Tĩnh tâm tháng 05 và 06 năm 2014

TĨNH TÂM

THÁNG 5&6 NĂM 2014

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 5&6 năm 2014

 

CÙNG VỚI GIÁO PHẬN NHƯ GIA ĐÌNH CỦA THIÊN CHÚA,

CÁC GIÁM MỤC, NGƯỜI LOAN BÁO NIÊM VUI CỦA TIN MỪNG

 

***

Anh chị em thân mến,

Hòa chung niềm hân hoan của mùa Phục Sinh, chúng ta đón nhận tin vui từ Đức Thánh Cha Phanxicô: Ngày 5.4 vừa qua, Ngài đã bổ nhiệm cha Giuse Trần Văn Toản, làm Giám Mục Phụ Tá giáo phận Long Xuyên. Với tinh thần trách nhiệm, tôi hiệp thông với Đức Cha Cố Gioan Baotixita và với Đức Cha Phụ Tá, thực hiện cuộc hoán cải và canh tân vai trò giám mục trong cộng đoàn dân Chúa, dựa theo tông huấn Niềm Vui Tin Mừng - Evangelii Gaudium - của Đức Thánh Cha Phanxicô. Vì thế, tôi xin gửi đến cộng đoàn dân Chúa thư mục vụ tháng Năm với chủ đề “Cùng với giáo phận như gia đình của Thiên Chúa, các giám mục, người loan báo Niềm Vui Tin Mừng”.

Trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Thánh Cha Phanxicô hô hào toàn thể Giáo Hội thực hiện cuộc hoán cải và canh tân mục vụ để loan báo Niềm Vui Tin Mừng cho con người thời đại. Vì loan báo Niềm Vui Tin Mừng chính là lý do cho sự hiện diện của Hội Thánh Chúa Kitô trong thế giới hôm nay. Vì thế, “toàn thể Hội Thánh phải truyền giáo và phải thường xuyên trong trạng thái truyền giáo”. Chỉ có như thế, Hội Thánh mới có thể giới thiệu khuôn mặt lý tưởng của mình như Chúa Kitô mong muốn, “một Hội Thánh thánh thiện và vô tì tích” (x Ep 5,27) cho thế giới hôm nay. Điều này đòi hỏi một cuộc chiến đấu để sửa sai khuyết điểm của các thành viên trong Hội Thánh. Và như vậy, Hội Thánh cần sự hoán cải và canh tân liên tục bằng soi mình vào gương mẫu Chúa Kitô, để Hội Thánh có một sức sống mới và một tinh thần Tin Mừng đích thực. Hoán cải và canh tân để loan báo Tin Mừng là Ơn Gọi của Hội Thánh. Đức Thánh Cha khẳng định: “Không có sự trung thành với ơn gọi này thì mọi cơ cấu đều trở nên vô hiệu” (Số 26).

Từ định hướng trên, Hội Thánh phải có sự chọn lựa truyền giáo (số 27). Đây là Chọn Lựa Loan Báo Tin Mừng hơn là bảo tồn Hội Thánh. “Chúng ta không thể thu động và thản nhiên ngồi đợi trong các nhà thờ của chúng ta; chúng ta cần phải chuyển đổi từ một nền mục vụ thuần túy bảo tồn, sang một mục vụ dứt khoát mang tính truyền giáo” (số 15). Vì thế, cần canh tân Hội Thánh, canh tân các thói quen, cách hành động, các chương trình, và cơ cấu. Điều này đòi hỏi một cuộc hoán cải mục vụ. Trong cuộc hoán cải mục vụ này, điều thiết yếu là khơi dậy nơi những người làm mục vụ một ước muốn không ngừng đi ra, “từ vùng đất tiện nghi của mình đến với mọi vùng đất ngoại vi đang cần ánh sáng Tin Mừng” (Số 20), và nhờ đó kích thích đi vào tình bạn với Chúa Kitô. Vì hiệp thông và truyền giáo liên kết mật thiết với nhau (Số 23). Hơn nữa, vì đi ra vùng ngoại vi, nên người môn đệ sẵn sàng mạo hiểm đời mình, thậm chí chấp nhận tử đạo (số 24), để làm chứng cho Tin Mừng và chỉ có thế mới có thể đón nhận niềm vui từ Tin Mừng.              

Riêng đối với giáo phận (số 30), giáo phận được kêu gọi thực hiện công cuộc hoán cải và canh tân để truyền giáo. Trong công cuộc này, thiết yếu là ý thức rằng chủ thể hàng đầu của công cuộc truyền giáo chính là giáo hội địa phương với nét đặc trưng của địa phương. Chính vì thế, giáo phận Long Xuyên cần quan tâm rao giảng về Đức Kitô cho những vùng cần hơn, nên không ngừng  đi ra ngoại biên để tiếp cận với những khung cảnh văn hóa, xã hội, niềm tin… với nhiều khác biệt. Ý thức này sẽ là định hướng để thực hiện tiến trình thanh tẩy và canh tân giáo phận. Tại Long Xuyên, ngoại biên của giáo phận là đám đông quần chúng nghèo, nghèo vật chất, nghèo tinh thần, nghèo tương quan, và nghèo luân lý. Ngoại biên của giáo phận cũng còn là các tôn giáo bạn, các niềm tin, và các triết lý sống tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoại biên của giáo phận cũng còn là những người đang hành sử quyền dân sự tại Việt Nam, mà phần lớn họ xưng mình là không theo một tôn giáo nào. Đi ra ngoại biên để gặp gỡ và đối thoại sẽ là định hướng cho giáo phận thực hiện công cuộc hoán cải và canh tân để loan báo niềm vui Tin Mừng.

Như vậy, định hướng hoán cải và canh tân để truyền giáo là rất quan trọng để chúng tôi có thể thi hành tác vụ giám mục giữa cộng đồng dân Chúa và cộng đồng dân chúng. Trong tông huấn, Đức Thánh Cha viết: “Giám mục phải luôn nuôi dưỡng sụ hiệp thông truyền giáo này trong giáo hội địa phương của mình, theo lý tưởng của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, ở đó các tín hữu đều một lòng một trí với nhau (x Cv 4,32). Để làm điều này, có khi các ngài sẽ đứng trước dân, chỉ đường cho họ và giữ cho niềm hy vọng của họ luôn sống động. Khi khác, các ngài chỉ cần ở giữa họ bằng một sự hiện diện khiêm hạ và nhân từ. Khi khác nữa, ngài sẽ phải đi theo họ, giúp đỡ những ai bị bỏ lại đàng sau, và trên hết, để cho đoàn chiên tự mình mở ra nhũng lối đi mới.  Trong sứ mạng nuôi dưỡng một sự hiệp thông năng động, cởi mở và truyền giáo này của các ngài, các ngài sẽ phải khuyến khích và phát triển các phương thế tham gia được đề nghị trong bộ Giáo Luật, và các hình thức đối thoại mục vụ khác, với ước muốn lắng nghe hết mọi người, chứ không chỉ những ai nói ra những gì các ngài thích nghe. Nhưng mục tiêu chính của các tiến trình tham gia này không ở sự tổ chức Giáo Hội mà tốt hơn phải là khát vọng truyền giáo muốn đến với mọi người (Số 31).

Hiệp thông với Đức cha Cố Gioan Baotixita và với toàn thể giáo phận, tôi tạ ơn Chúa đã gửi đến cho giáo phận và cho riêng tôi một cộng sự viên trong tác vụ giám mục, để cùng với toàn thể giáo phận, tham gia hiệp thông và đồng trách nhiệm vì sứ vụ của Hội Thánh Địa Phương Long Xuyên. Cũng trong tinh thần hiệp thông, Đức Cha Phụ Tá và tôi một lòng một ý với Đức Thánh Cha Phanxicô trong số 49 của tông huấn Niềm Vui Tin Mừng để thi hành tác vụ giám mục của chúng tôi: “Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích, và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh đau yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình… Tôi mong rằng, thay vì sợ đi lạc, chúng ta nên sợ bị giam hãm trong những cấu trúc làm cho chúng ta có một an toàn giả tạo, những qui tắc biến chúng ta thành nhũng quan tòa tàn nhẫn, với những thói quen làm chúng ta cảm thấy an thân, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Đức Giêsu không ngừng nói với chúng ta: “Anh em hãy cho họ ăn đi” (Mc 6,37).

Đức Cha Phụ Tá sẽ lãnh nhận tác vụ Giám Mục tại Đài Đức Mẹ Tân Hiệp vào ngày 29.5.2014, và giáo phận chúng ta phó thác tác vụ giám mục của ngài cho lòng từ mẫu của Mẹ Maria.

Đức Cha Cố Gioan Baotixita và Đức Cha Phụ Tá Giuse cùng tôi, chúng tôi nguyện xin phép lành của Thiên Chúa xuống trên toàn thể anh chị em. Xin anh chị em cũng cầu nguyện cho chúng tôi.

 

+ Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

NHỮNG TÌNH MẸ

1.

Đời tôi được ghi nhiều dấu ấn. Trong những dấu ấn sâu đậm nhất có dấu ấn của tình mẹ. Tình mẹ thường rất âm thầm pha trộn với nhiều hy sinh, chú ý đến từng chi tiết nhỏ.

2.

Tình mẹ đầu tiên là do mẹ thân sinh ghi.

Mẹ thân sinh của tôi là một phụ nữ thuộc gia đình nghèo. Qua gương sáng của mẹ và của bố, tôi học được ba bài học sau đây:

3.

Một là sự chăm chỉ chịu thương chịu khó để sống xứng đáng với lương tâm. Tôi theo gương mẹ, mà thức khuya dậy sớm, tận dùng từng giờ từng phút để tham gia công việc kiếm sống của gia đình. Tiếp đó là chăm chỉ học hành, cần cù tập ăn tập nói, sao cho lễ độ.

4.

Hai là sự cầu nguyện. Trong gia đình, mẹ là người cầu nguyện nhiều nhất. Sáng vừa thức dậy, tối trước khi ngủ, mẹ cầu nguyện bằng lần chuỗi Mân côi. Mẹ hay dẫn tôi đi lễ tại nhà thờ cách  nhà khá xa. Mẹ hay khuyên tôi: “Con hãy nhớ: Chúa ở trước mặt con. Đừng làm gì tội lỗi, dù rất nhỏ. Nhưng hãy luôn làm việc lành, vì Chúa thấy hết mọi sự, Chúa thương con”.

5.

Ba là việc bác ái thương người. Tuy nhà nghèo, nhưng hễ có người ăn xin tới, bao giờ mẹ cũng bảo tôi đem ra cho họ một ít gạo, một chút tiền, hay một ít cơm. Cách cho trọng hơn của cho.

Bác ái thương người, mà mẹ nhấn mạnh hơn hết là tình thương yêu đối với mọi người trong gia đình, với hàng xóm, với bà con họ hàng, nhất là với các ông già bà cả, với những người trong làng có tang chế hay gặp rủi ro, đặc biệt là sự hiếu thảo biết ơn đối với ông bà.

6.

Khi cố gắng làm trọn ba bổn phận trên đây, tôi cảm thấy vui vì được đào tạo kỹ về tinh thần trách nhiệm và như cảm nhận được danh dự là con của mẹ của bố, của gia đình mình. Làm trọn bổn phận của người con như thế được tôi cho là căn bản, để tôi sống vui trong hoàn cảnh lúc đó.

7.

Tình mẹ thứ hai là mẹ Tổ Quốc Việt Nam.

Từ rất nhỏ, tôi đã sớm cảm nhận được  Quê Hương Việt Nam của tôi là một người mẹ. Cảm  nhận đó được xuất hiện từ nhiều yếu tố, do những gì mình thấy được, nghe được, đụng tới được, tiếp cận được trên Quê Hương Việt Nam, làm nên những nụ cười và nước mắt, những niềm thương và nỗi nhớ, những gắn bó và ước mơ cao đẹp dạt dào. Ước mơ cao đẹp nhất là về tinh thần cộng đồng cần được đào tạo kỹ. Phấn đấu hết sức mình, để cho những ước mơ tốt đẹp đó được thực hiện, đó là bổn phận căn bản của tôi đối với mẹ Việt Nam. Phấn đấu đó cũng nằm trong những phấn đấu để tôi trở thành người con tốt của Mẹ Hội Thánh.

8.

Tình mẹ thứ ba là Mẹ Hội Thánh.

Khi tôi được vào chủng viện, tôi gặp được tình của người mẹ thứ ba. Mẹ thứ ba của tôi là mẹ Hội Thánh.

Mẹ Hội Thánh gợi ý cho tôi là tôi được chuẩn bị để theo Chúa Giêsu một cách đặc biệt. Bổn phận người theo Chúa Giêsu một cách đặc biệt đòi hỏi phải học hành nhiều và phải tập luyện nhiều.

9.

Các môn tôi học thì khá nhiều thuộc cả đời cả đạo. Nhưng các môn tôi hứng thú nhiều nhất là triết học, thần học và Kinh Thánh.

Triết học giúp tôi biết suy nghĩ cho có mạch lạc, biết phân tích cho có khoa học, biết nhận định cho đúng sự thực, nhất là biết yêu mến đi tìm chân lý. Thần học và Kinh Thánh giúp tôi nhận ra chân lý sau cùng là lời Chúa và là chính Chúa.

10.

Ngoài việc học, Mẹ Hội Thánh giúp tôi tập luyện. Để nên người theo Chúa Giêsu một cách đặc biệt, tôi phải tập sống từ bỏ mình, như lời Chúa dạy: “Ai muốn theo Thầy hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16,24). Việc tập luyện gồm cả việc sống kỷ luật bên ngoài lẫn kỷ luật bên trong nội tâm. Con đường tu đức vì thế trở thành một nếp sống tiết độ, đắm mình trong bầu khí cầu nguyện, được đào tạo kỹ về đạo đức, có những lựa chọn hướng về sự làm chứng cho Chúa qua việc cứu con người khỏi tội lỗi, để họ được hạnh phúc thiên đàng.

