội dung sứ điệp, ngài cho hay ba trẻ đã có thị kiến về “một giám mục mặc áo trắng” đã bị trúng đạn và ngã chết dưới đất”, và theo hồng y, sứ điệp này là một tiên đoán về vụ mưu sát giáo chủ Gioan Phaolô II.  Về cơ bản, sứ điệp Fatima không phức tạp lắm, mà trái lại. Ba trẻ đã diễn tả sứ điệp đó như vầy: “Ta là bà dịu hiền của chuỗi mân côi. Ta đến để con người được tốt hơn. Con người hãy chấm dứt việc thoá mạ Thiên Chúa”.

Trên thực tế, sứ điệp rất đơn giản. Và chị Lucia, người duy nhất còn sống (năm 2000), vẫn luôn coi trọng sự giản đơn đó, và chị nói, đừng để ý đến những chuyện gì khác mà người ta đã tường thuật, tất cả chung quy lại chỉ là đức tin, hy vọng và tình yêu. Tôi cũng đã được nói chuyện vắn tắt với chị. Chị nhấn mạnh với tôi là hãy kể tiếp chuyện này cho mọi người nghe. Chị nói: Thoạt tiên thiên thần hiện ra với chúng con, các ngài dạy cho chúng con tin, cậy, mến; và nội dung của toàn bộ sứ điệp kia là chúng ta hãy học lấy những nhân đức đó. Đó là những gì Mẹ Thiên Chúa tập cho ta, và nhờ đó giúp ta tinh luyện và trở về với Chúa. Sám hối chính là sự thay đổi cuộc sống, là việc bước ra khỏi khuynh hướng thời thượng, một khuynh hướng đẩy ta rời xa Thiên Chúa và chỉ biết nghĩ tới mình mà thôi. Sám hối là quay về, là đi ra khỏi mình, là cho mình đi; cho mình đi tức là tình yêu, và rồi tình yêu đòi buộc phải có đức tin như là điều kiện, và tình yêu làm nẩy mầm hi vọng.

Tôi tin rằng, tất cả những cuộc hiện ra đó, nếu quả có thật, không phải là một cái gì bên lề Tin Mừng. Đó không phải là những thoả mãn cho tính hiếu kì và thích chuyện giật gân của ta, nhưng chúng đưa ta trở về với cái giản đơn và cơ bản, mà ta thường rất ít để ý đến. Chính ngày hôm nay, với bao phức tạp của cuộc sống, đạo của chúng ta lại thường trở nên quá rắc rối, khiến ta nhiều khi chỉ thấy cây mà chẳng còn nhận ra rừng. Vấn đề lúc này là quay trở về cái tâm điểm đơn giản, chẳng phải đi đâu khác, mà là trở về với tin, cậy và mến.

Bộ Giáo Lý Đức Tin đã tổ chức một cuộc họp báo ngày 26.6.2000 để trình bày với báo giới toàn bộ bản văn liên quan tới cái gọi là bí mật thứ ba của Fatima. Song song Bộ cũng ra một tài liệu bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có chụp lại bản văn viết tay của chị Lucia về bí mật trên, để người ta hết phải bàn tán về sự trung thực và đầy đủ của bản văn. Tài liệu trình bày cẩn thận diễn tiến các thị kiến, các trình thuật bằng văn bản của chị Lucia cũng như biên bản về bí mật thứ ba. Cả cái thông báo của hồng y Sodano cũng được in lại trong đó; chính tôi trong đó cũng có viết một bài thử phân tích các bản văn. Vì cuốn sách được phổ biến rộng rãi, nên tôi xin được tóm tắt đôi dòng về nội dung.

Thị kiến cho thấy con đường gian nan của một giám mục bận áo trắng (mà chính ba trẻ nhận ra là giáo chủ Rôma) đang khó nhọc leo lên một ngọn núi có dựng một cây thánh giá; con đường dẫn xuyên qua một thành phố nửa đổ nát. Các giám mục, linh mục, giáo dân và cuối cùng cả giáo chủ cũng bị giết. Nhưng máu của những nạn nhân đã được thiên thần hứng lấy, và máu đó đã làm cho thế giới sinh hoa kết quả. Ta có thể xem đó là hình ảnh biểu trưng cho Giáo Hội tử đạo trong thế kỷ 20; giáo sư Riccardo (chủ tịch cộng đoàn Thánh Egidio) mới đây vừa cho ra một cuốn sách về các vị tử đạo dưới các chế độ độc tài trong thế kỷ chúng ta, cuốn sách đã cụ thể hoá một cách hùng hồn những hình ảnh thị kiến. Đọc qua ba phần của bí mật, ta thấy rõ tâm điểm của sứ điệp là lời kêu gọi sám hối, đồng thời sứ điệp còn nói lên tính tự do của lịch sử, nghĩa là lịch sử không hoàn toàn bất biến theo tiền định, mà có thể thay đổi đường đi nhờ vào việc sám hối. Toàn bộ bí mật là lời thảm thiết kêu gọi tự do con người hãy sửa mình, và nhờ đó sửa lại vận hội thế giới; nội dung bản văn cũng giống như sách Khải Huyền. Sự kiện Giáo chủ thoát chết có thể được hiểu như là một dấu chỉ cho thấy lịch sử có thể diễn tiến khác đi nhờ lời cầu nguyện. (Còn tiếp).

 

CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH

 

NHỮNG CHIỀU KÍCH

TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỢ CHỒNG

 

Gia đình, nền tảng của xã hội, có được bền vững hay không là tùy thuộc vào mối tương quan vợ chồng. Vợ chồng có hạnh phúc với nhau thì mới có thể xây dựng gia đình mình hạnh phúc được. Nguyên nhân làm cho vợ chồng không hạnh phúc là vì mối tương quan giữa hai người có những bất ổn. Cho nên, thay vì vợ chồng trở nên một để cùng tạo dựng hạnh phúc cho nhau và xây dựng gia đình hạnh phúc, họ trở nên gánh nặng cho nhau, gây ra những đau khổ cho nhau, và làm tan rã gia đình. Vậy đâu là điều vợ chồng cần quan tâm để tạo được mối tương quan tốt với nhau trong đời sống vợ chồng? Có những yếu tố, mà ta gọi là những chiều kích, vợ chồng cần quan tâm để có được mối tương quan tốt với nhau.

- Chiều kích tinh thần

Hôn nhân không chỉ đơn giản là một hợp đồng trong một thời gian nhất định, nhưng là một khế ước, và mang tính vĩnh viễn cho đến khi vợ hoặc chồng qua đời. Mối tương quan vợ chồng được đặt nền tảng trên tình yêu, đó là thứ tình yêu giống như tình yêu Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, Hiền Thê của Ngài. Tự hiến cho và vì hạnh phúc của người phối ngẫu phải là điều ưu tiên một của những vợ chồng Kitô giáo. Thực tại tinh thần của hôn nhân trong đời sống hằng ngày của vợ chồng được hoạch định qua việc: 1/ Nhận biết và thấu hiểu rằng Thiên Chúa đã dẫn đưa họ đến với nhau và đã đính ước họ với nhau. Vì vậy, Thiên Chúa luôn hiện diện trong mối tương quan vợ chồng của họ. 2/ Trở nên mẫu mực cho đời sống hôn nhân Kitô giáo. 3/ Sẵn sàng hy sinh vì người khác; bởi lẽ, yêu là hy sinh và hy sinh là yêu. Đức Kitô dùng thập giá để bày tỏ tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, thập giá hằng ngày của đời sống hôn nhân có thể được dùng như là cỗ máy tình yêu của vợ chồng trong việc thực hiện giới răn quan trọng của Đức Kitô: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.” 4/ Trân trọng và ngưỡng mộ thế giới họ đang sống, cùng với vẻ đẹp mà Thiên Chúa đã tạo dựng cho họ như là những quà tặng của cuộc sống.

- Chiều kích tâm lý

Sự hòa hợp tâm lý bao gồm cả sự giao tiếp, sự thích nghi, sự khác nhau giữa nam và nữ, bản chất của tình yêu vợ chồng và việc tình yêu đó được thể hiện thế nào trong hôn nhân. Vấn đề sống còn của đời sống hôn nhân là sự giao tiếp. Vì trong giao tiếp, dù bằng lời nói hay không bằng lời, hôn nhân được thể hiện như là tình bạn. Đời sống hôn nhân sống động là nhờ vào những lời nói. Sự thinh lặng có thể giết chết đời sống hôn nhân, vì nó dẫn đến sự buồn chán: kẻ thù của hôn nhân. Sự giao tiếp bằng lời nói, điều làm cho đời sống hôn nhân được sống động, nên được thể hiện trong hình thức đối thoại, bao gồm cả việc trao gởi thông điệp và việc phản hồi những thông điệp đó. Cả hai vợ chồng nên là những người biết lắng nghe, vì lắng nghe là cách chồng hay vợ tự hiến mình cho người bạn của mình, và là cách tốt nhất để chồng nói với vợ “anh yêu em”; hay vợ nói với chồng “em yêu anh”. Sự giao tiếp không bằng lời nói như ôm hoặc hôn, là những dấu hiệu của tình cảm ấm áp và làm thăng tiến mối tương quan vợ chồng cách hiệu quả. Ngoài việc giao tiếp, sự thích nghi được với người khác là dấu hiệu của sự trưởng thành. Vì sự thích nghi liên tục đòi hỏi một sự trưởng thành ở mức độ cao, đó là sự thích nghi không chùn bước khi phải đối diện với những điều không hài lòng, khó khăn và áp lực. Thực thế, trong đời sống hôn nhân người này cần phải học biết để thích nghi với người kia, vì có sự khác biệt giữa người nam và người nữ. Chính sự khác biệt này là nguyên nhân cho những bất đồng giữa hai vợ chồng. Việc vợ chồng ý thức được những đặc điểm và khác biệt giữa họ sẽ ngăn ngừa được những xung đột và bất đồng xảy ra trong đời sống hôn nhân. Người nam và người nữ thì bình đẳng, mặc dù họ có những khác biệt. Họ có thể không giống nhau, nhưng trước mặt Chúa họ là những con người bình đẳng trong mục đích của cuộc sống và trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Tất cả họ được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, và vì thế họ đều bình đẳng với nhau về nhân phẩm.

Bản chất của tình yêu hôn nhân được dựa trên căn bản của tình yêu của Đức Kitô yêu thương Hội Thánh. Khi vợ chồng biết chấp nhận nhau với những khác biệt và tôn trọng nhau như người bạn bình đẳng, họ sẽ yêu nhau bằng tình yêu tự hiến, nghĩa là vợ chồng yêu nhau không phải để chiếm đoạt nhau, nhưng là hy sinh cho nhau, mong muốn cho người mình yêu được hạnh phúc. Như vậy, bằng những cử chỉ yêu thương dành cho nhau, họ làm cho đời sống và tình yêu vợ chồng được sống động; người này luôn ý thức sống vì người kia; và cả hai luôn ý thức sống vì nhau.

- Chiều kích thể lý

Chiều kích thể lý trong hôn nhân làm cho câu nói “hai trở nên một xương một thịt” trở thành hiện thực. Với việc truyền sinh như là mục đích ưu tiên một và củng cố tình yêu vợ chồng là mục tiêu thứ hai, tính dục trong hôn nhân là một trong những cách biểu lộ tình yêu tốt nhất giữa vợ chồng. Mặc dù vấn đề tính dục là không thể thiếu trong hôn nhân, nhưng đó không phải là yếu tố quan trọng nhất. Tình yêu mới là yếu tố quan trọng nhất. Một hành vi tính dục đầy yêu thương giữa hai vợ chồng sẽ làm cho đời sống hôn nhân thêm vững mạnh và củng cố mối tương quan vợ chồng. Để làm cho hành vi tính dục trở thành một hành vi xác thực của tình yêu, vợ chồng cần phải ghi nhớ rằng, hành vi tính dục đó phải làm thỏa mãn cả hai người chứ không phải một người, thường là người chồng. Họ cũng cần ý thức rằng, sự thỏa mãn trong quan hệ tính dục giữa người nam và người nữ là khác nhau. Người đàn ông thường đạt đến sự khoái cảm sớm hơn người đàn bà. Vì thế, người chồng cần phải hiểu biết điều này để có thể giúp vợ mình cũng đạt đến sự khoái cảm trong quan hệ tính dục. Để làm được điều này, trong khi quan hệ tính dục, cả hai vợ chồng cần phải có sự âu yếm, dịu dàng, quảng đại đối với nhau, và hiểu được tâm trạng của nhau, nhất là người chồng cần phải hiểu được tâm trạng của vợ. Sự không thỏa mãn trong quan hệ tính dục giữa hai vợ chồng sẽ ảnh hưởng xấu đến mối tương quan vợ chồng của họ, làm cho tình yêu giữa họ dễ bị đổ vỡ.

Hơn nữa, sự khiết tịnh của đời sống hôn nhân cần phải được quan tâm trong sự hợp nhất thể lý. Vì, việc quan hệ tính dục giữa vợ chồng còn có một chiều kích linh thánh, đó là sự tự hiến cho nhau, như sự tự hiến của Đức Kitô dành cho hiền thê của Ngài là Giáo Hội. Đó là một sự tự hiến hoàn toàn trong tình yêu, nghĩa là chính tình yêu điều hướng mọi khát khao tính dục của vợ chồng.

- Chiều kích kinh tế

Tiền thì tốt và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống hằng ngày của gia đình. Nhưng khi tầm quan trọng đó được thổi phồng như là cùng đích của đời sống gia đình thì tiền trở thành nguyên nhân gây ra sự xung đột vợ chồng và gây đổ vỡ trong gia đình. Khi vợ chồng quá chú tâm đến vấn đề tiền bạc thì sẽ không còn thời gian dành cho nhau. Vợ chồng cần quan tâm và cùng nhau lo toan kinh tế cho gia đình, nhưng không vì thế mà đánh mất hết những giá trị gia đình. Muốn vậy, vợ chồng phải thống nhất với nhau trong việc hoạch định cho vấn đề thu chi trong gia đình, tránh những hiểu lầm, để trong khi cùng nhau lo vấn đề kinh tế cho gia đình, thì đồng thời cũng gìn giữ được những giá trị và thăng tiến tình cảm vợ chồng.

- Chiều kích xã hội

Hôn nhân là một định chế xã hội, vì thế nó ảnh hưởng đến những người khác trong cộng đoàn. Theo thứ tự ưu tiên của tình yêu trong hôn nhân, tình yêu của vợ chồng đối với nhau là ưu tiên một, kế đến là đối với con cái, và thứ ba là đối với cha mẹ, và rồi đối với những người khác trong xã hội. Thực vậy, vợ chồng không chỉ có trách nhiệm đối với nhau, với con cái và những người thân trong gia đình và dòng họ, mà còn có trách nhiệm đối với cộng đoàn xã hội nơi họ sinh sống, vì gia đình, tự nó, không phải là một hòn đảo. Khi họ sống tốt trách nhiệm đối với nhau trong gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc là họ đang chu toàn trách nhiệm đối với xã hội. Tình yêu của họ dành cho nhau, cho con cái và những người thân trong gia đình sẽ lan tỏa ra cộng đoàn xã hội. Những việc làm tốt của họ sẽ ảnh hưởng tốt đến xã hội. Và trong khi họ phục vụ nhau thì họ cũng phải có trách nhiệm phục vụ những anh chị em đồng loại.

