Tĩnh tâm tháng 01 năm 2015

TĨNH TÂM

THÁNG 01 NĂM 2015

 

 

 

CHÚC MỪNG

NĂM MỚI 2015

 

 

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 01năm 2015

 

 

CANH TÂN ƠN GỌI VÀ TÁC VỤ LINH MỤC

TRONG VIỆC TÂN PHÚC ÂM HÓA

ĐỜI SỐNG GIÁO XỨ

 

 

Anh chị em thân mến,

1. Chúng tôi, các giám mục trong giáo phận thân ái gửi đến toàn thể cộng đoàn dân Chúa lời chào yêu thương và phúc lành của Thiên Chúa.

Chúng ta hiệp thông với toàn thể giáo hội Việt Nam bắt đầu bước vào niên lịch phụng vụ 2015, với định hướng từ thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về Tân Phúc Âm Hóa đời Sống các Giáo Xứ và Cộng Đoàn sống đời Thánh Hiến.

Trong thư mục vụ, HĐGMVN đã nhấn mạnh:“Chúng tôi xác tín rằng việc Phúc-Âm-hóa giáo xứ phải được bắt đầu từ chính hàng linh mục. Chúng tôi cảm ơn anh em linh mục đã tận tụy và trung kiên với công việc phục vụ cộng đoàn được trao phó cho anh em. Tuy nhiên chúng ta không được quyền tự mãn với những gì đã làm, nhưng phải không ngừng canh tân đời sống bản thân cũng như cung cách thi hành tác vụ linh mục” (số 6).

Thư mục vụ đầu tiên của giáo phận trong năm 2015 cũng bắt đầu từ Phúc Âm hóa hàng linh mục.

1. Như anh chị em đã biết, linh mục là người được tuyển chọn, được huấn luyện, được thánh hiến, và được sai đi đến với con người vì sứ vụ. Theo giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II, thì Đức Ái Mục Tử nằm ở trung tâm của căn tính, sứ vụ và đời sống thiêng liêng của linh mục giáo phận. Đây là sự tham dự vào Đức Ái Mục Tử của Đức Kitô, được thể hiện trong sự hiệp thông với nhiệm thể Chúa Kitô, nhằm phục vụ con người như đoàn chiên của Thiên Chúa. Theo ý nghĩa này, thì Đức Ái Mục Tử là một ân ban và một lời mời gọi từ Chúa, đòi hỏi một đáp trả với sự tự nguyện từ phía người linh mục.

2. Vì thế, người linh mục giáo phận (linh mục triều) sống ơn gọi và thi hành tác vụ linh mục giữa dân chúng, và được nhận diện bởi Đức Ái Mục Tử trong việc trao hiến chính mình trọn vẹn. Việc trao hiến chính mình được thể hiện qua sứ vụ Lời Chúa, cử Bí tích, và Tông đồ, cũng như trong các mối tương quan trong giáo hội cũng như ngoài xã hội. Như vậy, Đức Ái Mục Tử định cách suy nghĩ, chọn lựa và hành động ý thức mình là khí cụ sống động của Chúa Thánh Thần để thi hành sứ vụ của Chúa Kitô.

3. Trong sự đa dạng và phong phú của sứ vụ linh mục, Đức Ái Mục Tử sẽ trở thành  nguyên lý năng động bên trong có thể thống nhất nhiều hoạt động khác nhau của cuộc hành trình ơn gọi linh mục (PDV 23). Cũng chính Đức Ái Mục Tử này tổng hợp các giá trị từ Tin Mừng, đồng thời thúc đẩy và giúp các linh mục sống theo gương mẫu của Đức Kitô qua đời sống vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh (PDV 27). Với Đức Ái Mục Tử, linh mục trở thành đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Mục Tử.

4. Để có thể thực hiện được lý tưởng trên, trước hết người linh mục phải là người sống kết hợp mật thiết với Chúa Kitô. Vì, chức linh mục gắn kết một người vào Đức Kitô một cách thế đặc biệt, để phục vụ cho nhiệm thể Ngài là giáo hội. Vì thế, linh mục phải là người cầu nguyện. Nhờ đời sống chiêm niệm, linh mục thiết lập mối tương quan thân tình và riêng tư với Chúa Kitô. Nhờ thực hành sự cầu nguyện trong hiệp thông với cộng đoàn, linh mục là hiện thân của Chúa Kitô nguyện cầu giữa cộng đoàn dân chúng. Và với tác vụ, linh mục còn là người hướng dẫn, tổ chức và chủ sự một cộng đoàn cầu nguyện. Như vậy, cầu nguyện không phải là chuyện thuần túy riêng tư của mình, nhưng là một bổn phận mà linh mục mắc nợ với những người được trao phó cho mình chăm sóc.

5. Kế đến, là sự hiệp thông với Đức giám mục và anh em linh mục đoàn trong giáo phận, làm thành một nhóm thừa tác viên phục vụ cho lợi ích chung của giáo hội địa phương. Theo ý nghĩa này, một linh mục được đức giám mục bổ nhiệm chính là đại diện của đức giám mục giáo phận hiện diện giữa cộng đoàn dân Chúa. Như vậy, người linh mục luôn ý thức mình thuộc về linh mục đoàn của giáo phận, cùng với anh em linh mục trong giáo phận dấn thân thi hành sứ vụ của giáo hội địa phương. Hơn nữa, chính sự hiệp nhất trong linh mục đoàn, bao gồm các giám mục và linh mục giáo phận, là một chứng tá hùng hồn cho toàn thể cộng đoàn dân Chúa và cho thế giới về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa.

6. Ngoài ra còn là mối tương quan với cộng đoàn dân Chúa. Trong mối tương quan nay, linh mục đóng vai trò là “người lãnh đạo trong khiêm tốn phục vụ”. Với bí tích truyền chức và sự bổ nhiệm của đức giám mục, Chúa Thánh Thần sử dụng linh mục là người hướng dẫn dân chúng đến sự trưởng thành trong ơn gọi và sứ mạng của một Kitô hữu. Cũng trong tư cách là người tôi tớ lãnh đạo cộng đoàn, vai trò của linh mục là gây ý thức phẩm giá bình đẳng của mọi người Kitô hữu và thúc đẩy mọi người thực thi sứ mạng tông đồ được trao ban cho mình qua bí tích rửa tội (Lumen Gentium 10-11). Trong việc phục vụ các cộng đoàn giáo xứ, các linh mục Long Xuyên đang thực hiện đường hướng “tham gia hiệp thông đồng trách nhiệm vì sứ vụ” không chỉ giữa các Kitô hữu giáo sĩ và tu sĩ, mà còn cả các kitô hữu giáo dân nữa.

7. Cuối cùng là mối tương quan với cộng đồng dân cư tại địa phương. Dấu chỉ thời đại qua Đức Giáo Hoàng Phanxico đòi buộc các linh mục phải đi ra ngoại biên để xây dựng tình liên đới và rao giảng Tin Mừng cho những người đang hiện diện bên lề xã hội. Trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng, linh mục là người của đối thoại. Trong cách sống đối thoại với người nghèo, với các nền văn hóa, với các tôn giáo bạn, với những người vô thần, linh mục trở thành chứng nhân cho những giá trị của Tin Mừng và là dấu chỉ cho sự hiện diện của Nước Thiên Chúa, Nước của sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.

Anh chị em thân mến

Ơn mà toàn thể giáo phận luôn nài xin và trách nhiệm mà tất cả mọi thành phần dân Chúa trong giáo phận luôn ý thức là sự canh tân đời sống và tác vụ linh mục giữa cộng đoàn dân Chúa. Chính vì thế, chúng tôi ước mong, vào những ngày thứ Năm, đặc biệt thứ Năm đầu tháng của năm 2015 này, các cộng đoàn giáo xứ, giáo họ, cũng như các đoàn thể đạo đức, sẽ tổ chức Thánh Lễ và làm Giờ Thánh cầu nguyện cho các linh mục nói chung, đặc biệt các linh mục của giáo phận Long Xuyên. Xin hết lòng cám ơn anh chị em.

Chúng tôi, các giám mục và linh mục, xin cầu chúc các tu sĩ, chủng sinh, giáo dân và mọi người thành tâm thiện chí một mùa Giáng Sinh an bình và tràn đầy ân phúc của Hài Nhi Giêsu, của Mẹ Maria và Thánh Giuse.

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

 

NGOẠI KIỀU và LỮ KHÁCH

 

1.

Tôi ở Long Xuyên, trong Tòa Giám Mục, đã hơn 40 năm rồi. Nhưng khi về già, nhiều lúc tôi cảm thấy rất thấm thía một lời Kinh Thánh nói về thân phận con người sống đức tin. Lời đó là: “Tôi xưng mình là ngoại kiều và là lữ khách trên mặt đất này” (Dt 11,13).

2.

Tôi cảm thấy mình là ngoại kiều và là lữ khách trên mặt đất. Vì tôi, cũng như ông Apraham, vâng lời Chúa mà ra đi, đến một nơi sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, đó là thiên đàng. Nhưng hiện giờ tôi chưa tới đó. Nên tôi sống trên mặt đất này, nhìn về đó, như một ngoại kiều và lữ khách trên đường còn dài.

Với kiểu nói như trên, tôi xác tín rằng: Theo đức tin, một đàng tôi phải dấn thân cho Quê Hương tôi trên trái đất này, nhưng một đàng, tôi vẫn phải hướng về Quê Hương trên trời là đích điểm sau cùng của đời tôi. Vì thế, tôi phải biết sống trên trái đất này, như một ngoại kiều và như một lữ khách hướng về Quê Hương Chúa hứa.

3.

Ngoài ra, tôi còn cảm thấy mình là ngoại kiều và là lữ khách theo một phương diện khác. Đó là, mặc dầu tôi chỉ ở một chỗ qua bằng ấy năm, nhưng cuộc sống luôn chuyển biến. Nhà cửa thay đổi, nhân sự thay đổi, các liên hệ thay đổi, thời tiết thay đổi. Trong dòng đời có vô vàn thay đổi, còn tôi thì muốn ổn định, nên có lúc tôi không tránh được cảm nghĩ mình là ngoại kiều và là lữ khách ngay tại chính nơi tôi đang sống.

Cảm nghĩ đó sinh ra trong tôi một sự bất an nào đó, một sự cô đơn nào đó.

4.

Từ những kinh nghiệm riêng tư vừa kể, tôi nghĩ tới tương lai của giáo phận nói chung và của từng cộng đoàn nói riêng.

Tình hình cho phép tôi nghĩ rằng: Nhiều bất ổn sẽ xảy ra khắp nơi. Có chỗ hiện giờ bầu khí đạo coi như sốt sắng, nhưng rồi sẽ ra nguội lạnh. Có chỗ hiện giờ số người công giáo là đa số nhiệt tình, nhưng rồi ở đó đa số sẽ lại là người ngoài công giáo. Rất có thể chính nơi thờ phượng hôm nay sẽ có ngày không còn là nơi thờ phượng nữa, hoặc sẽ trở thành hoang vu.

5.

Khi những bất ổn như thế xảy ra, mỗi cộng đoàn công giáo và từng người công giáo sẽ cảm thấy mình như là ngoại kiều và như là lữ khách ngay trên chỗ ở của mình.

6.

Lúc đó, phải sống đức tin thế nào đây? Thưa, phải cởi mở.

Thiên Chúa không phải là Đấng chúng ta có thể đóng kín trong một giáo lý, trong một cơ chế, trong một nhà thờ. Nhưng Thiên Chúa là Đấng chúng ta có thể gặp Người, lúc và nơi mà chúng ta không chờ đợi. Người đến một cách bất ngờ. Người là Đấng tạo dựng những gì mà con người không hề dám hy vọng.

7.

Tôi nghĩ là: Xưa Do Thái đã xây tháp Babel, biểu tượng cho ý chí muốn ổn định tại nơi đó. Nhưng Chúa đã phá ý định ấy. Nay, nhiều khi chúng ta cũng bắt chước họ, xây dựng những công trình và cơ chế có tính ổn định, để sống khép kín đức tin trong đó. Nhưng rồi Chúa lại đến phá vỡ những tháp Babel ấy.

8.

Chúa Giêsu thành Nagiarét xưa đã không đóng kín mình trong một ngôi nhà. Người nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ. Nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu cũng đã sống như vậy.

9.

Thánh Phêrô khuyên giáo dân: “Anh em thân mến, anh em là khách lạ và là lữ khách, tôi khuyên anh em hãy tránh xa những đam mê xác thịt, vốn gây chiến với linh hồn. Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi bị người ta vu khống, coi anh em như là người gian ác, người ta cũng thấy các việc anh em làm mà tôn vinh Thiên Chúa, trong ngày Người đến viếng thăm” (1 Pr 1,11-12).

Bằng những lời trên đây, thánh Phêrô muốn chúng ta cứ hãy sống giữa những người không công giáo, như những chứng nhân về đời sống đạo đức, nhất là về nhân bản.

10.

Hiện giờ, Chúa Thánh Thần đang mở ra một kỷ nguyên mới về truyền giáo, đó là kẻ nghèo loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo. Thánh Phanxicô Assisi đã làm như thế. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng hô hào làm như vậy. Nghĩa là: Người truyền giáo hãy sống khó nghèo, ưu tiên lo cho những người nghèo.

Nếu thế, thì chúng ta nên nhìn tương lai với đôi mắt đức tin của người không quá lệ thuộc vào những ổn định của cơ chế, và thói quen, nhưng hãy luôn luôn là kẻ lên đường hướng về trung tâm là Chúa.

11.

Không ai trong chúng ta dám nói là mình không cần đến cơ chế tôn giáo. Nhưng chúng ta phải biết nhìn cơ chế mở ra về các biến cố, nhất là các biến cố bất ngờ. Chính Chúa là Đấng sẽ “làm nên mọi sự nên mới” (Kh 21,5).

Với những suy nghĩ trên đây, tôi bước sang Năm Mới, như một người lên đường, sẵn sàng cho những bất ngờ. Tôi sống như lữ khách và ngoại kiều hướng về Tương Lai Trời mới Đất mới do Chúa làm chủ.

Long Xuyên, ngày 8.12.2014.

 

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Lễ Chúa Hiển Linh, B

Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a.5-6; Mt 2, 1-12

SỐNG LỜI CHÚA

 

Theo ánh sáng của ngôi sao lạ, ba nhà đạo sĩ đã tìm đến cung điện của vua Hêrôđê để thờ lạy kính bái, vì họ nghĩ rằng: Nếu có vị vua mới sinh, thì vị vua đó phải sinh ra nơi cung vàng điện ngọc, nơi chốn cao sang. Nhưng sự thực lại không phải như thế. Khi ba vị đến cung điện vua Hêrôđê và hỏi: "Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người", thì vua Hêrôđê tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên (Mt 2, 2). Bấy giờ "nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: "Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 4-6). Như thế, nhờ ánh sáng Lời Chúa soi sáng, mà vua Hêrôđê và cả triều thần của vua, cũng như ba nhà đạo sĩ nhận biết được nơi Chúa Cứu Thế giáng sinh. Cũng nhờ ánh sáng Lời Chúa, ba nhà đạo sĩ đã tiếp tục đến tận nơi để thờ lạy và dâng lễ vật cho Chúa Hài Nhi, tại một nơi nghèo nàn tầm thường, mà họ không thể nào ngờ.

Hôm nay, không có một ngôi sao lạ nào xuất hiện trên bầu trời, để soi đường chỉ lối cho ta đi tìm Chúa. Nhưng ta có một thứ ánh sáng khác tuyệt vời hơn, giúp ta tìm gặp Chúa hằng ngày. Đó là ánh sáng Lời Chúa, như lời Thánh Vịnh: "Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 119, c.105). Vậy ánh sáng Lời Chúa soi đường cho ta tìm thấy Chúa ở nơi đâu? Thưa, Chúa ở nơi mà không mấy ai tin là có. Đó là Chúa ở ngay trong tâm hồn mình, trong mái ấm gia đình mình, trong bà con lối xóm của mình. Thật quá bất ngờ!

Xưa kia, ba nhà đạo sĩ ban đầu cứ ngỡ rằng vua mới ra đời thì phải sinh ra trong cung điện Hêrôđê. Không ngờ Lời Chúa lại chỉ cho họ tìm gặp Đấng Cứu Thế mới sinh tại một làng quê Bêlêm hẻo lánh, trong hình hài một trẻ sơ sinh yếu ớt, tại một túp lều nghèo nàn đơn sơ. Ta cũng thế, ban đầu ta cứ tưởng Chúa chỉ ngự trên chốn trời cao, Chúa chỉ hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, Chúa chỉ ngự trong các thánh đường... Nào ngờ, Chúa cũng hiện diện trong gia đình mình, trong thôn xóm nghèo khổ của mình. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong tâm thư gửi các gia đình đã viết: "Thiên Chúa đồng hoá với con người, với những người trong gia đình. Thiên Chúa là một với người cha, người mẹ, người bạn trăm năm, người con trong gia đình".

Chính Lời Chúa là ánh sao sáng còn sáng hơn cả ngôi sao Bêlem năm xưa. Ánh sao Lời Chúa soi sáng cho ta biết Chúa đang ở ngay trong gia đình mình, trong làng xóm của mình, để ta đến hầu hạ phục vụ và dâng lễ vật cho Chúa. Lễ vật của ta không phải là vàng bạc, nhũ hương hay mộc dược, nhưng là một tấm áo cho cha, một bát cơm cho mẹ, là sách vở bút mực cho con cháu học hành, là sự ân cần chăm sóc những người đau khổ chung quanh ta. Đó là những lễ vật quí báu mà Chúa Giêsu đang thiết tha chờ đợi. Ước gì ta mau mắn và quảng đại hiến dâng cho Chúa. Sống như thế là ta đang sống Lời Chúa một cách cụ thể, sống động và hữu hiệu.

“Lạy Chúa, xin dạy con biết đường đi của Chúa. Và xin hướng dẫn con bước theo Thánh ý Ngài” (Tv 119, 33).

 

Suy niệm Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, B

Is 42,1-4.6-7; Cv 10,34-38; Mc 1,7-11

SỐNG TRÁCH NHIỆM

 

Người đời thường hay chạy tội, chạy án, đổ lỗi cho người khác. Còn Chúa Giêsu thì lại sẵn sàng gánh tội cho hết mọi người. Thực vậy, một trong những thói xấu nghiêm trọng gây thiệt hại không nhỏ cho xã hội, đó là thói đổ lỗi cho người khác, không dám nhận trách nhiệm về mình. Căn bệnh này đã xuất hiện từ khởi thủy loài người. Sau khi hai ông bà Nguyên Tổ phạm tội ăn trái cấm, bất tuân lệnh Chúa, Thiên Chúa đến hạch tội Ađam: "Có phải con đã ăn trái cây mà Ta đã cấm con ăn không?" Ađam bèn đổ lỗi cho cả Thiên Chúa lẫn Evà: “Tại vì người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con mới ăn" (St 3,1-18). Nói như thế, Ađam cho rằng chính Chúa cũng có phần trách nhiệm trong vụ việc này, vì Chúa đã trao cho ông một người đàn bà quá nhẹ dạ. Giá như Chúa không dựng nên Evà và trao nàng cho Ađam thì đâu đến nỗi này. Bấy giờ Chúa quay ra hỏi tội Evà: "Con đã làm gì?" Người đàn bà liền trút tội cho con rắn: "Tại vì con rắn đã lừa dối con, nên con đã ăn" (St 3, 9-13). Có vô số lí do để người ta trút hết tội lỗi lên đầu người khác: tại ông, tại bà, tại trời, tại đất, tại gió, tại mưa. Bao nhiêu hậu quả và trách nhiệm đáng lẽ ta phải chịu vì lầm lỗi của mình, thì ta không ngần ngại đùn đẩy cho người khác. Thật khó mà tìm ra con người dũng cảm, dám đứng ra nhận lấy phần lỗi của mình và gánh lấy hậu quả do mình gây ra.

Trong khi đó, mặc dù Chúa Giêsu được Gioan giới thiệu là ?ấng quyền thế lớn lao, thậm chí Gioan không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Người là ?ấng sẽ cử hành một phép rửa ngàn lần cao trọng hơn phép rửa của Gioan: “Phần tôi, tôi rửa anh em trong nước; còn Người, Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần". Vậy mà Chúa Giêsu lại đến với Gioan như một người tội lỗi. Ngài chăm chú nghe Gioan rao giảng. Ngài hòa mình với những người thu thuế, những tên cướp của giết người, những hạng người đàng điếm và với bao người tội lỗi khác, để chờ đến phiên mình bước xuống dòng sông Giođan, nhờ Gioan làm phép rửa.

Có thể ta sẽ thắc mắc: Chúa Giêsu là ?ấng không hề vướng tội, tại sao Ngài lại phải chịu phép rửa bởi Gioan? Thưa, Chúa Giêsu chịu phép rửa không phải vì tội lỗi của Ngài, nhưng vì tội lỗi của nhân loại mà Ngài đã mang vào thân. Ngài là "?ấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Ngài thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta" (2Cor 5,21). Ngài đến làm “Con Chiên Thiên Chúa" gánh tội trần gian (Ga 1,29) thay cho các con chiên đền tội thời Cựu ước. Chính vì mang lấy tội lỗi nhân loại vào thân, mà Chúa Giêsu trở thành tội nhân. Nên Ngài đã hoà mình với những tội nhân khác để cho Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Ngài. Chính vì mang lấy tội lỗi nhân loại vào thân, mà Ngài đã bị kết án thảm thương trên cây thập giá, để chết đền thay tội lỗi muôn người. "Tội lỗi của chúng ta, chính Ngài đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá. Để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Ngài phải mang những vết thương mà anh em được chữa lành" (1 Pr 2,24). Cao đẹp thay, quảng đại thay hành vi hạ mình gánh lấy tội lỗi nhân loại của Chúa Giêsu. Ngài mãi mãi là gương mẫu của chúng ta và đáng cho chúng ta khâm phục tôn thờ.

Lạy Chúa Giêsu! Biết đến bao giờ con mới chừa bỏ được thói trút tội lên đầu người khác và chối bỏ trách nhiệm của mình? Biết đến bao giờ con mới có đủ bản lãnh và can trường để đứng ra chịu trách nhiệm về những thiệt hại mình đã gây ra? Xin Chúa thương giúp con.

 

Suy niệm Chúa Nhật 2 TN, B

1 Sm 3,3b-10.19; 1 Cr 6.13-15a.17.20; Ga 1,35-42

SỐNG YÊU THƯƠNG

 

Hôm nay bắt đầu “Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu”. Tin mừng kể l?i câu chuyện Chúa Giêsu mời gọi hai người môn đệ của thánh Gioan Tiền Hô là Anrê và Gioan: “Hãy đến mà xem”. Các ông đã đến và xem. Thử hỏi họ đã xem thấy điều gì? Thưa, họ không thấy gì cả. Mà cũng chẳng có gì đáng xem, ngoài cuộc sống của chính Chúa Giêsu. Chính cuộc sống yêu thương của Chúa đã thu hút và giữ các ông lại bên Chúa.