Với những việc học hành và tập luyện, tôi cảm thấy vui vì đã cố gắng làm bổn phận của người con của Mẹ Hội Thánh.

11.

Tình mẹ thứ bốn là là Mẹ Maria.

Ngay từ tuổi thơ, tôi đã có lòng mến yêu Đức Mẹ Maria. Càng lớn lên, nhất là trong những năm ở chủng viện, tôi càng gắn bó với Đức Mẹ Maria.

12.

Mẹ Maria dạy tôi đặc biệt mấy điều sau đây:

Một là hạnh phúc cao cả nhất và cần thiết nhất là có Chúa ở trong mình.

Hai là để biết làm đúng bổn phận người con của Mẹ, tôi phải biết vâng phục thánh ý Chúa. Thánh ý Chúa sẽ được Chúa soi cho những ai khiêm nhường cầu nguyện, triệt để phó thác ở lòng xót thương của Chúa. Chúa Thánh Thần sẽ dẫn đường chỉ lối một cách cụ thể với những ân sủng cần thiết có thể là khác thường. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng đào tạo tôi.

13.

Tôi khiêm nhường và cảm tạ đón nhận những dạy dỗ của Mẹ Maria. Khi thực hiện những điều Mẹ dạy, tôi thấy rất hạnh phúc, cho dù con đường tôi đi là rất trắc trở. Biến cố 1945 và biến cố 1975 của lịch sử Việt Nam đã qua rồi. Nhìn lại hai biến cố ấy, tôi thấy nhờ có Chúa trong lòng tôi, và nhờ biết nhận ra thánh ý Chúa, để mà sống yêu thương với những lựa chọn được Chúa Thánh Thần soi dẫn, tôi xác tín là Mẹ Maria thương tôi, nên dẫn tôi theo Mẹ qua mầu nhiệm thánh giá để tới Phục sinh.

14.

Một thoáng nhìn lại bốn tình mẹ trên đây đưa tôi đến nhận xét này:

Tất cả bốn tình mẹ mà tôi đã được đón nhận đang làm nên một ngọn lửa trong tôi. Ngọn lửa khao khát phần rỗi các linh hồn. Ngọn lửa muốn cứu mọi người khỏi con đường đi xuống hoả ngục.

Ngọn lửa muốn đưa mọi người về với Chúa. Ngọn lửa cháy bừng những thao thức.

Có thể nói ngọn lửa trong tôi chính là biểu tượng của những dấu ấn do bốn tình mẹ. Ngọn lửa đó là của Chúa, do Chúa, thuộc về Chúa và đi về với Chúa.

Ngọn lửa ấy là một dấu chỉ của sự tôi là gì, hơn là sự tôi làm gì.

Chính nhờ ngọn lửa ấy, mà trong nhiều trường hợp đau đớn, tôi đã có thể cùng với Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha,  nếu Cha muốn, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Lc 22,42).

Chính nhờ ngọn lửa ấy mà, trong nhiều trường hợp bị khổ nhục, tôi đã có thể cầu xin với Chúa Cha, như Chúa Giêsu xưa: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 22,34).

Chính nhờ ngọn lửa ấy mà, trong nhiều trường hợp cô đơn khủng khiếp, tôi đã có thể cầu nguyện như Chúa Giêsu xưa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Chính nhờ ngọn lửa ấy mà tôi xác tín về vai trò của tình yêu là phải đào tạo. Yêu thương là cộng tác vào việc đào tạo. Được yêu là được tham gia vào việc đào tạo. Tất nhiên đào tạo là để nên người tốt theo thánh ý Chúa. Đào tạo như thế là cả một công trình. Công trình đó rất khó khăn, không thể thực hiện được trọn vẹn, nếu thiếu ơn Chúa giúp.

Cũng chính nhờ ngọn lửa ấy mà, hằng ngày hằng đêm, tôi luôn tha thiết cầu xin với Chúa rằng: “Lạy Chúa, xin xót thương con, vì con yếu hèn tội lỗi”.

Vâng, tôi rất yếu hèn tội lỗi, rất cần được Chúa xót thương. Tôi tin Chúa xót thương tôi. Tôi xin kết luận như thế với tất cả tấm lòng tạ ơn và phó thác.

Long Xuyên, ngày 11 tháng 3 năm 2014

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Chúa Nhật III Phục Sinh, A

Cv 2,14.22-28; 1Pr 1,17-21; Lc 24,13-35

CẢM NGHIỆM PHỤC SINH

 

Dưới dáng dấp một người khách lạ, Chúa Giêsu Phục Sinh đã đến với hai môn đệ đang thất thểu quay về làng Emmaus. Ngài đến đúng lúc. Đúng lúc họ đang bỏ cuộc. Đúng lúc họ đang quay quắt và day dứt vì chuyện đã qua. Chúa cùng đi với họ, đi gần bên họ. Ngài khiêm tốn trở thành một người bạn đồng hành dễ thương. Ngài khéo léo gợi chuyện. Hay nói đúng hơn, Ngài muốn thông cảm và chia sẻ câu chuyện dở dang của đời họ. Chúa Giêsu không nản lòng trước câu trả lời khá lạnh nhạt của họ: “Chắc chỉ có ông mới không biết chuyện gì vừa mới xảy ra”. Ngài không cắt đứt cuộc đối thoại. Bằng một câu hỏi: “Chuyện gì vậy?” Ngài giả vờ như không biết, để họ nói cho vơi nỗi buồn, để họ trút hết bầu tâm sự. Chúa Giêsu kiên nhẫn lắng nghe lời họ tâm sự: “Trước đây chúng tôi hy vọng rằng”. Như thế niềm hy vọng của họ giờ chỉ còn là chuyện quá khứ. Niềm tin của họ cũng đã trở nên chai lì. Họ không tin vào lời của các bà ra thăm mộ Chúa.

Khi khiêm tốn lắng nghe, Chúa Giêsu đã nhận ra “cái gút” của vấn đề. Đó là những câu hỏi mà họ không tìm ra lời giải đáp: Tại sao một người của Thiên Chúa lại bị đóng đinh như một kẻ bị Thiên Chúa chúc dữ? Họ không thể hiểu được. Qua đối thoại, Chúa Giêsu dần dần vén mở cho họ biết ý nghĩa của mầu nhiệm đau khổ. Đau khổ là nhịp cầu mà Đức Kitô phải vượt qua để sang bờ bên kia là vinh quang bất diệt. Đau khổ không phải là chuyện xui xẻo. Nhưng đau khổ có chỗ đứng trong chương trình cứu độ của Chúa. Từng lời Chúa chia sẻ thấm dần vào tim óc họ. Lời của Chúa Giêsu là Tin Mừng ngọt ngào, khiến nỗi đau của họ dịu đi, lòng họ như ấm lại. Vì thế họ cố nài ép Chúa ở lại bên đời họ, dùng bữa chiều với họ. Chính lúc “Người Bạn Đường” cầm lấy bánh bẻ ra và trao cho họ, thì mắt họ mở ra. Họ nhận ra vị khách lạ ấy chính là Thầy Giêsu.

Cảm nghiệm phục sinh của hai môn đệ Emmaus cũng là cảm nghiệm của mỗi người chúng ta. Lúc ta tưởng Chúa vắng mặt, thì Ngài lại đang ở gần bên ta. Lúc ta nhận ra Chúa ở gần bên ta, thì Ngài lại biến mất. Nhưng chính lúc Chúa biến mất, thì ta lại cảm nghiệm sâu hơn sự hiện diện của Ngài. Ngài đến lúc ta không ngờ. Ngài đi ta cũng chẳng giữ lại được. Ngài ở lại với ta cả khi ta không trông thấy Ngài. Đấng Phục Sinh vẫn đến với ta hôm nay qua một người bạn, hay một người xa lạ tình cờ ta gặp gỡ trên đường đời. Qua họ, Chúa thổi vào lòng ta niềm tin yêu hy vọng. Chúa vẫn âm thầm đến với ta qua từng Thánh Lễ. Ngài đích thân cắt nghĩa Tin Mừng và ân cần bẻ bánh trao cho ta. Vì thế, sống như Chúa Phục Sinh là ta phải tập đến với anh chị em, phải tập đồng hành với họ, phải tập gợi ý, tập lắng nghe, tập soi sáng cho họ... Hôm nay vẫn còn rất nhiều người đang lê gót trên đường về Emmaus. Họ là người nghèo khổ, người già yếu bệnh tật, người cô đơn, người mang đầy mặc cảm, người thiếu sự cảm thông, v.v… Ta có thể bắt chước Chúa Giêsu để đến với họ được không?

Lạy Chúa! Xin ở lại với con, vì con rất yếu đuối. Con rất cần Chúa đỡ nâng, để con khỏi ngã quỵ. Xin Chúa ở lại với con, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn. Năm tháng đời con đang vùn vụt qua đi. Vĩnh cửu đã đến rất gần con rồi. Con cần Chúa thêm sức mạnh, để con khỏi gục ngã trên đường đời.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật IV Phục Sinh, A

Cv 2,36-41; 1Pr 2,20-25; Ga 10,1-10

THỰC ĐƠN PHỤC SINH

 

Một trong những việc người chủ chăn thường làm, là phải đi trước để tìm đường nẻo an toàn cho đoàn chiên theo sau; rồi đưa đoàn chiên đến đồng cỏ xanh và suối nước mát. Vì thế người chủ chăn cần nhìn xa trông rộng, xem có thú dữ, trộm cắp hay không? Nhất là phải để ý đến con đường trước mặt, vì có những con đường dẫn tới vực thẳm nguy hiểm, hay rừng rậm vướng chân. Có những con đường sẽ dẫn tới ngõ cụt không lối ra. Người chủ chăn còn phải nghiên cứu kỹ, xem con đường mình đưa đoàn chiên đi qua, có khúc quanh nào nguy hiểm, có hốc đá nào cheo leo, có đám cỏ độc hại nào cần phải nhổ hay không. Người chăn chiên ở Do Thái không dễ dàng như người chăn trâu ở Việt Nam, vì đất nước họ có quá nhiều sỏi đá và cát nóng. Nhất là vào mùa Hè, người chủ chăn phải dành hết thời giờ ban ngày, để phấn đấu kiếm của ăn cho đoàn chiên.

Từ những thực tế trên đây, ta đi vào đời sống riêng tư. Có bao giờ ta cảm nghiệm được sự dẫn dắt của Chúa không? Có bao giờ ta nhận ra Chúa hằng đi trước mặt ta không? Biết bao biến cố đã xảy đến trong cuộc đời mình từ khi ta còn nhỏ đến nay; và bàn tay Chúa đã dẫn dắt ta vượt qua một cách bình an. Vậy mà ngày hôm nay ta vẫn chưa hay biết. Đã bao lần ta thất bại trắng tay. Vậy mà tới ngày hôm nay mình vẫn chưa phải chết đói. Biết bao lần ta gặp những cảnh lo âu, nhưng rồi lại được tai qua nạn khỏi. Ta có biết rằng đó là bàn tay nhân từ của Chúa đã chăm sóc ta bằng “thực đơn phục sinh” hay không? Xét mình lại, ta thấy ta không xứng đáng để được hưởng những ơn huệ to lớn đó. Vậy mà Chúa đã ban, đang ban và chỉ ban cho riêng ta mà thôi.

Ta hãy nghĩ đến trường hợp của vua Đavid. Từ khi còn là một cậu bé chăn chiên đến khi làm vua, Đavid đã phải đương đầu với biết bao khó khăn. Một mình tay không đánh nhau với sư tử; chiến đấu với Goliat. Có lúc Đaviđ ở kề bên tử lộ, nhưng Chúa đã kéo ông ra khỏi, cho ông hưởng nếm “thực đơn phục sinh”. Sau này nhớ lại, Đaviđ cảm thấy Chúa đã chăm sóc cho ông quá nhiều; và ông đã viết lên Thánh vịnh 23 rất ngọt ngào: “Chúa chăn nuôi tôi. Ngài dẫn dắt tôi qua những đường ngay nẻo chính…”.

Phải, Chúa luôn chăm sóc nuôi dưỡng ta. Nếu ta tuân theo ý Chúa, ta sẽ không bị lầm lạc và hối tiếc. Thế nhưng đôi khi vì quá thiển cận, vì những hào nhoáng bên ngoài, ta đã không thấy đường nẻo của Chúa. Đôi khi ta chống đối Chúa, phàn nàn với Chúa và làm Ngài buồn lòng. Những lúc ta sống xa rời tình Chúa, Chúa đã để cho ta gặp thất bại cay đắng. Trong trường hợp ấy, ta phải nhận ra lỗi của mình và sớm trở về cùng Chúa, bằng tâm tình ăn năn thống hối. Còn nếu ta sống công chính mà lại gặp phải buồn khổ hay thất bại, thì xin cứ bình tĩnh, vì Thiên Chúa đang tinh luyện ta. Ngài đang cần sự đóng góp nhỏ bé của ta vào chương trình cứu độ của Chúa.