- Chiều kích giáo dục

Trong hôn nhân, chiều kích giáo dục đóng một vai trò rất quan trọng. Đây là chiều kích mà vợ chồng, trong trách nhiệm làm cha mẹ, phải thực hiện cùng với nhà trường và xã hội theo ý định của Thiên Chúa. Thực vậy, trách nhiệm giáo dục con cái chính là thuộc về cha mẹ, và đây cũng là một trong những mục đích của hôn nhân Kitô giáo. Từ nơi gia đình, đứa trẻ cảm nhận được tình yêu mà cha mẹ dành cho nó, tìm được sự bảo vệ an toàn, và học được những bài học đầu tiên cho cuộc đời, nhất là bài học yêu thương. Và qua cách sống của cha mẹ, nó sẽ học được bài học để phân định đúng - sai trong mọi mối tương quan và việc làm. Vợ chồng, trong vai trò làm cha mẹ, có trách nhiệm giáo dục con cái, nhưng họ cần phải ý thức rằng họ không phải là chủ sở hữu những đứa con của họ. Họ chỉ là những người quản lý, những người được trao phó trách nhiệm. Thiên Chúa mới là chủ sở hữu thực sự những đứa con của họ. Chính vì thế, trong khi giáo dục con cái, cha mẹ cần phải quan tâm đến việc giáo dục chúng theo đường lối và ý định của Thiên Chúa muốn cho chúng. Ý thức được như vậy, cha mẹ sẽ thoát ra khỏi sự độc đoán trong khi giáo dục con cái, tôn trọng chúng và giúp chúng ngày càng trưởng thành hơn trong nhân cách sống, đặc biệt là trưởng thành trong nhân cách của người con Chúa.

Tóm lại, trong đời sống hôn nhân, mối tương quan vợ chồng đóng một vai trò rất quan trọng. Đây là yếu tố làm cho hôn nhân giữa hai vợ chồng được bền vững. Thế nhưng, để mối tương quan đó trở thành yếu tố giúp cho hôn nhân bền vững, vợ chồng cần phải biết xây dựng mối tương quan đó dựa trên những chiều kích mà hôn nhân đòi hỏi. Nếu vợ chồng không tạo được mối tương quan tốt với nhau, chắc chắn sẽ không thể tạo dựng hạnh phúc cho nhau, và không thể xây dựng một gia đình hạnh phúc, và như vậy gia đình sẽ không thể là phần tử tốt góp phần xây dựng một xã hội và Giáo Hội tốt đẹp và vững mạnh được. Đức Mẹ và thánh Giuse nơi gia đình Thánh Gia vẫn luôn là mẫu gương tuyệt vời cho các vợ chồng trong việc thiết lập mối tương quan tốt đối với nhau. 

Hương Quê. (Tài liệu tham khảo: FABC Papers, No. 46i, The Laity And The Family)

 

PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH

Đức An

 

Tại sao phải Phúc Âm hoá gia đình? Phúc Âm hoá thế nào? Đó là một vấn đề quan trọng được đặt ra cho những ai còn lương tri đang sống trong xã hội hôm nay.

Thực vậy, những bậc cha mẹ có con em ở tuổi mới lớn, khi chúng bước vào tình yêu, không ngạc nhiên khi thấy chúng thay đổi bạn trai, ban gái như thay đổi quần áo. Chúng quan  niệm về tình yêu và về cách biểu lộ tình yêu cũng rất lạ. Có những cuộc tình, với kinh nghiệm cha mẹ cản ngăn, nhưng con cái không nghe, nên đã dẫn đến kết quả hết sức đau khổ. Đó là những chuỗi ngày gây gỗ, chửi bới, cãi vã nhau, và sau cùng ly dị. Tội cho những đứa con của họ bị bơ vơ, lạc lõng trong một xã hội hỗn độn như ngày nay.

Những sự kiện đang xảy ra được nêu trên, đều hệ tại nơi gia đình, cha ông chúng ta thường nói: “Tội quy vô trưởng”. Người chủ gia đình giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục con cái. Tinh thần đạo đức của gia đình ảnh hưởng hoàn toàn đến con cái. Chính gia đình quyết định tương lai của đứa trẻ. Gia đình là vườn ươm hạt mầm bé thơ. Gia đình phải là bầu khí trong lành. Mọi lời nói, cách cư xử, kể cả những suy nghĩ đều thấm nhiễm vào tâm hồn trẻ thơ.

Bởi thế, việc Phúc Âm hoá gia đình rất khẩn thiết. Khi Lời Chúa thấm nhập vào tâm hồn mỗi thành viên, gia đình sẽ trở thành một Hội Thánh thu nhỏ. Nói thì dễ, nhưng việc thực hành thì quá khó. Muốn thực hiện được ta phải có kế hoạch, thường phải tạo thành phong trào, mà nhân vật xúc tác cần thiết không phải ngoài Linh Mục quản nhiệm. Ngài có thể thảo ra chương trình sao cho phù hợp với địa phương tính, áp dụng phương pháp tiệm tiến. Chủ gia đình phải thấm nhuần Lời Chúa để các thành viên trong gia đình noi theo. Một gia đình Kitô không sống bằng Lời Chúa sẽ thiếu hạnh phúc. Những đứa con sống và lớn lên, chúng sẽ nói ngôn ngữ của cha mẹ, học cách cư xử của người lớn. Nên gia đình sẽ cung cấp những tố chất đầu tiên cho bé thơ. Những tố chất tốt sẽ giúp cho bé lớn mạnh, sau này sẽ trở thành một Kitô hữu tốt của Giáo Hội. Ngày Đức Giêsu nhập thể, hôn nhân gia đình được nâng lên, Ngài muốn gia đình luôn phát triển hạnh phúc và tiến đức.

Nếu hình dung gia đình như một con thuyền thì có những lúc êm xuôi, nhưng cũng có những lúc gặp phong ba bão táp hầu như sắp bị chìm. Những lúc đó chúng ta hãy theo gương gia đình Thánh Gia: Niềm tin và phó thác cho Lời Chúa, sẽ vượt qua những khó khăn của biển đời. Lời Chúa sẽ dẫn chúng ta tới bến bình an.

 

 

 

 

GIÁO DÂN

 

MONG ƯỚC

CỦA ÔNG BÀ, CHA MẸ VÀ CON CHÁU

 

Có thể nói, mọi người dù sống trong một gia đình nhiều thế hệ, hay chỉ hai thế hệ đều mong ước có một gia đình ấm êm hạnh phúc. Đó quả thực là một mong ước chính đáng, nhưng để có được điều đó thì không phải là dễ, nhất là ở những gia đình nhiều thế hệ (Tam đại, tứ đại hay ngũ đại…  đồng đường) có cả ông bà, cha mẹ và con cháu chắt. Trong tác phẩm Đường Hy Vọng câu số 463 Đức cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận đã nhận xét: “Chuẩn bị làm linh mục có chủng viện, chuẩn bị làm tu sĩ có đệ tử viện, tập viện, chuẩn bị làm giáo sư có trường sư phạm, chuẩn bị làm cha mẹ có gì? – Không có gì cả! thật là một thiếu sót lớn lao trên thế giới. Lúc này tạm có lớp dự bị hôn nhân, nhưng chưa đi đến đâu. Bao nhiêu người sẽ là nạn nhân do cuộc phiêu lưu của các con.” Tuy nhiên, ta có thể tìm thấy những phương thức dạy chuẩn bị làm cha, làm mẹ, dạy con cái khá phong phú trong nhiều loại sách vở, đạo cũng như đời ngay từ thưở xa xưa. Với mong ước thật khiêm tốn, được góp một phần nhỏ bé trong kho tàng kiến thức hiện có, trong việc tìm hiểu xây dựng một gia đình ấm êm hạnh phúc. Trong phạm vi của bài viết, tôi xin nêu mấy vấn đề cụ thề.

Ông bà, cha mẹ mong ước gì nơi con cháu?

Nhìn chung, ông bà, cha mẹ nào cũng mong con cháu mình biết yêu thương nhau, nâng đỡ đùm bọc nhau, khuyến khích, giúp nhau học tập, tiến bộ, phát triển cả về tinh thần lẫn vật chất, hầu mang ích lợi cho mỗi người, gia đình ấm êm hạnh phúc, và góp phần làm cho xã hội mình đang sống được thịnh vượng, an lành. Riêng những gia đình Công giáo thì ông bà, cha mẹ còn mong ước dù sống trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào của cuộc sống, con cháu mình vẫn giữ được Đức Tin. Đức Tin đó được tóm gọn trong kinh Tin Kính và thông truyền Đức Tin đó đến môi trường mình đang sống, hầu mai sau cùng anh em mình được hưởng nhan Chúa. Điều đó đúng như câu trả lời đầu tiên trong cuốn Giáo lý Công giáo cho giới trẻ “Youcat” trả lời câu hỏi: “Ta sống ở đời này để làm gì?” Thưa: “Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để một ngày nào đó sẽ được tới quê Trời”.

Ông bà, cha mẹ làm gì để mong ước của mình, nơi con cháu được thể hiện?

Mẹ cha đã cưu mang sinh thành ra con cái. Mẹ cha, ông bà còn chính là vú nuôi, thầy cô giáo đầu đời của con cháu, vì gia đình chính là trường học đầu tiên của con trẻ. Con cháu được ví như một tấm vải mới, một tờ giấy trắng. Cha mẹ, ông bà là người thêu dệt trên tấm vải mới; vẽ trên tờ giấy trắng những đường nét đầu tiên. Trách nhiệm giáo dục cho con cháu nơi cha mẹ, ông bà thật là quan trọng. Trong Tam Tự Kinh đã xác định: “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi đọa. Tử bất học, phi sở nghi. Ấu bất học, lão hà vi” có nghĩa là (Nuôi mà không dạy là lỗi của cha. Dạy mà không nghiêm là quấy ở thầy. Con không học thì không phải lẽ. Còn nhỏ không học, già sẽ làm gì). Vì thế, ông bà cha mẹ có trách nhiệm dạy con cháu điều hay lẽ phải ngay từ khi các cháu còn ấu thơ: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” hay “Dạy con từ thưở còn thơ, dạy vợ tử thuở bơ vơ mới về”. Ông bà, cha mẹ muốn truyền lại tất cả những kinh nghiệm sống của mình có được trong cuộc sống cho con cháu, với mong ước, con cháu chính là đời sống nối dài của cha mẹ, ông bà. Con cháu phản ảnh hình ảnh ông bà không những trên khuôn mặt, mà còn trên cả cách sống. Điều đó đòi buộc ông bà cha mẹ phải là tấm gương sáng về mọi mặt trong cuộc sống cả đạo cũng như đời. Đó là sống công bằng, bác ái, tin thờ Chúa, Loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống Chứng Nhân của mình. Để được như lòng mong ước, mẹ cha, ông bà ngày đêm thường âm thầm cầu nguyện, xin trao con cháu thân yêu cho sự quan phòng của Thiên Chúa, xin Chúa đỡ nâng, dẫn đưa con cháu trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống để con cháu mãi có được Đức Tin son sắt, lòng Cậy vững vàng, lòng Mến sốt sáng trong xã hội nhiều sóng gió này.

Con cháu mong ước gì, nơi ông bà, cha mẹ?

Con cái thường mong ước mẹ cha, ông bà khỏe mạnh sống lâu, vui hưởng tuổi già với đàn con, lũ cháu “Sống vui, sống khỏe, sống có ích”, tiếp tục dạy bảo, tư vấn những vấn đề hệ trọng của gia đình cho con cháu như học tập, lập nghiệp, hôn nhân... Ngoài ra, ông bà cha mẹ sẽ coi sóc nhà cửa và con cháu mỗi khi cha mẹ chúng vắng nhà: “Một mẹ già bằng ba hàng dậu”. Con cháu mong ước nơi ông bà cha mẹ mãi mãi là tấm gương sáng, yêu thương trong việc sống đạo giữa đời thường, cũng như những việc ngoài xã hội.

Con cháu làm gì để mong ước của mình, nơi ông bà, cha mẹ được thể hiện?

Con cháu phải thảo kính mẹ cha, ông bà đã là một chân lý có từ ngàn xưa và còn mãi đến mai sau trên trái đất này. Làm sao có thể kể hết những gương hiếu thảo của con cháu với ông bà, cha mẹ, từ xưa tới nay ở khắp nơi trên thế giới… Trong 10 Điều răn Chúa truyền cho Tổ Phụ Môise trên núi Sinai thì Điều răn thứ 4 Chúa dạy “Thảo kính cha mẹ và những người được Chúa trao quyền để mưu ích cho chúng ta” (câu 505 sách giáo lý hội Thánh Công Giáo của HĐGMVN, UBGLĐT). Để cụ thể hơn sách giáo lý còn cho biết bổn phân của con cháu với ông bà cha mẹ “Con cái có bổn phận hiếu thảo, biết ơn và vâng phục cha mẹ, đồng thời phải trợ giúp các ngài về vật chất cũng như tinh thần, khi còn sống cũng như khi qua đời” (Câu 509 sách giáo lý hội Thánh Công Giáo của HĐGMVN, UBGLĐT). Thảo kính ông bà cha mẹ là nét nhân văn lung linh sắc màu của nhân loại nói chung, và của dân tộc Việt Nam nói riêng, cần được gìn giữ và tô thắm ngày một tốt đẹp hơn. Điều đó hoàn toàn phù hợp với những điều Thiên Chúa truyền dạy ngay trong thời Cựu ước cho Tổ tiên chúng ta. Đẹp biết bao!!!

Một chút cảm nhận và chia sẻ.

Cảm tạ Chúa, gia đình tôi đã có hơn 40 năm sống thuận hòa yêu thương trong mái ấm hạnh phúc gia đình để sống đạo Chúa với ba thế hệ. Trong gần nửa thế kỷ đó có hơn mười năm mái ấm gia đình gồm bốn thế hệ (Ông, cha mẹ, con, cháu). Cảm tạ Chúa muôn vàn, vì Chúa đã soi sáng để mỗi thành viên trong gia đình, đều ý thức góp phần tạo dựng mái ấm gia đình, bằng chính sự tự nguyện từ bỏ ý riêng của mình, biết tôn trọng nhau, biết quảng đại và sẵn sàng thông cảm, tha thứ cho nhau.

Hạnh phúc biết bao, khi mỗi buổi tối cha con ông cháu quây quần quanh căn phòng nhỏ; những chiều thứ sáu, các cháu nội ngoại đòi ngủ trong phòng ông bà, vì thứ bảy các cháu được nghỉ học; những bữa cơm cháu nội cháu ngoại đòi cha mẹ ăn với ông bà tuần một hai lần cho vui; những câu nói: “bữa cơm thiếu ông bà, con thấy mất vui nhiều quá, nên ăn ít và không được nghe những câu chuyện thời sự, ý nghĩa của ông bà kể…” hay “nuôi con mới biết lòng cha mẹ”. Tất cả điều đó đã góp phần tạo nên mái ấm, hạnh phúc gia đình. Ôi! Hạnh phúc biết bao! “Đến muôn đời con cảm tạ ơn Chúa. Và mãi mãi con nhớ công ơn Người”.

Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

TRE GIÀ MĂNG MỌC

Đóa Hoa Vô Thường

 

Trong “Năm phúc âm hóa các gia đình”, khi suy nghĩ về chủ đề “Ông bà và con cháu”, tôi chợt nghĩ đến cụm từ “Tre già măng mọc”. Vì thế khi chia sẻ những điều này, tôi chỉ hi vọng đưa ra một vài gợi ý giúp ta suy nghĩ về hoàn cảnh gia đình mình, và có thể là một cộng đoàn lớn hơn.

  “Tre già măng mọc” là một thành ngữ tiếng Việt. Có nghĩa là: Theo luật đào thải của thời gian, thì mọi vật trên đời này đến một “tuổi” nào đó sẽ tàn tạ, nhường chỗ cho thế hệ kế thừa nối tiếp. Cỏ cây hay con người cũng vậy. Trong bụi tre, cây già sẽ chết khô, nhường chỗ cho cây măng mọc lên thành cây tre mới. Rồi đến một “tuổi thọ” nào đó, cây tre mới lại già nua, chết khô, để nhường chỗ sống cho cây măng thuộc thế hệ sau. Nghĩa bóng câu này cho rằng: Thế hệ cha ông già lão chết, thì thế hệ con cháu sẽ tiếp nối. (Việt Chương, Từ điển Thành ngữ tục ngữ Ca dao Việt Nam, quyển hạ).

