Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015

TĨNH TÂM

THÁNG 3 NĂM 2015

 

 

 

THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY

BỔN MẠNG CÁC LINH MỤC

TÌM BÀI

 

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 3 năm 2015

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TÂN PHÚC ÂM HÓA

ĐỜI SỐNG NGƯỜI GIÁO DÂN

TRONG CỘNG ĐỒNG GIÁO XỨ

***

 

Anh chị em thân mến,

Các Giám Mục chúng tôi xin gửi đến cộng đoàn Dân Chúa trong giáo phận lời chào hiệp thông trong tinh thần sám hối và khổ chế của mùa Chay Thánh.

Sau thư mục vụ về linh mục và về tu sĩ, thư mục vụ tháng 3 hướng về tập thể đông nhất trong Giáo Hội là giáo dân.  Dưới ánh sáng của Công Đồng Vaticanô II, theo đường hướng của Liên Hiệp Các Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC), và theo thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm Thánh 2010, thư mục vụ triển khai chủ đề Giáo Phận Long Xuyên Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống Người Giáo Dân Trong Cộng Đồng Giáo Xứ.

1. Vai trò người giáo dân trong Giáo Hội được Công đồng Vaticanô II  mở đường cho sự tham gia đa dạng vào đời sống Giáo Hội tại các cộng đoàn tín hữu giáo xứ, giáo họ. Cụ thể, trong đời sống của Giáo Hội tại Long Xuyên, giáo dân đã và đang góp phần thật phong phú và quảng đại cho đời sống và sứ vụ của Giáo Hội. Trước hết, nhờ bí tích Rửa Tội, người giáo dân được tham dự vào chức linh mục phổ quát của Chúa Kitô. Vì thế, người giáo dân được mời gọi tham gia vào sinh hoạt của Giáo Hội trong vai trò là các thành viên của Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, Giáo Lý viên, Ca đoàn, các hội Gia trưởng, Hiền mẫu, Huynh Trưởng, Tông đồ Đội trường của phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, Thừa Tác Viên Ngoại Lệ cho rước lễ, Lễ sinh, các đoàn thể đạo đức. Bên cạnh đó, là  sự chia sẻ công sức, tiền của, nhất là những lời cầu nguyện và bao hy sinh âm thầm để xây dựng cộng đoàn Dân Chúa. Ngoài ra, với tính chất trần thế của mình, người giáo dân hiện diện giữa trần thế, trở thành hiện thân của Chúa Kitô giữa lòng đời, trở thành muối là men là ánh sáng trong xã hội. Như vậy, vai trò của người giáo dân là cộng tác với hàng giáo sĩ theo cách thế của mình, để tích cực tham dự vào ba (03) tác vụ chính của Hội Thánh là Loan Báo Tin Mừng, là Thánh Hóa muôn dân, và phục vụ nhân loại theo tinh thần Kitô Giáo. Giáo phận luôn trân trọng những đóng góp quý giá này.

2. Tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân trong cộng đoàn tín hữu: Giáo phận đã đề ra đường hướng “tham gia hiệp thông đồng trách nhiệm vì sứ vụ”, nên cần canh tân mối tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân. Quả thật, mọi phần tử Dân Thiên Chúa, với ơn của bí tích Rửa Tội, đều bình đẳng về phẩm gía, căn tính và ơn gọi nền tảng của tất cả các Kitô hữu trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, và cùng được kêu gọi chia sẻ cho nhau những điều thiện ích. “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4,10). (LG số 13). Vì thế, cộng đồng giáo xứ với sự hướng dẫn của hàng giáo sĩ và tu sĩ, cần khám phá ra các đặc sủng phong phú và đa dạng trong hàng ngũ giáo dân, tạo điều kiện để mọi người, theo cách thức riêng của mình, đồng lòng cộng tác thi hành sứ vụ của Chúa Kitô trao cho Giáo Hội. (x.LG số 30). Giáo phận, qua các linh mục phụ trách cộng đoàn tín hữu, ý thức được trách nhiệm này, và ước mong thực hiện một cách có hiệu quả nhất.

3. Chính vì thế, giáo phận, qua các Ủy Ban và Ban của giáo phận, cần mạnh dạn phát huy vai trò người giáo dân tham gia vào công việc tông đồ cách tích cực hơn vào các sinh hoạt của giáo hội, khích lệ các sáng kiến, và mời gọi họ dự phần vào các hoạt động tồng đồ như là những cộng sự viên chứ không đơn thuần là người thi hành các chỉ thị. Theo FABC, người giáo dân cần được huấn luyện tập trung vào 3 lãnh vực sau đây: Một là huấn luyện toàn bộ về kiến thức đức tin qua các lớp giáo lý; hai là cần đươc huấn luyện cách đặc biệt về kiến thức cũng như lãnh đạo liên quan đến các hoạt động tông đồ, cụ thể là Hội đồng mục vụ giáo xứ, các đoàn thể, các nhóm đặc sủng; và ba là huấn luyện về đời sống tu đức dành cho giáo dân, tập trung vào Lời Chúa, các Bí tích, và lòng sùng kính trong Giáo Hội, nhờ đó trong sự hiệp thông, giáo dân sẽ thánh hóa cuộc sống hàng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xã hội.

4. Từ đề nghị của Đại Hội Dân Chúa Việt Nam 2010, giáo phận Long Xuyên mong muốn đẩy mạnh hơn nữa để toàn thể cộng đoàn Dân Chúa trong giáo phận ý thức hơn về tầm quan trọng của vai trò người giáo dân trong đời sống Giáo Hội. Cụ thể là:

* Với đường hướng tham gia hiệp thông đồng trách nhiệm vì sứ vụ, giáo phận Long Xuyên, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người giáo dân tham gia tích cực vào đời sống và sứ mạng của Giáo phận, cụ thể tại các giáo xứ, giáo họ và các điểm truyền giáo.

* Các linh mục cần phát huy cung cách lãnh đạo đồng trách nhiệm trong khi thi hành tác vụ linh mục giữa cộng đoàn dân Chúa, đặc biệt là nhiệm vụ quản trị điều hành giáo xứ trong tinh thần cầu nguyện và đối thoại cùng tìm ý Chúa và cùng thực thi ý Chúa.

* Cần đẩy mạnh hơn nữa việc huấn luyện giáo dân qua các cuộc thường huấn định kỳ ngay trong bầu khí giáo xứ, hoặc liên xứ, giúp giáo dân được chuẩn bị tốt đẹp khi thi hành sứ vụ của mình trong Giáo hội và trong xã hội.

            * Đặc biệt, rất cần tổ chức các buổi cầu nguyện, các cuộc tĩnh tâm, linh thao cho giáo dân nhằm đào tạo chiều kích nội tâm cho giáo dân để giáo dân có thể sống quân bình giữa hoạt động và chiêm niệm, nhờ đó họ trở thành những con người tôn giáo đích thực, những người có kinh nghiệm bản thân về mối tương quan thân tình với Chúa, về niềm an vui nội tâm.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta phó thác chương trình tân Phúc Âm hóa người giáo dân của giáo phận cho Thánh Giuse. Xin ngài giữ vai trò là gia trưởng trong gia đình giáo xứ và trong gia đình giáo phận của chúng ta. Cầu chúc anh chị em tiếp tục sống Mùa Chay Thánh và bước vào tuần thánh một cách có hiệu quả thiêng liêng.

 

+ Giuse Trần Văn Toản                            + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

 

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

 

MÙA CHAY CỦA TÔI

 

 

 

1.

Với những kinh nghiệm của đời mình, tôi thường sống Mùa Chay với tinh thần sám hối và tin vào Chúa, một cách sống động, nhờ ơn Chúa Thánh Thần.

Cụ thể là tôi sống với bốn xác tín sau đây:

2.

Tôi xác tín mình là kẻ tội lỗi rất cần được ơn tha thứ.

Tôi thực sự là kẻ rất yếu đuối tội lỗi. Thánh Phaolô viết về chính mình thế này: “Tôi mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì thì tôi cũng chẳng hiểu. Vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,14-15).

Lời thú tội trên đây của thánh Phaolô khích lệ tôi hãy nói lên sự thực về tôi, tôi cũng là như thế, và còn hơn thế rất nhiều.

Khi tôi thú nhận mình tội lỗi, tôi không quá nhấn mạnh đến sự hư đốn của tôi, nhưng tôi nhấn mạnh hơn đến sự tôi được Chúa tha thứ. Tôi thực sự đã cảm nhận những lời Chúa phán xưa về tình yêu Chúa dành cho kẻ tội lỗi, như: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). “Con Người đến, để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11). “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm một con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).

3.

Tôi không thể hiểu được, làm sao tôi có thể sống, nếu không được tha thứ. Tôi càng không dám gánh trách nhiệm nào, nếu tôi không tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho những yếu đuối của tôi.

Tôi được ơn tha thứ. Nên tôi rao giảng về sự tha thứ. Tôi làm chứng đạo Chúa có đặc điểm là tha thứ.

4.

Tôi xác tín mình là kẻ có rất nhiều giới hạn trong mọi lãnh vực, rất cần khiêm tốn tìm hiểu, lắng nghe và cộng tác với nhiều người.

Kinh nghiệm cho tôi thấy: không gì hại cho tôi bằng sự tôi nghĩ mình phải làm đủ mọi sự, và có thể làm được mọi sự. Kinh nghiệm cũng cho tôi thấy là: Không gì dại khờ cho tôi bằng sự tôi cho rằng mình phải làm được điều gì đặc biệt, khác với các Giám mục, và linh mục tại Việt Nam hôm nay.

5.

Biết nhiều, biết đủ, biết đúng, đó là những điều tôi mơ ước. Chứ trên thực tế, tôi còn rất xa những mơ ước đó. Làm đủ, làm đúng, làm theo ý Chúa, đó là những mơ ước của tôi. Nhưng trên thực tế, tôi còn rất xa, rất thiếu những gì tôi mơ ước đó. Tôi có rất nhiều giới hạn.

Tôi vững tin rằng: Chúa chỉ đòi tôi một điều là: Hãy kết hợp mật thiết với Chúa, rồi ơn Chúa sẽ dẫn đưa tôi làm những gì Chúa muốn, theo khả năng bé nhỏ của tôi. “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa quả, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

6.

Tôi xác tín mình được gọi tham dự vào thánh giá Chúa, để góp phần vào việc cứu các linh hồn.

Rất nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng: Đau khổ tôi chịu là do tội lỗi của tôi, và là con đường giúp tôi nên thánh. Nhưng dần dần, tôi xác tín: Đau khổ là một ơn gọi Chúa dành cho tôi, để tôi được góp phần vào việc cứu các linh hồn.

7.

“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 19,45). “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).

8.

Càng ngày, những lời Chúa phán trên đây càng làm cho tôi xác tín về sự tôi chịu đau khổ là để đáp lại ơn gọi Chúa dành cho tôi. Đau khổ gắn liền với mục vụ, đau khổ là một cách cứu độ, đau khổ là để hiệp thông với thánh giá Chúa.

Đau khổ đến từ nhiều phía. Rất có thể đến từ phía cộng đoàn của tôi, do những chống đối, những xa cách, những hiểu lầm, những ghen tương, vv...

Rất có thể đau khổ đến từ những chuyển biến bất ngờ đòi tôi phải từ bỏ chương trình có sẵn, để bắt đầu lại.

Rất có thể đau khổ đến từ phía những văn hoá mới có vẻ bình thường hoá những tội lỗi và căn cứ vào ý kiến số đông như thước đo đạo đức. Những trường hợp như thế, tôi sẽ rất cô đơn và đau khổ.

Rất có thể đau khổ của tôi lại là những đau khổ của người khác. Khổ cái khổ của đồng bào tôi. Đau cái đau của Hội Thánh tôi. Đau khổ cái khổ đau của bao người thân.

9.

Tôi xác tín là cuộc sống của tôi rất mong manh, tôi ra đi bất cứ lúc nào, tôi phải sẵn sàng ra trước mặt Chúa với niềm phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa.

Thánh Têrêsa thành Lisieux nói về mình: “Tôi sẽ hiện diện trước Chúa với bàn tay không”. Ngài nhận mình chẳng là gì, chẳng đáng gì, chẳng có gì gọi là công phúc. Ngài chỉ là đứa con bé nhỏ, chỉ tin vào tình yêu Chúa mà thôi.

Tôi sẽ không nói được như thánh nữ. Nhưng tôi sẽ nói với Chúa: Con là kẻ tội lỗi, mang theo nhiều dấu ấn của tội lỗi. Nhưng con tin ở lòng thương xót Chúa. vì Chúa là Chúa của con.

10.

Với bốn xác tín trên đây, tôi sống mùa Chay năm nay một cách bình an. Tôi biết sống như thế chính là một sự hoán cải nội tâm, đòi tôi phải rất khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa. Sự vâng phục khiêm nhường đó nhiều khi vượt quá tính cách hợp lý theo cách suy nghĩ của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã làm. Tôi cũng làm như Chúa Giêsu. Như thế, tôi mới góp phần vào việc cứu nhân loại. Nhân loại hiện nay đang rất cần được cứu. Chỉ Chúa mới cứu được mà thôi.

11.

Tình hình hiện nay đang diễn biến phức tạp và nguy hiểm. Đạo đức xuống. Tội ác tăng, sự man rợ đang hình thành dưới hình thức bảo vệ và phát triển niềm tin, sự cực đoan cũng đang phát triển từng bước do thiếu chiều kích hướng thượng nhờ đến Chúa, mà chỉ nóng vội theo ý riêng mình. Vì thế, tôi sống Mùa Chay năm nay một cách sốt sắng hơn, sám hối nhiều hơn, tin vào Chúa nhiều hơn.

Lạy Chúa, xin thương xót con.

 

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Chúa Nhật II Mùa Chay, B

St 22,1-2.9a.10-13.15-18; Rm 8,31b-34; Mc 9,2-10

CHIẾN THẮNG TẦM NHÌN

 

Người xưa có câu: “Chọn mặt gửi vàng”. Nghĩa là để tin tưởng một ai, thì ta phải xem mặt, xem hoàn cảnh, xem gia thế của người đó như thế nào, để đánh giá xem họ có đáng tin hay không. Vậy mà ta vẫn sai lầm. Ta vẫn chọn sai người. Ta vẫn mất niềm tin, vì “Sông sâu còn có kẻ dò. Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”. Vâng, lòng người nham hiểm hơn núi sông. Biết người còn khó hơn là dự đoán thời tiết. Thời tiết còn có “xuân hạ thu đông”, có “sáng trưa chiều tối”. Còn con người, giữa mảng tối và ánh sáng, thật khó phân biệt. Thời tiết còn có hiện tượng bên ngoài, để giúp ta suy đoán những điều sẽ xảy ra. Còn lòng người vẫn có thể đóng kịch đến mức độ “nói vậy mà không phải vậy”.

Có lẽ chúng ta đã nghe kể về nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Chí Phèo là đứa con hoang, được mô tả là một người dị dạng, một tên lưu manh, nát rượu, chuyên rạch mặt ăn vạ và sẵn sàng sinh sự với mọi người. Chí Phèo là kẻ không sợ Trời, không sợ người. Người ta tránh Chí Phèo hơn tránh ôn dịch. Chí Phèo đem lòng yêu Thị Nở. Thị Nở là cô gái xuất thân từ một gia đình không mấy tốt đẹp, tuổi đã ngoài 30, dở hơi, nghèo và rất xấu. Xấu đến độ ma chê quỉ hờn. Xấu đến nỗi người ta tránh cô như tránh một con vật ghê tởm. Ấy vậy mà cả hai con người ấy vẫn nhận ra bản chất tốt đẹp của nhau. Thị Nở thấy Chí Phèo là một người hiền lành. Hiền như đất. Chí phèo vẫn thường cho cô xin lửa và có lần còn cho cô xin rượu về bóp chân. Ngược lại, Chí Phèo cũng thấy Thị Nở là một người con gái có duyên. Thị Nở đã biết nấu cháo hành nóng cho Chí Phèo ăn, giúp cho Chí Phèo tỉnh cơn say, và làm sống lại nơi Chí Phèo ý thức về sự lương thiện của bản thân mình. Thế đấy! Cuộc sống con người luôn phức tạp. Phức tạp đến nỗi khó lòng đánh giá nhau từ bên ngoài. Thực tế vẫn có những người thân phận chẳng ra gì như Chí Phèo và Thị Nở, bị coi là cặn bã, thậm chí là quái thai của xã hội. Thế nhưng nơi những con người ấy, bản chất tốt đẹp mà Thiên Chúa ban cho họ vẫn không bị hư đi. Họ vẫn có khả năng nhận ra những điều tốt đẹp nơi người khác. Vì thế, không gì có thể khiến ta tuyệt vọng về con người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, là tinh hoa của đất trời, là chóp đỉnh của quá trình sáng tạo vũ trụ vạn vật. Con người dù tội lỗi đến đâu chăng nữa, cũng không thể nào xoá đi được hình ảnh của Thiên Chúa nơi bản thân mình.

Khi Chúa Giêsu biến hình để củng cố niềm tin cho các Tông đồ, Ngài cũng muốn nhắc nhở ta phải biết tỏ ra cái phẩm giá cao quý của mình, là hình ảnh Thiên Chúa, qua cách mình đối xử với nhau như con cái sự sáng, để tạo niềm tin nơi nhau. Đồng thời ta phải luôn chiến thắng tầm nhìn, để tôn trọng nhau, vì mọi người đều được tạo dựng giống hình ảnh của Chúa.

Ước gì cuộc sống của ta luôn làm sáng lên hình ảnh của Chúa cho những người chung quanh. Đó là đời sống khiêm nhường, hiền lành, phục vụ theo ý Chúa, luôn sống theo sự thật và tình thương. Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết gìn giữ phẩm giá cao đẹp của mình là hình ảnh Thiên Chúa. Hãy chiến thắng tầm nhìn của mình. Xin đừng để những đam mê mù quáng làm hoen ố tầm nhìn tốt đẹp, mà Chúa đã thương ban cho mỗi người chúng ta.

Lạy Chúa! Xin giúp con can đảm tẩy rửa những lớp bụi tội lỗi đang làm hoen ố con mắt và lương tri của con. Xin Chúa thêm ơn trợ giúp, để con luôn chiến thắng tầm nhìn, gìn giữ nét đẹp nơi phẩm giá làm người của con và của anh chị em con.

 

Suy Niệm Chúa Nhật III Mùa Chay, B

Xh 20,1-17; 1Cr 1,22-25; Ga 2,13-25

CHIẾN THẮNG BẢN THÂN

 

Ngày kia có người lạ mặt đến báo tin cho một người nghèo, là Chúa Giêsu sẽ đến thăm ông. Được tin vui, nhưng ông lại hốt hoảng, vì thấy nhà mình chật hẹp quá, lụp xụp quá, dơ bẩn quá, làm sao xứng đáng tiếp rước Chúa! Nhưng mấy thuở “rồng đến nhà tôm”, và còn hơn thế nữa, Chúa Giêsu đến nhà mình. Thật là vinh dự, mà cũng bê bối quá! Thế rồi ông mở tung cửa, chạy ra ngoài đường kêu gọi lối xóm đến phụ tiếp ông dọn dẹp nhà cửa. Vừa kêu gọi dứt tiếng, ông chạy vội vào nhà, lấy chổi quét, lấy vải lau. Bỗng ông thấy một người chạy vào giúp ông dọn dẹp. Vì bận quá, ông chẳng hỏi người đó là ai, từ đâu đến. Cả hai người cứ cắm cúi lau chùi, dọn dẹp. Họ hốt những đống rác đổ ra ngoài, gom chai lọ lỉnh kỉnh bỏ đi, xách nước rửa nền nhà sạch sẽ, quét màng nhện giăng cùng nhà. Làm mệt quá mà công việc xem ra vẫn còn bề bộn. Ông nhà nghèo than thở: Nhà cửa dơ bẩn thế này, quét dọn đến chừng nào mới xong! Người khách lạ bình thản khích lệ: Bác cứ yên tâm. Tôi phụ tiếp bác. Thế nào rồi cũng xong. Đến chiều tối, khi bóng đêm bắt đầu buông xuống, ông phải lo bữa ăn tối cho mình và cho người khách lạ. Nhìn lại nhà cửa, ông thấy cũng khá sạch sẽ gọn gàng, nên nói với ông khách: Bây giờ thì Chúa có thể đến nhà tôi được rồi. Nhưng không hiểu tại sao giờ này Ngài vẫn chưa đến? Ngài đi tới đâu rồi? Nghe chủ nhà hỏi vậy, người lạ mặt liền trả lời: Ta đã đến với con từ sáng tới giờ, và phụ tiếp con dọn dẹp nhà cửa của con đấy!

Câu chuyện vừa rồi xem ra rất phù hợp với hoàn cảnh khi xưa Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem dọn dẹp đền thờ, là nơi Thiên Chúa ngự trị. Đối với Chúa Giêsu, đền thờ rất là quan trọng. Đền thờ chính là nhà của Chúa Cha trên trời, là nơi cầu nguyện. Do đó, lòng sốt mến với đền thờ đã khiến cho Ngài nổi cơn bất bình, mà đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ. Ngài nói: “Đừng biến nhà Cha tôi thành hang trộm cướp!”

Nhờ Bí tích Rửa tội, linh hồn ta đã trở nên đền thờ của Thiên Chúa, được Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị, là nơi Thiên Chúa rất yêu thích. Chúa yêu thích linh hồn ta, không phải vì ta xứng đáng để cho Chúa ngự, nhưng vì linh hồn ta đã được chính Máu Thánh của Ngài rửa sạch. Chúa yêu thích linh hồn ta, không phải vì ta sạch tội trọng hay tội nhẹ, nhưng vì ta đã được cứu chuộc, được trả giá bằng chính cái chết của Ngài trên thánh giá.

Thế nhưng trong cuộc sống, rất nhiều lần ta đã biến đền thờ linh hồn của mình thành nơi buôn bán, nơi đổi tiền, là nơi cho ma quỉ ngự trị. Đó là khi trong lòng ta chất chứa hận thù với người bà con lối xóm, vì họ đã chửi mắng ta. Đó là khi ta chất chứa những mưu gian trong lòng, để vu khống hại người, vì sự ghen ghét, hay chỉ vì họ quá liêm chính trong cách sống. Đó là khi vì lợi ích cá nhân, mà ta nhẫn tâm chà đạp lên danh dự của anh chị em. Đó là khi ta kiêu căng phách lối với mọi người.

Noi gương Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ, ta hãy chiến thắng bản thân mình mỗi ngày; dứt khoát với những thói hư tật xấu trong con người mình. Hãy mạnh dạn chặt đứt những móc xích nối kết ta với tội lỗi. Đó là những bạn bè xấu, sách báo phim ảnh xấu, những quyến rũ của tiền bạc, những thách đố của dục vọng, để tâm hồn ta được trở nên đền thờ sống động, đẹp đẽ và tràn ngập ân sủng Chúa, để tâm hồn ta xứng đáng là nơi Chúa ngự trị. Xin anh chị em hãy tin tưởng vào Chúa, vì chính Chúa đang phụ tiếp ta dọn dẹp tâm hồn mình.