Lúc này đây, rất có thể ta đang bị những ngọn sóng gió khổ đau vùi dập. Có thể trước mắt ta là màu đen của tang chế, màu tím của bệnh tật, màu đỏ của khổ đau, màu trắng của tình đời bạc bẽo. Thậm chí ta cũng không biết ngày mai đời mình sẽ ra sao? Nào cơm ăn áo mặc, nào tương lai sự nghiệp, nào con cái... Ước gì ta hãy đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa. Ngài là chủ chăn tốt lành. Ngài sẽ lo liệu tất cả, nếu ta nương cậy nơi Ngài như một con chiên bé nhỏ. Lạy Chúa! Con tín thác nơi Chúa.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật V Phục Sinh, A

Cv 6,1-7; 1Pr 2,4-9; Ga 14,1-12

CĂN NHÀ PHỤC SINH

 

Hơn bao giờ hết, ngày hôm nay người ta phải vật lộn và đối diện với nơi ăn chốn ở. Ngày xưa vấn nạn này cũng có, nhưng không đến nỗi như bây giờ. Thực tế cho thấy, bên cạnh những con người khốn đốn vất vả với nơi ăn chốn ở, lại là những đại gia. Họ không ở trong những căn nhà bình thường như bao người khác, mà ở trong những căn biệt thự đắt tiền, đầy đủ tiện nghi, thậm chí còn thừa nhu cầu của con người. Thực ra, chuyện giàu nghèo là chuyện hết sức bình thường trong cuộc đời. Ai may mắn thì được ở nơi rộng rãi. Người kém may mắn thì ở chỗ nhỏ. Nơi ta ở có thể là biệt thự hay túp lều. Nhưng cuối cùng ai cũng vậy, không ai thoát khỏi cái nơi ở cuối cùng như nhau: chỉ dài độ 2 mét, bề ngang 1 mét sâu dưới lòng đất; hay chỉ nằm gọn trong cái hũ cỏn con mà thôi. Hóa ra thân phận con người chỉ là tạm bợ, là phận tầm gửi nơi cõi tạm này mà thôi. Vậy thì sau cái cõi đời tạm bợ này, mình sẽ đi về đâu? Thưa, ta đi về đâu thì còn tùy thuộc vào quan niệm và cách sống của ta hôm nay. Có người bảo rằng chết là hết. Có người bảo rằng chết để đầu thai ở kiếp sau. Nếu ăn ở ngay lành, thì sẽ được đầu thai thành người tốt.

Với niềm tin Kitô giáo, chúng ta tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại. Niềm tin ấy là điều thách thức lớn lao đối với nhiều người, nhất là những người không tin. Ngay thời Chúa Giêsu, người ta cũng đã đặt vấn nạn của đời sau. Kết quả là có những người không tin và chống đối Chúa ra mặt. Có thể nói trang Tin Mừng hôm nay là lời trăn trối, là lời an ủi, là lời xác tín của Chúa Giêsu với các môn đệ và anh chị em chúng ta: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”.

Là con người, ai cũng muốn đi tìm cho mình một nơi trú ngụ thật tốt, thật an toàn. Điều này hoàn toàn chính xác, vì đó là nhu cầu hết sức cần thiết của đời người. Thế nhưng căn nhà mà ta cần tìm hơn cả, lại là căn nhà ở sau cõi đời tạm bợ này. Để được vào nơi ăn chốn ở như Chúa Giêsu mời gọi, không phải là chuyện giản đơn. Thực tế cho thấy, để có được căn nhà vật chất tạm bợ này, ta đã phải nỗ lực cả đời, thì để được căn nhà đời sau mà Chúa Giêsu hứa cho ta, ta càng phải nỗ lực tìm kiếm và xây dựng từng ngày.

Căn nhà mà Chúa Giêsu nói, không phải là căn nhà vật chất được xây bằng gỗ đá, nhưng được xây trên nền tảng là chính Chúa. Nơi đó chỉ có một chất liệu cần mà thôi, đó là tình yêu. Nếu ta có tình yêu, ta sẽ có một chỗ ở hạnh phúc vĩnh viễn trên Nước Trời mà không phải mất tiền mua. Vậy nếu như hôm nay ta chọn cho mình một quê hương hạnh phúc ở trên Trời, thì tất cả những áp lực của cõi đời tạm này sẽ chẳng có nghĩa lý gì cả. Mọi sự rồi cũng sẽ qua đi.

Lạy Chúa là nơi nương ẩn an toàn của con, xin củng cố đức tin cho con, để con không xao xuyến trước những thử thách đang xảy ra. Xin cho đức tin của con được lớn lên mạnh mẽ, để con luôn hướng tâm hồn lên tới Chúa.

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật VI Phục Sinh, A

 Cv 8, 5-8. 14-17; 1Pr 3, 15-18; Ga 14, 15-21

TÂM HỒN PHỤC SINH

 

Cha Anthony de Mello kể câu chuyện vui: Một hôm đang lúc vui đùa với các Thiên Thần, Thiên Chúa đã đặt cho họ một câu hỏi: “Ta muốn chơi “trò trốn tìm” với loài người. Các ngươi nghĩ xem, đâu là nơi ẩn trốn tốt nhất, mà loài người khó lòng tìm được Ta?” Thế là các Thiên Thần tranh nhau giải đáp. Vị thì nói là Chúa hãy ẩn trốn ở đáy biển sâu. Không ai lặn xuống đó được! Vị khác đề nghị là Chúa hãy ẩn mình trên những đỉnh núi cao chót vót, rất khó tìm. Vị khác nữa thì bảo là Chúa hãy ẩn khuất giữa những lớp mây trời. Loài người không tài nào vươn tới…”. Cuối cùng, Chúa chỉ cười và bảo: “Sai hết. Ta thấy rằng chỗ ẩn mình mà loài người ít ngờ nhất, đó là ngay trong tâm hồn họ!”

Thực vậy! Xưa kia Thánh Augustinô đã khắc khoải đi tìm Chúa, nhưng chẳng gặp được Chúa, nên Augustinô cảm thấy khắc khoải triền miên. Mãi đến năm ba mươi tuổi, Augustinô mới được ơn nhận biết Chúa ở ngay trong tâm hồn mình. Bấy giờ tâm hồn Augustinô tràn ngập hạnh phúc; nhưng đồng thời Ngài cũng tỏ vẻ nuối tiếc, vì biết mình biết Chúa quá muộn. Augustinô tâm sự: "Lạy Chúa, con yêu Chúa quá muộn màng. Chúa vẫn ở trong con, đang khi con cứ mải lo tìm Chúa ở bên ngoài".

Cũng như Augustinô, nhiều lúc ta đi tìm Chúa khắp nơi, đang khi Chúa vẫn ở trong tâm hồn mình. Chính Chúa Giêsu đã quả quyết điều này: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở trong người ấy". Như vậy, ta không cô đơn vì mình có Chúa ở cùng. Ngài ở với ta một cách vô hình, nhưng rất sống động. Ngài ở với ta một cách gần gũi ngay trong chính linh hồn mình. Ta không còn phải gặp Ngài ở đâu xa. Vì thế ta có thể thưa chuyện với Ngài mọi nơi, mọi lúc.

Điều kiện duy nhất để được Thiên Chúa ở cùng, đó là “đón nhận Ngài”. Đón nhận Ngài bằng việc yêu mến Ngài. Đón nhận Ngài bằng việc giữ các giới răn của Ngài. Dĩ nhiên, tuân giữ Lời Chúa và các giới răn của Chúa không phải là vì sợ, như giữ luật giao thông, luật thi cử, luật kinh doanh… mà giữ vì lòng yêu mến Chúa.

Vậy cho tới hôm nay Thiên Chúa đã có “hộ khẩu” trong linh hồn ta chưa? Hay nói cách khác, ta đã “cấp sổ đỏ” cho Chúa chưa? Câu trả lời tuỳ thuộc vào việc ta có thực sự yêu mến và tuân giữ Lời Ngài hay không. Hơn nữa, ta đã ý thức và phát triển tình thân hữu với “vị thượng khách” của ta là chính Chúa chưa? Câu trả lời: để thực hiện được điều đó, ta “cần có một tấm lòng”, một tấm lòng yêu mến dành cho Chúa, như lời Ngài nói: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy".

Như thế, một tâm hồn phục sinh là tâm hồn có Chúa ở cùng. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta ngày một yêu mến Chúa nhiều hơn, bằng việc lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa, để nhờ đó tâm hồn chúng ta, cuộc sống chúng ta luôn đầy ắp sự hiện diện của Chúa. Chúa ở trong ta. Ta ở trong Chúa. Còn hạnh phúc nào hơn? "Lạy Chúa, con yêu Chúa quá muộn màng. Chúa vẫn ở trong con, đang khi con cứ mải lo tìm Chúa ở bên ngoài".

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên, A

Cv 1,1-11; Êp 1,17-23; Mt 28,16-20

HỘ KHẨU THƯỜNG TRÚ

 

Trần gian không phải là căn nhà vĩnh viễn, hay đích cuối cùng của chúng ta. Chúng ta chỉ đi ngang qua, ghé qua trái đất một thời gian mà thôi. Kinh Thánh dùng những chữ “lữ khách, kẻ đi đường, người hành hương”, để mô tả cuộc sống ngắn ngủi của chúng ta trên trái đất này. Thánh Phêrô viết: “Nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống đời lữ khách này” (1Pr 1,17).

Ngày nay đời sống kinh tế phát triển, phương tiện giao thông thuận tiện, làm cho người ta thích đi du lịch. Những cuộc du lịch thường không kéo dài. Trong suốt chuyến du lịch, người ta phải có nơi trọ qua đêm. Người giầu thì ngủ ở khách sạn. Người nghèo thì ở nhà trọ bình dân. Dù khách sạn có sang trọng đến đâu và đầy đủ tiện nghi đến mức nào chăng nữa, thì cũng không ai chọn nơi ấy là quê hương của mình. Người ta chỉ trọ qua đêm, để rồi lại lên đường đi đến một chỗ khác.

Còn trần gian này thì sao? Có là quán trọ không, hay là nơi ở vĩnh viễn? Thưa, trần gian này chỉ là chỗ tạm trú, là trạm dừng chân trên hành trình tiến về đời sau. Thế nên một người đang sống trên đời, thực ra chỉ là một “khách trần”. Mấy mươi năm sống cũng chỉ là một quãng thời gian tạm trú. Thế nhưng phần đông chúng ta đều nghĩ mình là ông chủ, là bà chủ nơi quán trọ cuộc đời này. Vì thế ta lao tâm khổ trí ngày đêm. Ta bày ra trăm mưu ngàn kế để tranh giành nhau, để chiếm đoạt cho thật nhiều. Mấy ai nghĩ đến lúc mình đột ngột hết thời hạn tạm trú, phải lìa khỏi quán trọ này ngay lập tức với hai bàn tay trắng.

Hôm nay cám ơn Chúa, ta còn sống trên mặt đất. Mình đang là khách của quán trọ trần gian. Nhưng ta hãy có cái nhìn hướng lên trời cao. Hướng lên trời cao, để biết rằng quê hương vĩnh cửu của ta ở trên trời. Nơi đó có Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha; và nơi đó ta có “sổ đỏ”, có “hộ khẩu thường trú” đúng nghĩa nhất. Còn trần gian này chỉ là nơi ta tạm trú. Xưa nay chẳng có ai có địa chỉ thường trú vĩnh hằng trên trái đất này. Hướng tâm hồn lên trời cao, còn là để ta biết ái mộ những sự trên trời và biết sống niềm hy vọng, một ngày nào đó mình sẽ được trở về với quê hương vĩnh phúc là Thiên Đàng hằng mong. Thánh Phaolô nói: “Chúng ta biết rằng: Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất là chiếc lều này bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu trên trời, không do tay người thế làm ra” (2Cr 5,1).

Vì chúng ta không ở thế gian này lâu, nên thôi, ta đừng gắn bó mật thiết với nó làm chi.  Hãy cầu nguyện như vua Đavid xưa: “Lạy Chúa, xin dạy cho con biết: đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng con đếm được mấy mươi, để con hiểu được kiếp phù du là thế”. Và thánh vương nói tiếp: “Ấy tuổi đời con, Chúa đo cho một vài gang tấc; kiếp sống này Chúa kể bằng không. Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu” (Tv 39,5-6).

Chúng ta cầu nguyện thật nhiều cho nhau, để mỗi người biết sống tốt đời tạm bợ nơi quán trọ trần gian này, và luôn hướng tâm hồn và cuộc sống mình về quê hương, về ngôi nhà đích thực của mình trên Trời Cao. Nơi đó ta sẽ được cấp “Hộ khẩu thường trú”.

Lạy Chúa! Con hướng tâm hồn con lên tới Chúa. Xin cho con biết yêu mến những sự trên trời. Và xin Chúa nâng đỡ con.

 

 

Suy Niệm Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, A

Cv 2,1-11; 1Cr 12,3b-7.12-13; Ga 20,19-23

LINH HỒN CỦA HỘI THÁNH

 

Lúc đến Êphêsô, Thánh Phaolô hỏi một số môn đệ ở đó rằng: “Khi vào đạo, anh em đã nhận lãnh Thánh Thần chưa?” Họ trả lời: “Ngay cả việc có Thánh Thần hay không, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói tới” (Cv 19,1-2). Đó là chuyện ở Êphêsô cách đây hai ngàn năm. Còn hôm nay thì sao? Chúng ta đã được nghe nói về Chúa Thánh Thần và đã lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần. Nhưng có thể Ngài vẫn còn là Một Đấng xa lạ với ta.

Thực vậy, Bí tích Thêm sức mà ta lãnh nhận ngày nào, giờ chỉ còn là kỷ niệm đẹp của một thời đã qua. Không còn làm cho ta ý thức hơn về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng đang ở trong ta và sai ta đi làm chứng. Khi Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với các môn đệ, Ngài đã làm một việc rất quan trọng, đó là mời họ tiếp tục sứ mạng mà Ngài đã bắt đầu: “Các con hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). “Hãy đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Qua đó, Chúa Giêsu đã cho các môn đệ được tham dự trọn vẹn vào sứ mạng của Ngài.

Chúng ta biết, chỉ có một sứ mạng duy nhất là sứ mạng Chúa Giêsu nhận được từ Chúa Cha. Còn sứ mạng của các môn đệ cũng chỉ là nối tiếp, là nối dài sứ mạng duy nhất của Chúa Giêsu mà thôi. Vậy thì ai sẽ giúp các môn đệ thực hiện sứ mạng này? Ai sẽ cho các môn đệ sức sống để các Ngài dám mở toang cánh cửa mà lên đường loan báo Tin Mừng Phục Sinh? Thưa, đó chính là sức sống nơi hơi thở của Thiên Chúa. Chúa Giêsu Phục Sinh đã trao hơi thở của Ngài, hơi thở của sức sống thần linh cho các môn đệ. Khi được trao ban Thánh Thần, các môn đệ đã trở thành những con người mới, sẵn sàng lên đường làm chứng cho Tin Mừng.