Trên diễn đàn vn.answers.yahoo.com, Thuythusaomoc đã chia sẻ một ý kiến khá hay: Câu “Tre già măng mọc” nói về nguyên lý trong vũ trụ, khi mỗi con người đều phải trải qua các trạm “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”. Khi thế hệ tre già dần đi, thì thế hệ măng non sẽ trưởng thành và tiếp nối xây dựng trên các nền tảng công trình thế hệ tre già để lại. Điều cần ghi nhớ là tre và măng luôn mọc gần cạnh nhau. Khi măng còn mềm yếu, là thực phẩm đặc biệt cho các sinh vật, hay còn mảnh mai dễ hư hao trước sức nóng của ánh mặt trời, sức công phá của khí hậu lúc mưa bão, thì đã có tàng tre um tùm gai góc che chở bảo vệ. Hình ảnh tre và măng gắn bó, tựa vào nhau, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, chính là biểu tượng cho tương quan của các thế hệ ông bà và con cháu.

Còn đây là ý kiến của Nhu Pham: Tre già măng mọc là thế hệ đi trước đào tạo thế hệ đi sau, để thế hệ đi sau tiếp bước thế hệ đi trước, để sự nghiệp được trường tồn. Không có người tiếp tục thì sự nghiệp sẽ bị gián đoạn. Nên một khi tre già rồi, thì phải có măng mọc”. Một vấn đề được đặt ra ở đây là: Đành rằng tre già măng mọc, nhưng nếu măng chưa mọc mà tre đã muốn già thì sao? Ai sẽ gánh vác trọng trách? Một ý kiến cho rằng: Nếu măng chưa mọc mà tre đã muốn già, thì măng phải phát triển nhanh lên, để còn gánh vác trọng trách. Chỉ có cách này thôi. Nếu không thì trước khi tre già, phải thuê tre nhà khác sau này chăm sóc măng nhà mình. Mà phải "chọn mặt gửi vàng" cho cẩn trọng. Nếu không, "giao trứng cho ác" thì khổ vô cùng. Một bạn tên Vinh cho ý kiến: Tre già thì đương nhiên sẽ có măng! Tre già mà không có măng, thì đó chỉ là tre bệnh. Nên trồng bụi khác, hoặc kiếm măng ở bụi khác để gánh trọng trách cho bụi này!! Cuối cùng bạn Tieu nói: Sự sống trên trái đất hoàn toàn phụ thuộc vào sự chọn lọc tự nhiên. Khi măng chưa mọc mà tre đã muốn già, thì chắc chắn sẽ có một thành phần nào đó đứng lên gánh vác. Có thể là các tre sẽ cố gắng gánh vác thêm một thời gian ngắn nữa. Nếu không, thì bụi tre đó sẽ tàn lụi. Đó là điều chắc chắn trong tự nhiên.

Những ý kiến trên đây có thể gợi lên cho chúng ta nhiều suy nghĩ trong nhiều lãnh vực. Tuy nhiên có một điều người viết trăn trở, đó là về hoàn cảnh của nhiều gia đình, và có thể là của một cộng đoàn lớn hơn: Tre già rồi mà sao măng chưa mọc?

Rất có thể măng chưa mọc, vì thiếu tre giống tốt. Hay nói theo Thư Chung năm 2013 của HĐGMVN, thì sở dĩ măng chưa mọc, vì thiếu sự hoán cải chính mình: “Mục tiêu của Phúc-Âm-hóa là dẫn mọi người vào cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, trong Thánh Thần. Nhờ đó gặp gỡ Thiên Chúa Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta, và để đời sống mình được biến đổi theo tinh thần Phúc Âm. Như thế, trước hết chính bản thân mình phải được Phúc-Âm-hóa, phải củng cố và làm mới lại đức tin của mình, rồi mới có thể giúp những anh chị em đã xa rời đức tin tái khám phá vẻ đẹp và ánh sáng đức tin. Ngày nay, khi một số người chỉ còn là Kitô hữu trên danh nghĩa, thì chúng ta hãy sống cho đúng với ơn gọi Kitô hữu của mình trong niềm vui, hãy chiếu tỏa sức hấp dẫn của Tin Mừng cho những người chung quanh (Thư Chung 2013, số 3). Phúc-âm-hóa chính mình, để mình trở nên tre giống tốt. Khi đó ta mới có hy vọng sinh ra lớp măng tốt.

Rất có thể măng chưa mọc, vì thiếu định hướng tông đồ. Thế hệ trẻ hôm nay rất năng động và thích đổi mới. Điều đó có thể đúng. Nhưng “Tân Phúc-Âm-hóa” không phải là rao giảng một Phúc Âm mới, vì “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8). Cái mới ở đây là “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả” (Thư Chung 2013, số 4). Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp, để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm. Nếu thiếu định hướng tông đồ, thì ai dám chắc lớp măng kế thừa sẽ mọc lên vững mạnh trong cơn bão toàn cầu hóa hôm nay.

Rất có thể măng chưa mọc, vì thiếu bầu khí đào tạo. Hay nói theo Thư Chung năm 2013 của HĐGMVN, thì sở dĩ măng chưa mọc, vì thiếu sự hoán cải mục vụ. Thực vậy, “công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa đòi phải thực hiện việc hoán cải, tức sự biến đổi từ trong tâm thức đến định hướng và phương pháp mục vụ. Từ kinh nghiệm của các nước đã có nhiều Kitô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ này, thì trong tương lai không xa, Hội thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào tình trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới” (Thư Chung 2013, số 4). Ngày nay, dù muốn hay không, với mức độ nhiều hay ít, đức tin của anh chị em chúng ta đang bị thử thách và chao đảo. Nhiều bạn trẻ, lớp măng kế thừa, mà lại sống như thể không có Thiên Chúa trong đời sống tâm linh của họ. Nhiều người chỉ sống theo cảm tính, nên dễ tin vào những điều hời hợt hàm hồ, vì họ thiếu hiểu biết giáo lý cách chuẩn xác!

Chúng ta biết đức tin là một hồng ân Chúa ban, tuy nhiên điều quan trọng là ta phải sống đức tin một cách cụ thể, qua tình thương, sự hòa thuận, niềm vui và cả những đau khổ bách hại. Nếu hôm nay lớp tre già không canh tân mục vụ, thì sớm muộn gì lớp măng non kia cũng sẽ bị thui chột, bị bệnh, và bụi tre có nguy cơ tàn lụi. Vì thế, Mùa Chay năm nay là cơ hội thuận tiện, để lớp tre già và măng non cùng nhau hồi tâm, định hướng và canh tân chính mình dưới ánh sáng Lời Chúa. Ước gì cả thế hệ tre già và lớp măng non luôn chung sống hài hòa, liên kết chặt chẽ với nhau trong tinh thần đồng trách nhiệm vì sứ vụ. Hy vọng cộng đoàn chúng ta luôn có những lớp kế thừa vững mạnh, noi gương các bậc cha ông. “Tre già măng mọc”.

 

TÂM HỒN THAO THỨC

Dịp họp mặt vừa qua của anh em chủng sinh đang đi gúp năm, trước khi vào chương trình, Cha Tổng Đại Diện dẫn chúng tôi qua chào Đức Cha Gioan. Thấy chúng tôi, ngài vui vẻ hỏi thăm. Cha TĐD giới thiệu đây là mấy anh em đang đi giúp năm, hôm nay về đây để tĩnh tâm học hỏi một chút. Nghe xong ngài cười và nói: “Lâu lâu quy tụ về đây xem có đứa nào bỏ đạo chưa?” Câu nói của ngài vừa mang tính hài hước, nhưng cũng hàm chứa lời nhắn nhủ anh em chúng tôi về hình ảnh và vai trò của người tông đồ trên đường truyền giáo, để làm chứng cho Đức Kitô mà chúng tôi đang bước theo Ngài. Đây không phải là vấn đề quan tâm của riêng ai, nhưng là của mọi người chúng ta, nhất là những tông đồ đang theo đuổi ơn gọi tận hiến. Đó là vấn đề giữ đạo và sống đạo của người kitô hữu ngày nay.

Quay trở lại quá khứ cách đây không lâu, bạn và tôi vẫn còn nhớ mang máng hình ảnh và cách giữ và sống đạo của ông bà ta. Tuy ông bà ta không biết chữ nhiều, nhưng các ngài thuộc lòng các kinh của Giáo Hội, từ kinh ông thánh này bà nọ, đến các kinh mà thời nay bạn và tôi ít được nghe. Thế nhưng, việc giữ đạo và sống đạo của ông bà ta ngày xưa không ai chê được. Chỉ với những lời kinh mà hạt giống đức tin vẫn trổ sinh hoa trái. Tôi thấy ông bà ngày xưa đi đâu cũng cầm tràng hạt mân côi, vừa đi vừa nhóp nhép đọc kinh lần chuỗi. Các ngài đã sống, đã giữ đạo cho bản thân và còn dạy lại cho con cháu. Nếp sống đó được khắc sâu và in đậm trong tâm hồn và gia đình qua những giờ kinh chung buổi tối, qua những thánh lễ từ sáng sớm. Do những thói quen tốt này mà hình ảnh người kitô hữu là ông bà ta đã sống và làm chứng cho Chúa có hiệu quả.

Trở lại hiện tại, bạn và tôi thấy thế nào với lời của Đức Cha Gioan nói: có đứa nào bỏ đạo chưa? Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay, thì vấn đề đạo nghĩa bị coi thường đến mức báo động. Xem qua kết quả thống kê người công giáo tại Việt Nam nói chung và tại Long Xuyên nói riêng thì chưa là bao nhiêu (theo thống kê năm 2010 là 6,9%). Không biết bạn và tôi có làm cho người khác theo đạo để rồi giữ và sống đạo, hay bạn và tôi lại trở thành rào cản cho người khác đến với Chúa, rồi kết quả bạn và tôi lại làm cho người khác bỏ đạo, bỏ nhà thờ và bỏ luôn cả Chúa. Để rồi bạn và tôi phải hối hận mà sống xa Chúa. Trong môi trường gia đình hiện nay, bạn và tôi ít thấy gia đình nào sống chung từ ba thế hệ trở lên. Vợ chồng mới cưới ít khi nào chịu sống chung với ông bà cha mẹ, họ thích sống độc lập để được tự do. Từ lý do muốn sống tự do nên đôi vợ chồng trẻ ít nhận được những lời chỉ bảo, những kinh nghiệm sống, và rồi gia đình trẻ dễ đi đến sự xích mích, xáo trộn trong gia đình, sự đổ vỡ, và kết quả là ra tòa li dị.

Đức tin phải được ươm trồng ngay từ môi trường gia đình, nơi ông bà cha mẹ bạn và tôi. Ông bà ta đã sống như thế nào thì đến thế hệ sau cũng hãy noi gương bắt chước để sống như vậy. Nhất là nơi các vị anh hùng tử đạo của Giáo Hội Việt Nam chúng ta. Bạn và tôi hãy đi và làm cho nhiều người nhận biết Chúa, biết giáo lý của Người, biết Tin mừng của Người qua cung cách sống của bạn và tôi .Nhất là trong năm gia đình này, từ những giây phút bên nhau trong giờ kinh tối, những bữa cơm thân tình, những lời thăm hỏi, chia sẻ, học hỏi từ những kinh nghiệm sống đạo và nhân cách làm người của ông bà ta. Từ đó bạn và tôi trở thành những kitô hữu nhiệt thành, những tông đồ nhiệt huyết và những mục tử nhiệt tâm của Đức Kitô. Qua đó bạn và tôi làm cho nhiều người nghe, tin, giữ và sống đạo như Chúa và Giáo hội muốn.

Vs. Lê Đình

GIÁO LUẬT

 

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC

 

Vợ của con đã chết và để lại hai đứa con còn nhỏ. Để dễ bề chăm sóc cho con cái, con muốn đi thêm bước nữa với cô em vợ còn độc thân. Vậy theo luật của Giáo Hội, con có phải xin phép chuẩn hay không?

 

Trả lời

 

Trong Bộ Giáo luật hiện hành, Giáo Hội đã quy định về ngăn trở họ kết bạn phát sinh do hôn nhân như sau:

“Những người có họ kết bạn ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc kết hôn với nhau bất thành” (Điều 1092).

Như vậy, phạm vi mắc ngăn trở họ kết bạn chỉ nằm trong trực hệ (thuộc hàng dọc), tất cả mọi bậc đi lên hay đi xuống với người phối ngẫu  của mình.

Vậy, một người góa vợ không thể kết hôn với bà (nội/ngoại), mẹ, con gái, cháu gái (nội/ngoại) của người vợ đã quá cố.

Còn trong bàng hệ (thuộc hàng ngang), không có ngăn trở. Do đó, anh có thể kết hôn với chị/em của người vợ đã qua đời không cần phép chuẩn.

 

GIÁO DỤC

 

ĐỔI MỚI

Thế giới hôm nay khao khát đổi mới. Mọi lãnh vực của đời sống đều mong muốn một luồng gió mới thổi tới đem lại sự tươi trẻ, sức sống và nguồn năng động mới. Tuy nhiên, người ta lại thấy có quá nhiều lời hô hào và quá nhiều lập trường khác nhau đến nỗi không ai còn biết phải bắt đầu đổi mới từ đâu. Người Kitô hữu chúng ta biết việc đổi mới phải bắt đầu từ đâu, phải thực hiện cách nào, và phải nhờ ai. Chính thánh Phaolô đã dạy chúng ta những điều đó: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22-24). Đổi mới tâm hồn mang một ý nghĩa rất hệ trọng trong Mùa Chay, chúng  ta cùng nhau tìm hiểu thêm.

1. Loại bỏ con người cũ

Việc đổi mới phải bắt đầu từ chính bản thân chúng ta. Đây là điều căn bản và quan trọng nhất, vì nếu ngoại cảnh có thay đổi mà con người chúng ta không biến đổi thì điều đó không có giá trị gì cả. Đổi mới một cộng đoàn hay canh tân đời sống gia đình phải bắt đầu từ mỗi cá nhân. Chính vì thế, thánh Phaolô đã dùng hình ảnh cởi bỏ một tấm áo cũ kĩ để nói về việc từ bỏ một nếp sống tội lỗi. Tấm áo ta mặc bấy lâu vốn là con người bên ngoài của ta, từng gắn bó với ta trong cuộc sống, nhưng nay đã cũ, đã sờn rách vì năm tháng, cần phải thay để có chiếc áo mới. Tấm áo cũ đó chính là con người tội lỗi của ta, cần phải loại bỏ đi để mặc lấy áo mới là ơn sủng và tình yêu của Chúa (Lc 15,22). Nhưng nếu cởi bỏ tấm áo cũ chỉ là bỏ đi một chút tình cảm thoáng qua, thì từ bỏ một lối sống đã trở thành những nếp gấp cố hữu, lại là một sự hi sinh lớn lao, đòi hỏi sự quyết tâm cao độ. Sự hi sinh đó, ở một chỗ khác, thánh Phaolô nói tới như là hành vi “chết đi cho tội lỗi” (Rm 6,11). Chúng ta thử tưởng tượng cách hành quyết một tội nhân thời đế quốc Rôma. Kẻ tử tội bị đóng đinh vào một cây thập giá, hai tay dang rộng, hai chân xuôi theo chiều dài của thân xác. Thập giá được chôn chặt xuống trên một ngọn đồi cao để cho mọi người đi qua có thể nhìn thấy. Nhiều giờ trên thập giá, tội nhân bị bỏ đói và chết khát, họ cảm thấy đau đớn khủng khiếp. Sự chết từ từ xâm nhập vào thân xác tàn tạ ấy cho đến khi nó hoàn toàn hủy diệt sự sống của kẻ xấu số. Những ngày sau đó, thân xác bị phân hủy làm mồi cho chim muông và dã thú. Cuối cùng thì không còn gì cả. Có lẽ thánh Phaolô đã nghĩ đến cảnh tượng ấy khi ngài nói đến việc chết đi cho tội lỗi: đó là một chọn lựa quyết liệt cho một từ bỏ triệt để.

