Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015

TĨNH TÂM

THÁNG 4 NĂM 2015

THÁNH GIUSE

MẪU GƯƠNG NGƯỜI GIA TRƯỞNG

TÌM BÀI

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 4 năm 2015

 

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TÂN PHÚC ÂM HÓA CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

VỚI SINH HOẠT HUẤN GIÁO

***

Anh chị em thân mến

Các giám mục chúng tôi xin gửi đến cộng đoàn dân Chúa giáo phận Long Xuyên lời chào chúc bình an, vui mừng và hy vọng của Chúa Kitô Phục Sinh.

Tiếp tục các thư mục vụ của 3 tháng đầu năm 2015 hướng về 3 đối tượng nòng cốt trong giáo xứ là linh mục, tu sĩ và giáo dân, thư mục vụ 3 tháng kế tiếp tập trung vào các tác vụ của Giáo Hội  trong sinh hoạt giáo xứ là Huấn giáo, Phượng tự và Phục vụ. Nên, thư mục vụ tháng Tư có chủ đề Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ Với Sinh Hoạt Huấn Giáo.

1. Sinh hoạt Huấn Giáo trong cộng đoàn giáo xứ thường được hiểu là bài giảng của hàng giáo sĩ trong các thánh lễ, đặc biệt là lễ Chúa Nhật và lễ Trọng. Huấn giáo cũng còn là sinh hoạt dạy và học giáo lý cho thiếu nhi, giới trẻ, chuẩn bị hôn phối, dự tòng… Ngoài ra, trong nhiều giáo xứ của giáo phận Long Xuyên, sinh hoạt huấn giáo cũng còn được tổ chức thành các lớp học hỏi Lời Chúa, các buổi thường huấn thường kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm dành cho các đoàn thể tông đồ giáo dân trong giáo phận, giáo hạt, và giáo xứ, như Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, Giáo lý viên, Huynh trưởng thiếu nhi Thánh Thể, giới Hiền mẫu, giới Gia trưởng và các phong trào đạo đức đang sinh hoạt tại nhiều giáo xứ trong giáo phận.

Với sinh hoạt huấn giáo, cộng đoàn giáo xứ trở thành một gia đình của Thiên Chúa bao gồm những người mẹ, anh em, chị em của Chúa Kitô vì “lắng nghe và thực hành Lời Chúa”. Trong gia đình này, mọi thành viên, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, trở thành học viên trong lớp học của Thiên Chúa mà chính Chúa Thánh Thần là giáo lý viên.

2. Mục tiêu của chương trình huấn giáo: Theo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong thư mục vụ năm 2007, thì mục tiêu hàng đầu và chủ yếu của sinh hoạt huấn giáo là giáo dục đức tin, để sống đức tin trong cuộc sống cụ thể, nhờ đó, trở thành men, thành muối và ánh sáng cho trần gian. Tuy nhiên, giáo dục đức tin phải dựa trên nền tảng của việc huấn luyện lương tâm. Với một lương tâm ngay thẳng, người Kitô hữu có thể phán đoán chính xác đúng sai, tốt xấu… Từ đó, họ dễ dàng cộng tác để xây dựng cuộc sống công bằng, tôn trọng phẩm giá và sự sống con người hơn. Hơn nữa, hiện diện trong thế giới, giáo dục Kitô giáo cũng góp phần cổ võ tình liên đới, làm cho con người có trách nhiệm với nhau, trách nhiệm đối với xã hội và công ích, cùng xây dựng một cuộc sống tốt đẹp an bình. Cuối cùng, theo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam cũng còn là thông truyền và phát huy những giá trị truyền thống của nền văn hoá Việt Nam.

Như vậy, nhờ các mục tiêu của sinh hoạt huấn giáo trong giáo xứ, mọi Kitô hữu dần dần đạt được 3 đức tính căn bản của người Kitô hữu trưởng thành. Một là, người Kitô hữu trưởng thành sẽ đạt được cảm thức sâu xa về sự hiện diện của mình và của anh chị em trong gia đình của Thiên Chúa để sống hiệp nhất. Với sự hiệp nhất này, người Kitô hữu trở nên giống Chúa Kitô trong việc vâng phục Thánh ý Chúa Cha, để trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa và là anh chị em với tha nhân. Hai là, từ cảm thức về sự hiệp nhất với Thiên Chúa, người Kitô hữu chọn lựa cách sống tích cực trong vui mừng và hy vọng với ý thức về ơn gọi của mình trong cộng đoàn. Nhờ đó họ luôn cố gắng khám phá ra những điều tốt nhất trong mỗi hoàn cảnh, và cũng biết sử dụng năng lực của mình có được để thực hiện những điều thiện hảo cho anh chị em, và cùng anh chị em xây dựng Nước Thiên Chúa giữa công đồng nhân loại. Ba là, với sự hiệp thông và dấn thân, người Kitô trưởng thành cũng chấp nhận lội ngược dòng trong cuộc hành trình đức tin. Họ nhận thức những sự đen tối của sự xấu và sự dữ, nhưng, với ơn Chúa và với sự trợ giúp của cộng đoàn, họ bày tỏ dứt khoát tách mình khỏi thế giới tội ác và tối tăm, chấp nhận Thánh giá trên vai tiến về Nhà Cha.

3. Riêng tại các giáo xứ của giáo phận Long Xuyên,

(*) Đối diện với thực trạng di dân, huấn giáo trong giáo xứ cần huấn luyện cộng đoàn dân Chúa để, hiện diện bất cứ nơi đâu, sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, người tín hữu cũng luôn tuyên xưng đức tin, cử hành đức tin, sống đức tin, và loan truyền đức tin. Lý tưởng là, họ luôn ý thức mình thuộc về gia đình Thiên Chúa, để như các tín hữu sơ khai, họ “chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự nghi thức bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2, 42).

(*) Trong một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân, huấn giáo trong giáo xứ cần nhấn mạnh vào tình bác ái huynh đệ Kitô giáo. Theo định hướng này, sinh hoạt huấn giáo phải quan tâm giáo dục cộng đoàn, đặc biệt là thiếu nhi và giới trẻ, biết thể hiện đức bác ái, nhân hậu, và lòng thương xót trong các mối tương quan giữa con người vói con người.  Điều quan trọng là, các mối tương quan này phải bắt nguồn từ mối tương quan giữa cá nhân người Kitô hữu với Chúa Kitô trong kinh nguyện và trong người nghèo. Kết quả là người Kitô hữu biết cách nhìn vào những con người cụ thể, và nhận ra rằng, có nhiều người đang cần lòng thương xót, và cũng có nhiều người có thiện chí muốn dấn thân phục vụ anh chị em mình.

(*) Trong một xã hội duy vật thực hành và những ảnh hưởng tiêu cực của sự tục hóa, sinh hoạt huấn giáo trong giáo xứ cần luyện cho người tín hữu chấp nhận sống đức tin một cách khổ chế và tử đạo. Đó là giáo huấn về sự từ bỏ để có một trái tim tự do “yêu Chúa hết lòng và yêu người như Chúa yêu ta”. Đó cũng là giáo huấn về việc từ bỏ mình để tự do theo ý Chúa Cha như Chúa Kitô “vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá”. Đó cũng là giáo huấn về nghịch lý của cây Thập Giá trong đời sống đức tin, để “tôi không tự hào về một điều gì khác, ngoài cây Thập Giá của Đức Kitô”.

Trong tháng Tư, giáo phận Long Xuyên hiệp thông với Đức Cha Cố Gioan Baotixita tạ ơn Chúa về hồng ân c?a cuộc hành trình 88 năm trong ơn gọi làm người, 60 năm trong ơn gọi linh mục, và 40 năm trong ơn gọi giám mục. Trong tâm tình tạ ơn, giáo phận luôn ý thức về hồng ân Chúa ban cho giáo phận “Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan, ngài đến để làm chứng về ánh sáng”. Và chúng ta cũng hết lòng cám ơn Đức Cha Gioan Baotixita, là người thầy đến từ Thiên Chúa, đang còn là cây viết của Thiên Chúa, kiên trì ghi khắc tình yêu của Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta. Xin Tình Yêu của Chúa Phục Sinh là phần thưởng cho Đức Cha Gioan và cho toàn thể giáo phận.

+ Giuse Trần Văn Toản                + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

ĐAU KHỔ

ĐÃ VÀ ĐANG ĐƯỢC BÁO TRƯỚC

1.

Mùa Chay kêu gọi tôi suy gẫm cách riêng về cuộc Thương khó của Chúa Giêsu. Suy gẫm của tôi từ đầu mùa Chay năm nay đến bây giờ tự nhiên hướng về một nét đặc biệt của cuộc Thương khó Chúa, đó là đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước.

2.

Đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước thế nào?

Để rồi, đau khổ của môn đệ Chúa Giêsu cũng được báo trước ra sao?

Sống với những báo trước quan trọng ấy, chính là nét sống tu đức của tôi hôm nay. Dưới đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt đôi chút kinh nghiệm của tôi.

3.

Bình thường, tôi quen sống đức tin bằng sự gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu, tôi để ý nhiều đến tính cách thân mật trong cuộc sống bình thường. Nhưng khi suy gẫm về cuộc thương khó Chúa, tự nhiên tôi gặp gỡ Chúa trong một hoàn cảnh rất khác, đó là hoàn cảnh Người chịu đau khổ, nhục nhã, nghèo hèn.

4.

Do thân mật, tôi nói với Chúa: “Chúa bị khinh, bị chối bỏ, bị kết án, bị giết như thế, thì còn gì là thu hút đối với những ai muốn theo Chúa?”. Cũng trong thân mật, Chúa trả lời tôi: “Con Người phải chịu khổ đau như thế, để đưa nhân loại vào Nước Thiên Chúa. Cái thu hút không phải là đau khổ, mà là hy sinh cho tình yêu. Chính vì thế, mà đau khổ Cha chịu đã được Cha báo trước”.

5.

Thế rồi, Chúa cho tôi nhớ lại những lời chính Chúa đã báo trước về cuộc thương khó của Người. Thánh sử Marcô thuật lại ba lần chính Chúa báo trước: Phải qua đau khổ, mới tới Phục sinh.

6.

Lần thứ nhất: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31).

Lần thứ hai: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người. Và Người bị giết chết. Rồi sau ba ngày, Người sẽ sống lại” (Mc 9,31).

Lần thứ ba: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại” (Mc 10,33-34).

7.

Chúa Giêsu đã thấy trước, và đã báo trước cuộc thương khó của Người. Có nghĩa là Chúa coi cuộc thương khó là con đường tốt nhất Người chọn, để làm chứng cho tình yêu, để đưa loài người vào Nước Thiên Chúa.

Thú thực là tôi tin hơn là tôi hiểu. Niềm tin ấy cũng là do ơn Chúa. Tôi đón nhận ơn đó, tôi cộng tác vào ơn đó với tất cả tấm lòng khiêm tốn của tôi.

8.

Rồi, cũng trong thân mật, Chúa Giêsu âu yếm nói với tôi những lời xưa Người đã nói với các môn đệ của Người. Đại khái là: con đường Người đã đi sẽ là con đường tôi phải đi. Chúa phán: “Ai muốn theo Cha, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Cha” (Mc 8,34).

9.

Đem Lời Chúa trên đây soi vào cuộc đời mình, tôi thấy đúng là chỗ nào cũng không tránh được đau khổ.

“Phải từ bỏ mình” đâu có dễ.

Cái tôi xấu không hẳn chỉ gồm những thói hư nết xấu, mà cũng gồm cả những tư tưởng, việc làm, lời nói mà tôi tưởng là đạo đức, nhưng thực sự lại không hợp ý Chúa, nên bị Chúa ruồng bỏ. Thánh Phêrô xưa, khi nghe thầy mình báo về cuộc thương khó Người sẽ phải chịu, đã phát biểu một cách đầy đạo đức: “Xin Thiên Chúa thương Thầy, đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. Nhưng Chúa Giêsu quay lại bảo Phêrô: Satan, hãy lui lại đàng sau Thầy, tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,22-23). Tôi nay nhiều lúc cũng vậy. Từ bỏ mình luôn có khổ đau.

10.

“Vác thập giá mình” cũng đâu là chuyện nhởn nhơ.

Nếu thập giá của tôi là những giới hạn của tôi, là bệnh tật của tôi, là gánh nặng tuổi tác của tôi, là những nghịch cảnh luôn có trong cuộc đời, vv... thì đau khổ tất nhiên sẽ đồng hành chặt chẽ với tôi. Nói lên thực tế đó chính là một điều lương thiện.

11.

“Mà theo Chúa”, đó mới chính là chuyện chắc chắn phải khổ.

Theo Chúa, để ở bên Chúa, để cùng chia sẻ với Chúa, đâu là chuyện lúc nào cũng vui. Khi Chúa bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, bị vác thập giá, bị đóng đinh vào đó, bị xỉ vả, chế nhạo. Lúc đó, Chúa bảo: Con hãy cùng theo Chúa mà chia sẻ thân phận như thế của Chúa. Tôi xin thú thực là tôi không luôn sẵn sàng. Nếu có sẵn sàng, thì cũng phải nhận rằng mình phải thực sự đau đớn, như Chúa đã thực sự đau đớn. Đó mới là theo Chúa thực sự.

12.

Với những gì tôi vừa chia sẻ trên đây, tôi xin đưa tới một cảm nghiệm đau đớn, mà chính tôi đã trải qua, đó là:

Đôi khi những đau đớn coi như quá tàn nhẫn cứ mãi đổ trên mình một cách vô lý, tôi thấy đời mình như đi vào thất bại. Một đàng tôi cảm thấy mình như đã trở thành gánh nặng cho người khác, một gánh nặng họ muốn loại trừ. Một đàng tôi như mất niềm tin vào lòng khoan dung của người khác. Đó là một nỗi đau lớn, gây nên thương tích trong lòng tôi. Nó ảnh hưởng nhiều đến cái nhìn của tôi về chủ nghĩa thực dụng đang tràn vào Hội Thánh tại Việt Nam.

Nhưng Chúa vẫn thương tôi. Chúa dạy tôi hãy cứ khiêm nhường cầu nguyện. Và kết quả là cho đến bây giờ tôi vẫn tin vững vàng vào Lời Chúa: “Phải qua đau khổ mới tới được Phục sinh”. Đau khổ là cái giá phải trả để cứu chuộc các linh hồn khỏi lửa hoả ngục.Đau khổ có nhiều thứ và nhiều mức độ, Chúa không thử thách ai quá sức của họ.

13.

Đau khổ đã và đang được báo trước cho các môn đệ Chúa, trong đó có tôi. Tôi không biết những gì sẽ xảy ra cho chúng ta. Riêng tôi, tôi vẫn chuẩn bị trong tâm hồn mình bằng những ước mong là được theo Chúa và ở bên Chúa, trên con đường thương khó của Chúa.

 

Tôi chuẩn bị như vậy. Còn thực tế cuộc đời tôi luôn ở trong tay Chúa. Tôi coi đây là điểm rất quan trọng trong việc đào tạo sống chân lý Tin Mừng đích thực. Cho dù đau khổ trăm bề, tôi tin tôi vẫn hạnh phúc, vì được ở bên Chúa. Người vẫn thương tôi. Tuy nhiên phải thú thực điều này: Rất nhiều khi, tôi đã xin Chúa đừng bắt tôi uống chén đắng. Rất nhiều khi, tôi đã vác thánh giá, mà ngã quỵ xuống đất. Rất nhiều khi, người khác đã vác thánh giá thay tôi. Rất nhiều khi, tôi đã thốt lên những lời than cô đơn, khi bị treo lên thánh giá. Vì tôi quá yếu đuối. Lạy Chúa, xin xót thương con. Con tin đau khổ là trường đào tạo con. Con cảm tạ Chúa đang đào tạo con bằng đường thánh giá.

Long Xuyên 08.3.2015

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

Suy Niệm Chúa Nhật I Mùa Phục Sinh, B

Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9

PHỤC SINH TÂM HỒN

 

Khi nói đến đá hay đá tảng, người ta thường nghĩ tới ý tốt, lẫn ý xấu. Chẳng hạn: Để chỉ một ý hướng tốt, người ta coi đá là chỗ dựa vững chắc. Trong Kinh Thánh vẫn nhìn nhận “Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn”. Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội trên đá tảng là thánh Phêrô: “Phêrô, con là đá. Trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Để chỉ tình cảnh người yếu chống lại thế lực mạnh, người ta nói: “Trứng chọi với đá”. Để chỉ một người lì lợm, người ta bảo: “Bộ mặt trơ như đá”.

Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh hôm nay cũng liên hệ đến đá: Tảng đá che chắn cửa mộ Chúa Giêsu. Với diễn biến của “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần” cùng sự kiện “tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ”, Mađalêna liền đi đến kết luận “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mồ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Còn Gioan, “Ông đã thấy và ông đã tin”.

Với tảng đá thất vọng, Mađalêna chỉ thấy tảng đá là sự kết thúc. Còn Gioan lại thấy niềm hy vọng khi tảng đá được lăn ra. Với tảng đá tham lam đè nặng và che khuất tâm hồn, Giuđa đã bán Thầy Giêsu với giá 30 đồng bạc. Với tảng đá của sợ hãi đè nặng, Phêrô đã chối Thầy đến 3  lần. Với tảng đá nhát đảm, các Tông Đồ đã bỏ trốn, vì sợ liên luỵ đến Thầy Giêsu.

Có lẽ mỗi người chúng ta cũng đang bị một tảng đá vô hình nào đó đè nặng tâm hồn mình. Tảng đá đó có thể là những đam mê nết xấu làm cho ta không còn thấy điều hay lẽ phải. Thánh Phaolô đã chia sẻ: “Điều tôi muốn, tôi không làm. Điều tôi không muốn, tôi lại làm”. Tảng đá đó có thể là những hận thù, chia rẽ, để rồi gây ra cảnh “con cái chống đối cha mẹ và làm cha mẹ phải chết”. Tảng đá đó có thể là những đam mê dục vọng, khiến nhiều người “tham vàng bỏ ngãi”, “đứng núi này trông núi nọ”, làm nhiều gia đình rơi vào cảnh “tan đàn xẻ nghé”. Và còn rất nhiều những loại tảng đá khác nữa…

Dù người Do Thái tin rằng tảng đá đã khóa chặt Đức Giêsu, người tự xưng là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu sống lại. Bởi thế niềm vui Phục Sinh là niềm vui của những người được Thiên Chúa lăn tảng đá ra khỏi tâm hồn họ, làm cho tâm hồn họ được bình an. Niềm vui Phục Sinh còn là niềm vui của những người được Thiên Chúa giải thoát khỏi những cắn rứt của lương tâm, cho họ được phục sinh trong tâm hồn.

Chẳng hạn như thánh Phaolô, Ngài đã sống trọn vẹn niềm vui Phục Sinh khi Thiên Chúa lăn cái vẩy ra khỏi mắt ông. Từ đó, ông nhìn thấy và dấn bước theo Chúa Giêsu. Chẳng hạn như Giakêu, như Lêvi. Các ngài đã được Chúa Giêsu giải thoát khỏi tảng đá của tội lỗi. Họ cảm thấy tâm hồn họ nhẹ nhàng thanh thản khi bước theo Chúa. Và còn biết bao tấm gương khác đã được giải thoát khỏi những tảng đá vô hình, để hân hoan bước theo Chúa Giêsu.

Còn ta thì sao? Tảng đá nào đang che lấp cuộc đời mình? Che lấp bao năm rồi? Ta có muốn lăn táng đá đó ra không? Tự sức mình, không ai có thể lăn tảng đá nết xấu, tội lỗi ra khỏi đời mình được! Vậy thì “Ai sẽ giúp ta lăn những tảng đó ra?” Thưa, chính Chúa Giêsu Phục Sinh. Ngài sẽ giúp ta lăn tảng đá đó ra khỏi đời mình; và làm cho tâm hồn ta được phục sinh. Ta sẽ thực sự sống lại với Chúa. Vậy ta hãy đến với Chúa. Ngài sẽ giúp ta.

Lạy Chúa! Con cảm tạ hồng ân cứu độ của Chúa. Xin cho con được ơn sống lại thật về phần linh hồn. Allêluia!

 

Suy Niệm Chúa Nhật II Mùa Phục Sinh, B

Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,19-31

PHỤC SINH TOÀN PHẦN

 

Ngày kia, có hai phụ nữ cùng đến gặp một linh mục để xin ngài chỉ giáo. Một người tự biết mình là kẻ tội lỗi nặng nề, nên chị tỏ ra rất đau buồn. Còn người phụ nữ kia thì luôn tự hào mình sống theo luật Chúa. Tuy chị có nhiều tội nhẹ, nhưng không phạm tội gì nặng đáng phải quở trách. Vì thế chị ta rất hài lòng về cuộc sống của mình.

Sau khi nghe hai người trình bày tình trạng tâm hồn của họ, vị linh mục nói với người phụ nữ có tội nặng như thế này: “Nước mắt con đã tràn mi vì hối hận. Vậy con hãy ra ngoài hàng rào kia, mang về đây cho cha một tảng đá to”. Rồi ngài nói với người phụ nữ có tội nhẹ rằng: “Phần con, tuy con không phạm tội gì nặng, nhưng con cũng hãy đi kiếm cho cha đầy một bao sỏi nhỏ, rồi mang về đây cho cha”.

Hai người phụ nữ vâng lời ra đi. Một lúc sau, họ trở về. Một người khuân một hòn đá to lớn; một người vác một bao đầy sỏi nhỏ. Bấy giờ vị Linh mục bảo người đàn bà tội lỗi nặng rằng: “Bây giờ con hãy vác hòn đá nặng nề này, đem đặt lại đúng vị trí mà con đã lấy nó. Xong việc, con hãy trở lại đây”. Rồi ngài cũng bảo người đàn bà kia: “Bây giờ con hãy đem những viên sỏi này đặt lại đúng vị trí mà con đã nhặt nó. Xong việc, con hãy trở lại đây”.

Một lát sau, cả hai người đàn bà cùng quay trở lại. Người đàn bà có tội nặng đã tìm thấy vị trí của hòn đá lớn rất dễ dàng, và đã đặt nó vào đúng vị trí cũ. Còn người đàn bà kia thì không thể nào nhớ chính xác được các vị trí của những viên sỏi mà bà đã nhặt. Bà đành quay trở lại gặp vị linh mục, với bao sỏi vẫn còn nguyên vẹn trên vai.

Bấy giờ vị linh mục mới giải thích cho người phụ nữ có tội nặng rằng: "Con thấy không? Con đã đặt tảng đá lớn vào đúng vị trí cũ của nó, vì con đã biết nó ở đâu. Tội của con cũng giống như thế".

Rồi ngài nói với người có tội nhẹ rằng: "Phần con, con không biết đặt những viên sỏi nhỏ này vào vị trí trước đây của chúng, vì chính con cũng không nhớ đã nhặt chúng ở những chỗ nào. Tội của con cũng thế. Người phạm tội nặng, thì nhận biết tội mình, chịu sự khiển trách của tha nhân và của chính lương tâm mình, nên đã có thái độ khiêm tốn; và do đó đã từ bỏ được các tội lỗi của mình. Còn con, con chỉ có những tội nhẹ, nhưng con không cảm thấy hối hận về những lỗi lầm ấy. Hơn nữa, con lại có thái độ tự mãn, nên con vẫn còn đeo trên mình những tội nhẹ đó!"

Câu chuyện của hai người đàn bà tội lỗi trên đây, phần nào cũng có nét tương tự như câu chuyện của Tông đồ Tôma trong bài Tin Mừng hôm nay. Cả hai bà đều nghi ngờ về tình trạng phục sinh của tâm hồn mình, nghi ngại về lòng thương xót của Chúa. Thế rồi cả hai đều được vị linh mục chỉ dạy cho thấy rõ tội lỗi của họ, giúp họ tin tưởng vào sự thứ tha tội lỗi của Chúa, để họ được phục sinh toàn vẹn tâm hồn.

Lòng sám hối ăn năn sẽ giúp ta sửa sai và được phục sinh hoàn toàn. Nhưng thử hỏi, có bao nhiêu người chịu nghĩ đến những lỗi lầm nho nhỏ của mình mà sám hối? Thiên Chúa không chỉ muốn ta phục sinh những lỗi nặng, mà Ngài còn muốn ta phục sinh cả những lỗi nhẹ. Đó chính là sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay. Thiên Chúa của chúng ta là Đấng Chí Thánh, là Người Cha rất giầu lòng thương xót. Ngài muốn ta phục sinh trọn vẹn con người mình.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh, B

Cv 3,13-15.17-19; 1 Ga 2,1-5a; Lc 24,35-48

PHỤC SINH CẢ NỖI SỢ

Biết bao sự dữ đang bao trùm cuộc đời ta. Sự dữ nhiều đến độ làm cho ta luôn bất an lo sợ. Người ta sợ thất bại, sợ rủi ro, sợ mất an ninh, sợ nghèo đói, sợ bị trả thù, sợ phải đối diện với sự thật. Sợ rất nhiều thứ. Có cái sợ làm cho ta “ăn không ngon, ngủ không yên”. Có cái sợ làm cho ta đánh mất niềm tin vào bản thân và người khác. Chẳng còn tin ai. Có cái sợ dẫn ta đến tuyệt vọng và buông xuôi tất cả.

Tâm trạng của các Tông đồ sau biến cố tuần thương khó là tâm trạng buồn sầu và đầy lo sợ. Họ sợ bị liên luỵ vì từng là môn đệ của tử tội Giêsu. Họ sợ phải về quê làm lại cuộc đời từ con số không. Họ sợ đường trở về còn rất nhiều bóng tối nghi nan.

Từ sợ hãi dẫn đến đánh mất niềm tin. Dù các ông đã được báo trước “sau ba ngày Thầy sẽ sống lại”, thế mà vì quá sợ, họ đã quên hết mọi sự. Các ông không còn dám tin vào ai. Dù các phụ nữ đã kể rõ ràng là họ đã gặp Chúa; Dù hai môn đệ đi làng Emmaus đã từng kể về cuộc hàn huyên với Chúa; Dù Gioan và Phêrô cùng chạy ra mồ, nhưng chỉ có Gioan thấy và tin, còn Phêrô thì không. Sợ hãi đã làm cho các ông hoa con mắt, đến nỗi “nhìn cò ra quạ”, nhìn thấy Chúa lại tưởng là ma!

Chúa Giêsu Phục Sinh đã phải quở trách các ông: “Sao các con lại hoảng sợ như thế. Ma đâu có xương có thịt như Thầy có đây!” Rồi Chúa chỉ cho các ông biết nguyên do của sự sợ hãi, là thiếu lòng tin: “Sao lòng anh em còn ngờ vực như vậy?” Đã bao năm các ông sống với Chúa. Đã nhiều lần các ông chứng kiến những phép lạ Chúa làm. Chính các ông đã từng nghe lời Chúa tiên báo “Sau ba ngày Thầy sẽ sống lại”. Thế mà các ông vẫn không tin.

Từ không tin dẫn đến sợ hãi. Các ông sợ bóng đêm của cuộc đời. Sợ những điều mới lạ. Sợ hãi dẫn đến tan đàn xẻ nghé. Mỗi người chạy một nơi. Đường ai nấy đi. Vì sợ hãi, nên các ông không dám nhìn đời, chẳng dám nhìn người. Vì sợ hãi, nên các ông chỉ biết co cụm trong căn phòng kín. Suốt ngày cửa đóng then cài trong tâm trạng nặng nề đầy u ám và sợ hãi.

Ngày hôm nay, nỗi sợ hãi vẫn bao trùm nhiều người. Có người sợ cho tương lai, vì ngày mai chẳng biết sẽ ra sao. Có người sợ những khốn khó của dòng đời sẽ xảy đến với mình. Có người sợ thế giới đời sau, biết có hay không, nên cứ buông mình theo đam mê hiện tại. Có người vẫn còn mang nặng mặc cảm sợ hãi về lỗi lầm của quá khứ. Vì sợ hãi, nên họ đánh mất niềm tin nơi Thiên Chúa. Họ tìm kiếm thế lực trần gian. Họ cố vun quén tiền tài để hưởng thụ. Họ quên rằng điều quan trọng của cuộc đời là sự bình an trong tâm hồn.

Không có sự bình an, thì cho dù có tiền, có quyền vẫn là đánh mất cuộc đời. Cuộc đời cần bình an như cá cần nước để sống. Cuộc đời không có bình an là sự bất hạnh. Thế nhưng sự bình an chỉ ngự trị nơi tâm hồn có Thiên Chúa. Có Thiên Chúa thì ta chẳng sợ gian nguy, vì ta đã hết lòng tin tưởng cậy trông nơi Ngài. Có Thiên Chúa thì ta không toa rập với sự dữ để làm hại nhau, để bán rẻ lương tâm, để rồi luôn lo sợ bị trả thù. Có Thiên Chúa, ta sẽ mang lại hoa trái là niềm hoan lạc, tươi vui, bình an và hy vọng cho chính mình.

Hằng ngày Chúa Phục Sinh vẫn tiếp tục đến bên cuộc đời ta, như xưa Ngài đã đến với các Tông đồ. Chúa vẫn đến với ta qua những biến cố vui buồn, qua những thăng trầm của dòng đời. Chúa vẫn đang mời gọi ta đặt cuộc đời mình trong bàn tay quan phòng của Chúa. Chính Chúa sẽ giúp ta phục sinh cả nỗi sợ, giúp ta lấy lại niềm tin.

 

Suy Niệm Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, B

Cv 4,8-12; 1 Ga 3,1-2; Ga 10,11-18

PHỤC SINH TÌNH MỤC TỬ

Có một thai nhi sắp chào đời. Nó hỏi Thượng Đế: “Thưa Ngài, có phải ngày mai Ngài sẽ đưa con vào đời không?” Thượng Đế trả lời: “Đúng đó con ạ!” Đứa bé đáp: “Nhưng làm sao con sống nổi ở đó, khi mà con quá nhỏ bé và bất lực như thế này?” Thượng Đế đáp: “Con hãy yên tâm, vì trong số các thiên thần, ta đã chọn cho con một người. Thiên thần của con sẽ ở bên con và chăm sóc con chu đáo”. Đứa bé lại hỏi: “Nhưng làm sao con có thể hiểu được, khi họ nói chuyện với con bằng ngôn ngữ mà con chưa hề biết đến?” Thượng Đế trả lời: “Thiên thần của con sẽ nói với con bằng những lời ngọt ngào và đẹp đẽ nhất, mà con chưa từng được nghe. Đồng thời với sự nhẫn nại và cẩn trọng, thiên thần của con sẽ dạy con biết nói những điều hay lẽ phải”. Đứa bé tiếp tục hỏi: “Con nghe nói ở chốn trần gian có lắm kẻ xấu xa. Vậy ai sẽ bảo vệ con?” Thượng Đế đáp: “Thiên thần của con sẽ luôn bảo vệ con. Cả khi điều đó đe dọa đến tính mạng của mình”. Đứa bé lại hỏi: “Nhưng con sẽ rất buồn, vì không còn được thấy Ngài nữa”. Thượng Đế trả lời: “Thiên thần của con sẽ luôn nói với con về Ta, và sẽ dạy cho con cách thức quay về với Ta, mỗi khi con lạc lối”. Sau cùng đứa bé hỏi: “Vậy thưa Ngài, nếu con phải đi ngay bây giờ, xin hãy cho con biết tên thiên thần hộ mạng của con là gì?” Thượng Đế mỉm cười trả lời: “Tên của người đó là gì, không quan trọng. Đơn giản, con chỉ gọi người đó là “Mẹ”. Nhớ nhé, người đó là mẹ con”.

Nếu người mẹ cần thiết cho đứa con như thế nào, thì người mục tử cũng cần thiết cho đoàn chiên như vậy. Lời Chúa hôm nay cho ta thấy chân dung của người Mục Tử Tốt Lành. Người mục tử luôn sống chết cho đoàn chiên và vì đoàn chiên. Người mục tử gắn liền đời mình với đoàn chiên, tựa như người mẹ gắn liền với định mệnh của từng đứa con.

Người mẹ được Thiên Chúa sắp đặt là để bảo vệ đứa con, chăm sóc, dạy dỗ và gìn giữ đứa con khỏi những nguy hiểm trong suốt cuộc hành trình đời nó. Không có mẹ, đứa con sẽ không lớn nổi thành người. Cũng vậy! Đoàn chiên không thể có đồng cỏ xanh tươi, có suối mát trong lành, nếu không được người mục tử miệt mài tìm kiếm. Đoàn chiên sẽ không thể sống an toàn khỏi cạm bẫy, nếu không có chủ chiên canh phòng với đầy đủ trách nhiệm và yêu thương.

Chúa Giêsu đã so sánh tình thương của Ngài như tình thương của người mục tử dành cho đoàn chiên. Ngài yêu thương con người, nên đã mang lấy thân phận con người để cùng đồng hành với con người. Ngài đã cùng chia vui sẻ buồn với con người, qua những thăng trầm của cuộc sống. Ngài đã sống một đời yêu thương và phục vụ, như một người đầy tớ phục vụ chủ nhân. Ngài đã đi đến tận cùng của tình yêu, là chết cho đoàn chiên được sống. Ngài còn hiến thân mình thành lương thực nuôi dưỡng đoàn chiên, qua bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày.

Hình ảnh người mục tử còn là hình ảnh của người cha, người mẹ đang ngày đêm lo lắng bảo vệ lũ cháu đàn con. Các ngài đã hy sinh cuộc đời vì hạnh phúc các con. Các ngài đã trải qua những mưa nắng khắc nghiệt của dòng đời, để mang lại cơm no áo ấm cho đàn con. Các ngài chấp nhận chịu mục nát như hạt lúa, cho con cháu lớn khôn, thành người, thành con của Chúa.

Hôm nay lễ Chúa Chiên Lành, ta hãy dâng lời cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội luôn có những vị mục tử hết lòng vì đoàn chiên. Cảm tạ Chúa đã ban cho ta có cha, có mẹ, luôn hết mình hy sinh cho ta. Xin Chúa cho các ngài luôn làm mới lại tình người mục tử, noi gương Vị Mục Tử Nhân Lành. Và xin Chúa phục sinh tình mục tử nơi những người đã đánh mất.

 

VAI TRÒ

GIA TRƯỞNG

Trung Thành

 

Lịch sử cứu độ trải dài qua các thế hệ và dòng tộc trong đó chúng ta thấy xuất hiện những người cha và cũng là gia trưởng đầy khôn ngoan, tận tụy và gương mẫu. Họ tiêu biểu cho Thiên Chúa là Cha, Đấng yêu thương nhân loại bằng tình yêu phụ tử thắm thiết, nhưng cũng như mọi người cha Ngài sử dụng quyền bính một cách mạnh mẽ để giáo dục, huấn luyện, và dẫn đưa con người đi vào đường lối của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói vắn tắt là, trong khi Tân ước dùng lại những hình ảnh mà Cựu ước mặc khải nơi những người cha trần thế, đã kiện toàn những hình ảnh này bằng cách cho thấy tử hệ duy nhất của Chúa Giêsu với Chúa Cha, để qua đó trình bày trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa đối với gia đình nhân loại. Như vậy từ những hình ảnh cụ thể mà trình thuật Kinh Thánh, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét để giúp các bậc gia trưởng trong thời đại ngày nay  chu toàn bổn phận của mình.

1.       Người cha làm chủ gia đình

Gia trưởng (oikodespotes) chỉ được dùng trong Tin mừng Nhất lãm. Ở đây, chúng ta hiểu là người đứng đầu gia đình, ông có vị thế của người đứng mũi chịu sào trong một gia đình; ông chủ động sắp xếp các công việc để duy trì và bảo vệ gia đình, chẳng hạn: thuê mướn nhân công để làm vườn nho (Mt 20,1,11; x.13,27); canh phòng căn nhà để khỏi bị trộm cướp (Mt 24,43; Lc 12,39); mở cửa cho một người bạn cần nhờ trong đêm (Lc 13,25); cho mời khách vào dùng tiệc (Lc Lc 14,21); chính một chủ nhà đã cho phép các môn đệ Chúa Giêsu chuẩn bị tiệc Vượt Qua tại nhà của ông (Mc 14,14; Lc 22,11). Những công việc này nói đến trách nhiệm của một người làm chủ gia đình. Trách nhiệm này cần nhiều đức tính trổi vượt để ông có thể chu toàn. Trong văn hóa du mục hay nông nghiệp của Israel, chúng ta có thể thoáng thấy một người làm chủ gia đình phải luôn khôn ngoan, linh lợi, có khả năng tiên liệu cũng như ứng phó nhanh trong mọi tình huống của cuộc sống. Nhờ những đức tính này ông có thể bảo toàn gia đình để vượt qua những thách đố và trở ngại bất ngờ xảy đến. Trong những nền văn minh còn sơ khai, thiên nhiên luôn đe dọa và xã hội đầy những biến động liên tục, nỗ lực sinh tồn trở thành khắc nghiệt. Chính lúc đó, người gia trưởng phải là chỗ dựa vững chắc cho gia đình nương tựa. Để có thể chu toàn trách nhiệm nặng nề như vậy, người gia trưởng không thể chỉ tin vào sức riêng của mình mà còn phải cậy nhờ ơn Chúa giúp. Vì thế, làm chủ gia đình cũng có nghĩa là luôn sống theo thánh ý Chúa và để cho Chúa hướng dẫn cuộc sống của mình. Ông cũng phải hướng dẫn những thành viên gia đình sống ý thức đó. Ở đây chúng ta liên trưởng đến thánh Giuse như là gương mẫu tuyệt hảo về người gia trưởng. Ngài đã được Chúa chọn để dưỡng nuôi Chúa Giêsu và gìn giữ Đức Maria vẹn toàn. Nhờ mau mắn thi hành ý Chúa và sống tín thác, ngài đã chu toàn vai trò gia trưởng gia đình Nazareth một cách tốt đẹp.

2.       Người cha lãnh đạo gia đình

Oikodespotes thể hiện quyền làm chủ của mình qua việc lãnh đạo. Ở đây chúng ta nói đến việc tổ chức, sắp xếp, quản trị một gia đình. Thiên Chúa đã đặt cho mỗi gia đình một sứ mệnh rất cao cả, coi đó như là một phiên bản của chính tình yêu Thiên Chúa. Một gia đình lộn xộn, bất hòa không thể làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa được. Có lẽ chính vì lí do này mà thánh Phaolô đã đặt tiêu chuẩn để chọn các giảm quản là họ phải biết điều khiển tốt gia đình của mình (1Tm 3,4). Sau đó ngài lại còn nhấn mạnh hơn: “Ai không chăm sóc người thân, nhất là người sống trong cùng một nhà, thì đã chối bỏ đức tin, và còn tệ hơn người không có đức tin” (1Tm 5,8). Hơn nữa, mỗi gia đình là một đơn vị xã hội, một tập thể đa dạng các khác biệt, do đó cần có sự quản lí tốt. Công việc này trong môi trường xã hội cụ thể của chúng ta được trao phó cho người cha. Có một lần Chúa Giêsu đã so sánh một kinh sư lí tưởng với một gia trưởng biết lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ (Mt 13,52). Chúa nghĩ rằng ông chủ nhà này vừa có kinh nghiệm dày dặn, lại vừa học biết cách xử lí từng vấn đề trong cuộc sống nên ông đã đáp ứng đòi hỏi một cách đúng mức. Tuy nhiên, như người ta vẫn thường nói, mọi ngành nghề trong thế giới hôm nay đều được đào tạo cẩn thận, chỉ riêng vai trò làm cha gia đình lại không được quan tâm. Vì thế, đa số người ta khi lên làm cha mẹ đã không biết phải đóng vai trò đó như thế nào cho sáng suốt. Thường chỉ khi làm cha mẹ người ta mới bắt đầu học nghệ thuật ấy, học theo kiểu “nghề dạy nghề”, tự học, học một cách mò mẫm, phải tự suy nghĩ để tìm ra phương pháp. Ở đây chúng ta không có thời giờ để nói việc điều khiển gia đình được thực hiện  như thế nào, mà chỉ muốn lưu ý các gia trưởng để các ông thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình.

3.       Trách nhiệm làm cha và làm chồng

Chúng ta có thể tóm gọn trách nhiệm kép này bằng công việc gọi là đồng hành. Hình ảnh này thật là thích hợp cho vai trò gia trưởng. Quả thực, người đàn ông được Thiên Chúa ban cho “một trợ tá tương xứng” với mình (St 2,18), do bởi “cái xương sườn đã được rút ra” từ ông (St 2,22). Vì thế nàng không phải là kẻ hầu người hạ, cũng không phải là thuộc cấp của ông, mà chính là người bạn đường của ông. Coi người vợ là người bạn đường mà người chồng có trách nhiệm đồng hành trên mọi bước đường đời, tức là đối xử với vợ “như một ngôi vị đặc biệt” (Phaolô VI, Humanae Vitae, 9). Những trách nhiệm mà người chồng đồng hành với vợ được thánh Phaolô nói tới trong Ep 5,25-33, trong đó chúng ta thấy rõ những đặc tính cốt yếu: tình yêu thương gắn bó, sự nâng đỡ tận tụy, sự hi sinh quên mình, sự tôn trọng tương kính. Và chính qua những hình ảnh này ngài cũng muốn nói đến tình yêu của Chúa Kitô đối với Hội Thánh. Thật là thiêng liêng và cao quý tình yêu phu phụ! Ngoài việc đồng hành với vợ người cha còn phải đồng hành với con cái. Trong nhiều trách nhiệm khác nhau mà người cha phải đảm nhận liên quan đến các phương diện giáo dục con cái, người ta thấy Tông huấn gia đình (Familiaris Consortio) lại lưu ý đặc biệt một khía cạnh, đó là phải tôn trọng con cái như một ngôi vị. Tông huấn viết: “Cần phải dành một sự chú ý đặc biệt cho đứa con, bằng cách phát huy lòng quý chuộng sâu xa đối với phẩm giá ngôi vị của nó, cũng như phát huy sự kính trọng thật to lớn đối với những quyền lợi của nó, những quyền lợi mà người ta phải phục vụ một cách quảng đại” (FC, 26). Tôn trọng con cái như một ngôi vị thì người cha phải đồng hành chứ không thể áp đặt ý chí riêng của mình trên đứa con. Không khe khắt độc đoán, không chủ quan nóng vội, ông phải trình bày chỉ dạy cho con cái những nẻo hành trình cuộc đời mà chính nó sẽ phải đảm nhận. Người cha trong Lc 15, 11-32 đã tôn trọng quyết định tự do của đứa con thứ khi nó muốn cha chia gia tài cho nó, mặc dù ông thấy trước những thất bại mà nó sẽ gặp. Thiên Chúa đã hành động như thế thì người cha trần thế cũng không thể làm khác trong việc hướng dẫn giáo dục con cái.

*

Sứ mệnh của người gia trưởng rất vinh dự mà cũng thật nặng nề. Họ biểu lộ tình cha của Thiên Chúa và khi sống lại tình cha trên mặt đất này, người nam được mời gọi đứng ra bảo đảm sự phát triển toàn vẹn cho mọi thành viên trong gia đình. Còn khi sống yêu thương chung thủy với người bạn đời của mình ông biểu lộ tình yêu của Chúa Kitô với Hội Thánh. Chớ gì mỗi gia trưởng luôn ý thức trách nhiệm của mình trước mặt Chúa và luôn nỗ lực trung thành thực hiện sứ mệnh Chúa trao.

 

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 4-2015

 

Qua các trình thuật sách Công vụ Tông đồ được đọc trong Mùa Phục Sinh chúng ta thấy được nhiều người đã nỗ lực xây dựng cộng đoàn Hội Thánh như thế nào? Bạn sẽ thấy rõ điều đó qua việc trả lời các câu hỏi đưới đây:

1.       Một trong hai người được dành riêng cho việc truyền giáo, đó là ai?

2.       Người phụ nữ nào chết được ông Phêrô làm cho sống lại?

3.       Ai là cộng sự viên của thánh Phaolô có mẹ là người Do Thái, cha là người Hi Lạp?

4.       Người phụ n? nào ở Thyatira đã thu xếp cho cả nhà được chịu phép rửa?

5.       Người phụ nữ nào đã bị phạt chết vì gian dối?

6.       Ai nhận ra tiếng ông Phêrô nhưng lại quên mở cửa cho ông vào?

7.       Vị tông đồ nào thuyết giảng mà lôi cuốn được ba ngàn người theo đạo?

8.       Vị phó tế nào bị ném đá chết vì tuyệt đối trung thành với Chúa?

9.       Ai làm cho mắt ông Saolô được sáng trở lại?

10.     Ai được chọn để thay thế Giuđa Ítcariốt?

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 2-2015

Những từ ngữ được xếp lại:

HOA CỎ, CHIM TRỜI, KÉM TIN, DÂN NGOẠI, MẠNG SỐNG, ÁO MẶC,

VINH HOA, CÔNG CHÍNH, LO LẮNG

Hàng chữ cuối cùng: NĂM MỚI

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 2-2015:

1.       Marie Denise Ngọ Thị Hai, Gx. Chánh Tòa, LX.

2.       Têrêsa Nguyễn Thị Lan Anh, Gx. Cù Lao Giêng, AG.

3.       Maria Đỗ Thị Ngọc, dòng Đa Minh, P.16, Q. Gò vấp.

4.       Maria Nguyễn Thị Ngọc Quyên, Gx. Dương Đông, PQ

5.       Phêrô Bùi Thanh Lâm, Gx. Năng Gù, Châu Thành , AG

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                   - Email: jostrung.trung@gmail.com

                   - Điện thoại: 01672576777

                   - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên Giang?

THÔNG BÁO

Về cuộc Đố Vui Kinh Thánh trực tiếp

2015

 

Nhằm trao đổi kinh nghiệm và khích lệ nhau học hỏi Lời Chúa, Ủy Ban Kinh Thánh sẽ tổ chức Cuộc Thi Đố vui Kinh Thánh trực tiếp, với một số điểm cần biết như sau:

1. Buổi Đố Vui được tổ chức vào ngày Chúa nhật 21 tháng sáu, 2015 tại Đài Đức Mẹ, Tân Hiệp.

2. Không giới hạn điều kiện tham dự (tuổi tác, trình độ văn hóa, giới tính, thành phần…)

3. Nội dung thi gồm:

- Sách Công vụ Tông đồ;

          - Các câu Giáo Lí Cộng Đồng (được in trong Lịch Phụng Vụ Giáo phận Long Xuyên)

4. Phần đăng kí ghi tên (tên thánh, tên họ, tên gọi), tuổi, số điện thoại (nếu có), thuộc giáo xứ nào.   Xin gửi về địa chỉ của người phụ trách mục Câu đố Kinh Thánh trong tập tĩnh Tâm trước tháng sáu. Mời các bạn đăng kí sớm và phổ biến cho những người khác cùng tham dự!