Chúa Thánh Thần chẳng ở xa mỗi người chúng ta. Ngài luôn có mặt khi ta rung động trước Lời Chúa và muốn sống Lời Chúa trong đời thường. Ngài luôn có mặt khi ta muốn tiến bước trong đời sống cầu nguyện, trong đời sống thiêng liêng.

Chúa Thánh Thần chẳng ở xa Hội thánh. Ngài là Đấng làm cho Hội thánh được hiệp nhất, bằng cách ban những đặc sủng khác nhau cho nhiều người, để họ phục vụ lợi ích chung. Chúa Thánh Thần hiện diện nơi các vị lãnh đạo Hội thánh, nhưng Ngài cũng có mặt nơi các nhóm giáo dân. Ngài hiện diện trong các Bí tích, trong mỗi Thánh Lễ. Ngài thánh hóa bánh rượu để trở nên Mình và Máu Đức Kitô. Tóm lại, Chúa Thánh Thần chính là linh hồn của Hội thánh. Nếu không có Ngài, Hội thánh chỉ là một cơ cấu đáng ngờ.

Vì thế, nếu ta mềm mại hơn để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt; nếu ta bớt cứng cỏi để cho Ngài canh tân; nếu ta đừng dập tắt tiếng nói của Ngài, thì ta sẽ thấy những biến đổi rất kỳ diệu trong đời sống của mình và cộng đoàn.

Lạy Chúa Thánh Thần! Xin Ngài hãy đến như cơn gió mát thổi vào đời con, thổi vào Hội thánh, thổi vào thế giới, để đem lại cho chúng con sự tươi mát nhẹ nhàng, sự tự do thanh thoát. Xin Ngài hãy đến như dòng nước trong chảy vào đời con, chảy vào Hội thánh, chảy vào thế giới, để cuốn trôi đi mọi nhơ nhớp, khô cằn, cứng cỏi, và làm bật dậy những mầm xanh sự sống nơi chúng con.

Ave Maria

 

GIÁO DỤC TRẺ EM

TRONG

KINH THÁNH

Từ "trường học" chỉ xuất hiện một lần trong Kinh Thánh (Cv 19,9), tuy nhiên những nội dung khác nhau nói về thầy dạy và việc giảng dạy trong cả Cựu Ước và Tân Ước thì rất nhiều. Có khá nhiều phần trong Cựu Ước nói về tầm quan trọng của việc giảng dạy về tôn giáo, tuy nhiên người ta không thấy có luật Mosê quy định thành lập các trường học để chính thức giảng dạy nội dung này. Bài này trình bày một số khía cạnh khái quát trong việc giáo dục trẻ em thời Cựu Ước.

Mục đích chính của giáo dục mà người Do Thái nhắm tới là học hỏi để tuân phục Luật Chúa đã được ghi lại trong sách Torah. Torah vừa được coi là hệ thống niềm tin của Do Thái giáo, vừa được dùng để chỉ riêng năm cuốn sách đầu của bộ Kinh Thánh: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, và Đệ Nhị Luật. Mục đích thứ hai của giáo dục là dạy về các khía cạnh thực tế của đời sống hàng ngày: con trai thì học về giao tiếp, các công việc thường ngày, việc làm ăn buôn bán, con gái được chỉ dạy về nội trợ, quán xuyến việc nhà, biết cách áp dụng luật quy định về việc ăn uống như thế nào cho đúng với thánh tục, và trở thành một là một người vợ ngoan hiền cho chồng và người mẹ đảm đang cho các con cái.

Gia đình được coi như là nơi đầu tiên và quan trọng nhất cho tiến trình giáo dục; cha mẹ là những người thầy đầu tiên và hiệu quả nhất để dạy bảo con cái. Trách nhiệm này được nói đến trong sách Sáng Thế 18,19, nơi Thiên Chúa tỏ bày ước vọng của Ngài là Ápraham sẽ huấn luyện con cái và gia tộc của mình để chúng bước đi theo đường lối của Đức Chúa. Sách Châm Ngôn 22,6 cũng khuyến giục các bậc cha mẹ phải giáo dục con cái theo giáo huấn của Chúa. Sách Đệ Nhị Luật 6,7 đưa ra một cái nhìn sâu sắc và thú vị về cách cha mẹ phải dạy bảo con cái của họ về Thiên Chúa như thế nào: “Anh em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy”. Các phụ huynh phải sử dụng tất cả những cơ hội và những hoạt động khác nhau trong đời thường hằng ngày như những nẻo đường để hướng dẫn con cái đến với Thiên Chúa. Như vậy, mọi ngõ ngách của đời sống xã hội được thấm nhuần ý nghĩa tôn giáo và giáo huấn về Thiên Chúa, do đó những tâm tình, cảm xúc và xác tín tôn giáo tuôn trào như một dòng chảy tự nhiên chuyển lưu trong đời sống cộng đồng và xã hội. Những phương thức chính để truyền đạt kiến thức tôn giáo cho trẻ em là gương sáng, sự luyện tập, trò chuyện, trao đổi và những câu chuyện kể. Cha mẹ có thể khơi dậy sự hứng thú học tập của các trẻ em qua những sinh hoạt và nghi thức đang được cử hành trong những dịp lễ khác nhau: ngày Sabát thì diễn ra hằng tuần, còn các dịp lễ thì theo từng thời điểm trong năm: lễ Vượt Qua, lễ Lều Trại, lễ Cung Hiến…

Học tập và đào luyện theo Torah bắt đầu từ rất sớm. Người cha phải có trách nhiệm dạy Luật cho con cái mình bằng lời nói và gương sáng của bản thân. Một đứa trẻ có thể quan sát cha mình buộc những hộp kinh trên cánh tay và trên đầu. Câu hỏi tự nhiên đứa trẻ sẽ thốt ra là: “Bố đang làm cái gì vậy?” Cơ hội này có thể được ông vận dụng ngay để dạy người con rằng đó là nhiệm vụ của mọi người: phải “Yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa hết lòng hết dạ, hết sức lực mình” (Đnl 6,5). Khi con trai đến mười hai tuổi thì người Do Thái tin rằng việc giáo dục Torah cho em đã tạm đủ để giúp đứa trẻ nắm hiểu Lề Luật và đủ sức tuân giữ. Từ đó, đứa trẻ được nhìn nhận như một “người con của Lề Luật”. Để đánh dấu giai đoạn này, người cha sẽ cột các hộp kinh trên cánh tay và trên trán của con trai mình. Hộp đặt trên trán biểu thị rằng Lề Luật cần phải được ghi khắc tận trong tâm khảm con người. Hộp đặt trên cánh tay trái để nó sẽ đè ép lên trái tim khi cánh tay gập lại hoặc chắp lại mỗi khi cầu nguyện. Chiếc hộp được xiết chặt vào trái tim như thế tượng trưng cho Lề Luật phải được hết lòng yêu mến và ân cần tuân giữ.

Con gái thì được giáo dục ở nhà. Người mẹ sẽ dạy cô những gì cần thiết để trở thành một người vợ hiền  và người mẹ gương mẫu. Cô phải học những thứ như quy tắc về phép ăn uống, mà điều này liên quan chặt chẽ đến lòng đạo đức của gia đình đối với Thiên Chúa. Cô phải học về những khía cạnh thực tiễn của Lề Luật, mà đám con trai phải khổ công trau dồi về mặt nghiên cứu. Nghĩa là, một cô gái phải học cách để làm cho ngôi nhà của mình sẵn sàng cho việc cử hành những ngày lễ đặc biệt cũng như ngày Sabát. Để chuẩn bị như vậy, cô đã phải học hiểu những ý nghĩa, những tập tục, và cả những biến cố lịch sử đằng sau các sự kiện ấy. Cô phải nắm vững gia sản tinh thần này để truyền lại cho con cái mình ngay khi chúng còn nằm trong nôi. Các cô gái được coi là đảm đang và giỏi giang sẽ phải học thêm nhiều kĩ năng khác như dệt vải, kéo sợi, thêu thùa, và ngay cả việc điều trị những loại bệnh thông thường. Nếu may mắn được sinh ra trong một gia đình khá giả hơn cô có thể học thêm ca múa và chơi những loại nhạc cụ đơn giản như sáo hoặc đàn hạc.

Người Do Thái thường nhận sự giáo dục tôn giáo chính thức từ các tư tế và các thầy Lêvi (Lv 10,10-11). Những người này được trợ giúp bằng việc dâng cúng và đóng góp của dân chúng để họ trở thành những thầy dạy về tôn giáo cho cả đất nước. Tuy nhiên, trách nhiệm này không phải lúc nào cũng được duy trì tốt trong dòng lịch sử luôn xoay chuyển bất ngờ. Vào thời vua Giơhôsaphát, chức năng giảng dạy của các tư tế và các thầy Lêvi đã được chính thức hồi phục và đề cao, nhà vua bắt mọi người dân phải chăm chú học hỏi Lề Luật của Đức Chúa (2 Sbn 17,7-9). Việc giảng dạy không đạt hiệu quả của các tư tế được bổ sung bằng lời giáo huấn của các tiên tri. Vị tiên tri đầu tiên của Ítraen là Samuel đã nỗ lực cải cách việc giáo dục tôn giáo bằng cách thiết lập một trường đào tạo các tiên tri tại Rama (1 Sm 19,19-20). Sau đó, nhiều trường khác cũng bắt đầu xuất hiện ở những địa phương khác nhau. Việc nghiên cứu và học hỏi chủ yếu ở những học viện này là Luật và việc giải thích Luật. Tuy nhiên, không phải tất cả các học viên trong các học viện này đều được ơn làm tiên tri, và cũng như không phải tất cả tiên tri trong Ítraen đều xuất thân từ các trường học này. Amốt là một thí dụ điển hình như thế (Am 7,14-15). (Còn tiếp)

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 5-2014

Trong suốt mùa Phục Sinh chúng ta được nghe những bài trình thuật sống động từ sách Công vụ Tông đồ: sức sống mãnh liệt của cộng đồng tín hữu sơ khai, Chúa Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ trong Hội Thánh, những chuyến hành trình truyền giáo hào hùng của thánh Phaolô Tông đồ. CĐKT tháng này mời bạn dõi theo sách Công vụ Tông đồ để trả lời những câu hỏi sau đây:

 

 

 

1- Vị thống đốc nào đã bác bỏ những lời người Do Thái kết án ông Phaolô?

2- Ông Phêrô và ông Gioan chữa một người què ở đâu gần Đền Thờ?

3- Ai đã nỗ lực dẹp yên một cuộc nổi loạn của dân chúng thành Êphêsô?

4- Ai đã đồng hành với thánh Phaolô trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất?

5- Ai đã bị dân thành Êphêsô tức giận lôi kéo đến hí trường?

6- Ai đã tiên báo ông Phaolô sẽ bị cầm tù?

7- Ai đã lấy danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ cho một người bị tà thần ám hại?

8- Ai đã giúp ông Apôlô nhận rõ sự thật của bản thân ông?

9- Người phụ nữ nào đã chết được ông Phêrô cho sống lại?

10- Ai đứng cuối cùng trong danh sách bảy vị phó tế do các Tông đồ thiết lập?

11- Người phụ nữ nào quê ở Thyatira có lòng quý mến và năng giúp đỡ các nhà truyền giáo?

12- Ai ngủ say rồi rớt ngã khi ông Phaolô đang giảng?

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 4-2014

 

1: 3 GIOAN 2: 1 MACABÊ 3: GIÓP 4: ĐANIEN  5: DO THÁI 6: MÁCCÔ 7: THÁNH VỊNH 8: LÊVI

 

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 4-2014:

 

1- Duy Khanh, họ đạo Kitô Vua, Kênh C1.

2- Têrêsa Phạm Nguyễn Khánh Ngọc, Gx. Đài Đức Mẹ, Tân Hiệp

3- Anna Nhã Thi, Gx. Thiên Thần, Giáo hạt Thủ Thiêm, Tổng Giáo phận Sài Gòn

4- Gioakim Tuấn Kiệt, Gx. Thanh Hải, Kênh D2

5- Đinh Châu Phú, Dòng Thánh Gia, Long Xuyên - An giang

 

            * Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                        - Email: jostrung.trung@gmail.com

                        - Điện thoại: 01672576777

                        - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên Giang

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH

 

GIA ĐÌNH SỐNG ĐỨC VÂNG PHỤC

 

Nơi vườn địa đàng năm xưa, dại diện cho gia đình nhân loại là ông Adong và bà Eva đã không vâng phục Thiên Chúa, vì không vâng phục Thiên Chúa, họ và đàn con cháu phải gánh lấy những hệ quả khôn lường, đáng sợ nhất là mất đi sự thanh khiết, hạnh phúc và quý nhất là sự sống đời đời.

Thực trạng xã hội ngày nay cũng đang diễn lại sự bất phục tùng Thiên Chúa của Adong và Eva nơi vườn địa đàng ngày xưa. Quả thế, ngày nay con người, nhất là các gia đình đã và đang bị quyền lực sự dữ xui khiến sống xa rời Thiên Chúa, xa rời các giá trị nhân bản và các giá trị Tin Mừng, để sống theo nền văn hóa sự chết. Cụ thể là các gia đình không còn muốn sống theo tinh thần Phúc Âm và những giáo huấn của Giáo Hội, nhất là những giáo huấn về những vấn đề liên quan đến đời sống hôn nhân và gia đình. Nghĩa là, cũng như Adong và Eva, các gia đình không còn muốn phục tùng Thiên Chúa nữa. Họ muốn bằng Thiên Chúa và muốn mình trở thành “chúa” của mình.