2- Đổi mới tâm trí

Công trình đổi mới này do Chúa Thánh Thần thực hiện. Ngài là nguyên lí của mọi sự canh tân và đổi mới. Chúng ta có thể liên tưởng tới thị kiến của Êdêkien về các bộ xương khô trong Ed 37,1-28. Tự nó, các bộ xương khô chỉ là những hài cốt đã mục rữa, nhưng nhờ thần khí, những bộ xương này đã được hồi sinh thành những con người. Vì thế, tự sức riêng không thể thực hiện việc canh tân thiêng liêng, mà cần phải có ơn Chúa giúp. Đổi mới không phải chỉ là một sự thay quần đổi áo bên ngoài, mà là đổi mới một con người toàn diện. Trong thực tế, những tù nhân sau khi đã bỏ lại y phục nhà tù và mặc lại quần áo bình thường khác, có khi đã tái phạm nhiều tội ác nặng hơn. Do đó, công trình đổi mới một con người, từ suy nghĩ đến hành vi và nếp sống, trước hết là một hồng ân của Chúa Thánh Thần. Sách Giáo lí cho  chúng ta điều đó: “Khi chữa lành các vết thương của tội lỗi, Chúa Thánh Thần canh tân nội tâm chúng ta bằng sự biến đổi thiêng liêng, Ngài soi sáng chúng ta và củng cố để với tư cách là “con cái ánh sáng” (Ep 5,8), chúng ta sống “lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5,9) (GLHTCG 1695). Chúa Thánh Thần canh tân đổi mới tâm trí chúng ta, nghĩa là chỉnh sửa lại nếp suy nghĩ của chúng ta, vốn đã bị tê liệt trong ơn thánh, vốn luôn hướng chiều về điều xấu, để đưa nó về lại một đời sống lương thiện, tốt đẹp. Đổi mới tâm trí là đưa chúng ta đi vào một đời sống khác với thế giới đang tồn tại, một thế giới mà những thang bậc giá trị của nó nghịch với giá trị của Tin Mừng. Đó là một hành trình bắt đầu từ trong tâm trí. Khi tâm trí chúng ta được Thần Khí “cài đặt” để hướng tới điều thiện hảo thì đời sống của chúng ta cũng “vận hành” theo lộ trình mới. Đích thực, đó là một nỗ lực đảo chiều: nếu tâm trí người có tội đưa họ xa rời Thiên Chúa và đi sâu vào con đường tội lỗi, thì tâm hồn của người được cứu chuộc đưa họ đến gần Chúa, tiến sâu vào đời sống thánh thiện. Và như thế, chúng ta phải nỗ lực hằng ngày để hoàn thiện điều thánh Phaolô nhắc nhở: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).

3- Mặc lấy con người mới

Đã cởi bỏ cái áo cũ thì không còn “lếch thếch nón mê áo rách” nữa, mà phải mặc lấy tấm áo mới. Khi người con hoang đàng trở về với cha mình, thì điều vinh hạnh đầu tiên người cha dành cho anh, là thay cho anh tấm áo mới và đẹp nhất (Lc 15,22), điều đó có nghĩa là cuộc đời anh đã biến đổi hoàn toàn. Khi ông Êlisa được kêu gọi để trở thành môn đệ của tiên tri Êlia thì hành vi ông biểu tỏ sự chấp thuận là nhận lấy tấm áo mà ông Êlia gửi tới (1 V 19,19). Như vậy, tấm áo trong bối cảnh Kinh Thánh không còn phải là áo xống bình thường nữa, mà nói đến một cuộc đời mới và một tương lai mới. Các động từ “cởi bỏ, mặc lấy” mà thánh Phaolô sử dụng rất hình tượng, cũng cho thấy đó là một sự thay đổi trọn vẹn. Chúa cứu chuộc chúng ta là đưa chúng ta vào đời sống mới là chính sự sống của Thiên Chúa, một cuộc sống hoàn toàn khác trước. Đó không phải là thêm vào cái gì đã có mà đích thực là một công trình sáng tạo mới: “được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa”. Khi ông Ađam và Evà phạm tội thì họ làm cho hình ảnh Thiên Chúa nơi họ bị biến dạng, và họ hành động nghịch lại ý muốn của Thiên Chúa. Còn khi Chúa tái tạo chúng ta theo hình ảnh của Ngài thì chúng ta “trở thành thụ tạo mới, cái cũ đã qua đi, cái mới đã bắt đầu” (2 Cr 5,17). Thụ tạo mới yêu mến Chúa, yêu những gì thuộc về Chúa. Họ luôn hướng về Chúa và khao khát phục vụ Ngài; họ được Chúa ban sức mạnh và ơn sủng để sống và hành động theo thánh ý Chúa, và để tôn vinh Ngài. Thánh Phêrô đã cảm nhận một cách sâu xa hồng ân tái tạo của Chúa, nên ngài đã tha thiết khuyên nhủ các tín hữu: “Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian” (2 Pr 1,4).

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay thánh, là mùa hồng ân và đổi mới thiêng liêng. Tác giả Alan Deutschman viết cuốn sách “Đổi mới hay là chết” (Change or Die, 2006). Ông đã tìm hiểu và ghi nhận rằng có đến 9/10 người vẫn không sẵn sàng thay đổi cho dẫu số phận cuối cùng của họ bắt phải thay đổi. Nhiều người dựa vào đề tài của sách này để nói đến đòi hỏi cấp bách của việc đổi mới. Họ nói, đổi mới là mệnh lệnh của thế giới hôm nay. Còn Chúa thì nói với chúng ta: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năm sám hối và được sống” (Ed 33,11).

Trung Kiên

 

KHỦNG HOẢNG ĐỨC TIN

 

Đời sống đức tin hiện nay tại nhiều nơi đang lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Vậy đâu là những nguyên nhân làm phát sinh ra tình trạng kể trên?

Thiếu sự giáo dục về đức tin

Thiếu sự giáo dục đức tin ngay từ ban đầu trong gia đình. Cha mẹ là thầy dạy đức tin cho con cái. Gia đình chính là môi trường đầu tiên mà chúng ta được tiếp xúc với đức tin. Chính nơi gia đình, chúng ta đón nhận những hạt giống đức tin đầu tiên. Tuy nhiên, ngày nay vì nhiều lý do khác nhau, các bậc cha mẹ chúng ta đã lơ là thậm chí gạt bỏ trách nhiệm này. Đây là một thiếu sót rất lớn và gây nên một lỗ hổng cho nền tảng đức tin ban đầu của con cái. Thậm chí ngay cả các vị hữu trách cũng chưa có sự quan tâm đúng và đủ trong việc giáo dục đức tin cho thế hệ trẻ. Ngoài ra, một số bậc làm cha làm mẹ còn có quan niệm hết sức nguy hiểm trong việc sống đức tin, là chỉ cần thuộc và đọc một số kinh đơn giản, tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật cách chiếu lệ là đủ, là hợp pháp, là không áy náy lương tâm.

Thiếu sự phản tỉnh

Phản tỉnh là một đặc tính chỉ có ở con người. Nhờ có sự phản tỉnh con người có thể “ra khỏi chính mình” để nhìn lại chính mình. Từ đó sẽ có những điều chỉnh hay định hướng cho thích hợp trong cuộc sống. Tuy nhiên, hiện nay nếp sống đô thị vội vàng, hối hả, dễ đẩy chúng ta xa Chúa, quên Chúa và chẳng còn tìm gặp được chính mình và anh em. Chúng ta sống nhưng sống như một hữu thể khác, chẳng còn khả năng phản tỉnh để nhìn lại chính mình.

Thiếu sự thinh lặng và cầu nguyện

Sống giữa những xao động của cuộc sống hiện nay, chúng ta luôn bị nhiễu bởi biết bao là tạp âm hỗn độn cùng những tiếng ồn; chúng là những vật cản gây ách tắc con đường thiêng liêng nối ta với Thiên Chúa. Ách tắc bởi trong chúng ta còn quá nhiều những toan tính cho công việc, dự định cho bản thân, nên chúng ta không còn giờ nghĩ đến Chúa và không thể nghe được tiếng Chúa. Từ đó chúng ta dễ dàng rơi vào thái độ “hờ hững” với đức tin, không cảm nghiệm được niềm vui thực sự mà đức tin mang lại.

Nhiều ý thức hệ khác nhau trong xã hội

Sống trong một xã hội với nhiều ý thức hệ khác nhau cũng là một cản trở cho đức tin của người Kitô hữu. Đặc biệt là ý thức hệ duy vật và hưởng thụ. Con người xem mình là trung tâm của vũ trụ, đề cao chủ nghĩa cá nhân. Tự cho mình quyền quyết định tất cả ngay cả mạng sống của chính mình nữa (tự tử, phá thai). Ngoài ra một môi trường xã hội không tôn giáo cũng cổ vũ cho tục hóa. Không tôn giáo nơi công cộng, học đường, công viên. Chủ nghĩa tương đối, trên cuộc đời này không có gì là tuyệt đối và do đó gián tiếp phủ nhận sự hiện diện của Đấng Thánh.

Không phải gặp khó khăn trong việc tin và sống đức tin làm ta thất vọng, chán nản và chạy trốn nhưng chúng ta phải đối diện với nó và xem nó như là một cơ hội để chúng ta sống và làm chứng cho niềm tin của mình. Một niềm tin chân chính và chân thật. Chúng ta cần phải nhìn những khó khăn ấy như những không gian mới cho việc sống đức tin. Qua đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, mỗi Kitô hữu sẽ là một tấm gương, một hạt mầm, một nắm men gieo vào lòng xã hội để sống và làm chứng cho những giá trị Tin Mừng trong chính những bối cảnh khó khăn của cuộc sống hôm nay.

FELICITAS

SUY TƯ VỀ CUỘC SỐNG

Ostrovsky nói: “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”.

Đã khi nào ta dừng lại để nghĩ về cuộc đơi mình chưa? Mỗi một đời người hẳn sẽ phải trải qua biết bao thăng trầm, lo toan, phiền muộn. Cuộc sống cứ trôi đi cuồn cuộn như một cơn lũ, làm cho cuộc sống của ta xoay chuyển liên tục, vẫn cứ tất bật, chạy theo một điều gì đó, rồi chợt thấy sau lưng chẳng có gì cả!

Thử hỏi rằng có mấy người thấy được giá trị của một cuộc sống bình thường hay một việc làm thật đơn giản? Hầu như mỗi người chúng ta, chẳng ai có thể hài lòng về cuộc sống của mình, nhưng chúng ta cần phải biết tự cân bằng trong cuộc sống, đừng bao giờ để mình rơi vào tình trạng bế tắc trầm trọng, không có đường ra. Hãy tìm cho mình một lối thoát dù con đường đó đầy rẫy chông gai, trắc trở. Hãy vững tâm và tin rằng, còn có biết bao nhiêu điều tốt đẹp chờ đón ta phía trước. Đã là một cuộc đời thì chúng ta đều phải sống hết trọn kiếp người.

Không ai có thể chọn cho mình một nơi sinh ra nhưng chúng ta có quyền chọn cho mình một mục đích sống. Vậy tại sao ta không chọn một cuộc sống mang nhiều ý nghĩa để không hổ thẹn với lương tâm, tự hào nhìn cuộc đời bằng ánh mắt đầy hy vọng và để hướng đến sự hoàn thiện, hãy sống làm sao để trước khi ta chết đi, ta không phải hối hận về những gì ta đã làm hay hối hận về điều gì chưa làm.

Hãy sống làm sao để khi ta vấp ngã, bên cạnh ta luôn có ngay một bàn tay nâng đỡ và cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc đời thông qua những lời nói, hành động. Những lời nói dịu dàng, ánh mắt ấm áp, cử chỉ cảm thông có thể không đủ để xoá hết, nhưng sẽ xoa dịu phần nào những nỗi đau hay giải gỡ những vướng mắc mà ta đang gặp phải. Không cho phép bản thân mình chấp nhận hay buông xuôi theo những khó khăn của cuộc đời mang đến. Phải biết nhận thức rằng mình là ai, đang làm gì, đang hướng đến cái gì và quan trọng là phải có một điểm dừng. Dừng lại đúng lúc sẽ giữ được nhiều thứ. Dừng lại một lời nói không hay để giữ lại những giá trị cao đẹp của chính mình. Dừng lại những ham muốn để có được một đời sống thanh thản.

Hãy sống ngay thẳng, không hối hận hay nuối tiếc về bất cứ điều gì, đừng để khi quay đầu nhìn lại, ta luôn nói rằng “giá như ta đừng làm như thế”. Biết rằng sống không hề đơn giản, nhưng ta hãy cố gắng vì lời nói ra thì rất dễ nhưng thực hiện thì rất khó. Và hãy sống với một tâm hồn trong sáng, luôn hướng đến những mục đích tốt đẹp. Sống vì và cho mọi người xung quanh, lấy niềm vui của mọi người làm niềm vui của chính mình thì cuộc đời này sẽ luôn hạnh phúc vui tươi, mãi mãi là một màu xanh hy vọng.

                                                            Tôi Tớ Hèn Mọn

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

LỜI RU ĐÊM

             Đó chắc là một trong vài ba căn nhà lá vách đất cuối cùng của giáo xứ Bắc Xuyên này. Đã có đường, có điện. Ánh đèn điện đường đỏ quạch, tù mù trong sương đêm. Nhưng căn nhà chìm trong bóng tối đen đặc. Im lặng. Lắng nghe, chỉ có tiếng gậm nhấm cọt kẹt đâu đó của lũ mối mọt, tiếng võng đưa, tiếng tích tắc kiên nhẫn, khắc nghiệt đếm giây của chiếc đồng hồ điện tử treo tường. Lâu lâu, con thạch sùng tặc lưỡi. Rồi có tiếng đàn ông, chắc là đã già rồi:

- Bà có biết không? Căn nhà này làm đi làm lại mấy lần rồi mà hai cây cột cái vẫn còn. Đó là hai cây cột tràm chính phủ phát từ thời di cư đấy.

            Có tiếng đàn bà không còn trẻ trung gì:

            - Biết rồi. Ông nhắc đi nhắc lại cả trăm lần rồi. Nói đi nói lại không chán hay sao?

- Tôi mau quên quá. Già rồi, lẩn thẩn rồi.

           - Ế lèo ơi! Ông cũng biết mình già rồi cơ à? Mới ngoài bảy mươi chứ mấy. “Cưa sừng làm nghé” vẫn còn trẻ chán.

            “Ế lèo ơi!” là một cụm từ hô thán hình như không có trong từ điển tiếng Việt, nhưng lại là tiếng nói cửa miệng của người làng Nghĩa Mỹ này. Những cô gái Nghĩa Mỹ khi nói: “Ế lèo ơi!”, thế nào môi cũng bĩu ra, vừa thân tình, vừa có một chút mỉa mai, pha trộn một chút bông đùa, dễ thương đến lạ lùng. Ông nhớ tới cái bĩu môi thời thanh xuân của bà. Ông muốn được một lần nhìn lại: 

            - Bà bật đèn lên được không?

            - Nửa đêm rồi! Ngủ đi, ngủ đi! Tôi buồn ngủ rồi. Từ ngày mổ thủy tinh thể, chỉ một chút ánh sáng thôi, là tôi không chợp mắt được, ông không nhớ hay sao?

            - Nhớ, nhớ chứ! Bà sợ ánh sáng là phải. Ánh sáng làm chói mắt. Còn bóng tối làm không gian hẹp lại, khoảng cách được thu ngắn, khiến người ta cần đến nhau hơn, dễ gần gũi nhau hơn, nỗi cô đơn không còn thênh thang quá.