 

Suy Niệm Chúa Nhật IV Mùa Chay, B

2 Ks 36,14-16,19-23; Eph 2,4-10; Ga 3,14-21

CHIẾN THẮNG SỐ PHẬN

 

Khi đi ngang qua các tiệm thuốc tây hay nhà thương, ta thường trông thấy hình vẽ một con rắn quấn quanh cây cột. Đó là biểu tượng của ngành y, một nghề cứu nhân độ thế. Biểu tượng này bắt nguồn từ một biến cố xảy ra cho dân Do Thái trên đường về miền Đất Hứa. Bấy giờ họ phàn nàn kêu trách Chúa và ông Môisen, vì đã không cho họ bánh ăn và nước uống như hồi ở bên Ai Cập. Họ quá chán ngán thứ manna này rồi. Thế là Chúa trừng phạt họ, bằng cách cho rắn độc bò ra cắn chết nhiều người. Tuy nhiên, khi thấy họ ăn năn hối cải, thì Chúa đã ra lệnh cho Môisen đúc một con rắn đồng, treo nó lên một cây cột. Hễ ai bị rắn độc cắn, chỉ cần nhìn lên con rắn đồng với niềm tin vào Chúa, thì sẽ được an toàn tính mạng.

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nhìn thấy nơi con rắn đồng ấy một hình ảnh về chính bản thân Ngài. Thực vậy, như con rắn ngày xưa, Chúa Giêsu cũng bị treo lên cây thập tự, để những ai nhìn lên Ngài với ánh mắt tin tưởng và sám hối, thì sẽ được ơn tha thứ và được sống đời đời. Trong cái nhìn của thánh Gioan, thập giá chính là đỉnh cao trong tiến trình trở về với Chúa Cha. Đây là một tiến trình đi lên, trái ngược với tiến trình đi xuống của Ngôi Lời lúc nhập thể. Chúa Giêsu đã nói: “Khi nào các ngươi giương cao Con Người lên, các ngươi sẽ biết rằng Ta là ai. Khi nào Ta được giương cao lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta”. Chúa Giêsu, Đấng đã chịu treo trên cây thập giá, đã được phục sinh và lên trời. Chính Ngài không ngừng cuốn hút cả vũ trụ này về với Ngài, để dâng lại cho Thiên Chúa Cha.

Chúng ta đang ở trong Mùa Chay. Đây là thời gian thuận tiện để ta nhìn lên Chúa Giêsu trên thập giá. Xưa kia, những người bị rắn độc cắn nơi hoang địa đã nhìn lên con rắn đồng, như là một biểu tượng của lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa. Họ nhìn lên với thái độ tin tưởng và đã được thoát chết. Ngày nay, Chúa Giêsu không chỉ cứu chúng ta khỏi cái chết phần xác, nhưng Ngài còn làm một điều lớn lao hơn nhiều, đó là giúp ta chiến thắng cả số phận bọt bèo tội lỗi của mình, cho cả hồn lẫn xác ta được sống đời đời.

Xưa nay, rất có thể ta vẫn quen hiểu sự sống đời đời là sự sống vĩnh cửu vào ngày tận thế. Tuy nhiên, theo thánh Gioan, thì sự sống đời đời đã bắt đầu ngay từ bây giờ, ngay từ hôm nay, lúc ta còn sống trên trần gian này.

Chỉ cần ta tin vào Chúa Giêsu là Nguồn mạch Ơn cứu độ, là quà tặng cao cả nhất của Thiên Chúa, ta sẽ cảm thấy sự sống của Chúa dâng tràn vào cuộc đời ta. Chỉ cần ta nhìn lên những dấu đinh và trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu, ta sẽ nhận ra dấu chỉ của một tình yêu cứu độ. Và ta được mời gọi để sống một cuộc đời hoàn toàn khác, đó là phải chiến thắng số phận, như lời thánh Phaolô viết: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi. Tôi sống cuộc sống hiện tại của tôi trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và đã nộp mình chịu chết vì tôi”.

Ước gì ta hãy luôn nhìn lên thập giá Chúa với tâm tình sám hối, để nhờ ơn Chúa trợ giúp, ta sẽ chiến thắng số phận tội lỗi của mình, được Chúa tha thứ và chữa lành khỏi mọi nọc độc của nết xấu. Lạy Chúa! Xin thương con và ban cho con niềm vui Ơn cứu độ.

 

Suy niệm Chúa Nhật V Mùa Chay, B

Gr 31,31-34; Dt 5, 7-9; Ga 12, 20-33

CHIẾN THẮNG ĐAU KHỔ

 

Qui luật của đời sống là: Muốn thu vào, thì phải biết bỏ ra. Muốn có hạnh phúc, phải chấp nhận đau khổ. Trên đời, ta thấy sự vật luôn biến đổi. Nhưng không biến đổi theo đường thẳng, mà theo hình lưỡi cưa. Nghĩa là vẫn có tiến có lùi, nhưng tiến nhiều, lùi ít. Cách chung là luôn có biến đổi. Do đó, muốn tiếp tục tiến, nhiều khi phải biết lùi: lùi một để tiến hai, hoặc lùi hai để tiến ba.

Cũng như muốn đóng cây đinh, ta không thể chỉ đập búa xuống, mà còn phải biết nhấc búa lên. Nếu không nhấc búa lên, thì tuyệt đối không thể tiếp tục đập búa xuống. Nâng búa lên, tuy chẳng làm cây đinh lún thêm chút nào, nhưng cũng cần thiết và quan trọng không kém gì đập búa xuống, mặc dù chỉ động tác đập búa xuống là có tác dụng hữu ích. Nâng búa lên tuy vô ích, nhưng cũng rất cần thiết. Tương tự, một người buôn bán cứ phải bỏ tiền ra để mua hàng hóa, khiến tiền bạc bị hao hụt đi. Nhưng nhờ vậy mà có hàng bán ra, để thu tiền vào và có đồng lời, khiến tiền bạc của họ ngày càng gia tăng và trở nên giàu có. Nếu người ấy không chịu bỏ tiền ra để đầu tư, mà cứ khư khư giữ số tiền của mình, thì làm sao họ có thể làm gia tăng số tiền ấy lên được?

Vậy điều cần thiết để có thêm, là phải bỏ ra hoặc cho đi. Nhưng đời thường, hễ thu vào thì vui, còn bỏ ra thì buồn. Vì thế kẻ khờ dại chỉ muốn thu vào mà không muốn bỏ ra, nên thu vào chẳng được bao nhiêu. Họ chỉ muốn hưởng hạnh phúc mà không nỗ lực chiến thắng đau khổ, nên chẳng hạnh phúc được bao nhiêu. Đó là qui luật của cuộc sống.

Bài Tin Mừng hôm nay giúp ta áp dụng qui luật ấy vào cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu. Chúa Giêsu nói: “Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; Còn nếu nó chết đi, thì mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 19, 24). Ngài còn diễn tả qui luật ấy theo kiểu khác: “Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất; Còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 19, 25). Qua những lời ấy, Chúa Giêsu cho thấy sự song đôi tất yếu của từng cặp trái ngược nhau: Chết đi và sinh ra; đau khổ và hạnh phúc. Hạt lúa có chết đi, mới sinh ra những hạt khác. Con người có chiến thắng đau khổ, mới làm cho mình và người khác được hạnh phúc. Thật vậy, nếu người ta cứ sống mãi mà không chết đi, thì làm sao thế giới này có đủ chỗ và tài nguyên cho các thế hệ con cháu? Muốn thành công, phải chấp nhận mất mát. Trên đời này, có hạnh phúc nào mà không được xây dựng trên đau khổ của mình hoặc của người khác?

Vì thế Chúa Giêsu nói: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; Còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 19,25). Trên thương trường, người buôn bán muốn thu thêm tiền vào, thì phải chấp nhận bỏ tiền ra đầu tư. Cũng vậy, nếu ta muốn tìm hạnh phúc mà không chiến thắng đau khổ, thì cuối cùng chẳng những ta không đạt được hạnh phúc, mà nhiều khi còn chuốc lấy nhiều khổ đau hơn thế nữa.

Lạy Chúa! Xin cho con thấy mối tương quan mật thiết giữa sống và chết, giữa hạnh phúc và đau khổ. Xin cho con đủ tình thương để chiến thắng đau khổ, để làm cho những người chung quanh con được hạnh phúc. Con biết rằng: Nếu con làm được điều ấy, con sẽ thấy cuộc đời này tràn đầy ý nghĩa và rất hạnh phúc.

 

Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Lá, B

Is 50, 4-7; Pl 2, 6-11; Mc 14, 1- 15, 47

CHIẾN THẮNG NHẬN THỨC

 

Nếu có dịp đi thuyền ra giữa biển khơi, thỉnh thoảng người ta có thể bắt gặp những chú cá voi hiền hòa dễ thương bơi lội trong làn nước biếc mênh mông. Chỉ tiếc một điều là người ta chỉ có thể nhìn thấy những tia nước biển do chúng phun lên, hoặc nhìn thấy một phần rất nhỏ tấm lưng của chúng trồi lên mặt nước. Còn phần lớn thân thể của cá voi chìm trong làn nước biển xanh, không ai thấy được. Họa hoằn lắm mới có một vài chú cá voi cao hứng búng mình lên cao, vượt lên khỏi mặt nước, phô bày cho người ta thấy cả tấm thân đồ sộ và rực rỡ của chúng dưới ánh nắng mặt trời. Thấy cảnh tượng ấy, ai cũng vui.

Tôi xin mượn hình ảnh những chú cá voi để minh họa về Thánh Lễ. Thánh Lễ chính là cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu kéo dài trong lịch sử cho đến ngày tận thế (Sách GLCG, số 1323, 1366, 1367). Tuy nhiên, khi đến tham dự Thánh Lễ, ta không thể nhìn thấy toàn bộ Thánh Lễ, mà chỉ thấy phần nổi của Thánh Lễ mà thôi. Còn phần chìm của Thánh Lễ, là phần đặc biệt quan trọng, thì không phải ai cũng nhìn thấy. Phần nổi của Thánh Lễ là phần ta có thể nghe và nhìn thấy khi Linh mục cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ, như dang tay cầu nguyện, đọc các bài Sách Thánh, dâng bánh rượu, truyền phép, cho rước lễ. Vì lần nào tham dự Thánh Lễ, ta cũng chỉ thấy có bấy nhiêu chuyện, nên ta cảm thấy Thánh Lễ sao mà đơn điệu, nhạt nhẽo, nhàm chán quá! Sở dĩ như thế, vì ta chỉ thấy phần nổi của Thánh Lễ, mà chưa thấy phần chìm hết sức thiêng liêng, cao cả, cảm động và đầy ấn tượng của Thánh Lễ.

Nên nhớ rằng: Phần chìm và phần nổi của chú cá voi là hai phần không thể tách lìa của cùng một thân thể con cá voi. Cũng thế, phần nổi và phần chìm của Thánh Lễ là hai phần không thể tách lìa của một hiến tế duy nhất của Chúa Giêsu.

Làm sao ta thấy được và hiểu được phần chìm của Thánh Lễ? Thưa, qua Bài Thương Khó hôm nay, thánh sử đã phác họa cho ta thấy tường tận diễn tiến của Thánh Lễ, tức là hy tế thập giá của Chúa Giêsu. Đây chính là phần chìm của Thánh Lễ, mà không mấy người để ý quan tâm. Xin dựa vào bài tường thuật của thánh sử, để tóm lược những giai đoạn chính của Thánh Lễ như sau:

Khởi đầu, Chúa Giêsu và các môn đệ ăn bữa tối trước ngày chịu khổ nạn. Đây cũng là lúc Chúa thiết lập Thánh Lễ trong phòng Tiệc Ly (Mc 14,22-25). Sau đó Chúa Giêsu vào cầu nguyện trong vườn Cây Dầu, chấp nhận uống chén đắng theo ý Chúa Cha. Tiếp đó, quân lính đến bắt Chúa Giêsu (Mc 14,46), áp giải Chúa ra trước Thượng Hội đồng để chịu vu cáo, chịu khạc nhổ vào mặt (Mc 14,65) rồi bị đưa ra trước tòa Philatô (15,2). Bị dân Do Thái kết án dữ dội, bị Philatô cho đánh đòn rồi đem đi đóng đinh (15,15). Chúa Giêsu phải vác thập giá lên đồi Gôngôta, chịu đóng đinh vào thập giá, chịu sự chế giễu nhạo cười. Cuối cùng Chúa tắt thở trên thập giá.

Thánh Lễ là thế đó. Phần chìm của Thánh Lễ là thế đó. Nếu ta hiểu rằng: Chính lúc phần nổi của Thánh Lễ được cử hành trên bàn thờ bởi các Linh mục, thì phần chìm của Thánh Lễ là cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu cũng đang được chính Chúa Giêsu diễn tiến song hành, để đem lại ơn tha tội cho nhân loại. Hiểu như thế, ta sẽ quí trọng Thánh Lễ biết bao, sẽ siêng năng và sốt sắng tham dự Thánh Lễ biết dường nào! Vì vậy, ta hãy tập chiến thắng nhận thức của mình.

 

 

 

 

XÂY DỰNG

CỘNG ĐOÀN

HIỆP THÔNG

Trung Thành

 

Trong thư mục vụ về Năm Tân Phúc Âm Hóa các Giáo xứ và các Cộng đoàn sống đời thánh hiến, các vị chủ chăn mời gọi chúng ta nhìn vào mẫu gương của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, được trình bày trong sách Công vụ Tông đồ 2,42-47. Các ngài coi đó như mô hình để thực hiện việc canh tân giáo xứ và các cộng đoàn. Chúng ta dành một chút thời gian để tìm hiểu đoạn Sách Thánh này.

Đoạn văn này là một bản tóm kết có vị trí như là ngắt phần trình thuật trong phần thứ nhất để chia nó ra thành những phần độc lập tiếp theo. Qua những nét chính yếu, bản tóm lược mở ra hình ảnh sống động về đời sống của một cộng đoàn đã được Chúa Thánh Thần biến đổi, một đoàn dân Isral mới: Họ chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Họ được toàn dân thương mến.

1- Lắng nghe giáo huấn của các Tông đồ

Giáo huấn của các ngài nối tiếp giáo huấn của Chúa Giêsu. Đây là lần đầu tiên sách Cv nói đến việc các tông đồ giảng dạy. Hoạt động của các tông đồ còn được nói thêm trong câu 43, ghi nhận những điềm thiêng dấu lạ được các ngài thực hiện. Điều này cho thấy các tông đồ đã nối tiếp “những điều Chúa Giêsu làm và những điều Người dạy” (Cv 1,1) như thế nào. Theo Cv 5,42 các Tông đồ giảng dạy trong Đên thờ, nơi các ngài có thể ngỏ lời với những người Do Thái khác. Chắc chắn các ngài cũng giảng dạy cả trong các tư gia để gặp gỡ và nhắn nhủ riêng những người mới trở lại (x. Mc 10,1). Có thể nghĩ rằng giáo huấn của các Tông đồ được phân ra làm hai: Với những người ngoài, và những người trong cộng đoàn. Đối với những người trong cộng đoàn thì đó là lời dạy dỗ làm phát triển đời sống thiêng liêng, những lời khuyên bảo có nội dung tu dưỡng; còn đối với những người ngoài, đó là Keryma, lời công bố Tin mừng Chúa phục sinh: “Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa làm cho sống lại; về điều này tất cả chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2,32). Trong Tân Ước huấn quyền cũng bao hàm ý nghĩa phụ quyền, nghĩa là người truyền thông sự sống cũng là người truyền đạt lời. Lời Chúa (semens Verbum Dei, Lc 8,11) phải được đón nhận, phải được lớn lên, và phát sinh hoa trái trong cộng đoàn người lắng nghe. Đó là sứ vụ của các Tông đồ đối với việc rao giảng Lời Chúa. Vai trò của các ngài trước hết là người cha và người thầy để thông truyền Lời Chúa, và làm trụ cột cho sự hiệp nhất cộng đoàn. Kitô hữu sống mối tương quan con thảo với những vị đã nuôi dưỡng họ bằng Lời Chúa; họ chuyên cần, quan tâm đón nhận và lắng nghe Lời Chúa. Qua các Tông đồ, chính Thiên Chúa nuôi dưỡng các tín hữu bằng lương thực Lời Chúa.

2- Luôn hiệp thông với nhau

Một trong những từ ngữ quan trọng nhất của kho tàng từ vựng Kitô giáo là từ Hiệp Thông. Trình thuật đầu tiên của Tân Ước về Giáo Hội đã nêu bật tầm quan trọng của từ ngữ này. Thánh Luca ghi nhận cộng đoàn tín hữu mới thành hình vào ngày lễ Ngũ Tuần như là những người “chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Hiệp thông theo nguyên ngữ Hi Lạp, koinonia, có nghĩa là chung nhau, chia sẻ với nhau, tham gia, dự phần vào. Nhưng từ ngữ này mang ý nghĩa sâu xa hơn những gì chúng ta thường nghĩ, coi đó chỉ là những hoạt động bên ngoài: Trong Pl 2,1 người tín hữu còn hiệp thông trong cùng một Thần Khí. Bằng tình yêu thương liên đới và chia sẻ cộng đoàn tín hữu tiên khởi sống hi sinh cho nhau; mỗi người biết sống cho người khác và vì người khác. Điều này chỉ có thể phát xuất từ niềm tin chung của họ vào Chúa Giêsu và do lòng yêu mến của họ đối với Người. Thánh Gioan trong thư thứ nhất nói rằng tình yêu Chúa được thể hiện trong tình yêu tha nhân: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài” (1Ga 1,3). Như vậy, sự hiệp thông nối kết những người anh em với nhau chính là dấu chỉ họ sống hiệp thông với Thiên Chúa. Hiệp thông với Chúa, cộng đoàn được thúc đẩy để sống bác ái huynh đệ, đến nỗi giữa họ chỉ có “một lòng và một tâm hồn” (Cv 4,32). Biểu lộ cụ thể nhất của tinh thần hiệp nhất này là việc để mọi sự làm của chung (2,44; 4,32). Rồi sau đó tình hiệp thông còn được mở rộng ra giữa các giáo đoàn Giêrusalem bằng việc quyên trợ để giúp đỡ nhau do thánh Phaolô vận động (2Cr 8-9;x. Rm 12,13). Người ta thường nói “đồng tiền liền khúc ruột”. Chuyện góp chung tài sản của mình để cho những anh chị em khác cùng dùng chung là một vấn đề khó khăn. Thế mà cộng đoàn tín hữu sơ khai đã luôn sống như vậy.

3- Siêng năng tham dự lễ bẻ bánh

Theo sách Công vụ Tông đồ, tham dự lễ bẻ bánh (fratio panis) chính là cử hành Thánh Thể. Một số người coi việc bẻ bánh này luôn đi kèm theo bữa ăn chung, agapê. Điều này có nghĩa là việc hiệp thông bí tích với Chúa Kitô- trong tiệc thánh- không tách rời với sự hiệp thông huynh đệ, trong đó họ cùng sống chung với nhau, ăn chung với nhau. Như vậy sự hiệp thông huynh đệ giữa họ chính là hoa trái của sự hiệp thông với Chúa Kitô. “Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” (c.46), có nghĩa là cuộc sống của các Kitô hữu đã được hoàn toàn biến đổi: họ đã thật sự hòa giải được với nhau để tiếp tục hân hoan cử hành điều Chúa Giêsu đã nhắn nhủ. Các bữa ăn có một vai trò nổi bật trong Tin mừng Luca. Khi trình bày việc cử hành Thánh Thể, ngài luôn có ý tưởng là việc cử hành đó đi kèm với bữa ăn huynh đệ (agapê), như được nói tới trong 1 Cr 11,20-34. Có thể nói, các bữa ăn trong cuộc đời sứ vụ của Chúa hội tụ lại trong bữa ăn chóp đỉnh, là bữa ăn sau cùng, bữa Tiệc Li của Chúa Giêsu trước khi Người chịu chết, trong đó Người trối lại nghi thức tưởng niệm cuộc thương khó của Người. Chúa Phục sinh bẻ bánh và chia cho hai môn đệ Người gặp trên đường Emmaus, và bỗng chốc họ nhận ra Người trong nghi thức quen thuộc Người vẫn cử hành (Lc 24,30-35).

4- Cầu nguyện không ngừng

Sách Công vụ Tông đồ còn ghi nhận một hoạt động khác nơi cộng đoàn tín hữu Giêrusalem: họ cầu nguyện không ngừng. Những tín hữu này cầu nguyện bằng Thánh vịnh, những Thánh Thi quan trọng trong Cựu ước, bằng Kinh Lạy Cha, nhưng nhất là bằng những lời cầu nguyện tự phát, phát ra từ những đặc sủng khác nhau do Chúa Thánh Thần ban cho cộng đoàn. Trong khi cầu nguyện họ cảm nhận sống động Chúa Kitô đang hiện diện nơi họ. Họ sống với Người bằng những lời kinh đơn sơ tha thiết, như thánh Phaolô viết: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, Thánh thi và Thánh ca do Thần Khí linh hứng” (Ep 5,19). Khi chăm chú cầu nguyện như vậy, cộng đoàn tín hữu tiên khởi tiếp nối truyền thống cầu nguyện của Chúa Giêsu, nhất là trong những biến cố quan trọng mà Người phải quyết định. Lúc đầu khi chưa xảy ra sự kì thị nơi những người Do Thái giáo quá khích thì các Kitô hữu vẫn còn cầu nguyện và tham dự các nghi lễ trong Đền Thờ và trong hội đường. Sau này, khi các Kitô hữu bị ngược đãi và bị trục xuất khỏi hội đường thì họ tổ chức nghi thức bẻ bánh và cầu nguyện tại các tư gia. Như vậy, chính trong khung cảnh Đền Thờ, thánh Luca đã mở đầu và kết thúc Tin mừng của ngài về việc cầu nguyện (x. Lc, 1,8-23; 2,22-35, 41-50; 6,12-13; 11,1-13; 22,39-46; 23,34,46; 24,52).

*

Đời sống Giáo hội là mầu nhiệm hiệp thông. Nhờ Chúa Thánh Thần nối kết, các tín hữu hiệp thông với nhau trong các sinh hoạt của Giáo hội. Nhưng cũng như các thực tại khác ở trần gian, hiệp thông là một tiến trình, nghĩa là mỗi cộng đoàn cũng như mỗi phần tử Giáo hội phải nỗ lực liên lỉ để xây dựng sự hiệp thông mỗi ngày một hoàn hảo hơn. Chắc chắn Năm Tân Phúc Âm hóa các Giáo xứ và các Cộng đoàn sống đời thánh hiến là một thời gian thích hợp để chúng ta cùng nhau học hỏi và sống hiệp thông với Chúa và với anh chị em chúng ta.

 

     GIA ĐÌNH GIÁO XỨ

Gia đình Giáo xứ chúng con,

Là đoàn dân Chúa mỏi mòn, khát khao.

      Trong Tình yêu mến dạt dào,

Dựng xây Nước Chúa, dựa vào Thánh kinh.

