Tĩnh tâm tháng 02 năm 2015

TĨNH TÂM

THÁNG 02 NĂM 2015

 

 

 

MỪNG XUÂN ẤT MÙI

2015

 

 

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 02 năm 2015

 

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

TRONG NĂM

TÂN PHÚC ÂM HÓA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

 

***

 

Anh chị em thân mến,

Cách riêng với các tu sĩ nam nữ rất thân quý,

Chúng tôi, các giám mục Long Xuyên, xin gửi đến cộng đoàn dân Chúa lời chào chúc an bình, niềm vui và hy vọng.

Sau thư mục vụ đầu tiên của năm 2015 hướng về các linh mục, chúng tôi hướng về các anh chị em nam nữ tu sĩ, sống đời thánh hiến đang hiện diện tại giáo phận Long Xuyên. Vì năm 2015 là Năm Tân Phúc Âm Hóa đời sống thánh hiến theo chương trình mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Đây cũng là Năm Đời Sống Thánh Hiến do Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề xướng.

Theo tinh thần của tông thư năm Thánh Hiến của Đức Giáo Hoàng Phanxicô và thư mục vụ năm 2014 của HĐGMVN, giáo phận Long Xuyên cùng với các tu sĩ nam nữ, sống năm 2015 này để nhìn về quá khứ, sống hiện tại, hướng về tương lai với những mong đợi.

1. Trong năm nay, các cộng đoàn dòng tu trong giáo phận cần nhìn về quá khứ để tái khám phá ra lịch sử phong phú về ân sủng của hội dòng mình, nhờ đó sống trong tâm tình tạ ơn, tạ tội và canh tân. Về phần mình, giáo phận nhìn lại lịch sử 55 năm của giáo phận, trong đó có sự hiện diện và hoạt động của nhiều dòng tu, làm thành một giáo đoàn Long Xuyên, luôn nỗ lực thi hành sứ vụ của mình, là muối, là men, là ánh sáng, đang hiện diện âm thầm nhưng hiệu quả, qua những thăng trầm của lịch sử tại miền đồng bằng sông Cửu Long. Giáo phận luôn tạ ơn Chúa và tri ân các dòng tu.

Ngoài ra, các tu sĩ nam nữ trong giáo phận cần sống hiện tại với nỗ lực trung thành với căn tính, dấn thân vào sứ vụ, và nhiệt tâm sống linh đạo của dòng mình. Về phần mình, giáo phận ước mong được đồng hành và tạo điều kiện để các dòng tu dấn thân một cách hăng say vào đời sống của giáo phận, cụ thể là những sinh họat mục vụ và truyền giáo, theo đường hướng của giáo phận, là tham gia hiệp thông đồng trách nhiệm vì sứ vụ.

Và các dòng tu còn phải hướng về tương lai với niềm tin tưởng và hy vọng, dù phải lội ngược dòng để trung thành với ơn gọi trong một xã hội tục hóa và thụ hưởng. Về phía giáo phận, giáo phận cũng hướng về tương lai với ước mong sẽ có nhiều dòng tu hơn nữa, hiện diện và thi hành sứ vụ trong giáo phận, để tiếp tục sứ vụ của Chúa Kitô, là: “Ta đến để mang lửa đến thế gian, và Ta không ước ao sự gì cho bằng thấy ngọn lửa ấy bùng cháy lên”; ngọn lửa của Chân lý, Tình yêu và Tự do nội tâm.

2. Ngoài ra, Giáo phận Long Xuyên cùng với các cộng đoàn anh chị em tu sĩ nam nữ đang hoạt động tại phần đất Long Xuyên, cùng thực hiện năm (05) mong đợi của ĐGH Phanxicô trong tông thư năm Đời Sống Thánh Hiến.

Mong đợi thứ nhất, giáo phận cùng với các tu sĩ nam nữ, hiện diện và hoạt động với niềm vui, vì “đâu có các tu sĩ, ở đó có niềm vui”, niềm vui Loan Báo Tin Mừng.

Mong đợi thứ hai, giáo phận cùng với các tu sĩ nam nữ, dấn thân tích cực thi hành vai trò ngôn sứ đánh thức thế giới, với Tin Mừng về Tám Mối Phúc Thật, được kết tinh trong ba lời khuyên Phúc Âm là khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.

Mong đợi thứ ba, giáo phận và các tu sĩ nam nữ sẽ trở thành những chuyên viên của sự hiệp thông, mà khởi điểm là sự hoán cải trở về với Tin Mừng, để hiệp thông với Chúa và với anh chị em đồng loại.

Mong đợi thứ tư, giáo phận và các tu sĩ nam nữ sẽ ra khỏi chính mình bằng sự tự hủy, để đến với anh chị em mình ở ngoại biên cuộc đời và xã hội, nhờ đó sẽ giới thiệu Chúa Kitô là Tin Mừng cho nhân loại.

Và cuối cùng, mong đợi thứ năm, giáo phận và các tu sĩ nam nữ luôn tự vấn lương tâm về những điều mà Thiên Chúa và con người ngày nay đang mong đợi, qua những dấu chỉ của thời đại, được đọc dưới ánh sáng của Tin Mừng, nhờ đó hội thánh Long Xuyên luôn sống hoán cải và canh tân.

3. Về phần mình, giáo phận Long Xuyên luôn coi Đời sống thánh hiến là hồng ân của Chúa cho Giáo hội, được phát sinh từ lòng Giáo Hội, được tăng trưởng trong Giáo Hội, và nhằm phục vụ Giáo Hội. Chính vì thế, toàn thể giáo phận, đặc biệt là các linh mục và giám mục với ý thức trách nhiệm mục tử của mình, và cụ thể là qua Ủy Ban Tu Sĩ của giáo phận, sẽ luôn tích cực góp phần mình như những trợ lực cho các tu sĩ thực hiện cuộc hành trình ơn gọi của mình. Đặc biệt là quan tâm đến các tu sĩ đang tiếp tục ơn gọi đời sống thánh hiến của mình tại các nhà hưu dưỡng.

Ngoài ra, giáo phận cũng sẽ cổ vũ ơn gọi đời sống thánh hiến trong các cộng đoàn tín hữu. Trong sinh hoạt này, các mục tử sẽ phát hiện các ơn gọi, để cổ vũ, và giới thiệu ơn gọi đến các dòng tu, trong và ngoài giáo phận. Đồng thời cũng cộng tác với các dòng tu trong việc phân định, nuôi dưỡng các ơn gọi.

Cuối cùng, các linh mục phụ trách các cộng đoàn tín hữu, cần hướng dẫn dân Chúa, nhất là giới trẻ và thiếu nhi, biết giá trị của đời sống thánh hiến, nhờ đó cộng đoàn giáo xứ, giáo họ trở thành thửa ruộng màu mỡ để Chúa gieo trồng các ơn gọi Hội Thánh của Ngài.

Anh chị em thân mến,

Dịp mùa Chay từ thứ Tư Lễ Tro ngày 18/2 này, chúng ta cầu nguyện cho toàn thể giáo phận bước vào mùa Chay thánh năm nay với lòng sám hối để hòa giải và canh tân.

Dịp Tết Nguyên Đán năm Ất Mùi, chúng ta cầu chúc cho nhau một Năm Mới Hạnh Phúc trong Tình yêu của Thiên Chúa và trong Tình thương của mọi người.

 

+ Giuse Trần Văn Toản                              + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

GẶP GỠ CHÚA GIÊSU

1.

Nhân dịp Tết mới, tôi xin thân ái cầu chúc cho mọi người nhận được món quà, mà tôi cho là rất quí, đó là được gặp Chúa Cứu Thế, để cuộc sống của mình được nên tốt đẹp, như lời Người đã phán xưa: “Ta đến, để cho chiên được sống, và sống dồi dào” (Ga 10,10).

2.

Sở dĩ, tôi chúc như vậy, bởi vì tôi tin: Ai gặp được Chúa Giêsu, kẻ ấy sẽ nhờ Người mà có được cuộc sống tốt.

Không những tôi tin như thế, mà thực sự tôi đã trải qua một cuộc đời được kinh nghiệm như thế. Ở đây, tôi xin phép được chia sẻ đôi chút về những kinh nghiệm đó.

Trên suốt cuộc đời dài, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu một cách rất rõ, gây ấn tượng mạnh. Có thể tóm tắt những gặp gỡ đó vào hai loại:

3.

Một là được gặp Chúa trong cảnh huy hoàng, siêu thoát, như ba môn đệ đã gặp trên ngọn núi cao, ở đó Chúa biến hình. Ba môn đệ đã rất vui. (x. Mc 9,2-12)

4.

Hai là được gặp Chúa trong cảnh đớn đau như ba môn đệ đã thấy, trong vườn Cây Dầu, khi Người chiến đấu trước cái chết khổ nhục. Tôi cũng như ba môn đệ kể trên đã rất sợ hãi, kinh hoàng. (x. Mc 14, 33-42)

Tôi nghĩ chính vì yêu thương thân mật, Chúa Giêsu mới cho tôi được nếm đôi chút những giờ phút đặc biệt nhất của cuộc đời Chúa. Nhờ đó, tôi được Chúa dạy tôi hãy sống thân mật với Người. Sống thân mật với Người là phải gắn bó với Người một cách kiên trì trong mọi hoàn cảnh, dù sáng sủa, dù tối tăm, mà tôi phải trải qua.

5.

Tôi đã được gặp Chúa Giêsu như thế trong những dịp nào? Thưa thường xuyên tôi gặp Người bằng đức tin. Bằng đức tin, tôi gặp Chúa. Sự gặp gỡ này được thực hiện do ơn Phép Rửa tội. Ngoài ra, tôi còn được gặp Chúa, như một người được Chúa gọi hãy làm chứng cách riêng cho sự sống thân mật với Chúa.

Nhưng gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu mà tôi cảm nhận được thường không kéo dài lâu. Nhưng ảnh hưởng của nó thường nuôi sống linh hồn tôi một cách sâu xa lâu dài.

6.

Nơi đầu tiên tôi được gặp Chúa một cách thân mật, là nội tâm thinh lặng. Không phải lúc nào tôi cũng nếm được sự ngọt ngào do ở bên Chúa. Bởi vì rất nhiều khi, tôi cảm thấy nguội lạnh, tối tăm. Nếu có lúc, tôi nói được như vua Đavít xưa: “Tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16,9), thì lúc đó, chính là khi tôi sống nội tâm thinh lặng, trút bỏ những bận tâm của nếp sống hoạt động ồn ào, hướng ngoại, để dành thời giờ cho Chúa. Trong nội tâm thinh lặng, tôi cầu nguyện, đọc Lời Chúa.

Được gặp Chúa lúc đó có thể chỉ như một tia sáng lạ thường, nhưng tôi cảm thấy rất rõ sự hiện diện của Chúa thực là dịu dàng, đem lại cho tôi hạnh phúc và một sức sống lạ lùng khôn tả.

7.

Nơi thứ hai tôi gặp Chúa một cách thân mật, là lúc tôi xưng tội và trở về với Chúa.

Tôi xưng tội hàng tháng, nhiều khi hàng tuần. Mỗi lần xưng tội là mỗi lần tôi nhìn nhận mình tội lỗi yếu hèn, xin ơn tha thứ của Chúa, qua các vị của Hội Thánh được Chúa trao quyền. Bao giờ cũng vậy, lúc đó, tôi được gặp Chúa một cách rất thân mật, rất riêng tư. Người là Đấng cứu thế vô cùng nhân hậu của tôi.

8.

Nơi thứ ba tôi thường gặp được Chúa là việc tôi phục vụ kẻ khốn khó nghèo hèn.

Tôi phục vụ họ bằng nhiều cách thích hợp với khả năng nhỏ bé của tôi. Thí dụ đã từ lâu tôi viết bài chia sẻ. Khi làm việc đó, tôi không dám nghĩ là tôi phục vụ những người đạo đức, những người đầy đủ, nhưng tôi nghĩ tới những người túng nghèo, khổ đau về phần linh hồn. Tôi tự nghĩ rằng tôi cần phải có chút can đảm để đi ra khỏi cái thế giới của giáo sĩ thường có nhiều tiện nghi, để dìm mình vào những vấn đề nóng bỏng của người nghèo khổ hôm nay. Tôi cần khiêm tốn và cậy trông, mở rộng đức tin ra để cho mọi thứ người nghèo khổ xung quanh tôi có thể nhận ra cái giá mà Chúa Giêsu đã vui chịu, để cứu họ, đem họ tới hạnh phúc thật sự.

Khi làm như vậy, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu. Tôi như rụng rời, không phải thấy Chúa uy nghi quyền phép, nhưng thấy Chúa khiêm tốn, hạ mình, dấn thân vào con đường thánh giá một cách nhục nhã, chỉ vì yêu thương, muốn cứu chuộc loài người.

Từ đó, tôi hiểu rõ hơn những lời Chúa Giêsu phán trong ngày phán xét chung: “Mỗi lần con làm việc tốt cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).

9.

Nơi thứ bốn tôi thường gặp được Chúa là những gì xảy ra, đã đụng tới tôi một cách đặc biệt và riêng tư.

Thí dụ một cảnh trời đẹp, một người dễ thương, một tác phẩm hay, một cơn bệnh, một biến cố lịch sử. Tôi như cảm được lời Chúa xưa đang thực hiện nơi tôi: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20). Trong chốc lát, tôi đã nhận ra Chúa gõ cửa lòng tôi qua những gì xảy ra đó. Tôi đã mở cửa đón Chúa vào.

10.

Qua những lần gặp gỡ Chúa Giêsu, tôi xác tín đạo Công giáo của tôi là một mời gọi đi xa, vượt quá những gì chúng ta có thể tưởng tượng, rất hơn cuộc sống thế trần này. Tôi càng xác tín là con người đi tu, hiến thân cho Chúa, phải thuộc trọn về Chúa, để cùng với Chúa, đưa con người tới một sự sống thực, một sự sống dồi dào bình an và hạnh phúc đời đời.

Hôm nay, những ngày sắp Tết, tôi gói gọn những kinh nghiệm và niềm tin của tôi vào một lời chúc chân thành:

Gặp gỡ Chúa Giêsu

Tôi nghĩ là nhiều người đã gặp được Chúa Giêsu, người cách này, người cách khác. Chúng ta giúp nhau gặp gỡ Chúa Giêsu, đó cũng chính là hạnh phúc muốn được chia sẻ trong ngày đầu năm Ất Mùi này. Giúp nhau như vậy chính là yêu thương nhau, trân trọng nhau và tin vào nhau.

Chớ gì được như vậy, để mùa xuân Quê Hương dưới đất sẽ là phản ánh được phần nào mùa xuân Quê Hương trên trời.

 

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Chúa Nhật 4 TN, B

Đnl 18,15-20; 1 Cr 7,32-35; Mc 1,21-28

SỐNG LỜI CHÚA

 

Đoạn Tin Mừng hôm nay là một trong nhiều trường hợp đề cập đến ma quỉ. Vậy ma quỉ là loại nào? Ngày nay chúng còn hoạt động trên trần gian không? Trước hết, thiết tưởng ta cần phân biệt ma và quỉ. Đây là hai loại hoàn toàn khác nhau, chứ không phải là một. Nhưng người Việt Nam chúng ta thường gom chung hai loại đó vào một: Ma quỉ. Ma, theo lối hiểu thông thường, đó là hồn người chết hiện về, để ám ảnh, đe dọa, hoặc liên hệ điều gì đó với người sống. Còn quỉ là loại thiên thần hư hỏng, đã bị Thiên Chúa đày xuống Hỏa ngục.

Như vậy, có ma không? Nhiều người tin là có. Nhiều người lại không tin. Nếu hiểu ma là một loài vô hình như ma xó, ma trơi, hay ma này ma nọ, thì không có. Còn nếu hiểu ma là hồn người chết hiện về, thì có. Nhưng cũng chỉ xảy ra trong một số trường hợp rất họa hiếm, do sự cho phép đặc biệt của Chúa, để đương sự nhắn bảo điều gì đó với người sống. Hoặc có khi linh hồn ấy được sự ủy nhiệm riêng Chúa để chu toàn một việc gì đó, như thỉnh thoảng ta vẫn nghe nói linh hồn này hay linh hồn kia trở về dương gian, trong một vài tích truyện.

Còn quỉ thì sao? Phải công nhận là có, vì Kinh Thánh đã nói đến nguồn gốc của chúng. Quỉ được nhắc đến nhiều lần trong Tin Mừng. Chính Chúa Giêsu cũng đã bị quỉ cám dỗ. Như vậy, quỉ có thật. Chúng vẫn có mặt và hoạt động trên trần gian này. Nhưng sự xuất hiện của chúng rất tinh vi, kín đáo và khéo léo. Nên người ta tưởng rằng dường như không có quỉ.  Thực tế cho thấy: Chưa bao giờ quỉ mạnh thế như ngày hôm nay. Quyền lực của quỉ đang bao trùm khắp thế giới. Hiện nay quỉ chi phối, lôi kéo, lèo lái rất nhiều người theo chúng. Có cả một tôn giáo mới được thành lập để tôn thờ quỉ, đó là đạo thờ Satan. Các tín đồ của đạo này quyết tâm phá hại đạo thánh Chúa và triệt hạ lòng đạo đức. Hiện nay quỉ xem ra đang thắng thế trên khắp địa cầu. Chưa bao giờ tội lỗi lan tràn khắp chốn như ngày hôm nay. Đời sống đạo đức khắp nơi trên thế giới đang suy đồi một cách khủng khiếp.

Những điều vừa nói trên, chứng tỏ ngày nay quỉ đang thắng lớn. Nếu ta không có một mặt trận tinh thần chống lại quỉ, thì nguy cơ hủy diệt của loài người là điều không thể tránh. Điều khôn khéo của quỉ là chúng thường ẩn mặt, không mấy khi lộ diện, nên nhiều người lầm tưởng chúng không hiện hữu trên cõi đời này. Trong thời buổi kĩ thuật số này, quỉ cũng rất tinh khôn. Chúng ít xuất đầu lộ diện, nhưng luôn ẩn mặt giấu mày, đứng trong bóng tối và dùng ma lực của chúng điều khiển, xui khiến người ta phạm tội, như ta sử dụng remote để điều khiển màn hình Tivi. Vì lầm tưởng không có quỉ, nên không mấy ai đề phòng mưu thần chước quỉ của chúng. Và khi ta không đề phòng, thì quỉ càng dễ chi phối điều khiển ta làm nô lệ cho chúng.

Ta sẽ lấy gì để xua đuổi, để diệt trừ quyền lực Satan? Ta không thể tưới xăng đốt chúng, vì không có thứ lửa nào có thể đốt cháy chúng được. Thậm chí ta không thể dùng bom đạn, vũ khí hoá học, bom vi trùng, bom nguyên tử để tiêu diệt Satan, vì chúng vô hình. Chỉ có phương thế duy nhất để tẩy trừ quỉ ra khỏi tâm hồn và trí não mình, đó là cậy nhờ vào quyền năng của Lời Chúa.

Ước gì ta hãy quý trọng Lời Chúa và sống Lời Chúa, để từng bước ta thanh tẩy tâm hồn mình khỏi mọi tham vọng xấu xa, loại trừ khỏi cuộc đời mình những hành vi gian ác.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 5 TN, B

G 7,1-4.6-7; 1Cr 9,16-19.22-23; Mc 1,29-39

SỐNG NHƯ CHÚA

 

Văn hoá Việt Nam với 4000 năm văn hiến, vẫn đề cao tình làng nghĩa xóm: “Tối lửa tắt đèn có nhau”. Sự liên đới yêu thương đùm bọc lẫn nhau tha thiết đến độ: “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”. Sự liên đới ấy không chỉ dừng lại ở trong dòng tộc hay thôn xóm, mà còn vươn ra xa, bao quát cả một dân tộc trong tình thương giữa người với người, như câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Thế nhưng, truyền thống đó hình như đang mất dần trong thế giới hôm nay. Một thế giới ích kỷ và hưởng thụ. Một thế giới sống theo chủ trương “Mackeno” đang làm tan rã tình người. Ngày nay người ta quá lo cho bản thân, sống thủ thân. Người ta sẵn sàng vì quyền lợi của mình, mà chà đạp lên người khác, chồng chất nỗi đau lên tha nhân.

Cách đây khá lâu, một tai nạn xảy ra trên quốc lộ 1A. Một chiếc xe vận tải chở gỗ tràm đi theo hướng từ Bắc vào Nam đã đâm trực diện vào một chiếc xe vận tải chở trái cây, chạy theo hướng từ Nam ra Bắc. Vụ tai nạn này đã khiến buồng lái của chiếc xe Bắc vào Nam bị bẹp dúm. Còn chiếc xe từ Nam ra Bắc thì bị lật ngang, trái cây đổ tung tóe trên đường. ?áng lưu ý là trong khi cả hai tài xế và hai phụ xe của hai chiếc xe ấy cùng bị trọng thương, cần cấp cứu, thì dân chung quanh đó lại đổ xô đến để cướp trái cây! Họ để mặc người bị nạn dở sống dở chết bên đường! Điều người ta quan tâm lúc này là hôi của!

Xem ra cuộc sống hôm nay quá vô cảm, vô tâm. Có phải vì họ đói, vì họ thèm trái cây mà hành động như vậy chăng? Chắc chắn là không. Không ai nghèo đói đến độ không có một trái cây mà ăn. Có chăng là vì họ thiếu vắng tình người, thiếu sự liên đới và trách nhiệm với tha nhân. Không ai nghĩ rằng mình có trách nhiệm trước sự sống còn của tha nhân. Không ai bận tâm trước những rủi ro bất hạnh của anh em. Tình người xem như đang mất dần trong một xã hội quá đề cao vật chất và hưởng thụ như hôm nay. Phải chăng cách hành xử thiếu tình người đó đang là vấn đề cần phải cải thiện của xã hội hôm nay? Phải chăng khi người ta đề cao vật chất, thì tình người lại bị coi thường và chà đạp? Dường như là vậy. Nhiều người quá đau khổ vì không tìm được sự nâng đỡ của anh em trong những lúc gian nan. Nhiều người quá tuyệt vọng vì sự lạnh lùng, bỏ rơi của gia đình và bạn bè.

Lời Chúa hôm nay mô tả một ngày làm việc thật bận rộn của Chúa Giêsu. Ngài giảng dạy trong Hội đường. Ngài cứu chữa một người bị quỉ ám. Ngài đến tận nhà nhạc mẫu của ông Phêrô để chữa bệnh cho bà. Chúa còn dành thời giờ đón tiếp rất đông khách thập phương đến để cầu cứu Ngài. Chúa đã đặt tay và chữa lành bệnh tật cho họ. Cả ngày, dường như Chúa chẳng nghỉ ngơi. Ngài đã dùng cả thời giờ của một ngày để phục vụ cho lợi ích tha nhân. Nếu cuộc đời hôm nay có nhiều tấm lòng vị tha như Chúa Giêsu, thì dòng đời sẽ không còn những cái khổ triền miên như ông Gióp. Nếu cuộc đời ai cũng sống có trách nhiệm với nhau, thì sẽ không còn nỗi đau của cô đơn và tuyệt vọng như ông Gióp, khiến ông kêu lên trong u buồn, sầu thảm: “Số phận của tôi phải chăng là những đêm đau khổ ê chề?” (Bài đọc I).

Vâng, số phận của ông Gióp và số phận của hàng vạn người quanh ta vẫn đang cô đơn và tuyệt vọng, vì lối sống ích kỷ và thiếu trách nhiệm của ta. Ước gì mỗi người chúng ta có được trái tim như Chúa Giêsu, sống như Chúa, để có thể chạnh lòng thương xót và giúp đỡ những mảnh đời khổ đau của người anh em.