            - Ế lèo ơi! Già rồi, có cháu gọi bằng cụ rồi mà không biết xấu hổ. Cô với đơn…

            - Tôi khó ngủ quá! Lứa tuổi như bà với tôi chẳng còn mấy người. Anh An, anh Bình chết trận dưới Chương Thiện. Anh Trần, anh Thế chết ở An Lộc cùng với thằng Cả nhà mình… Chiến tranh! Chỉ nhớ lại thôi đã rùng mình. Ngày ấy, chả mấy ngày là không có một chiếc xe camion ghé đầu kênh, trên đó, một chiếc quan tài phủ cờ, lại còn anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, mới bi hài làm sao! Công bằng mà nói, biến cố 30 tháng 4 đã tránh cho bao nhiêu gia đình cảnh con mất cha, vợ mất chồng, nhỉ, bà nhỉ? Bà còn nghe không vậy?

            - Tôi đang nghe đây.

            - Vèo một cái, lên ông lên bà từ lúc nào mình chẳng để ý. Đi đâu có đám xá, mình không còn phải gọi ai là bề trên nữa. Cả làng chỉ còn hai cụ bậc cha mẹ thì đều liệt chiếu liệt giường, còn lại chỉ toàn anh chị em con cháu… À! Bà còn nhớ ngày đám cưới bà với tôi không nhỉ? Bà quên rồi à? Thế mà tôi vẫn nhớ đấy. Hơn nửa thế kỷ rồi còn gì. Năm ấy bà mười sáu, tôi mười tám. Đúng là hai đứa trẻ, miệng còn hơi sữa, bày đặt chơi trò vợ chồng. Ngày ấy, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Cưới rồi mà còn chưa dám mà cũng chẳng biết nói với người nhau câu gì. Ấy vậy mà có sao đâu? Đúng là thời “Trời sinh voi sinh cỏ”, các anh chồng, các chị vợ ngày ấy được chúc phúc trong lễ cưới: “đông con nhiều cháu, sống đến ba, bốn đời”. Có mấy cái tã, đứa trước dùng, đứa sau dùng, đến đứa thứ tám vẫn còn.

            Bà vội cướp lời, như sợ ông nói hết phần của bà:

            - Sữa thì em bú chị, cháu bú bà, đứa nào may lắm thì được hộp sữa bò hiệu con chim. Ế lèo ơi! Lớn lên một tí thì cho ăn dặm bằng cơm mớm. Mẹ về chợ, các con chí chóe tranh nhau củ khoai lang luộc, hay quả dưa chuột, hay đẵn mía, miếng bánh đúc, bánh đa.

            - Chẳng bù cho lũ trẻ ngày nay. Dỗ dành cho chúng ăn vất vả hơn đi cày ba công ruộng, gánh ba công lúa nàng tây chùm, gánh hai trăm gánh nước tưới thuốc lào. Nhưng tôi đang nói về đám cưới của bà và tôi cơ mà. Ối giời ơi! Nhẫn cưới thì đi mượn, áo cưới cũng mượn; đám cưới thì toàn thịt chó, đủ các món lòng, luộc, rựa mận, cả món xương hầm củ chuối nữa. Bàn ghế, nồi niêu, chén bát, đến con dao, cái thớt cũng phải đi mượn khắp làng.

            Bà nói như trách móc, nhưng cam chịu:

            - Ông vẫn nhớ nhỉ? Nhưng ông có nhớ hôm ấy, tôi phải một mình rửa bát đến nửa đêm không? Nghĩ lại mà sợ lấy chồng.

            - Sợ lấy chồng nên có tám mặt con đấy. Nếu không sợ thì không biết ra sao nữa. Tám đứa con, còn năm. Một đứa chết trong chiến tranh, một đứa nghe bạn bè rủ rê vượt biên chôn xác trong bụng cá, một đứa bị xe đụng chết tươi. Con chết trước cha, trước mẹ, nước mắt chảy ngược. Ôi! Lạy Chúa! Đau đớn quá! Giá mà Chúa để cho bà và tôi chết thay cho chúng nó được, tôi bằng lòng ngay.

            - Ông lại ăn nói lung tung rồi. Mọi ngày ông vẫn bảo tôi: “Đừng kể chi tiền tài danh vọng là những vật ngoại thân, đến như tính mệnh của một con người, Chúa cũng chỉ cho mượn thôi. Ngài ban cho, Ngài đòi lại. Cuộc sinh tử nằm trong tay Chúa”, ông quên rồi sao? Câu “Phù sinh nhược mộng” ông dạy tôi, tôi nghiệm ra càng ngày càng đúng. Lại còn cái câu ông thường nói lè nhè trên chiếu rượu: “Xử thế nhược đại mộng, hồ vi lao kỳ sinh” nữa. Thôi, ông ạ! Quên đi, buông bỏ hết đi, suy nghĩ làm chi cho mệt. Cứ phó thác hết cho Chúa, rồi thì xin vâng. Còn bây giờ khuya rồi, ngủ đi, ngủ đi.

            - Bà ngủ trước đi. Nhưng tôi đố bà, nhà mình có bao nhiêu đứa cháu nội ngoại? Đố bà kể được tên từng đứa.

            - Ế lèo ơi! Ông thách nhà giàu húp tương đấy à? Tên thì không nhớ hết được, nhưng có bao đứa thì tôi nhớ. Để tôi bấm đốt ngón tay. Hai mươi sáu hay hai mươi bảy gì đấy, phải không?

            - Sai. Có hai mươi lăm thôi. Năm đứa con, năm dâu rể, tất cả ba mươi lăm người con cháu, vậy mà ở quê chỉ có hai ông bà già lủi thủi vào ra. Ngày tết, chúng nó về đông đủ, đúng là vui như tết. Nhưng được vài ngày, chúng nó đi sạch. Vắng, buồn không chịu nổi, thà đừng có tết lại hơn.

            - Thế thì ông đi thành phố ở với chúng nó. Đứa nào cũng muốn rước ông lên đấy.

            - Tôi đi thì để bà lại cho ai? Với lại tôi không muốn làm con cháu khổ thêm. Chúng nó quá tất bật vật lộn với cuộc sống, với cơm áo gạo tiền, lại còn phải cung phụng một ông già xấu tính xấu nết nữa hay sao? Nói cho cùng, tôi đi, đã không giúp được gì mà còn làm phiền chúng nó. Vấn đề còn ở chỗ: Không phải ai phục vụ tôi mà là tôi có phục vụ ai không? Có phải không? Chi bằng tôi cứ ở nhà, biết đâu giúp được gì cho người yêu đầu đời cũng là người tình trăm năm chăng?

            - Ế lèo ơi! Khiếp quá! Đầu bạc răng long rồi mà còn yêu với thương, tình đầu với tình đuôi. Khiếp quá, khiếp quá!

            - Bà cười chế nhạo tôi phải không?

            - Cười một tí thì đã sao? Quái lạ! Hôm nay làm sao ấy, tôi buồn ngủ lắm rồi, mắt cay xè mà không sao ngủ được.

            - Trong người tôi, hôm nay, không một giọt cà-phê cũng không một giọt trà nào, cũng không ngủ trưa, mà sao đến giờ vẫn chẳng buồn ngủ gì cả. Hay là bà và tôi đọc một chục kinh cầu cho chúng nó.

            - Tôi mệt  lắm rồi, không ngồi lên được.

            - Thì nằm. Nằm đọc kinh cũng được.

            Đọc được đến nửa chục kinh thì giọng bà kéo dài, rời ra, đứt quãng rồi thay bằng tiếng ngáy phò phò. Ông để yên cho tấm thân còm cõi của bà được mãn nguyện với giấc ngủ yên hàn. Ông gắng đọc hết một chục kinh. Ông nhớ tới Thánh cả Giu-se, vị Thánh bổn mệnh của ông. Ông âm thầm cầu xin điều ông hằng cầu xin: “Xin Chúa ban ơn bình an và xin đừng để ai trong chúng nó bị hư mất”. Rồi ông làm dấu Thánh giá, đặt mình nằm xuống.

            Tiếng ngáy phò phò đều đều của bà, tiếng tắc lưỡi đếm nhịp của mấy con thạch sùng, tiếng gậm nhấm cọt kẹt của lũ mối mọt, tiếng võng đưa, tiếng tích tắc kiên nhẫn khắc nghiệt đếm giây của chiếc đồng hồ điện tử treo tường hòa quyện với nhau chầm chậm, uể oải, dằng dặc như một điệp khúc vô tận, một lời ru mênh mông, cho đêm ngủ an lành. Ông chép miệng:

            - Ru đêm hay ru đời? Ru người hay ru ta, hả bà, bà có biết không?

             Thân Thị Vô Dụng

 

 

 

TÌNH LÀ DÂY THUN

Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Trong một bài ngắn trên báo “Tuổi trẻ cười”, Tigôn đã chia tình yêu thành hai giai đoạn: trước và sau khi kết hôn, để rồi từ đó, tác giả đã đưa ra một vài hình ảnh so sánh về chị đàn bà cũng như về anh đàn ông. Gã xin ghi lại như sau:

Đối với chị đàn bà: Trước thì dịu dàng đáng yêu và hiền như một con mèo nhỏ; còn sau thì vẫn là con mèo nhỏ đó nhưng có thêm tiếng gầm và bản năng của sư tử. Trước là nàng thiên nga xinh đẹp; còn sau là cô vịt bầu xấu xí. Trước thì thẹn thùng ít nói; còn sau thì hay cằn nhằn và lảm nhảm nói ở mọi nơi và trong mọi lúc. Trước thì ăn uống nhỏ nhẹ luôn để lại một nửa, phần vì mắc cở, phần vì giữ eo; còn sau thì thanh lý sạch sành sanh, vì bỏ thì tiếc.

Đối với anh đàn ông: Trước thì cực kỳ ga lăng với bạn gái; còn sau thì vẫn cực kỳ ga lăng với các cô gái, ngoại trừ cô vợ. Trước thì luôn sạch sẽ và siêng năng trước mặt bạn gái; còn sau thì lộ nguyên hình là một con ma ở dơ và lười biếng. Trước thì chứng tỏ cho bạn gái biết mình lương cao, thưởng nhiều, thậm chí còn năn nỉ cô bạn gái “giữ giùm anh nhé cưng”; còn sau thì ép lắm mới chịu khai tiền lương, riêng khoản tiền thưởng thì đó là “bí mật quốc gia”, khi đưa tiền cho vợ thì cái bản mặt còn ủ rũ hơn thua cá độ bóng đá. Trước thì nói rất nhiều; còn sau thì không có đất dụng võ vì phải nhường đài cho bà xã phát thanh. Trước thì thứ bảy và chủ nhật là chuyên gia kiếm cớ để đưa nàng đi chơi; còn sau thì cũng vẫn là chuyên gia kiếm cớ nhưng để đi nhậu với bè bạn.

Thế nhưng, cũng có tác giả lại chia ra làm ba thời kỳ: trước, liền sau và lâu sau khi kết hôn, để nói về tình yêu vợ chồng:

Với những người thích màu sắc, thì trước khi cưới là một màu hồng rực rỡ, liền sau khi cưới là một màu trắng nhàn nhạt, còn lâu sau khi cưới là một màu xám ảm đạm. Với những người thích nghiên cứu về thời tiết, thì trước khi cưới là những ngày mùa xuân nắng ấm, liền sau khi cưới là những ngày hè thu oi bức hay mưa giông, còn lâu sau khi cưới là những ngày dài mùa đông lạnh giá. Với những người thích âm thanh, trước khi cưới anh nói thì em nghe và em nói thì anh nghe, liền sau khi cưới, anh nói thì anh nghe và em nói thì em nghe, còn lâu sau khi cưới, thì cả hai cùng nói, nhưng hàng xóm phải nghe. Với những người có tinh thần ăn uống, trước khi cưới thì nhìn nhau mà no, liền sau khi cưới thì nhìn nhau mà ngáp, còn lâu sau khi cưới thì nồi niêu xoong chảo thỉnh thoảng lại bay ra ngoài sân. Với những người vốn mang dòng máu ga lăng, trước khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía nàng và chàng sẵn sàng chịu ướt, liền sau khi cưới thì chiếc dù nằm ở chính giữa và mỗi người chịu ướt một nửa, còn lâu sau khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía chàng và nàng đành cam chịu ướt.

Từ đó, người ta đi tới một kết luận không mấy sáng sủa: Yêu nhau trong ba ngày, ghét nhau trong ba tháng và chịu đựng nhau suốt ba mươi ba năm. Thậm chí có kẻ còn bi quan hơn khi phát biểu: Trong cuộc đời anh đàn ông có hai ngày vui lớn. Ngày vui thứ nhất đó là ngày lấy vợ, còn ngày vui thứ hai đó là ngày vợ chết. 

Chính vì con người ta thay đổi như thời tiết nắng mưa, khiến cho tình hình diễn biến phức tạp và cuộc sống trở nên nhiêu khê và rắc rối. Trong một bài giảng về hôn nhân, cha sở nọ đã kể lại như sau: Có lần ghé thăm các gia đình, tôi được nghe một ông bố tâm sự: Đi tu như các cha, các thầy, các dì thế mà sướng, chứ còn đèo bồng như tụi con, khổ lắm cha ơi! Dĩ nhiên lời phát biểu này có phần thái quá, bởi vì cho đến ngày hôm nay bàn dân thiên hạ vẫn cứ lấy nhau rầm rầm. Không lấy nhau thì làm sao nòi giống con người tồn tại được. Tuy nhiên, câu nói ấy cũng phảng phất một chút sự thật nào đó.

Thực vậy, ngày xưa người ta thường nói: Tu là cõi phúc, tình là dây thun. Gã thầm bảo đó chỉ là một câu nói bông đùa cho vui, nhưng hôm nay nghĩ lại thấy cũng đúng phần nào. Đặc tính của dây thun là có thể kéo dài và thu ngắn, có thể giãn ra và co vào. Chính đặc tính co giãn này đã tạo nên những khổ đau và hạnh phúc cho cuộc sống gia đình, cũng như làm cho cuộc sống ấy trở thành một bức họa có những khoảng đậm và những khoảng nhạt, một bản nhạc có những nốt trầm và những nốt bổng.Với đặc tính co giãn này, gã có thể sánh ví tình yêu như trời Saigon, chợt mưa và chợt nắng, hay như cánh chuồn chuồn, khi vui nó đậu khi buồn nó bay.

Tác giả Trần Triều trên báo “Phụ nữ thứ năm” số 120 ra ngày 29.11.2010, trong bài “Chợt ghét, chợt thương” đã đưa ra những kinh nghiệm cụ thể trong đời sống vợ chồng như sau: Có những ngày người chồng thấy vợ cực kỳ đáng yêu, nhưng ngay hôm sau, anh ấy lại thấy “mình đúng là sai lầm khi vớ phải một bà vợ như vậy”. Cũng không hiếm những chị vợ, mới ban ngày còn đay nghiến, còn tỏ ra thất vọng ghê gớm về chồng, thì nửa đêm lại lén thơm chồng một cái khi chồng đang ngủ và khẽ nói: Người đâu mà nhìn thấy dễ thương chi lạ!

Viết đến đây gã bèn nhớ tới loài nhím. Thực vậy, nhím có nhiều loại. Loại sống ở nhiệt đới xứ nóng. Loại sống ở hàn đới xứ lạnh. Nhưng dù loại nhím nào thì cũng có một bộ lông thật cứng và thật nhọn, mà người xưa đã dùng làm tên bắn. Ở xứ lạnh, mùa đông tuyết phủ, những con nhím phải nằm gần sát nhau cho ấm. Tuy nhiên có cái phiền là khi nằm gần sát nhau như vậy, thì bộ lông cứng và nhọn đó lại đâm vào nhau, làm cho nhau đau đớn khó chịu. Vì vậy, chúng lại văng ra xa. Nhưng cũng chỉ được một lúc, vì lạnh quá, chúng lại bò sát gần nhau. Dù đâm nhau, dù phải xa nhau, chúng vẫn cứ đến cùng nhau. Càng xa nhau, chúng lại càng tới gần sát nhau hơn, bởi vì chúng cần đến nhau. Phải chăng đó cũng chính là câu chuyện của những cặp vợ chồng đang sống trong bậc gia đình.