Hệ quả của sự bất tuân phục những giáo huấn của Thiên Chúa, của Giáo Hội là những tan vỡ trong gia đình, những suy đồi về đạo đức, là những điều vô luân. Những giá trị gia đình không còn nữa: vợ chồng không còn giữ được sự chung thủy với nhau, dẫn đến tình trạng “ông ăn chả, bà ăn nem”; cha mẹ không còn quan tâm đến việc giáo dục con cái, dẫn đến việc ngày càng có nhiều những đứa con hư hỏng; cha mẹ giết chết con mình khi nó còn chưa được sinh ra; con cái không còn hiếu thảo với ông bà cha mẹ, dẫn đến việc xã hội ngày càng phải chứng kiến nhiều cảnh cha mẹ phải chịu đựng những đau khổ do chính những đứa con mà mình đã mang nặng đẻ đau và cưu mang gây ra. Để giải quyết và tránh những hậu quả nêu trên, gia đình cần phải học để biết sống Đức Vâng Phục.

Thực vậy, gia đình chính là “trường dạy Đức Tin”, là nơi đầu tiên hạt giống Đức Tin được gieo trồng và phát triển. Chính vì thế, mọi thành phần trong gia đình phải cùng nhau hợp thành một cộng đoàn sống Đức Tin, nói cách khác, một cộng đoàn sống thánh ý Chúa cách sống động. Cách cụ thể, cha mẹ phải là những người làm gương cho con cái trong việc sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa, qua việc sống theo những điều Chúa dạy trong Kinh Thánh, qua những giáo huấn của Giáo Hội; đồng thời, con cái cần phải học biết để vâng phục thánh ý Thiên Chúa qua việc vâng lời cha mẹ. Làm thế nào để gia đình nhận ra thánh ý Chúa?

Trong việc tìm kiếm và thi hành thánh ý Thiên Chúa, mọi thành viên trong gia đình phải giúp đỡ nhau qua lời cầu nguyện, khuyên nhủ và đối thoại huynh đệ. Qua mỗi người trong gia đình, Thiên Chúa bày tỏ những mong muốn của Ngài, và việc thực hiện những mong muốn này là “công việc của mọi người” trong gia đình. Thế nhưng, để có thể nhận ra thánh ý của Thiên Chúa, tất cả mọi người trong gia đình phải cần đến ánh sáng của Thánh Thần, Đấng đã được ban cho các thánh Tông Đồ, và cho mỗi người chúng ta khi lãnh Bí tích Rửa tội, và nhất là khi lãnh Bí Tích Thêm sức. Nếu mỗi người trong gia đình biết chia sẻ ánh sáng này cho người khác, đặc biệt là cha mẹ biết chia sẻ ánh sáng đó cho con cái, nghĩa là hướng dẫn con cái theo sự thúc đẩy của Thánh Thần, thì mọi người trong gia đình sẽ có thể càng thăng tiến thêm trong sự hiểu biết. Chẳng ai thánh thiện và sáng suốt đến độ không cần đến sự hướng dẫn của người khác. Chẳng có ai quá nghèo nàn hay tội lỗi đến độ không thể cho đi điểm sáng của mình. Trong gia đình, mọi người cần phải cùng nhau làm cho niềm tin của mình vào Thiên Chúa nên sống động bằng việc tín thác cuộc sống gia đình vào ý định nhân hậu của Thiên Chúa. Cùng nhau tìm ý Chúa là vấn đề sống còn đối với gia đình. Nó sẽ làm cho mỗi người trong gia đình thăng tiến trong đức tin, trong nhân cách sống, qua việc sửa lỗi huynh đệ và giáo hoá lẫn nhau, và nhất là sẽ luôn bảo tồn được các giá trị gia đình. Đâu là mẫu gương để gia đình noi theo trong việc sống Đức Vâng Phục?

Gia đình Thánh Gia chính là mẫu gương cho mọi gia đình trong việc sống Đức Vâng Phục. Nhìn vào gia đình Thánh Gia, ta nhận ra gia đình ấy được xây dựng trên nền tảng của Đức vâng Phục, khởi đi từ sự vâng phục của Con Thiên Chúa (x. Pl 2, 6-8; Lc 2, 51) cho đến lời Xin Vâng của Đức Maria (x. Lc 1, 38), và sự phục tùng thánh ý Chúa của thánh Giuse (x. Mt 1, 18-25). Các Ngài đã sống thánh qua việc sống vâng phục thánh ý của Thiên Chúa, đó là ý định cứu độ nhân loại khỏi ách thống trị của tội, do sự bất phục tùng của Adong và Eva gây ra. Bằng chính sự vâng phục, các Ngài cộng tác với Thiên Chúa để cứu nhân loại khỏi những đau khổ do tội để được sống hạnh phúc, thì các gia đình cũng cần phải noi gương gia đình Thánh Gia, cộng tác với Thiên Chúa trong ý định hoàn thiện nhân loại này qua việc sống thuận theo những giới răn của Ngài và những giáo huấn của Giáo Hội. Với phương cách đó, mọi người trong gia đình sẽ tạo dựng hạnh phúc cho nhau, và hạnh phúc đó sẽ lan tỏa đến những gia đình khác. Đây chính là sứ mạng của mỗi người trong việc sống “Phúc Âm Hóa Đời Sống Gia Đình”.

Hương Quê

 

CHA MẸ, NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

 

            Gia đình được xây dựng trên nền tảng hôn nhân. Mà hôn nhân là định chế do Thiên Chúa thiết lập mang đặc tính bất khả phân ly, quy hướng về sinh sản và giáo dục con cái. Bởi vậy gia đình là trường học đầu tiên để hình  thành và phát triển nhân tính và là tế bào căn bản xây dựng lên đời sống xã hội và giáo hội. Ba trách nhiệm: Sinh, dưỡng, dục là ba trách nhiệm thiêng liêng cao cả Thiên Chúa ủy thác cho người làm cha  làm mẹ. Trong đó giáo dục con cái là trách nhiệm quan trọng gắn liền với việc truyền thông sự sống, nên không thể thay thế hoặc chuyển nhượng cho bất kỳ ai. Trách nhiệm đầu tiên chính là hình thành và phát triển nhân cách cho con cái, nhân cách làm người và nhân cách làm con Chúa.

             Cha mẹ giáo dục trước tiên là trao ban cho con cái nhân tính của mình. Thật vậy, đứa trẻ như tờ giấy trắng tinh mà cha mẹ là những người đầu tiên vẽ lên bức tranh cuộc sống của con mình. Ngay từ trong lòng mẹ dứa trẻ đã biết cười, biết buồn, biết giận dỗi theo tình cảm của người mẹ, rồi được sinh ra từ lòng mẹ, gắn kết với mẹ qua dòng sữa, nghe lời ru ấm áp yêu thương, những câu chuyện cảm động của mẹ, được mẹ dạy bảo từ lời ăn tiếng nói, hướng dẫn những bước đi chập chững vào đời, biết viết những chữ đầu tiên, được khuyến khích sống  chân thật ngay thẳng, ý thức sự công bằng, biết điều tốt nên làm điều xấu nên tránh, mở rộng trái tim yêu thương, giúp đỡ người hoạn nạn, biết nhận và biết cho đi, biết cám ơn biết xin lỗi, biết lễ phép khiêm tốn. Người cha trao ban cho con cung cách sống, mẫu mực trong đối nhân xử thế, hy sinh, chung thủy, yêu thương kính trọng, cần cù lao động và những giá trị truyền thống của gia đình, nâng đỡ con khi vấp ngã, khuyến khích con tìm hiểu cuộc sống lớn lao diệu kỳ, dang rộng vòng tay đón con khi lỗi lầm, biết kiên nhẫn tự trọng, biết nghèo mà không hèn, biết không hài lòng những gì đang có thì vươn lên. Người cha chính là chỗ nương tựa vững chắc, bảo vệ an toàn cho gia đình, hướng dẫn con vững chắc vào đời.

            Con cái còn nhận được nhân cách của cha mẹ qua việc xây dựng mái ấm gia đình dựa trên tình yêu thương, lòng tha thứ, tôn trọng lẫn nhau, vị tha, sống cho nhau, chia sẻ mọi vui buồn, dấn thân quên mình, sẵn sàng hy sinh vượt qua mọi thử thách. Không khí đầm ấm sum họp gia đình, những tương quan bà con họ hàng láng giềng, những bữa ăn chung ông bà cha mẹ con cái, những buổi đọc kinh chung gia đình trước bàn thờ Chúa, bàn thờ tổ tiên, gắn kết các thành viên và sự hiệp thông giữa người còn sống và đã chết  giúp con cái duy trì truyền thống gia dình và lòng hiếu thảo. Cha mẹ hình thành nhân cách cho con cái trong cộng đoàn gia đình mở, cũng là huấn luyện nhân cách cho cuộc sống xã hội và Giáo Hội. Bởi vì gia đình là khuôn đức trật tự và đạo đức, gia đình huấn luyện mọi người đều thuộc về xã hội và phải có trách nhiệm với xã hội cũng như thuộc về gia đình và có trách nhiệm với gia đình.

Hơn nữa cha mẹ còn định hình đời sống đức tin cho con cái qua đời sống đức tin của chính mình. Cha mẹ cần phải nỗ lực hoàn thiện chính mình để trở thành khuôn mẫu hoàn hảo đời sống đức tin con cái. Với nụ cười tín thác vào tình yêu Thiên Chúa, cha mẹ đã dạy bài học đầu tiên về đức tin cho con cái: Tươi vui lạc quan tin tưởng, vượt qua mọi nghịch cảnh. Niềm tín thác còn nói lên tầm quan trọng của Chúa trong cuộc đời. Con cái hiểu ra rằng mọi khả năng cuộc sống là do ơn huệ Chúa ban, không có ơn Chúa ta không làm gì được, từ đó biết sống khiêm nhường tôn trọng người khác. Cha mẹ chuyển giao đức tin cho con cái qua các câu chuyện Kinh Thánh, đọc lời Chúa, dạy lời kinh, biết mến Chúa yêu người, tuân giữ các giới luật của Chúa, tham dự công việc đạo đức, cử hành phụng vụ, lãnh nhận các bí tích. Từ đó cha mẹ dạy con cái sống đức tin giữa cuộc đời bằng cách dạy con biết cầu nguyện, khám phá mầu nhiệm Thiên Chúa, đối thoại với Chúa. Con cái chúng ta qua thực hành cầu nguyện sẽ tìm ra cách thức cầu nguyện thích hợp để có thể hiện diện trước Chúa xây dựng mối tương quan thân tình với Ngài. Mỗi ngày sống là một ngày cầu nguyện. Cầu nguyện qua từng thời khắc, qua từng sự việc trong ngày. Các con sẽ nhận ra rằng mọi biến cố trong gia đình đều là dấu hiệu sự hiện diện ưu ái của Thiên Chúa trong cuộc sống gia đình.

            Gia đình không những là trường học về đức tin, sống đức tin, là nơi để cầu nguyện, mà còn là nơi tập sống bác ái yêu thương, rèn luyện tinh thần tông đồ làm chứng nhân cho Chúa. Người mẹ là nhà truyền giáo không thể thay thế do mối tương quan gắn bó với con cái. Cha mẹ loan báo Tin Mừng cho con cái, thực thi việc tông đồ, hướng dẫn con thành người Kitô hữu trưởng thành, nhận ra ơn gọi của mình và đáp lại ơn gọi đó.

            Như vậy cha mẹ là người thầy đầu tiên không thể thiếu. Người thầy không chỉ dạy bằng lời nói mà còn bằng cử chỉ, thái độ, hành động, lối sống, thói quen, cách ứng xử, các mối quan hệ, nghĩa là bằng cả cuộc sống của mình. Điều đáng buồn là khi lập gia đình người ta không được học hoặc được học rất ít nghề làm cha làm mẹ, làm vợ làm chồng. Ở đời thường muốn làm cha, làm thầy,  làm thợ, người ta phải học có khi 5, 10, 15 năm, mà chỉ làm cho đến tuổi về hưu. Còn nghề làm cha mẹ, vợ chồng phải làm suốt đời, nghề này lại không thể thích thì làm chán thì bỏ như nghề khác, một nghề liên quan đến rất nhiều lãnh vực: Tâm lý, sinh lý, tình cảm, cách ứng xử, các mối quan hệ, quyền lợi trách nhiệm, lại là nghề làm không khéo sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng  thảm khốc cho gia đình và xã hội  Ước mong những người có trách nhiệm quan tâm đến lãnh vực này.

Nguyễn Đình Phấn

 

TÌNH CHA NGHĨA MẸ

           

Mọi thứ xung quanh chúng ta, cái gì cũng có thể dễ dàng mua được bằng tiền bạc. Thế nhưng, dù có bao nhiêu tiền đi chăng nữa cũng khó lòng mua được một điều, đó chính là “Tình cha nghĩa mẹ”. Con người sống không thể thiếu tình yêu. Song, nói đến chữ tình thì không có gì có thể sánh bằng tình yêu của cha mẹ dành cho con cái. Nó thật nồng nàn, ấm áp thiêng liêng biết là nhường bao. Không một đối tượng nào có thể so sánh và chẳng giấy mực nào có thể kể xiết. Chính tình thương đó đã được ví như núi non, như biển cả, như ca dao diễn tả: Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Tuy nhiên, theo dòng thời gian. Mọi sự vật trong vũ trụ này không có gì là trường tồn vĩnh cửu. Núi Thái Sơn có cao dẫu mấy núi cũng sẽ mòn, nước trong nguồn có sâu cũng có ngày phải cạn. Nhưng tình cha mẹ dành cho con cái thì không bao giờ hao mòn theo tháng năm, nó đã trở nên bất tận và tình yêu thương đó đã ăn sâu vào trái tim của cha mẹ để họ có thể cho con cái bất cứ lúc nào một cách vô vị lợi. Cho dù đôi lúc chúng có ngoảnh mặt làm ngơ hay hân hoan đón nhận, thì tình thương đó vẫn sát cánh trên những nẻo đường của cuộc đời con bước đi mà không một chút xao lãng. Tình cha nghĩa mẹ là thế đó, mãi mãi là một bản tình ca bất diệt của các con. Tình thương ấy xuất phát từ trái tim mà nó được thể hiện qua hai khía cạnh của cuộc đời là hai đấng sinh thành đáng kính.