          Sau cùng, chúng con kính nhờ quý cha giúp phổ biến thông báo này, đồng thời khích lệ và tạo điều kiện cho các em tham dự chương trình huấn giáo bổ ích này. Xin chân thành cám ơn!

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Sứ mạng Giáo Hội

Sứ mạng của Giáo Hội quá lớn và gần như vượt sức người. Có lẽ người ta khó mô tả đầy đủ được sứ mạng đó. Thánh Phaolô có lần dùng chữ thật kêu để nói về Giáo Hội, bảo đó là cột trụ và nền móng của chân lý. Ngài nói, đó là thầy dạy đức tin do Chúa cắt cử, đồng thời có nhiệm vụ canh giữ không để mất chân lý đức tin và không để sai lầm nào thấm nhập vào giáo huấn. Phải chăng Giáo Hội là ông từ nghiêm khắc canh giữ đền thánh?

Trong các thư quan trọng của Phaolô, ta thấy ngài viết rằng, Giáo Hội là kẻ cưu mang sống động chân lý của Chúa Kitô. Giáo Hội có nhiệm vụ giữ gìn chân lý đó, có thể nói là cột trụ của chân lý đó; và Giáo Hội cũng sống, truyền bá chân lý đó một cách sống động và dễ hiểu, để chân lý được triển nở. Chúng ta cũng đã nghe, Giáo Hội luôn được Thánh Linh hướng dẫn để tìm tới sự thật, vì thế nơi giáo huấn hai yếu tố trung thành và tiến bộ nối kết với nhau.

Luther đã phản đối điều đó, bảo rằng, chẳng cần giáo huấn Giáo Hội, chỉ có Kinh Thánh là đủ. Ông bảo, giáo huấn là kiêu ngạo, mỗi người có thể tự mình hiểu Kinh Thánh, nếu đọc một cách đúng đắn. Ngày nay ta thấy càng ngày càng rõ, là kinh sách thường mang nghĩa đôi. Lời Chúa chỉ sống động trong Giáo Hội, nên phải bước vào trong đời sống Giáo Hội. Như thế, ta cũng cần một cơ quan được ủy quyền diễn giải. Cơ quan đó dĩ nhiên phải hiểu là nó không đứng trên, nhưng đứng dưới Lời Chúa và phải lấy lời đó làm chuẩn. Ngoài ra, trong lãnh vực này, hiện nay đã có những cuộc trao đổi làm hòa giữa các Giáo Hội. Qua đó, phía Công giáo đã phải bỏ đi một số nội dung diễn giải Lời Chúa, trong khi phía Tin Lành đang đưa việc diễn giải đi vào thẩm quyền của Giáo Hội. Từ những nhận thức đó, hệ quả sau đây nảy sinh theo thời gian: Nếu lời diễn giải của Giáo Hội có giá trị bó buộc, thì Giáo Hội phải có một lực đỡ, một soi sáng nào đó, để Giáo Hội có thể diễn giải đúng như Chúa Thánh Linh, Đấng dẫn dắt mình, muốn. Với lối nghĩ đó, cuối cùng, huấn giáo không sai lầm (bất khả ngộ) đã hình thành.

Điểm này hẳn cần phải giải thích thêm.

Để không bị lạm dụng và hiểu lầm, điểm này, dĩ nhiên, phải được hiểu thật đúng trong khuôn khổ giới hạn của nó. Không phải mọi lời do giáo quyền hay giáo chủ nói ra, đều không sai lầm. Nhưng chỉ những gì mà Giáo Hội, sau những cuộc đấu tranh tinh thần khó khăn trong lịch sử và qua quá trình cầu nguyện suy tư lâu dài, tuyên bố đây là điều diễn giải chính thức. Và như thế, nhờ ơn soi sáng, Giáo Hội vạch ra nơi đây một lằn ranh để giúp con người khỏi rơi vào lầm lạc, và đồng thời cũng để nói cho họ hay rằng, Giáo Hội không phải là một dụng cụ phá hoại lời Chúa, song là người Mẹ và là chủ thể, qua đó lời Chúa được sống động, được phát biểu đúng và được diễn giải đúng. Nhưng như đã nói, tất cả phải có điều kiện. Có nghĩa là tất cả những ai mang trách nhiệm trong Giáo Hội phải phục tùng những điều kiện đó trong tinh thần trách nhiệm cao. Họ không được lấy ý mình ra để quàng lên Giáo Hội, nhưng phải đứng vào trong cộng đoàn đức tin chung với tinh thần phục vụ và lắng nghe lời Chúa. Họ phải để cho lời đó hướng dẫn và tẩy gội cuộc sống, có như thế họ mới có thể diễn giải lời Ngài đúng được.  

Sứ mạng Giáo Hội rõ ràng cũng bao gồm cả tinh thần đối kháng và nhận lỗi. Với tinh thần đó, Giáo Hội có một chút gì phản kháng, quá khích và khác người. Nếu tôi không lầm, thì Giáo Hội luôn chống lại mốt độc tài. Giáo chủ (Gioan Phaolô II) đã dùng tiếng nói tông đồ của mình để phản đối thế giới và coi đó là nhiệm vụ cao cả của mình: Hãy phản đối, ngài đã kêu gọi như thế. Chống lại quyền lực của thực tại, chống lại cái quá trớn của chủ nghĩa vật chất và chống lại sự mù loà của một thế giới vô đạo đức. Sứ mạng của Giáo Hội, hẳn nhiên, bao gồm việc sẵn sàng phản đối và đối kháng. Ta đã thấy, con người luôn có khuynh hướng chống lại những lời từ trên xuống; họ muốn được thoải mái, muốn được tự quyết định cái gì họ muốn, bằng cách tự đặt ra những ý thức hệ, tự tạo ra cho mình một mốt thời trang và đi theo mốt sống đó.

Hãy trở lại lần nữa với lời tiên tri của Simêon. Ông đã nói về Chúa Kitô: Con trẻ này sẽ là dấu cho người ta chống. Và ta hãy nhớ lại chính lời Đức Giêsu: «Tôi không đến để đem bình an, nhưng đem gươm giáo». Câu nói đó cho thấy sứ mạng to lớn và quan trọng của Giáo Hội chống lại thời thượng, quyền lực của thực tại và độc tài của ý thức hệ. Ngay thế kỷ trước, Giáo Hội cũng đã phản kháng lại những nền độc tài lớn. Và ngày nay, chúng ta đau buồn thấy sự phản đối của Giáo Hội quá yếu, tiếng nói phản kháng của chúng ta đã không kiên quyết và  đủ lớn cho thế giới nghe. Nhưng cám ơn Chúa đã có những gương tử đạo. Trong khi giáo triều yếu đi vì tế nhị ngoại giao, thì các vị tử đạo đã trả giá cái mâu thuẫn đó bằng chính cuộc sống mình. Hẳn nhiên, không phải phản kháng vì thích phản kháng, hay là một phản ứng suông hoặc vì cảm thấy bất lực trước viễn ảnh tương lai. Mà thái độ hay hành động đó phải luôn mở ra cho cái thiện mọi thời, cho cái mới gói gém trong mọi thời đó, cái mới đó cũng luôn mở ra những chiều kích hoàn toàn mới của lời Chúa. Lại nữa, khi hành động, ta cũng không được vì bất cứ lí do gì đẩy đức tin ra lề hay để cho nó bị lu mờ đi. Phải chống lại những gì ngược lại với Thiên Chúa, cho dù vì thế mà mình phải tự chống mình, cho đến phải can đảm chấp nhận tử đạo. (Còn tiếp).

 

CHUYÊN ĐỀ GIÁO XỨ & GIA TRƯỞNG

MỘT CỘNG ĐOÀN "ĐI RA"

 

Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói, ngài muốn "một Hội Thánh mở cửa" (EG 46). Mong muốn này của Đức Giáo Hoàng rất phù hợp và rất đáng để chúng ta, mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Xứ, suy nghĩ trong bối cảnh của Năm Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống Các Giáo Xứ.

"Một Hội Thánh mở cửa", theo Đức Giáo Hoàng, không phải là môt Hội Thánh chỉ "mở cửa" để chào đón hay để cho người khác vào, mà là một Hội Thánh, mà những người sống trong đó, phải can đảm và sẵn sàng "đi ra" để đến và để sống với con người. Thực vậy, Hội Thánh như là con đường hai chiều: mở cửa ra để chào đón người khác, nhưng trước hết, những người trong đó cũng phải biết sẵn sàng đi ra để đến với họ.

          Quả thế, để sống Năm Tân Phúc Âm Hóa, cộng đoàn Giáo Xứ cũng cần phải "mở cửa" ra đối với mọi người. Mở cửa ra để chào đón mọi người, nhất là những người khô khan nguội lạnh, những người đau khổ và kém may mắn, và những người chưa biết Chúa. Mở cửa để chào đón mọi người như vậy cũng có nghĩa là làm cho Giáo Xứ mình trở nên thân thiện với mọi người, trở nên nơi mà mọi người cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa nơi những con người mà họ sống với, cảm nhận được sự ấm áp của tình người.

Tình yêu của Thiên Chúa và sự ấm áp của tình người được thể hiện cách cụ thể qua những buổi qui tụ của Giáo Xứ, nhất là qua Thánh lễ và các buổi sinh hoạt đạo đức của các Hội Đoàn. Đây chính là dịp để củng cố và nuôi dưỡng đời sống đức tin, tình bác ái, niềm hy vọng và sự hiệp nhất của cộng đoàn Giáo Xứ.

Củng cố nội bộ, làm cho Giáo Xứ mình trở thành một cộng đoàn sống đức tin, một cộng đoàn sống hòa giải, chan chứa tình Chúa và tình người là điều quan trọng và là bước đi  đầu tiên trong việc sống Tân Phúc Âm Hóa. Bước tiếp theo và là bước thực sự cho thấy một Giáo Xứ là một cộng đoàn sống Tân Phúc Âm Hóa là phải "mở ra". Nghĩa là phải can đảm và sẵn sàng "đi ra" để đến sống với những người khô khan nguội lạnh, những người đau khổ, kém may mắn và những người chưa nhận biết Chúa.

"Đi ra", trước hết là đi ra khỏi chính mình - đi ra khỏi sự ích kỷ nhỏ nhen, đi ra khỏi cục bộ phe nhóm, đi ra khỏi những cái nhìn định kiến, soi mói về người khác, nhất là đối với những người khô khan nguội lạnh, những người đau khổ, kém may mắn và những người chưa nhận biết Chúa. Chỉ khi mỗi người trong Giáo Xứ biết "đi ra" khỏi chính mình như vậy thì mới có thể xây dựng Giáo Xứ mình thành một cộng đoàn sống đức tin, một cộng đoàn của hòa giải, một cộng đoàn chan chứa tình Chúa và tình người.

Cũng trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô lưu ý rằng, trong toàn bộ lịch sử cứu độ, Thiên Chúa mời gọi dân của Ngài đi ra khỏi chính mình, hướng đến việc phục vụ cho kế hoạch cứu độ của Ngài. Thiên Chúa đã gọi Abraham ra đi để đến miền đất mới. Ngài đã gọi Môsê để dẫn dân ra khỏi Aicập. Ngài đã dùng tiên tri Giêrêmia để kêu gọi dân cứng đầu sám hối.

Khi đến trần gian, chính Chúa Giêsu đã đi ra khỏi thành Nazaret để rao giảng Tin Mừng, với khát khao chia sẻ cho con người tình yêu của Thiên Chúa. "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó" (Mc 1, 38). Và rồi Ngài cũng đã mời gọi các môn đệ của Ngài làm như vậy: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19-20). Như thế, là Kitô hữu, cũng là những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta cần phải thực hiện lệnh truyền của Chúa để ra đi làm chứng cho Tin Mừng của Thiên Chúa.

"Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" có nghĩa là "đi ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng 'ngoại vi' đang cần ánh sáng Tin Mừng" (EG 20). "Đi ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng đất 'ngoại vi'" nghĩa là "đi ra" để đến và sống với những người đang cần chúng ta. Quả vậy, chúng ta chỉ có thể thắp sáng lại ngọn lửa đức tin nơi những con người nguội lạnh, chúng ta chỉ có thể đem niềm an ủi và niềm hy vọng đến cho những người đau khổ, những người kém may mắn và bị bỏ rơi, chúng ta chỉ có thể đem ánh sáng Tin Mừng của Thiên Chúa đến cho những người chưa nhận biết Ngài khi chúng ta ra đi để đến và sống với họ.

Với lệnh truyền "hãy đi", Chúa Giêsu đã cho các môn đệ thấy được tầm quan trọng của việc truyền giáo không phải là "chờ" người khác đến với mình, nhưng là đến với họ. Trong sứ vụ Phúc Âm Hóa, chúng ta thường hay bị cám dỗ  tập trung nỗ lực vào việc "chờ người khác đến với mình, thay vì "đi ra" để đến với họ. Chính vì bị cám dỗ "chờ" người khác đến với mình, nên chúng ta chỉ nỗ lực lo củng cố nội bộ, đóng khung việc sống đạo trong phạm vi Giáo Xứ, trong nội bộ đoàn thể. Và, còn nguy hiểm hơn là chúng ta biến việc sống đạo và những sinh hoạt đạo đức theo hình thức thương mại. Nghĩa là, chúng ta chỉ tập trung vào những hình thức bề ngoài, cũng có những cạnh tranh giữa các Giáo Xứ này với nhau, giữa Hội Đoàn này với Hội Đoàn khác …, và đánh mất sự thánh thiêng của những sinh hoạt đạo đức và việc sống đạo. Chúa Giêsu đã không làm như vậy. Khi rao giảng Tin Mừng, Ngài đã không phát những tờ rơi để quảng cáo hầu thu hút dân chúng đến với Ngài. Ngài đã đến với dân chúng, sống với họ hầu chia sẻ với họ chính cuộc sống mà họ đang sống. Ngài đã ra đi để tìm "những con chiên lạc". Và ưu tiên hàng đầu của Chúa Giêsu là băng bó những vết thương cho những con chiên bị thương tích, phục hồi lại phẩm cách cho những con chiên bị lạc, những con chiên bị bỏ rơi…

"Đi ra" để đến và sống với, thực sự, đó là việc ta nỗ lực sống tốt, sống đúng với phẩm giá là một con người và là một người con Chúa, để rồi ta giúp cho người khác sống tốt phẩm giá của họ; chứng nhận cho họ biết rằng, dù cuộc đời họ thế nào thì họ vẫn luôn được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ cho họ. Ngài muốn nâng họ dậy, và giải thoát họ khỏi ách nô lệ của tội và cho họ cơ hội để sống với phẩm giá của chính họ. Đi ra khỏi chính mình để đến và sống với người khác hầu chia sẻ cho họ tình yêu của Đức Kitô có thể thực hiện cách rất tự nhiên với tất cả những người mà Thiên Chúa gởi đến trong cuộc đời chúng ta - trong gia đình, ở trường học, nơi công sở, ngoài xã hội. Và, sống hòa giải, yêu thương, xây dựng sự hiệp nhất và bình an tại những nơi ta hiện diện chính là những việc làm cụ thể ta cần phải nỗ lực sống khi sống với người khác.

Tóm lại, có nhiều cách để ta sống năm Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống Các Giáo Xứ. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, việc "đi ra" để đến và sống với người khác là điều cần thiết và cấp bách. Thấy được điều đó nên vị Cha Chung của chúng ta, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, mong muốn và mời gọi chúng ta phải biết sẵn sằng "đi ra", theo lệnh truyền của Chúa Giêsu: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ". Ước mong mọi thành phần dân Chúa trong mỗi Giáo Xứ, nhất là những người có trách nhiệm, biết nỗ lực xây dựng cộng đoàn Giáo Xứ mình trở thành một cộng đoàn biết mở ra để chào đón mọi người, qua việc biết sẵn sàng đi ra để đến và sống với họ.

Hương Quê

 

CHỤP CẮT LỚP GIỚI GIA TRƯỞNG

Đóa Hoa Vô Thường

“Chụp cắt lớp” là một từ ngữ chuyên môn trong ngành y. Nguyên văn của từ ngữ này là “chụp cắt lớp vi tính” (Computer Tomography Scanner). Chụp cắt lớp vi tính còn được gọi là chụp CT, là một phương pháp kiểm tra bằng X-quang tiên tiến có sử dụng kĩ thuật chụp X-quang và máy tính, để thu được các hình ảnh bên trong cơ thể. Vì thế “chụp cắt lớp” đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện và chẩn đoán các bệnh tật.

Tôi muốn dùng hình ảnh “chụp cắt lớp” ấy để liên tưởng đến việc “chụp cắt lớp giới gia trưởng”. Hi vọng nhờ kĩ thuật chụp cắt lớp này, ta có thể phát hiện ra cái “tính gia trưởng” của mình đang ẩn núp đâu đó trong chính bản thân.

Tính gia trưởng là gì? Theo từ điển Tiếng Việt, “người gia trưởng là người chủ trong nhà”. Vì là chủ trong nhà, nên có quyền điều khiển và chi phối mọi thành viên trong gia đình. Nhưng theo một nghĩa rộng hơn, thì “tính gia trưởng” đã vượt ra khỏi phạm vi gia đình. Nó ẩn mình trong rất nhiều người, không phân biệt nam hay nữ, già hay trẻ. Vì thế có người đã nói “tính gia trưởng” là “bệnh gia trưởng”, một căn bệnh mãn tính, hay lây và có sức tàn phá ghê gớm. Người mang căn bệnh này thường cho mình là người hoàn hảo, là mẫu mực, là người chỉ đạo, nên thường ra lệnh, áp đặt người khác tuân theo ý mình.

Hậu quả của “tính gia trưởng” là làm nảy sinh biết bao thảm cảnh bạo lực trong gia đình hay đời sống cộng đoàn, làm cho các thành viên luôn sống trong bầu khí ngột ngạt, sợ hãi và bất an. Nếu ta thực tâm muốn chữa trị “tính gia trưởng”, thì hãy đến với Chúa Thánh Thần. Ngài là Vị Bác Sĩ giải phẩu thẩm mĩ chuyên khoa về tâm hồn. Ngài sẽ giúp ta hoàn thiện con người mình theo hình ảnh của Chúa. Hôm nay dưới lăng kính của máy chụp cắt lớp hiệu Kinh Thánh, ta thử khám phá một vài dấu chỉ chứng tỏ một người có “tính gia trưởng”.

Thứ nhất: Đó là người độc đoán. Mẫu người này luôn tự cho mình là số một, là duy nhất đúng, là người có tiếng nói quyết định. Vì thế họ cũng rất dễ nổi nóng, dễ quát nạt người khác khi phải xử lý những công việc mà họ chưa đồng ý, hoặc chưa thông qua. Không những họ thích xét đoán, mà lại còn độc đoán nữa. Thế mới khổ. Trong gia đình, họ là người chỉ huy thượng cấp, luôn mang tính áp đặt trên mọi thành viên. Tuy mọi việc họ làm đều lấy danh nghĩa là “vì vợ vì con”, nhưng chính cái tính độc đoán của họ lại làm khổ vợ con hơn ai hết.

Xưa kia ông Phêrô cũng có cái tính độc đoán này, khi ông góp ý quyết liệt với Chúa Giêsu trong cuộc thương khó. Kinh Thánh kể: Ông kéo Chúa Giêsu ra một chỗ và nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. Vừa nghe xong ý kiến chỉ đạo của Phêrô, Chúa Giêsu đã quay lại bảo ông: “Xatan, lui ra đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà của loài người” (Mt 16, 22-23). Xem ra sống với người có tính độc đoán cũng hơi bị mệt đấy!

Thứ hai: Đó là người độc tài. Trong gia đình, họ luôn lấy cớ bảo vệ hạnh phúc gia đình, để quản lý vợ con rất chặt. Họ sẵn sàng chen chân vào mọi sinh hoạt riêng tư của các thành viên trong gia đình, từ việc quản lí tiền bạc, quan hệ bạn bè, học tập của các con, đến việc chi tiêu, quần áo, sách vở, điện thoại, ăn uống. Họ muốn phủ sóng 24/24 trong gia đình. Vì thế, không những họ áp đặt ý kiến chỉ đạo của họ trên mọi thành viên, mà còn cấm đoán hay ra lệnh cho vợ con từ những việc rất nhỏ. Nhất nhất mọi người phải răm rắp tuân theo sự xếp đặt của họ. Người nào cố tình đi ra ngoài vùng phủ sóng của họ, là y như rằng họ nổi cơn thịnh nộ và thậm chí ghét bỏ không thương tiếc.

Kinh thánh nhắc tới bạo vương Hêrôđê Antipa. Ông này đã giết Gioan Tẩy Giả vì Gioan đã dám nói sự thật, đã dám đi ra ngoài tầm kiểm soát của ông (Mc 6, 17-29). Ông còn tìm cách giết cả Chúa Giêsu, vì Ngài không chấp nhận sự quản lí độc tài của ông (Lc 13, 31-35). Trong gia đình, nếu người chồng có “tính gia trưởng”, thì không cho vợ con quyền tự quyết nào cả. Nếu ai không làm đúng ý họ, họ sẽ giận dỗi và không tiếc lời trách móc. Người có “tính gia trưởng” luôn biện minh rằng: Mọi hành động của mình là muốn tốt cho gia đình, muốn bảo vệ vợ con. Họ cảm thấy tự tin và hãnh diện khi thấy vợ con ngoan ngoãn dưới sự che chở bao bọc của họ. Xem ra sống với người có tính độc tài cũng hơi bị mệt đấy!

Thứ ba: Đó là người độc tôn. Họ hay đổ lỗi và thích sử dụng bạo lực. Trong giao tiếp hay làm việc chung, người có “tính gia trưởng” thường không cho ai có cơ hội bào chữa hay nói lời giải thích. Họ thường xuyên to tiếng theo kiểu “cả vú lấp miệng em”, hoặc sử dụng quyền hành để bắt người khác phải “im hơi lặng tiếng” theo ý họ. Hậu quả là không có sự “tâm phục khẩu phục”, hoặc chỉ ráng mà “vâng” chứ không “phục”. Nếu có ai góp ý về thái độ độc tôn của họ, thì họ lại tìm cách đổ lỗi cho người này, người kia với đủ mọi thứ lí do. Nhưng tuyệt nhiên họ không hề nhận lỗi.

Có một giai đoạn, Phaolô là con người như thế. Ông sống cùng thời với Chúa Giêsu và là ngôi sao đang lên của trường phái Pharisiêu. Chắc chắn Phaolô phải biết những gì đã xảy ra ở Giêrusalem. Có thể ông đã nhìn thấy việc Chúa làm, đã nghe lời Chúa giảng. Nhưng vì có tính độc tôn, nên Phaolô rất ghét Chúa Giêsu, vì Ngài đã phá đổ những gì ông vẫn nhiệt thành tin tưởng. Sau cái chết của Chúa Giêsu, ông thở phào nhẹ nhõm, ông tưởng phong trào “lạc giáo” đó sẽ tan theo. Nhưng ngược lại, con số tín hữu Kitô ngày một đông, khiến Phaolô điên tiết. Ông xin trát để lùng bắt tất cả những người theo “Đạo” và đưa về Giêrusalem trừng phạt. Xem ra sống với người độc tôn cũng hơi bị mệt đấy!

Thứ bốn: Đó là người độc chiếm, hay ghen. Có lẽ phát xuất từ sự độc đoán, mà người có “tính gia trưởng” cũng thường hay ghen. Kinh Thánh kể lại nhiều trường hợp ghen tương. Chẳng hạn: Cain ghen với em mình là Aben (Stk 4,5); Sara ghen với Agar (Stk 16,1 tt); Anh em con ông Giacop ghen với Giuse (Stk 37,1-38), Trong gia đình, nếu người chồng có tính hay ghen, thì chỉ cần nhìn thấy người vợ cười cười nói nói vài lời bông đùa với người khác phái, là họ gán cho người vợ tính lẳng lơ. Rồi nhờ cái tính độc đoán xúi bẩy thêm, họ cho rằng mình đã nói là không sai. Vì thế nếu người vợ càng lên tiếng thanh minh, thì họ càng nghĩ vợ có tật giật mình, và không tiếc lời mắng nhiếc thậm tệ. Nhiều trường hợp đi đến cảnh đổ vỡ.

Người ta bảo rằng: “Có yêu thì mới ghen”. Cũng đúng thôi. Nhưng trong tiếng Việt, chữ “Ghen” lại thường đi đôi với chữ “Ghét”, chữ “Tị”, chữ “Tức”. Nên vô hình trung đã ghép thành từ ngữ “Ghen-ghét”, “Ghen-tị”, “Ghen-tức”. Chưa hề nghe thấy hai chữ “Ghen-yêu” bao giờ. Vì thế, xin đừng nghĩ rằng vì yêu quá hóa ghen. Không phải như thế đâu. Ghen tương là dấu chỉ của “tính gia trưởng”. Thánh Phaolô nói: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không nóng giận, không nuôi hận thù”. (1Cr 13,4tt). Thánh Giacôbê tông đồ nói: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, thì ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3,16). Xem ra sống với người có tính ghen tương cũng hơi bị mệt đấy!

Kết luận: Những dấu chỉ độc đoán, độc tài, độc tôn, độc chiếm trên đây chỉ là những biểu hiện của người có “tính gia trưởng”. Sống và làm việc chung với loại người này hơi bị mệt đấy! Nhưng ta phải tập sống với họ như là “sống chung với lũ”, vì “kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai” (Phạm Duy). Kinh nghiệm cho thấy, nếu muốn sống chung với người có “tính gia trưởng”, thì ta nên áp dụng nguyên tắc: không nghe, không thấy, không biết. Sở dĩ phải chọn cách sống này, vì người có “tính gia trưởng” thường thích chỉ đạo, thích người khác phục tùng, thích thể hiện quyền lực, không thích góp ý. Nếu ta gân cổ lên cãi, thì chỉ làm cho mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn. Thôi thì cách tiêu cực, ta cứ lờ đi, cứ im lặng, cứ ậm ừ cho xong. Với thời gian, họ sẽ nhận ra sự phản ứng bất bạo động của ta. Khi đó, ta sẽ nhẹ nhàng trao đổi với họ về những suy nghĩ trong lòng mình, hi vọng đôi bên sẽ hiểu nhau hơn. Đồng thời tích cực hơn, thì hãy cầu nguyện cho mình và cho họ được ơn biến đổi. Hãy vững tin vào sự hoạt động kì diệu của Chúa Thánh Thần, “Đấng đổi mới mọi sự” (Kh 21,5a).

 

 

NHẪN YÊU THƯƠNG

 

1- Một nhóm thợ lặn phát hiện một chiếc thuyền bị chìm cách đây hơn 400 năm, ngoài khơi nước Ái Nhĩ Lan. Một trong những báu vật họ tìm thấy trên thuyền là chiếc nhẫn cưới của một người đàn ông. Trên chiếc nhẫn khắc hình một bàn tay đang dâng một trái tim với hàng chữ “em không còn gì hơn để cho anh”. Trong tất cả kho tàng tìm thấy được trên thuyền, không có gì làm xúc động nhóm thợ lặn cho bằng chiếc nhẫn cưới và những lời cao đẹp của tình yêu.

2- Nhẫn cưới là một vòng tròn nói lên sự vô biên vô tận, không có khởi đầu và cùng tận :”Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này, để làm bằng chứng tình yêu và lòng trung thành của em (của anh). Trao nhẫn cho nhau nêu bật hai đặc tính căn cơ của hôn nhân công giáo: Đơn nhất (một vợ một chồng) và bất khả phân ly (không ly dị, ly thân). Thật ý nghĩa việc khắc ghi lời thề hoặc tên người yêu trên chiếc nhẫn cam kết của mình; quan trọng hơn nữa là khắc tên nhau trong tim. Trong lễ cưới, cần có chiếc nhẫn; sau lễ cưới, cần có chữ NHẪN. Tại sao ?

3- Theo các chuyên gia tâm lý, và dựa trên kinh nghiệm ngàn đời của những người từng trải, cuộc sống vợ chồng không chỉ toàn là màu hồng yêu đời, thuận buồm xuôi gió, mát mái thuyền trôi, mà sẽ phải trải qua nhiều khủng hoảng. Đặc biệt là :

Khủng hoảng vỡ mộng: Ở trong chăn mới biết chăn có rận. Sau lễ cưới, về chung sống với nhau, những mộng tưởng mộng đẹp xưa bắt đầu tan biến, nhường chỗ cho thực tế phũ phàng. Chàng hổn hển ngộp thở với bổn phận và trách nhiệm. Nàng gò bó trong nghĩa vụ làm vợ làm dâu. Hôn nhân không như mình tưởng: Làm chồng không đơn giản, làm vợ không dễ dàng. Chung sống với nhau, mọi mặt nạ che giấu trước đây nay rớt xuống, trả lại con người thật của đời thường, khám phá ra mặt trái của nhau, với bao thói hư nết xấu, tính tình xung khắc, khiến cả hai bàng hoàng sửng sốt, vỡ mộng, cay đắng thốt lên: Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề (Hồ Dzếnh).

Khủng hoảng nhàm chán, ngao ngán: Xưa nay thế thái nhân tình, vợ người thì đẹp, văn mình thì hay. Một số người bi quan cay đắng: “Cá trong lờ đỏ hoe con mắt; cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô”. Chán cơm nên thèm phở. Họ đi tìm niềm vui và mới lạ ngoài luồng, nơi người thứ ba.

4- Để khắc phục và thắng vượt các khủng hoảng, cũng như các thử thách không mời mà đến, vợ chồng phải luôn nhớ lại lời thề hứa trong thánh lễ hôn phối: “Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này làm dấu chỉ tình yêu và lòng chung thủy của em (anh). Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

Bí quyết thành công hạnh phúc trong đời phu phụ: phải lấy chữ NHẪN làm đầu = nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục, kiên nhẫn. Vợ chồng hãy “có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại; chịu đựng và tha thứ cho nhau ”( Cl 3,12-14).

Ta thường hiểu lầm nhẫn nhục là đè nén, cắn răng cam chịu thua thiệt. Thực ra nó có nghĩa rất hay = chịu đựng. Chịu là đồng ý chấp nhận; đựng là khả năng dung chứa. Nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát; mà là mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng những khó khăn lớn. Cuộc đời không phải lúc nào cũng thuận theo ý ta. Nếu không chuẩn bị sẵn một dung lượng trái tim khá lớn, sẽ có lúc ta phải gục ngã trước hoàn cảnh, hay đánh mất người thương, vì khả năng chấp nhận quá yếu kém của mình: Chữ NHẪN là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.

5- Vợ chồng luôn tâm niệm và nhắc nhở nhau: Chung thủy khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời. “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly “(Mt 19,6). Dầu mà trời đất phân chia, đôi ta như khóa với chìa không rơi. Đã cam kết, chẳng bao giờ tháo gỡ.Những chiếc nhẫn đã một lần trao tay, mong được ở mãi với chủ nó, để tình yêu được bền vững: “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn, làm cho anh chị được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức KiTô đòi hỏi. Anh chị hãy đón nhận nhau, như Đức KiTô đã đón nhận anh chị” (Rm 15,5.7).

6- Kinh nghiệm: Cha tôi phải trải qua một cuộc phẫu thuật tim. Tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, ông quay quắt tìm kiếm mẹ tôi; rồi nói với bà: Em biết các bác sĩ tìm thấy cái gì khi mở lồng ngực của anh không? Họ thấy tên em được ghi khắc trong trái tim anh!

Hạt Cải

 

 GIA TRƯỞNG

Đức An

Khi nói tới hai từ gia trưởng, người ta nghĩ ngay tới vai trò người đàn ông trong gia đình. Gia là nhà, là gia đình, trưởng là đứng đầu, gia trưởng là người đứng đầu trong gia đình. Vì thế người đàn ông phải có trách nhiệm và quyền trong gia đình. Nói tới trách nhiệm là nói tới sự tương quan với tất cả thành viên trong gia đình theo thứ bậc và vai trò. Quyền của gia trưởng là điều hòa, phối hợp để gia đình ổn định sống trong yêu thương.

          Để có một nhận định chính xác ta nên xét trước nhất là trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình. Đã là đàn ông thuộc phái mạnh, nên những việc nặng người đàn ông phải đảm đương. Xét về vai trò: ông là chồng, được sự hỗ trợ của bạn đời, cả hai sống với nhau trong tinh thần kết hợp theo luật của Thượng Đế. Trong ngôn ngữ Việt Nam có một từ mà tiếng nước ngoài không có đó là từ “ mình”. Cả hai vợ chồng đều gọi nửa kia là “mình”. Gọi vợ là mình, làm sao có thể hành hạ la mắng được? Gọi chồng là mình làm sao có thể thóa mạ? Đó cũng là đặc thù của tình yêu vợ chồng. Họ sống với nhau bằng tình yêu chân thật. Chỉ có yêu thương mới hóa giải được những mâu thuẫn, những xung khăc không đáng có. Họ có trách nhiệm với nhau để hoàn thành trách nhiệm của mỗi vai trò trong gia đình.

          Tình yêu của họ sẽ cho những đứa con xinh và ngoan. Đó là sợi dây thiêng liêng không bao giờ đứt. Có được tiếng khóc của bé là hạnh phúc được nhân lên. Tuy nhiên có thêm một thành viên trong gia điình trách nhiệm sẽ càng thêm nặng. Con cái sau này sẽ trở nên hữu dụng hay không là được dạy dỗ uốn nắn, khuyên răn từ nhỏ. Cơ thể và tinh thần con trẻ tăng trưởng theo thời gian. Người Cha luôn đóng vai trò quyết định. Mới xuất hiện một thành viên là có vấn đề phát sinh, nhưng sẽ có tiếp những thành viên trách nhiệm sẽ càng tăng. Người gia trưởng, với sức người khó có thể chu toàn vai trò là cha.

          Bởi thế, ta phải tìm sức trợ lực, ngoài Thiên Chúa không còn nơi nào để ta nương tựa và đặt trọn niềm tin. Chúa biết sự yếu đuối của chúng ta, nên chỉ cần lời xin của ta là Người ban cho ta những ơn cần thiết và còn hơn thế nữa.

          Nếu đường đời bằng phẳng cả anh hùng hào kiệt có hơn ai. Vâng nếu tất cả hôn nhân có tình yêu, đâu đến nỗi phải tốn biết bao giấy bút nói về cuộc sống gia điình và vai trò gia trưởng của đàn ông. Tôi xin trưng ra vài trường hợp thường xẩy ra: Trường hợp vai gia trưởng bị người vợ tước đoạt, cũng vì người đàn ông nhu nhược, vợ bảo sao nghe vậy, bảo đâu làm đó, tài chánh bà giữ cả, không vừa ý bà đay nghiến tra khảo, trường hợp này có nhưng ít xẩy ra. Thường thì các ông là đối tượng áp đảo chủ lực. Đôi khi như ông chủ với đầy tớ, khi tới bữa ăn ông ngồi một mình mâm trên với món ngon và rượu nhắm. Tệ hơn nữa lại luôn say xỉn nhưng thói gia trưởng luôn thể hiện bằng hành động đòi cung phụng áp đặt, không được đáp ứng thể hiện bằng hành vi vũ phu bỉ ổi, lại thêm đam mê cờ bạc, ngoại tình, hút chích, bắt nguồn từ sự gia trưởng thái quá và sự băng hoại của đạo đức con người. Đưa biết bao gia đình đến sự ly tán.

          Làm sao con người có thể xử tệ với nhau đến thế? Hầu như họ không còn nhân tính. Khi phải chứng kiến cảnh bạo hành trong gia đình, chúng ta nghĩ ngay tới vai trò người gia trưởng đang bị phá vỡ, đang bị lạm dụng. Những nhà xã hội, những nhà làm luật nên có giải pháp nạn bạo hành trong gia đình và xã hội. Người Kitô hữu chúng ta cầu xin Thiên Chúa thương đến những gia đình đang chịu đau thương. Xin Ngài soi sáng cho các ông chồng biết trở lại, tự răn mình để sống xứng một người với vai trò mà Chúa đã trao.

 

 

BA ĐƯỢC LÀM TỪ GÌ?

Búp bê xinh được làm từ nhựa và quần áo. Máy chơi trò chơi điện tử được làm từ nhựa và điện. Kẹo ngon được làm từ đường và mùi thơm. Còn ba vĩ đại cuả mình được làm từ gì vậy kìa? Và đây là câu trả lời của Thượng Đế, Người làm ra ba:

Dáng vóc của ba được làm từ sự hiên ngang, hùng vĩ của dãy núi lớn. Đôi tay nồng ấm của ba được làm từ cái ấm áp của mặt trời mùa hè. Tính cách của ba được làm từ sự bình yên của biển cả, sự rộng rãi bao dung của thiên nhiên. Trí thông minh của ba được đúc kết từ sự khôn ngoan của nhiều thế hệ. Kho tàng  những truyện vui hóm hỉnh trong đầu ba được làm từ những niềm vui  của một buổi sáng mùa xuân. Máu trong tim ba là nước sông Ngân nên lúc nào cũng sục sôi, rào rạc. Còn một tí nước sông làm nên nước mắt của ba, vì vậy khi ba khóc, nước mắt mới chảy ngược vào tim.

Tất cả những vật liệu ấy làm ra một tác phẩm tuyệt vời, hoàn hảo. Tác phẩm ấy có tên là: BA VĨ ĐẠI CỦA MÌNH.

Có thể nói, trong kho tàng văn chương của nhân loại hay trong những tác phẩm văn học, hình ảnh của người đàn ông, người cha dường như mờ nhạt hơn hình ảnh của người phụ nữ, của người mẹ. Nếu như trong năm, ngoài ngày Quốc Tế phụ nữ (8/3) dành để tôn vinh phụ nữ thế giới, thì ở mỗi quốc gia đều có ngày dành riêng để tôn vinh người phụ nữ của nước mình. Chẳng hạn tại Việt Nam thì có ngày Phụ Nữ Việt Nam (20/10), ở Trung Phi có ngày bà mẹ (29/5), ngày (1/8) thì lại là ngày Phụ Nữ Hy Lạp, ngày Người Mẹ Thái Lan thì được mừng vào ngày 12/8, và sau này có một ngày đang được cả thế giới hưởng ứng rầm rộ đó là Ngày của Mẹ được mừng vào Chúa Nhật thứ 2 của tháng 5. Còn ngày dành riêng để tôn vinh những người cha thì sao? Nếu bạn vào Google và tìm “Những ngày lễ dành cho cha” thì chỉ tìm thấy một ngày duy nhất đó là Ngày của Cha (Father’s Day) được mừng vào Chúa nhật thứ ba của tháng 6 do cô Sonora Smart Dodd tổ chức lần đầu tiên tại Washington vào ngày 19/6/1910 và được mừng rộng rãi ở Mỹ bắt đầu từ năm 1972. Đây là ngày dành để tôn vinh sự hy sinh, vị tha, bao dung của những người cha. Tuy nhiên ở Việt Nam, ngày lễ này vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Nếu như dịu dàng, mềm dẻo, đảm đang và sống bằng con tim được coi là đặc tính của người phụ nữ, thì mạnh mẽ, cương trực, bao dung, trầm lặng và sống bằng lý trí lại là tính chất của người nam. Chính vì vậy mà trong gia đình, con cái dễ gần gũi tâm sự với mẹ hơn cha. Tuy nhiên, vai trò của người cha trong gia đình là không thể thiếu. Ca dao Việt Nam thường ví von: Con giống cha là nhà có phúc; con không cha như nhà không nóc, để cho thấy tầm quan trọng của người cha trong gia đình. Thật vậy, người đàn ông trong gia đình thường được ví như thuyền trưởng của con thuyền. Thuyền có vững vàng lướt trên sóng to, gió lớn để cập bến bình an hay không là nhờ ở sự lèo lái, chèo chống  khéo léo của thuyền trưởng. Về mặt tâm lý, vai trò người cha cũng ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của những đứa con.

Khi nói về công ơn của mẹ, người ta dùng những hình ảnh rất dịu dàng, dung dị như “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, như cánh đồng, hay ngọt ngào như khúc dân ca…” Còn với cha, tưởng chừng như là rất khó để tìm những hình ảnh so sánh cụ thể và chính xác. Ấy vậy mà, trong ca khúc Bông Hồng Dâng Cha, tác giả Chúc Linh đã khắc họa hình ảnh một người cha tuyệt vời, một cột trụ trong gia đình rất hoàn hảo, có thể nói: Cha là như vậy nhưng không phải là vậy: “Lòng cha sâu lắng âm thầm/ tình cha núi cao nào hơn. Hùng vĩ che chắn cho con trước cơn bão tố…” Và tiếp theo là một loạt hình ảnh được ví von: “Cha là đuốc sáng, là thác rộng, là kim cương trong lửa rực muôn màu. Cha là đất nước, là tiếng sáo, là giọng hò cho con nụ cười. Cha là nghiêm khắc nhưng lại thiết tha mong con bằng người. Cha là bóng mát để che chở con suốt cả cuộc đời.” Và tiếp theo, tác giả lại dùng một loạt hình ảnh rất lãng mạn, dễ thương để phác họa hình ảnh của Cha: “Cha là trái tim cho con nhịp thở, là ánh sáng, là bầu trời, là sông biếc, là cánh gió nâng con đến tận trời cao”. Và cuối cùng, tác giả đã kết luận rất ngắn gọn nhưng bộc lộ trọn vẹn đặc tính vốn “là” của người cha: “Cha là mãi mãi, là vô cùng, là cho đi không đòi lại bao giờ”. Vâng! Cha là thế, là mãi mãi hy sinh, là mãi mãi bảo vệ và chăm sóc cho đàn con mà không cần được đền đáp. Cho dù ta có dùng bao nhiêu hình ảnh để so sánh, có dùng bao nhiêu lời nói để ca tụng, thì mãi mãi vẫn không thể nói cho hết, kể cho cùng công ơn trời bể của cha. Muốn hiểu cho tường tận về tình cha chỉ có thể dùng trái tim để cảm nhận mà thôi.

Cám ơn cuộc đời đã cho con có cha để yêu thương, nuôi nấng, chở che. Cám ơn vì những nhọc nhằn, vất vả của cha để con được ấm no, sung sướng. Cám ơn vì những lời dạy dỗ nghiêm khắc của cha để con được trưởng thành. Cám ơn vì những hy vọng và lòng tin cha đã đặt nơi con để con tự tin, ung dung bước vào đời. Cha ơi, có những lời cám ơn tưởng chừng như đơn giản, vậy mà đến hôm nay con mới dám nói ra.

Sr. Ter. Trúc Băng

 

TÂM SỰ NGƯỜI GIÀ

Tay cầm quyết định được về hưu,

Nào có vui đâu buổi xế chiều.

“Quan tha ma bắt” nghe mà sợ,

“Lão lai tài tận” nghĩ càng đau.

Lộ trình tích đức chiêu linh đạo,

Định hướng tu thân phép nguyện cầu.

“Lão giả an chi” vui cảnh ngộ,

Sớm hôm kinh sách gởi ngày sau.

Fx. Đức Hạnh – Gx. Thái Hoà

 

GIÁO LUẬT

THẮC MẮC

 

“Con là một thanh niên Công giáo sắp kết hôn với một cô theo Đạo Tin Lành. Vậy con có cần phải xin chuẩn hôn phối khác đạo hay không?”

 

Trả lời:

 

Trong trường hợp một người Công giáo muốn kết hôn với một người Tin Lành, để giải quyết có cần phải xin chuẩn hôn phối khác đạo hay không, chúng ta cứu xét hai điểm sau đây:

1. XÁC ĐỊNH VIỆC RỬA TỘI CÓ HỮU HIỆU HAY KHÔNG

Trước hết cần phải xác định xem cô người yêu theo Đạo Tin Lành có được Rửa Tội hay không, và phép Rửa Tội đó có được Giáo Hội Công giáo nhìn nhận là hữu hiệu hay không.

* Các cộng đoàn Giáo Hội không Công giáo sau đây có bí tích Rửa Tội được Giáo Hội Công giáo nhìn nhận là hữu hiệu:

African Methodist Episcopal, Amish,  Anglican (Anh giáo), Assembly of God, Baptists,  Evangelical United Brethren, Church of the Brethren, Church of God, Congregational Church,  Disciples of Christ, Episcopalians, Evangelical Churches, Lutherans, Methodists, Liberal Catholic Church, Old Catholics, Old Roman Catholics, Church of the Nazarene, Polish National Church, Presbyterian Church, Reformed Churches, United Church of Christ .

* Bí tích Rửa Tội được ban trong các giáo phái và cộng đoàn sau đây được coi là không hữu hiệu:

Apostolic Church, Bohemian Free Thinkers, Christadelphians, Christian and Missionary Alliance, Christian Scientists, Church of Divine Science, Church of the Latter Day Saints (Mormons), Franc-macon, Jehovah’s Witnesses, Pentecostal Churches, People’s Church of Chicago, Quakers, Salvation Army,  The New Church, Unitarians .

 

2. PHÂN BIỆT HAI TRƯỜNG HỢP

2.1. Hôn nhân hỗn hợp (matrimonia mixta, mixed marriage).

Hôn nhân giữa một người Công giáo (một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội Công Giáo sau khi được Rửa Tội) và một người đã được Rửa Tội hữu hiệu trong một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo (như Anh giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành...) được gọi là hôn nhân hỗn hợp.

Nếu cô người yêu theo Đạo Tin Lành được Rửa Tội hữu hiệu, thì trong trường hợp hôn nhân hỗn hợp này, Giáo luật đòi hỏi cần có phép (không phải là chuẩn hôn phối) của thẩm quyền hữu trách (x. Điều 1124).

Nếu không có phép của thẩm quyền hữu trách, hôn phối là bất hợp pháp, tuy nhiên vẫn thành sự.

 

2.2. Hôn nhân khác đạo

Hôn nhân khác đạo là hôn nhân giữa một người công giáo với một người không được Rửa Tội (như Phật giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Ấn Độ giáo... hay không có tôn giáo nào) hoặc được Rửa Tội nhưng không hữu hiệu.