      Sống đời nhân chứng quên mình,

Siêng năng Thánh lễ, Hi sinh, Nguyện cầu.

      Hiệp thông, Bác ái cùng nhau,

Để vơi đi những khổ đau trong đời.

      Sống theo Tiếng Chúa gọi mời,

Một Tình yêu mến, trọn đời hiến dâng.

Jos. Nguyễn Minh Đức. Gx. Thánh Tâm B2.

 

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Tâm điểm của Giáo hội

 

Tâm điểm của Giáo Hội, nếu tôi hiểu không lầm, không phải là Vatican hay giáo chủ, nhưng là một phụ nữ. Một trong những thành tựu lớn nhất của thần học thế kỉ 20 là tái khám phá ra Mẹ Maria như là «hình ảnh cội nguồn của Giáo Hội». Đặc biệt nhờ thi sĩ Paul Claudel* mà việc tôn sùng Mẹ gần như bị quên lãng đã thật sự trổi dậy. Paul Claudel cho hay, khám phá của ông về Mẹ gắn liền với một kinh nghiệm trong một thánh lễ chiều tối Giáng sinh năm 1886 tại Paris. Ông không háo hức lắm khi dự thánh lễ trong nhà thờ Đức Bà hôm đó, nhưng, lúc hát bài ca Magnificat, ông bỗng như bị chấn động bởi một tiếng nổ dữ dội. Biến cố đó giúp ông hiểu rằng tất cả những gì Đức Maria nói đều có giá trị cho Giáo Hội. Và ngược lại Giáo Hội nhìn thấy qua Mẹ hình ảnh cội nguồn toàn hảo của mình. Ông cho hay, bản chất của Giáo Hội được cụ thể hoá trong Đức Maria, vì qua ngài ta thấy được nguyên tắc công giáo về tầm quan trọng của sự cộng tác con người vào ơn cứu độ. Ông nói: “Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội, đối với tôi, là một. Tôi chưa bao giờ học cách phân biệt hai thực thể đó”.

 

Việc đồng hoá Giáo Hội với một phụ nữ bắt nguồn sâu xa nơi Cựu Ước, khi Israen tự coi mình là vị hôn thê mà Chúa muốn tin cậy và phó thác trong tình yêu đời đời. Trong tinh thần nối tiếp cuộc sống của Cựu Ước, Giáo Hội đã lấy lại hình ảnh đó. Ngay Phaolô cũng gọi Giêrusalem là mẹ chúng ta. Với lối gọi đó, ngài khám phá ra từ truyền thống Do Thái hình ảnh Giáo Hội mẹ; thành phố mẹ này đã sinh ra ta, trao tặng cho ta sự sống và tự do. Và các giáo phụ, vì thế, đã lấy lại ý tưởng đó, một í tưởng cũng đã xuất hiện trong sách Khải Huyền – một người nữ bận áo mặt trời – và dùng nó để trình bày bản chất rất thánh của Giáo Hội. Dù các ngài lúc đó thường chẳng nghĩ gì tới Đức Maria, nhưng trên căn bản, toàn bộ môn Maria học cũng đã bao gồm yếu tố này. Nói cách khác: Giáo Hội được cụ thể hoá trong Đức Maria. Và những gì mang ý nghĩa thần học nơi Đức Maria đều được diễn tả nơi Giáo Hội. Có thể nói, cả hai hoà nhập vào nhau: Đức Maria là Giáo Hội bằng xương thịt, và Giáo Hội trong tổng thể của mình là thân xác sẵn đó của Đức Maria. Như vậy, qua biến cố trở lại trên, Claudel đã thật sự tái trực giác cái hình ảnh uyên nguyên và nhìn ra mối gắn bó khắng khít giữa Maria học và Giáo Hội học.

Trong thế kỷ chúng ta, Hugo Rahner*, anh của Karl Rahner*, chuyên gia lớn về các giáo phụ, đã trình bày một cách tuyệt vời toàn bộ bản văn của các ngài, và đã chỉ ra rằng, chỗ nào các giáo phụ đề cập tới Giáo Hội như một phụ nữ, chỗ ấy đồng thời xuất hiện Đức Maria – và nhờ vậy đã tránh được việc bó hẹp môn Maria học. Các chuyên gia khác đang tiếp tục nghiên cứu điểm này. Công đồng Vatican II đã lấy lại quan điểm trên qua việc nối kết Maria học vào Giáo Hội học. Tôi nghĩ, trên thực tế, việc tái khám phá ra mối liên hệ vượt thời gian giữa Đức Maria và Giáo Hội, việc khám phá ra tính cách con người của Giáo Hội trong Maria và tính cách Maria chung nơi Giáo Hội, là những phát hiện lớn nhất của thần học trong thế kỷ 20. Có một giáo chủ ghi nhận: “Ai để tâm quan sát lịch sử Giáo Hội công giáo, sẽ thấy ngay bàn tay độ trì của Mẹ Đồng Trinh Thiên Chúa hiện diện trong mọi biến cố quan trọng của Giáo Hội. Mỗi khi đó đây lầm lạc nổi lên tấn công sự thống nhất mỏng manh của Giáo Hội và đẩy nó vào cuồng phong, thì các giáo phụ chúng ta lại tin tưởng hướng về Mẹ, là người duy nhất chiến thắng mọi lầm lạc trên thế gian; và chiến thắng do Mẹ mang tới đó đã đưa Giáo Hội bước vào những thời kì tốt đẹp hơn”. Nghe tuyệt quá nhỉ. Người ta đã thi vị hoá. Đó là lối nói của người xưa: Đức Bà chiến thắng mọi tà giáo; một công thức xuất hiện trong thời có những tranh cãi về bản tính Đức Kitô. Thời đó, người ta chạy tới Mẹ Maria để cứu nhân tính nơi Đức Giêsu, nhưng mặt khác, cũng là để cứu thiên tính của Ngài, khi người ta cãi nhau về phẩm giá của Đức Maria. Nhờ cuộc tranh luận về Mẹ Maria mà mầu nhiệm đồng bản tính Thiên Chúa và loài người nơi Đức Giêsu Kitô được sáng tỏ. Từ đó, nảy ra lời cầu Đức Bà chiến thắng mọi tà giáo, và lời đó trong nhiều thời kỳ đã thực sự trở thành một câu tuyên chiến. Tôi nghĩ, ta nên nhìn Đức Maria như là người ủi an, che chở, và dĩ nhiên như là cây cầu đưa ta tới Chúa Kitô. Mẹ không lấy đi vương trượng của Đức Kitô hay cản ngăn ta sùng mộ Ngài. Mà trái lại, nhờ Mẹ mà ta mới hiểu được mầu nhiệm to lớn về Đức Kitô và mới được ở gần Con ngài. (Còn tiếp).

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIÁO XỨ VÀ LINH MỤC

 

 

NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA MỘT CỘNG ĐOÀN SỐNG TÂN PHÚC ÂM HÓA

 

"Giáo Xứ là một cộng đoàn tín hữu Kitô nhất định, được thành lập cách cố định (bền vững) trong một giáo hội địa phương" (GL 515 §1), và cộng đoàn này được mời gọi sống niềm tin của mình vào Thiên Chúa, Đấng hằng yêu thương con người và muốn cho con người được sống trong niềm vui và hạnh phúc. Sống niềm tin vào Thiên Chúa nghĩa là sống kinh nghiệm và sống cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương, và rằng: Thiên Chúa là "Người Cha Nhân Hậu", Ngài luôn yêu thương con người và chờ đợi con người lầm lạc trở về với Ngài để được Ngài chăm sóc và yêu thương. Khi mọi người trong Giáo Xứ sống niềm tin vào Thiên Chúa như vậy, Giáo Xứ thực sự trở thành một "Cộng Đoàn Đức Tin".

Là một "Cộng Đoàn Đức Tin" trong bối cảnh "Tân Phúc Âm Hóa", đâu là điều mà mọi thành phần trong Giáo Xứ cần phải quan tâm để sống và bày tỏ niềm tin của mình vào Thiên Chúa? Phải chăng mọi người chỉ tập trung vào đời sống sinh hoạt của Giáo Xứ, chỉ tập trung vào việc củng cố nội bộ? Điều đó cần, rất cần nhưng chưa đủ để chứng thực Giáo Xứ mình là một Cộng Đoàn Đức Tin. Một yếu tố khác nữa đủ để làm cho Giáo Xứ thực sự trở thành một Cộng Đoàn Đức Tin, đó là mọi thành phần trong Giáo Xứ đáp lại lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: Phải biết "vượt ranh" để đi đến với những người khác. Và, một khi đã củng cố nội bộ và sẵn sàng "vượt ranh" thì mới sống được ý nghĩa của việc Tân Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ.

Tuy nhiên, đâu là những đặc tính cần phải có cho một cộng đoàn sống Tân Phúc Âm Hóa? Dựa vào Tông Huấn "Niềm Vui Tin Mừng" của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, xin nêu ra một vài đặc tính mà một cộng đoàn sống Tân Phúc Âm Hóa cần phải có.

1. Dành Ưu Tiên Cho Việc Tìm Kiếm Những Chiên Lạc

Để cứu con người, Thiên Chúa không chờ con người đến với Ngài, mà Ngài đi bước trước để đến với con người. Ngài không ở trên Trời, nhưng Ngài đã từ Trời bước xuống, đi vào thế giới của con người để tìm kiếm con người. Những người Ngài tìm kiếm trước tiên không phải là những người đạo đức, nhưng là những người yếu đuối tội lỗi, những con chiên lạc. Ngài đã cùng đồng bàn với những người thu thuế và tội lỗi; Ngài chữa lành những người bệnh tật, què quặt và đui mù, những người phong hủi - những người bị coi rẻ và bị bỏ rơi.

Quả thế, Chúa Giêsu đã không ở trong hội đường để chờ người ta đến với Ngài. Ngài đã bước ra khỏi hội đường với lòng hăng say để tìm kiếm những con chiên lạc và những người bị bỏ rơi. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc nhớ chúng ta rằng, chúng ta cũng phải noi gương Chúa Giêsu để làm như vậy, nghĩa là phải bước ra khỏi sự ích kỷ của mình, ra khỏi sự sợ hãi, ra khỏi những định kiến, cục bộ phe nhóm, phải "vượt ranh" để đến với những người khác, nhất là những người kém may mắn, những người tội lỗi. "Một cộng đoàn loan báo Tin Mừng biết rằng Chúa đã có sáng kiến, Ngài đã yêu chúng ta trước (x. 1Ga 4:19), và vì thế chúng ta có thể dấn bước, mạnh dạn có sáng kiến, đến với người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đứng ở các ngã đường để đón mời những người bị gạt ra bên lề" (EG 24).

2. Một Ước Muốn Khôn Nguôi Để Bày Tỏ Lòng Thương Xót

Trong toàn bộ sứ vụ, Chúa Giêsu luôn hướng đến việc biểu lộ lòng thương xót đối với con người. Ngài đã tha thứ tội lỗi cho người phụ nữ quỳ hôn chân Chúa và lấy nước mắt của mình để rửa chân cho Ngài (x. Lc 7). Ngài đã tha thứ và chữa lành cho người bại biệt và người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình. Ngài đã cùng đồng bàn với những người thu thuế, tội lỗi và đĩ điếm để cảm thông hầu dẫn dắt họ về nẻo chính đường ngay. Và sau cùng Ngài đã tha thứ cho kẻ thù, những người làm hại Ngài: "Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm" (Lc 23, 34).

Một cộng đoàn sống Tân Phúc Âm Hóa là cộng đoàn mà mọi thành phần trong cộng đoàn đó phải biết bày tỏ và sống lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người khác, nhất là những người tội lỗi. Đó là một lời mời gọi của Thiên Chúa và là trách nhiệm của mỗi người trong cộng đoàn Giáo Xứ. Thực thế, mỗi người, cách này hay cách khác, đã đón nhận và cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho mình, vì ai cũng có những yếu đuối và lỗi lầm và đã được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ, thì đến lượt mình, cũng phải biết sống tình yêu, lòng thương xót và tha thứ đối với những người khác. "Một cộng đoàn như thế có một ước muốn khôn nguôi là tỏ lòng thương xót, kết quả của kinh nghiệm bản thân của cộng đoàn về sức mạnh lòng thương vô biên của Thiên Chúa" (EG 24). Nếu ta thực sự ý thức về sự yếu đuối và tội lỗi của mình, sống kinh nghiệm về cuộc gặp gỡ riêng tư giữa ta với Chúa, và cảm nhận được sự tha thứ của Ngài, thì ta cũng sẽ biết phải sống tha thứ cho người khác và thương xót họ.

3. Biết  Để Tâm Đến Đời Sống Hằng Ngày Của Con Người

Một cộng đoàn sống Tân Phúc Âm Hóa không được tách rời mà phải để tâm đến đời sống hằng ngày của con người, "dấn mình vào đời sống hằng ngày của dân chúng bằng lời nói và hành động; cộng đoàn ấy vượt qua các khoảng cách, sẵn sàng hạ mình khi cần, và ôm ấp đời sống con người, chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô nơi người khác" (EG 24). Quả vậy, sống Tân Phúc Âm Hóa là mỗi người trong cộng đoàn Giáo Xứ cần ý thức đến việc sống trách nhiệm liên đới với những người khác. Ta không thể hạnh phúc một mình, mà hạnh phúc của ta phải là hạnh phúc của người khác. Điều ấy có nghĩa là ta phải biết san sẻ hạnh phúc của ta cho người khác qua việc chia sẻ với họ những đau khổ mà họ đang gánh chịu. Cũng vậy, ta không thể nên thánh một mình. Việc ta sống thánh thiện phải có ảnh hưởng tốt lành đến người khác, cùng với họ nên thánh.

Biết để tâm đến đời sống hằng ngày của con người là mỗi người trong cộng đoàn phải biết sẵn sàng đi ra khỏi sự ích kỷ của chính mình, đi ra khỏi sự sợ hãi, đi ra khỏi cục bộ phe nhóm và những định kiến để đến với những người khác, nhất là những người bất hạnh đang gặp khó khăn, cần sự trợ giúp của ta. Và không chỉ như vậy, biết để tâm đến đời sống hằng ngày của con người là ta cũng còn phải biết quan tâm đến cả những người xem ra có một đời sống tốt lành. Đến với những người đó, vì biết đâu, họ cũng đang cần ta giúp họ có đủ can đảm để cũng sẵng sàng cùng ta ra đi để chia sẻ "Niềm Vui Tin Mừng" cho những người khác. Biết để tâm đến đời sống hằng ngày của con người, nói chung, là ta chia sẻ cho họ "Niềm Vui Tin Mừng" mà chúng ta đón nhận và cảm nghiệm được từ Thiên Chúa.

Tóm lại, cộng đoàn Giáo Xứ, nơi mà các Kitô hữu thuộc về, là một cộng đoàn đức tin, và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc Tân Phúc Âm Hóa. Giáo Xứ có nghĩa là "Hội Thánh sống giữa các gia đình của các con trai con gái mình" (EG 28). Như vậy, giáo xứ  phải "thực sự tiếp xúc với các gia đình và các cuộc đời của những con người, và không trở thành một cơ chế cách ly với con người hay một nhóm khép kín gồm một ít người được tuyển chọn" (EG 28). Nếu như thế thì mỗi thành phần trong Giáo Xứ, tùy theo ơn gọi và trách nhiệm, cần phải sống niềm tin của mình qua việc không được giới hạn mình, không được giới hạn Giáo Xứ của mình với những người tốt lành thánh thiện và hạnh phúc, mà phải biết quan tâm đến những con người khô khan nguội lạnh, những người tội lỗi. Hơn nữa, mỗi người còn phải biết bày tỏ lòng thương xót mà mình đã cảm nhận được từ Thiên Chúa đối với người khác, và làm cho cộng đoàn của mình trở thành nơi để Thiên Chúa thực thi lòng thương xót của Ngài trên con người. Và sau cùng, mỗi người phải biết quan tâm đến đời sống hằng ngày của những người khác, cùng chia sẻ với nhau những niềm vui nỗi buồn, giúp nhau thăng tiến và sống tốt lành hơn. Mỗi người cần phải tự hỏi: Những cơ cấu, hội đoàn và những hoạt động của Giáo Xứ có thực sự phục vụ con người; có thực sự phục vụ cho việc Phúc Âm Hóa hay chỉ nhằm củng cố nội bộ cùng với những định kiến và loại trừ? Đây thực sự là một thách đố cho một cộng đoàn Giáo Xứ và cho những con người thuộc về đó trong việc sống Tân Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ!

 

Hương Quê

 

 

TÂM SỰ CHIẾC ÁO DÒNG

Đóa Hoa Vô Thường

 

Trong “Năm phúc âm hóa các Giáo xứ”, có một đề tài không thể không bàn tới, đó là mối tương quan giữa cha sở và cha phó. Đây là một đề tài được coi là nhạy cảm, vì nó đụng đến “cái tôi” của các đấng các bậc. Vì thế, bài viết này chỉ muốn nêu lên một mô hình tương quan giữa “Cha sở” và “Cha phó” đầu tiên của Giáo hội, để chúng ta có thể suy nghĩ. Rồi từ đó, ta tìm ra bài học phúc âm hóa chính mình trong các mối tương quan anh em linh mục, để góp phần vào cánh đồng phúc âm hóa các Giáo xứ trong năm nay.

Thưa các đấng các bậc! Mô hình mẫu mà con muốn nói đến ở đây là cộng đoàn các Tông đồ. Con mạo muội gọi Chúa Giêsu là “Cha Sở”, và 12 anh em Tông đồ là các “Cha Phó”. Các Ngài đều được Chúa Cha “bài sai” đến phục vụ ở “Giáo xứ trần gian” (Lc 6, 12-16). Có lẽ từ trước đến nay, chưa có một cộng đoàn nhà xứ nào có đông các Cha phó như thế! Cho nên vấn đề phúc âm hóa “cộng đoàn nhà xứ” cũng được đặt ra. Chúng ta thử xem các Ngài ứng xử làm sao. Bài viết này chỉ xin ghi lại một vài mẩu chuyện nho nhỏ mà thôi.

CHUYỆN ĐỐI NỘI: Ở đây xin được hiểu là “chuyện nội bộ nhà xứ”. Cha Sở Giêsu rất chú trọng đến việc mục vụ thánh hóa bản thân. Vì thế Ngài luôn dành nhiều thời giờ để cầu nguyện, để bàn hỏi với Chúa Cha, là Đấng đã “sai” Ngài đến phục vụ ở “Giáo xứ trần gian” này. Không những thế, Ngài còn khích lệ các Cha Phó hãy quan tâm đến việc mục vụ thánh hóa bản thân, để cùng nhau trau dồi đời sống nội tâm. Ngài nói: “Anh em hãy cầu nguyện luôn, để có thể thắng cơn cám dỗ, vì tinh thần thì mạnh mẽ, nhưng xác thịt thì rất yếu đuối” (Mt 26,41). Cha Sở Giêsu rất muốn anh em linh mục trong nhà xứ cùng chung lời cầu nguyện, để giúp nhau nên thánh, để có thêm nội lực mà chu toàn tốt công tác mục vụ Giáo xứ.

Có lần Cha Phó Phêrô, Giacôbê và Gioan mê ngủ, bỏ cả cầu nguyện. Cha Sở Giêsu đã tế nhị nhắc nhở các Cha: “Anh em không thể thức với mình một giờ sao?” (Mt 26, 40). Xem ra Cha Sở rất tôn trọng tự do của các Cha Phó. Ngài biết rõ 3 Cha Phó này làm điều không đúng. Nhưng Ngài không phê bình, không hờn trách các Cha Phó. Ngài chỉ làm công việc của một Cha Sở, một người chịu trách nhiệm trước mặt “Bề Trên”, một người anh em của các Cha Phó, một người đồng trách nhiệm trong Giáo xứ, để nhắc nhở các Cha một cách nhẹ nhàng. Các Cha Phó ấy đã nhớ mãi bài học về sự thánh hóa bản thân. Suốt đời không bao giờ quên!

Có lần các Cha Phó đi thăm mục vụ về (Lc 10,17-20). Thành công vang dội. Cha nào cũng phấn khởi “báo cáo thành tích”: “Thưa Cha Sở, chúng con nhân danh Cha Sở, làm được rất nhiều việc. Việc to việc nhỏ đều thành công. Bàn dân thiên hạ ai cũng khen Cha Sở” (dĩ nhiên khen cả chúng con nữa!). Nghe vậy, Cha Sở Giêsu cũng thấy rạo rực tâm hồn. Rồi Ngài chia sẻ kinh nghiệm: “Các Cha ơi, chúng ta đừng quá vui về những chuyện ấy. Đó chỉ là phù vân! Nhưng xin các Cha hãy vui, vì tên của Các Cha đã được ghi ở trên Trời. Giờ thì các Cha hãy tìm chỗ thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6, 31). Xem ra Cha Sở Giêsu rất đắc nhân tâm. Ngài không làm cụt hứng các Cha Phó. Ngài chỉ muốn các Cha có thì giờ nghỉ ngơi bồi dưỡng sau những buồn vui đời mục vụ. Ngài muốn các Cha lắng đọng lại tâm hồn. Ngài cũng sợ các Cha Phó háo thắng quá, rồi sinh ra kiêu ngạo, làm “hư bột hư đường”. Nên Ngài mới nhắc các Cha phải tìm về đời sống nội tâm, trầm lắng mà suy xét việc mình làm, rút thêm kinh nghiệm, rồi thầm cảm ơn và bàn hỏi với “Đấng Bề Trên” đã sai mình là Thiên Chúa Cha.

Có lần “Giáo xứ trần gian” bị khủng bố (Mt 26, 47-56). Cha Sở Giêsu bị vây bắt. Các Cha Phó mạnh ai nấy chạy. Nhà xứ hoang vắng. Giáo xứ hoảng loạn. Khoảng một tuần sau, khi biến cố đau thương ấy đã qua đi, Cha Sở Cha Phó gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi. Điểm danh lại, thấy mất một Cha Phó (Mt 27, 3-5). Vậy mà Cha Sở Giêsu vẫn không hề kết tội hay than trách các Cha Phó. Ngài biết “nội bộ nhà xứ” mình đã bị phá sản niềm tin. Vì thế Ngài ra sức phục hồi tinh thần và niềm tin cho anh em. Suốt một thời gian dài sau đó, Cha Sở luôn ban bình an cho các Cha Phó (Lc 24, 13-42). Hình như nơi Cha Sở Giêsu luôn có sự bình an và tha thứ. Sự bình an của Cha Sở bao trùm cả nhà xứ, làm cho các Cha Phó được an vui sống đời phục vụ. Sự tha thứ của Cha Sở làm cho các Cha Phó lấy lại được tinh thần sau những biến cố buồn đau của kiếp người, để các Ngài có thể tiếp tục yêu thương mà cộng tác phục vụ Giáo xứ. Nếu không có sự bình an và tha thứ trong nhà xứ, thì chẳng Cha Sở nào có thể qui tụ được đông đảo các Cha Phó như thế.

