Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015

TĨNH TÂM

THÁNG 5&6 NĂM 2015

ĐỨC MARIA,

MẪU GƯƠNG NGƯỜI MẸ HIỀN

 

TÌM BÀI

 

 THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 5 năm 2015

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TÂN PHÚC ÂM HÓA CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

VỚI SINH HOẠT PHƯỢNG TỰ

***

Anh chị em thân mến

Các giám mục chúng tôi xin hiệp thông với cộng đoàn dân Chúa giáo phận Long Xuyên dâng lên Đức Mẹ Maria những bông hoa của kinh Mân Côi, của sự hy sinh, và của các công việc bác ái, và qua Mẹ, xin dâng lên Chúa lời chúc tụng, tạ ơn, tạ tội và phó thác.

Tiếp tục các thư mục vụ về Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ, thư mục vụ tháng Năm tập trung vào sinh hoạt Phượng tự trong công đoàn Kitô Hữu. Nên, thư mục vụ tháng Năm có chủ đề Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ Với Sinh Hoạt Phượng Tự.

1. Sinh hoạt Phượng Tự trong cộng đoàn giáo xứ thường được hiểu là các sinh hoạt phụng vụ và các sinh hoạt sùng kính trong Giáo Hội.

Trước hết là các sinh hoạt phụng vụ. Ngoài việc đọc Phụng Vụ Giờ Kinh của hàng giáo sĩ, các sinh hoạt phụng vụ trong cộng đoàn là việc cử hành, tham dự và lãnh nhận các bí tích trong suốt đời sống Kitô Hữu. Từ khi mới sinh ra với bí tích Rửa Tội. Kế đến là xưng tội lần đầu và rước lễ lần đầu. Lớn lên là bí tích Thêm Sức. Khi trưởng thành là bí tích Hôn Phối hay bí tích Truyền Chức. Khi đau yếu và già cả là bí tích Xức Dầu. Trong bảy (07) bí tích, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến bí tích Thánh Thể và bí tích Giải Tội trong đời sống tu đức của người Kitô Hữu.

Kế đến là các sinh hoạt của lòng sùng kính. Đó là các sinh hoạt đạo đức được thực hiện trong cộng đoàn, cách tập thể hay cá nhân. Như, chầu Thánh Thể, suy gẫm Lời Chúa, lần chuỗi Mân Côi, chặng đàng Thánh Giá, lần chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, hành hương kính Đức Mẹ, kính các thánh Tử Đạo, tôn kính Thánh Bổn mạng… Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong tông huấn Niềm Vui Của Tin Mừng đã đề cập đến các lòng đạo đức bình dân.

Với sinh hoạt phượng tự, cộng đoàn giáo xứ như Giáo Hội sơ khai “luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Thực hiện các sinh hoạt phượng tự, cộng đoàn giáo xứ giáo họ đang hình thành một Hội Thánh hiệp thông, hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi, với các thánh, với các đẳng linh hồn, và với nhau trong toàn Giáo Hội. Trong sự hiệp thông này, mọi người tín hữu sống ơn gọi “Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Ðấng Hoàn Thiện” .

2. Mục tiêu tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ của chương trình Phượng Tự:

Mục tiêu đầu tiên của chương trình Phượng Tự phải là để Sống Hiệp Thông. Trong kinh nguyện, nhờ kinh nguyện, và với kinh nguyện, người Kitô hữu đi vào sự hiệp thông của Hội Thánh Chúa Kitô, như cành nho gắn liền với thân nho. Đó là sự hiệp thông với nhau để hiệp thông với Thiên Chúa. 

Từ sự hiệp thông, người Kitô hữu khám phá ra các ân huệ Chúa trao, để có thể tích cực tham gia vào các sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ giáo họ. Quả thật, trong kinh nguyện, với kinh nguyện, và nhờ kinh nguyện, người Kitô hữu, là giáo dân, là tu sĩ, là giáo sĩ trong cộng đoàn, sẽ nhận ra những ân sủng Chúa trao như những nén bạc, để ta quản lý và phục vụ cộng đoàn. Với tinh thần phục vụ trong cộng đoàn, sự tham gia của người Kitô hữu sẽ “mang lại hoa trái và hoa trái anh em tồn tại”.

Từ sự tham gia trong nội bộ cộng đoàn tín hữu, người tín hữu được mời gọi trở thành chứng tá chia sẻ vui mừng và hy vọng của Tin Mừng. Thực vậy, nhờ kinh nguyện, với kinh nguyện và trong kinh nguyện của cộng đòan, người tín hữu ý thức được sứ vụ của mình để thi hành lệnh truyền “Anh em hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian”.   

Tháng Năm kính Mẹ Maria, các cộng đoàn Kitô hữu của giáo phận noi gương Mẹ Maria. Điển hình là trong biến cố truyền tin; Mẹ đã đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa Cha qua lời xin vâng. Mẹ hiệp thông với Thiên Chúa Con để biến thân thể mình thành nhà tạm đầu tiên cho Chúa Cứu Thế hiện diện. Và Mẹ đã hiệp thông với Chúa Thánh Thần và trở thành dụng cụ của Chúa Thánh Thần trong chương trình cứu độ loài người của Thiên Chúa. Và ngay sau đó, Mẹ đã trở thành chứng nhân cho niềm vui tin mừng khi mang Chúa Giêsu đến giới thiệu cho bà Isave.

3. Riêng tại các giáo xứ giáo họ của giáo phận Long Xuyên:

(*) Đối diện với thực trạng di dân, sinh hoạt phượng tự trong giáo xứ cần giúp người tín hữu ngày càng trưởng thành hơn trong đời sống đạo. Một trong những dấu hiệu của sự trưởng thành đức tin là cảm nghiệm thiêng liêng riêng tư được sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh trong cuộc đời mình. Nhờ cảm nghiệm này, người tín hữu sống thân tình và riêng tư trong tương quan với Chúa.

(*) Trong một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân, sinh hoạt phượng tự trong giáo xứ cần được tổ chức để làm nổi bật tính cách cộng đoàn và sự hiệp thông. Hơn bao giờ hết, chính trong các giờ kinh nguyện trong cộng đoàn giáo xứ giáo họ mà người Kitô hữu ý thức mình “thuộc về” nhiệm thể Chúa Kitô, với ân sủng và trách nhiệm.

(*) Trong một xã hội duy vật thực hành và những ảnh hưởng tiêu cực của sự tục hóa, sinh hoạt phượng tự trong giáo xứ cần làm nổi bật tính cách thánh thiêng của các sinh hoạt đạo đức. Các sinh hoạt đạo đức là cơ hội thuận tiện nhất cho người Kitô hữu ý thức mình là người đã được xức dầu thánh hiến để thực hiện các công việc thánh và tiếp xúc với Đấng Thánh.

Nhờ các sinh hoạt phượng tự trong giáo phận, chúng ta xin dâng giáo phận, những con người, những sinh hoạt, những tổ chức, và những ước vọng của giáo phận, như những bông hoa dâng kính Mẹ Maria. Xin Mẹ Maria chúc lành cho giáo phận chúng ta.

 

+ Giuse Trần Văn Toản                         + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

BÀI CHIA SẺ TRONG THÁNH LỄ

KỶ NIỆM THỤ PHONG GIÁM MỤC

 

1.

Cách đây 40 năm, tại nhà nguyện bé nhỏ này, và chính ngay tại chỗ này, tôi đã quỳ, cúi đầu nhận lãnh tác vụ Giám Mục.

Lúc đó chính quyền miền Nam vừa mới đầu hàng. Do vậy, sắc phong Giám Mục mà Toà Thánh gởi cho tôi trước đó, biến lễ tấn phong Giám Mục của tôi trùng đúng vào ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975.

2.

Tôi trở thành Giám Mục của giai đoạn mới. Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ trao trọn trách nhiệm cho tôi. Tôi mang vào mình bao nỗi lo sợ của đàn chiên.

3.

Ngay từ giờ phút đó, tôi bắt đầu được Chúa ban cho những ơn cần thiết để gánh vác nhiệm vụ, mà ai cũng biết là rất khó khăn. Ở đây, tôi xin được kể ra mấy ơn sau đây:

4.

Ơn thứ nhất Chúa ban, là cho tôi nhận ra tầm quan trọng của các người phục vụ theo ơn sủng, mà thánh Phaolô đã nêu lên.

Thánh Phaolô viết: “Chính Chúa đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người chăn chiên và người dạy dỗ” (Ep 4,11).

Với cái nhìn mới này, thú thực là tôi nhìn các linh mục của tôi không như trước. Trước đó, tôi nhìn mỗi vị theo địa vị và chuyên môn học vị, như ngài là cha Quản hạt, có bằng cử nhân Anh văn vv... Nhưng bây giờ tôi lại tự hỏi: Ngài có là tông đồ, là ngôn sứ, là người rao giảng Phúc Âm, là chủ chăn, là người dạy dỗ do ân sủng thực sự của Chúa không?

Tôi thấy tình hình mới rất mực khó khăn. Nó đòi các linh mục phục vụ phải là các người mang các sứ vụ nền tảng, như thánh Phaolô đã nêu.

Thông thường, chúng ta quen coi linh mục là chủ chăn. Nhưng tình hình mới đòi chủ chăn cũng cần có phần nào là người tông đồ, là người tiên tri, là người biết rao giảng Phúc Âm, là người có khả năng dạy dỗ theo ân sủng Chúa ban.

5.

Ơn thứ hai Chúa ban, là cho tôi nhận ra giá trị của những gian truân khốn khó.

Thánh Phaolô viết: “Ai gặp gian truân thì quen chịu đựng, ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên, ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta” (Rm 5,3-5).

Kinh nghiệm trên đây của thánh Phaolô đã giúp tôi rất nhiều khi gặp phải những gian truân khốn khó trong tình hình mới. Phải nói là tình hình mới có nhiều khó khăn làm tôi phải khổ. Nhưng chính chuỗi dài những khổ đau ấy lại được báo trước là sẽ dẫn tôi tới hy vọng gặp được tình yêu Thiên Chúa. Và kết quả là tôi đã gặp được tình yêu Chúa. Người vẫn ở với tôi mọi ngày, để tôi được trở thành của lễ.

6.

Ơn thứ ba Chúa ban là, cho tôi nhận ra Nước Thiên Chúa sẽ dễ đi vào lòng dân tộc Việt Nam qua những người biết yêu thương theo gương Chúa Giêsu.

Từ lúc quỳ xuống cúi đầu lãnh tác vụ Giám Mục, tôi thường được nghe Chúa hỏi tôi cũng một lời xưa Chúa đã hỏi thánh Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không?” (Ga 21,15-17). Tôi luôn trả lời: “Con yêu mến Chúa”. Những đối thoại thường xuyên về yêu thương đó đã in sâu vào lòng tôi giới răn mới của Chúa Giêsu: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con” (Ga 13,34). “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta trước, và sai Con Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10).

Càng ngày tôi càng cảm thấy “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16). Để rồi, tôi ở lại trong Người, Người ở lại trong tôi. Và tôi đi vào lòng dân tộc chỉ bằng tình yêu. Một tình yêu chấp nhận nhiều hy sinh, nhiều từ bỏ.

7.

Ơn sau cùng Chúa ban là, cho tôi nhận biết mình chỉ là một dụng cụ yếu đuối hèn mọn.

Thánh Phaolô đã viết về mình rằng: “Những kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải là từ chúng tôi” (2Cr 4,7).

Đúng là như vậy, nếu tôi nói về tôi. Tôi chỉ là chiếc bình sành, mong manh, dễ vỡ, hèn mọn. Tôi tội lỗi lắm. Tôi yếu đuối lắm. Nhưng Chúa giàu lòng thương xót vẫn thương tha thứ, vẫn thương chọn tôi. Để vinh quang của Chúa được thể hiện nơi một dụng cụ yếu hèn nhất.

Xin anh chị em tạ ơn Chúa thay tôi. Và cũng xin tha thứ cho tôi mọi lỗi lầm, nhất là xin thương cầu nguyện nhiều cho tôi, đừng bao giờ để tôi trở thành gánh nặng cho cộng đoàn.

8.

Lời cuối cùng rất quan trọng xin phép nói là: Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau cảm tạ Chúa vì muôn vàn ơn Chúa đã ban cho giáo phận suốt 40 năm qua. Ơn nhiều lắm. Ơn lớn lắm. Ơn đặc biệt lắm. Chúng ta xin được cùng với Đức Mẹ Maria dâng mình lên Chúa với tất cả tâm tình biết ơn và phó thác, hôm nay và mãi mãi.

Long Xuyên 30/4/2015

 

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy niệm Chúa Nhật V Mùa Phục Sinh, B

Cv 9,26-31; 1 Ga 3,18-25; Ga 15,1-8

PHỤC SINH NHÂN PHẨM

Ngày nay người ta nói nhiều về sự thoái hoá đạo đức của một số phần tử trong xã hội. Họ tự đánh mất nhân phẩm của mình. Sự thoái hoá đã làm cho họ biến chất từ tốt ra xấu, từ thanh sạch ra dơ bẩn, từ hữu dụng ra vô dụng.

Sự thoái hoá đạo đức có thể đến với bất cứ ai; và làm băng hoại đủ mọi thành phần, dù là trí thức hay dân hèn. Một khi ta đã bị thoái hoá, là ta đánh mất căn tính con người mình "nhân chi sơ tính bản thiện". Sự thoái hoá có mặt trong mọi ngành nghề, mọi cấp bậc. Sự thoái hoá làm mất đi đạo đức nghề nghiệp, mất đi lương tâm trong sáng; chỉ còn là tham sân si vô độ.

Những năm gần đây, chúng ta cảm thấy đau lòng trước nhiều hiện tượng thoái hoá đạo đức và nhân cách của con người, như cô giáo hành hung học trò; học trò đánh thầy cô giáo; mẹ đánh chết con; cháu hành hạ ông bà cho đến chết. Tại sao lại có những chuyện thất đức như vậy? Văn hoá đạo hiếu Việt Nam có còn giá trị nữa hay không? Hay đã bị bạc mất phẩm chất bởi đời sống vô tâm của con người ngày nay?

Chuyện xưa kể rằng: Một lần kia, vua Nước Bắc muốn làm nhục sứ giả Nước Nam qua triều cống. Nên ông đã bắt một người dân Nước Nam vừa ăn trộm ra trước mặt sứ giả để làm nhục. Vua Nước Bắc bảo: "Phải chăng người Nước Nam hay ăn trộm?" Sứ giả Nước Nam khiêm tốn trả lời: "Thưa bệ hạ! Cây táo trồng ở Nước Nam thì ngọt, nhưng khi mang qua Nước Bắc trồng thì quả lại chua. Phải chăng người này ở Nước Nam thì tốt, nhưng khi qua Nước Bắc đã biến chất rồi chăng?"

Nhìn lại phận người của mình, đôi khi ta cũng giống như cây táo được trồng ở Nước Bắc. Con người là hình ảnh Thiên Chúa, đôi khi cũng bị biến chất khi trồng vào thế gian. Con người bị những thói đời sa đọa làm băng hoại tâm hồn. Con người bị đam mê danh lợi thú làm huỷ hoại danh giá, nhân phẩm của chính mình. Con người dễ bị đánh mất căn tính của mình là "nhân linh hơn vạn vật". Con người dễ bị bị thoái hoá bởi tưởng mình chỉ là loài vật: sinh ra - lớn lên - rồi chết, nên cứ lao mình vào những thói đời hưởng thụ tầm thường và phù vân.

Các tiên tri thời Cựu Ước đã từng tiếc nuối cho dân tộc Israel là "vườn nho của Chúa" đã bị biến chất. Tiên tri Isaia đã thất vọng vì vườn nho nhà Israel bị hoang tàn. Tiên tri Giêrêmia đau buồn vì dân tộc ông đã "biến thành một cây nho lạ, thoái hoá thành một cây khác". Còn tiên tri Ôsê thì kêu lên trong đau đớn: "Israel là một cây nho trơ trụi". Tất cả những từ ngữ đó đều diễn tả một đời sống thoái hoá đạo đức của một số phần tử Do Thái. Họ không sống theo đường lối Chúa. Họ sống vụ hình thức, dẫn đến giả hình, giả dối. Họ thờ Thiên Chúa trên môi miệng, nhưng thực chất họ đã xa lìa Thiên Chúa ngay từ trong tâm hồn.

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy kín múc nguồn sống đích thực từ Thiên Chúa, để được ơn phục sinh nhân phẩm của mình. Hãy để cho sự sống của Chúa tuôn chảy trong tâm hồn mình như nhựa sống trong thân cây. Hãy sống gắn bó mật thiết với Chúa như cành liền cây, để có thể sinh hoa kết trái là những việc lành. Hãy ở lại trong Chúa, để hiểu rằng mình có một phẩm giá vô cùng cao quý, là "hình ảnh Thiên Chúa". Hãy biết gìn giữ phẩm giá cao quý ấy, bằng việc chế ngự những nết xấu và đam mê tội lỗi.

Nguyện xin Chúa Giêsu Phục sinh luôn ở lại trong cuộc đời ta, từng ngày giúp ta sống trọn vẹn ơn phục sinh, luôn làm mới lại nhân phẩm của mình.

 

Suy niệm Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh, B

Cv 10,25-26.34-35.44-48; 1 Ga 4,7-10; Ga 15,9-17

PHỤC SINH TRÁI TIM

 

Theo qui luật tự nhiên, các con suối đầu nguồn luôn trao hết, trút hết nguồn nước của nó vào lòng các dòng sông. Suối sẵn sàng cho đi luôn mãi, không nghỉ, không ngừng. Các dòng sông cũng thế. Một khi đã nhận được nước từ những con suối ở thượng nguồn, nó không ngừng cho đi, cho đi cả ngày lẫn đêm, không ngơi nghỉ, trút hết nguồn nước của mình cho vùng hạ lưu và đổ ra biển cả mênh mông.

Thiên Chúa là Tình Yêu, mà đặc tính của tình yêu là thông ban, là lưu chảy như nước từ khe suối đầu nguồn trút hết vào các dòng sông, rồi tuôn chảy vào đại dương.

Thứ nhất: Dòng suối Yêu Thương bắt nguồn từ Chúa Cha. Thiên Chúa Cha là Cội Nguồn Tình Yêu. Tình yêu của Ngài như Suối đầu nguồn. Tình yêu ấy được thể hiện qua việc Chúa Cha yêu thương Chúa Con, đến nỗi trao ban tất cả mọi sự cho Chúa Con, như Lời Chúa Giêsu xác nhận: “Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì Ngài cũng ban cho Người Con có sự sống nơi mình như vậy” (Ga 5,26). Bởi vì Chúa Cha đã trao ban mọi sự cho Chúa Con, nên Chúa Giêsu khẳng định: “Tất cả những gì Cha có đều là của Thầy” (Ga 17,10).

Thứ hai: Dòng suối Yêu Thương thông qua Chúa Con đến cùng chúng ta. Chúa Giêsu chẳng những không giữ lại những gì Chúa Cha trao cho mình, mà còn đem tặng ban tất cả cho nhân loại, kể cả mạng sống của Ngài. Tình yêu của Chúa Giêsu lên đến cao điểm, khi Ngài nâng con người tội lỗi lên hàng bạn hữu nghĩa thiết với Chúa; và hiến ban cả mạng sống mình cho họ: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). “Yêu thương nhân loại đến cùng” là châm ngôn sống của Chúa Giêsu (Ga 13,1).

Thứ ba: Dòng Suối Yêu Thương thông qua chúng ta đến với mọi người. Chúa Cha như Suối đầu nguồn đã trút hết tình yêu cho Chúa Giêsu. Chúa Giêsu như Dòng sông cả đón nhận tình yêu của Chúa Cha và đã trút hết tình yêu ấy cho chúng ta. Đến lượt mình, chúng ta được mời gọi trút hết tình yêu cho tha nhân, như Chúa Giêsu đã trút hết tình yêu của Ngài cho chúng ta. “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Thế là dòng suối Yêu Thương xuất phát từ Thiên Chúa Cha, qua Chúa Giêsu, tuôn tràn xuống chúng ta; và thông qua chúng ta để đến với mọi người khắp nơi trên thế giới. Như dòng máu chảy ngược xuôi xuôi ngược về tim, đem lại sức sống cho toàn thân; dòng suối Yêu Thương cũng lưu chảy không mệt mỏi, đem lại hạnh phúc và sự sống cho tất cả mọi người.

Thỉnh thoảng có những thân cây to lớn bên bờ ngã xuống lòng suối, làm cản trở dòng chảy của con suối, khiến nước không thể chảy xuôi về những con sông, cung cấp phù sa cho những cánh đồng. Ta đừng để cho hận thù, chia rẽ, nghi kỵ trong lòng mình trở thành những chướng ngại vật, cản trở dòng chảy tình yêu của Thiên Chúa đến với anh chị em chung quanh. Khi ta không còn thương mến nhau, là ta tự loại mình ra khỏi gia đình yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Như thế, ta tự làm cho mình trở thành kẻ lạc loài và cô độc.

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho con luôn “ở lại trong Tình Thương” của Chúa như Chúa hằng “ở lại trong Tình Thương” của Chúa Cha (Ga 15,9-10). Xin Chúa giúp con phục sinh trái tim con, để con chân thành yêu mến và phục vụ mọi người mà con có dịp gặp gỡ hằng ngày.

 

 

Suy Niệm Lễ Chúa Giêsu về Trời, B

Cv 1, 1-11; Ep 1, 17- 23; Mc 16, 15-20

PHỤC SINH TRUYỀN THÔNG

 

Sách Tông đồ Công vụ kể lại, sau khi hoàn tất sứ mạng ở trần gian, Chúa Giêsu đã được cất lên khỏi mặt đất. Một đám mây bao phủ Ngài, và các Tông đồ không còn thấy Ngài nữa. Đây chỉ là một kiểu nói, để diễn tả sự thay đổi về cách thế hiện diện của Chúa Giêsu trong trần gian mà thôi. Trước biến cố về trời, thì sự hiện diện của Chúa Giêsu là sự hiện diện hữu hình, bằng xương bằng thịt. Người ta có thể nhìn thấy, có thể đụng chạm đến Ngài. Nhưng với biến cố Chúa Giêsu về trời, thì sự hiện diện hữu hình của Chúa đã hoàn toàn chấm dứt, và được thay thế bằng sự hiện diện vô hình.

Thực vậy, khi ta nói Chúa Giêsu về trời, thì điều đó không có nghĩa là Ngài hoàn toàn vắng mặt trong trần gian. Ngài vẫn hiện diện một cách vô hình. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Có người sẽ hỏi: Nếu sứ mạng cứu độ của Chúa Giêsu đã hoàn tất, thì Ngài ở lại trần gian làm chi nữa? Thưa, Chúa vẫn ở lại trong thế gian. Ngài luôn hiện diện trong Hội Thánh, để tiếp nối, để kéo dài Ơn Cứu Độ của Ngài cho mọi người, ở mọi nơi và cho đến tận cùng thời gian.

Vì thế cùng với lời hứa “Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”, Chúa Giêsu cũng trao ban cho Hội Thánh một sứ mệnh: “Anh em hãy đến với muôn dân, rao giảng Tin Mừng cho họ, làm cho họ trở thành môn đệ, ban phép Rửa tội và dạy bảo họ những điều Thầy đã truyền dạy cho anh em”. Do đó, tuyên xưng và chúc tụng việc Chúa về trời, không phải là cứ đứng đó mà nhìn lên trời, nhưng là ra đi, ra đi tiếp nối sứ mạng cứu độ của Chúa.