 

Suy Niệm Chúa Nhật 6 TN, B

Lv 13,1-2.44-46; 1Cor 10, 31-11,1; Mc 1,40-45

SỐNG VỚI CHÚA

 

Cách đây khá lâu, khi ra chợ Rạch Sỏi, tôi thấy một ông bị bệnh phong cùi đang lê lết đi xin ăn. Với cái lon sữa bò cũ kĩ và méo mó, ông kêu gào lòng thương xót của mọi người chung quanh. Rất nhiều người không dám lại gần ông, mà chỉ đứng xa xa nhìn ông với lòng thương xót xen lẫn sự ghê tởm. Con người của ông không những dơ bẩn, mà còn toát lên một cái gì đó ghê sợ, với những miếng vải dính đầy máu mủ trên bàn tay, bàn chân đã cụt hết ngón. Một vài người đi ngang qua, thả vội mấy đồng tiền lẻ, rồi đi như chạy. Có lẽ họ cũng như tôi, dù xót thương cho thân phận của ông ăn mày, nhưng cũng không dám lại gần vì ghê tởm, vì sợ lây bệnh.

Trước đây, người ta cho bệnh phong là một căn bệnh nhiễm mãn tính. Nên người ta thường gọi miệt thị là bệnh cùi, bệnh hủi. Những bệnh nhân này thường bị người đời xa lánh, vì họ có những vết thương lở loét, hình hài không được bình thường. Có người miệng bị méo xệch, rụng vành tai. Thoáng nhìn, người ta có cảm giác khiếp đảm, sợ sệt. Còn bệnh nhân thì xấu hổ, cố giấu mặt vì mặc cảm. Cử chỉ che giấu ấy thật tội nghiệp. Có những bệnh nhân ngón tay đã rụng hết, chỉ còn trơ bàn tay không ngón, đáng sợ. Nhiều dân tộc hay bộ lạc coi bệnh phong cùi là một hình phạt. Người mang bệnh cùi bị hất hủi, bị đuổi ra khỏi nhà, khỏi làng. Họ sống lang thang trong rừng sâu, hay tại những nơi hẻo lánh và chết trong cô đơn. Có người được tập trung vào ngôi làng dành riêng cho người bệnh phong.

Thi sĩ Hàn Mặc Tử là người mang bệnh phong cùi. Ông đau đớn tột cùng từ thể xác đến tinh thần. Nên lời thơ của ông là tiếng lòng thổn thức của người mang căn bệnh hiểm nghèo: “Hồn đã cắn, đã cào, đã nhai ngấu nghiến. Thịt da tôi sượng sần và tê điếng. Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên”. Mang tâm trạng cô đơn của người bệnh phong cùi bị người đời xa lánh, thi sĩ Hàn Mạc Tử đã thốt lên: “Bây giờ tôi dại tôi điên. Chắp tay tôi lạy cả miền không gian”.

Rất nhiều lần, Tin mừng đã dùng từ “chạnh lòng thương” để nói lên tấm lòng của Chúa Giêsu đối với người đau khổ, bệnh tật (Mt 9,36; 14,14; 15,32; Mc 1,41; Lc 7,13). Vâng, trong khi mọi người tránh xa người cùi theo lề luật, thì Chúa Giêsu lại tiến đến gần người cùi để chữa lành cho họ. Chúa không chữa người phong cùi như cách Ngôn sứ Elisa đã làm đối với Naaman, đó là truyền cho ông đi tắm ở dòng sông Giodan (2V 5,1-19). Ở đây Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh nhân với tấm lòng cảm thương của Chúa, với lời xác quyết đầy quyền uy của Đấng chiến thắng trên bệnh tật và sự chết. Ngài cầm lấy tay bệnh nhân như muốn cảm thông, chia sẻ đầy tình liên đới.

Ngày hôm nay, trong cuộc sống của ta có rất nhiều thứ bệnh cùi tinh thần. Đó là thái độ sống bất công, gian ác, điêu ngoa, dối trá, lường gạt… Chính những hình thức cùi này đang làm cho con người ra vong thân, làm biến dạng biết bao tâm hồn. Thực vậy! Không chỉ cuộc sống tinh thần của cá nhân bị băng hoại, mà cả một xã hội cùi đang được hình thành, bởi những thứ virus cùi gian trá điêu ngoa, thiếu thành thật… đầy dẫy trong xã hội. Ý thức được tình trạng cùi hủi của mình do tội lỗi, ta hãy tin tưởng vào Chúa Giêsu, Đấng Chữa Lành. Và giờ đây, ta mang lấy tâm tình của vua Đavit mà thưa lên cùng Chúa: “Lạy Thiên Chúa! Xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 50 3-4).

 

Suy Niệm Chúa Nhật I Mùa Chay, B

St 9,8-15; 1Pr 3,18-22; Mc 1,12-15

CHIẾN THẮNG LÒNG THAM

 

Con người chúng ta thường hay ghen ghét, bất hoà, tranh chấp và có khi giết hại lẫn nhau. Vậy nguyên nhân ở đâu? Thưa, đó là do danh vọng và tiền tài. Ngay trong gia đình, những nề nếp gia phong cũng có thể bị đảo lộn vì danh vọng và đồng tiền. Con cái bỏ cha mẹ. Cha mẹ từ con cái. Vợ kết án chồng. Chồng ruồng bỏ vợ. Anh em bạn hữu chém giết nhau cũng chỉ vì đồng tiền, bát gạo.

Người ta cũng có thể chà đạp lẫn nhau, bất kể là thân hay quen, là bạn hữu xa hay gần, chỉ vì địa vị và quyền lực trong xã hội. Có những kẻ vì tiền mà mê muội. Có những người vì tình mà hoá dại. Có những người vì quyền lực mà đánh mất tính người. Nhưng có lẽ cơn cám dỗ lớn nhất của con người qua mọi thời đại, đó là đồng tiền, vì “có tiền là có tất cả”. Vì tham lam đồng tiền mà họ sẵn sàng đánh đổi tất cả: danh dự, phẩm giá, tình làng nghĩa xóm, tình cha nghĩa mẹ. Tình nghĩa thầy trò cũng không bằng ma lực của đồng tiền, như câu thơ: “Còn bạc, còn tiền còn đệ tử. Hết cơm, hết gạo hết ông tôi” (Thói đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Thật vậy, có biết bao kẻ đã bạc tình, bạc nghĩa chỉ vì họ đặt đồng tiền lên trên mọi mối quan hệ. Đồng tiền là đối tượng duy nhất để họ tôn thờ. Vì thế dân gian mới có câu: “Ông Tiền, ông Phật,  ông Tiên – Ba ông đứng lại, ông Tiền cao hơn”. Vì “Đồng tiền liền với khúc ruột”, nên nhiều người đã bất chấp mọi khó khăn gian khổ, mọi thủ đoạn mánh mung, miễn sao vơ vét, vun quén cho đầy túi tham của mình.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Macco nói về việc Chúa Giêsu đã chiến thắng các cơn cám dỗ. Vậy ma quỉ đã cám dỗ Chúa Giêsu về điều gì? Thưa, ma quỉ đã tìm cách lôi kéo Chúa Giêsu quay lưng lại với Chúa Cha, từ khước sống vâng phục thánh ý Chúa, để được thoả mãn cái bụng của mình. Ma quỉ mở hướng cho Chúa Giêsu về một tương lai đầy hứa hẹn, không chỉ có của ăn dư đầy từ những hòn đá, mà còn vượt xa hơn nữa, là nắm gọn trong tay cả và thiên hạ, có kẻ hầu người hạ và thừa hưởng mọi vinh hoa lợi lộc trần gian.

Năm xưa trong vườn Địa Đàng, ma quỉ đã chiến thắng ông bà Nguyên Tổ, khi nó đưa ra những lời có cánh đầy ngọt ngào hấp dẫn. Nhưng hôm nay, màn trình diễn của ma quỉ đã hoàn toàn thất bại. Chúa Giêsu không những khước từ những lời mời mọc của ma quỉ, mà Ngài còn cho ma quỉ thấy rằng: Không có gì cao quí hơn là được sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, sống trong sự qui phục Thiên Chúa, vì “người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”.

Ma quỉ tuy đã thất bại với Chúa Giêsu, nhưng nó vẫn dùng những chiêu thức ấy để tấn công con người. Trước tiên ma quỉ gieo vào lòng ta mối nghi ngờ về Thiên Chúa, về lòng thương xót và quan phòng của Thiên Chúa. Nó mở ra cho ta một sự so sánh, tính toán thiệt hơn. Cuối cùng, nó đưa ra một con mồi để quyến rũ ta, đó là danh vọng, tiền tài, địa vị và thú vui. Kết quả là nhiều người vì ham tiền, ham lợi, mà đã trở thành tay sai cho ma quỉ. Không những mình làm điều ác, mà còn lôi kéo, dẫn dụ nhiều người khác đi vào con đường tội lỗi.

Khởi đầu Mùa Chay, khi cho ta chiêm ngắm Chúa Giêsu đã chiến thắng các cơn cám dỗ, Giáo hội mời gọi ta ý thức về thân phận tội lỗi của mình và sức mạnh của sự dữ. Vì thế ta phải sám hối và tin vào tình yêu Chúa. Sám hối để nhận ra khuyết điểm của mình, mà cầu xin ơn tha thứ. Sám hối để canh tân đời sống. Sống sao cho phù hợp với Tin Mừng, để nhờ ơn Chúa giúp, ta sẽ từng bước hoàn thiện con người mình, như Chúa Cha trên trời là Đấng Hoàn Thiện.

MỘT LỜI CHÚC TẾT

Ý NGHĨA

Trung Thành

 

Trong số những lời chúc Tết rất phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, người ta luôn thấy có những lời chúc về sự thịnh đạt, sự sung túc, tiền tài, lợi lộc, phú quý. Chúc Tết là một nét đẹp truyền thống mà những ngày đầu năm chúng ta thường gửi tới người thân để bày tỏ tình yêu thương của chúng ta đối với họ. Tuy nhiên, là những người có đức tin chúng ta không chỉ nói lời cầu chúc như một thói quen xã giao, mà còn thực tâm cầu mong Thiên Chúa là cội nguồn mọi điều thiện hảo, thực hiện những điều tốt đẹp nơi người nhận lời chúc. Khi thực hành chúc Tết như thế, chúng ta khám phá thấy chính Lời Chúa dạy ta ý nghĩa đích thực của tiền tài, phúc lộc mà ta cần lắng nghe để lời chúc Tết của chúng ta ướp thêm hương vị của đức tin và lòng mến chân thành.

1- Hãy nhớ rằng chính Chúa là nguồn phúc lộc giàu có

Sách Đệ Nhị Luật chỉ thị rằng: “Anh em hãy nhớ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, vì Ngài ban cho anh em năng lực tạo ra sự giàu có” (8,18). Đôi khi chúng ta lầm tưởng tất cả những gì mình có, về của cải vật chất cũng như khả năng tinh thần, đều do mình làm nên, như có người nghĩ một cách tự mãn: Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm. Tuy nhiên, nếu Chúa không trợ giúp chúng ta chẳng làm được gì, như chính Người đã nhắn nhủ các Tông đồ (Ga 15,5). Còn thánh Gioan Tẩy Giả nói với các đồ đệ của ngài: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban”. Thánh Phaolô cũng đã nhắc nhở dân thành Côrintô:  “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1Cr 3,6) để phá tan sự chia rẽ giữa họ khi họ cậy dựa vào uy thế của một cá nhân và tự hào vì mình thuộc về một nhân vật nổi tiếng. Biết quy hướng về Chúa, chúng ta tìm được sự đỡ nâng thiêng liêng và ý nghĩa tối hậu cho mọi công việc của chúng ta.

2- Khi được giàu có thịnh đạt, hãy biết cảm tạ Chúa

Tiên tri Giêrêmia khuyến dụ chúng ta: “Đức Chúa phán thế này: Kẻ khôn ngoan, đừng tự hào mình khôn ngoan; kẻ hùng mạnh, đừng tự hào mình hùng mạnh; kẻ giàu có, đừng tự hào mình giàu có. Ai tự hào thì hãy tự hào về điều này, là hiểu biết Ta, vì Ta là Đức Chúa, Đấng thực thi nhân nghĩa, công bình và chính trực trên mặt đất.” (9,22-23). Khi được sung túc đủ đầy mọi mặt, chúng ta hãy nhận biết chính Chúa đã thương ban ơn lành cho chúng ta. Đồng thời chúng ta ý thức mình không đáng được ơn Chúa ban, vì có biết bao người hơn chúng ta nhiều mặt nhưng đã không được như vậy. Hãy nhớ lời Thánh vịnh để tạ ơn: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công. Thành kia mà Chúa không phòng giữ, uổng công người trấn thủ canh đêm. Bạn có thức khuya hay dậy sớm, khó nhọc làm ăn cũng hoài công. Còn kẻ được Chúa thương dầu có ngủ, Người vẫn ban cho đủ tiêu dùng.” (Tv 127). Biết khiêm tốn cảm tạ Chúa thì Chúa lại ban thêm ơn lành cho chúng ta.

3- Tránh xa mọi sự tham lam tiền bạc

Thánh Luca ghi lại lời Chúa nói trước khi Người kể một dụ ngôn về người phú hộ tham lam: “Chúa nói với họ: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.” (12,15). Qua kinh nghiệm ở đời, người ta nói túi tham của con người không có đáy. Ngày hôm nay, chúng ta thấy xã hội rối loạn, các gia đình đổ nát, tình nghĩa đoạn rời đều do lòng tham thúc đẩy. Quả thực, lòng tham tiềm ẩn một sức mạnh nguy hiểm phá đổ mọi hàng rào luân lí, “Tiền tài phá nhân nghĩa”; nó tạo ra cho người ta nguy cơ coi tiền bạc là tất cả, ngay cả con người cũng bị đặt xuống hàng thứ yếu, như có câu nói: “Tiền bạc là chúa trên đời, người ta là khách vãng lai một thì”, hoặc: “Tiền tài đi trước, mực thước đi sau”. Thật là quá nguy hiểm! Chúng ta xin Chúa cho chúng ta đừng sa vào thói tật độc hại này.

4- Tiền của không phải là tội, chỉ ham mê tiền bạc mới mắc tội

Thánh Phaolô viết cho ông Timôthê: “Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé.” (1Tm 6,10). Cần phân biệt tiền bạc là phương tiện chứ không phải cứu cánh. Chúng ta cần có những phương tiện đa dạng, đa năng để làm việc, để phục vụ cộng đoàn, để sống xứng đáng làm con Chúa… thì quả thực tiền bạc là một phương thế mạnh mẽ, hữu hiệu nhất. Nhưng nếu chúng ta coi tiền của như một mục đích, phải cầu đạt bằng mọi giá, bất chấp luân thường đạo lí, thì đó là một trọng tội. Thánh Phaolô đã tha thiết khuyên nhủ người môn đệ yêu dấu của mình tránh xa tật xấu này; lời đó vọng lại lời khuyên của người xưa: “Tích tài bất như tích đức!” Thật là sâu xa.

5- Biết trao lại cho Chúa những của cải mình làm ra

Sách Châm ngôn viết: “Của cải làm ra, con hãy dùng mà tôn vinh Đức Chúa, và hãy dâng lên Người phần hoa lợi đầu mùa của con.” (3,9). Bản tính con người là hay quên, đặc biệt là quên ơn Chúa. Khi được bình an, may lành chúng ta ít ai nghĩ đến Chúa và dâng lời tạ ơn Ngài, nhưng khi gặp khó khăn thử thách chúng ta thường kêu than oán trách Ông Trời hay gây ra cho ta bao oái ăm phiền toái. Do đó, Thánh vịnh 103 đã nhắc nhở chúng ta: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, chớ khá quên mọi ân huệ của Người.” (Tv 103,2) Thánh Lễ mà chúng ta cử hành mỗi ngày là một cuộc tạ ơn hoàn hảo nhất mà con người có thể dâng lên Chúa. Trong Thánh Lễ con người cảm tạ Thiên Chúa đã ban muôn ơn lành, vật chất và thiêng liêng cho mình. Xuất phát từ những cử hành tôn giáo, từ khá lâu một số quốc gia đã đặt Ngày Tạ Ơn (Thanksgiving Day) như một quốc lễ, với cùng một ý nghĩa là tạ ơn nhưng mở rộng đến toàn xã hội, để nhắc nhở con người hướng về Thượng Đế đã ban cho mình những ơn lành. Biết tạ ơn còn thúc đẩy chúng ta dùng những của cải Chúa ban để phục vụ Chúa và anh chị em chúng ta một cách quảng đại và mau mắn nữa.

6- Cần phải biết dự phòng

Châm ngôn viết: “Người đức độ để gia sản tới đời con đời cháu.” (13,22). Khi nói đến việc dự phòng, người Do Thái nghĩ nó trong tương quan với con cháu. Quả thật, nếu không biết lo xa thì chính những người thân trong gia đình phải gánh chịu hậu quả, như sau đó, cũng chính tác giả nhắc nhở: “Người giàu thì thống trị kẻ nghèo, người đi vay làm tôi cho chủ nợ.” (22,7) Với khí hậu khắc nghiệt của xứ Palestine và trong hoàn cảnh chiến tranh liên miên, cuộc sống xã hội Do Thái  luôn ở trong tình trạng biến động bấp bênh. Cần phải biết dự phòng để thoát được những bất trắc xảy ra cho gia đình và bản thân. Cổ nhân của chúng ta cũng đã có lời khuyên dạy: “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”. Câu chuyện ông Giuse cố vấn cho Pharaô để nhà vua chuẩn bị lương thực cho những năm mất mùa đói kém thật là sống động (St 41,42,43). Nhờ vua biết dự phòng mà toàn dân Ai Cập thoát được nạn nói khủng khiếp kéo dài. Cuộc sống hôm nay đổi thay dồn dập, các dịch bệnh và thiên tai hoành hành khắp nơi, chúng ta cần phải biết dự phòng để có thể đứng vững trước những khó khăn bất ngờ xảy đến.

7- Hãy đặt Chúa trên mọi của cải tiền bạc

Thánh Mátthêo viết: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (16,33). Như đã nói, tiền bạc là phương tiện trong cuộc sống, và cũng như mọi thứ phương tiện khác, nó tốt hay xấu là tùy cách nó được sử dụng. Tuy nhiên, tiền lại là phương tiện vạn năng, nó cho ta có tất cả những cái khác, kể cả những thứ mà chúng ta nghĩ không thể mua được bằng tiền với bất cứ giá nào, như lương tâm, tình nghĩa gia đình, nhân phẩm, sự trung thực… do đó tiền bạc dễ trở thành một vị thần bởi vì nó có sức cuốn hút rất mạnh mẽ làm cho chúng ta xa lìa quỹ đạo của Chúa và trở thành nô lệ của nó. Tiền cũng đánh lừa chúng ta, làm cho chúng ta tin rằng cuộc sống này được bảo đảm an toàn nhờ có nhiều tiền bạc, trong khi tất cả con người của ta, vận mệnh của ta từng giây từng phút là thuộc về Chúa: “Ngươi không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24). Trong Tân Ước, tiền của và lòng tham tiền của được hình tượng hóa thành một vị thần gọi là Mammon (Mt 6,24; Lc 16,13). Thánh Augustinô trong một bài giảng của mình đã nói: “Lucrum Punice Mammon dicitur” (tham lam tiền của chính là Mammon) (Serm. on Mt, ii); còn thánh Grêgôriô Nyssa thì xác quyết rằng “Tiền Của” chính là một tên gọi khác của Bêelzebul.

*

Mùa xuân đến đong đầy tâm hồn chúng ta những cảm xúc yêu thương đằm thắm. Chúng ta muốn gửi tới người thân những lời chúc mà chúng ta nghĩ là tốt đẹp nhất trong năm mới. Nếu chúng ta nói lời cầu chúc mà còn thành tâm cầu nguyện cho họ thì chúng ta tin rằng Chúa sẽ tùy cách mà ban những ơn lành cần thiết cho những người thân yêu của chúng ta. Kính chúc quý độc giả của Tĩnh Tâm một năm mới hạnh phúc và bình an.

 

 

    CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 2-2015

 

Bạn hãy đọc kĩ đoạn Tin mừng Mt 6,25-34 của Thánh lễ Tân Niên, rồi dựa vào đó xếp lại các từ ngữ đã bị đảo lộn chữ cái. Và qua những ô gợi ý có vòng tròn hãy cho biết hàng chữ cuối cùng là gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 12-2014

9 nhân vật trong khung chữ là:

1.AUGÚTTÔ 2. CHÚA THÁNH THẦN 3. EMMANUEN 4. HÀI NHI 5. HÊRÔĐÊ 6. MARIA  7. NHÀ CHIÊM TINH

8. NGƯỜI CHĂN CHIÊN 9. SỨ THẦN CHÚA

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 12-2014:

1.         Têrêsa Lương Thị Thùy Hương, Gx. Tân Hải, Kênh C2

2.         Maria Trần Thị Sợi, Gx. Bình Thái, Kênh F1

3.         Maria Phạm Thị Thúy Hằng, Gx. Kitô Vua, Kênh A2

4.         Mônica Nguyễn Thị Cẩm Tú, Gx. Lộ Đức, An Giang .

5.         Vinc. Vũ Trần Thanh Sơn, Gx. Tân Bùi, Kênh 4A

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

            - Email: jostrung.trung@gmail.com

            - Điện thoại: 01672576777

            - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

            Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên Giang

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Bản chất của Giáo hội

 

Giáo Hội tái sinh. Thế nào là Giáo Hội? Nó phải nên như thế nào? Tại sao lại gọi bản chất Giáo Hội là tông truyền và công giáo?

 

Tông truyền?

Tông truyền có nghĩa mối liên kết hàng ngang của Giáo Hội kinh qua mọi thời đại. Giáo Hội, trước hết, được nối vào nguồn lịch sử với mười một người được Chúa chọn (còn mười một người, sau đó Matthias được chọn thêm vào). Giáo Hội không phải là một huyền thoại hay một ý thức hệ bịa đặt, nhưng nó thật sự thả neo nơi biến cố Đức Giêsu Kitô lịch sử, và nó luôn có thể chỗi dậy một cách mới mẻ từ gốc tông đồ đó. Điều này được biểu lộ không những qua việc Giáo Hội trung thành với chứng tá và niềm tin của các tông đồ xưa, mà còn cả qua việc bí tích. Vì thế, chúng ta không thể lâu lâu lại bắt Giáo Hội phải như thế này hay như thế nọ được. Mà Giáo Hội luôn phải gắn chặt với nguồn, phải là một tiếp nối liên tục của nguồn đó. Bí tích Truyền chức linh mục cho thấy mối liên kết với cái nguồn không do ta tự nghĩ ra đó, và đồng thời cho ta biết Chúa Thánh Linh là Đấng bảo đảm cho sự liên tục.

 

Còn công giáo?

Công giáo dịch nghĩa là “bao gồm toàn thể”, là cho hết mọi người. Nghĩa là Giáo Hội của toàn thế giới, của mọi nền văn hoá và mọi thời. Điểm này rất quan trọng. Là vì Giáo hội không bao giờ được hạn hẹp lại trong một Giáo Hội quốc gia. Nó luôn phải vượt ra ngoài mọi biên cương. Không được trở thành một Babylon. Giáo Hội có mặt để nhân loại khỏi bị trấn át bởi cảnh hỗn loạn kình chống nhau. Nó có mặt để, bằng qua muôn thứ ngôn ngữ, dâng lên Thiên Chúa toàn bộ kho tàng tốt đẹp của nhân loại - và như vậy Giáo Hội cũng là lực giao hoà ở ngay giữa chính nhân loại.