CHUYỆN ĐỐI NGOẠI: Ở đây xin được hiểu là “chuyện mục vụ giáo xứ”. Cha Sở Giêsu rất quan tâm đến việc phúc âm hóa Giáo xứ. Có lần Ngài tâm sự với các Cha Phó: “Anh em ơi, lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Anh em hãy xin Bề Trên sai nhiều thợ gặt đến gặt lúa về” (Lc 10, 2). Trước ánh mắt xa xăm, đầy e ngại của các Cha Phó, Ngài nói thêm: “Tôi đến là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28). Ngài coi việc phúc âm hóa giáo xứ là lương thực của chính Ngài: “Lương thực của Tôi là làm theo ý Đấng đã sai Tôi” (Ga 4, 34). Mỗi khi có Cha Phó nào sống theo ý riêng, thì Cha Sở Giêsu lại nhắc: “Tôi đến không phải để làm theo ý Tôi, nhưng làm theo ý Đấng đã sai Tôi” (Ga 6, 38). Những chia sẻ tâm tình đầy trách nhiệm trên đây, là những lời tâm huyết mà Cha Sở Giêsu dành cho các Cha Phó. Và như thế, từng bước, Ngài đã chuyển tải lửa truyền giáo của mình cho các Cha Phó, làm cho cả “cộng đoàn nhà xứ”, ai nấy đều hăng say sống đời phục vụ đến quên mình.

Có lần Cha Sở Giêsu họp với các Cha Phó để bàn chuyện mục vụ. Sau khi đã lắng nghe ý kiến các Cha Phó, Ngài căn dặn các Cha đủ điều. Rồi Ngài phân công, trao trách nhiệm phù hợp với khả năng của từng Cha và sai các Cha đi truyền giáo, thi hành mục vụ phúc âm hóa Giáo xứ (Lc 9,1-6). Chính Cha Sở Giêsu cũng làm gương, lên đường thi hành mục vụ (Mt 11,1). Như thế, đối với Cha Sở Giêsu, làm việc mục vụ là phải có gương sáng, có nguyên tắc, có đường lối và chương trình hành động rõ ràng, công khai. Ngài luôn bàn bạc, tìm sự đồng thuận với các cộng tác viên, rồi phân công làm việc, nhưng luôn đồng trách nhiệm vì sứ vụ.

Có lần hàng ngàn giáo dân kéo đến nghe Cha Sở Giêsu giảng từ sáng đến chiều. Cha Sở thì cứ thao thao bất tuyệt. Còn giáo dân thì cứ há hốc miệng lắng nghe. Ánh hoàng hôn đã buông lưng ngọn núi rồi, mà họ chẳng chịu về. Các Cha Phó thấy vậy, liền xin Cha Sở giải tán đám đông, để họ về, mua cái gì mà ăn cho đỡ đói. Nhưng Cha Sở bảo: “Họ không phải đi đâu cả. Chính anh em hãy cho họ ăn” (Mt 14, 15-16). Như thế, việc mục vụ giáo xứ không chỉ gói gọn trong nhu cầu tinh thần, mà còn phải cố gắng đáp ứng cả nhu cầu vật chất cho cộng đoàn nữa. Ngặt một nỗi, sức người thì có hạn, mà nhu cầu cộng đoàn thì vô hạn. Nhưng nếu Cha sở, Cha phó cứ làm hết khả năng, rồi kêu gọi sự cộng tác nhiệt tình của nhiều người, thì sớm muộn gì, công việc cũng sẽ thành công. Mỗi người “góp vốn” một chút, thì phép lạ sẽ xảy ra. Không những hàng ngàn người được no nê, mà còn thu lại được vô số bánh vụn (Mt 14, 17-21).

Thưa các đấng các bậc! Chuyện “Cha sở cha phó” là một bộ phim dài, nhiều tập. Chuyện “Giáo xứ trần gian” có kể hoài cũng không hết. Nhưng vì bài viết có hạn, con xin dừng ở đây. Lúc này con chợt nhớ đến một Cha phó, mà con đã có dịp gặp cách nay vài năm. Trên bàn làm việc của ngài có một dòng chữ in đậm nét: “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác lớp, nhưng chung một trường” (trường Giêsu). Mới nhìn, thì con thấy vui vui, vì sự biến tấu ý nhị của câu ca dao; nhưng khi biết chuyện, con lại thấy đăng đắng trong lòng. Mong sao những chia sẻ trên đây sẽ giúp chúng ta nhìn lại con đường mình đã chọn, và đang cùng anh em từng ngày đi theo gương Cha Sở Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành, đặc biệt trong “Năm phúc âm hóa các Giáo xứ” 2015 này.

 

 

LINH MỤC

TRONG TƯƠNG QUAN VỚI GIÁO DÂN

 

Ơn gọi Linh mục ở châu Âu giảm sút trầm trọng, không chỉ vì khủng hoảng đức Tin mà còn do khủng hoảng tương quan với giáo dân: Nhà xứ vắng, Linh mục lủi thủi một mình: đi chợ, nấu cơm, rửa chén. Hãy quý những gì Chúa còn đang ban cho Giáo Hội và hàng Linh mục Việt Nam. Hãy trân trọng người giáo dân và chúng ta hãy xác tín rằng: sứ vụ mục tử của Linh mục không thể thiếu bóng giáo dân.

Ngoài ra chính Chúa cũng nêu gương cho chúng ta về lòng thương giáo dân. Khi thấy đám đông say mê theo Chúa, Chúa đã nói: “Ta thương đám dân này. Họ bơ vơ như đàn chiên không có người chăn. Và khi thấy họ cần được ăn, Chúa đã bảo các tông đồ: anh em hãy lo cho họ ăn. Đám đông đa phần là người nghèo bệnh tật và phận nhỏ” (Lc 6,30-43).

Qua cách cư xử với các Giáo đoàn, các Tông đồ tỏ ra các ngài thật là hiện thân của Chúa Giêsu: Hiền lành dịu dàng chẳng khác nào mẹ hiền ủ ấp con thơ. Cũng như Chúa Giêsu các ngài có thể nói với các Giáo đoàn: Chúng tôi quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em không những Tin Mừng của Chúa mà cả mạng sống chúng tôi nữa. Vì anh em đã trở thành những người thân yêu của chúng tôi (1Tx 1,89). Khi từ giã các Kỳ mục ở Milet tông đồ Phalô nói: “Anh em biết, từ ngày đặt chân lên đất Asia, tôi đã cư xử với anh em thế nào: Khi phục vụ tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã nhiều lần rơi lệ, đã gặp bao thử thách do những âm mưu của người Do Thái. Anh em biết tôi đã không bỏ qua một điều gì có ích cho anh em. Trái lại tôi đã giảng cho anh em và dạy dỗ anh em ở nơi công cộng cũng như ở chốn tư gia. Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể cộng đoàn mà Chúa Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc. Anh em hãy coi sóc Hội Thánh của Thiên Chúa. Hội Thánh mà Chúa đã mua bằng máu của chính mình” (Cv 20,17-28).

Với Timothê tông đồ Phaolô căn dặn: “Đừng nặng lời với cụ ông cụ bà. Khi khuyên nhủ hãy coi các cụ như cha mẹ. Hãy coi các thanh niên thiếu niên như anh em, các thiếu nữ như chị em với tâm hồn hoàn toàn trong sạch. Cũng hãy kính trọng các bà goá, các bà goá đích thực (1 Tm 5,1-3).

Tông đồ Phêrô cũng nói với hàng Kỳ mục về cung cách lãnh đạo: Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã trao cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Chúa muốn. Không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng tận tuỵ nhiệt thành. Đừng ỷ quyền mà thống trị họ. Nhưng hãy nêu gương sáng cho họ.

Như vậy để gây được mối tương quan luôn tốt đẹp, phải trải qua sóng gió và hy sinh, nhưng cũng được đền bù bằng nhiều thứ hân hoan vui vẻ. Vì thường tình giáo dân muốn được ta quý mến và được ta coi là đồng sứ vụ trong vườn nho của Chúa. Nên rất thích gặp được ta vui vẻ cởi mở dễ gần và thông cảm. Khi nghe tin một linh mục mới về nhận xứ, giáo dân thường hỏi nhau: “Cha ấy có khó không?”. Chúng ta cần thanh tẩy đầu óc mình khỏi mọi thứ “Giáo sĩ trị”, qua cách cư xử mang tính phong kiến, gia trưởng. Phải luôn nhớ ta là Mục tử được sai đến để phục vụ, chứ không phải quan chức đến để sai khiến. Giáo xứ là gia đình của Chúa chứ không phải là một tổ chức phi chính phủ, nên phải cẩn thận “đừng làm tổn thương giáo dân”. Đặc biệt là trên toà giảng.

Lm Gioakim Mai Xuân Triết

 

"ĐẾN ĐỂ PHỤC VỤ"

                                                (Mt 20, 28)

 

Là khẩu hiệu mà cha sở tôi chọn để sống sứ mạng mục tử của mình. Ngài đã thực hiện khẩu hiệu ấy qua hình ảnh một mục tử hiền lành, khiêm tốn và tận tụy chu toàn bổn phận. Cách riêng, ngài đã giúp tôi luôn biết đọc thánh ý Chúa qua mọi biến cố trong đời sống. Mỗi khi gặp khó khăn, thử thách, ngài luôn là chỗ dựa đáng tin cậy, là nơi tôi tìm lại sự bình an trong tâm hồn.

            “Cha già dấu yêu” là tên gọi thân thương mà tôi dành cho ngài. Thật vậy, ngài rất hiền từ, chưa bao giờ tôi thấy ngài lớn tiếng la mắng giáo dân, kể cả một em thiếu nhi. Còn nhớ, khi cha sở cũ vừa rời họ đạo, vì thương nhớ ngài, nên họ đạo đã treo tấm ảnh cha sở thật to ngay tại phòng khách nhà xứ. Thế nhưng ngài không hề buồn lòng hay tìm cách thay đổi “người cũ, cảnh cũ”, ngài khiêm tốn đón nhận tất cả mọi sự xảy đến với mình, ngay cả sự lạnh nhạt, vô tình của giáo dân trong những ngày đầu nơi nhiệm sở mới. Từng ngày sống của ngài được kết dệt bởi những việc hy sinh âm thầm, nhỏ bé không tên tuổi. Khi giáo dân làm việc, ngài lao vào cùng làm. Khi có gì hư hao, ngài cặm cụi sửa chữa mà không một lời trách móc hay than vãn.

Có lẽ bấy nhiêu đó vẫn chưa thể nói cho hết, kể cho cùng về cha sở tôi. Dù bây giờ ngài đã đến một nhiệm sở mới, nhưng ngài đã để lại trong tôi biết bao dấu ấn khó phai mờ. Thật thế, hiền lành và khiêm tốn chỉ là một trong những đức tính của ngài. Trong nhiệm vụ cha sở, ngài đã chứng tỏ mình là một “mục tử nhân lành” như Chúa Giêsu kêu gọi: một mục tử luôn tận tụy chăm sóc từng con chiên. Ngài không nề hà đêm khuya hay trời mưa bão, miễn có ai nhờ đi xức dầu hoặc  đem Mình Thánh Chúa là ngài sẵn sàng lên đường ngay. Đặc biệt, ngài rất quan tâm đến việc đào tạo ơn gọi linh mục, tu sĩ, nhất là đào tạo về đời sống nhân bản và thiêng liêng. Và thật bất ngờ, số con cái mà ngài đào tạo năm xưa bây giờ đều trở thành linh mục và tu sĩ, một số đang phục vụ tại Giáo Phận Cần Thơ, một số tại Long Xuyên, Mỹ Tho.

Riêng với tôi, "cha già dấu yêu" còn có một vị trí rất đặc biệt trong lòng, nhất là từ khi tôi sống đời dâng hiến. Vốn biết tính tôi yếu đuối và nhút nhát, nên cha luôn dành cho tôi tình yêu thương trìu mến và nâng đỡ tận tình. Còn nhớ trước ngày tôi chuẩn bị đi tu, ngài đã dặn dò tôi phải sống như thế nào trong môi trường mới, ngài đã ghi vào quyển sổ của tôi những lời mà tôi không bao giờ quên: "Khi gặp biến cố hoặc trái ý xảy đến, con hãy "tìm" và "đọc" thánh ý Chúa, con sẽ bình an." Và rồi, trong suốt cuộc đời, tôi thấy  ngài cũng luôn luôn tìm thánh ý Chúa, ngay cả khi tôi thấy biến cố xảy đến là một rủi ro, ngài vẫn nói với tôi: "Tất cả là hồng ân, nhưng thử thách, thất bại lại càng là hồng ân."

Tạ ơn Chúa đã gửi đến cho tôi một linh mục hiền lành, tận tụy và luôn sống theo thánh ý Chúa.  Ngài đã trở thành tấm gương cho tôi soi vào trong đời sống dâng hiến của mình. Nguyện xin cho ngài mãi là mục tử như lòng Chúa ước mong.

Sr. Ter. Trúc Băng

 

 

NGUYỆN CẦU

 

Ngước lên thập giá nhiệm mầu

Rưng rưng dấu Thánh, nguyện cầu Chúa ơi!

Gian trần sóng gió chơi vơi

Náu nương tình Chúa, thảnh thơi muôn đời.

 

                                 jos, Nhật quang

 

BỔN PHẬN ĐỐI VỚI CÁC LINH MỤC

 

Chúa Giêsu đã thành lập Giáo Hội như một tổ chức hữu hình có phẩm trật. Ngài đã chọn các môn đệ và đặt Phêrô làm đầu nhóm Mười Hai. Ngài đã huấn luyện các ông và trao cho các ông sứ mạng loan truyền Phúc Âm. Giáo Hội được khai sinh vào ngày lễ Hiện Xuống và từ đó cho đến nay, Giáo Hội không ngừng phát triển và đã có mặt trên toàn cõi địa cầu, dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Cha và các giám mục, là những đấng kế vị thánh Phêrô và các thánh Tông Đồ.

Là phần tử của Giáo Hội, chúng ta không sống một cách biệt lập như một pháo đài, như một hòn đảo. Trái lại, chúng ta liên hệ mật thiết với nhau như những chi thể. Chính sự liên kết này đem lại cho chúng ta đời sống ơn sủng, đời sống của Thiên Chúa. Trong bài viết này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về những bổn phận đối với hàng giáo phẩm và cụ thể đối với các linh mục có trách nhiệm chăm sóc chúng ta như cha sở, cha phó.

Nhìn vào những sinh hoạt đạo đức, chúng ta nhận thấy các ngài luôn có mặt và ở cạnh chúng ta trong từng giây phút và nhất là trong những thời điểm quan trọng. Với bí tích Rửa tội, các ngài sinh chúng ta ra trong đời sống ơn sủng và đem lại địa vị làm con cái Thiên Chúa. Đây phải là một biến cố trọng đại. Vì thế, người ta kể lại rằng: Là vua nước Pháp, nhưng trong các giấy tờ chính thức, vua Louis thường ký tên là Louis de Poissy, vì Poissy là thôn làng, nơi nhà vua đã được lãnh nhận bí tích Rửa tội. Với bí tích Giải tội các ngài tha thứ những lầm lỗi chúng ta đã vấp phạm. Với bí tích Thánh thể các ngài trao ban cho chúng ta của ăn thiêng liêng nuôi sống linh hồn. Với bí tích Hôn nhân các ngài thánh hóa đời sống gia đình, đồng thời đem lại cho chúng ta những trợ giúp cần thiết cho cuộc sống lứa đôi. Với bí tích Xức dầu Bệnh nhân các ngài chuẩn bị cho chúng ta những hành trang cần thiết cho chuyến đi cuối cùng tìm về quê hương Nước Trời.

Nói tóm lại, các ngài luôn ở với chúng ta, từ khi chúng ta mở mắt chào đời cho đến lúc chúng ta xuôi tay từ giã cuộc sống. Các ngài cầu nguyện và lo cho phần rỗi của chúng ta. Các ngài là những người cộng tác với đức giám mục, có nhiệm vụ trông coi một giáo xứ và hướng dẫn chúng ta về phương diện tinh thần. Các ngài ở giữa chúng ta như mục tử ở giữa đoàn chiên. Vậy thì chúng ta phải có những bổn phận nào ?

Bổn phận thứ nhất đó là yêu mến các ngài

Chúng ta thường yêu mến cha mẹ, thầy dạy và những bậc ân nhân đã góp phần xây dựng cuộc đời của chúng ta thế nào, thì cũng phải yêu mến các linh mục như vậy. Bởi vì các ngài chính là những người cha phần linh hồn, chính là những thầy dạy, chính là những bậc ân nhân của chúng ta.

Bổn phận thứ hai đó là kính trọng các ngài

Cùng với lòng yêu mến, chúng ta còn phải biết ơn và nhất là trọng kính các ngài. Chúng ta trọng kính không phải vì cá nhân các ngài với những khả năng đặc biệt, chẳng hạn như khôn ngoan, tế nhị, khéo cư xử... Nhưng vì trách nhiệm Chúa đã trao phó cho các ngài qua bí tích Truyền chức thánh. Tôi không nhớ có một vị thánh nào đã phát biểu như sau: Nếu như bây giờ trên đường đi, tôi gặp một linh mục và một thiên thần, thì tôi sẽ chào kính vị linh mục trước, bởi vì thiên thần dầu sao chỉ là bạn hữu nghĩa thiết với Chúa, còn vị linh mục là đại diện cho Chúa ở với tôi. Sự trọng kính ấy được biểu lộ ít nhất bằng lời chào hỏi, cách xưng hô và cư xử một cách tế nhị và lịch sự, bởi vì như lời Chúa đã nói: Ai khinh dể các con là khinh dể Ta.

Bổn phận thứ ba là phải vâng lời các ngài

Trong gia đình, người con ngoan ngoãn là người biết mau mắn vui vẻ vâng theo những lời cha mẹ truyền dạy. Nơi trường học, người học sinh tốt là người học sinh biết đón nhận những lời chỉ dạy của thầy cô. Cũng vậy nơi giáo xứ, người giáo dân trưởng thành là người giáo dân biết tuân giữ những lời soi dẫn bảo ban của cha sở. Thế nhưng, vâng lời không có nghĩa là nhắm mắt tuân theo như một cái máy, chỉ biết gật đầu mà thôi. Trái lại, thái độ trưởng thành là thái độ tích cực đóng góp và xây dựng. Khi có điều bất ổn hay trục trặc, chúng ta có bổn phận phải trình bày ý kiến. Nếu ý kiến của chúng ta được chấp thuận thì đó là điều tốt. Còn nếu không được chấp thuận, thì chắc hẳn các ngài và ban Mục vụ cũng có những lý do của mình. Sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng, chúng ta cũng hãy vui vẻ, không vì thế mà giận dỗi, bực tức, làm rạn vỡ tình thân mật vào sự cộng tác trong giáo xứ.

Hẳn chúng ta còn nhớ lời Chúa đã phán: Ai nghe các con là nghe Ta. Trong phạm vi của sự vâng lời, chúng ta cần phải có một thái độ cảm thông đối với các ngài. Thực vậy, bổn phận của các ngài là phải giảng dạy, hướng dẫn chúng ta, phải chặn đứng những tật xấu, những thói hư, những tệ đoan trong giáo xứ. Vì thế, nhiều lúc các ngài phải nói thẳng và nói thật, bởi vì nếu không nói thẳng và nói thật, thì các ngài sẽ phải chịu trách nhiệm trước lương tâm và trước Thiên Chúa. Mà sự thật thì nhiều khi mất lòng.

Cũng như ông bác sĩ, chạy chữa cho con bệnh, thường phải cho toa, mà thuốc uống thì thường là đắng, đôi khi còn phải mổ xẻ. Và việc mổ xẻ chắc hẳn sẽ đem lại đau đớn. Trên tòa giảng, các linh mục đôi lúc phải mạnh mẽ chỉ trích những thói hư tật xấu. Thế nhưng, như chúng ta thường nói: Có tật thì giật mình. Chẳng hạn tôi là một người rượu chè, cờ bạc, vợ nọ con kia, khi nghe cha sở đề cập tới những vấn đề ấy là tôi nghĩ ngay ngài đang xoáy vào tôi. Thế là tôi tức giận, lên tiếng phản đối, bỏ xưng tội rước lễ và tìm mọi cách để trả đũa ngài. Phản ứng như vậy là tỏ ra mình là người tệ bạc và ấu trĩ. Bởi vì, đả phá một thói xấu là làm ơn cho chính bản thân ta. Trong trường hợp này, thiết tưởng chúng ta nên bình tĩnh để kiểm điểm lại cuộc sống của mình, nếu đúng thì uốn nắn sửa đổi, còn nếu sai thì sẵn sàng bỏ qua, bởi vì như một câu danh ngôn đã nói: Ai khen ta mà khen phải, người ấy là bạn ta, còn ai chê ta mà chê phải, người ấy là thầy ta.

Người ta kể lại rằng: Cha Bourdelaire dòng Tên, trên tòa giảng đã lên tiếng chỉ trích thói xấu của bà Montespan, lúc bấy giờ đang là tình nhân của vua Louis. Người ta bèn báo cáo với nhà vua, nhưng nhà vua đã bình tĩnh trả lời: Hãy cứ để cho đấng giảng thuyết làm tròn nhiệm vụ của mình.

Sau cùng bổn phận thứ tư đó là hãy giúp đỡ các ngài

Về tinh thần, chúng ta hãy thêm lời cầu nguyện cho các ngài. Bởi vì để chu toàn trách nhiệm Chúa trao phó, các ngài cần phải khôn ngoan và sáng suốt, bằng không thì mù dẫn mù, cả hai đều rơi xuống hố. Đồng thời để tạo được một ảnh hưởng, các ngài cần phải có một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương. Các ngài được sánh ví như men trong bột, như muối trong thức ăn và như ánh sáng trong đêm tối. Các ngài là những người cộng tác để làm cho ngọn lửa tình yêu mà Chúa đã đem xuống trần gian được bùng cháy lên trong lòng mọi người. Muốn được như vậy, các ngài rất cần đến những sự trợ giúp của Chúa. Bởi đó, chúng ta hãy thêm lời cầu nguyện cho các ngài.

Tuy nhiên giúp đỡ thiêng liêng mà thôi chưa đủ, chúng ta còn có bổn phận phải giúp đỡ vật chất. Bởi vì các ngài cũng là người, nên cũng có những nhu cầu như nhà ở, quần áo, thức ăn. Chính thánh Phaolô cũng đã nói: Người thợ thì đáng ăn lương của mình. (1Tm 5,18). Nhiều lúc chúng ta lên tiếng trách cứ những linh mục bê trễ bổn phận của mình để đầu tư vào nhà máy, vào ruộng vườn, nhưng chúng ta đã làm được những gì để giúp đỡ cho các ngài. Đừng nói rằng các linh mục đã làm gì cho tôi, nhưng hãy tự hỏi xem tôi đã làm được những gì cho các ngài.

Những sự giúp đỡ của chúng ta, dĩ nhiên không có tính cách bắt buộc như một loại thuế má, nhưng tùy theo khả năng và hảo tâm của mỗi người. Một phần được dùng để bảo đảm những nhu cầu cần thiết cho các ngài, để nhờ đó các ngài chu toàn được bổn phận mục vụ của mình. Một phần được dùng cho những công việc chung, như kiến thiết, sửa chữa những tài sản chung của giáo xứ, để nhờ đó giáo xứ mỗi ngày một trở nên tốt đẹp hơn.