Nếu cô người yêu theo Đạo Tin Lành không được Rửa Tội hoặc có Rửa Tội nhưng không được Giáo Hội Công giáo nhìn nhận là hữu hiệu, thì trong trường hợp này là hôn nhân khác đạo. Cho nên anh phải xin chuẩn ngăn trở hôn phối do khác đạo.

Nếu không có phép chuẩn hôn phối khác đạo thì việc kết hôn bất thành nghĩa là vô hiệu (x. Điều 1086 §1).

Tóm lại, trong các trường hợp mà một người Công giáo muốn kết hôn với một người Tin Lành, đều phải có sự chấp thuận của thẩm quyền hữu trách. Tùy theo việc Rửa Tội của người Tin Lành có được nhìn nhận là hữu hiệu hay không mà xin phép hôn nhân hỗn hợp hoặc xin chuẩn hôn nhân khác đạo.

 

 

Sống Với Chúa

Bước đi giữa những gian nan,

Tâm tôi cảm thấy bình an lạ lùng.

Dường như Ai đó đi cùng,

Nhắc tôi luôn phải: "Thủy chung, Trọn tình"

Vì tôi Ai đã Hi sinh,

Vì tôi Ai gánh khổ hình nhuốc nha.

Thương yêu luôn vẫn thiết tha,

Với tôi Người Đó chính là Tình Yêu.

 

Jos.Nguyễn Minh Đức Gx.Thánh Tâm B2

 

GIÁO DỤC

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH

 

Nó xin nói về lý do chọn tựa đề này. Số là trước đây, đã lâu lắm rồi, nó không nhớ được tháng ngày chính xác, nhưng nó nhớ là khoảng trên dưới hai mươi năm (từ thập niên 90’). Lúc ấy, nó vừa tròn đôi mươi và đang đứng giữa ngã ba cuộc đời và chưa biết chọn cho mình hướng sống nào đây (đi tu; lập gia đình; hay ở vậy nuôi con (hai con: hai con mắt) hihi.

Và nó đã muốn tìm hiểu đi tu mặc dù trước đây, khi còn là cậu bé giúp lễ, nó đã muốn, đã mong, đã mơ và đã ước được như thế. Nhưng với thời gian, nỗi niềm mong muốn và ước mơ ấy bị phai mờ dần để rồi giờ đây nó phải chần chờ, e ngại và rụt rè chỗ ngã ba cuộc đời như thế.

Dù vậy, nhưng nó cũng đã chọn tìm hiểu Ơn Gọi tu trì. Và cũng nhờ tìm hiểu Ơn Gọi này, nó được tiếp cận và đọc các sách nhà Đạo. Và một trong những sách đó có tựa đề: NÓI VỚI CHÍNH MÌNH, của Đức Giám Mục Gioan Baotixita Bùi Tuần. Sách này đã tác động vào nó, để rồi nó phải suy nghĩ, phải suy tư về chính mình. Cuốn sách đã theo nó từ những tháng năm dự tu, đại học, đại chủng viện, linh mục và cho đến hôm nay.

Thú thật, nó đọc lần đầu không hiểu gì hết. Có chăng, là đưa thêm một cuốn nữa vào mục những sách đã đọc với lời nhận xét: sách hay, sách ý nghĩa, nên đọc lại, rồi xếp lên kệ sách. Cứ mỗi lần hết học kỳ, hết năm học, thì nó xếp sách vở vào thùng, và đầu học kỳ, đầu năm học lại bỏ ra xếp lên kệ sách. Và mỗi lần như thế, thì những sách hay, có ý nghĩa lại được đập vào mắt nó ít là cái tựa của cuốn sách, như một nhắc nhớ nó chưa coi lại, chưa đọc lại.

Chân tình mà nói, nó xếp đi xếp lại nhiều sách với nhiều tựa đề khác nhau, nhưng không hiểu sao, cứ tới cuốn: NÓI VỚI CHÍNH MÌNH này, nó cảm thấy mình phải cần đọc lại để suy nghĩ và suy tư về chính mình. Và rồi nó đọc, đọc và đọc mãi dù có thể vẫn chưa hiểu hết được. Nó đặt vấn đề với tựa đề của sách: TẠI SAO LẠI LÀ NÓI VỚI CHÍNH MÌNH?

Vì với kinh nghiệm và sự hiểu biết bé nhỏ của nó, nó chỉ biết được rằng: khi nói là nói với ai đó, chứ sao lại nói với chính mình. Lạ thật! Có “mal” không đây trời! Ngồi lải nhải nói với chính mình chắc bị “chuyển hộ khẩu” sớm quá!

Nó chỉ hiểu và nghĩ được đơn giản như thế, nhưng nó đâu biết rằng nói đâu đơn giản chỉ là nói với ai đó mà còn là nói với chính mình. Với thời gian, nó hiểu và cảm nghiệm rằng: cần phải nói với chính mình. Vì nói với chính mình có thể hiểu là đọc được chính mình, biết về chính mình, hiểu về chính mình và sống với chính mình. Và từ đây, nó ý thức rằng: nếu không có kinh nghiệm nói với chính mình, thì cũng sẽ không có kinh nghiệm nói với người khác. Hay nói cách khác, nói với chính mình chính là bài học nó cần phải trải nghiệm để rồi từ đó mới có thể nói với người khác được.

Ôi Khanh!

 

 

MẢNG TỐI

Mảng tối trong xã hội

Một sự kiện khiến dư luận xôn xao bàn tán trong dịp Tết Nguyên Đán vừa qua. Từ 27 tháng chạp đến mùng 4 Tết Ất Mùi 2015, Tết truyền thống thiêng liêng của dân tộc đã có tới 6200 người phải nhập viện vì đánh nhau, trong đó có 15 người chết do những chuyện lãng xẹt không đâu, như lỡ va chạm vào nhau cũng bị đâm chết (Tuổi trẻ online  24/02/2015). Điều đó đã làm cho những ai còn lương tri đều bàng hoàng sửng sốt, lo sợ cho nét văn hoá tốt đẹp đã có từ bao đời của dân tộc: “Chị ngã em nâng”; “Lá lành đùm lá rách”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, đang bị đe doạ nghiêm trọng dần bị phá huỷ.

Trước đó, ngày 13/01/2015 Phóng viên VTC News đã phỏng vấn nhà sử học Dương Trung Quốc: “Ông có nhận xét thế nào về nền văn hoá nước ta, khi rất nhiều giá trị văn hoá đã bị suy thoái đến mức đáng báo động?” Ông Dương Trung Quốc trả lời: “Trước hết phải thấy, thực trạng này không phải bây giờ mới được nói ra, mà nó đã được nhắc đến ở rất nhiều diễn đàn khác nhau về tình trạng đạo đức xuống cấp và sự suy thoái của văn hoá. Ở đó không phải đơn thuần là sự biến dạng của nhân cách, mà là sự tan vỡ của rất nhiều hệ giá trị truyền thống, như quan hệ gia đình, quan hệ thầy trò và nhiều quan hệ xã hội khác” Và ông còn nói: “Suy thoái văn hoá chạm ngưỡng, đẩy dân tộc đến thảm hoạ khôn lường”.

Để những mảng tối đó bớt đi hay biến mất trong xã hội hôm nay, thực sự không phải là một điều dễ dàng, một sớm một chiều có thể thay đổi được. Nhưng điều đó cũng không cho phép chúng ta đứng đó than vãn, hay nguyền rủa bóng đêm, mà buộc chúng ta phải dấn thân hơn, tìm hiểu căn nguyên cội nguồn của vấn đề như thầy thuốc bắt mạch và sẽ ra sức cố gắng cải đổi khi có thể. Nó là trách nhiệm của cả cộng đồng xã hội, mà trên hết là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo đời cũng như đạo, không riêng của một người, một phía nào hết.

Căn nguyên tạo ra những mảng tối ?

Suy thoái là do nền kinh tế thị trường; suy thoái là do người ta không còn chú tâm nhiều đến giá trị tinh thần, giá trị thiêng liêng, mà chỉ chú tâm đến yếu tố vật chất, tiền tài, danh vọng, đia vị, hưởng thụ, quá thực dụng; suy thoái là do giáo dục không đến nơi đến chốn, triết lý giáo dục nửa vời; suy thoái vì xã hội chênh lệch giầu nghèo quá lớn, người ăn không hết, kẻ bòn không ra; suy thoái vì con người quá kiêu căng, ngạo mạn không khiêm tốn đã quay lưng lại với Trời đất, với Tạo Hoá: “Ngày xưa hạn hán cầu Trời, ngày nay hạn hán mời Trời xuống coi” hay “nghiêng đồng đổ nước ra sông, vắt đất ra nước, thay Trời làm mưa”…

Căn nguyên suy thoái đạo đức theo các nhà nghiên cứu chuyên ngành. Lý giải sâu xa về điều này, nhà nghiên cứu văn hoá, GS-TSKH Trần Ngọc Thêm ngày 26.02.2015 đã nhận định như sau: “Trong thời buổi kinh tế thị trường, khi mà vai trò của yếu tố tinh thần, đạo đức mới dừng lại ở lời nói, ở các văn kiện, thì chủ nghĩa duy vật chất lôi kéo con người chạy theo vật chất tầm thường một cách chóng mặt. Một xã hội mà giá trị vật chất lên ngôi, giá trị tinh thần đi xuống thì sẽ hỗn loạn thế nào?”

Trong cuộc toạ đàm về Huấn từ của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI với chủ đề: “Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt” do Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phối hợp với Uỷ ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội tổ chức ngày 03/07/2012,  PGS. TS Nguyễn Quang Hưng thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã có bài tham luận thật sâu sắc với đề tài: “Đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay và vai trò của Kitô giáo”. PGS. TS đã nói: “Sự khủng khoảng đạo đức xã hội hiện tại cho thấy một phần chúng ta phải trả giá cho việc từ nửa sau thế kỷ XX khi xu thế thế tục hoá xã hội bị đẩy tới cực đoan với việc tuyên truyền chủ nghĩa duy vật và vô thần, cổ súy cho cái văn hoá tiêu dùng vật chất một cách cực đoan. Dầu thế nào đạo đức của các tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, Kitô giáo cần có vị trí hợp lý và xứng đáng hơn trong nền đạo đức dân tộc hiện nay”.

Nhận định của Giáo Hội Công Giáo

Công Đồng Vaticanô II trong Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội, phần phẩm giá con người (Trích số 20, 21) nói: “Thuyết vô thần hiện nay thường được trình bày trong dạng thức mang tính hệ thống, hệ thống này nhấn mạnh đến khát vọng được tự lập của con người, đến độ khó có thể chấp nhận bất cứ sự lệ thuộc nào vào Thiên Chúa.Thiếu nền tảng là Thiên Chúa và thiếu niềm hy vọng vào đời sống vĩnh cửu thì phẩm giá con người sẽ bị tổn thương trầm trọng như thường thấy ngày nay, và những bí ẩn về sự sống, sự chết, về tội lỗi và đau khổ sẽ không có lời giải đáp, như thế con gnười sẽ thường rơi vào tuyệt vọng…”. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI thì quả quyết rằng: “Sự chối bỏ Thiên Chúa làm băng hoại con người, khiến con người không còn mẫu mực nữa và dẫn họ đến bạo lực”.

Tiếp sức đẩy lùi sự suy thoái đạo đức

Sự suy thoái đạo đức như bóng đen đã đang tràn lan phủ khắp nơi, vậy ta thử đặt câu hỏi làm cách nào mỗi người có thể tiếp tay đẩy lùi bóng tối u ám gian dối đó? Tôi thiển nghĩ cội nguồn của sự suy thoái đạo đức hôm nay, chính là kiêu căng dẫn đến thiếu sự thật. Thiếu sự thật nên mới nảy sinh gian dối, mánh khoé, tham lam; thiếu sự thật mới làm thay trắng đổi đen nhiều việc, nhiều vấn đề để cầu lợi cho mình, cho nhóm mình, phe mình; thiếu sự thật sẽ trở nên hung hãn ngạo mạn, cướp giật, đánh nhau không còn hiền lành và khiêm nhường. Vậy muốn đẩy lùi suy thoái đạo đức mỗi người, mỗi gia đình, mỗi xóm làng, thôn bản, mỗi xứ đạo, mỗi quốc gia phải tập sống hiền lành và khiêm nhường và quyết tâm suy nghĩ thật, nói sự thật và hành động theo sự thật, dù có gặp thua thiệt như người ta nói: “Thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại leo lên”. Sự thật chính là ngọn lửa, là ánh sáng xua đi bóng đêm tối tăm gian dối.

Đó chính là cội nguồn, là nền tảng vững chắc nhất và đó cũng chính là sự sống đúng như lời Chúa đã phán: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống, không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Và cũng chính Chúa đã dạy chúng ta mọi điều gian dối đều thuộc về ma quỉ: “Nhưng hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỉ” (Mt 5, 36). Nói thì dễ, hành thì khó; mối lợi trước mắt hấp dẫn hơn mối lợi xa vời. Tuy nhiên, chỉ khi ta sống sự thật, khiêm nhường, hiền lành, ta mới có sự bình an và hạnh phúc đích thực, và có mối lợi chân chính bền vững không những ở đời này và cả đời sau nữa.

Để kết thúc bài, tôi xin nêu một hình ảnh quen thuộc. Ở Việt Nam ai cũng thích mua được hàng chính hãng của Nhật: “Made in Japan” vì hàng đó tốt. Chúng ta có biết đâu nước Nhật từ năm 1904 đã xây dựng triết lý giáo dục theo thế kiềng ba chân: “Sự thật, sức mạnh thể xác lẫn tinh thần và vẻ đẹp” do nhà giáo dục Yoshio Takayama đề ra. Triết lý đó được duy trì tới ngày nay, nhờ đó nước Nhật mới là con rồng ở châu Á, được thế giới nể trọng, dù nước Nhật không được thiên nhiên ưu đãi như nước ta...                                                             

 

Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

 

GIỚI TÍNH THỨ BA

Cách đây không lâu, những từ đại khái như: pêđê, gay, bán xà bông, xăng pha nhớt là một loạt từ ám chỉ những người mang giới tính thứ ba. Bình thường thì có giới nam và giới nữ, nhưng gần đây lại xuất hiện giới tính thứ ba mà người ta gọi là “đồng tính”, vì những người này thường chơi và kết hôn với người cùng giới với mình. Hay có những biểu hiện của bệnh về tâm lý giới tính. Nhìn lại quá khứ, bạn và tôi rất ít khi nghe đến giới này, nhưng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, bạn và tôi muốn gì được đấy, từ nam thành nữ, hay từ nữ thành nam, đó không còn là chuyện khó. Ngày nay, bạn và tôi vẫn nghe và thấy có những đám cưới của người đồng tính. Xã hội  không chấp nhận, con người không cho phép, dư luận xã hội thì nói ra nói vào vì: Những cuộc hôn nhân này là trái với đạo đức xã hội, trái với thuần phong mỹ tục, trái với luật tự nhiên. Đây là vấn đề không nhỏ và cũng không đơn giản để cho những người trách nhiệm có những giải pháp cho đúng với đạo đức con người. Xã hội con người ngày nay xuất hiện giới tính thứ ba, theo ý kiến của riêng tôi, thì do những lý do sau đây:

1- Do sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật nói chung và ngành y tế nói riêng, với một số tiền là người ta trong vài tiếng đồng hồ có thể hồ biến thành tiên, chỉ cần nhắm mắt là thay đổi cuộc đời. Đúng là “được voi đòi tiên”.

2- Do Model của bạn trẻ ngày nay là dễ rơi vào kiểu bắt chước thần tượng. Thần tượng một nhân vật nổi tiếng về lãnh vực nào đó, thế là các bạn trẻ muốn giống thần tượng mình từ bên trong đến bên ngoài, từ lối ăn mặc đi đứng, sở thích. Nói chung mình là mẫu người thứ hai của người mình đang thần tượng.

3- Do nền giáo dục từ gia đình. Bạn và tôi vẫn được nghe gia đình là ngôi trường giáo dục đầu tiên của con người. Đây là môi trường quan trọng để hình thành nên một con người sau này. Một đứa trẻ ngay từ nhỏ mà không có cách giáo dục đúng hay nói theo kiểu: chiều con quá đáng sẽ là nấc thang đưa con đến sự bất hạnh. Nếu gia đình con cái có bốn người con là nữ, chỉ có một đứa con trai, hay ngươc lại,  thì sự chênh lệch này cũng là một lý do dẫn đến hiện trạng pêđê.

4- Do những đồ ăn thức uống ngày nay quá đa dạng với nhiều hình thức bắt mắt, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển những sắc tố gây nên vấn đề này. Ăn uống là điều cần thiết để nuôi thân xác con người, nhưng ăn uống không đúng cũng là nguyên nhân làm bạn và tôi bị mang tiếng là đứa hai thì.

Như vậy, đâu là giải pháp hợp tình hợp lý cho vấn đề khá nhạy cảm này? Chấp nhận hay ngăn cản nó? Một vài nước trên thế giới đã chấp nhận hôn nhân đồng tính. Liệu như vậy có ổn không? Cưới về ai là chồng, ai là vợ? Ai sinh con ai dạy con?. Đây là vấn đề đặt ra cho tất cả mọi người, liên quan đến đạo đức, đến luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã ban ngay từ thuở đầu tạo dựng. Cái gì tự nhiên hãy để nó tự nhiên, cái gì thuộc quy luật hãy làm theo quy luật.

Đối với những kẻ mang giới tính thứ ba, nhiều người đã nhìn với ánh mắt chẳng mấy thiện cảm, chê trách, lên án, xa lánh, loại trừ. Theo tôi đó không phải là cách tốt nhất để làm biến đổi một con người từ xấu thành tốt. Bạn và tôi đừng quá kỳ thị, nhưng hãy giúp họ nhận ra chính nhân phẩm của con người được Thiên Chúa ban tặng, và đi theo đúng điều Thiên Chúa muốn. Bạn và tôi  đừng để họ trở thành những người bất đồng ý kiến, rồi dẫn đến bất hòa, trở thành người bất mãn, và cuối cùng họ là con người bất hạnh cho số phận người mang giới tính thứ ba.

Vs. Lê Đình

 

MẪU GƯƠNG GIA TRƯỞNG

Vườn địa đàng hạnh phúc triền miên

Khi con người trung kiên giữ ước

Nhưng xảy ra một ngày lỡ bước

Khi rắn già cám dỗ Ađam.

Cả công trình vinh quang sụp đổ

Cũng bởi vì gia trưởng yếu cơ

Để rồi sau cảm thấy thẫn thờ

Nghe lời vợ bây giờ thấy khổ.

Kinh nghiệm ấy Giuse làm lại

Người gia trưởng chẳng dại nhưng khôn

Âm thầm sống luật gương công chính

Khiêm nhường lặng lẽ chốn thôn quê.

Ra sức đi tìm thánh ý Chúa

Trở nên mẫu mực các gia đình

Ngày nay hậu thế còn vang mãi

Dư âm thánh thất thật rạng ngời.

 Phêrô Nguyễn Đức Thời, Gx Thái Hòa

 

 

GIÁO DÂN

ĐI TÌM THIÊN CHÚA

 

Dẫn nhập

Tôn chỉ chung của Dòng thánh Đa-minh là “chia sẻ cho tha nhân những gì mình đã chiêm niệm” hay được tóm gọn là “nói với Chúa” (để) và “nói về Chúa”- contemplare et contemplate aliis trader. Thiết nghĩ, đây còn là tinh thần chung của người Kitô hữu vì nói về Chúa cho người khác chính là lệnh truyền của Chúa; nhưng để có thể lên đường “đến với muôn dân” thì trên và trước hết người Kitô hữu cần phải có thiện chí, mạnh dạn cho hành trình tìm Chúa vì có Chúa ngự trị thực sự thì chúng ta mới có thể nói về Chúa được vì không ai cho cái mình không có.

Mục đích đi tìm.

Cùng đích của con người là được hạnh phúc với Chúa, nên mối ưu tiên hàng đầu của người Kitô hữu phải là “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự Công Chính của Người trước, rồi mọi sự khác Người sẽ ban cho” (Mt 6,33). Tuy nhiên, hành trình đi tìm này không phải là hành trình đi tìm để thủ đắc như một kiến thức khoa học hay là chỉ gặp “cách xã giao” hoặc để phục vụ cho một mục đích tiêu cực nào đó, nhưng là để tôn thờ yêu mến, sống với và được trở nên người nói cho anh chị em chung quanh về Chúa.

1.       Tại sao phải đi tìm?

Một trong những đề tài triết học được tranh luận sôi nổi nhất là câu hỏi con người đến từ đâu và sau khi chết sẽ đi về đâu? Người xưa đã có quan niệm rằng sống ở trần gian này chỉ là tạm gửi, khi chết mới được về với cội nguồn vì cuộc sống trần gian này chỉ là tạm bợ và chóng qua. Câu nói“sinh ký tử quy” là thế. Đối với người công giáo, chúng ta tin rằng con người đến từ Thiên Chúa và sẽ đi về với Thiên Chúa. Chính Ngài đã đặt để trong con người sự khao khát, ước mong tìm Ngài và được gặp Ngài. Dù được sống trong những tiện nghi vật chất nhưng con người vẫn cảm thấy khắc khoải và mải đi tìm một giá trị vĩnh hằng có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và ước muốn của họ cách tuyệt đối. Chính Ngài là Đấng Tuyệt đối và chúng ta chỉ thật sự trở nên và là chính mình khi tìm được Thiên Chúa. Con người sẽ chẳng còn khao khát điều gì khác một khi đã có Chúa trong mình như thánh Augustinô đã nói: “Thiên Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và lòng chúng con khắc khoải khôn ngơi cho tới khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa”.

2.       Cứ tìm thì sẽ thấy

Chúa Giêsu đã hứa: “Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7). Đây là một lời hứa đảm bảo cho việc tìm kiếm Thiên Chúa của người Kitô hữu. Dường như nhiều lúc Ngài chơi trù ú tim, Ngài “ẩn trốn” với chúng ta những lúc ấy chúng ta mải đi tìm, nhưng càng tìm càng không gặp. Thật ra, Thiên Chúa có chương trình riêng của Ngài mà chúng ta không thể hiểu được. Thế nên, trong hành trình tìm kiếm cần phải có sự nhẫn nại và kiên trì. Bởi vì, chúng ta có yêu quý ai thì mới dành nhiều thì giờ cho người ấy. Cũng vậy, có thật tâm muốn tìm kiếm Thiên Chúa thì mới khao khát tìm kiếm và khi đó Ngài sẽ cho gặp. Dẫu rằng sẽ khó khăn vất vả nhưng với thiện chí của kẻ dám “cất bước ra đi” và kiên trì, chúng ta sẽ đạt được điều mong ước.

3.       Chúng ta tìm Thiên Chúa ở đâu?

Lời một bài hát sinh hoạt Tìm Thiên Chúa thật ý nghĩa “Anh đi tìm Thiên Chúa Người ở đâu mà bấy lâu anh hằng đi tìm? Tôi đi tìm Thiên Chúa người ở đâu mà bấy lâu tôi hằng tìm luôn”. Chúng ta có thể tìm được Ngài ở đâu? Theo cá nhân người viết, trước nhất Ngài hiện diện trong Bí tích Thánh Thể và trong cộng đoàn cũng như trong cuộc sống thường nhật. Thiên Chúa hiện diện nơi những khuôn mặt khác nhau của nhân loại hôm nay, nhưng vì chúng ta có một nhãn quan “chưa chuẩn”- không tìm với con mắt đức tin- trong việc tìm Chúa nên chẳng thể gặp được Ngài. Chúng ta thường mải mê tìm Chúa nơi mà chúng ta cho là có Chúa; chẳng hạn trong những kinh nguyện và những thói quen đạo đức vô hồn. Ngoài ra, tâm tính và não trạng của người Việt thích lễ hội, phô trương hình thức nên chúng ta chỉ mải tìm Chúa trong những lễ nghi, hội hè đầy màu sắc, hoành tráng bên ngoài chứ chưa tìm Chúa qua những việc xem ra như “vụn vặt, tầm thường” nhưng có Chúa hiện diện. Đơn cử, chúng ta thường nghĩ có thể tìm được Ngài nơi những trung tâm hành hương, vương cung thánh đường nguy nga lộng lẫy, nơi thánh địa (mà ngày nay bị thương mại hóa thành những địa điểm du lịch).

Nhiều lúc, chúng ta như Maria Mađalêna, Chúa hiện diện ngay bên, nhưng trong thâm tâm của mình chúng ta chỉ đi tìm cái “thi hài đã chết của Giêsu” vì mối bận tâm duy nhất lúc này với chúng ta chỉ là cái xác đó. Chúng ta xem đó (thi hài của Chúa) là Chúa Giêsu, có “nó” là có Chúa, mất “nó” là mất Chúa. Mải tìm Chúa bên ngoài mà không nhận ra được Chúa đang hiện diện trong chính con người và cuộc sống của chính mình. Như thánh Augustino nói con mải tìm Chúa nhưng không biết Chúa ở ngay bên con. Thật thế, Thiên Chúa vẫn ngay bên chúng ta có khi là nơi những con người, những tình huống rất đỗi quen thuộc, tầm thường, khiêm tốn và âm thầm mà chúng ta không nhận ra. Vì vậy, tìm hoài nhưng không thể gặp; và vì không gặp nên chán nản và buông xuôi.

4.       Tìm Chúa như thế nào?

Phải tìm kiếm bằng và trong đức tin. Chỉ khi chúng ta thay đổi và luôn làm mới cách nhìn trong hành trình tìm kiếm mới giúp chúng ta có đủ “sức mạnh” lên đường và vượt thắng mọi khó khăn trong hành trình này. Với lòng yêu mến và một thái độ đúng cùng với con tim khao khát tìm kiếm Thiên Chúa bằng đôi mắt đức tin, lắng nghe Ngài qua mọi biến cố trong cuộc sống; nhất là nơi những thân hình còm cõi, run rẩy của trẻ em đường phố đang đói khát lương thực và tình thương, nơi chiếc lưng còng của những bà cụ gánh gồng mưu sinh, hay nơi đôi tay gầy guộc của người bán vé số, đói rách, bệnh tật… không chỉ có thế, Ngài đang hiện diện và rên rỉ trong trại phong Di Linh, nơi trại mồ côi, nơi đôi mắt đẫm lệ như đang van xin chút tình thương của chúng ta. Cần lắm tình thương và sự quan tâm của chúng ta cho những anh chị em như thế vì “bất cứ điều gì anh em làm cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta đây là các con đã làm cho chính Ta”. (Mt 25 40); và “Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4, 12).

Chúng ta cần “tỉnh táo”  để có thể diện được Ngài trong cuộc sống hằng ngày vì sự hiện diện của Thiên Chúa luôn mang một chiều kích mới và siêu vượt. Với những đổi thay của xã hội, dù phải sống trong những khủng hoảng cũng như những ý thức hệ giải thiêng, chúng ta vẫn phải luôn xác tín rằng Chúa vẫn có, ở đó, hoạt động và ở giữa chúng ta vì Ngài đã hứa sẽ “ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).

Kết luận

“Này người bạn hồn tôi ơi, Thiên Chúa giữa cuộc đời, Người trong tâm hồn, Người trong lương tâm và Người hiện diện giữa bầu trời hùng oai” (Lời bài hát Tìm Thiên Chúa). Thiên Chúa không ở đâu xa xôi mà chúng ta phải cất công đi tìm. Ngài ở ngay bên ta nơi những anh chị em cần đến chúng ta, nơi những mảnh đời bất hạnh cần sự giúp đỡ và chăm sóc. Chúng ta đã làm gì cho Ngài nơi những “Đức Kitô bằng xương bằng thịt ấy” hôm nay? Ước gì mỗi Kitô hữu tìm gặp được Thiên Chúa nơi những anh chị em ấy, nơi cuộc sống thường ngày; và một khi gặp được Ngài chúng ta sẽ nên như ánh sao và là chứng nhân sống động để nói với người khác về Thiên Chúa của tình yêu cách xác tín và mạnh mẽ.

                                                                   Felicitas

 

Mùa CHAY (TRAI Tịnh)

 

Ngày nay không ít Kitô hữu chỉ nghĩ ăn Chay là không ăn Mặn (ăn cá thịt, những thức có máu). Điều đó chỉ đúng về mặt hình thức, nhưng hình thức sẽ là vô ích nếu nó không giúp đạt được nội dung là tinh thần của việc ăn chay. Do giao thoa văn hóa, chưa rõ từ lúc nào Chay và Trai mang cùng nghĩa nhưng vì hình thức khác nhau nên người ta cũng có cách hiểu khác nhau. Chúng ta đang sống Mùa CHAY. Xin mời cùng suy nghĩ nghĩa TRAI (Chay). TRAI (CHAY) là giữ cho lòng thanh sạch, quân bình, thanh thản, được ghép bởi TỀ (ngay thẳng, bằng, đều nhau) và TÂM (tâm hồn, tấm lòng). Vậy Trai\Chay là làm cho tâm hồn được bằng thẳng lại, cho Tâm an để Trí sáng. Thực tế, chúng ta thường Tề cho các đầu cây chưa bằng thì tâm hồn ta lại cứ để nhọn sao; nếu những khúc cây chống đỡ cần đầu bằng mới đứng vững thì tâm hồn ta sao thanh thản và sáng để nhận ra những nhu cầu của anh chị em và ý Chúa được khi nó lộn xộn, không trong sáng, mất quân bình! Mùa Chay (Trai) chỉ thật sự ý nghĩa khi mỗi Kitô hữu sống được những gì được gọi là “xé lòng” là mổ xẻ để chữa trị những gì thuộc về lĩnh vực thiêng liêng: “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm, chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?” (x.Is 58,1-12). Chúc Quý Thân Hữu được nhiều ơn Chúa trong mùa Chay Thánh, được ơn biến đổi trong Lễ Phục Sinh.

Ước chi được như vậy .

              Lm. JB. Trần Đinh Tử

 

 

NIỀM TIN VÀ HY VỌNG

Mic. Nguyễn Văn Xuân

 

          Ngồi nơi đây một mình giữa cảnh thiên nhiên trời đất mênh mông bát ngát quá, tôi chợt ngộ ra rằng: Giờ đây tôi đã rong ruổi trên đường trần bảy mươi năm cuộc đời.

Chiêm niệm về mình: Từ lúc sinh ra, tôi chào đời bằng ba tiếng khóc, tập nẩy, tập bò, tập đứng , tập đi, trong bàn tay đỡ nâng của cha, cưu mang của mẹ. Tôi được gọi là người. Là người theo cái ngôn từ của sự vật buông cánh đậu xuống đời tôi, chứ chưa hẳn tôi đã trở thành một con người đúng nghĩa. Muốn trở thành con người đúng ý nghĩa người mà Thượng Đế trao ban, Ngài cho tôi được dự phần vào công cuộc sáng tạo của Ngài. Tôi phải học. Học để tôi làm người. Ba chữ  Học làm người có nghĩa là luôn nhắc nhở tôi chưa thành người, nên tôi còn cứ phải học.

Rong ruổi trên đường đời là để học làm người mà mãi cũng chẳng xong. Thế rồi thời gian cứ đi cho tóc bạc màu, cho tuổi hoàng hôn, cho lòng hy vọng cũng tàn phai theo năm tháng. Bao ước mơ trong đời  hướng về tương lai vẫn là dở dang, chưa thấy đâu là bóng dáng bến bờ xuôi buông cánh đậu. Giờ đây, không sớm thì chầy, tôi lại chuẩn bị hết một kiếp người. Một cõi đi về, một đời dang dở.

Muôn vàn những suy nghĩ miên man; Nhưng hướng tôi về chân trời bát ngát, bao la. Đường về thiện hảo. Tôi ngửa mặt nhìn lên trời cao. Đường về chân trời ấy, thiện hảo ấy thì mênh mông, lối đi  rộng mở gọi mời, ngọt ngào mà sao khó thế, có khi cả đời học mãi chẳng xong. Tôi học làm ngưòi là để học làm thánh. Đó là ước mơ đời mình. Mà muốn làm thánh thì tôi lại phải bước qua kiếp người. Nhưng qua kiếp người cũng chưa hẳn là tôi làm thánh. Nếu tôi không học làm người nên thánh.

Lòng tôi thấy xôn xao buồn, nằng nặng âu lo. Tôi biết chắc có một ngày tôi sẽ theo tiếng gọi lên đường, từ bỏ kiếp làm người, vĩnh biệt tất cả. Bên cạnh tôi là những vành khăn tang vội vã, nguời thân yêu, bạn bè vây quanh, nước mắt tiếc thương dâng trào. Ước mơ giầu sang, danh vọng ngày nào, giờ cũng vỗ cánh bay xa. Đời rồi cũng quên tôi và tên tuổi cũng lu mờ theo năm tháng. Tôi sẽ ra đi.

Đường đi lối về ấy, tôi phải  chọn cho mình. Một ngày nào đó, tôi  sẽ phải giã từ đi vào tương lai, về một trong hai lối: Làm thánh hay làm quỉ. Về Thiên đàng  hay Địa ngục. Tôi tự nói với lòng mình: Đó! đường đi lối về đã rõ.

Làm quỉ, thì tôi chạy theo những gì quỉ làm. Điều mà không bao giờ tôi thích tí nào, vì nếu thích thì tôi chẳng cần học làm người, để ước mơ nên thánh làm gì cả. Tôi cứ rong chơi giữa đời, cứ làm theo quỉ, cần gì biết đâu nguồn cội. Cứ để cho tham sân si, tha hoá, hư hỏng và tội lỗi bên đời mời gọi, chào đón bước vào, có khi kiếp người tôi lại chẳng sướng cái thân xác người, nhưng rồi lại đánh hỏng đi cái đời sống vĩnh cửu. Cái đời sống nên thánh mà tôi hằng ước mơ ấy, sẽ chẳng còn bao giờ hoá thành kiếp khác như người, để tôi mơ ước.  

       Làm thánh thì tôi phải đi theo Chúa. Chúa bảo tôi rằng: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống”. Tôi có chối bao giờ đâu! Tôi tin Chúa là sự thật, là sự sống. Nhưng đường Chúa đi thì khó quá, tôi cứ ngã xuống đứng lên hoài. Đường Chúa đi sao mà hun hút mây ngàn, thăm thẳm  chiều trôi, làm tôi rã rời.

Tôi lại nhớ đến câu chuyện trong Phúc Âm kể về chàng thanh niên giầu có, cũng thích đi theo Chúa lắm, nhưng khi nghe Chúa nói về đường đi của Ngài, đã làm cho chàng buồn rầu, ngỡ ngàng đánh rơi lòng muốn mà bỏ đi.

 Tôi nhớ đến Thánh cả Phêrô, một vị thánh ưu tú của Giáo Hội. Một người đã dám từ bỏ tất cả mà đi theo Chúa: bỏ đò, bỏ lưới, bỏ dòng sông, bỏ cả người tình. Ước mơ một đời phiêu du đi chài cá người với Thầy. Thế mà cũng còn có lúc nhát đảm, yếu đuối; Đến đỗi vì sợ mà phải chối Thầy trước mặt thiên hạ.

Tôi biết đường đi theo Chúa thì vất vả, gian nan và khó khăn lắm, lòng tôi luôn muốn bước đi theo, mà sao chân tôi lại cứ ngại ngùng, chập chùng những vấp ngã làm tôi lo sợ. Trên đường đi theo Chúa, biết bao những gãy giập làm tôi nản lòng.      

Tôi đã bao lần đoan hứa trung thành với Chúa, yêu Chúa hết tình, nhưng rồi tôi lại làm vỡ đi lời thề. Để cho khát vọng đời tôi phải những lần ngỡ ngàng, chông chênh bên bờ đá cuội.

          Tôi biết khát vọng đi theo Chúa có gian nan thật. Nhưng càng gian nan thì hình như khát vọng càng sâu, ước mơ càng nhiều, mà chưa thực hiện được thì khát vọng ấy, tình yêu ấy vẫn là chưa trọn vẹn, còn dang đở. Chưa trọn vẹn, còn dang dở thì vẫn còn khát  vọng. Vì  vậy mà  đường  đi theo  Chúa là khát  vọng không cùng. Trong cái khát vọng không cùng ấy, tôi lại là người yếu đuối bất toàn, cho nên cứ làm vỡ giập đi tình yêu, lòng mến và sự trung thành với Chúa.

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

TÌNH MUỘN

1.

Ông trùm Tân được bầu trực tiếp vào chức danh chủ tịch Hội đồng Mục vụ Giáo xứ với đa số phiếu áp đảo. Cha xứ khẽ khàng:

- Mừng ông trùm được nhiều phiếu nhất. Ông được dân xứ tín nhiệm, đời sống không có điều gì chê trách được. Nhưng có điều này, không biết tôi có nên nói ra không?

Ông trùm Tân nhũn như con chi chi:

- Vâng, con nghĩ: Ý cha là ý Chúa, xin cha dạy bảo.

Cha xứ mừng, mỉm cười tươi:

-Không dám. Ông trùm đã nói vậy, tôi xin góp ý thế này: Ông trùm còn trẻ tuổi, mới ngoài năm mươi phải không? Tôi xin lỗi, tôi e kinh nghiệm của ông chưa được chín muồi, ấy là so với quý ông đắc cử hôm nay thôi. Với lại, ai cũng biết gia đình ông trùm neo đơn. Bà nhà về với Chúa mấy năm rồi nhỉ? Mười năm rồi cơ à! Nhanh quá, vèo một cái đã một thập kỷ. Ông không còn bà, lại phải nuôi dạy bốn đứa con đang tuổi lớn, tuổi ăn, tuổi học. Điều kiện kinh tế của ông trùm - tôi xin lỗi lần nữa - lại có giới hạn, một gánh đè lên vai, nặng lắm. Ông trùm biết đấy, chức vụ chủ tịch ban thường vụ đòi hỏi nhiều thời gian, trách nhiệm rất cao, giáo xứ lại bắt đầu xây dựng nhiều công trình mới, trăm công ngàn việc.

Rồi cha xứ có vẻ khổ tâm lắm:

- Hay là thế này, ông nhường chức chủ tịch cho ông trương Nam nhé, được không? Công tư hai bề toàn vẹn.

Ông trương Nam vốn là cựu chủng sinh Têrêsa Long Xuyên, biết lõm bõm vài câu ngoại ngữ, nóng như Trương Phi, ngắt lời cha xứ:

- Không, không bao giờ, thưa cha, thưa quý chức! Con biết cha thương con. Nói như trong xã hội ngày nay, cha muốn “cơ cấu” con làm chánh trương. Nhưng con nhớ có một câu ngạn ngữ Latin: “Vox populi, vox Dei”, tiếng dân là tiếng Chúa. Cứ theo quy chế Hội đồng Mục vụ Giáo xứ và theo kết quả kiểm phiếu, dân đã bầu ông trùm Tân làm chánh trương, ông trưởng Bắc làm phó nội, con phó ngoại, thầy giáo Đông thư ký, bà quản Hoan thủ quỹ. Con nghĩ đó là ý Chúa, chúng ta phải chấp nhận và chấp hành.

Sau một hồi tranh luận, dù không phù hợp với tính toán của mình, cha xứ cũng không thể xoay sở khác đi được, đành phải đồng ý. Biên bản được ghi, được mọi người thông qua, chờ trình Đức Giám mục giáo phận châu phê.

2.

Lễ nhậm chức được tổ chức trong một Thánh lễ Chúa nhật, rất trang trọng, đầy ý nghĩa, phảng phất bầu khí được sai đi ngày xưa Chúa sai các môn đệ. Sau lễ, cha xứ mời quý chức tân cựu dùng bữa sáng. Ngày trước, các cụ khao chức chánh phó trương lớn lắm, có khi còn mổ trâu ăn mừng, đãi hàng xứ. Nhưng hôm nay, cha xứ mời mỗi người chỉ một gói mì tôm, trên lát một lớp thịt ba chỉ, bà quản Hoan thái mỏng đến nỗi người ta có cảm tưởng chỉ cần mở quạt điện số lớn, mấy miếng thịt kia sẽ bay đi mất. Vậy mà bữa ăn rộn rã tiếng cười, chứa chan tình cha con, huynh đệ. Mọi người quây quần bên cha xứ, quanh một chiếc bàn ăn tròn. Ông chánh Tân và bà quản Hoan ngồi gần nhau. Không biết ai khơi mào, tự dưng ông ký Đông phát pháo, chắc là muốn đùa ông chánh Tân:

- Theo Kinh Thánh thì “Người đàn ông ở một mình không tốt”.

Ông phó Bắc không đồng ý:

- Không phải người đàn ông, mà là “Con người ở một mình không tốt”.

Lời qua tiếng lại, không ai chịu ai. Ông phó Nam lên tiếng:

- Tôi nhớ: Đó là câu 18 đoạn 2 sách Sáng Thế Ký. Tôi không biết bản dịch Việt ngữ nào dịch homo là người đàn ông. Nhưng bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn là người, của nhóm Phụng vụ Giờ kinh là con người, của anh em Tin Lành là con người hoặc loài người. Bản tiếng Anh là man, dịch là đàn ông cũng được, là người cũng được. Vả lại, tôi nghĩ, lúc ấy Thiên Chúa tạo dựng con người chứ có riêng gì đàn ông giống họa ảnh của Người đâu? Thêm nữa, lúc ấy đã có đàn bà đâu để phân biệt với đàn ông? Cho nên dịch là người có vẻ hợp lý hơn.

Ông quay sang cha xứ:

- Con trộm nghĩ vậy, có sai sót, xin cha chỉ dạy.

Cha xứ cười:

- Gớm! Ông phó chịu khó đọc đấy nhỉ? Người ta ở một mình không tốt, đúng. Nhưng dịch là người đàn ông, cũng chấp nhận được.

Ông phó Bắc tếu táo:

- Nếu “Người đàn ông ở một mình không tốt” thì đó là ông chánh Tân; còn nếu “Con người ở một mình không tốt” thì đó là cả ông chánh Tân và bà quản Hoan. Cách sửa chữa tốt nhất là ông chánh và bà quản.

Ông trưởng Bắc bỏ lửng câu nói, nhưng ai cũng biết ông muốn nói gì. Mọi người cười rổn rang, trừ ông chánh cười nhạt và bà quản vội đưa tờ chương trình họp lên che mặt.

3.

Trong suốt thời gian tham gia Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, nói thật lòng, ông chánh Tân và bà quản Hoan chỉ biết đến công việc và công việc, chẳng có tình ý gì với nhau. Nhưng người ta nói ra nói vào quá, làm cho cả hai người cảm thấy hình như đó là một cơn cám dỗ, lại là cơn cám dỗ ngọt ngào, nên họ phải e dè đến mức phải phòng thủ. Trong những buổi họp sau này, bà quản Hoan tìm cách ngồi càng xa ông chánh Tân càng tốt. Khổ nỗi cái bàn họp của nhà xứ lại hình tròn, nên chỗ xa nhất lại là chỗ đối diện, nên ánh mắt họ cứ chạm nhau chan chát. Nhìn vào bốn con mắt đang chạm nhau ấy, ai cũng biết họ đang nói với nhau rằng: “Ông (bà) nổ súng tấn công đi, tôi sẽ đầu hàng vô điều kiện ngay tắp lự”. Nhưng không ai chịu bước đi bước đầu tiên. Họ luôn luôn trong tư thế phòng thủ nên câu chuyện chẳng đi đến đâu. Ngoài hai đương sự, mọi người đều biết, chắc không sai mấy, ông chánh và bà quản “phải lòng” nhau, và đồn ầm lên rằng, họ sắp lấy nhau đến nơi rồi. Nhưng rõ ràng, chuyện chẳng đi đến đâu thật.

4.

Hai anh chàng thanh niên cao to như hai ông hộ pháp ngồi đối diện với một người đàn bà nhỏ thó, lọt thỏm trong chiếc ghế bành bọc da giả màu gụ rộng thênh thang. Khó khăn lắm, người đàn bà mới mở lời được:

- Hai con King, Koong! Nghe mẹ hỏi, các con có nghe người ta nói gì về mẹ không? Cứ nói thẳng, nói thật, chân thành như từ xưa giữa mẹ con mình.

Anh King không đắn đo, trả lời mẹ dễ dàng:

- Chúng con nghe đầy tai, mẹ ạ! Nhưng có gì phải phải để tâm đâu? Đối với mẹ, chúng con là tất cả. Từ ngày bố mất đi, mẹ đã hy sinh đời mẹ, tuổi thanh xuân mẹ, nuôi dạy chúng con nên người. Mẹ biết chúng con kính yêu mẹ dường bao. Nhưng, nói gì thì nói, chúng con không thể dành hết thời gian của chúng con để chăm sóc, đền đáp ân nghĩa cho mẹ được. Nước và thời gian cứ chảy xuôi thôi. Chúng con còn công việc ở đời, rồi miếng cơm manh áo, rồi vợ con, một gia đình riêng phải chăm lo. Con xin lỗi mẹ, đến lúc rồi, mẹ cần phải có một người bạn đời, một người tri âm tri kỷ để chia sẻ buồn vui. Hơn nữa, như mẹ thường nói đó, làm người, ai cũng cần một bờ vai để khi khóc có chỗ tựa đầu. Mẹ cũng phải sống cho mẹ chứ, phải không?

Người đàn bà, bà quản Hoan đấy chứ ai, sụt sịt lấy khăn lau mặt:

- Mẹ cám ơn các con.

Anh Koong thêm vào:

- Ai nói gì kệ họ. Bác chánh Tân và mẹ đều là những người tự do, đến với nhau không hề vi phạm phép đạo luật đời. Hơn nữa, mẹ thấy đó, bác chánh là người tốt, được cả giáo xứ tín nhiệm, chính cha xứ cũng phải công nhận đời sống của bác không có điều gì chê trách được.

Rồi anh khúc khích cười:

- Bác ấy là người yêu lý tưởng, mẹ nhỉ?

Bà quản phải đứng lên, nhoài người, với tay mới cốc được lên đầu anh Koong một cái:

- Bố anh! Ăn nói giống hệt cha anh.

5.