 

Người công giáo có một lối nghĩ rất đặc biệt. Đó là một cách nhìn riêng về các biến cố, về con người và tất cả những gì xẩy ra trên sân khấu thế giới này. Có cách nào để định nghĩa lối nghĩ đó không ?

Khó nói. Tính cách công giáo thật ra được hình thành và nuôi dưỡng từ toàn thể lịch sử lòng tin, nhưng hình thái đặc thù của nó đã triển nở đặc biệt nơi Giáo hội phương Tây. Vì thế, một số yếu tố, mà ngày nay ta gọi là lối nghĩ công giáo, không đúng cho mọi thời và có thể đổi thay. Nhờ sự gia nhập của các dân tộc mới, nhờ việc bước ra tiến vào thời đại mới, mà ta có thể có được những thay đổi, những đào sâu, những đổi mới.

 

Tôi thấy hình như tự do đức tin nơi người Tin Lành bị hạn chế, họ ở trong tình trạng phải chọn một trong hai, hoặc cái này hoặc cái kia; còn nơi người công giáo có sự mềm dẻo hơn: Hoặc cái này lẫn cái kia. Công giáo coi trọng cái liên kết, nghĩa là chấp nhận cả kinh sách lẫn truyền thống, cả quyền bính lẫn tự do, cả đức tin lẫn việc lành. Đâu là cái khác đặc thù giữa Tin Lành và công giáo ?

Khó có thể trả lời một cách dễ dàng, nhất là khó mà quy vào một điểm duy nhất, mặc dầu quan điểm hoặc có hoặc không nơi Tin Lành khá rõ ràng. Chủ trương duy Kitô – chỉ có Đức Kitô mà thôi – rất mạnh trong lối nghĩ của Luther. Trong khi đặc điểm của Công giáo là cố gắng tổng hợp. Nhưng nên tránh lối phân biệt bằng những công thức mô mẫu, bởi vì phía Tin Lành có nhiều phái và bên Công giáo cũng mang nhiều thể - và nhất là vì ta chưa khai thác hết được những khả thể lịch sử trước mắt.

Dĩ nhiên, Công giáo luôn bài bác các công thức ‘duy’ của Tin lành, đặc biệt là duy Kinh, nghĩa là chỉ tin vào Kinh Thánh mà thôi. Công giáo vừa tin Kinh lẫn những gì tông truyền sống động, bởi vì tông truyền là chủ thể cưu mang Kinh, nó cũng là chủ thể Giáo Hội giải thích về Giáo Hội. Điểm « duy tin » cũng mang nghĩa giới hạn, là vì đức tin, trước hết, là cánh cửa duy nhất qua đó hồng ân Chúa đến với ta, nhưng rồi đức tin đó, như trong thư gởi Galát nói, phải được thể hiện trong tình yêu. Ơn công chính hoá của cuộc sống Kitô giáo hệ tại nơi sự hoà tan giữa đức tin và tình yêu. Vì thế phải phá bỏ cái duy ở đây.

Tóm lại, cái khuynh hướng mở, khuynh hướng mà ta không thể coi thường tầm quan trọng của nó, chống lại chủ nghĩa loại trừ mang tính một chiều của các cái ‘duy’ trên, là một trong những cái khác biệt nền tảng.  (Còn tiếp).

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ: GIÁO XỨ VÀ MÙA XUÂN

 

 

NĂM MỚI HẠNH PHÚC

 

Chuyện: Ông già ở cửa ải biên cương chỉ có duy nhất một cậu con trai, và một con ngựa để làm ăn sinh sống. Một hôm, bỗng nhiên con ngựa biến mất; xóm giềng bà con tới thăm an ủi vì cái họa ập xuống nhà ông. Ông già đáp: biết đâu đó là phúc. Quả nhiên, ít hôm sau, con ngựa quý trở về, kéo thêm mấy con ngựa nữa. Láng giềng đến chúc mừng chung vui. Ông nói: biết đâu đó là họa. Thật vậy, con trai ông cưỡi ngựa tranh đua phi nước đại với bạn bè, bị gãy chân. Bà con đến thăm, chép miệng cho là họa. Ông già bình thản trả lời: biết đâu đó là phúc. Sau đó có giặc, mọi trai trẻ trong làng phải tòng quân, ra biên cương khổ ải chiến đấu. Cậu quý tử độc nhất của ông, vì tàn tật, được ở nhà bình an yên hàn. Quả thật: May Rủi, Phúc Họa, khôn lường!

Đầu Xuân, ngày Tết, ngôn từ được nói nhiều nhất là Hạnh Phúc. Sống trên đời, ai cũng ao ước và tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân, gia đình, giáo xứ. Nhưng thế nào là hạnh phúc? Xưa, người ta coi Hạnh phúc là được Phúc Lộc Thọ, đông con, nhiều của, sống lâu sức khỏe. Có thời, người ta cho Hạnh phúc là được “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”. Nay, Hạnh phúc là “có việt kiều, giàu tiền đô, nhà mặt phố, bố làm to”. Tuy nhiên, đó là những hạnh phúc mong manh, phù du, chóng qua chóng mất. Đó là những phúc giả, lộc ảo: “Phù vân quả là phù vân, tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1,2). Công danh ở đời như nước đọng trên hoa; phú quý như sương phơi ngọn cỏ: Nắng lên, gió tới, tất cả đều tan đi biến mất. Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy: Có những thứ tưởng là phúc, mà kỳ thực lại là họa. Có những thứ ngỡ là đau khổ, mà hóa ra lại là nguồn bình an hạnh phúc đích thật.

Dù lắm tiền nhiều bạc, con người không thể thoát khỏi quy luật khắc nghiệt sinh lão bệnh tử: “Đồ ngốc, nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, những gì ngươi có sẽ về tay ai”.  (Lc 12,20). Đối với người tín hữu, bí quyết hạnh phúc là chấp nhận cuộc sống trong niềm tín thác nơi Chúa. Từ chỗ cam lòng đến bằng lòng và vui lòng, thì không còn khổ và chẳng phải lo. Nếu còn lo, thì “hãy trút mọi nỗi lo âu cho Chúa” (1 Pr 5,7), để tình yêu Chúa biến đổi tất cả những thứ đó thành ách êm ái và gánh nhẹ nhàng (x Mt 11,30). Chúa mời gọi chúng ta “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Ngài, Ngài sẽ ra tay” (Tv 37,5).

Điều này đã được Chúa Giêsu nói đến trong 8 mối phúc thật, được tóm gọn trong chân lý cơ bản này: Phúc cho ai sống có Chúa. Phúc cho ai sống như Chúa. Phúc cho ai biết chọn Chúa làm gia nghiệp: “Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành “(Tv 1,3). Thánh Âugustinô đã phung phí thời trai trẻ trong hạnh phúc giả trá. Có đủ mọi thứ trên đời mà không có Chúa, nên luôn băn khoăn khắc khoải, bất hạnh chán chường. Sau khi được ơn hoán cải trở về, thánh nhân tâm sự: “Ngài đã tạo dựng nên con cho Ngài. Ôi, lạy Chúa, và hồn con hằng luôn khắc khoải băn khoăn cho đến khi được nghỉ yên bên Ngài “.

Năm mới, đi đâu, gặp ai, người đời thường chúc nhau VẠN SỰ NHƯ Ý. Nhưng con người không bao giờ cảm thấy vừa ý, như ý, vì được voi đòi tiên, lòng tham không đáy! Cho nên cứ khổ mãi, than hoài. Năm mới, người tín hữu phải chúc cho nhau Vạn sự như ý CHÚA ! Đó là bí quyết hạnh phúc của Mẹ Maria :”Xin Vâng” (Lc 1,38). “Chúa bảo gì, cứ việc làm theo”(Ga 2,5). Đó là lẽ sống tuyệt đẹp của Chúa Giê-su : “Xin đừng theo ý con, chỉ xin vâng theo ý Cha” (Mc 14,36). Kim chỉ nam hạnh phúc của người công giáo được gói ghém trong Kinh Lạy Cha: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời “(Mt 6,10).

Người đời đặt trọn niềm tin nơi của cải vật chất. Họ tín thác đời mình nơi đồng đôla Mỹ. Nhưng bản thân tờ đôla thì tin cậy vào ai? Nếu nhìn kỹ, ta thấy trên bất cứ tờ đôla nào cũng in đậm in to hàng chữ IN GOD WE TRUST (chúng tôi tin cậy, chúng tôi tín thác vào Thiên Chúa). Năm mới, ước gì mỗi người công giáo chúng ta đều chúc cho nhau, và tự nói với mình IN GOD WE TRUST! Và đó là chìa khóa hạnh phúc đích thực của chúng ta! Quả thật: “Lạy Chúa, Chúa là hạnh phúc của con; Chúa là gia nghiệp của con, là hoan lạc đời con ”(x Tv 16,2.5).

Hạt Cải

 

TUNG CÁNH CHIM TÌM VỀ TỔ ẤM

Đóa Hoa Vô Thường

 

Mùa Xuân năm Ất Mùi đã về. Trong những ngày này, từng đoàn người xa nhà đang thu xếp công ăn việc làm để lên đường tìm về mái ấm gia đình, về thăm quê cha đất tổ. Cách nay ít ngày, khi hoàng hôn chưa tắt nắng, tôi cũng nhìn thấy một đàn chim trời đang tìm về tổ ấm. Chúng vừa bay vừa gọi nhau xôn xao cả một góc trời. Âm thanh “Quéc! Quéc!” của chúng vang vọng giữa bầu trời Xuân, khiến kẻ xa nhà như tôi cũng phải chạnh lòng man mác, vì nhớ mái ấm gia đình, nhớ cha mẹ, nhớ người thân.

Nhìn đàn chim bay trong cảnh trời Xuân thanh bình, bất chợt trong tâm trí tôi lóe lên một vài suy nghĩ về đời sống gia đình giáo xứ, đặc biệt trong “Năm tân Phúc Âm hóa đời sống các giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”. Xin mạo muội chia sẻ với anh chị em.

Điểm thứ nhất: Tôi thấy đàn chim luôn bay chung với nhau, theo đội hình chữ vê ngược (^). Mỗi con đều vỗ cánh bay rất nhịp nhàng và êm ái theo một lộ trình đã định sẵn. Người ta bảo rằng, đàn chim bay theo hàng chữ vê ngược như thế sẽ tạo thêm 17 % năng lượng sức mạnh cho nhau, hơn là từng con bay riêng lẻ.

Giáo xứ chúng ta cũng vậy. Cha ông ta vẫn nói: “Hợp quần gây sức mạnh”. Nghĩa là nếu tất cả mọi người trong gia đình giáo xứ chân tình hợp tác với nhau mà làm việc chung, thì chắc chắn công việc sẽ nhanh hơn, dễ dàng hơn và đạt hiệu quả hơn, vì khi ấy mọi người sẽ được tăng thêm sức mạnh, cùng thúc đẩy nhau, nâng đỡ nhau thăng tiến. Công việc dù có khó khăn cách mấy, nhưng với sức cộng tác chung cũng sẽ hoàn thành. Thực vậy “Niềm vui góp lại, niềm vui lớn. Nỗi lo chia sẻ, nỗi lo vơi”.

Điểm thứ hai: Khi có con chim nào bay lạc ra khỏi hàng ngũ, nó phải tìm cách mau chóng trở về hàng ngũ ngay, để nhận thêm sức mạnh nâng đỡ của bầy đàn. Nếu không, nó sẽ phải mỏi cánh bay cô đơn một mình giữa bầu trời rộng mênh mông. “Một mình một bóng đời mình. Một mình một bóng đơn côi, lạc loài”.

Giáo xứ chúng ta cũng vậy. Khi vì một lý do nào đó mà ta phải lạc bước ra khỏi gia đình giáo xứ, ta sẽ cảm thấy mình rất bơ vơ lạc lõng, mất cả điểm tựa vững chắc để nâng đỡ cuộc sống. Kinh nghiệm cũng cho thấy: Khi ta phải một thân một mình chống chọi giữa chợ đời, ta mới cảm thấy sự quý giá của mái ấm gia đình, của cộng đoàn giáo xứ. Khi mồ côi, ta mới thấm thía cái giá trị của tình nghĩa mẹ cha, tình anh chị em một nhà.

Điểm thứ ba: Khi con chim đầu đàn có dấu hiệu mệt mỏi, nó sẽ tự động bay lùi xuống hàng dưới ngay lập tức. Biết ý, một con chim khác trong đàn sẽ lập tức bay lên thay thế vị trí của con chim đầu đàn. Nó sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm dẫn đầu, can đảm chu toàn bổn phận định hướng cho cả bầy đàn. Cứ thế, bầy chim an tâm tung cánh tìm về tổ ấm.

Giáo xứ chúng ta cũng vậy. Thật là bất công cho gia đình giáo xứ, khi có ít người phải làm việc quá sức. Trong khi nhiều người khác xem ra lại quá nhàn hạ. Cũng thế, có nhiều gia đình, cha mẹ phải làm việc đầu tắt mặt tối, trong khi con cái lại rất dửng dưng như kẻ xa lạ. Cứ nhìn vào gia đình giáo xứ của mình, ta sẽ thấy rất ít người có tinh thần phục vụ và tự nguyện làm việc chung. Tuy ít, nhưng họ lại đang phải đảm đương tất cả mọi công việc của một gia đình giáo xứ. Về điểm này, không lẽ ta thua bầy chim?

Điểm thứ bốn: Những con chim vừa bay vừa kêu “Quéc! Quéc!” Âm thanh của chúng vang dội cả một góc trời. Cuộc hành trình của bầy chim có thể còn dài hằng chục cây số. Tổ ấm của chúng có thể còn rất xa. Chúng cứ thẳng cánh mà bay theo sự hướng dẫn của con đầu đàn. Nhưng thỉnh thoảng chúng vẫn phải kêu lên như thế, như để động viên nhau, khích lệ nhau bay cho đúng hướng, giúp nhau giữ vững tốc độ và nhịp nhàng bay về tổ ấm.

Giáo xứ chúng ta cũng vậy. Trong cuộc hành trình tiến về tổ ấm quê trời, ta rất cần những lời khích lệ nhau, rất cần những lời động viên nhau sống cho có ích, rất cần những nghĩa cử cảm thông liên đới trách nhiệm. Nhưng trớ trêu thay, có khi gia đình giáo xứ của ta đang rất thiếu những điều ấy. Trong khi đó lại có quá nhiều những lời nói ghen tương, gièm pha, gây chia rẽ, đạp đổ đời nhau. Về điểm này, không lẽ ta thua bầy chim?

Điểm thứ năm: Mỗi khi đàn chim dừng cánh để nghỉ ngơi hay kiếm ăn, không bao giờ tất cả đàn chim cùng cúi đầu ăn một lúc. Luôn luôn có một vài con đứng ngẩng đầu cao, để canh chừng cho những con khác ăn. Chúng kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi những con kia ngẩng đầu lên, lúc đó những con canh gác mới cúi xuống ăn. Cứ thế, chúng thay phiên nhau canh chừng kẻ thù và bảo vệ lẫn nhau. Một hình ảnh quá đẹp.

Giáo xứ chúng ta cũng vậy. Trong gia đình giáo xứ, mỗi người cũng phải biết tự nguyện chia sẻ trách nhiệm tỉnh thức, để canh chừng và bảo vệ lẫn nhau, để tránh khỏi những nguy hiểm của ba thù là thế gian, ma quỉ và xác thịt. Biết bao cơn cám dỗ đang ngày đêm rình rập gia đình giáo xứ của ta trên hành trình tiến về tổ ấm quê trời. Ta có thể tỉnh thức bằng lời cầu nguyện, bằng sống Lời Chúa, bằng tham dự các Bí tích. Về điểm này, ai cũng có thể làm được.

Điểm cuối cùng: Khi một con chim bị bệnh, hay mang thương tích mà phải rơi xuống đất, thì ngay lập tức sẽ có một vài con khác tự nguyện hạ cánh xuống đất, để giúp đỡ và bảo vệ con vừa bị rơi. Chúng tình nguyện ở lại đó để đồng cảm với con bị rơi, cho đến khi con bị thương có thể bay, hoặc chết đi. Lúc đó chúng mới an tâm tung cánh bay đi, hòa nhập vào một bầy đàn khác, hoặc cố gắng bắt kịp bầy cũ của nó.

Giáo xứ chúng ta cũng vậy. Đây là một bài học về tình nghĩa gắn bó giữa các thành viên trong gia đình giáo xứ. Mọi người trong cộng đoàn luôn sống chết với nhau trong mọi hoàn cảnh, nhất là khi bị thử thách, hay gặp chuyện buồn đau. Anh chị em cũng biết, trước khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả chúng ta chỉ muốn có nhau trong giờ phút cuối đời. Ai cũng muốn ra đi trong tình thương mến của gia đình, của mọi người trong giáo xứ. Chẳng ai muốn chết trong cô đơn. Điều ấy chúng ta vẫn làm. Nhưng ước gì mình có cách làm tốt hơn nữa.

Tết đến, Xuân về. Nhìn đàn chim tung cánh bay tìm về tổ ấm, tôi cũng dâng lên Chúa lời cầu nguyện, mà nhạc sĩ Phanxicô đã viết: “Ngày đầu Xuân bao người đi xa cũng về với gia đình, cũng về với ân tình, ngất ngây với nguồn yêu mến, dâng đến lòng mẹ cha bông hoa là lòng biết ơn. Ngày đầu Xuân dâng lên Chúa lời kinh của gia đình, mong ước đời an bình. Mong Ngài ban muôn ơn cho người con yêu thương, cho những người mà con yêu thương…”.

Lạy Chúa! Năm nay là “Năm tân Phúc Âm hóa đời sống các giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”, nhìn từng cánh chim bay tìm về tổ ấm, con đã nhận ra những bài học thiết thực cho đời sống gia đình giáo xứ của con. Xin Chúa giúp chúng con thực sự yêu thương nhau, sống gắn bó đùm bọc nhau, sống đoàn kết với nhau, để làm chứng cho Chúa.

 

HỒN QUÊ

 

Tình cờ tôi nghe được những giai điệu thật vui tươi do một tốp ca thể hiện trong bài hát: “Tết Quê Em” của nhạc sĩ Từ Huy trên chuyến xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá. Bài hát đã làm cho bầu khí trên xe trở nên nhộn nhịp, ồn ào: “Tết tết tết tết đến rồi…Tết đến trong tim mọi người!” Nhưng Tết là gì? Mà kiều bào ở hải ngoại, hàng năm có hàng trăm ngàn người đã vượt cả nửa vòng trái đất (20.000km) chẳng quản tốn phí; hàng triệu người trong nước từ học sinh, sinh viên, đến công nhân viên chức ở các thành phó lớn, có khi đã phải đi bộ hàng trăm km; đi xe hai bánh cả ngàn cây số; đặt vé xe đò, xe lửa, vé máy bay cả mấy tháng trước để có một chỗ “về quê ăn tết”. Quả thật, Tết từ bao đời đã là ngày hội lớn truyền thống, thiêng liêng, huyền diệu bất tử đã ở trong tim, trong máu, trong xương thịt của mỗi người Việt Nam. Và đặc biệt là với những người tha hương. Ta cùng tìm hiểu một đôi nét về Tết.

Nguồn gốc Tết

Tết còn được gọi đầy đủ hơn là Tết cả, Tết ta, Tết Âm lịch, Tết truyền thống, Tết nguyên đán. Còn chữ Tết chính là chữ tiết “Thời tiết”; chữ “nguyên” là khởi đầu; chữ “đán” là buổi ban mai. Vậy, Tết nguyên đán là tiết trời bắt đầu buổi ban mai ngày đầu tiên mùa xuân của năm mới, theo sự vận hành của trời đất, có bốn mùa trong một năm: Xuân -Hạ -Thu -Đông. Tết đã có từ đời Tam Hoàng, Ngũ Đế bên Trung Quốc cách nay cả gần 5000 năm. Còn ở Việt Nam Tết đã có từ đời Lý, Trần, Lê cách nay cả 10 thế kỷ.

 

Tết Nguyên đán là ngày lễ lớn nhất trong năm, không chỉ riêng đối với người Việt, mà nó còn là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của nhiều nước Châu Á như: Trung Quốc, Mông Cổ, Singapore, Bán đảo Triều Tiên. Tết nguyên đán, đánh dấu kết thúc một mùa đông lạnh lẽo, và khởi đầu cho một mùa xuân, với những chồi non đâm tược cùng muôn sắc hoa rộ nở, đặc biệt ở Việt Nam là hoa đào miền Bắc, hoa mai miền Nam mang lại bao hy vọng an lành, tốt đẹp, may mắm và được mùa trong năm mới. Đó chính là mong ước của người dân, những nước thường coi nông nghiệp là nghề chính. Trong khi đó, Tết nguyên đán không được các nước phương Tây quan tâm. Các nước phương Tây họ tổ chức mừng Tết Dương lịch thật long trọng hoành tráng. Ngược lại, người Châu Á, cũng như Việt Nam chưa chú trọng nhiều đến Tết Dương lịch. Dù ngày nay đã hội nhập sâu, nhưng Đông vẫn là Đông, Tây vẫn là Tây.

Giao thừa, giây phút thiêng liêng

Thời khắc linh thiêng của Tết nguyên dán diễn ra trong giữa đêm ba mươi, đêm mà trời đất giao hoà, kết duyên để tiễn đưa năm cũ, và tiếp nhận năm mới. Đó chính là giây phút Giao thừa thiêng liêng huyền diệu của ngày Tết. Giây phút mà thi sĩ Hàn Mạc Tử đã thốt lên: “Giây phút thiêng liêng đã khởi đầu”. Các gia đình theo đạo Công Giáo thường chờ đón giây phút thiêng liêng Giao thừa để đọc kinh cầu nguyện, cúi đầu cảm tạ Chúa: “Cúi xin Đấng tạo thành trời đất, xuống cho đoàn con muôn ngàn phúc cả từ núi Sion” (Thánh Vịnh 133,3) và gia đình cùng cảm tạ Chúa trong Thánh lễ Giao thừa linh thiêng đó: “Trong giờ phút Giao thừa này, chúng con hướng tâm hồn lên Chúa. Cúi xin Chúa rộng ban cho chúng con một năm dồi dào phúc lộc, và đầy lòng hăng hái làm việc lành để tôn vinh Danh Chúa” (Ca nhập lễ đêm Giao thừa).

Tết, lễ hội truyền thống thiêng liêng của dân tộc

Tết là một lễ hội truyền thống của dân tộc, đầy tính nhân văn cao đẹp. Đây là dịp để mọi người nhớ đến Trời đất, cảm tạ đất Trời đã ban cho một năm 365 ngày bình an, may lành, và để cầu Trời đất, ban cho một năm mới mưa thuận gió hoà, được mùa, mọi người mạnh khoẻ, gia đình hạnh phúc. Tết còn là một dịp tốt, thuận lợi để ta tỏ lòng tôn kính thăm viếng, báo hiếu tổ tiên ông bà, cha mẹ nội ngoại, bà con chú bác cậu dì, thầy cô và thân hữu: “Mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ, mùng ba tết thầy”.

Tết với Giáo Hội Công Giáo.