Có người lại đưa cái thực tế tình cảm vợ chồng trồi sụt ra để so sánh với lúc mới yêu. Ngày xưa thì quấn quýt bên nhau, nàng có nói gì, làm gì, thì chàng đều chiều. Hôm nào chàng cũng là “người hầu” trung thành, còn nàng là công chúa quyền uy. Bây giờ sự đời đã hoá khác. Tìm đâu ra sự cưng chiều của chàng như những ngày trước được nữa. Đó là chưa kể có ngày anh chồng nhìn vợ thấy “yêu không hết”, nhưng lại có ngày mới nhìn đã thấy “ngứa con mắt”. Ngược lại chị vợ cũng vậy. Chính cái sự “tình cảm không ổn định” trong đời sống vợ chồng, khiến nhiều người không hài lòng khi nhìn lại cuộc sống hôn nhân của mình. Vậy đâu là nguyên nhân làm nảy sinh tình trạng ấy và đâu là phương cách để hâm nóng lại tình yêu sau những va chạm xảy ra?

Theo Jonh Gray, một nhà tâm lý học người Mỹ, sau khi nghiên cứu về cung cách ứng xử giữa vợ chồng, đã phát hiện: Tình cảm vợ chồng không bao giờ đứng yên một chỗ, mà đàn hồi như sợi dây thun, hết co vào, rồi lại giãn ra. Tiếc là nhiều người không hiểu được chu kỳ tự nhiên này, nên lắm lúc thấy người bạn đời của mình quả là khó hiểu, đang yên lành, thì lại “giở quẻ”. Có anh chồng lúc này “tự dưng thấy” ghét vợ, “phang” vợ không nể nang, lúc khác bỗng dưng lại thấy thương vợ, hối hận vì những gì đã đối xử với vợ. Tình trạng này giống như chiếc lò xo, giãn ra hết cỡ, sau đó thì lại co vào. Lúc co vào chính là lúc anh chồng muốn “quay trở lại mái nhà xưa”, hay “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, sau khi đã có những cư xử xấu, thế nhưng lại bị chị vợ giận dỗi, không chấp nhận. Anh chồng muốn đụng tay làm lành một cái, cũng bị chị vợ hắt ra. Thế là tự ái nổi lên đùng đùng và anh chồng chẳng còn cần gì nữa.

Cũng theo John Gray, nếu chu kỳ tình cảm tự nhiên của anh chồng thường xuyên bị chị vợ phá vỡ như vậy, thì những vết rạn nứt trong quan hệ sẽ xuất hiện ngày càng nhiều và có thể gây ra những hậu quả “không lường nổi”.

Để nói lên yếu tố tâm lý bên trong ảnh hưởng tới cảnh sắc bên ngoài, trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Cũng vậy, phải chấp nhận trong tình yêu một thực tế, đó là cả vợ lẫn chồng đều chỉ cảm thấy yêu thương người bạn đời thật nhiều, khi trong lòng thoải mái vui vẻ. Còn lúc bực tức, căng thẳng, họ cau có cũng chỉ là chuyện bình thường. Cuộc sống lúc vui lúc buồn đã kéo theo cái chu kỳ tình cảm lúc thương lúc ghét là vậy.

Chẳng có cặp vợ chồng mà ngày nào cũng yêu nhau hết mình, vui vẻ với nhau trọn tuần hay trọn tháng được. Phải chấp nhận sự giận dỗi, gần rồi lại như xa, xa rồi mà lại như gần bên nhau. Điều quan trọng là nếu một bên đang ở trong tình trạng “khủng hoảng tình cảm”, thì bên kia phải chịu khó nhường nhịn và nhất là đừng đổ thêm dầu vào lửa. Đồng thời khi anh chồng hay chị vợ cảm thấy khó chịu về người bạn đời của mình, thì cũng đừng làm gì quá trớn, để rồi “khi con tim đã vui trở lại”, thì người bạn đời đã “bỏ của chạy lấy người”, hoặc bị tổn thương nghiêm trọng, không thể làm hoà được.

Các cụ ta ngày xưa đã chẳng bảo: Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Cố gắng hợp nhất nên một, nhưng vẫn tôn trọng những khác biệt của nhau, đó là con đường dẫn tới hạnh phúc bền lâu.

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

CHỮ VÀ NGHĨA

Lần đầu tôi gọi chữ EM,

Mà sao cứ thấy xốn xang cả lòng.

Ngày xưa kỷ niệm toàn hồng,

Nhớ thôi đã đủ còn mong muốn gì!

Ngày xưa, thời ấy qua đi,

Bao nhiêu kỷ niệm khắc ghi tâm hồn.

Có nhau như bóng với hình,

Ba lăm năm lẻ chúng mình thiết thân.

Cũng là chừng ấy thời gian,

Thề nguyên chung thuỷ, sắt son mặn mà.

Cuộc tình của TÔI với BÀ,

Nếu đem đo đếm vẫn là còn vơi.

Vẫn cần giao ước mỗi ngày,

Vẫn cần vun đắp đong đầy nghĩa ân.

Thời gian nhật nguyệt xoay vần,

TÔI BÀ hai mái đầu xanh bạc rồi!

Mắt mờ, gối mỏi, da mồi,

Còn đâu ngày tháng như hồi xa xưa?

Câu kinh, lời nguyện sớm trưa,

Có nhau kẻ xướng, người thưa đỡ đần.

Chữ YÊU có lúc gian truân,

Chữ TÌNH dẫu đẹp cũng ngần ấy thôi.

Chữ TÂM quý nhất trên đời,

Chữ BÀ vẫn ngọt như thời chữ EM.

                                     Fx. Đức Hạnh- Thái Hoà

LỜI RU TRONG ĐÊM

Đêm thâu dưới ánh trăng ngà

Bà ngồi ru cháu, ơi...à đong đưa

Cháu ngoan đã ngủ hay chưa?

Mẹ đi xa lắm, gió mưa không về.

Ngàn trùng cách biệt sơn khê

Làm sao mẹ biết đường về cháu ơi!

Đêm đêm cháu khóc ỉ ôi!

Sầu dâng khóe mắt, tả tơi lòng bà.

Sớm hôm, chiều tắt, bóng tà

Cháu mồ côi mẹ, có bà chở che

À ơi, cháu ngủ ngoan nhe!

Bình minh thức giấc, xuân về thắm tươi

Lớn khôn cháu bước vào đời

Tóc bà bạc trắng, da mồi, lưng cong

Một đời vất vả long đong

Lo đàn con cháu chưa xong phận người.

Bà vui, móm mém  môi cười

Hôm nay cháu đã xây đời ấm êm

À ơi, vọng tiếng ru đêm

Tháng năm, cháu mãi không quên ơn bà.

                                                                        Nhật Quang, gx Thái Hòa

BÓNG MÁT CHO ĐỜI

Một đời vì cháu vì con,

Bà là nôi ấm sắt son, diệu vời.

Ầu ơ khúc hát ru hời,

Mênh mang còn đó bao lời dịu êm.

Hương thơm, trái chín ngọt mềm,

“Cây cao bóng cả” đẹp thêm cho đời.

Kìa trong ánh mắt, môi cươi,

Nhuốm màu sương nắng, da mồi, tóc mây.

Nặng đôi vai, tấm thân gầy,

Cho đàn con cháu vơi đầy tiếng ca.

Sáng ngời tựa ánh sao sa,

Ân tình bà những bao la biển trời.

Trọn niềm thảo kính, bà ơi!

Tâm thành, cháu khẽ hát lời tri ân.

Nguyện xin tình Chúa thương ban,

Cho bà an hưởng Thánh ân dư đầy.

Bên con, bên cháu sum vầy,

Vui tròn cuộc sống, trải hoài mến yêu.

Giuse Trần Thế Tiến, gx Tân Bùi

TƯỞNG NHỚ CHA CỐ

PX NGUYỄN THƯỢNG UYỂN

Chúa truyền Cha Cố vâng lời

Một chiều vĩnh biệt cõi đời ra đi

Buồn nào bằng cảnh biệt ly

Vô cùng thương nhớ hoen mi lệ trào

Gia đình, Giáo Hội nghẹn ngào

Thân bằng quyến thuộc nao nao bùi ngùi

Biết rằng: sinh ký tử qui

Hồn về cõi phúc, xác vùi thế gian

Chúa thương ban những hồng ân

Một đời linh mục chuyên cần tín trung

Giảng rao lời Chúa khắp vùng

Chăn đàn chiên Chúa mở mang giáo đường

Ngài là ngọn đuốc yêu thương

Xóa tan người dốt mở trường khai tâm

Trường xưa Cái Sắn trung tâm

Là nơi gieo giống hạt mầm cây xanh

Công Cha tưới bón cây cành

Học sinh Cái Sắn thành danh, thành người

Công ơn Cha tựa biển trời

Học sinh, con cháu, nhiều người tri ân

Nguyện xin Thiên Chúa ban ơn

Cho Cha Cố Uyển mùa xuân Nước Trời

Chúng con vâng giữ lời ngài

Sống là đạo hạnh thành tài giúp dân

Song Kiên, Cựu Học Sinh,

Gx Đài Đức Mẹ

 

 

 TẢN MẠN

 

LỜI CHO CHÁU

 

Mỗi lần cháu về thăm, nội rất vui song có một cái gì đó làm niềm vui không trọn vẹn. Vuốt tóc cháu, mái tóc không còn óng mượt tự nhiên nữa, bàn tay nội như lạc điệu với thời gian. Những chiếc áo cháu mặc sao cái nào cũng bó sát và ngắn quá vậy? Nội vẫn hiểu với cách giải thích của cháu: “Cháu quen rồi”. Nội không biết đâu model đó ! Nếu cháu mặc xúng xính, tụi bạn nó cười chết. Nội biết cháu phải ăn mặc sao cho phù hợp vói vóc dáng và môi trường chung quanh. Nhưng cháu đừng chạy theo thời trang  bất cứ giá nào để luôn giữ được nét dịu dàng, đoan trang của người con gái.                                                                                 

Nhật Quang, gx Thái Hòa

 

ÔNG BÀ TRUYỀN LẠI

 

Những điều ông bà truyền lại cho các cháu không chỉ thuộc lãnh vực tình cảm hay ý chí, mà còn là mối dây liên lạc giữa các thế hệ:

* Sự hiện diện của ông bà giúp các cháu biết vị trí của mình trong gia tộc, nghe cha mẹ gọi ông bà là “ba má”, đó là điều rất bổ ích, vì từ đó các cháu sẽ nhận biết người sinh ra mình là cha mẹ.

* Ông bà giúp các cháu làm quen với cuộc sống vì ông bà luôn nâng đỡ, dạy bảo và chia sẻ kinh nghiệm cho các cháu.

* Sự hiện diện của ông bà giữ vai trò duy trì các mối quan hệ gia tộc, vì ông bà luôn đứng về phía các cháu, luôn hiện diện đằng sau cha mẹ các cháu, để khuyến khích và yêu thương. Ông bà đã qua thời trẻ, nên có rất nhiều ưu điểm mà các cháu không bao giờ có, là tình thương vô bờ bến, luôn dành cho các cháu phần tốt nhất, vì đối với ông bà “con hay thì được nhờ”, “con dở thì mình đành chịu”, ông bà là cầu nối giữ gìn truyền thống của gia tộc, ông bà thường dạy con cháu, chẳng hạn như “ở hiền gặp lành” hoặc “đời cha ăn mặn đời con khát nước”…

 

Ant. Nguyễn Đức Xinh, gx Bình Thái.

 

TẤM GƯƠNG ÔNG BÀ

 

Những tấm gương của ông bà ta về cách giữ đạo và sống đạo cũng như về cách ứng xử với nhau trong cuộc sống vẫn còn ghi đậm trong Giáo Hội và xã hội ta cho đến ngày nay. Những tấm gương đó chúng ta phải học, những lời dạy đó chúng ta phải tiếp thu và thực hiện. Như vậy chúng ta mới làm và sống đúng với những giá trị cao quý mà ông bà ta đã để lại. Gia đình bạn và tôi hãy có những sáng kiến riêng cho mình để thực hiện lời Chúa dạy và Hội Thánh truyền.

 

Têrêsa

 

KHO BÁU

 

Gần đây, báo Công an thành phố Hồ Chí Minh (số 2519 và 2520) có đưa tin đề tựa là: “Kết thúc bi thảm của người 31 năm săn tìm kho báu”. Nội dung tóm tắt như sau: ông Nguyễn Hồng Công, sinh năm 1952, quê ở Thanh Hóa đã bỏ quỹ thời gian của đời minh là 31 năm cùng với số tiền lên đến bạc tỷ, không ngại khổ, không ngại khó để đi săn tìm kho báu mà ông cho rằng trong thời gian bôn tẩu chống Pháp, vua Hàm Nghi đã chôn giấu, nhưng rồi ông đã bị kiệt sức và “ra đi” trong cô đơn khi chưa tìm được kho báu. Nghĩ về câu chuyện trên, người viết liên tưởng đến một đoạn Kinh Thánh: “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13, 44). Chỉ là một kho báu ở trần gian. Hơn nữa sự chắc chắn và tính xác thực không có, thế nhưng đã có kẻ không tiếc thời gian, tiền của và công sức, đầu tư tất cả những gì mình có để mong sẽ tìm được kho báu. Phần chúng ta, một kho báu có thực, đang hiện hữu, mà chính Đức Giêsu đã giới thiệu cho chúng ta, đó là kho báu Nước Trời. Vậy chúng ta hãy quyết tâm và mau mắn “bán đi tất cả những gì mình có”  để chiếm hữu lấy kho báu đó, nơi mà có thể nói đó là một mùa xuân vĩnh cửu, tràn ngập niềm vui, tình yêu, hạnh phúc và sự bình an. Với quyết tâm cao, tìm kho báu Nước Trời như thế, thì ngay ở đời sống trần gian này, chúng ta cũng sẽ xây dựng được một cuộc sống tốt đẹp và có ý nghĩa biết bao.

                           

 Đa Minh Trần Văn Chính, gx Đền Thánh Giuse An Bình

 

 

GIA ĐÌNH - NỀN TẢNG CỦA XÃ HỘI VÀ GIÁO HỘI

 

“Tương lai nhân loại sẽ đến qua gia đình”

ĐGH Gioan Phaolo II đã nhấn mạnh đến vai trò của gia đình trong xã hội mới này, nơi mà gia đình phát huy rõ nét vai trò của mình. Đặc biệt với vai trò của một gia đình công giáo, người Kitô hữu phải ý thức được trách nhiệm của mình, khi là một thành viên trong gia đình. Sống đúng với bổn phận và trách nhiệm phải có nơi gia đình; chúng ta vẫn thường nghe những câu: “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá, giáo bất nghiêm, sư chi đoạ, tử bất học, phi sở nghi, ấu bất học, lão hà vi, ngọc bất trác, bất thành khí, nhân bất học, bất tri lý”, được dịch ra với nghĩa là “nuôi mà không dạy là lỗi của người cha, dạy mà không nghiêm là lỗi của người thầy, người mà không học thì không biết lễ nghi cư xử, nhỏ mà không học thì già không biết làm gì, ngọc mà không được mài dũa thì không thành đồ hữu dụng, người mà không học thì không biết  nghĩa lý”. Điều đó hoàn toàn phù hợp với văn hoá Á Đông của chúng ta, nếu không học thì không biết, nhưng nếu học mà không có thầy dạy thì cũng kể như không. Trong gia đình, cha mẹ là người dạy những bài học đầu đời, từ những tiếng nói đầu tiên cho tới những bước đi chập chững. Gia đình còn là nơi che chở những đứa con bé nhỏ như gà mẹ ấp ủ con dưới cánh. Không những thế, gia đình còn tạo cho mọi người bầu khí của tình liên đới, giúp hun đúc tình cảm giữa người với người, điều mà xã hội ngày nay đang dần mất đi. Giáo hội đã chọn năm nay làm năm Phúc Âm hoá gia đình, muốn đem lời Chúa thấm nhuần trong gia đình, nhờ gia đình mà lan rộng ra xã hội, bởi chính gia đình là nền tảng của xã hội và giáo hội, là tế bào và là một hạt nhân quan trọng của xã hội. Chính vì thế, đối với người Kitô hữu hiện nay, cần có một chút suy nghĩ về gia đình với những câu hỏi: gia đình là gì, thế nào gọi là một gia đình, và gia đình nắm giữ vai trò nào ?