Trái tim tình cha

Tình yêu của người cha thường ít được nói trong mối quan hệ với con cái, có lẽ nó kém linh động, ít biểu hiện phong phú và nồng nàn bằng tình yêu của mẹ. Một số nhà tâm lý cho rằng: Tình yêu người cha thường ít khi bộc lộ, nó trầm lắng, âm thầm, thậm chí ẩn tàng. Đôi lúc khiến con cái phải sợ hãi. Nhưng suy gẫm rồi ta mới thấy tình thương của cha rất to lớn, vì đặc điểm và vai trò của mình nên cha phải như vậy. Bờ vai cha luôn là chỗ dựa vững chắc nhất của đời con, cha mạnh mẽ đồng hành cùng con trong mọi trạng huống cho dù éo le, cam go nhất. Cha cho con cả bầu trời bình yên mỗi khi con tìm về bên cha sau những nỗi thăng trầm cuộc sống ban tặng khi con bước ra đời. Thế nên có những dòng thơ đúc kết rất hay đã viết: Tấm lòng cha một đời con đâu hiểu, bởi tình cha luôn lắng đọng ngọt ngào. Tuy giá băng nhưng sâu thẳm dạt dào, cho mà chẳng mong chút nào đền đáp”.

Nghĩa nặng tình mẹ

Tình yêu thương của mẹ là một loại tình cảm rất đặc biệt, xưa và nay vẫn thế. Nó mênh mang, bao la tràn ngập toàn bộ đời sống vật chất tinh thần của con. Tình  yêu đó ít bị chi phối bởi lí trí, nó nồng nàn, ấm áp xoa dịu những vết thương đau. Mẹ luôn kề bên nâng đỡ, thủ thỉ cùng con để làm quân sư cho con tiến bước. Mẹ giúp con có một nguồn sinh lực mạnh mẽ, để con đứng lên khi con bị vấp ngã giữa dòng đời. Chỉ có mẹ mới là người đáp ứng kịp thời những nhu cầu cấp thiết trong con, một cái nhìn của mẹ thôi cũng đủ để mẹ hiểu con đang cần gì và muốn gì mặc dù con chưa thổ lộ với mẹ một điều gì dù là nhỏ nhất! Trong vòng tay mẹ, con người mới có được những cảm giác an toàn đích thực của một con người.

Vì thế! Phận làm con hãy luôn khắc ghi những tình cảm cao cả của cha mẹ, để sống xứng đáng với những gì mẹ cha đã dành cho chúng ta suốt cả cuộc đời các ngài. Như có câu rằng: Ân cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.

Con chiên nhỏ, Gx Tân hải

 

GIÁO DÂN

 

MẸ LÀ ĐƯỜNG DÂY NÓNG

Đóa Hoa Vô Thường

 

Nói về mẹ, viết về mẹ thì rất dồi dào và phong phú. Mỗi người đều có cách diễn tả về mẹ, đôi khi rất riêng tư. Mở Google ra, chỉ cần gõ nhẹ chữ “mẹ” trên bảng tìm kiếm, ta sẽ thấy hiện ra hơn 50.000 kết quả nói về mẹ, muôn màu muôn vẻ. Có người ví mẹ là “vầng trăng sáng”, là “biển Thái Bình”, là “làn gió mát ban mai”. Có người ví mẹ là “cô giáo”, là “mái trường đầu đời”, v.v… Còn tôi, trong cảm nhận tình mẹ-con, tôi gọi mẹ là “Đường dây nóng”.

Mẹ là đường dây nóng phục vụ con miễn phí. Tôi có thể tâm sự với mẹ mỗi ngày. Dẫu biết rằng tâm sự với cha mẹ là chuyện hằng ngày của những người con, nhưng đối với tôi, nói với mẹ vẫn dễ hơn nói với cha. Tôi có thể nói với mẹ về mọi buồn vui của cuộc sống. Nói với mẹ những trăn trở, ước mơ hay thử thách của bản thân. Nói với mẹ khi thành công cũng như khi thất bại. Nói với mẹ khi cô đơn, tủi phận và cả những khi ngã gục trên đường đời. Tôi kể cho mẹ nghe những day dứt, khát vọng và cả những ưu tư thầm kín của mình, vì mẹ là “đường dây nóng” miễn phí tuyệt vời của tôi. Rất nhiều lần tôi đã ngồi hàng giờ bên mẹ và nói với mẹ đủ điều, không chán. Mẹ luôn lắng nghe, luôn thấu hiểu đứa con của mẹ. Qua “đường dây nóng” này, tôi được mẹ chỉ bảo, vỗ về, an ủi, sửa dạy. Qua mẹ, tôi được đón nhận dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, được mời gọi sống niềm hi vọng và cố gắng vươn lên mỗi ngày. Tuy mẹ tôi mù chữ, nhưng kinh nghiệm sống của mẹ còn hơn bất cứ pho kiến thức xa vời nào. Tuy mẹ chỉ âm thầm lắng nghe, nhưng tình thương của mẹ như dòng máu nóng tan chảy trong lồng ngực của đứa con. Trên đời này điều gì cũng có cái giá của nó. Chẳng ai miễn phí cho mình điều gì, ngoài mẹ yêu. Vì thế nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Con dù lớn, vẫn là con của mẹ. Đi suốt cuộc đời, lòng mẹ vẫn theo con”.

Mẹ là đường dây nóng phục vụ con 24/24. Tôi có thể nói với mẹ bất cứ lúc nào, vào buổi sáng tinh khôi hay khi trưa nắng, lúc chiều vàng và cả lúc đêm khuya. Tôi nhớ lần đó gặp nhiều đau khổ, tôi trằn trọc không sao ngủ được. Đêm khuya ấy tôi gọi điện về cho mẹ. Giờ này chắc mẹ đang ngon giấc, nhưng chỉ cần nghe hai tiếng gọi của tôi: “mẹ ơi”, là mẹ đã bật dậy hỏi “Chuyện gì vậy con?” Rồi mẹ lắng nghe tôi tâm sự khá lâu. Mẹ khuyên bảo tôi cứ vững tâm vượt qua đau khổ, noi gương mẹ. Ngày mai trời lại sáng. Lần đó cả hai mẹ con cùng khóc trên điện thoại. Tình thương của mẹ như trái tim hoạt động 24/24, không bao giờ ngừng nghỉ. Mẹ đồng hành và có mặt bên tôi trên từng cây số, như hình với bóng. Rất nhiều lần, tự trong đáy lòng tôi đã xuất hiện một nỗi lo sợ: Một ngày nào đó “đường dây nóng” này sẽ không còn hoạt động nữa, lúc đó chắc tôi sẽ ngã gục. Hình như mẹ cũng linh cảm điều ấy, nên thỉnh thoảng mẹ lại chia sẻ với tôi về sự ra đi của mẹ, để chuẩn bị tinh thần cho tôi vững mạnh hơn khi “đường dây nóng” phải ngưng hoạt động. Mỗi lần nghe mẹ nói như thế, mắt tôi lại cay cay; và tình mẹ-con lại càng gắn bó mật thiết hơn. Phải chăng đó cũng là cách giáo dục của mẹ dành cho đứa con cứ mãi quấn quýt bên mẹ. Nhiều đêm trong giấc ngủ, tôi chiêm bao thấy bóng dáng mẹ hiền, “đường dây nóng” của tôi. Và tôi chợt nhớ tới lời bài hát “Gặp mẹ trong mơ”:

Này bầu trời rộng lớn ơi, có nghe chăng tiếng em gọi.

Mẹ giờ này ở chốn nao, con đang mong nhớ về mẹ.

Mẹ ở phương trời xa xôi, hay sao sáng trên bầu trời.

Mẹ dịu hiền về với con nhé, con nhớ mẹ.

Mẹ là đường dây nóng luôn đảm bảo bí mật thông tin của con. Ai đã từng được mẹ yêu thương bênh đỡ, chắc sẽ hiểu và thấm thía điều ấy. Mẹ biết rất nhiều về con, biết tính tình, biết khuyết điểm, biết khuynh hướng xấu và cả những cú trượt ngã trong đời của đứa con. Nhưng tuyệt đối mẹ luôn giữ kín trong lòng, chết mẹ mang theo. Mẹ không nói cho ai biết. Hồi nhỏ, tôi mắc phải một lỗi lầm khá nặng, cha tôi dùng roi sửa phạt tôi. Mẹ thương tôi quá, nên ôm lấy tôi và vô tình hứng chịu làn roi thay cho tôi. Cánh tay của mẹ hiện vẫn còn dấu vết của trận đòn năm ấy. Lớn lên, có lần cha tôi hỏi mẹ về một cú ngã trong đời tôi. Mẹ biết rõ, nhưng chỉ âm thầm nói tránh đi và cố ý làm giảm bớt mức độ nghiêm trọng của câu chuyện. Sau đó mẹ gọi tôi, bảo phải cố gắng vươn lên, đừng để trượt chân như thế, kẻo cha mẹ rất buồn. Mẹ luôn bảo toàn cho tôi, mọi nơi mọi lúc. Mẹ che chắn cả những góc khuất trong cuộc đời tôi, vì mẹ là “đường dây nóng” tuyệt đối an toàn của tôi. Có đường dây nóng nào trên thế gian này an toàn hơn mẹ không?

Trong ánh mắt của mẹ, trong trái tim của mẹ, đứa con là tất cả. Không ai hiểu con bằng mẹ. Chẳng ai thương mẹ bằng con. “Mẹ là dòng suối dịu hiền. Mẹ là bài hát thần tiên. Là bóng mát trên cao... Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời” (Bông Hồng Cài Áo). Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã ví người mẹ như thế. Ai muốn ví mẹ như thế nào cũng được. Mẹ mãi mãi vẫn là mẹ. Và cách ví nào cũng không qua khỏi hai chữ “tình yêu”. Quả thật, người mẹ nào cũng luôn mong muốn đem lại những điều tốt đẹp nhất cho con mình. Mẹ chăm sóc con toàn diện từ khi con mới tượng thai trong bụng mẹ, rồi con chào đời, lớn lên và ngay cả sau khi con đã thành nhân. Không sao kể hết được tấm lòng của mẹ. Mỗi khi nhắc về mẹ, chắc hẳn trong lòng mỗi người chúng ta, ai cũng cảm thấy xao xuyến, bồi hồi xúc động. Đối với tôi, mẹ là “đường dây nóng” trên cả tuyệt vời. Bởi mẹ chính là người đã chăm sóc, nuôi nấng tôi khôn lớn từng ngày vượt qua bao gian lao vất vả, vượt qua tất cả những khó khăn, thử thách của cuộc đời. Nguyễn Duy nói rất đúng: “Dù ta đi trọn kiếp người, cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”.

Tháng Năm của Mẹ đã về. Tháng Năm còn có “Ngày Của Mẹ”. Con cảm ơn mẹ, “đường dây nóng” của con. Con chúc mừng mẹ yêu. Con sẽ về bên mẹ, dù mẹ ở đâu: “Này bầu trời rộng lớn ơi, có nghe chăng tiếng em gọi. Mẹ giờ này ở chốn nao, con đang mong nhớ về mẹ. Mẹ ở phương trời xa xôi, hay sao sáng trên bầu trời. Mẹ dịu hiền về với con nhé, con nhớ mẹ”. Mẹ ơi!

 

 

TÌNH MẸ

Rất lâu rồi, tôi đã đọc được một truyện ngắn. Xin tóm tắt lại nội dung như sau:

Một người chiến sĩ nọ lập được chiến công hiển hách ngoài sa trường. Nhà nước đã phong tặng cho anh danh hiệu “Anh hùng quân đội nhân dân”. Ngày trở về thăm quê, chính quyền Huyện Xã phối hợp tổ chức đón tiếp anh một cách rất linh đình trọng thể. Họ họp mitting với đông đảo người tham dự, họ làm một cái bệ thật cao như một cái ngai để anh ngồi. Họ kết một vòng hoa tươi rực rỡ để choàng vào cổ cho anh! Và cuối cùng, họ đọc một bài diễn văn rất hùng hồn ca ngợi thành tích chiến đấu bảo vệ tổ quốc của anh. Khi vị chủ Tịch Huyện trao vòng hoa và đề nghị anh phát biểu cảm tưởng. Anh cầm micro và lặng lẽ đi xuống dưới phía dưới. Mọi người chăm chú theo dõi, họ ngạc nhiên tự hỏi không biết anh sẽ làm gì và nói gì? Đột nhiên họ thấy anh trân trọng dắt một bà lão gầy còm, khắc khổ đi lên sân khấu. Anh đặt bà vào cái ghế của mình. Anh trao lại vòng hoa cho bà, đến lúc này anh mới lên tiếng: “Tôi xin chân thành cám ơn Chính Quyền các cấp, cám ơn mọi người hiện diện nơi đây. Vinh dự mà quý vị dành cho tôi hôm nay, tôi thấy mình không xứng đáng được nhận. Người xứng đáng để nhận vinh dự này phải là người mẹ của tôi, bởi chính bà đã sinh ra, tần tảo nuôi nấng và đã giáo dục, đã gieo vào tâm hồn tôi tình yêu đồng bào và tổ quốc. Chính bà đã dạy bảo tôi phải biết đấu tranh cho lẽ phải, cho công lý và cho hòa bình”. Những người hiện diện chứng kiến sự việc họ đi từ bỡ ngỡ, sửng sốt rồi cuối cùng là thán phục, những tràng pháo tay vang lên, không ngớt biểu lộ sự đồng tình với những cảm nghĩ của anh”.