Ta để ý: Hai môn đệ đầu tiên ấy đã xem cách sống của Chúa Giêsu. Họ không phê bình gì cả. Họ khám phá ra Ngài không phải là một vị bác học tài ba, không phải là một anh hùng lẫm liệt, cũng chẳng phải là một nhân vật quan trọng nào khác. Họ chỉ nhìn thấy một con người rất bình thường như bao người khác. Nhưng cái rất thường ấy lại có một sức lôi cuốn đặc biệt trong cách sống yêu thương, trong cung cách giảng dạy như Đấng có quyền. Họ đã xem và khám phá ra Đấng Cứu Thế trong cách sống và lời giảng của Chúa Giêsu. Đó sự hiền lành và khiêm tốn của Ngài. Hai môn đệ ấy đã xem thấy Chúa, và họ đã ở lại với Chúa, học hỏi Chúa, sống chết với Chúa. Và cuộc sống của các Ngài cũng sao chép lại chính cuộc sống của Chúa Giêsu. Đó là đời sống khiêm tốn và yêu thương phục vụ.

Ngày hôm nay không những ta thấy Chúa, mà còn trở nên con cái và là môn đệ của Chúa. Nhưng trong cuộc sống, ta có noi gương Chúa không? Nhiều lúc ta cũng mời những người ngoại giáo, những người “khô khan nguội lạnh”: “Hãy đến mà xem”. Nhưng khi họ đến nhà thờ để “xem” Chúa, thì họ không thấy Chúa đâu cả, mà chỉ thấy ta. Họ thấy ta dâng lễ mà “hồn con đâu, chứ xác con đây”. Họ thấy ta ngồi bên ngoài nhà thờ trò chuyện tâm tình, tán gẫu hút thuốc. Họ thấy những người có trách nhiệm đi tới đi lui, mắt láo liên như đang coi tù. Vậy thì ta làm chứng cho Chúa và cho sự hiệp nhất ở chỗ nào?

Chúa mời gọi ta “Đến mà xem”, nghĩa là đến để sống với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. “Đến mà xem” nghĩa là đến để nhận sự hòa giải nơi Bí tích Giải Tội. “Đến mà xem”, nghĩa là ta hăng hái chia sẻ, loan báo cho tha nhân những điều mình đã xem thấy, đã cảm nghiệm. Đó chính là đời sống yêu thương và phục vụ của ta. Đó là dấu chỉ của sự hiệp nhất.

Xưa kia, sau khi đã xem, ông Anrê nói với Simon: “Chúng tôi đã gặp được Đấng Cứu Thế”. Đó là tiếng hô vui mừng của người đi tìm trân châu ngọc quí và đã gặp. Ông Anrê đã gặp và đã loan báo tin vui này cho người em của mình là Phêrô.

Mỗi ngày trong Thánh lễ, Chúa đều mời gọi ta hãy đến mà xem, xem tình yêu của Chúa đối với ta trong Bí tích Thánh Thể, để ta cảm nhận và sống với Chúa Giêsu Thánh Thể. Đó là sự khiêm hạ của Thiên Chúa làm người. Xin Chúa cho ta luôn học hỏi nơi Chúa sự yêu thương và lòng khiêm hạ ấy, để ta hân hoan nói với người anh chị em của mình rằng: Chúng tôi đã thấy Chúa. Ngài đang ở trong anh, ở trong chị. Ngài đang ở trong tất cả những người đau khổ và trong những người đang thành tâm tìm kiếm Ngài. Đó là dấu chỉ của sự hiệp nhất.

Lạy Chúa! Xin cho chúng con luôn sống yêu thương nhau, để chúng con biết tận dụng mọi tương quan trong cuộc sống, mà giới thiệu Đức Kitô cho những người chúng con gặp gỡ. Mời gọi họ cùng với chúng con “đến mà xem”, để cảm nhận tình Chúa yêu thương. Xin cho mọi Kitô hữu được hiệp nhất với nhau như chính Chúa hằng mong ước: “Xin cho chúng nên một” (Ga 17,21).

 

Suy niệm Chúa Nhật 3 TN, B

Gn 3,1-5.10; 1 Cr 7,29-31; Mc 1,14-20

SỐNG ĐÚNG

 

Có một lúc nào đó trong cuộc sống, ta tự hỏi: Tôi là ai? Tôi sinh ra trong cuộc đời này để làm gì? Chết rồi sẽ đi đâu? Đó là những câu hỏi quyết định hướng đi của một đời người. Nó quyết định số phận của một con người. Sống có ích cho xã hội, hay trở thành gánh nặng cho xã hội? Tất cả những điều ấy tùy thuộc vào sự chọn lựa cơ bản của mỗi người.

Người ta kể rằng: Thuở xưa khi con người chưa biết soi gương, nên họ cũng chẳng biết mình là ai, khuôn mặt mình như thế nào? Một lần kia, anh chồng lên tỉnh thành, người vợ dặn chồng nhớ mua cho mình một cái trâm cài đầu. Nhưng anh chồng không biết cái trâm hình thù như thế nào. Chị vợ liền nhìn lên trời, thấy ánh trăng lưỡi liềm, liền nói: “Cái trâm nó giống như vầng trăng kia kìa. Nếu anh quên, thì cứ nhìn lên vầng trăng ấy, anh sẽ nhớ”. Người chồng lên đường mải miết xem bao cảnh lạ ở tỉnh thành, mãi mười ngày sau mới trở về quê nhà. Anh sực nhớ lời vợ dặn, anh liền nhìn lên trời và thấy vầng trăng tròn trịa của đêm trăng rằm, anh liền vào tiệm và mua một cái gương tròn trịa như vầng trăng, theo lời vợ dặn. Lòng vui rộn ràng, anh vừa về tới nhà, đã vội trao cho vợ cái gương. Tưởng rằng vợ sẽ vui mừng với món quà anh mua, thế nhưng khi vừa nhìn vào cái gương, cô vợ đã tức giận và quát tháo: “Tôi dặn anh mua cái trâm cài đầu, tại sao anh lại đem về đây một đứa con gái?” Anh chồng giật mình, dành lại cái gương và nhìn xem chuyện gì đã xẩy ra. Anh nhìn vào gương, lại thấy một người đàn ông trông rất giống bố mình hồi còn trẻ, nên anh phân bua rằng: “Không phải con gái. Đây là bố tôi mà!” Cô vợ giật cái gương lại và nói: “Bố ông bao giờ, con nào rõ ràng. Ông còn chối hả?” Đính chính chẳng được, nên anh chồng đành bỏ đi. Mẹ chồng thấy vậy, đến an ủi con dâu. Người con dâu đưa cho mẹ chồng coi bằng chứng rõ ràng, thế mà anh chồng còn chối quanh quẩn. Mẹ chồng xem qua rồi trịnh trọng nói: “Thôi con đừng ghen nữa! Tao thấy con này không đáng ghen đâu. Tao thấy nó cũng già lắm rồi!”

Đó là câu chuyện vui, nhưng cũng nói lên một chân lý: Nếu ta không biết mình, thì ta sẽ làm khổ chính mình và làm khổ cả người khác. Thực vậy, ngày nay rất nhiều người không biết mình là ai, sống để làm gì. Họ như những người lạc hậu trong câu chuyện trên đây, đã không biết mình, nên gây ra những mâu thuẫn, hiểu lầm không đáng có.

Vì vậy, sứ điệp đầu tiên mà Chúa gửi đến nhân loại là: “Hãy sám hối”. Sám hối để bước ra khỏi bóng đêm của tội lỗi, ghen tương, đố kị và chia rẽ. Sám hối để bước vào ánh sáng của yêu thương và hiệp nhất. Chúa Giêsu là Ánh Sáng cho thế gian. Từ nay Tin Mừng cứu độ của Chúa sẽ soi sáng cho con người biết đâu là thiện, là ác, vì chính Chúa “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Ai theo Ngài, sẽ không phải đi trong tối tăm, nhưng bước đi trong ánh sáng. Thế nhưng, nhân loại hôm nay vẫn thích bóng tối hơn ánh sáng. Người ta sợ ánh sáng của Tin Mừng sẽ phơi bày bộ mặt thật của mình, nên họ cố tình che giấu mình bằng nhiều thủ đoạn, lừa đảo và giả hình, rồi dần dần đánh mất ý thức về tội. Tội lỗi vẫn lan tràn. Con người tự làm khổ mình, làm khổ nhau, bởi chính tội lỗi mình gây ra.

Ước gì mỗi người chúng ta biết nhìn lại mình, để biết mình. Biết những giới hạn và bất toàn của mình để sửa đổi. Biết những khiếm khuyết của mình để bổ túc và canh tân. Biết tội lỗi mình để sám hối. Đó là sống đúng với chính mình, với ơn gọi nên thánh: “Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48).

Ave Maria

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Thánh Linh

Như mọi sự khởi đầu

 

“Phúc cho anh, Simon Bagiona”. Đức Giêsu nói với người đàn ông, mà tên tuổi được Giáo Hội ghi ấn muôn đời. “Anh là Phêrô, và trên đá này Ta sẽ xây Giáo Hội Ta, và mọi quyền lực âm phủ sẽ không chiến thắng nó được”. Phải chăng, với câu nói đó, chính Đức Kitô đã lập Giáo Hội?

 

Câu hỏi: Phải chăng chính Đức Kitô muốn có Giáo hội, đã trở thành một cuộc bàn luận sôi nổi. Nhiều người bảo không, Ngài chỉ muốn Nước Trời hay một cái gì khác, chứ hoàn toàn không phải Giáo Hội. Lập luận như thế, rõ ràng người ta đã không hiểu rằng, không những Đức Giêsu đứng trong lịch sử cứu độ của dân Do-thái, mà còn không hiểu cả ý định đổi mới dân này của Ngài, nghĩa là Ngài muốn đổi mới, đào sâu và mở rộng toàn bộ lịch sử cứu độ, và như vậy có nghĩa là Ngài muốn lập cái mà ta nay gọi là Giáo Hội.

Có nhiều hồ sơ thành lập Giáo Hội trong cuộc đời Đức Giêsu. Bắt đầu từ việc chọn mười hai tông đồ. Mà chúng ta hiểu đó là biểu tượng của mười hai chi họ Israen mới. Rồi tới những lời Ngài nói với họ, và nhất là trong bữa tiệc ly, bữa tiệc được trao tặng cho họ như là tâm điểm cuộc sống mới của họ. Sự việc càng rõ nét hơn trong lệnh rửa tội, lệnh truyền giáo và nhiều chỗ khác. Và việc chọn Phêrô đứng đầu nhóm tông đồ và làm tảng đá Giáo Hội là một sự kiện trong gói hồ sơ thành lập đó.

Sau sống lại, Đức Giêsu hiện ra với các tông đồ ở Giêrusalem. Theo phúc âm Mátthêu, Ngài nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Vừa nói, Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Hãy nhận lấy Thánh Linh!” Có lẽ chẳng ai trong các ông lúc đó hiểu được chuyện gì sẽ xẩy ra với việc thổi hơi ấy. Đó là một hoạt cảnh đầy ấn tượng, nó cụ thể hoá việc chọn nhóm mười hai sau ngày phục sinh. Các tông đồ trở thành những người mang Thánh Linh, Đấng tiếp nối sứ mạng của chính Chúa Giêsu Kitô trong họ. Thật ra lúc đó chẳng ai có thể tưởng tượng được sứ mạng đó sẽ tác động như thế nào. Đa số trong họ nghĩ tới ngày tận thế đang tới gần. Họ tin chắc rằng, thời gian giờ đây đã viên mãn, và lịch sử chẳng còn kéo dài bao lâu nữa. Các tông đồ chỉ cần biết, họ giờ đây mang trong mình thần linh của Đức Kitô, và họ phải mang sự bình an – đó là cái mới do Ngài mang tới - vượt biên giới Do-thái ra cho các dân tộc khác nữa.

Một chuyện kì diệu đã xẩy ra sau ngày phục sinh. Vào một chiều tối, Phêrô, Gioan và vài người khác đánh cá trong hồ Giênêsaret. Bầu khí chẳng vui, vì họ không đánh được con cá nào cả. Sáng sớm hôm sau, khi thuyền cập bờ, họ gặp Đức Giêsu. Các môn đồ không nhận ra Ngài, dù Ngài nói với họ như một người thân. Ngài nói: “Này mấy cậu, có gì ăn không?” Rồi Ngài bảo họ: “Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền thì sẽ có cá”. Không hiểu sao, họ làm theo và lưới đầy cá đến nỗi không thể kéo lên được. “Thầy đó!”, Gioan chợt la lên. Phêrô phóng mình xuống nước, bơi vào bờ, những người khác chèo thuyền vào theo. Họ bắt được 153 con cá to, mà lưới không rách. Câu chuyện mang tính rất biểu trưng và đa nghĩa, lúc này đây ta không thể bàn vào chi tiết được. Một mẻ lưới kỳ diệu. Các ngư phủ lưới cả đêm mà chẳng bắt được gì, và với kinh nghiệm dày dạn của họ, không ai nghĩ rằng sáng ra mà còn đánh được cá. Nhưng họ nghe lời Đức Giêsu, trở ra thả lưới và quả được như lời Ngài nói. Đâu là ý nghĩa con số 153 mà Gioan đã cẩn thận ghi lại, các học giả chưa hiểu. Một số người coi đó là chữ số tên gọi của Phêrô. Dù sao, họ coi đó là dấu chỉ của sự tràn đầy. Đây là một lời hứa vượt lên trên cái hiện có. Một mặt, nó cho thấy con người chẳng cần nhọc công gì trong việc bắt cá từ biển trần gian này, để từ đó có được những con cá người sống động cho Chúa. Mặt khác, nó đồng thời nói lên hứa hẹn luôn có thể xẩy ra điều không thể xẩy ra, rằng Giáo Hội luôn vẫn có thể kéo lưới Kitô từ bể gian trần chóng qua, và rằng trong mẻ lưới này của ngư phủ Phêrô sẽ có vô số con người được kéo lại với nhau.

Câu chuyện tiếp tục. Họ đốt lửa, sửa soạn bữa ăn với cá và bánh mì. Và rồi Đức Giêsu quay sang Simon Phêrô: “Này Simon”, Ngài nói, “con của Gionas, anh có yêu thầy hơn các anh em kia không?” Phêrô ngỡ ngàng đáp: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu Thầy”. Ngài hỏi đi hỏi lại ông ba lần như thế, lần nào cũng được trả lời: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết con yêu Thầy”. Cuối cùng, Phêrô hơi bực, thưa: “Thầy, Thầy biết mọi chuyện, Thầy cũng biết là con yêu Thầy”. Sau đó, cũng với ba câu, Ngài đã trao cho Phêrô sứ mạng lạ lùng: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy”, “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”, và cuối cùng “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”. Những điều đó mang ý nghĩa gì? Trước hết, các môn đệ đã bắt cá cho Ngài, và Ngài đã cho các ông ăn. Rốt cuộc thì nỗ lực của con người được đền bù nhiều hơn bởi tặng phẩm do chính Đức Giêsu trao ban. Và cuối cùng, thêm một lần nữa, ta thấy ý hướng sắp đặt người kế vị của Chúa. Lời thú nhận đầu  tiên của Phêrô, mà chúng ta đã nói tới trước đây, xảy ra sau khi vụ thành công ở Galilê đã lắng đọng, và không còn ai đề cập tới Đức Giêsu nữa.

Trong phòng tiệc ly lại có một lời hứa mới với Phêrô: Ngày nào đã vững, anh nhớ củng cố anh em. Nghĩa là Phêrô được giao cho nhiệm vụ củng cố đức tin cho đồng bạn. Điều quan trọng, là những chứng cứ về Phêrô đó xuyên suốt các sách Tân Ước. Trong các Tin Mừng nhất lãm, trong Tin Mừng Gioan và thư Phaolô ta đều thấy vai trò đứng đầu đó; nghĩa là nhận thức về chỗ đứng đặc biệt của Phêrô đã được nói tới trong nhiều vùng truyền thống khác nhau. Tin Mừng Gioan đoạn 21 trên nói về một nghi thức kế vị. Phêrô từ đây phải chăm sóc đàn chiên của Chúa. Và sau đó Chúa nói với ông, trong một tiên tri về cuộc tử đạo, rằng nhiệm vụ đó chỉ được xây dựng trên tình yêu đối với Ngài, và chỉ có thể thực thi với điều kiện sẵn sàng bước vào con đường tử đạo. Như vậy, đối với tín hữu công giáo, nền thần học đầy đủ về Phêrô trong Tân Ước đã bằng nhiều cách nói lên sứ mạng đặc biệt của ngài, và đó cũng là một di chúc cho Giáo Hội mọi thời.

Đức Giêsu phục sinh đã truyền cho các môn đệ, anh em chỉ rời Giêrusalem sau khi đã nhận được “sức mạnh từ trời” là Chúa Thánh Thần. Ngài loan báo về quà tặng Thánh Linh, sẽ được đổ xuống lần đầu tiên trong ngày lễ Ngũ Tuần, trên nhóm ưu tú 120 người đang tụ họp với mười hai tông đồ và Mẹ Maria như thế nào? Luca viết rất cân nhắc, ngài cho hay việc Thánh Linh hiện xuống là một cuộc tái cưu mang Đức Giêsu, và như vậy con người Giêsu đã được đón nhận nơi trần gian. Giờ đây Thánh Linh lại xuống, và như thế Giáo Hội, “nhiệm thể Đức Kitô”, được hình thành để bước vào lịch sử. Điều đó xảy ra trong dấu chỉ mưa bão và lửa, và nhất là qua dấu chỉ phép lạ ngôn ngữ, với những dấu chỉ đó Giáo Hội được thông báo và đón nhận bằng mọi thứ tiếng. Đó là hình ảnh đối lập với tháp Babel. Đó là xã hội mới và khác, mà Thiên Chúa giờ đây dựng lên trong lòng người, nhờ bởi sức mạnh của Thánh Linh là ngọn lửa của Thiên Chúa. (Còn tiếp).

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIÁO XỨ

 

 

 

CHIẾC KIỀNG BA CHÂN

Đóa Hoa Vô Thường

 

Trong lá thư mục vụ viết ngày 01 tháng 11 năm 2014 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, gửi cho cộng đoàn dân Chúa, có đoạn: “Năm 2015, kỷ niệm 50 năm Sắc lệnh Truyền Giáo (Ad Gentes), chúng tôi mời anh chị em hướng đến một gia đình rộng lớn hơn, là giáo xứ. Thật vậy, giáo xứ là gia đình của những người con cái Thiên Chúa, trong đó tất cả là anh chị em với nhau. Gia đình giáo xứ cần được Phúc-Âm-hóa, nghĩa là thấm đẫm tinh thần Phúc Âm và làm chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm ra chung quanh, đến với muôn dân. Để thực hiện công việc này, chúng ta cùng chiêm ngắm cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên như được mô tả trong sách Công vụ: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42), (trích Thư mục vụ, số 1). Từ gợi ý của lá Thư mục vụ và trích đoạn sách Tông đồ Công vụ trên đây, tôi liên tưởng đến tư thế đứng vững chắc của “Chiếc kiềng ba chân”, mà mỗi gia đình giáo xứ cần tập trung suy nghĩ và đem ra thực hành trong năm nay. Nhờ đó gia đình giáo xứ của ta mới thực sự là một cộng đoàn đúng như ý Chúa muốn.

Chân kiềng thứ nhất: Giáo xứ phải là cộng đoàn “siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng”, nghĩa là tham dự Thánh Lễ và cử hành phụng vụ. Tôi coi đây là một gợi ý cho Mục vụ  Bí tích.

Thực trạng Giáo xứ của tôi: Đây là một cộng đoàn anh em lương giáo sống hòa hợp, ở dọc dài hai bên bờ kênh. Số người Công giáo ít hơn anh chị em các tôn giáo khác. Số người tham dự Thánh Lễ ngày thường chỉ khoảng 10% số giáo dân hiện diện trong xứ. Mà thường chỉ là người lớn; còn trẻ em thì thưa thớt. Trước lễ, tôi chỉ cần nhìn sơ qua một vòng, là có thể biết được hôm nay ai vắng mặt. Ngày Chúa nhật thì giáo dân đi lễ tương đối đầy đủ. Nhưng không ít người tham dự Thánh Lễ chỉ vì “sợ tội”, hay vì “tấp tểnh người đi, tớ cũng đi” vậy thôi.

Giáo xứ này cần phải “phúc âm hóa”. Nhưng làm thế nào để giúp cho mọi người yêu mến Thánh Lễ và siêng năng cầu nguyện? Đó là vấn đề mọi người trong giáo xứ phải bắt tay vào việc. Thiết nghĩ không gì tốt cho bằng gương sáng. Trước hết, linh mục làm gương sáng cho giáo dân bằng cách: có mặt trong nhà thờ trước chuông hai, để cùng đọc kinh với cộng đoàn và dọn mình dâng Lễ; dọn giảng cẩn trọng theo sát Lời Chúa và gợi ý mục vụ cho mọi người sống Lời Chúa; cử hành Thánh lễ trang nghiêm sốt sắng… Giáo dân cũng làm gương sáng cho nhau. Chẳng hạn: Ca đoàn chuẩn bị những bài hát tâm tình phù hợp với ngày lễ. Rồi người người, nhà nhà thúc giục nhau đi tham dự Thánh Lễ và cầu nguyện chung với nhau... Nếu mọi thành phần dân Chúa biết tạo cho mình lòng yêu mến Thánh Lễ và ham thích cầu nguyện chung với nhau, thì gia đình giáo xứ sẽ được phúc âm hóa.

Chân kiềng thứ hai: Giáo xứ phải là cộng đoàn “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy”. Tôi coi đây là một gợi ý cho Mục vụ  Tu đức.

Thực trạng Giáo xứ của tôi: Cách chung giáo dân rất khao khát được nghe các linh mục giảng dạy Lời Chúa, nhưng vẫn còn đó, một số người xem ra không mặn mà gì đến các bài giảng, hay học giáo lý. Có người ra ngoài nhà thờ ngồi hút thuốc, tán dóc. Có người ngồi trong nhà thờ mà lòng trí thì cứ mơ tưởng những điều xa xăm. Họ dâng lễ theo kiểu “hồn con đâu chứ xác con đây”. Có người nghe xong thì quên hết, tựa như “nước đổ lá khoai”.