Giáo Hội Công Giáo luôn xác tín và loan báo đến muôn dân là chính Thiên Chúa mới là Vua vũ trụ muôn loài, Ngài là chủ của thời gian, là chủ vận hành của trời đất vũ trụ, là chủ cuộc sống của chúng ta và muôn loài. Vì thế,  mỗi ngày trong ba ngày Tết đều mang một ý nghĩa trong đại. Mồng một Tết, nơi mỗi giáo xứ dâng lễ cầu bình an cho năm mới. Trong Thánh lễ đầu năm, nơi các nhà thờ, thường có lệ hái lộc xuân là những câu trích trong Kinh Thánh, như nhắc nhở mỗi gia đình cần sống và làm những gì trong năm mới để hợp ý Chúa; mồng hai Tết Giáo hội dâng lễ kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ, thường được tổ chức dâng lễ nơi nghĩa trang của giáo xứ; mồng ba Tết Giáo hội dâng lễ thánh hoá công ăn việc làm, còn gọi là lễ cầu mùa nơi vùng nông thôn. 

Về quê ăn tết

Về quê ăn Tết là một cụm từ không biết đã có từ bao giờ, nhưng hiện nay nó đã trở thành một câu nói cửa miệng, của mọi người mỗi dịp xuân về, Tết đến. Về quê ăn tết là để tận hưởng, để cảm nhận đầy đủ nhất, thắm thiết nhất, đầm ấm nhất cái hương vị ngọt ngào trìu mến thân thương, trữ tình đầy tính nhân văn của quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên, ông cha ta từ bao đời nay, cả về tinh thần, cũng như hương vị lương thực đặc trưng của ngày Tết, dù đó chỉ là: “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh” (Câu đối Tết). Về quê ăn tết là để sống lại những phút giây ngọt ngào thơ mộng thần tiên thân thương của tuổi thơ bên bạn bè, bên gia đình. Về quê ăn tết, là để chia vui sẻ ngọt với gia đình sau 365 ngày xa cách, để sống lại những phút giây đoàn tụ gia đình. Điều này được diễn tả đầy cảm xúc, trữ tình ngập tràn hình ảnh thân thương qua bài thơ: Tết đoàn tụ của nhà thơ Cao Gia An: “Con đi cả năm Tết mới về một bận/ Náo nức giữa lòng giây phút đoàn viên/ Nhà mình nghèo bao sóng gió ngả nghiêng/ Tụi con lớn lên anh em mỗi người một ngả…” (Trích trong bài thơ Tết đoàn viên của Cao Gia An Sj). Có lẽ, những điều nêu trên chỉ mới nói lên được một phần trăm, phần ngàn những điều đáng nói trong ngày Tết truyền thống của dân tộc. Nhưng nó đã nói lên được phần nào những giá trị tinh thần, hồn thiêng của quê hương, hồn thiêng của miền quê, nơi có những “Bà mẹ quê”, những ông bố một nắng hai sương, lưng còng gối mỏi mòn mỏi đợi con về đoàn viên trong ba ngày Tết thiêng liêng. Đó là những tinh tuý vô giá của quê hương làm sao ta không nhớ không thương! đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân đã mô tả: “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như chỉ một Mẹ thôi/ Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người”

Tôi nghĩ, Tết chính là cái hồn, cái bất tử của quê hương của dân tộc của đất nước mãi mãi ở trong tim mỗi người dân Việt chúng ta từ bao đời nay: “Tết tết tết tết đến rồi…Tết đến trong tim mọi người” .

 

                                                                       Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

NHẬN VÀ CHO

 

Khi nói đến giáo xứ như một gia đình thì đâu là những thực hành mà mỗi thành phần trong gia đình đó cần phải sống để xây dựng giáo xứ mình trở thành một gia đình đích thực, Gia Đình của Chúa? Chuyện kể rằng: Ở Palestine có hai biển: Biển Galilê và biển Chết. Cả hai biển này đều tiếp nhận nước của dòng sông Giođan chảy vào, thế nhưng sự khác biệt giữa hai biển thật lớn lao. Biển hồ Galilê nước trong xanh, có nhiều cá. Màu xanh đã tô điểm cho bờ hồ. Dòng sông Giođan đã làm nên biển hồ Galilê với những dòng nước lấp lánh chảy từ trên đồi xuống. Biển hồ Galilê tràn đầy ánh sáng mặt trời. Người ta xây nhà cạnh biển. Chim chóc cũng về đây làm tổ trú ngụ làm cho bầu khí càng vui tươi. Dòng sông Giođan cũng chảy theo hướng Nam vào một biển hồ khác, gọi là biển Chết. Gọi là biển Chết, vì ở đây như chẳng có sự sống: không cá mú, không hoa bướm, không tiếng chim, không có cả tiếng cười trẻ thơ. Du khách ít qua lại đường này trừ khi có công việc cấp bách. Không khí ảm đạm bao phủ mặt nước biển. Người và vật không thể uống nước biển này. Điều gì đã tạo ra sự khác biệt giữa hai biển hồ? Chẳng phải do sông Giođan, bởi vì nó luôn đổ vào cả hai biển với những dòng nước như nhau. Khác biệt là ở chỗ này: biển hồ Galilê nhận nước của sông Giođan nhưng không giữ lại cho mình nhưng lại chảy ra chỗ khác. Còn biển Chết nhận nước nhưng không chảy đi đâu nên trở thành như ao tù. Biển hồ Galilê luôn cho đi và nó trở thành tràn trề sự sống. Biển kia chẳng cho gì cả nên gọi là biển Chết.

Thực vậy, trong cuộc sống cũng thường có hai loại người như vậy. Một loại chỉ biết sống cho riêng mình, chỉ qui về mình nên cuộc sống không thể triển nở, không niềm vui, không hạnh phúc, khác nào như biển Chết. Một loại người khác biết sống vị tha và đời họ hạnh phúc và nhiều niềm vui. Họ là biển Hồ Galilê. Khi sống theo phong cách sống của biển Hồ Galilê, đó là ta vươn tới sự trọn hảo của tình yêu (tình yêu Agape). Nghĩa là, chúng ta không chỉ có nhu cầu nhận mà còn có nhu cầu chia sẻ những gì mình nhận được với người khác, nghĩa là biết cho đi. Sự chia sẻ chính là cách ta luôn tìm đáp ứng nhu cầu hạnh phúc của người khác hơn là đáp ứng nhu cầu của chính mình; là sống cho nhu cầu hạnh phúc của người khác chứ không chiếm hữu mọi thứ cho riêng mình. Khi biết chia sẻ là khi ta luôn biết đồng cảm cảm với người khác: hạnh phúc của người khác là của mình; và nỗi đau của người khác cũng là của mình. Thế nhưng thật trớ trêu, chúng ta lại bắt đầu cuộc sống con người của chúng ta với một cách thức vị kỷ lạ thường. Chúng ta được sinh ra là những đứa trẻ nghèo nàn và hoàn toàn vị kỷ. Rồi khi là những đứa bé mới chập chững biết đi thì chúng ta cũng tự cho mình là trung tâm. Chúng ta nhận và chỉ nhận từ thế giới bên ngoài: từ cha mẹ, gia đình chúng ta, từ tất cả mọi người! Xét cho cùng, đó là cách mà Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta nhận không phải là chỉ cho mình, mà với thời gian, khi chúng ta ngày càng trưởng thành thì “việc đón nhận” giảm xuống, và “việc cho đi” sẽ gia tăng. Sau khi đón nhận quá nhiều trong thời niên thiếu từ gia đình, bạn bè của chúng ta và từ Thiên Chúa, chúng ta bắt đầu quan tâm đến việc cho đi và giúp người khác tận hưởng cuộc sống của họ. Điều đó chứng minh cho sự trưởng thành của một con người. “Chúng ta đón nhận nhưng không, thì chúng ta hãy cho nhưng không”.

Một người trưởng thành là luôn biết ý thức về những nhu cầu của người khác. Đó là cách thức chúng ta phát triển và trở nên chính mình. Để kiểm định xem chúng ta có thực sự trưởng thành trong nhân cách hay không, đơn giản, chúng ta có thể tự đặt ra một loạt những câu hỏi vào cuối một ngày sống của chúng ta. “Bao nhiêu lần tôi nghĩ là tôi đã nhận được gì trong cuộc sống ngày hôm nay? Bao nhiêu lần tôi nghĩ tôi đã cho đi được bao nhiêu?” Ví dụ, khi tôi nghĩ về gia đình hay bạn bè tôi, hoặc khi nghĩ về Giáo Xứ, trước hết tôi nghĩ về điều mà tôi có thể làm cho họ hay điều họ sẽ làm cho tôi? Trưởng thành trong nhân cách sống là tôi biết cho đi. Nghĩa là, tôi luôn ý thức mình phải tận dụng thời gian để đáp ứng và giúp người khác tận hưởng cuộc sống. Chia sẻ là cho đi cuộc sống, là thông truyền sức sống. Sự chia sẻ không làm cho con người kiệt sức. Vì, khi biết chia sẻ thì ta không có khái niệm về sự mất mát, mà chỉ có sự sung mãn xuất phát từ một cảm xúc trọn vẹn trong việc cho đi điều mình đã đón nhận, như biển Hồ Galilê.

Thực vậy, theo Kinh Thánh: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20, 35). Thế nhưng, cho cái gì? Đây là điều rất quan trọng. Rất có thể ta đã cho, nhưng những gì ta cho lại chẳng đem lại lợi ích cho người mình cho. Ta cũng cho, nhưng ta lại chỉ cho sự ích kỷ, sự ghen tuông, sự đố kỵ, hận thù và ghen ghét. Cho như vậy chẳng khác gì không cho, và đó là cách “cho” của biển Chết trong câu truyện trên. Không biết chia sẻ cho người khác, cứ giữ những gì mình có cho riêng mình như: tài năng, trí tuệ, của cải, không nhiệt tâm phục vụ anh chị em, không biết sống quảng đại tha thứ, không dám hy sinh cái tôi ích kỷ của mình, cố chấp trong những định kiến riêng, không dám nhận lỗi và xin lỗi, vô tình, vô tâm trước những đau khổ của người khác, nhẫn tâm và ác tâm làm hại người khác, và nhất là sống vô ơn với những người làm ơn cho mình, ta chẳng khác gì biển Chết. Là biển Chết, ta chẳng những không thể trao ban sức sống cho những người sống chung quanh ta, mà còn giết chết chính mình.

Thế vậy, cần phải cho cái gì để ta thực sự là người có phúc? Thưa, đó là cho sự khiêm hạ. Sống trong cộng đoàn giáo xứ, việc mỗi người - linh mục, các tu sĩ, Hội Đồng Mục Vụ, Các Hội Đoàn và mọi thành phần Dân Chúa - biết cho đi sự khiêm hạ là điều rất quan trọng. Đó là yếu tố chính yếu để xây dựng Giáo Xứ thành gia đình đích thực. Cho sự khiêm hạ, đó là ta ý thức mình yếu đuối, thấp hèn; ý thức mình cũng có những giới hạn để rồi biết sẵn sàng đón nhận những góp ý của người khác. Nhờ biết cho đi sự khiêm hạ, ta biết sống quảng đại tha thứ để rồi cũng được thứ tha; biết sống hài hòa với mọi người để tránh lối sống bè phái, đố kỵ; biết sống ân cần phục vụ để tránh lối sống phách lối, kẻ cả; biết mình cũng có những sai lỗi để nói lời xin lỗi, hầu có thể thăng tiến; biết mình là người đã từng nhận ơn để biết nói lời cám ơn, và sống cho xứng với những gì mình lãnh nhận.

Ơn Chúa ban cho mỗi người là công bằng và đáp ứng tùy theo nhu cầu và đặc sủng riêng của mỗi người, và ơn Chúa ban cho con người là để con người, đến lượt mình, cũng trao ban cho người khác. Vậy, mỗi người sẽ phải sử dụng ơn Chúa ban, không chỉ để mưu ích cho mình, mà còn là cho người khác nữa, và khi đó không những ta được hạnh phúc mà người khác cũng được hạnh phúc. Nước của biển Hồ Galilê, được bắt nguồn từ sông Giođan, luôn trong xanh và là nguồn sống cho những sinh vật khác là bởi vì nó chảy đi, nghĩa là nó không giữ lại cho mình, nó biết cho đi; trái lại, biển Chết, cũng nhận nguồn nước từ sông Giođan, nhưng nó lại chẳng đem lại lợi ích cho những sinh vật khác là bởi vì nó không có chỗ thoát, nghĩa là nó không biết cho đi. Nó chỉ biết giữ lại tất cả những gì nó nhận cho riêng mình trong sự kiêu căng và ích kỷ. Vậy, mỗi ngày, tôi cần phải xét xem tôi là biển Hồ Galilê hay là biển Chết? Ước mong trong năm Phúc Âm Hóa Đời Sống giáo xứ, mỗi người hãy biết ý thức sống phong cách sống của biển Hồ Galilê, biết sống hy sinh và cho đi vì nhu cầu của người khác. Khi mỗi người trong giáo xứ sống được như vậy, chắc chắn bầu khí sống đạo trong giáo xứ sẽ trở nên xanh mát như nước biển Hồ Galilê, mọi người sống chan hòa với nhau với tình thân của những người trong một gia đình.

Hương Quê

 

SUY NGẪM VỀ NGÀY TẾT

TRÊN QUÊ HƯƠNG CHÚA GIÊSU

Giuse Phúc Huy

           

Nhân dịp Tết sắp đến, ta cũng hãy thể hiện tình yêu đối với Chúa, qua việc tìm hiểu xem, dân Chúa ngày xưa đón Tết như thế nào? Ta có thể học hỏi được gì cho đời sống của mình chăng?

Dân Do Thái đón Tết vào ngày nào?

Ngày tết của người người Do Thái không trùng với tết “Tây” và tết “Ta” của người Việt, nhưng rơi vào khoảng tháng 4 dương lịch, nhằm tuần thánh phục sinh của năm phụng vụ. Một điểm khác biệt so với các dân tộc khác là ngày đầu năm của Do Thái là ngày giữa tháng giêng chứ không phải là ngày 01 tháng 01. Lý do của sự khác biệt này bắt nguồn từ biến cố Xuất Hành. Khi dân Do Thái còn là nô lệ bên Ai Cập, Thiên Chúa đã ra lệnh cho Môsê và Aharon rằng: “Đối với các ngươi, tháng này phải là tháng đầu cho tất cả những tháng khác, tức là tháng đầu tiên trong năm”(Xh 12,1). Do đó, Môsê đã lấy tháng giêng là tháng xảy ra những biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Do Thái: dân Do Thái được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập tiến về miền đất tự do. Để kỷ niệm biến cố lịch sử này, trong tháng giêng có lễ hội Massôth, kéo dài 7 ngày, trong đó có lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men. 7 ngày này được xem là những ngày cuối năm. Ngày thứ 8 là ngày Thiên Chúa giải phóng dân Người ra khỏi Ai Cập, mở ra một kỷ nguyên mới, nên họ coi đó là ngày đầu năm mới hay ngày Tết của họ.

Người Do Thái làm gì vào những ngày cuối năm?

Trong khi dân tộc Việt Nam, trước tết Nguyên Đán 7 ngày, có tục lệ đưa “Ông Táo” về trời vào ngày 23 Tết. Còn dân Do Thái, trước tết 7 ngày thì bắt đầu lễ hội Massôth. Mục đích của lễ hội này là dịp để người ta thanh toán tất cả những gì còn lại của năm cũ, là hiện thân của “linh khí thảo mộc cũ”: những gì ăn được phải ăn cho hết, hoặc tiêu hủy hay đốt cháy hết, không được để lại bất cứ thứ gì của mùa màng cũ khi mùa gặt của vụ mùa mới bắt đầu. Điều này xuất phát từ lệnh truyền của Thiên Chúa: “Các ngươi chớ để chi còn lại đến sáng mai, nếu còn lại, hãy thiêu đi”(Xh 12,). Chính vua thành Giêrusalem là người đầu tiên và đại diện cho dân thực hiện tinh thần tự hủy tất cả những gì thuộc “linh khí thảo mộc cũ”. Sau 7 ngày, “linh khí thảo mộc cũ” xem như đã chết. Ngày thứ 8 là ngày “linh khí thảo mộc” sống lại trong con người mới.

Còn ngày đầu năm thì sao?

Vào ngày thứ 8 lúc mặt trời mọc là lúc “giao thừa”, nhà vua trở về thành của mình. Vừa về đến thành thì có tiếng Tù Và nổi lên, và vua bước lên ngai vàng lần đầu tiên. Thế là một năm mới bắt đầu. Trong khi đó thì dân chúng, đại diện các gia đình sẽ ra đồng để cắt một bó lúa đầu tiên khởi đầu cho một mùa gặt mới.( x. Nguyễn Chính Kết, Tìm hiểu Tết của người Do Thái xưa, tr.61-64)

Suy ngẫm việc đón tết của dân Do Thái, ta rút ra bài học gì ?

Thứ nhất là bài học về sự dứt khoát từ bỏ những gì là năm cũ, không để quá khứ làm tâm hồn phải dằn vặt mãi. Chúa Giêsu muốn mỗi người hãy sống tinh thần này. Ngài không vui thích gì khi một người tội lỗi bị day dứt và mặc cảm vì tội lỗi mình. Ngài luôn mở cho con người một cánh cửa đi về tương lai, như trong lời Ngài nói với người phụ nữ phạm tội ngoại tình: “Tôi không kết án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (x.Ga 8,11). Ta cũng hãy vượt qua vướng bận của quá khứ để tha thứ cho chính mình nữa.

Thứ hai, tôi thấy dân Do Thái đón Tết trong sự qui hướng về Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện và cứu thoát họ. Do vậy, ngày tết không chỉ là ngày họp mặt ăn uống vui chơi, mà là ngày nhớ ơn và cám ơn Thiên Chúa, Đấng đã luôn đồng hành với ta trong mọi niềm vui nỗi buồn, thôi thúc lòng ta tránh xa tội lỗi, nâng đỡ ta khi ta trót phạm, luôn chờ đợi dù ta ngoảnh mặt với Ngài.

Và thứ ba là bài học tôi thích nhất, bài học về việc “đi bước trước”. Tôi thấy Vua là người đứng đầu một nước. Ngài lại là người dẫn đầu đoàn rước tiến lên núi Chúa, dành thời gian 7 ngày để xét mình, sám hối trước mặt Chúa, để được Chúa biến đổi sống tốt hơn trong năm mới. Nhà vua mà làm gương về sự khiêm tốn như vậy thì con dân sẽ rất nể phục và noi gương. Đây hẳn là bài học hay đáng để những người lãnh đạo và mọi người bắt chước. Khi một người lãnh đạo dám sống tinh thần đi bước trước này, thì những người thuộc về mình cũng theo gương đó mà sống hiệp nhất với nhau. Nhưng để sống tinh thần này thì thật là khó vì nó đòi hỏi một sự từ bỏ “cái tôi ham danh tham quyền”, để sống khiêm nhường thực sự.

 

 

XIN CHỈNH LẠI TẦNG SỐ

Đức An

           

Vào dịp tết, người ta thường trao cho nhau những quà tặng. Với Thiên Chúa cũng vậy, chỉ khác hơn: Chính Ngài là chủ thể tặng quà, người nhận là nhân loại. Khi người ta tặng quà cho nhau hai bên cùng có lợi. Nơi Thiên Chúa, Ngài chả có lợi gì, đôi khi còn bị tủi nữa, ta tự hỏi tại sao Ngài lại tủi? Để có câu trả lời, ta phải rõ món quà Thiên Chúa tặng cho con người là gì. Món quà đó khi nhìn bên ngoài đâu có gì là đặc biệt, chỉ là một tấm bánh hình tròn nhỏ. Nhưng nhìn bằng linh hồn ta phải ngỡ ngàng, thật khó có thể tin: Một món quà mà cả đất trời không chứa nổi, nay lại biến hình thu nhỏ ẩn trong một tấm bánh bình thường. Món quà kết tinh bằng tình yêu. Ôi! Mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người thật không thể hiểu thấu. Một món quà vô giá được gói trọn trong tấm bánh đó chính là: “Đức Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc nhân loại”.

            Để niềm tin chúng ta thêm vững mạnh Chúa Giêsu đã khẳng định: “Đây là thịt Tôi, đây là máu Tôi. Ai ăn thịt và uống máu Tôi, sẽ được sống đời đời”. Một lời mà chỉ Thiên Chúa mới nói được. Ngài còn thêm: “Ai ăn thì sống, không ăn thì chết”. Khi dân Do Thái nghe Ngài nói họ cho là Ngài điên. Vâng Ngài điên thật, điên vì yêu.

            Ôi! Thiên Chúa đã ban cho loài người một món quà vô giá, một món quà ăn được mà không bao giờ hết. Ngài còn năn nỉ, mời gọi đến ăn chỉ với một điều kiện: Có thiện chí và tâm hồn trong sạch.

            Với xã hội ngày nay, sống theo chủ nghĩa duy vật chất, người ta đang muốn gạt Thiên Chúa ra bên lề cuộc sống. Chỉ có cuộc sống thực dụng giống như mỳ ăn liền đang phổ biến. Bởi thế, nói chi tới lời mời gọi của Thiên Chúa.

            Còn nhiều sự trường hợp xẩy ra sự thật quá bẽ bàng, khi chứng kiến những ngày lễ Chúa nhật: Một số người đi lễ đứng ngoài nhà thờ dựa xe, dựa cột, nói chuyện hút thuốc, chơi điện thoại cả một thánh lễ, rồi họ cũng lên chịu lễ, chủ tế chưa ban phép lành, xe đã nổ máy dọt ngay, thử hỏi: Không những Chúa tủi còn nhục nữa. Họ coi thường còn hơn một ông khách đến nhà chơi. Tôi có cảm nghĩ: Họ lên chịu lễ như ăn một miếng bánh bình thường. Họ lên để che mắt người đời, để lấy tiếng khen. Bởi thế, sau khi được rước Chúa vào linh hồn, họ đâu có thưa gì với Chúa, mà biết gì để thưa. Hầu như họ không nghĩ gì về việc làm như một cái máy, thật là vô tâm và vô tình. Phải chăng đây là một sự phạm thượng không thể tha thứ, chẳng thà họ không lên chịu lễ?

Chính vì thế, xin hãy chỉnh lại tần số!

 

GIÁO LUẬT

TRÌNH BÁO NGĂN TRỞ

 

“Khi rao hôn phối, cha sở của con thường kết thúc bằng câu: ‘Ai biết đôi này có điều gì ngăn trở không thể chịu phép hôn phối được thì buộc phải trình báo cho cha sở’. Giáo luật quy định như thế nào về việc phải trình báo ngăn trở của đôi hôn phối.

Trả lời:

Giáo luật, điều 1069, quy định rằng: “Tất cả mọi tín hữu buộc phải trình báo cho cha sở hoặc cho Đấng Bản Quyền địa phương những ngăn trở mà họ biết được, trước khi hôn nhân được cử hành”. Đây là một nghĩa vụ luân lý thuộc đức công bằng và bác ái, nhằm không những để tránh cho hôn nhân khỏi trở thành vô hiệu hay bất hợp pháp, mà còn để tránh cho hôn nhân khỏi nguy cơ tan vỡ làm thiệt hại cho vợ chồng, con cái. Bổn phận này buộc tất cả mọi tín hữu, nhất là những thân nhân họ hàng, bạn bè quen biết.