Quay đi quay lại, họ đã xong việc, đã mãn nhiệm hai khóa Hội đồng Mục vụ Giáo xứ. Bây giờ, Ông chánh Tân đang già, tóc đã bạc gần hết, trên trán, trên mặt, ở đuôi mắt đã đường ngang rãnh dọc, những nếp nhăn đã có ngọn có ngành. Con cái ông đã có vợ có chồng, có cơ ngơi riêng. Họ không xây tổ ấm nơi chôn nhau cắt rốn, mà lập nghiệp nghe đâu mãi trên thành phố. Cô con gái cả, người con chí hiếu, nhất quyết không lấy chồng, ở vậy chăm sóc cha già. Nhưng khi các em đã có gia đình hết cả rồi, tình yêu đời cô mới lên tiếng. Cô nghe theo tiếng gọi trái tim, quên lời hứa với cha, hớn hở lên xe hoa đã hai năm nay. Trong căn nhà rộng thênh thang dưới quê, ông chánh một mình vào ra thui thủi. Ông sống lại thời còn đi học, tự đi chợ, nấu ăn, rửa bát, quét nhà, quét sân, giặt giũ. Mỗi buổi chiều, ông nấu một ấm nước chè xanh, ngồi ở chiếc ghế đá ngoài sân, giữa thanh thiên bạch nhật, chờ…

Hai anh King Koong đã lập gia đình từ lâu, công tác trên Bình Dương. Bà quản Hoan cũng một thân một mình, nhưng còn khỏe. Bà là một tay ngắm đứng nữ vô địch trong giáo xứ, giọng ngắm của bà như rót mật vào tai. Bà còn dạy các em thiếu nhi dâng hoa, dâng hạt, vãn hang đá. Mỗi lần bà đi nhà thờ ngang qua, ông chánh Tân thường gọi giật lại:

- Bà quản, bà quản! Uống hớp nước cho ấm lòng rồi hẵng đi. Chè tươi tôi gởi mua mãi trên kinh B, mang thẳng từ Bảo Lộc về đấy.

Có thế, và chỉ có thế. Họ đối xử với nhau như hai người bạn. Họa hoằn, bà quản lấy trong bọc ni-lon đen ra, cho ông khi thì gói xôi, khi thì cái bắp ngô luộc, khi thì củ khoai lang nướng, cũng có khi là bọc cá cơm hay cá lòng tong kho tiêu. Ông không so sánh những thứ bà đem đến với những của ngon vật lạ nào ông đã từng nếm qua trước đây. Nhưng những thứ bà đem đến hình như có hương riêng, vị riêng, ngoài ông ra, không ai biết, không ai cảm nhận được. Sao mà chúng ngon thế, ngon hơn tất cả mọi thứ cao lương mỹ vị trên cõi đời này. Nghe đâu họ không đến được với nhau vì hai đứa con bà quản thì ủng hộ hết mình, nhưng những đứa con ông chánh thì phản đối kịch liệt, vì dù bà quản có tiếng là khôn khéo, hiền thục cũng không thể buộc họ gọi là mẹ, dù là mẹ ghẻ, con của họ không thể gọi bà là bà nội hay bà ngoại, dù là bà nội ghẻ hay bà ngoại ghẻ. Có lần, bà quản bóng gió với ông chánh:

- Quyền ở trong tay ông chánh. Dù gì ông cũng là một gia trưởng.

Ông chánh Tân xoa hai tay vào nhau, xuýt xoa:

- Vâng, bà quản nói đúng. Nhưng gia trưởng trong một gia đình, cũng như linh mục trong một giáo xứ, thậm chí như giám mục trong một giáo phận, và mọi chức vụ khác trong Giáo Hội, được thiết lập là vì sứ vụ, để theo gương Thầy mình: “Không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ”. Phải không, bà quản?

Bà quản Hoan ngúng nguẩy chữa thẹn:

- Ứ! Tôi đi nhà thờ đây, muộn rồi.

6.

Câu chuyện của ông chánh Tân và bà quản Hoan vẫn chẳng đi đến đâu, nhưng có vẻ cảm động và đẹp, khiến cho nhiều đôi vợ chồng trẻ cũng như già phải nao lòng. Nhưng nếu người ta, nhất là những người con ông chánh cảm thông với ông hơn, bao dung hơn, thì hẳn là câu chuyện trên đây có thể khác đi, còn cảm động hơn nữa, đẹp hơn nữa, trọn vẹn hơn nữa. Và ngay đến cả hôm nay, nếu Chúa muốn, chuyện tình muộn ấy có lẽ chưa bao giờ quá muộn. 

Lãongu.

 

TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

Chuyện rằng: Với mong muốn được vi vút ở ngoại quốc, nên khi được người quen gợi ý, cô BT, ngụ tại phường 12 quận 6, đồng ý liền tù tì. Để hợp thức hóa việc xuất ngoại, BT ưng thuận làm thủ tục kết hôn giả với một với công dân Pháp, tên là Simon, 35 tuổi, hơn BT vừa đúng một con giáp. Theo hợp đồng, hai người là vợ chồng nhưng không sống chung. Khi đã định cư ở nước ngoài, thì ly dị và BT phải trả công cho ông chồng hờ 3.000 mỹ kim. Ngày 06-5-1997, BT và Simon được Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận kết hôn. Từ đây, cô gái những tưởng mọi chuyện đã xuôi chèo mát mái, bắt đầu thêu dệt mộng việt kiều. Nào ngờ chàng rể vi phạm hợp đồng, đòi làm chồng thật, chứ nhất định không chịu đóng vai làm chồng hờ nữa. Đường cùng, BT phải đâm đơn cho ba tòa quan lớn xin ly hôn. Vì thà “ vỡ mộng “còn hơn là tàn một kiếp hoa.

Từ sự việc trên đây, gã nghiệm ra rằng: Sự giả là một cơn bệnh trầm trọng của xã hội hiện nay, là một hiện tượng được liên tục phát triển qua mọi lãnh vực, từ hàng hóa đến con người. Vậy giả là gì? Dĩ nhiên, giả có nhiều nghĩa, nhưng trong phạm vi bài này, gã chỉ xin được tự hạn chế: Giả là nhái cho giống để gạt người ta. Thí dụ như giả điếc, giả câm, giả bộ. Riêng dân có tinh thần ăn uống cao, ghiền món “cờ tây’’ mà nếu không sẵn, thì bèn phệu ra món ‘’giả cầy’’ để xài cho đỡ nhớ. Vật liệu được làm bằng thịt heo, tẩm liệm với riềng mẻ và mắm tôm, xào lên thơm phưng phức, làm điếc cả mũi hàng xóm, xơi vào cũng êm trời gió bụi, chẳng khác chi thịt cầy thứ thiệc.

Bây giờ xin trở lại với phạm trù hàng giả. Hàng giả hơi khác với hàng dổm một tí, bởi vì hàng dổm là hàng có phẩm chất kém. Còn hàng giả, ngoài phẩm chất tồi, còn mắc thêm cái tội “cóp pi” mẫu mã y chang thứ hàng thật, rồi tung ra thị trường, nhằm dối gạt người mua, gây thiệt hại đôi ba bề. Hàng giả lúc này thật ê hề, tràn lan từ cái tăm đến hộp xà phòng, từ chiếc đồng hồ đeo tay đến những máy móc đắt tiền. Chẳng thế mà có thời người ta để mỉa mai: Hồng Kông bên hông Chợ Lớn. Nghệ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi, khiến cho người tiêu dùng khó mà nhận ra, chỉ khi mua về đem xài thì mới vỡ nhẽ ra đó là hàng giả.

Trưa Sài Gòn, trời nắng như đổ lửa. Đường phố ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt. Một cô nàng ăn mặc thật đúng mốt. Cổ thì giây chuyền. Tay thì vòng vàng óng ánh. Còn thân hình yểu điệu thì đang cưỡi trên một chiếc xe gắn máy, dường như cô nàng vừa mới đi dự tiệc và đang trên đường về nhà. Bỗng một chiếc xe gắn máy khác trờ tới và ép sát cô nàng. Người ngồi sau lanh tay lẹ con mắt chộp vội sợi dây chuyền nơi chiếc cổ nõn nường, khiến cho chiếc xe lảo đảo và cô nàng suýt bị đo đường. Thế nhưng, chỉ một lúc sau hai tên kẻ cướp vòng xe lại, ném sợi giây chuyền vào mặt cô nàng và chửi: Tiên sư em nhé, đẹp như tiên mà xài toàn đồ giả.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý điều này: Hàng giả đang lũng đoạt thị trường, nhưng không nguy hiểm cho bằng người giả. Thực vậy, nhìn vào con người, chúng ta thấy từ vóc dáng và hành động bên ngoài đến tình cảm và ý nghĩ bên trong, người ta đều có thể giả được tuốt luốt.

Nếu các cụ ta ngày xưa thường bảo: Cái răng cái tóc là góc con người. Thì ngày nay, với kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ và trang điểm tuyệt vời, người ta có thể cải lão hoàn đồng, từ một bà già trầu móm mém gần đất xa trời trở nên một cô thiếu nữ liễu yếu đào tơ trong thoáng chốc bằng cách trang bị cho bà cụ những thứ đồ giả: Nào là mái tóc giả, nào là hàng mi giả, nào là hàm răng giả, nào là bộ ngực giả, nào là cặp mông giả. Người ta cũng có thể tạo nên những mụn ruồi giả, những má lún đồng tiền giả, những chiếc cằm xẻ giả. Thậm chí có những anh chàng đực rựa “chăm phần chăm” được cải trang thành những cô gái y như thật, khiến cho những đấng mày râu háo sắc và ngây thơ cụ cũng phải bé cái lầm.

Thế nhưng cái “hình dong bên ngoài” không quan trọng cho bằng những cái làm nên phẩm chất bên trong của con người. Và những thứ này lại cũng toàn là đồ giả. Chẳng hạn để khoe khoang với bè bạn, để dễ dàng trong công ăn việc làm, cũng như để luồn lách vào chức vụ nọ chức vụ kia, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cái bằng phó tiến sĩ giả, để hù dọa bà con lối xóm.  Người ta cũng có thể mượn danh làm công an giả, cán bộ giả, thậm chí cả linh mục giả để dối gạt thiên hạ, ẵm về cho mình những món tiền lớn và những lợi nhuận kếch xù. Thế nhưng bẽ bàng và cay đắng hơn cả, đó là người ta đã mượn tạm danh nghĩa, lợi dụng những chức vụ giả ấy để ăn cướp cơm chim, phỗng tay trên chén cơm manh áo của các em nhỏ trong viện mồ côi, của các cụ già trong nhà dưỡng lão bằng cách lừa đảo các tổ chức từ thiện cũng như các nhà hảo tâm. Mánh mung của bọn này thì thiên biến vạn hóa, đến quỉ thần cũng không lường nổi mà chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí.

Từ phẩm chất giả, quạ mượn lông công, cáo mượn oai hùm, chúng ta bàn tới những hành động giả. Và một trong những hành động giả mà gã xin đề cập đến, đó là hôn nhân giả. Thực chất của cuộc hôn nhân giả chính là tình yêu giả. Người ta giả bộ yêu nhau để toan tính những công việc khác chẳng hạn như để xuất ngoại, để làm ông nọ bà kia. Họ nhìn vào người ấy không phải để thấy người ấy dễ thương và dễ mến, nhưng để thấy túi tiền người ấy đang có, cái ghế người ấy đang ngồi, tòa nhà người ấy đang ở, chiếc xe người ấy đang đi. Tóm lại, họ không yêu gì người ấy, mà yêu cái tài sản, cái chức vụ của người ấy mà thôi.

Nổi cộm trong hàng loạt hành động giả này, đó là cái thói giả hình, hay nói một cách cụ thể hơn, cái thói giả nhân giả nghĩa, hay đạo đức giả. Họ là những kẻ khẩu phật tâm xà, miệng nam mô bụng bồ dao găm,  đúng như tục ngữ đã diễn tả: Nam mô, một bồ dao găm, một trăm dao mác, một vác dao bầu, một xâu thịt chó.

Họ là những kẻ nghĩ thế này, nói thế kia, nói một đàng làm quàng một nẻo. Tư tưởng không đi đôi với lời nói, còn lời nói thì không đi đôi với việc làm. Tư tưởng, lời nói và việc làm của họ không còn trong suốt như pha lê. Không còn hợp nhất với nhau. Họ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí họ còn làm ngược lại với điều họ nói.

Để kết luận, gã  xin trích một đoạn dưới đây từ báo phụ nữ ngày 27-9-1997: “NM sinh viên khoa ngữ văn, một cô gái tài hoa, có lối sống khá bạt mạng, mệt mỏi tâm sự: Ở gia đình, bố mẹ luôn dạy tôi cách sống tốt, chân thật, nhưng tôi biết rõ ràng đó chỉ là lời nói. Thực tế còn cả một khoảng cách. Cái khoảng cách ấy đã được NM nhận rõ  khi người ta phát hiện hai cái học vị phó tiến sĩ của bố và mẹ NM đều là của giả. NM bộc lộ: Tôi không quan lắm đến danh dự gia đình, nhưng bố mẹ, những thần tượng của tôi, đã hoàn toàn sụp đổ. Thế đấy, cái giả tưởng chừng như vô thưởng vô phạt đang giết chết một thế hệ về mặt tinh thần. Và ngày nay không cần thiết phải chứng minh tính chính trị của đạo đức nữa. Cái khó là tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa và những cơ chế vận hành nào đã đưa tới tình trạng báo động này. Ta đánh giá cao những báo cáo tô hồng, khiến cho cấp dưới tập phản xạ nói dối, phản xạ này ăn sâu trong tâm tư họ đến nỗi có người không còn biết nhận ra và phân biệt thật và giả, đúng và sai. Phải tập lại từ đầu, không phải bằng hô hào mà bằng hành động”.

Và rồi cuối cùng: Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.

 

CHUYỆN NHÀ XỨ

Lôrensô

 

Đối với rất nhiều người giáo dân, cuộc sống của các cha là một “mầu nhiệm”. Có không ít người xem và nghĩ những sinh hoạt trong nhà xứ cả là một bí mật thâm sâu. Có người còn đinh ninh trong đầu rằng bầu khí trong nhà xứ thì lúc nào cũng nghiêm trang và thiếu vắng tiếng cười. Hôm nay tôi xin kể một số câu chuyện có thật, để mọi người biết rằng trong nhà xứ cũng chan hòa niềm vui và có nhiều điều hấp dẫn. Đối với quý cha, xin đừng xem đây là những câu chuyện với mục đích “vạch áo cho người xem lưng”. Nhưng là “đem ra cho dân thấy mà thương”.

Trong nhà xứ có những ai? Mọi người đều biết rồi. Có nơi thì chỉ một mình cha sở. Nơi khác có thêm cô bếp. Có nơi thì ngoài cha sở thì có thêm cha phó hoặc thầy giúp xứ. Ở đây tôi xin kể câu chuyện ở một nhà xứ có cha sở, cha phó, thầy xứ và cô bếp.

Ở một nhà xứ nọ, cha sở đã khá đứng tuổi. Ngài là một linh mục có thâm niên quản trị giáo xứ. Ngài từng coi các xứ lớn. Kinh nghiệm của ngài thì dồi dào và phong phú. Ngài vừa được tòa giám mục gởi đến một cha phó mới toanh. Cha phó còn rất trẻ, “nóng hổi” vì vừa “mới ra lò”. Cha rất vui mừng vì có thêm người trợ tá trong công tác mục vụ. Ngày cha phó về xứ, cha sở tâm sự: “Tôi với cha làm mục vụ giáo xứ giống như đi làm dâu trăm họ. Tôi thì “làm dâu” trước nên có kinh nghiệm. Cha “mới về nhà chồng” thì còn bỡ ngỡ. Điều gì không biết cứ hỏi. Cha yên tâm, có gì mình giúp đỡ lẫn nhau, “chị ngã em nâng”. Cha phó nghe được những lời ấy thì vô cùng phấn khởi và an tâm.

Bầu khí trong nhà xứ thật ấm cúng và đậm đà tình thân mến. Mỗi bữa ăn là một bữa vui vẻ. Ngày nào cũng tràn ngập tiếng cười. Hôm thì cha sở hợp với thầy xứ “tấn công” cha phó. Bữa khác thì cha phó “cộng tác” với “thầy tấn” công cha. Cũng có khi thầy xứ bị xui, hai cha “ăn rơ” “đánh hội đồng” thầy. Cứ đến bữa ăn là rộn lên tiếng cười. Cha sở tâm sự: “Bàn ăn phải là nơi chan chứa niềm vui. Tôi rất buồn khi có cha sở và cha phó đến bữa ăn phải đặt cái radio hay mở tivi lên mà xem. Như vậy là cha sở và cha phó như chó với mèo, không ăn chung được với nhau. Mà khi người ta khó ăn chung rồi tức là người ta đã không ở được với nhau.

Cha sở và cha phó ở đây khá là hài hước. Vui tính cũng là yếu tố giúp người ta dễ sống chung với người khác. Khi cha sở có việc đi đâu xa, cha phó ở nhà. Và ngược lại cũng thế. Lúc cha sở đi xa, ngài trao mọi sự cho cha phó. Cha phó đáp lời: “Cha cứ yên tâm, con không bán nhà xứ đâu. Con ở nhà trông nom mọi thứ rất cẩn thận, không mất mát gì hết ạ! Cha phó là con chó cho cha sở mà.” Cha sở đáp lời: “Trăm sự nhờ cha. Cha nhớ ăn uống cho đàng hoàng tử tế để có sức mà canh nhà nhé!” Dịp khác cha phó đi xa, ngài đến xin phép cha sở. Cha sở đồng ý và gởi tặng thêm một câu: “Cha cứ tự nhiên đi đâu thì đi. Mọi việc ở nhà đã có tôi. Cha sở là đầy tớ cho cha phó mà.” Cha phó đáp lễ: “Dạ, cha nhớ giữ gìn sức khỏe. Hy vọng đây là đầy tớ trung tín và khôn ngoan”.

Có một điều khá hay là mỗi lần người này đi xa về đều có quà cho người kia. Có khi nhỏ thôi nhưng lại rất chứa chan tình cảm. Khi mà người ta nghĩ đến nhau mỗi khi đi xa tức là người ta rất gắn bó với nhau. Chỉ khi nào xem nhau như người thân trong gia đình, người ta mới quan tâm đến người kia. Cha sở và cha phó ở đây đối xử với nhau không khác một gia đình. Thật là hạnh phúc.

Chuyện của hai người có còn gì hấp dẫn? Trong công việc, họ ứng xử với nhau thế nào? Muốn biết ra sao xin xem hồi sau sẽ rõ.

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

ĐỜI LINH MỤC

Lắng nghe tiếng Chúa gọi mời

Đi làm nhân chứng giảng Lời hân hoan

Vui say đáp trả ân ban

Sống đời thánh hiến tỏa lan tình trời.

              Trung gian giữa Chúa với người

Ngày ngày tế lễ dâng lời tụng ca

Loan tin cứu độ gần xa

Sứ ngôn rao giảng tình Cha trên trời.

Yêu thương tất cả loài người

Anh em con Chúa từ trời tác sinh

Đế vương phục vụ tận tình

Nên người tôi tớ hết mình dấn thân.

          Đời  vui cuộc sống thanh bần

Tỏa hương thanh khiết thế trần lập công

Nguyện vâng theo ý quan phòng

Trọn đời phó thác một lòng tín trung.

          Pr. Hồng Khải, Gx. Núi Sập

 

CHUÔNG CHIỀU SÁM HỐI

Hoàng hôn tím

nhẹ rơi trên nóc giáo đường

Tiếng chuông chiều trầm vọng

rộn rã - thiết tha

Phương trời xa

cánh chim lưu lạc đang mơ về tổ ấm

Lãng đãng niềm đau

một thời lạc bước, phung phí - hoang đàng

Chiều nay tiếng chuông giục giã - mênh mang

Rưng rức nỗi cô đơn gặm nhấm - vương vương nhạt nhòa

dấu bước rong rêu

vùi tuổi xanh trong bụi trần nhơ nhớp

Chiều tím buông rơi

đứa con hoang chạnh lòng se sắt

nhớ về mái ấm yêu thương có người Cha cô quạnh

cồn cào - nhớ mong.

Thôi từ giã tháng ngày bạc bẽo, hằn tủi kiếp người

Trở về cúi đầu tạ tội bên nguồn yêu thương.

hồng ân gột rửa - Vòng tay Cha bao dung mở rộng đón chờ

Rạo rực niềm vui - hạnh phúc

Thiên đường thênh thang

đón con về rộn rã khúc hân hoan.

Nhật Quang, Gx Thái Hòa

 

GƯƠNG SÁNG GIA ĐÌNH

Theo chân Chúa trên con đường thập giá

Trong sứ vụ người gia trưởng mẫu gương

Xin cho Cha dù khó khăn, đoạn trường

Luôn vững lòng tín thác trong vâng phục.

Con có cha, gia đình là hạnh phúc

Cha luôn là trụ cột của gia đình

Là người cha không quản ngại hy sinh

Là người chồng thuỷ chung và son sắt.

Dù Chúa ơi! cuộc đời bao thử thách

Bao thăng trầm trong cuộc sống gia đình

Hằng noi gương thầy Giuse công chính

Để gia đình là Hội Thánh tại gia.

                                                                                                    Nước Xanh

 

GIA TRƯỞNG

Đứng đầu trụ cột trong nhà

Lo toan gánh vác, cho gia đình mình

Hằng ngày vất vả mưu sinh

Cũng vì cuộc sống, gia đình vợ con

Miếng cơm, manh áo, học hành

Đôi vai trĩu nặng, gian nan nhọc nhằn

Nặng hơn sống đạo, yêu thương

Soi đường con cái, tinh thần Phúc Âm

Niềm vui, hạnh phúc nào bằng

Gia đình thăng tiến, vươn lên với đời

Các con khôn lớn nên người

Chu toàn trách nhiệm, tuyệt vời Chúa trao

    Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

 

TÔI LÀ GIA TRƯỞNG

Tôi là gia trưởng trong nhà

Sống theo ý Chúa luôn là vâng nghe

Noi gương thánh Cả Giuse

Gia đình có Chúa chở che đêm ngày

Siêng năng lao động hăng say

Vì con, vì vợ tràn đầy khó khăn

Vui buồn, sướng khổ băn khoăn

Đó là ý Chúa hồng ân gia đình

Yêu thương, giúp đỡ nhiệt tình

Chu toàn bổn phận gia đình yên vui

Sống cho tốt đạo đẹp đời

Cùng nhau nên thánh Chúa Trời thưởng công

Đêm ngày gia trưởng làm gương

Tối kinh, sáng lễ yêu thương giúp người

Việc nhà, việc xứ, việc đời

Thế là gia trưởng mọi người mến yêu

Song kiên, Gx. Đài Đức Mẹ

 

HÃY HỌC NƠI THÁNH GIUSE

Hãy học nơi thánh Giuse,

Một người gia trưởng chở che mái nhà.

Ân tình trầm lắng câu ca,

Làm cho rạng rỡ vườn hoa gia đình.

Trọn đời đẹp những hy sinh,

Khiêm nhường, khiết tịnh, đượm tình thương yêu.

Cần lao, gian khổ sớm chiều,

Đem niềm hạnh phúc, đem nhiều an vui.

Người cha nhân đức sáng ngời,

Người chồng chung thủy tuyệt vời mẫu gương.

Nên công chính giữa đời thường,

“Xin vâng” Thánh ý trên đường mến tin.

Một gia đình Thánh xinh xinh,

Ngợp trong ơn Chúa, nghĩa tình bao la.

Giuse, gia trưởng hiền hòa,

Lâng lâng còn đó vang xa ngàn đời.

Ai ơi! Học ở nơi Người,

Cho tròn ơn gọi giữa đời hôm nay.

Xứng danh gia trưởng, đẹp thay!

Thành như Gia Thất tràn đầy hoan ca.

 

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi.

 

CHA XỨ MẾN THƯƠNG

Mến cha dáng vẻ hiền hòa

Thương cha sức khỏe nhạt nhòa tháng năm

Vẫn còn nhiều nỗi băn khoăn

Lo cho giáo xứ mở mang rạng ngời

Lo việc truyền giáo nơi nơi

Đó đây ngoại đạo nhiều người chưa tin

Cha hằng khấn hứa nguyện xin

Mong sao xứ đạo con chiên hợp đoàn.

Cha là nốt nhạc, phím đàn

Cha là bài hát chứa chan tâm tình

Nguyện xin Chúa Cả Thiên Đình

Ban cho cha xứ an bình chở che

Đỡ nâng cha xứ mọi bề,

Ban nhiều sức khỏe, tràn trề hồng ân

Để cha dìu dắt giáo dân

Dẫn đưa con cái ngày gần Chúa hơn.

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ

 

 

 

TẢN MẠN

 

CẦU NGUYỆN CHO LINH MỤC

 

Vì yêu Chúa, các ngài đã chịu đựng nỗi cô đơn mỗi khi chiều tà. Khi thánh lễ vừa tan mọi người ai nấy đều ra về bên gia đình, con cái, anh chị em, họ quay quần bên nhau. Riêng người linh mục phải ở một mình với sách, với vở, với bút, với không gian tĩnh mịch đến đáng sợ. Đấy đời tu chỉ có thế thật đơn sơ thêm phần chịu đựng. Nhưng con người không ai hoàn mỹ, không ai tốt hết cả, kể cả người linh mục. Vì thế mà chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho các ngài.

Têrêsa

ĐƯỜNG THẬP GIÁ

 

Bông hồng nào mà chẳng có gai, cuộc đời nào mà chẳng có những đắng cay khổ đau của nó. Những đắng cay khổ đau này đã làm cho cuộc đời tôi trở thành một con đường thập giá. Và để đi trên con đường thập giá, tôi cần phải tín thác vào Thiên Chúa. Thực vậy, đã có những lúc tôi thực sự yếu đức tin. Tôi chạy theo quyền bính, giàu sang, lạc thú và đã quên đi chính sự hiện diện của Chúa trong đời sống đức tin. Tôi chợt nhận ra rằng cuộc sống của tôi đều nằm trong tay Chúa, tất cả mọi sự của tôi đều là do Chúa ban tặng. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong”. (Gieremia 17, 7) Khi đã đặt niềm tin vào Chúa thì cuộc sống của tôi giờ đây phải là sống cho Chúa và nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, tôi có thể mạnh dạn bước vào con đường thập giá Chúa đã gửi đến cho tôi với tinh thần của thánh Phaolô đã nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kito sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2,20).

Joach Nguyễn Anh Tuấn Kiệt, Gx Thanh Hải

 

NGƯỜI GIA TRƯỞNG TRONG XÃ HỘI HÔM NAY

 

Ngày nay, khi nhắc đến người gia trưởng trong Giáo Hội, chúng ta thấy một gương sáng, đó là người gia trưởng trong mái nhà Nazaret, Thánh Giuse, một lý tưởng cho những người làm cha, làm chồng phải nói theo. Người gia trưởng cần noi gương Thánh Giuse biết lắng nghe và thực hành đối với công trình làm cha Đấng Cứu Thế, biết lo lắng cho cuộc sống ngay cả ở trần thế và cho cuộc sống vĩnh cửu sau này; trở nên người công chính trong sự dấn thân và thầm lặng. Học hỏi ở thánh nhân trong xã hội hôm nay, người gia trưởng biết trở nên mẫu gương cho con cái noi theo, biết lo lắng cho gia đình cả về vật chất lẫn tình thần, biết hy sinh thầm lặng, sống công chính thánh thiện. Biết thay đổi suy nghĩ của con tim theo chiều hướng tích cực và tốt đẹp hơn, biết quan tâm lo lắng cho gia đình bằng cả con tim, tránh tìm vui với những thú vui không lành mạnh, làm tổn hại đến chính gia đình mình.

Lưu Hành

BÁC ÁI  THIẾT THỰC

 

Giới Gia trưởng của GX Thạnh An, trong những năm gần đây, đã duy trì  được một hoạt động bác ái rất thiết thực. Đó là cùng nhau, cộng tác sửa chữa nhà cửa rách nát, lụp xụp, cho nhiều gia đình nghèo, không phân biệt lương với giáo, ở trong hay ngoài GX. Với quyết tâm, mỗi tháng thực hiện một căn nhà. Tính đến nay, Giới này đã sửa chữa được 58 căn. Công việc không lấy gì làm to tát lắm, chỉ là nâng nền, lát gạch, thay cột kèo rui, lợp tôn, vây lại dừng vách đã hư hỏng. Mỗi căn nhà sửa chữa như thế, chi phí dăm ba triệu đồng, do lòng đạo đức của bà con giáo dân, cùng với sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm trong ngoài giáo xứ. Nhiều người rộng lượng còn cho cây to trong vườn, anh em Gia trưởng phải đến đốn chặt, mang vác đến trại cưa để xẻ ra gỗ ván, đòn tay. Công việc thật nhiêu khê vất vả, nhưng tất cả vì tinh thần phục vụ, anh em đã hăng hái tham gia không quản ngại. Ước mong hoạt động bác ái này luôn được duy trì và nhân rộng, để các gia đình nghèo không còn phải sống trong căn nhà xiêu vẹo, rách nát, tồi tàn nữa. Đó cũng là cách thể hiện sự chia sẻ, quan tâm lẫn nhau cụ thể nhất, đối với  những người sống chung quanh mình.

Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

 

HÃY HỌC VỚI TÔI

“Hãy học với Tôi vì Tôi hiền hậu và khiêm nhường trong lòng”. Đây là lời mời gọi rất chân thành và từ tốn, lời nói của một người bạn nói với một người bạn rất thân thiết để cùng nhau thăng tiến. Con người của mọi thời đại, đặc biệt là ngày nay quá nhiều bạo lực và đầy rẫy kiêu căng, thì lòng hiền hậu và khiêm nhường càng cần thiết xiết bao! Hiền hậu để biết cư xử, biết yêu thương mọi người, không hờn giận oán thù ai. Khiêm nhường để biết mình hèn mọn, yếu đuối, tội lỗi, cần được yêu thương và trợ giúp của Thiên Chúa cũng như của mọi người đang sống chung quanh. Nếu ai cũng học được bài học hiền hậu và khiêm nhường của Đức Giêsu, thì thiết tưởng thế giới này sẽ đầy ắp những niềm vui, hạnh phúc và bình an.

Đaminh Trần Văn Chính, Gx Đền Thánh Giuse An Bình

 

 

TẦU TITANIC

 

Cứ vào tháng 4, toàn thế giới lại nhắc đến một sự cố quan trọng đó là con tầu nổi tiếng Titanic bị chìm xuống đáy biển. Tầu Titanic nguyên gốc là Titan, tên một vị thần khổng lồ và dũng mãnh của Hy Lạp. Khi cử hành nghi thức hạ thủy, ông chủ của nó đã cao giọng phát biểu rằng: “Nó không thể chìm, và không thể chìm được”. Vậy mà do chủ quan của thuyền trưởng và đoàn thủy thủ nên vào lúc 11g40 đêm thứ 7, ngày 14.4.1912, tầu gặp nạn xô vào tảng băng, cầm cự tới 2g20 chiều chủ nhật ngày 15.4.1912, thì chính thức bị báo tử. Trên tầu cả thảy là 2200 người, thì 706 người được tầu Carpatia cứu, số còn lại là 1494 người đều chết. Kể từ ngày hạ thủy và đến ngày bị đắm, vỏn vẹn chỉ có 4 ngày. Qua câu chuyện trên, mình ngộ ra là tính kiêu căng, tự phụ, tự cao, tự đại, dễ làm cho mình trở nên mù quáng và kéo theo những hậu quả tai hại cho người khác. Xin Chúa hướng dẫn và dạy con sống khiêm nhường để được Chúa thương. Bởi vì “Chúa nâng cao người khiêm nhường, và  hạ bệ những kẻ quyền thế” (Lc 1,52a)

Ant. Nguyễn Đức Xinh, Gx Bình Thái

 

NGƯỜI GIA TRƯỞNG

 

Người gia trưởng có một vai trò rất quan trọng, là trụ cột chính của gia đình: Vừa là một người chồng, lại vừa là một người cha. Vì thế, trách nhiệm của người gia trưởng rất lớn. Người gia trưởng phải là chỗ dựa của người vợ và là điểm tựa cho những đứa con. Người gia trưởng phải nêu gương sáng cho vợ và các con, phải chu toàn bổn phận của một người chồng yêu thương và của một người cha đáng kính trong gia đình.

Hồng Ân, Gx An Sơn

 GIA TRƯỞNG VÀ NHIỆM VỤ

XÂY TỔ ẤM GIA ĐÌNH

 

Người ta thường nói “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, điều đó không có nghĩa là đàn ông không cần quan tâm và có trách nhiệm gì trong việc xây dựng gia đình thành một tổ ấm yêu thương, hạnh phúc. Đó là chẳng qua chỉ là nhấn mạnh đến việc phân công nhiệm vụ vợ chồng trong gia đình, ở đó “người thì lo xay lúa, người thì lo bồng em”. Trong đời sống hôn nhân, cả hai vợ chồng sẽ mất đi một nửa quyền lợi và nhân đôi nghĩa vụ. Nhưng trên hết, người chồng với vai trò là gia trưởng, sẽ có những nhiệm vụ đặc thù thích hợp với vai trò lãnh đạo gia đình của mình. Những việc mà người chồng thực hiện sẽ đóng góp rất lớn vào việc xây dựng gia đình thành mái ấm tràn ngập yêu thương và hạnh phúc. Có thể liệt kê ba nhiệm vụ chính sau đây của người gia trưởng: nhiệm vụ quản gia, nhiệm vụ quản lý và nhiệm vụ quản giáo.

1.       Nhiệm vụ quản gia

Người ta vẫn thường hiểu người quản gia là người được thuê mướn để trông coi nhà cửa và làm các việc vặt trong nhà theo lệnh của gia chủ. Tuy nhiên trên thực tế, người chồng người cha trong gia đình cũng là một quản gia. Họ có nhiệm vụ quán xuyến các việc lớn nhỏ trong gia đình. Họ thức khuya dậy sớm. Họ lao động cật lực với đủ mọi thứ công việc mà không đòi hỏi lương bổng. Trách nhiệm của họ là tạo dựng một gia đình thành một tổ ấm trong đó mọi sinh hoạt được thực hiện một cách trôi chảy, tốt đẹp. Tuy nhiên, phải thừa nhận điều này là cũng có nhiều vị gia trưởng không chu toàn bổn phận người chồng người cha của mình. Họ không hề quan tâm đến gia đình và những gì xảy ra ở đó. Sự hiện diện của họ trong gia đình rất mờ nhạt, bởi họ sống trong gia đình như một khách trọ. Trong một bài báo mới đây trên trang vnexpress.net có tựa đề “Những mẫu đàn ông dễ khiến phụ nữ muốn ly hôn”, tác giả Hà Linh đã viết như sau: “Những ông chồng sống như khách trọ trong nhà, ra ngoài thì ba hoa, về nhà chẳng mó tay tới việc gì hay luôn đổ lỗi cho ngoại cảnh, dễ khiến vợ thấy hối tiếc khi kết hôn”. Theo tác giả, những đàn ông như thế này thuộc thành phần vô tâm, họ không quan tâm gì tới gia đình. Họ “không nghe - không biết - không thấy”. Chuyện lớn, chuyện nhỏ họ đều phó mặc cho vợ, coi vợ như “người-biết-tuốt” còn họ thì như khách trọ”.

2.       Nhiệm vụ quản lý

Bên cạnh việc quản gia, người gia trưởng còn là người quản lý của gia đình nữa. Quản lý ở đây không phải là độc đoán nắm giữ, điều hành tất cả, mà là quán xuyến mọi việc gia đình. Họ biết nắm bắt các nhu cầu của cả gia đình và của mỗi thành viên trong gia đình. Từ việc lớn đến việc nhỏ. Việc lớn có thể là xây cất sửa sang nhà cửa, mua sắm trang bị cho gia đình, việc sinh hoạt học hành của con cái vv. Việc nhỏ có thể liên quan đến cái ăn cái mặc, kế hoạch chi tiêu trong gia đình. Dù gia đình ở trong hoàn cảnh nào bất kỳ, người gia trưởng tốt sẽ luôn quan tâm, lo lắng và điều hành các việc trong gia đình sao cho suôn sẻ, trôi chảy. Quả thực, là người lãnh đạo trong gia đình, vị gia trưởng gương mẫu sẽ là người biết hi sinh, biết quên mình để làm “đầy tớ” mọi người. Chúng ta thử nghe tâm sự sau đây của một vị gia trưởng:

“Tôi là giám đốc một công ty, lương tháng ba nghìn đô, cao gấp chục lần vợ tôi nhưng khi về nhà thấy vợ hì hụi trong bếp, tôi vẫn sẵn sàng lao vào nhặt rau, rán cá bình thường. Thậm chí có lúc nhìn mặt thấy vợ tôi mệt tôi luôn giục nghỉ đi, để tôi làm. Bạn bè, bố mẹ, gia đình, nhân viên của tôi trong cơ quan đều biết việc này nhưng tôi lấy đó làm hãnh diện chứ không bao giờ có suy nghĩ “thằng đàn ông kém cỏi mới rửa bát” như bạn. Lấy vợ chứ có phải lấy osin đâu? Yêu vợ, thương vợ thì càng phải xắn tay áo vào làm đỡ đần vợ” (x. webtretho.com/forum/goc-nhin-cua-mot-nguoi-dan-ong-luong-thang-3000-thang-ve-honnhan).

3.       Nhiệm vụ quản giáo

Trong gia đình, con cái không thể thiếu bóng dáng và sự hiện diện của người cha được. Bởi như người ta thường nói: “Con không cha như nhà không nóc”. Cha mẹ không chỉ sinh con, nuôi con, mà còn phải dạy dỗ, giáo dục con cái nữa. Và đây là nhiệm vụ quan trọng nhất. Việc này thì kéo dài cả đời. Vì mười năm trồng cây, nhưng mất trăm năm trồng người.  Hơn ai hết, người gia trưởng quan tâm và đầu tư công sức cho việc giáo dục con cái. Không thể khoán trắng việc này cho người vợ được. Có thể gọi đây là nhiệm vụ quản giáo của gia trưởng trong gia đình. Trước hết họ kết hợp chặt chẽ với người bạn đời trong việc định hướng mục đích và các phương pháp giáo dục. Kế đến là kiên nhẫn thực hiện việc giáo dục con cái như thế nào cho thật hiệu quả và thích hợp. Sau đó, chính họ thường xuyên quan tâm theo dõi đời sống và các sinh hoạt của con cái để đáp ứng các nhu cầu của chúng, giúp đỡ chúng phát triển mọi mặt và đạt tới sự trưởng thành cần thiết. Một điều quan trọng mà chúng ta cần lưu ý là chính bản thân người gia trưởng luôn phải là tấm gương sáng cho con cái về mọi mặt. Làm gương sáng đó chính là một phương thế giáo dục hiệu quả nhất.

 

Aug. Trần Cao Khải

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

HỌP MẶT MỪNG KỶ NIỆM 50 CHỦNG VIỆN TÊRÊSA

Sau một buổi tối sinh hoạt theo lớp tại các giáo xứ, sáng thứ hai ngày 23.2, tức mồng năm tết, khoảng 270 anh em chủng sinh, bố đời cũng như bố đạo, đã quy tụ về Tòa giám mục để tham dự ngày họp mặt mừng kỷ niệm 50 chủng viện Têrêsa. Ban sáng quý anh chị đã chào thăm và chúc tuổi các Đức giám mục, học hỏi về lịch sử giáo phận, cũng như dấu ấn của chủng viện Têrêsa. Sau đó là chụp hình lưu niệm và Thánh lễ. Tiệc trưa được tổ chức theo kiểu tự chọn. Ban chiều là những sinh hoạt nội bộ, bầu ban liên lạc mới với cha Phêrô Bùi Duy Tân làm gia trưởng của gia đình Lên Đường. Ngày họp mặt đã diễn ra một cách tốt đẹp và đã khép lại vào lúc 15g30.

LỄ GIỖ CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

TẠI GIÁO XỨ CỒN PHƯỚC

Giáo xứ Cồn Phước là quê hương của cha PX Trương Bửu Diệp. Sáng ngày 12.3.2015, Đức Giám Mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến và chủ tế Thánh lễ kỷ niệm 69 năm ngày qua đời của cha. 8g30, nghi thức viếng mộ song thân phụ mẫu của cha Phanxicô Xaviê được cử hành tại đất thánh giáo xứ Cồn Phước. 9g00 Thánh lễ bắt đầu có 28 cha đồng tế và khoảng 5.000 người hành hương tham dự. Trong tâm tình cảm tạ, Đức Giám Mục đã nói lên những

 

nhân đức thánh thiện của vị Tôi Tớ Chúa. Qua đó, Đức Giám Mục kêu gọi mọi người khi hành hương đến đây không chỉ để xin ơn, mà còn nhìn vào gương mẫu của Ngài; biết sống và làm chứng cho Chúa như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mỗi người.

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ GX THÁNH GIUSE, KE2

Sáng thứ bảy, ngày 14.3, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã viếng thăm giáo họ thánh Giuse, thuộc giáo xứ An Sơn, kênh E2. Chương trình được bắt đầu bằng nghi thức làm phép nhà xứ, cắt băng khánh

 

thành, cũng như cung hiến nhà thờ và bàn thờ mới. Trong niềm hân hoan vui mừng Đức cha đã công bố kể từ ngày hôm nay, giáo họ thánh Giuse trở thành một giáo xứ. Trong bài giảng, ngài đã chia sẻ: Nhà thờ là nơi chúng ta gặp gỡ Chúa trong tâm tình cầu nguyện. Ngoài ra, chúng ta còn có thể gặp gỡ Chúa trong cộng đoàn Giáo Hội cũng như trong chính tâm hồn chúng ta, bởi vì Giáo Hội và tâm hồn mỗi người cũng là những ngôi thánh đường thiêng liêng cho Chúa. Có hơn 90 cha đồng tế và đông đảo bà con giáo dân xa gần tham dự

 

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

ĐỨC TÂN HỒNG Y PHÊRÔ NGUYỄN VĂN NHƠN

ĐƯỢC TẤN PHONG TẠI RÔMA

Sáng thứ bảy, 14.02.2015, 20 tân Hồng y thuộc 18 quốc gia đã được ĐTC Phanxicô tấn phong trong Công nghị tại Đền thờ Thánh Phêrô. Sau bài huấn dụ, ĐTC xướng tên 20 Hồng Y. Sau đó các tiến chức tuyên xưng đức tin và tuyên thệ trung thành với Chúa Kitô và Tin Mừng của Chúa, luôn tuân phục Tòa Thánh và Thánh Phêrô nơi bản thân ĐTC và các đấng kế vị ngài được bầu lên hợp pháp. Kế đến, từng Hồng y lần lượt tiến lên quì trước mặt Đức Thánh Cha để ngài đội mũ đỏ Hồng y, trao nhẫn, trao sắc chỉ về việc phong Hồng y. Giáo Hội Việt Nam hân hoan vì có thêm vị Hồng y thứ sáu là Đức Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục Hà Nội. Phái đoàn đến từ Việt Nam gồm có Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch HĐGMVN, một số Giám mục thuộc các Giáo phận, các linh mục và thân nhân của Đức Hồng y cùng với đông đảo nam nữ tu sỹ đang tu học và sinh sống tại hải ngoại đã tham dự để hiệp thông cầu nguyện và chia sẻ niềm vui với Ngài.

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC CÔNG BỐ NĂM THÁNH TỪ BI

Lúc 5 giờ chiều 13.3.2015, ĐTC đã chủ sự nghi thức thống hối tại Đền thờ Thánh Phêrô và ngài long trọng tuyên bố Năm Thánh Từ Bi. ĐTC nói rằng: “Tôi thường suy nghĩ xem làm thế nào để Giáo Hội có thể làm nổi bật hơn sứ mạng của mình là làm chứng nhân về lòng từ bi. Đó là một con đường bắt đầu bằng sự hoán cải tinh thần. Vì thế, tôi quyết định ấn định Năm Thánh đặc biệt, có trọng tâm là lòng từ bi của Chúa. Đây sẽ là một Năm Thánh Từ Bi. Chúng ta muốn sống năm này dưới ánh sáng lời Chúa nói: “Các con hãy có lòng từ bi thương xót như Chúa Cha”. “Năm Thánh này sẽ bắt đầu từ lễ Đức Mẹ Vô nhiễm tới đây (8.12.2015) và sẽ kết thúc ngày 20.11.2016, Chúa nhật lễ Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ và là tôn nhan sinh động của lòng từ bi Chúa Cha. Tôi ủy thác việc tổ chức Năm Thánh này cho Hội đồng Tòa Thánh tái Truyền Giảng Tin Mừng, để có thể linh hoạt năm này như một giai đoạn mới trên hành trình của Giáo Hội trong sứ mạng mang Tin Mừng từ bi cho mỗi người”.

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ AN TÔN

Kênh 1A, Tân Hà A, Tân Hiệp B, Tân Hiệp, Kiên Giang

Lễ Bổn Mạng: 13.06 Kính Thánh An-tôn Padova

 

1- Lịch sử :

Vào tháng 2 năm 1956, cha Antôn Nguyễn Bá Lộc đưa 2.000 giáo dân từ giáo xứ Bắc Hà, Củ Chi, tới dinh điền Cái Sắn để sinh sống và giáo xứ An Tôn được hình thành.

1956 : Cha xứ: Antôn Nguyễn Bá Lộc.

1975 : Cha xứ:  Antôn Hoàng Văn Tấn.

1975 : Cha xứ:  Antôn Mai Xuân Khoa.

1975 : Cha xứ:  Phaolô Nguyễn Trọng Tri cùng với cha phó Phaolô Hồ Trí Trạch.

1984 : Cha xứ:  Antôn Phạm Trung Kiên với cha phó:

Đaminh Phạm Khắc Bạo ( 1997 - 2007 )

Phaolô Đinh Đức Hạnh ( 2007 -2010 )

2010 : Cha xứ:  Phêrô Phạm Văn Hào

2- Dân số :

Giáo dân khoảng 1.684.

Trong giáo xứ có một cộng đoàn nữ tu Mến Thánh Giá Khiết Tâm

3- Nhà thờ :

Nhà thờ hiện nay được hoàn thành vào năm 1974 và được tu sửa năm 2004.

4- Những sinh hoạt :

Các giới và hội đoàn như Huynh Đoàn Đa-minh, Gia Đình Mến Thánh Giá tại thế... sinh hoạt thường xuyên hàng tuần và hàng tháng đều có cha xứ hướng dẫn. Thánh lễ thường xuyên suốt tuần ban sáng, thêm các buổi chiều Chúa nhật Chầu Thánh Thể, thứ Năm và thứ Sáu có Thánh lễ. Họat động xã hội trong xứ và ngoài xứ: Trợ giúp, Thăm viếng những người khó khăn, tật nguyền người ốm đau và tặng quà trong các dịp lễ - tết, không phân biệt tôn giáo.