Để kết luận tôi xin kể lại mẩu chuyện sau đây. Ngày kia cha Chevrier đã nói: Hãy giúp tôi xây dựng ngôi vương cung thánh đường mà chỉ có nó mới có thể cứu được thế giới. Người ta ngạc nhiên hỏi lại: Ngôi vương cung thánh đường nào vậy? Ngài trả lời: Tôi muốn làm hết sức để xây ngôi vương cung thánh đường mà nền móng là các linh mục thánh thiện, các cây cột cũng là những linh mục thánh thiện, đèn nhà tạm cũng là một linh mục thánh thiện, tòa giảng cũng là một linh mục thánh thiện và bàn thờ cũng là một linh mục thánh thiện. Chỉ có ngôi vương cung thánh đường này mới là điều cần thiết cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc mà thôi.

Bởi đó, hãy cầu nguyện cho các linh mục.

Tụy Hiền

 

 

 

GIÁO LUẬT

 

 

THẮC MẮC GIÁO LUẬT

 

“Con chuẩn bị kết hôn, nhưng con (và có thể cả gia đình con) sẽ rất xấu hổ khi tên con được rao trong nhà thờ (vì trước kia con có đi tu!). Xin Cha cho biết việc rao hôn phối nhằm mục đích gì, và con có thể xin miễn chuẫn lời rao hôn phối được không?”

Trả lời:

Hôn nhân không phải là một việc riêng tư chỉ liên quan đến hai vợ chồng, mà là một hành vi công liên quan đến cả Giáo Hội lẫn xã hội dân sự nữa. Cho nên, cả Giáo luật lẫn Dân luật đều đặt ra những thủ tục kết hôn.

Đối với Giáo Hội, việc rao hôn phối nhằm mục đích xác nhận sự tự do để kết hôn, cũng như để thông báo cho cộng đoàn biết mà cầu nguyện và họ có thể trình báo những ngăn trở mà họ biết được.

Theo Bộ Giáo luật hiện hành, luật chung không quy định gì về việc rao hôn phối, nhưng giao lại cho Hội Đồng Giám Mục quy định.

“Hội Đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc về việc khảo hạch các đôi bạn, cũng như về việc rao hôn phối và về những phương tiện thích hợp khác để thực hiện các cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn” (Điều 1067).

Hình thức thông thường áp dụng tại Việt Nam là rao hôn phối trong ba ngày Chúa nhật liên tiếp. Cũng có nơi đăng lời rao hôn phối trên bản tin của giáo xứ, hoặc dán lời rao hôn phối trước cửa nhà thờ.

Việc rao hôn phối là một việc cần thiết, phải được tuân giữ một cách cẩn thận. Cho nên, việc chuẩn rao hôn phối phải là một việc hết sức họa hiếm.

Về việc miễn chuẩn, theo “Bản Năng Quyền Thập Niên (1971-1980)” vẫn còn hiệu lực: Cha sở có thể chuẩn một lời rao; Cha Quản hạt được tha rao hai lần khi có lý do chính đáng; và Đức Giám mục giáo phận chuẩn rao hoàn toàn. Phép tha này có hiệu lực ở tất cả những nơi liên hệ đến nố hôn phối đó, cho dầu ở ngoài giáo xứ, giáo hạt, giáo phận mình (số 33).

 

Lm LG Huỳnh Phước Lâm

 

 

 

PHỤNG VỤ

 

                                       S Á M   H Ố I

Đức-An

 

Tinh thần sám hối không riêng gì mùa chay mà cả cuộc đời ta phải trở thành mùa sám hối, để con người tự nhìn lại mình, biết mình là ai. Đặt lại vấn đề: Tại sao phải sám hối? Sám hối cái gì? Sám hối thế nào. Đặt câu hỏi để tự vấn, và tìm lời giải đáp.

Với con người, không ai dám vỗ ngực nói: “Tôi không có tội”. Cũng bởi nhận mình có tội, mà những bậc thánh nhân mới trở nên hoàn thiện. Bởi thế, khi đối diện với Thiên Chúa, Người là Đấng toàn thiện, toàn mỹ, chúng ta mới nhận ra mình thật bất xứng. Xét cho cùng, chúng ta là những đứa con đi hoang. Trong Phúc Âm tường thuật về người con hoang đàng: Sau thời gian bỏ nhà ra đi tìm những thú vui, ăn chơi trác táng, rồi hết tiền lâm cảnh cùng khốn, anh ta nghĩ phải trở về chuộc lại những lỗi lầm với cha. Anh không dám mơ sẽ được cha tha thứ, mà chỉ xin được làm công để có ngày hai bữa cơm cũng được. Nhưng sự việc xảy ra ngoài dự đoán của anh: Không những được cha tha thứ, mà còn cho anh trở lại nguyên vị “là con”, ông còn tổ chức ăn mừng, mời hàng xóm đến chung vui.

Theo tinh thần Phúc-Âm, người con hoang đàng sau một lần đi hoang, sám hối trở về được sự khoan dung của cha, anh đã trở thành người con ngoan không còn tái phạm. Với chúng ta thì sao? Đã bao lần đi hoang, trở về, lại đi hoang, rồi trở về và cứ thế tái diễn nhiều lần, Thiên Chúa vẫn mở rộng tay đón chờ chúng ta. Bởi Người biết con người mang thân xác yếu hèn, thú tính lại mạnh hơn thần tính. Vì thế trong ta luôn xảy ra cuộc chiến giữa chính và tà, muốn thắng tà, ta phải cậy vào ơn Chúa. Trong cuộc sống ngày nay, chúng ta có thể đưa ra hai trường hợp:

a- Sám hối tiêu cực: Khi con người rơi xuống vũng lầy, trí óc hoảng loạn, không biết kêu cứu, tự mình vùng vẫy rồi bị chìm luôn. Có người phạm trọng tội, lương tâm bấn loạn, đâm thất vọng, tự mình tìm lối thoát, cuối cùng giải thoát cho mình bằng cái chết. Trường hợp đó thường xảy ra như Giuda ngày xưa.

 b- Sám hối tích cực: Khi con người phạm tội, biết mình yếu đuối, cậy trông vào tình thương của Chúa, thành tâm sám hối, ăn năn, quyết tâm không tái phạm, như Thánh Phêrô xưa.

Nói cho cùng ai cũng có khuyết điểm, yếu đuối và dễ sa ngã. Đặc biệt khi ta quy chiếu với Tin Mừng của Chúa, chúng ta sẽ nhận ra sự mỏng giòn của thân phận con người, chúng ta mới thấy mình cần sám hối. Nên, khi đối diện với thực tế, nhận ra mình quá tội lỗi chớ vội nản lòng, hãy nỗ lực, và nhất là để cho Chúa Giêsu sửa dạy ta. Sám hối là cả một quá trình phấn đấu lâu dài và có thể nói: chỉ tới lúc nhắm mắt xuôi tay mới dứt. Sám hối không phải ngồi chờ Chúa ban ơn, hay có cơ hội, hoặc đợi Người làm phép lạ. Nhưng là sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của bản thân. Chúa thương ta, mong ta sớm trở về và Người nhắc cho ta biết: ta không đơn độc trong cuộc hành trình nơi dương thế. Tuy nhiên, Người vẫn cho ta lựa chọn: Hoặc trở về với Chúa, đi theo con đường Chúa đã đi; hoặc đi theo tà thần trên con đường vinh hoa, lợi lộc, với tất cả tình dục. Rồi mất Chúa, mất cả hạnh phúc vĩnh cửu.

Nét đặc thù của con người thực tâm sám hối là tinh thần khiêm hạ. Họ tự nhận mình là người tội lỗi, đã bao lần xúc phạm đến Chúa, mà Người vẫn khoan dung. Nếu xét theo tình đời, họ đâu xứng được tha thứ. Vì đã bao lần họ đã hợp tác với ma quỷ chống lại Thiên Chúa cả hàng trăm ngàn lần. Nhận ra sự độ lượng và lòng khoan dung của Chúa, họ cậy trông và thực lòng sám hối ăn năn xin Chúa thứ tha, quyết tâm trở về bên Chúa.

Câu chuyện sau đây xin thay cho lời kết: Ngày xưa, ở một vùng đất nọ, có hai anh em cha mẹ chết sớm, được nhiều người trong làng thương yêu, giúp đỡ. Nhưng rồi càng lớn tính ngỗ nghịch càng phát sinh. Và mọi việc trở nên nghiêm trọng khi hai người đi ăn trộm cừu của người trong làng. Một lần nọ, cả hai anh em bị bắt quả tang. Dân làng quyết định trừng phạt họ rất nặng bằng cách thích lên trán họ hai chữ “ST”. Vì quá xấu hổ, một trong hai người bỏ làng ra đi biệt tích, còn một người ở lại làng. Anh ta vô cùng ân hận và cố gắng bù đắp lại những lỗi lầm của mình. Lúc đầu nhiều người ta còn e dè không muốn gần anh ta. Tuy nhiên, anh ta vẫn quyết tâm hoán cải. Trong làng có ai đau yếu, anh đều tìm đến ân cần chăm sóc. Bất cứ ai có công việc gì nặng nhọc, anh đều tới giúp đỡ hết mình, không phân biệt giầu nghèo. Cứ như thế, anh luôn sống vì người khác chẳng hề đòi trả công.

Nhiều năm trôi qua, một ngày nọ có vị khách đi ngang qua làng. Ông ghé quán ngồi nghỉ uống nước, ông thấy một lão ông, ngồi gần đó  trên trán có khắc một dấu lạ. Bất kỳ ai trong làng đi ngang qua, cũng đều dừng lại kính cẩn chào hỏi ông cụ; đám trẻ con chơi xong cũng chạy đến sà vào lòng cụ. Mọi người đều kính trọng ông lão. Thấy ngạc nhiên, người khách hỏi chủ quán:

- Hai chữ trên trán ông cụ ý nghĩa là gì?

- Tôi cũng không rõ, người chủ quán trả lời, chuyện xảy ra lâu lắm rồi. Nhưng theo tôi nghĩ, nó có nghĩa là “Thánh nhân”. (Theo đúng nghĩa hai chữ “ST” là hai chữ đầu của từ “sheep thief”).

Thật vậy, sự sám hối đã làm cho đời những vị Thánh.

 

THA THỨ ĐỂ PHÚC ÂM HÓA

 

 

1- Ngày 13.5.1983, tại quảng trường thánh Phêrô, Rôma, thánh giáo hoàng Gioan-Phaolô II bị ám sát. Hung thủ Ali Acca bị bắt giam. Ngày 27.12.1983, thánh giáo hoàng vào nhà tù thăm kẻ giết mình. Vừa thấy anh, ngài ôm hôn thắm thiết. Tên sát nhân, sau một thoáng ngỡ ngàng, đã nhạt nhòa đẫm lệ. Hình ảnh này được đưa lên Báo, Đài, Tivi, đã in sâu vào tâm trí của hàng tỷ người trên thế giới. Báo chí gọi đây là “nụ hôn của lòng thương xót thứ tha”.

            2- Mùa CHAY, mọi tín hữu được mời gọi sám hối ăn năn, canh tân đổi mới. Hội Thánh bao gồm những người tội lỗi trong lòng mình; nên dù được gọi là thánh, Hội Thánh vẫn phải thanh tẩy bằng nỗ lực hối cải, làm sạch đẹp nội tâm. Hội Thánh không phải là một câu lạc bộ thánh nhân, mà là một bệnh viện dành cho tội nhân. “Bí tích Thống hối là nơi mà Thiên Chúa dường như quên đi công lý của mình, để chỉ biểu lộ lòng thương xót của Ngài. Những lỗi lầm của ta là những hạt cát bên cạnh ngọn núi to lớn là lòng thương xót của Thiên Chúa. Không phải tội nhân trở về với Chúa để xin Ngài tha thứ, nhưng chính Chúa chạy theo tội nhân và làm cho họ quay về với Ngài “ (Thánh Gioan Maria Vianê). Xưng tội giúp ta trải nghiệm tình thương và lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ngài không bao giờ mỏi mệt tha thứ cho ta. Ngài tha 70 lần 7, tha mãi, tha hoài.

3-“Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng phải tha thứ cho nhau “(Cl 3,13). Nếu cứ áp dụng luật mắt đền mắt, răng thế răng (x Mt 5,38), cả thế giới này sẽ chỉ còn người đui mù, kẻ sún răng móm miệng. “Anh em phải rửa chân cho nhau ”(x Ga 13,14): Hãy là luật sư biện hộ cho nhau. Đừng bao giờ làm quan tòa kết án. Đã trải nghiệm được lòng thương xót của Chúa, chúng ta hãy trở nên chỗ êm ái cho kẻ khác nương tựa; yêu thương họ ngay cả khi họ lỗi lầm và xúc phạm chúng ta. Bước ra khỏi tòa Giải tội, đáng lý ta phải ôm choàng cổ nhau, ngay lập tức, không chần chừ. Từ chối tha thứ kẻ khác là tín hiệu rõ nét, là dấu chỉ hùng hồn cho thấy ta chưa thực lòng cởi mở tâm hồn đón nhận ơn Chúa.

Ông Phêrô nói rất hay: Con phải tha đến mấy lần, có phải 7 lần không? (x Mt 18,21). Vậy mà khi Chúa vừa bị quân dữ vây bắt, ông đã tuốt gươm chém đứt tai đầy tớ của thượng tế; khiến Chúa phải lên tiếng dạy ông bài học bất bạo động “hãy xỏ gươm vào vỏ” (x Mt 26,52); “rồi Ngài sờ vào tai tên đầy tớ mà chữa lành “ (Lc 22,51).

Do đâu mà thế giới ngày nào cũng có chiến tranh, khủng bố, bạo lực, máu chảy đầu rơi? Do đâu mà vợ chồng ly dị ly thân? Do đâu mà gia đình cha mẹ, con cái, dâu rể, huynh đệ tương tàn nồi da xáo thịt? Thưa, vì con người không chịu tha thứ cho nhau, chưa biết lấy đại nghĩa thắng hung tàn; đem chí nhân thay cường bạo. Cứ dại dột nghĩ rằng nhịn thì nhục, tha là thua là dại. Họ không hiểu được rằng hận thù đem lại chết chóc; tình thương cứu được thế giới. Tha thứ là linh dược có thể chữa trị mọi niềm đau nỗi khổ cho kẻ được tha thứ và người thứ tha. Thà Tha lầm còn hơn Chấp lỡ. Chỉ với tình thương tha thứ như thế, chúng ta mới “nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện “(x Mt 5,48).

Quả thật, tha thứ là mùi thơm mà bông hoa tỏa ra khi nó bị giẫm nát. Như lọ nước hoa bị đập vỡ, lập tức làm thơm bàn tay tàn ác đập nát nó; như cây quế cây trầm tiết mùi thơm cho cả cái rìu cái rựa đốn ngã nó, Chúa Giêsu, bị đóng đinh bất công nhục nhã trên thập giá, trong cơn đau đớn quằn quại tột độ, đã thốt lên lời tuyệt mỹ: “Cha ơi, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là giây phút đẹp nhất, ý nghĩa nhất trong sứ vụ cứu độ của Chúa: “Trên thập giá, Ngài đã tiêu diệt hận thù” (Ep 2,16). Quả thật, nếu Chúa không khoan dung tha thứ, thiên đàng sẽ trống rỗng.

4- Ở thành phố Québec, Canada, có ông Alex Magrini chuyên sản xuất đàn piano. Lần nọ, để mừng ngày chấm dứt đệ nhị thế chiến (1945), ông có sáng kiến đóng một cây đàn độc đáo, bằng cách thu mua các khẩu súng cũ đủ loại. Ông trấn an cảnh sát thành phố: Đừng sợ, tôi không đúc súng, mà đóng đàn! Ông đã tận dụng các chi tiết của súng, chế biến thành một cây đàn, và đặt tên là “Cây đàn piano Hòa bình và Tình thương”.

Sống ở đời lúc nào cũng cần có một tấm lòng. Có những người đang cố vá lưới rách tâm hồn bên bờ cuộc đời (x Mc 1,19). Họ chờ đợi tấm lòng từ bi nhân ái bao dung của cộng đoàn, giáo xứ, gia đình tha thứ, yêu thương, đồng hành, giúp họ thoát khỏi bến mê lầm lỡ, mà thanh thoát làm mới cuộc đời.

Vâng, chỉ có thuyền mới biết biển mênh mông dường nào. Chỉ ai được Thiên Chúa thứ tha, mới trải nghiệm được tấm lòng Thiên Chúa bao dung hải hà dường bao. Khiêm tốn nói lời xin lỗi và quảng đại tha thứ cho nhau là chìa khóa tuyệt hảo để Phúc Âm hóa gia đình cộng đoàn giáo xứ; là kim chỉ nam giúp mọi người sống bình an hạnh phúc lâu bền.

 

Hạt Cải

 

VÌ YÊU

Đường lên đỉnh núi ghồ ghề

Vai mang Thập tự nặng nề, Chúa ơi !

Calvê chiều tím buông rơi

Giêsu  gục ngã, tả tơi thân tàn.

Đồi cao lộng gió ngút ngàn

Vươn cây Thập tự, thấm tràn  máu vương.

Đất trời se sắt thê lương

Khóc Con Chúa chịu đau thương, nhục hình

Vì yêu Chúa hiến thân mình

Trở nên giá chuộc chúng sinh muôn đời.

Giêsu tình Chúa cao vời

Chết cho nhân thế, rạng ngời phúc vinh

jos, Nhật quang

GIÁO DỤC

Mừng Xuân

Ất Mùi bàn về DƯƠNG

Nhân năm Ất Mùi bàn về chữ DƯƠNG trong bốn chữ THIỆN, MỸ, NGHĨA và CAO. Thường thì khi nhắc đến Dương (Dê) người ta nghĩ ngay đến ‘máu 35’ (3+5=8 là vị trí của Mùi trong 12 con giáp)... Nhưng cần phải nhìn tích cực và trong sáng hơn theo khoa chiết tự để thấy ý nghĩa thâm sâu mà chữ Dương chuyển tải. Dê là một trong ba con vật dùng trong việc cúng thần (tam sinh: Ngưu, Dương, Thỉ 牛, 羊, 豕). Nên người ta tạo thành 4 chữ chúng ta khảo sát trong 24 chữ thuộc bộ Dương:

THIỆN = Dương 羊 (con dê) + Ngôn 言 (lời nói, tiếng kêu)

MỸ = Dương羊 (con dê không chân) + Đại 大 (to lớn)

NGHĨA = Dương 羊 (con dê không chân) + Ngã 我 (ta, tôi)

CAO = Dương羊 (con dê không chân) + Hỏa 灬 (lửa)

THIỆN là Tốt Lành: là tiếng kêu của con vật trước khi chết làm của lễ. MỸ là Đẹp: vật tế sinh mập to là tấm lòng đẹp, và đẹp cả lễ vật (chuyện Ca-in và A-ben). NGHĨA là Việc Thiện: chỉ thật sự là việc nghĩa khi làm cho người khác vô vị lợi, làm hết mình và chấp nhận chết như vật tế lễ. CAO là con dê non (Chiên rất giống dê non khi chưa có sừng) nên Cao cũng có nghĩa là CHIÊN, Cừu: nếu dê còn non cần được sưởi trên lửa, thì CHIÊN THIÊN CHÚA chính là của lễ toàn thiêu, của lễ cứu độ nhân loại. Đó là lý do Thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giê-su: ‘Đây Chiên Thiên Chúa, Đây Đấng gánh tội trần gian’ mà không dùng hình ảnh con vật khác.

Hy vọng Năm Mới Ất Mùi này mỗi người chúng ta được bình an và luôn có yếu tố ‘Vật Tế’ như Dương để đời sống chung được hạnh phúc, để Thiên Đàng được hiện thực ngay tại thế nhờ mỗi người biết sống vì mình cho người khác vậy.                      Ước chi được như vậy 

Lm. JB. Trần Đinh Tử

 

HỌC ĐỂ THAY ĐỔI SỐ PHẬN

 

Giầu nghèo, sang hèn do số phận hay do chính ta quyết định. Đây là một vấn đề đã tạo ra bao cuộc tranh luận, tốn nhiều giấy mực. Cuộc bàn cãi đó cũng thường diễn ra trong những lúc trà dư tửu hậu, có khi diễn ra khắp nơi ngay ở những quán cafe vỉa hè bên đường từ thành thị đến nông thôn. Trong xã hội Việt Nam ngày nay, với sự phân hóa giầu nghèo quá lớn “người ăn không hết, kẻ bòn chẳng ra”. Theo báo cáo của cục thống kê Quốc gia Việt Nam, chỉ số phân hóa chênh lệch giữa người giầu và người nghèo (Gini) của Việt Nam năm 2010, một nước nghèo là 0,43 (Chỉ số Gini trên 0,4 là báo động). Trong lúc các nước Nhật, Úc, châu Âu là những nước giầu thì chỉ số Gini chỉ là 0,25 (Gini 0,25 thuộc nhóm an toàn). Người ta lại càng bàn nhiều đến những nguyên nhân của sự giầu nghèo sang hèn trong xã hội. Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi chỉ bàn đến một vài quan điểm làm giầu chính đáng, không đề cập đến những trường hợp làm giầu bất chính như tham ô, hối lộ.

Quan điểm giầu nghèo thời phong kiến

Thời phong kiến đã trải dài trong lịch sử dân tộc ta cả mấy ngàn năm. Khởi đầu là triều đại các vua Hùng, đầu tiên là Kinh Dương Vương, và vị vua cuối cùng của nước ta là Bảo Đại lên ngôi năm 1932 lúc 19 tuổi, và thoái vị năm 1945 lúc 31 tuổi. Thời đó, Vua được gọi là Thiên tử (con trời). Vua truyền ngôi lại cho con. Có những vị vua chỉ mới một hai tuổi đã được truyền ngôi như vua Lý Anh Tông được truyền ngôi lúc mới ba tuổi (1139); Vua Lê Nhân Tông được truyền ngôi năm 1 tuổi (1442). Từ thực tế xã hội như thế, ông cha ta đã nói: Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa. Trong xã hội phong kiến, nhà nho xưa cho rằng: “Tử sinh hữu mạng, phú quí tại Thiên” có nghĩa là sống chết có số mạng, nghèo giầu đều do nơi trời.

Quan điểm tiến bộ thay thế quan điểm phong kiến

Ngày 04.7.1776 bản tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ ra đời đã khẳng định: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, Tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phậm, trong đó có quyền sống và quyền được tự do mưu cầu hạnh phúc”. Tư tưởng tiến bộ đó lan dần sang các nước khác như cuộc cách mạng Pháp 1789, rồi sang Nhật Bản. Ông Fukuzawa Yukichi (1834-1901), nhà tư tưởng lớn của Nhật Bản dưới thơi Minh Trị Thiên Hoàng đã lên tiếng trong cuốn sách “Khuyến học” đã nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người, mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn”. Nhờ tư tưởng tiến bộ đó mà nước Nhật có bước tiến dài trong lịch sử như ngày nay.