Xưa nay có rất nhiều cách thế để rao giảng Tin Mừng. Một trong những cách mà Hội Thánh ngày nay đặc biệt quan tâm, đó là dùng những phương tiện truyền thông hiện đại như truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, sách vở, báo chí, internet... Cách đây vài năm, ở miền thượng du Bắc Việt, có rất đông người dân tộc Mèo xin gia nhập đạo Công giáo, vì họ đã được nghe giới thiệu về Chúa qua đài phát thanh. Như thế, các phương tiện truyền thông đang đóng góp một phần rất lớn vào việc rao giảng Tin Mừng.

Tuy nhiên các phương tiện truyền thông lại là con dao hai lưỡi. Chúng có thể đóng góp một cách hữu hiệu vào việc truyền giảng Tin Mừng. Nhưng chúng cũng có sức tàn phá và hủy diệt hạt giống Tin Mừng một cách đáng sợ. Hiện nay có rất nhiều phim ảnh, sách báo, băng nhạc gây tác hại đến đời sống tinh thần con người, phản lại giá trị đạo đức. Những sách báo, phim ảnh mô tả cảnh đâm chém, bạo lực, cướp giật, đồi trụy… thay vì nâng cao tâm hồn, thì lại vùi dập người ta xuống tận bùn đen. Nó hạ thấp con người xuống ngang tầm con vật.

Chúng ta đang chứng kiến biết bao thảm cảnh trong cuộc sống hôm nay, như là hậu quả của những sản phẩm đồi bại này. Thật khủng khiếp! Một điều đáng buồn nữa là, có những người Công giáo vì một chút lợi nhuận, vì những thú vui hạ đẳng, đã sản xuất, phân phối, lưu truyền, tàng trữ những chất độc hại ấy. Đây không chỉ là vấn đề xã hội, mà còn là vấn đề lương tâm, vấn đề niềm tin và tôn giáo. Vì thế, phục sinh truyền thông là một vấn đề cấp bách.

Mừng lễ Chúa về Trời hôm nay, ta hãy nâng tâm hồn mình lên cao, cao khỏi những trói buộc phàm tục. Đồng thời, để vâng theo lệnh truyền rao giảng Tin Mừng, ta hãy kiên quyết loại bỏ khỏi gia đình mình những phim ảnh, sách báo xấu, để chúng khỏi làm ô nhiễm tâm hồn ta, nhất là những tâm hồn trẻ thơ trong trắng. Đó cũng cách ta góp phần phục sinh truyền thông.

 

Suy Niệm Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, B

Cv 2,1-11; 1 Cr 12,3b-7,12-13; Ga 20,19-23

PHỤC SINH TÌNH HIỆP NHẤT

 

Trong mỗi dịp sinh nhật, người ta thường đặt những ngọn nến sáng tượng trưng cho mỗi năm tháng cuộc đời. Bên ánh nến lung linh huyền bí, người ta thầm thĩ trao gởi những ước nguyện, những ưu tư trăn trở sâu thẳm nhất của cõi lòng mình.

Có lần tôi hỏi một em bé mừng sinh nhật: “Con ước điều gì trong ngày sinh nhật của con?” Em trả lời: “Con ước mơ cha mẹ con tha thứ cho nhau và về chung sống trong mái ấm gia đình”. Đó là một điều ước thật bình dị và cũng rất thiết thực, vì cha mẹ của em đã ly dị. Điều ấy cũng đồng nghĩa chiếc nôi êm ấm của gia đình em đã tan nát. Thế nên, em mong ước cho cha mẹ em đoàn tụ, để xây dựng lại mái ấm gia đình đã đổ vỡ.

Mái ấm gia đình của em, một thời đã từng rộn rã tiếng cười và đầy ắp yêu thương, thế mà nay không còn nữa. Một mái ấm mà “ai đi xa” cũng nhớ về, nhưng nay chỉ còn lại sự tiếc nuối xót xa, vì cha một nơi, mẹ một nơi, con cái bơ vơ!

Hôm nay là ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, cũng là ngày khai sinh của Giáo Hội. Là người con của Giáo Hội, ta ước mơ điều gì? Giáo Hội vẫn còn rất nhiều mảng tối, những ưu tư trăn trở, mà biết bao năm qua vẫn chưa hoàn thành được ước nguyện. Đó là sự hiệp nhất nên một trong Chúa. Đó là bầu khí yêu thương mà sách Tông đồ Công vụ đã từng diễn tả: “Họ đồng tâm nhất trí với nhau. Họ coi mọi sự là của chung. Họ cử hành Thánh Thể với việc chia sẻ cơm bánh với nhau để không ai phải thiếu thốn” (Cv 2,42-46).

Thực vậy, đã hơn 2000 năm, nỗi niềm khao khát quy tụ thành một đoàn chiên duy nhất của Chúa Giêsu vẫn còn đó. Ngài khao khát cho ngọn lửa yêu thương được bùng cháy mọi nơi, được lan toả đến mọi nhà và sưởi ấm mọi con tim giá băng. Thế mà lửa yêu thương vẫn còn nguội lạnh nơi nhiều tâm hồn, nhiều gia đình, nhiều cộng đoàn và xứ đạo.

Đã hơn 2000 năm, vậy mà ngọn lửa hiệp nhất và yêu thương của Chúa Thánh Thần trong ngày Lễ Ngũ Tuần vẫn còn leo lét giữa thế giới mênh mông này. Đức Kitô đã bị “chia năm xẻ bảy” bởi Công Giáo, Chính Thống, Tin Lành, Anh Giáo. Niềm tin của những người con một Cha Chung trên trời cũng bị phân tán bởi Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Công Giáo...

Đó cũng là nỗi khát khao cháy bỏng của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Ngài đang đặt chân đến những vùng đất nhạy cảm, được coi là cấm địa của Hồi giáo và Do Thái Giáo. Ngài đang cùng với Chúa Thánh Thần đi đến những nơi đó, để tìm lại tiếng nói chung, để xây dựng lại tình hiệp nhất giữa những người con, con Một Cha chung trên trời. Ngài đang thực hiện lại những bước chân hào hùng của các Tông đồ khi xưa, lúc họ đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần.

Ngày ấy khi được đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, các Tông đồ đã tháo cởi những ràng buộc trong căn phòng đóng kín. Các Ngài đi đến với muôn dân. Vì các Ngài dùng ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần, nên ai cũng hiểu. Ai cũng cảm thấy sự gần gũi của Giáo Hội. Đó là ngôn ngữ của tình yêu. Một ngôn ngữ đã tạo nên sự hiệp nhất, thay cho sự chia rẽ thời Babel thuở xưa.

Hôm nay, ngọn gió của Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục mang lại sự đổi mới cho mọi người, nếu ta biết mở rộng cõi lòng mình ra cho Ơn Chúa tác động, nếu ta dám quên đi “cái tôi” hẹp hòi ích kỷ của mình, để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong cuộc đời ta. Chắc chắn Ngài sẽ giúp ta phục sinh tình hiệp nhất trong các cộng đoàn, như gợi ý mục vụ năm nay.

 

 

 

MẸ HIỀN

               Trung Thành

 

Đối với tất cả chúng ta, người mẹ biểu trưng cho tình yêu rộng lớn, sự hi sinh cao cả, sự che chở và lòng bao dung thuần khiết. Những đặc tính này cũng hiện ra ở những trang Kinh Thánh khi nói về người mẹ và được dùng một cách ẩn dụ để diễn tả thái độ của Thiên Chúa, những thực tại về Đấng Cứu Thế, hoặc sự sinh sản của Giáo hội đối với các tín hữu.

CỰU ƯỚC

(1) Tình mẫu tử được Sách Thánh dùng để diễn tả mối tương quan yêu thương gắn bó giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Nơi Thiên Chúa có sự sống phong phú đến nỗi Ítraen đã gọi Ngài là cha là mẹ. Để diễn tả tình âu yếm khoan dung của Thiên Chúa, Kinh Thánh đã dùng một từ ngữ chỉ lòng dạ người mẹ và gợi lên niềm xúc động phát xuất từ tâm can mà người mẹ cảm thấy đối với con cái mình (Tv 25,6; 116,5). Như một người mẹ, Thiên Chúa an ủi chúng ta (Is 66,13), và cho dù có một người mẹ nào có thể lãng quên con cái mình, Thiên Chúa không bao giờ bỏ quên Ítraen (Is 49,15). Trong Đnl 32,11 mối tương quan gắn bó ấy được diễn tả bằng hình ảnh rất thân thương của con chim mẹ “xòe cánh ra để đỡ con và cõng con trên mình”.

Đôi khi, từ mẹ được dùng theo nghĩa bóng để chỉ một chức danh quan trọng: Bà Đơvôra được xưng tụng là “mẹ hiền trong Ítraen” (Tl 5,7). Giêrusalem  là kinh thành mẹ tuyệt hảo (x. 2Sm 20,19) mà muôn dân tìm gặp được sự dưỡng dục sự che chở. Avên, một thành phố nổi tiếng vì có một hội đồng trị sự kì cựu thì được gọi là “một thành mẹ của Ítraen” (2 Sm 20,18-19; x. Gr 50,12). Mẹ, (em) cũng được dùng để diễn tả một cách hình tượng sự sung túc, sự an toàn, và tình yêu bao la của Thiên Chúa (Tv 131,2; Is 66,13). Tuy nhiên, một điều quan trọng chúng ta cần lưu ý là, mặc dù người ta dùng những biểu tượng người mẹ để nói về Thiên Chúa, thì Ngài không bao giờ được trực tiếp gọi là “mẹ”.

(2) Mẹ chỉ mối liên hệ mẫu tử xét theo người (St 20,12; Xh 2,8; Tv 113,9); và mẹ con, để nói về loài vật trong mối liên hệ sinh học (Xh 22,29; Lv 22,27; Đnl 22,6-7). Nhưng “mẹ” cũng còn được dùng để chỉ bậc tổ tiên thời xa xưa (1V 15,10; Ed 16,3). Vì thế, bà Evà được gọi là mẹ của mọi chúng sinh (St 3,20).

Ngày nay, những hình ảnh và một số thông tin về vùng Trung Đông mà chúng ta tiếp nhận một cách rải rác đây đó có thể làm cho chúng ta có cái nhìn sai lạc về người phụ nữ trong Kinh Thánh. Bởi vì mặc dù Ítraen là một xã hội theo chế độ phụ quyền thì các bà mẹ vẫn nắm giữ vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài cộng đồng. Con cái phải tỏ lòng tôn kính mến yêu, vâng lời, và làm vui lòng cha mẹ (Xh 20,12, Đnl 5,16; Cn 15,20;19,26). Thật vậy, tôn kính thân phụ mẫu là lệnh truyền đầu tiên được ban bố để người ta thực hành hầu có thể trở nên thánh thiện như Thiên Chúa là Đấng thánh. Thiên Chúa dự liệu để người phụ nữ được hạnh phúc trong vai trò làm mẹ (Tv 113,9). Cả cha và mẹ đều có trách nhiệm dạy bảo con cái để chúng hiểu biết đầy đủ chân lí về Thiên Chúa (Cn 1,8; 6,20). Người mẹ được coi như một bậc thầy đối với con cái (Cn 1,8). Đặc biệt, cuối sách Châm ngôn người ta thấy một bài khuyến dụ lời lẽ tha thiết của một người mẹ khuyên bảo con mình là Lơmuên vua xứ Maxa sống khôn ngoan và cẩn trọng (Cn 31,1-9). Trong các văn bản pháp quy, đôi khi người ta đòi hỏi sự hiện diện của người mẹ, cùng với người cha để giải quyết một số vấn đề liên quan đến con cái (Đnl 21,18-21; 22,15,21). Rất thường trong CƯ các bà mẹ được mô tả như là “nội tướng”, những người thể hiện vai trò và ảnh hưởng quan trọng trong gia đình, thí dụ: bà Rêbêca (St 27); bà mẹ của ông Mikha trong sách Thủ lãnh 17; và cả những bà thái hậu nữa, như Bátsêva (1V 1,11-31); hoặc Athangia (2V 11,1-3).

TÂN ƯỚC

Khi Đức Kitô đến, bổn phận hiếu thảo cha mẹ đã không bị hủy bỏ, nhưng được hoàn tất. Giáo lí thời các tông đồ cũng duy trì điều này cách rõ ràng (Cl 3,20tt; Ep 6,1-4). Chúa Giêsu đã quở trách nhóm Pharisêu vì họ tạo ra cớ phải phục vụ Thiên Chúa để trốn tránh bổn phận đó (Mt 15,4-9). Thế nhưng, từ nay vì tình yêu Chúa Giêsu chúng ta phải biết thăng hoa lòng hiếu thảo bằng cách hoàn tất nó nhờ chính lòng tôn kính Thiên Chúa. Người đã đến “phân cách con gái với mẹ ruột” (Mt 10,35), và đã hứa ban gấp trăm cho những ai vì Người mà xa lìa cha mẹ (Mt 19,29). Muốn xứng đáng với Người, phải có đủ khả năng “ghét” cha mẹ (Lc 14,26), nghĩa là phải yêu mến Chúa Giêsu hơn cả cha mẹ sinh ra mình (Mt 10,37). Chính Chúa Giêsu đã nêu gương trước về việc hi sinh dứt bỏ mọi liên hệ mẫu tử. Khi lên đền thờ năm 12 tuổi, Người đã đòi mẹ cho được quyền ở lại trong nhà Cha Người (Lc 2,49tt). Tại Cana, mặc dù sau cùng Người đã làm theo điều Mẹ Người xin, nhưng Người cũng đã tỏ ra cho mẹ hiểu là đừng can thiệp vào chuyện của Người hoặc vì giờ hoạt động công khai của Người đã điểm, hoặc vì giờ khổ nạn chưa đến (Ga 2,4). Thế nhưng nếu Chúa Giêsu có vẻ xa cách Mẹ Người, đó không phải vì Người phủ nhận sự cao cả đích thực của Mẹ Maria, trái lại Người còn biểu lộ sự cao cả ấy qua đức tin của Mẹ: Người đưa tay chỉ các môn đệ và nói: “Ai là Mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” (Mt 12,48tt). Để trả lời cho người đàn bà ca tụng chức vụ làm mẹ phần xác của Đức Maria, Chúa giảng giải cho bà ta rằng Mẹ Người là người trung thành tuyệt hảo nhất vì đã lắng nghe và đem thực hành lời Thiên Chúa (Lc 11,27tt). Chúa đã bao trùm tình mẫu tử thiêng liêng đến tất cả các môn đệ, khi trên thập giá Người phán với người môn đệ yêu dấu: “Này là Mẹ con” (Ga 19,16tt).

Việc áp dụng ngôn ngữ liên hệ gia đình cho cộng đồng tín hữu cũng được thánh Phaolô sử dụng (Rm 16,13; 1Tm 5,2). Ngài nói với tín hữu Galát thân yêu rằng ngài đang sinh hạ họ cho đến khi Đức Kitô được hình thành nơi họ (Gl 4,19) và ngài cũng nhắc lại cho giáo đoàn Thêsalônica rằng ngài bảo bọc chăm sóc họ như người mẹ nuôi nấng con cái (1Tx 2,7-12). Như vậy các tông đồ cũng được tham dự vào chức vụ làm mẹ để sinh ra các tín hữu. Thiên chức này các ngài đón nhận qua những vất vả, những hi sinh để lo cho đoàn tín hữu mỗi ngày một tăng trưởng.

*

Chức năng đặc biệt của người mẹ là được Chúa cho sinh con. Đây là một hồng ân rất cao trọng bởi vì họ được cộng tác với Thiên Chúa trong việc tác sinh một con người. Nhưng đây cũng là một trọng trách, đòi hỏi người mẹ phải hi sinh rất nhiều. Tâm thức Việt Nam khi nói đến tình mẹ là nói đến sự hi sinh. Kho tàng ca dao tục ngữ đã nói nhiều về điều ấy. Ước mong các bà mẹ luôn rộng lượng chấp nhận những hi sinh vất vả để chu toàn sứ mệnh Thiên Chúa trao ban.

 

    CÂU ĐỐ

    KINH THÁNH

      Tháng 5-2015

 

Tiếp tục chủ đề của Tĩnh Tâm tháng năm, lần này CĐKT sẽ thử tài các bạn về những người phụ nữ và những bà mẹ trong Kinh Thánh.

 

1.            Một cô con gái của vị tư tế ở xứ Mađian là vợ của ông Môsê. Đó là ai?

2.            Ai đã nói với Đức Maria: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ…”?

3.            Ông Giacóp có mười hai người con trai và một người con gái. Cô con gái tên là gì?

4.            Ông Ápram nói dối Pharaô ai là em gái của ông?

5.            Người mẹ của ai được thánh Phaolô gửi lời thăm khi ngài viết lời kết thúc thư Rôma?

6.            Người phụ nữ nào ở Ítraen có hai cô con dâu đều là người xứ Môáp?

7.            Ai là vợ của ông Phêlích, người bắt giam thánh Phaolô ở Xêdarê?

8.            Ai là mẹ của ông Giuse (CƯ)?

9.            Mẹ của ông Timôthê là ai?

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 4-2015

 

1.BANABA (Cv 13,2-3); 2. TABITHA (Cv 9,36-42); 3. TIMÔTHÊ (Cv 16,3); 4. LYĐIA (Cv Cv 16,13-14); 5. XAPHIRA (Cv 5,7-11); 6. RÔĐÊ (Cv 12,12-14); 7. PHÊRÔ (Cv 2,14-41); 8. TÊPHANÔ (Cv 7, 55-60); 9. KHANANIA (Cv 9,17-18); 10. MÁTTHIA (Cv 1,23-26)

 

Chúc mừng những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 4-2015:

1.            Têrêsa Nguyễn Thị Thụy Phương, 242/1 Nguyễn Đình Chiểu, Đức Trọng- Lâm Đồng

2.            Maria Phạm Thị Thùy Duyên, Gx. Hợp Châu, Kênh 5B

3.            Giuse Lê Vũ Tài, Gx. Tân Bình, Kênh Đông Bình

4.            Maria Nguyễn Ánh Huyền Trân, Gx. Tân Hải, Kênh C2

5.            Maria Lê Thị Nhu, Gx. Hiếu Sơn, Kênh H2, An Giang

 

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                                - Email: jostrung.trung@gmail.com

                                - Điện thoại: 01672576777

                                - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên Giang?

 

 

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Thiên Chúa và Giáo Hội

 

Chẳng dễ gì thấy được cái can đảm phản kháng đó của Giáo Hội. Nhiều cộng đoàn công giáo xem ra mệt mỏi quá rồi. Thiếu trí tuệ và can đảm để dám nghĩ vượt ra ngoài những dư luận và chủ nghĩa tân tiến thường ngày, để còn muốn bảo vệ nền tảng vững chắc của đức tin. Nhiều kitô hữu theo thời muốn tốt nhất trở thành một công ti dịch vụ, qua đó dùng các cuộc thăm dò dư luận để đáp ứng nhu cầu thành viên mình. Ngay cả các giám mục cũng cho ta cảm giác là Chúa Thánh Linh đã bỏ họ từ lâu rồi. Có thể nói được rằng: Phải chăng thời điểm của Giáo Hội đã thật sự chấm dứt? Và biết đâu, có thể Chúa đã bỏ Giáo Hội, Ngài chán ngấy Giáo Hội và đã ẩn mặt rút lui, ít ra trong một thời gian?

Có những mệt mỏi của Giáo Hội, và chắc chắn có sự kiện “trụ đèn chỗ nào đó đã bị khuất đi”, như trong Khải Huyền nói. Chỉ cần nghĩ tới thế kỉ 16. Sách vở hiện có về thời đó cho thấy Giáo Hội đã chạy theo thời như thế nào, giám mục đã yếu tin như thế nào. Họ đã trở thành một thành phần của hệ thống, chẳng còn là chứng nhân sống động của đức tin, chẳng còn khả năng tông đồ và tử đạo. Họ nhìn trước nhìn sau tìm lối thoát tốt nhất cho mình, và chỉ nỗ lực làm sao đừng để những điều xấu hơn xẩy đến. Giáo Hội thời đó như ngủ quên, gần như tiêu vong.

Tình trạng như thế luôn có thể xẩy ra. Chúa Thánh Linh làm ta xấu hổ, là vì cứ mỗi lần như thế, đâu đó bỗng nhiên lại có làn gió canh tân cần thiết hoàn toàn từ bên ngoài thổi vào. Những lực canh tân thời đó là Têrêxa ở Avila và Gioan thánh giá, là Inhã ở Loyola, Philip Nêri và những người khác như thế. Thoạt tiên, giáo quyền ngỡ ngàng và sợ hãi trước những biến chuyển đó, nhưng rồi cuối cùng chúng được nhìn nhận như là những bước đổi mới thật sự.

Rõ ràng Giáo Hội có mệt mỏi. Có thể Giáo Hội trong cả một vùng văn hoá nào đó mỏi mệt và ngã đổ. Qua bảy lá thư gởi bảy Giáo Hội, sách Khải Huyền điển hình cảnh cáo về tương lai: Coi chừng, nếu không thì tôi sẽ xô ngã cột đèn. Quả thật, sau những cơn bão tố Islam, không những Giáo hội ở Tiểu Á, một thời là con cưng của Giáo Hội hoàn vũ, mà cả Giáo Hội ở Phi châu, đã biến mất. Dĩ nhiên, việc suy sụp của các Giáo Hội thời đó không đơn giản chỉ do mệt mỏi, nhưng bạo lực của kẻ xâm chiếm cũng là một yếu tố phải kể đến, bạo lực đó đã cày nát nhiều lớp dân chúng. Nhưng dù sao, chuyện như thế có thể xẩy ra.

Lời hứa của Đức Kitô: “Ta sẽ ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế”, không có nghĩa là từng giáo phận đã có được bảo chứng tồn tại mãi mãi. Nhưng lời đó có nghĩa là, cho tới ngày Ngài lại đến, Giáo Hội chân thực sẽ là nơi Ngài ngự, là cơ thể, là thịt, là vườn nho của Ngài.

Có lẽ Chúa không để cho Giáo Hội hoàn toàn sụp đổ. Nhưng có liều lĩnh lắm không, nếu như giờ đây ta muốn bắt đầu làm lại một cái gì hoàn toàn mới? Như vậy, sẽ có một Cựu Ước, một Trung Ứớc và một Tân Ước. Người ta vẫn nói, cái gì có ba thì tốt.

Điều đó Gioakim ở Fiore* trong thế kỉ 12 cũng đã nghĩ tới. Ông cho rằng lịch sử phải phù hợp với ba thời của ba ngôi Thiên Chúa. Thời Cha, thời của Cựu Ước, là thời của lề luật nghiêm nhặt. Thời Con là thời của Giáo Hội đã giảm nhẹ đi đôi chút, để bước sang thời Thánh Thần, là thời của một Giáo Hội tinh thần hoàn toàn mới. Giáo Hội tinh thần sẽ làm hoà lại Đông với Tây, Do Thái giáo với Kitô giáo, sẽ mang lại tự do đích thực của lề luật. Lý thuyết đó đã tạo nên những cơn sóng lịch sử lớn. Thoạt tiên, một phần dòng Phansinh coi mình là Giáo Hội tinh thần mới đó. Tư tưởng kia sau đó đi vào thế tục với sản phẩm “đệ tam quốc-xã” của Hitler.