Giáo xứ này cần phải “phúc âm hóa”. Nhưng làm thế nào để giúp cho mọi người chuyên cần nghe các linh mục giảng dạy? Thiết nghĩ, trước hết các linh mục phải cố gắng giảng hay. Một bài giảng hay bao gồm nhiều tố chất như: có chất giọng tốt, giảng có tâm tình, giảng ngắn, giảng đúng Lời Chúa, giảng phù hợp với nỗi khát khao của giáo dân, giảng dễ hiểu, nên đi vào chiều sâu tâm lí thực hành hơn là suy luận thần học, giảng có hậu. (Nghĩa là sau khi tham dự Thánh Lễ về, họ còn đọng lại trong tâm hồn một chút gì đó, giúp họ sống vui, sống hi vọng, sống vượt qua những cảnh ngộ đời thường; để rồi ngày mai họ còn tha thiết muốn đến tham dự Thánh Lễ nữa…). Ấy là chưa kể yếu tố âm thanh, là một thứ hỗ trợ rất đắc lực “bất khả li thân” của các linh mục, giúp các ngài trình bày bài giảng cách sống động và hữu hiệu hơn.

Về phía giáo dân, thiết nghĩ các linh mục cần giúp cho giáo dân am hiểu và yêu mến hơn nữa phần Phụng vụ Lời Chúa. Nhất là nên chuẩn bị các Bài đọc thật kĩ lưỡng, chuẩn bị người đọc Sách thánh cách xứng hợp, giúp họ tự tin công bố Lời Chúa trong tinh thần cầu nguyện. Nhiều giáo dân xem ra khá lơ là với phần Phụng vụ Lời Chúa, nên tạo ra một hiệu ứng tiêu cực dây chuyền, làm cho bầu khí của Thánh Lễ bị gián đoạn, không nhịp nhàng, thiếu tập trung. 

Chân kiềng thứ ba: Giáo xứ phải là cộng đoàn “luôn luôn hiệp thông với nhau”. Tôi coi đây là một gợi ý cho Mục vụ  Truyền giáo.

Thực trạng Giáo xứ của tôi: Sống trong một giáo xứ có đông đảo anh em lương dân, tôi thường băn khoăn nghĩ đến việc truyền giáo cho họ. Rất nhiều lần gia đình giáo xứ tôi cũng “vượt ranh” đem Tin mừng đến cho họ, bằng đủ mọi hình thức, như cầu nguyện, làm việc tông đồ bác ái, viếng thăm, chia sẻ… nhưng xem ra chưa thấy kết quả. Hình như có điều gì đó chưa được ổn ngay trong chính gia đình giáo xứ của tôi, nên sự “vượt ranh” ấy xem ra không có tác dụng? Đúng như thế. Giáo xứ là một gia đình. Nếu gia đình mình muốn “vượt ranh”, thì chính mình phải biết mình là ai, mình đang sống như thế nào; mình muốn đến với ai và món quà mình đem đến cho anh chị em mình có thực sự là một Tin mừng sống động không.

Có lẽ ta phải xét lại vấn đề “tu thân”. Có “tu thân” thì mới có thể “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Thực vậy, ta không thể rao giảng Tin mừng cho mọi thành viên trong gia đình giáo xứ của mình, nếu chính ta còn nhiều đố kị, phân ranh, thiếu gương sáng, khó sống hòa hợp với mọi người. Ta không thể rao giảng Tin mừng cho anh chị em lương dân, nếu gia đình giáo xứ của ta chưa thực sự sống hiệp nhất, chưa sống hiệp thông liên đới trách nhiệm với nhau.

Giáo xứ này cần phải “phúc âm hóa”. Nhưng làm thế nào để giúp cho mọi người luôn sống hiệp thông với nhau? Thưa, ta hãy luôn làm lại từ đầu, dựa trên Ý Chúa, chứ đừng theo ý mình, dù mình có ý tốt. Mỗi người là một mầu nhiệm cá biệt. Hiệp nhất, hiệp thông không phải là giống nhau, mà là tổng thể hài hòa các sự khác biệt để làm nên một tập thể phong phú. Gia đình giáo xứ phải nên một, nhưng nên một bằng sự hòa đồng chứ không phải là đồng hóa.

Thật buồn biết bao, nếu bức tranh chỉ có một màu đen hay một màu đỏ rực rỡ. Không. Bức tranh đẹp là bức tranh có nhiều mảng màu sắc khác nhau trong một sự kết hợp hài hòa. Gia đình giáo xứ luôn sống hiệp thông thì đẹp như một bản hòa tấu du dương gồm các nốt nhạc cao thấp, mạnh nhẹ khác nhau, chứ không phải là tiếng còi tàu chỉ có một cung hú inh ỏi. Giáo xứ sống hiệp nhất với nhau tựa như năm ngón tay của một bàn tay. Các ngón tay tuy có phần khác nhau, nhưng chúng kết hợp nhịp nhàng với nhau thành một bàn tay sáng tạo, một bàn tay làm nên biết bao điều kì diệu. Tóm lại, gia đình giáo xứ của ta phải luôn sống hiệp thông với nhau tựa như cành nho liên kết với Thân Nho, như ngón tay liên kết với bàn tay.

Trên đây chỉ là “những điều ai cũng biết”. Vấn đề còn lại là ta có tiếp tục suy nghĩ và tìm cách đem sự hiểu biết ấy ra thực hành trong đời sống cộng đoàn của mình hay không. Ước mong những chia sẻ trên đây phần nào giúp các gia đình giáo xứ sống đúng với đường hướng mà Thư mục vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đưa ra trong năm nay, “Năm tân phúc âm hóa đời sống các giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”.

 

 

 

 

NÉT VĂN HOÁ NƠI CÁC XỨ ĐẠO

 

 

Để làm rõ vấn đề nét văn hoá nơi các xứ đạo Công Giáo làm phong phú nền văn hoá Việt Nam, chúng ta tìm hiểu hai vấn đề:

I- Khái quát về văn hoá

Hai từ văn hoá đã có từ lâu và ở khắp nơi trên thế giới. Người ta mặc nhiên thừa nhận mỗi quốc gia có một nền văn hoá riêng biệt. Trung Quốc cổ đại đã coi văn hoá là phương thức giáo hoá con người “văn  trị, giáo hoá”.  Mỗi nước trong một giai đoạn lịch sử lại có nền văn hoá khác nhau. Việt Nam có các thời kỳ văn hoá như: văn hoá thời đại đồ đá cũ; văn hoá thời đồ đá mới; văn hoá thời đại đồ đồng đá; văn hoá thời đại đồ đồng; văn hoá thời kỳ đồ sắt… Trong giai đoạn văn hoá thời kỳ đồ sắt lại bao gồm: văn hoá Đông Sơn; văn hoá Sa Huỳnh; văn hoá Đồng Nai; văn hoá Óc Eo. Ngày nay, có văn hoá du lịch, văn hoá ẩm thực, văn hoá trang phục, văn hoá kiến trúc, văn hoá giao thông, văn hoá ứng xử. Nhiều nước phương tây như Pháp, Anh, người ta dùng từ “culture”; người Nga dùng từ “kyltypa”; người Đức dùng từ “kultur” để chỉ văn hoá. Những từ trên đều có chung nguồn gốc từ tiếng Latinh là “cultus” có nghĩa là “trồng trọt”. Như thế, văn hoá chiếm mọi lãnh vực hoạt động có giá trị trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của con người. Từ bao đời nay, văn hoá đã để lại bao cách nhìn nhận, quan điểm, tham luận, hội thảo, tranh luận khác nhau của con người. Xem ra những điều đó vẫn chưa có hồi kết! Tuy nhiên nhân loại cũng đã thống nhất với nhau về văn hoá qua một số định nghĩa. Sau đây là ba định nghĩa căn bản về văn hoá.

Định nghĩa văn hoá theo Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam: “Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”

Định nghĩa văn hoá theo Unesco: “Văn hoá nên được đề cập đến như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.” (nguồn Wikipedia)

Định nghĩa theo Công Đồng Vaticanô II: “Văn hoá chỉ tất cả những gì con người có thể sử dụng để trau dồi và phát triển các năng khiếu đa diện của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự cả trái đất bằng tri thức và lao động; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế; sau hết diễn tả, thông truyền trong các công trình của mình, những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của thời đại, để giúp con người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn” (Giáo Hội trong thế giới ngày nay, chương II, cổ vũ việc phát triển văn hoá, Vaticanô II)

II- Các xứ đạo Công Giáo đã làm được gì để nền văn hoá Việt Nam phong phú?

Xứ đạo làm phong phú những giá trị văn hóa tinh thần: Đạo Công Giáo đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1533, tính đến nay gần 5 thế kỷ. Ngày nay, số người Việt Nam theo đạo Công Giáo đã có trên 7 triệu, thuộc 26 giáo phận, nơi hàng ngàn xứ đạo ở rải rác khắp 63 tỉnh thành của Việt Nam. Ta có thể nói, ngày nay nét văn hoá của đạo Công Giáo đang được thể hiện khá đầy đủ nơi các xứ đạo của Việt Nam, từ nông thôn đến thành thị; từ đồng bằng đến rừng núi cao nguyên; từ người Kinh đến người Thượng; từ người Mông đến người Nùng, từ người Dao đến người Thái. Gia đình giáo xứ được đoàn ngũ hoá các giới, từ giới ấu nhi đến giới thiếu nhi; từ giới gia trưởng đến giới hiền mẫu, cùng với các phong trào và đoàn hội. Tất cả đều được học những nội dung phù hợp với lứa tuổi như lớp dự bị hôn nhân, lớp vào đời I vào đời II; “học sống làm con người và làm con Chúa”; lớp nhân bản, nhờ đó ta thấy nơi giáo xứ ít ly dị, ít tệ nạn xã hội.

Văn hoá nơi xứ đạo làm cầu nối hai nền văn hoá Đông Tây: Văn hoá Công Giáo, tuy có những giai đoạn thăng trầm đáng tiếc đã xẩy ra trong quá khứ, nhưng ngày nay, văn hoá Công Giáo đã gắn bó với văn hoá Việt, hoà quyện với văn hoá Việt. Nó đã được Việt hoá một cách khắng khít, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam, tạo cầu nối làm bớt đi những dị biệt cố hữu giữa hai nền văn hoá Đông và Tây. Chính giới răn yêu thương là cội nguồn của những thành quả đó.

Trước năm 1533 người Việt mới biết cầu Trời khấn Phật mỗi khi gặp những tai ương vạ gió để mong được ấm no hạnh phúc: “Lạy Trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống/ Lấy ruộng tôi cầy/ Lấy đầy bát cơm/ Lấy rơm đun bếp”. (Đồng dao). Từ khi đạo Công Giáo đến, người giáo dân được biết rõ ràng qua Thánh Kinh và lời diễn giải của các Nhà Truyền Giáo thì ông Trời đó chính là Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ đó, văn hoá tín ngưỡng Việt có cơ duyên vừa mở rộng, vừa đi tới cội nguồn của vũ trụ nhân sinh, tìm gặp được Đấng Vua vũ trụ muôn loài để tôn thờ Ngài và chỉ một mình Ngài, bớt đi bao mê tín dị đoan, lầm lạc đáng tiếc đã diễn ra trong quá khứ.

Ngoài ra, các nhà truyền giáo gặp bao khó khăn về chữ viết. Chữ Nôm, chữ Nho chỉ dành cho người có học thức. Chữ nào dành cho giới bình dân đây? Ngày đó Việt nam 100% là nông dân. Chính những thao thức đó đã giúp Cha Alexandre De Rhodes (1591-1660) “Việt hoá” các mẫu tự Latinh thành chữ quốc ngữ trong cuốn tự điển Việt-Bồ-La. Một thứ chữ người bình dân nơi các giáo xứ chỉ cần ba tháng là đọc thông viết thạo. Đây quả là công trình văn hoá trọng đại bậc nhất của người Việt, nó làm phong phú cho nền văn hoá nước nhà biết bao!

Tiếng chuông nơi giáo đường. Một điểm nữa là tiếng chuông chùa sáng chiều trầm buồn ngân toả khắp nơi như để cảnh tỉnh chúng sinh phải hồi tâm nhớ rằng “đời là bể khổ”, với 108 nỗi phiền não, đau khổ: sinh, lão, bệnh, tử. Vì thế cần phải diệt “tham sân si” tức là phải bỏ tham lam, bỏ tức giận ghen ghét, bỏ si mê say đắm, trở về với chính cõi lòng của mình để có an vui, có hạnh phúc. Trong khi đó tiếng chuông nhà thờ nơi các xứ đạo sáng chiều thánh thót ngân vang khắp nơi như hối thúc mọi người mau hồi tâm, tỉnh thức. Tiếng chuông còn hối thúc ta trỗi dậy và đi loan báo tin vui Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến trần gian, Ngài đã chịu chết và sau ba ngày Người đã sống lại, và Ngài sẽ đến trần gian trong ngày tận thế. Tiếng chuông nơi xứ đạo hối thúc mọi tín hữu mau đem vui mừng và hy vọng đó đến cho anh em ta.

Về mặt kiến trúc, hàng ngàn ngôi Thánh đường nơi các xứ đạo ở Việt nam với nét kiến trúc đa dạng, phong phú từ cổ kính đến hiện đại đã làm phong phú nét kiến trúc của người Việt qua mấy thế kỷ qua như: Nhà thờ Sapa (Lào Cai 1895), nhà thờ Hà Nội (năm 1887), nhà thờ Phú Nhai (Nam Định 1860), nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình 1899), nhà thờ Đức Bà (TP. HCM 1865)… đã để lại đấu ấn đậm nét trong lòng du khách. Nơi mỗi giáo xứ, ta còn gặp nét văn hoá độc đáo là các nghĩa trang. Gần như mỗi giáo xứ đều có một nghĩa trang, và cố gắng làm cho nghĩa trang đó ngày một văn minh hơn, bình đẳng hơn, xanh sạch đẹp hơn.

Tóm lại, tuy nét văn hoá nơi các xứ đạo đã có những đóng góp rất tích cực làm phong phú nền văn hoá Việt Nam nói trên, ta không thể kể hết, nhưng so với Giáo Hội thời sơ khai (Cv 2,42-47) thì các giáo xứ còn cần cố gắng rất nhiều. Theo Cha giáo Mt Hoàng Đình Ninh Đại chủng viện Cần Thơ thì: “Giáo xứ phải là cộng đoàn niềm tin; cộng đoàn cầu nguyện; cộng đoàn bác ái yêu thương; và cộng đoàn Loan Báo Tin Mừng”. Xét theo các tiêu chuẩn đó thì quả thực, các giáo xứ còn cần cố gắng nhiều hơn nữa. Điều này đã được Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu Giám Mục giáo phận Long Xuyên nhắc nhở trong thư mục vụ tháng 9 năm 2010 “Một Hội Thánh Mầu Nhiệm và Hiệp Thông vì Sứ Vụ”. Ngài dẫn chứng năm 1960 giáo phận có 7,3% là người Công giáo; năm 2010 tỉ lệ đó giảm còn 6,9%. Vậy, việc Loan Báo Tin Mừng là cấp bách. Năm 2015 là năm: “Tân Phúc Âm hoá đời sống giáo xứ và các cộng đoàn sống đời sống thánh hiến”. Xin Thánh Thần Chúa soi sáng để mái ấm gia đình mỗi giáo xứ luôn sống tinh thần hiệp thông trong tám mối phúc mà Chúa đã truyền dạy.

                                                                     Inhaxiô Đặng Phúc Minh

 

 

GIA ĐÌNH GIÁO XỨ

 

Trong hành trình Tân Phúc Âm Hóa, năm 2014 vừa qua, Giáo Hội Việt Nam đã chọn để sống Tân Phúc Âm Hóa đời sống gia đình. Năm 2015 này, Giáo Hội Việt Nam chọn để sống Tân Phúc Âm Hóa trong một phạm vi lớn hơn, đó là Đời Sống Giáo Xứ và Các Cộng Đoàn Sống Đời Thánh Hiến. Thực vậy, là Kitô hữu, một khi chúng ta ý thức sống thánh hầu thánh hóa đời sống gia đình, thì sự thánh thiện đó cần phải được lan tỏa đến một phạm vi lớn hơn chính là Giáo Xứ, như Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mời gọi trong thư Mục Vụ gởi cộng đoàn dân Chúa nhân dịp Hội nghị thường niên kỳ II/2014: "Trong năm vừa qua, chúng ta đã cùng nhau thực hiện chương trình “Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình”. Qua các báo cáo mục vụ nhận được từ các giáo phận, chúng tôi vui mừng khi thấy đã có rất nhiều nỗ lực và sáng kiến của các giáo phận, Giáo Xứ, cũng như đoàn thể tông đồ, để đồng hành với các gia đình trong việc xây dựng gia đình Công giáo thành ngôi nhà cầu nguyện, ngôi nhà của tình yêu thương, ngôi nhà mở ra cho tình liên đới và chia sẻ. Chúng tôi mời anh chị em hướng đến một gia đình rộng lớn hơn, là Giáo Xứ.  Thật vậy, Giáo Xứ là gia đình của những người con cái Thiên Chúa, trong đó tất cả là anh chị em với nhau. Gia đình Giáo Xứ cần được Phúc-Âm-hóa, nghĩa là thấm đẫm tinh thần Phúc Âm và làm chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm ra chung quanh, đến với muôn dân" (số 1).

Quả thế, "Giáo Xứ là một cộng đoàn tín hữu Kitô nhất định, được thành lập cách cố định (bền vững) trong một giáo hội địa phương" (GL 515 §1). Trong ý nghĩa đó, Giáo Xứ được coi như một gia đình mà mỗi thành viên trong đó đều có bổn phận làm cho đời sống của Giáo Xứ ngày càng phát triển, cách đặc biệt là phát triển về đời sống đức tin, và được thấm nhuần tinh thần của Phúc Âm. Nếu nói Giáo Xứ như một gia đình thì mọi thành phần trong gia đình đó cũng cần phải sống theo phẩm trật của một gia đình thực sự, một gia đình gồm có cha mẹ, con cái và anh chị em. Nói cách khác, mọi người trong Giáo Xứ cần phải sống và cư xử với nhau bằng tình gia đình: Yêu thương, hy sinh phục vụ và tạo dựng hạnh phúc cho nhau, như cha mẹ dành cho con cái, con cái đối với cha mẹ, và anh chị em đối với nhau. Nghĩa là, các mục tử, các thành viên trong Hội Đồng Mục Vụ, giáo dân cần phải ý thức để sống với nhau và phục vụ nhau trong tình yêu thương của một gia đình đích thực.

Để có thể sống được tình gia đình như vậy trong Giáo Xứ, mọi người cần phải ý thức để cùng nhau thực hiện lời mời gọi của các Đức Giám Mục đã đề ra trong Thư Mục Vụ là: Hãy "cùng chiêm ngắm cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên như được mô tả trong sách Công vụ: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng (Cv 2,42)” (số 1). Nhờ việc chiêm ngắm cộng đoàn  Kitô hữu đầu tiên trong sách Công Vụ như vậy, mỗi người, mỗi thành phần trong Giáo Xứ sẽ biết tích cực góp phần của mình vào việc Tân Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ của mình. Khi đó, việc Tân Phúc Âm Hóa không còn phải là việc của cha xứ, không còn phải là của một riêng ai, nhưng là của mọi người, tùy theo chức vụ, khả năng và bổn phận, trách nhiệm của mình, như trong một gia đình: cha mẹ, con cái, anh chị em… mỗi người đều có bổn phận góp phần của mình trong việc xây dựng gia đình mình trở nên tốt và thánh thiện. Vậy, đâu là những thực hành cụ thể mà mỗi Kitô hữu phải thực hiện để có thể xây dựng Giáo Xứ trở thành một gia đình của Thiên Chúa trong tinh thần của năm Tân Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ? Các Đức Giám Mục đề ra ba thực hành cụ thể:

1. Giáo Xứ là nơi quy tụ, chia sẻ và cầu nguyện

"Trước hết, Giáo Xứ phải là cộng đoàn 'siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng', nghĩa là tham dự Thánh Lễ và cử hành phụng vụ. Tại Việt Nam, cho đến nay, phần đông các tín hữu vẫn trung thành với việc tham dự Thánh Lễ Chúa nhật và các cử hành phụng vụ. Ước gì chúng ta ngày càng tham dự những cử hành này cách ý thức và sống động hơn, không những để chu toàn lề luật mà còn để gặp gỡ Chúa và để Chúa biến đổi đời sống chúng ta. Như thế, Phụng vụ sẽ trở thành nguồn lực thánh hóa bản thân, đồng thời đem tinh thần Phúc Âm vào môi trường sống trong Giáo hội cũng như ngoài xã hội" (số 2). Quả thế, Giáo Xứ là một gia đình, và đã là gia đình thì mọi người trong gia đình đó cần phải có những lúc quy tụ bên nhau để chia sẻ với nhau "bữa cơm thân mật" và cùng nhau cầu nguyện. Không thể gọi là một gia đình nếu mọi người trong gia đình đó chẳng bao giờ quy tụ bên nhau để cùng nhau chia sẻ một bữa cơm thân mật. Bữa cơm thân mật đó còn được gọi là bữa cơm gia đình. Bữa cơm gia đình mà mọi thành phần trong Giáo Xứ cùng nhau chia sẻ chính là tiệc Thánh Thể mỗi khi cùng nhau tham dự Thánh Lễ. Như vậy, ngôi nhà thờ Giáo Xứ chính là điểm quy tụ để chia sẻ và cầu nguyện. Người ta có thể đánh giá đời sống đạo đức của một Giáo Xứ dựa vào việc mọi người trong Giáo Xứ có thường xuyên quy tụ để cùng nhau tham dự Thánh Lễ và cầu nguyện hay không? Trong gia đình, khi cha mẹ, con cái và anh chị em thường xuyên quy tụ trong bữa cơm gia đình và cùng nhau cầu nguyện trong những giờ kinh sáng, tối là dấu hiệu của một gia đình hạnh phúc và thánh thiện.

2. Lắng nghe và thực hành Lời Chúa

Từ việc cùng nhau quy tụ, chia sẻ và cầu nguyện, mọi người trong Giáo Xứ còn phải chuyên tâm lắng nghe Lời Chúa và thực hành những Lời ấy trong đời sống hằng ngày. Các Đức Giám Mục mời gọi: "Kế đến, Giáo Xứ phải là cộng đoàn chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy. Các Tông đồ giảng dạy Lời Chúa cho cộng đoàn và hướng dẫn họ đem Lời Chúa vào thực tế đời sống. Ngày nay các linh mục trong các Giáo Xứ, những cộng sự viên của hàng giám mục, đang tiếp nối công việc của các Tông đồ" (số 3).