Luật nói rõ là “những ngăn trở mà họ biết được” chứ không phải là những ngăn trở hồ nghi. Nói chung, nếu ai biết được về bất cứ ngăn trở hôn nhân nào hay bất cứ điều gì có thể làm vô hiệu sự ưng thuận hôn nhân (giả vờ, sợ hãi) thì buộc họ phải trình báo cho cha sở hoặc cho Đấng Bản Quyền địa phương, trước khi hôn nhân được cử hành. Các tín hữu có bổn phận phải trình báo ngăn trở, nhưng không bao giờ được tiết lộ bí mật tòa giải tội. Và trong một số trường hợp, sự tín cẩn và bí mật nghề nghiệp (bác sĩ-bệnh nhân, luật sư-thân chủ) cũng không cho phép nói những gì người ta thổ lộ riêng tư cho mình. Người nào biết đôi hôn phối có ngăn trở nhưng không thể trình báo được cho các vị hữu trách trong những trường hợp vừa nói trên, thì họ phải khuyên nhủ người sắp kết hôn là đương sự sẽ không thể kết hôn hữu hiệu được khi vẫn còn ngăn trở.

                                                                          LG Huỳnh Phước Lâm

GIÁO DỤC

 

M?U và VƠ

 

S?ng trên ??i, m?i ng??i cĩ m?t s? m?ng, m?t nhi?m v? ph?i hồn thành. N?u ng??i n? l?p gia ?ình mà khơng sinh con, ngo?i tr? lý do vơ sanh thì ?ĩ là vơ phúc, thì m?t ng??i khơng s?ng trịn b?n ph?n theo thuy?t CHÍNH DANH, ch? là ng??i hi?n di?n mà khơng hi?n h?u, ch?ng cĩ giá tr? gì. Ti?c quá, ngày nay nhi?u người trẻ lại ủng hộ “chuyển giới”, “lạc giới” dẫn đến lạc lối, mất căn tính nhân sinh.

S?ng khơng thu?n thiên là t? h?y.

Sống mất định hướng là vong thân.

Sống thiếu bản lĩnh là kiếp tắc kè.

S?ng ngơng li?u l?nh là m?i h?a.

 

Nhân năm Ất Mùi, xin chúc quý thân hữu Vạn An!

M?t n?m chu tồn b?n ph?n.

Thân ái,

Lm. JB. Trần Đinh Tử.

 

TUY GẦN MÀ XA

 

            Rảo quanh một số con đường nơi các thành phố lớn, tôi thấy các quán cafe xuất hiện với nhiều cách trang trí bắt mắt, hấp dẫn và thu hút nhiều thành phần trong xã hội. Với những tiện nghi khá hấp dẫn đã đáp ứng được những nhu cầu của một số tầng lớp trong xã hội, nhất là giới sinh viên-trí thức. Tôi quan sát và có dịp tiếp cận thực tế và thấy rằng: quán cafe nào có dịch vụ wifi- nghĩa là có thể lên mạng được thì số lượng sinh viên ở trong đó rất đông. Quan sát bạn và tôi dễ thấy mỗi bạn vô quán là xách theo một cái laptop, một cái điện thoại đời mới, đây là những dụng cụ gắn liền với con người thời nay, nhất là giới sinh viên. Những dụng cụ hỗ trợ này được các bạn trẻ cho rằng đó là vật bất khả chia ly. Nhưng thật chất đây có phải là phương tiện duy nhất để các bạn đi tìm cho mình cây trí thức hay chỉ là phương tiện để lạm dụng rồi đầu tư cho một mục đích khác. Bạn và tôi hãy cẩn trọng, không thôi những phương tiện này lại làm ru ngủ lòng ta lúc nào không hay. Với hiện tượng này tôi xin được cùng các bạn đi vào thực trạng mà bạn và tôi phải quan tâm, để bạn và tôi có hướng nhìn đúng để sử dụng đúng và các giáo dục đúng cho thế hệ sau này. Tôi gọi đây là hiện trạng của chủ thuyết "Mackeno" (Mặc kệ nó).

            Vào tới quán cafe là không gian của ai người đó sử dụng, máy người nào người đó lên mạng, trên tai đeo thêm cái headphone là họ đi vào thế giới riêng tư, không ai xâm phạm đến ai. Mặc dù trên bàn có tới 4,5 người bạn, nhưng chỉ sau một lúc là mạnh ai người đó làm việc riêng, cùng lắm là sau vài câu xã giao khởi đầu là hiện tượng thuyết mackeno xuất hiện rất nhanh. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến con người ngày nay chỉ biết sống cho chính mình, hết quan tâm đến người xung quanh, không còn những giây phút trò chuyện để chia sẻ tâm tư cho nhau. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mối tương quan giữa người với người bị sứt mẻ và rạn nứt. Chủ thuyết sống cho mình được các bạn trẻ ngày nay áp dụng rất nhanh. Với lối sống thích hưởng thụ, ngại dấn thân hơn là xả thân, thích ngồi một chỗ hơn là bước đi, thích được đáp ứng hơn là đáp trả, và với hiện trạng này trái tim con người đang bị giá băng của cái tôi ích kỷ. Theo lý lẽ của các bạn sinh viên thì việc vô quán cafe để học tập là có lợi, vì ở nhà trọ đâu có wifi mà lên mạng, vô đây chỉ cần kêu một ly nước là các bạn có thể lướt web tự do. Đây là lý do được các bạn sinh viên cho là hợp tình hợp lý. Bên cạnh đó, bạn và tôi cũng hãy cân nhắc, vì phương tiện truyền thông phát triển cũng là con dao hai lưỡi, nếu bạn và tôi biết sử dụng đúng cách, đúng lúc, đúng nơi thì sẽ mang lại hiệu quả, còn nếu không chính phương tiện này làm cho bạn và tôi rơi vào ngõ cụt không lối thoát.

Trong xã hội ngày nay, có rất nhiều những tổ chức để cho các bạn sinh viên tham gia như: Tiếp sức mùa thi, mùa hè xanh, cắm trại, dã ngoại, các buổi văn nghệ giao lưu. Đây là cơ hội cho các bạn sinh viên tập sống với người khác, sống vì người khác và sống cho người khác. Bạn và tôi hãy cố gắng tham gia với tinh thần học hỏi, và giúp người khác học hỏi nơi chính mình. Bạn và tôi, nhất là các bạn sinh viên đang sống xa nhà, xa cha mẹ; có một cuộc sống tự do và không bị lệ thuộc ai, bạn và tôi hãy sống sao cho người khác không phải lo lắng và luôn tạo cho mình một trái tim biết hướng đến người khác, đừng khó chịu khi người khác làm mình bực bội, nhưng chịu khó sống hài hòa và thông cảm, chia sẻ với nhau. Đừng quá bị lệ thuộc vào những phương tiện khiến làm cho bạn và tôi rơi vào lối sống chỉ biết sống cho mình và "mackeno" đối với những người chung quanh.

 

Vs. Lê Đình

 

 

GIÁO DÂN

TRUYỀN GIÁO

“Ta còn phải đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa đến các thành khác nữa. Chính vì thế mà Ta được sai đến” (Lc 4,43).

 

I. Chân dung giáo xứ hôm nay được mô tả như sau:

1. Đức Giám mục sai một linh mục đến lãnh đạo giáo xứ thay cho Ngài với đầy đủ quyền rao giảng, cai quản và thánh hoá.

2. Cha xứ thi hành các chức năng trên bằng việc tổ chức các Lớp giáo lý và các hội đoàn cho các lứa tuổi hoặc cho các giới, Cha xứ gắn bó với giáo xứ của mình. Trước hết ngài lo cho mọi người được học giáo lý, được lãnh các bí tích. Ngài yêu thương giáo dân, lo cho họ từ lúc sinh ra cho tới khi chết. Về vật chất, cha lo xây nhà thờ, nhà xứ, lớp học. Phụng vụ Giáo Hội được thay đổi theo mùa, như thức ăn được thay đổi trên bàn ăn. Thêm vào đó là những sinh hoạt bên lề như tháng Hoa, tháng Mân côi, picnic, cắm trại.

3. Cha xứ làm không hết việc, nên xin cha phó, thầy xứ và nữ tu. Chủng viện và tu viện là tiềm năng của giáo xứ. Giáo xứ được đánh giá là tiến bộ, khi ở đó có nhà thờ đẹp, có nhiều đài tượng. Cha xứ được khen là nhiệt thành khi các lớp giáo lý được tổ chức đều đặn, thánh lễ và các bí tích được cử hành thường xuyên.

II. Nhận xét về chân dung giáo xứ

1. Cha xứ không giống như Chúa Giêsu. Chúa Giêsu từ chối dân thành Carphanaum muốn giữ Ngài lại: “Ta còn phải rao giảng Tin Mừng cho các thành khác nữa” (Lc 4,43). Cha xứ không nghĩ đến Lương dân hiện chiếm 98% tại Á châu, 95% tại Việt Nam. Ngài tiếp tục rao giảng mãi cho những người đã nghe. Còn những người chưa được nghe bao giờ thì ngài không chiếu cố. Gắn bó với giáo dân của ngài mà không để ý gì đến Lương dân, trong khi Tin Mừng phải được rao giảng cho mọi người, mọi nơi và mọi thời.

2. Họ đạo được tô điểm mãi về mọi mặt: Cơ sở vật chất và trình độ dân trí, công tác xã hội. Họ đạo hãnh diện vì ở mức độ cao hơn Lương dân: Nhà thờ cao và đẹp hơn chùa. Nhưng Tin Mừng đã được khép lại trong khuôn viên nhà thờ, trong đường ranh giới họ đạo. Hạt giống Phúc Âm bị QUÂY BỒ thay vì đem gieo để một hạt sinh ra trăm hạt.

3. Giáo xứ cầm chân linh mục tu sĩ khiến Tin Mừng không được gieo vãi đến tận cùng trái đất. Giáo xứ chính là cái cũi giam hãm Tin Mừng. Vô tình họ đã trở thành các Xinagoga Do Thái, tự mãn mình là dân riêng của Chúa coi thường chư dân. Lẽ ra giáo xứ là con đầu lòng Chúa dùng để chăm sóc các em, thì nó lại ỷ quyền bắt nạt các em. Nó giống như người chị ích kỷ chỉ biết tô điểm cho mình mà không làm đẹp cho các em. Rất có thể nó sẽ đánh mất chính mình, mất cả những đặc ân đã lãnh nhận để trở nên phá sản. Chư dân sẽ từ Đông Tây Nam Bắc đến chiếm lấy chỗ con cái, còn con cái thì bị loại ra ngoài. Các nước Kitô giáo kỳ cựu hiện nay đang đánh mất Đức Tin, trong khi đó Đức Tin lại đang phát triển tại các nước châu Phi và châu Á.

4. Giáo xứ đang tự tách rời ra khỏi đồng bào Lương của mình. Họ giống như người biệt phái giữa cộng đồng dân Chúa thời Cựu Ước. Khu vực họ ở được gọi là xóm đạo. Họ là những bọc men không bao giờ trộn vào bột. Họ không những chỉ thờ ơ với đồng bào Lương, mà còn có thể kỳ thị nữa. Không bao giờ họ tìm hiểu tôn giáo và tâm tình của người Lương. Đồng bào Lương cũng không dám đến với họ. Chính vi thế Tin Mừng lại càng không có dịp được gieo vãi và sinh sôi nẩy nở.

Hãy mau lên đường.

Lm Gioakim Mai Xuân Triết

 

GIÁO XỨ TRUYỀN GIÁO

TẠI GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

A- DẪN NHẬP.

Đối với người công giáo, chắc hẳn ai cũng đã hơn một lần nghe đến hai từ “truyền giáo”, bởi vì truyền giáo bản chất và sứ mạng của Giáo hội.  Thật vậy, Công đồng Vaticanô II khẳng định rằng: “Tự bản tính, Giáo hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Chúa Cha” (x. Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Giáo hội, số 6). Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo hội với sứ mạng loan báo Tin Mừng. Sứ mạng đó đã được Chúa trao phó cho Giáo hội qua các Tông Đồ khi Người còn tại thế: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”(Mc 16, 15). Và như thế, loan báo Tin Mừng không chỉ là lời mời gọi nhưng còn là một mệnh lệnh Chúa Giêsu truyền cho Giáo hội. Suốt hơn 2000 năm qua, Giáo hội vẫn luôn trung thành và cố gắng để chu toàn sứ vụ đem Tin Mừng đến cho mọi người nên có thể nói được rằng:  Giáo hội sống còn là nhờ sứ mạng truyền giáo. Từ định hướng ấy, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra chương trình mục vụ của Giáo hội Việt Nam trong năm 2015 với chủ đề: Tân-Phúc-âm hóa đời sống các giáo xư và các cộng đoàn sống đời thánh hiến. Trong viễn tượng ấy, bài viết muốn trình bày vài nét về giáo xứ truyền giáo và thử phác họa một vài nét về mô hình giáo xứ truyền giáo ở giáo phận Long Xuyên.

B- NỘI DUNG

1- Vài nét về dân cư trong giáo phận Long Xuyên.

Giáo phận Long Xuyên gồm trọn 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang, và một phần của Thành phố Cần Thơ. Gồm 9 giáo hạt. Địa bàn khá rộng lớn; đa số dân chúng làm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và tiểu thủ công nghiệp. Có nhiều sắc tộc trong vùng như: người Kinh, người Hoa, người Khmer, người Chăm, và có nhiều tôn giáo tồn tại và phát triển như: Phật giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hoà Hảo. Những tôn giáo này gắn liền với Thất Sơn, vùng núi huyền bí và linh thiêng. Ngoài ra còn có đạo Công giáo, Tin lành, Hồi Giáo và Cao Đài. Như vậy, có thể nói giáo phận Long Xuyên nằm trên một địa bàn đa văn hoá, đa tôn giáo và phần đông là những người chưa đón nhận Tin mừng và là những người nghèo, vì đời sống của họ hầu hết là nông nghiệp. Trước bối cảnh rất đặc thù: đa văn hoá, đa tôn giáo, phần lớn dân cư là người nghèo và đang bị ảnh hưởng bởi trào lưu tục hóa cũng như những chủ thuyết loại trừ tôn giáo; đồng thời dựa trên nền tảng truyền giáo được khởi đi từ Mầu Nhiệm Ba Ngôi, chúng ta phải làm gì để có thể truyền giáo nhất là với định hướng mục vụ 2015 là năm Phúc âm hóa đời sống giáo xứ và các dòng tu để loan báo Tin Mừng?

2- Giáo xứ

a- Định nghĩa

                        Trong số 42  của Hiến chế về Phụng vụ Thánh, Công Đồng Vaticanô II trình bày: “Vì chính Giám Mục không thể đích thân hiện diện mọi nơi mọi lúc trong toàn thể đoàn chiên thuộc Giáo Hội Ngài, nên cần phải thiết lập các cộng đoàn tín hữu. Trong đó, nổi bật hơn cả là các giáo xứ được thiết lập tại địa phương dưới quyền một mục tử thay mặt Đức Giám Mục: bởi vì một cách nào đó, các giáo xứ phản ảnh Giáo Hội hữu hình đã được thiết lập trên toàn cõi trái đất”.

b- Tính Truyền giáo của một giáo xứ

Truyền giáo là nhiệm vụ của mỗi Ki-tô hữu nhưng một cách đặc biệt, chúng ta đề cập đến vai trò của các giáo xứ trong công cuộc truyền giáo theo đường hướng mục vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam đề ra trong năm nay. Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong số 26 Tông huấn Kitô hữu giáo dân năm 1988 đã đưa ra một khái niệm thần học khá phong phú và đầy đủ về tính truyền giáo của giáo xứ “là cộng đoàn gia đình của Thiên Chúa, là cộng đồng huynh đệ, là mái ấm gia đình đặt trên nền tảng cộng đoàn đức tin. Giáo xứ đang đảm nhiệm một sứ vụ không thể thay thế và mang tính rất hiện đại, giáo xứ phải cống hiến cho con người thời đại những lời  giảng huấn về giáo lý cứu độ của Đức Kitô”.

c- Cộng đoàn hiệp thông đồng trách nhiệm

Hiến chế Tín lý về Giáo hội số 28 đã trình bày giáo xứ là gia đình của Thiên Chúa, là cộng đồng huynh đệ, gia đình ấy hiệp thông với nhau trong cùng một đức tin, một tinh thần, nhất là một cộng đoàn Thánh Thể hiệp thông trong thánh lễ. Giống như mọi thực tại khác của Ki-tô giáo, Thánh Thể chính là nguồn mạch cho sự thành lập, phát triển và tính sinh động của một giáo xứ. Thật vậy, ngày nay “con người trở nên lầm lạc và mất hướng, nhưng tự thâm tâm, họ vẫn luôn ước vọng được cảm ngiệm và vun đắp những tương quan huynh đệ và nhân bản hơn… giáo xứ là nơi hiệp thông các tín hữu trên thế giới, và đồng thời là dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp thông giữa mọi người” (Tông huấn Ki-tô hữu giáo dân của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phao-lô II, số 27).

3- Một số hạn chế trong việc truyền giáo

Do nhiều nguyên nhân nội tại cũng như ngoại tại mà công cuộc truyền giáo tại Việt Nam vẫn chưa đạt được thành quả tốt. Một số lý do nội tại có thể được đưa ra là:

* Ý thức về truyền giáo còn mờ nhạt chưa được quan tâm đủ. Một ví dụ điển hình cho thực trạng này là nơi một số giáo xứ di cư toàn tòng theo Công giáo, giáo dân chưa cảm thấy được nhu cầu truyền giáo, nên việc nhiệt tình dấn thân cho công việc truyền giáo còn mờ nhạt. Với nhiều người chỉ cần giữ đạo là đủ; chỉ cần biết đến bản thân và trong phạm vi giáo xứ không cần quan tâm đến việc phải nên chứng nhân loan báo Tin Mừng! Theo người viết được biết thì hầu hết vùng dinh điền Cái sắn thì dân cư địa phương (nam Bộ) ở khu vực đầu và cuối kênh vẫn chưa “theo”- có thể họ đã biết đến nhưng họ không theo đạo - Chúa dù họ sống chung với người công giáo cũng khoảng trên dưới 60 năm rồi. Hầu hết nơi các giáo xứ này, lượng người vào đạo hàng năm chủ yếu từ việc kết hôn, vào đạo để được cử hành bí tích hôn phối.

* Mặt bằng về trình độ văn hóa của giáo dân vùng sông nước Cửu Long nhìn chung còn thấp so với chuẩn chung của cả nước nên cũng gây không ít khó khăn trong việc truyền giáo. Thêm vào đó, đa phần người dân còn sống trong mức nghèo khổ làm cho mối bận tâm duy nhất của người dân- không ít trong đó là tín hữu- là cơm-áo- gạo-tiền.

* Hiện tượng di dân diễn ra hầu hết trong các giáo xứ của giáo phận, các giáo dân nhất là những người trẻ đổ dồn về các thành phố, khu công nghiệp, trung tâm kinh tế khiến cho tình trạng đạo đức, sống đức tin cũng như quản lý giáo dân nơi các giáo xứ gặp nhiều khó khăn. Một số giáo xứ có địa bàn quá rộng nên cũng khó quản lý.

* Các phương tiện truyền thông chưa được quan tâm và vận dụng vào lĩnh vực truyền giáo, việc đào tạo hay mở các khóa về ứng dụng kỹ thuật truyền thông cho công tác truyền giáo chưa được chú trọng dù công nghệ thông tin hay truyền thông dần trở nên quen thuộc với nhiều người ngay cả các “lão nông tri điền”.

Vậy trước những khó khăn và thách đố trên, đâu là mô hình chung cho giáo xứ truyền giáo? Người viết thử phác họa mô hình ấy với những suy tư và cách nhìn chủ quan với mong ước trong năm giáo xứ truyền giáo này ngày có nhiều giáo xứ dấn thân và nhiệt tình nhằm đem Tin Mừng của Chúa đến cho nhiều người. (Còn tiếp).

Felicitas

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

KHÔNG ĐỀ

lãongu

1.

Ông Xuân lấy vợ sớm. Ngày ấy có kế hoạch kế hiếc gì đâu. Trời sinh voi sinh cỏ, bà Xuân sinh cho ông một lèo năm đứa con gái. Làng trên xóm dưới gọi ông bằng hỗn danh ông Năm He. Thế có xấu hổ không cơ chứ? “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, mười đứa con gái còn kể như không, nói gì năm đứa. Rõ là tủi quá, nhục quá. Hai ông bà thuốc thang khắp nơi khắp chốn, cầu xin thiết tha, lại còn xuống tận đền thánh Vixentê mãi ở kinh 8, Tân Hiệp, Rạch Giá, xin khấn. Ơn Trên nhận lời, ban cho họ được đứa con trai. Ông mừng lắm, định đặt tên cho thằng con cầu tự là Quý, vì quý (tử) vừa có nghĩa là (đứa con) quý báu, vừa có nghĩa là (con) út; nhưng bà một mực đặt tên con là Hạ. Mùa xuân rồi tới mùa hạ. Bố là Xuân thì con phải là Hạ - bà bảo vậy - mới hợp với sự xoay vần của trời đất. Vốn mang bổn tính sợ vợ, vả lại, bà cũng có lý đấy chứ, nên ông đành chiều bà. Ông chiều bà là phải, vì khi thằng Hạ vừa lên bảy thì bà được Chúa gọi về. Bà để lại cho ông sáu đứa con mồ côi mẹ. Ông, một con gà trống già phải nuôi năm con gà mái con và một con gà trống con bé tí teo.

2.

Nước cứ chảy xuôi ra biển, thời gian cứ trôi xuôi về ngày mai, trẻ thơ cứ khôn cứ lớn. Năm cô con gái Hồng, Lan, Đào, Huệ, Cúc của ông Xuân lần lượt trở thành thiếu nữ, rồi có chồng, ra riêng, có của ăn của để, có cơ ngơi vững vàng. Ông yên tâm vui vầy với đàn cháu ngoại đếm trên đầu ngón tay hai lần không hết. Nhưng niềm vui của ông không trọn vẹn. Ông những mong được nhìn thấy, được bồng trên tay đứa cháu đích tôn một lần trước khi nhắm mắt. Thế mà anh Hạ đã tốt nghiệp đại học, đã có công ăn việc làm, đã là giám đốc nhân sự của một công ty trách nhiệm hữu hạn danh giá, đã ba mươi tuổi đầu rồi, mà chưa một lần nói tới chuyện vợ con. Một lần, không nén lòng nổi, ông Xuân nói với anh:

- Con được ăn học hơn bố. Nhưng con có biết sách Mạnh Tử, thiên Ly Lâu thượng nói gì không? “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (Tội bất hiếu có ba, không có con nối dõi là tội lớn nhất). Con biết bố muốn nói gì rồi đấy.

Anh Hạ nhỏ nhẹ nhưng cương quyết:

- Con hiểu. Nhưng con xin lỗi bố, ngày xưa khác, ngày nay khác. Ngày xưa thì “chồng cha, vợ mẹ cưới cho”. Ngày nay thì hôn nhân phải đặt trên nền tảng tình yêu, bố ạ! Con chỉ cưới người con yêu thôi. Thật chẳng may, con chưa yêu ai cả.

Anh nói nhỏ hơn nữa, chỉ sợ ông Xuân hiểu lầm là anh xúc phạm đến các đấng làm thầy:

- Với lại, nói như ông Mạnh Kha thì các giáo sĩ, tu sĩ trong Hội Thánh Công giáo mình bất hiếu cả sao, hả bố?