Henri de Lubac đã viết hai tập sách dày về những hậu quả do tư tưởng Gioakim gây ra. Trong đó, tác giả cho thấy tư tưởng đó đã tạo ra những tranh cãi thần học lớn như thế nào, khi nó khiến một phần dòng Phansinh tự coi mình là Giáo Hội thánh chân thực và đã chống lại một giáo triều đã bị tục hoá. Trong sách, tác giả cũng phân tích cho thấy lịch sử đã không chia thành ba thời kỳ như Gioakim nghĩ. Toàn bộ lịch sử là thời gian của một Thiên Chúa Ba Ngôi. Giáo Hội (sống chân thực với sứ mạng mình) là Lời cuối cùng của Thiên Chúa trong lịch sử, bởi vì Đức Kitô là Lời sau hết của Ngài, là toàn bộ Lời của Ngài. Giáo Hội có thể triển nở ra muôn mặt, nhưng nó không thể trở thành một cái gì khác. Nó phải thật sự phản ảnh lời hứa: Ta ở với anh em, bên anh em, với Giáo Hội này cho tới tận thế. Còn mọi thứ khác đều là tự chế, là sản phẩm của con người, chúng đến rồi đi. (Còn Tiếp).

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIÁO XỨ & HIỀN MẪU

 

TRỌNG TÂM CỦA SỨ ĐIỆP TIN MỪNG

TRONG VIỆC TÂN PHÚC ÂM HÓA

 

Trong một bài trả lời phỏng vấn với cha Antonio Spadro trên tạp chí America, ĐGH Phanxicô diễn tả Giáo Hội như một bệnh viện dã chiến của quân đội dành cho những binh lính bị thương. Khi sơ cứu cho những người bị thương trên chiến trường, điều quan trọng trước tiên không phải là việc xét nghiệm cholesterol và lượng đường trong máu của người bị thương, mà là chữa trị những vết thương, rồi sau đó mới tính đến những việc kia.

Cũng vậy, ngày nay, có nhiều người chưa biết đến Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, hoặc biết nhưng họ không còn sống Tin Mừng đó, và kết quả là họ phải gánh chịu những vết thương nghiêm trọng trong tâm hồn. Họ không biết rằng Chúa Giêsu yêu họ, đã cứu họ, có một kế hoạch cho cuộc đời của họ, và muốn ban tặng cho họ lòng thương xót của Ngài. Thế vậy, điều cấp bách trong việc Tân Phúc Âm Hóa, nhất là Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ, không phải là rao giảng những luật lệ của Chúa và của Giáo Hội, nhưng phải là rao giảng điều mà những con người đó cần để được nghe. Đó là rao giảng Tình Yêu Cứu Độ của Chúa Giêsu. Đây chính là trọng tâm của sứ điệp Tin Mừng trong việc Tân Phúc Âm Hóa.

Quả thế, trong việc Tân Phúc Âm Hóa, điều cấp bách lúc này là, theo ĐGH Phanxicô, Giáo Hội không chỉ "mở cửa ra" với người khác mà còn phải "đi ra" để đến với họ: đến với những Kitô hữu nguội lạnh, đến với những người Công Giáo không còn đến nhà thờ, và đến với những người chưa nhận biết Tin Mừng. Đến với họ để nói cho họ biết rằng, Chúa Giêsu yêu họ, Ngài có kế hoạch riêng cho cuộc đời họ, Ngài muốn cứu họ khỏi ách thống trị của tội, và muốn cho tặng cho họ lòng thương xót của Ngài.

Trong một Giáo Hội thu nhỏ là cộng đoàn Giáo Xứ, chúng ta thường quan tâm và đặt nặng vấn đề luật lệ. Ta thường quan tâm xem người này có giữ luật không, xét nét xem  người kia có đi lễ ngày Chúa Nhật không, kiểm tra xem người nọ có đi học giáo lý không, và nếu không thì chê bai chỉ trích, và nếu là người có quyền, thì cấm các Bí Tích người đó. Những quan tâm như thế không phải là sự quan tâm của việc Tân Phúc Âm Hóa. Sự quan tâm của việc Tân Phúc Âm Hóa chính là đến với những con người đó để có thể thấy và thấu hiểu được hoàn cảnh sống của họ, hầu nói cho họ về tình yêu cứu độ mà Chúa Giêsu đang muốn ban tặng cho họ.

Sở dĩ có những người đã nhận biết Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô nhưng đời sống đạo của họ vẫn khô khan nguội lạnh là vì họ không cảm nhận được Tình Yêu Cứu Độ của Thiên Chúa dành cho họ trong Đức Kitô. Và còn có nhiều người chưa nhận biết Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, hay không nhận ra, hoặc không muốn đón nhận là vì họ không được ai nói cho biết và làm chứng cho họ về Tình Yêu Cứu Độ của Thiên Chúa. Đây là điều mà mọi thành phần trong cộng đoàn Giáo Xứ, nhất là các vị mục tử cần phải suy nghĩ. Nhiều khi chúng ta chỉ quan tâm đến những vấn đề thứ yếu, những điều phụ thuộc và cho đó là chính yếu, để rồi đặt vấn đề chính yếu là rao giảng và làm chứng về Tình Yêu Cứu Độ của Chúa xuống hàng thứ yếu.

Thực vậy, chính trong trình tự sắp xếp của sách Giáo Lý Hội Thánh Công cho ta thấy đâu là vấn đề ưu tiên của việc rao giảng Tin Mừng. Ưu tiên số một là Kinh Tin Kính, bản tóm lược về câu chuyện tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta: Ngài tạo dựng chúng ta vì tình yêu, đã sai Con Một Ngài xuống thế để chết thay cho chúng ta cũng vì tình yêu, và Ngài đã trao ban Thánh Thần của Ngài vào trong tâm hồn chúng ta, để nhờ đó chúng ta có thể tham dự vào tình yêu thánh thiêng của Ngài. Ưu tiên thứ hai là tập trung vào việc chúng ta được lôi kéo vào câu chuyện tình yêu của Thiên Chúa như thế nào, nhờ ân sủng được trao ban cho chúng ta qua các Bí Tích. Và rồi, chỉ sau khi nhận biết được câu chuyện về sự cứu độ của Chúa Kitô, và chỉ sau khi học biết chúng ta được đầy tràn sự sống của Chúa Kitô, qua công việc của Chúa Thánh Thần, trong phụng vụ, thì chúng ta mới tập trung vào vấn đề ưu tiên thứ ba, đó là đời sống luân lý. Ở đây, luân lý Kitô Giáo được giới thiệu như là một sự đáp trả của chúng ta trước tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta, và đời sống của chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô. Thực vậy, sách Giáo Lý rao giảng những giáo huấn về luân lý của Giáo Hội như một đời sống "xứng với Tin Mừng", mà chúng ta được làm cho trở nên có khả năng theo đuổi đời sống đó, nhờ ân sủng của Chúa Kitô, được nhận lãnh qua các Bí Tích và trong cầu nguyện.

Tuy nhiên, khi những giáo huấn về luân lý của Giáo Hội đi ra ngoài bối cảnh của kế hoạch cứu độ yêu thương của Thiên Chúa và đời sống của chúng ta trong Chúa Kitô, thì những giáo huấn đó trở thành những luật lệ độc đoán từ một kỷ nguyên cổ xưa được áp đặt trên con người ngày nay. Những người khô khan nguội lạnh và những người chưa nhận biết Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa chỉ có thể theo đuổi và sống những giáo huấn về luân lý của Giáo Hội khi họ có được ân sủng của các Bí Tích. Mà để có được ân sủng của các Bí tích, trước hết họ cần được rao giảng về Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa, cụ thể là Tình Yêu Cứu Độ của Chúa Giêsu. Vì, chỉ khi thấu hiểu được Tình Yêu Cứu Độ của Chúa Giêsu, họ mới có thể hiểu được nội dung của những giáo huấn về luân lý của Giáo Hội để rồi có thể tuân theo.

Hơn nữa, trên lý thuyết, chúng ta thường cho rằng, tất cả những người đã gia nhập vào đời sống của Giáo Hội là những người đã nghe và biết về Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa, trong Chúa Kitô. Nhưng trong thực tế, theo ĐGH Phanxicô, vẫn còn nhiều người trong số những người đã được rửa tội "nhưng không sống những đòi hỏi của phép Rửa, những người thiếu một mối quan hệ có ý nghĩa với Hội Thánh và không còn cảm nghiệm niềm an ủi phát sinh bởi đức tin" (EG 14). Chính vì thế mà ưu tiên một trong việc Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống Giáo Xứ luôn phải là việc rao truyền Đức Tin. Nghĩa là, tất cả những sứ điệp rao truyền của chúng ta cho những người chưa nhận biết Chúa cũng như những người đã được rửa tội nhưng không sống những đòi hỏi của Bí Tích đó phải được tập trung vào những yếu tố nòng cốt của Đức Tin. Chúng ta phải giúp cho họ tin vào tất cả những chân lý mặc khải, làm cho họ thấm nhuần đượcTình yêu Cứu Độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô: “Tất cả các chân lý mặc khải đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và phải tin tất cả với cùng một lòng tin, nhưng có một số quan trọng hơn số khác vì trực tiếp diễn tả tâm điểm của Tin Mừng. Trong cái cốt lõi cơ bản này, cái toả sáng chính là vẻ đẹp của tình thương cứu độ của Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Kitô đã chết và sống lại từ cõi chết” (ĐGH Phanxicô, EG 36).

Tình yêu cứu độ của Chúa Kitô phải là trọng tâm của việc rao truyền Đức Tin để có thể mời gọi con người nói “có” với Chúa Giêsu và phó dâng cuộc đời họ cho Ngài mãi mãi. Và, việc rao truyền đó không phải là một lần mà phải được thực hiện nhiều lần với sự kiên trì và hy vọng.

“Trên môi miệng người dạy giáo lý, lời rao giảng tiên khởi phải không ngừng vang to: Đức Giêsu Kitô yêu bạn; Ngài hiến mạng sống mình để cứu bạn; và bây giờ Ngài đang sống bên cạnh bạn mỗi ngày để soi sáng, ban sức mạnh và giải thoát bạn” (ĐGH Phanxicô, EG, 164).

Có lẽ ta ngạc nhiên cho rằng tại sao, trong việc Tân Phúc Âm Hóa, việc rao truyền Tình Yêu cứu Độ của Chúa Kitô lại là ưu tiên một, rồi sau đó mới là những giáo huấn về luân lý hay những luật lệ! Ta thử tìm hiểu vấn đề này từ sách Tông Đồ Công Vụ và các thư của thánh Phaolô.

Trong sách Tông Đồ Công Vụ, cách mà thánh Phêrô và Phaolô rao giảng Đức Tin cho những người chưa được nghe Tin Mừng khác với cách thánh Phaolô giáo huấn những tín hữu trong các thư của ngài để thành lập các giáo đoàn. Việc rao giảng của thánh Phêrô và Phaolô trong sách Tông Đồ Công Vụ được tập trung vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, mà đỉnh cao là tập trung vào Chúa Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại để cứu chúng ta khỏi tội. Ví dụ, đối với đám đông trong ngày Lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô rao truyền điểm cốt lỗi của sứ điệp Tin Mừng là: Chúa Kitô đã chịu đóng đinh vào thập giá và đã sống lại từ cõi chết và kêu gọi người ta sám hối, chịu phép rửa, và được tha thứ tội lỗi (x.Cv 2,14-39). Ngài cũng rao giảng như vậy trước đám đông tại hành lang Salômôn (x.Cv 3,11-26), trước các thủ lãnh và kỳ mục của Giêrusalem (x.Cv 4,8-12), sau khi Thiên Thần đã giải thoát ngài khỏi tù ngục (Cv 5,30-32), và khi ngài ủng hộ phép rửa của Dân ngoại (Cv 10,34-43).

Thánh Phaolô cũng tập trung vào điểm cốt lõi đó của sứ điệp Tin Mừng trên những hành trình truyền giáo của ngài (x.Cv 13,16-41; 17,22-31). Không có sự kêu mời hoàn bị nào về những vấn đề luân lý cụ thể như sự không chung thủy trong hôn nhân, không quan tâm đến người nghèo, hay lối sống dâm ô, không phải bởi vì người ta không có lỗi trong những vấn đề luân lý này, nhưng bởi vì họ cần câu chuyện về sự cứu độ trước khi họ có thể thấu hiểu và khao khát để sống lời mời gọi luân lý trong Đức Kitô.

Tuy nhiên, các Tông Đồ cũng không sợ khi phải đề cập đến những vấn đề về luân lý nhạy cảm. Trong thư thứ nhất gởi cho giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô đã khiển trách những người ở đó vì không biết quan tâm chia sẻ với những người đói rách, sống kiêu căng, chè chén say sưa, dâm ô, ngoại tình, đĩ điếm, đồng tính và loạn luân. Nhưng ở đó, thánh Phaolô khiển trách những tín hữu trong cộng đoàn Kitô hữu, những người đã biết Chúa Kitô chịu đóng đinh và những người đã dâng hiến cuộc đời mình cho Ngài, nhưng lại không sống theo đường lối của Ngài.

Tóm lại, trọng tâm của sứ điệp Tin Mừng trong việc Tân Phúc Âm Hóa, cụ thể là Tân Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ, phải được tập trung vào Tình Yêu Cứu Độ của Chúa Giêsu. Ta cần phải củng cố cộng đoàn Giáo Xứ với những luật lệ, và cần phải có những hướng dẫn cụ thể cho mọi người, đặc biệt là những người khô khan nguội lạnh và những người chưa nhận biết Tin Mừng, về những giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề luân lý. Thế nhưng, tất cả những điều đó phải được quy hướng về việc rao truyền trọng tâm của sứ điệp Tin Mừng: Tình Yêu Cứu Độ của Thiên Chúa, trong Đức Kitô. "Vô tri thì bất mộ". Một khi người ta chưa thấu hiểu được trong tâm của sứ điệp Tin Mừng thì họ khó mà tuân giữ và sống những giáo huấn của Giáo Hội. Chính vì vậy, mỗi thành phần trong cộng đoàn Giáo Xứ, đặc biệt những người có trách nhiệm, cần phải sống trọng tâm của Tin Mừng, để rồi giúp cho những người khác sống sứ điệp đó. Hãy sống yêu thương và tha thứ để có thể nói cho những người khô khan, nguội lạnh và những người chưa biết Chúa rằng: Chúa Giêsu yêu họ, đã cứu họ, có một kế hoạch cho cuộc đời của họ, và muốn ban tặng cho họ lòng thương xót của Ngài.

 

Hương Quê

 

GIỚI HIỀN MẪU

DƯỚI LĂNG KÍNH CHIẾU YÊU

Đóa Hoa Vô Thường

 

Mùa Chay vừa qua, tôi có dịp đi giải tội cho một số giáo xứ. Một hôm trước giờ ngồi tòa, tôi ra sân nhà thờ, tình cờ gặp một nhóm các bà đang ngồi “tám” với nhau, chờ xưng tội. Vừa thấy tôi, một bà rụt rè chỉ ngón tay về phía tôi, rồi nói điều gì đó. Mấy bà kia quay lại nhìn tôi, tủm tỉm cười, làm tôi hơi chột dạ. Tôi tới gần, một bà tươi cười hỏi: “Có phải cha viết bài “Chụp cắt lớp giới Gia trưởng” không?” Tôi khẽ gật đầu. Bà ta nói ngay: “Vậy tháng tới cha có chụp cắt lớp chúng con không?” Tôi chưa biết trả lời thế nào, thì cả nhóm đã bịt miệng cười. Tôi chợt nói: “Tôi không dám chụp cắt lớp các bà đâu”. Cả nhóm lại phá lên cười. Về nhà, nghĩ lại mẩu chuyện ấy, tôi nhủ thầm: Mình không chụp cắt lớp giới Hiền mẫu, nhưng nhất định sẽ dùng “Kính chiếu yêu” để nhìn cho rõ “căn bệnh mãn tính” của các bà.

Chuyện kể rằng: ở Tây Trúc có một Chiếc Cốc vàng của Phật Tổ. Chiếc Cốc quí giá ấy có thể khiến Phật pháp cảm hóa được muôn người, xua tan cả tà ma. Chỉ có bậc cao tăng đắc đạo, thấu triệt Phật pháp vô biên, mới có thể cầm được Chiếc Cốc vàng quí giá ấy. Ngày kia, ở Trung Nguyên có một nhà sư trẻ đạo hạnh, vì muốn cứu chúng sinh thoát khỏi khổ nạn, nên đã lên đường đi lấy Chiếc Cốc ấy về. Sư phụ rất kì vọng vào anh ta, liền trao cho anh ta “Chiếc kính chiếu yêu”, để anh ta có thể chống lại tà ma trên đường. Anh ta bắt đầu cuộc hành trình gian khổ với hành trang là một chiếc bát và chiếc kính chiếu yêu. Ngày kia, trên đường đi, anh gặp một người con gái bị té gãy chân. Nhà sư liền dùng thảo dược cầm máu và băng bó vết thương cho cô. Nhưng vô tình chiếc kính chiếu yêu rơi ra, soi rõ cô gái ấy thực chất là con Hồ ly tinh, chuyên dụ dỗ ăn thịt thanh niên trai tráng. Nhà sư hoảng hốt niệm thần chú phòng thủ. Con Hồ ly tinh cũng hiện nguyên hình và tấn công nhà sư. Nhờ có võ nghệ thâm hậu, nên nhà sư đã giết chết được con Hồ ly tinh ấy.

Tôi muốn dùng điển tích “chiếc kính chiếu yêu”, để nhìn thoáng qua một vài căn bệnh “thâm căn cố đế” của giới Hiền mẫu. Hi vọng không riêng gì các bà, mà tất cả chúng ta, sẽ khám phá ra chính mình, để “phúc âm hóa” bản thân mình trong năm nay.

Căn bệnh thứ nhất của các bà là thích nói: Có người cắt nghĩa như sau: Sở dĩ phụ nữ nói nhiều hơn đàn ông, vì họ sống bằng tình cảm, họ có nhiều cảm xúc hơn đàn ông. Hơn nữa, khi người phụ nữ nói ra được những cảm xúc chất chứa trong lòng họ, thì họ sẽ cảm thấy nhẹ lòng và hạnh phúc hơn. Còn đàn ông thường sống bằng lí trí và ưa kiềm chế cảm xúc. Hình như trong trái tim của người phụ nữ có một đường cao tốc với 8 làn xe rộng rãi, để họ chuyển tải tình cảm của họ. Còn đàn ông thì chỉ có một con đường mòn nhỏ hẹp dành cho điều đó (?).

Người khác thì cho rằng: Sở dĩ phụ nữ nói nhiều hơn các ông, vì do bẩm sinh, bộ não của người nữ chứa rất nhiều “protein ngôn ngữ”, nên họ thích nói. Thậm chí có bà bị “đột biến gien protein ngôn ngữ”, nên họ chỉ biết nói, nói và nói; chứ không hề chịu lắng nghe, hay nhìn nhận vấn đề, hoặc suy xét cho tỏ. Có khi họ nói chỉ với mục đích là cho có chuyện để nói, bất kể người nghe có muốn nghe hay không. Phải chăng đó cũng là mầm bệnh “buôn dưa lê”?

Tính nói nhiều của phụ nữ hình như càng ngày càng tăng theo tỉ lệ thuận với độ tuổi. Thực vậy, tính nói nhiều phát triển nhanh khi họ có chồng, tăng mạnh cả về âm thanh lẫn cường độ khi họ có con; và tăng cực đại khi họ làm mẹ chồng. Hậu quả của tính nói nhiều là biến họ thành người nói dai, nói dài, nói dở; nói đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất và cả trong âm phủ. Chuyện nọ xọ chuyện kia, không đâu vào đâu. Vì thế nhiều ông chồng thường phải vận công lực để im lặng cho qua, hoặc bực mình quá thì quát lên: “Đàn bà biết cái quái gì!”

Phải chăng “thích nói” đã trở thành căn bệnh mãn tính của người phụ nữ. Nhất là khi các bà đánh hơi được “chuyện bí mật”, hay gặp phải những điều chướng tai gai mắt, thì các bà chẳng chịu để yên. Lạ lùng là chính các bà cũng là người rất dễ bị tổn thương về căn bệnh quái ác này. Những lúc đó, đòi hỏi người đàn ông phải hết sức tế nhị, thông cảm, lắng nghe và chia sẻ. Dường như rất ít ông làm được việc này. Nhiều ông chỉ biết im lặng, hoặc trách móc, hờn dỗi. Một số khác thì ra ngoài tìm thú vui mới, tìm quên chuyện gia đình. Họ có biết rằng chính khi ấy người phụ nữ lại rất cần sự chia sẻ, lắng nghe và cảm thông của người chồng.

Căn bệnh thứ hai của các bà là thích “bao sân”. Nghĩa là hay ôm đồm, lo lắng đủ mọi thứ chuyện, từ trong nhà ra ngoài ngõ. Sở dĩ người phụ nữ có cái tật “bao sân”, là vì ngay từ thuở mới lọt lòng mẹ, bé gái đã được huấn luyện tận não rằng: “Con gái phải biết lo việc nhà như quét dọn, nấu cơm, giặt đồ, trông em, coi nhà…”. Do đó, vô tình khi lớn lên và lấy chồng, người phụ nữ luôn ở trong tâm thế “Mình là nội tướng”, nên bất kể việc lớn hay việc nhỏ trong nhà, họ cũng muốn ôm hết. Họ tự nguyện “bao sân”. Và điều gì phải đến cũng sẽ đến, đó là họ bị quá tải, khi vừa phải lo kiếm tiền, vừa phải lo chu toàn “việc nhà” và hàng trăm thứ “việc không tên” khác. Dù cực khổ như thế, nhưng khi hỏi tại sao họ không buông bỏ, hoặc chia việc bớt cho chồng cho con, thì câu trả lời muôn thuở của họ là “tại vì, bởi vì, chả lẽ”.

Có người cho rằng: Cái tính “bao sân” ôm đồm này đã có nguồn gốc từ xa xưa. Khi ấy người phụ nữ luôn phải chịu những sự thiệt thòi trong gia đình, nhất là khi họ sống trong cảnh “chồng chúa vợ tôi”. Người phụ nữ phải “đầu tắt mặt tối” lo chuyện bếp núc nội trợ, nâng khăn sửa túi, quán xuyến việc nhà, chuyện con cái. Xã hội ngày nay tuy đã phát triển, đời sống được nâng cao, vai trò của phụ nữ cũng đang được nhìn nhận theo hướng tích cực hơn. Nhưng cái tính “bao sân”, quá lo lắng, vẫn ăn sâu vào trong xương tủy của người phụ nữ, khiến nhiều bà luôn có tư tưởng mình là “tay hòm chìa khóa”, là “nội tướng” trong gia đình. Hậu quả là vì quá ôm đồm công việc, mà họ gặp rất nhiều áp lực, bị “stress”, rối loạn tiền đình, mệt mỏi, thậm chí cô đơn và trống vắng ngay trong gia đình.

Căn bệnh thứ ba của các bà là thích “suy diễn”. Có lẽ đây là hệ quả tất yếu của tính đa nghi. Nhiều phụ nữ có thói quen thích suy diễn, thổi phồng mọi vấn đề. Chẳng hạn: Nếu thấy chồng không nghe điện thoại, thì ngay lập tức họ nghĩ rằng chồng đang làm việc gì đó mờ ám. Nếu người chồng quên không mua món đồ mình đã dặn, có bà đã bù lu bù loa kết luận rằng chồng vô tâm, không chăm lo đến mình. Những lời càm ràm trách móc ấy không bao giờ cùng. Cứ thế, ngày qua ngày, bản danh sách suy diễn “những điều bị thổi phồng” cứ kéo dài bất tận. Nhiều ông chồng cảm thấy ngao ngán trước tình huống “chuyện bé xé ra to” của các bà; và cho đó là lối suy nghĩ thiếu khôn ngoan, có nguy cơ phá vỡ hạnh phúc gia đình.