Việc lắng nghe Lời Chúa và thực hành Lời ấy trong đời sống hằng ngày của người Kitô hữu là rất quan trọng. Khi người Kitô hữu cùng nhau quy tụ trong Thánh Lễ để chia sẻ và cầu nguyện cũng là lúc cùng nhau chia sẻ bàn tiệc Lời Chúa. Đây chính là lúc mà mỗi người cần phải chuyên chăm lắng nghe, học hỏi để rồi sau khi Thánh Lễ kết thúc, về với đời thường, vẫn có thể tiếp tục sống Thánh Lễ đó và áp dụng Lời Chúa trong cuộc sống, làm cho tinh thần của Lời Chúa thấm nhập vào đời sống của mình và trong môi trường mình sống. Ngoài việc chuyên chăm lắng nghe Lời Chúa trong Thánh Lễ, mọi người trong Giáo Xứ cũng cần phải tích cực tham gia những lớp giáo lý, những sinh hoạt đoàn thể. Qua những lớp giáo lý và những sinh hoạt đoàn thể, đặc biệt những lớp giáo lý Kinh Thánh, ta có thể học hỏi và tìm hiểu sâu xa hơn những kiến thức về đạo, về những giáo huấn của Chúa trong Kinh Thánh, và những giáo huấn của Giáo Hội. Thấu hiểu được những giáo huấn đó, chắc chắn đời sống đạo của mỗi người sẽ được thăng tiến, đời sống đức tin được củng cố, và như vậy, đời sống đạo trong Giáo Xứ sẽ ngày càng phát triển. Và một khi đời sống đạo trong Giáo Xứ phát triển thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng tốt đến môi trường xung quanh Giáo Xứ. Đó là cách Giáo Xứ đang sống sứ vụ Tân Phúc Âm Hóa cách cụ thể và thiết thực nhất.

3. Cộng đoàn hiệp thông

Là cộng đoàn của sự quy tụ, chia sẻ, cầu nguyện, lắng nghe và thực hành Lời Chúa, "Giáo Xứ còn là cộng đoàn 'luôn luôn hiệp thông với nhau'" (số 4), giữa mọi thành phần trong Giáo Xứ. Quả thế, một trong những mục đích của sự quy tụ, chia sẻ, cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa là nhắm đến sự hiệp thông của mọi thành phần dân Chúa trong gia đình Giáo Xứ. Sống trong một gia đình là mọi người phải sống cùng, sống với và sống vì người khác. Thiếu sự hiệp thông giữa mọi người thì đó chưa phải là gia đình thực sự. Cũng vậy, trong Giáo Xứ, sự hiệp thông giữa mọi thành phần dân Chúa là yếu tố quan trọng nhất để xây dựng Giáo Xứ thành một gia đình. Sự hiệp thông đó được thể hiện thế nào? Trong Thư Mục Vụ, các Đức Giám Mục viết: "Sự hiệp thông trong cộng đoàn được thể hiện qua sự tôn trọng, cộng tác và chia sẻ. Thật vậy, trên nền tảng bí tích Rửa Tội, mọi tín hữu đều bình đẳng với nhau về phẩm giá, cho nên phải tôn trọng lẫn nhau, tránh mọi hình thức phân biệt đối xử. Đồng thời phải cộng tác và chia sẻ với nhau để cùng xây dựng ngôi nhà chung là Giáo Xứ và thi hành sứ mạng chung là loan báo Tin Mừng cho muôn dân… "Tình hiệp thông đó còn được mở rộng ra bên ngoài qua việc cộng tác với mọi người thiện chí để thực hiện những việc đem lại phúc lợi chung, như thăm viếng nhau trong cộng đồng, cùng xây một cây cầu, cùng đào một giếng nước, dựng một mái nhà tình thương. Những việc tưởng chừng nhỏ bé này chính là những hạt giống âm thầm của Tin Mừng vĩ đại (x. Mc 4,30)" (số 4).

Tóm lại, Giáo Xứ thực là một gia đình khi mà mọi thành phần trong đó cùng hiệp thông với nhau trong mọi sinh hoạt của Giáo Xứ. Từ sự hiệp thông đó, mọi người, tùy theo ơn gọi, sứ vụ và trách nhiệm của mình, sẽ tích cực góp phần của mình để làm cho Giáo Xứ ngày càng phát triển, lớn mạnh hơn về Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến. Đây là mục tiêu chính yếu của việc Tân Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ. Ước mong rằng, với năm Tân Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ, mọi người, mọi Giáo Xứ, tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Giám Mục để sống Năm Tâm Phúc Âm Hóa đời sống Giáo Xứ. Tuy nhiên, để sống được điều đó, mỗi người, mỗi gia đình phải sống tinh thần Phúc Âm hầu thánh hóa bản thân và gia đình mình trước tiên. Khi bản thân mỗi người và mỗi gia đình sống tốt, chắc chắn sẽ biết tích cực sống tinh thân Phúc Âm đó trong Giáo Xứ, nơi cộng đoàn của mình.

 

Hương Quê

 

 

GIỖ CHẠP

 

 

Giỗ chạp là một trong những phong tục làng xã tốt đẹp của người Việt Nam. Đó là lễ tưởng nhớ người đã khuất vào dịp kỷ niệm ngày qua đời hằng năm. Theo đó, lễ tưởng nhớ này còn ẩn chứa những nghĩa cử cao đẹp khác.

Nếu trong đám cưới, làng xóm láng giềng tương trợ giúp đỡ gia chủ, thì trong đám giỗ, việc giúp đỡ tương trợ này cũng sốt sắng như vậy.

Một gia đình nào có giỗ, thường con cháu tới và bà con lối xóm được gia chủ mời tới làm giúp ngay từ hôm tiên thường (trong nam gọi là nhóm họ). Đây là nói những giỗ lớn, có cáo giỗ và làm giỗ mời hàng xóm làng mạc. Những người tới làm giúp, họ cũng tận tình và làm những công việc như một đám cưới. Cũng làm rạp, cũng mổ lợn, mổ bò, cũng làm cỗ, và trong việc làm giúp đàn ông có, đàn bà cũng có.

Đàn bà thường làm những công việc bổ cau têm trầu, bày cỗ và phục vụ khách khứa. Những người tiếp giúp trong đám giỗ, sau khi hoàn tất, họ cũng lên lễ bàn thờ nhà chủ, và cũng có những đồ lễ như những khách khứa tới ăn cỗ. Đồ lễ thường là trầu cau, nến, trà, rượu, bánh trái… Không có tiền như đám cưới (bây giờ, người ta thường đi tiền bởi sự gọn nhẹ và thực tế).

Giỗ chạp của người Công giáo không dừng lại ở nét đẹp tinh thần tương trợ ấy, nhưng còn biểu hiện nét đẹp niềm tin vào lòng nhân từ của Chúa. Tâm điểm của ngày giỗ là cầu nguyện cách riêng cho linh hồn người đã qua đời. Với niềm tin, người còn sống hiệp thông cầu nguyện, nài xin lòng từ bi Chúa tha thứ những lỗi lầm còn vương mà đưa linh hồn ấy về hưởng nhan Chúa.

Đỉnh cao của việc cầu nguyện là thánh lễ. Trong thánh lễ, ý chỉ cầu nguyện cho linh hồn người qua đời được kết hiệp với của lễ trên bàn thờ, là giá máu cứu chuộc của Chúa Kitô, của lễ duy nhất và đẹp lòng được Thiên Chúa thương nhận qua lời nguyện: “Xin cho tôi tớ Chúa là linh hồn… mà Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa. Xin cho người đã chết như Con Chúa thì cũng được sống lại như Người”.

Vì vậy, gia chủ có nhiệm vụ trước hết và cần thiết nhất là xin linh mục dâng thánh lễ cầu nguyện cho người đã qua đời. Sau đó, có thể mời anh em, bà con hàng xóm, các hội đoàn đến tư gia hiệp ý đọc kinh cầu lễ vào giờ đã định. Thường việc đọc kinh cầu lễ này được diễn ra vào lúc chiều tối.

Đó là nếp cũ tốt đẹp về giỗ chạp. Tình làng nghĩa xóm được đề cao, nhưng cần thiết hơn cả là nhằm mưu ích cho linh hồn người đã qua đời. Ngày nay, dễ dàng nhận ra nét đẹp này có sự thay đổi ít nhiều. Thay đổi cả về hình thức lẫn chất lượng. Nguyên do chẳng chạy đâu khỏi sự phát triển kinh tế thị trường và các dịch vụ luôn đua nhau khoe nở.

Biết vậy nhưng cũng chịu vậy vì “Sống thời nào lụy thời nấy”. Tuy nhiên, tình thần này còn mãi đẹp khi nghĩ đến “Đời đổi thay nhưng lòng không thay đổi”.

                                                                                                                                                Ký Sử

 

 

GIÁO LUẬT

 

THẮC MẮC GIÁO LUẬT

 

“Con được rửa tội từ lúc nhỏ. Khi lớn khôn, con được xưng tội rước lễ lần đầu. Vì phải đi lo kiếm sống, nên con không có tiếp tục đi học giáo lý và chưa chịu phép Thêm Sức. Hiện nay, con có quen với một người có đạo và muốn đi đến hôn nhân. Vậy con có phải đi học giáo lý để chịu phép Thêm Sức trước khi lãnh nhận phép Hôn Phối không?”

 

Trả lời:

 

“Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo”, số 1285, đã khẳng định sự cần thiết của bí tích Thêm Sức trong đời sống người kitô hữu: 

“Bí tích Thêm Sức cùng với bí tích Rửa Tội và Thánh Thể tạo thành tổng thể “các bí tích khai tâm Kitô giáo”, mà sự thống nhất của nó phải được giữ gìn. Vì thế, phải giải thích cho các tín hữu biết việc lãnh nhận bí tích Thêm Sức là cần thiết để hoàn tất ân sủng của bí tích Rửa Tội. Thật vậy, những người đã chịu Phép Rửa “nhờ bí tích Thêm Sức, được liên kết với Hội Thánh cách hoàn hảo hơn, được dư đầy sức mạnh đặc biệt của Chúa Thánh Thần, và như vậy, với tư cách là những nhân chứng thật của Đức Kitô, họ càng có bổn phận khẩn thiết hơn phải loan truyền và đồng thời bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm”.

Vì thế Giáo luật, điều 1065 §1, đã quy định: “Người Công giáo nào chưa lãnh bí tích Thêm Sức, thì phải lãnh bí tích ấy trước khi kết hôn, nếu điều đó có thể thực hiện được mà không có bất tiện nghiêm trọng”.

Đây là quy tắc nhằm giúp cho đôi bạn củng cố và làm tăng trưởng đức tin trong đời sống vợ chồng và của con cái sau này. Giáo Hội mong muốn đôi bạn lãnh bí tích này bởi vì họ sẽ là những nhà giáo dục đức tin cho con cái mai sau.

Nếu có thể được và không có bất tiện nghiêm trọng thì những người sắp kết hôn mà chưa lãnh nhận bí tích Thêm Sức phải lo học giáo lý để lãnh nhận bí tích ấy.

Tuy là điều buộc, nhưng đây không phải là đòi hỏi tuyệt đối cho hôn nhân và cũng không phải là điều kiện để hôn nhân thành sự. Cho nên, nếu những người sắp kết hôn chưa được chuẩn bị thích đáng thì nhà chức trách có thẩm quyền nên hoãn việc ban bí tích Thêm Sức lại sau khi kết hôn.

Giám mục là thừa tác viên thông thường của bí tích Thêm Sức (Điều 882). Linh mục cần có năng quyền từ Giám mục giáo phận để ban bí tích Thêm Sức cho một người lớn đã được Rửa Tội từ khi còn nhỏ (x. Điều 884 §1).

Riêng đối với giáo phận Long Xuyên, theo Quyết định ngày 04/12/1986, Giám mục Giáo phận đã ban năng quyền cho các linh mục trong giáo phận được ban bí tích Thêm Sức cho người sắp lãnh nhận bí tích Hôn Phối mà chưa lãnh nhận bí tích Thêm Sức, “nhưng phải làm riêng tư mà thôi”.

 

GIÁO DỤC

 

CĂN BỆNH VÔ CẢM

 

Sống trong một xã hội, con người gần như “ đèn nhà ai nấy sáng”. Hết rồi cái tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Nhất là nơi các thành phố lớn. Vì chạy theo nhịp sống, với nhu cầu hưởng thụ và với những ràng buộc của tiền tài danh vọng, đôi lúc làm xuất hiện những căn bệnh khó chữa. Có những căn bệnh khó chữa về phần thân xác và cũng có những căn bệnh khó chữa về phần tinh thần. Một trong những căn bệnh đó là “Vô cảm”. Vô cảm là không có cảm xúc, không có tình cảm mà đáng lý ra trong trường hợp đó phải có.

Thống kê lại bạn và tôi có thể thấy căn bệnh này xuất hiện ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, dù nam hay nữ, dù người có chức vị cao hay đến cả những thành phần bị xã hội bỏ sang bên lề. Điển hình như qua những vụ tai nạn trên đường: Giúp đỡ nạn nhân thì đếm trên đầu ngón tay, còn người đứng xem vì hiếu kì thì đếm không hết. Họ chỉ tò mò ngó xem rồi bỏ đi. Hay những trường hợp “hôi của” cũng thế. Nếu người đi đường có chút lương tâm, thì kẻ bị hại đã không mếu máo đứng nhìn tài sản của mình bị những người xa lạ nhưng rất nhiệt tình cất lấy bỏ vào túi. Còn những vụ nữ sinh đánh nhau, sỉ nhục bạn bằng mọi cách, thì cũng có biết bao nhiêu bạn chỉ đứng xem và còn lấy điện thoại quay lại. Thật hết chỗ nói. Có những lý do để  họ không muốn nhúng tay vào, là sợ bị liên lụy.

Căn bệnh vô cảm này không những ở người lớn mà cả những bạn nhỏ đang cắp sách đến trường. Đó là con em của chúng ta. Những đứa con sau buổi đến trường, về nhà không muốn làm gì, không muốn gặp ai, không muốn trả lời gì hết, vội chạy vô phòng, lên mạng, chơi game, nhắn tin, facebook, làm bạn suốt ngày với cái điện thoại. Hết rồi những câu chào hỏi: “Thưa ông bà, cha mẹ, anh chị con đi học về”. Những đam mê được xem trọng hơn là những tình cảm có sẵn trong trái tim con người.

Người ta thường nói: Giới trẻ là tương lai của xã hội, của đất nước. Nhưng thử hỏi với căn bệnh vô cảm đang lây lan một cách nhanh chóng, bạn và tôi phải có trách nhiệm nào để chữa căn bệnh khá nguy hiểm này? Tôi thiết nghĩ: Ngay từ trong môi trường gia đình, những bậc làm cha làm mẹ đóng vai trò quan trọng nhất, dạy ngay từ bé vì măng không uốn để thành tre sao uốn được. Bên cạnh đó, ở môi trường học đường các thầy cô giáo cũng có trách nhiệm không những chỉ dạy cho học trò mình những kiến thức, mà còn phải dạy cách sống làm người có tình, có cảm và có tâm nữa.

Với xã hội đang xuống dốc về mặt đạo đức như hiện nay, những thế hệ trẻ đang đứng trước những thách đố không nhỏ. Và ngay cả những người lớn cũng đang sống với lối sống vô cảm này. Đây là một thách đố lớn cho bạn và tôi, cho những người có trách nhiệm của xã hội, của giáo hội. Bạn và tôi hãy đặt mình vào trường hợp cụ thể, nếu người bị nạn là chính tôi, tôi đang cần giúp đỡ, thế mà mọi người chỉ đứng lại ngó qua rồi bỏ đi một cách vô cảm như vậy. Thử hỏi bạn và tôi có suy nghĩ và phản ứng ra sao?.

Bạn và tôi hãy làm và hãy dạy người khác làm với đôi tay thân ái, với trái tim bao dung và yêu thương của người biết quan tâm đến kẻ khác. Hãy làm và đừng sợ bị thiệt thòi hay bị mang tiếng là lo chuyện bao đồng.  Hãy sống với tất cả trái tim: “Đừng giận khi người khác làm mình buồn, nhưng hãy buồn khi mình làm người khác giận”.

Vs. Lê Đình

 

 

DANH LỢI MÀ CHI

Đức An

 

            Sống trong một xã hội duy vật chất, con người luôn nghĩ cách để tìm lợi cho mình. Muốn có lợi mau chóng phải có danh, muốn có danh phải có bằng cấp, lợi dụng chức danh để tạo ra lợi. Danh đây được coi như là bột, có bột mới gột nên hồ. Thế mà, người xưa đã đưa ra một câu nói để chúng ta phải suy nghĩ: Cái vòng danh lợi cong cong, người hòng ra khỏi, kẻ mong bước vào. Chữ danh đây không phải chữ danh mà cụ Nguyễn Công Trứ đề cập tới: Đã sinh ra trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.

            Mà danh đây là “hữu danh vô thực”, chỉ có tiền mua được mảnh bằng là có danh. Cụ Nguyễn Khuyến goi đó là danh giả là tiến sỹ giấy. Cái danh còn do sự quen thân, hoặc con cháu ông lớn trong hàng ngũ quan quyền. Cái danh đó là danh hão, thiếu đức, nên họ không từ một thủ đoạn nào để kiếm lợi. Người mang danh đó luôn sống trong bản chất “thượng đội hạ đạp”. Tuy nhiên còn có những người vẫn giữ được tiết tháo, họ đã xin từ quan về quê sinh sống. Cụ Nguyễn Khuyến là một điển hình, cụ quan niệm sống đơn giản cho tâm hồn được thoải mái. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn, người đến chốn lao xao. Cảnh đời thật trớ trêu: người ra thì ít kẻ vô thì nhiều, người ta thường nói: “Miếng bả danh lợi” là thế.

            Người xưa đã thế, xã hội ngày nay cũng không khác là bao, đôi khi còn tệ hơn thế. Mà tệ hơn là đúng, thời xưa còn có lễ giáo ràng buộc, ngày nay đâu có gì ngăn chặn, những trào lưu với bao chủ thuyết. Trong khi con người quá yếu, luôn hướng hạ, nên dễ cuốn vào vòng xoáy của thế tục. Ai thấy lợi mà không tham, thấy danh mà không chuộng. Đôi khi, người ta còn dám hy sinh cả mạng sống để  có được lợi danh.

            Xét vấn đề tôn giáo: Chúng ta cũng đang bị dụ vào thế phải chọn lựa giữa Thiên Chúa và danh lợi. Cuộc sống ngày hôm nay nếu không nói là lãng quên, thì cũng đã xếp Thiên Chúa vào hàng thứ yếu. Một tuần 6 ngày làm việc lo xây đắp cho cái danh thật vững, mới kiếm được nhiều lợi. Chủ nhật đi dự thánh lễ chỉ vì luật buộc, nhưng cũng không được trọn. Đôi lúc còn trách Chúa khi hoạn nạn. Một ít xứ đạo lòng đạo đức còn kém nơi thành thị. Bởi họ giữ đạo theo hình thức, thích giữ thì giữ, không thích thì bỏ. Tôi những muốn suy nghĩ tích cực về họ, nhưng khi chứng kiến tôi không thể. Có lẽ tinh thần đạo của họ đóng khung trong nhà thờ, bước ra khỏi cửa họ lại trở về với nguyên trạng.

            Kinh Lạy Cha đọc hàng ngày trong thánh lễ “ Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời”. Lời cầu xin đến bao giờ mới thành hiện thực để danh Cha được cả sáng?

 

 

LỜI NÓI

 

Như chúng ta biết: Gia đình là tế bào của giáo họ, giáo xứ và Xã hội; là cái nôi nuôi dưỡng, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp;  là nơi thể hiện sự quan tâm chia sẻ và gắn kết tình cảm các thành viên. Muốn được thành quả trên thì phải có cái lưỡi để phát ra lời nói. Vậy LỜI NÓI nó lợi hại ra sao?

Thiên Chúa đã dựng nên con người và ban tặng cho ta đôi mắt để nhìn sự việc, đôi tai để nghe cả hai phía, nghe những lời ca tụng cũng như những lời phê bình, phân biệt đúng sai, nhưng ta chỉ được một cái lưỡi, nhưng nó lại rất quan trọng trong cuộc sống, vì nó phát ra lời nói là phương tiện để con người trao đổi tư tưởng, tình cảm, kinh nghiệm sống với nhau. Vì thế, nó có giá trị đặc biệt. Nhưng thực tế cuộc sống hôm nay đã thay đổi. Người ta chỉ biết lo cơm áo gạo tiền, tìm đủ mọi cách để chà đạp và chia rẽ lẫn nhau, mà vũ khí lợi hại đó chính là LỜI NÓI.

Nếu nhìn thẳng vào bản thân, gia đình và giáo xứ, ta thấy thường xuyên có những lời nói vô tội vạ, vô trách nhiệm như: Tâng bốc, mỉa mai, châm biếm, chọc tức, nói đùa ác ý sau lưng, làm tổn thương, không chân thật, nói xấu, vu khống, thô tục, thách thức võ đoán, “suy bụng ta ra bụng người”, nhưng sợ nhất là thói “đâm bị thóc, thọc bị gạo” hoặc “thọc gậy bánh xe”… Và nếu tra tự điển tiếng Việt, ta ghi nhận hàng trăm từ ghép đi liền với chữ NÓI, mà toàn là những từ mô tả với nghĩa xấu. Thí dụ: Nói dối, nói càn, nói ngoa, nói xỏ, nói phét, nói dựa…

Từ nay, ta hạ quyết tâm sử dụng lời nói mang tính cách từ tốn, hiền dịu, hòa nhã, đoàn kết yêu thương, để làm lợi ích cho bản thân và cho mọi người. Đối với bề trên, ta phải biết lòng kính trọng, không dùng lời nói gây tổn hại, xúc phạm đến các vị ấy. Người xưa đã dạy trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần, hoặc “lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Đức Phật dạy: Bất hạnh thuộc về khẩu, không nói dối mà nói thật, không nói lời chia rẽ mà nói lời hòa giải, không nói lời thô ác, mà nói lời ôn hòa. Còn Thiên Chúa dạy ta tích cực hơn: “Sự thật sẽ giải thoát các con” (Ga 8,32). Và sách Huấn Ca: “Sự sống và sự chết đều là sức mạnh của cái lưỡi, vinh hay nhục đều ở lời nói cả” (Hc 5,13). Còn Thánh Giacôbê quả quyết: “Lời nói làm được nhiều điều vĩ đại, nhưng cũng có thể làm hoen ố cả con người chúng ta” (Giacôbê 3,1-10).

 

Ant. Nguyễn Đức Xinh, Giáo xứ Bình Thái F1.

 

 

 

CHỮ “LÉN” TRONG ĐỜI TU

Lôrensô

 

Khi nói đến đời sống trong những nơi tu trì, người ta hay nghĩ đến một nếp sống kỷ luật và nghiêm túc. Kỷ luật là một cái gì đó làm cho đời tu trở nên tách biệt với đời thường. Kỷ luật giúp cho người tu dễ dàng sống theo những tiêu chuẩn mà các lời khuyên Phúc Âm đòi hỏi. Nói như vậy không có nghĩa là người tu hoàn toàn máy móc và xơ cứng. Trong đời tu có kỷ luật thật đấy. Nhưng vẫn có những biến tấu khiến đời tu dễ thương và nhẹ nhàng cách đáng yêu.