Mặt ông Xuân đỏ au. Ông giận lắm. Ông muốn nói điều gì đó mà không nói được, hình như ông bị ngọng cấp tính. Sợ ông buồn, anh Hạ vớt vát:

- Con xin lỗi bố. Rồi, con hứa trong năm nay con cưới vợ.

3.

Cô Mai, nhân viên mới, tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế, khoa  Quản trị Kinh doanh, chuyên ngành Quản trị Nguồn nhân lực, được điều chuyển đến phòng Nhân sự do anh Hạ đảm trách. Trong hồ sơ xin việc, lí lịch không ghi, nhưng anh được biết, cô là một giáo lý viên gương mẫu, một huynh trưởng năng động của một xứ đoàn Thiếu nhi Thánh Thể vùng quê, hình như thuộc giáo xứ Đền Thánh Giuse An Bình thì phải, ở mãi tận dưới giáo phận Long Xuyên. Cô làm việc tận tụy, quan tâm tới mọi người. Tính cô thẳng thắn, không xun xoe nịnh bợ ai, không như hầu hết các nhân viên già trẻ nam nữ trong phòng Nhân sự này. Sau lễ tổng kết năm, anh Hạ uống rượu nhiều quá, có thái độ không đúng đắn với cô nhân viên hotgirl nhất phòng. Hôm sau, cô Mai gặp riêng anh, chân thành:

- Em xin lỗi. Em chỉ là nhân viên của anh, đang trong thời gian thử việc. Em không nói với anh trong tư cách cấp dưới nói với cấp trên, mà nói với anh bằng tình yêu thương huynh đệ trong Chúa. Anh không nên say sưa như thế, dẫn đến cung cách cư xử mà người ta coi là lỗ mãng như thế.

Anh Hạ giật mình, thành khẩn:

- Anh cám ơn Mai.

Ngay tức khắc, anh nhìn ra: Chỗ của cô Mai không phải ở đây, trong phòng Nhân sự đầy thị phi này. Chỗ của cô phải là một mái nhà. Vị trí của cô phải là vị trí của người vợ, người mẹ trong một tổ ấm gia đình. Anh yêu cô từ đấy.

4.

Được cô Mai đồng ý, mồng hai tết năm ấy, anh Hạ đưa cô về ra mắt gia đình. Các chị gái và anh rể của anh Hạ mừng lắm. Họ tấm tắc, tíu tít khen cô Mai đen giòn, tuy không đẹp lắm, nhưng xinh xắn, mộc mạc, có duyên, khéo cư xử, lại nhanh nhẹn, hoạt bát. Ông Xuân cũng mừng. Nhưng khi ăn uống xong, anh Hạ đưa cô Mai ra về rồi, bà Út, em gái ông Xuân (nhà có hai anh em ấy mà) mới lên tiếng:

- Em nghĩ sao nói vậy, anh và các cháu đừng buồn. Rồi xem. Con bé ấy “khó dạy” lắm. Thử hỏi, người đâu lại có đủ bốn thứ “khó dạy”: “Lạt cật, đóm dầy, chó quặp tai, mo lang trôi sấp”. Lạt cật khó buộc, đóm dầy khó cháy, chó quặp tai khó nghe, mo lang trôi sấp khó trôi.

Đúng là “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”. Câu ví von của bà Út mới độc địa làm sao! Ông Xuân tiếp lời:

- Tôi cũng ngờ ngợ. Trông nó có vẻ nhà quê nhà mùa, cứng đầu cứng cổ làm sao ấy, khó nói lắm, phải không?

Câu nói của bà Út đến tai bố mẹ cô Mai. Hai gia đình xích mích nhau. Thêm vào đó, nghe lời cô em gái thân, ông Xuân nhất quyết cho anh Hạ cưới ai cũng được, miễn là không phải cô Mai.

5.

Anh em ông Hạ lầm to. Sự cấm đoán của ông chỉ làm cho tình yêu của đôi trẻ được trui rèn cứng cáp hơn thôi. Vả lại, đã qua rồi thời “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Ngược lại, đã bước sang thời kỳ đổi mới “Con cái ngồi đâu, cha mẹ đặt đấy”. Đất chẳng chịu trời, trời phải chịu đất, ông Xuân đành cắn răng cưới cô Mai cho anh Hạ. Nhưng ông giận lắm. Ông tuyên bố với họ hàng, cấm chỉ không cho “cái con mặt dầy” ấy bước qua ngưỡng cửa nhà ông.

6.

Theo yêu cầu của vợ, tuần nào anh Hạ cũng về thăm cha. Như tuân thủ một thỏa thuận bất thành văn, hai cha con không một lần nhắc tới tên cô Mai. Tết năm nay, cô Mai nhất quyết bồng con về thăm ông nội. Anh Hạ bảo vợ:

- Anh chiều theo ý em bất cứ chuyện gì. Nhưng chuyện này em phải nghe anh. Bố anh đã nói là giữ lời. Em không được về.

Vợ anh lòi cái gai “khó dạy” ra:

- Em cứ về.

- Anh cấm em.

- Ơ hay! Anh cấm thế nào được. Vợ chồng mình có cưới xin tử tế, đầy đủ phép đạo luật đời. Cả lò có mỗi một thằng cháu đích tôn. Mồng một tết, cháu không về thăm ông nội, không sợ người ta cười cho à? Mà dù cho người ta không cười cho đi nữa, thử hỏi lương tâm anh, lương tâm em có cho phép không?

Cô Mai móc điện thoại gọi taxi, khiến anh Hạ không kịp chuẩn bị. Thực ra, anh cũng chẳng cần phải chuẩn bị gì cả, vợ anh đã chuẩn bị hết cả rồi.

7.

Chiếc taxi vừa đậu trước cổng, không mấy người để ý. Nhưng khi cô Mai bế con xuống thì mấy mươi con người ùa ra, xúm xít vây quanh rồi giành nhau bồng thằng bé. Dì Hồng nựng cháu:

- Úi xời ui! Đít nhôm dễ xương không kìa!

Bà Út giành lấy thằng bé:

- Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Nhìn cái mắt nó kìa! Anh Xuân ơi! Nhìn cái mắt nó kìa! Tùm hụp như mắt bố chúng mình ngày xưa ấy, phải không? Anh cũng phải bế cháu nội một tí chứ!

Bà Út trao đứa bé cho ông Xuân. Nó khóc ré lên rồi tè ra ướt hết hai vạt áo sơ mi mới tinh của ông. Ông thấy âm ấm. Hình như nước tiểu thằng bé có mùi thân quen, đúng là mùi ruột thịt. Ông dở mếu dở cười. Chị Đào hỏi:

- Thằng bé tên gì, cậu Hạ?

Cô Mai trả lời thay chồng:

- Anh Hạ đặt tên nó là Quý, Nguyễn Trọng Quý, em không chịu. Em bảo mùa xuân rồi đến mùa hạ, thì phải đến mùa thu. Ông nội là Xuân, bố là Hạ thì con phải là Thu. Đứa sau, nếu Chúa ban ơn, em sẽ đặt tên là Đông. Nhà mình sẽ có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông, hợp với một vòng xoay vần của trời đất, với đủ các loại hoa hồng lan đào huệ cúc mai.

Câu nói của cô Mai làm ông Xuân nao nao. Ông xúc động ra mặt. Cùng lúc, ông thấy mình nhớ vợ đến quay quắt. Một giọt nước mắt to đùng lăn trên má ông. Ông bảo anh Hạ:

- Chiều nay, vợ chồng con đem cháu về thăm ông bà ngoại, rồi về đây ở với bố mấy hôm.

8.

Tôi, người kể lại chuyện này, hiểu câu nói đơn sơ, mà tinh tế của ông Xuân vừa là sự hối lỗi, vừa là sự thứ tha, vừa là món quà mừng năm mới tuyệt diệu cho con cháu. Xin hỏi, có được không? 

NĂM ẤT MÙI NÓI CHUYỆN DÊ

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Năm mới này là năm Ất Mùi, cầm tinh con dê. Và theo tục lệ tốt lành vốn có từ lâu trong nghề viết lách, hôm nay gã xin tán hươu tán vượn về con dê.

Theo “Việt Nam Tự điển” của Lê Văn Đức, thì  dê là loài thú có sừng, có râu, lông nhiều và hôi, bốn móng thon nhọn, thích chồm phá để kiếm cỏ và dây leo để ăn.

Khi con dê đực mang nặng tuổi đời và trở về già, lúc bấy giờ râu cằm dài, lông nhiều và mùi hôi thật đậm đặc, người ta gọi nó là dê xồm. Riêng những kẻ muốn bắt chước dê, để một chòm râu ở cằm, thì bộ râu ấy liền được bàn dân thiên hạ tặng phong cho danh hiệu là bộ râu dê. Trong chữ Tàu, dê được gọi là dương. Chẳng hạn cao dương là dê con, sơn dương là dê núi.

Tại Việt Nam có một thời người ta đua nhau nuôi dê để lấy sữa, bởi vì theo các nhà phân tích, thì sữa dê có nhiều chất bổ dưỡng. Thậm chí các cụ già thường xuyên uống sữa dê thì sẽ trẻ ra vài chục tuổi, còn quí bà quí cô, nếu thường xuyên tắm sữa dê, thì da dẻ lúc nào cũng cứ trắng nuốt như trứng gà bóc vậy!

Xem ra các chú ba Tàu, cũng như dân bợm nhậu rất khoái món thịt dê, bộ phận nào của dê cũng được liệt vào hàng quí hiếm và được chiếu cố tận tình, chẳng hạn như: Dương trường là ruột dê, dương can là gan dê, dương huyết là máu dê, dương nhục là thịt dê, dương thận là thận dê. Mỗi thứ này được tẩm liệm và chế biến theo một cách thức riêng, để trở thành món đặc sản của những nhà hàng tại Chợ Lớn. Những người chuyên nghiệp làm dê, tức là mần thịt dê, cho  hay: Để khử cái mùi hoi của dê, người ta thường phải đuổi cho dê chạy thật lâu, hay cho dê uống rượu, để cho dê say  đến toát cả mồ hôi hột, rồi sau đó mới chọc tiết. Thịt sẽ không còn hoi nữa.

Có một thời ở Saigon, dân bợm nhậu rất ghiền cái món lẩu dê, đi tới chỗ nào cũng thấy những bảng hiệu quảng cáo và mời gọi cho lẩu dê. Thậm chí cả một dẫy phố, nhà nhà đều trở thành quán nhậu với món lẩu dê. Ngày nọ, gã về Saigon và được mấy tên bạn cùng lớp rủ đi nhậu lẩu dê. Quán nhậu chỉ gồm vỏn vẹn mấy chiếc bàn và một ít ghế thấp lè tè được bày ngay trên lề đường vào ban tối. Khi món nhậu được bưng ra, gã thấy có một cái niêu đựng thịt dê đã được nấu sẵn với chao, đặt trên bếp than và đang sôi sùng sục. Đi kèm với nó là hai đĩa mì vắt và hai đĩa cải đắng. Mì và cải đắng được nhúng vào lẩu trước khi ăn. Dân nhậu chính hiệu, khi xơi lẩu dê, thì phải uống rượu huyết dê, nghĩa là rượu đế được pha với máu dê. Uống chừng dăm cốc thì bầu khí bỗng trở nên vui vẻ, ai cũng thích nói to và nói dài. Dường như mình là người duy nhất nắm được chân lý trên đời. Ăn miếng thịt dê mà vẫn cứ phân vân không biết dê hay chó, bởi vì dê đâu mà lắm thế!

Có một điều gã ghi nhận được khi suy gẫm về loài dê, đó là từ đông sang tây, từ cổ chí kim, người ta đều nhìn dê bằng một cặp mắt khinh bỉ, gán cho dê những thói hư tật xấu và đồng hóa dê với tội lỗi. Chẳng hiểu có oan cho dê lắm không?

Thực vậy, sách Lêvi của Cựu ước đã mô tả về nghi thức của ngày lễ xá tội như sau: Người ta dẫn tới trước mặt Aaron một con dê đực còn sống. Ông ta sẽ đặt hai tay lên đầu nó mà xưng thú hết mọi sai lầm, hết  mọi phản nghịch, nghĩa là hết mọi tội lỗi của con dân Israel, như thể trút tất tật lên đầu nó, rồi dùng tay một người đang chờ sẵn mà đuổi nó vào sa mạc. Ở đó chẳng có sự hiện diện đầy yêu thương của Đức Giavê, mà chỉ có sự hiện diện của ma quỉ độc dữ mà thôi. Con dê này được người Do thái gọi là “oan dương”, con dê gánh tội, con vật hy sinh.

Trong Tân ước, gã lại còn thấy rõ điều ấy hơn nữa. Thực vậy, hoạt cảnh về ngày phán xét chung đã được Kinh thánh  mô tả như sau: Bấy giờ các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Ngài, và Ngài sẽ tách biệt họ ra, như mục tử tách biệt chiên với dê. Ngài sẽ cho chiên đứng bên phải, còn dê thì ở bên trái. Như thế, dê là biểu tượng cho những kẻ đứng bên trái, tức là những kẻ tội lỗi, những kẻ sẽ bị trừng phạt đời đời kiếp kiếp chẳng cùng. Thật là đại họa và vô phúc cho chúng ta nếu như trong ngày định mệnh ấy chúng ta bị đứng ở bên trái và lầm lũi bước theo dấu chân dê mà đi xuống hỏa ngục.

Riêng đối với người Việt Nam, tật xấu nổi bật nhất nơi những anh chàng giống con dê đực, chính là cái “tính thích đờn bà con gái”, chính là cái “thói ve vãn đờn bà con gái”. Cái tính và cái thói này nhiều khi nằm sẵn trong huyết quản, vì thế những kẻ mắc phải cái tính và cái thói này thường được gọi là kẻ có máu dê, hay máu băm lăm. Khi cái tính và cái thói này liên tục phát triển và lên tới tột đỉnh của nó, thì kẻ ấy nghiễm nhiên được bàn dân thiên hạ phong cho cái chức “dê xồm”, tức là kẻ cả gan dám dê một cách trắng trợn, ngay cả giữa ban ngày ban mặt, giữa thanh thiên bạch nhật, chẳng kể gì đến những lời bàn ra tán vào. Kẻ ấy giống như “dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, mà Hồ Xuân Hương đã diễn tả.

Ngày xửa ngày xưa, vua Tấn Võ Đế có rất nhiều cung phi mỹ nữ. Ban đêm, nhà vua ngồi trên chiếc xe khảm vàng khảm ngọc, do một đàn dê kéo đi khắp trong cung, tự ý dê muốn đi đâu tùy thích. Xe dừng ở nơi nào, nhà vua sẽ nghỉ đêm tại đó. Vì thế, các cung phi liền lấy lá dâu treo ở ngoài cửa và dùng nước muối rắc, để cho dê thấy lá dâu và ngửi mùi nước muối thì thèm ăn, mà kéo xe đi vào cửa cung. Chẳng hiểu có phải vì vậy mà dê bị gán cho cái tác phong “thiếu đứng đắn” khi giao tiếp với “phe địch” hay không? Nếu chỉ vì thèm ăn nắm lá dâu mà dê bị kết tội dê, thì thật hơi oan cho dê một tí.

Cái tội dê này, báo chí phương Tây hiện giờ đã mặc cho nó một danh xưng nhẹ nhàng và mỹ miều hơn, đó là cái tội “quấy rối tình dục”. Và theo những nhà tâm lý, thì từ “quấy rối tình dục” đến “lạm dụng tình dục” chỉ cách nhau có một đốt ngón tay.

Trong văn chương, gã ghi nhận được một vài câu tục ngữ, nói lên tính cách giả dối của người đời liên quan tới dê. Trước hết các cụ đồ sính chữ nho hay những người thuộc vào hàng nho chùm vốn thường bảo: Dương chất hổ bì. Câu này có nghĩa cốt là cốt dê, mà da lại là da cọp. Từ đó ám chỉ những kẻ dùng thế lực giả tạo bên ngoài, để lòe bịp hay hù dọa thiên hạ. Họ là những kẻ mượn đầu heo nấu cháo. Hay mượn hoa cúng Phật. Họ giống như cáo mượn oai hùm. Chứ thực chất bên trong của họ chẳng đáng giá một đồng xu cắc bạc nào cả.

Chuyện xưa kể rằng: Tuyên Vương làm vua cả nước Sở. Còn Chiêu Hề Tuất chỉ là một người bầy tôi của Tuyên Vương. Thế mà người phương Bắc ai nghe thấy nói Chiêu Hề Tuất cũng phải kính sợ. Vua lấy làm lạ, một hôm hỏi quần thần vì cớ làm sao? Không ai trả lời nổi. Chỉ có Giang Nhất thưa được rằng: Con hổ hay bắt các giống thú để ăn thịt. Một hôm bắt được một con cáo. Cáo bảo: Liệu đó! Chớ  đụng chạm đến ta mà chết ngay bây giờ. Ta được trời sai xuống, cầm quyền coi hết cả bách thú. Ngươi ăn thịt ta, là ngươi trái mệnh trời, hại đến thân tức khắc. Không tin, thử để ta đi trước, ngươi theo hầu sau, xem có con thú nào trông thấy ta mà lại không sợ hãi tìm đường trốn mau hay không? Hổ cho là cáo nói thật, bèn đi theo cáo. Quả nhiên bách thú trông thấy đều sợ mà chạy cả. Hổ vẫn không biết bách thú sợ mình mà chạy, cứ tưởng là sợ cáo. Nay nhà vua nước mạnh, quân nhiều mà vua giao cả quyền thế cho Chiêu Hề Tuất, người phương Bắc sợ Hề Tuất, nhưng kỳ thực là sợ vua, cũng như bách thú sợ hổ vậy.

Câu chuyện trên ám chỉ kẻ dưới thích mượn quyền thế “bề trên” để hống hách và dọa nạt. Nếu không biết, người ta còn sợ, chứ khi “lừa đã thò tai” thì chẳng những người ta đem lòng khinh bỉ, mà còn làm đê nhục để cho bõ ghét.

Tiếp đến, người bình dân trong ngôn ngữ thường ngày vốn thường hay nói: Treo đầu dê, bán thịt chó. Cửa hàng treo bảng hiệu bán thịt dê, nhưng thực chất bên trong chỉ toàn chó với chó. Câu tục ngữ ngắn gọn này cũng đủ diễn tả tác phong của kẻ giả hình, họ nói vậy mà không phải vậy, họ nói một đàng nhưng làm quàng một nẻo. Tục ngữ Việt Nam đã liệt họ vào hạng khẩu Phật, tâm xà, miệng Nam mô, bụng bồ dao băm, ngoài thì thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không gươm. Như thế, họ không làm đã đành, mà thậm chí còn làm ngược lại những gì họ đã nói: Nam mô, một bồ dao găm, một trăm con chó, một lọ mắm tôm, một ôm rau húng, một thúng rau răm.

Và để kết thúc, gã xin long trọng kính chúc quý vị: Năm con, dê nhiều, may mắn! Ấy quyê, xin được ngắt câu lại, kẻo bị kết tội là xúc phạm: Năm con dê, nhiều may mắn!

 

 

NGƯỜI TU VÀ TẾT

            Lôrensô

Cứ mỗi độ xuân đến tết về, lòng tôi cảm thấy phấn khởi nôn nao. Ngày tết đến cũng là những ngày chúng tôi được trở về với gia đình. Người tu thì xa gia đình là phần lớn. Chỉ có dịp tết là ở bên gia đình được lâu hơn các dịp khác. Đến hẹn lại về, những ngày tết nhà thờ xứ tôi trở nên ấm áp và sự thánh thiện tỏa lan. Đó là do có sự xuất hiện của các sơ các thầy. Những bộ áo dòng làm đẹp thêm ngày xuân. Như muôn sắc hoa đua nở, trong nhà thờ, muôn sắc áo dòng cũng tô đẹp không gian.

            Giáo xứ của tôi thuộc vào hàng nhỏ bé. Nhưng có một điều đáng khích lệ là có được số linh mục và tu sĩ kha khá. Mỗi lần về với gia đình ăn tết, anh chị em trong nhóm tu sĩ sống rất chan hòa và yêu thương nhau. Mọi người như đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, anh chị em tổ chức đọc Kinh Sáng với nhau mỗi ngày. Sau giờ Kinh Sáng mọi người vào nhà xứ đàm đạo với cha sở. Tiếng nói tiếng cười rộn rã làm cho bầu khí tết thực sự bừng lên. Cũng có khi mọi người kể cho nhau nghe những nỗi khó khăn trong đời tu. Có người bị bệnh hiểm nghèo, có người gặp thử thách lớn lao, tất cả mọi người đều rất cởi mở và chân tình. Tôi cảm thấy đời tu và người tu thật ấm áp.

            Với tình nghĩa gắn kết, anh chị em tu sĩ thường tổ chức đi chúc tết nhà của nhau. Nhân dịp đó cũng để cổ vũ ơn gọi thánh hiến. Người đi trước rước người đi sau. Sáng sớm, sau lễ, với bộ tu phục, chúng tôi đi chúc tuổi những người già và những gia đình bệnh tật yếu đau. An ủi người nghèo khổ đem lại cho đời tu chúng tôi niềm vui của người theo sát bước chân Đức Giêsu. Dịp tết nào cũng để lại cho chúng tôi những kỷ niệm khó phai. Đó cũng là điều đọng lại trong lòng bà con giáo dân.

            Nhóm tu sĩ chúng tôi khá là tinh nghịch. Đi đến đâu là chỗ đó náo động xôn xao. Có những vị đã khá lớn tuổi rồi mà tâm hồn còn rất đơn sơ. Nào là đòi chụp hình kiểu này kiểu nọ. Tạo dáng thì ôi thôi khỏi nói. Những điều giản dị như vậy có những giá trị thật bất ngờ. Người tu không đua đòi với đời nhưng không có nghĩa là lạc hậu và không biết đời. Cùng chơi với người nhưng để giúp người thăng hoa và nhận ra giá trị của cuộc sống. Anh chị em tu sĩ chúng tôi luôn tâm niệm mình là người con trong giáo xứ thì phải có nhiệm vụ khơi mầm những ơn gọi nơi quê hương của mình. Cũng chính những việc làm mang tính động viên như thế mà năm nào xứ tôi cũng có được một hoặc hai em gia nhập vào đời tu. Chúng tôi đề ra quy chế cho anh chị em là: Mỗi người “lôi kéo” một người đi tu. Luật này nghe có vẻ đời quá nhưng thực ra nó còn bao gồm việc cầu nguyện và giúp đỡ những em nào có ý hướng tu trì.

            Sau những ngày tết, chúng tôi lần lượt lên đường. Ngậm ngùi nhưng vẫn hy vọng. Hy vọng năm sau về đủ mặt.

LAURENSO

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

MÙA XUÂN YÊU THƯƠNG

Hoa xuân, tô thắm đất trời

Chim ca ríu rít, lòng người hân hoan

Mừng vui đón tiết xuân sang

Trong bầu không khí, rộn ràng yêu thương…

Ngợi khen Chúa tể càn khôn

Thương ban nhân loại, mùa xuân đất trời

Mùa xuân sưởi ấm tình người

Xua tan băng giá, khắp nơi chan hòa

Cảm tạ Thiên Chúa là Cha

Ban cho con cái, món quà mùa xuân.

     Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An

MỪNG XUÂN

Mai vàng rực rỡ đón Xuân sang

Đàn én chao nghiêng dưới nắng vàng

Bầy trẻ tung tăng khoe áo mới

Ông Bà hưởng phúc thọ, an khang

Rượu khui, nâng chén trao lời chúc

Trà thắm tình thân, nghĩa xóm làng

Xuân mới muôn nhà vui hạnh phúc

Tân niên tài lộc hưởng giầu sang.