 

Lưu Hành

 

GIA ĐÌNH

Gia đình: “Tổ ấm yêu thương",

ngọn đèn thắp sáng nẻo đường tin yêu.

Khó nguy, gian khổ trăm điều,

Cậy trông nơi Chúa, sớm chiều vượt qua.

Gia đình: “Hội Thánh tại gia",

Luôn luôn hợp nhất đậm đà tình thân.

Sẻ chia gánh nặng thế trần,

Cùng nhau hướng đến tinh thần Phúc Âm.

 

Jos.Nguyễn Minh Đức, Gx Thánh Tâm B2

 

 

 

 

QUAN HỆ MẸ CHỒNG – NÀNG DÂU:

MONG MANH SỢI NGHĨA SỢI TÌNH

 

Ông bà ta thường nói: “Con gái là con người ta, con dâu mới thiệt mẹ cha mua về”. Điều đó không sai, vì khi người con gái xuất giá tòng phu thì họ mặc nhiên trở thành con cái của gia đình nhà chồng. Tuy nhiên, khi về nhà chồng, người con dâu sẽ phải đối mặt với hoàn cảnh mới mẻ và phức tạp trong đó chuyện mẹ chồng nàng dâu luôn là một vấn đề nhức đầu! Xin đan cử một tâm sự ngắn của một nàng dâu:

“Hồi hai đứa mới quen nhau, mẹ anh ấy thích mình lắm. luôn khen và bênh mình. Thế nhưng, khi chính thức về làm dâu thì gặp đủ chuyện phiền lòng: nước mắm pha không đúng cách mẹ giận lẫy, không ăn; thịt gà mình thích xé phay thì mẹ chồng bảo chặt miếng; ban đêm mình hay có thói quen thức khuya một chút để đọc sách, hay xem bóng đá với chồng nhưng mẹ chồng thì không thể ngủ được khi trong nhà còn chút ánh sáng hay tiếng động. Cứ thế bà ấy dần dần biến mình thành một đứa ở hơn là con dâu. Gần đây, không chịu nổi, mình đã nói anh ấy xin ra ở riêng. Khi nghe chuyện đó, bà đã đổ bệnh một tuần. Mình rất khó xử, nhưng mình phải làm sao đây?”

Trước tình cảnh này, các nhà chuyên môn về tâm lý hôn nhân gia đình đã chia sẻ nhiều lời khuyên hữu ích, thiết thực. Chẳng hạn về phía nàng dâu, có tác giả đã viết: “Ngày nay, cũng có rất nhiều nàng dâu đã dùng tình cảm, bằng sự tế nhị, chiều chuộng các cụ mà cảm hóa được nhiều mẹ chồng khó tính. Sự khôn khéo, tốt bụng đó đã cải tạo được nhiều bà mẹ chồng từ cay độc chuyển sang quý mến con dâu. Thế là lấy ân báo oán. Đó là một phương châm xử thế có tình người ”. (x. Nguyễn Đình Xuân – Tâm lý học tình yêu hôn nhân gia đình – NXB GD 1993 trang 126-127).

Một tác giả khác, Dale Carnegie trong cuốn “Tâm lý vợ chồng” đã nói đến một “Nghệ thuật làm dâu” như sau: “Trong đời làm dâu, bạn phải luôn luôn chứng tỏ là người biết tôn kính các bậc song thân bên chồng, bạn phải làm như thế thì chồng bạn mới kính nể cha mẹ bạn, đó là một điều khó. Nếu bạn không khôn ngoan tế nhị thì có thể gia đình bạn khó lòng tìm được nguồn hạnh phúc thực sự vững bền được. Có thể vì một hành động thiếu suy nghĩ, một thái độ kém khôn ngoan làm cho gia đình bạn bị sứt mẻ không ít. Tóm lại, trong đời sống làm dâu bạn nên chứng tỏ luôn luôn khôn ngoan chiều chuộng và tế nhị. Có thế bạn mới tìm được nguồn hạnh phúc thực sự cho gia đình” (x. Dale Carnegie – Tâm lý vợ chồng – NXB TH An Giang 1989 trang 224).

Xét cho cùng, về mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu, lời khuyên chí tình chí lý nhất vẫn là cả hai bên đều phải biết thích nghi và điều chỉnh, sao cho mỗi người có thể thay đổi bản thân để chấp nhận người kia. Như có lời khuyên sau: “Thay đổi nhận thức, từ đó điều chỉnh hành vi của mình để giữa mẹ chồng và nàng dâu trở nên thân thiết như người ruột thịt. Những điều chỉnh xuất phát từ tình thương chân thật luôn mang lại những kết quả tốt đẹp. Sống trong sự êm đẹp cũng là mong ước của tất cả mọi người chúng ta chứ không riêng gì của hai bên mẹ chồng nàng dâu”.

Và chúng ta có thể nghe lời tâm sự của một nàng dâu có tựa đề “Tôi yêu mẹ chồng” như sau:

“Mình lấy chồng được gần 3 năm. Chồng mình là con trai duy nhất, nên vợ chồng ở chung với ông bà nội. Mình sinh ra và lớn lên ở nông thôn, còn gia đình chồng ở trung tâm Hà Nội, vì thế nên khi mới về làm dâu, mình còn rất nhiều bỡ ngỡ về cách sinh hoạt, thói quen trong gia đình. Mẹ chồng luôn nhẹ nhàng chỉ bảo những cái mình chưa biết, từ cách nấu nướng đến những mối quan hệ với những người xung quanh.

Khi mình mang bầu, cả gia đình đều vui mừng. Mẹ chồng và cả bố chồng đều quan tâm chăm sóc. Mặc dù đã ngoài 60 tuổi nhưng mẹ mình cũng giúp rất nhiều trong công việc nhà. Chồng mình đi làm ít có thời gian nên những việc cần vận động nhiều như lau nhà, giặt quần áo, mẹ chồng đều giúp mình cả. Chiều đi làm về khi mình nấu cơm thì bà cũng ở cạnh, giúp nhặt rau hay gì đó, hoặc mẹ con cùng làm. Bố chồng thì vài ba hôm lại mua cam, hoặc con chim câu để con dâu ăn bồi dưỡng. Những điều đó làm mình xúc động vô cùng.

Ngày mình sinh con, một mình bà nội chăm mình trong bệnh viện. Bà xúc từng thìa cháo khi mình chưa thể ngồi ăn. Lúc đó mình cảm động vô cùng, chỉ biết nói với lòng, chẳng bao giờ quên được tình cảm đó. Mình nghĩ mai sau khi ông bà già yếu, mình sẽ chăm sóc ông bà thật chu đáo, để đền đáp phần nào tình cảm của ông bà đã dành cho mình….

Mình nghĩ cuộc đời thật may mắn vì có được một người chồng tốt, và mình thật hạnh phúc khi có được bố mẹ chồng tuyệt vời. Bố mẹ ơi, con thực lòng cảm ơn bố mẹ đã dành cho con tình yêu thương như vậy. Con sẽ luôn luôn ghi nhớ và sẽ báo đáp bố mẹ đến suốt cuộc đời” (x. http://vnexpress.net/tin-tuc/tam-su/toi-yeu-me-chong-2424868.html).

Aug. Trần Cao Khải

BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

HÀNH HƯƠNG KÍNH ĐỨC MARIA MẸ THIÊN CHÚA TẠI TÂN HIỆP, BỔN MẠNG GIÁO PHẬN

Sáng thứ Tư ngày đầu năm dương lịch 2014, rất đông giáo dân quy tụ về nhà thờ Tân Hiệp để cùng Đức Cha Giuse và quý cha, hiệp lòng với Mẹ Maria dâng lên Thiên Chúa tâm tình lòng biết ơn. Biết ơn vì một năm ân lộc đã qua, biết ơn vì tương lai hồng ân đang đến; dâng lên Thiên Chúa những ưu tư và lắng lo của giáo phận với các chương trình hoạt động đào tạo, mục vụ, tông đồ sao cho sáng danh Chúa hơn, cũng như hướng về “Phúc Âm hóa đời sống gia đình”. Với tinh thần đó, trong bài giảng của mình, Đức Cha Giuse nhấn mạnh tới tình huynh đệ, khả năng sống hiệp thông trong các cộng đoàn gia đình. Ngài dùng chủ đề sứ điệp ngày hòa bình thế giới 2014 của Đức Thánh Cha Phanxicô “tình huynh đệ, nền tảng và con đường dẫn tới hòa bình” để triển khai về sự hiệp thông nhân vị đó. Thật vậy, tình huynh đệ trong đời sống gia đình chỉ có khi biết tôn trọng, liên đới và sẵn sàng quên mình để phục vụ nhau. Sau thánh lễ, mọi người ra về trong tinh thần hân hoan của ngày đầu năm mới, với niềm vui của Mẹ Maria và trong sự chúc lành của Thiên Chúa. Ước chi niềm vui và phước lành này luôn đọng lại trong tâm hồn mỗi người, đồng thời lan tỏa đến những người chung quanh.

 

CHA PX NGUYỄN THƯỢNG UYỂN QUA ĐỜI

Trong niềm tin yêu Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, TGMLX xin được báo tin: Cha cố PX NGUYỄN THƯỢNG UYỂN,

- Sinh năm 1921 tại làng Từ Châu, Thanh Oai, Hà Đông

- 1954 : Lãnh tác vụ Linh mục

- 1956 : Phục vụ gx Châu Long, KF1 và Gh. Thánh Tâm, KF2

- 1957 : Hiệu trưởng trường Trung học Cái Sắn và thành lập gx Trung Thành.

- 1975 - 1976 : Phó Giám Đốc Đại Chủng Viện Thánh Tôma.

- 1978 : Phục vụ Họ Thánh Tâm, KF2.

- 1994 : Đi chữa bệnh và hưu tại Nhà Hưu Dưỡng Hà Nội, Tp HCM.

- 2012 : Hưu tại tư gia, số 6. Kiên Giang

- 8g30 ngày 12.01.2014  được Chúa gọi về tại bệnh viện Đại Học Y Dược, Tp HCM. Linh cữu được đưa về quàng, tẩm liệm tại tư gia đến 4g00 sáng ngày 17.01.2014 thì được về nhà thờ giáo xứ Trung Thành để giáo dân kính viếng.

- 9g00 ngày 18.01.2014 Thánh Lễ An táng tại nhà thờ giáo xứ Trung Thành và được mai táng dưới chân Hang đá Đức Mẹ Lộ Đức, trong khuôn viên thánh đường.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO HỌ AN THẠNH, TÂN THẠNH

Mang dáng vóc kiến trúc gôtích cổ pha chút hiện đại, ngôi nhà thờ giáo họ mới thành lập An Thạnh thuộc giáo xứ Trung Thành, hạt Tân Thạnh, sau hơn 5 tháng thi công đang hoàn tất ở những đường nét cuối cùng. Nơi đây, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã làm phép tượng Đức Mẹ La Vang bổn mạng giáo họ, làm phép bàn thờ mới và ban phép Bí tích Thêm Sức cho 192 em vào sáng ngày 14.01.2014. “Phúc Thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9), là mối phúc 7 Đức cha Giuse nhấn mạnh trong bài giảng mời gọi cộng đoàn cùng nhau suy nghĩ. Khởi đầu Đức cha chỉ ra một bức tranh thế giới có nhiều nơi hòa bình đang bị đe dọa, nào là xung đột sắc tộc, chiến tranh, chết chóc không ngày nào mà không có. Tiếp đến, là bức tranh trong gia đình của một giáo xứ hay giáo họ, hòa bình cũng nhiều lúc cũng bị đe dọa, nào là những tranh chấp, những chia rẽ hận thù. Vì vậy hòa bình cần phải nỗ lực kiến tạo, không ngừng xây dựng. Phải chiến đấu từ bỏ chính mình, những ích kỷ, tư lợi, hận thù, ghen ghét; còn phải gieo rắc bình an, gieo rắc sự thuận hòa không nói xấu nhau. Nhân dịp các em chịu phép Bí tích Thêm Sức, Đức cha còn mời gọi cộng đoàn cùng nhắc nhở nhau mỗi người không chỉ là đền thờ của Thiên Chúa, mà còn phải loan báo Tin Mừng, nhờ ơn Chúa Thánh Thần gieo rắc tình thương chứ không phải gieo rắc hận thù, noi gương Chúa Kitô hy sinh mình trên thánh giá để đem lại bình an cho mọi người.

 

THÁNH LỄ TRUYỀN CHỨC PHÓ TẾ

TẠI NHÀ THỜ CHÁNH TÒA, LONG XUYÊN

Sáng ngày 16.01.2014, tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, Đức cha Giuse đã chủ sự thánh lễ Phong chức Phó tế cho 16 thầy thuộc Giáo phận Long Xuyên, 2 thầy thuộc Hội Dòng Đồng Công và 1 thầy thuộc Hội Dòng Thánh Gia. Đồng tế với Đức Cha, có quý cha trong ngoài Giáo phận. Trước thánh lễ, cha Tổng Đại diện LG. Huỳnh Phước Lâm có đôi lời chúc tết Đức cha một năm mới dồi dào sức khỏe, có nhiều niềm vui, đầy tràn ân thánh của Chúa để Đức cha tiếp tục dìu dắt giáo phận trên con đường lữ hành trần gian. Dẫn vào thánh lễ Đức cha Giuse mời gọi mọi thành phần dân Chúa cùng tạ ơn Chúa và cầu nguyện cách đặc biệt cho 19 thầy sắp được lãnh nhận tác vụ Phó tế. Đức cha không quên gửi lời cám ơn đến quý cha linh hướng, quý cha giáo, quý cha bảo trợ, quý ân nhân, quý bậc phụ huynh đã yêu thương, nâng đỡ, dạy dỗ, hy sinh dâng con mình cho Chúa, cho Giáo hội. Bên cạnh đó, Đức cha cũng xin tất cả mọi người tiếp tục yêu thương, nâng đỡ và cầu nguyện cho quý thầy trở thành các thừa tác viên của Hội Thánh đừng muốn được phục vụ, nhưng phải phục vụ, biết khôn ngoan trong hành động, kiên trì trong cầu nguyện và hiền lành trong phục vụ. Nhờ việc đặt tay của Đức Giám mục và lời nguyện phong chức, các tiến chức đã trở thành Phó tế, được lãnh nhận nhiệm vụ “Tam Phẩm”, tức là bậc thứ ba trong phẩm trật của Giáo Hội là: phó tế, linh mục và giám mục. Cuối lễ, một đại diện quý tân chức bày tỏ tâm tình cám ơn Đức cha Giuse, Đức cha Gioan Baotixita, quý cha đồng tế, quý bề trên các hội dòng, quý cha giáo, quý cha bảo trợ, quý tu sĩ, cha sở và quý cha phó giáo xứ Chánh Tòa, ban tổ chức và ca đoàn giáo xứ Chánh Tòa, quý ân nhân, thân bằng quyến thuộc, cùng toàn thể cộng đoàn. Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành cho những ai đã giúp đỡ các tân phó tế.