            Ở đời hay có những điều oái ăm như: ngủ gật thì ngon mắt, ăn vụng thì ngon miệng hơn ăn chính thức. Chẳng hiểu vì sao lại có hiện tượng đó. Nhưng trong trường hợp sau đây thì ăn vụng quả là không ngon tí nào. Đây là một câu chuyện của một cha kể về thời tiểu chủng sinh của mình.

            Hồi còn ở Tiểu Chủng Viện Á Thánh Phụng. Vào một buổi tối như mọi buổi tối khác. Đột nhiên tôi cảm thấy đói bụng. Tiếng bụng sôi như nồi nước đun lâu giờ. Tới giờ đi ngủ rồi mà bụng nó cồn cào khó chịu. Tôi đánh thức một người bạn thân của mình cùng đi “ăn khuya”. Vì biết cô Cao nấu một nồi đậu xanh để chuẩn bị cho ngày mai, hai chú liền lần mò vào bếp để  tỉ tê nồi đậu. Vì đi ăn lén nên không dám bật đèn. Cả hai lò mò trong ánh sáng mờ mờ của nhà bếp. Vớ được nồi đậu, hai chú đua nhau bỏ vào miệng như người ta bỏ lúa vào máy suốt. “Chiến đấu” được một lúc, cả hai sợ bị phát hiện, rón rén nhẹ nhàng như mèo rình chuột để đi về phòng. Sáng hôm sau. Cha giáo vào lớp học thông báo: “Chú nào biết đánh bẫy chuột thì tối nay vào nhà bếp đặt giùm. Tối qua Cô Cao bị chuột ăn hết một nửa nồi đậu xanh vừa mới ngâm chưa kịp nấu”. Nghe tới đây, cả hai tái mặt. Hậu quả là hôm ấy hai chú bị “tào tháo rượt” chạy muốn đứt hơi.

            Cũng chuyện lén lút. Số là thời đó không có nhiều phương tiện giải trí như bây giờ. Cả Tiểu Chủng Viện chỉ có một chiếc máy chiếu bóng. Cả tuần cũng chỉ coi được một lần. Chú này rất thích, nói chính xác là nghiền xem phim. Một buổi tối như muôn buổi tối khác, máu “nghiện ngập” nổi lên trong lòng. Chú rủ một nhóm anh em liều mình đi xem phim chui. Cả bọn vào phòng chiếu phim đóng cửa để giải tỏa nỗi đam mê. Khổ một điều: Xem phim lén mà lại tìm phim hài Sạclô coi. Bộ phim hay và buồn cười quá. Cả nhóm bặm môi bịt miệng mà cười khúc khích. Đi đêm có ngày gặp ma. Thật là xui xẻo khi câu này lại ứng nghiệm trong lần đầu đi đêm của cả nhóm. Cha giáo không biết từ đâu lại đi ngang qua phòng chiếu bóng. Chuyện gì phải đến cũng sẽ đến. Cha thấy tiếng động lạ, mở cửa, uy nghi tiến vào. Cả nhóm đứng như Từ Hải chết trận. Bị bắt quả tang “xem phim cách phi pháp”. Hôm sau, bị cảnh cáo trước toàn thể quần chúng nhân dân. Từ việc xem phim thì nay trở thành “phim” cho người khác xem. Suy ra cũng là do thiếu kinh nghiệm. Mèo đi ăn vụng lại còn đeo lục lạc. Cái miệng nó hại cái thân. Chuyện cười khóc chuyền vần thật nhanh.

            Kể tới đây tôi nhớ đến một câu chuyện về ăn lén nhưng không phải khóc. Kết thúc có phần khả quan hơn. Số là ở một đại chủng viện nọ. Có mấy cây xoài cổ thụ nằm gần phòng ngủ của các thầy. Mùa xoài đến, biết bao là quả to trái nhỏ đua nhau khoe dáng. Nhìn những trái xoài đung đưa, các thầy nhà ta cũng bị cám dỗ như bà Evà xưa khi thấy trái cấm. Hệ quả là số lượng xoài thưa dần một cách lạ lùng. Cha đặc trách nhận ra tình hình. Ngài vào lớp và khuyên: “Các thầy cần ý thức việc sống chung. Cần có tinh thần hiệp thông trong cuộc sống. Những trái xoài ở đây chúng ta đừng ăn riêng. Đợi cho nó chín rồi cả nhà cùng ăn. Mấy năm trước đây cha thấy có không ít thầy cố ý đá bóng lên cây xoài. Rồi có cả vài chiếc dép treo lủng lẳng trên cây. Có lúc còn có “mưa đá” nữa”. Cha còn đang nói thì nghe tiếng “bịch”. Một số anh em phóng tầm nhìn qua cửa số. Có “mưa đá”. Một trái xoài ra đi. Cả lớp cười ngất ngây con gà tây. Cười vì trùng hợp có “mưa đá”. Cười cũng vì nhóm mình chưa bị phát hiện.

            Thì ra nhóm này cao tay hơn đàn anh của mình. Họ nối những cọc để mắc màn cho dài, rồi làm một cái vợt để giựt xoài. Đứng ở phòng ngủ thò cây ra vặt. An toàn và xoài không rơi xuống đất. Xem ra có kinh nghiệm giống như Tôn Ngộ Không hái trộm quả nhân sâm. Cả bọn một phen hú hồn. Tưởng đã bị cha giáo phát hiện. Ai ngờ là vẫn còn “nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật”.

Trong nhà tu, có những chuyện như thế đấy. Nó mang đến cho người ta cái cảm xúc vui vui. Những việc làm đó tuy lén lút nhưng không vì ác ý. Có khi chỉ vì tuổi trẻ và sự tinh nghịch mà thôi. Nó như một dấu ấn kỷ niệm. Để khi đi xa và khi về già, người ta ôn lại để tìm một chút hơi ấm của những ngày xưa ấy.

 

 

NGƯỜI KITÔ HỮU TRẺ VÀ CẦU NGUYỆN

 

Hiện nay, phần đông người Công Giáo trẻ tuổi đang bị chìm đắm trong vòng xoáy của xã hội thực dụng đương thời. Vì thế họ đang dần bị nhuốm màu thế tục. Hiện trạng người trẻ vắng bóng trong các thánh đường là một hiện tượng cảnh báo sự xuống cấp về đức tin của người Kitô hữu trong thế giới này. Đứng trước thực tại ấy, việc cầu nguyện sẽ là giải pháp tốt nhất giúp ta cảm nghiệm được tình yêu cao quý của Thiên Chúa và nâng dậy được đời sống đức tin không chỉ cho chính mình mà còn cho người khác nữa. Câu nói của Mẹ Têrêsa Calcutta như một kim chỉ nam định hướng cho chúng ta đi tìm Thiên Chúa là đích đến của đời sống đạo: “Nếu bạn đi tìm Chúa mà không biết bắt đầu từ đâu, bạn cứ học cầu nguyện và cố gắng cầu nguyện mỗi ngày”. Vậy cầu nguyện là gì?

Chúng ta có thể hiểu cầu nguyện là một cuộc gặp gỡ thân tình hay một buổi nói chuyện thân mật với Chúa. Trong mối tương quan cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ là người cha, người thầy, người bạn mà chúng ta có thể dễ dàng tâm sự và chia sẻ. Còn đối với Chúa, chúng ta sẽ là người con, người học trò, người bạn hữu thân yêu của Ngài. Cầu nguyện là cùng hòa mình vào một trạng thái bình an mà ta có thể thấy được Thiên Chúa và nghe được tiếng Người mời gọi. Sách Giáo Lý Công Giáo dành cho người trẻ (YouCat) có dạy: “Cầu nguyện là hướng lòng lên cùng Thiên Chúa”. Bản Toát Yếu Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo cũng dạy: “Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là dâng lời cầu lên Thiên Chúa để xin những ơn lành phù hợp với thánh ý của Ngài”.

Nếu cá cần nước để sống, cây cối cần ánh sáng mặt trời để sinh trưởng, thì cầu nguyện cũng cần cho đời sống của người Kitô hữu như vậy. Cầu nguyện luôn là một hồng ân của Thiên Chúa, Đấng đến gặp gỡ con người. Có thể nói cầu nguyện là hơi thở của người Kitô hữu. Vì là hơi thở nên cầu nguyện không thể tách rời khỏi đời sống của chúng ta, chỉ khi cầu nguyện ta mới lãnh được sức sống vĩnh cửu từ Thiên Chúa. “Bạn có thể cầu nguyện thường xuyên và sốt sắng, khi ở ngoài chợ hay khi đi dạo một mình, khi đang ngồi ở cửa hàng hay khi đang mua bán, và ngay cả khi làm bếp” (thánh Gioan Kim Khẩu). Lời thánh Têrêsa Avila cảnh báo: “Ai không cầu nguyện, không cần ma quỷ lôi kéo, sẽ tự mình sa xuống hoả ngục”.

Một ngày có 24 tiếng đồng hồ, bạn đã dành bao nhiêu thời gian cho Chúa? Bạn hãy tập cầu nguyện với Chúa. “Nếu bạn không biết cầu nguyện thế nào, hãy xin Chúa dạy bạn, và xin Mẹ trên trời của Người cầu nguyện với bạn và cho bạn” (Đức Bênêđictô XVI).

 

Đào Quốc Dũng, Gx Thức Hóa

 

GIÁO DÂN

NGƯỜI TRẺ HÔM NAY

VÀ NHỮNG KHỦNG HOẢNG

 

Nhờ những phát minh, sáng kiến khoa học kỹ thuật, con người có một bước tiến thật xa và thật sâu. So với quá khứ, con người đã có những bước nhảy vọt trong tất cả các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội. Năng suất lao động tăng nhanh nhưng không cần dùng nhiều sức người; đời sống con người được cải thiện; tuổi thọ nâng cao; đã dần lý giải được các hiện tượng thiên nhiên, thậm chí đang thám hiểm và có tham vọng làm chủ cả vũ trụ, điều mà con người trước đây chưa từng nghĩ tới; và không dừng lại ở đó,  con người luôn luôn tìm tòi, chế tạo những công cụ, máy móc, kỹ thuật, công nghệ nhằm phục vụ cho đời sống được thoải mái hơn.

Tuy vậy, mọi vấn đề đều có hai mặt của nó. Không phải vì thế mà cuộc sống của con người hôm nay được trải toàn bằng hoa hồng. Đôi khi chính những phát minh của con người lại gây ra đau thương bất hạnh cho họ. Dù sống một cuộc sống đầy đủ tiện nghi về vật chất, nhưng nơi con người ngày nay vẫn có đó những bất hạnh và khủng hoảng. Tất cả những điều ấy là những nét chấm phá, tô điểm làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Một bức tranh đa dạng và sống động với muôn màu muôn vẻ: Một chút cay cay, một chút bùi bùi và cả một chút đắng là những cung bậc, những trải nghiệm mà con người cần phải có. Những thách đố và những khủng hoảng trong cuộc là những tất yếu mà con người phải trải qua. Có thể từ đó con người bị thất đoạt và rơi vào bế tắc, nhưng cũng từ đó con người họ cách biết vươn lên và chinh phục được những khó khăn, thử thách để tiến tới những chân trời mới. Trong dòng suy nghĩ đó, bài viết này muốn phác họa một vài nét khủng hoảng của con người, nhất là nơi người trẻ hôm nay, với cái nhìn chủ quan, với ước mong như là một chút chia sẻ gửi đến người trẻ hôm nay.

1- Khủng hoảng?

Khủng hoảng mỗi nơi, mỗi thời đều có nhưng nó hiện diện dưới những hình thức khác nhau. Có những khủng hoảng tồn tại trong một thời gian ngắn, đến đó rồi đi đó như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng dầu mỏ. Và cũng có những khủng hoảng kéo dài qua nhiều thế hệ như khủng hoảng trong quan niệm sống, cách nhìn về cuộc đời hay ý thức hệ. Một đặc điểm đặc trưng của cuộc sống hôm nay: Dù sống sung túc và giàu có nhưng con người bây giờ luôn lo âu về một tương lai vô định. Con người như đi vào sự hủy diệt, sống một cuộc sống với quá nhiều bồn chồn lo lắng, khô cằn, giả tạo và căng thẳng nên con người dễ rơi vào khủng hoảng. Có nhiều thứ khủng hoảng:

2- Biện minh cho sự ác, cho chiến tranh:

Con người ngày nay, do nhiều nguyên động khác nhau, thường có tư tưởng hung hăng, hiếu chiến hay còn được gọi là khuynh hướng hủy diệt (thanatos) dần đánh mất đi khuynh hướng yêu thương (eros). Nên chẳng lạ gì mà số vụ tội ác ngày càng gia tăng và độ tuổi trung bình của người phạm tội ác lần đầu ngày càng “trẻ hóa”. Tất cả là những lệch lạc mà nguyên do có thể đến từ nhiều phía khách quan lẫn chủ quan. Nói rộng ra, từ những việc tưởng nhỏ nhoi mang tính chất cục bộ ấy có thể gây ra một làn sóng thậm chí có thể gọi là phong trào, muốn làm những việc tàn sát “kinh thiên động địa”, chiến tranh, giết người hàng loạt, ôm bom tự sát, đôi khi với một lý do rất đơn giản là muốn được nổi tiếng!

Ở phương diện quốc gia, nhằm thử nghiệm vũ khí mới chế tạo, hay nhằm bán vũ khí, con người hôm nay tìm mọi cách để gây ra những chia rẽ bất đồng giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, các tôn giáo. Dùng một ngân sách quốc gia thật lớn vào việc chạy đua vũ trang, thay vì đầu tư vào phúc lợi xã hội hay phục vụ cho các vấn đề dân sinh. Và hậu quả ai cũng có thể dễ dàng nhận ra là các cuộc chiến tranh thảm khốc với hậu quả tang thương gây nên cho con người: Gia đình tan vỡ, một thế hệ bị hủy diệt, và cũng có đó một số thành phần thủ lợi, nhìn người đánh nhau bằng vũ khí do mình chế tạo; và “vô tư lự mỉm cười đếm tiền bỏ hầu bao làm ngơ trước thảm cảnh do vũ khí của mình gây nên cho đồng loại”.  Một mặt thứ yếu, có thể việc chạy đua vũ trang, công nghệ, kỹ thuật mang lại những tiến bộ mới cho nhân loại nhưng chính yếu nó là nguyên nhân gây ra những hậu quả khôn lường. Chiến tranh đâu mang lại hòa bình cho con người.

2- Tín đồ của Mamon

Cuộc sống hôm nay, dường như con người chỉ còn biết tin tưởng vào tiến bộ khoa học, kỹ thuật, tiền bạc và danh vọng, họ coi đó là những thứ bảo đảm cho cuộc sống của họ ngày hôm nay nên họ có thái độ đề cao vật chất, tôn thờ tiền bạc. Những danh lợi thú hôm nay chỉ là phù hoa, sớm muộn cũng phai tàn nhưng nó vẫn là những thứ cám dỗ có sức hút mạnh mẽ, lấn át thậm chí làm chủ và chi phối hành động của con người, khiến con người như bị nó giam hãm trong vòng kiềm tỏa. Ngày nay, không ít người trẻ xem tiền như cùng đích cuối cùng mà họ phải vươn tới và đạt được. Lý do vì sao? Xin thưa: Vì họ lý giải cách thật đơn giản: Có nhiều tiền là có tất cả. Thêm vào đó là chủ trương quy ngã: Luôn lo thu góp, quá nhiều tham vọng muốn đạt được danh vọng quyền lực bất chấp thủ đoạn. Vòng xoáy của quyền lực, tiền tài danh vọng cuốn con người vào “ma trận” che phủ cái nhìn “tinh tường” nên mù quáng bỏ quên tất cả các giá trị khác. Họ mải mê với những băn khoăn “cơm áo gạo tiền” chỉ biết nhìn vào thực tiễn, lấy số lượng thay vì chất lượng, ích kỷ bản thân; nên thế giới như vừa gần gũi nhưng cũng vừa xa cách; giàu có và sung túc nhưng vẫn còn đó lầm than và đói khổ.

Cảm nhận được những nghiệt ngã và sự khắc nghiệt ấy, nên đâu đó trong sâu thẳm người trẻ vẫn luôn tìm cách thoát ra khỏi cuộc sống hỗn độn và nghẹt thở này. Nhưng thật trớ trêu thay vì thiếu định hướng và một chọn lựa nền tảng đúng đắn nên người trẻ không thể tìm ra hướng đi mới thoát khỏi lối mòn. Hệ quả dễ thấy là  nhiều người cảm thấy thất vọng, trống vắng và hụt hẫng khi chưa hay không thể tìm ra cho mình một hướng đi và để lấp đầy khoảng trống ấy, họ thường cố gắng kiếm tiền thật nhiều để hưởng thụ và khỏa lấp nỗi thao thức, khắc khoải nhưng càng như thế họ lại càng bế tắc. Bị cuốn vào vòng tròn vô hạn ấy nên người trẻ thường dễ thay đổi: vừa mới vui đã lại buồn, vừa mới nhiệt tình lại đã chán nản, vừa nhất trí lại bất mãn. Họ ngày càng ít cười hơn, dễ nổi nóng và ngày càng trở nên kém tế nhị hơn, và nhiều thứ “vừa” khác. Sống dưới nhiều áp lực như thể dễ làm cho người trẻ bị áp lực và mắc bệnh “thời công nghệ hiện đại”, căn bệnh Stress.

3- Giá trị đạo đức truyền thống bị xem thường

Kinh thế thị trường tự do thường được ví như một chiến trường của lợi nhuận, tiêu thụ, cạnh tranh, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, như linh mục Lacordaire đã từng nói: “Trong cuộc cạnh tranh gi?a mạnh và yếu, giàu và nghèo, tự do là ức chế và luật pháp là giải thoát”. Chính môi trường ấy khiến con người thời nay nói chung và người trẻ nói riêng rất thích nghe những lời tâng bốc, xu nịnh, giả dối, hơn thế nữa còn thích sống giả dối, hai mặt.

Chịu không ít những tác động từ nền kinh tế thị trường, thế hệ trẻ hôm nay, có thể nói, xem nhẹ lễ nghĩa đạo đức, tình anh em, cha mẹ, thầy cô. Trái tim bằng thịt dần trở nên khô cứng và vô cảm nên mới có “hiện tượng” sống theo chủ nghĩa “MAKENO”, MẶC KỆ NÓ, dửng dưng trước những nỗi đau và nhu cầu của người khác. Thêm vào đó, người trẻ thường chạy trốn cuộc sống bằng việc vùi đầu vào thế giới ảo, vào mạng Internet. Không thể phủ nhận những ích lợi lớn lao mà cuộc cách mạng thông tin và kỹ thuật số mang lại, nhiều người đã thành công  nhưng còn đó một bộ phận không nhỏ giới trẻ tìm đến Internet chỉ để tán gẫu, xem những điều vô bổ, nên dễ rơi vào tệ nạn xã hội từ những cái ảo đó. Đặc điểm dễ thấy của người trẻ là nhiệt tình nhưng có vẻ hiếu thắng; vì vậy trong cuộc sống  khi gặp phải va vấp, thất bại trong công việc, thi cử, hay tình duyên, hay giữa thế giới ảo và thực tế, từ đó dễ sinh ra chán nản, tư tưởng buông xuôi và giải pháp thường được người trẻ tìm đến là ma túy, tình dục, băng nhóm tội phạm hay cái chết.

4- Bị lệch lạc trong việc lựa chọn các bậc thang giá trị

Thiếu một óc phán đoán chính xác, người trẻ quên đi đâu là những điều chính yếu, đâu là những giá trị phụ tùy. Họ thay đổi rất nhanh và rất nhiều tùy theo sự thay đổi của xã hội, các thần tượng idol, thời trang model, cách sống và lối suy nghĩ có nhiều biến chuyển ngày càng khác với một tốc độ chóng mặt. Thực sự cũng không thể nói rằng tất cả những thiếu sót ấy là do các yếu tố chủ quan gây ra, nhưng một phần cũng từ những yếu tố khách quan. Một trong những ví dụ dễ thấy nhất là trong lĩnh vực giáo dục. Hiện nay, hệ thống giáo dục quốc gia còn nhiều điều cần phải điều chỉnh. Một khía cạnh là phương pháp dạy-học và chương trình sách giáo khoa. Có quá nhiều sự khác biệt giữa kiến thức người trẻ tiếp nhận trên ghế nhà trường với nơi công sở, nhà máy hay cả gia đình, thật khó cho người trẻ có thể dung hòa các kiến thức trên lý thuyết và thực tế. Xem ra người trẻ hôm nay có nhiều điều kiện dễ dàng trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức, nhưng họ lại có một kiến thức nền tảng quá lỏng lẻo, hay một lỗ hổng quá lớn về kiến thức phổ thông. Một trong muôn vàn dẫn chứng là một  bài thi môn lịch sử của một thí sinh dự thi đại học cách đây không lâu đã là đề tài gây ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà quản lý giáo dục hay các thầy cô giáo, vì được viết như sau: Đúng 11g30 phút, ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng bộ đội ta húc đổ cổng Dinh Độc lập, chiếm Dinh Độc lập và bắt sống Tướng Đờ-cát!

Tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân người viết khủng hoảng lớn nhất có lẽ là người trẻ không còn lý tưởng để sống. Họ đang phải đối diện với một thảm cảnh: hố sâu của tuyệt vọng, xung đột giữa những cái mới và những giá trị truyền thống.

6- Sự khác biệt giữa hai thế hệ và khủng hoảng “mù”

Không ở đâu xa, chính ngay trong một gia đình đôi khi cũng có những khủng hoảng phát sinh từ những khác biệt giữa hai thế hệ. Chẳng hạn, có lẽ với nhiều bậc đàn anh đi trước thì người trẻ hôm nay thiếu lý tưởng và muốn nổi loạn, sống buông thả, xem thường truyền thống, nói chung là “hư hỏng” hơn so với thời trẻ của những thế hệ đi trước. Nhưng thực ra không hẳn như vậy, vì hoàn cảnh sống và môi trường xã hội đã khác xa với mấy chục năm trước nên họ có một lối suy tư “có vẻ khác” cùng những khoắc khoải, thao thức của riêng họ mà các thế hệ trước không thể hiểu. Thật vậy, mỗi thế hệ được sinh ra, phát triển và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau: Hoàn cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, nếp nghĩ, tâm trạng, điều kiện phát triển bản thân, giáo dục, khoa học kỹ thuật nên có thể có đó những nhận định, những cái nhìn, cách phê phán thật khác biệt.