 

 

 

 

TĨNH TÂM

THÁNG 4 NĂM 2015

THÁNH GIUSE

MẪU GƯƠNG NGƯỜI GIA TRƯỞNG

TÌM BÀI

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 4 năm 2015

 

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TÂN PHÚC ÂM HÓA CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

VỚI SINH HOẠT HUẤN GIÁO

***

Anh chị em thân mến

Các giám mục chúng tôi xin gửi đến cộng đoàn dân Chúa giáo phận Long Xuyên lời chào chúc bình an, vui mừng và hy vọng của Chúa Kitô Phục Sinh.

Tiếp tục các thư mục vụ của 3 tháng đầu năm 2015 hướng về 3 đối tượng nòng cốt trong giáo xứ là linh mục, tu sĩ và giáo dân, thư mục vụ 3 tháng kế tiếp tập trung vào các tác vụ của Giáo Hội  trong sinh hoạt giáo xứ là Huấn giáo, Phượng tự và Phục vụ. Nên, thư mục vụ tháng Tư có chủ đề Tân Phúc Âm Hóa Cộng Đoàn Giáo Xứ Với Sinh Hoạt Huấn Giáo.

1. Sinh hoạt Huấn Giáo trong cộng đoàn giáo xứ thường được hiểu là bài giảng của hàng giáo sĩ trong các thánh lễ, đặc biệt là lễ Chúa Nhật và lễ Trọng. Huấn giáo cũng còn là sinh hoạt dạy và học giáo lý cho thiếu nhi, giới trẻ, chuẩn bị hôn phối, dự tòng… Ngoài ra, trong nhiều giáo xứ của giáo phận Long Xuyên, sinh hoạt huấn giáo cũng còn được tổ chức thành các lớp học hỏi Lời Chúa, các buổi thường huấn thường kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm dành cho các đoàn thể tông đồ giáo dân trong giáo phận, giáo hạt, và giáo xứ, như Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, Giáo lý viên, Huynh trưởng thiếu nhi Thánh Thể, giới Hiền mẫu, giới Gia trưởng và các phong trào đạo đức đang sinh hoạt tại nhiều giáo xứ trong giáo phận.

Với sinh hoạt huấn giáo, cộng đoàn giáo xứ trở thành một gia đình của Thiên Chúa bao gồm những người mẹ, anh em, chị em của Chúa Kitô vì “lắng nghe và thực hành Lời Chúa”. Trong gia đình này, mọi thành viên, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, trở thành học viên trong lớp học của Thiên Chúa mà chính Chúa Thánh Thần là giáo lý viên.

2. Mục tiêu của chương trình huấn giáo: Theo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong thư mục vụ năm 2007, thì mục tiêu hàng đầu và chủ yếu của sinh hoạt huấn giáo là giáo dục đức tin, để sống đức tin trong cuộc sống cụ thể, nhờ đó, trở thành men, thành muối và ánh sáng cho trần gian. Tuy nhiên, giáo dục đức tin phải dựa trên nền tảng của việc huấn luyện lương tâm. Với một lương tâm ngay thẳng, người Kitô hữu có thể phán đoán chính xác đúng sai, tốt xấu… Từ đó, họ dễ dàng cộng tác để xây dựng cuộc sống công bằng, tôn trọng phẩm giá và sự sống con người hơn. Hơn nữa, hiện diện trong thế giới, giáo dục Kitô giáo cũng góp phần cổ võ tình liên đới, làm cho con người có trách nhiệm với nhau, trách nhiệm đối với xã hội và công ích, cùng xây dựng một cuộc sống tốt đẹp an bình. Cuối cùng, theo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam cũng còn là thông truyền và phát huy những giá trị truyền thống của nền văn hoá Việt Nam.

Như vậy, nhờ các mục tiêu của sinh hoạt huấn giáo trong giáo xứ, mọi Kitô hữu dần dần đạt được 3 đức tính căn bản của người Kitô hữu trưởng thành. Một là, người Kitô hữu trưởng thành sẽ đạt được cảm thức sâu xa về sự hiện diện của mình và của anh chị em trong gia đình của Thiên Chúa để sống hiệp nhất. Với sự hiệp nhất này, người Kitô hữu trở nên giống Chúa Kitô trong việc vâng phục Thánh ý Chúa Cha, để trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa và là anh chị em với tha nhân. Hai là, từ cảm thức về sự hiệp nhất với Thiên Chúa, người Kitô hữu chọn lựa cách sống tích cực trong vui mừng và hy vọng với ý thức về ơn gọi của mình trong cộng đoàn. Nhờ đó họ luôn cố gắng khám phá ra những điều tốt nhất trong mỗi hoàn cảnh, và cũng biết sử dụng năng lực của mình có được để thực hiện những điều thiện hảo cho anh chị em, và cùng anh chị em xây dựng Nước Thiên Chúa giữa công đồng nhân loại. Ba là, với sự hiệp thông và dấn thân, người Kitô trưởng thành cũng chấp nhận lội ngược dòng trong cuộc hành trình đức tin. Họ nhận thức những sự đen tối của sự xấu và sự dữ, nhưng, với ơn Chúa và với sự trợ giúp của cộng đoàn, họ bày tỏ dứt khoát tách mình khỏi thế giới tội ác và tối tăm, chấp nhận Thánh giá trên vai tiến về Nhà Cha.

3. Riêng tại các giáo xứ của giáo phận Long Xuyên,

(*) Đối diện với thực trạng di dân, huấn giáo trong giáo xứ cần huấn luyện cộng đoàn dân Chúa để, hiện diện bất cứ nơi đâu, sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, người tín hữu cũng luôn tuyên xưng đức tin, cử hành đức tin, sống đức tin, và loan truyền đức tin. Lý tưởng là, họ luôn ý thức mình thuộc về gia đình Thiên Chúa, để như các tín hữu sơ khai, họ “chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự nghi thức bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2, 42).

(*) Trong một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân, huấn giáo trong giáo xứ cần nhấn mạnh vào tình bác ái huynh đệ Kitô giáo. Theo định hướng này, sinh hoạt huấn giáo phải quan tâm giáo dục cộng đoàn, đặc biệt là thiếu nhi và giới trẻ, biết thể hiện đức bác ái, nhân hậu, và lòng thương xót trong các mối tương quan giữa con người vói con người.  Điều quan trọng là, các mối tương quan này phải bắt nguồn từ mối tương quan giữa cá nhân người Kitô hữu với Chúa Kitô trong kinh nguyện và trong người nghèo. Kết quả là người Kitô hữu biết cách nhìn vào những con người cụ thể, và nhận ra rằng, có nhiều người đang cần lòng thương xót, và cũng có nhiều người có thiện chí muốn dấn thân phục vụ anh chị em mình.

(*) Trong một xã hội duy vật thực hành và những ảnh hưởng tiêu cực của sự tục hóa, sinh hoạt huấn giáo trong giáo xứ cần luyện cho người tín hữu chấp nhận sống đức tin một cách khổ chế và tử đạo. Đó là giáo huấn về sự từ bỏ để có một trái tim tự do “yêu Chúa hết lòng và yêu người như Chúa yêu ta”. Đó cũng là giáo huấn về việc từ bỏ mình để tự do theo ý Chúa Cha như Chúa Kitô “vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá”. Đó cũng là giáo huấn về nghịch lý của cây Thập Giá trong đời sống đức tin, để “tôi không tự hào về một điều gì khác, ngoài cây Thập Giá của Đức Kitô”.

Trong tháng Tư, giáo phận Long Xuyên hiệp thông với Đức Cha Cố Gioan Baotixita tạ ơn Chúa về hồng ân c?a cuộc hành trình 88 năm trong ơn gọi làm người, 60 năm trong ơn gọi linh mục, và 40 năm trong ơn gọi giám mục. Trong tâm tình tạ ơn, giáo phận luôn ý thức về hồng ân Chúa ban cho giáo phận “Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan, ngài đến để làm chứng về ánh sáng”. Và chúng ta cũng hết lòng cám ơn Đức Cha Gioan Baotixita, là người thầy đến từ Thiên Chúa, đang còn là cây viết của Thiên Chúa, kiên trì ghi khắc tình yêu của Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta. Xin Tình Yêu của Chúa Phục Sinh là phần thưởng cho Đức Cha Gioan và cho toàn thể giáo phận.

+ Giuse Trần Văn Toản                + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

ĐAU KHỔ

ĐÃ VÀ ĐANG ĐƯỢC BÁO TRƯỚC

1.

Mùa Chay kêu gọi tôi suy gẫm cách riêng về cuộc Thương khó của Chúa Giêsu. Suy gẫm của tôi từ đầu mùa Chay năm nay đến bây giờ tự nhiên hướng về một nét đặc biệt của cuộc Thương khó Chúa, đó là đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước.

2.

Đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước thế nào?

Để rồi, đau khổ của môn đệ Chúa Giêsu cũng được báo trước ra sao?

Sống với những báo trước quan trọng ấy, chính là nét sống tu đức của tôi hôm nay. Dưới đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt đôi chút kinh nghiệm của tôi.

3.

Bình thường, tôi quen sống đức tin bằng sự gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu, tôi để ý nhiều đến tính cách thân mật trong cuộc sống bình thường. Nhưng khi suy gẫm về cuộc thương khó Chúa, tự nhiên tôi gặp gỡ Chúa trong một hoàn cảnh rất khác, đó là hoàn cảnh Người chịu đau khổ, nhục nhã, nghèo hèn.

4.

Do thân mật, tôi nói với Chúa: “Chúa bị khinh, bị chối bỏ, bị kết án, bị giết như thế, thì còn gì là thu hút đối với những ai muốn theo Chúa?”. Cũng trong thân mật, Chúa trả lời tôi: “Con Người phải chịu khổ đau như thế, để đưa nhân loại vào Nước Thiên Chúa. Cái thu hút không phải là đau khổ, mà là hy sinh cho tình yêu. Chính vì thế, mà đau khổ Cha chịu đã được Cha báo trước”.

5.

Thế rồi, Chúa cho tôi nhớ lại những lời chính Chúa đã báo trước về cuộc thương khó của Người. Thánh sử Marcô thuật lại ba lần chính Chúa báo trước: Phải qua đau khổ, mới tới Phục sinh.

6.

Lần thứ nhất: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31).

Lần thứ hai: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người. Và Người bị giết chết. Rồi sau ba ngày, Người sẽ sống lại” (Mc 9,31).

Lần thứ ba: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại” (Mc 10,33-34).

7.

Chúa Giêsu đã thấy trước, và đã báo trước cuộc thương khó của Người. Có nghĩa là Chúa coi cuộc thương khó là con đường tốt nhất Người chọn, để làm chứng cho tình yêu, để đưa loài người vào Nước Thiên Chúa.

Thú thực là tôi tin hơn là tôi hiểu. Niềm tin ấy cũng là do ơn Chúa. Tôi đón nhận ơn đó, tôi cộng tác vào ơn đó với tất cả tấm lòng khiêm tốn của tôi.

8.

Rồi, cũng trong thân mật, Chúa Giêsu âu yếm nói với tôi những lời xưa Người đã nói với các môn đệ của Người. Đại khái là: con đường Người đã đi sẽ là con đường tôi phải đi. Chúa phán: “Ai muốn theo Cha, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Cha” (Mc 8,34).

9.

Đem Lời Chúa trên đây soi vào cuộc đời mình, tôi thấy đúng là chỗ nào cũng không tránh được đau khổ.

“Phải từ bỏ mình” đâu có dễ.

Cái tôi xấu không hẳn chỉ gồm những thói hư nết xấu, mà cũng gồm cả những tư tưởng, việc làm, lời nói mà tôi tưởng là đạo đức, nhưng thực sự lại không hợp ý Chúa, nên bị Chúa ruồng bỏ. Thánh Phêrô xưa, khi nghe thầy mình báo về cuộc thương khó Người sẽ phải chịu, đã phát biểu một cách đầy đạo đức: “Xin Thiên Chúa thương Thầy, đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. Nhưng Chúa Giêsu quay lại bảo Phêrô: Satan, hãy lui lại đàng sau Thầy, tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,22-23). Tôi nay nhiều lúc cũng vậy. Từ bỏ mình luôn có khổ đau.

10.

“Vác thập giá mình” cũng đâu là chuyện nhởn nhơ.

Nếu thập giá của tôi là những giới hạn của tôi, là bệnh tật của tôi, là gánh nặng tuổi tác của tôi, là những nghịch cảnh luôn có trong cuộc đời, vv... thì đau khổ tất nhiên sẽ đồng hành chặt chẽ với tôi. Nói lên thực tế đó chính là một điều lương thiện.

11.

“Mà theo Chúa”, đó mới chính là chuyện chắc chắn phải khổ.

Theo Chúa, để ở bên Chúa, để cùng chia sẻ với Chúa, đâu là chuyện lúc nào cũng vui. Khi Chúa bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, bị vác thập giá, bị đóng đinh vào đó, bị xỉ vả, chế nhạo. Lúc đó, Chúa bảo: Con hãy cùng theo Chúa mà chia sẻ thân phận như thế của Chúa. Tôi xin thú thực là tôi không luôn sẵn sàng. Nếu có sẵn sàng, thì cũng phải nhận rằng mình phải thực sự đau đớn, như Chúa đã thực sự đau đớn. Đó mới là theo Chúa thực sự.

12.

Với những gì tôi vừa chia sẻ trên đây, tôi xin đưa tới một cảm nghiệm đau đớn, mà chính tôi đã trải qua, đó là:

Đôi khi những đau đớn coi như quá tàn nhẫn cứ mãi đổ trên mình một cách vô lý, tôi thấy đời mình như đi vào thất bại. Một đàng tôi cảm thấy mình như đã trở thành gánh nặng cho người khác, một gánh nặng họ muốn loại trừ. Một đàng tôi như mất niềm tin vào lòng khoan dung của người khác. Đó là một nỗi đau lớn, gây nên thương tích trong lòng tôi. Nó ảnh hưởng nhiều đến cái nhìn của tôi về chủ nghĩa thực dụng đang tràn vào Hội Thánh tại Việt Nam.

Nhưng Chúa vẫn thương tôi. Chúa dạy tôi hãy cứ khiêm nhường cầu nguyện. Và kết quả là cho đến bây giờ tôi vẫn tin vững vàng vào Lời Chúa: “Phải qua đau khổ mới tới được Phục sinh”. Đau khổ là cái giá phải trả để cứu chuộc các linh hồn khỏi lửa hoả ngục.Đau khổ có nhiều thứ và nhiều mức độ, Chúa không thử thách ai quá sức của họ.

13.

Đau khổ đã và đang được báo trước cho các môn đệ Chúa, trong đó có tôi. Tôi không biết những gì sẽ xảy ra cho chúng ta. Riêng tôi, tôi vẫn chuẩn bị trong tâm hồn mình bằng những ước mong là được theo Chúa và ở bên Chúa, trên con đường thương khó của Chúa.

 

Tôi chuẩn bị như vậy. Còn thực tế cuộc đời tôi luôn ở trong tay Chúa. Tôi coi đây là điểm rất quan trọng trong việc đào tạo sống chân lý Tin Mừng đích thực. Cho dù đau khổ trăm bề, tôi tin tôi vẫn hạnh phúc, vì được ở bên Chúa. Người vẫn thương tôi. Tuy nhiên phải thú thực điều này: Rất nhiều khi, tôi đã xin Chúa đừng bắt tôi uống chén đắng. Rất nhiều khi, tôi đã vác thánh giá, mà ngã quỵ xuống đất. Rất nhiều khi, người khác đã vác thánh giá thay tôi. Rất nhiều khi, tôi đã thốt lên những lời than cô đơn, khi bị treo lên thánh giá. Vì tôi quá yếu đuối. Lạy Chúa, xin xót thương con. Con tin đau khổ là trường đào tạo con. Con cảm tạ Chúa đang đào tạo con bằng đường thánh giá.

Long Xuyên 08.3.2015

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

Suy Niệm Chúa Nhật I Mùa Phục Sinh, B

Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9

PHỤC SINH TÂM HỒN

 

Khi nói đến đá hay đá tảng, người ta thường nghĩ tới ý tốt, lẫn ý xấu. Chẳng hạn: Để chỉ một ý hướng tốt, người ta coi đá là chỗ dựa vững chắc. Trong Kinh Thánh vẫn nhìn nhận “Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn”. Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội trên đá tảng là thánh Phêrô: “Phêrô, con là đá. Trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Để chỉ tình cảnh người yếu chống lại thế lực mạnh, người ta nói: “Trứng chọi với đá”. Để chỉ một người lì lợm, người ta bảo: “Bộ mặt trơ như đá”.

Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh hôm nay cũng liên hệ đến đá: Tảng đá che chắn cửa mộ Chúa Giêsu. Với diễn biến của “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần” cùng sự kiện “tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ”, Mađalêna liền đi đến kết luận “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mồ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Còn Gioan, “Ông đã thấy và ông đã tin”.

Với tảng đá thất vọng, Mađalêna chỉ thấy tảng đá là sự kết thúc. Còn Gioan lại thấy niềm hy vọng khi tảng đá được lăn ra. Với tảng đá tham lam đè nặng và che khuất tâm hồn, Giuđa đã bán Thầy Giêsu với giá 30 đồng bạc. Với tảng đá của sợ hãi đè nặng, Phêrô đã chối Thầy đến 3  lần. Với tảng đá nhát đảm, các Tông Đồ đã bỏ trốn, vì sợ liên luỵ đến Thầy Giêsu.

Có lẽ mỗi người chúng ta cũng đang bị một tảng đá vô hình nào đó đè nặng tâm hồn mình. Tảng đá đó có thể là những đam mê nết xấu làm cho ta không còn thấy điều hay lẽ phải. Thánh Phaolô đã chia sẻ: “Điều tôi muốn, tôi không làm. Điều tôi không muốn, tôi lại làm”. Tảng đá đó có thể là những hận thù, chia rẽ, để rồi gây ra cảnh “con cái chống đối cha mẹ và làm cha mẹ phải chết”. Tảng đá đó có thể là những đam mê dục vọng, khiến nhiều người “tham vàng bỏ ngãi”, “đứng núi này trông núi nọ”, làm nhiều gia đình rơi vào cảnh “tan đàn xẻ nghé”. Và còn rất nhiều những loại tảng đá khác nữa…

Dù người Do Thái tin rằng tảng đá đã khóa chặt Đức Giêsu, người tự xưng là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu sống lại. Bởi thế niềm vui Phục Sinh là niềm vui của những người được Thiên Chúa lăn tảng đá ra khỏi tâm hồn họ, làm cho tâm hồn họ được bình an. Niềm vui Phục Sinh còn là niềm vui của những người được Thiên Chúa giải thoát khỏi những cắn rứt của lương tâm, cho họ được phục sinh trong tâm hồn.

Chẳng hạn như thánh Phaolô, Ngài đã sống trọn vẹn niềm vui Phục Sinh khi Thiên Chúa lăn cái vẩy ra khỏi mắt ông. Từ đó, ông nhìn thấy và dấn bước theo Chúa Giêsu. Chẳng hạn như Giakêu, như Lêvi. Các ngài đã được Chúa Giêsu giải thoát khỏi tảng đá của tội lỗi. Họ cảm thấy tâm hồn họ nhẹ nhàng thanh thản khi bước theo Chúa. Và còn biết bao tấm gương khác đã được giải thoát khỏi những tảng đá vô hình, để hân hoan bước theo Chúa Giêsu.

Còn ta thì sao? Tảng đá nào đang che lấp cuộc đời mình? Che lấp bao năm rồi? Ta có muốn lăn táng đá đó ra không? Tự sức mình, không ai có thể lăn tảng đá nết xấu, tội lỗi ra khỏi đời mình được! Vậy thì “Ai sẽ giúp ta lăn những tảng đó ra?” Thưa, chính Chúa Giêsu Phục Sinh. Ngài sẽ giúp ta lăn tảng đá đó ra khỏi đời mình; và làm cho tâm hồn ta được phục sinh. Ta sẽ thực sự sống lại với Chúa. Vậy ta hãy đến với Chúa. Ngài sẽ giúp ta.

Lạy Chúa! Con cảm tạ hồng ân cứu độ của Chúa. Xin cho con được ơn sống lại thật về phần linh hồn. Allêluia!

 

Suy Niệm Chúa Nhật II Mùa Phục Sinh, B

Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,19-31

PHỤC SINH TOÀN PHẦN

 

Ngày kia, có hai phụ nữ cùng đến gặp một linh mục để xin ngài chỉ giáo. Một người tự biết mình là kẻ tội lỗi nặng nề, nên chị tỏ ra rất đau buồn. Còn người phụ nữ kia thì luôn tự hào mình sống theo luật Chúa. Tuy chị có nhiều tội nhẹ, nhưng không phạm tội gì nặng đáng phải quở trách. Vì thế chị ta rất hài lòng về cuộc sống của mình.

Sau khi nghe hai người trình bày tình trạng tâm hồn của họ, vị linh mục nói với người phụ nữ có tội nặng như thế này: “Nước mắt con đã tràn mi vì hối hận. Vậy con hãy ra ngoài hàng rào kia, mang về đây cho cha một tảng đá to”. Rồi ngài nói với người phụ nữ có tội nhẹ rằng: “Phần con, tuy con không phạm tội gì nặng, nhưng con cũng hãy đi kiếm cho cha đầy một bao sỏi nhỏ, rồi mang về đây cho cha”.

Hai người phụ nữ vâng lời ra đi. Một lúc sau, họ trở về. Một người khuân một hòn đá to lớn; một người vác một bao đầy sỏi nhỏ. Bấy giờ vị Linh mục bảo người đàn bà tội lỗi nặng rằng: “Bây giờ con hãy vác hòn đá nặng nề này, đem đặt lại đúng vị trí mà con đã lấy nó. Xong việc, con hãy trở lại đây”. Rồi ngài cũng bảo người đàn bà kia: “Bây giờ con hãy đem những viên sỏi này đặt lại đúng vị trí mà con đã nhặt nó. Xong việc, con hãy trở lại đây”.

Một lát sau, cả hai người đàn bà cùng quay trở lại. Người đàn bà có tội nặng đã tìm thấy vị trí của hòn đá lớn rất dễ dàng, và đã đặt nó vào đúng vị trí cũ. Còn người đàn bà kia thì không thể nào nhớ chính xác được các vị trí của những viên sỏi mà bà đã nhặt. Bà đành quay trở lại gặp vị linh mục, với bao sỏi vẫn còn nguyên vẹn trên vai.

Bấy giờ vị linh mục mới giải thích cho người phụ nữ có tội nặng rằng: "Con thấy không? Con đã đặt tảng đá lớn vào đúng vị trí cũ của nó, vì con đã biết nó ở đâu. Tội của con cũng giống như thế".

Rồi ngài nói với người có tội nhẹ rằng: "Phần con, con không biết đặt những viên sỏi nhỏ này vào vị trí trước đây của chúng, vì chính con cũng không nhớ đã nhặt chúng ở những chỗ nào. Tội của con cũng thế. Người phạm tội nặng, thì nhận biết tội mình, chịu sự khiển trách của tha nhân và của chính lương tâm mình, nên đã có thái độ khiêm tốn; và do đó đã từ bỏ được các tội lỗi của mình. Còn con, con chỉ có những tội nhẹ, nhưng con không cảm thấy hối hận về những lỗi lầm ấy. Hơn nữa, con lại có thái độ tự mãn, nên con vẫn còn đeo trên mình những tội nhẹ đó!"

Câu chuyện của hai người đàn bà tội lỗi trên đây, phần nào cũng có nét tương tự như câu chuyện của Tông đồ Tôma trong bài Tin Mừng hôm nay. Cả hai bà đều nghi ngờ về tình trạng phục sinh của tâm hồn mình, nghi ngại về lòng thương xót của Chúa. Thế rồi cả hai đều được vị linh mục chỉ dạy cho thấy rõ tội lỗi của họ, giúp họ tin tưởng vào sự thứ tha tội lỗi của Chúa, để họ được phục sinh toàn vẹn tâm hồn.

Lòng sám hối ăn năn sẽ giúp ta sửa sai và được phục sinh hoàn toàn. Nhưng thử hỏi, có bao nhiêu người chịu nghĩ đến những lỗi lầm nho nhỏ của mình mà sám hối? Thiên Chúa không chỉ muốn ta phục sinh những lỗi nặng, mà Ngài còn muốn ta phục sinh cả những lỗi nhẹ. Đó chính là sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay. Thiên Chúa của chúng ta là Đấng Chí Thánh, là Người Cha rất giầu lòng thương xót. Ngài muốn ta phục sinh trọn vẹn con người mình.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh, B

Cv 3,13-15.17-19; 1 Ga 2,1-5a; Lc 24,35-48

PHỤC SINH CẢ NỖI SỢ

Biết bao sự dữ đang bao trùm cuộc đời ta. Sự dữ nhiều đến độ làm cho ta luôn bất an lo sợ. Người ta sợ thất bại, sợ rủi ro, sợ mất an ninh, sợ nghèo đói, sợ bị trả thù, sợ phải đối diện với sự thật. Sợ rất nhiều thứ. Có cái sợ làm cho ta “ăn không ngon, ngủ không yên”. Có cái sợ làm cho ta đánh mất niềm tin vào bản thân và người khác. Chẳng còn tin ai. Có cái sợ dẫn ta đến tuyệt vọng và buông xuôi tất cả.

Tâm trạng của các Tông đồ sau biến cố tuần thương khó là tâm trạng buồn sầu và đầy lo sợ. Họ sợ bị liên luỵ vì từng là môn đệ của tử tội Giêsu. Họ sợ phải về quê làm lại cuộc đời từ con số không. Họ sợ đường trở về còn rất nhiều bóng tối nghi nan.

Từ sợ hãi dẫn đến đánh mất niềm tin. Dù các ông đã được báo trước “sau ba ngày Thầy sẽ sống lại”, thế mà vì quá sợ, họ đã quên hết mọi sự. Các ông không còn dám tin vào ai. Dù các phụ nữ đã kể rõ ràng là họ đã gặp Chúa; Dù hai môn đệ đi làng Emmaus đã từng kể về cuộc hàn huyên với Chúa; Dù Gioan và Phêrô cùng chạy ra mồ, nhưng chỉ có Gioan thấy và tin, còn Phêrô thì không. Sợ hãi đã làm cho các ông hoa con mắt, đến nỗi “nhìn cò ra quạ”, nhìn thấy Chúa lại tưởng là ma!

Chúa Giêsu Phục Sinh đã phải quở trách các ông: “Sao các con lại hoảng sợ như thế. Ma đâu có xương có thịt như Thầy có đây!” Rồi Chúa chỉ cho các ông biết nguyên do của sự sợ hãi, là thiếu lòng tin: “Sao lòng anh em còn ngờ vực như vậy?” Đã bao năm các ông sống với Chúa. Đã nhiều lần các ông chứng kiến những phép lạ Chúa làm. Chính các ông đã từng nghe lời Chúa tiên báo “Sau ba ngày Thầy sẽ sống lại”. Thế mà các ông vẫn không tin.

Từ không tin dẫn đến sợ hãi. Các ông sợ bóng đêm của cuộc đời. Sợ những điều mới lạ. Sợ hãi dẫn đến tan đàn xẻ nghé. Mỗi người chạy một nơi. Đường ai nấy đi. Vì sợ hãi, nên các ông không dám nhìn đời, chẳng dám nhìn người. Vì sợ hãi, nên các ông chỉ biết co cụm trong căn phòng kín. Suốt ngày cửa đóng then cài trong tâm trạng nặng nề đầy u ám và sợ hãi.

Ngày hôm nay, nỗi sợ hãi vẫn bao trùm nhiều người. Có người sợ cho tương lai, vì ngày mai chẳng biết sẽ ra sao. Có người sợ những khốn khó của dòng đời sẽ xảy đến với mình. Có người sợ thế giới đời sau, biết có hay không, nên cứ buông mình theo đam mê hiện tại. Có người vẫn còn mang nặng mặc cảm sợ hãi về lỗi lầm của quá khứ. Vì sợ hãi, nên họ đánh mất niềm tin nơi Thiên Chúa. Họ tìm kiếm thế lực trần gian. Họ cố vun quén tiền tài để hưởng thụ. Họ quên rằng điều quan trọng của cuộc đời là sự bình an trong tâm hồn.

Không có sự bình an, thì cho dù có tiền, có quyền vẫn là đánh mất cuộc đời. Cuộc đời cần bình an như cá cần nước để sống. Cuộc đời không có bình an là sự bất hạnh. Thế nhưng sự bình an chỉ ngự trị nơi tâm hồn có Thiên Chúa. Có Thiên Chúa thì ta chẳng sợ gian nguy, vì ta đã hết lòng tin tưởng cậy trông nơi Ngài. Có Thiên Chúa thì ta không toa rập với sự dữ để làm hại nhau, để bán rẻ lương tâm, để rồi luôn lo sợ bị trả thù. Có Thiên Chúa, ta sẽ mang lại hoa trái là niềm hoan lạc, tươi vui, bình an và hy vọng cho chính mình.

Hằng ngày Chúa Phục Sinh vẫn tiếp tục đến bên cuộc đời ta, như xưa Ngài đã đến với các Tông đồ. Chúa vẫn đến với ta qua những biến cố vui buồn, qua những thăng trầm của dòng đời. Chúa vẫn đang mời gọi ta đặt cuộc đời mình trong bàn tay quan phòng của Chúa. Chính Chúa sẽ giúp ta phục sinh cả nỗi sợ, giúp ta lấy lại niềm tin.

 

Suy Niệm Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, B

Cv 4,8-12; 1 Ga 3,1-2; Ga 10,11-18

PHỤC SINH TÌNH MỤC TỬ

Có một thai nhi sắp chào đời. Nó hỏi Thượng Đế: “Thưa Ngài, có phải ngày mai Ngài sẽ đưa con vào đời không?” Thượng Đế trả lời: “Đúng đó con ạ!” Đứa bé đáp: “Nhưng làm sao con sống nổi ở đó, khi mà con quá nhỏ bé và bất lực như thế này?” Thượng Đế đáp: “Con hãy yên tâm, vì trong số các thiên thần, ta đã chọn cho con một người. Thiên thần của con sẽ ở bên con và chăm sóc con chu đáo”. Đứa bé lại hỏi: “Nhưng làm sao con có thể hiểu được, khi họ nói chuyện với con bằng ngôn ngữ mà con chưa hề biết đến?” Thượng Đế trả lời: “Thiên thần của con sẽ nói với con bằng những lời ngọt ngào và đẹp đẽ nhất, mà con chưa từng được nghe. Đồng thời với sự nhẫn nại và cẩn trọng, thiên thần của con sẽ dạy con biết nói những điều hay lẽ phải”. Đứa bé tiếp tục hỏi: “Con nghe nói ở chốn trần gian có lắm kẻ xấu xa. Vậy ai sẽ bảo vệ con?” Thượng Đế đáp: “Thiên thần của con sẽ luôn bảo vệ con. Cả khi điều đó đe dọa đến tính mạng của mình”. Đứa bé lại hỏi: “Nhưng con sẽ rất buồn, vì không còn được thấy Ngài nữa”. Thượng Đế trả lời: “Thiên thần của con sẽ luôn nói với con về Ta, và sẽ dạy cho con cách thức quay về với Ta, mỗi khi con lạc lối”. Sau cùng đứa bé hỏi: “Vậy thưa Ngài, nếu con phải đi ngay bây giờ, xin hãy cho con biết tên thiên thần hộ mạng của con là gì?” Thượng Đế mỉm cười trả lời: “Tên của người đó là gì, không quan trọng. Đơn giản, con chỉ gọi người đó là “Mẹ”. Nhớ nhé, người đó là mẹ con”.

Nếu người mẹ cần thiết cho đứa con như thế nào, thì người mục tử cũng cần thiết cho đoàn chiên như vậy. Lời Chúa hôm nay cho ta thấy chân dung của người Mục Tử Tốt Lành. Người mục tử luôn sống chết cho đoàn chiên và vì đoàn chiên. Người mục tử gắn liền đời mình với đoàn chiên, tựa như người mẹ gắn liền với định mệnh của từng đứa con.

Người mẹ được Thiên Chúa sắp đặt là để bảo vệ đứa con, chăm sóc, dạy dỗ và gìn giữ đứa con khỏi những nguy hiểm trong suốt cuộc hành trình đời nó. Không có mẹ, đứa con sẽ không lớn nổi thành người. Cũng vậy! Đoàn chiên không thể có đồng cỏ xanh tươi, có suối mát trong lành, nếu không được người mục tử miệt mài tìm kiếm. Đoàn chiên sẽ không thể sống an toàn khỏi cạm bẫy, nếu không có chủ chiên canh phòng với đầy đủ trách nhiệm và yêu thương.

Chúa Giêsu đã so sánh tình thương của Ngài như tình thương của người mục tử dành cho đoàn chiên. Ngài yêu thương con người, nên đã mang lấy thân phận con người để cùng đồng hành với con người. Ngài đã cùng chia vui sẻ buồn với con người, qua những thăng trầm của cuộc sống. Ngài đã sống một đời yêu thương và phục vụ, như một người đầy tớ phục vụ chủ nhân. Ngài đã đi đến tận cùng của tình yêu, là chết cho đoàn chiên được sống. Ngài còn hiến thân mình thành lương thực nuôi dưỡng đoàn chiên, qua bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày.

Hình ảnh người mục tử còn là hình ảnh của người cha, người mẹ đang ngày đêm lo lắng bảo vệ lũ cháu đàn con. Các ngài đã hy sinh cuộc đời vì hạnh phúc các con. Các ngài đã trải qua những mưa nắng khắc nghiệt của dòng đời, để mang lại cơm no áo ấm cho đàn con. Các ngài chấp nhận chịu mục nát như hạt lúa, cho con cháu lớn khôn, thành người, thành con của Chúa.

Hôm nay lễ Chúa Chiên Lành, ta hãy dâng lời cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội luôn có những vị mục tử hết lòng vì đoàn chiên. Cảm tạ Chúa đã ban cho ta có cha, có mẹ, luôn hết mình hy sinh cho ta. Xin Chúa cho các ngài luôn làm mới lại tình người mục tử, noi gương Vị Mục Tử Nhân Lành. Và xin Chúa phục sinh tình mục tử nơi những người đã đánh mất.

 

VAI TRÒ

GIA TRƯỞNG

Trung Thành

 

Lịch sử cứu độ trải dài qua các thế hệ và dòng tộc trong đó chúng ta thấy xuất hiện những người cha và cũng là gia trưởng đầy khôn ngoan, tận tụy và gương mẫu. Họ tiêu biểu cho Thiên Chúa là Cha, Đấng yêu thương nhân loại bằng tình yêu phụ tử thắm thiết, nhưng cũng như mọi người cha Ngài sử dụng quyền bính một cách mạnh mẽ để giáo dục, huấn luyện, và dẫn đưa con người đi vào đường lối của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói vắn tắt là, trong khi Tân ước dùng lại những hình ảnh mà Cựu ước mặc khải nơi những người cha trần thế, đã kiện toàn những hình ảnh này bằng cách cho thấy tử hệ duy nhất của Chúa Giêsu với Chúa Cha, để qua đó trình bày trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa đối với gia đình nhân loại. Như vậy từ những hình ảnh cụ thể mà trình thuật Kinh Thánh, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét để giúp các bậc gia trưởng trong thời đại ngày nay  chu toàn bổn phận của mình.

1.       Người cha làm chủ gia đình

Gia trưởng (oikodespotes) chỉ được dùng trong Tin mừng Nhất lãm. Ở đây, chúng ta hiểu là người đứng đầu gia đình, ông có vị thế của người đứng mũi chịu sào trong một gia đình; ông chủ động sắp xếp các công việc để duy trì và bảo vệ gia đình, chẳng hạn: thuê mướn nhân công để làm vườn nho (Mt 20,1,11; x.13,27); canh phòng căn nhà để khỏi bị trộm cướp (Mt 24,43; Lc 12,39); mở cửa cho một người bạn cần nhờ trong đêm (Lc 13,25); cho mời khách vào dùng tiệc (Lc Lc 14,21); chính một chủ nhà đã cho phép các môn đệ Chúa Giêsu chuẩn bị tiệc Vượt Qua tại nhà của ông (Mc 14,14; Lc 22,11). Những công việc này nói đến trách nhiệm của một người làm chủ gia đình. Trách nhiệm này cần nhiều đức tính trổi vượt để ông có thể chu toàn. Trong văn hóa du mục hay nông nghiệp của Israel, chúng ta có thể thoáng thấy một người làm chủ gia đình phải luôn khôn ngoan, linh lợi, có khả năng tiên liệu cũng như ứng phó nhanh trong mọi tình huống của cuộc sống. Nhờ những đức tính này ông có thể bảo toàn gia đình để vượt qua những thách đố và trở ngại bất ngờ xảy đến. Trong những nền văn minh còn sơ khai, thiên nhiên luôn đe dọa và xã hội đầy những biến động liên tục, nỗ lực sinh tồn trở thành khắc nghiệt. Chính lúc đó, người gia trưởng phải là chỗ dựa vững chắc cho gia đình nương tựa. Để có thể chu toàn trách nhiệm nặng nề như vậy, người gia trưởng không thể chỉ tin vào sức riêng của mình mà còn phải cậy nhờ ơn Chúa giúp. Vì thế, làm chủ gia đình cũng có nghĩa là luôn sống theo thánh ý Chúa và để cho Chúa hướng dẫn cuộc sống của mình. Ông cũng phải hướng dẫn những thành viên gia đình sống ý thức đó. Ở đây chúng ta liên trưởng đến thánh Giuse như là gương mẫu tuyệt hảo về người gia trưởng. Ngài đã được Chúa chọn để dưỡng nuôi Chúa Giêsu và gìn giữ Đức Maria vẹn toàn. Nhờ mau mắn thi hành ý Chúa và sống tín thác, ngài đã chu toàn vai trò gia trưởng gia đình Nazareth một cách tốt đẹp.

2.       Người cha lãnh đạo gia đình

Oikodespotes thể hiện quyền làm chủ của mình qua việc lãnh đạo. Ở đây chúng ta nói đến việc tổ chức, sắp xếp, quản trị một gia đình. Thiên Chúa đã đặt cho mỗi gia đình một sứ mệnh rất cao cả, coi đó như là một phiên bản của chính tình yêu Thiên Chúa. Một gia đình lộn xộn, bất hòa không thể làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa được. Có lẽ chính vì lí do này mà thánh Phaolô đã đặt tiêu chuẩn để chọn các giảm quản là họ phải biết điều khiển tốt gia đình của mình (1Tm 3,4). Sau đó ngài lại còn nhấn mạnh hơn: “Ai không chăm sóc người thân, nhất là người sống trong cùng một nhà, thì đã chối bỏ đức tin, và còn tệ hơn người không có đức tin” (1Tm 5,8). Hơn nữa, mỗi gia đình là một đơn vị xã hội, một tập thể đa dạng các khác biệt, do đó cần có sự quản lí tốt. Công việc này trong môi trường xã hội cụ thể của chúng ta được trao phó cho người cha. Có một lần Chúa Giêsu đã so sánh một kinh sư lí tưởng với một gia trưởng biết lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ (Mt 13,52). Chúa nghĩ rằng ông chủ nhà này vừa có kinh nghiệm dày dặn, lại vừa học biết cách xử lí từng vấn đề trong cuộc sống nên ông đã đáp ứng đòi hỏi một cách đúng mức. Tuy nhiên, như người ta vẫn thường nói, mọi ngành nghề trong thế giới hôm nay đều được đào tạo cẩn thận, chỉ riêng vai trò làm cha gia đình lại không được quan tâm. Vì thế, đa số người ta khi lên làm cha mẹ đã không biết phải đóng vai trò đó như thế nào cho sáng suốt. Thường chỉ khi làm cha mẹ người ta mới bắt đầu học nghệ thuật ấy, học theo kiểu “nghề dạy nghề”, tự học, học một cách mò mẫm, phải tự suy nghĩ để tìm ra phương pháp. Ở đây chúng ta không có thời giờ để nói việc điều khiển gia đình được thực hiện  như thế nào, mà chỉ muốn lưu ý các gia trưởng để các ông thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình.

3.       Trách nhiệm làm cha và làm chồng

Chúng ta có thể tóm gọn trách nhiệm kép này bằng công việc gọi là đồng hành. Hình ảnh này thật là thích hợp cho vai trò gia trưởng. Quả thực, người đàn ông được Thiên Chúa ban cho “một trợ tá tương xứng” với mình (St 2,18), do bởi “cái xương sườn đã được rút ra” từ ông (St 2,22). Vì thế nàng không phải là kẻ hầu người hạ, cũng không phải là thuộc cấp của ông, mà chính là người bạn đường của ông. Coi người vợ là người bạn đường mà người chồng có trách nhiệm đồng hành trên mọi bước đường đời, tức là đối xử với vợ “như một ngôi vị đặc biệt” (Phaolô VI, Humanae Vitae, 9). Những trách nhiệm mà người chồng đồng hành với vợ được thánh Phaolô nói tới trong Ep 5,25-33, trong đó chúng ta thấy rõ những đặc tính cốt yếu: tình yêu thương gắn bó, sự nâng đỡ tận tụy, sự hi sinh quên mình, sự tôn trọng tương kính. Và chính qua những hình ảnh này ngài cũng muốn nói đến tình yêu của Chúa Kitô đối với Hội Thánh. Thật là thiêng liêng và cao quý tình yêu phu phụ! Ngoài việc đồng hành với vợ người cha còn phải đồng hành với con cái. Trong nhiều trách nhiệm khác nhau mà người cha phải đảm nhận liên quan đến các phương diện giáo dục con cái, người ta thấy Tông huấn gia đình (Familiaris Consortio) lại lưu ý đặc biệt một khía cạnh, đó là phải tôn trọng con cái như một ngôi vị. Tông huấn viết: “Cần phải dành một sự chú ý đặc biệt cho đứa con, bằng cách phát huy lòng quý chuộng sâu xa đối với phẩm giá ngôi vị của nó, cũng như phát huy sự kính trọng thật to lớn đối với những quyền lợi của nó, những quyền lợi mà người ta phải phục vụ một cách quảng đại” (FC, 26). Tôn trọng con cái như một ngôi vị thì người cha phải đồng hành chứ không thể áp đặt ý chí riêng của mình trên đứa con. Không khe khắt độc đoán, không chủ quan nóng vội, ông phải trình bày chỉ dạy cho con cái những nẻo hành trình cuộc đời mà chính nó sẽ phải đảm nhận. Người cha trong Lc 15, 11-32 đã tôn trọng quyết định tự do của đứa con thứ khi nó muốn cha chia gia tài cho nó, mặc dù ông thấy trước những thất bại mà nó sẽ gặp. Thiên Chúa đã hành động như thế thì người cha trần thế cũng không thể làm khác trong việc hướng dẫn giáo dục con cái.

*

Sứ mệnh của người gia trưởng rất vinh dự mà cũng thật nặng nề. Họ biểu lộ tình cha của Thiên Chúa và khi sống lại tình cha trên mặt đất này, người nam được mời gọi đứng ra bảo đảm sự phát triển toàn vẹn cho mọi thành viên trong gia đình. Còn khi sống yêu thương chung thủy với người bạn đời của mình ông biểu lộ tình yêu của Chúa Kitô với Hội Thánh. Chớ gì mỗi gia trưởng luôn ý thức trách nhiệm của mình trước mặt Chúa và luôn nỗ lực trung thành thực hiện sứ mệnh Chúa trao.

 

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 4-2015

 

Qua các trình thuật sách Công vụ Tông đồ được đọc trong Mùa Phục Sinh chúng ta thấy được nhiều người đã nỗ lực xây dựng cộng đoàn Hội Thánh như thế nào? Bạn sẽ thấy rõ điều đó qua việc trả lời các câu hỏi đưới đây:

1.       Một trong hai người được dành riêng cho việc truyền giáo, đó là ai?

2.       Người phụ nữ nào chết được ông Phêrô làm cho sống lại?

3.       Ai là cộng sự viên của thánh Phaolô có mẹ là người Do Thái, cha là người Hi Lạp?

4.       Người phụ n? nào ở Thyatira đã thu xếp cho cả nhà được chịu phép rửa?

5.       Người phụ nữ nào đã bị phạt chết vì gian dối?

6.       Ai nhận ra tiếng ông Phêrô nhưng lại quên mở cửa cho ông vào?

7.       Vị tông đồ nào thuyết giảng mà lôi cuốn được ba ngàn người theo đạo?

8.       Vị phó tế nào bị ném đá chết vì tuyệt đối trung thành với Chúa?

9.       Ai làm cho mắt ông Saolô được sáng trở lại?

10.     Ai được chọn để thay thế Giuđa Ítcariốt?

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 2-2015

Những từ ngữ được xếp lại:

HOA CỎ, CHIM TRỜI, KÉM TIN, DÂN NGOẠI, MẠNG SỐNG, ÁO MẶC,

VINH HOA, CÔNG CHÍNH, LO LẮNG

Hàng chữ cuối cùng: NĂM MỚI

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 2-2015:

1.       Marie Denise Ngọ Thị Hai, Gx. Chánh Tòa, LX.

2.       Têrêsa Nguyễn Thị Lan Anh, Gx. Cù Lao Giêng, AG.

3.       Maria Đỗ Thị Ngọc, dòng Đa Minh, P.16, Q. Gò vấp.

4.       Maria Nguyễn Thị Ngọc Quyên, Gx. Dương Đông, PQ

5.       Phêrô Bùi Thanh Lâm, Gx. Năng Gù, Châu Thành , AG

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                   - Email: jostrung.trung@gmail.com

                   - Điện thoại: 01672576777

                   - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên Giang?

THÔNG BÁO

Về cuộc Đố Vui Kinh Thánh trực tiếp

2015

 

Nhằm trao đổi kinh nghiệm và khích lệ nhau học hỏi Lời Chúa, Ủy Ban Kinh Thánh sẽ tổ chức Cuộc Thi Đố vui Kinh Thánh trực tiếp, với một số điểm cần biết như sau:

1. Buổi Đố Vui được tổ chức vào ngày Chúa nhật 21 tháng sáu, 2015 tại Đài Đức Mẹ, Tân Hiệp.

2. Không giới hạn điều kiện tham dự (tuổi tác, trình độ văn hóa, giới tính, thành phần…)

3. Nội dung thi gồm:

- Sách Công vụ Tông đồ;

          - Các câu Giáo Lí Cộng Đồng (được in trong Lịch Phụng Vụ Giáo phận Long Xuyên)

4. Phần đăng kí ghi tên (tên thánh, tên họ, tên gọi), tuổi, số điện thoại (nếu có), thuộc giáo xứ nào.   Xin gửi về địa chỉ của người phụ trách mục Câu đố Kinh Thánh trong tập tĩnh Tâm trước tháng sáu. Mời các bạn đăng kí sớm và phổ biến cho những người khác cùng tham dự!