Hình như khi tạo dựng nên người nữ, Thượng đế đã ban cho họ một trí khôn rất dễ bay bổng, khiến họ hay mơ mộng, suy diễn và dẫn dắt các tình huống rất giỏi. Họ có một trí tưởng tượng hết sức phong phú, bay cao và bay xa như cách người ta quảng cáo sữa Yomost. Thực vậy, nếu họ nhắn tin mà không thấy hồi âm, thì họ bắt đầu nhá máy, nhá liên tục. Nếu nhá máy mà vẫn không được đáp trả, thì lát sau thế nào cũng có đoạn tin nhắn "làm gì, đi đâu, ở với ai mà em gọi mãi không được?” Bó tay.

Cái tính thích suy diễn này rất là tai hại, đặc biệt trong vấn đề tình cảm. Người ta bảo rằng: Tính thích suy diễn và tính ghen ghét là hai chị em sinh đôi. Một khi “cặp đôi hoàn hảo” này len lỏi vào tâm trí ai, thì không những người ấy khổ; mà ai sống gần người ấy cũng rất khổ, vì nó cứ bào mòn sự tin tưởng lẫn nhau. Nếu muốn biết sự thật, tại sao ta không tìm hiểu vấn đề bằng nhiều cách khác. Nếu cứ suy diễn rồi đơn phương kết luận, thì chỉ đi vào ngõ cụt mà thôi. Hơn nữa, cuộc sống này rất cần những điều thông thoáng, nhẹ nhàng và tha thứ, bằng cách bỏ qua những lỗi lầm thiếu sót của nhau. Tôi nhớ mãi câu nói của một người bạn: "Thời gian yêu thương của tụi mình ngắn lắm, chẳng được bao lâu, thì lấy đâu ra thời gian để mà suy diễn rồi giận hờn nhau. Kiếp người quá phù vân". Người bạn ấy nói đúng.

Chuyện kể rằng: Sau khi nhận được Chiếc Cốc vàng từ tay Phật Tổ, trên đường trở về nhà, vị sư trẻ kia vô tình để “Chiếc kính chiếu yêu” soi vào chính mình, bất giác ông nhận ra biết bao “tham-sân-si” vẫn còn ẩn núp trong tâm hồn ông. Về đến nhà, ông trao tất cả báu vật cho Sư phụ, rồi xin phép lánh mình vào một khu rừng tĩnh mịch để đêm ngày tu thân, dưỡng tính. Trong “Năm tân Phúc âm hóa các Giáo xứ” này, tôi và anh chị em rất cần những khoảng không gian tĩnh mịch, để cho “Chiếc kính Lời Chúa” chiếu soi vào tận cõi lòng mình. Nhờ vậy, ta có thể biết mình là ai và phải làm gì, để từng ngày cố gắng “nên hoàn thiện như Cha trên Trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

 

NHỮNG BÀN TAY ĐƯA NÔI

 

Có một thời người ta nói rằng để được hạnh phúc và thành công trong cuộc đời, cần có các chữ M: Money=tiền bạc, Mobile phone=điện thoại di động, Material=cơ sở vật chất; Management =quản lý tốt; Mercedes=ôtô xịn. Nhưng lắm lúc người ta đã thất vọng vì những chữ M (mù mờ, mù mịt) ấy. Thiết nghĩ, chữ M quan trọng nhất được Thiên Chúa ghi khắc trong lòng bàn tay mỗi người từ khi mới chào đời=MẸ (Mère, Mother, Mater); để nêu bật một sự thật hiển nhiên: dù ta bao nhiêu tuổi, ta vẫn là con của mẹ; dù ta có đi tới tận chân trời góc biển, lòng mẹ vẫn hằng theo ta. Dù ta thế nào, làm gì, mẹ vẫn trìu mến nhìn, thương ta suốt đời.

I- Những bà mẹ tuyệt vời:

1- Bà ANNA, mẹ của ngôn sứ Samuen, cầu nguyện với Đức Chúa và khấn hứa rằng: “Lạy Đức Chúa các đạo binh, nếu Ngài cho nữ tì Ngài một mụn con trai, con sẽ dâng nó cho Đức Chúa mọi ngày đời nó. Ngày qua tháng lại, bà Anna thụ thai, sinh con trai, đặt tên là Samuen” (1 Sm 1,11.20). “Đức Chúa đã ban cho tôi điều tôi đã xin Người. Đến lượt tôi, tôi xin nhượng nó lại cho Đức Chúa” (1 Sm 1,27-28).

2- Bà mẹ trong sách Macabê có bảy đứa con bị vua Antiôkhô xử tử: “Bà rất xứng đáng cho ta khâm phục và kính cẩn ghi nhớ. Bà thấy bảy người con trai phải chết nội trong một ngày, thế mà bà vẫn can đảm chịu đựng nhờ niềm cậy trông bà đặt nơi Đức Chúa” (Mcb 7,20). Bà nói với con út: “Con đừng sợ tên đao phủ này; nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ. Sau cùng bà mẹ cũng đã chết theo các con” (2 Mcb 7,29.41).

3- Bà Blanca, hoàng hậu nước Pháp, tâm sự với con trai còn nhỏ: “Chúa biết mẹ yêu con là dường nào; dầu vậy, mẹ thà thấy con chết bây giờ trước mặt mẹ, hơn là biết con sau này phạm tội trọng, vì phạm tội trọng là đóng đinh Chúa Giêsu”. Những lời này đánh động cậu cách sâu sắc, cậu nói: Thà chết chẳng thà phạm tội. Cậu ấy lên làm vua nước Pháp, vương hiệu Louis 9. Vua luôn xa lánh tội lỗi, cố sống thánh thiện; được Giáo Hội phong hiển thánh (lễ ngày 25.8). Quả thật, những bàn tay đưa nôi là những bàn tay cai trị thế giới!

II- Tình Mẫu tử của Thiên Chúa:

1- Thánh Kinh thường diễn tả tình thương của Thiên Chúa như tình Phụ tử (x kinh Lạy Cha). Tuy nhiên, các ngôn sứ cũng đã nêu bật tình mẫu tử của Thiên Chúa: “Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy ” (Is 66,12). Chúa Giêsu đã sánh ví: “Đã bao lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh” (Lc 13,34). Sau phép Thánh Thể, Người còn cụ thể hóa tình mẫu tử ấy qua việc trối lại cho Hội Thánh Đức Maria, Mẹ của Người: “Đây là mẹ con” (Ga 19,27).

2- Trong lòng bàn tay mỗi người, Thiên Chúa đã ghi khắc chữ M, như muốn gửi gắm từng người cho Mẹ Maria. Mẹ luôn nhìn đến chúng ta và thấy: “Họ hết rượu rồi ”(Ga 2,3). Sống trong thung lũng đầy nước mắt này, ai mà chẳng có lúc “hết ruợu”; ai mà chẳng có lúc bế tắc, sa cơ thất thế? Bất kỳ ở đâu, bất cứ làm gì, chúng ta hãy nhớ, hãy nhìn chữ M trong lòng bàn tay, trong lòng đời mình: Mẹ Maria là Mẹ nhân lành, làm cho chúng ta được sống được vui được cậy! Ở tiệc cưới Cana, dù không ai kêu cứu, Mẹ cũng đã cầu bầu cùng Chúa; phương chi bây giờ chúng ta cầu cứu kêu xin, chắc chắn Mẹ sẽ ra tay trợ giúp, đúng với tước hiệu Mẹ là Mẹ hằng cứu giúp, Đức Bà phù hộ các giáo hữu!

3- Mỗi ngày, đặc biệt ngày thứ bảy, những ngày tháng Hoa và tháng Mân Côi, quây quần bên Mẹ, chúng ta hồi tưởng lại sự hiện diện đầy tình mẫu tử của Mẹ với Giáo Hội sơ khai, đã chia sẻ điều quý giá nhất cho các vị là Chúa KiTô (x Cv 1,14). Xin Mẹ hôm nay cũng hiện diện, đồng hành với gia đình, giáo xứ, cộng đoàn chúng ta, trong Con yêu quý của Mẹ: “Kìa ai dong duổi đường gió bụi, gánh nặng sầu thương mệt mỏi hai vai. Kìa ai thiếu vỗ về người mẹ, tháng ngày trôi lặng lẽ cô liêu, về đây Mẹ sẽ thương yêu, về đây Mẹ sẽ ban nhiều ơn thiêng. Kìa ai mê mãi tìm hoan lạc. Kìa ai say đắm trong muôn tội, tâm hồn đang lạc chốn mê cung, về đây thống hối ăn năn, về đây Mẹ sẽ rửa lòng sạch trong ”. (Nhạc sĩ Vinh Hạnh).

Hạt Cải (Huế)

 

MẸ, NGUỒN YÊU THƯƠNG VÔ BỜ!

 

Ai trong chúng ta có thể hát hết những khúc tình ca tha thiết, đọc hết những bài thơ đầy ắp yêu thương và những câu ca dao ngọt ngào về mẹ, cũng như những câu chuyện thắm đậm tình thương của mẹ. Kho tàng văn học đồ sộ về mẹ của nhân loại hầu như vô giá và vô tận. Bởi, tình yêu của mẹ dành cho con là một tình yêu thiêng liêng, huyền diệu đã được Thiên Chúa ban cho người mẹ. Ngạn ngữ Ả rập đã nói: “Vì Thượng Đế không thể ở khắp nơi, nên Chúa đã sản sinh ra các bà mẹ.” Tôi thì lại thích diễn tả điều đó theo một cách khác: “Tình yêu nơi các bà mẹ với con cái làm tỏ rõ một phần tình yêu nơi Thiên Chúa với con người”.

Tình yêu của các bà mẹ

Tình yêu nơi các bà mẹ với con cái thật sâu thẳm và mênh mang.  Mẹ sẵn lòng đói lạnh để con được ấm no; mẹ cam nằm chỗ chiếu, nệm ướt trong đêm giá lạnh, để con nằm phần chiếu, nệm khô ráo; con đi xa, mẹ trông đợi nhớ nhung; con lỗi phạm trở về, mẹ thứ tha hoan hỷ. Mẹ sẵn sàng hy sinh tất cả, để con cái được ấm êm hạnh phúc: “Mẹ nghèo nón lá tả tơi/ Mong sao con trẻ vào đời bình yên”. Ca khúc Mẹ yêu con của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sáng tác năm 1956 do ca sĩ Thu Hiền thể hiện, tôi cứ nghe đi nghe lại nhiều lần đã khơi lại trong tôi, người con mồ côi  bao nhớ nhung về mẹ: “À á ru hời ơ hời ru. Mẹ thương con có hay chăng, thương từ khi thai nghén trong lòng. Mấy nắng sớm chiều mưa ròng. Chín tháng so với chín năm gian khổ tính khôn lường...” Và trên hết, mẹ sẵn sàng hy sinh mạng sống để con được sống. Câu chuyện “Anh Phải Sống” của nhà văn Khái Hưng: Người mẹ, chị Lạc, vợ anh Thức, sẵn lòng buông tay không bám lấy chồng, để chồng có thể bơi được trên dòng sông Nhị Hà trong lúc chìm thuyền trôi hết những cành củi khô, vợ chồng anh vừa vớt được, vào một chiều mưa bão. Chị đành chịu chết, để thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé! Con chị được sống, khi anh Thức trở về nhà. Đó  là tình yêu dâng hiến (agape), hoàn toàn vô vụ lợi. Người mẹ được phú bẩm: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào; Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…” (Lòng mẹ, Y Vân) là bởi vì hơi thở của con là hơi thở của mẹ; cuộc sống của con là cuộc sống của mẹ; con sống là mẹ sống; con chết cũng như mẹ chết. Ngoài ra:

Máu thịt của con là máu thịt của mẹ

Từ trong trứng nước, ngay những giây phút được hình thành theo quyền năng kỳ diệu và lòng yêu thương vô bờ của Thiên Chúa, con được nuôi dưỡng bằng máu thịt của mẹ. Máu thịt của con, chính là máu thịt của mẹ. Xương cốt của con, chính là xương cốt của mẹ. Cung lòng mẹ là tổ ấm của con trong chín tháng mười ngày, con được cưu mang ấm êm hạnh phúc. Nơi cung lòng mẹ, con được đón nhận tất cả những gì mẹ tiếp nhận. Mẹ lo lắng, khó khăn u sầu, con co ro trong lòng mẹ; mẹ vui tươi hạnh phúc, con nhảy mừng trong lòng mẹ (Đức Mẹ đi viếng bà Elizabeth); mẹ thanh thoát nhẹ nhàng thưởng thức món ngon vật lạ, bổ dưỡng, con mỉm cười lớn mau. Chính vì thế, các bác sĩ thường khuyên các bà mẹ khi mang thai, muốn thai nhi mạnh khỏe, ngoài việc ăn uống đủ chất dinh dưỡng như cá chép, thịt, trứng, cần có đời sống tinh thần thoải mái, vui tươi, tránh lo lắng u sầu để khỏi ảnh hưởng không tốt đến con trong lòng. Con sinh ra, còn sữa nào tốt hơn sữa mẹ! Dù hôm nay có hàng trăm thứ sữa, song Bác sỹ vẫn khuyên các bà mẹ nên cho con bú sữa mẹ. Vì khi bú, con còn đón nhận tình cảm ấm áp, dịu dàng, yêu thương ngọt ngào của mẹ, qua sự vuốt ve hay lời ru êm ái từ thẳm sâu lòng mẹ phát ra.

Tình yêu của Chúa thể hiện một phần nơi các bà mẹ

Mầu nhiệm Chúa ba Ngôi, Mầu nhiệm Tình Yêu, mầu nhiệm trung tâm của Đức Tin Kitô giáo, vốn là một mầu nhiệm vượt trên sự hiểu biết của con người; ngay cả óc tưởng tượng của con người cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ. Làm Phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. (Mt 28,20). Nếu Chúa không dạy thì chúng ta không thể nào biết được. Mầu nhiệm Chúa Ba ngôi giúp ta biết: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Chỉ khi Chúa xuống làm người, ta mới được Chúa cho biết Mầu nhiệm cao trọng này; thời Cựu Ước ta mới biết Thiên Chúa duy nhất và quyền năng vô biên đã tạo ra vũ trụ cùng muôn loài. Thánh Augustinô đã nói: “Nếu anh thấy tình yêu, anh thấy Ba Ngôi cực thánh” (Trích Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu của Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI số 19). Chính vì thế, khi chúng ta cảm nghiệm, nhìn thấy được tình yêu của mẹ với con cái, chính là lúc chúng ta nhận ra một phần vẻ nhiệm mầu của tình yêu bao la không bến bờ nơi Thiên Chúa dành cho con người.

Tình yêu của người mẹ, nó cụ thể hơn, nó sống động hơn, ta dễ có thể nhận được bằng giác quan, ta bắt gặp hàng ngày ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Nhìn vào tấm gương tình yêu nơi người mẹ với con cái ta đã có thể bập bẹ được đôi điều về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nhà truyền giáo cũng là họa sĩ thời danh người Hà Lan Van Gogh (1853-1890) đã nói: “Cách tốt nhất để biết Thiên Chúa là hãy yêu nhiều. Hãy yêu bạn mình, yêu vợ mình, yêu một cái gì đó. Rồi bạn sẽ thấy mình đang đi đúng đường dẫn tới chỗ biết Thiên Chúa”. Vậy nhìn bà mẹ yêu con ta thấy được phần nào tình yêu của Thiên Chúa với chúng ta. Cũng chính vì thế mà trong thư thứ nhất câu 20 chương 4, thánh Gioan đã viết: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”.

Nỗi thao thức băn khoăn

Từ cội nguồn, và sâu thẳm, tình yêu thương của mẹ với con là như thế! Và có thể trăm lần, ngàn lần hơn thế! Nhưng nhìn lại trong xã hội hôm nay, ta không khỏi ngậm ngùi chua xót, đớn đau khi thấy khá nhiều người chỉ còn biết chạy theo vật chất, chạy theo tiền tài danh vọng. Hàng ngàn, hàng trăm ngàn bà mẹ sẵn sàng nạo phá thai, trút bỏ thai nhi, máu thịt của mình vô tội vào sọt rác. Đau đớn hơn nữa là các thai nhi nhiều nơi còn được dùng làm đò ăn cho gia súc. Xã hội chưa có một đạo luật nào bảo vệ sự sống của con người khi còn là thai nhi. Càng buồn hơn khi người ta còn tranh cãi nhau chưa nhận thai nhi là con người. Người ta chỉ nhìn nhận con người khi đã được sinh ra. Thật phi luân và phản đạo đức. (Điều 19 Hiến Pháp Việt Nam: Con người có quyền sống…)

Kết luận

Cộng đoàn Giáo xứ phải là cộng đoàn Đức Tin; cộng đoàn cầu nguyện; cộng đoàn yêu thương và bác ái; nhưng trên hết phải là cộng đoàn Loan Báo Tin Mừng. Vì Thánh Giacôbê đã xác quyết: “Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết” (Gc. 2,17). Vì lẽ đó, chúng ta có bổn phận gìn giữ tình yêu cao đẹp của người mẹ nơi con cái trong môi trường, trong quê hương thân yêu này, nơi Chúa đã cho ta sống tại đây, bằng cách thiết tha cầu nguyện xin Chúa thương để các bà mẹ nhận ra việc trút bỏ thai nhi là lỗi luật Chúa dạy. Và ta cùng cầu nguyện để các nhà lãnh đạo trên quê hương sớm có các sắc luật ngăn chặn sự phá thai để mọi người được bảo vệ quyền sống và được sống bình an ngay khi còn là thai nhi trong cung lòng mẹ. Được như vậy, hạnh phúc biết bao!

                                                                                                           Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

 

GIÁO LUẬT

 

THẮC MẮC

 

“Bố con là con một. Sau khi lập gia đình, bố con có bốn người con, nhưng chỉ có con là con trai. Con lập gia đình cách đây hơn một năm. Tuần vừa qua, vợ con mới sinh được một đứa con trai. Bố con rất mừng khi có cháu nội đích tôn. Vì thế bố con muốn tổ chức một bữa tiệc thật hoành tráng. Đúng ngày đầy tháng của cháu, bố con sẽ mời một linh mục dòng quen thân với bố con về rửa tội cho cháu tại gia đình và sau đó mở tiệc ăn mừng trọng thể luôn cho tiện. Nhưng khi con trình với cha xứ thì ngài bảo việc Rửa Tội tại gia như thế là không được phép. Xin Cha cho biết luật Giáo hội quy định như thế nào về việc này?”

 

Trả lời:

 

Trong việc một linh mục thuộc Hội Dòng ban bí tích Rửa Tội cho cháu bé tại tư gia, nhân ngày đầy tháng của cháu, chúng ta cần lưu ý đến 3 điểm sau đây:

1. NGÀY RỬA TỘI

Không biết đúng ngày đầy tháng của cháu bé rơi vào ngày nào. Nhưng chúng ta cần lưu ý luật Giáo Hội đã quy định:

“Mặc dù có thể cử hành bí Tích Rửa Tội vào bất cứ ngày nào cũng được, nhưng thông thường, khuyên nên cử hành bí tích này vào ngày Chúa Nhật hoặc  nếu có thể được, vào đêm vọng Phục Sinh” (Điều 856).

Ngày Chúa Nhật và nhất là đêm vọng Phục Sinh có liên quan mật thiết với việc Chúa Kitô sống lại, nên Rửa Tội vào những ngày đó là rất có ý nghĩa. Tuy nhiên, luật Giáo Hội cũng cho phép cử hành bí Tích Rửa Tội vào bất cứ ngày nào cũng được.

2. THỪA TÁC VIÊN RỬA TỘI

“Trừ trường hợp cần thiết, nếu không được phép buộc phải có, không ai có thể ban bí tích Rửa Tội trong một địa hạt khác, dù là ban cho những người thuộc quyền mình” (Điều 862).

Ngoại trừ trường hợp cần thiết, thông thường việc ban bí tích Rửa Tội được dành đặc biệt cho cha sở là vị chủ chăn trong phạm vi lãnh thổ của mình (x. Điều 530, 10). Người ngoài địa bàn quyền bính và trách nhiệm của mình (vd. Cha sở giáo xứ khác, Giám mục giáo phận khác), nếu không có phép của vị hữu quyền sở tại, sẽ ban bí tích Rửa Tội cách bất hợp pháp cho bất cứ ai, kể cả cho người thuộc quyền mình đi nữa.

Linh mục thuộc Hội Dòng trong trường hợp nêu trên, nếu muốn ban bí tích Rửa Tội cho cháu bé thì trước hết phải có phép của cha sở tại nơi Rửa Tội. Còn có được cử hành bí tích Rửa Tội tại gia hay không, chúng ta sẽ xem xét tiếp.

3. NƠI CHỐN RỬA TỘI

Theo Điều 857 §1 của Bộ Giáo luật hiện hành, ngoài trường hợp cần thiết,  nơi dành riêng để ban bí tích Rửa Tội là nhà thờ hoặc nhà nguyện.

Theo luật chung, người thành niên phải chịu phép Rửa Tội tại nhà thờ riêng của Giáo xứ, và nhi đồng tại nhà thờ giáo xứ của cha mẹ, trừ khi có một lý do chính đáng (x. Điều 857 §2).

Nếu người sắp được Rửa Tội, vì ở xa hoặc vì những hoàn cảnh khác, gặp sự bất tiện lớn, không thể đến hoặc không thể được đưa đến nhà thờ giáo xứ hay nhà nguyện khác trong ranh giới của giáo xứ có giếng Rửa Tội, thì có thể và phải được lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong một nhà thờ hay một nhà nguyện khác gần hơn, hoặc tại một nơi khác xứng đáng (x. Điều 859).

Tuy nhiên, Giáo luật đã quy định rõ ràng trong Điều 860 §1: “Ngoài trường hợp cần thiết, không được ban bí tích Rửa Tội tại tư gia, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép vì một lý do quan trọng”.

Trong trường hợp cần thiết (nguy tử, bệnh tật, hay lý do khác không đi đến nhà thờ được..) thì có thể Rửa Tội tại tư gia.

Còn thông thường thì không được ban bí tích Rửa Tội tại tư gia. Ngay cả cha sở cũng không có quyền tự cho phép mình làm trái luật Giáo Hội trong trường hợp này. Mục đích của quy định này nhằm để tránh cho bí tích Rửa Tội đừng trở thành một cử hành khép kín trong gia đình và tách rời khỏi cộng đoàn Kitô hữu; ngoài ra quy định này cũng giúp tránh sự phân biệt đối xử hay sự ưu đãi người này hơn người khác.

Khi có lý do nghiêm trọng thì Đấng Bản Quyền địa phương (Giám mục Giáo phận, Tổng Đại diện, Đại diện Giám mục) được cho phép Rửa Tội tại tư gia.

Kết luận:

1. Cha sở nói đúng khi ngài bảo việc Rửa Tội tại tư gia trong trường hợp này là không được phép.

2. Nếu muốn được phép, phải xin Đấng Bản Quyền địa phương, khi có lý do nghiêm trọng.

 

GIÁO DỤC

 

HIỀN MẪU

Lm. JB. TRẦN ĐINH TỬ

 

Một câu hỏi được đặt ra: vì sao ông bà ta không gọi quý bà mẹ là giới ‘Từ Mẫu’ mà lại gọi là giới ‘Hiền Mẫu’?

Mẫu là MẸ, chúng ta đã có dịp bàn đến trong số trước. Ở đây chúng ta cùng khảo cứu “TỪ” và “HIỀN”.

Từ là tình thương sâu đậm, như ta thường gặp: “Lương y như từ mẫu” (thầy thuốc như mẹ hiền).