            Một hình ảnh mà tôi nhớ như in trong tâm trí của mình. Đó là, cũng rất lâu rồi tôi nhìn thấy trên một tờ tạp chí Công Giáo, hình ảnh đó là: Một phụ nữ đang cõng sau lưng một em bé, bên dưới bức ảnh ghi hàng chữ: “Em bé này tương lai sẽ ra sao? Điều ấy tùy thuộc hoàn toàn vào sự dưỡng dục của người mẹ đang cõng em”. Thật vậy, có lẽ Mạnh Tử sẽ không thể trở thành một nhà hiền triết được nếu như không có sự chăm sóc và dạy bảo ân cần của người mẹ. Bà đã 3 lần vất vả dọn nhà chỉ vì không muốn cho con mình bị những tác động xấu mà ở môi trường xung quanh đó ảnh hưởng tới, bà quyết tâm tìm cho con mình một chỗ ở thuận lợi để cho con mình có điều kiện tốt để phát triển nhân cách, hầu trở thành một con người tốt.

            Căn tính của một người mẹ là yêu thương con mình, bởi đó người mẹ sẵn sàng hy sinh, làm tất cả những gì có thể  để cho con mình được sống hạnh phúc và nên người. Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình. (Y Vân). Vậy còn lòng con thì sao?  Trong thập điều thì giới luật thứ 4, Thiên Chúa đã răn bảo chúng ta phải thảo kính cha mẹ. Vậy chúng ta, những người con phải sống thế nào cho phải đạo với đấng sinh thành, dưỡng dục, yêu thương mình.

            Đaminh Trần Văn Chính, Gx.Đền Thánh Giuse An Bình

 

THƯ CHO CON

 

Con gái yêu của mẹ,

Thế là từ ngày con bỏ nhà ra đi đến nay đã tròn ba tháng. Con có biết khi con ra đi mẹ đã đau khổ như thế nào không? Mẹ hoang mang, lo lắng, con sẽ ra sao khi sống không nhà không cửa, không có mẹ và anh con ở bên. Thân gái dặm trường. Nhất là con còn quá bé bỏng, mới mười lăm tuổi đầu. Tuổi ăn chưa no, lo chưa tới.  Xung quanh con có biết bao cạm bẫy rình rập làm sao mẹ có thể yên lòng. Con bao nhiêu tuổi thì ba con mất bấy nhiêu năm. Thương các con mồ côi cha, mẹ ở vậy nuôi các con. Ngày ấy mẹ vừa ba mươi tuổi. Nuôi các con, mẹ vừa làm mẹ, vừa làm cha. Bao nhiêu tình thương mẹ dồn hết cho các con. Tất cả những gì tốt đẹp mẹ dành hết cho con. Nhà mình nghèo, nhưng Chúa thương nên làm ăn ngày một khấm khá. Mẹ dành dụm, lo cho các con ăn học. Con thì luôn đua đòi chúng bạn, sống buông thả. Mẹ phân tích thiệt hơn, nhưng con luôn tỏ ra khó chịu. Là một đứa trẻ ương bướng từ nhỏ, con luôn làm khổ mẹ và gây cho mẹ cảm giác bất an. Nhưng mẹ bàng hoàng khi con trốn mẹ ra đi, mang theo toàn bộ số tiền tiết kiệm để dành cho anh con dùng khi vào đại học. Chỉ còn vài tháng nữa thôi, mẹ biết xoay sở sao đây? Lo lắng vì mất tiền thì ít, cảm giác xót xa vì mất con xâm chiếm ngập lòng.

Hôm nay nhận được tin nhắn của con, mẹ mừng khôn xiết. Tội nghiệp con tôi. Mẹ không ngờ con sớm chịu cảnh đọa đày, cùng  cực như vậy? Hãy cho mẹ biết con đang ở đâu mẹ sẽ đến đón con về. Đừng ngại, tiền bạc hết chúng ta sẽ lại làm ra. Mẹ chỉ muốn con hứa với mẹ một điều. Từ nay con ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành. Mẹ và anh con luôn dang rộng vòng tay đón con trở về.

                                                      Tom Điều, Gx Môi Khôi - Láng Sen

 

TẤM LÒNG NGƯỜI MẸ

Nếu không có tình yêu của người mẹ, thì liệu những đứa con có trở thành những người hữu ích hay không? Công ơn sinh thành nuôi dưỡng của người mẹ đã không có ngòi bút nào diễn tả hết được. Ai ai cũng có mẹ. Mẹ luôn đồng hành và hướng dẫn cho đến khi con cái khôn lớn. Một tình yêu không thể nói hết được. Con bệnh, mẹ lo thuốc men; con không ngủ, mẹ thức cùng con; con đùa giỡn, mẹ vui cùng con; con hư, mẹ đau lòng vì con. Bạn và tôi đều có mẹ. Mẹ sinh thành nuôi dưỡng, mẹ che chở con lúc con gặp nguy hiểm, mẹ nhắc nhở con khi con làm gì sai, con đi chơi đâu chưa về mẹ lo lắng cho con. Tình yêu này bạn và tôi hãy biết quý trọng và bảo vệ. Hãy yêu thương người mẹ, vì không ai có thể thay thế được, bạn và tôi hãy giữ và làm những gì có thể cho mẹ khi mẹ còn sống, nếu lúc vắng bóng mẹ, bạn và tôi có làm mọi thứ cũng chỉ  là vô nghĩa. Tình mẹ vẫn còn đây, vẫn mênh mông bao la như biển cả, vẫn bao dung và thương con một lòng.

Nghe qua câu nói: con hư tại mẹ, cháu hư tại bà tôi cảm thấy cũng hơi quá đáng. Bởi, cũng có đứa con hư tại cha, tại ông nữa. Nhưng nói gì thì nói, con hư là do nhiều yếu tố tác động, nhiều nguyên nhân gây ra. Bậc làm cha làm mẹ phải thật sự quan tâm và dạy dỗ con cái. Không quá nương chiều hết mức, nhưng cũng đừng bỏ mặc nó sống chết mặc bay. Phận làm con cũng phải thảo kính, yêu mến, cầu nguyện để đáp đền công ơn dưỡng dục.

Năm Phúc âm đời sống gia đình là cơ hội thuận tiện để các thành viên trong gia đình quan tâm đến nhau. Cha mẹ có những phương pháp, những sáng kiến nào để dạy dỗ con cái nên người kitô hữu đích thực. Con cái phải làm gì để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ.

Vs. Lê Đình

 

TIN NHẮN TỪ MÁ

 

Má bảo: Con gái! Lúc chiều có bạn con tìm đó. Con gái bâng quơ: Thằng đi chiếc xe đạp cuộc phải không má? Đã nói với nó bữa nay con đi học rồi còn kiếm làm chi không biết, đúng là thằng đao, đồ dở hơi cám lợn mà. Con gái không biết má đang nhíu mày, vẻ khó chịu. Sáng hôm sau, trên bàn học con gái nhận được những lời yêu thương.

Gửi con gái yêu của Má.

Hình như má  chưa bao giờ quan tâm đến mối quan hệ, sự giao tiếp của con với bạn bè. Con của má biết lễ phép với cha mẹ, thầy cô, biết khéo léo, đảm đang việc nhà, nhưng như vậy chưa phải là đủ. Cuộc sống con người luôn cần có bạn. Trong mắt con, người bạn phải được đặt ở vị trí được tôn trọng. Gọi bạn là thằng, má  thấy trong đầu con gái có điều không ổn về quan niệm bạn bè.

Giấu biến lá thư vào hộc tủ. Con gái mắc cỡ vì má đã nói trúng tim đen. Con gái lấy bút, chỉ ghi một dòng: "Má ơi, cảm ơn má, con đã hiểu". Rồi khe khẽ gởi vào phòng của má. Nhờ  những tin nhắn, những bài học của má, nay con đã lớn khôn và thành đạt trong cuộc sống được mọi người tôn trọng, yêu thương. Nay con đã hiểu đạo đức thiết yếu là đạo làm người, mà đạo làm người là biết nhận thức và trân trọng phẩm giá làm người nơi bản thân cũng như nơi tha nhân, dù tha nhân bé nhỏ mọn hèn nhất trong xã hội.  Những mẩu tin, những bài học làm người má gởi từ thời học sinh vẫn theo con và giúp con rèn luyện để trở thành người có nhân cách, làm người có đạo đức, và làm người cách hoàn thiện hơn.

 Lan Xanh (ĐMLS)

GIÁO DỤC

 

NHỮNG NÉT TIÊU CỰC

TRONG ĐỜI SỐNG ĐẠO

CỦA GIÁO DÂN VIỆT NAM

 

Trong bài viết này, xin được đưa ra một vài nét tiêu cực trong đời sống đạo của giáo dân Việt Nam.

a- Sống đạo dựa trên tình cảm và xu hướng loại trừ

            Việt Nam là một nước nông nghiệp, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và sinh sống bằng nghề nông. Một xã hội nông nghiệp với những phong tục, tập quán, nếp nghĩ và cách sống đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Sống ở nông thôn, người Việt gắn bó với cánh đồng, ruộng lúa, vườn rau, cây đa bến nước, mái đình làng… tạo nên nếp sống hài hòa và thân thiện với thiên nhiên, sống nặng về tình cảm, giàu tình nghĩa. Chính điều này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến lối sống và diễn tả niềm tin của người công giáo Việt Nam. Giữ đạo dựa trên tình cảm. Thích thì đi lễ, không thích thì không đi. Nếu cha sở vừa lòng thì đi nhà thờ, không thì thôi. Giữ đạo vì ông cha. Nhiều lúc, người tín hữu tôn sùng các thánh quá mức lấn át cả mầu nhiệm Cứu độ (chỉ tạ ơn Mẹ Maria, Thánh Giuse, Cha Diệp mà quên chẳng tạ ơn Chúa!).

            Từ lâu người Việt đã sống quần cư thành làng xã. Lối sống mang tính cộng đồng khép kín. Điều này làm cho người Việt - trong đó có người Công giáo – mang óc cục bộ, địa phương, loại trừ nhau. Chúng ta hay so sánh và “chạy đua tôn giáo”: Xứ đạo của tôi phải to nhất, nhà thờ phải đẹp nhất, tháp chuông phải cao nhất, lễ hội phải linh đình nhất. Ngoài ra còn có thái độ cực đoan: kỳ thị, chê bai các tôn giáo bạn, xem đạo mình là số một, coi thường các tôn giáo khác. Và đôi khi, chúng ta thường tự cho mình là người tốt nên dễ dàng phê phán những người khác. Chúng ta mang trong mình sự tự mãn vì nghĩ rằng Thiên Chúa đang ngự trị trong đời sống của mình chứ chẳng ở nơi người khác!

b- Lối sống đạo “bảo thủ”, sợ sệt và câu nệ lề luật

            Nền kinh tế nông nghiệp truyền thống và hoàn cảnh chiến tranh kéo dài đã hình thành nên cách suy nghĩ bảo thủ, “an phận”, người dân ngại thay đổi, sợ ra đi khỏi “những truyền thống” lâu đời cho dù truyền thống ấy có những điều không đúng và lệch lạc.

Do quy chiếu đời sống đạo vào những lề luật, những tín điều phải tin, những quy định phải giữ nên đời sống đức tin của chúng ta trở nên sợ sệt, nghèo nàn trong nội tâm và khô cứng trong cách diễn tả. Không có sức sống. Chúng ta giữ đạo vì sợ cha sở, sợ phải sa hỏa ngục. Giữ đạo hệ tại ở việc chu toàn các giới răn, lề luật của Chúa và Giáo Hội đề ra. Tham dự thánh lễ để lương tâm khỏi áy náy, cắn rứt chứ chưa ý thức thánh lễ là bàn tiệc thiêng liêng mà Thiên Chúa mời gọi đến tham dự và “cảm nếm”; là nơi linh hồn tìm được nguồn vui và sức sống. Chúng ta giữ luật để khỏi phạm tội chứ chẳng có tình yêu chi hết, vì thế mà nhiều người rất siêng năng trong các sinh hoạt tôn giáo, nhưng vừa ra khỏi “khuôn viên nhà thờ” là dễ dàng sống thiếu bác ái yêu thương, sẵn sàng công kích và phê phán bất cứ ai xúc phạm.

Con người cảm thấy mình nhỏ bé trước những sức mạnh từ thiên nhiên. Sự sợ cũng giúp con người điều gì đó. Đây là điều chính đáng. Tuy nhiên, đây cũng chính là nguyên nhân gây ra những lệch lạc trong cách sống đạo: Giả hình, dối trá, hai mặt. Sống đạo chính là chấp nhận vào một khuôn khổ và chu toàn những yêu cầu được đặt ra. Thế là đủ. Chính nỗi sợ sệt giết chết tự do. Vì sợ sệt mà chúng ta có cái nhìn lệch lạc về Thiên Chúa. Chúng ta thường xem Thiên Chúa là một vị quan tòa nghiêm khắc. Tương quan của chúng ta và Thiên Chúa là tương quan người chủ và nô lệ chứ không còn là tương quan cha hiền và con thảo nữa. Điều này giam hãm chúng ta khiến chúng ta chẳng thể thanh thoát và vui tươi đến với Thiên Chúa, vị Cha nhân hiền. Nhiều lúc, chúng ta đến với Chúa như cái xác không hồn, máy móc. Chỉ cần hiện diện trong “khuôn viên nhà thờ” là chu toàn luật; nên mới có tình trạng: lễ gốc cây, lễ ôm, lễ trên xe.

c- Đơn giản hóa đời sống đạo vào những sinh hoạt.