          Sau cùng, chúng con kính nhờ quý cha giúp phổ biến thông báo này, đồng thời khích lệ và tạo điều kiện cho các em tham dự chương trình huấn giáo bổ ích này. Xin chân thành cám ơn!

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Sứ mạng Giáo Hội

Sứ mạng của Giáo Hội quá lớn và gần như vượt sức người. Có lẽ người ta khó mô tả đầy đủ được sứ mạng đó. Thánh Phaolô có lần dùng chữ thật kêu để nói về Giáo Hội, bảo đó là cột trụ và nền móng của chân lý. Ngài nói, đó là thầy dạy đức tin do Chúa cắt cử, đồng thời có nhiệm vụ canh giữ không để mất chân lý đức tin và không để sai lầm nào thấm nhập vào giáo huấn. Phải chăng Giáo Hội là ông từ nghiêm khắc canh giữ đền thánh?

Trong các thư quan trọng của Phaolô, ta thấy ngài viết rằng, Giáo Hội là kẻ cưu mang sống động chân lý của Chúa Kitô. Giáo Hội có nhiệm vụ giữ gìn chân lý đó, có thể nói là cột trụ của chân lý đó; và Giáo Hội cũng sống, truyền bá chân lý đó một cách sống động và dễ hiểu, để chân lý được triển nở. Chúng ta cũng đã nghe, Giáo Hội luôn được Thánh Linh hướng dẫn để tìm tới sự thật, vì thế nơi giáo huấn hai yếu tố trung thành và tiến bộ nối kết với nhau.

Luther đã phản đối điều đó, bảo rằng, chẳng cần giáo huấn Giáo Hội, chỉ có Kinh Thánh là đủ. Ông bảo, giáo huấn là kiêu ngạo, mỗi người có thể tự mình hiểu Kinh Thánh, nếu đọc một cách đúng đắn. Ngày nay ta thấy càng ngày càng rõ, là kinh sách thường mang nghĩa đôi. Lời Chúa chỉ sống động trong Giáo Hội, nên phải bước vào trong đời sống Giáo Hội. Như thế, ta cũng cần một cơ quan được ủy quyền diễn giải. Cơ quan đó dĩ nhiên phải hiểu là nó không đứng trên, nhưng đứng dưới Lời Chúa và phải lấy lời đó làm chuẩn. Ngoài ra, trong lãnh vực này, hiện nay đã có những cuộc trao đổi làm hòa giữa các Giáo Hội. Qua đó, phía Công giáo đã phải bỏ đi một số nội dung diễn giải Lời Chúa, trong khi phía Tin Lành đang đưa việc diễn giải đi vào thẩm quyền của Giáo Hội. Từ những nhận thức đó, hệ quả sau đây nảy sinh theo thời gian: Nếu lời diễn giải của Giáo Hội có giá trị bó buộc, thì Giáo Hội phải có một lực đỡ, một soi sáng nào đó, để Giáo Hội có thể diễn giải đúng như Chúa Thánh Linh, Đấng dẫn dắt mình, muốn. Với lối nghĩ đó, cuối cùng, huấn giáo không sai lầm (bất khả ngộ) đã hình thành.

Điểm này hẳn cần phải giải thích thêm.

Để không bị lạm dụng và hiểu lầm, điểm này, dĩ nhiên, phải được hiểu thật đúng trong khuôn khổ giới hạn của nó. Không phải mọi lời do giáo quyền hay giáo chủ nói ra, đều không sai lầm. Nhưng chỉ những gì mà Giáo Hội, sau những cuộc đấu tranh tinh thần khó khăn trong lịch sử và qua quá trình cầu nguyện suy tư lâu dài, tuyên bố đây là điều diễn giải chính thức. Và như thế, nhờ ơn soi sáng, Giáo Hội vạch ra nơi đây một lằn ranh để giúp con người khỏi rơi vào lầm lạc, và đồng thời cũng để nói cho họ hay rằng, Giáo Hội không phải là một dụng cụ phá hoại lời Chúa, song là người Mẹ và là chủ thể, qua đó lời Chúa được sống động, được phát biểu đúng và được diễn giải đúng. Nhưng như đã nói, tất cả phải có điều kiện. Có nghĩa là tất cả những ai mang trách nhiệm trong Giáo Hội phải phục tùng những điều kiện đó trong tinh thần trách nhiệm cao. Họ không được lấy ý mình ra để quàng lên Giáo Hội, nhưng phải đứng vào trong cộng đoàn đức tin chung với tinh thần phục vụ và lắng nghe lời Chúa. Họ phải để cho lời đó hướng dẫn và tẩy gội cuộc sống, có như thế họ mới có thể diễn giải lời Ngài đúng được.  

Sứ mạng Giáo Hội rõ ràng cũng bao gồm cả tinh thần đối kháng và nhận lỗi. Với tinh thần đó, Giáo Hội có một chút gì phản kháng, quá khích và khác người. Nếu tôi không lầm, thì Giáo Hội luôn chống lại mốt độc tài. Giáo chủ (Gioan Phaolô II) đã dùng tiếng nói tông đồ của mình để phản đối thế giới và coi đó là nhiệm vụ cao cả của mình: Hãy phản đối, ngài đã kêu gọi như thế. Chống lại quyền lực của thực tại, chống lại cái quá trớn của chủ nghĩa vật chất và chống lại sự mù loà của một thế giới vô đạo đức. Sứ mạng của Giáo Hội, hẳn nhiên, bao gồm việc sẵn sàng phản đối và đối kháng. Ta đã thấy, con người luôn có khuynh hướng chống lại những lời từ trên xuống; họ muốn được thoải mái, muốn được tự quyết định cái gì họ muốn, bằng cách tự đặt ra những ý thức hệ, tự tạo ra cho mình một mốt thời trang và đi theo mốt sống đó.

Hãy trở lại lần nữa với lời tiên tri của Simêon. Ông đã nói về Chúa Kitô: Con trẻ này sẽ là dấu cho người ta chống. Và ta hãy nhớ lại chính lời Đức Giêsu: «Tôi không đến để đem bình an, nhưng đem gươm giáo». Câu nói đó cho thấy sứ mạng to lớn và quan trọng của Giáo Hội chống lại thời thượng, quyền lực của thực tại và độc tài của ý thức hệ. Ngay thế kỷ trước, Giáo Hội cũng đã phản kháng lại những nền độc tài lớn. Và ngày nay, chúng ta đau buồn thấy sự phản đối của Giáo Hội quá yếu, tiếng nói phản kháng của chúng ta đã không kiên quyết và  đủ lớn cho thế giới nghe. Nhưng cám ơn Chúa đã có những gương tử đạo. Trong khi giáo triều yếu đi vì tế nhị ngoại giao, thì các vị tử đạo đã trả giá cái mâu thuẫn đó bằng chính cuộc sống mình. Hẳn nhiên, không phải phản kháng vì thích phản kháng, hay là một phản ứng suông hoặc vì cảm thấy bất lực trước viễn ảnh tương lai. Mà thái độ hay hành động đó phải luôn mở ra cho cái thiện mọi thời, cho cái mới gói gém trong mọi thời đó, cái mới đó cũng luôn mở ra những chiều kích hoàn toàn mới của lời Chúa. Lại nữa, khi hành động, ta cũng không được vì bất cứ lí do gì đẩy đức tin ra lề hay để cho nó bị lu mờ đi. Phải chống lại những gì ngược lại với Thiên Chúa, cho dù vì thế mà mình phải tự chống mình, cho đến phải can đảm chấp nhận tử đạo. (Còn tiếp).

 

CHUYÊN ĐỀ GIÁO XỨ & GIA TRƯỞNG

MỘT CỘNG ĐOÀN "ĐI RA"

 

Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói, ngài muốn "một Hội Thánh mở cửa" (EG 46). Mong muốn này của Đức Giáo Hoàng rất phù hợp và rất đáng để chúng ta, mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Xứ, suy nghĩ trong bối cảnh của Năm Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống Các Giáo Xứ.

"Một Hội Thánh mở cửa", theo Đức Giáo Hoàng, không phải là môt Hội Thánh chỉ "mở cửa" để chào đón hay để cho người khác vào, mà là một Hội Thánh, mà những người sống trong đó, phải can đảm và sẵn sàng "đi ra" để đến và để sống với con người. Thực vậy, Hội Thánh như là con đường hai chiều: mở cửa ra để chào đón người khác, nhưng trước hết, những người trong đó cũng phải biết sẵn sàng đi ra để đến với họ.

          Quả thế, để sống Năm Tân Phúc Âm Hóa, cộng đoàn Giáo Xứ cũng cần phải "mở cửa" ra đối với mọi người. Mở cửa ra để chào đón mọi người, nhất là những người khô khan nguội lạnh, những người đau khổ và kém may mắn, và những người chưa biết Chúa. Mở cửa để chào đón mọi người như vậy cũng có nghĩa là làm cho Giáo Xứ mình trở nên thân thiện với mọi người, trở nên nơi mà mọi người cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa nơi những con người mà họ sống với, cảm nhận được sự ấm áp của tình người.

Tình yêu của Thiên Chúa và sự ấm áp của tình người được thể hiện cách cụ thể qua những buổi qui tụ của Giáo Xứ, nhất là qua Thánh lễ và các buổi sinh hoạt đạo đức của các Hội Đoàn. Đây chính là dịp để củng cố và nuôi dưỡng đời sống đức tin, tình bác ái, niềm hy vọng và sự hiệp nhất của cộng đoàn Giáo Xứ.

Củng cố nội bộ, làm cho Giáo Xứ mình trở thành một cộng đoàn sống đức tin, một cộng đoàn sống hòa giải, chan chứa tình Chúa và tình người là điều quan trọng và là bước đi  đầu tiên trong việc sống Tân Phúc Âm Hóa. Bước tiếp theo và là bước thực sự cho thấy một Giáo Xứ là một cộng đoàn sống Tân Phúc Âm Hóa là phải "mở ra". Nghĩa là phải can đảm và sẵn sàng "đi ra" để đến sống với những người khô khan nguội lạnh, những người đau khổ, kém may mắn và những người chưa nhận biết Chúa.

"Đi ra", trước hết là đi ra khỏi chính mình - đi ra khỏi sự ích kỷ nhỏ nhen, đi ra khỏi cục bộ phe nhóm, đi ra khỏi những cái nhìn định kiến, soi mói về người khác, nhất là đối với những người khô khan nguội lạnh, những người đau khổ, kém may mắn và những người chưa nhận biết Chúa. Chỉ khi mỗi người trong Giáo Xứ biết "đi ra" khỏi chính mình như vậy thì mới có thể xây dựng Giáo Xứ mình thành một cộng đoàn sống đức tin, một cộng đoàn của hòa giải, một cộng đoàn chan chứa tình Chúa và tình người.

Cũng trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô lưu ý rằng, trong toàn bộ lịch sử cứu độ, Thiên Chúa mời gọi dân của Ngài đi ra khỏi chính mình, hướng đến việc phục vụ cho kế hoạch cứu độ của Ngài. Thiên Chúa đã gọi Abraham ra đi để đến miền đất mới. Ngài đã gọi Môsê để dẫn dân ra khỏi Aicập. Ngài đã dùng tiên tri Giêrêmia để kêu gọi dân cứng đầu sám hối.

Khi đến trần gian, chính Chúa Giêsu đã đi ra khỏi thành Nazaret để rao giảng Tin Mừng, với khát khao chia sẻ cho con người tình yêu của Thiên Chúa. "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó" (Mc 1, 38). Và rồi Ngài cũng đã mời gọi các môn đệ của Ngài làm như vậy: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19-20). Như thế, là Kitô hữu, cũng là những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta cần phải thực hiện lệnh truyền của Chúa để ra đi làm chứng cho Tin Mừng của Thiên Chúa.

"Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" có nghĩa là "đi ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng 'ngoại vi' đang cần ánh sáng Tin Mừng" (EG 20). "Đi ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng đất 'ngoại vi'" nghĩa là "đi ra" để đến và sống với những người đang cần chúng ta. Quả vậy, chúng ta chỉ có thể thắp sáng lại ngọn lửa đức tin nơi những con người nguội lạnh, chúng ta chỉ có thể đem niềm an ủi và niềm hy vọng đến cho những người đau khổ, những người kém may mắn và bị bỏ rơi, chúng ta chỉ có thể đem ánh sáng Tin Mừng của Thiên Chúa đến cho những người chưa nhận biết Ngài khi chúng ta ra đi để đến và sống với họ.

Với lệnh truyền "hãy đi", Chúa Giêsu đã cho các môn đệ thấy được tầm quan trọng của việc truyền giáo không phải là "chờ" người khác đến với mình, nhưng là đến với họ. Trong sứ vụ Phúc Âm Hóa, chúng ta thường hay bị cám dỗ  tập trung nỗ lực vào việc "chờ người khác đến với mình, thay vì "đi ra" để đến với họ. Chính vì bị cám dỗ "chờ" người khác đến với mình, nên chúng ta chỉ nỗ lực lo củng cố nội bộ, đóng khung việc sống đạo trong phạm vi Giáo Xứ, trong nội bộ đoàn thể. Và, còn nguy hiểm hơn là chúng ta biến việc sống đạo và những sinh hoạt đạo đức theo hình thức thương mại. Nghĩa là, chúng ta chỉ tập trung vào những hình thức bề ngoài, cũng có những cạnh tranh giữa các Giáo Xứ này với nhau, giữa Hội Đoàn này với Hội Đoàn khác …, và đánh mất sự thánh thiêng của những sinh hoạt đạo đức và việc sống đạo. Chúa Giêsu đã không làm như vậy. Khi rao giảng Tin Mừng, Ngài đã không phát những tờ rơi để quảng cáo hầu thu hút dân chúng đến với Ngài. Ngài đã đến với dân chúng, sống với họ hầu chia sẻ với họ chính cuộc sống mà họ đang sống. Ngài đã ra đi để tìm "những con chiên lạc". Và ưu tiên hàng đầu của Chúa Giêsu là băng bó những vết thương cho những con chiên bị thương tích, phục hồi lại phẩm cách cho những con chiên bị lạc, những con chiên bị bỏ rơi…

"Đi ra" để đến và sống với, thực sự, đó là việc ta nỗ lực sống tốt, sống đúng với phẩm giá là một con người và là một người con Chúa, để rồi ta giúp cho người khác sống tốt phẩm giá của họ; chứng nhận cho họ biết rằng, dù cuộc đời họ thế nào thì họ vẫn luôn được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ cho họ. Ngài muốn nâng họ dậy, và giải thoát họ khỏi ách nô lệ của tội và cho họ cơ hội để sống với phẩm giá của chính họ. Đi ra khỏi chính mình để đến và sống với người khác hầu chia sẻ cho họ tình yêu của Đức Kitô có thể thực hiện cách rất tự nhiên với tất cả những người mà Thiên Chúa gởi đến trong cuộc đời chúng ta - trong gia đình, ở trường học, nơi công sở, ngoài xã hội. Và, sống hòa giải, yêu thương, xây dựng sự hiệp nhất và bình an tại những nơi ta hiện diện chính là những việc làm cụ thể ta cần phải nỗ lực sống khi sống với người khác.

Tóm lại, có nhiều cách để ta sống năm Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống Các Giáo Xứ. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, việc "đi ra" để đến và sống với người khác là điều cần thiết và cấp bách. Thấy được điều đó nên vị Cha Chung của chúng ta, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, mong muốn và mời gọi chúng ta phải biết sẵn sằng "đi ra", theo lệnh truyền của Chúa Giêsu: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ". Ước mong mọi thành phần dân Chúa trong mỗi Giáo Xứ, nhất là những người có trách nhiệm, biết nỗ lực xây dựng cộng đoàn Giáo Xứ mình trở thành một cộng đoàn biết mở ra để chào đón mọi người, qua việc biết sẵn sàng đi ra để đến và sống với họ.

Hương Quê

 

CHỤP CẮT LỚP GIỚI GIA TRƯỞNG

Đóa Hoa Vô Thường

“Chụp cắt lớp” là một từ ngữ chuyên môn trong ngành y. Nguyên văn của từ ngữ này là “chụp cắt lớp vi tính” (Computer Tomography Scanner). Chụp cắt lớp vi tính còn được gọi là chụp CT, là một phương pháp kiểm tra bằng X-quang tiên tiến có sử dụng kĩ thuật chụp X-quang và máy tính, để thu được các hình ảnh bên trong cơ thể. Vì thế “chụp cắt lớp” đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện và chẩn đoán các bệnh tật.

Tôi muốn dùng hình ảnh “chụp cắt lớp” ấy để liên tưởng đến việc “chụp cắt lớp giới gia trưởng”. Hi vọng nhờ kĩ thuật chụp cắt lớp này, ta có thể phát hiện ra cái “tính gia trưởng” của mình đang ẩn núp đâu đó trong chính bản thân.

Tính gia trưởng là gì? Theo từ điển Tiếng Việt, “người gia trưởng là người chủ trong nhà”. Vì là chủ trong nhà, nên có quyền điều khiển và chi phối mọi thành viên trong gia đình. Nhưng theo một nghĩa rộng hơn, thì “tính gia trưởng” đã vượt ra khỏi phạm vi gia đình. Nó ẩn mình trong rất nhiều người, không phân biệt nam hay nữ, già hay trẻ. Vì thế có người đã nói “tính gia trưởng” là “bệnh gia trưởng”, một căn bệnh mãn tính, hay lây và có sức tàn phá ghê gớm. Người mang căn bệnh này thường cho mình là người hoàn hảo, là mẫu mực, là người chỉ đạo, nên thường ra lệnh, áp đặt người khác tuân theo ý mình.

Hậu quả của “tính gia trưởng” là làm nảy sinh biết bao thảm cảnh bạo lực trong gia đình hay đời sống cộng đoàn, làm cho các thành viên luôn sống trong bầu khí ngột ngạt, sợ hãi và bất an. Nếu ta thực tâm muốn chữa trị “tính gia trưởng”, thì hãy đến với Chúa Thánh Thần. Ngài là Vị Bác Sĩ giải phẩu thẩm mĩ chuyên khoa về tâm hồn. Ngài sẽ giúp ta hoàn thiện con người mình theo hình ảnh của Chúa. Hôm nay dưới lăng kính của máy chụp cắt lớp hiệu Kinh Thánh, ta thử khám phá một vài dấu chỉ chứng tỏ một người có “tính gia trưởng”.

Thứ nhất: Đó là người độc đoán. Mẫu người này luôn tự cho mình là số một, là duy nhất đúng, là người có tiếng nói quyết định. Vì thế họ cũng rất dễ nổi nóng, dễ quát nạt người khác khi phải xử lý những công việc mà họ chưa đồng ý, hoặc chưa thông qua. Không những họ thích xét đoán, mà lại còn độc đoán nữa. Thế mới khổ. Trong gia đình, họ là người chỉ huy thượng cấp, luôn mang tính áp đặt trên mọi thành viên. Tuy mọi việc họ làm đều lấy danh nghĩa là “vì vợ vì con”, nhưng chính cái tính độc đoán của họ lại làm khổ vợ con hơn ai hết.

Xưa kia ông Phêrô cũng có cái tính độc đoán này, khi ông góp ý quyết liệt với Chúa Giêsu trong cuộc thương khó. Kinh Thánh kể: Ông kéo Chúa Giêsu ra một chỗ và nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. Vừa nghe xong ý kiến chỉ đạo của Phêrô, Chúa Giêsu đã quay lại bảo ông: “Xatan, lui ra đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà của loài người” (Mt 16, 22-23). Xem ra sống với người có tính độc đoán cũng hơi bị mệt đấy!

Thứ hai: Đó là người độc tài. Trong gia đình, họ luôn lấy cớ bảo vệ hạnh phúc gia đình, để quản lý vợ con rất chặt. Họ sẵn sàng chen chân vào mọi sinh hoạt riêng tư của các thành viên trong gia đình, từ việc quản lí tiền bạc, quan hệ bạn bè, học tập của các con, đến việc chi tiêu, quần áo, sách vở, điện thoại, ăn uống. Họ muốn phủ sóng 24/24 trong gia đình. Vì thế, không những họ áp đặt ý kiến chỉ đạo của họ trên mọi thành viên, mà còn cấm đoán hay ra lệnh cho vợ con từ những việc rất nhỏ. Nhất nhất mọi người phải răm rắp tuân theo sự xếp đặt của họ. Người nào cố tình đi ra ngoài vùng phủ sóng của họ, là y như rằng họ nổi cơn thịnh nộ và thậm chí ghét bỏ không thương tiếc.

Kinh thánh nhắc tới bạo vương Hêrôđê Antipa. Ông này đã giết Gioan Tẩy Giả vì Gioan đã dám nói sự thật, đã dám đi ra ngoài tầm kiểm soát của ông (Mc 6, 17-29). Ông còn tìm cách giết cả Chúa Giêsu, vì Ngài không chấp nhận sự quản lí độc tài của ông (Lc 13, 31-35). Trong gia đình, nếu người chồng có “tính gia trưởng”, thì không cho vợ con quyền tự quyết nào cả. Nếu ai không làm đúng ý họ, họ sẽ giận dỗi và không tiếc lời trách móc. Người có “tính gia trưởng” luôn biện minh rằng: Mọi hành động của mình là muốn tốt cho gia đình, muốn bảo vệ vợ con. Họ cảm thấy tự tin và hãnh diện khi thấy vợ con ngoan ngoãn dưới sự che chở bao bọc của họ. Xem ra sống với người có tính độc tài cũng hơi bị mệt đấy!

Thứ ba: Đó là người độc tôn. Họ hay đổ lỗi và thích sử dụng bạo lực. Trong giao tiếp hay làm việc chung, người có “tính gia trưởng” thường không cho ai có cơ hội bào chữa hay nói lời giải thích. Họ thường xuyên to tiếng theo kiểu “cả vú lấp miệng em”, hoặc sử dụng quyền hành để bắt người khác phải “im hơi lặng tiếng” theo ý họ. Hậu quả là không có sự “tâm phục khẩu phục”, hoặc chỉ ráng mà “vâng” chứ không “phục”. Nếu có ai góp ý về thái độ độc tôn của họ, thì họ lại tìm cách đổ lỗi cho người này, người kia với đủ mọi thứ lí do. Nhưng tuyệt nhiên họ không hề nhận lỗi.

Có một giai đoạn, Phaolô là con người như thế. Ông sống cùng thời với Chúa Giêsu và là ngôi sao đang lên của trường phái Pharisiêu. Chắc chắn Phaolô phải biết những gì đã xảy ra ở Giêrusalem. Có thể ông đã nhìn thấy việc Chúa làm, đã nghe lời Chúa giảng. Nhưng vì có tính độc tôn, nên Phaolô rất ghét Chúa Giêsu, vì Ngài đã phá đổ những gì ông vẫn nhiệt thành tin tưởng. Sau cái chết của Chúa Giêsu, ông thở phào nhẹ nhõm, ông tưởng phong trào “lạc giáo” đó sẽ tan theo. Nhưng ngược lại, con số tín hữu Kitô ngày một đông, khiến Phaolô điên tiết. Ông xin trát để lùng bắt tất cả những người theo “Đạo” và đưa về Giêrusalem trừng phạt. Xem ra sống với người độc tôn cũng hơi bị mệt đấy!

Thứ bốn: Đó là người độc chiếm, hay ghen. Có lẽ phát xuất từ sự độc đoán, mà người có “tính gia trưởng” cũng thường hay ghen. Kinh Thánh kể lại nhiều trường hợp ghen tương. Chẳng hạn: Cain ghen với em mình là Aben (Stk 4,5); Sara ghen với Agar (Stk 16,1 tt); Anh em con ông Giacop ghen với Giuse (Stk 37,1-38), Trong gia đình, nếu người chồng có tính hay ghen, thì chỉ cần nhìn thấy người vợ cười cười nói nói vài lời bông đùa với người khác phái, là họ gán cho người vợ tính lẳng lơ. Rồi nhờ cái tính độc đoán xúi bẩy thêm, họ cho rằng mình đã nói là không sai. Vì thế nếu người vợ càng lên tiếng thanh minh, thì họ càng nghĩ vợ có tật giật mình, và không tiếc lời mắng nhiếc thậm tệ. Nhiều trường hợp đi đến cảnh đổ vỡ.

Người ta bảo rằng: “Có yêu thì mới ghen”. Cũng đúng thôi. Nhưng trong tiếng Việt, chữ “Ghen” lại thường đi đôi với chữ “Ghét”, chữ “Tị”, chữ “Tức”. Nên vô hình trung đã ghép thành từ ngữ “Ghen-ghét”, “Ghen-tị”, “Ghen-tức”. Chưa hề nghe thấy hai chữ “Ghen-yêu” bao giờ. Vì thế, xin đừng nghĩ rằng vì yêu quá hóa ghen. Không phải như thế đâu. Ghen tương là dấu chỉ của “tính gia trưởng”. Thánh Phaolô nói: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không nóng giận, không nuôi hận thù”. (1Cr 13,4tt). Thánh Giacôbê tông đồ nói: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, thì ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3,16). Xem ra sống với người có tính ghen tương cũng hơi bị mệt đấy!

Kết luận: Những dấu chỉ độc đoán, độc tài, độc tôn, độc chiếm trên đây chỉ là những biểu hiện của người có “tính gia trưởng”. Sống và làm việc chung với loại người này hơi bị mệt đấy! Nhưng ta phải tập sống với họ như là “sống chung với lũ”, vì “kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai” (Phạm Duy). Kinh nghiệm cho thấy, nếu muốn sống chung với người có “tính gia trưởng”, thì ta nên áp dụng nguyên tắc: không nghe, không thấy, không biết. Sở dĩ phải chọn cách sống này, vì người có “tính gia trưởng” thường thích chỉ đạo, thích người khác phục tùng, thích thể hiện quyền lực, không thích góp ý. Nếu ta gân cổ lên cãi, thì chỉ làm cho mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn. Thôi thì cách tiêu cực, ta cứ lờ đi, cứ im lặng, cứ ậm ừ cho xong. Với thời gian, họ sẽ nhận ra sự phản ứng bất bạo động của ta. Khi đó, ta sẽ nhẹ nhàng trao đổi với họ về những suy nghĩ trong lòng mình, hi vọng đôi bên sẽ hiểu nhau hơn. Đồng thời tích cực hơn, thì hãy cầu nguyện cho mình và cho họ được ơn biến đổi. Hãy vững tin vào sự hoạt động kì diệu của Chúa Thánh Thần, “Đấng đổi mới mọi sự” (Kh 21,5a).

 

 

NHẪN YÊU THƯƠNG

 

1- Một nhóm thợ lặn phát hiện một chiếc thuyền bị chìm cách đây hơn 400 năm, ngoài khơi nước Ái Nhĩ Lan. Một trong những báu vật họ tìm thấy trên thuyền là chiếc nhẫn cưới của một người đàn ông. Trên chiếc nhẫn khắc hình một bàn tay đang dâng một trái tim với hàng chữ “em không còn gì hơn để cho anh”. Trong tất cả kho tàng tìm thấy được trên thuyền, không có gì làm xúc động nhóm thợ lặn cho bằng chiếc nhẫn cưới và những lời cao đẹp của tình yêu.

2- Nhẫn cưới là một vòng tròn nói lên sự vô biên vô tận, không có khởi đầu và cùng tận :”Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này, để làm bằng chứng tình yêu và lòng trung thành của em (của anh). Trao nhẫn cho nhau nêu bật hai đặc tính căn cơ của hôn nhân công giáo: Đơn nhất (một vợ một chồng) và bất khả phân ly (không ly dị, ly thân). Thật ý nghĩa việc khắc ghi lời thề hoặc tên người yêu trên chiếc nhẫn cam kết của mình; quan trọng hơn nữa là khắc tên nhau trong tim. Trong lễ cưới, cần có chiếc nhẫn; sau lễ cưới, cần có chữ NHẪN. Tại sao ?

3- Theo các chuyên gia tâm lý, và dựa trên kinh nghiệm ngàn đời của những người từng trải, cuộc sống vợ chồng không chỉ toàn là màu hồng yêu đời, thuận buồm xuôi gió, mát mái thuyền trôi, mà sẽ phải trải qua nhiều khủng hoảng. Đặc biệt là :

Khủng hoảng vỡ mộng: Ở trong chăn mới biết chăn có rận. Sau lễ cưới, về chung sống với nhau, những mộng tưởng mộng đẹp xưa bắt đầu tan biến, nhường chỗ cho thực tế phũ phàng. Chàng hổn hển ngộp thở với bổn phận và trách nhiệm. Nàng gò bó trong nghĩa vụ làm vợ làm dâu. Hôn nhân không như mình tưởng: Làm chồng không đơn giản, làm vợ không dễ dàng. Chung sống với nhau, mọi mặt nạ che giấu trước đây nay rớt xuống, trả lại con người thật của đời thường, khám phá ra mặt trái của nhau, với bao thói hư nết xấu, tính tình xung khắc, khiến cả hai bàng hoàng sửng sốt, vỡ mộng, cay đắng thốt lên: Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề (Hồ Dzếnh).

Khủng hoảng nhàm chán, ngao ngán: Xưa nay thế thái nhân tình, vợ người thì đẹp, văn mình thì hay. Một số người bi quan cay đắng: “Cá trong lờ đỏ hoe con mắt; cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô”. Chán cơm nên thèm phở. Họ đi tìm niềm vui và mới lạ ngoài luồng, nơi người thứ ba.

4- Để khắc phục và thắng vượt các khủng hoảng, cũng như các thử thách không mời mà đến, vợ chồng phải luôn nhớ lại lời thề hứa trong thánh lễ hôn phối: “Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này làm dấu chỉ tình yêu và lòng chung thủy của em (anh). Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

Bí quyết thành công hạnh phúc trong đời phu phụ: phải lấy chữ NHẪN làm đầu = nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục, kiên nhẫn. Vợ chồng hãy “có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại; chịu đựng và tha thứ cho nhau ”( Cl 3,12-14).

Ta thường hiểu lầm nhẫn nhục là đè nén, cắn răng cam chịu thua thiệt. Thực ra nó có nghĩa rất hay = chịu đựng. Chịu là đồng ý chấp nhận; đựng là khả năng dung chứa. Nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát; mà là mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng những khó khăn lớn. Cuộc đời không phải lúc nào cũng thuận theo ý ta. Nếu không chuẩn bị sẵn một dung lượng trái tim khá lớn, sẽ có lúc ta phải gục ngã trước hoàn cảnh, hay đánh mất người thương, vì khả năng chấp nhận quá yếu kém của mình: Chữ NHẪN là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.

5- Vợ chồng luôn tâm niệm và nhắc nhở nhau: Chung thủy khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời. “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly “(Mt 19,6). Dầu mà trời đất phân chia, đôi ta như khóa với chìa không rơi. Đã cam kết, chẳng bao giờ tháo gỡ.Những chiếc nhẫn đã một lần trao tay, mong được ở mãi với chủ nó, để tình yêu được bền vững: “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn, làm cho anh chị được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức KiTô đòi hỏi. Anh chị hãy đón nhận nhau, như Đức KiTô đã đón nhận anh chị” (Rm 15,5.7).

6- Kinh nghiệm: Cha tôi phải trải qua một cuộc phẫu thuật tim. Tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, ông quay quắt tìm kiếm mẹ tôi; rồi nói với bà: Em biết các bác sĩ tìm thấy cái gì khi mở lồng ngực của anh không? Họ thấy tên em được ghi khắc trong trái tim anh!

Hạt Cải

 

 GIA TRƯỞNG

Đức An

Khi nói tới hai từ gia trưởng, người ta nghĩ ngay tới vai trò người đàn ông trong gia đình. Gia là nhà, là gia đình, trưởng là đứng đầu, gia trưởng là người đứng đầu trong gia đình. Vì thế người đàn ông phải có trách nhiệm và quyền trong gia đình. Nói tới trách nhiệm là nói tới sự tương quan với tất cả thành viên trong gia đình theo thứ bậc và vai trò. Quyền của gia trưởng là điều hòa, phối hợp để gia đình ổn định sống trong yêu thương.

          Để có một nhận định chính xác ta nên xét trước nhất là trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình. Đã là đàn ông thuộc phái mạnh, nên những việc nặng người đàn ông phải đảm đương. Xét về vai trò: ông là chồng, được sự hỗ trợ của bạn đời, cả hai sống với nhau trong tinh thần kết hợp theo luật của Thượng Đế. Trong ngôn ngữ Việt Nam có một từ mà tiếng nước ngoài không có đó là từ “ mình”. Cả hai vợ chồng đều gọi nửa kia là “mình”. Gọi vợ là mình, làm sao có thể hành hạ la mắng được? Gọi chồng là mình làm sao có thể thóa mạ? Đó cũng là đặc thù của tình yêu vợ chồng. Họ sống với nhau bằng tình yêu chân thật. Chỉ có yêu thương mới hóa giải được những mâu thuẫn, những xung khăc không đáng có. Họ có trách nhiệm với nhau để hoàn thành trách nhiệm của mỗi vai trò trong gia đình.

          Tình yêu của họ sẽ cho những đứa con xinh và ngoan. Đó là sợi dây thiêng liêng không bao giờ đứt. Có được tiếng khóc của bé là hạnh phúc được nhân lên. Tuy nhiên có thêm một thành viên trong gia điình trách nhiệm sẽ càng thêm nặng. Con cái sau này sẽ trở nên hữu dụng hay không là được dạy dỗ uốn nắn, khuyên răn từ nhỏ. Cơ thể và tinh thần con trẻ tăng trưởng theo thời gian. Người Cha luôn đóng vai trò quyết định. Mới xuất hiện một thành viên là có vấn đề phát sinh, nhưng sẽ có tiếp những thành viên trách nhiệm sẽ càng tăng. Người gia trưởng, với sức người khó có thể chu toàn vai trò là cha.

          Bởi thế, ta phải tìm sức trợ lực, ngoài Thiên Chúa không còn nơi nào để ta nương tựa và đặt trọn niềm tin. Chúa biết sự yếu đuối của chúng ta, nên chỉ cần lời xin của ta là Người ban cho ta những ơn cần thiết và còn hơn thế nữa.

          Nếu đường đời bằng phẳng cả anh hùng hào kiệt có hơn ai. Vâng nếu tất cả hôn nhân có tình yêu, đâu đến nỗi phải tốn biết bao giấy bút nói về cuộc sống gia điình và vai trò gia trưởng của đàn ông. Tôi xin trưng ra vài trường hợp thường xẩy ra: Trường hợp vai gia trưởng bị người vợ tước đoạt, cũng vì người đàn ông nhu nhược, vợ bảo sao nghe vậy, bảo đâu làm đó, tài chánh bà giữ cả, không vừa ý bà đay nghiến tra khảo, trường hợp này có nhưng ít xẩy ra. Thường thì các ông là đối tượng áp đảo chủ lực. Đôi khi như ông chủ với đầy tớ, khi tới bữa ăn ông ngồi một mình mâm trên với món ngon và rượu nhắm. Tệ hơn nữa lại luôn say xỉn nhưng thói gia trưởng luôn thể hiện bằng hành động đòi cung phụng áp đặt, không được đáp ứng thể hiện bằng hành vi vũ phu bỉ ổi, lại thêm đam mê cờ bạc, ngoại tình, hút chích, bắt nguồn từ sự gia trưởng thái quá và sự băng hoại của đạo đức con người. Đưa biết bao gia đình đến sự ly tán.

          Làm sao con người có thể xử tệ với nhau đến thế? Hầu như họ không còn nhân tính. Khi phải chứng kiến cảnh bạo hành trong gia đình, chúng ta nghĩ ngay tới vai trò người gia trưởng đang bị phá vỡ, đang bị lạm dụng. Những nhà xã hội, những nhà làm luật nên có giải pháp nạn bạo hành trong gia đình và xã hội. Người Kitô hữu chúng ta cầu xin Thiên Chúa thương đến những gia đình đang chịu đau thương. Xin Ngài soi sáng cho các ông chồng biết trở lại, tự răn mình để sống xứng một người với vai trò mà Chúa đã trao.

 

 

BA ĐƯỢC LÀM TỪ GÌ?

Búp bê xinh được làm từ nhựa và quần áo. Máy chơi trò chơi điện tử được làm từ nhựa và điện. Kẹo ngon được làm từ đường và mùi thơm. Còn ba vĩ đại cuả mình được làm từ gì vậy kìa? Và đây là câu trả lời của Thượng Đế, Người làm ra ba:

Dáng vóc của ba được làm từ sự hiên ngang, hùng vĩ của dãy núi lớn. Đôi tay nồng ấm của ba được làm từ cái ấm áp của mặt trời mùa hè. Tính cách của ba được làm từ sự bình yên của biển cả, sự rộng rãi bao dung của thiên nhiên. Trí thông minh của ba được đúc kết từ sự khôn ngoan của nhiều thế hệ. Kho tàng  những truyện vui hóm hỉnh trong đầu ba được làm từ những niềm vui  của một buổi sáng mùa xuân. Máu trong tim ba là nước sông Ngân nên lúc nào cũng sục sôi, rào rạc. Còn một tí nước sông làm nên nước mắt của ba, vì vậy khi ba khóc, nước mắt mới chảy ngược vào tim.

Tất cả những vật liệu ấy làm ra một tác phẩm tuyệt vời, hoàn hảo. Tác phẩm ấy có tên là: BA VĨ ĐẠI CỦA MÌNH.

Có thể nói, trong kho tàng văn chương của nhân loại hay trong những tác phẩm văn học, hình ảnh của người đàn ông, người cha dường như mờ nhạt hơn hình ảnh của người phụ nữ, của người mẹ. Nếu như trong năm, ngoài ngày Quốc Tế phụ nữ (8/3) dành để tôn vinh phụ nữ thế giới, thì ở mỗi quốc gia đều có ngày dành riêng để tôn vinh người phụ nữ của nước mình. Chẳng hạn tại Việt Nam thì có ngày Phụ Nữ Việt Nam (20/10), ở Trung Phi có ngày bà mẹ (29/5), ngày (1/8) thì lại là ngày Phụ Nữ Hy Lạp, ngày Người Mẹ Thái Lan thì được mừng vào ngày 12/8, và sau này có một ngày đang được cả thế giới hưởng ứng rầm rộ đó là Ngày của Mẹ được mừng vào Chúa Nhật thứ 2 của tháng 5. Còn ngày dành riêng để tôn vinh những người cha thì sao? Nếu bạn vào Google và tìm “Những ngày lễ dành cho cha” thì chỉ tìm thấy một ngày duy nhất đó là Ngày của Cha (Father’s Day) được mừng vào Chúa nhật thứ ba của tháng 6 do cô Sonora Smart Dodd tổ chức lần đầu tiên tại Washington vào ngày 19/6/1910 và được mừng rộng rãi ở Mỹ bắt đầu từ năm 1972. Đây là ngày dành để tôn vinh sự hy sinh, vị tha, bao dung của những người cha. Tuy nhiên ở Việt Nam, ngày lễ này vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Nếu như dịu dàng, mềm dẻo, đảm đang và sống bằng con tim được coi là đặc tính của người phụ nữ, thì mạnh mẽ, cương trực, bao dung, trầm lặng và sống bằng lý trí lại là tính chất của người nam. Chính vì vậy mà trong gia đình, con cái dễ gần gũi tâm sự với mẹ hơn cha. Tuy nhiên, vai trò của người cha trong gia đình là không thể thiếu. Ca dao Việt Nam thường ví von: Con giống cha là nhà có phúc; con không cha như nhà không nóc, để cho thấy tầm quan trọng của người cha trong gia đình. Thật vậy, người đàn ông trong gia đình thường được ví như thuyền trưởng của con thuyền. Thuyền có vững vàng lướt trên sóng to, gió lớn để cập bến bình an hay không là nhờ ở sự lèo lái, chèo chống  khéo léo của thuyền trưởng. Về mặt tâm lý, vai trò người cha cũng ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của những đứa con.

Khi nói về công ơn của mẹ, người ta dùng những hình ảnh rất dịu dàng, dung dị như “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, như cánh đồng, hay ngọt ngào như khúc dân ca…” Còn với cha, tưởng chừng như là rất khó để tìm những hình ảnh so sánh cụ thể và chính xác. Ấy vậy mà, trong ca khúc Bông Hồng Dâng Cha, tác giả Chúc Linh đã khắc họa hình ảnh một người cha tuyệt vời, một cột trụ trong gia đình rất hoàn hảo, có thể nói: Cha là như vậy nhưng không phải là vậy: “Lòng cha sâu lắng âm thầm/ tình cha núi cao nào hơn. Hùng vĩ che chắn cho con trước cơn bão tố…” Và tiếp theo là một loạt hình ảnh được ví von: “Cha là đuốc sáng, là thác rộng, là kim cương trong lửa rực muôn màu. Cha là đất nước, là tiếng sáo, là giọng hò cho con nụ cười. Cha là nghiêm khắc nhưng lại thiết tha mong con bằng người. Cha là bóng mát để che chở con suốt cả cuộc đời.” Và tiếp theo, tác giả lại dùng một loạt hình ảnh rất lãng mạn, dễ thương để phác họa hình ảnh của Cha: “Cha là trái tim cho con nhịp thở, là ánh sáng, là bầu trời, là sông biếc, là cánh gió nâng con đến tận trời cao”. Và cuối cùng, tác giả đã kết luận rất ngắn gọn nhưng bộc lộ trọn vẹn đặc tính vốn “là” của người cha: “Cha là mãi mãi, là vô cùng, là cho đi không đòi lại bao giờ”. Vâng! Cha là thế, là mãi mãi hy sinh, là mãi mãi bảo vệ và chăm sóc cho đàn con mà không cần được đền đáp. Cho dù ta có dùng bao nhiêu hình ảnh để so sánh, có dùng bao nhiêu lời nói để ca tụng, thì mãi mãi vẫn không thể nói cho hết, kể cho cùng công ơn trời bể của cha. Muốn hiểu cho tường tận về tình cha chỉ có thể dùng trái tim để cảm nhận mà thôi.

Cám ơn cuộc đời đã cho con có cha để yêu thương, nuôi nấng, chở che. Cám ơn vì những nhọc nhằn, vất vả của cha để con được ấm no, sung sướng. Cám ơn vì những lời dạy dỗ nghiêm khắc của cha để con được trưởng thành. Cám ơn vì những hy vọng và lòng tin cha đã đặt nơi con để con tự tin, ung dung bước vào đời. Cha ơi, có những lời cám ơn tưởng chừng như đơn giản, vậy mà đến hôm nay con mới dám nói ra.

Sr. Ter. Trúc Băng

 

TÂM SỰ NGƯỜI GIÀ

Tay cầm quyết định được về hưu,

Nào có vui đâu buổi xế chiều.

“Quan tha ma bắt” nghe mà sợ,

“Lão lai tài tận” nghĩ càng đau.

Lộ trình tích đức chiêu linh đạo,

Định hướng tu thân phép nguyện cầu.

“Lão giả an chi” vui cảnh ngộ,

Sớm hôm kinh sách gởi ngày sau.

Fx. Đức Hạnh – Gx. Thái Hoà

 

GIÁO LUẬT

THẮC MẮC

 

“Con là một thanh niên Công giáo sắp kết hôn với một cô theo Đạo Tin Lành. Vậy con có cần phải xin chuẩn hôn phối khác đạo hay không?”

 

Trả lời:

 

Trong trường hợp một người Công giáo muốn kết hôn với một người Tin Lành, để giải quyết có cần phải xin chuẩn hôn phối khác đạo hay không, chúng ta cứu xét hai điểm sau đây:

1. XÁC ĐỊNH VIỆC RỬA TỘI CÓ HỮU HIỆU HAY KHÔNG

Trước hết cần phải xác định xem cô người yêu theo Đạo Tin Lành có được Rửa Tội hay không, và phép Rửa Tội đó có được Giáo Hội Công giáo nhìn nhận là hữu hiệu hay không.

* Các cộng đoàn Giáo Hội không Công giáo sau đây có bí tích Rửa Tội được Giáo Hội Công giáo nhìn nhận là hữu hiệu:

African Methodist Episcopal, Amish,  Anglican (Anh giáo), Assembly of God, Baptists,  Evangelical United Brethren, Church of the Brethren, Church of God, Congregational Church,  Disciples of Christ, Episcopalians, Evangelical Churches, Lutherans, Methodists, Liberal Catholic Church, Old Catholics, Old Roman Catholics, Church of the Nazarene, Polish National Church, Presbyterian Church, Reformed Churches, United Church of Christ .

* Bí tích Rửa Tội được ban trong các giáo phái và cộng đoàn sau đây được coi là không hữu hiệu:

Apostolic Church, Bohemian Free Thinkers, Christadelphians, Christian and Missionary Alliance, Christian Scientists, Church of Divine Science, Church of the Latter Day Saints (Mormons), Franc-macon, Jehovah’s Witnesses, Pentecostal Churches, People’s Church of Chicago, Quakers, Salvation Army,  The New Church, Unitarians .

 

2. PHÂN BIỆT HAI TRƯỜNG HỢP

2.1. Hôn nhân hỗn hợp (matrimonia mixta, mixed marriage).

Hôn nhân giữa một người Công giáo (một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội Công Giáo sau khi được Rửa Tội) và một người đã được Rửa Tội hữu hiệu trong một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo (như Anh giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành...) được gọi là hôn nhân hỗn hợp.

Nếu cô người yêu theo Đạo Tin Lành được Rửa Tội hữu hiệu, thì trong trường hợp hôn nhân hỗn hợp này, Giáo luật đòi hỏi cần có phép (không phải là chuẩn hôn phối) của thẩm quyền hữu trách (x. Điều 1124).

Nếu không có phép của thẩm quyền hữu trách, hôn phối là bất hợp pháp, tuy nhiên vẫn thành sự.

 

2.2. Hôn nhân khác đạo

Hôn nhân khác đạo là hôn nhân giữa một người công giáo với một người không được Rửa Tội (như Phật giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Ấn Độ giáo... hay không có tôn giáo nào) hoặc được Rửa Tội nhưng không hữu hiệu.