Hiền là người có đức hạnh, tài năng và hiền lành; chứ không chỉ là người có tấm lòng yêu thương, thương cảm, như “hiền thê lương mẫu” (vợ lành mẹ tốt). Trong “Hiền’ bao hàm cả khối óc và con tim. Phải chăng, tiền nhân muốn nhắc nhở người làm mẹ phải là người nữ có trái tim rộng mở, đồng thời cũng biết vận dụng khối óc tinh nhạy trong “thiên chức xây tổ ấm”; nhất là trong việc dạy dỗ, hướng dẫn con cái.

Thực tế từ rất xưa cho thấy, các trẻ độ tuổi chưa đến trường bao giờ cũng coi cha mẹ là thần tượng: “Bố con bảo thế này mà”, “Mẹ con làm thế kia cơ”. Rồi đến một lúc nào đó, trẻ cảm thấy cha mẹ không còn là người hiểu và hướng dẫn chúng cách hợp tâm lý, thì dù có yêu thương nó mấy nó cũng “cãi lại”: “thầy/cô con không dạy như vậy”. Thế mới hiểu trách nhiệm của người mẹ nặng nề và quan trọng là dường nào! Hiền Mẫu chính là chốn yêu thương cho con cái dựa vào lòng những lúc cô đơn buồn chán; đồng thời cũng là nhà tư vấn có trải nghiệm để con cái chia sẻ bộc lộ tâm tư. Hiền Mẫu không phải là cái máy in tiền, để bằng mọi cách có nhiều tiền, khi con cái xin là cho nhân danh lòng yêu mến: sợ con thua chị kém em. Thật thông cảm với quý vị. Chúc quý Hiền Mẫu thành công!

 

BỆNH TỰ KỶ

 

 

Qua các phương tiện truyền thông hiện nay, tôi được biết: Gần đây có rất nhiều ông bố bà mẹ đưa con mình đến nhờ các bác sĩ tâm lý giải quyết một căn bệnh xuất hiện khá nhiều nơi các học sinh nhỏ tuổi. Căn bệnh mà người lớn chúng ta cũng cần nhìn lại để xem cách hướng dẫn giáo dục con em chúng ta có đi đúng hay không? Đó là  căn bệnh “Tự Kỷ”.

Tự kỷ là một bệnh rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp và ngôn ngữ, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại. Những em mắc bệnh này thường không cười với người khác, ít khi nhìn thẳng vào người khác, thích chơi một mình, sống trong một thế giới riêng, không để ý đến bố mẹ, sống rất độc lập, chậm biết nói, không diễn tả được mình muốn gì, khó ngủ, dậy sớm và một số biểu hiện khác liên quan đến rối loạn về tâm lý. Căn bệnh này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi có hai yếu tố:

1- Yếu tố thứ nhất do bản thân. Có thể ngay từ nhỏ, em đã hấp thụ lối sống ích kỷ, chỉ biết nhận mà không biết cho. Việc thích sống độc lập đã xây lên bức tường ngăn cách giữa em  với mọi người và môi trường xung quanh. Hay còn do tính khí nhút nhát, sợ điều này điều kia, để rồi  dẫn em đến lối sống tự kỷ.

2- Yếu tố thứ hai do tác động bên ngoài. Có thể em sống trong một môi trường gia đình nghiêm khắc, bố mẹ chỉ biết đi kiếm tiền nhưng không biết quan tâm đến con cái và giáo dục chúng nên người, không muốn con cái mình chơi với ai vì sợ bị thua thiệt, quản lý giờ giấc quá khắt khe. Từ đó, em như chui vào vỏ ốc, không dám ra ngoài để hòa nhập với môi trường xung quanh.

Như vậy, môi trường quan trọng để giáo dục và hình thành nên một con người đạo đức, một con người tốt bắt nguồn từ gia đình, dù xã hội có tác động khá mạnh mẽ. Nguyên nhân và trách nhiệm không phải nơi những đứa trẻ mà là nơi người lớn.

Từ những điều trên, tôi mong các bậc làm cha làm mẹ, những người có trách nhiệm, hãy nuôi dưỡng, dạy dỗ, giáo dục con em mình với một trái tim nhân hậu, một tấm lòng bao dung, một vòng tay yêu thương, để giúp các em không phải gánh trên vai một căn bệnh mà chẳng ai mong muốn. Hãy tạo những điều kiện tốt nhất để các em sống đúng nghĩa với tuổi xuân mà các em đáng được hưởng.

Vs. Lê Đình

 

 

GIÁO DÂN

VÔ CẢM

Dẫn nhập

                Cuộc sống càng ngày càng sung túc, ấm no và đầy tủ tiện nghi nhưng nơi con người vẫn còn đó một nỗi lo: nỗi lo bệnh tật. Dù khoa học, y khoa có tiến bộ nhưng đồng thời với những tiến bộ ấy là sự xuất hiện của nhiều loại bệnh mới với nhiều diễn biến phức tạp và khó lường; trong khi các phương pháp điều trị lại không kịp thích ứng. Không chỉ có thế; ngày hôm nay, còn có những căn bệnh mang tính thời đại bởi nó không phải là căn bệnh thể lý nhưng nó xuất hiện cùng với những trào lưu xã hội, dựa trên một quan niệm và não trạng lệch lạc. Điều đáng lo ngại là những căn bệnh “thời đại”  này cũng có sức “lây lan” khá nhanh, như những căn bệnh truyền nhiễm thể lý với tốc độ chóng mặt và có hiệu ứng như “hiệu ứng domino”. Một trong số đó là căn bệnh vô cảm. Bài viết nhằm trình bày một số khía cạnh của căn bệnh vô cảm trong đời sống đạo của Kitô hữu.

1- Từ ngữ

Vô cảm (tiếng Anh là apatheia) là một từ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Apatheos”. “A” có nghĩa là phủ định, “pathos” là cảm thông, chia sẻ sự đau khổ của tha nhân. Aptheia là sự dửng dưng hoàn toàn đối với các thực tại trần thế (x. mục từ apatheia, Olivier de la Brosse, Dictionnaire de la foi chrétienne, trang 616) Nói rộng ra, vô cảm còn diễn tả một đời sống thiêng liêng, trạng thái sống đạo “cách vô hồn”, “không cảm xúc” của người Kitô hữu.

2- Thực trạng

Môi trường xã hội ngày nay đề cao chủ nghĩa cá nhân. Cái tôi được đưa lên cao thành một “style”. Không chỉ giới trẻ mà thôi, ngay cả những giới khác cũng bị ảnh hưởng: Sống chỉ biết đòi hỏi, hưởng thụ, không có trách nhiệm với gia đình, xã hội. Nền kinh tế thị trường khiến con người coi trọng vật chất, sống thực dụng hơn, sự tràn lan của các luồng thông tin trên mạng Internet, những ảnh hưởng xấu dần len lỏi và ăn sâu vào tâm hồn, vào nhân sinh quan cũng như các sinh hoạt, thực hành tôn giáo của người Kitô hữu. Vì vậy, người Kitô hữu sống đạo và tương quan với nhau như những con robot vô hồn, và bằng những trái tim bằng đá. Căn bệnh này thật không dễ để các “bác sĩ tâm hồn” có thể “bắt và chữa”. Bởi vì căn bệnh này phát sinh do nhận thức của mỗi Kitô hữu trong việc nuôi dưỡng và vun trồng đời sống thiêng liêng chứ không phải từ “lục phủ ngũ tạng”.

3- Biểu hiện

a. Vô cảm khi tham dự các cử hành phụng vụ

Nhiều người Kitô hữu tham dự các thánh lễ cũng như các cử hành phụng vụ một cách chiếu lệ để chu toàn luật ngày Chúa nhật; chú trọng việc có mặt chứ không để tâm đến việc gặp gỡ được Chúa và được Chúa biến đổi. Họ “đi xem, hay đi nghe lễ”, mà không đi “dự Thánh Lễ” cách tích cực, linh động. Nhiều người đã lý giải rằng họ đã chu toàn điều răn thứ 1 trong 6 điều răn Hội thánh là “xem lễ”? Phải chăng ngôn ngữ nhà đạo cũng cần phải điều chỉnh cho phù hợp với tinh thần mới của Công đồng Vatican II vì “Giáo Hội hằng bận tâm lo cho các tín hữu đừng tham dự Thánh Lễ như những khách bàng quang, câm lặng, nhưng nhờ hiểu thấu đáo mầu nhiệm đó qua nghi lễ và kinh nguyện sao cho họ tham dự hoạt động cách ý thức, thành kính và linh động, cho họ được đào luyện bởi Lời Chúa, được bổ sức nơi bàn tiệc Mình Chúa, biết tạ ơn Chúa” (Hiến Chế Phụng Vụ, số 47). Nhưng có bao nhiêu Kitô hữu tham dự thánh lễ và thực  hiện đúng tinh thần ấy?

Ngoài ra, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy việc thực hành các hình thức đạo đức bình dân: lần chuỗi, chặng đàng thánh giá, dâng hoa, ngắm đứng, có vẻ quá chú trọng đến hình thức bên ngoài mà chưa thực sự nhắm tới đi sâu vào nội tâm, nhiều lúc bị “trần tục và thương mại hóa” qua việc thi đấu giữa các “con hoa, ngắm đứng viên” để xem ai hay hơn, giỏi hơn và cả trao giải thưởng nữa! Đôi khi chúng ta đọc-đi-vũ-ngắm như những người máy, đọc kinh như những chiếc máy cátxét!

Thiển nghĩ, căn nguyên của tình trạng này là thái độ của chúng ta khi tham dự các cử hành phụng vụ. Người Kitô hữu Việt nam dường như “quen” lối sống đạo đức và tham dự phụng vụ nhiệm nhặt theo hình thức câu nệ lề luật. Chính điều này đã làm lu mờ sự hiện diện của Thiên Chúa qua những cử hành ấy. Vì vậy mà không ít người trong chúng ta thường cố gắng luyện tập sự “hoàn thiện” trong đời sống đạo đức, thiêng liêng theo “lộ trình rất con người” nhưng lại bỏ quên Thiên Chúa - Đấng mà chúng ta kiếm tìm.

b. Vô cảm trong đời sống cộng đoàn

Chủ nghĩa thực dụng và quy ngã đã chiếm lĩnh cái nhìn của chúng ta, nên chúng ta chẳng nhận ra giá trị tích cực nơi anh chị em mình. Do đó, chúng ta thường hay sống trong bệnh nhìn “bề ngoài”: chỉ nhìn đời, nhìn người bằng cặp kính đen với cái nhìn chủ quan không thấu đáo và nguy hại hơn chúng ta “cố gắng” uốn nắn cách nhìn quy ngã và xếp anh chị em vào hệ tư tưởng của mình. Chính với não trạng này mà chúng ta chỉ “thấy” chứ không “gặp”, “nhìn” mà không “cảm”, khiến chúng ta trở nên dửng dưng, xa lạ với tất cả nhiều khi còn tương quan với nhau dựa trên những thành kiến. Do đó, chúng ta rất dễ có thái độ kết án anh chị em mình theo cái nhìn chủ quan, chỉ nhắm đến những gì mang lại lợi ích theo ý muốn của mình. Đã có bao giờ mỗi người Kitô hữu tự vấn chính mình: Tôi đã làm gì vun đắp tình liên đới và hiệp thông với anh chị em hay tôi đang xây những bức tường ngăn cách làm thân thể của Chúa bị “chia năm xẻ bảy”? Với nhãn quan ấy, Kitô hữu khó có thể cảm nghiệm được mầu nhiệm và khuôn mặt của Chúa  nơi anh chị em của mình.

 Hay hiệu quả của việc quan tâm đến những anh chị em nguội lạnh và lương dân (truyền giáo). Kết quả rất hạn chế và nhiều khi chỉ dừng lại ở những lần thăm viếng. Thiết nghĩ điều mà anh chị em này cần nhất là sự hiện diện, đồng cảm và cùng đồng hành với họ trong việc nuôi dưỡng, bảo vệ đức tin còn “mới mẻ”? chứ không chỉ là những giá trị vật chất.

Theo người viết nguyên nhân của vấn đề chính là trong chúng ta chưa có một cái nhìn “linh thánh” và lòng nhiệt thành, thiết tha với những người xa và chưa biết Chúa. Bởi vì, một khi trong chúng ta thực sự cảm nhận được sự hiện diện của Chúa nơi tha nhân đạt mức “đầy đủ” và lửa truyền giáo. Khi có được, chúng ta sẽ không còn gặp anh chị em với bộ mặt trần tục nhưng với “chiều kích linh thánh” từ đó chúng ta sẽ có cách cư xử với anh chị em theo cách của Chúa; và với lửa của Chúa Thánh thần, người Kitô hữu có động lực để luôn “sát cánh” với anh chị em “đang xa Chúa”.

c. Vô cảm trước Lời Chúa

Do chưa thực sự có một thái độ đúng đắn và quyết tâm trong việc đọc, học hỏi và tìm hiểu Lời Chúa nên nhìn chung đa số người Công Giáo vẫn mơ hồ với các nội dung của Thánh Kinh. Chưa nắm vững nên chưa xác tín và chưa để Lời Chúa thấm nhập chi phối suy nghĩ, hành động của chúng ta. Dù Công Đồng Vaticanô II đã đề ra những giáo huấn cùng những “cải tổ” giúp người Kitô hữu học hỏi và hiểu Thánh Kinh nhưng có vẻ như 50 năm trôi qua mà nhiều người Công Giáo vẫn chỉ hiểu biết Thánh Kinh cách sơ sài.

Thánh Hiêrônimô đã nói: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô”. Như vậy, Thánh Kinh chính là nơi mà người Kitô hữu có thể gặp gỡ được Chúa Kitô Phục sinh và được Người đổi mới. Nhưng có một thực tế rằng: Ngày nay, cũng không ít người tham dự các khóa, lớp học hỏi về Lời Chúa, Tác viên Tin Mừng nhưng dường như những tác viên ấy chưa đủ lớn mạnh để có thể làm “tác nhân” lan tỏa cho anh chị em trong việc hiểu và sống các giá trị Tin Mừng. Một thực tế: Nhiều người trong chúng ta còn có một tâm thế quá thụ động trong việc cầu nguyện với Lời Chúa hay nếu có thì cũng có những cách cầu nguyện với Thánh Kinh “quá ư là mộc mạc”: Thường tìm câu Kinh Thánh theo ý riêng (mà mình thích) để cầu nguyện và rồi muốn “ép” Thiên Chúa làm theo ý mình. Chúng ta thường lầm tưởng rằng như thế là đã sống Lời Chúa. Thói quen này chỉ muốn dựa vào công nghiệp của chính mình. Làm như thế là chúng ta bỏ quên Thiên Chúa, để chỉ đi tìm gặp chính mình chứ đâu phải là tìm gặp Chúa trong và qua Lời Chúa; tìm nghe tiếng mình mà bỏ quên tiếng Chúa. Điều này dễ làm chúng ta ngộ nhận và xem đó là đủ, hoàn hảo không cần thay đổi. Một lối thực hành nguy hại. Bởi vì nó sẽ dẫn chúng ta vào lối mòn, biến chúng ta thành những Biệt phái chính hiệu.

Tạm kết

Những cảm nghiệm thiêng liêng không phải là một thứ triết lý, một ý thức hệ, càng không phải là một cái gì để bàn luận trong trí nhưng phải  được người Kitô hữu thể hiện trong cuộc sống. Vì sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo có trình bày “sống sao cầu nguyện vậy, cầu nguyện sao sống vậy”. Một đời sống thiêng liêng sung mãn, trưởng thành và “mạnh khỏe” phải là đời sống luôn tìm gặp và cảm nhận được Chúa nơi cảnh sống, anh chị em chung quanh, hay qua các cử hành phụng vụ, đạo đức hoặc nơi mọi sinh hoạt thường ngày; nhưng khi chưa có Chúa thì đời sống ấy sẽ khô cằn, lạnh nhạt và chết dần nên việc vô cảm trong cung cách sống đạo là điều dễ hiểu. Tất cả những vô cảm ấy như những tảng băng giá lạnh khiến lửa Chúa Thánh Thần không còn cháy trong mỗi người nên chẳng thể truyền thông lửa ấy cho anh chị em. Rất có thể tôi và bạn cũng đang ở trong tình trạng này. Nếu có, chúng ta có muốn phá tan tình trạng ấy trong chính bản thân mình không? Tại sao lại không nhỉ?

Felicitas

 

CÁI KHỔ

Đức An

 

                Ta thường nói: Đời là bể khổ. Nói vậy thôi, chứ con người vẫn thích lao vào bể khổ. Họ nghĩ rằng: Bĩ cực rồi lại thái lai. Nhưng làm sao cho hết khổ, bởi vì khổ này lại tiếp theo khổ khác. Có người nghĩ: Cứ tiền vào là giải được khổ, nên họ đã dồn hết tâm trí và sức lực để mưu toan kiếm được nhiều tiền. Nhưng túi tham con người không đáy, biết làm sao cho đủ, tới mức độ nào thì ngưng để giải quyết cái khổ.

Nguyễn Công Trứ đã nói: “Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”. Thế mà con người vẫn “bất tri nhàn”, làm sao ngưng được để hưởng nhàn. Biết hưởng nhàn là bớt khổ.

Khi xưa Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn nhà phú hộ với người nghèo khó Lazaro để khuyến cáo dân Do Thái và chúng ta ngày nay. Khi lọt lòng mẹ, ta chỉ có hai bàn tay trắng, khi chết cũng trắng hai tay, nào mang theo được gì! Bởi thế, chúng ta không thể định giá mình sẽ sống được bao lâu. Có nghĩa chúng ta chưa giải được khổ, thì đã nhắm mắt xuôi tay. Lời Đức Giêsu nói: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy”.

Phật giáo cũng nhận: Đời là bể khổ. Nên Đức Phật đã chu du khắp thiên hạ để tìm phương pháp giải khổ cho chúng sinh. Cuối cùng phải thiền định dưới gốc Bồ đề sau 49 ngày Ngài mới ngộ ra: Con người khổ vì quá chấp, vô chấp là hết khổ. Biết thế, nhưng con người có thực hiện được hay không lại là một vấn đề.

                Con người sống trong trần gian phải chấp nhận luật của tạo hóa: Sinh, bệnh, lão, tử. Nhưng đã mấy ai sống được tới già, có người mới sinh đã chết, có người sinh ra mang bệnh tới chết, có người chết vì tai nạn. Thế mà người ta vẫn lao mình vào bể khổ bằng cách kiếm tìm phù du cuộc sống, coi đó là cứu cánh của cuộc đời. Đôi khi họ đã phải trả giá rất đắt. Họ coi những lời khuyến cáo của thánh hiền là quá xưa, không còn phù hợp. Họ đặt cược niềm tin vào khoa học, để giải quyết các vấn nạn vấp phải.

                Nguồn gốc của tội là kiêu ngạo, mà nguồn gốc của khổ là tội. Trong khi kiêu ngạo lại trở thành mãn tính, nên họ cho rằng; những vấn đề xảy đến, con người có thể giải quyết. Tư tưởng tự kiêu đó xưa dân Do Thái xây tháp Babel. Ngày nay họ tin tưởng có thể xây tháp Babel bằng khao học, bằng sức riêng, đã có trạm không gian, đã có những thành tựu và họ sẽ tiến xa hơn nữa vào vô hạn!

                Đến bao giờ con người mới thức tỉnh nhận mình là thụ tạo với cái hữu hạn  của mình để không ảo tưởng. Xã hội ngày nay tính tự cao và hãnh tiến đang chiếm ngự. Ngay cả các tôn giáo cũng đang bị xâm thực. Những lễ nghi tôn giao đang bị tục hóa trong một xã hội duy vật, sự tranh đua giữa các đoàn thể tổ chức làm mất đi vẻ thành kính. Hãy nhìn nhận rõ, đừng vì những hào nhoáng bên ngoài mà quên phần thực chất nội tâm.

                Xét cho cùng con người vẫn đang ngụp lặn trong bể khổ. Con người vần đi tìm hạnh phúc trong phù du vật chất. Tất cả không cho cuộc sống thêm được một giờ. Thế mà con người theo đuổi tâm linh thì ít, đánh mất mình trong phù du vật chất thì nhiều. Cuộc sống tự nó đã có biết bao đau khổ. Và Thiên Chúa đã cho ta một cứu cánh. Đau khổ là do ta tự chuốc lấy, Thượng Đế không bắt ta phải chịu. Hệ quả của đau khổ là ta tự chọn do nhận thức.

                Người Kitô hữu phải nhận thấy sự nâng đỡ của Thiên Chúa, để chúng ta biến những đau khổ của cuộc đời thành niềm tin vững mạnh, lướt thắng mọi cám dỗ trần gian.

 

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH

2

 

Nó được đi học ở nước ngoài. Ngành nó học là Formative Counseling/ Spiritual Direction. Thú thật, tới bây giờ nó cũng chưa biết dịch cụm từ “Formative Counseling” sang Tiếng Việt như thế nào cho chính xác. Nói như thế không phải là nó “nổ”, mới đi học mấy năm mà đã mang cái “bệnh” Việt Kiều quên tiếng Việt, rồi lại xì chó cắn nó xem nó quên thật hay chỉ là giả hình giả bộ, thì khổ cho nó. Nó xin dừng lại giải thích một tí kẻo độc giả cho rằng nó lạc đề rồi. Đang “nói với chính mình” mà sao có “bệnh” Việt Kiều rồi chó gà gì nữa đây.

Nó nghe người ta kể chuyện rằng: Có anh Việt Kiều  nọ (mới định cư ở Mỹ được dăm ba năm) về thăm quê. Môi miệng lúc nào cũng hello, good morning, thank you, good bye… như gió vậy. Nhưng khi có ai thắc mắc: Từ, câu anh vừa nói dịch sang tiếng Việt là gì, thì anh ấm úng, lóng ngóng, quơ tay, quơ chân diễn tả rằng không biết từ này, câu này, tiếng Việt nói làm sao, mình quên rồi. Có anh bạn cắc cớ rủ về quê chơi. Đi ngang nhà có chó dữ, anh xì chó ra cắn ầm ĩ, anh Việt Kiều hốt hoảng gọi “chó, chó, chó”. Anh bạn cắc cớ nói: Tao tưởng mày nói: dog, dog… thì hôm nay mày làm mồi cho chó rồi. Vì chó Việt, biết tiếng Việt mà thôi!

Trở lại với cụm từ “Formative Counseling”, về mặt chữ thì Formative xuất phát từ chữ Formation, có nghĩa là đào tạo, huấn luyện. Còn Counseling có nguồn gốc từ chữ Counsel, nghĩa là tư vấn. Ráp hai từ lại có nghĩa là tư vấn đào tạo hay tư vấn huấn luyện. Và nó đã nghe và nhìn thấy một vài anh chị em dịch là tư vấn huấn luyện. Và bản thân nó cũng hướng về cách dịch là tư vấn huấn luyện. Còn về cụm từ “Spiritual Direction”, thì dễ hiểu hơn. Cụm từ này có nghĩa là hướng dẫn thiêng liêng, linh hướng hay đồng hành thiêng liêng. Và nó bám theo cụm từ và cách hiểu của cụm từ này để tìm hiểu về ngành học của nó. Nó nhận ra rằng, người học ngành này phải tiếp xúc với người khác, phải tìm hiểu, phải động viên, phải hướng dẫn và phải đồng hành với người khác. Để làm được như thế, người học và làm trong ngành này phải nỗ lực tìm hiểu và khám phá nơi những người mà mình hướng dẫn, mình đồng hành càng nhiều càng tốt, mới mong có thể giúp đỡ, hướng dẫn hay đồng hành với họ được.