Khi nói đến niềm tin, người trẻ cũng có đó những khủng hoảng riêng của họ. Cuộc sống trong thời kinh tế thị trường và hội nhập hôm nay với biết bao cạm bẫy, một xã hội văn minh, thiên về tục hóa với bao ngờ vực, nghi kị, là những áng mây bao phủ làm cho người trẻ bị mờ lối đi, mất đi ý thức về ánh sáng trong đời sống; khiến họ thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa, không thấy rõ được con đường trở về. Không những họ bị “mù” trước sự hiện diện của Thiên Chúa, họ còn bị “mù” với anh em. Họ bị mù trước những đau khổ, vất vả thiếu thốn, vô cảm trước những nhu cầu thiết yếu của những người bên cạnh. Chủ nghĩa quy ngã khiến họ luôn khép kín chẳng biết mở lòng ra đón nhận những khuyết điểm, sai lỗi trong đời sống, không thấy được những giá trị của Tin Mừng  như là ánh sáng, là đường, là sự thật và là sự sống trong đời sống đức tin của mình.

Trên hành trình tiến về cùng đích của mình, con người có những bước vững vàng chính xác nhưng cũng có những bước đi lệch lạc, thậm chí “lầm đường lạc lối”. Đó có thể là một quan niệm, một lối suy nghĩ, một cách sống. Những lệch lạc này nếu không được định hướng lại và điều chỉnh sẽ vô hình trung-qua nhiều thế hệ- trở thành một truyền thống. Một truyền thống bám rễ sâu trong tâm thức và não trạng của mỗi cá nhân thậm chí của một cộng đồng. Thật khó để nhận ra nó và như thế rất khó để thoát khỏi và sẽ phải đón nhận những hệ quả khôn lường.

Trên đây là một số khủng hoảng tiêu biểu mà theo cá nhân người viết người trẻ hôm nay đang gặp phải. Người trẻ thường không nhận ra hay có nhận ra nhưng cũng “giả điếc làm ngơ”. Chính việc nhận định sai lầm nên người trẻ thường có định hướng sai lầm cho cuộc đời. Sai lầm lớn nhất là họ “nhắm mắt” lấy những khủng hoảng ấy làm nền tảng cho cuộc sống. Muốn thoát ra không chỉ nhờ vào một ai khác, mà quan trọng và trên hết là chính bản thân của người trẻ phải có một sự thay đổi trong cách suy nghĩ, lối sống của từng người; giữ lại và phát huy  những yếu tố tích cực, đào thải những yếu tố không còn phù hợp. Do đó, mỗi người chúng ta phải biết được chính mình, rồi sẽ hiểu được chính mình, từ đó sẽ dễ dàng chấp nhận chính mình để khởi đi từ đó, sẽ biết cách vượt qua được khủng hoảng và nỗ lực phát triển con người cách toàn diện nhất. Nhờ đó, người trẻ sẽ có được sự bình an nội tâm, tâm luôn an tĩnh, bình an tự tại, phán đoán sáng suốt cho dù phải đối diện với những thử thách, khó khăn hay khủng hoảng của thời đại hôm nay.

                                                                       

Felicitas

 

AI TRUYỀN GIÁO

VÀ TRUYỀN GIÁO CHO AI?

 

“Hãy đi khắp trần gian rao giảng Tin Mừng

cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).

 

I. Lời mở

Lịch sử truyền giáo đã trải dài gần 20 thế kỷ, nhưng đồng thời lại có nhiều bước thăng trầm. Do đó ý thức về sứ mạng truyền giáo được quan niệm khác nhau theo từng thời đại. Ngày nay sứ vụ truyền giáo được trình bày một cách minh bạch bằng thần học Tín lý. Do đó ai truyền giáo và truyền giáo cho ai là những câu hỏi sẽ được trả lời mau chóng và gọn ghẽ:

II. Ai truyền giáo?

1. Câu trả lời của lịch sử:

a) Thời các Tông đồ mọi người đều cảm thấy rằng phải loan đi Tin Mừng cứu độ mà mình đã nhận được. Giáo phẩm và giáo dân cùng truyền giáo mà không ai chờ ai. Thánh Phêrô đã đến với gia đình Corneliô ngoài cả kế hoạch, ngoài cả ý muốn. Giáo dân di tản đến đâu thì rao giảng đến đó. Họ không nghĩ rằng mình phải chờ lệnh các tông đồ. Thậm chí cả những người được tuyển chọn để làm công tác xã hội tức là phục vụ ăn uống cho cô nhi quả phụ, để các tông đồ rảnh tay mà rao giảng, thì cuối cùng lại rao giảng như các tông đồ. Hai tá viên là Stêphanô và Philipphê là những người đó.

b) Sang thời các Giáo phụ thì sinh hoạt bắt đầu được tổ chức ngăn nắp. Giáo phẩm và giáo dân có làn ranh phân chia rõ rệt. Giáo dân được yêu thương nhưng không được tín nhiệm và kính trọng. Do đó họ đánh mất cảm thức truyền giáo.

c) Sang thời Trung cổ thì người giáo dân chỉ còn là người giữ đạo dưới quyền cai quản của giáo phẩm và giáo sĩ. Giáo dân không hề nghĩ mình có nhiệm vụ truyền giáo. Sách Bổn địa phận Hà Nội ngoài 3 phần phải Tin, phải giữ, phải làm. Còn có phần thứ 4 dạy về những việc bổn đạo phải làm hàng ngày ấy gồm có: Khi thức dậy phải làm dấu thánh giá trên mình... nhưng không hề nói đến chuyện phải truyền giáo cho Lương dân. Nói chung thì cả 4 phần trong cuốn sách bổn đều không nói đến bổn phận truyền giáo. Nó phản ánh chính xác tâm thức của giáo dân thời Trung cổ. Tiếc thay nó còn kéo dài sang cả thời hiện đại.

d) Nửa đầu thế kỷ XX, với Đức Piô XI (1922-1939), giáo dân bắt đầu tìm lại ơn gọi truyền giáo của mình, nhưng chỉ tìm được một phần mà thôi. Phong trào giáo dân làm tông đồ lúc đó gọi là Công giáo Tiến hành. Câu định nghĩa sau đây của Đức Piô XI được coi là châm ngôn của Công giáo Tiến hành: “Công giáo Tiến hành là việc giáo dân:

- Tham dự vào công tác tông đồ của hàng Giáo phẩm.

- dưới sự lãnh đạo của hàng Giáo phẩm”.

Ở thời đại đó câu định nghĩa này làm dậy lên một phong trào truyền giáo mạnh mẽ. Người giáo dân như tìm được sức sống mình đã đánh mất từ trên 10 thế kỷ. Thế nhưng so với Vatican II thì câu định nghĩ trên vẫn còn là lạc hậu.

đ) Với Vatican II thì nhiệm vụ truyền giáo là của mọi người tín hữu. Chính bí tích Rửa Tội đã trao cho tín hữu sứ mạng thừa sai. Mỗi người giáo dân đều có trách nhiệm truyền giáo như hàng Giáo phẩm, chỉ khác là ở những lãnh vực khác nhau thôi. Họ không phải là người chia sẻ sứ vụ truyền giáo của hàng Giáo phẩm, mà sứ vụ ấy đã nằm ngay trong bản chất của họ rồi. Họ cũng không cần phải chờ lệnh sai đi của hàng Giáo phẩm. Họ đã được Chúa sai đi qua bí tích Rửa Tội rồi. Công tác truyền giáo của họ có thể qua đi bên cạnh hàng Giáo phẩm. Sự hiệp thông này là dấu hiệu bảo đảm sự chân chính của công tác truyền giáo do họ thực hiện. Chúa Thánh Thần vẫn ban đặc sủng cho họ mà không qua cơ cấu.

Công tác tông đồ của người giáo dân chỉ đặt dưới quyền lãnh đạo của hàng Giáo phẩm khi chính nhu cầu truyền giáo đòi hỏi để mang lại kết quả dồi dào hơn. Như thế người ta thấy rằng thừa sai sẽ trùng trùng điệp điệp trên cánh đồng truyền giáo, mỗi người đều thu hoạch theo khả năng và điều kiện của mình. Tuy rằng mỗi tín hữu là một thừa sai và thừa sai là căn tính của mọi Kitô hữu, nhưng vẫn có những thừa sai chuyên biệt. Đó là những linh mục tu sĩ giáo dân dành trọn cuộc đời của mình cho sứ vụ đến với muôn dân. Thường thường họ là những người rời bỏ quê hương mình để đi loan Tin Mừng cho những miền đất có nền văn hoá khác, để hoà mình vào một nếp sống mới. Họ phải có tinh thần thích nghi cao độ, có nhiều sáng kiến, có sức chịu đựng dẻo dai cả về tinh thần lẫn thể xác. Nói cách khác là họ phải có đặc sủng thừa sai.

III. Truyền giáo cho ai?

Đã có một thời họ gọi các nước ngoài châu Âu là xứ truyền giáo. Nhưng ngày nay ý niệm ấy đã trở nên lỗi thời rồi. Thông điệp “Sứ vụ Đấng cứu độ” đã xác định rằng mọi người mọi nơi trên khắp thế giới đều là đối tượng của công tác loan báo Tin Mừng.

Theo cách trình bày của thông điệp Sứ vụ Đấng cứu độ, thì đối tượng truyền giáo xếp thành 3 loại do ba tình trạng khác nhau:

1. “Đến với muôn dân” là loan báo Tin Mừng cho những người và những miền chưa hề biết Đức Kitô, hoặc ở đó chưa có những cộng đoàn Kitô hữu vững mạnh đủ để hội nhập Đức Tin vào nền văn hoá của mình. Đến với muôn dân là truyền giáo đúng nghĩa nhất. Đó là dấu hiệu sáng chói nhất để đánh giá mức độ trưởng thành của một tín hữu hay một cộng đoàn Kitô giáo. Bất cứ một cộng đoàn Kitô hữu nào dù là một cộng đoàn mới theo đạo cũng phải rao giảng Tin Mừng cho Lương dân. Họ vừa nhận Lời Chúa vừa loan đi. Đức Tin của họ chỉ vững mạnh khi Đức Tin ấy được chia sẻ cho Lương dân. Thông điệp Sứ vụ Đấng cứu độ yêu cầu “cần phải tránh đừng để cho trách vụ truyền giáo đặc biệt mà Đức Giêsu đã trao phó và vẫn tiếp tục trao phó mỗi ngày cho Giáo Hội tan biến trong sứ vụ chung của toàn thể Dân Chúa, và do đó bị coi thường hoặc quên lãng”. Thông điệp Sứ vụ Đấng cứu độ còn nhấn mạnh thêm: “Nếu không có sứ điệp đến với muôn dân thì chiều kích thừa sai của Giáo Hội sẽ mất đi ý nghĩa nền tảng và sự thực hiện mẫu mực”.

2. Hoạt động mục vụ là tiếp tục rao giảng cho người đã nghe, tạo điều kiện để Lời Chúa thấm vào cuộc sống của người tín hữu, hội nhập văn hoá địa phương và Phúc Âm hoá nền văn hoá ấy. Hoạt động mục vụ giúp người Kitô hữu sống Phúc Âm trong nền văn hoá của mình, thăng hoa nền văn hoá ấy. Nhưng công tác mục vụ sẽ không mang lại kết quả gì nếu không đồng thời đem niềm tin mình đã lãnh nhận để trao tặng cho người chưa biết, chưa nghe, bởi vậy mỗi cộng đoàn phải tổ chức thế nào để:

- càng ngày Đức Tin càng vững mạnh.

- đồng thời Đức Tin ấy sinh hoa kết quả nơi Lương dân như một hạt giống sinh ra 30, 60 và 100 hạt khác.

3. Hoạt động tái Phúc Âm hoá nghĩa là làm sống lại niềm tin nơi những người, những miền đã nghe Tin Mừng mà nay đã bỏ quên. Đặc biệt là các nước Kitô giáo kỳ cựu nay đã đánh mất cảm quan về một Đức Tin sống động. Họ sống xa Đức Kitô và Giáo Hội. Đôi khi còn quay lưng lại hoặc chống đối. Sự thoái giá này là một phản chứng của Tin Mừng. Việc tái Phúc Âm hoá đòi hỏi những phương pháp truyền giáo mới, những thừa sai kiên trì và thánh thiện đặc biệt.

Hãy mau lên đường.

 

Lm Mai Xuân Triết

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

NGƯỜI THẦY HỌC TRÒ

 

1.

Không hiểu tại sao con Ngọc có số điện thoại của Lão. Nó gọi cho Lão:

- Con xin lỗi, con là Ngọc, học trò cũ, xin gặp thầy được không ạ?

Lạ thật, ngày ấy đám học trò chỉ xưng em, có đứa nào xưng con với Lão đâu? Lão xót xa: “Mình về hưu non, nghỉ dạy tháng trước, tháng sau đã có đứa gọi mình bằng chú, tháng sau nữa bằng anh. Cũng may, chưa đứa nào gọi mình bằng mày, xưng tao. Thế là phúc đức nhà mình lắm rồi.  Nay có đứa gọi mình là thầy, xưng con. Quái lạ, Ngọc nào nhỉ?” Lão nhỏ nhẹ:

- Tôi xin lỗi…

- Con là Ngọc Ngố Tàu đây, thầy quên rồi sao?

Lão có nhiều học trò tên Ngọc, nhưng Ngọc biệt danh Ngố Tàu thì Lão nhớ ra ngay.

- Trời ạ! - Lão mau mắn - Em không quên ông giáo già trường làng, quê mùa này ư? Cửa nhà thầy lúc nào cũng mở, mời em, mời các em.

- Không! - Nó ngắt lời Lão - Chỉ một mình con thôi.

 

2.

Lão không cần phải lục lọi ký ức, hình ảnh của Ngọc Ngố Tàu ngày xưa lồ lộ trong tâm trí Lão: Đôi mắt to, tròn, hơi lồi, tóc vàng hoe lưa thưa không che được vầng trán nhô ra, trông ngô nghê, ngờ nghệch, ngốc nghếch, ngu ngơ, ngớ ngẩn, tóm lại là ngố không chịu nổi, gọi là “Ngố Tàu” quả thật, chẳng quá đáng chút nào; không một mảy may giống với người thiếu phụ ngồi trước mặt Lão đây. Nàng đẹp quá, đẹp đến não nùng, dáng người quý phái, mái tóc đen mượt mà, dài, buông thả. Nhưng khi nhìn vào đôi mắt u ám, vương vất nỗi buồn sâu thăm thẳm kia, Lão bỗng rùng mình lạnh suốt xương da, gai ốc nổi ngược lên, ái ngại. Hẳn là người học trò cũ của Lão đây đã phải trải qua những biến cố kinh hoàng lắm. Lão buột miệng:

- Em sao vậy?        

Nàng nhìn giò bạch ngọc treo ngoài cửa sổ, như tránh cái nhìn của Lão:

- Nhành lan đẹp quá! Thưa, thầy đáng tuổi cha con, xin coi con là con được không ạ? Thầy mạnh giỏi ạ? Đang làm gì ạ? Cuộc sống thế nào ạ?

Tuổi già được người hỏi thăm, lại là học trò cũ từ lâu lắm, Lão bỗng dưng vui, đùa cho bầu khí chùng xuống:

- Giỏi thì không, mạnh thì có, nhưng mạnh của tuổi già thôi. Thầy lớn tuổi rồi, không thua bất kỳ ai cùng trang lứa về những thói hư tật xấu của tuổi già: Ốm đau, bệnh tật, mất ngủ, cáu gắt, khó tính khó nết.  Em, à, ừ, con. Con hỏi thầy làm gì à? Thì làm ngơ, làm tàng, làm biếng. Còn về cuộc sống ư? Tệ hơn xưa, bao giờ cũng “lình xình như lục bình trôi sông”.

Nàng im lặng thật lâu, rồi cắn môi, có vẻ đăm chiêu lắm:

- Không phải thầy, Con mới bọt bèo, mới lình xình như lục bình trôi sông. Thầy có tin không, có thể nghe con kể không? Chuyện dài lắm, nhưng con xin kể vắn tắt thôi. Xong lớp 12, con ôn thi một năm, thi vào đại học y dược, trượt, nhưng đủ điểm xét tuyển nguyện vọng hai hệ cao đẳng. Nếu thời gian học phổ thông là nụ hồng, mầm xanh, là ríu rít tiếng chim thì những năm học cao đẳng là hoa thơm cỏ lạ, là bướm bay dập dờn. Cuộc đời sao mà đẹp, sao mà đáng yêu đến thế. Thầy còn nhớ Trung Gà Tồ không? Cái anh chàng nghĩ sao nói vậy, không được một nết đẹp nào ngoài tính thật thà và tận tâm. Chúng con yêu nhau, thầy ạ! Ra trường, chúng con làm đám cưới. Rất hạnh phúc. Anh ấy là giáo viên một trường phổ thông trung học, còn con là y sĩ, xin việc ở một trạm y tế xã, được phân công làm việc ở phòng bảo vệ bà mẹ trẻ em. Con bị khủng hoảng tinh thần ngay ngày làm việc đầu tiên. Trời ơi! Những mảnh thai nhi người ta lấy ra vẫn còn co giật, thầy ạ. Con sợ quá, xin làm viêc khác, ba lần không được, thế là con bị đuổi việc. Mất việc cũng chẳng sao. Thầy biết đấy, con là con một, cha mẹ để lại cho một lô đất trong kênh, trị giá cả gần trăm cây vàng, cho thuê một năm cũng được sáu, bảy chục triệu chứ ít ỏi gì. Con có thai con so. Được ba tháng, đi khám, siêu âm, làm xét nghiệm, vợ chồng con rụng rời chân tay, thầy ạ! Đứa bé bị hội chứng down. Người ta khuyên con phá bỏ, bởi vì nếu được sinh ra, đứa trẻ sẽ là gánh nặng cho gia đình, cho xã hội và nhất là cho chính nó. Con xin lễ, cầu nguyện xin ơn sáng soi, hỏi ý kiến cha xứ, đọc Giáo luật, đọc sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo, và mường tượng ra đứa con của con sẽ là những mảnh thai nhi người ta lấy ra vẫn còn co giật, con quyết tâm giữ đứa bé lại. Sinh ra, nó bị down thật, đầu và chân tay ngắn choằn, tai chuột, đầy một mồm lưỡi, lè cả ra ngoài. Con bán nhà cửa, bán luôn lô ruộng được tám chục cây vàng, lo chạy chữa cho nó. Không ích lợi gì thầy ạ. Ba tuổi, nó mới biết cười thì bị ung thư máu. Đau đớn lắm, thầy ơi! Bốn tuổi, nó chết.

Con có thai đứa thứ hai. Con sợ, không đi bác sĩ. Con phó thác mọi sự cho Chúa, xin Chúa thương ban cho con một đứa con bình thường thôi. Với con, một đứa trẻ bình thường đã là một phép lạ cả thể rồi. Nhưng Chúa làm ngơ. Sinh ra, nó lại bị down như anh nó. Con tự hỏi: “Ai đã phạm tội, nó hay cha mẹ nó, để nó phải sinh ra như vậy?” (Ga 9, 2). Con dốc đến đồng xu cuối cùng chữa trị cho nó. Chưa được ba tuổi, nó biết cười, rồi chết.

Con bị u nang buồng trứng, phải cắt bỏ, thế là tuyệt đường sinh sản. Thầy có biết nhà đạo-đức-vô-đạo-đức nào đã nói cái câu vô đạo đức này không, “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”? Con không thể sinh con được nữa, gia đình và cả dòng họ bên chồng nguyền rủa, hắt hủi, xua đuổi con. Chồng con bị ức chế nặng, tới tận cùng giới hạn của sự chịu đựng. Anh lao đầu vào những cơn say bất tận, rơi vào vòng tay của một cô ca-ve. Cô này cũng gốc gác đạo Công Giáo, thầy ạ. Họ có với nhau hai đứa con trai, đều lành lặn, xinh xắn, dễ thương lắm. Cả nhà chồng con xúi giục anh ấy viết đơn ly dị. Con nhất quyết không ký. Thế nhưng người ta thu xếp được. Ra tòa, con bị xử thua kiện vì những tội lỗi con không phạm.

Kể xong, nàng nhìn Lão bằng ánh mắt van lơn, cầu cứu:

- Con mới từ tòa án về đây. Con không còn mái nhà để về, không còn ai để hỏi một câu. Con đã mất hết nhà cửa, ruộng vườn, công ăn việc làm, mất con, mất chồng, mất hết mọi thứ. Con chỉ còn biết cầu nguyện và cầu nguyện, nhưng Chúa chẳng nhận lời. Con phải làm gì đây? Thầy ơi!

Lão im lặng hồi lâu, rồi nói với nàng chân thành như nói với chính bản thân Lão:

- Thầy không là một nhà đạo đức dù thật hay giả, nên không thể khuyên bảo con được điều gì. Chỉ xin chúng ta đọc với nhau một kinh Lạy Cha thôi, được không?

Họ quỳ trước cây Thánh giá mộc treo trên tường. Đọc được đúng một câu: “Lạy cha chúng con ở trên trời” thì nàng lặng tiếng, nghiêng đầu qua một bên, nhắm mắt lại. Nước mắt nàng giàn giụa, đầm đìa trên khuôn mặt diễm lệ. Người ta cầu nguyện bằng Lời Chúa, bằng chiêm niệm, bằng kinh sách, bằng thơ, bằng nhạc, còn nàng thì cầu nguyện bằng nước mắt. Lão thưa với Chúa, nhỏ tiếng thôi, nhưng đủ cho Chúa và nàng nghe thấy: “Chúa Giêsu ơi! Trong cơn hấp hối, Chúa đã cô đơn và tuyệt vọng đến độ phải kêu lên: “Ôi, Thiên Chúa! Sao Chúa nỡ lại bỏ con!” (Mc 15, 34); nhưng Chúa vẫn một lòng cậy trông, vẫn “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46), thì xin Chúa cho người chị em con đây, đang cô đơn và tuyệt vọng, giữ được một lòng cậy trông. Và xin ban cho nàng ơn bình an”.

 

3.

Lão ghé trung tâm bảo trợ xã hội, thăm bà giáo già dạy Lão thuở Lão học tiểu học. Tới nơi thì vừa trưa. Đang bữa ăn trưa, mấy mươi con người trên những chiếc xe lăn, trên những chiếc ghế đá ngoài hành lang nhà ăn đổ dồn con mắt về phía Lão. Rõ ràng là ai cũng mòn mỏi chờ mong người thân một lần đến thăm. Sơ Bề trên nói với Lão:

- Ông tìm bà cụ Tuyết Nhung phải không? Ông có quan hệ với cụ thế nào? Cụ là cô giáo cũ của ông à? Quý hóa quá! Tội nghiệp lắm! Cụ vốn đông con nhiều cháu, nhưng thực sự bị bỏ rơi. Con cái cụ đều thành danh, có chức vị trong xã hội, nhưng họ bị cơn lốc duy tiền cuốn hút đi. Họ không phải lo gì miếng ăn, cái mặc. Nhưng những nhà cửa, những đất đai, những cổ phiếu, những tài khoản ở nước ngoài chiếm hết trái tim, khối óc của họ. Họ là tỷ phú về tiền bạc nhưng lại là những kẻ túng quẫn cùng cực về đức yêu thương và về thời gian. Cả năm, không ai bỏ ra được một buổi đi thăm mẹ.