Nếu cô người yêu theo Đạo Tin Lành không được Rửa Tội hoặc có Rửa Tội nhưng không được Giáo Hội Công giáo nhìn nhận là hữu hiệu, thì trong trường hợp này là hôn nhân khác đạo. Cho nên anh phải xin chuẩn ngăn trở hôn phối do khác đạo.

Nếu không có phép chuẩn hôn phối khác đạo thì việc kết hôn bất thành nghĩa là vô hiệu (x. Điều 1086 §1).

Tóm lại, trong các trường hợp mà một người Công giáo muốn kết hôn với một người Tin Lành, đều phải có sự chấp thuận của thẩm quyền hữu trách. Tùy theo việc Rửa Tội của người Tin Lành có được nhìn nhận là hữu hiệu hay không mà xin phép hôn nhân hỗn hợp hoặc xin chuẩn hôn nhân khác đạo.

 

 

Sống Với Chúa

Bước đi giữa những gian nan,

Tâm tôi cảm thấy bình an lạ lùng.

Dường như Ai đó đi cùng,

Nhắc tôi luôn phải: "Thủy chung, Trọn tình"

Vì tôi Ai đã Hi sinh,

Vì tôi Ai gánh khổ hình nhuốc nha.

Thương yêu luôn vẫn thiết tha,

Với tôi Người Đó chính là Tình Yêu.

 

Jos.Nguyễn Minh Đức Gx.Thánh Tâm B2

 

GIÁO DỤC

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH

 

Nó xin nói về lý do chọn tựa đề này. Số là trước đây, đã lâu lắm rồi, nó không nhớ được tháng ngày chính xác, nhưng nó nhớ là khoảng trên dưới hai mươi năm (từ thập niên 90’). Lúc ấy, nó vừa tròn đôi mươi và đang đứng giữa ngã ba cuộc đời và chưa biết chọn cho mình hướng sống nào đây (đi tu; lập gia đình; hay ở vậy nuôi con (hai con: hai con mắt) hihi.

Và nó đã muốn tìm hiểu đi tu mặc dù trước đây, khi còn là cậu bé giúp lễ, nó đã muốn, đã mong, đã mơ và đã ước được như thế. Nhưng với thời gian, nỗi niềm mong muốn và ước mơ ấy bị phai mờ dần để rồi giờ đây nó phải chần chờ, e ngại và rụt rè chỗ ngã ba cuộc đời như thế.

Dù vậy, nhưng nó cũng đã chọn tìm hiểu Ơn Gọi tu trì. Và cũng nhờ tìm hiểu Ơn Gọi này, nó được tiếp cận và đọc các sách nhà Đạo. Và một trong những sách đó có tựa đề: NÓI VỚI CHÍNH MÌNH, của Đức Giám Mục Gioan Baotixita Bùi Tuần. Sách này đã tác động vào nó, để rồi nó phải suy nghĩ, phải suy tư về chính mình. Cuốn sách đã theo nó từ những tháng năm dự tu, đại học, đại chủng viện, linh mục và cho đến hôm nay.

Thú thật, nó đọc lần đầu không hiểu gì hết. Có chăng, là đưa thêm một cuốn nữa vào mục những sách đã đọc với lời nhận xét: sách hay, sách ý nghĩa, nên đọc lại, rồi xếp lên kệ sách. Cứ mỗi lần hết học kỳ, hết năm học, thì nó xếp sách vở vào thùng, và đầu học kỳ, đầu năm học lại bỏ ra xếp lên kệ sách. Và mỗi lần như thế, thì những sách hay, có ý nghĩa lại được đập vào mắt nó ít là cái tựa của cuốn sách, như một nhắc nhớ nó chưa coi lại, chưa đọc lại.

Chân tình mà nói, nó xếp đi xếp lại nhiều sách với nhiều tựa đề khác nhau, nhưng không hiểu sao, cứ tới cuốn: NÓI VỚI CHÍNH MÌNH này, nó cảm thấy mình phải cần đọc lại để suy nghĩ và suy tư về chính mình. Và rồi nó đọc, đọc và đọc mãi dù có thể vẫn chưa hiểu hết được. Nó đặt vấn đề với tựa đề của sách: TẠI SAO LẠI LÀ NÓI VỚI CHÍNH MÌNH?

Vì với kinh nghiệm và sự hiểu biết bé nhỏ của nó, nó chỉ biết được rằng: khi nói là nói với ai đó, chứ sao lại nói với chính mình. Lạ thật! Có “mal” không đây trời! Ngồi lải nhải nói với chính mình chắc bị “chuyển hộ khẩu” sớm quá!

Nó chỉ hiểu và nghĩ được đơn giản như thế, nhưng nó đâu biết rằng nói đâu đơn giản chỉ là nói với ai đó mà còn là nói với chính mình. Với thời gian, nó hiểu và cảm nghiệm rằng: cần phải nói với chính mình. Vì nói với chính mình có thể hiểu là đọc được chính mình, biết về chính mình, hiểu về chính mình và sống với chính mình. Và từ đây, nó ý thức rằng: nếu không có kinh nghiệm nói với chính mình, thì cũng sẽ không có kinh nghiệm nói với người khác. Hay nói cách khác, nói với chính mình chính là bài học nó cần phải trải nghiệm để rồi từ đó mới có thể nói với người khác được.

Ôi Khanh!

 

 

MẢNG TỐI

Mảng tối trong xã hội

Một sự kiện khiến dư luận xôn xao bàn tán trong dịp Tết Nguyên Đán vừa qua. Từ 27 tháng chạp đến mùng 4 Tết Ất Mùi 2015, Tết truyền thống thiêng liêng của dân tộc đã có tới 6200 người phải nhập viện vì đánh nhau, trong đó có 15 người chết do những chuyện lãng xẹt không đâu, như lỡ va chạm vào nhau cũng bị đâm chết (Tuổi trẻ online  24/02/2015). Điều đó đã làm cho những ai còn lương tri đều bàng hoàng sửng sốt, lo sợ cho nét văn hoá tốt đẹp đã có từ bao đời của dân tộc: “Chị ngã em nâng”; “Lá lành đùm lá rách”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, đang bị đe doạ nghiêm trọng dần bị phá huỷ.

Trước đó, ngày 13/01/2015 Phóng viên VTC News đã phỏng vấn nhà sử học Dương Trung Quốc: “Ông có nhận xét thế nào về nền văn hoá nước ta, khi rất nhiều giá trị văn hoá đã bị suy thoái đến mức đáng báo động?” Ông Dương Trung Quốc trả lời: “Trước hết phải thấy, thực trạng này không phải bây giờ mới được nói ra, mà nó đã được nhắc đến ở rất nhiều diễn đàn khác nhau về tình trạng đạo đức xuống cấp và sự suy thoái của văn hoá. Ở đó không phải đơn thuần là sự biến dạng của nhân cách, mà là sự tan vỡ của rất nhiều hệ giá trị truyền thống, như quan hệ gia đình, quan hệ thầy trò và nhiều quan hệ xã hội khác” Và ông còn nói: “Suy thoái văn hoá chạm ngưỡng, đẩy dân tộc đến thảm hoạ khôn lường”.

Để những mảng tối đó bớt đi hay biến mất trong xã hội hôm nay, thực sự không phải là một điều dễ dàng, một sớm một chiều có thể thay đổi được. Nhưng điều đó cũng không cho phép chúng ta đứng đó than vãn, hay nguyền rủa bóng đêm, mà buộc chúng ta phải dấn thân hơn, tìm hiểu căn nguyên cội nguồn của vấn đề như thầy thuốc bắt mạch và sẽ ra sức cố gắng cải đổi khi có thể. Nó là trách nhiệm của cả cộng đồng xã hội, mà trên hết là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo đời cũng như đạo, không riêng của một người, một phía nào hết.

Căn nguyên tạo ra những mảng tối ?

Suy thoái là do nền kinh tế thị trường; suy thoái là do người ta không còn chú tâm nhiều đến giá trị tinh thần, giá trị thiêng liêng, mà chỉ chú tâm đến yếu tố vật chất, tiền tài, danh vọng, đia vị, hưởng thụ, quá thực dụng; suy thoái là do giáo dục không đến nơi đến chốn, triết lý giáo dục nửa vời; suy thoái vì xã hội chênh lệch giầu nghèo quá lớn, người ăn không hết, kẻ bòn không ra; suy thoái vì con người quá kiêu căng, ngạo mạn không khiêm tốn đã quay lưng lại với Trời đất, với Tạo Hoá: “Ngày xưa hạn hán cầu Trời, ngày nay hạn hán mời Trời xuống coi” hay “nghiêng đồng đổ nước ra sông, vắt đất ra nước, thay Trời làm mưa”…

Căn nguyên suy thoái đạo đức theo các nhà nghiên cứu chuyên ngành. Lý giải sâu xa về điều này, nhà nghiên cứu văn hoá, GS-TSKH Trần Ngọc Thêm ngày 26.02.2015 đã nhận định như sau: “Trong thời buổi kinh tế thị trường, khi mà vai trò của yếu tố tinh thần, đạo đức mới dừng lại ở lời nói, ở các văn kiện, thì chủ nghĩa duy vật chất lôi kéo con người chạy theo vật chất tầm thường một cách chóng mặt. Một xã hội mà giá trị vật chất lên ngôi, giá trị tinh thần đi xuống thì sẽ hỗn loạn thế nào?”

Trong cuộc toạ đàm về Huấn từ của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI với chủ đề: “Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt” do Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phối hợp với Uỷ ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội tổ chức ngày 03/07/2012,  PGS. TS Nguyễn Quang Hưng thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã có bài tham luận thật sâu sắc với đề tài: “Đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay và vai trò của Kitô giáo”. PGS. TS đã nói: “Sự khủng khoảng đạo đức xã hội hiện tại cho thấy một phần chúng ta phải trả giá cho việc từ nửa sau thế kỷ XX khi xu thế thế tục hoá xã hội bị đẩy tới cực đoan với việc tuyên truyền chủ nghĩa duy vật và vô thần, cổ súy cho cái văn hoá tiêu dùng vật chất một cách cực đoan. Dầu thế nào đạo đức của các tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, Kitô giáo cần có vị trí hợp lý và xứng đáng hơn trong nền đạo đức dân tộc hiện nay”.

Nhận định của Giáo Hội Công Giáo

Công Đồng Vaticanô II trong Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội, phần phẩm giá con người (Trích số 20, 21) nói: “Thuyết vô thần hiện nay thường được trình bày trong dạng thức mang tính hệ thống, hệ thống này nhấn mạnh đến khát vọng được tự lập của con người, đến độ khó có thể chấp nhận bất cứ sự lệ thuộc nào vào Thiên Chúa.Thiếu nền tảng là Thiên Chúa và thiếu niềm hy vọng vào đời sống vĩnh cửu thì phẩm giá con người sẽ bị tổn thương trầm trọng như thường thấy ngày nay, và những bí ẩn về sự sống, sự chết, về tội lỗi và đau khổ sẽ không có lời giải đáp, như thế con gnười sẽ thường rơi vào tuyệt vọng…”. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI thì quả quyết rằng: “Sự chối bỏ Thiên Chúa làm băng hoại con người, khiến con người không còn mẫu mực nữa và dẫn họ đến bạo lực”.

Tiếp sức đẩy lùi sự suy thoái đạo đức

Sự suy thoái đạo đức như bóng đen đã đang tràn lan phủ khắp nơi, vậy ta thử đặt câu hỏi làm cách nào mỗi người có thể tiếp tay đẩy lùi bóng tối u ám gian dối đó? Tôi thiển nghĩ cội nguồn của sự suy thoái đạo đức hôm nay, chính là kiêu căng dẫn đến thiếu sự thật. Thiếu sự thật nên mới nảy sinh gian dối, mánh khoé, tham lam; thiếu sự thật mới làm thay trắng đổi đen nhiều việc, nhiều vấn đề để cầu lợi cho mình, cho nhóm mình, phe mình; thiếu sự thật sẽ trở nên hung hãn ngạo mạn, cướp giật, đánh nhau không còn hiền lành và khiêm nhường. Vậy muốn đẩy lùi suy thoái đạo đức mỗi người, mỗi gia đình, mỗi xóm làng, thôn bản, mỗi xứ đạo, mỗi quốc gia phải tập sống hiền lành và khiêm nhường và quyết tâm suy nghĩ thật, nói sự thật và hành động theo sự thật, dù có gặp thua thiệt như người ta nói: “Thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại leo lên”. Sự thật chính là ngọn lửa, là ánh sáng xua đi bóng đêm tối tăm gian dối.

Đó chính là cội nguồn, là nền tảng vững chắc nhất và đó cũng chính là sự sống đúng như lời Chúa đã phán: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống, không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Và cũng chính Chúa đã dạy chúng ta mọi điều gian dối đều thuộc về ma quỉ: “Nhưng hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỉ” (Mt 5, 36). Nói thì dễ, hành thì khó; mối lợi trước mắt hấp dẫn hơn mối lợi xa vời. Tuy nhiên, chỉ khi ta sống sự thật, khiêm nhường, hiền lành, ta mới có sự bình an và hạnh phúc đích thực, và có mối lợi chân chính bền vững không những ở đời này và cả đời sau nữa.

Để kết thúc bài, tôi xin nêu một hình ảnh quen thuộc. Ở Việt Nam ai cũng thích mua được hàng chính hãng của Nhật: “Made in Japan” vì hàng đó tốt. Chúng ta có biết đâu nước Nhật từ năm 1904 đã xây dựng triết lý giáo dục theo thế kiềng ba chân: “Sự thật, sức mạnh thể xác lẫn tinh thần và vẻ đẹp” do nhà giáo dục Yoshio Takayama đề ra. Triết lý đó được duy trì tới ngày nay, nhờ đó nước Nhật mới là con rồng ở châu Á, được thế giới nể trọng, dù nước Nhật không được thiên nhiên ưu đãi như nước ta...                                                             

 

Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

 

GIỚI TÍNH THỨ BA

Cách đây không lâu, những từ đại khái như: pêđê, gay, bán xà bông, xăng pha nhớt là một loạt từ ám chỉ những người mang giới tính thứ ba. Bình thường thì có giới nam và giới nữ, nhưng gần đây lại xuất hiện giới tính thứ ba mà người ta gọi là “đồng tính”, vì những người này thường chơi và kết hôn với người cùng giới với mình. Hay có những biểu hiện của bệnh về tâm lý giới tính. Nhìn lại quá khứ, bạn và tôi rất ít khi nghe đến giới này, nhưng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, bạn và tôi muốn gì được đấy, từ nam thành nữ, hay từ nữ thành nam, đó không còn là chuyện khó. Ngày nay, bạn và tôi vẫn nghe và thấy có những đám cưới của người đồng tính. Xã hội  không chấp nhận, con người không cho phép, dư luận xã hội thì nói ra nói vào vì: Những cuộc hôn nhân này là trái với đạo đức xã hội, trái với thuần phong mỹ tục, trái với luật tự nhiên. Đây là vấn đề không nhỏ và cũng không đơn giản để cho những người trách nhiệm có những giải pháp cho đúng với đạo đức con người. Xã hội con người ngày nay xuất hiện giới tính thứ ba, theo ý kiến của riêng tôi, thì do những lý do sau đây:

1- Do sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật nói chung và ngành y tế nói riêng, với một số tiền là người ta trong vài tiếng đồng hồ có thể hồ biến thành tiên, chỉ cần nhắm mắt là thay đổi cuộc đời. Đúng là “được voi đòi tiên”.

2- Do Model của bạn trẻ ngày nay là dễ rơi vào kiểu bắt chước thần tượng. Thần tượng một nhân vật nổi tiếng về lãnh vực nào đó, thế là các bạn trẻ muốn giống thần tượng mình từ bên trong đến bên ngoài, từ lối ăn mặc đi đứng, sở thích. Nói chung mình là mẫu người thứ hai của người mình đang thần tượng.

3- Do nền giáo dục từ gia đình. Bạn và tôi vẫn được nghe gia đình là ngôi trường giáo dục đầu tiên của con người. Đây là môi trường quan trọng để hình thành nên một con người sau này. Một đứa trẻ ngay từ nhỏ mà không có cách giáo dục đúng hay nói theo kiểu: chiều con quá đáng sẽ là nấc thang đưa con đến sự bất hạnh. Nếu gia đình con cái có bốn người con là nữ, chỉ có một đứa con trai, hay ngươc lại,  thì sự chênh lệch này cũng là một lý do dẫn đến hiện trạng pêđê.

4- Do những đồ ăn thức uống ngày nay quá đa dạng với nhiều hình thức bắt mắt, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển những sắc tố gây nên vấn đề này. Ăn uống là điều cần thiết để nuôi thân xác con người, nhưng ăn uống không đúng cũng là nguyên nhân làm bạn và tôi bị mang tiếng là đứa hai thì.

Như vậy, đâu là giải pháp hợp tình hợp lý cho vấn đề khá nhạy cảm này? Chấp nhận hay ngăn cản nó? Một vài nước trên thế giới đã chấp nhận hôn nhân đồng tính. Liệu như vậy có ổn không? Cưới về ai là chồng, ai là vợ? Ai sinh con ai dạy con?. Đây là vấn đề đặt ra cho tất cả mọi người, liên quan đến đạo đức, đến luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã ban ngay từ thuở đầu tạo dựng. Cái gì tự nhiên hãy để nó tự nhiên, cái gì thuộc quy luật hãy làm theo quy luật.

Đối với những kẻ mang giới tính thứ ba, nhiều người đã nhìn với ánh mắt chẳng mấy thiện cảm, chê trách, lên án, xa lánh, loại trừ. Theo tôi đó không phải là cách tốt nhất để làm biến đổi một con người từ xấu thành tốt. Bạn và tôi đừng quá kỳ thị, nhưng hãy giúp họ nhận ra chính nhân phẩm của con người được Thiên Chúa ban tặng, và đi theo đúng điều Thiên Chúa muốn. Bạn và tôi  đừng để họ trở thành những người bất đồng ý kiến, rồi dẫn đến bất hòa, trở thành người bất mãn, và cuối cùng họ là con người bất hạnh cho số phận người mang giới tính thứ ba.

Vs. Lê Đình

 

MẪU GƯƠNG GIA TRƯỞNG

Vườn địa đàng hạnh phúc triền miên

Khi con người trung kiên giữ ước

Nhưng xảy ra một ngày lỡ bước

Khi rắn già cám dỗ Ađam.

Cả công trình vinh quang sụp đổ

Cũng bởi vì gia trưởng yếu cơ

Để rồi sau cảm thấy thẫn thờ

Nghe lời vợ bây giờ thấy khổ.

Kinh nghiệm ấy Giuse làm lại

Người gia trưởng chẳng dại nhưng khôn

Âm thầm sống luật gương công chính

Khiêm nhường lặng lẽ chốn thôn quê.

Ra sức đi tìm thánh ý Chúa

Trở nên mẫu mực các gia đình

Ngày nay hậu thế còn vang mãi

Dư âm thánh thất thật rạng ngời.

 Phêrô Nguyễn Đức Thời, Gx Thái Hòa

 

 

GIÁO DÂN

ĐI TÌM THIÊN CHÚA

 

Dẫn nhập

Tôn chỉ chung của Dòng thánh Đa-minh là “chia sẻ cho tha nhân những gì mình đã chiêm niệm” hay được tóm gọn là “nói với Chúa” (để) và “nói về Chúa”- contemplare et contemplate aliis trader. Thiết nghĩ, đây còn là tinh thần chung của người Kitô hữu vì nói về Chúa cho người khác chính là lệnh truyền của Chúa; nhưng để có thể lên đường “đến với muôn dân” thì trên và trước hết người Kitô hữu cần phải có thiện chí, mạnh dạn cho hành trình tìm Chúa vì có Chúa ngự trị thực sự thì chúng ta mới có thể nói về Chúa được vì không ai cho cái mình không có.

Mục đích đi tìm.

Cùng đích của con người là được hạnh phúc với Chúa, nên mối ưu tiên hàng đầu của người Kitô hữu phải là “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự Công Chính của Người trước, rồi mọi sự khác Người sẽ ban cho” (Mt 6,33). Tuy nhiên, hành trình đi tìm này không phải là hành trình đi tìm để thủ đắc như một kiến thức khoa học hay là chỉ gặp “cách xã giao” hoặc để phục vụ cho một mục đích tiêu cực nào đó, nhưng là để tôn thờ yêu mến, sống với và được trở nên người nói cho anh chị em chung quanh về Chúa.

1.       Tại sao phải đi tìm?

Một trong những đề tài triết học được tranh luận sôi nổi nhất là câu hỏi con người đến từ đâu và sau khi chết sẽ đi về đâu? Người xưa đã có quan niệm rằng sống ở trần gian này chỉ là tạm gửi, khi chết mới được về với cội nguồn vì cuộc sống trần gian này chỉ là tạm bợ và chóng qua. Câu nói“sinh ký tử quy” là thế. Đối với người công giáo, chúng ta tin rằng con người đến từ Thiên Chúa và sẽ đi về với Thiên Chúa. Chính Ngài đã đặt để trong con người sự khao khát, ước mong tìm Ngài và được gặp Ngài. Dù được sống trong những tiện nghi vật chất nhưng con người vẫn cảm thấy khắc khoải và mải đi tìm một giá trị vĩnh hằng có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và ước muốn của họ cách tuyệt đối. Chính Ngài là Đấng Tuyệt đối và chúng ta chỉ thật sự trở nên và là chính mình khi tìm được Thiên Chúa. Con người sẽ chẳng còn khao khát điều gì khác một khi đã có Chúa trong mình như thánh Augustinô đã nói: “Thiên Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và lòng chúng con khắc khoải khôn ngơi cho tới khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa”.

2.       Cứ tìm thì sẽ thấy

Chúa Giêsu đã hứa: “Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7). Đây là một lời hứa đảm bảo cho việc tìm kiếm Thiên Chúa của người Kitô hữu. Dường như nhiều lúc Ngài chơi trù ú tim, Ngài “ẩn trốn” với chúng ta những lúc ấy chúng ta mải đi tìm, nhưng càng tìm càng không gặp. Thật ra, Thiên Chúa có chương trình riêng của Ngài mà chúng ta không thể hiểu được. Thế nên, trong hành trình tìm kiếm cần phải có sự nhẫn nại và kiên trì. Bởi vì, chúng ta có yêu quý ai thì mới dành nhiều thì giờ cho người ấy. Cũng vậy, có thật tâm muốn tìm kiếm Thiên Chúa thì mới khao khát tìm kiếm và khi đó Ngài sẽ cho gặp. Dẫu rằng sẽ khó khăn vất vả nhưng với thiện chí của kẻ dám “cất bước ra đi” và kiên trì, chúng ta sẽ đạt được điều mong ước.

3.       Chúng ta tìm Thiên Chúa ở đâu?

Lời một bài hát sinh hoạt Tìm Thiên Chúa thật ý nghĩa “Anh đi tìm Thiên Chúa Người ở đâu mà bấy lâu anh hằng đi tìm? Tôi đi tìm Thiên Chúa người ở đâu mà bấy lâu tôi hằng tìm luôn”. Chúng ta có thể tìm được Ngài ở đâu? Theo cá nhân người viết, trước nhất Ngài hiện diện trong Bí tích Thánh Thể và trong cộng đoàn cũng như trong cuộc sống thường nhật. Thiên Chúa hiện diện nơi những khuôn mặt khác nhau của nhân loại hôm nay, nhưng vì chúng ta có một nhãn quan “chưa chuẩn”- không tìm với con mắt đức tin- trong việc tìm Chúa nên chẳng thể gặp được Ngài. Chúng ta thường mải mê tìm Chúa nơi mà chúng ta cho là có Chúa; chẳng hạn trong những kinh nguyện và những thói quen đạo đức vô hồn. Ngoài ra, tâm tính và não trạng của người Việt thích lễ hội, phô trương hình thức nên chúng ta chỉ mải tìm Chúa trong những lễ nghi, hội hè đầy màu sắc, hoành tráng bên ngoài chứ chưa tìm Chúa qua những việc xem ra như “vụn vặt, tầm thường” nhưng có Chúa hiện diện. Đơn cử, chúng ta thường nghĩ có thể tìm được Ngài nơi những trung tâm hành hương, vương cung thánh đường nguy nga lộng lẫy, nơi thánh địa (mà ngày nay bị thương mại hóa thành những địa điểm du lịch).

Nhiều lúc, chúng ta như Maria Mađalêna, Chúa hiện diện ngay bên, nhưng trong thâm tâm của mình chúng ta chỉ đi tìm cái “thi hài đã chết của Giêsu” vì mối bận tâm duy nhất lúc này với chúng ta chỉ là cái xác đó. Chúng ta xem đó (thi hài của Chúa) là Chúa Giêsu, có “nó” là có Chúa, mất “nó” là mất Chúa. Mải tìm Chúa bên ngoài mà không nhận ra được Chúa đang hiện diện trong chính con người và cuộc sống của chính mình. Như thánh Augustino nói con mải tìm Chúa nhưng không biết Chúa ở ngay bên con. Thật thế, Thiên Chúa vẫn ngay bên chúng ta có khi là nơi những con người, những tình huống rất đỗi quen thuộc, tầm thường, khiêm tốn và âm thầm mà chúng ta không nhận ra. Vì vậy, tìm hoài nhưng không thể gặp; và vì không gặp nên chán nản và buông xuôi.

4.       Tìm Chúa như thế nào?

Phải tìm kiếm bằng và trong đức tin. Chỉ khi chúng ta thay đổi và luôn làm mới cách nhìn trong hành trình tìm kiếm mới giúp chúng ta có đủ “sức mạnh” lên đường và vượt thắng mọi khó khăn trong hành trình này. Với lòng yêu mến và một thái độ đúng cùng với con tim khao khát tìm kiếm Thiên Chúa bằng đôi mắt đức tin, lắng nghe Ngài qua mọi biến cố trong cuộc sống; nhất là nơi những thân hình còm cõi, run rẩy của trẻ em đường phố đang đói khát lương thực và tình thương, nơi chiếc lưng còng của những bà cụ gánh gồng mưu sinh, hay nơi đôi tay gầy guộc của người bán vé số, đói rách, bệnh tật… không chỉ có thế, Ngài đang hiện diện và rên rỉ trong trại phong Di Linh, nơi trại mồ côi, nơi đôi mắt đẫm lệ như đang van xin chút tình thương của chúng ta. Cần lắm tình thương và sự quan tâm của chúng ta cho những anh chị em như thế vì “bất cứ điều gì anh em làm cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta đây là các con đã làm cho chính Ta”. (Mt 25 40); và “Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4, 12).

Chúng ta cần “tỉnh táo”  để có thể diện được Ngài trong cuộc sống hằng ngày vì sự hiện diện của Thiên Chúa luôn mang một chiều kích mới và siêu vượt. Với những đổi thay của xã hội, dù phải sống trong những khủng hoảng cũng như những ý thức hệ giải thiêng, chúng ta vẫn phải luôn xác tín rằng Chúa vẫn có, ở đó, hoạt động và ở giữa chúng ta vì Ngài đã hứa sẽ “ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).

Kết luận

“Này người bạn hồn tôi ơi, Thiên Chúa giữa cuộc đời, Người trong tâm hồn, Người trong lương tâm và Người hiện diện giữa bầu trời hùng oai” (Lời bài hát Tìm Thiên Chúa). Thiên Chúa không ở đâu xa xôi mà chúng ta phải cất công đi tìm. Ngài ở ngay bên ta nơi những anh chị em cần đến chúng ta, nơi những mảnh đời bất hạnh cần sự giúp đỡ và chăm sóc. Chúng ta đã làm gì cho Ngài nơi những “Đức Kitô bằng xương bằng thịt ấy” hôm nay? Ước gì mỗi Kitô hữu tìm gặp được Thiên Chúa nơi những anh chị em ấy, nơi cuộc sống thường ngày; và một khi gặp được Ngài chúng ta sẽ nên như ánh sao và là chứng nhân sống động để nói với người khác về Thiên Chúa của tình yêu cách xác tín và mạnh mẽ.

                                                                   Felicitas

 

Mùa CHAY (TRAI Tịnh)

 

Ngày nay không ít Kitô hữu chỉ nghĩ ăn Chay là không ăn Mặn (ăn cá thịt, những thức có máu). Điều đó chỉ đúng về mặt hình thức, nhưng hình thức sẽ là vô ích nếu nó không giúp đạt được nội dung là tinh thần của việc ăn chay. Do giao thoa văn hóa, chưa rõ từ lúc nào Chay và Trai mang cùng nghĩa nhưng vì hình thức khác nhau nên người ta cũng có cách hiểu khác nhau. Chúng ta đang sống Mùa CHAY. Xin mời cùng suy nghĩ nghĩa TRAI (Chay). TRAI (CHAY) là giữ cho lòng thanh sạch, quân bình, thanh thản, được ghép bởi TỀ (ngay thẳng, bằng, đều nhau) và TÂM (tâm hồn, tấm lòng). Vậy Trai\Chay là làm cho tâm hồn được bằng thẳng lại, cho Tâm an để Trí sáng. Thực tế, chúng ta thường Tề cho các đầu cây chưa bằng thì tâm hồn ta lại cứ để nhọn sao; nếu những khúc cây chống đỡ cần đầu bằng mới đứng vững thì tâm hồn ta sao thanh thản và sáng để nhận ra những nhu cầu của anh chị em và ý Chúa được khi nó lộn xộn, không trong sáng, mất quân bình! Mùa Chay (Trai) chỉ thật sự ý nghĩa khi mỗi Kitô hữu sống được những gì được gọi là “xé lòng” là mổ xẻ để chữa trị những gì thuộc về lĩnh vực thiêng liêng: “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm, chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?” (x.Is 58,1-12). Chúc Quý Thân Hữu được nhiều ơn Chúa trong mùa Chay Thánh, được ơn biến đổi trong Lễ Phục Sinh.

Ước chi được như vậy .

              Lm. JB. Trần Đinh Tử

 

 

NIỀM TIN VÀ HY VỌNG

Mic. Nguyễn Văn Xuân

 

          Ngồi nơi đây một mình giữa cảnh thiên nhiên trời đất mênh mông bát ngát quá, tôi chợt ngộ ra rằng: Giờ đây tôi đã rong ruổi trên đường trần bảy mươi năm cuộc đời.

Chiêm niệm về mình: Từ lúc sinh ra, tôi chào đời bằng ba tiếng khóc, tập nẩy, tập bò, tập đứng , tập đi, trong bàn tay đỡ nâng của cha, cưu mang của mẹ. Tôi được gọi là người. Là người theo cái ngôn từ của sự vật buông cánh đậu xuống đời tôi, chứ chưa hẳn tôi đã trở thành một con người đúng nghĩa. Muốn trở thành con người đúng ý nghĩa người mà Thượng Đế trao ban, Ngài cho tôi được dự phần vào công cuộc sáng tạo của Ngài. Tôi phải học. Học để tôi làm người. Ba chữ  Học làm người có nghĩa là luôn nhắc nhở tôi chưa thành người, nên tôi còn cứ phải học.

Rong ruổi trên đường đời là để học làm người mà mãi cũng chẳng xong. Thế rồi thời gian cứ đi cho tóc bạc màu, cho tuổi hoàng hôn, cho lòng hy vọng cũng tàn phai theo năm tháng. Bao ước mơ trong đời  hướng về tương lai vẫn là dở dang, chưa thấy đâu là bóng dáng bến bờ xuôi buông cánh đậu. Giờ đây, không sớm thì chầy, tôi lại chuẩn bị hết một kiếp người. Một cõi đi về, một đời dang dở.

Muôn vàn những suy nghĩ miên man; Nhưng hướng tôi về chân trời bát ngát, bao la. Đường về thiện hảo. Tôi ngửa mặt nhìn lên trời cao. Đường về chân trời ấy, thiện hảo ấy thì mênh mông, lối đi  rộng mở gọi mời, ngọt ngào mà sao khó thế, có khi cả đời học mãi chẳng xong. Tôi học làm ngưòi là để học làm thánh. Đó là ước mơ đời mình. Mà muốn làm thánh thì tôi lại phải bước qua kiếp người. Nhưng qua kiếp người cũng chưa hẳn là tôi làm thánh. Nếu tôi không học làm người nên thánh.

Lòng tôi thấy xôn xao buồn, nằng nặng âu lo. Tôi biết chắc có một ngày tôi sẽ theo tiếng gọi lên đường, từ bỏ kiếp làm người, vĩnh biệt tất cả. Bên cạnh tôi là những vành khăn tang vội vã, nguời thân yêu, bạn bè vây quanh, nước mắt tiếc thương dâng trào. Ước mơ giầu sang, danh vọng ngày nào, giờ cũng vỗ cánh bay xa. Đời rồi cũng quên tôi và tên tuổi cũng lu mờ theo năm tháng. Tôi sẽ ra đi.

Đường đi lối về ấy, tôi phải  chọn cho mình. Một ngày nào đó, tôi  sẽ phải giã từ đi vào tương lai, về một trong hai lối: Làm thánh hay làm quỉ. Về Thiên đàng  hay Địa ngục. Tôi tự nói với lòng mình: Đó! đường đi lối về đã rõ.

Làm quỉ, thì tôi chạy theo những gì quỉ làm. Điều mà không bao giờ tôi thích tí nào, vì nếu thích thì tôi chẳng cần học làm người, để ước mơ nên thánh làm gì cả. Tôi cứ rong chơi giữa đời, cứ làm theo quỉ, cần gì biết đâu nguồn cội. Cứ để cho tham sân si, tha hoá, hư hỏng và tội lỗi bên đời mời gọi, chào đón bước vào, có khi kiếp người tôi lại chẳng sướng cái thân xác người, nhưng rồi lại đánh hỏng đi cái đời sống vĩnh cửu. Cái đời sống nên thánh mà tôi hằng ước mơ ấy, sẽ chẳng còn bao giờ hoá thành kiếp khác như người, để tôi mơ ước.  

       Làm thánh thì tôi phải đi theo Chúa. Chúa bảo tôi rằng: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống”. Tôi có chối bao giờ đâu! Tôi tin Chúa là sự thật, là sự sống. Nhưng đường Chúa đi thì khó quá, tôi cứ ngã xuống đứng lên hoài. Đường Chúa đi sao mà hun hút mây ngàn, thăm thẳm  chiều trôi, làm tôi rã rời.

Tôi lại nhớ đến câu chuyện trong Phúc Âm kể về chàng thanh niên giầu có, cũng thích đi theo Chúa lắm, nhưng khi nghe Chúa nói về đường đi của Ngài, đã làm cho chàng buồn rầu, ngỡ ngàng đánh rơi lòng muốn mà bỏ đi.

 Tôi nhớ đến Thánh cả Phêrô, một vị thánh ưu tú của Giáo Hội. Một người đã dám từ bỏ tất cả mà đi theo Chúa: bỏ đò, bỏ lưới, bỏ dòng sông, bỏ cả người tình. Ước mơ một đời phiêu du đi chài cá người với Thầy. Thế mà cũng còn có lúc nhát đảm, yếu đuối; Đến đỗi vì sợ mà phải chối Thầy trước mặt thiên hạ.

Tôi biết đường đi theo Chúa thì vất vả, gian nan và khó khăn lắm, lòng tôi luôn muốn bước đi theo, mà sao chân tôi lại cứ ngại ngùng, chập chùng những vấp ngã làm tôi lo sợ. Trên đường đi theo Chúa, biết bao những gãy giập làm tôi nản lòng.      

Tôi đã bao lần đoan hứa trung thành với Chúa, yêu Chúa hết tình, nhưng rồi tôi lại làm vỡ đi lời thề. Để cho khát vọng đời tôi phải những lần ngỡ ngàng, chông chênh bên bờ đá cuội.

          Tôi biết khát vọng đi theo Chúa có gian nan thật. Nhưng càng gian nan thì hình như khát vọng càng sâu, ước mơ càng nhiều, mà chưa thực hiện được thì khát vọng ấy, tình yêu ấy vẫn là chưa trọn vẹn, còn dang đở. Chưa trọn vẹn, còn dang dở thì vẫn còn khát  vọng. Vì  vậy mà  đường  đi theo  Chúa là khát  vọng không cùng. Trong cái khát vọng không cùng ấy, tôi lại là người yếu đuối bất toàn, cho nên cứ làm vỡ giập đi tình yêu, lòng mến và sự trung thành với Chúa.

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

TÌNH MUỘN

1.

Ông trùm Tân được bầu trực tiếp vào chức danh chủ tịch Hội đồng Mục vụ Giáo xứ với đa số phiếu áp đảo. Cha xứ khẽ khàng:

- Mừng ông trùm được nhiều phiếu nhất. Ông được dân xứ tín nhiệm, đời sống không có điều gì chê trách được. Nhưng có điều này, không biết tôi có nên nói ra không?

Ông trùm Tân nhũn như con chi chi:

- Vâng, con nghĩ: Ý cha là ý Chúa, xin cha dạy bảo.

Cha xứ mừng, mỉm cười tươi:

-Không dám. Ông trùm đã nói vậy, tôi xin góp ý thế này: Ông trùm còn trẻ tuổi, mới ngoài năm mươi phải không? Tôi xin lỗi, tôi e kinh nghiệm của ông chưa được chín muồi, ấy là so với quý ông đắc cử hôm nay thôi. Với lại, ai cũng biết gia đình ông trùm neo đơn. Bà nhà về với Chúa mấy năm rồi nhỉ? Mười năm rồi cơ à! Nhanh quá, vèo một cái đã một thập kỷ. Ông không còn bà, lại phải nuôi dạy bốn đứa con đang tuổi lớn, tuổi ăn, tuổi học. Điều kiện kinh tế của ông trùm - tôi xin lỗi lần nữa - lại có giới hạn, một gánh đè lên vai, nặng lắm. Ông trùm biết đấy, chức vụ chủ tịch ban thường vụ đòi hỏi nhiều thời gian, trách nhiệm rất cao, giáo xứ lại bắt đầu xây dựng nhiều công trình mới, trăm công ngàn việc.

Rồi cha xứ có vẻ khổ tâm lắm:

- Hay là thế này, ông nhường chức chủ tịch cho ông trương Nam nhé, được không? Công tư hai bề toàn vẹn.

Ông trương Nam vốn là cựu chủng sinh Têrêsa Long Xuyên, biết lõm bõm vài câu ngoại ngữ, nóng như Trương Phi, ngắt lời cha xứ:

- Không, không bao giờ, thưa cha, thưa quý chức! Con biết cha thương con. Nói như trong xã hội ngày nay, cha muốn “cơ cấu” con làm chánh trương. Nhưng con nhớ có một câu ngạn ngữ Latin: “Vox populi, vox Dei”, tiếng dân là tiếng Chúa. Cứ theo quy chế Hội đồng Mục vụ Giáo xứ và theo kết quả kiểm phiếu, dân đã bầu ông trùm Tân làm chánh trương, ông trưởng Bắc làm phó nội, con phó ngoại, thầy giáo Đông thư ký, bà quản Hoan thủ quỹ. Con nghĩ đó là ý Chúa, chúng ta phải chấp nhận và chấp hành.

Sau một hồi tranh luận, dù không phù hợp với tính toán của mình, cha xứ cũng không thể xoay sở khác đi được, đành phải đồng ý. Biên bản được ghi, được mọi người thông qua, chờ trình Đức Giám mục giáo phận châu phê.

2.

Lễ nhậm chức được tổ chức trong một Thánh lễ Chúa nhật, rất trang trọng, đầy ý nghĩa, phảng phất bầu khí được sai đi ngày xưa Chúa sai các môn đệ. Sau lễ, cha xứ mời quý chức tân cựu dùng bữa sáng. Ngày trước, các cụ khao chức chánh phó trương lớn lắm, có khi còn mổ trâu ăn mừng, đãi hàng xứ. Nhưng hôm nay, cha xứ mời mỗi người chỉ một gói mì tôm, trên lát một lớp thịt ba chỉ, bà quản Hoan thái mỏng đến nỗi người ta có cảm tưởng chỉ cần mở quạt điện số lớn, mấy miếng thịt kia sẽ bay đi mất. Vậy mà bữa ăn rộn rã tiếng cười, chứa chan tình cha con, huynh đệ. Mọi người quây quần bên cha xứ, quanh một chiếc bàn ăn tròn. Ông chánh Tân và bà quản Hoan ngồi gần nhau. Không biết ai khơi mào, tự dưng ông ký Đông phát pháo, chắc là muốn đùa ông chánh Tân:

- Theo Kinh Thánh thì “Người đàn ông ở một mình không tốt”.

Ông phó Bắc không đồng ý:

- Không phải người đàn ông, mà là “Con người ở một mình không tốt”.

Lời qua tiếng lại, không ai chịu ai. Ông phó Nam lên tiếng:

- Tôi nhớ: Đó là câu 18 đoạn 2 sách Sáng Thế Ký. Tôi không biết bản dịch Việt ngữ nào dịch homo là người đàn ông. Nhưng bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn là người, của nhóm Phụng vụ Giờ kinh là con người, của anh em Tin Lành là con người hoặc loài người. Bản tiếng Anh là man, dịch là đàn ông cũng được, là người cũng được. Vả lại, tôi nghĩ, lúc ấy Thiên Chúa tạo dựng con người chứ có riêng gì đàn ông giống họa ảnh của Người đâu? Thêm nữa, lúc ấy đã có đàn bà đâu để phân biệt với đàn ông? Cho nên dịch là người có vẻ hợp lý hơn.

Ông quay sang cha xứ:

- Con trộm nghĩ vậy, có sai sót, xin cha chỉ dạy.

Cha xứ cười:

- Gớm! Ông phó chịu khó đọc đấy nhỉ? Người ta ở một mình không tốt, đúng. Nhưng dịch là người đàn ông, cũng chấp nhận được.

Ông phó Bắc tếu táo:

- Nếu “Người đàn ông ở một mình không tốt” thì đó là ông chánh Tân; còn nếu “Con người ở một mình không tốt” thì đó là cả ông chánh Tân và bà quản Hoan. Cách sửa chữa tốt nhất là ông chánh và bà quản.

Ông trưởng Bắc bỏ lửng câu nói, nhưng ai cũng biết ông muốn nói gì. Mọi người cười rổn rang, trừ ông chánh cười nhạt và bà quản vội đưa tờ chương trình họp lên che mặt.

3.

Trong suốt thời gian tham gia Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, nói thật lòng, ông chánh Tân và bà quản Hoan chỉ biết đến công việc và công việc, chẳng có tình ý gì với nhau. Nhưng người ta nói ra nói vào quá, làm cho cả hai người cảm thấy hình như đó là một cơn cám dỗ, lại là cơn cám dỗ ngọt ngào, nên họ phải e dè đến mức phải phòng thủ. Trong những buổi họp sau này, bà quản Hoan tìm cách ngồi càng xa ông chánh Tân càng tốt. Khổ nỗi cái bàn họp của nhà xứ lại hình tròn, nên chỗ xa nhất lại là chỗ đối diện, nên ánh mắt họ cứ chạm nhau chan chát. Nhìn vào bốn con mắt đang chạm nhau ấy, ai cũng biết họ đang nói với nhau rằng: “Ông (bà) nổ súng tấn công đi, tôi sẽ đầu hàng vô điều kiện ngay tắp lự”. Nhưng không ai chịu bước đi bước đầu tiên. Họ luôn luôn trong tư thế phòng thủ nên câu chuyện chẳng đi đến đâu. Ngoài hai đương sự, mọi người đều biết, chắc không sai mấy, ông chánh và bà quản “phải lòng” nhau, và đồn ầm lên rằng, họ sắp lấy nhau đến nơi rồi. Nhưng rõ ràng, chuyện chẳng đi đến đâu thật.

4.

Hai anh chàng thanh niên cao to như hai ông hộ pháp ngồi đối diện với một người đàn bà nhỏ thó, lọt thỏm trong chiếc ghế bành bọc da giả màu gụ rộng thênh thang. Khó khăn lắm, người đàn bà mới mở lời được:

- Hai con King, Koong! Nghe mẹ hỏi, các con có nghe người ta nói gì về mẹ không? Cứ nói thẳng, nói thật, chân thành như từ xưa giữa mẹ con mình.

Anh King không đắn đo, trả lời mẹ dễ dàng:

- Chúng con nghe đầy tai, mẹ ạ! Nhưng có gì phải phải để tâm đâu? Đối với mẹ, chúng con là tất cả. Từ ngày bố mất đi, mẹ đã hy sinh đời mẹ, tuổi thanh xuân mẹ, nuôi dạy chúng con nên người. Mẹ biết chúng con kính yêu mẹ dường bao. Nhưng, nói gì thì nói, chúng con không thể dành hết thời gian của chúng con để chăm sóc, đền đáp ân nghĩa cho mẹ được. Nước và thời gian cứ chảy xuôi thôi. Chúng con còn công việc ở đời, rồi miếng cơm manh áo, rồi vợ con, một gia đình riêng phải chăm lo. Con xin lỗi mẹ, đến lúc rồi, mẹ cần phải có một người bạn đời, một người tri âm tri kỷ để chia sẻ buồn vui. Hơn nữa, như mẹ thường nói đó, làm người, ai cũng cần một bờ vai để khi khóc có chỗ tựa đầu. Mẹ cũng phải sống cho mẹ chứ, phải không?

Người đàn bà, bà quản Hoan đấy chứ ai, sụt sịt lấy khăn lau mặt:

- Mẹ cám ơn các con.

Anh Koong thêm vào:

- Ai nói gì kệ họ. Bác chánh Tân và mẹ đều là những người tự do, đến với nhau không hề vi phạm phép đạo luật đời. Hơn nữa, mẹ thấy đó, bác chánh là người tốt, được cả giáo xứ tín nhiệm, chính cha xứ cũng phải công nhận đời sống của bác không có điều gì chê trách được.

Rồi anh khúc khích cười:

- Bác ấy là người yêu lý tưởng, mẹ nhỉ?

Bà quản phải đứng lên, nhoài người, với tay mới cốc được lên đầu anh Koong một cái:

- Bố anh! Ăn nói giống hệt cha anh.

5.