Còn tại Việt Nam, nhà trí thức Công giáo Nguyễn Trường Tộ (1828- 1871) đã dâng lên triều đình Huế tổng cộng 58 bản điều trần (theo sử gia LM Trương Bá Cần), nhưng thật đáng tiếc hầu hết không được chấp nhận. Trương Vĩnh Ký (1838-1898), một người Công giáo nói thông thạo 27 thứ tiếng, một nhà văn hóa, nhà bác học lớn không những của Việt Nam, mà ông còn là một trong 18 nhà bác học của thế giới ở thế kỷ XIX đã góp công lớn về mọi mặt cho đất nước và nhân loại. Đầu thế kỷ XX, năm 1905 hai nhà cách mạng Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đã hô hào khởi xướng phong trào Đông du đưa sinh viên sang Nhật để học tập. Ngày nay, nước ta cũng đã nhìn nhận “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Nhưng rất tiếc giáo dục của nước ta còn chạy theo thành tích, nạn học giả, mua bằng, gian dối còn quá nhiều, tạo ra một xã hội thiếu sự trung thực, thiếu chân thật.

 Đổi đời thoát nghèo do sự học

Tổ chức Phát Triển và Hỗ Tương Kinh tế gọi tắt là (OECD) vừa công bố 10 nước có dân số học thức cao nhất thế giới là: Cannada, Do Thái, Nhật, Hoa Kỳ, Tân Tây Lan, Nam Hàn, Na Uy, Anh, Úc Đại Lợi, Phần Lan. Số người có trình độ đại học và trên đại học ở các nước này chiếm từ 37% dân số đến 50% dân số thì cũng là 10 nước có thu nhập đầu người (GDP) cao nhất trên thế giới từ 30.000 Mỹ kim/người/ năm đến 56.611 mỹ kim/người/năm. Điều đó đúng như ông Koichiro Masuura Tổng giám đốc Unesco (1999-2009) đã nói: “Đầu tư cho Giáo dục là khôn ngoan nhất”.

 Đó là xét trên bình diện quốc gia, còn trong phạm vi cá nhân, ta thấy nhiều người đã tạo nên một cuộc đổi đời thoát nghèo ngoạn mục có khi ở ngay trong nước nghèo như nước ta. Tôi xin đan cử một số người như: Đặng Lê Nguyên Vũ (Cafe Trung Nguyên), doanh nghiệp trẻ suất sắc nhất Asean năm 2004, học để đưa được cả dòng họ thoát nghèo, mong ước của ông đưa đất nước phồn vinh. Tôi xin đan cử một trường hợp nữa mà nhiều người trên thế giới đều biết. Đó là chàng Nich Vujicic sinh năm 1982 tại Úc. Khi sinh ra Nich đã không có cả hai chi trên và dưới mà chỉ có hai bàn chân nhỏ. Trong hai bàn chân nhỏ đó có một bàn chân nhỏ có hai ngón chân. Thế mà, Nich đã ngày đêm cầu nguyện với Chúa và vượt qua biết bao khó khăn để sống, làm việc và học tập. Kết quả Nich đã lấy bằng đại học trường Griffith của Úc năm 21 tuổi. Nich đã lấy vợ, viết sách và thành lập công ty. Nich đi thuyết trình tới gần 30 nước trên thế giới.

Ta có thể kết luận: Sự học giúp ta thoát nghèo nhanh nhất, bền vững nhất và cũng danh dự nhất. Nhưng trước hết và trên hết ta phải học sống làm người. Và trên tất cả ta phải học và sống để trở thành người thiện tâm để xứng đáng được Thiên Chúa chúc lành

                                                                     Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

 

CHỦ TỊCH NƯỚC VIẾNG THĂM

 

Chiều thứ ba, ngày 27.01.2015, Chủ Tịch Nước, Ông Trương Tấn Sang, đã cầm đầu phái đoàn viếng thăm Tòa Giám Mục Long Xuyên vào lúc 17g00. Trước tiên ông và phái đoàn đã chào thăm Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu và Giuse Trần Văn Toản tại phòng khách. Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã đọc bài chúc mừng và nói lên những nguyện vọng của mình. Hai bên đã trao đổi về đường lối và sự cộng tác, cũng như đã cầu chúc cho nhau một năm mới khỏe mạnh và hạnh phúc. Sau đó, phái đoàn đã viếng thăm và chúc tuổi Đức cha Gioan Baotixia Bùi Tuần. Cuộc viếng thăm kéo dài 1g45 phút.

TRUYỀN GIÁO

 

GIÁO XỨ TRUYỀN GIÁO

TẠI GIÁO PHẬN LONG XUYÊN.

 

4- Thử phác họa mô hình giáo xứ truyền giáo

a- Ý thức truyền giáo:

Do có những ngộ nhận về truyền giáo nên một số không nhỏ giáo dân có suy nghĩ việc truyền giáo là việc dành riêng cho các tu sĩ nam nữ, linh mục hay giám mục. Đây là một suy nghĩ chưa đúng, vì mỗi Kitô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội đều được mời gọi tham dự vào chức vụ tư tế cộng dồng: tư tế-ngôn sứ-vương đế. Mỗi Kitô hữu được rửa tội được đón nhận Chúa và họ có trách nhiệm mang Chúa đến với những người khác. Vì chính Chúa Giêsu đã truyền dạy: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19).  Vì thế, cần phải thay đổi não trạng, tâm thức cũng như nhiệt tình truyền giáo nơi giáo dân. Người giáo dân cần phải được “tái truyền giáo” để rồi ra đi đem Chúa đến cho anh chị em xung quanh.

Nhưng một khi đã có ý thức và nhiệt tình rồi, cũng cần phải được đào tạo, trang bị những kiến thức để có những phương thế truyền giáo sao cho phù hợp với hoàn cảnh của thời đại hôm nay vì não trạng và tâm thức cũng như hoàn cảnh xã hội đã đổi thay rất nhiều so với quá khứ. Như trong thư chung của HĐGMVN năm 2003 số 6 đã viết: “Hãy ra đi với một nhiệt tình tông đồ mới, đến với những người đang cần ánh sáng Tin Mừng và sử dụng những phương tiện phù hợp với con người ngày hôm nay” và nhất ra “phải ra đi vùng ngoại biên với những người bị bỏ rơi, loại trừ”.

Nên, chính các vị mục tử nơi cộng đoàn giáo xứ, theo thiển nghĩ, phải là những người có nhiệt tình và hăng say trong việc truyền giáo trước để rồi truyền lửa ấy cho cộng đoàn giáo xứ mà mình phụ trách; bởi vì truyền giáo là mệnh lệnh của Thầy chí thánh - Chúa Giêsu - đã truyền cho các môn đệ của Ngài, trong đó các linh mục là những người được tuyển chọn để ưu tiên thực hành mệnh lệnh ấy. Vì thế, không có một lý do gì các chủ chăn lại “khoán trắng” việc truyền giáo cho người khác.

b- Thăng tiến vai trò của người giáo dân hôm nay:

Giáo Hội là và phải là một cộng đoàn hiệp thông nên cần phải xóa tan ranh giới phân chia giữa giáo sĩ và giáo dân. Vì nhiều lý do khác nhau, có thể là từ hai phía hoặc những hiểu lầm và ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng giáo sĩ trị nên giáo dân không dám đến với mục tử và ngược lại. Giữa hai phía là một khoảng cách rất lớn. Một khi khoảng cách ấy chưa được san lấp thì khó có thể hiệp thông làm cho cộng đoàn giáo xứ nên hiệp nhất phát triển chứ chưa nói đến việc truyền giáo. Nên cần phải đổi mới mối tương quan giữa giáo dân và mục tử của mình nơi giáo xứ vì đã qua rồi thuở mà “các cha bảo sao thì biết làm vậy”. Mô hình giáo sĩ trị đã bị loại bỏ và mô hình hiệp thông đồng trách nhiệm trong hội thánh cần được phát huy. Vì chỉ có một sứ mạng duy nhất cho Giáo hội nhưng có nhiều thừa tác vụ và cách thế diễn tả cũng như thực hiện. Điều này không phải là một sự đối nghịch nhưng chính điều này giúp “các bên” bổ túc cho nhau trong sứ mạng. Sự hiệp thông đồng trách nhiệm này không chỉ đúng cho miền sông nước Cửu Long mà thôi nhưng thiết nghĩ còn cho cả Giáo Hội Việt Nam nữa vì tại nhiều nơi các linh mục còn thiếu cho việc truyền giáo thì khi đó các giáo dân chính là những cộng sự viên đắc lực cho công cuộc truyền giáo trong các công tác như: dạy giáo lý, thăm viếng, chia sẻ lời Chúa. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II đã nhận xét “tại nhiều nước Châu Á, người giáo dân đang phục vụ như những nhà thừa sai đích thực tiếp xúc với những anh em Á Châu chưa bao giờ có dịp gặp gỡ các giáo sĩ và tu sĩ” ( Tông huấn giáo hội tại Á Châu, 54a).

c- Thái độ cởi mở chân thành và sống tinh thần hiệp thông:

Người giáo dân cần phải thoát ly ra khỏi “chủ nghĩa độc tôn tôn giáo”, không nên bảo thủ khép kín nhưng biết cởi mở để đón nhận và tiếp thu những nhân tố tích cực. Chúng ta là một thành phần của xã hội vì vậy không nên tự tách mình ra khỏi xã hội nhưng cần biết hòa mình và mang những nhân tố Tin Mừng vào trong dòng chảy của cuộc sống xã hội hôm nay. Nhận ra, đọc và lấy những ưu tư của thời đại để suy tư và định hướng cho việc truyền giáo. Chân nhận những giá trị tích cực nơi các tôn giáo khác, cùng nhau đối thoại, nỗ lực cộng tác để xây dựng con người vì ích chung của tất cả mọi người “cần đồng hành và sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”. Một điều cũng cần lưu ý là nhu cầu tâm linh của thời đại hôm nay, nhất là nơi giới trẻ, họ có những khao khát, khắc khoải, ưu tư nên giáo xứ cũng cần phải có các chương trình sinh hoạt, mục vụ dành cho giới trẻ nhưng phải uyển chuyển thích nghi và diễn tả Tin Mừng và sứ điệp Kitô giáo cũng như trình bày cho phù hợp với thế hệ trẻ (với những ưu tư, khát vọng, thao thức, não trạng, tâm lý, khuynh hướng, quan niệm, cách suy nghĩ). Ngoài ra, mỗi gia đình trong giáo xứ có thể kết nghĩa với một gia đình không công giáo để cùng quan tâm, sẻ chia vui buồn, đồng hành cùng nhau trong những thăng trầm, khắc khoải của cuộc sống. Thiết nghĩ đây cũng chính là phương cách dễ làm và có hiệu quả để mang Đức Kitô đến cho những người chưa biết Chúa. Một đời sống chứng tá trong sự hiệp nhất, liên đới, yêu thương và trách nhiệm trong giáo xứ chính là lời chứng hùng hồn trong việc rao giảng Tin Mừng. Đức Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói trong Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng: “Con người ngày hôm nay cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy”. Ngoài ra, trong thư chung của HĐGMVN năm 2008 số 10 có viết: “Trước khi rao giảng bằng lời nói hãy rao giảng bằng đời sống. Không có lời rao giảng nào có sức thuyết phục bằng sự hiệp nhất, yêu thương trong gia đình, xóm làng, trong giáo xứ”. Chính mẫu gương của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã là minh chứng rõ nhất cho điều này: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, họ đồng tâm nhất trí, họ được toàn dân thương mến; và Chúa cho cộng đoàn ngày một có thêm những người được cứu độ” (Cv2, 44-46).

d- Củng cố và phát triển chương trình huấn giáo:

Nhìn chung tại các giáo xứ trong giáo phận, giáo dân hiểu biết rất ít về Thánh Kinh và thần học, nên tại các giáo xứ cần giúp cho người giáo dân nắm vững về sứ điệp Tin Mừng cũng như những kiến thức cơ bản về thần học hầu có thể giúp họ nên nhân chứng trong chính môi trường sống của mình. Thực tế cho thấy, hầu hết giáo dân Việt Nam chỉ sống đạo chứ chưa biết nói về đạo cho người khác. Điều này là một trở ngại lớn cho việc loan báo Tin Mừng. Nên công tác huấn luyện giáo lý, Thánh Kinh, thần học cho giáo dân cần được quan tâm đúng và đủ nhằm trang bị cho người giáo dân những kiến thức giáo lý cơ bản và cốt yếu của giáo lý Kitô giáo. Thật vậy, có vững về giáo lý thì mới nói và thuyết phục cho người khác về niềm tin của mình. Tông huấn Dạy Giáo Lý số 18 có viết: “…giữa việc dạy giáo lý và Phúc âm hóa không có sự tách biệt hay đối lập nào, cũng không có sự đồng nhất đơn thuần, nhưng có những mối tương quan mật thiết nhập hiệp và bổ túc hỗ tương”. Ngoài ra, các giáo xứ có đông di dân nhất là tại các thành phố lớn cần có sự quy tụ và học hỏi cũng như trao đổi các kinh nghiệm, kiến thức về truyền giáo cho các di dân. Không chỉ quan tâm về đời sống đức tin trong nhà thờ thôi nhưng cần phải chú trọng đến việc truyền giáo vì đây là một lực lượng đông đảo làm chứng cho Chúa Ki-tô trong các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp.

e-  Áp dụng các phương tiện truyền thông hiện đại vào công cuộc truyền giáo:

Ngày nay không ai phủ nhận những lợi ích lớn lao mà cuộc cách mạng thông tin cùng những tiến bộ trong ngành truyền thông, kỹ thuật thông tin, Internet mang lại. Chính Đức Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI đề cập đến trong Thông điệp Truyền Thông Và Phát Triển cách đây hơn ba thập niên: “Các phương tiện truyền thông hiện đại đem lại những cách thế mới để đưa con người đối diện với thông điệp của Tin Mừng“. Đức Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI nói rằng Giáo Hội “có lỗi trước mặt Chúa” nếu không sử dụng các phương tiện truyền thông cho việc truyền bá Tin Mừng. Nhờ các phương tiện truyền thông mà Tin Mừng của Chúa có thể đến với mọi nơi, vượt qua mọi chướng ngại của thời gian, không gian và ngôn ngữ; trình bày nội dung đức tin trong những cách thế đa dạng nhất. Từ xa xưa con người luôn những khao khát vươn đến một chân trời của CHÂN- THIỆN- MỸ, những giá trị cao thượng, nhân văn chứ không chỉ dừng lại ở những gì là vật chất bên ngoài. Họ luôn muốn được lắng nghe sứ điệp TÌNH YÊU của Đức Kitô nên chẳng có lý do gì để mỗi giáo dân, giáo xứ ngần ngại hay lo sợ trước “việc mở rộng cửa truyền thông xã hội ra cho Đức Kitô để Tin Mừng của Người có thể được nghe từ trên mái nhà của thế giới”. Thật vậy, nhờ Internet mà người giáo dân có thể trình bày nội dung giáo lý Tin Mừng với người khác. Giáo Hội đã có nhiều hướng dẫn trong việc sử dụng các kỹ thuật truyền thông cho công cuộc loan báo Tin Mừng như  Sắc lệnh Inter Mirifica của Công đồng Vaticanô II; Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II: Giáo hội và Internet ngày 22.02.2002, Internet, diễn đàn mới để loan báo Tin Mừng 24.01.2001…

g- Thành lập ban truyền giáo tại các giáo xứ:

Thực tế cho thấy hầu hết các chương trình, sự kiện hay phong trào cổ vũ cho việc truyền giáo chỉ mang tính phong trào, tạm thời chứ chưa được quan tâm đầy đủ, đúng mức và lâu dài ngay cả nơi cấp độ giáo phận. Biết bao chương trình được thực hiện với đầy đủ lễ hội, cờ quạt, nghi thức sai đi (nhưng liệu có mấy người ra đi thực sự?); rồi sau đó, mọi việc vẫn “như có trước vô cùng!” “Mỗi giáo xứ cần thiết lập một ban truyền giáo dưới sự hướng dẫn của cha xứ và sự cộng tác của mọi giới cũng như mọi đoàn thể. Ban truyền giáo sẽ cổ vũ sự cầu nguyện, tạo điều kiện học tập và động viên mọi thành phần dân Chúa tham gia việc loan báo Tin Mừng” (Thư chung HĐGMVN năm 2004, số 12). Ban truyền giáo cần phải có một sự đào tạo và huấn luyện cơ bản - chứ chưa dám nói là bài bản - về kiến thức giáo lý, Thánh Kinh, đời sống tâm linh, phương thế truyền giáo tùy thuộc vào hoàn cảnh tại địa phương. Cần nhân rộng ra không chỉ cho những thành viên ban truyền giáo nhưng còn cho cả giáo dân trong giáo xứ.

h- Một đời sống cầu nguyện, cảm nghiệm sâu sắc với một đức tin sống động:

 Đây là nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất trong sứ vụ truyền giáo vì chính nhờ cầu nguyện mà giáo dân có thể cảm nghiệm và kết hợp mật thiết với Chúa. Điều này, tự bản chất, đã là một lời loan báo hữu hiệu, một cách làm chứng rồi! Thật không sai khi nói rằng: Nếu không cầu nguyện - cảm nghiệm về Chúa được - thì những lời rao giảng của Kitô hữu chỉ là những  tiếng kêu la inh ỏi, thùng rỗng kêu to, vô hồn không có sức sống và sự thuyết phục. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,1-5). Thế nên, trong tất cả mọi sự, nhất là trong công tác truyền giáo, muốn thành công đều phải nhờ ơn Chúa. Một giáo xứ truyền giáo trước hết và trên hết phải  là một giáo xứ biết cầu nguyện cho việc truyền giáo. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi đoàn thể và toàn giáo xứ phải biết cầu nguyện cho việc truyền giáo qua các Thánh lễ, giờ kinh chung trong giáo xứ, giờ kinh gia đình cũng như các giờ cầu nguyện khác. Nhưng phải làm sao để có một đời sống cầu nguyện kết hợp với Chúa và một đức tin sống động như vậy? Thiết nghĩ, nơi các giáo xứ cần chú trọng và củng cố việc cử hành phụng vụ. Tông huấn Giáo hội tại Á châu số 22 đã viết: “Phụng vụ là phương thế có vai trò quyết định trong việc Phúc Âm hóa, nhất là tại Á Châu.” (EA 22,2). Nên đây chính là lời nhắc nhở cho các cử hành phụng vụ trong giáo xứ. Cần xét lại: Các buổi cử hành phụng vụ có giúp giáo dân gặp gỡ Chúa, sinh ích cho họ? Phụng vụ đã trở thành của ăn nuôi dưỡng và động lực khơi dậy tinh thần truyền giáo cho giáo dân? Thật vậy, có thể nói được rằng: một nền phụng vụ không có tinh thần truyền giáo là nền phụng vụ chết vì tất cả phụng vụ nhằm giúp tín hữu gặp gỡ Chúa và để Chúa lưu lại trong bản thân, rồi sau đó mang Chúa đến với anh chị em mình. Đúng như câu cuối lễ: “Chúc anh chị em ra đi bình an”.

 

C- KẾT LUẬN

Truyền giáo trước hết phải lên đường ra khỏi cái tôi vỏ bọc của sự ích kỷ mà đến với muôn dân nhất là những anh chị em bị loại trừ, bị gạt ra bên ngoài xã hội. Bài viết trình bày những suy tư, nhận định và những đề xuất cá nhân với ước mong giúp cho độc giả có cái nhìn khái quát và hiểu biết về những khó khăn còn tồn tại trong việc truyền giáo tại giáo phận Long Xuyên. Với nguyện vọng khởi đi từ đó cùng định hướng mục vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam 2015, mỗi giáo xứ và giáo dân sẽ tìm phương pháp truyền giáo tốt nhất và phù hợp nhất theo đặc điểm riêng của cá nhân và địa phương. Một trong những điều quan trọng là mỗi giáo xứ cùng với linh mục cần phải khơi dậy lòng nhiệt thành truyền giáo, ngọn lửa truyền giáo cần được khơi dậy và thắp lên mạnh mẽ. Với những cố gắng của mọi thành phần dân Chúa ước mong sao năm Phúc Âm hóa giáo xứ và dòng tu là năm “đòn bẩy” cho công cuộc rao giảng Tin Mừng trên đất Việt với một mùa gặt bội thu.

 

Felicitas

GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO

 

Để Truyền giáo, người giáo dân có thể làm những gì? Nếu họ ở trong hoàn cảnh không thể ra đi như thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu ở trong dòng Kín, thì họ làm lại cách thức truyền giáo của thánh nữ là cầu nguyện và dâng các việc làm trong ngày cũng như các hy sinh bé nhỏ tầm thường quen gặp như quét nhà giặt giũ, làm vườn nấu bếp và những hy sinh rất tầm thường nhưng lại thường xảy ra như tươi cười trước những bất bình chị em gây ra, khát nước, không đành uống ngay, khi bệnh phải uống thuốc đắng không nuốt ngay để được chịu đắng lâu hơn... Tất cả đều quy về một ước nguyện: “Lạy Chúa vì công việc này, vì sự hy sinh này, xin cho con một linh hồn”. Chỉ có vậy thôi mà khi phong thánh Ngài, Giáo Hội đã tặng khen: Số các linh hồn nhờ Ngài mà được ơn cứu rỗi cân bằng với thánh Phanxicô Xaviê. Nên cùng với thánh Phanxicô Giáo Hội tôn phong Ngài là Bổn mạng các Xứ Truyền giáo.

Nếu họ ở trong hoàn cảnh có thể ra đi thì nên theo cách thức của Tổ chức Công giáo Tiến hành là kết nghĩa, cá nhân kết nghĩa với cá nhân, gia đình kết nghĩa với gia đình. Rồi thường đi lại thăm nom, tìm cách phục vụ giúp đỡ. Nhất là đối với ông bà già và người bệnh tật. Mời họ đến tham gia các lễ nghi tổ chức tại gia và các thánh lễ tổ chức tại nhà thờ. Khi đến nhà họ thì xin cây nhang đốt lên rồi kính vái di ảnh tại bàn thờ Tổ Tiên, tỏ tình thân yêu và cho quà trẻ em... Trong lòng nhớ cầu nguyện thiết tha cho họ.

Hãy mau lên đường.

Lm Gioakim Mai Xuân Triết

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

CHUYẾN XE BUÝT ĐẦU NGÀY

 

Trời chưa sáng, còn sớm lắm, chị Hà, con gái Lão, hỏi:

- Ba đi đâu sớm vậy?

Lão có vẻ hãnh diện lắm, hình như vác mặt lên:

- Ba đi dự buổi họp mặt các cựu tu sinh Long Xuyên ở trụ sở Sài Gòn, do Đức Giám mục Phụ tá Giuse Trần Văn Toản tổ chức.

- Cựu tu sinh là tu xuất chứ gì? Tu xuất thì có hay ho gì, đáng để ba tự hào đâu?