Sơ dẫn Lão đến bên chiếc xe lăn. Bà cụ Tuyết Nhung gầy guộc lọt thỏm trong xe, mắt nhìn xa vắng, không nhận ra lão, trong lúc cô nhân viên đang cho cụ ăn thảng thốt:

- Thầy hả? Thầy hả? Con, Ngọc Ngố Tàu đây, thầy ơi!

Lão cũng thảng thốt:

- Con để tóc ngắn, nên thầy không nhận ra. Mái tóc dài của con đẹp thế, sao lại cắt đi?

- Con tiếc lắm. - Nàng nhìn xa vắng, như lạc hồn về dĩ vãng - Ngày xưa, anh ấy yêu mái tóc ấy lắm, cấm không cho con cắt. Con muốn giữ lại, nhưng ở đây vì công việc, cần phải gọn gàng, năng động, con đành phải cắt bỏ.

Nhìn nàng xúc từng thìa thức ăn cho bà cụ ăn một cách gọn gàng, cẩn trọng, Lão nhớ tới lời Mẹ Thánh Têrêsa dạy bảo đệ tử của Mẹ: “Chị thấy trong Thánh lễ, linh mục cầm tấm bánh đã trở nên Mình Chúa Kitô, kính cẩn như thế nào, chị hãy làm như vậy trong nhà hấp hối", Lão thấy mắt mình cay cay. Một sơ còn trẻ chạy đến:

- Chị Ngọc ơi! Cụ Lan đòi chị cho ăn mới chịu.

Sơ khác:

- Chị Ngọc ơi! Cụ Tím không chịu uống thuốc.

Một sơ khác:

- Chị Ngọc ơi! Cụ Hồng chắc không qua khỏi.

Lão nhìn thẳng vào đôi mắt nàng. Đôi mắt nàng trong veo, sáng long lanh, đã mất đi vẻ u ám hôm nào. Khuôn mặt nàng có già nua đi, nhưng phảng phất niềm vui thơ trẻ. Lão tin rằng nàng đã tìm thấy Bình An, “sự bình an không phải do thế gian ban tặng” (Ga 14, 27). Nàng thì thầm:

- Nhiều người đã chết trên tay con. Có người chết đau đớn vì cô đơn, vì thương con nhớ cháu, nhưng cũng có những người chết thanh thản thấy thèm, thầy ạ!

- Thèm, lại là thèm chết, sao lại thèm? Sự sống chết của chúng ta nằm trong tay Chúa mà.

- Con biết. Con biết sự sống là một huyền nhiệm, sự góp mặt trần gian của một con người là một Ơn Ban trọng đại. Trên đời, có gì cao quý, đáng giá hơn chính cuộc sống đâu phải không, thầy? Bây giờ, con yêu cuộc đời này lắm, yêu thiết tha nữa cơ. Ít ra con không vô dụng. Tuy trắng tay, con cũng còn cần cho ai đó, có ích cho ai đó, dù nhỏ nhoi. Nhưng con thèm chết thật mà. Chỉ có chết đi, con mới được gặp lại hai đứa con tật nguyền của con. Hơn nữa con có chết đi thì gia đình anh ấy, mới hợp thức hóa được, mới hiệp thông trọn vẹn với Thân Mình Mầu Nhiệm được, phải không thầy?

Lão còn nói gì được nữa? Môi miệng Lão im bặt. Lão nghĩ: Nghịch lý thay, môt nghịch lý tuyệt diệu! Chúa đã dùng bàn tay của một con người bất hạnh để xoa dịu vết thương của những con người bất hạnh, dùng một trái tim tan nát để vá víu những trái tim tan nát, dùng một cõi lòng vô vọng để đem hy vọng đến cho những cõi lòng vô vọng. Cũng là một nghịch lý tuyệt diệu nữa: Người học trò của Lão học được gì nơi Lão? Có chăng, mấy con tính cộng trừ nhân chia lũy thừa căn số vớ vẩn. Còn nàng, nàng đâu có dạy Lão được một chữ nào, nhưng đã dùng chính đời sống của mình làm chứng nhân, dạy bảo Lão những điều to tát hơn nhiều. Đó là biết tin tưởng, biết hy vọng và nhất là biết yêu thương quên mình. Nàng mới thật sự là người thầy của Lão, dù chỉ là người-thầy-học-trò.

 

lãongu

 

GHEN

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Người ta thường nói: Tình yêu không biên giới. Điều này có nghĩa là: Tình yêu chẳng bao giờ loại trừ một ai cả. Tiếng sét của nó có thể giáng xuống tối tăm mặt mũi trên người già cũng như người trẻ, đờn ông cũng như đờn bà, không phân biệt tuổi tác, màu da và trình độ văn hóa. Đồng thời, tình yêu luôn dính liền với cái ghen, bởi vì có yêu thì mới ghen, chứ chẳng ai vô công rồi nghề, rỗi hơi đâu mà đi ghen cho tốn sức lao động, cho quay quắt con tim, cho mau xuống sắc và già đi lúc nào cũng chẳng hay. Nếu tình yêu không biên giới, thì cái ghen cũng không biên giới.

Thực vậy, cái ghen không phân biệt tuổi tác: Có những cụ ông  cụ bà gần đất xa trời thế mà cũng ghen lồng ghen lộn. Cái ghen không phân biệt giới tính: Có nghĩa là đờn ông cũng ghen ra phết. Sau cùng, cái ghen không phân biệt lý do. Mặc dù cái ghen không biên giới, nhưng xem ra nó lại là nghề của quí bà quí cô. Bởi vì, người ta thường bảo: Nơi đờn bà con gái, thì trái tim to hơn cái đầu. Có nghĩa là đờn bà con gái sống bằng tình yêu nhiều hơn sống bằng suy luận và như vậy tình yêu chi phối toàn bộ cuộc đời. Với họ, tình yêu là tất cả. Một khi đã yêu nhiều, thì ắt hẳn cũng sẽ ghen nhiều, đó là lẽ đương nhiên. Chả thế mà ca dao đã nói: Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng. Khi anh chồng lem nhem trong vấn đề tình cảm, có máu băm nhăm, nay tán cô này, mai tán cô kia, hay có tí bồ nhí để hú hí một mình, thì chị vợ ghen là điều dễ hiểu. Đằng này nhiều bà nhiều cô có tật ghen bóng ghen gió, theo kiểu đánh phủ đầu, bắt nhầm còn hơn thả nhầm. Cứ việc ghen cái đã để dằn mặt anh chồng. Phòng bệnh còn hơn chữa bệnh kia mà.Vì thế, họ hay ghen lung tung.

Lãnh vực đầu tiên thường gặp phải, đó là ghen với dĩ vãng. Sau tuần trăng mật, chẳng may bị chị vợ khám phá ra mấy bức thư tình kẹt trong góc tủ từ đời ông Bành Tổ, mà anh chàng đã quên béng đi mất, không chịu thu dọn sạch sẽ trước khi rước chị ta về dinh. Chị ta đã đọc tất cả không sót một chữ và sau này cứ mỗi lần có dịp lại lôi ra, không để “dằn vặt” thì cũng để “dằn mặt” cho bõ ghét. Để cho anh chồng không còn thời giờ nghĩ đến bất kỳ ai, chị vợ nghĩ ra cách quản lý anh chồng thật chặt chẽ. Anh chồng ở công sở, thì chị gọi điện thoại đến để kiểm tra. Đi làm về trễ năm mười phút, liền bị chị ghen tuông cằn nhằn. Anh chồng mất dần những mối quan hệ bạn bè, bởi đi đâu thì chị cũng kè kè một bên, khiến anh chồng cảm thấy cuộc sống ngột ngạt như địa ngục.

Đã yêu thì phải ghen. Tuy nhiên “ghen tương thì cũng dăm bảy đường”. Có thứ ghen sáng suốt thì cũng có thứ ghen mù quáng. Có thứ ghen lành mạnh, thì cũng có thứ ghen bệnh hoạn. Có thứ ghen chỉ để dành quyền sở hữu chứ không phải để biểu lộ yêu thương. Có thứ ghen không xuất phát từ sự thật mà lại xuất phát từ tính đa nghi như Tào Tháo, để rồi chuốc lấy những hậu quả tai hại, đó là gia đình bị tan tác và bản thân bị pháp luật hỏi thăm. Điều cần thiết là phải ghen cho đúng người, đúng nơi và đúng cách, biết lấy nhu thắng cương, lấy nhược thắng cường, bằng không thì ghen quá chỉ hóa dại mà thôi.

Thứ ghen bệnh hoạn và mù quáng này trước hết được biểu lộ qua việc rình rập và theo dõi chồng. Thậm chí có bà vợ còn ngửi áo chồng trước khi giặt để phát hiện xem có mùi gì khác lạ hay không, theo đúng bài bổn và kinh nghiệm của các cụ ta ngày xưa: Chim khuyên ăn trái nhãn lồng, lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. Tiếp đến là ban hành “luật bế môn tỏa cảng”. Cấm tiệt chồng không được liên hệ với bất kỳ ai, kể cả bạn trai và nhất là bạn gái. Sau cùng, cái ghen được bùng nổ bằng những hành động kinh thiên động địa, chẳng hạn như đánh đấm, rạch mặt, xé quần xé áo, bỏ thuốc độc, tạt a-xít để tiêu diệt tình địch. Những hành động dã man này khó mà qua mặt pháp luật và thường được kết thúc bằng những tháng ngày tù tội, khiến cho con cái phải nheo nhóc.

Trong một bài viết, linh mục Piô Ngô Phúc Hậu đã phân tích về nguyên nhân dẫn tới cái ghen nơi đờn bà và đờn ông như sau: “Trời sinh ra con gái để làm mẹ, muốn làm mẹ thì phải có chồng. Muốn chu toàn bổn phận làm mẹ để có con ngoan con giỏi, thì phải có người chồng biết yêu thương và đùm bọc vợ con. Người chồng là bóng mát để người mẹ đùm bọc đứa con. Người chồng phải chung thủy để người vợ trở thành người mẹ lý tưởng. Khi người chồng không còn chung thủy nữa, thì sự nghiệp của người phụ nữ bị tuyên bố phá sản và định mệnh của đứa con bị đe dọa. Vì thế, sau khi trao cho phụ nữ sứ mạng làm mẹ, thì Thượng Đế lại trao cho họ một vũ khí để tự vệ. Họ bảo vệ bản thân và nhất là bảo vệ hạnh phúc của đứa con. Vũ khí ấy là ghen. Ghen để giữ lấy chồng cho mình và giữ lấy cha cho đứa con. Đàn ông cũng ghen, nhưng cái ghen của đàn ông chỉ là nổi giận để bảo vệ danh dự. Bị cắm sừng đối với đàn ông là một sự xúc phạm. Bởi thế, khi tình địch của đàn ông là một đấng nam nhi cao cường, thì cơn ghen chỉ nổ lép bép như một tép pháo tiểu. Nếu tình địch chỉ là một tên tép riu, thì cơn ghen nổ đùng như một quả pháo đại. Đàn ông ghen nhiều ít tùy thuộc danh dự bị xúc phạm nhiều hay ít. Còn đàn bà ghen thì không bao giờ có liều lượng, vì khi đàn bà bị phản bội thì số phận của họ và con cái họ đổ vỡ tan tành. Hãy ghen và hãy đánh ghen để giành lại những gì đã mất, để xây dựng những gì đã đổ nát. Nhưng phải đánh ghen cách nào để chiến thắng và chiến thắng giòn giã, nghĩa là đưa chồng trở về nguyên vẹn, lại biết thương vợ và lại biết lo cho con cái. Người chồng trở về nguyên vẹn là người không bị mất mặt đối với láng giềng, không mặc cảm tội lỗi đối với gia đình. Đối với đàn ông thì danh dự là lớn. Ghen mà chửi thô tục như thế là phản chiến thuật, là làm hổ ngươi chồng. Nếu chồng biết hối hận trở về, hoặc người kia vì xấu hổ quá mà nhả chồng ra, thì ngày trở về chỉ là ngày sắp sửa ra đi nữa thôi. Người đàn ông không thể chịu nhục”.

Sau đó Linh mục đã kể lại một chuyện đánh ghen như sau:

“Hắn làm lớn, có địa vị, có tiền và có uy tín. Vợ hiền, con ngoan. Thế là sướng quá rồi. Bỗng dưng sinh tật. Bạn của vợ hớt hải báo tin: Chồng mày cặp với con nhỏ nào đó, mày biết không? Không có đâu. Anh ấy đàng hoàng lắm. Mày ngu quá à! Đàn ông mà không kềm thì sớm muộn cũng có vợ bé, vợ mọn. Mày không tin thì chiều thứ bảy đến nhà tao, tao chỉ điểm cho. Chiều thứ bảy kế đó hai bà bạn ngồi uống nước trà bên ban công của một biệt thự sang trọng, ngó xuống một ngã tư sầm uất. Bỗng một bà chỉ trỏ: Chồng mày kìa. Nó đó. Bà khách lẳng lặng đi xuống cầu thang, vừa đi vừa lâm râm cầu nguyện. Bà băng qua đường, tiến thẳng đến trước mặt ông chồng đang vuốt ve cô bồ: Con chào ông ạ! Con chào bà ạ! Lúc nào ông bà rảnh, xin mời đến nhà con chơi. Sau đó bà lên taxi biến mất vào dòng người, để lại đôi tình nhân sượng sùng đến tội nghiệp. Đêm hôm ấy, ông công chức cao quí thức trắng. Sáng thứ hai đi làm, thú tội với ông bạn nối khố: Bà xã tao chơi nước cờ cao quá. Tao quì bên giường xin lỗi bà. Tao quì lâu còn hơn chầu Thánh Thể. Tao thề với mày là từ nay xin chừa”.

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

 

VỀ THĂM XỨ ĐẠO

Lối về xứ đạo một dòng sông

Đồng lúa thơm hương trải nắng hồng

Nghiêng ngả hàng tre già soi bóng

Lênh đênh, đò chở nặng tình quê

Xa cách bao năm mới trở về

Tình làng nghĩa xóm thật hả hê

Người người đoàn kết, vui hiệp nhất

Bác ái, yêu thương, thắm tin yêu

Làng quê êm ả khói lam chiều

Trong gió mênh mang nhẹ tiếng tiêu

Giáo đường từng hồi chuông rộn rã

Âm vang trầm vọng tiếng kinh cầu

Tình quê xứ đạo thắm bền lâu

Xa cách bao năm chẳng nhạt màu

Lòng mãi vấn vương người viễn xứ

Về thăm xứ đạo nghĩa tình sâu.

Nh?t Quang, Gx Thái Hịa

 

TIẾNG CHUÔNG

Tiếng chuông thánh thót vọng ngân

Giáo đường kinh nguyện, hương trầm nhẹ bay

Tiếng chuông hiu hắt gió lay

Tiễn người dương thế chia tay ngậm ngùi

Tiếng chuông sâu thẳm bồi hồi

Vọng trong ký ức, kiếp người đi hoang

Tiếng chuông rộn rã, mênh mang

Hương kinh tỏa ngát, thiên đàng đắm say

Nghe chuông sám hối chiều nay

Gục sâu bên Chúa, lệ đầy ăn năn.

Nh?t Quang, Gx Thái Hịa

 

XỨ ĐẠO QUÊ TA

Như vườn hoa xinh xinh

Lâng lâng khúc ân tình

Muôn người con xóm đạo

Kết liên một gia đình.

Đi trong ánh bình minh

Tràn sức sống lung linh

Người người nên hiệp nhất

Những phục vụ, hy sinh.

Giáo Đường hợp câu kinh

Tôn vinh Chúa Thiên Đình

Tin Mừng ơn cứu độ

Đem đến khắp ngàn phương.

Chung xây tình mến thương

Hằng bác ái nêu gương

Dẫu lo toan cuộc sống

Vẫn “đẹp đạo đẹp đời”.

Mùa ân phúc sáng ngời

Mùa hoa trái đầy vơi

Đây quê ta xóm đạo

Niềm tin yêu dâng trào.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

THANH TẨY BẢN THÂN

Đã mang thân phận con người

Bụi trần vương vấn, cuộc đời đục - trong

Thế nên phải tự nhủ lòng

Làm sao cho sạch mới mong an toàn

Quên đi vất vả lo toan

Mà luôn cố gắng chu toàn hẳn hoi

Lúc thời bất hạnh đơn côi

Lạc quan phấn khởi cho đời nở hoa

Chớ nên tự phụ ba hoa

Nhưng luôn khiêm tốn để mà thân quen

Dựng xây bầu khí ấm êm

Bỏ qua tranh chấp tị hiềm lẫn nhau

Lỗi lầm tha thứ cho mau

Không nên thù oán ẩn sâu trong mình

Sống sao có nghĩa, có tình

Yêu thương phục vụ, quang minh thật thà

Tâm tư tình cảm mặn mà

Thiện tâm, thiện chí đậm đà thân thương

Cùng nhau quy hướng Thiên Đường

Yêu người, mến Chúa nêu gương sáng ngời

Quyết tâm thanh tẩy con người

Trở nên trong sáng cho đời đẹp tươi

HOÀI THANH  (Gx Ngọc Thạch)

 

HÃY TÔN THỜ CHÚA

Núi kia ai đắp nên cao,

Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu.

Loài người đã có từ đâu

Cỏ cây, sinh vật từ lâu hình thành.

Ai mà tạo dựng, điều hành,

Thức ăn muôn loại trời dành cho ta.

Hãy xem tất cả loài hoa,

Muôn ngàn hồng tía xem ra tuyệt vời.

Còn bao nhiêu thứ trên đời

Cũng do quyền phép Chúa Trời dựng nên.

Ngài chính là Đấng Bề Trên

Sao người đã vội lãng quên không thờ

Lớn khôn từ trẻ tới giờ

Chưa nhìn nhận Chúa, còn chờ ai sao?

Phêrô Đào Viết Sang, Gx Mong Thọ

TẢN MẠN

 

GIÁO XỨ CÙNG ĐỒNG HÀNH

Sinh ra và lớn lên làm người con xứ đạo, tôi vui mừng vì mình thật may mắn và hạnh phúc khi được sống trong bầu khí thánh thiêng nơi xứ đạo mình. Giáo xứ là nơi tôi học những bài học đầu tiên về Thiên Chúa, được lãnh nhận những bí tích đầu đời; không những thế, đây còn là môi trường tôi luyện bản thân mình thành người hữu ích cho xã hội. Bầu khí giáo xứ thật ấm áp với người cha hiền hậu, luôn kiên trì và ân cần với đoàn chiên của mình; bên cạnh đó, các tín hữu cùng nhau hoạt động, cùng nhau tham dự những thánh lễ, những giờ kinh đạo đức; anh chị em trong giáo xứ cùng nhau học hỏi giáo lý, Thánh Kinh, cùng nhau phát triển cả về trí thức lẫn đời sống thiêng liêng.

Giáo xứ thường gắn liền với ngôi thánh đường; đây vừa là nơi Thiên Chúa chúng ta ngự, và đây cũng là nơi cộng đoàn dân Chúa quây quần bên người cha thân yêu mà ngợi khen chúc tụng. Ngoài ra, nhà thờ còn là nơi nhiều người tìm đến sau những lo toan, bộn bề của cuộc sống, là nơi sâu lắng trong tâm hồn có thể được thổ lộ cùng vị Cha chung trên trời. Ngôi thánh đường vừa là vật hiện hữu, nhưng đôi lúc tôi nghĩ đó như một thứ vô hình mà người đời không nhìn thấy được.

Ngay từ khi mới sinh ra cho đến khi nhắm mắt lìa đời, không khí gia đình nơi giáo xứ luôn gắn liền với đời sống của mỗi người Ki tô hữu, giáo xứ luôn đồng hành và kề bên mỗi chúng ta, thông qua các linh mục coi sóc giáo xứ, thông qua những anh chị em Ki tô hữu bên cạnh chúng ta. Mong cho bầu khí gia đình nơi giáo xứ luôn ấm áp đối với mỗi người, và chúng ta hãy biết góp sức để giáo xứ ngày một trở nên gia đình giữa lòng xã hội và Giáo Hội hôm nay.

Lưu Hành

 

BÀ CON LỐI XÓM

Hiện nay, tình nghĩa bà con lối xóm ngày càng bị mai một, nhất là tại các thành phố lớn. Nhiều khi sống trong cùng một chung cư, ra vào cùng một con hẻm, mà kẻ ở lầu trên và người ở lầu dưới không hề biết đến nhau. Chính vì vậy, có những cụ già vì quá quen với tình làng nghĩa xóm, không thể nào thích nghi với nếp sống xô bồ và biệt lập như vậy.

Một trong những phương cách đắc nhân tâm, giúp chúng ta thành công trên đường đời, đó là đi tới đâu, chúng ta cũng hãy tạo nên những liên hệ tốt đẹp đối với những người chung quanh, vì trước lạ sau quen. Một khi đã quen, thì dễ dàng đi đến chỗ cảm thông. Tôi thấy có những người bà con lối xóm đã đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau còn hơn cả anh em ruột thịt. Cho dù vì sinh kế, họ vẫn không muốn bỏ xứ mà đi, chỉ vì đã có quá nhiều những kỷ niệm tốt đẹp, cũng như chỉ vì anh em trong khu xóm đã cư xử một cách quá thương mến.

Đối với chúng ta trong hoàn cảnh cụ thể của giáo xứ, tình nghĩa lối xóm chưa đến nỗi mai một, hay bị cạn tàu ráo máng, như những người sống tại thành phố lớn. Nó vẫn còn đó, nhưng nhiều khi vì quyền lợi nhỏ nhen, vì ngộ nhận và hiểu lầm, vì bất đồng và va chạm, nó đã trở nên căng thẳng và ngột ngạt, khiến cho có người đã phải thốt lên: Nhiều khi muốn bỏ xứ mà đi cho rồi, tới vùng Hòa Hảo mà lập nghiệp và làm lại từ đầu, bởi vì anh em Hòa Hảo họ thật tình yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, còn mình thì kèn cựa, chèn ép quá lẽ lắm thì thôi.

Lời nói này đáng cho chúng ta suy nghĩ và xét lại cách thức cư xử của chúng ta đối với nhau.