Jos. Nhật Quang

XUÂN GỌI

Xuân sang gọi cánh mai đào,

Vườn xuân khoe nở ngạt ngào sắc hương.

Gọi từng ánh mắt thân thương,

Để em một nỗi vấn vương vào đời.

            Xuân sang gọi những môi cười,

Đưa em bước tới sáng ngời tương lai.

Gọi bao mơ ước ngày mai,

Bình minh tô đẹp vẫn hoài mở ra.

Xuân sang gọi khúc vui ca,

Bao lời hoan chúc chan hòa trong em.

Gọi nên ngày tháng êm đềm,

Phúc thiêng, lộc, thọ, tươi thêm lòng người.

                                    Xuân sang gọi khắp nơi nơi,

Đi vào ngày hội khôn vơi nghĩa tình.

Gọi em niềm mến cậy tin,

Chúa xuân trải xuống ân tình chứa chan.

                                                Xuân sang lộc phúc dâng tràn,

Tình xuân, tình Chúa rộng ban cho đời.

Chúa là xuân của đất trời,

Bên em, xuân mãi gọi lời thương yêu.

 Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

CHÚC  XUÂN 

 Bốn mùa ân phúc Chúa ban

Tân xuân tươi thắm hân hoan lòng người

Muôn hoa khoe sắc khắp nơi

Líu lo chim hót gọi mời vui lên.

            Đầu xuân khẩn nguyện ơn trên

Quốc gia cường thịnh vững bền dân an

Nắng xuân ấm áp tỏa lan

Nhân trần vui sống hòa chan tình người.

 Mừng xuân đón lộc bởi trời

Tấn tài tấn đức tuổi đời thọ cao

Xuân sang ta nguyện chúc nhau

Người người hạnh phúc dạt dào thánh ân.

 Pr. Hồng Khải - Giáo xứ Núi Sập

 

SUY TƯ NGÀY TẾT

 Chuyện đời xưa  có nhiều thiên cổ tích,

Có giao thừa ngồi nấu bánh chưng xanh,

Có cây nêu thịt mỡ với dưa hành,

Có tiếng pháo nổ đâu đây giòn giã.

Chuyện chiếc pháo cũng mang nhiều ẩn số,

             Từ đời xưa cho mãi đến ngày nay,

              Xác tan rồi còn để lại niềm vui,

              Cho nhân thế pháo cười giòn hơn nữa.

Cũng bên cạnh chiếc pháo câm nức nở,

Vì không đem vui thích đến cho người,

Ồ thì ra hạnh phúc ở trên đời,

Chính là lúc đong đầy bằng ban phát.

            Nghe chuyện cũ chuyện ngày nay thầm nhắc,

             Bởi vong thân nên mới lắm bất toàn,

            Tiến bộ nhiều nhưng cũng lắm gian nan,

            Nhiều nghiệp chướng khiến thế nhân quay quắt.

Chuyện đời nay cần xoá đi tự đắc,

Cần tiếng lòng để hoá giải đau thương,

Cần tình yêu làm đối trọng đoạn trường,

Cần nhân bản để xây đời hạnh phúc.

                               Fx. Đức Hạnh, Gx Thái Hoà

 

 

 

MỪNG XUÂN – ĐÓN TẾT

Mừng Xuân – Đón Tết thật hoan ca

Hồng ân, thánh đức, phúc bao la

Bình an, hạnh phúc cùng chung hưởng

Mến Chúa, yêu người thật thiết tha

Mong cho sức khỏe luôn bền vững

Nghĩa tình đằm thắm chẳng phôi pha

Nâng chén rượu nồng, lời kính chúc

Hiệp nhất yêu thương khắp mọi nhà

Đạo đức tăng thêm nhiều hơn nữa

Tin Mừng loan báo khắp gần xa

Gia đình hòa thuận, luôn thánh thiện

Con cái sum vầy với Mẹ Cha

Mừng Xuân – Đón Tết thật hoan ca

Tình nghĩa yêu thương rất đậm đà

Chúc nhau Năm Mới luôn tiến tới

Đời vui nở rộ ngát hương hoa

                                                            HOÀI THANH Gx Ngọc Thạch

MÙA XUÂN ĐẾN

Mùa Xuân đã đến đây rồi,

Trăm hoa khoe sắc, núi đồi xanh tươi.

Trên môi tươi thắm nụ cười,

Niềm vui trong Chúa, người người hân hoan.

Tâm hồn hạnh phúc, bình an,

Yêu thương, tha thứ, chứa chan ân tình.

Dấn thân phục vụ quên mình,

Sống đời nhân chứng, trọn tình thương yêu.

Cảm tạ Tình Chúa cao siêu,

Đã ban năm mới với nhiều hồng ân.

Tình yêu ân sáng vô ngần,

Dâng câu cảm mến, tri ân ngàn đời.

Jos. Nguyễn Minh Đức Gx. Thánh Tâm  

TẢN MẠN

 

TRƯỚC THỀM NĂM MỚI

Trước thềm năm mới chúng ta cần phải làm gì? Trước hết, chúng ta hãy nhìn lại năm cũ: Ta nên dành thì giờ để suy gẫm về quá khứ, về những điều đã làm được và chưa làm được? Ta có sống đúng bổn phận của mình đối với các mối tương quan hay chưa? Chắc hẳn tự đáy tâm hồn mỗi người, sẽ được đánh động, bởi những thước phim được chiếu lại, làm nền tảng cho cuộc biến đổi sâu xa nhờ tác động của Chúa. Tiếp đến là dự phóng tương lai: Mùa xuân là bắt đầu cho một hành trình năm mới. Sau khi đã nhìn lại ký ức cuộc đời, chúng ta hãy lên kế hoạch, nhờ sự hướng dẫn của Chúa, qua những công việc tốt lành sắp thực hiện. Tin chắc mọi thứ sẽ đi vào con đường mà Chúa mong muốn. Thế nhưng, quan trọng nhất vẫn là thái độ khiêm tốn, sẵn sàng sửa chữa khuyết điểm của mình, tạo một bước tiến trong cuộc đời.

Đaminh Lê Hữu Quý, Gx Sáu Bọng

BA NỖI LO NGÀY XUÂN

Ngày xuân không chỉ có vui chơi thôi mà không lo cảnh giác. Có ba nỗi lo rất đáng lo vào những ngày xuân là: xe- xỉn- xòe. Ý như thế này. Trước hết ngày xuân đi đâu cũng dễ thấy tai nạn xe xảy ra. Nên khi lái xe ra đường thì phải lo cái an toàn là trên hết. Kế đến, ngày xuân đi đâu cũng dễ bề ăn nhậu. Thế nên, muốn có những ngày xuân lành mạnh, vui tươi thì phải lo tránh tình trạng quá chén xỉn ngoắc cần câu lâu giờ, lâu ngày mà vẫn chưa tỉnh. Sau cùng, ngày xuân đi đâu cũng thấy có hội xòe, nói chung là hội cờ bạc, nguyên nhân của tình trạng mất trộm tăng. Kết lời, xin kính chúc mọi người có một mùa xuân thật an vui, tròn đầy.

Chí Trung

XUÂN NÀY VẮNG CON

Giờ phút này, con biết nói gì đây khi xuân đã đến gần mà con chưa có lịch về tết với gia đình mình. Không biết nếu vắng con, không khí tết của nhà mình năm nay có được ấm áp và vui vầy không? Ai sẽ cùng Mẹ chuẩn bị cho những ngày tết với bao là thứ việc: dọn dẹp nhà cửa, nội trợ nấu nướng cho các bữa ăn, nhất là vắng đi cái đứa con hay nói hay nghịch hay chạy ngược xuôi việc này việc kia trong nhà. Con vẫn nhớ như in, lúc nào mẹ cũng nói con là cánh tay phải của Ba Mẹ. Thế nhưng, con có phải là đứa con gái bất hiếu hay chăng? Khi được ba mẹ lo lắng cho ăn học thành người suốt bao năm ròng, giờ đây đủ lông đủ cánh con lại bay đến vùng trời mới, đi theo tiếng gọi tình yêu nhiệm mầu, để mặc ba mẹ lo toan với cuộc sống vẫn còn đó nhiều vất vả khó khăn. Con còn nhớ, ngày con ra đi cả nhà mình ai cũng ngậm ngùi. Từ sáng đến lúc con lên xe để đi Sàigòn, mẹ chẳng nói một lời. Con biết ba với mẹ yêu con nhiều lắm!

Bé Mèo, Gx Tân Hải

MỪNG XUÂN MỚI

Trên đường đi học về nhìn thấy mọi người tấp nập đi chợ, dọn dẹp nhà cửa, các ông bố thì phát quang cây cối xung quanh nhà, tỉa nhanh những lá mai để hoa vàng kịp nở vào ngày Tết; đi một quãng tôi thấy đã có nhiều nhà bắt đầu treo lên những băng-rôn “chúc mừng năm mới, năm mới phát tài, tấn tài tấn lộc,…” làm cho trong lòng tôi vui vẻ và phấn khởi hơn chỉ muốn chạy xe nhanh về nhà để cùng gia đình dọn dẹp nhà để đón Tết. Đi đến bến đò, tôi nhìn thấy các anh chị sinh viên đeo những ba lô to, trên tay cầm nhiều quà bánh, nét mặt rất hạnh phúc và đang đợi người nhà ra đón về. Nhìn các anh chị sinh viên tôi nghĩ ngay đến tôi, một suy nghĩ đã hiện lên trong đầu tôi “nếu mình cố gắng học tập chắc chắn sang năm mình cũng giống như các anh chị, mình cũng sẽ được làm sinh viên thôi!”

PNTL, Gh Ba Khu

NĂM MỚI ĐỔI MỚI

Một điều mà chúng ta cần nghĩ đến trong dịp đầu năm mới đó chính là phải biết canh tân: làm người thì cần phải hướng đến chân - thiện - mỹ; muốn làm được điều đó thì con người phải luôn nỗ lực không ngừng để sửa đổi và tu dưỡng bản thân tránh khỏi những thói hư, tật xấu, tránh làm bản thân xuôi theo những cám dỗ trần thế. Canh tân bản thân, canh tân gia đình, khu xóm và xứ đạo; để mọi thứ trở nên tươi mới trong mùa xuân mới này.

Lưu Hành

XUÂN VỀ TRÊN GIÁO HỌ TÔI

Xuân Ất Mùi năm nay, quả là một mùa xuân đặc biệt với tất cả mọi người trong Giáo họ và cách riêng đối với những ai xa quê hương. Chắc hẳn, cũng đang háo hức chờ đợi giây phút được về lại quê nhà đón tết vui xuân cùng gia đình. Được đi trên con đường bêtông sạch sẽ, ngắm nhìn ngôi Thánh đường mới trên khung cảnh và nền đất cũ ngày nào. Quây quần, đoàn tụ cùng nhau trong ngôi Thánh đường vừa quen lại vừa lạ, nghe tết tràn ngập trong cõi lòng, ngắm kì công Chúa đã thể thiện trên Giáo họ tôi. Mỗi người sẽ có những phút giây yên bình để quên đi mọi lo toan, nhọc nhằn, vất vả của năm cũ. Thời gian và không gian hòa quyện trong hơi ấm của tình Chúa, tình người. Thoảng nghe mùi sơn mới, vôi mới nông nồng mà êm dịu biết bao.

Phạm Nguyễn Mộng Uyên, Gh.BK

THỜI GIỜ THUỘC VỀ CHÚA

Một cuộc điều tra mới đây cho thấy: Trong một năm có 8760 giờ, chúng ta đi tới đi lui mất 260 giờ, nói chuyện với người khác mất 310 giờ, tắm rửa sửa sắc đẹp mất 620 giờ, ăn uống mất 930 giờ, nghỉ ngơi mất 2900 giờ, làm việc mất 3650 giờ và chúng ta chỉ dành cho việc đạo đức chỉ có 25 giờ. Chúng ta suy nghĩ gì về mình?

Ant. Nguyễn Đức Xinh, Gx Bình Thái .

NGHĨ VỀ NHỮNG BÔNG HOA

Hoa kia sớm nở tối tàn, vậy mà nó vẫn tươi nở, vô tư khoe sắc tỏa hương, không hề oán than trách móc, dỗi hờn hay khinh bạc kiêu căng. Chẳng bao giờ nó quan tâm đến người ngắt hái, nâng niu nhìn ngắm vỗ về, trìu mến yêu thương hay khinh ghét nó ra sao. Hoa được người cắm trên bàn thờ, hoa mang tặng cho người yêu. Người ta bắt hoa làm đủ thứ, hỉ nộ ái ố đủ nơi, đủ việc trên biển đời mênh mông, và khi người chết hoa cũng theo người đến nơi an nghỉ cuối cùng bên lời kinh cầu truy điệu. Cứ thế mà nghĩ mà suy. Chung qui là hoa chỉ sống để hoàn tất trách nhiệm tỏa sắc hương thơm ngát cho người. Chúa đã ban cho đời những bông hoa thật cao quí thay. Hãy sống như những bông hoa bạn nhỉ, đời sẽ hạnh phúc và tươi đẹp biết bao. Cứ cho đi để được cái vui là mình đã cho, vậy cũng đã là hạnh phúc rồi, Mong thay!

                                                         Mic. Nguyễn Văn Xuân

TÍNH SỔ CUỐI NĂM

Cứ mỗi dịp đón xuân mới, thiết nghĩ những người Kitô hữu cũng nên ngồi lại để “tính sổ” với Thiên Chúa xem trong năm qua mình đã làm được gì trong việc làm cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến. Đã làm được gì cho nhân quần xã hội? Những mặt nào hạn chế? Những gì thiếu sót? Để rồi từ đó cố gắng khắc phục trở nên hoàn thiện hơn trong năm tới. Hãy trở nên giống Chúa Giêsu. “Còn Chúa Giêsu càng thêm tuổi càng thêm tiến tới trong sự khôn ngoan và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và người ta”

Đaminh Trần Văn Chính, gx Đền Thánh Giuse An Bình

XUÂN ĐẾN RỒI XUÂN ĐI

Riêng tôi tết là thời gian tôi nghỉ ngơi thư giãn sau một năm làm việc cực nhọc, là thời gian để tôi nhìn lại bản thân, nhìn lại một năm đã qua và có kế hoạch cho một năm sắp đến, là dịp để mọi người trong gia đình ngồi lại với nhau và là dịp để gặp gỡ bạn bè xưa, là dịp để mọi người trao nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Xuân đến rồi xuân đi nhưng nó để lại những niềm vui, nỗi buồn và những hạnh phúc nào đó. Chúng ta hãy làm cho tết trở nên ý nghĩa hơn đối với mọi người.

Thu Hương, Gx An Sơn

XUÂN TRỞ VỀ

Giờ nghĩ lại tôi cảm thấy có lỗi với mẹ nhiều lắm. Bao năm qua tôi đã không quan tâm đến mẹ, không về thăm mẹ, không về ăn tết với mẹ mà để cho mẹ thui thủi một mình, để mẹ phải ngồi bên mâm cơm trông ngóng tôi về từng ngày. Tôi cứ nghĩ gửi tiền nhiều về cho mẹ là đủ rồi nhưng tôi không bao giờ biết những thứ đó mẹ không cần. Mẹ chỉ cần có tôi, chỉ cần thấy tôi vui và hạnh phúc thôi là đủ rồi. Tôi còn nhớ lúc nhỏ cái tết của tôi thiếu thốn nhiều lắm nhưng rất ấm cúng và hạnh phúc còn giờ mọi thứ đã có đầy đủ thì tôi lại để mẹ phải ăn tết đìu hiu ở quê nhà. Năm nay, tôi nhất định sẽ về ăn tết với mẹ, không để mẹ phải ăn tết một mình nữa, không để mẹ phải hiu quạnh như trước nữa, bữa cơm ngày tết sẽ rộn tiếng cười chứ không còn buồn nữa, tết năm nay sẽ ấm cúng và hạnh phúc hơn nhiều.

Têrêsa Hồng Ân, Gx An Sơn

 

 

 

 

                                                         

 

 

 

 

HÔN NHÂN: ĐỊA NGỤC HAY THIÊN ĐÀNG?

 

Một danh nhân đã hỏi: “Hôn nhân là con đường dắt ta vào địa ngục hay đưa ta vào thiên đàng?” (Balzac). Những ai đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình đều có chung một kinh nghiệm này là hôn nhân với người này là hỏa ngục, nhưng với người khác cũng có thể lại là thiên đàng. Chính vì vậy mà có người đã khẳng định: “Hôn nhân giống như cái lồng chim, con ở trong thì muốn bay ra, còn con ở ngoài thì muốn bay vào” (Montaigne). Người muốn thoát ra khỏi cuộc hôn nhân vì đối với họ đó quả thực là một bi kịch. Còn người muốn bước vào cuộc hôn nhân thì nhìn đó như là một thực tại đem lại hạnh phúc đích thực cho đời mình. Thực tế cho thấy có hai loại hôn nhân mà người ta có thể trải qua. Đó là hôn nhân thiên đàng và hôn nhân địa ngục.

* Hôn nhân thiên đàng

Hôn nhân thiên đàng không phải là hôn nhân của những mộng mơ, viễn tưởng mà trái lại đó là một trường đào tạo, một cuộc chiến đấu cam go của những anh hùng. Như có người đã nói: “Hôn nhân không phải là luống hồng mà là bãi chiến trường” (Danh ngôn). Để có được một cuộc hôn nhân thiên đàng chúng ta phải là những anh hùng dũng cảm thực hiện một số đòi hỏi sau:

Hy sinh vì người yêu. Tình yêu trong hôn nhân đòi hỏi đôi bạn phải hy sinh hết mình vì bạn đời của mình và vì hạnh phúc gia đình. Đó là cách chứng minh tình yêu cụ thể nhất. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói: “Yêu là hy sinh, chưa hy sinh thì chưa gọi là yêu”. Hy sinh cũng là điều kiện để bảo tồn và gia tăng sự hiệp thông, hiệp nhất trong gia đình. Như khẳng định sau đây: “Chỉ có một tinh thần hi sinh cao cả mới giúp gìn giữ được và kiện toàn được sự hiệp thông trong gia đình. (x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn FC số 21, trang 85).

Thực hành 5 chữ “Hòa”. Đó là hòa thuận, hòa hợp, hòa hoãn, hòa bình và hòa đồng. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc không xây dựng trên nền tảng tiền bạc hay điều kiện vật chất này nọ mà là trên mối tương quan êm ấm giữa hai vợ chồng. Mối tương quan ấy có được là do đôi bạn luôn biết tùng phục, yêu thương và kính trọng nhau, căn cứ lời khuyên nhủ của thánh Phaolô, như sau: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, thân thể của Người. (Eph 5,21-33). Quả vậy, tình yêu chân chính, lòng quảng đại, sự bao dung, tinh thần trách nhiệm, sự chung thủy luôn là những điều kiện cần thiết bảo đảm cho một cuộc hôn nhân lâu bền, hạnh phúc. Người Kitô hữu trưởng thành luôn biết bảo vệ và trân trọng hôn nhân của mình như một ơn huệ và ơn gọi đến từ Thiên Chúa. Họ vui mừng hãnh diện vì được cộng tác và chia sẻ công việc của Thiên Chúa. Họ được nên thánh, được góp phần xây dựng và phát triển những “Hội thánh tại gia” là những gia đình đạo đức, hạnh phúc đích thực, họ loan báo Tin Mừng cho thế giới bằng đời sống chứng tá sáng chói và nổi bật.

* Hôn nhân địa ngục

Đối nghịch với hôn nhân thiên đàng là hôn nhân địa ngục. Đó là một thứ hôn nhân đau đớn, thảm họa và ngục tù. Những ai rơi vào tình cảnh một cuộc hôn nhân thế đều có chung một cảm nghiệm là “Có chồng như gông đeo cổ”, hoặc “Lấy vợ như mang nợ vào thân”.  Tình trạng hôn nhân bi đát ngày càng phổ biến và các cuộc ly hôn ngày càng gia tăng. Theo A Family thì “Tỷ lệ ly hôn ngày một tăng. Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ. Người vợ đứng đơn ly hôn hiện gấp 2 lần so với người chồng đứng đơn”.

Bên cạnh những cuộc đổ vỡ “hữu hình” là các vụ ly hôn, còn có những “thảm kịch vô hình” trong các gia đình khi mà vợ chồng sống với nhau như người dưng nước lã, hay tệ hơn như kẻ thù. Người ta đã từng than thở: “Hôn nhân là mồ chôn tình ái” (Chamfort). Một khi hôn nhân không còn đem lại cho ta hạnh phúc nữa thì đó chẳng khác gì ngục tù giam hãm trái tim con người. Người ta mơ mộng khi lấy nhau và đã vỡ mộng khi sống chung với nhau. Vậy đâu là những lí do gây nên tình trạng trên? Có mấy nguyên nhân chính sau đây:

Hôn nhân vô cảm. Khi mới lấy nhau thì tình yêu cháy bỏng, nhưng sau một thời gian kết hôn, người ta trở nên thờ ơ, lạnh nhạt và nhàm chán nhau. Người này kêu ca, oán trách người kia. Sự mâu thuẫn, bất đồng ngày một gia tăng. Đôi bạn sống hoàn toàn vô cảm với nhau, ngay cả khi một trong hai đang cần sự đồng cảm để vượt qua những khó khăn bản thân. Một khi sự vô cảm gia tăng thì người ta trở nên bi quan, tiêu cực, dễ dàng buông xuôi, bỏ cuộc. Sự vô cảm trong hôn nhân là dấu hiệu đầu tiên của sự mất hiệp thông trong gia đình. Và từ đây kéo theo hệ lụy là vợ chồng chia rẽ, xung khắc, bất hòa, ly thân, ly dị.

Hôn nhân vô trách nhiệm. Ai cũng biết trong một cuộc hôn nhân bình thường thì quyền lợi của hai vợ chồng phải chịu thiệt đi mỗi người một nửa, trong khi nghĩa vụ của họ cần phải nhân đôi lên. Quả thực, khi lập gia đình, đôi bạn nam nữ không còn sống cho mình và chết cho mình nữa, trái lại họ phải sẵn sàng chu toàn nhiều bổn phận nặng nề trong gia đình, phải hy sinh vì người khác, cho người khác. Vậy mà trong nhiều trường hợp, họ sống vô trách nhiệm. Người chồng quên rằng mình là gia trưởng. Người vợ quên rằng mình là nội tướng. Họ dành thời gian, công sức, tiền bạc cho những mục đích riêng tư cá nhân hơn là cho gia đình. Một khi hai người không còn quan tâm đến gia đình, đến bổn phận vợ chồng nữa thì hậu quả sẽ là nghèo túng, thiếu thốn, mâu thuẫn, bất đồng và ly tán…

Hôn nhân vô đạo đức. Hôn nhân vô đạo đức là một cuộc hôn nhân trong đó hai người cư xử với nhau một cách tệ bạc, không còn “phu xướng phụ tùy” hay “tương kính như tân” như mong đợi. Chồng đánh vợ. Vợ chửi chồng. Bạo lực xảy ra hằng ngày trong gia đình. Căn bệnh vô đạo đức trong hôn nhân ngày nay khá phổ biến. Vấn đề bạo hành, bạo lực trong gia đình đang ở mức báo động. Theo thống kê gần đây nhất thì “Cứ hai phụ nữ kết hôn thì có một người phải chịu ít nhất một hình thức bạo lực trong đời. Thống kê tình trạng bạo hành gia đình vài năm qua cho thấy 71,44% nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái”. Một gia đình mà trong đó các thành viên thường xuyên bị hành hạ, tra tấn, đánh đập, thì làm sao có bầu khí êm ấm, hòa bình, hạnh phúc được.