Từ suy nghĩ và hiểu như thế, nó cảm thấy lo lắng vì không biết bắt đầu từ đâu, bởi lý thuyết là một chuyện, thực hành và thực tế lại là một chuyện khác. Và điều quan trọng nó thao thức, băn khoăn là: Làm sao có thể biết được và hiểu được người khác đúng như họ là chứ không phải như ta nghĩ họ là hoặc như người khác nghĩ và hiểu về họ. Vì: “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người ai tỏ mà đo cho tường”.

Với những ưu tư, lo lắng trong thao thức như thế, một lần nữa, tựa đề quyển sách: NÓI VỚI CHÍNH MÌNH lại lóe lên trong tâm trí nó như một lời giải đáp giúp nó đi đến quyết định chọn tựa đề cho những trang suy tư này là: ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH.

Nó xác tín rằng: để có thể hướng dẫn, giúp đỡ và đồng hành với ai đó, nó phải học và phải biết ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH trước. Hay nói cách khác, nó không thể đồng hành với ai đó nếu nó không biết đồng hành với chính mình. Và rồi nó cầm bút để viết lên những suy tư mộc mạc này như một sẻ chia với những ai có cùng ưu tư với nó. Đó là mong muốn tìm hiểu mình, học biết mình, khám phá chính mình và ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH.

Ôi Khanh!

 

                 

 

ƯỚC MƠ THIỆN HẢO

Mic. Nguyễn Văn Xuân

      

Có những bước chân thăm thẳm, trải dài lý tưởng thiên sai, mơ ước một chân trời rực hoa và nắng đẹp. Nguyện hy sinh ướp cho tươi cá đời, chăm sóc cho hoa đời xinh tươi đâm bông. Theo Thầy, bỏ đò, bỏ lưới, bỏ dòng sông. Ước mơ một đời phiêu du đây đó cùng đi chài cá người với Thầy,  hiến  thân cho đời, cho hạnh phúc và tình thương ơn cứu độ. Có những bước chân vào đời hướng về tương lai dệt mộng, xây tổ uyên ương, nảy  mầm hạnh phúc. Họ cùng có một ước mơ dìu nhau đến cuối trời tươi  sáng, đầy  nắng xuân và hoa đẹp, đường trần có Chúa cùng đi.

       Dù ước mơ nào, thì  ngõ đi lối về ấy cũng vẫn là ước mơ thiện hảo, tìm về một thiên đường hạnh phúc, đầy lá và hoa. Ai lại chẳng có những ước mơ đẹp như vậy. Thế nhưng cõi đời đâu phải ước mơ nào  cũng biến thành hiện thực. Có những ước mơ mà khi mơ ước là đời thêm khổ luỵ, khi cắn vào là dòng đời rong ruổi những mỏi mệt, chông gai và thử thách.

                Ước mơ của đời tu sỹ là một ước mơ tuyệt đẹp. Nhưng trên đường thực hiện lý tưởng, đâu phải chỉ là trời thơ dệt mộng, là cánh diều bay bổng thênh thang  giữa mây trời, bao la bát ngát về lối  đi ngọt ngào Thượng Đế trao ban. Ước mơ đời thường, trong cuộc sống hôn nhân, xây dựng hạnh phúc lứa đôi, đâu phải là không đẹp. Đẹp quá đi ấy chứ! Đẹp từ cốt lõi của Thượng Đế, Người  đã chúc lành cho cái tình yêu  ấy như thảm cỏ nhân gian, xanh mầm hạnh phúc, Ngài yêu họ đến độ hoá thân họ thành một, Ngài dạy họ thuỷ chung, cùng nhau nhìn về một hướng trời thiện hảo, tràn trề man na, thoả thuê sữa và mật ong ngọt ngào.                         

       Những ước mơ trên đây phải chăng là những ước mơ tuyệt hảo của Thượng Đế? Người là Cha chúng ta. Có người cha nào lại không muốn con cái  mình trở nên thiện hảo bao giơ?  Thế nhưng, trên con đường theo đuổi lý tưởng, Ngài khao khát trao ban cho chúng ta những ước mơ đó. Nhưng để ước mơ nên hoàn hảo, triển nở, nảy mầm sáng tạo, Ngài lại muốn chúng ta được tự do dự phần vào công việc thực hiện ước mơ của mình.               

                Để thực hiện ước mơ đâu phải là dễ dàng. Vì nếu dễ dàng thì đâu còn phải là mơ ước nữa. Trên con đường thực hiện ước mơ đời mình. Người tu sỹ cũng gặt hái rất nhiều những khó khăn, gập ghềnh sỏi đá, thiếu gì đôi phút xao lòng, những nỗi cô đơn, những lần đau khổ vì bị chống đối. Vòng tay yếu đuối run lên, không chừng ngả nghiêng còn có thể làm gãy giập đi lòng muốn. Đời sống lứa đôi cũng vậy. Để thực hiện được hoài bão ấy, để cùng nhau lắng nghe tiếng hót của đôi vành khuyên líu lo trên cành buổi bình minh tươi sáng, họ cũng phải cùng nhau hứng chịu gió mưa của bão, sẵn lòng cùng nhau chịu nắng gay gắt của những trưa hè nóng bỏng cháy da, biết bao những chướng ngại, chật hẹp, khúc khuỷu và lên dốc. Đôi khi họ cũng xao lòng, mệt mỏi rã rời, vòng  tay ước mơ hạnh phúc ngày nào, bây giờ chỉ là nắng chiều nhẹ vương sầu mộng. Có nhìn thẳng sự việc như vậy ta mới có thể ngộ ra rằng: Ước mơ thì đẹp, mà sao bước chân đi về lối mộng lại cứ làm ta ngại ngùng, lòng ta lại mỏng giòn yếu đuối trước những quán trọ dừng chân, trước một chút bóng mát thoáng qua  bên đời mời gọi.      

Nói về thiện hảo thì không có cái thiện hảo nào hơn cái thiện hảo nào nữa. Cho nên đời sống  người tu sỹ với đời sống lứa đôi, không hẳn là có sự chênh vênh hơn kém như một số người đã tưởng. Họ cùng ước mơ thiện hảo, họ cùng ước mơ một chân trời hạnh phúc. Đường nào thì cũng dẫn đưa chúng ta về đến bến  bờ tình yêu vĩnh cửu. Đường về nhà Cha.

       Tuy nhiên trên đường về ấy, mỗi người lại chọn lối đi theo tiếng gọi ước mơ đời mình. Mỗi ước mơ ấy là những lời mời tung tăng như nắng mai, tất tưởi như mây chiều, ầm ì sóng vỗ như đại dương, nhẹ nhàng như lá thu bay gọi buồn  đi bên chiều vắng. Đời người tu sỹ, hay đời sống hôn nhân, trên đường thực hiện ước mơ;  Nếu không gặp những gian nan, thử thách, những lời mời gọi, những phút sao lòng, những lần yếu đuối làm cho ước mơ ngỡ ngàng, chông chênh, buồn tủi,  thì  thử hỏi lấy gì để được gọi là thước đo, là giá trị của đời sống hôn nhân, hay của đời tu sỹ. Ước mơ không có giá trị, không hướng về chân trời thiện hảo, chỉ là những bản đàn ngang cung lạc giọng, rồi chẳng đi đến bến bờ nào. Cho nên để thực hiện đi trên con đường hướng về chân trời ước mơ thiện hảo. Đường đến với Chúa vẫn là lối đi của Ngài. Lối đi thập giá bước về phục sinh.

      Cứ hỏi lòng mình rồi mới thấy. Cứ lặng lẽ đi vào một thánh đường không một bóng người, nơi đó chỉ còn mình ta với Chúa, trong tiếng rì rào của miên trường, tiếng gió thổi của lời kinh đêm huyền nhiệm, thăm thẳm sâu lắng lòng ta. Ta sẽ nghe thấy tiếng Chúa gọi ta. Tiếng Chúa gọi vang vọng thẳm sâu từ còi lòng riêng tư mỗi người, rồi ta sẽ được vững tâm bình an  trong ánh  sáng của  Tin Mừng cứu độ…

 

MỪNG THỌ THÂN MẪU

Chúng con mừng thọ mẫu thân

Mẹ hiền trường thọ muôn phần Chúa ban

Nguyện xin mẹ sống bình an

Các con, các cháu tri ân mẹ hiền.

                Ngày xưa mẹ tuổi hoa niên

                Công dung ngôn hạnh, dâu hiền nết na

                Đảm đang gánh vác việc nhà

Sinh con nuôi dưỡng nay đà thành nhân

Chúa thương mẹ sống khang an

Vui cùng con cháu ủi an vui buồn

Những lời mẹ dạy chúng con

Đá mòn, núi lở, lời còn không phai…

Song Kiên, Gx Đài Đức Mẹ

                TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

KẺ TRỘM LÀNH TÍ HON

 

1.

Cuối giờ học, cha phó, đặc trách Thiếu nhi Thánh Thể giáo xứ, phát cho mỗi em một bản hướng dẫn thiếu nhi xét mình xưng tội. Cha gõ thước lên mặt bàn, tập trung sự chú ý:

- Các con đọc kỹ ba lần, có điều gì không hiểu thì hỏi ngay, nghe không?

Cả lớp học dạ ran rồi im phăng phắc, cắm cúi đọc. Thằng Bin, được xếp vào loại siêng và ngoan nhất lớp, giơ tay:

- Thưa cha, tuần vừa rồi, con có đi lễ Chúa Nhật trễ. Hôm ấy kẹt xe, bố con không chở con đến nhà thờ đúng giờ được, con có tội không ạ?

Cha phó suy nghĩ rất nhanh:

- Bố con chở con, lại bị kẹt xe, việc xảy ra ngoài ý muốn, không phải lỗi của con. Cả lớp nghe này: Khi ta không cố ý phạm, và không khinh thường hay lười biếng, ta không có lỗi, hiểu không?

Ba mươi cái miệng dạ ran. Thằng Bin đọc lại bản xét mình. Nó lại giơ tay:

- Thưa cha, thế thì…

Cha phó cười, ân cần:

- Thế thì hết giờ rồi. Cha nhắc lại: Ngày mai, từ tám giờ sáng, giáo xứ mình giành riêng một buổi giải tội cho thiếu nhi. Các con nhớ phải đi xưng tội, mừng Chúa phục sinh, nhớ không?

Cả lớp học lại dạ ran.

 

2.

Ngay hôm ấy, đã tám giờ tối, thằng Bin khoe với chị Hạnh, mẹ nó:

- Ngày mai, Cha phụ trách nói thiếu nhi phải đi xưng tội mừng Chúa phục sinh, mẹ ạ! Nhưng…

- Nhưng sao?

Nó bối rối:

- Con không xưng tội được không, mẹ? Con mới xưng tội hai tuần trước, còn đang rước lễ mà!

Chị Hạnh không đắn đo:

- Cha phó đã nói vậy, con phải đi xưng tội. Ngoan, phải nghe lời cha phó.

-Nhưng…

- Không nhưng nhiếc gì cả. Con phải vâng lời. Rồi mẹ thưởng cho.

- Mẹ thưởng gì cơ?

- Bất cứ gì mẹ xét thấy có ích cho con, và trong tầm tay mẹ.

- Bao giờ hả mẹ?

- Bất cứ lúc nào con muốn, và nếu mẹ rảnh rang, như bây giờ chẳng hạn.

Một ý nghĩ vụt đến, lóe lên trong đầu nó, thằng Bin ôm cổ chị Hạnh:

- Mẹ cho con đi siêu thị sách, ngay bây giờ, mẹ nhé!

- Con cần mua gì à?

-Con không mua gì cả, con chỉ muốn đi chơi thôi. Mẹ mới hứa xong mà!

Chị Hạnh ngần ngừ, nhưng chỉ trong phút giây:

- Được rồi! Ông mãnh! Đi thì đi. Nhân thể, mẹ mua mấy cuốn sách gởi về quê cho ông nội.

 

3.

Đã gần tới giờ siêu thị đóng cửa, cô thu ngân có vẻ đã mỏi mệt, uể oải cầm mấy cuốn sách chị Hạnh mới mua, soi mã vạch, in hóa đơn, cười gượng nhưng vẫn còn tươi chán:

- Hết bốn trăm tám mươi ngàn, chưa kể cuốn sách của cháu, chị ạ!

Chị Hạnh ngạc nhiên:

- Ủa! Con tôi có mua gì đâu? Nó chỉ xin đi chơi thôi mà.

Cô thu ngân ngại ngùng như có điều gì khó nói lắm. Một lát sau, cô mới ngập ngừng:

- Phiền chị coi lại băng ghi hình tự động. Đó, chị coi, có phải nó nắm tay chị đó không? Đó, nó rẽ vào khu sách thiếu nhi. Đó, nó nhìn trước, nhìn sau. Đó, nó lấy lên, đặt xuống.  Đó, nó lén lút bỏ cuốn sách vào trong áo…

Chị Hạnh dán mắt và màn hình, sững sờ:

- Không, không bao giờ. Con tôi không bao giờ ăn cắp.

Cô thu ngân nói nhỏ như sợ tiếng nói của mình chạm vào điều gì rất thiêng liêng trong lòng người đối diện:

- Chuyện nhỏ thôi, chẳng đáng gì. Chị là khách hàng truyền thống của siêu thị chúng em, để chúng em tặng cháu cuốn sách ấy cũng được.

Chị Hạnh cúi xuống vạch bụng áo con lên. Trời ạ! Một cuốn truyện tranh Doremon được giấu trong lưng quần của nó thật. Mặt chị tái mét đi. Chị thét vào mặt con:

- Mẹ có để con thiếu thốn gì không?

Thất vọng về con và vì mất mặt với cô thu ngân, cơn giận của chị mỗi lúc một tăng tốc, phừng phừng như lửa cháy:

- Tại sao con, tại sao mày lại ăn cắp, hả?!

Rồi không kiềm chế được, chị tát con một cái thẳng cánh tay:

- Thằng khốn nạn!

 

4.

Cả đêm hôm ấy, chị Hạnh không ngủ được. Chị không hiểu tại sao con chị lại đổ đốn như vậy. Chị không tiếc con điều gì. Chị thỏa mãn mọi nhu cầu chính đáng của nó. Có bao giờ nó nói dối chị, hay lấy của chị đồng xu cắc bạc nào đâu. Vậy mà tối nay nó đã ăn trộm sách ở siêu thị, không thể chối cãi được. Chị bắt đầu ứa nước mắt. Chị khóc vì thằng Bin đã ăn trộm. Còn nhỏ đã vậy, lớn lên làm sao đây? “Bé không vin, cả gãy cành”, chị đã hết lòng yêu thương dạy dỗ con, nó vẫn ăn trộm, chị còn phải làm gì nữa đây? Chị khóc vì lòng tin của chị nơi con mình đã rạn vỡ. Chị khóc vì đã mày tao với con, đã tát con như thù địch, đã gọi con là thằng ăn cắp, là thằng khốn nạn. Thằng bé đã ngủ say, nhưng chị đang đau cái tát con hồi tối. Con chị là thằng khốn nạn hay chính chị mới là kẻ khốn nạn vì không dạy được con làm người tử tế. Con chị là kẻ ăn cắp hay chị mới là kẻ ăn cắp tuổi thơ của nó? Chị đang sinh hoạt tích cực trong giới hiền mẫu của giáo xứ, thế mà… Chị tự trách mình: “Mang danh hiền mẫu mà mình đã cư xử với con, như một bà mẹ ghẻ độc ác trong những câu chuyện cổ tích mình thường kể dỗ giấc ngủ cho con. Mình là hiền mẫu hay ác mẫu, mình có còn là mình nữa không hay đã biến thành kẻ khác? Ma quỷ ẩn nấp trong bóng tối linh hồn mình đã xuất đầu lộ diện, tác oai tác quái rồi chăng?” Chị tự nguyền rủa, tự dằn vặt chính mình. Rồi chị tìm đến Chúa và Đức Mẹ. Chị dỗ giấc ngủ bằng cách lần hạt năm chục kinh Mân côi, thêm năm chục khác, rồi năm chục nữa, cứ thế, nhưng chị vẫn không chợp mắt được. Trời đã sáng bạch, chị vẫn còn ngồi trước bàn thờ, thầm thĩ:

- Lạy Chúa! Xin Chúa đừng để đứa con duy nhất của con hư mất.

Vừa lúc anh Phúc, chồng chị đi làm ca đêm về.

 

5.

Anh Phúc chở con đi xưng tội về. Chị Hạnh dọn cơm chờ sẵn. Thằng Bin vui như sáo. Tuổi nhỏ chóng quên, hình như nó quên hết mọi chuyện đêm qua, luôn miệng hát líu lo bài hát cha phó mới dạy hôm trước, nhưng nó đã thuộc lòng từ lâu: “Xin Chúa í a chúc lành cho đời cha mẹ của con. Công ơn là như núi non, dưỡng nuôi con bao ngày vuông tròn. Con xin đến trong đời, an vui nhờ có ơn Trời, và ơn cha mẹ suốt đời coi nhẹ khổ đau. Xin cho cha mẹ con thắm mãi tình son của Chúa Trời, cho con giữa gia đình luôn sống theo tình người con ngoan”.

Cả nhà quây quần bên mâm cơm. Anh Phúc hỏi:

- Con làm việc đền tội chưa?

- Con không phải làm việc đền tội.

Anh Phúc sửng sốt :

- Để lãnh nhận bí tích hòa giải, phải làm những việc sau: Xét mình, ăn năn tội, xưng tội, nghe lời xá giải và đền tội. Con không phải làm việc đền tội là sao?

Thằng Bin không giải thích dài dòng, nó chỉ biết có sao nói vậy:

- Cha giải tội chỉ bảo con giục lòng ăn năn, rồi đọc lời tha tội. Cha có dạy con làm việc gì đền tội đâu?

Hai vợ chồng im lặng nhìn nhau. Một lúc sau, anh Phúc nói:

- Bố tin con. Nhưng giục lòng ăn năn có phải là việc đền tội không? Không làm việc đền tội thì bí tích hòa giải có thành sự không? Hôm nào, bố phải hỏi cha xứ mới được.

Rồi anh nhìn con bằng ánh mắt đầy yêu thương, trìu mến:

- Con cởi khăn quàng ra cho mát. Con đang gặp điều gì khó khăn phải không? Hãy nói cho bố mẹ biết, tại sao con lại lấy cuốn sách ở siêu thị? Nếu con khó nói quá thì để khi khác nói riêng với mẹ hay bố cũng được.

Được lời như mở tấm lòng, thằng Bin cười thơ ngây:

- Có gì khó nói đâu, bố. Cha phụ trách cũng thế, mẹ cũng thế, bảo con phải đi xưng tội, nhưng con có tội gì đâu. Con phải ăn cắp, phải phạm tội mới có tội mà xưng chứ.

Anh Phúc nhắm mắt lại, lắc lắc đầu, nếp trán anh nhăn lại. Anh nghĩ trong lòng “lại lẫn lộn phương tiện với mục đích rồi”, nhưng sợ con anh không hiểu, anh chỉ nói ngoài miệng:

- Ai lại phạm tội để lấy tội mà xưng bao giờ? Nếu như vậy, lần sau, con cứ thành thật, khiêm tốn thưa với cha giải tội: “Thưa cha, con xét mình rồi, con không thấy con phạm tội gì. Xin cha chúc lành cho con” là được rồi…

Anh nhắc lại lần nữa, rồi nhấn mạnh :

- Con hiểu không, nhớ không?

Còn chị Hạnh điếng người, nước mắt chị ứa ra. Chị bước tới chỗ thằng Bin, ôm đầu con, thổn thức:

- Mẹ chỉ muốn làm điều tốt cho con thôi, nhưng không ngờ. Dù sao thì mẹ cũng có lỗi. Mẹ là mẹ mà đã không hiểu đến nơi đến chốn tâm hồn con mình. Mẹ đã vô tâm, máy móc buộc con làm việc lành theo ý riêng. Mẹ đã không lắng nghe, không thấu hiểu, đã bắt buộc con phải xưng tội, khi điều đó đối với con không thực sự cần thiết; hoặc nếu có cần thiết chăng nữa, thì mẹ đã không dự phòng, không dạy bảo kỹ càng những trường hợp như của con.

Chị ôm con chặt hơn:

- Bin à! Mẹ xin lỗi con, mẹ xin lỗi con, kẻ trộm lành tí hon của mẹ.

Lãongu

 

 

THÁNG MẸ

 

Tháng năm tháng kính Mẹ yêu,

Câu kinh tiếng hát sớm chiều nhỏ to.

   Con dâng Mẹ những: "Âu-lo,

Vui-buồn, sướng-khổ, nhận-cho trong đời.

   Tán dương Tình Chúa không ngơi,

Nguyện cho Danh Chúa sáng ngời đẹp tươi.

   Nước trời đến với muôn nơi,

Thực thi Thánh Ý Chúa Trời trao ban.

   Niềm vui, trong Chúa ngập tràn,

Cùng Mẹ nhịp bước vượt ngàn khó nguy".

 

Jos. Nguyễn Minh Đức, Gx.Thánh Tâm B2

 

 

GIẬN HỜN

Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Sống trong cuộc đời, chúng ta không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội và những buồn phiền, vì bá nhân bá tánh, mỗi người đều có một tính tình riêng, đồng thời nhân vô thập toàn, ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình. Chúng ta thường tỏ ra tức tối đối với những kẻ đã cả gan dám xúc phạm đến quyền lợi, cũng như danh dự và uy tín của chúng ta. Thái độ bực tức này được gọi một cách chung là giận.

Gã còn nhớ mang máng ngày xưa khi học về lý hoá, người ta đã phân biệt hai loại cháy, đó là cháy bùng và cháy ngầm. Cháy bùng là khi hiện tượng oxy hoá diễn ra một cách mãnh liệt làm toả nhiệt và phát sáng, khiến mọi người đều có thể trông thấy. Còn cháy ngầm là khi hiện tượng oxy hoá diễn ra một cách âm thầm và lặng lẽ, nhưng lại làm hao mòn các thứ kim loại cứng, như đồng và sắt.

Cơn giận cũng vậy, tuỳ theo tính khí và hoàn cảnh, có thể được bộc phát một cách mãnh liệt qua những hành động hung bạo và đập phá, cũng như qua những lời nói gắt gỏng và chửi bới. Chúng ta gọi đó là giận dữ. Còn nếu chúng ta bực bội tức tối mà cứ âm ỉ trong lòng, không chịu nói ra, hay nếu có biểu lộ, thì lại được biểu lộ bằng thái độ im lặng, bất bạo động, bất hợp tác. Chúng ta gọi đó là giận hờn, hay giận dỗi. Hôm nay, gã xin bàn rộng tán dài thêm một tí về sự giận dỗi, giận hờn hay hờn dỗi của những cô nàng đang yêu!

Thực vậy, mỗi khi nói tới hờn dỗi, gã liên tưởng ngay đến các nàng, nhất là các nàng đang bị tình yêu, như làn khói toả làm cho cay xè đôi mắt. Và hình như hờn dỗi đã trở thành nghề riêng của các nàng rồi vậy. Nói thế không có nghĩa là chỉ các nàng mới hờn dỗi, mà ngay cả các chàng đôi khi cũng dỗi, cũng hờn, mặc dù về số lượng có phần ít hơn nhiều.

Các chuyên gia cho rằng khi yêu các nàng thường đòi hỏi cái cảm giác được an toàn nơi chàng mà họ thương, họ mến. Chàng phải làm được một cách xuất sắc những điều họ yêu cầu. Nếu chẳng may chàng không chu toàn được, thì lập tức họ chọn phương thức hờn dỗi, để biểu lộ thái độ không bằng lòng của mình. Chẳng hạn chàng tới điểm hẹn trễ hơn một lúc, khiến nàng phải đợi, phải chờ; hay chàng lỡ quên tặng hoa, tặng quà cho nàng vào ngày sinh nhật, ngày tình nhân, ngày phụ nữ. Tất cả đều làm cho các nàng hờn dỗi.