Hoàng Hà, Gx An Sơn

 

 

 

 

 

 

KHÔNG CÓ TÌNH,

KHÔNG CÓ GIA ĐÌNH

 

Có người đã nói: “Không có tình yêu thì không có gia đình” (Byron). Quả đúng vậy, ngôi nhà gỗ đá chỉ nhờ có tình yêu mới trở thành mái ấm gia đình.  Tuy nhiên để tình yêu được lâu bền, triển nở thì đòi hỏi người ta phải hy sinh, vượt qua nhiều thử thách, cam go. Những ai đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình đều nhìn nhận rằng tình yêu trong cuộc sống lứa đôi nhiều khi chỉ còn là một thực tại mờ mờ ảo ảo và hạnh phúc không khác gì một cái bóng. Thế nên người ta đã than thở: “Hôn nhân là mồ chôn tình ái” (Chamfort) và “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở!”.

Vì thế, sẽ là bất hạnh nếu ta phải sống trong môi trường và bầu khí gia đình thiếu vắng tình yêu. Như một danh nhân đã nói: “Hôn nhân là con đường dắt ta vào địa ngục hay đưa ta vào thiên đàng” (Balzac). Tại sao lại có loại hôn nhân đem ta vào địa ngục? Vì cuộc hôn nhân ấy không có tình yêu. Gia đình trở nên lạnh lẽo, niềm tin biến thành khô cứng, hy vọng bị thui chột, nụ cười tắt lịm, và  hạnh phúc thì biến mất.

Để thoát khỏi bi kịch này, tốt nhất là chúng ta nhìn vào thực tế, chấp nhận sự thay đổi, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn nhờ tình yêu, nghị lực và sự hợp tác chân thành. Như có ý kiến sau: “Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung với nhau là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm” (James Thurber). Khi thực hiện việc này, chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Kể cả phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Kể cả mang lấy những thương tích trên mình. Để bảo vệ tình yêu và hạnh phúc gia đình, người ta không có con đường nào khác ngoài sự cảm thông và hi sinh.

Tình yêu trong gia đình vượt ra khỏi thứ tình yêu quy ngã, vị kỷ, để hướng tới một tình yêu vô vị lợi, bao dung và vị tha. Tình yêu ấy không đóng khung trong ngôn ngữ sáo rỗng hay qua những khái niệm trừu tượng, mà rất thực tiễn, cụ thể và sinh động. Tình yêu ấy sẽ được thể hiện và minh chứng qua sự hòa hợp, hòa điệu trong đời sống chung vợ chồng. “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”…

Thực vậy, sự hòa thuận vợ chồng chứng tỏ tình yêu đã đạt mức trưởng thành và có ý nghĩa. Khi sống hòa hợp với nhau, vợ chồng không làm mất đi cái “Tôi” của riêng mình, trái lại điều đó sẽ giúp hai người bổ túc, hoàn thiện nhau. Xét một cách cụ thể thì sự hòa hợp ấy sẽ được thể hiện và minh chứng qua các việc sau:

1.- Hãy tôn trọng sự khác biệt của nhau (giới tính, cá tính, sở thích…);

2.- Luôn tôn trọng nhau, biết trân trọng những ý kiến cá biệt của nhau;

3.- Thường xuyên bàn bạc, thảo luận các vấn đề chung, quan trọng trong gia đình;

4.- Nếu có tranh luận thì tranh luận trên tinh thần bình đẳng và cảm thông;

5.- Luôn biết áp dụng triệt để “Nghệ thuật nhượng bộ”;

6.- Hãy biến những mâu thuẫn, bất đồng thành sức mạnh để cải tiến và thăng tiến;

7.- Biết nhận ra những điểm mạnh của nhau, đồng thời biết bỏ qua những điểm yếu của nhau;

8.- Hãy nằm lòng điều này: “Phân nửa những vấn đề trong hôn nhân được giải quyết bằng cách giữ im lặng”.

Một mái ấm tràn ngập hạnh phúc luôn là một thực tại hiển nhiên đối với những ai khao khát hạnh phúc và sẵn sàng hành động vì tình yêu và vì người mình yêu thương. Nếu hôn nhân là kết quả của tình yêu chân chính thì gia đình là môi trường để tình yêu lớn lên và sinh hoa kết trái. Đúng như nhận định sau: “Hôn nhân không phải là điểm đến. Nó chỉ là một cuộc hành trình tiến đến một gia đình hạnh phúc, nơi đây tình yêu là điều quan trọng nhất”./.

 

Aug. Trần Cao Khải.        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

THÊM SỨC TẠI NHÀ THỜ KITÔ VUA, KINH A2

 Ngày 23.11.2014, Chúa nhật XXXIV thường niên, mừng kính trọng thể Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. Nhân dịp này cha sở Phêrô Trần Kim Phong đã mời Đức Giám Mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu về thăm mục vụ, dâng Thánh lễ mừng tước hiệu nhà thờ, ban Bí tich Thêm sức cho 86 con em trong giáo xứ và mừng kỷ niệm 1 năm cung hiến Thánh đường. 9h 30, Thánh lễ được bắt đầu. Cùng hiện diện với Đức Giám Mục còn có 14 Linh mục đồng tế và đông đảo bà con giáo dân trong cũng như ngoài giáo xứ. Với ý nghĩa bài Tin Mừng Mt 25, 31-46 về sự phán xét của ngày cánh chung, Đức Cha đã nói nên bài học cho việc sống đạo. Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện với chúng ta, ở khắp mọi nơi, trong mọi người. Phải sống đạo tận căn; đó là bác ái yêu thương giúp anh chị em xung quanh, vì những gì chúng ta làm cho anh chị em mình là làm cho chính Chúa. Và đó cũng là yêu cầu Chúa đòi hỏi mỗi người trong ngày phán xét.

 

HỌP MẶT GIỚI TRẺ GIÁO PHẬN LONG XUYÊN,

LẦN THỨ I

Chúa nhật, lễ Đức Kitô Vua, kết thúc năm phụng vụ, cũng là ngày

 Họp Mặt Giới Trẻ Giáo Phận Long Xuyên lần thứ nhất được tổ chức tại Giáo xứ Đài Đức Mẹ Tân Hiệp. Cuộc Họp Mặt đã qui tụ hơn 1600 em về tham dự, với một chương trình phong phú, bao gồm những tiết mục như: Khởi động và khai mạc, Đức cha Phụ tá đến nói chuyện, giao lưu với các ca sĩ, diễn nguyện, sám hối, Thánh lễ và nghi thức sai đi.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ CHÂU ĐỐC

 Ngày 24.11.2014, mừng kính các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, cha sở Phêrô Nguyễn Tấn Khoa, hai cha phó Antôn Đàm Thiện Đạt và Vinh Sơn Vũ Đức Ái đã mời Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu về thăm mục vụ giáo xứ, dâng Thánh lễ và ban Bí tích Thêm sức cho 43 con em trong giáo xứ. Sau khi viếng Chúa Giêsu Thánh Thể, Đức Cha có đôi lời với bà con giáo dân. Ngài nhắn nhủ mỗi người hãy sống và nơi gương các Thánh Tử Đạo. Ngoài Đức Giám mục còn có 17 linh mục và đông đảo bà con giáo dân cùng hiệp dâng Thánh lễ. Trong bài giảng, Đức Cha đã nói lên ý nghĩa và hoa trái của việc Tử Đạo, như lời Tertullien: “Máu các Thánh Tử Đạo là hạt giống trổ sinh những người Kitô hữu”. Đồng thời Đức Cha cũng làm nổi lên sự khác biệt giữa tử đạo xưa và nay. Qua đó, Đức Cha nhấn mạnh đến tinh thần tử đạo trong cuộc sống người Kitô hữu, như lời Đức chân phước Giáo hoàng Phaolô VI đã nói: “Ngày nay người ta cần những chứng nhân hơn là thầy dạy”.

 

 

CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG

GIÁO XỨ ĐỀN THÁNH GIUSE, AN BÌNH

 Có được ngôi thánh đường khang trang là niềm hạnh phúc l?n. Niềm hạnh phúc ấy đã đến với giáo xứ Đền Thánh Giuse An Bình do linh mục chính xứ Giuse Phan Chí Minh và linh mục phó xứ Piô X Phạm Đình Tiến phụ trách, sau hơn 3 năm hiệp thông và hiệp nhất; nỗ lực và cộng tác của nhiều người. Ngày 26.11.2014, niềm vui ấy đã được nhân lên, khi Đức Giám Mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu về dâng Thánh lễ tạ ơn và cung hiến ngôi thánh đường mới, từ hôm nay, ngôi thánh đường này trở nên thánh thiêng, là nơi Chúa ngự. 9g30, đoàn rước gồm thánh giá nến cao, Đức giám mục, hơn 80 Linh mục, đông đảo bà con giáo dân, quý ân nhân xa gần  đã kiệu xương thánh. Thánh lễ bắt đầu với nghi thức cắt băng khánh thành, mở khăn phủ bia đá kỷ niệm và cánh cửa ngôi thánh đường mới. Sau đó là nghi thức rảy nước thánh và phần phụng vụ lời Chúa. Qua bài giảng, Đức giám mục đã nói lên ý nghĩa quan trọng của ngôi thánh đường. Đó là nhà cầu nguyện, là nơi quy tụ cộng đoàn tín hữu gặp gỡ Thiên Chúa; cũng như gặp gỡ nhau, để xây dựng nên một giáo xứ, một giáo hội; là nơi xuất phát ra đi vào trần gian, để đem Chúa đến cho tất cả mọi người chung quanh chúng ta. Đức giám mục cũng nói đến đền thờ tâm hồn mỗi người; đền thờ vật chất quan trọng là vậy, nhưng đối với Chúa, đền thờ tâm hồn còn quan trọng hơn nhiều. Vì vậy, mỗi người cần rửa sạch mọi vết nhơ trong tâm hồn để tâm hồn trở nên nơi thánh thánh thiêng Chúa ngự.  Tiếp sau phần phụng vụ lời Chúa là nghi thức thánh hiến Bàn thờ. Kết thúc Thánh lễ, qua tay Giám Mục, xin Thiên Chúa ban bình an của Ngài cho cộng đoàn tín hữu.

 

KHÁNH THÀNH NHÀ GIÁO LÝ GX LẠNG SƠN, K3A

Giáo xứ Lạng Sơn, K3A, từ lâu mong mỏi có được một cơ sở để rèn luyện Đức Tin cho con em. Niềm mong mỏi ấy nay đã  thành hiện thực. Nhờ ơn Chúa, cùng v?i sự chung sức của cha sở Giuse Nguyễn Đức Chính, cha phó Giuse Nguyễn Tiến Thịnh, bà con giáo dân trong giáo xứ và sự đóng góp quảng đại của quý ân nhân xa gần, công trình nhà giáo lý đã hoàn thành tốt đẹp. Trong dịp vui m?ng này, Cha sở Giuse Nguyễn Đức Chính còn mừng kỉ niệm 40 năm hồng ân Linh mục. Với những lý do ấy, ngày 30.11.2014, Chúa nhật thứ I Mùa vọng, Đức giám mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã về thăm mục vụ, làm phép nhà giáo lý mới và dâng Thánh lễ tạ ơn. Trong bài giảng, Đức Cha mời gọi chúng ta hãy sống tốt tâm tình của mùa vọng, đó là tâm tình của dân Do Thái ngày xưa chờ mong Chúa đến, cách nay hơn 2000 năm. Mùa vọng là mùa ăn năn sám hối trở về với Chúa làm lại cuộc đời. Vì vậy, tâm tình cần phải có khi chờ mong Chúa đến là hãy tỉnh thức, đồng thời tin nhận Chúa là người Cha nhân ái, đầy lòng xót thương.

 

ĐỨC BÀ CỒN TRÊN

Ngày 10 tháng 10 âm lịch, Đức Giám mục phụ tá đã về Cồn Trên để mừng đại lễ kính Đức Bà. ?ây là một điểm hành hương được nhiều người biết đến, vì thế cả lương lẫn giáo cũng nhau tham dự lễ như một ngày hội. ??ng t? v?i ??c Cha, cĩ hai cha Quản hạt Chợ Mới và Long Xuyên cùng với các cha trong hạt Chợ mới, được diễn ra vào lúc 9 gi?, nhưng từ sáng sớm trong nhà thờ và ngoài hành lang đã chật ních người. Bên cạnh đó, còn có các anh em tôn giáo bạn như Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo cũng đến để chia sẻ niềm vui với giáo xứ Cồn Trên. Nhân cơ hội này Đức Cha đã nhấn mạnh đến việc Đức Bà là chiếc cầu nối và mọi người cùng quy tụ nơi đây mặc dù có các niềm tin khác nhau, nhưng sẽ cùng nhau hướng thượng và quy tụ tại một điểm.

 

CHA PHAOLÔ ĐẶNG TUẤN SỰ QUA ĐỜI

Trong niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh, Toà Giám Mục Long Xuyên kính báo: Cha Phaolô Đặng Tuấn Sự đã qua đời rạng sáng ngày 05.12.2014, tại nhà hưu Cần Xây, hưởng thọ 73 tuổi. Ngài sinh ngày 10.10.1941. Được thụ Phong Linh Mục ngày 29.4.1970 tại Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn. Ngài đã từng là cha giáo Tiểu Chủng viện Châu Đốc (1970-1980), cha sở giáo xứ Cái Dầu (1980-2008). Và đã nghỉ hưu tại Cần Xây (2008- 2014). Vào lúc 09g00 thứ Ba ngày 09.12.2014, Thánh lễ an táng được hai Đức cha cử hành tại nhà thờ Cần Xây, cùng với khoảng 120 cha đồng tế, và đông đảo bà con giáo dân Cái Dầu, Tri Tôn, Cần Xây, anh em cựu chủng sinh tham dự. Trong phần chia sẻ, Đức cha phụ tá đã dựa vào Is 38,12: “Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ”, để cho thấy cuộc đời của cha cố Phaolô là một cuộc đời dang dở, nhưng luôn cậy trông và tín thác vào tình thương của Chúa.

 

 

GIÁO XỨ BÌNH CHÂU, K8A

Giáo xứ Bình Châu, nằm trên địa hạt kinh 8a, xã Thạnh Đông A, Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang do linh mục GB. Trần Hữu Thịnh phụ trách. Ngày 07.12.2014, Đức Giám Mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu đã về thăm mục vụ, làm phép Đài Đức Mẹ và dâng Thánh lễ tạ ơn với 15 cha đồng tế. Mùa vọng, mùa của sự ăn năn sám hối dọn đường cho Chúa đến; Đức Cha kêu gọi mọi người hãy đáp lại lời mời gọi hoán cải của Thánh Gioan Tẩy Giả, hãy mở đường cho Chúa đến: San phẳng, lấp đầy những núi đồi và hố sâu trong lòng chúng ta.

 LỄ KHẤN TRỌN

TẠI DÒNG CHÚA QUAN PHÒNG CÙ LAO GIÊNG

Ngày 08.12.2014, mừng trọng thể lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, trong ngôi nhà nguyện cổ kính của tỉnh dòng Chúa Quan Phòng Cù Lao Giêng đã diễn ra Thánh lễ khấn trọn đời cho 7 chị nữ tu. Đức Giám mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu và khoảng 40 Linh mục cũng đã chia sẻ niềm vui và hiệp dâng Thánh lễ. Trong phần phụng vụ Lời Chúa, Đức cha đã nói lên ý nghĩa của đời sống tận hiến: phải gắn kết mật thiết với Chúa Giêsu là người bạn trăm năm. Qua đó, Đức Cha nêu ra phương thức để có thể theo Chúa cách trọn vẹn với ba bước: thứ nhất phải chọn Chúa, thứ hai phải sống kết hiệp mật thiết với Chúa bằng Lời Chúa và Bánh  hằng sống, và sau cùng phải đem Chúa đến cho mọi người qua công việc bác ái tông đồ. Sau phần phụng vụ Lời Chúa là Nghi thức tuyên khấn: “Lạy Chúa, này con đây, Chúa đã gọi con”. Đó là lời đáp trả tiếng gọi tận hiến được cất lên từ tận trái tim của các chị. Lời đáp trả ấy thật dịu dàng, ngọt ngào nhưng cũng đầy dứt khoát.

 

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ GIÁO HỌ HÒA PHÚ

Hoà Phú là một giáo họ vùng sâu vùng xa, toạ lạc tại vùng Giồng Riềng, Kiên Giang thuộc giáo hạt Rạch Giá. Giáo họ được trao cho Dòng Đồng Công coi sóc và quản lý. Với mong ước có được một nơi xứng đáng để tôn thờ Chúa, quý cha và bà con giáo dân đã khởi công xây dựng một ngôi thánh đường mới. Mặc dù có nhiều vất vả nhưng mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Ngày 10 tháng 12 năm 2014 Đức Giám Mục phụ tá đã đến dâng thánh lễ tạ ơn và khánh thành nhà thờ mới trong niềm hân hoan của nhiều người vào lúc 9g30. Đức cha ước mong sự hiện diện của các linh mục Đồng Công phản chiếu được dung nhan của Đức Kitô và qua sự phục vụ có thể giới thiệu được Đức Kitô cho các anh chị em vùng ngoại biên này. Ra đi để đến với mọi người, như Đức Maria ra đi để đem Chúa đến với chị của mình là bà Elisabet, đồng thời đem niềm vui đến cho hài nhi Gioan “tai tôi vừa nghe lời em chào, hài nhi liền nhảy mừng  trong lòng”.

 

 

CHUYỂN ĐỔI NHIỆM SỞ

Trong dịp đầu năm 2015, có một vài chuyển đổi trong giáo phận như sau:

1- Cha Giuse Lê Xuân Đỉnh                  :   Phó xứ Rạch Giá

2- Cha Giuse Vũ Thiện Mỹ                   :   Phó xứ Tân Lập

3- Cha Carôlô Nguyễn Thanh Hiếu       :   Phó xứ Bình Sơn

4- Cha Vinhsơn Nguyễn Văn Thanh      :  Tòa Giám Mục LX. Phụ                                          :    trách dự tu giáo phận

 

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

HỒ SƠ XIN PHONG CHÂN PHƯỚC

CHO CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP: KHÔNG CÓ GÌ NGĂN TRỞ

 Hồ sơ xin phong Chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã được Đức cha Stêphanô Tri Bửu Thiên, Giám mục giáo phận Cần Thơ, chính thức cho xúc tiến từ năm 2011. Ngày 03- 09-2013, Đức cha Stêphanô đã gửi thư cho Bộ Phong Thánh liên quan đến hồ sơ này; đến ngày 31-10-2014, Bộ Phong Thánh đã có thư trả lời chính thức và thông báo cho Đức cha Stêphanô rằng không có gì ngăn trở trong việc xúc tiến hồ sơ xin phong Chân phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

SỨ ĐIỆP NGÀY HÒA BÌNH THẾ GIỚI 2015

 Hôm 10.12.2014, Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp của ĐTC nhân ngày Hòa bình thế giới lần thứ 48, được cử hành ngày 1.1.2015 về đề tài: ”Không còn là nô lệ nữa, nhưng là anh em”. Đây là một câu trích từ thư thánh Phaolô gửi ông Philomeno (1,15). Sứ điệp gồm 2 phần: Phần I, ĐTC nói về những khía cạnh của nạn nô lệ trong quá khứ, cũng như ngày nay, và ngài nhắc đến những nguyên nhân sâu xa của chúng. Phần II, ngài khuyến khích tìm ra những giải pháp chung để bài trừ nạn nô lệ mà ngài gọi “hiện tượng đáng kinh tởm”. ĐTC nhấn mạnh tới 3 nỗ lực trong lãnh vực này, đó là phòng ngừa các tội ác bắt người làm nô lệ, bảo vệ các nạn nhân và truy tố những kẻ phạm pháp. Để bài trừ nạn nô lệ, cần có một hoạt động chung từ phía toàn thể xã hội. Cần có những đạo luật đúng đắn, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, và cần có những cơ chế kiểm soát hữu hiệu, không để kẽ hở cho sự tham những và phạm pháp mà không bị luật pháp trừng trị.

 

ĐTC TRIỆU TẬP CÔNG NGHỊ HỒNG Y

WHĐ (12.12.2014) – Ngày 11.12, Phòng Báo chí Toà Thánh đã thông báo: Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ triệu tập Công nghị Hồng y vào ngày 14 và 15 tháng 02 năm 2015 để đặt thêm các tân Hồng y.

 Hiện nay Hồng y đoàn có 208 vị, trong đó có 112 Hồng y cử tri (dưới 80 tuổi, có quyền bầu giáo hoàng). Theo quy chế được Đức

 

giáo hoàng Phaolô thiết lập và các vị kế nhiệm xác nhận, số Hồng y cử tri tối đa là 120 vị. Nhưng từ nay đến ngày diễn ra Công nghị Hồng y, sẽ có thêm 2 Hồng y nữa tròn 80 tuổi là Đức hồng y Darmaatmadja (Indonesia) và Đức hồng y Lajolo (Italia). Ngoài ra, đến ngày 19 tháng 4, Đức hồng y Najuib (Ai Cập) và Đức hồng y Rigali (Hoa Kỳ) cũng sẽ mừng sinh nhật 80 tuổi. Vì thế, rất có thể Đức Thánh Cha sẽ quyết định trao thêm 12 mũ Hồng y trong Công nghị Hồng y sắp tới.

 

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ CẦN THAY

 1. Địa chỉ :

Nhà Thờ Cần Thay, An Thuận, Hoà Bình, Chợ Mới, An Giang.

ĐT : 076.3638.207 // lebangagg@gmail.com

Chánh xứ : Linh mục Vinhsơn Lê Văn Bằng

Phó xứ:  Linh mục Vinhsơn Vũ Anh Tuấn

Năm thành lập:  1968. Số giáo dân: 700

Bổn mạng: Đức Bà phù hộ các giáo hữu 1.01.

 

2. Lịch sử hình thành & phát triển :

* Năm 1961: làm nhà nguyện bằng tre lá vì ở xa Cái Đôi.

* Năm 1968: tu sửa lại, lợp tôn, do Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Dương ở Cái Đôi coi sóc.

* Năm 1976: Cha Micae Nguyễn Công Danh đến ở tại Cần Thay, và coi như hình thành họ đạo Cần Thay.

* Năm 1979: Cha Phêrô Lê Sơn Hà coi sóc họ đạo.

* Năm 1992: ChaVinhsơn Lê Văn Bằng coi sóc họ đạo đến nay.

* 01/01/1993: xây lại nhà thờ mới, lợp tôn, kiên cố hơn.

3. Những đặc điểm :

* Sống lẫn lộn với các tín đồ các tôn giáo khác, đa số là Hoà Hảo.

* Đường lối sống đạo theo HĐGM: sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc, nên cố gắng sống hoà hợp với mọi người thuộc mọi tôn giáo.

* Đa số giáo dân nghèo, ít học.

* Chú trọng phát triển văn hoá cho giới trẻ: nâng đỡ, khuyến khích, giúp đỡ các em để có thể đi học.

* Cố gắng tập sống tương trợ nhau.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 993
Tất cả: 45,856,174