 

THƯỜNG HUẤN

CÁC THỪA TÁC VIÊN NGOẠI LỆ CHO RƯỚC LỄ

Dù tiết trời có lạnh, đường xá có xa, nhưng nhiều vị lớn tuổi đã có mặt rất sớm tại TGM Long Xuyên để tham dự buổi họp mặt thường huấn, chúc tết dành cho Thừa tác viên Ngoại lệ cho Rước lễ được tổ chức hàng năm vào ngày 23 tháng chạp. Đỉnh cao của buổi họp mặt là thánh lễ được diễn ra lúc 9g45 tại nhà nguyện Thánh Tôma do Đức cha Giuse chủ tế và có 8 cha đồng tế. “Lạy Thầy, xin ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều”. Đó đã là lời cầu nguyện của hai môn đệ trở về làng Emmaus. Đó cũng phải là lời cầu nguyện của các TTVNLCRL. Và đó cũng phải là lời cầu nguyện mà các TTVNLCRL cùng cầu nguyện với các bệnh nhân và những người già yếu trên giường bệnh. Trong thánh lễ có phần nghi thức tuyên hứa dành cho các TTVNLCRL. Cuối lễ, trước khi lãnh nhận phép lành, Đức cha Giuse trao bằng chứng nhận TTVNLCRL cho các vị đại diện 9 giáo hạt trong Giáo phận.

HỌP MẶT CC DỰ TU

Không khí trước sân Toà giám mục sáng ngày 25.01, tuy lạnh nhưng ngập tràn tiếng cười nói, đúng 8 giờ các dự tu tập trung và bắt đầu di chuyển lên hội trường. Con số về tham dự là trên 500 dự tu; trong đó bao gồm dự tu nhà Têrêsa, dự tu Mến thánh giá Long Xuyên, dự tu học sinh cấp 2 và cấp 3 của 9 hạt, các dự tu đại học thuộc các cụm Sàigòn, Cần Thơ và Long Xuyên. Đầu chương trình, đại diện các dự tu vào chúc mừng năm mới Đức cha GB. Bùi Tuần. Sau đó, tại hội trường có sự hiện diện của Đức cha Giuse, quý cha trong ban mục vụ ơn gọi, Cha Giám đốc Giuse Trần Văn Toản giới thiệu đường hướng sinh hoạt dự tu của năm sắp tới, một đại diện dự tu chúc mừng xuân mới Đức cha cũng như Quý cha, sau đó Đức cha ban huấn từ và ưu ái lì-xì đầu năm cho các dự tu thân yêu. Trong bài huấn từ, Đức cha gửi lời chúc năm mới tới các bậc phụ huynh, những người thân trong gia đình, Đức cha còn nhấn mạnh 3 việc mà dự tu cần làm trong năm Tân Phúc Âm hoá gia đình này : thứ nhất là tích cực tham gia vào các sinh hoạt trong gia đình với tinh thần phục vụ như việc đọc kinh chung tại gia đình, giữ gìn bàn thờ gia đình, yêu mến và tham dự thánh lễ; thứ hai là xây dựng tinh thần liên kết mật thiết với giáo xứ; và cuối cùng hãy biết tự chủ cái miệng về ăn uống, nói năng. Sau đó các dự tu sinh viên các cụm đại học cũng có những tiết mục văn nghệ chào chúc năm mới Đức cha và quý cha. Đỉnh cao của cuộc họp mặt này là thánh lễ đồng tế với sự hiện diện của Đức cha giáo phận, cha tổng đại diện và quý cha trong ban mục vụ ơn gọi. Sau thánh lễ, các dự tu dùng cơm chung tại nhà ăn Toà Giám Mục.

 

HỌP MẶT ĐẠI DIỆN CÁC HỘI ĐOÀN

Cuộc họp mặt đại diện các hội đoàn trong giáo phận được khai mạc lúc 8g30  ngày 26.01.2014, tại Tòa Giám Mục, với sự tham dự của 86 vị đại diện, 7 cha linh giám và sự hiện diện thân thương của vị chủ chăn giáo phận Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu. Cha Giuse Trần Văn Toản, Giám đốc Trung tâm Mục vụ giáo phận có lời chào mừng và giới thiệu các thành phần tham dự. Bên cạnh đó cha Giuse cũng nêu lý do và mục đích của buổi họp mặt nhằm siết chặt tình liên đới, chúc xuân quý Đức cha và quý cha linh giám, chúc xuân cho nhau, cùng nhau bàn thảo để có những đường hướng sinh hoạt tốt hơn và hiệu quả hơn trong năm mới. Sau phút thánh hóa, xin ơn hiệp nhất và bình an, một đại diện các hội đoàn đã có lời chào và xin lỗi Đức cha, quý cha linh giám về những thiếu sót, lơ là  việc bổn phận trong năm qua, và kính chúc Đức cha và quý cha linh giám năm mới dồi dào sức khỏe, khang an, tràn đầy hồng ân của Chúa Xuân. Đáp từ, Đức cha Giuse cám ơn về những lời chúc tốt đẹp của vị đại diện, cám ơn vì sự cộng tác  nhiệt tình “đồng trách nhiệm vì sứ vụ” của quý cha linh giám, của các hội đoàn suốt năm qua làm cho đời sống đạo đức, việc bác ái mục vụ trong giáo phận trở nên phong phú hơn, tốt đẹp hơn. Hơn nữa, Đức cha cũng mời gọi và khích lệ các hội đoàn tiếp tục phát huy và nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu thương, ra đi loan báo Tin Mừng. Nhân dịp tết đến xuân về, Đức cha cầu chúc cho mọi người và gia đình có một cái tết thật ấm áp, vui khỏe, bình an, và luôn có Chúa đồng hành. Bế mạc cuộc họp mặt là giờ chầu Thánh Thể thật sốt sắng.

 

HỌP MẶT HUYNH TRƯỞNG THIẾU NHI THÁNH THỂ

TẠI ĐÀI ĐỨC MẸ TÂN HIỆP

Theo chương trình Đức Cha Giuse đã đưa ra: Năm 2012, tổ chức họp mặt các giáo viên, nhằm nêu cao vai trò của các nhà đào tạo, là các thầy cô Công Giáo; năm 2013 tổ chức họp mặt các giáo lý viên, nhằm nêu cao vai trò giảng dạy giáo lý; và năm nay 2014, cuộc họp mặt các huynh trưởng, thuộc Liên đoàn Thiếu nhi Thánh Thể Emmanuel Lê Văn Phụng của Giáo phận, được tổ chức vào ngày 27.01.2014 tại giáo xứ Đài Đức Mẹ với khoảng 1500 huynh trưởng, nhằm nêu cao việc hướng dẫn các em sống ngoan ngoãn và siêng năng tham dự Thánh Lễ. Thánh lễ bế mạc được bắt đầu vào lúc 3g30 do Đức cha Giuse chủ tế, có 13 cha đồng tế và 1 thầy phó tế. Trước thánh lễ, cha Phrêrô Phạm Thế Hòa, trưởng liên đoàn, có lời chào mừng và chúc tết Đức cha cũng như quý cha. Sau đó là nghi thức thăng cấp cho 54 huynh trưởng lên cấp III và nghi thức tuyên thệ, trao bằng chứng nhận cho các trưởng trong ban huấn luyện liên đoàn. Dẫn vào thánh lễ, Đức cha mời gọi mọi người cùng tạ ơn Chúa với bao ơn lành Chúa đã ban trong năm qua. Bên cạnh đó cũng xin Chúa tiếp tục nâng đỡ trong năm mới này. Đặc biệt đối với các huynh trưởng biết noi gương Chúa Giêsu, là huynh trưởng tối cao, trở thành những tấm gương sáng chia sẻ Tin Mừng cho các em, cho bạn bè lối xóm hay trong nhà trường. Chia sẻ Lời Chúa trong thánh lễ, cha Giuse Trần Văn Toản, Giám đốc Trung tâm Mục vụ, dựa vào Tin Mừng Mt 2,16-23, mời gọi mọi người, nhất là các huynh trưởng hãy nuôi dưỡng, giữ lấy hình ảnh Chúa Giêsu Hài Nhi đơn sơ và đem chúa Giêsu Hài Nhi đến với mọi người xung quanh.

 

 

THÁNH LỄ ĐẦU NĂM TẠI NHÀ THỜ CHÁNH TÒA

Theo truyền thống của người Việt Nam nói chung và của người công giáo nói riêng, ngày đầu xuân là ngày linh thiêng dành để tạ ơn Thiên Chúa và chúc tuổi lẫn nhau. Vì thế, vào lúc 5g00 ngày mồng một tết, tức 31.01.2014, Đức cha Giuse cùng với 10 cha và toàn thể giáo dân hiện diện trong nhà thờ Chánh Toà đã cử hành nghi thức dâng hương mừng tuổi Chúa. Tiếp đến vị đại diện giáo xứ chúc tuổi Đức Cha, quí cha và toàn thể mọi người. Trong bài giảng, Đức Cha mời gọi mọi người hướng về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa: mùa xuân của yêu thương, mùa xuân của phục vụ và tâm điểm được thể hiện nơi Chúa Giêsu “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống

làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Mọi người hãy ý thức điều đó để cùng sống “Mùa Xuân” trong tinh thần của năm thánh hoá gia đình. Kết thúc thánh lễ, mọi người lên nhận “lộc thánh” như một  ý lực sống cho bản thân và gia đình trong năm Giáp Ngọ này. Và cũng theo thói quen, sau khi dùng điểm tâm, Đức cha, cha Tổng Lâm, cha Minh va sơ Hương đi chúc tết chính quyền.

 

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

KỶ NIỆM 400 NĂM DÒNG TÊN

ĐẾN LOAN BÁO TIN MỪNG TRÊN ĐẤT VIỆT

8g30 sáng thứ Bảy 18.01.2014, tại nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn, Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám mục phó TGPTPHCM, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam đã long trọng cử hành Thánh Lễ khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 400 năm Dòng Tên đến loan báo Tin Mừng trên Đất Việt.

Mở đầu Thánh Lễ, Đức cha chủ tế ngỏ lời chúc mừng anh em Dòng Tên Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 400 năm Dòng Tên đến loan báo Tin Mừng trên Đất Việt. Ngài cũng mời gọi cộng đoàn tạ ơn Thiên Chúa và cầu nguyện cho công cuộc loan báo Tin Mừng trên quê hương Việt Nam.

Trong bài giảng, Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt, S.J., đã kể lại sơ lược biến cố ba thừa sai Dòng Tên lần đầu tiên đặt chân đến Cửa Hàn, Đà Nẵng và công cuộc truyền giáo của Dòng Tên tại xứ sở Con Rồng Cháu Tiên bắt đầu từ năm 1615. Đặc biệt, Đức cha đã chia sẻ về lòng nhiệt thành truyền giáo và nỗ lực hội nhập văn hóa Việt của linh mục Alexandre de Rhodes, S.J., tức cha Đắc Lộ, thể hiện qua hai công trình liên quan đến chữ quốc ngữ là cuốn Phép giảng tám ngày và Từ điển Việt-Bồ-La, cũng như về việc đào tạo các giáo lý viên và hàng giáo sĩ bản địa tương lai, thể hiện qua việc thành lập Hội Thầy giảng. “Với quyển Phép giảng tám ngày và Hội thầy giảng, có thể nói là Hội Thánh đã thực sự ‘nhập thể’ trong xã hội Việt Nam”.

Khi nhìn lại 400 năm loan báo Tin Mừng trên Đất Việt, Đức cha Cosma nhấn mạnh rằng: “Thực ra Dòng Tên chỉ đóng góp một phần nhỏ bé trong lịch sử Hội Thánh tại Việt Nam. Bao nhiêu thừa sai khác, bao nhiêu dòng tu khác, bao nhiêu tâm hồn quảng đại và can đảm khác đã góp phần hết sức quan trọng vào công cuộc loan báo Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh tại Việt Nam. Đặc biệt chúng ta không quên hơn 100 ngàn tín hữu đã lấy mạng sống mình để làm chứng cho Chúa, trong đó 117 vị đã được tôn vinh lên hàng hiển thánh.”

 

 

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC CÔNG BỐ DANH SÁCH CÁC TÂN HỒNG Y

VÀ VIẾT THƯ CHO TỪNG VỊ

Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 12.01, lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, ĐTC đã loan báo danh sách 19 Tân Hồng Y sẽ được vinh thăng trong Công Nghị ngày 22.02 tới đây. Cùng ngày, ĐTC đã viết thư cho 19 vị đã được chọn để trở thành các thành viên mới của Hồng Y Đoàn. Trong thư, ĐTC nói trở thành một Hồng Y không phải là một "sự thăng chức", nhưng là sự mở rộng sứ vụ phục vụ Thiên Chúa. Vì thế, nếu các tân Hồng Y ăn mừng biến cố này, hãy làm điều đó với niềm vui trong "sự thắt lưng buộc bụng và thanh bần". Công nghị tấn phong 19 tân Hồng Y sẽ diễn ra vào ngày 22.02. Các tân Hồng Y đến từ 12 quốc gia, phần lớn là từ thế giới thứ ba.

 

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

 

GIÁO XỨ ĐỒNG TÂM

Kinh 3B, xã Tân Hiệp A, Huyện Tân-Hiệp, Tỉnh Kiên Giang

Điên Thoại : ( 077 ) 3832269

 

Từ cuối năm 1956 và năm 1957, những người Công Giáo di cư từ miền Bắc đến lập nghiệp tại vùng Cái Sắn, họp thành Họ Đạo, lập nên ngôi thánh  đường bằng tre lá để cùng nhau sáng tối cầu nguyện. Khu vực Kinh 3B gồm 4 Nhà thờ cho bốn Họ: đó là Họ Lạc Lâm (những người từ Lạc Lâm, Đơn Dương, Lâm Đồng). Họ Duy Ninh (gồm những người gốc Xứ Trung Linh, Bùi Chu). Họ An Hội (gồm những người từ Núi Trầu, Hà Tiên và những người từ Nam Thái Sơn, Hòn Đất). Họ Tân Thành  được lập sau cùng (gồm những người từ các nơi  và một số  người từ miền Bắc sang sau năm 1975 , và một số gốc Miền Nam). Bốn Họ Đạo này trực thuộc giáo xứ Lạng Sơn, Kinh 3A,do Cha cố Giuse Vũ Văn Toàn coi sóc. Cha Giuse Nguyễn Đức Sinh làm phó ,đặc trách kinh 3B.

          Đến năm 1974 vì nhu cầu mục vụ , Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ đã ký Quyết Định nâng khu vực Kinh 3B thành giáo xứ mới, lấy nhà thờ Họ An Hội làm nhà xứ và cử Cha Giuse Nguyễn Trọng Khanh làm Chánh Xứ với tên Xứ  Đồng Tâm và nhận Chúa Kitô Vua làm Bổn Mạng. Từ tháng 01  năm 2010 đến nay Cha Xứ Vinhsơn Trần Thanh Thỏa coi sóc.

          Giáo Xứ Đồng Tâm ngày nay chạy dài trên 6 cây số gồm 4 họ Đạo với 360 gia đình và trên 2000 giáo dân. Trong khu vực giáo xứ còn trên 300 người trong 50 gia đình lương dân. Họ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau như  Đạo Thờ Tổ Tiên, Phật Giáo, Hòa Hảo……

          Từ ngày thành lập, Linh Mục Chánh Xứ và giáo dân luôn chú tâm vun đắp tình hiệp nhất và chăm lo đào tạo nhân sự. Giáo xứ đã có 8 Linh Mục, trên 30 Tu sĩ Nam Nữ, và nhiều sinh viên Đại học. Nhà thờ xứ được xây dựng lại, cũng như các nhà thờ họ lẻ lần lượt dược xây dựng, hay tu sửa khang trang. Hiện Nay Giáo xứ Đồng Tâm gồm 4 nhà thờ: Nhà thờ Giáo Xứ và 3 nhà thờ Họ Lẻ.

          Về truyền giáo, chú trọng đến việc sống chia sẻ với lương dân, trợ giúp và phát triển về văn hoá, xã hội. Nâng đỡ sự yếu kém của những gia đình nghèo. Giáo xứ có một khu dân sinh khoảng 200 người. Và địa bàn xã Tân An nằm đầu xứ.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 997
Tất cả: 45,856,186