Thiết nghĩ, để thoát ra khỏi một cuộc hôn nhân u ám, đau đớn và địa ngục, chúng ta phải thức tỉnh và cảnh giác. Thức tỉnh để tái khám phá bản chất, ý nghĩa, mục đích đích thực của hôn nhân là gì. Cảnh giác để khỏi bị lôi kéo vào quỹ đạo của nếp sống vô cảm, vô trách nhiệm và vô đạo đức. Đời sống vợ chồng không tránh khỏi sóng gió, nhưng nếu chúng ta biết lấy tình yêu chân thành mà đối xử với nhau thì mọi sự sẽ tốt đẹp. Vì “Tình yêu chiến thắng tất cả!”.

 

Aug. Trần Cao Khải

 

 

BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

ĐỨC CHA PHỤ TÁ CÔNG DU ÚC VÀ MỸ

Ngày 26.12.2014, Đức cha Phụ tá khởi hành lên Saigon, để rồi ngày hôm sau, từ phi trường Tân Sơn Nhất, ngài sẽ bay qua Úc và ở tại đây một tuần. Sau đó, ngài tiếp tục bay qua Mỹ và lưu lại hai tuần. Ngài về tới Hà Nội ngày 19.01, để cùng với quý Đức cha tiếp đón đức Hồng Y Filoni viếng thăm Việt Nam.

 

NGÀY TRUYỀN THỐNG HIẾU THẢO TẠI RẠCH GIÁ

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 12, là lễ kính thánh Gioan Tông Đồ, đồng thời cũng là ngày “Truyền thống hiếu thảo” của giáo phận Long Xuyên đối với các Linh mục đang hưu dưỡng. Cộng đoàn giáo xứ Đền Thánh Giuse Rạch Giá hân hoan đón chào đón quý cha già cố đang hưu dưỡng tại các giáo hạt Vĩnh Thạnh, Vĩnh An, Tân Hiệp, Tân Thạnh, Rạch Giá và Hà Tiên, cha Tổng Đại Diện và quý cha Quản hạt. Trước thánh lễ, Cha Tổng Đại Diện và Cha Đại Diện đã trao những lẵng hoa và chia sẻ phần quà mà mọi người hiện diện dâng kính. Kế đến, ông Phó Chủ tịch Hội Đồng Giáo xứ Đền Thánh Giuse Rạch Giá đã đại diện cộng đoàn có lời chúc mừng.

 

NGÀY ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA

TẠI DÒNG CHÚA QUAN PHÒNG

Ngày 27.12.2014, lễ kính Thánh Gioan Tông Đồ, bổn mạng nhà Hưu Dưỡng Tu Viện Chúa Quan Phòng Cù Lao Giêng; trong tâm tình tri ân cảm tạ, Đức Giám mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã viếng thăm quý sơ hưu tại đây. 9g30, Thánh lễ bắt đầu với 16 cha đồng tế, trong bầu khí trang nghiêm và ấm cúng. Qua phần phụng vụ Lời Chúa, Đức cha đã nói lên sứ điệp quan trọng của mùa Giáng Sinh là hãy đón nhận và yêu thương những em nhỏ như đón nhận và yêu thương Con Trẻ Giêsu. Ngoài ra, trong bối cảnh của nhà hưu dưỡng, sau một thời  gian dài phục vụ trên cánh đồng của Chúa, quý sơ cao niên nay trở về với nhà hưu dưỡng, nhưng vẫn âm thầm phục vụ Giáo Hội qua những hy sinh và những lời cầu nguyện; vì thế, hãy đón nhận và yêu thương những người già cả như đón nhận và yêu thương Mẹ Maria.

 

DÒNG THÁNH GIA MỪNG BỔN MẠNG  VÀ ĐẶT VIÊN ĐÁ ĐẦU TIÊN XÂY DỰNG NHÀ NGUYỆN

Ngày 28.12.2014, Chúa Nhật Lễ Thánh Gia, dòng Thánh Gia vui mừng đón Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu, đông đảo quý cha và quý khách đến hiệp dâng Thánh lễ mừng bổn mạng nhà dòng và đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi nhà nguyện mới. Thánh lễ bắt đầu lúc 9g30 với 50 cha đồng tế. Đức Giám Mục đã lấy gương mẫu sáng ngời của Thánh Gia để mỗi gia đình, đời thường cũng như dòng tu, noi theo. Lễ nghĩa gia phong nơi Thánh Gia, đó là sự khiêm nhường, sự vâng phục và tình yêu thương nhau. Qua đó, Đức Cha mời gọi mỗi gia đình phải trở thành một gia đình thực sự, một gia đình thương yêu lẫn nhau, vâng phục các bề trên, mỗi người sống đúng chức danh của mình.

 

NGÀY TRUYỀN THỐNG HIẾU THẢO TẠI CẦN XÂY

Ngày 30.12.2014, Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu, khoảng 50 Linh mục và đông đảo bà con giáo dân, thân nhân, bạn bè đã họp mặt về nhà hưu dưỡng của giáo phận, trên địa hạt giáo xứ Cần Xây; để dâng thánh lễ tri ân quý cha hưu, những thợ gặt chuyên cần đã dành cả cuộc đời trên cánh đồng của Chúa. 9g Thánh lễ bắt đầu, cha giám đốc nhà hưu dưỡng Phêrô Mai Đức Vượng có đôi lời giới thiệu về lịch sử nhà hữu dưỡng và quý cha hưu hiện đang hiện diện tại nhà hưu dưỡng. Hiệp cùng lời cầu nguyện, lời chúc mừng; đại diện giáo dân đã kính dâng lên quý cha hưu những bó hoa tươi thắm và thơm ngát để tỏ lòng tri ân tới quý cha hưu.

THÁNH LỄ AN TÁNG CHA SEBASTIANÔ ĐỖ ĐỨC PHỔ

Tòa giám mục LX trân trọng báo tin: Cha Sebastianô Đỗ Đức Phổ hiện là giám đốc nhà Hưu Hà Nội, số 116b Hùng Vương, Quận 5, TP. HCM, đã qua đời vào lúc 01g00 sáng ngày 29.12.2014. Cha Sebastianô sinh ngày 14.01.1934 tại Tầm Khê, Phú Xuyên, Hà Tây. Vào Tiểu Chủng Viện Hà Nội năm 1948. Vào Đại Chủng Viện Xuân Bích Thị Nghè năm 1959. Được Thụ Phong Linh mục tại Sàigòn năm 1966. Sau đó, cha đã phục vụ tại các giáo xứ: Cù Lao Giêng, Mỹ Luông, An Sơn, Ngọc Thạch, Bình Minh

* Từ 2000: nghỉ hưu tại nhà Hưu Dưỡng Hà Nội

* Từ 2010: Giám Đốc nhà Hưu Dưỡng Hà Nội

Thánh lễ An táng được cử hành vào lúc 05g00 ngày 31.12. 2014 tại nhà thờ Ngã Sáu, quận 5 TP. Hồ Chí Minh, với sự hiện diện của Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu, Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, cha Ignatio Hồ Văn Xuân, đại diện Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, khoảng 100 cha đồng tế, cùng sự tham dự đông đảo của các tu sĩ nam nữ và bà con giáo dân.

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ GX ÔNG CHƯỞNG, CHỢ MỚI

Ngày 01.01.2015, đối với giáo xứ Ông Chưởng, do Linh mục Vincente Bùi Tuấn Hiếu phụ trách, là một ngày đáng ghi nhớ, khi Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu về thăm mục vụ và khánh thành ngôi Thánh đường mới, sau hơn 3 năm xây dựng. 9g30, Thánh lễ mừng kính Mẹ Thiên Chúa, bổn mạng giáo phận và cầu cho hòa bình thế giới được bắt đầu với khoảng 60 cha đồng tế. Đức Cha đã cử hành nghi thức làm phép tượng, cắt băng khánh thành và trao chìa khóa nhà thờ cho cha sở mở cánh cửa Thánh đường. Trong bài giảng, ngài kêu gọi mọi người cùng suy tư về vai trò của gia đình từ sứ điệp hòa bình thế giới của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: Không có tình huynh đệ chúng ta không thể xây dựng một xã hội công bằng và một nền hòa bình bền vững. Trong đó, gia đình là nền tảng và con đường chính yếu để xây dựng tình huynh đệ. Sau phần phụng vụ Lời Chúa là nghi thức thánh hiến bàn thờ qua việc xức dầu, xông hương và thắp nến trên bàn thờ.

 

 

M?NG KÍNH MẸ THIÊN CHÚA TẠI HÒN CHÔNG

Sáng thứ Năm, ngày 01 tháng Giêng năm 2015, Giáo xứ Hòn Chông đã long trọng tổ chức ngày lễ mừng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, Nữ Vương Hòa Bình, Bổn Mạng của giáo phận và giáo xứ. Thánh lễ hôm nay do Cha Tổng Đại Diện Luois G. Huỳnh Phước Lâm chủ tế. Đồng tế với ngài có hai Cha Đại Diện Michael Lê Xuân Tân và Giuse Nguyễn Văn Việt, quý Cha Hạt Trưởng, 17 cha trong khu vực và trên 5000 người hiệp dâng thánh lễ. Trong phần chia sẻ Lời Chúa, Cha Tổng Đại Diện kêu gọi mọi người hãy chạy đến cùng Mẹ và nhờ Mẹ chúng ta đến với Chúa.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ RẠCH SỎI

Ngày 04.01.2015, Lễ Chúa Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại; đại diện là 3 vị đạo sĩ từ phương xa theo dấu ngôi sao lạ, lặn lội đến Belem triều bái Người. Qua đó, chúng ta hãy cầu nguyện, xin Chúa tỏ mình ra cho bản thân chúng ta được biết Chúa nhiều hơn, để có dịp đem Chúa đến cho người khác. Đó là lời mời gọi đầu lễ của Đức Giám Mục giáo phận khi ngài đến vi?ng th?m và ban Bí tích Thêm sức cho 40  em t?i giáo xứ Rạch Sỏi. 9g30, Thánh lễ được b?t ??u v?i 14 cha đồng tế, cùng s? tham d? c?a các n? tu và ?ơng ??o bà con giáo dân. Chiêm ngắm điều kỳ diệu trong mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh, đó là chủ đề được Đức Giám Mục chia sẻ trong bài giảng. Điều kỳ diệu ấy được tỏ bày qua việc sáng tạo và phục hồi con người của Thiên Chúa, qua tiếng xin vâng nhỏ bé của Mẹ Maria trong công trình cứu chuộc. Điều kỳ diệu ấy làm cho chúng ta phải thốt lên lời ca ngợi, tạ ơn Chúa.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM

Ngày 11.01.2015, lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 67 con em thuộc giáo xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm, thị trấn Hòn Đất, do cha sở Gioankim Nguyễn Đức Cần, hai cha phó Tôma Nguyễn Văn Thanh và Alphongso Nguyễn Lê Kha phụ trách. Trong Thánh lễ, Đức Cha đã chia sẻ về ơn gọi làm con Thiên Chúa của chúng ta. Qua những cố, Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua Chúa Giêsu chúng ta được lãnh nhận ơn vô cùng cao quý là làm con Thiên Chúa, được quyền gọi Thiên Chúa là Cha. Do đó, trong tâm tình của một người con, chúng ta phải hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha và sống tình bác ái huynh đệ với anh chị em con một Cha.

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM

TRONG NĂM 2014

1/ Khánh thành Văn phòng Hội đồng Giám mục. Sau 3 năm xây dựng, Văn phòng HĐGMVN, toạ lạc tại 72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM, đã hoàn tất. Lễ khánh thành được cử hành trọng thể vào lúc 18g15 thứ Năm 24.4.2014

2/ Kỷ niệm 400 năm Dòng Tên đến loan báo Tin Mừng trên Đất Việt. Ngày 18.01.2014, tại nhà thờ Chánh toà Sàigòn, ĐTGM phó Phaolô Bùi Văn Đọc đã cử hành Thánh Lễ khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 400 năm Dòng Tên đến loan báo Tin Mừng trên Đất Việt. Năm Thánh sẽ bế mạc ngày 18-01-2015.

3/ Legio Mariae kỷ niệm 66 năm hiện diện tại Việt Nam. Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và mừng Đại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, đồng thời kỷ niệm 66 năm Legio Mariae hiện diện trên đất Việt (12/08/1948–12/08/2014), đông đảo hội viên Legio cùng với quý cha, quý tu sĩ linh giám đã cử hành Thánh lễ tạ ơn vào lúc 10 giờ sáng thứ Bảy 2.8.2014 tại nhà thờ giáo xứ Thị Nghè.

4/ Lễ khánh thành và cung hiến Nhà thờ Chánh toà gp Phú Cường. Sau gần 5 năm thi công, nhà thờ Chánh toà mới, một công trình của toàn thể Dân Chúa giáo phận Phú Cường, đã hoàn tất và thứ Sáu ngày 25.4.2014 Nhà thờ Chánh toà mới đã được cung hiến và khánh thành.

5/ Tân Tổng giám mục Tổng giáo phận Saigon. Ngày 22.3.2014, ĐTC đã chấp thuận đơn từ nhiệm TGM Saigon của ĐHY GB Phạm Minh Mẫn. Theo giáo luật, kế nhiệm ĐHY GB là Đức Phaolô Bùi Văn Đọc.

6/ Tân giám mục giáo phận Mỹ Tho. Ngày 26.7.2014, ĐTC đã bổ nhiệm Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, hiện đang là Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Saigon, hiệu toà Trofimiana, làm Giám mục giáo phận Mỹ Tho.

7/ Tân Giám mục phụ tá giáo phận Long Xuyên. Ngày 05.4.2014, ĐTC đã bổ nhiệm cha Giuse Trần Văn Toản, Giám đốc Trung tâm Mục vụ giáo phận Long Xuyên, làm Giám mục phụ tá giáo phận Long Xuyên, hiệu toà Acalisso. Lễ tấn phong tân Giám mục diễn ra ngày 29.5.2014 tại Nhà thờ Đài Đức Mẹ Tân Hiệp, giáo phận Long Xuyên.

8/ Đức Tổng giám mục Phêrô Nguyễn Văn Tốt: Sứ Thần Toà Thánh tại Sri Lanka. Ngày 22.3.2014, ĐTC đã bổ nhiệm ĐTGM  Phêrô Nguyễn Văn Tốt, hiệu toà Rusticiana, hiện đang là Sứ thần Toà Thánh tại Costa Rica, làm Sứ thần Toà Thánh tại Sri Lanka. Ngài đã từng đảm nhiệm chức vụ Sứ thần Toà Thánh tại các quốc gia: Benin và Togo (2002), Chad và Cộng hoà Trung Phi (2005), Costa Rica (2008).

9/ Hồ sơ xin phong Chân phước cho cha Trương Bửu Diệp không có gì ngăn trở. Ngày 31.10.2014, Bộ Phong Thánh đã chính thức gửi thư cho Đức cha Stêphanô Tri Bửu Thiên, Giám mục giáo phận Cần Thơ, thông báo rằng không có gì ngăn trở trong việc xúc tiến hồ sơ xin phong Chân phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

10/ Cuộc họp vòng thứ năm của Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam–Toà Thánh. Từ ngày 10-11.9.2014, Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam–Toà Thánh đã nhóm họp vòng thứ năm tại Hà Nội, nhằm “củng cố và phát triển quan hệ song phương giữa Việt Nam và Toà Thánh”.

 

ĐỨC TÂN HỒNG Y PHÊRÔ NGUYỄN VĂN NHƠN

Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật, ngày 04.01.2015 tại quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC đã công bố danh sách 15 Tân Hồng Y. Trong số đó có Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám Mục Tổng Giáo phận Hà Nội. Ngài là vị Hồng Y thứ sáu trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Ngài sinh ngày 01.4.1938 tại Đàlạt. Thụ phong linh mục ngày 21.12.1967, được bổ nhiệm làm Giám mục phó Đàlạt ngày 11.10.1991 và trở thành Giám mục Chánh tòa Đalạt ngày 23.3.1994. Ngày 22.4.2010, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục phó Tổng giáo phận Hà Nội và trở thành Tổng Giám mục Hà Nội ngày 13.5.2010.

 

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

TRONG NĂM 2014

1/ Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình. Thượng Hội đồng Giám mục đã khai mạc Khoá ngoại thường về gia đình vào Chúa nhật 05.10. Chủ đề là “Các thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh của công cuộc loan báo Tin Mừng”. Sáng Chúa nhật 19.10, Khánh nhật Truyền giáo 2014, ĐTC và các nghị phụ đã đồng tế Thánh lễ bế mạc và tuyên phong Chân phước cho ĐGH Phaolô VI.

2/ Tôn phong hiển thánh hai Đức giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II. Chúa nhật 27.04.2014, lễ kính Lòng Chúa Thương Xót, lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử, hai vị giáo hoàng được tôn phong hiển thánh trước sự hiện diện của hai vị Giáo hoàng và gần một triệu tín hữu.

3/ Năm Đời sống thánh hiến. “Năm Đời sống thánh hiến” do ĐTC thiết lập đã chính thức khai mạc vào Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng, 30.11.2014 và sẽ kết thúc vào ngày 02.02.2016.

 

4/ Thành lập Quốc vụ viện Kinh tế. Với Tự sắc Fidelis dispensator et prudens ban hành ngày 24.02.2014, ĐTC thành lập Quốc vụ viện Kinh tế, và bổ nhiệm ĐHY Georges đứng đầu. Đây là một cấu trúc mới có nhiệm vụ “điều phối trong lĩnh vực kinh tế và hành chính của Toà Thánh và Nhà nước Vatican”.

5/ Đức Thánh Cha tông du Thánh Địa. Trong ba ngày từ 24 đến 26 tháng Năm, ĐTC đã thực hiện chuyến tông du Thánh Địa, để kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ đại kết lịch sử giữa Đức Giáo hoàng Phaolô VI và Đức Thượng phụ Athenagoras.

6/ Cầu nguyện cho hoà bình tại Thánh Địa. Buổi “Gặp gỡ-cầu nguyện cho hoà bình tại Thánh Địa”, theo sáng kiến của ĐTC trong chuyến tông du Thánh Địa 3 ngày hồi cuối tháng 5. 2014, đã diễn ra tại Vatican ngày 08.6.2014 với sự hiện diện của Tổng thống Israel Shimon Peres, Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas, Đức Thượng phụ Bartholomaios và ĐTC.

7/ Đức Thánh Cha tông du Thổ Nhĩ Kỳ. Từ ngày 28 đến 30.11.2014, ĐTC đã thực hiện chuyến tông du Thổ Nhĩ Kỳ. Chiều kích đại kết là nét chính của chuyến viếng thăm này. Kết thúc chuyến tông du, ĐTC và Đức Thượng phụ Bartholomaios I đã ký một Tuyên bố chung.

 

8/ Đức Thánh Cha tông du Hàn Quốc và tham dự Đại hội Giới trẻ châu Á. Từ ngày 14 đến 18 tháng 8, ĐTC đã đã thực hiện chuyến tông du Hàn Quốc. Đây là chuyến tông du đầu tiên đến châu Á của Đức Thánh Cha Phanxicô. Trong dịp này, Đức Thánh Cha đã tham dự Đại hội Giới trẻ châu Á lần thứ sáu và tôn phong Chân phước cho Paul Yun Ji-Chung và 123 người bạn, tất cả đều chịu tử đạo vì đức tin.

9/ Đức hồng y Tauran được bổ nhiệm làm Hồng y Nhiếp chính. Ngày 20.12.2014, Đức hồng y Jean-Louis Tauran đã được ĐTC bổ nhiệm làm “Hồng y Nhiếp chính của Giáo hội Rôma”. Năm nay ngài 71 tuổi, đã từng là “Bộ trưởng Ngoại giao” từ năm 1990 đến 2003. Từ năm 2007, ngài là Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn.

10/ Chủ tịch Hội đồng Giám mục của Cộng đồng Công giáo “thầm lặng” Trung Quốc qua đời. Đức Giám mục Giuse Phạm Trung Lương, Dòng Tên, giám mục Thượng Hải, 96 tuổi, Chủ tịch Hội đồng Giám mục của Cộng đồng Công giáo “thầm lặng” Trung Quốc, và là người lãnh đạo cộng đồng Công giáo “thầm lặng” tại Thượng Hải, qua đời tại Thượng Hải hôm Chúa nhật 16.3.2014, sau một thời gian dài lâm bệnh.

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

 

GX. CHÁNH TÒA LONG XUYÊN

Nhà thờ Chánh Toà: 9 Nguyễn Huệ A, Phường Mỹ Long,

Thành phố Long Xuyên, An Giang.

    ĐT: 076.3842.570 – 076.3847.055

 

 

1. Số giáo dân:

+ Giáo xứ Long Xuyên gồm 8 phường xã: Mỹ Long, Mỹ Xuyên, Mỹ Bình, Bình Đức, Bình Khánh, Mỹ Hoà, Mỹ Phước, Mỹ Quý.

+ Dân số: 165.000 người.

+ Số giáo dân khoảng 5000, chiếm tỷ lệ 5,25 %.

2. Lịch sử hình thành & phát triển:

* Giáo xứ Long Xuyên được thành lập trên 100 năm, có nhiều kênh rạch, ao hồ. Cha sở tiên khởi là Cha Collot (MEP), sau đó là Cha Trần Ngọc Quý, Cha Đức, Cha Piô Nguyễn Hữu Mỹ, Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu, Cha Phaolô Lê Thành Đạo, cha Phêrô Lê Văn Kim, cha LG Huỳnh Phước Lâm và cha Micae Lê Xuân Tân. Giáo xứ Long Xuyên nằm ở trung tâm Thành phố Long Xuyên, nhờ đô thị hoá, dân cư gia tăng theo thời gian, nhờ đó giáo dân cũng tăng theo.

3. Nhà thờ: Xây dựng & chỉnh trang:

* Nhà thờ Thánh Tôma được xây năm 1903, trở thành nhà thờ Chánh Toà từ năm 1960 đến 1972.

* Nhà thờ Chánh Toà mới được xây năm 1958, do cha Piô Nguyễn Hữu Mỹ phụ trách, chiều dài 60m, rộng 18m, cao 20m, tháp chuông cao 55m, được khánh thành: 15/08/1973

4. Các linh mục phụ trách hiện nay:

* Cha sở Micae Lê Xuân Tân

* Cha phó Giuse Đinh Quang Thành.

* Cha phó Gioan B. Nguyễn Văn Tuấn

* Cha phó Phaolô Lê Bá Tùng

5. Những đặc điểm:

* Giáo dân ở rải rác khắp 8 phường xã, sống chung với đồng bào tôn giáo bạn như Tin Lành, Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Đài. Lương giáo sống hoà đồng với nhau. Một số giáo dân ở những nơi khác đến sinh sống rồi lại ra đi, đa số giáo dân là nghèo làm thuê mướn, buôn bán nho nhỏ, vì sống lẫn lộn với lương dân cho nên có nhiều hôn phối khác đạo và rối rắm cũng nhiều, nguội lạnh trễ nãi không ít, tệ nạn xã hội cũng khá vì môi trường xấu ảnh hưởng.

6. Cộng đoàn tu: Có hai Tu Sở Chúa Quan Phòng cộng tác trong việc mục vụ.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1112
Tất cả: 45,856,433