Lão cười, như mếu:

- Bố chị. Chúa mà chọn tôi thì các anh các chị và chín đứa cháu nội ngoại, Ngài đã «để không đời đời rồi». Nhưng ba phải đi như thế nào cho tiện, nhỉ?

Chị Hà móc trong giỏ ra chiếc điện thoại di động đến là to, gọi là iPhone, iPad gì đó. Chị quẹt quẹt, mổ mổ một hồi, cười:

- Dễ thôi, ba! Con chở ba ra trạm xe buýt nhà Thiếu nhi Thủ Đức, ba đón xe số 8, đến đường Phan Đăng Lưu, xuống trạm Nguyễn Văn Đậu. Ba nhớ đấy, xe số 8, đường Phan Đăng Lưu, trạm Nguyễn Văn Đậu.

*  *  *

Người ta lôi Lão lên xe. Trong xe đã chật cứng. Một cô bé mặc đồng phục học sinh, đeo phù hiệu lớp 8 ở hàng ghế gần chỗ Lão đứng, đứng lên:

- Con nhường ghế, mời ông vào ngồi đi.

Lão cười, cám ơn cô bé. Lão vừa ngồi xuống thì cô tiếp viên len đến chỗ Lão:

-Tiền mua vé, bố già.

Lão ngẩng đầu lên. Cô tiếp viên mặc đồng phục hợp tác xã vận tải mới đẹp làm sao! Nước da của cô trắng nõn, khuôn mặt bầu bĩnh, phúc hậu, đẹp không chê vào đâu được. Lão trộm nghĩ: «Cha mẹ nào đẻ được đứa con xinh xắn thế kia cũng mát lòng mát ruột». Miệng Lão lúng búng:

- Tôi xin lỗi, không có tiền lẻ, cô làm ơn đổi giùm.

Lão đưa ra tờ giấy bạc mệnh giá 200.000 đồng. Cô tiếp viên móc giỏ, móc túi trên túi dưới, không đủ tiền lẻ thối lại. Cô chỉ tấm bảng «Nội Quy Xe Buýt» chì chiết:

- Ông có biết chữ không? Nội quy đi xe buýt ghi ràng ràng ra đó: «Hành khách chuẩn bị tiến lẻ khi đi xe». Rõ là lão già nhà quê, ỷ có hai trăm ngàn mà phách lối.

Nghe những lời ăn tiếng nói chua loét từ đôi môi tuyệt đẹp kia, Lão giận lắm:

- Tôi già, đúng. Tôi nhà quê, đúng. Nhưng tôi đã xin lỗi cô rồi, tôi có phách lối gì đâu!

Cô tiếp viên chắc là chủ xe, ra lệnh cho tài xế:

-Cho lão già mắc dịch xuống trạm trước mặt, chú Năm.

Một cô bé khác, cũng đeo phù hiệu lớp 8, cao lớn tồng ngồng, để tóc bob, trông ngổ ngáo đến gai mắt, nói với cô tiếp viên:

- Người ta già cả, đáng tuổi ông bà mình, chị ăn nói nhã nhặn một chút có hơn không?

Nó quay sang Lão:

- Con xin phép mua vé cho ông được không?

Lão cám ơn cô bé, nghĩ: Cứ theo lời ông bà mình dạy: Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon, thì lầm to. So sánh cô tiếp viên xinh đẹp với mấy em học sinh lấc cấc vừa chớm tuổi teen này, mới thấy ai xanh vỏ, ai đỏ lòng, khác nhau như nước với lửa.

Tới trạm xe buýt Nhà thờ Thủ Đức, người ta xuống xe có đến hơn phân nửa. Một người chống nạng, mù cả hai mắt lên xe. Anh dựa lưng vào một thành ghế, khoác cây đàn guitare lên cổ. Không than van, không xin xỏ, anh tự đệm đàn cho mình hát những bản nhạc boléro, nào là Hàn Mặc Tử, nào là Chuyện tình Lan và Điệp, nào là Nhật ký đời tôi… Ngón đàn của anh điêu luyện, không, lão luyện mới đúng, không chê vào đâu được. Anh ca hay đến mức được trực tiếp nghe anh ca bằng cả tấm lòng và sức lực, người ta có cảm giác không còn lòng dạ nào nghe những bản nhạc đó trên băng đĩa nữa. Họ nườm nượp tới chỗ anh, bỏ vào chiếc ca nhựa treo trên cần đàn, những tờ giầy bạc mười, hai mươi, có cả năm mươi ngàn đồng. Đó không phải là những đồng tiền bố thí, mà là tiền công anh xứng đáng được hưởng vì đem đến niềm vui. Anh cúi đầu cám ơn, bước xuống xe. Sau lưng anh, một tràng pháo tay giòn giã. Lão cảm thấy vui lây.

Tới trạm cầu Gò Dưa, một người đàn ông rách rưới, bẩn thỉu lên xe, bồng đứa bé con gầy như một con cá khô, băng bó đầy người, bôi thuốc đỏ chòe choẹt. Gã khóc thống thiết:

- Hôm qua con ở bệnh viện nhi đồng về, bị thằng xe ôm lừa, cướp giữa đường. Thằng khốn nạn cướp hết tiền bạc của con. Bà con cô bác thương tình, giúp con đủ tiền xe về quê ngoài Qui Nhơn, con đội ơn suốt đời.

Không ai không chạnh lòng, người cho một, người cho hai chục ngàn. Một cô gái thắc mắc:

- Hôm qua trên chuyến xe buýt số 29, chạy tuyến chợ đầu mối Thủ Đức - Cát Lái, chú cũng nói là bị cướp, người ta đã quyên góp cho chú cả triệu bạc rồi mà. Sao chú chưa về ngoài ấy, còn ở đây?

Ngay tức khắc, mọi người hiểu ra mình bị lừa, và gã đàn ông kia là một tay bịp bợm, đứa bé trên tay gã không phải là con gã, chỉ là một thứ dụng cụ, một thứ mồi câu tiền. Đôi mắt gã long lên sòng sọc. Gã chửi cô gái rất tục tĩu, rồi thêm:

- Mày biết thì mày câm mồm lại. Có muốn mất mạng không?

Cả xe im phăng phắc, không ai bênh đỡ cô gái được một câu. Bị bể mánh, gã biết không làm ăn gì được nữa, đành xuống xe.

Khách xuống, khách lên, tới trạm Nhà thờ Bình Triệu, xe lại chật cứng. Một cô gái mặt hoa da phấn, ăn mặc lịch sự, nhanh như cắt giật phứt giỏ xách của một bà già hẳn đã ngoài sáu mươi. Cô gạt người ta ra, vôi vàng nhảy xuống, rồi leo lên ngồi chễm chệ sau lưng một gã đàn ông to con, mặt bặm trợn, trên một chiếc mô tô phân khối lớn đã nổ máy sẵn, phóng vù đi. Trong xe, bà già nghệt mặt ra, rồi khi hoàn hồn, bà la thất thanh:

- Cướp! Cướp! Bớ người ta! Nó giật giỏ tiền của tôi.

Bà ý thức hoàn cảnh của mình:

- Trời ơi là trời! Đất ơi là đất! Cả nhà có hai sào rẫy, cầm cố cho người ta lấy một trăm triệu, làm tiền viện phí mổ thay van tim cho con.

Bà khóc thét:

- Con ơi, con! Mẹ đã giết con rồi.

Bà ngã xuống, bất tỉnh. Trong khi đó, cô gái trộm cắp và người thanh niên đồng phạm đã xa chạy, cao bay.

Tới Bến xe Miền Đông, cậu thanh niên ngồi phía bên trong, cùng hàng ghế với Lão đứng lên:

- Ông làm ơn, con xuống trạm kế tiếp.

Lão co chân nhường lối đi ra cho cậu. Cậu nhìn lại chỗ ngồi xem có bỏ quên gì không. Cậu chỉ tay:

- Ví của ông rớt kìa. Ông cất đi, phải cẩn thận đấy.

Lão cám ơn cậu, tự hỏi: Lạ thật ! Kẻ thì cướp giật của người khác, kẻ thì không lấy, còn chỉ cho mình cái ví mình đánh rơi. Sao thế nhỉ?

Qua đường Đinh Bộ Lĩnh, Bạch Đằng, tới Lăng Ông Bà Chiểu, Lão nhắc tài xế:

- Làm ơn cho xuống trạm Nguyễn Văn Đậu, bác tài nhé!

Cô tiếp viên sa sả:

- «Biết rồi, khổ lắm, nói mãi». Tụi tôi có điếc như lão đâu, lão già!

Nhưng họ không cho Lão xuống trạm Lão yêu cầu. Tới trạm Thích Quảng Đức họ mới dừng xe cho Lão xuống. Lão cau có chửi:

- Tiên sư bố nhà chúng mày.

Một người trung niên ăn mặc không sang trọng, nhưng sạch sẽ, gọn gàng, bước đến chỗ Lão:

- Chắc ông mới gặp chuyện không vừa ý phải không?

Không để cho Lão trả lời, ông niềm nở nói tiếp:

- Sao ông không dâng lên Đức Chúa Trời cơn tức giận của ông rồi bỏ qua đi. Ông vui lòng cho tôi thưa chuyện một vài phút thôi. Ông có nghe biết Chúa Jesus Christ không? Không như các vị giáo chủ của các tôn giáo khác, Ngài là Đấng duy nhất đã sống lại và đang sống, Đấng trung gian duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người, Đấng Cứu Chúa duy nhất của chúng ta, ngoài Ngài không ai được cứu.

Lão trìu mến nhìn ông ta:

- Xin cám ơn và cho phép tôi bắt tay ông, người anh em của tôi.

-Vâng, rất hân hạnh. Tôi là mục sư của hội thánh Tin Lành, chi hội PN. Ông là người Công Giáo phải không?

- Vâng, tôi là người Công Giáo.

Có lẽ đó là lần đầu tiên trong đời Lão xưng mình là người Công Giáo, một cách công khai, chân thành và khiêm tốn trong niềm vui.

Ông mục sư nói:

- Tôi có thể giúp ông được gì không? Ông tới 72/24 Phan Đăng Lưu à? Gần thôi, không phiền hà gì đâu.

Rồi như một người chạy xe ôm chính hiệu, ông lấy nón bảo hiểm đưa cho Lão, chở Lão tới Trung Tâm Mục Vụ 2. Lão cám ơn ông. Ông chào Lão: «Nguyện Chúa ở cùng ông», rồi đi.

*  *  *

Lúc ấy, Đức cha phụ tá cùng quý cha đồng tế đang dâng Thánh lễ. Lão vào nhà nguyện, hòa mình với mấy chục anh em cựu tu sinh gia đình Long Xuyên, gia đình mà Lão thuộc về cách nào đó. Bầu khí trong nhà nguyện hết sức trang nghiêm, sốt sắng, nhưng Lão không sao cầm lòng cầm trí được. Lão bị những mẩu chuyện rời trên chuyến xe buýt ám ảnh. Lão nhớ tới cô tiếp viên xinh đẹp nhưng đanh đá chua ngoa, nhớ tới gã đàn ông lường gạt, nhớ tới cô gái cướp giật và người thanh niên đồng phạm, nhớ tới những con người, trong đó có Lão, im lặng, dửng dưng trước sự dữ. Quả thật, xã hội đã băng hoại và vô cảm quá mất rồi. Nhưng rồi, Lão nhớ tới hai em học sinh lớp 8 nhường ghế và mua vé xe cho Lão, và cậu thanh niên chỉ cho Lão chiếc ví Lão đánh rơi. Rồi Lão nhớ tới người nghệ sĩ vừa què chân vừa mù hai mắt, tự lực sống bằng nghề hát rong. Lão cũng nhớ tới ông mục sư tốt bụng.

Lão nghĩ tới câu Phúc âm: "Gió muốn thổi đâu thì thổi’’ (Ga 3,8). Gió thổi trong Thánh lễ này, trong Giáo Hội. Nhưng Gió còn thổi ngoài kia, ngoài Giáo Hội, để mang lại lợi ích cho Giáo Hội. Và vì thế, cho dù lịch sử loài người có đen tối đến đâu, con người có lừa lọc nhau, có đối xử với nhau tồi tệ đến thế nào chăng nữa, thì Chúa Thánh Thần vẫn luôn luôn hoạt động, để niềm hy vọng không bao giờ mất đi trên thế gian này.

 

lãongu

 

VÌ TÔI LÀ LINH MỤC

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Nếu gã nhớ không lầm thì hồi trước năm 1975, Lệ Hằng, một nhà văn nữ, đã viết cuốn tiểu thuyết mang tựa đề là “Tóc mây”, nói về cuộc tình giữa Tố Kim, một cô sinh viên Đà lạt, với Hà Vĩnh Duy, một linh mục nhạc sĩ. Tác phẩm này đã tạo nên một cơn lốc, mà lúc bấy giờ thiên hạ gọi là “hiện tượng tóc mây”. Hình như trước hay sau đó ít lâu, nhạc phẩm “Vì tôi là linh mục” cũng được trình làng. Bài hát này đã gây được một âm vang khá lớn, thậm chí những lúc buồn tình, các cô gái ngây thơ cũng chu mỏ và ngay cả các “ma xơ” cũng mở miệng nghêu ngao: Vì tôi là linh mục, không mặc chiếc áo dòng, nên chi đời đau khổ,  nên trót đời lang thang. Hẳn đây là tâm sự buồn của một linh mục lỡ dại trót yêu một tín đồ duy nhất, nên đã cởi bỏ chiếc áo chùng thâm mà đi bụi đời?

Xét về nguyên do của việc tu trì, thiên hạ xấu bụng thường bảo: Trốn việc quan đi ở nhà chùa. Chán đời, hay thất tình thì mới đi tu, bởi vì tu là cõi phúc, tình là dây thun.

Gã chơi thân với một anh chàng. Anh chàng này thương một cô nàng, nhưng đây chỉ là một tình yêu đơn phương, có nghĩa rằng thì là anh chàng thì thương da thương diếc, còn cô nàng thì lại lạnh lùng, ngoảnh mặt làm ngơ, khiến cho anh chàng cứ héo hắt và quay quắt. Thế rồi, cô nàng bỗng đi lấy chồng, kết tóc xe duyên với một thằng bạn cùng học “mí nhau” từ thuở còn mặc quần thủng đũng. Và thế là trái tim anh chàng cũng tan nát theo kiểu: Ngày nhà em pháo nổ, anh cuộn mình trong chăn, như con sâu làm tổ, trong trái vải cô đơn. Anh chàng thẫn thờ thờ thẫn như kẻ mất hồn, lang thang như người cõi trên và miệng thì lảm nhảm theo giai điệu của bài “Love story”: Ôi biết nói gì cuộc tình quá lớn, cuộc tình quá lớn ôi biết nói gì cuộc tình lớn quá, cuộc tình lớn quá ôi biết nói gì cuộc tình quá lớn. Sau cú sốc đau điếng vì cuộc tình quá lớn bị vỡ tung, anh chàng lặng lẽ khăn gói quả mướp, lê từng bước chân âm thầm vào một nhà dòng và tu ở đó. Ơn Chúa tuôn đổ. Một thời gian sau, anh chàng được thụ phong linh mục. Trong ngày mở tay, cô nàng dắt cháu bé tới và nói: Con ạ cha đi con. Cha mới chớp chớp đôi mắt “mơ huyền” và lãng đãng nhìn về chốn xa xôi. Bây giờ mỗi khi nhắc lại chuyện xưa, vị linh mục này thường hay mỉm cười nói với bè bạn: Nếu không bị cô nàng đá lên đá xuống, toạc đầu xẻ mũi, thì có lẽ mình đã làm bố cụ, chứ đâu có thèm làm cụ như anh em thấy đó. Chúa chọn con như sét chọn một cây tầm thường. Thánh ý Ngài nhiệm mầu hết xảy.

Bên đạo chúng ta, lý do “thất tình đi tu” chẳng phải là không có, nhưng xem ra rất họa hiếm, vì chú nhóc thường vào tiểu chủng viện hay nhà dòng từ hồi nhỏ, tóc còn để chỏm. Thế nhưng, ở cái thuở “thò lò mũi xanh” ấy, chú nhóc làm sao hiểu được ơn gọi là gì? Đơn giản, chú nhóc thích đi tu chỉ vì thấy mấy “cụ” được đi giày tây, ăn bánh tây và ở nhà tây. Ra ngoài đường được cả và thiên hạ khoanh tay cúi đầu chào: Con xin phép lạy cha ạ. Đôi khi cha mẹ muốn cho con cái đi tu chỉ để sau này chúng được nhàn hạ và hạnh phúc, như lời phát biểu hăng tiết vịt của bà hiền mẫu nọ với cha phó kia trong một cuộc họp hàng tháng: Đi tu như các cha các dì thế mà sướng, chứ đèo bồng ở ngoài đời như chúng con khổ lắm cha ơi! Có chú nhóc đi tu chỉ vì ông già, bà già thầm mong được mọi người gọi mình là “ông cố”, “bà cố”. Bởi cái giấc mộng vàng ấy, khi thấy chú nhóc của mình trở chứng, muốn giã từ đời tu, một ông “chuẩn cố” đã thẳng thừng nói với “chú nhà tràng” như sau: Thà rằng mày làm con chó nhà Đức Chúa Trời, còn hơn là làm vương làm tướng ngoài thế gian, con ạ.

Những lý do “lôm côm” ban đầu này cùng với năm tháng dần dần được đẽo gọt, được mài dũa, để rồi kết tinh và cô đọng lại thành cái lý tưởng phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Trong thánh lễ mở tay của cha mới, các vị giảng thuyết thường hùng hổ đến xùi cả bọt mép đề cao vẻ đẹp tuyệt vời của thiên chức linh mục, ít ai dám đề cập tới những thập giá của tước vị này, khiến cho cha mới chỉ nhìn thấy bông hồng mà quên đi những gai nhọn của nó. Thế nhưng, tiệc rượu thì chóng tàn, ngày vui thì qua mau, vinh quang Taborê chỉ kéo dài trong thoáng chốc, để rồi tới lúc phải xuống núi và đối đầu với thập giá đời thường. Và đời thường thì nhiêu khê, lắm nỗi truân chuyên và nhiều phen lao đao, xất bất xang bang.

Sau đây gã chỉ xin trình bày hai trường hợp, hai thái cực nho nhỏ, trong đó giáo dân đã xô linh mục vào chân tường, đã đẩy linh mục tới chỗ bất ổn hay đã làm hư linh mục.

Trường hợp thứ nhất đó là thái độ quá trọng kính đến độ khúm núm, coi linh mục như là một người thông biết mọi sự và chẳng hề sai lỗi bao giờ. Mới ngày nào bè bạn còn “mày tao chi tớ” mí nhau, nhưng một khi đã thụ phong linh mục, từ hòn đất được cất nên ông bụt, thì lập tức được gọi là cha, là cụ, là cố, khiến cho thiên hạ, kể cả những người thân yêu nhất, cũng phải  “kính nhi viễn chi”. Trọng kính linh mục là điều rất tốt, nhưng quá trọng kính đến độ khúm núm thì lại là điều nguy hiểm, vì nó dễ làm cho linh mục quên đi mình xuất thân từ một cục đất, mình chỉ là một dụng cụ tầm thường trong bàn tay Thiên Chúa, để rồi luôn mang ảo tưởng mình là ông bụt, mình là cái rốn của vũ trụ và từ đó trở thành quan liêu, độc tài, độc đoán.

Trường hợp thứ hai là thái độ vô ơn, nghiêm khắc và thiếu cảm thông của giáo dân đôi khi đã làm cho linh mục buồn đau đến rơi cả nước mắt. Một trong những nguyên tắc cư xử thông thường, đó là hãy nghiêm khắc với bản thân mà khoan dung với người khác. Thế nhưng, thiên hạ hay hành động ngược lại với nguyên tắc thông thường ấy, bằng cách tỏ ra nghiêm khắc với người khác mà khoan dung với chính bản thân mình. Quan điểm này cũng được giáo dân áp dụng vào mối liên hệ với linh mục.

Thiên hạ thường nói: nhân vô thập toàn, đã là người thì ai cũng có những sai lỗi của mình, kể cả linh mục vì linh mục cũng mang thân phận mỏng giòn. Rồi bá nhân bá tánh, năm người mười ý, bàn tay còn có ngón dài ngón ngắn. Linh mục được sánh ví như người làm dâu trăm họ, nên khó có thể làm vừa lòng mọi người và nếu cố gắng làm vừa lòng mọi người, thì rốt cuộc sẽ chẳng làm vừa lòng một ai. Giáo dân hay quên mất những công ơn linh mục đã làm, mà chỉ nhìn thấy những khuyết điểm của linh mục, để rồi lên tiếng phê bình chỉ trích một cách gắt gao, dắt díu nhau lên Tòa giám mục, nộp đơn cho Đức cha hay cho nhà nước mà kiện tụng linh tinh.

Một cha sở trẻ vừa mới khánh thành ngôi nhà thờ cho giáo xứ thì lâm bệnh nặng. Bệnh nặng chữa không khỏi mà tiền bạc thì lại hao tốn. Cha sở trẻ nằm dưỡng bệnh ở nhà xứ, rồi cứ vài tuần lại phải đi tái khám và mua thuốc uống tận Saigon. Cứ thế, cứ thế. Lúc đầu chưa có chuyện gì, nhưng sau một thời gian, những tiếng eo xèo bắt đầu nảy sinh, mỗi ngày một lớn, cộng thêm với chuyện này chuyện nọ, cuối cùng cha sở trẻ đã phải khóc mà xin đi hưu non, như “con chim ẩn mình chờ chết”.

Có lẽ thấm thía nhất là nỗi cô đơn của linh mục. Nỗi cô đơn sẽ đậm đặc hơn khi linh mục đau yếu. Một cha phó đã bật mí cho gã biết như sau: Ngày nọ mình bị đau nhờ chú nhỏ giúp lễ đi tìm người cạo gió. Nhờ bà này hay cô kia thì không ổn, bởi vì thiên hạ sẽ bảo rằng đó là chước mốc ma quỉ. Các bà các cô, hiền thì có hiền, nhưng đôi khi cũng dữ như sư tử Hà đông. Khi đoàn “nữ binh mùa thu” này mà đã loan tin bằng chiến thuật rỉ tai thì còn nhanh hơn cả những máy móc điện tử hiện đại nhất. Được dặn dò kỹ càng, chú nhỏ giúp lễ kêu về một ông hàng xóm đang trong tình trạng say không ra say, xỉn không ra xỉn, mới xơi đâu được ba xị rượu đế. Mà như dân ghiền thường bảo: Một xị thì mở mang trí hóa, hai xị thì giải bớt cơn sầu, ba xị thì mũi chảy đầy râu, bốn xị thì ngồi đâu khóc đó. Vì được thoa dầu, nên khi cạo gió thân thể mình đang nóng bừng bừng, thì bỗng dưng cảm thấy lạnh toát ở xương sống, hóa ra nước mũi của ông hàng xóm cứ vô tư rơi thánh thót trên tấm lưng của mình. Lần khác khi giác hơi, ông ấy đã đổ ụp cả một ống dầu hôi lên người. Nhiều khi đau ốm, đành âm thầm nằm ngó lên trần mà xem những con thằn lằn đuổi nhau.