 

Những người bênh vực thì cho rằng nguyên nhân khiến các nàng hay hờn dỗi xuất phát từ tình yêu. Thực ra, không phải là các nàng cố tình làm khó dễ chàng của mình, mà chỉ đơn giản là muốn dùng sự hờn dỗi để kiểm tra lại tình cảm của chàng mà thôi. Nhưng điều đó không cho phép các nàng cứ lạm dụng lý do này để thường xuyên hờn dỗi, bởi vì nó có thể ảnh hưởng và làm sứt mẻ tình cảm của hai người. (Theo Việt Báo). Cùng quan điểm ấy, một tác giả khác cũng đã viết: Giận hờn vốn dĩ là chứng bệnh muôn thuở của những người yêu nhau. Một cách nào đó, hờn giận giống một thứ gia vị làm cho món canh tình cảm thêm ngon, thêm ngọt. Tuy nhiên, nếu nêm nếm quá tay, thì tình cảm ấy có nguy cơ gặp phải sóng gió. (Theo VTC).

Sự giận hờn quá đáng không phải chỉ đe doạ tình yêu, đem lại nguy cơ bị sập tiệm, mà còn để lại những hậu quả tai hại cho chính người hờn giận. Thực vậy, khi hờn dỗi khuôn mặt của nàng trước kia xinh đẹp bao nhiêu, thì bây giờ ỉu xìu như bánh bao chiều. Cặp mắt đâu còn long lanh và trong sáng, nhưng lúc nào cũng ủ rũ, rưng rưng như muốn khóc. Và trái đắng đầu tiên nàng phải gậm nhấm chính là nỗi buồn. Nỗi buồn ấy len lỏi vào mọi ngõ ngách tâm tư, khiến nàng mất ăn mất ngủ, lúc nào cũng thở dài thườn thượt và những nếp nhăn xuất hiện trên trán, làm nàng già đi cả chục tuổi.

Khi giận hờn, người ta không còn mất tiền vì í ới gọi nhau đi ăn chè, đi uống sinh tố, hay đi coi phim, nhưng lại mất đậm tiền cho điện thoại trong tiến trình đàm phán để tái lập nền hoà bình và bình thường hoá mối bang giao. Khi nhấc máy, một đàng thì cứ nói leo lẻo, một đàng thì cứ im thin thít. Có khi cả hai cùng nín lặng để nghe tiếng thở của nhau, và sự nín lặng đôi khi kéo dài cả nửa tiếng đồng hồ. Chỉ vỗ béo cho công ty điện thoại mà thôi.

Nguy cơ mất tiền chỉ là chuyện nhỏ, nhưng nguy cơ mất nhau mới là chuyện lớn. Khi giận hờn, người ta thường không kiểm soát được lời ăn tiếng nói của mình, nhiều lúc đã làm cho trái tim của nhau bị trầy xước. Và nếu cứ bị trầy xước hoài, thì tới một lúc nào đó, tình yêu sẽ rơi vỡ tan tành và chỉ còn lại những mảnh vụn. Vì vậy, về phía các nàng thì hãy hờn dỗi in ít thôi nhé.

Còn về phía các chàng, đâu là những việc cần làm ngay mỗi khi bị giận, bị hờn, bị dỗi? Kinh nghiệm cho thấy mỗi nàng có một kiểu hờn giận khác nhau. Tuyệt chiêu của các chàng là phải chịu đựng và tìm cách hoá giải những cơn giận hờn đó tuỳ theo từng hoàn cảnh.

Nếu nàng dỗi bằng cách im như thóc. Nghĩa là khi dỗi nàng sẽ thinh lặng, cau mày và quay đi chỗ khác. Nàng có vẻ như rất cương quyết không thèm nhìn cái bản mặt của chàng. Lúc bấy giờ chàng có năn nỉ ỉ ôi cỡ nào chăng nữa, thì cũng chỉ là uổng công vô ích mà thôi, nhiều lúc còn tiếp thêm nhiên liệu để nàng lên m?t, lm căng hơn nữa. Nếu lầm lỗi chàng gây ra chỉ nhỏ như con thỏ, thì biện pháp hữu hiệu nhất trong tình cảnh này là hài hước, chàng hãy chọc cho nàng cười. Và khi cả hai đã cười rồi, thì chuyện làm lành sẽ trở nên quá đơn giản.

Nếu nàng giận bằng cách chửi mắng chàng xối xả. Nghĩa là bỗng dưng nàng đỏ mặt tía tai, tuôn ra hàng ruỗi những lời khó nghe. Nếu vì tự ái, máu nóng chàng cũng sôi lên sùng sục, cả hai đều giận thì cùng đứt dây. Cách tốt nhất là chàng hãy bình tĩnh rồi nói: Hạ hồi phân giải, chúng mình sẽ duyệt lại chuyện này sau nhé. Rồi “lỉnh” đi chỗ khác, chờ cho tình hình lắng dịu và mức độ căng thẳng được giảm xuống. Đây quả là một khó khăn, một thách thức vì chàng nào cũng có một “cục tự ái” to đùng. Rồi sau đó, hãy gặp riêng nàng mà ôn tồn giải thích trong hoà bình. Chắc hẳn ý kiến ý cò của chàng sẽ dễ dàng được nàng lắng nghe hơn.

Nếu nàng hờn bằng cách khóc như mưa. Hờn theo kiểu này quả thật nàng phải được liệt vào hàng cao thủ võ lâm, bởi vì khi sử dụng thứ “vũ khí mít ướt” này, nàng đã nắm chắc được phần thắng trong tay, mặc dù chẳng biết ai đúng ai sai. Khi nàng khóc, chàng chẳng cần phải dỗ, bởi vì càng dỗ, nàng càng được thể mà khóc bạo hơn nữa. Trong hoàn cảnh não nùng và bi đát ?y, chàng chỉ nên kiếm một miếng khăn giấy, đưa cho nàng lau những giọt nước mắt còn đọng trên bờ mi mà thôi. Việc làm đơn sơ và tầm thường này sẽ giảm bớt được những tia nhìn hình “viên đạn” của nàng bắn sang phía chàng. Sau đó, hãy viết một bản “tường trình” với những lời lẽ chân thành. Những nàng mít ướt hay khóc nhè cũng là những nàng dễ mềm lòng hơn ai hết.

Dù sao chăng nữa, thì điều tốt nhất, đó là những anh đờn ông con giai không nên làm cho những chị đờn bà con gái giận hờn. Còn nếu lỡ làm cho nàng dỗi hờn, thì phải mau mắn nhận phần thiệt, phần sai về mình. Điều đó chẳng làm cho chàng mất đi hình ảnh đẹp của mình, mà nhiều khi còn làm cho mình đẹp hơn, ít nhất là dưới mắt một người.

 

CHUYỆN NHÀ XỨ

 

Trong cuộc sống, khi người ta còn đùa vui với nhau tức là người ta còn gắn bó và xem nhau như người thân thích. Có thân thì mới thích. Vui đùa là tìm thấy và tỏ lộ niềm vui cùng với tình yêu nơi người thân cận. Về khoản đùa vui, tôi rất khâm phục cha sở.

                Chuyện kể rằng: Vào ngày Cá tháng Tư nọ (ngày 01 tháng 4). Trong buổi ăn sáng. Cha sở nói với cha phó:

- Tôi nghe nói cha bố của cha vừa mới trúng số đó! Hình như là độc đắc thì phải. Cha phó gọi điện mà chúc mừng đi!

Cha phó vui vẻ mà quên đề phòng.

- Alô! Con chào bố! Con chúc mừng bố nhé!

- Chào con! Chúc mừng chuyện gì thế?

- Bố mới trúng số độc đắc đó!

- Ủa? Trúng hồi nào? Con nghe ai nói vậy?

- Dạ! Có lẽ người ta nghe nhầm ạ! Con chào bố ạ!

Cha sở cười giòn như bánh đa mới nướng. Lúc này cha phó mới giật mình và nghiệm ra là mình vừa mới bị “câu”. Mặt cha cười nhưng không được tươi. Nhưng ông bà ta có câu: “Cười người hôm trước hôm sau người cười”. Sau bữa trưa như mọi ngày, cha sở đi vào phòng nghỉ trưa. Cha phó đi dạo ngoài sân thì nhìn thấy một anh đang phơi lúa. Ý tưởng đến trong đầu.

- Chào anh Huy, lúa má thế nào? Có trúng không anh?

- Dạ con chào cha! Năm nay lúa cũng được được cha ạ!

- Ô! thế thì tốt rồi! Anh Huy này, Cha sở muốn gặp anh đó!

- Vậy hả cha?

- Ừ! Anh vào gặp ngài xem sao. Giờ này thì ngài đang đọc kinh. Khoảng 15 phút nữa anh vào gặp nghen! Nhớ nhấn chuông đàng hoàng nhé!

- Dạ! Con cảm ơn cha.

Cha phó từ từ bước về phòng của mình. Trên miệng nở một nụ cười thật lạ. 15 phút sau. Đây là lúc ngủ ngon nhất của buổi trưa.

- Reng..eng.eng…eng….Reng..eng.eng…eng…!

- Ai đấy? Anh Huy hả?

- Dạ! Con chào cha!

- Anh gặp tôi có chuyện gì không?

- Dạ, cha phó nói cha muốn gặp con.

- Ờ, Thế à? Không có chuyện gì hết đâu? Cha phó chọc anh đó! Hôm nay là ngày nói dóc đấy! Anh đi làm việc của anh đi.

- Dạ, con xin phép cha con đi.

Cha sở vừa đóng cửa phòng vừa lầm bẩm: “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại”. Tỉ số là 1-1 mình lãnh cục chì.

Chuyện tưởng chừng như đã kết thúc tại đó. Ba tuần sau cha sở bàn với cha phó chuẩn bị tâm hồn cho giáo dân bước vào Tuần Thánh. Cha đề nghị cha phó ngồi tòa giải tội tiếp. Không cần mời cha khách. Cha phó hoàn toàn đồng ý. Đến ngày đã định. Cha sở ra nhà thờ sớm để thông báo chương trình giải tội. Trước khi kết thúc, ngài còn dặn dò: “Có hai tòa giải tội. Ai xưng tội trọng và lâu năm thì vào nhà xứ. Còn ai tội nhẹ thì xưng trong nhà thờ”. Thông báo xong, cha sở gặp cha phó và nhờ cha phó ngồi tòa trong nhà thờ. Cha phó đâu hay biết gì về thông tin quan trọng kia. Ngài vào tòa giải tội để làm nghĩa vụ cao cả của một người mục tử. Ngồi mấy tiếng đồng hồ mà chưa hết người. Cha phó nhìn ra thì thấy một hàng dài biết bao là tội nhân đang rồng rắn đợi ở tòa của cha. Đưa mắt nhìn về phía nhà xứ thì chẳng còn thấy ai. Lúc sau thì thấy bóng dáng cha sở đi ra ngoài vườn. Một mình cha phó ôm sô.

Cha phó cảm nhận được sự thâm thúy của cha sở. Đúng thật là “gừng càng già càng cay”. Ở trong nhà xứ là vậy. Khi ra ngoài thì cha sở cha phó ứng xử với nhau và với người khác thế nào? Muốn biết ra sao xin xem hồi sau sẽ rõ.

Lôrensô

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

MẸ CỦA CON

Hạnh phúc thay! Con có được người mẹ

Sinh con ra, nuôi con lớn nên người

Theo tháng năm đưa con bước vào đời

Gọi ngày mai đẹp hoài bao mơ ước.

Như biển rộng, như cao dâng triều nước

Một trái tim chất chứa cả trời yêu

Một vòng nôi ủ ấp con sớm chiều

À a ơi, lời ru êm trầm lắng.

Gánh đường xa đôi vai nghe trĩu nặng

Những nắng sương tóc mẹ trắng màu mây

Bao đau thương vất vả luôn đong đầy

Cho đời con lung linh tràn sức sống.

Ân tình mẹ gợi trong con lay động

Nhận biết Chúa chính cội nguồn tình yêu

Và được nên như hoa xinh mỹ miều

Tròn mến tin nơi tình mẹ, tình Chúa.

Niềm hoan ca, con cảm tạ ơn Chúa

Ban hồng ân, người hiền mẫu tuyệt vời

Tấm lòng thành tri ân mẹ, mẹ ơi!

Cầu mong sao mẹ sống bên con mãi.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

HIỀN MẪU

Vì nhà Chúa, hết lòng cống hiến

Chị em luôn tâm nguyện hy sinh

Trong nhà tròn phận gia đình

Tham gia việc xứ, sẵn sàng dấn thân

Bao công việc, không tên không tuổi

Phận sự trao, theo đuổi thường xuyên

Chăm cây, quét dọn, trang hoàng

Xướng kinh, hát lễ, hội đoàn hăng say

Nếu không có chị em gánh vác

Ai đảm đương, những việc trên đây

Chị em chung sức, chung tay

Giúp cho giáo xứ, mỗi ngày đẹp hơn

Kính lạy Monica, thánh nữ

Là quan thầy, bầu cử chị em

Xin Ngài cầu Chúa thương ban

Đỡ nâng Hiền Mẫu, chu toàn việc chung

Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

TÌNH MẸ

Thân cò lặn lội dưới đồng sâu

Mưa nắng, gian nan mẹ dãi dầu

Lục bát đong đưa trầm vất vả

Ru con giấc ngủ trọn canh thâu

Ban mai chợt giấc lo gồng gánh

Sương gió chiều phai bạc mái đầu

Tô thắm đời con xanh mơ ước

Mênh mông tình mẹ thật đắm sâu.

Jos, Nhật Quang

NHỚ MÃI LỜI RU CỦA MẸ

Lời ru của Mẹ năm nào

Đã thành máu thịt hòa vào trong con

Bao năm con lớn con khôn

Lời ru của Mẹ giúp con thành người

Mẹ là tất cả trên đời

Con hằng ghi nhớ những lời Mẹ ru

Có những lúc, chu du khắp xứ

Để Mẹ hiền lòng cứ nhớ thương 

Ngày con trở lại quê hương

Mái nhà trống vắng, con đường trống trơn

Mẹ đã mất trong cơn bệnh nặng

Vẫn còn đây kỷ niệm tặng con

Chỉ là câu hát ru con

Mà sao quý giá còn hơn bạc vàng

Bên mộ Mẹ, con bàng hoàng hối hận

Cả cuộc đời, Mẹ tận tụy nuôi con

Giờ đây duy nhất chỉ còn

Lời ru ngày ấy thật giòn thật êm

Rồi mai con sẽ lớn thêm

Lời ru vẫn mãi êm đềm như xưa

HOÀI THANH, Gx Ngọc Thạch

BÀN TAY VÀNG

Cái  thuở ban đầu mới quen nhau

Tay Em mềm mại dáng yêu kiều,

Bàn tay thục nữ thư sinh quá

Nắm trọn tâm tình một chữ yêu.

             Thế rồi hai đứa kết tơ duyên

             Không cảnh lều tranh vẫn tim vàng,

             Thiên đàng hạnh phúc như rộng mở

             Con bế con bồng thoả ước mong.

Thời gian vùn vụt bóng câu qua

Hình dáng Em tôi có nhạt nhoà,

Bàn tay ngày ấy nay chai sạn

Thoáng chợt giật mình tôi nhận ra:

             Mấy chục năm trời chồng với con

             Bộn bề công việc vẫn vuông tròn,

             Bàn tay đồng áng, tay thu dọn

             Lận lội thân cò dạ sắt son.

Cuộc đời chồng chất những lo âu

Thay con trông cháu buổi xế chiều,

Bàn tay người vợ tay hiền mẫu

Đảm đang ví tưởng có phép màu.

                        Fx Đức Hạnh - Gx Thái Hoà

 

MẸ

Mẹ là nắng ấm dịu êm

Là làn gió mát, là niềm ủi an

Mẹ nguồn yêu mến chứa chan

Ru con giấc ngủ bình an tháng ngày

Mẹ hiền tay mỏng chân dày

Nuôi con khôn lớn đủ đầy tuổi thơ

Ruộng vườn dầu giãi nắng mưa

Thân cò lặn lội sớm trưa nhọc nhằn

Mẹ quên không nghĩ đến mình

Một lòng một dạ hy sinh cả đời

Mẹ vui khi thấy con cười

Mẹ buồn, con lúc tiết trời ẩm ương

Vì con thức dọc đêm trường

Thương con mẹ những vấn vương lệ sầu

Ai trưởng giả, ai cơ cầu

Mẹ hiền chỉ mãi một màu tin yêu

Cầu xin Chúa xuống ơn nhiều

Cho mẹ luôn khỏe là điều ước mong.

Teresa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ

TÌNH MẸ

Ôi Thiên chức đẹp thay người mẹ,

Cả cuộc đời coi nhẹ khổ đau.

Dù cho gia thất đổi màu,

Tình yêu cao cả trước sau vẫn là.

Vẫn là tình mẹ! Bao la,

Có ai đo đếm, để mà đền ơn.

Chỉ là nhẹ, khẽ, mềm, êm,

Mà sao con thấy có thêm nụ cười.

Mẹ ơi mẹ! Tảo tần liên lỉ,

Có mấy khi mẹ nghỉ thảnh thơi.

Hình như vất vả suốt đời,

Để con hạnh phúc mẹ vơi tuổi đời…

                        Phêrô Nguyễn Đức Thời, Gx. Thái Hoà

TẢN MẠN

 

GIỌT LỆ MẸ CHA

Khi con tượng thai, thì mẹ cha đã vui biết chừng nào. Khi con chào đời mẹ trào nước mắt, ba rướm đôi mi, những giọt lệ hạnh phúc vì thấy con được Chúa ban cho mạnh khỏe. Khi con tập tễnh bước những bước chân đầu tiên, mẹ cha chắc vui sướng lắm và luôn bên con đỡ đỡ nâng nâng. Khi con rụt rè lần đầu đến trường đạt những “Bông Hoa Bé Ngoan” mẹ cha ôm con mỉm cười mãn nguyện. Khi con phạm lỗi, cha đánh đòn mẹ đau thắt ruột. Khi con lớn lên bước vào biển đời, cha mẹ ân cần dặn dò bảo ban. Những lúc đó, mẹ thì tràn ứa nước mắt, cha thì giấu vui trong lòng. Đến cuối cuộc đời, trước khi xuôi tay nhắm mắt cũng vẫn thương con vô cùng giọt lệ lại tràn vì con. Vì trong lòng cha mẹ, con cái lúc nào cũng “còn nhỏ lắm”.

Sa Mạc Cuộc Đời

SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI CHA

Theo một cuộc nghiên cứu gần đây ở Mỹ cho thấy rằng sự hiện diện của người cha trong gia đình rất là tối ưu quan trọng. Cuộc nghiên cứu ghi nhận, hơn 39% (hơn 27 triệu) đứa trẻ ở xã hội Mỹ không sống với cha. 1/3 số trẻ em này không thấy mặt cha suốt cả năm hoặc do cha mẹ ly dị, hoặc cha đi làm ăn xa, hoặc đi chiến trường. Những trẻ em trong hoàn cảnh đó có khuynh hướng bỏ học ngang, lâm vào thuốc phiện hay rượu chè, có thai trước tuổi thành niên, và dính vào tội ác hay băng đảng. Ngược lại, khi người cha hiện diện trong gia đình, sống gần với con cái qua những sinh hoạt chung thì con trai bớt thái độ hỗn láo, xấc xược, và con trai lẫn con gái đều học hành tiến triển ở trường học. Ngày 28/01/2015, ĐTC Phanxicô đã có bài huấn dụ nói lên suy tư về gương mặt người cha trong gia đình trước sự tham dự của 8.000 tín hữu và khách hành hương trong đại thính đường Phaolô VI. Ngài nói: Sự vắng bóng gương mặt của người cha trong cuộc sống của trẻ em và người trẻ tạo ra các thiếu sót và vết thương có thể rất trầm trọng.

 

Chí Trung

HIỀN MẪU THỜI NAY

Hằng năm cứ vào Chủ nhật thứ 2 trong tháng 5, người ta lại tổ chức ngày Hiền Mẫu, để ca ngợi và tôn vinh người phụ nữ. Chúng ta phải công nhận rằng người phụ nữ được coi là phái đẹp, đẹp ở phong cách bên ngoài, đẹp cả tính cách bên trong, không đẹp mặt này cũng đẹp mặt khác. Người nữ là hiện thân của sự dịu dàng, đoan trang, nhân hậu, bao dung, hiền hòa, kiên nhẫn và mềm mỏng. Vẻ đẹp của các mẹ, các chị chính là vẻ đẹp của Thiên Chúa gửi gấm nơi giới Hiền Mẫu. Thế nhưng ngày nay, xã hội đã làm thay đổi rất nhiều, không còn luân thường đạo lý, lo thụ hưởng và lo cơm áo gạo tiền. Cách riêng giới phụ nữ: “Công– Dung– Ngôn– Hạnh” không còn nữa, mà thay vào đó là tính chất hung hăng, đanh đá, đưa điều đặt chuyện, buôn dưa lê, bạo ăn bạo nói, chửi chồng và mắng con…  Nhưng rất may gần đây các giáo xứ tổ chức lại các giới, các hội đoàn. Riêng giới Hiền Mẫu thường lấy quan thầy như bà thánh Đê (Lê Thị Thành), hay bà thánh Mônica, nên ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến đời sống. Hơn nữa các mẹ, các chị  thường được tĩnh tâm hàng tháng, để nghe các Cha, các Dì chia sẻ, nên được thấm nhuần đời sống Kitô hữu, được tẩy trừ những sai quấy nơi tư tưởng ấu trĩ của mình.

Ant. Nguyễn Đức Xinh, Gx. Bình Thái F1.

 

SỨC MẠNH CỦA SỰ HY SINH

Ngọn nến hồng tỏa sáng trong đêm tối gợi cho ta hình ảnh của một người mẹ suốt đời tận tụy vì gia đình, vì con cái. Để rồi đến một lúc nào đó, người mẹ ấy cũng sẽ giống như ngọn nến kia dần lụi tàn theo thời gian. Thế nhưng sự hy sinh ấy đâu phải là vô ích: Tình Yêu trong trái tim người mẹ đã thắp lên cho các con ngọn lửa của lòng tin, cậy, mến đối với Thiên Chúa và lòng bao dung, cảm thông chia sẻ với con người. Tình yêu cao cả của một hiền mẫu luôn đủ mạnh để vượt thắng được những thử thách, khó khăn trong cuộc sống gia đình và nối kết trái tim của những con người dưới một mái nhà bằng những sợi chỉ nhiệm mầu của lòng quảng đại hy sinh.

Nước Xanh

TÌNH MẸ

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào, tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào, lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu”. Câu hát trên như muốn nói cho mọi người biết người mẹ rất thương yêu con cái mình. Những tĩnh từ “bao la” “tha thiết” “êm ái” được dùng để diễn tả tình yêu người mẹ dành cho  những đứa con. Tôi xin đưa ra một hình ảnh cụ thể để thấy được người mẹ đóng vai trò quan trọng và cần thiết như thế nào. Đó là hình ảnh người mẹ dắt con đến trường. Thực vậy, đứa bé ngày đầu tiên đi học chắc chắn còn rất xa lạ với bạn bè, với thầy cô giáo và với trường lớp, nên nó sẽ khóc òa và không cho mẹ về. Nó sợ mẹ đi về rồi bỏ nó lại một mình. Từ đó cho ta thấy người mẹ rất quan trọng và hình ảnh người mẹ dắt con đi học cũng chính là người mẹ mở cho con mình một con đường tương lai sáng ngời.