Quay đi quay lại, họ đã xong việc, đã mãn nhiệm hai khóa Hội đồng Mục vụ Giáo xứ. Bây giờ, Ông chánh Tân đang già, tóc đã bạc gần hết, trên trán, trên mặt, ở đuôi mắt đã đường ngang rãnh dọc, những nếp nhăn đã có ngọn có ngành. Con cái ông đã có vợ có chồng, có cơ ngơi riêng. Họ không xây tổ ấm nơi chôn nhau cắt rốn, mà lập nghiệp nghe đâu mãi trên thành phố. Cô con gái cả, người con chí hiếu, nhất quyết không lấy chồng, ở vậy chăm sóc cha già. Nhưng khi các em đã có gia đình hết cả rồi, tình yêu đời cô mới lên tiếng. Cô nghe theo tiếng gọi trái tim, quên lời hứa với cha, hớn hở lên xe hoa đã hai năm nay. Trong căn nhà rộng thênh thang dưới quê, ông chánh một mình vào ra thui thủi. Ông sống lại thời còn đi học, tự đi chợ, nấu ăn, rửa bát, quét nhà, quét sân, giặt giũ. Mỗi buổi chiều, ông nấu một ấm nước chè xanh, ngồi ở chiếc ghế đá ngoài sân, giữa thanh thiên bạch nhật, chờ…

Hai anh King Koong đã lập gia đình từ lâu, công tác trên Bình Dương. Bà quản Hoan cũng một thân một mình, nhưng còn khỏe. Bà là một tay ngắm đứng nữ vô địch trong giáo xứ, giọng ngắm của bà như rót mật vào tai. Bà còn dạy các em thiếu nhi dâng hoa, dâng hạt, vãn hang đá. Mỗi lần bà đi nhà thờ ngang qua, ông chánh Tân thường gọi giật lại:

- Bà quản, bà quản! Uống hớp nước cho ấm lòng rồi hẵng đi. Chè tươi tôi gởi mua mãi trên kinh B, mang thẳng từ Bảo Lộc về đấy.

Có thế, và chỉ có thế. Họ đối xử với nhau như hai người bạn. Họa hoằn, bà quản lấy trong bọc ni-lon đen ra, cho ông khi thì gói xôi, khi thì cái bắp ngô luộc, khi thì củ khoai lang nướng, cũng có khi là bọc cá cơm hay cá lòng tong kho tiêu. Ông không so sánh những thứ bà đem đến với những của ngon vật lạ nào ông đã từng nếm qua trước đây. Nhưng những thứ bà đem đến hình như có hương riêng, vị riêng, ngoài ông ra, không ai biết, không ai cảm nhận được. Sao mà chúng ngon thế, ngon hơn tất cả mọi thứ cao lương mỹ vị trên cõi đời này. Nghe đâu họ không đến được với nhau vì hai đứa con bà quản thì ủng hộ hết mình, nhưng những đứa con ông chánh thì phản đối kịch liệt, vì dù bà quản có tiếng là khôn khéo, hiền thục cũng không thể buộc họ gọi là mẹ, dù là mẹ ghẻ, con của họ không thể gọi bà là bà nội hay bà ngoại, dù là bà nội ghẻ hay bà ngoại ghẻ. Có lần, bà quản bóng gió với ông chánh:

- Quyền ở trong tay ông chánh. Dù gì ông cũng là một gia trưởng.

Ông chánh Tân xoa hai tay vào nhau, xuýt xoa:

- Vâng, bà quản nói đúng. Nhưng gia trưởng trong một gia đình, cũng như linh mục trong một giáo xứ, thậm chí như giám mục trong một giáo phận, và mọi chức vụ khác trong Giáo Hội, được thiết lập là vì sứ vụ, để theo gương Thầy mình: “Không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ”. Phải không, bà quản?

Bà quản Hoan ngúng nguẩy chữa thẹn:

- Ứ! Tôi đi nhà thờ đây, muộn rồi.

6.

Câu chuyện của ông chánh Tân và bà quản Hoan vẫn chẳng đi đến đâu, nhưng có vẻ cảm động và đẹp, khiến cho nhiều đôi vợ chồng trẻ cũng như già phải nao lòng. Nhưng nếu người ta, nhất là những người con ông chánh cảm thông với ông hơn, bao dung hơn, thì hẳn là câu chuyện trên đây có thể khác đi, còn cảm động hơn nữa, đẹp hơn nữa, trọn vẹn hơn nữa. Và ngay đến cả hôm nay, nếu Chúa muốn, chuyện tình muộn ấy có lẽ chưa bao giờ quá muộn. 

Lãongu.

 

TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

Chuyện rằng: Với mong muốn được vi vút ở ngoại quốc, nên khi được người quen gợi ý, cô BT, ngụ tại phường 12 quận 6, đồng ý liền tù tì. Để hợp thức hóa việc xuất ngoại, BT ưng thuận làm thủ tục kết hôn giả với một với công dân Pháp, tên là Simon, 35 tuổi, hơn BT vừa đúng một con giáp. Theo hợp đồng, hai người là vợ chồng nhưng không sống chung. Khi đã định cư ở nước ngoài, thì ly dị và BT phải trả công cho ông chồng hờ 3.000 mỹ kim. Ngày 06-5-1997, BT và Simon được Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận kết hôn. Từ đây, cô gái những tưởng mọi chuyện đã xuôi chèo mát mái, bắt đầu thêu dệt mộng việt kiều. Nào ngờ chàng rể vi phạm hợp đồng, đòi làm chồng thật, chứ nhất định không chịu đóng vai làm chồng hờ nữa. Đường cùng, BT phải đâm đơn cho ba tòa quan lớn xin ly hôn. Vì thà “ vỡ mộng “còn hơn là tàn một kiếp hoa.

Từ sự việc trên đây, gã nghiệm ra rằng: Sự giả là một cơn bệnh trầm trọng của xã hội hiện nay, là một hiện tượng được liên tục phát triển qua mọi lãnh vực, từ hàng hóa đến con người. Vậy giả là gì? Dĩ nhiên, giả có nhiều nghĩa, nhưng trong phạm vi bài này, gã chỉ xin được tự hạn chế: Giả là nhái cho giống để gạt người ta. Thí dụ như giả điếc, giả câm, giả bộ. Riêng dân có tinh thần ăn uống cao, ghiền món “cờ tây’’ mà nếu không sẵn, thì bèn phệu ra món ‘’giả cầy’’ để xài cho đỡ nhớ. Vật liệu được làm bằng thịt heo, tẩm liệm với riềng mẻ và mắm tôm, xào lên thơm phưng phức, làm điếc cả mũi hàng xóm, xơi vào cũng êm trời gió bụi, chẳng khác chi thịt cầy thứ thiệc.

Bây giờ xin trở lại với phạm trù hàng giả. Hàng giả hơi khác với hàng dổm một tí, bởi vì hàng dổm là hàng có phẩm chất kém. Còn hàng giả, ngoài phẩm chất tồi, còn mắc thêm cái tội “cóp pi” mẫu mã y chang thứ hàng thật, rồi tung ra thị trường, nhằm dối gạt người mua, gây thiệt hại đôi ba bề. Hàng giả lúc này thật ê hề, tràn lan từ cái tăm đến hộp xà phòng, từ chiếc đồng hồ đeo tay đến những máy móc đắt tiền. Chẳng thế mà có thời người ta để mỉa mai: Hồng Kông bên hông Chợ Lớn. Nghệ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi, khiến cho người tiêu dùng khó mà nhận ra, chỉ khi mua về đem xài thì mới vỡ nhẽ ra đó là hàng giả.

Trưa Sài Gòn, trời nắng như đổ lửa. Đường phố ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt. Một cô nàng ăn mặc thật đúng mốt. Cổ thì giây chuyền. Tay thì vòng vàng óng ánh. Còn thân hình yểu điệu thì đang cưỡi trên một chiếc xe gắn máy, dường như cô nàng vừa mới đi dự tiệc và đang trên đường về nhà. Bỗng một chiếc xe gắn máy khác trờ tới và ép sát cô nàng. Người ngồi sau lanh tay lẹ con mắt chộp vội sợi dây chuyền nơi chiếc cổ nõn nường, khiến cho chiếc xe lảo đảo và cô nàng suýt bị đo đường. Thế nhưng, chỉ một lúc sau hai tên kẻ cướp vòng xe lại, ném sợi giây chuyền vào mặt cô nàng và chửi: Tiên sư em nhé, đẹp như tiên mà xài toàn đồ giả.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý điều này: Hàng giả đang lũng đoạt thị trường, nhưng không nguy hiểm cho bằng người giả. Thực vậy, nhìn vào con người, chúng ta thấy từ vóc dáng và hành động bên ngoài đến tình cảm và ý nghĩ bên trong, người ta đều có thể giả được tuốt luốt.

Nếu các cụ ta ngày xưa thường bảo: Cái răng cái tóc là góc con người. Thì ngày nay, với kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ và trang điểm tuyệt vời, người ta có thể cải lão hoàn đồng, từ một bà già trầu móm mém gần đất xa trời trở nên một cô thiếu nữ liễu yếu đào tơ trong thoáng chốc bằng cách trang bị cho bà cụ những thứ đồ giả: Nào là mái tóc giả, nào là hàng mi giả, nào là hàm răng giả, nào là bộ ngực giả, nào là cặp mông giả. Người ta cũng có thể tạo nên những mụn ruồi giả, những má lún đồng tiền giả, những chiếc cằm xẻ giả. Thậm chí có những anh chàng đực rựa “chăm phần chăm” được cải trang thành những cô gái y như thật, khiến cho những đấng mày râu háo sắc và ngây thơ cụ cũng phải bé cái lầm.

Thế nhưng cái “hình dong bên ngoài” không quan trọng cho bằng những cái làm nên phẩm chất bên trong của con người. Và những thứ này lại cũng toàn là đồ giả. Chẳng hạn để khoe khoang với bè bạn, để dễ dàng trong công ăn việc làm, cũng như để luồn lách vào chức vụ nọ chức vụ kia, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cái bằng phó tiến sĩ giả, để hù dọa bà con lối xóm.  Người ta cũng có thể mượn danh làm công an giả, cán bộ giả, thậm chí cả linh mục giả để dối gạt thiên hạ, ẵm về cho mình những món tiền lớn và những lợi nhuận kếch xù. Thế nhưng bẽ bàng và cay đắng hơn cả, đó là người ta đã mượn tạm danh nghĩa, lợi dụng những chức vụ giả ấy để ăn cướp cơm chim, phỗng tay trên chén cơm manh áo của các em nhỏ trong viện mồ côi, của các cụ già trong nhà dưỡng lão bằng cách lừa đảo các tổ chức từ thiện cũng như các nhà hảo tâm. Mánh mung của bọn này thì thiên biến vạn hóa, đến quỉ thần cũng không lường nổi mà chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí.

Từ phẩm chất giả, quạ mượn lông công, cáo mượn oai hùm, chúng ta bàn tới những hành động giả. Và một trong những hành động giả mà gã xin đề cập đến, đó là hôn nhân giả. Thực chất của cuộc hôn nhân giả chính là tình yêu giả. Người ta giả bộ yêu nhau để toan tính những công việc khác chẳng hạn như để xuất ngoại, để làm ông nọ bà kia. Họ nhìn vào người ấy không phải để thấy người ấy dễ thương và dễ mến, nhưng để thấy túi tiền người ấy đang có, cái ghế người ấy đang ngồi, tòa nhà người ấy đang ở, chiếc xe người ấy đang đi. Tóm lại, họ không yêu gì người ấy, mà yêu cái tài sản, cái chức vụ của người ấy mà thôi.

Nổi cộm trong hàng loạt hành động giả này, đó là cái thói giả hình, hay nói một cách cụ thể hơn, cái thói giả nhân giả nghĩa, hay đạo đức giả. Họ là những kẻ khẩu phật tâm xà, miệng nam mô bụng bồ dao găm,  đúng như tục ngữ đã diễn tả: Nam mô, một bồ dao găm, một trăm dao mác, một vác dao bầu, một xâu thịt chó.

Họ là những kẻ nghĩ thế này, nói thế kia, nói một đàng làm quàng một nẻo. Tư tưởng không đi đôi với lời nói, còn lời nói thì không đi đôi với việc làm. Tư tưởng, lời nói và việc làm của họ không còn trong suốt như pha lê. Không còn hợp nhất với nhau. Họ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí họ còn làm ngược lại với điều họ nói.

Để kết luận, gã  xin trích một đoạn dưới đây từ báo phụ nữ ngày 27-9-1997: “NM sinh viên khoa ngữ văn, một cô gái tài hoa, có lối sống khá bạt mạng, mệt mỏi tâm sự: Ở gia đình, bố mẹ luôn dạy tôi cách sống tốt, chân thật, nhưng tôi biết rõ ràng đó chỉ là lời nói. Thực tế còn cả một khoảng cách. Cái khoảng cách ấy đã được NM nhận rõ  khi người ta phát hiện hai cái học vị phó tiến sĩ của bố và mẹ NM đều là của giả. NM bộc lộ: Tôi không quan lắm đến danh dự gia đình, nhưng bố mẹ, những thần tượng của tôi, đã hoàn toàn sụp đổ. Thế đấy, cái giả tưởng chừng như vô thưởng vô phạt đang giết chết một thế hệ về mặt tinh thần. Và ngày nay không cần thiết phải chứng minh tính chính trị của đạo đức nữa. Cái khó là tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa và những cơ chế vận hành nào đã đưa tới tình trạng báo động này. Ta đánh giá cao những báo cáo tô hồng, khiến cho cấp dưới tập phản xạ nói dối, phản xạ này ăn sâu trong tâm tư họ đến nỗi có người không còn biết nhận ra và phân biệt thật và giả, đúng và sai. Phải tập lại từ đầu, không phải bằng hô hào mà bằng hành động”.

Và rồi cuối cùng: Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.

 

CHUYỆN NHÀ XỨ

Lôrensô

 

Đối với rất nhiều người giáo dân, cuộc sống của các cha là một “mầu nhiệm”. Có không ít người xem và nghĩ những sinh hoạt trong nhà xứ cả là một bí mật thâm sâu. Có người còn đinh ninh trong đầu rằng bầu khí trong nhà xứ thì lúc nào cũng nghiêm trang và thiếu vắng tiếng cười. Hôm nay tôi xin kể một số câu chuyện có thật, để mọi người biết rằng trong nhà xứ cũng chan hòa niềm vui và có nhiều điều hấp dẫn. Đối với quý cha, xin đừng xem đây là những câu chuyện với mục đích “vạch áo cho người xem lưng”. Nhưng là “đem ra cho dân thấy mà thương”.

Trong nhà xứ có những ai? Mọi người đều biết rồi. Có nơi thì chỉ một mình cha sở. Nơi khác có thêm cô bếp. Có nơi thì ngoài cha sở thì có thêm cha phó hoặc thầy giúp xứ. Ở đây tôi xin kể câu chuyện ở một nhà xứ có cha sở, cha phó, thầy xứ và cô bếp.

Ở một nhà xứ nọ, cha sở đã khá đứng tuổi. Ngài là một linh mục có thâm niên quản trị giáo xứ. Ngài từng coi các xứ lớn. Kinh nghiệm của ngài thì dồi dào và phong phú. Ngài vừa được tòa giám mục gởi đến một cha phó mới toanh. Cha phó còn rất trẻ, “nóng hổi” vì vừa “mới ra lò”. Cha rất vui mừng vì có thêm người trợ tá trong công tác mục vụ. Ngày cha phó về xứ, cha sở tâm sự: “Tôi với cha làm mục vụ giáo xứ giống như đi làm dâu trăm họ. Tôi thì “làm dâu” trước nên có kinh nghiệm. Cha “mới về nhà chồng” thì còn bỡ ngỡ. Điều gì không biết cứ hỏi. Cha yên tâm, có gì mình giúp đỡ lẫn nhau, “chị ngã em nâng”. Cha phó nghe được những lời ấy thì vô cùng phấn khởi và an tâm.

Bầu khí trong nhà xứ thật ấm cúng và đậm đà tình thân mến. Mỗi bữa ăn là một bữa vui vẻ. Ngày nào cũng tràn ngập tiếng cười. Hôm thì cha sở hợp với thầy xứ “tấn công” cha phó. Bữa khác thì cha phó “cộng tác” với “thầy tấn” công cha. Cũng có khi thầy xứ bị xui, hai cha “ăn rơ” “đánh hội đồng” thầy. Cứ đến bữa ăn là rộn lên tiếng cười. Cha sở tâm sự: “Bàn ăn phải là nơi chan chứa niềm vui. Tôi rất buồn khi có cha sở và cha phó đến bữa ăn phải đặt cái radio hay mở tivi lên mà xem. Như vậy là cha sở và cha phó như chó với mèo, không ăn chung được với nhau. Mà khi người ta khó ăn chung rồi tức là người ta đã không ở được với nhau.

Cha sở và cha phó ở đây khá là hài hước. Vui tính cũng là yếu tố giúp người ta dễ sống chung với người khác. Khi cha sở có việc đi đâu xa, cha phó ở nhà. Và ngược lại cũng thế. Lúc cha sở đi xa, ngài trao mọi sự cho cha phó. Cha phó đáp lời: “Cha cứ yên tâm, con không bán nhà xứ đâu. Con ở nhà trông nom mọi thứ rất cẩn thận, không mất mát gì hết ạ! Cha phó là con chó cho cha sở mà.” Cha sở đáp lời: “Trăm sự nhờ cha. Cha nhớ ăn uống cho đàng hoàng tử tế để có sức mà canh nhà nhé!” Dịp khác cha phó đi xa, ngài đến xin phép cha sở. Cha sở đồng ý và gởi tặng thêm một câu: “Cha cứ tự nhiên đi đâu thì đi. Mọi việc ở nhà đã có tôi. Cha sở là đầy tớ cho cha phó mà.” Cha phó đáp lễ: “Dạ, cha nhớ giữ gìn sức khỏe. Hy vọng đây là đầy tớ trung tín và khôn ngoan”.

Có một điều khá hay là mỗi lần người này đi xa về đều có quà cho người kia. Có khi nhỏ thôi nhưng lại rất chứa chan tình cảm. Khi mà người ta nghĩ đến nhau mỗi khi đi xa tức là người ta rất gắn bó với nhau. Chỉ khi nào xem nhau như người thân trong gia đình, người ta mới quan tâm đến người kia. Cha sở và cha phó ở đây đối xử với nhau không khác một gia đình. Thật là hạnh phúc.

Chuyện của hai người có còn gì hấp dẫn? Trong công việc, họ ứng xử với nhau thế nào? Muốn biết ra sao xin xem hồi sau sẽ rõ.

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

ĐỜI LINH MỤC

Lắng nghe tiếng Chúa gọi mời

Đi làm nhân chứng giảng Lời hân hoan

Vui say đáp trả ân ban

Sống đời thánh hiến tỏa lan tình trời.

              Trung gian giữa Chúa với người

Ngày ngày tế lễ dâng lời tụng ca

Loan tin cứu độ gần xa

Sứ ngôn rao giảng tình Cha trên trời.

Yêu thương tất cả loài người

Anh em con Chúa từ trời tác sinh

Đế vương phục vụ tận tình

Nên người tôi tớ hết mình dấn thân.

          Đời  vui cuộc sống thanh bần

Tỏa hương thanh khiết thế trần lập công

Nguyện vâng theo ý quan phòng

Trọn đời phó thác một lòng tín trung.

          Pr. Hồng Khải, Gx. Núi Sập

 

CHUÔNG CHIỀU SÁM HỐI

Hoàng hôn tím

nhẹ rơi trên nóc giáo đường

Tiếng chuông chiều trầm vọng

rộn rã - thiết tha

Phương trời xa

cánh chim lưu lạc đang mơ về tổ ấm

Lãng đãng niềm đau

một thời lạc bước, phung phí - hoang đàng

Chiều nay tiếng chuông giục giã - mênh mang

Rưng rức nỗi cô đơn gặm nhấm - vương vương nhạt nhòa

dấu bước rong rêu

vùi tuổi xanh trong bụi trần nhơ nhớp

Chiều tím buông rơi

đứa con hoang chạnh lòng se sắt

nhớ về mái ấm yêu thương có người Cha cô quạnh

cồn cào - nhớ mong.

Thôi từ giã tháng ngày bạc bẽo, hằn tủi kiếp người

Trở về cúi đầu tạ tội bên nguồn yêu thương.

hồng ân gột rửa - Vòng tay Cha bao dung mở rộng đón chờ

Rạo rực niềm vui - hạnh phúc

Thiên đường thênh thang

đón con về rộn rã khúc hân hoan.

Nhật Quang, Gx Thái Hòa

 

GƯƠNG SÁNG GIA ĐÌNH

Theo chân Chúa trên con đường thập giá

Trong sứ vụ người gia trưởng mẫu gương

Xin cho Cha dù khó khăn, đoạn trường

Luôn vững lòng tín thác trong vâng phục.

Con có cha, gia đình là hạnh phúc

Cha luôn là trụ cột của gia đình

Là người cha không quản ngại hy sinh

Là người chồng thuỷ chung và son sắt.

Dù Chúa ơi! cuộc đời bao thử thách

Bao thăng trầm trong cuộc sống gia đình

Hằng noi gương thầy Giuse công chính

Để gia đình là Hội Thánh tại gia.

                                                                                                    Nước Xanh

 

GIA TRƯỞNG

Đứng đầu trụ cột trong nhà

Lo toan gánh vác, cho gia đình mình

Hằng ngày vất vả mưu sinh

Cũng vì cuộc sống, gia đình vợ con

Miếng cơm, manh áo, học hành

Đôi vai trĩu nặng, gian nan nhọc nhằn

Nặng hơn sống đạo, yêu thương

Soi đường con cái, tinh thần Phúc Âm

Niềm vui, hạnh phúc nào bằng

Gia đình thăng tiến, vươn lên với đời

Các con khôn lớn nên người

Chu toàn trách nhiệm, tuyệt vời Chúa trao

    Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

 

TÔI LÀ GIA TRƯỞNG

Tôi là gia trưởng trong nhà

Sống theo ý Chúa luôn là vâng nghe

Noi gương thánh Cả Giuse

Gia đình có Chúa chở che đêm ngày

Siêng năng lao động hăng say

Vì con, vì vợ tràn đầy khó khăn

Vui buồn, sướng khổ băn khoăn

Đó là ý Chúa hồng ân gia đình

Yêu thương, giúp đỡ nhiệt tình

Chu toàn bổn phận gia đình yên vui

Sống cho tốt đạo đẹp đời

Cùng nhau nên thánh Chúa Trời thưởng công

Đêm ngày gia trưởng làm gương

Tối kinh, sáng lễ yêu thương giúp người

Việc nhà, việc xứ, việc đời

Thế là gia trưởng mọi người mến yêu

Song kiên, Gx. Đài Đức Mẹ

 

HÃY HỌC NƠI THÁNH GIUSE

Hãy học nơi thánh Giuse,

Một người gia trưởng chở che mái nhà.

Ân tình trầm lắng câu ca,

Làm cho rạng rỡ vườn hoa gia đình.

Trọn đời đẹp những hy sinh,

Khiêm nhường, khiết tịnh, đượm tình thương yêu.

Cần lao, gian khổ sớm chiều,

Đem niềm hạnh phúc, đem nhiều an vui.

Người cha nhân đức sáng ngời,

Người chồng chung thủy tuyệt vời mẫu gương.

Nên công chính giữa đời thường,

“Xin vâng” Thánh ý trên đường mến tin.

Một gia đình Thánh xinh xinh,

Ngợp trong ơn Chúa, nghĩa tình bao la.

Giuse, gia trưởng hiền hòa,

Lâng lâng còn đó vang xa ngàn đời.

Ai ơi! Học ở nơi Người,

Cho tròn ơn gọi giữa đời hôm nay.

Xứng danh gia trưởng, đẹp thay!

Thành như Gia Thất tràn đầy hoan ca.

 

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi.

 

CHA XỨ MẾN THƯƠNG

Mến cha dáng vẻ hiền hòa

Thương cha sức khỏe nhạt nhòa tháng năm

Vẫn còn nhiều nỗi băn khoăn

Lo cho giáo xứ mở mang rạng ngời

Lo việc truyền giáo nơi nơi

Đó đây ngoại đạo nhiều người chưa tin

Cha hằng khấn hứa nguyện xin

Mong sao xứ đạo con chiên hợp đoàn.

Cha là nốt nhạc, phím đàn

Cha là bài hát chứa chan tâm tình

Nguyện xin Chúa Cả Thiên Đình

Ban cho cha xứ an bình chở che

Đỡ nâng cha xứ mọi bề,

Ban nhiều sức khỏe, tràn trề hồng ân

Để cha dìu dắt giáo dân

Dẫn đưa con cái ngày gần Chúa hơn.

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ

 

 

 

TẢN MẠN

 

CẦU NGUYỆN CHO LINH MỤC

 

Vì yêu Chúa, các ngài đã chịu đựng nỗi cô đơn mỗi khi chiều tà. Khi thánh lễ vừa tan mọi người ai nấy đều ra về bên gia đình, con cái, anh chị em, họ quay quần bên nhau. Riêng người linh mục phải ở một mình với sách, với vở, với bút, với không gian tĩnh mịch đến đáng sợ. Đấy đời tu chỉ có thế thật đơn sơ thêm phần chịu đựng. Nhưng con người không ai hoàn mỹ, không ai tốt hết cả, kể cả người linh mục. Vì thế mà chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho các ngài.

Têrêsa

ĐƯỜNG THẬP GIÁ

 

Bông hồng nào mà chẳng có gai, cuộc đời nào mà chẳng có những đắng cay khổ đau của nó. Những đắng cay khổ đau này đã làm cho cuộc đời tôi trở thành một con đường thập giá. Và để đi trên con đường thập giá, tôi cần phải tín thác vào Thiên Chúa. Thực vậy, đã có những lúc tôi thực sự yếu đức tin. Tôi chạy theo quyền bính, giàu sang, lạc thú và đã quên đi chính sự hiện diện của Chúa trong đời sống đức tin. Tôi chợt nhận ra rằng cuộc sống của tôi đều nằm trong tay Chúa, tất cả mọi sự của tôi đều là do Chúa ban tặng. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong”. (Gieremia 17, 7) Khi đã đặt niềm tin vào Chúa thì cuộc sống của tôi giờ đây phải là sống cho Chúa và nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, tôi có thể mạnh dạn bước vào con đường thập giá Chúa đã gửi đến cho tôi với tinh thần của thánh Phaolô đã nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kito sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2,20).

Joach Nguyễn Anh Tuấn Kiệt, Gx Thanh Hải

 

NGƯỜI GIA TRƯỞNG TRONG XÃ HỘI HÔM NAY

 

Ngày nay, khi nhắc đến người gia trưởng trong Giáo Hội, chúng ta thấy một gương sáng, đó là người gia trưởng trong mái nhà Nazaret, Thánh Giuse, một lý tưởng cho những người làm cha, làm chồng phải nói theo. Người gia trưởng cần noi gương Thánh Giuse biết lắng nghe và thực hành đối với công trình làm cha Đấng Cứu Thế, biết lo lắng cho cuộc sống ngay cả ở trần thế và cho cuộc sống vĩnh cửu sau này; trở nên người công chính trong sự dấn thân và thầm lặng. Học hỏi ở thánh nhân trong xã hội hôm nay, người gia trưởng biết trở nên mẫu gương cho con cái noi theo, biết lo lắng cho gia đình cả về vật chất lẫn tình thần, biết hy sinh thầm lặng, sống công chính thánh thiện. Biết thay đổi suy nghĩ của con tim theo chiều hướng tích cực và tốt đẹp hơn, biết quan tâm lo lắng cho gia đình bằng cả con tim, tránh tìm vui với những thú vui không lành mạnh, làm tổn hại đến chính gia đình mình.

Lưu Hành

BÁC ÁI  THIẾT THỰC

 

Giới Gia trưởng của GX Thạnh An, trong những năm gần đây, đã duy trì  được một hoạt động bác ái rất thiết thực. Đó là cùng nhau, cộng tác sửa chữa nhà cửa rách nát, lụp xụp, cho nhiều gia đình nghèo, không phân biệt lương với giáo, ở trong hay ngoài GX. Với quyết tâm, mỗi tháng thực hiện một căn nhà. Tính đến nay, Giới này đã sửa chữa được 58 căn. Công việc không lấy gì làm to tát lắm, chỉ là nâng nền, lát gạch, thay cột kèo rui, lợp tôn, vây lại dừng vách đã hư hỏng. Mỗi căn nhà sửa chữa như thế, chi phí dăm ba triệu đồng, do lòng đạo đức của bà con giáo dân, cùng với sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm trong ngoài giáo xứ. Nhiều người rộng lượng còn cho cây to trong vườn, anh em Gia trưởng phải đến đốn chặt, mang vác đến trại cưa để xẻ ra gỗ ván, đòn tay. Công việc thật nhiêu khê vất vả, nhưng tất cả vì tinh thần phục vụ, anh em đã hăng hái tham gia không quản ngại. Ước mong hoạt động bác ái này luôn được duy trì và nhân rộng, để các gia đình nghèo không còn phải sống trong căn nhà xiêu vẹo, rách nát, tồi tàn nữa. Đó cũng là cách thể hiện sự chia sẻ, quan tâm lẫn nhau cụ thể nhất, đối với  những người sống chung quanh mình.

Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

 

HÃY HỌC VỚI TÔI

“Hãy học với Tôi vì Tôi hiền hậu và khiêm nhường trong lòng”. Đây là lời mời gọi rất chân thành và từ tốn, lời nói của một người bạn nói với một người bạn rất thân thiết để cùng nhau thăng tiến. Con người của mọi thời đại, đặc biệt là ngày nay quá nhiều bạo lực và đầy rẫy kiêu căng, thì lòng hiền hậu và khiêm nhường càng cần thiết xiết bao! Hiền hậu để biết cư xử, biết yêu thương mọi người, không hờn giận oán thù ai. Khiêm nhường để biết mình hèn mọn, yếu đuối, tội lỗi, cần được yêu thương và trợ giúp của Thiên Chúa cũng như của mọi người đang sống chung quanh. Nếu ai cũng học được bài học hiền hậu và khiêm nhường của Đức Giêsu, thì thiết tưởng thế giới này sẽ đầy ắp những niềm vui, hạnh phúc và bình an.

Đaminh Trần Văn Chính, Gx Đền Thánh Giuse An Bình

 

 

TẦU TITANIC

 

Cứ vào tháng 4, toàn thế giới lại nhắc đến một sự cố quan trọng đó là con tầu nổi tiếng Titanic bị chìm xuống đáy biển. Tầu Titanic nguyên gốc là Titan, tên một vị thần khổng lồ và dũng mãnh của Hy Lạp. Khi cử hành nghi thức hạ thủy, ông chủ của nó đã cao giọng phát biểu rằng: “Nó không thể chìm, và không thể chìm được”. Vậy mà do chủ quan của thuyền trưởng và đoàn thủy thủ nên vào lúc 11g40 đêm thứ 7, ngày 14.4.1912, tầu gặp nạn xô vào tảng băng, cầm cự tới 2g20 chiều chủ nhật ngày 15.4.1912, thì chính thức bị báo tử. Trên tầu cả thảy là 2200 người, thì 706 người được tầu Carpatia cứu, số còn lại là 1494 người đều chết. Kể từ ngày hạ thủy và đến ngày bị đắm, vỏn vẹn chỉ có 4 ngày. Qua câu chuyện trên, mình ngộ ra là tính kiêu căng, tự phụ, tự cao, tự đại, dễ làm cho mình trở nên mù quáng và kéo theo những hậu quả tai hại cho người khác. Xin Chúa hướng dẫn và dạy con sống khiêm nhường để được Chúa thương. Bởi vì “Chúa nâng cao người khiêm nhường, và  hạ bệ những kẻ quyền thế” (Lc 1,52a)

Ant. Nguyễn Đức Xinh, Gx Bình Thái

 

NGƯỜI GIA TRƯỞNG

 

Người gia trưởng có một vai trò rất quan trọng, là trụ cột chính của gia đình: Vừa là một người chồng, lại vừa là một người cha. Vì thế, trách nhiệm của người gia trưởng rất lớn. Người gia trưởng phải là chỗ dựa của người vợ và là điểm tựa cho những đứa con. Người gia trưởng phải nêu gương sáng cho vợ và các con, phải chu toàn bổn phận của một người chồng yêu thương và của một người cha đáng kính trong gia đình.

Hồng Ân, Gx An Sơn

 GIA TRƯỞNG VÀ NHIỆM VỤ

XÂY TỔ ẤM GIA ĐÌNH

 

Người ta thường nói “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, điều đó không có nghĩa là đàn ông không cần quan tâm và có trách nhiệm gì trong việc xây dựng gia đình thành một tổ ấm yêu thương, hạnh phúc. Đó là chẳng qua chỉ là nhấn mạnh đến việc phân công nhiệm vụ vợ chồng trong gia đình, ở đó “người thì lo xay lúa, người thì lo bồng em”. Trong đời sống hôn nhân, cả hai vợ chồng sẽ mất đi một nửa quyền lợi và nhân đôi nghĩa vụ. Nhưng trên hết, người chồng với vai trò là gia trưởng, sẽ có những nhiệm vụ đặc thù thích hợp với vai trò lãnh đạo gia đình của mình. Những việc mà người chồng thực hiện sẽ đóng góp rất lớn vào việc xây dựng gia đình thành mái ấm tràn ngập yêu thương và hạnh phúc. Có thể liệt kê ba nhiệm vụ chính sau đây của người gia trưởng: nhiệm vụ quản gia, nhiệm vụ quản lý và nhiệm vụ quản giáo.

1.       Nhiệm vụ quản gia

Người ta vẫn thường hiểu người quản gia là người được thuê mướn để trông coi nhà cửa và làm các việc vặt trong nhà theo lệnh của gia chủ. Tuy nhiên trên thực tế, người chồng người cha trong gia đình cũng là một quản gia. Họ có nhiệm vụ quán xuyến các việc lớn nhỏ trong gia đình. Họ thức khuya dậy sớm. Họ lao động cật lực với đủ mọi thứ công việc mà không đòi hỏi lương bổng. Trách nhiệm của họ là tạo dựng một gia đình thành một tổ ấm trong đó mọi sinh hoạt được thực hiện một cách trôi chảy, tốt đẹp. Tuy nhiên, phải thừa nhận điều này là cũng có nhiều vị gia trưởng không chu toàn bổn phận người chồng người cha của mình. Họ không hề quan tâm đến gia đình và những gì xảy ra ở đó. Sự hiện diện của họ trong gia đình rất mờ nhạt, bởi họ sống trong gia đình như một khách trọ. Trong một bài báo mới đây trên trang vnexpress.net có tựa đề “Những mẫu đàn ông dễ khiến phụ nữ muốn ly hôn”, tác giả Hà Linh đã viết như sau: “Những ông chồng sống như khách trọ trong nhà, ra ngoài thì ba hoa, về nhà chẳng mó tay tới việc gì hay luôn đổ lỗi cho ngoại cảnh, dễ khiến vợ thấy hối tiếc khi kết hôn”. Theo tác giả, những đàn ông như thế này thuộc thành phần vô tâm, họ không quan tâm gì tới gia đình. Họ “không nghe - không biết - không thấy”. Chuyện lớn, chuyện nhỏ họ đều phó mặc cho vợ, coi vợ như “người-biết-tuốt” còn họ thì như khách trọ”.

2.       Nhiệm vụ quản lý

Bên cạnh việc quản gia, người gia trưởng còn là người quản lý của gia đình nữa. Quản lý ở đây không phải là độc đoán nắm giữ, điều hành tất cả, mà là quán xuyến mọi việc gia đình. Họ biết nắm bắt các nhu cầu của cả gia đình và của mỗi thành viên trong gia đình. Từ việc lớn đến việc nhỏ. Việc lớn có thể là xây cất sửa sang nhà cửa, mua sắm trang bị cho gia đình, việc sinh hoạt học hành của con cái vv. Việc nhỏ có thể liên quan đến cái ăn cái mặc, kế hoạch chi tiêu trong gia đình. Dù gia đình ở trong hoàn cảnh nào bất kỳ, người gia trưởng tốt sẽ luôn quan tâm, lo lắng và điều hành các việc trong gia đình sao cho suôn sẻ, trôi chảy. Quả thực, là người lãnh đạo trong gia đình, vị gia trưởng gương mẫu sẽ là người biết hi sinh, biết quên mình để làm “đầy tớ” mọi người. Chúng ta thử nghe tâm sự sau đây của một vị gia trưởng:

“Tôi là giám đốc một công ty, lương tháng ba nghìn đô, cao gấp chục lần vợ tôi nhưng khi về nhà thấy vợ hì hụi trong bếp, tôi vẫn sẵn sàng lao vào nhặt rau, rán cá bình thường. Thậm chí có lúc nhìn mặt thấy vợ tôi mệt tôi luôn giục nghỉ đi, để tôi làm. Bạn bè, bố mẹ, gia đình, nhân viên của tôi trong cơ quan đều biết việc này nhưng tôi lấy đó làm hãnh diện chứ không bao giờ có suy nghĩ “thằng đàn ông kém cỏi mới rửa bát” như bạn. Lấy vợ chứ có phải lấy osin đâu? Yêu vợ, thương vợ thì càng phải xắn tay áo vào làm đỡ đần vợ” (x. webtretho.com/forum/goc-nhin-cua-mot-nguoi-dan-ong-luong-thang-3000-thang-ve-honnhan).

3.       Nhiệm vụ quản giáo

Trong gia đình, con cái không thể thiếu bóng dáng và sự hiện diện của người cha được. Bởi như người ta thường nói: “Con không cha như nhà không nóc”. Cha mẹ không chỉ sinh con, nuôi con, mà còn phải dạy dỗ, giáo dục con cái nữa. Và đây là nhiệm vụ quan trọng nhất. Việc này thì kéo dài cả đời. Vì mười năm trồng cây, nhưng mất trăm năm trồng người.  Hơn ai hết, người gia trưởng quan tâm và đầu tư công sức cho việc giáo dục con cái. Không thể khoán trắng việc này cho người vợ được. Có thể gọi đây là nhiệm vụ quản giáo của gia trưởng trong gia đình. Trước hết họ kết hợp chặt chẽ với người bạn đời trong việc định hướng mục đích và các phương pháp giáo dục. Kế đến là kiên nhẫn thực hiện việc giáo dục con cái như thế nào cho thật hiệu quả và thích hợp. Sau đó, chính họ thường xuyên quan tâm theo dõi đời sống và các sinh hoạt của con cái để đáp ứng các nhu cầu của chúng, giúp đỡ chúng phát triển mọi mặt và đạt tới sự trưởng thành cần thiết. Một điều quan trọng mà chúng ta cần lưu ý là chính bản thân người gia trưởng luôn phải là tấm gương sáng cho con cái về mọi mặt. Làm gương sáng đó chính là một phương thế giáo dục hiệu quả nhất.

 

Aug. Trần Cao Khải

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

HỌP MẶT MỪNG KỶ NIỆM 50 CHỦNG VIỆN TÊRÊSA

Sau một buổi tối sinh hoạt theo lớp tại các giáo xứ, sáng thứ hai ngày 23.2, tức mồng năm tết, khoảng 270 anh em chủng sinh, bố đời cũng như bố đạo, đã quy tụ về Tòa giám mục để tham dự ngày họp mặt mừng kỷ niệm 50 chủng viện Têrêsa. Ban sáng quý anh chị đã chào thăm và chúc tuổi các Đức giám mục, học hỏi về lịch sử giáo phận, cũng như dấu ấn của chủng viện Têrêsa. Sau đó là chụp hình lưu niệm và Thánh lễ. Tiệc trưa được tổ chức theo kiểu tự chọn. Ban chiều là những sinh hoạt nội bộ, bầu ban liên lạc mới với cha Phêrô Bùi Duy Tân làm gia trưởng của gia đình Lên Đường. Ngày họp mặt đã diễn ra một cách tốt đẹp và đã khép lại vào lúc 15g30.

LỄ GIỖ CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

TẠI GIÁO XỨ CỒN PHƯỚC

Giáo xứ Cồn Phước là quê hương của cha PX Trương Bửu Diệp. Sáng ngày 12.3.2015, Đức Giám Mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến và chủ tế Thánh lễ kỷ niệm 69 năm ngày qua đời của cha. 8g30, nghi thức viếng mộ song thân phụ mẫu của cha Phanxicô Xaviê được cử hành tại đất thánh giáo xứ Cồn Phước. 9g00 Thánh lễ bắt đầu có 28 cha đồng tế và khoảng 5.000 người hành hương tham dự. Trong tâm tình cảm tạ, Đức Giám Mục đã nói lên những

 

nhân đức thánh thiện của vị Tôi Tớ Chúa. Qua đó, Đức Giám Mục kêu gọi mọi người khi hành hương đến đây không chỉ để xin ơn, mà còn nhìn vào gương mẫu của Ngài; biết sống và làm chứng cho Chúa như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mỗi người.

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ GX THÁNH GIUSE, KE2

Sáng thứ bảy, ngày 14.3, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã viếng thăm giáo họ thánh Giuse, thuộc giáo xứ An Sơn, kênh E2. Chương trình được bắt đầu bằng nghi thức làm phép nhà xứ, cắt băng khánh

 

thành, cũng như cung hiến nhà thờ và bàn thờ mới. Trong niềm hân hoan vui mừng Đức cha đã công bố kể từ ngày hôm nay, giáo họ thánh Giuse trở thành một giáo xứ. Trong bài giảng, ngài đã chia sẻ: Nhà thờ là nơi chúng ta gặp gỡ Chúa trong tâm tình cầu nguyện. Ngoài ra, chúng ta còn có thể gặp gỡ Chúa trong cộng đoàn Giáo Hội cũng như trong chính tâm hồn chúng ta, bởi vì Giáo Hội và tâm hồn mỗi người cũng là những ngôi thánh đường thiêng liêng cho Chúa. Có hơn 90 cha đồng tế và đông đảo bà con giáo dân xa gần tham dự

 

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

ĐỨC TÂN HỒNG Y PHÊRÔ NGUYỄN VĂN NHƠN

ĐƯỢC TẤN PHONG TẠI RÔMA

Sáng thứ bảy, 14.02.2015, 20 tân Hồng y thuộc 18 quốc gia đã được ĐTC Phanxicô tấn phong trong Công nghị tại Đền thờ Thánh Phêrô. Sau bài huấn dụ, ĐTC xướng tên 20 Hồng Y. Sau đó các tiến chức tuyên xưng đức tin và tuyên thệ trung thành với Chúa Kitô và Tin Mừng của Chúa, luôn tuân phục Tòa Thánh và Thánh Phêrô nơi bản thân ĐTC và các đấng kế vị ngài được bầu lên hợp pháp. Kế đến, từng Hồng y lần lượt tiến lên quì trước mặt Đức Thánh Cha để ngài đội mũ đỏ Hồng y, trao nhẫn, trao sắc chỉ về việc phong Hồng y. Giáo Hội Việt Nam hân hoan vì có thêm vị Hồng y thứ sáu là Đức Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục Hà Nội. Phái đoàn đến từ Việt Nam gồm có Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch HĐGMVN, một số Giám mục thuộc các Giáo phận, các linh mục và thân nhân của Đức Hồng y cùng với đông đảo nam nữ tu sỹ đang tu học và sinh sống tại hải ngoại đã tham dự để hiệp thông cầu nguyện và chia sẻ niềm vui với Ngài.

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC CÔNG BỐ NĂM THÁNH TỪ BI

Lúc 5 giờ chiều 13.3.2015, ĐTC đã chủ sự nghi thức thống hối tại Đền thờ Thánh Phêrô và ngài long trọng tuyên bố Năm Thánh Từ Bi. ĐTC nói rằng: “Tôi thường suy nghĩ xem làm thế nào để Giáo Hội có thể làm nổi bật hơn sứ mạng của mình là làm chứng nhân về lòng từ bi. Đó là một con đường bắt đầu bằng sự hoán cải tinh thần. Vì thế, tôi quyết định ấn định Năm Thánh đặc biệt, có trọng tâm là lòng từ bi của Chúa. Đây sẽ là một Năm Thánh Từ Bi. Chúng ta muốn sống năm này dưới ánh sáng lời Chúa nói: “Các con hãy có lòng từ bi thương xót như Chúa Cha”. “Năm Thánh này sẽ bắt đầu từ lễ Đức Mẹ Vô nhiễm tới đây (8.12.2015) và sẽ kết thúc ngày 20.11.2016, Chúa nhật lễ Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ và là tôn nhan sinh động của lòng từ bi Chúa Cha. Tôi ủy thác việc tổ chức Năm Thánh này cho Hội đồng Tòa Thánh tái Truyền Giảng Tin Mừng, để có thể linh hoạt năm này như một giai đoạn mới trên hành trình của Giáo Hội trong sứ mạng mang Tin Mừng từ bi cho mỗi người”.

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ AN TÔN

Kênh 1A, Tân Hà A, Tân Hiệp B, Tân Hiệp, Kiên Giang

Lễ Bổn Mạng: 13.06 Kính Thánh An-tôn Padova

 

1- Lịch sử :

Vào tháng 2 năm 1956, cha Antôn Nguyễn Bá Lộc đưa 2.000 giáo dân từ giáo xứ Bắc Hà, Củ Chi, tới dinh điền Cái Sắn để sinh sống và giáo xứ An Tôn được hình thành.

1956 : Cha xứ: Antôn Nguyễn Bá Lộc.

1975 : Cha xứ:  Antôn Hoàng Văn Tấn.

1975 : Cha xứ:  Antôn Mai Xuân Khoa.

1975 : Cha xứ:  Phaolô Nguyễn Trọng Tri cùng với cha phó Phaolô Hồ Trí Trạch.

1984 : Cha xứ:  Antôn Phạm Trung Kiên với cha phó:

Đaminh Phạm Khắc Bạo ( 1997 - 2007 )

Phaolô Đinh Đức Hạnh ( 2007 -2010 )

2010 : Cha xứ:  Phêrô Phạm Văn Hào

2- Dân số :

Giáo dân khoảng 1.684.

Trong giáo xứ có một cộng đoàn nữ tu Mến Thánh Giá Khiết Tâm

3- Nhà thờ :

Nhà thờ hiện nay được hoàn thành vào năm 1974 và được tu sửa năm 2004.

4- Những sinh hoạt :

Các giới và hội đoàn như Huynh Đoàn Đa-minh, Gia Đình Mến Thánh Giá tại thế... sinh hoạt thường xuyên hàng tuần và hàng tháng đều có cha xứ hướng dẫn. Thánh lễ thường xuyên suốt tuần ban sáng, thêm các buổi chiều Chúa nhật Chầu Thánh Thể, thứ Năm và thứ Sáu có Thánh lễ. Họat động xã hội trong xứ và ngoài xứ: Trợ giúp, Thăm viếng những người khó khăn, tật nguyền người ốm đau và tặng quà trong các dịp lễ - tết, không phân biệt tôn giáo.

 

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 02 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1111
Tất cả: 45,856,432