Sau cùng, nỗi cô đơn sẽ đặc quánh khi linh mục về già. Nhà hưu thì nơi có nơi không. Mà có thì cũng khá thiếu thốn. Còn về ở với gia đình, không phải là không bất tiện. Nếu mình có tí tiền còm, thì con cháu xem ra hăm hở nhiệt thành. Nhưng khi tiền đã hết, thì tình cũng chắp cánh bay cao và sự chăm sóc bèn trở thành một gánh nặng. Có khi chưa chết, chúng đã vội chia chác, hay chôm chỉa được cái nào hay cái ấy. Chuyện còn dài, nhưng gã xin “xì tốp” nơi đây bằng mẩu chuyện sau đây:

Đức giáo hoàng Piô X, ngay sau khi vừa được tấn phong làm Giám mục Montova, đã về thăm gia đình và khoe với mẹ chiếc nhẫn giám mục của mình: Này bu, bu xem chiếc nhẫn Giám mục của con có đẹp hay không? Người mẹ bèn giơ ra chiếc nhẫn cưới đang đeo trên tay và bảo: Nếu không có cái này thì làm sao có cái kia.

Từ khi vào tiểu chủng viện cho đến lúc tiến tới chức linh mục, tỷ lệ 10%. Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít. Còn bao nhiêu thì rơi rụng dọc đường. Điều đó chứng tỏ tu không phải là chuyện dễ và đời tu cũng không phải là vắng bóng thập giá. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận và  đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Đã cố gắng tu mà chẳng được làm cha cố, thì làm ông cố cũng tốt thôi, vì không có ông cố, làm sao có cha cố!

 

 

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

BÊN MẸ MÙA XUÂN

Con về hong lại nắng Xuân

Hương xưa trầm đọng, bâng khuâng nỗi niềm

Mơn man gió thoảng ngoài hiên

Long lanh sương đẫm bên thềm nắng hoa

Bao năm biền biệt xứ xa

Mơ ngày Xuân ấm thiết tha xum vầy

Chạm tay dáng mẹ hao gầy

Tháng năm nghiêng lệch, đong đầy gian nan

Con về hương nắng tỏa lan

Bên vòng tay mẹ ngập tràn niềm vui

Yêu thương ánh mắt dịu vời

Run run môi mỉm mẹ cười rưng rưng

Nhìn đàn con cháu quây quần

Ấm êm hạnh phúc ngày Xuân vui vầy

Xuân tươi chúc mẹ hưởng đầy

An khang, trường thọ bên bầy cháu con.

Jos. Nhật Quang

ĐẠO GỐC!

Mỗi lần anh đến nhà thờ,

Gốc cây anh đứng tôn thờ Chúa sao?

Thánh đường rộng rãi tường cao,

Lễ nghi tham dự chẳng vào bên trong.

Hỏi còn được phúc gì không,

Trang nghiêm Thánh lễ, cửa hông anh dòm?

Từ ngoài xa, anh lom khom,

Phì phào điếu thuốc, lại còn “tám” luôn.

Lễ chưa xong, anh đã “chuồn”,

Đi trễ về sớm thật buồn cho anh.

Ông trùm, ông chánh nhắc anh,

Cha xứ răn bảo sao đành làm ngơ.

Hỡi anh ơi! Chớ dại khờ,

Gương xấu anh để trẻ thơ nhìn vào.

Lòng tin yếu kém thế sao?

Tình yêu Thiên Chúa trên cao gọi mời.

Nhà thờ, Cung Điện Chúa Trời,

Là nơi cung kính, tình Người trao ban.

Chúa yêu anh, yêu vô ngần,

Sao anh hờ hững, vong ân, bội tình.

Lời khuyên anh rất chân tình,

Tham dự Thánh lễ câu kinh một lòng.

Đứng ngoài ngó ngó trông trông,

Nhà thờ còn chỗ van mong anh vào!

Giuse Trần Thế Tiến. Gx Tân Bùi

 

CON QUỲ ĐÂY

 Kính lạy Chúa, quỳ đây con thống hối,

Đã bao lần con từ chối tình yêu.

Sống bê tha trong tội lỗi trăm chiều,

Mà Chúa vẫn vì yêu con chờ đợi.

            Khi phạm tội là lúc con bước tới,

Án đời đời cho những kẻ bất trung.

Phản bội Cha nguồn cứu thế muôn trùng.

Ơn đáp oán con chưa dừng, lạy Chúa.

                        Vì yêu con một tình yêu chan chứa

Chúa chờ mong và tha thứ tội nhơ.

Dẫu bao lần con lạc bước thờ ơ.

Tình yêu Chúa chẳng bao giờ phai nhạt.

                                    Ôi lạy Chúa! quỳ đây con cúi mặt,

lệ rưng rưng trong khoé mắt ăn năn.

Xin tha thứ dù tội lỗi muôn vàn,

Và giải thoát nhờ ơn ban cứu độ.

Phạm Trung Ngân

TẢN MẠN

 

LINH MỤC LÀ DÒNG SÔNG CHO CÁNH ĐỒNG GIÁO HỘI

Ruộng đồng của chúng ta không thể thiếu nước, vì chỉ có nước mới làm cho cây lúa phát triển xanh tươi. Nhìn lại đời Linh Mục cũng vậy, các ngài phải là như một dòng sông, Chúa trao tặng để mang đến cho Giáo Hội nguồn nước ơn sủng, nhờ đó mà được phát triển như Chúa hằng mong ước. Các ngài phải làm cho cánh đồng của Giáo Hội thêm nhiều bông hạt, tức là các tín hữu quay trở về cùng Chúa. Do đó, các ngài phải cố gắng chăm sóc và mở rộng cánh đồng thế gian thêm đông người nhận biết Chúa, đồng thời dám chấp nhận hi sinh, làm dòng nước thánh hóa và mạnh dạn nói lên như sách Khải Huyền: Tôi thấy một con sông có nước trường sinh, sáng chói như pha lê, chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và của Con Chiên” (Kh 22, 1), để dân thánh nhờ các ngài làm trung gian cho Chúa, mà được thăng tiến. Từ đó, các ngài thấy mình có ích cho Giáo Hội, đồng thời ngày càng thăng tiến mình hơn.

Đaminh Lê Hữu Quý, Gx Sáu Bọng

KHIÊM NHƯỜNG

Hiện nay, trào lưu tục hoá đã để lại một cách sống ngạo mạn và tự cao đối với mỗi con người chúng ta và chính nó là nguyên nhân phá vỡ những trạng thái tốt đẹp và tạo nên những rào cản đối với sự vật xung quanh. Chính vì vậy, lời mời gọi của Thầy Giêsu: “Hãy học cùng Tôi vì Tôi hiền lành và khiêm nhường”, đã trở nên khẩn thiết và phải thực hiện ngay.  Khiêm nhường được hiểu nôm na là khiêm tốn trong đối xử, không giành cái hay cái tốt cho mình mà nhường cho người khác. Khiêm nhường là biết từ bỏ địa vị cao trọng của mình để hoà nhập với người khác hầu có thể nâng họ lên cùng một địa vị với mình. Khiêm nhường còn là nhận biết giá trị thật sự của mình để học tập nơi người hiểu biết hơn mình.

 

 

 

 

THƯƠNG NHAU

CHÍN BỎ LÀM MƯỜI

 

Ai trong chúng ta cũng đều biết rằng hôn nhân không phải là một luống hoa hồng mà là một bãi chiến trường trong đó hai bạn nam nữ là những chiến binh cực kỳ dũng cảm. Cuộc sống sau đám cưới là những chuỗi ngày phải đấu tranh gian khổ để duy trì hạnh phúc, bình an trong gia đình. Sớm muộn người ta sẽ phải trải qua những lúc cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt hay những tình huống dở khóc dở cười “ông nói gà, bà nói vịt”, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”…

Tác giả Dale Carnegie trong quyển “Tâm lý vợ chồng” khi đề cập đến những va chạm hằng ngày xảy ra trong cuộc sống lứa đôi đã viết như sau: “Cuộc sống vợ chồng là một cuộc sống tế nhị, con người khi lập gia đình phải hiểu được những khó khăn, phiền phức trong cuộc sống lứa đôi đó, mới có thể mang lại cho nhau nguồn hạnh phúc chân thật đúng như lòng mình mong muốn. Yêu tức là thừa nhận, yêu là tha thứ, đó là một chuyện đương nhiên không ai không biết, nhưng không phải vì thế mà câu chuyện vợ chồng trở thành đơn giản, mọi người đều thừa biết là thế, song cuộc sống vợ chồng vẫn là một cuộc sống phiền toái luôn luôn phức tạp”.

Thực vậy, hôn nhân là một cam kết sống chung đến hết đời và là một cuộc đồng hành dài hơi, nên những khó khăn, phức tạp, va chạm là điều dễ xảy ra. Đúng như một danh nhân đã nhận xét: “Hôn nhân là gặp nhau, lấy nhau và sau đó là cãi nhau”. Những cuộc cãi vã, hờn dỗi do mâu thuẫn, bất đồng, bất hòa từ những chuyện vụn vặt thường ngày giữa hai vợ chồng có thể kéo dài từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, và cuối cùng có thể dẫn đến sự đổ vỡ không thể hàn gắn được. Tuy nhiên, chúng ta tin rằng tình yêu sẽ chiến thắng tất cả vì tình yêu có sức mạnh hóa giải mọi khác biệt, mọi bất đồng, mọi mâu thuẫn. Tục ngữ VN có câu: “Thương nhau chín bỏ làm mười”. Điều đó có nghĩa là khi yêu nhau thực tình, đôi bạn sẽ vượt qua mọi phiền toái, khó khăn trong cuộc sống chung, để cùng xây dựng một mái ấm hạnh phúc, bình an.

Trên thực tế, hai bạn phải biết học cách nhượng bộ nhau, học im lặng để lắng nghe bạn đời mình, học chia sẻ để chứng tỏ sự quan tâm của mình, học tha thứ để hàn gắn những rạn nứt trong mối quan hệ, học quảng đại để biết cho đi nhiều hơn là nhận lại. Để thực hiện được những việc trên, đôi bạn thử tham khảo và áp dụng một số kinh nghiệm của dân gian và của những bậc danh nhân, như sau:

- Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê (Ca dao VN).

- Một con ngựa tốt không bao giờ vấp ngã, một người vợ hiền không bao giờ càu nhàu (John Ray).

- Một người chồng tốt nên điếc và người vợ tốt nên mù (Ngạn ngữ Pháp).

- Yêu nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo (Tục ngữ VN).

- Chỉ tình yêu mãnh liệt mới có thể xua tan những hiểu lầm vụn vặt nảy sinh trong cuộc sống chung (Theodore Dreiser).

- Con người không ai toàn mỹ. Chuyện vợ chồng cũng thế. Biết phục thiện và tha thứ cho nhau thì gia đình ngày càng đầm ấm. Ngược lại, càng ngoan cố bao nhiêu, gia đình càng dễ dàng tan vỡ bấy nhiêu (G. Lombroero).

- Bí quyết lớn nhất làm cho cuộc hôn nhân thành công là coi tất cả các tai họa là chuyện nhỏ và không bao giờ biến chuyện nhỏ thành tai họa (Harold Nichlson).

- Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung với nhau là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm (James Thurber).

-Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn (Tục ngữ VN)./.

Aug. Trần Cao Khải

 

 

GIA ĐÌNH GIÁO XỨ

 

Mỗi người mỗi giới hân hoan

Gia đình giáo xứ rộn ràng niềm vui

Những khi lễ lớn - người người

Dẫu mưa, dẫu nắng chẳng lùi bước chân

Cùng nhau chung sức chung lòng

Điểm trang quang cảnh giáo đường đẹp xinh

Giờ chầu, thánh lễ, giờ kinh,

Giới nào việc nấy nhiệt tình say mê.

Ai đi đâu cũng nhớ về

Nguyện xin Thiên Chúa chở che vẹn toàn

Gia đình giáo xứ an khang

Giáo dân đoàn kết, lo toan tận tình.

 

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ

 

 

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM

Ngày 11.01.2015, lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 67 con em thuộc giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm, thị trấn Hòn Đất, do cha sở Gioankim Nguyễn Đức Cần, hai cha phó Tôma Nguyễn Văn Thanh và Alphongso Nguyễn Lê Kha phụ trách. Trong Thánh lễ, Đức Cha đã chia sẻ về ơn gọi làm con Thiên Chúa của chúng ta. Qua Chúa Giêsu chúng ta được lãnh nhận ơn vô cùng cao quý là làm con Thiên Chúa, được quyền gọi Thiên Chúa là Cha. Do đó, trong tâm tình của một người con, chúng ta phải hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha và sống tình bác ái huynh đệ với anh chị em con một Cha.

 

ĐỨC CHA GIUSE ĐI HÀNỘI

Sáng thứ bảy, ngày 17.01.2015, Đức cha Giuse khởi hành lên Saigon, để sáng Chúa nhật tham dự Thánh lễ bế mạc Năm Thánh mừng 400 năm Dòng Tên đến loan báo Tin Mừng trên đất Việt.

Sau đó, vào sáng thứ hai, ngày 19.01.2015, ngài sẽ bay ra Hà Nội, để cùng với các Đức Cha trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tiếp đón và gặp gỡ Đức Hồng Y  Fernando Filoni, Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng Cho Các Dân Tộc, chính thức viếng thăm Giáo Hội Việt Nam, từ ngày 19 đến 25 tháng 01 năm 2015. Đức Hồng Y sẽ ghé thăm ba giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Saigon.

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

THÁNH LỄ BẾ MẠC NĂM THÁNH MỪNG 400 NĂM

DÒNG TÊN ĐẾN LOAN BÁO TIN MỪNG TRÊN ĐẤT VIỆT

Sáng ngày 18.01.2015, Năm Thánh mừng 400 năm Dòng Tên đến loan báo Tin Mừng trên Đất Việt đã chính thức khép lại với Thánh lễ đại trào tại giáo xứ Hiển Linh, Thủ Đức do Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt S.J, chủ tế, cùng các đức giám mục và hơn 120 linh mục. Tham dự Thánh lễ có gần 3000 tín hữu. Đặc biệt, trong Thánh lễ còn có sự hiện diện của cha Adolfo Nicolás, S.J., Bề trên Tổng quyền Dòng Tên; Mở đầu Thánh lễ, Đức cha Cosma nhắc lại biến cố 3 nhà truyền giáo Dòng Tên đặt chân đến Đà Nẵng cách nay 400 năm và mời gọi mọi người tiếp bước các ngài lên đường loan báo Tin Mừng trên quê hương Việt Nam. Trong bài giảng lễ, ngài đã chia sẻ về kinh nghiệm phân định của thánh Igatio Loyola, đấng sáng lập Dòng Tên khi thánh nhân thường xuyên tự hỏi: Phải làm gì trước những cảnh huống mà ngài phải đối diện. Đây cũng là câu hỏi mỗi người cần đặt ra cho mình khi phải đối diện với một hoàn cảnh mới.

 

 

ĐỨC HỒNG Y FILONI, TỔNG TRƯỞNG BỘ LOAN BÁO TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC VIẾNG THĂM GIÁO HỘI VIỆT NAM

Nhận lời mời của Đức Tổng Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc- Chủ Tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức Hồng Y Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng cho các dân tộc đã viếng thăm Giáo Hội Chúa Kitô tại Việt Nam, kéo dài từ ngày 19 đến 25 tháng 01 năm 2015.

Ngày 20.01 tại Hà Nội, ngài sẽ gặp gỡ các Đức Giám Mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, sau đó gặp gỡ các linh mục trong giáo tỉnh Hà Nội và dâng Thánh lễ cầu cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội tại nhà thờ Chánh Tòa, cũng như gặp gỡ Chánh quyền.

Ngày 21.01 tại giáo Phận Hưng Hóa, ngài đã viếng thăm thờ Hòa Bình, sau đó dâng Thánh lễ tạ ơn và rửa tội cho 172 tân tòng tại nhà thờ Chánh Tòa.

Ngày 22.01 tại Huế, ngài viếng thăm Trung Tâm Mục Vụ, gặp gỡ giáo dân tại nhà thờ Chánh Tòa, viếng thăm nhà lưu niệm Vị Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y PX Nguyễn Văn Thuận và Đại Chủng Viện. Cũng như dâng Thánh lễ tại La Vang.

Ngày 23.01, tại Đà Nẵng, ngài viếng thăm đền thánh Chân Phước Anrê Phú Yên, dâng Thánh lễ tạ ơn và cử hành các bí tích khai tâm cho 50 dự tòng. Sáng ngày 24, ngài viếng thăm nhà hưu dưỡng dòng thánh Phaolô và khánh thành trung tâm Mục vụ.

Chiều 24.01, tại Xuân Lộc, ngài đã gặp gỡ 379 chủng sinh và 200 dụ tu. Sau đó nói chuyện với 14.000 giáo dân và dâng Thánh lễ tạ ơn vào lúc 17g00, để mừng kim khánh thành lập giáo phận, là đỉnh cao của cuộc thăm viếng này.

Ngày 25.01 tại Saigon, ngài đã dâng thánh lễ tại nhà thờ Chánh Tòa, sau đó đã đến thăm ĐHY GB Phạm Minh Mẫn, gặp gỡ các chủng sinh tại Đại chủng viện Thánh Giuse, nói chuyện với cộng đoàn Dân Chúa tại Trung Tâm Mục Vụ và giáo xứ Gia Định.

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC TÔNG DU SRI LANKA 13-15.01.2015

Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến Colombo, Sri Lanka, vào khoảng 9 giờ sáng thứ Ba 13.01. Nghi lễ đón tiếp Đức Thánh Cha diễn ra hết sức long trọng. Vị Tổng thống mới được bầu, ông Maithripala

 

Sirisena, đã ngỏ lời chính thức chào mừng Đức Thánh Cha, cảm ơn ngài đến thăm đất nước Sri Lanka và xin Đức Thánh Cha chúc phúc cho ông, cho cả quốc gia và dân tộc của ông. Trọng tâm chuyến tông du của Đức Thánh Cha đến Sri Lanka là tuyên thánh cho Chân phước Joseph Vaz, một linh mục sống vào thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18, là vị anh hùng vĩ đại của sự nghiệp Phúc Âm ở Sri Lanka - một sự nghiệp vẫn còn rất sống động và đem lại ích lợi cho người dân Sri Lanka ngày nay: Lễ tuyên thánh cho Chân phước Joseph Vaz sẽ diễn ra trong một Thánh lễ ngoài trời tại Colombo vào ngày thứ Tư 14.01.

 

ĐTC TÔNG DU PHILIPPINES, 15-18.01.2015

Sau chuyến bay dài sáu giờ ba mươi phút từ thủ đô Sri Lanka, máy bay của ĐTC đã đáp xuống căn cứ không quân Villamor lúc 5g45 chiều thứ Năm 15.01. Ngài là vị giáo hoàng thứ ba đến thăm

 

Philippines, sau ĐTC Phaolô VI (11.1970) và ĐTC Gioan Phaolô II (02.1981 và01.1995). Chủ đề chính của chuyến tông du lần này là “Thương xót và Nhân từ”, và một trong những khoảnh khắc được chờ đợi nhất sẽ là cuộc viếng thăm trung tâm thành phố Tacloban, nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cơn bão Haiyan hồi tháng 11.2013 với trên 7.300 người chết hoặc mất tích. ĐTC đã cử hành một Thánh Lễ ngoài trời tại sân bay Tacloban, làm phép một trung tâm mới (mang tên ngài) cho người nghèo và dùng bữa trưa với các nạn nhân sống sót. Ngài đã gặp gỡ các linh mục, chủng sinh và các tu sĩ nam nữ tại Nhà thờ chính toà Chúa Hiển Dung của Tổng giáo phận Palo, cũng đã bị cơn bão này tàn phá nặng nề. Tại thủ đô Manila, ĐTC cử hành hai Thánh Lễ: một Thánh lễ vào ngày thứ Sáu tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ Vô Nhiễm, sau cuộc hội kiến Tổng thống Benigno Aquino, và gặp gỡ các gia đình trên cả nước. Vào Chúa nhật, trước khi lên đường trở về Rôma, ĐTC chủ tế Thánh Lễ bế mạc cùng với tất cả các giám mục địa phương.

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ THÁNH GIA KINH I B

Địa Chỉ: Ấp Tân Hà B, Xã Tân Hòa, Huyện Tân Hiệp,

Tỉnh Kiên Giang.

Điện thoại : 077 3506843  - 0973297393

Mừng Bổn Mạng: Lễ Thánh Gia Thất Kính Đức Giê-su, Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse

 

 

 

I- Vị trí:

Chạy dài từ sông Đòn Giông tới 600 mét giáp sông Tân Hội. Hiện nay có một số gia đình ở khúc 600 mét và tại chợ Xã Tân Thành.

 

II- Thời  gian thành lập:

Bắt đầu từ năm 1956, do cha J.B. Phạm Huy Diệu thiết lập.

III- Các linh mục phụ trách:

* 1956 – 1983 : Linh mục J.B. Phạm Huy Diệu.

* 1983 – 1989 : Linh mục Giuse Nguyễn Văn Tiếu.

* 1989 – 1995 : Linh mục Giuse Đinh Hữu Huynh.

* 1995 – 2010 : Linh mục Giuse Bùi Đình Chư.

* 2010 – đến nay : Linh mục Giuse Nguyễn Tiến Tâm.

IV- Dân số:

Giáo Xứ Thánh Gia gồm có nhà xứ và Giáo Họ Kitô Vua. Dân số xứ Thánh Gia hiện có 396 gia đình với tổng số nhân danh là 1650. Giáo Họ Kitô Vua có 173 gia đình và tổng số nhân danh là  585.

V- Cơ sở vật chất:

Nhà thờ hiện nay được xây dựng vào năm 2004 với kích thước 50 m x 16 m.

VI-Những sinh hoạt:

Các Hội Đoàn vẫn sinh hoạt thường kỳ đều đặn Giáo Xứ cũng như Giáo Họ gồm: Hội Gia trưởng, Hội Hiền Mẫu, Xứ Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, Các Ca Đoàn. Trong năm những dịp lễ lớn như Giáng Sinh Phục Sinh Tết Nguyên Đán hay Bổn Mạng Giáo Xứ Giáo Họ đều có tĩnh tâm xưng tội làm việc từ thiện bác ái thăm viếng ủy lạo các gia đình nghèo, già nua yếu đau, kinh tế thấp trong xứ cũng như ngoài xứ. Theo tinh thần của Công Đồng Vat. II và Đức Thánh GH GP.II nói: “Giáo dân là mùa xuân của giáo hội”. Giáo Xứ đặc biệt phân công Phụng Vụ Xướng Kinh Đọc Sách trong Thánh Lễ, Giờ Chầu, Giờ Kinh cho mỗi nhóm 7 gia đình phụ trách một tuần. Lần lượt thứ tự ai cũng được đọc sách xướng kinh trong cộng đoàn Phụng Vụ. Theo phương châm: “Cùng Ăn Cùng Ở Cùng Làm”.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 02 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1013
Tất cả: 45,856,211