Nguyễn Anh Kiệt. Gx. Đồng Công F2

MẸ ĐẸP NGÀN HOA

Trong tháng năm, với việc dâng hoa kính Đức Mẹ, tôi cảm thấy được vẻ đẹp ngàn hoa của Mẹ. Đẹp về lòng tin và sự vâng phục: Mẹ đã thưa xin vâng để cưu mang trong cung lòng chính Ngôi Hai xuống thế làm người. Đẹp về mẫu gương cho nhân loại noi theo: Mẹ luôn sống trong sự chiêm niệm và cầu nguyện, luôn bước theo Chúa Giêsu trên mọi chặng đường rao giảng Tin mừng. Đẹp vì những đặc ân của Chúa dành cho Mẹ: Vô nhiễm nguyên tội, làm Mẹ Thiên Chúa, đồng trinh trọn đời, lên trời cả hồn lẫn xác. Vì những vẻ đẹp ấy, chúng ta hãy noi theo Mẹ để trở nên đẹp như Mẹ. Đặc biệt tháng năm này, mỗi tâm hồn sẽ là như một bông hoa rực rỡ gkính Đức Mẹ. "Ai luôn nhiệt tâm sùng kính Đức Nữ Trinh Mẹ Thiên Chúa, sẽ không thể chết dữ. Ôi lạy Mẹ Đồng Trinh! một tội nhân không thể được cứu rỗi nếu Mẹ không nâng đỡ hộ phù!" (Thánh Inhaxiô Tử đạo)

Lưu Hành

ĐÔI TAI VÀ CÁI MIỆNG

Chữ ‘Thánh’ (?) trong Hán t? được ghép bở ba chữ ‘nhĩ’ (?), chữ ‘khẩu’ (?)  và chữ ‘vương’ (?) Như vậy có thể hiểu rằng: người làm thánh thì phải là người làm chủ được đôi tai và cái miệng của mình.  Sách Sáng Thế kể lại việc Evà và Adam trái lệnh Chúa ăn trái cấm. Ta thấy Evà đã không làm chủ được đôi tai, để rồi bị ma quỷ là con rắn phỉnh lừa, nghe và tin vào lời dối trá, nghi ngờ Đức Chúa là Đấng Chân Thật. Còn Adam, đáng lẽ phải dùng miệng lưỡi của mình mà ngăn cản bà Evà đừng ăn, thì lại dùng miệng mình ngấu nghiến ăn trái cấm. Tin Mừng nhiều lần cho thấy Chúa Giêsu chữa lành cho những người bị câm và điếc. Như vậy, Chúa muốn phục hồi khả năng làm chủ đôi tai và cái miệng cho con người. Mẹ Maria luôn lắng tai nghe Lời Chúa, và đã thưa lên lời “Xin vâng’’ của Mẹ để công trình cứu chuộc của Thiên Chúa được thực hiện. Thánh Giacôbê nói: “Ai không vấp phạm về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kềm chế toàn thân” (Gc 3,2). Theo Kinh Thánh, hai kẻ trộm cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, một người nhận được ơn cứu độ, một kẻ thì không. Cũng chỉ vì những lời nói của họ mà thôi. “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi nữa”, còn người kia thì nói rằng: “Lạy ông Giêsu, khi nào ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi cùng” (Lc 23,38-42).

Đa Minh Trần Văn Chính, gx Đền Thánh Giuse An Bình.

 

 

 

 

 

MỐI QUAN HỆ CHA MẸ - CON CÁI

TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY

 

Ngày nay, mối quan hệ cha mẹ - con cái dường như đang gặp khủng hoảng nặng nề bởi nhiều lý do khá phức tạp. Chữ tình, chữ hiếu, chữ nghĩa hiện nay xem ra không còn được coi trọng như xưa nữa. Thực vậy, “Gia đình, trong đó có gia đình VN luôn luôn bị tác động bởi diễn biến xã hội xung quanh và ngày nay không tránh khỏi sự lỏng lẻo trong các mối quan hệ giữa các thành viên. Kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, đô thị hóa làm tăng nhu cầu tự khẳng định của cá nhân có khi dẫn tới ích kỷ. Còn gia đình hạt nhân thì dần dần thay thế cho đại gia đình vì nhà cửa ngày càng chật hẹp. Sự bận rộn ở thành thị cũng khiến cho chức năng chăm sóc cha mẹ già ngày càng bị hạn chế. Tuy nhiên, quan trọng hơn là sự chuyển biến của xã hội khiến cho khoảng cách tâm lý giữa hai thế hệ ngày càng tăng. Người trẻ thì bị cuốn hút mạnh mẽ vào cái mới lạ, còn người già thì quay về quá khứ với sự nuối tiếc. Xung đột thế hệ xảy ra khi đôi bên không còn ý thức và làm chủ tâm lý mình…”. (x.Nguyễn Thị Oanh, “Gia đình VN thời mở cửa”, NXB Trẻ, 1998, trang 27-28).

Dựa vào những nhận định trên, ta thử liệt kê một số nguyên nhân chính gây ra sự lỏng lẻo trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt giữa cha mẹ và con cái. Đó là:

- Tác động của những diễn biến không ngừng của xã hội;

- Nhu cầu tự khẳng định của cá nhân, có thể dẫn đến tính ích kỷ, hẹp hòi, do sự tăng trưởng của nền kinh tế thị trường, cũng như do hiện tượng công nghiệp hóa, đô thị hóa;

- Mô hình “Gia đình hạt nhân” thích hợp hơn và thay thế cho nếp sống đại gia đình cổ xưa; con cái trưởng thành muốn cha mẹ cho ở riêng, trong khi cha mẹ già lại thích sống chung với con cái để có cháu bồng cháu bế;

- Kinh tế phát triển, con cái được học hành đến nơi đến chốn, thành đạt sớm, nhu cầu tự lập tăng cao, không muốn và không chấp nhận sự phụ thuộc vào gia đình;

- Con cái bận rộn làm ăn không có nhiều thời gian chăm sóc cha mẹ, nhất là cha mẹ đã già yếu; cha mẹ lo kinh tế gia đình lơ là việc chăm sóc, giáo dục, hướng dẫn con cái;

- Khoảng cách tâm lý giữa hai thế hệ càng ngày càng gia tăng do những chuyển biến ngoài xã hội. Điều này thường dẫn đến hậu quả là xảy ra những xung đột giữa hai thế hệ;

- Cha mẹ nhiều người vẫn còn nặng nề về thành tích công lao, muốn độc quyền nắm giữ vận mệnh con cái khiến con cái bị tổn thương và ức chế; có nhiều trường hợp còn xảy ra việc cha mẹ lạm dụng quyền hành hay dùng bạo lực khiến con cái uất hận muốn xa rời và đứt gánh với cha mẹ, gia đình…

Dù xuất phát từ bất cứ nguyên nhân nào, sự rạn nứt, đổ vỡ trong mối quan hệ cha mẹ - con cái trong gia đình cũng là một thực trạng đáng buồn và đáng suy nghĩ. Hiện nay, một số vụ tự tử nơi các cô gái non trẻ cũng bắt nguồn từ sự xung khắc sâu xa giữa cha mẹ và con cái trong gia đình. Đã đến lúc chúng ta cần xem xét lại một cách nghiêm túc và cới mở mối quan hệ thân thiết này, nhờ đó một đàng con cái biết sống trọn vẹn đạo làm con của mình, đàng khác cha mẹ cũng biết cách hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ làm cha làm mẹ của mình.

Aug. Trần Cao Khải

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

MỪNG KÍNH THÁNH GIUSE

Ngày 19 tháng 3 lễ Thánh Giuse, bổn mạng của Đức Cha Chánh và Đức Cha Phụ Tá, cũng như của phần đông quí Cha trong Giáo phận. Thánh lễ được cử hành long trọng lúc 10g00 trong bầu khí ấm cúng và sốt sắng. Đầu lễ, Cha Đại Diện Giuse Nguyễn Văn Việt, thay mặt linh mục đoàn chúc mừng bổn mạng hai Đức Cha và quí Cha nhận Thánh Giuse làm quan thầy. Sau đó, Đức Cha Chánh cám ơn Cha Đại diện với những lời chúc tốt đẹp. Cám ơn Đức cha Gioan Baotixita, cũng như cám ơn hơn 100 cha, cùng với quí tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân đã đến tham dự thánh lễ này. Xin thánh cả Giuse cầu bầu cùng Chúa ban xuống cho mọi người nhiều ơn lành của Chúa. Trong bài giảng, Đức Cha Phụ Tá chia sẻ với chủ đề: “sửa đổi”. Từ những sửa đổi vật chất như “sửa nhà nguyện Toà Giám Mục”, Đức Cha mời gọi mọi người cùng suy niệm và suy nghĩ về những sửa đổi của những nhân vật trong Thánh Kinh Cựu-Tân Ước, đặc biệt nơi Thánh Giuse, để mỗi người sửa đổi bản thân mình, đặc biệt là sửa đổi ý mình để đón nhận ý Chúa.

 

THÁNH LỄ TRUYỀN DẦU TẠI ĐÀI ĐỨC MẸ TÂN HIỆP

Sáng thứ Ba, ngày 31 tháng 03 năm 2015, tại Đài Đức Mẹ Tân Hiệp, giáo phận Long Xuyên đã long trọng tổ chức Thánh Lễ Truyền Dầu. Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu chủ sự Thánh Lễ. Đồng tế với ngài có Đức Cha Giuse Trần Văn Toản và toàn thể Quý Cha trong giáo phận. Có đông đảo tu sĩ nam nữ, quý thầy và trên 5000 bà con giáo dân khắp nơi trong giáo phận về hiệp dâng thánh lễ. Đức Cha Chánh đã mở đầu Thánh Lễ bằng những lời lẽ đầy xúc động. Trước hết, ngài nói lên ý nghĩa của Thánh Lễ Truyền Dầu. Đồng thời, với tư cách là Chủ Chăn, ngài đã ngỏ lời xin quý cha cũng như mọi thành viên trong gia đình giáo phận tha thứ cho ngài về những thiếu sót, cách này cách khác, cách ứng xử, hành xử trong khi thi hành sứ vụ của ngài. Đức Cha Phụ Tá chia sẻ Lời Chúa với đề tài: "Với Dầu Thánh và Chức Linh Mục, cộng đoàn giáo xứ được xây dựng và được biến đổi".

 

 

CHUYỂN ĐỔI NHIỆM SỞ

Sau khi đã trao đổi, trong dịp này sẽ có một số cha được thay đổi nhiệm sở như sau:

01- Cha Lr. Vũ Đình Chung                            : Chánh xứ Kim An

02- Cha Gs. Trần Thành Công                      : Phó xứ Lạng Sơn K3A

03- Cha Gs. Nguyễn Trí Diễm                       : PXBL KitôVua K1B

04- Cha VP. Phạm Thế Hòa                           : Chánh xứ Cái Dầu

05- Cha Gb. Nguyễn Thế Hùng                   : Phó xứ Đài Đức Mẹ

06- Cha Gs. Nguyễn Văn Hương                : Chánh xứ Đồng Phú

07- Cha Al. Nguyễn Lê Kha                           : Phó xứ Cù Lao Giêng

08- Cha Vc. Nguyễn Thế Khanh  : Quản nhiệm Minh Hòa

09- Cha Gs. Lê Minh Khương                       : Chánh xứ Tân Hóa K6

10- Cha Pr. Nguyễn Văn Kiệt                       : TB. Truyền thông

11- Cha Gs. Phạm Văn Kính                          : Chánh xứ Giuse K7B

12- Cha Px. Châu Quang Lộc                        : Phó xứ An Hòa

13- Cha Gs. Bùi Hữu Nghị                              : Phó xứ Bờ Bao

14- Cha Mt. Nguyễn Văn Oai                       : PXBL Xẻo Dinh

15- Cha Pr. Nguyễn Hữu Phước : Quản nhiệm Hiếu Thuận

16- Cha Ga. Nguyễn Huy Quang : Chánh xứ Hiệp Hòa K0

17- Cha Vc. Nguyễn Văn Thanh  : TB. Mục vụ Ơn Gọi

18- Cha Gs. Nguyễn Tuấn Thịnh : Phó xứ Tân Thành K4B

19- Cha Gs. Nguyễn Văn Tinh                      : Chánhxứ Thanh Hải D2

20- Cha Vc. Nguyễn Thanh Triều                : Phó xứ Chánh Tòa

21- Cha Gs. Đỗ Tiến Trình                              : Phó xứ Ngọc Thạch

22- Cha Vc. Vũ Thanh Tú                               : Phó xứ Hòn Đất

23- Cha Vc. Vũ Anh Tuấn                               : Phó xứ Láng Sen

24- Cha Đo. Hoàng Quốc Việt                      : Phó xứ Bò Ót

25- Cha Gs. Giang Hòa Việt                          : Chánh xứ Phú Hòa

26- Cha Pr. Nguyễn Thanh Tú                      : Phó xứ Hòa Giang

 

 

CHÚA NH?T LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

TẠI GIÁO XỨ AN SƠN

Nhận lời mời của cha sở Giuse Đinh Công Oánh, sáng ngày 12.4.2015, Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến giáo xứ An Sơn để chủ sự Thánh lễ kính lòng Chúa Thương Xót. Trước Thánh lễ, ngài đã làm phép tượng Đức Trinh Nữ Maria, thánh cả Giuse cũng như tràng chuỗi và ảnh tượng mỗi người mang theo. Trong bài giảng, Đức Cha đã chia sẻ: Chúng ta là những kẻ tội lỗi xấu xa, thế mà Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta. Ngài yêu thương đến nỗi đã xuống thế làm người và chịu chết trên thập giá, để cứu chuộc chúng ta. Nếu Thiên Chúa đã xót thương chúng ta dường ấy, thì bây giờ đến lượt chúng ta, chúng ta phải đáp trả bằng cách kính mến Chúa hết lòng và trên hết mọi sự, đồng thời phải xót thương chính bản thân, cũng như xót thương những người chúng ta có dịp gặp gỡ và tiếp xúc.

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Hội Nghị Thường Kỳ I/2015 (13.4.2015-16.4.2015)

BIÊN BẢN

HĐGMVN họp Hội nghị thường kỳ I/2015 tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng giáo phận Saigon, từ chiều thứ hai ngày 13.4.2015 đến chiều thứ năm ngày 16.4.2015 với sự tham dự của các Đức Tổng giám mục, giám mục của 25 giáo phận và linh mục giám quản giáo phận Vĩng Long. HĐGM hân hoan chào đón Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam; đồng thời vui mừng lắng nghe những chia sẻ suy tư của Đức Tổng giám mục về Năm Đời Sống Thánh Hiến. Hội nghị chúc mừng Đức Tân Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng giám mục Hà Nội được Đức Thánh Cha vinh thăng Hồng y ngày 14.02.2015 và được bổ nhiệm làm thành viên của Bộ Loan báo Tin Mừng cho các dân tộc và Hội đồng Tòa Thánh Công Lý và Hòa Bình. Trong Hội nghị lần này, HĐGM dành thời gian trao đổi và thảo luận về những vấn đề sau:

1- Ủy ban Mục vụ Di dân trình bày hiện tình di dân trong nước và ngoài nước, đồng thời đề nghị phương hướng hoạt động mục vụ di dân trong thời gian tới.

2- Ủy ban Giáo dục Công giáo giới thiệu tiến trình chuẩn bị thành lập và hoạt động của Học Viện Công Giáo Việt Nam.

3- Ủy ban Tu sĩ sẽ tổ chức Đại Hội Đời Sống Thánh Hiến cấp toàn quốc vào tháng 11 sắp tới.

4- Ủy ban Phụng tự, Ủy ban Loan báo Tin Mừng, Ủy ban Giáo lý Đức tin và Ủy ban Truyền thông Xã hội trình bày các sinh hoạt trong thời gian qua.

5- Biểu quyết đệ trình Tòa Thánh việc chuyển giáo phận Vinh từ giáo tỉnh Hà Nội sang giáo tỉnh Huế.

6- Bản góp ý của HĐGMVN  cho Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Gia đình từ ngày 04.10.2015 đến 25.10.2015.

7- Thúc đẩy án phong chân phước cho hai Đức cha Lambert de la Motte và François Pallu.

8- Việc Đức Hồng y Reinhard Marx, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức ngỏ ý tới thăm Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam vào đầu năm 2016.

9- Một số việc khác như: Việc chuẩn bị cho Năm Tân Phúc Âm hòa Đời sống xã hội, trụ sở chính và nhân sự mới của Hội Thừa Sai Việt Nam, quỹ xây dựng Vương Cung Thánh Đường tại Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang.

HĐGM ấn định Hội nghị thường kỳ II/2015 sẽ được tổ chức tại Tòa giám mục giáo phận Xuân Lộc, từ ngày 14.9.2015 đến 18.9.2015 Hội nghị bế mạc trong niềm vui khánh thành trụ sở của Ủy ban Bác ái Xã hội Caritas.

Trng Tâm Mục vụ TGPSAIGON, ngày 16.4.2015

Tổng thư ký HĐGMVN

+Cosma Hoàng Văn Đạt, Gm GP Bắc Ninh

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

SONG THÂN THÁNH NỮ TÊRÊSA HÀI ĐỒNG

SẮP ĐƯỢC PHONG THÁNH

Song thân thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, là Chân phước Louis và Zélie Martin, sẽ được phong Hiển thánh trong dịp Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới về gia đình vào tháng 10 năm nay. Chân phước Louis và Marie Zélie Guérin Martin thành hôn năm 1858 và có 9 người con, trong đó có 4 người chết sớm. 5 người con còn lại đều đi tu, trong đó có thánh nữ Têrêsa Hài Đồng. Bà Zélie Martin qua đời lúc 45 tuổi, tức là năm 1877 vì ung thư, còn Ông Louis Martin qua đời năm 1894 thọ 70 tuổi. Ông Bà được phong chân phước hồi năm 2008.

THỐNG KÊ MỚI NHẤT CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

Số tín hữu Công Giáo, linh mục và Phó tế vĩnh viễn gia tăng trong Giáo Hội, nhưng số tu sĩ nam nữ tiếp tục giảm sút. Trên đây là nội dung Niên Giám Thống kê của Giáo Hội hoàn cầu được hoàn tất trong tháng 2 và được Tòa Thánh công bố trong tháng 3 này, trình bày tình trạng Giáo Hội Công Giáo tính đến ngày 31.12.2013. Theo đó, trên toàn thế giới có 1 tỷ 253 triệu người Công Giáo tức là tăng thêm 25 triệu, nghĩa là tăng 2% so với năm trước đó. Sự tăng trưởng của các tín hữu Công Giáo có phần nhiều hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số thế giới và hiện chiếm 17% dân số hoàn cầu.

ĐTC CÔNG BỐ NĂM THÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

Lúc 5 giờ chiều 13.3.2015, ĐTC đã chủ sự nghi thức thống hối tại Đền thờ Thánh Phêrô, với phần xưng thú và giải tội cá nhân sau đó. Ngài long trong tuyên bố Năm Thánh về Lòng Thương xót từ 8.12.2015 đến 20.11.2016. Chiều thứ Bẩy 11-4-2015, Tông sắc của ĐTC ấn định Năm Thánh Ngoại thường về lòng thương xót của Chúa đã được công bố tại Đền thờ Thánh Phêrô. Tông sắc dài mang tựa đề “Misericordiae vultus” (Khuôn mặt thương xót); qua đó, ĐTC giải thích những lý do khiến ngài tuyên bố Năm Thánh đặc biệt về lòng thương xót, đồng thời đề ra những đường hướng giúp sống Năm Thánh tốt đẹp nhất.

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ TRINH VƯƠNG KINH A1

Nhà thờ Trinh Vương

xã Tân Hiệp B, Huyện Tân Hiệp, Tỉnh Kiên Giang.

 

1/ Các Cha xứ:

- Giuse Nguyễn Đức Hạnh (1956 - 1962)

- Gioan Baotixita Nguyễn Văn Tống (1962 – 1968

- Phêrô Nguyễn Văn Vũ (1968 - 2008)

- Giuse Phạm Xuân Hoàng (18/07/2008- đến nay)

2/ Các Cha phó:

- Giuse Chu Văn Nghi (1976-2001)

- Đaminh Phạm Văn Tư (2001-2004)

- Giuse Nguyễn Thanh Bình (2004-2007)

  - Vinhsơn  Vũ Duy Nghiệm (2007- 2009)

3/ Giáo dân: 1877 người. Thường xuyên khoảng 1456 người.

4/ Lương dân: Khoảng 40 lương dân trong địa bàn Giáo xứ

5/ Hình thành nhà thờ:

- Nhà thờ lá: 1956

            - Nhà thờ gỗ: 1959

            - Nhà thờ xây: 1969

6/ Nhà thờ Giáo Họ (khu):

            - Nhà thờ (Đền) Thánh Vinh Sơn: 1979 (giáo dân  467)

            - Nhà thờ (Đền)  Thánh Huy: 1964 (giáo dân 462)

            - Nhà thờ (Đền) Thánh Chiểu: 1974 (giáo dân  452)

            - Nhà thờ (Đền) Mẫu Tâm: 1971 (giáo dân 496)

7/ Những sinh hoạt:

* Việc đạo đức:

- Chầu Mình Thánh Chúa từ 6g00 sáng đến 17g00 chiều, vào các ngày Chúa Nhật trong năm (Nhà Nguyện Thánh Thể n?m ở vườn cây, đầu nhà thờ xứ): Số lượt người đến Chầu MTC 150-180 giáo dân vào ngày Chúa Nhật, ngày thường 10-15 giáo dân.

- Lớp học “Thánh Kinh 100 tuần”, có trên 120 giáo dân tham dự vào 19g00  tối thứ Hai hàng tuần.

- Định kỳ lúc 15g00 thứ Năm đầu tháng:  Chầu MTC trong Nhà Thờ xứ, sau đó là gặp gỡ các thành viên Gia đình Thánh Thể, Gia trưởng, Hiền mẫu.

- Giới thiếu nhi có 226 em và 22 giáo lý viên. Thánh Lễ riêng lúc 7g00 sáng Chúa Nhật, và 17g30 chiều thứ Năm hàng tuần. Khuyến khích các em tự nguyện viếng Chúa và Chầu Thánh Thể  tại Nhà Chầu Thánh Thể ngày Chúa nhật. Sinh hoạt học giáo lý vào các buổi chiều ngày Chúa nhật hàng tuần. Kỳ hè tham dự Thánh lễ sáng ngày thường, sau Lễ học giáo lý 03 ngày trong tuần. Cắm trại kỳ Hè, sinh hoạt văn nghệ dịp: Tết Trung Thu, Vọng, Giáng Sinh, 30 Tết Âm lịch. Mồng 1-2-3 Tết: Múa Lân, Hội chợ tối.

- Sau Lễ sáng Chúa Nhật hàng tuần, HĐMV giáo xứ gặp gỡ Cha Sở chuẩn bị cho các sinh hoạt của xứ đạo.  Ca Đoàn  - Giáo lý viên - Lễ sinh, gặp gỡ thường xuyên.

*Việc bác ái, xây dựng:

- Hàng năm: vận động xin gạo giúp cho xứ truyền giáo. Cố gằng hỗ trợ căn nhà tình thương. Dịp Noel -Tết quà thăm người nghèo, người bệnh và quý vị cao niên (trên 75 tuổi) trong xứ.

- Gia đình thăm viếng, Gia đình chăm sóc bệnh nhân: phục vụ tận tâm cho những nhu cầu của bà con.

- Những năm qua, bà con giáo dân tích cực cùng nhau làm đường bê-tông, xây những cây cầu qua sông, xây bờ kè phát triển sản xuất nông nghiệp.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 02 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1108
Tất cả: 45,856,426