Các sinh hoạt tôn giáo, lễ hội, đoàn thể là một nhân tố tích cực góp phần giúp cho đời sống đức tin của người tín hữu được nuôi dưỡng, củng cố và tăng trưởng. Tuy nhiên, một khi quá chú trọng đến những sinh hoạt rầm rộ bên ngoài, thì chính những sinh hoạt ấy lại tiềm ẩn một nguy cơ bất lợi cho sự triển nở và thăng hoa của đời sống đức tin. Ngày nay, nhiều người công giáo Việt Nam xem việc sống đạo, sống đức tin chính là và chỉ ở nơi các sinh hoạt nhiều màu sắc ấy và chúng ta an tâm với lối sống đạo này. Chúng ta xem những sinh hoạt tôn giáo ấy là “khung tiêu chuẩn” để đánh giá một đời sống đức tin “chân chính và vững vàng”. Chúng ta ngộ nhận việc sinh hoạt việc nhà đạo là chính Chúa. Quả thật đây là lối suy nghĩ lệch lạc hết sức nguy hiểm đang tồn tại trong số đông giáo dân Việt.

Trên thực tế, nơi các xứ đạo, nhất là các xứ đạo thôn quê, vẫn có rất nhiều người tham dự thánh lễ, nhiều người xếp hàng dài để lãnh các bí tích nhất là trong Mùa Chay và Mùa Vọng, tham dự các khóa tĩnh tâm, giảng phòng. Nếu chỉ nhìn vào đó để đưa ra đánh giá đời sống đức tin của tín hữu là tốt thì chưa thực xác đáng và thuyết phục. Giáo dân tham dự các sinh hoạt tôn giáo mang tính tập thể  như thế thôi: Người đi ta cũng đi, người dự ta cũng dự. Đi và dự để khỏi bị bình phẩm, bàn tán, chứ đứng trên phương diện cá nhân chúng ta rất ít khi đến nhà thờ, đến với Chúa cách tự nguyện, xem đó như một nhu cầu thiết yếu cho đời sống tâm linh của mình. Phong phú nơi các sinh hoạt cộng đồng nhưng chẳng sinh hoa trái nơi đời sống cá nhân trong tương quan gặp gỡ Chúa và tha nhân. Đời sống đức tin đâu phải là một cái gì đó siêu thoát vượt khỏi thế giới hữu hạn, khả giác này nhưng nó còn là sự “nhập thế” với những bổn phận và trách nhiệm trong cuộc sống thường nhật. Phải sẵn sàng và nhạy bén với Lời Chúa mời gọi. Nguy cơ lớn của người tín hữu Việt Nam hôm nay là tách rời đức tin với cuộc sống.

d- Giữ đạo cách “thực dụng”

            Ít nhiều chúng ta bị ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật, thực dụng. Chủ nghĩa đề cao lợi ích trước mắt, kết quả tức thời. Chúng ta dễ dàng đơn giản hóa những giá trị thiêng thánh huyền nhiệm vào vật chất. Dùng “sức mạnh kinh tế” để xét đoán, cân đo đong đếm đời sống đức tin. Xem vật chất là thước đo đời sống đạo. Chúng ta dễ dàng biến đời sống đức tin, đạo đức thành những thứ có thể “mua-bán” được bằng tiền: bằng ân nhân, ủng hộ việc xây dựng giáo xứ, quyên góp bác ái, đóng góp để được nổi nang, tiếng tăm được người khác nể phục. Chúng ta thường xem việc đóng góp đó là “khoản nợ” mà Chúa phải trả cho ta sau này. Chúng ta tin theo Đức Kitô, nhưng là một niềm tin và tình yêu đi đôi với điều kiện, chúng ta muốn lập công để xin ơn Chúa nhưng nhiều lúc không được nên kêu trách Chúa.

            Trước những nét tiêu cực như thế, chúng ta cần phải làm gì để bản thân chúng ta, cũng như người giáo dân Việt Nam có được một đời sống đức tin trưởng thành?

Felicitas

 

LÀM DẬY MEN TINH THẦN

 KITÔ GIÁO TRONG XÃ HỘI

 

Phong trào Cursillo là một phong trào của Giáo Hội Công giáo với mục đích tối thượng là: “Làm dậy men tinh thần Kitô giáo trong xã hội”. Dù phong trào đã có bề dầy hoạt động gần 3/4 thế kỷ, và hiện đã sinh hoạt ở trên 60 quốc gia, khoảng 800 giáo phận với hơn 10 triệu người, trong đó có nhiều vị Giám mục, Linh mục, Tu sĩ nam nữ, cùng giáo dân; Phong trào lại được chính Đức Giáo Hoàng Phaolô VI năm 1963 ký Tông sắc nhận Thánh Phaolô làm bổn mạng; Phong trào đã đem lại nhiều hoa trái thiêng liêng cho Giáo Hội (Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gởi thư khuyến khích PT Cursillo ngày 06.05. 2000), thế nhưng, cũng còn khá đông Kitô hữu khắp nơi, nhất là ở Việt Nam chưa biết đến, thường hay băn khoăn thắc mắc  hỏi: “Cursillo là gì? Hoạt động ra sao? Mục đích thế nào?” Là một Cursillista, người đã được học khóa 9 Cursillo ba ngày tại giáo phận Long Xuyên năm 1974 (Cursillo là tiếng Tây Ban Nha, nghĩa là khóa Học Hội Kitô giáo ngắn ngày), đồng thời đang hoạt động trong PT Cursillo của giáo phận Long Xuyên và liên giáo phận, tôi xin mạn phép trình bày mấy vấn để, với mong ước góp phần nhỏ vào việc giúp hiểu biết một chút về một PT của Giáo Hội:

Thoáng nhìn về lịch sử hình thành và phát triển P.T Cursillo từ bán đảo Mallorca (Tây Ban Nha)

Cuộc nội chiến đẫm máu giữa những người Công giáo với nhau ở Tây Ban Nha khởi đầu từ năm 1936 và chấm dứt vào năm 1939 đã để lại một hậu quả vô cùng thảm khốc, đau thương với số Kitô hữu bị giết hại lên đến 72,500 người, trong đó có: 4,184 linh mục triều và chủng sinh; 2,365 linh mục và tu sĩ dòng nam; 283 nữ tu; số còn lại là giáo dân. Đứng trước thảm cảnh đó, ngày 6.02.1940 ĐTC Piô XII trong một diễn văn tại Rôma đau buồn thừa nhận: “Đã có một số lớn các giáo hữu đang xa rời đời sống Kitô hữu”. Ngài thiết tha kêu gọi mọi thành phần Kitô hữu bằng mọi nỗ lực có thể tìm cách đem các giáo hữu này trở về với những giá trị Kitô giáo. Đáp lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha, ông Eduardo Bonnin (1917-2008), một trong những vị sáng lập PT Cursillo được ơn soi sáng dành nhiều suy tư cho việc “Nghiên cứu môi trường”. Đề tài đó được trình bày cho khóa thủ lãnh hành hương của Công Giáo Tiến Hành viếng mộ thánh Giacôbê, (khoảng 100.000 người tham dự lần đầu) mở hai lần một năm, mỗi lần một tuần tại giáo phận Mallorca thuộc Tây Ban Nha. Đó chính là khóa Cursillo đầu tiên. Sau này khóa một tuần rút ngắn còn ba ngày. Đó là khóa Cursillo ngày nay. Năm 1944 ông Bonnin trở thành chủ tịch Công Giáo Tiến Hành tại Mallorca. Năm 1947 Đức Thánh Cha Piô XII được tấn phong và bổ nhiệm cha Tiến Sĩ Hervás làm Giám mục giáo phận Mallorca, Tây Ban Nha. Đức Cha Harvás đã chấp thuận Phong trào hoạt đông trong giáo phận. Ông Bonnin thuật lại: “Chính Đức Cha Hervás đã giúp các khóa Cursillo đi vào bằng cửa chính của Giáo Hội”. Ngày 28.5.1966 tại Rôma, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã khuyến khích và giao trách nhiệm cho PT: “PT Cursillo giữ vai trò tiên phong trong việc canh tân thế giới cho Chúa Kitô theo tinh thần Công đồng Vatican II”. Ngày 06.5.2000 Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khuyến khích PT Cursillo: “Hạt giống nhỏ bé gieo rắc trên quốc gia Tây Ban Nha hơn 50 năm trước đã trở thành một cây xum xuê hoa trái của Chúa Thánh Thần. Đây là dụng cụ Thiên Chúa tạo nên để loan báo Tin Mừng trong thời đại chúng ta”. Ngày 31.5.2004 PT Cursillo là thành viên các tổ chức Công giáo Quốc tế thuộc Hội đồng Giáo Hoàng có tư cách pháp nhân và phê chuẩn nội qui của Phong trào. Ngày 13.6.2011, Đức Giáo Hoàng Phanxicô khi còn là Đức Hồng Y Jorge Mario Bergoglio, Tổng Giám mục Buenos Aires đã gởi thư cho anh chị em Cursillistas: “Các Cursillistas thân yêu của tôi: “Hạt giống tốt là con cái của thiên quốc” (Mt. 13, 38). Món quà Kerigma mà các bạn nhận được trong Cursillo gửi đến các bạn nhiệm vụ theo phương pháp kiềng ba chân: Sùng đạo, học đạo, hành đạo”

Hiện nay PT Cursillo có Văn Phòng Điều Hành Thế Giới, gọi tắt là OMCC (Organismo Mundial De Cursillos de Cristiandad) và được chia thành 4 khu vực:  Nam Mỹ- Bắc Mỹ- Châu Âu- Châu Á Thái Bình Dương. Bốn khu vực sẽ luân phiên điều hành Văn Phòng Thế Giới (nhiệm kỳ 4 năm). Mỗi Quốc gia có Văn Phòng Điều hành Quốc gia. Mỗi giáo phận có Văn Phòng Điều Hành cấp giáo phận còn gọi là Ban Phục Vụ, đặt dưới sự hướng dẫn của Đức Giám mục qua cha Linh hướng.

Mục đích của Phong Trào Cursillo

Mục đích gần: Tạo cho tham dự viên có một nền tảng có thể sống những điều căn bản để trở nên những Kitô hữu đích thực. Đó là yêu mến Thiên Chúa và tha nhân đã được cảm nghiệm qua ba cuộc gặp gỡ thiết yếu: gặp gỡ chính mình; gặp gỡ Chúa Kitô; và gặp gỡ tha nhân.

            Mục đích tối thượng: Xây dựng cột sống Kitô giáo trong xã hội, với những người sống những điều căn bản để trở nên Kitô hữu đích thực. Họ làm dậy men môi trường họ đang sống bằng Phúc âm hóa môi trường đó. Để trở thành một Kitô hữu đích thực, Phong Trào trang bị cho họ một kỹ năng và phương thức sống đạo với hình ảnh kiềng ba chân vững chắc: Sùng đạo, Học đạo, và Hành đạo. Điều đó luôn được các Cursillitas chia sẻ hàng tuần, hàng tháng với nhóm bạn thân hữu từ 5 đến 7 người, do chính họ lựa chọn (Sinh hoạt ngày thứ tư cho đến hết đời). Ngoài Hội nhóm, PT còn sinh hoạt Ultreya (Tiến lên) định kỳ 3 tháng, 6 tháng hay một năm một lần, gồm nhiều nhóm thân hữu họp lại. Đây là sinh hoạt hậu Cursillo rất quan trọng cho mỗi Cursilliasta cũng như của PT. Để làm: “dậy men môi trường tinh thần Kitô giáo trong xã hội” mình đang sống và làm việc, mà mỗi người đều có như: gia đình, xóm làng, họ hàng, xứ đạo, nhà trường, bệnh viện, nhà máy, nông trường, hầm mỏ, khu chợ búa, siêu thị… Cursillíta cần “nghiên cứu môi trường” mình đang sống và làm việc theo gương vị sáng lập Phong trào khai sinh đã dầy công nghiên cứu thuở PT mới khai sinh. PT nghiên cứu về văn hóa, kinh tế, tôn giáo, chính trị, xã hội của môi trường đó. Tìm ra những đặc điểm, nét văn hóa riêng biệt của môi trường mình sống, nơi mình làm việc. Nhờ nghiên cứu môi trường, ta biết rằng việc Phúc âm hóa ở môi trường Việt Nam khi chỉ có khoảng 7% là người Công giáo, còn 93% là các tôn giáo khác như Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành, Hồi giáo sẽ khác với việc Phúc âm hóa ở các nước như Brasil, Tây Ban Nha, Philippines hầu như toàn người theo đạo Công giáo. Phúc âm hóa ở đất nước nông nghiệp, thương mại khác với đất nước công nghiệp. Ngay tại Việt Nam, Phúc âm hóa ở môi trường đồng bằng sông Cửu Long  khác với miền núi, cao nguyên. Dẫu có những khác biệt, song ta vẫn tìm ra được những điểm chung nhất để việc Phúc âm hóa môi trường đem lại hiệu quả cao. Trước tiên và quan trọng nhất là các Cursillistas phải làm gương sáng về đời sống công bằng, bác ái, yêu thương, sống Tám Mối Phúc. Bởi vì: “Lời nói thì bay qua, gương lành thì lôi cuốn”. Đức Gioan Phao lô II cảnh báo khi Ngài nói: “Người thời nay thích nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có nghe những thầy dạy thì đó là vì những thầy dạy này là những chứng nhân”. Chính vì lẽ đó, mà những người được sai đi trình bày Rollo phải là người làm chứng cho những điều mình nói, nên được gọi là “Tuyên giảng” chứ không phải là thuyết giảng. Phương châm hoạt động của PT là: “Một tay nắm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh em”. Vì thế, người Cursillista luôn luôn phải cầu nguyện trước khi khởi sự công việc. Họ xác tín rằng:   “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người đó thì người đó sinh nhiều hoa trái, vi không có Thầy các con không làm được gì” (Ga 15, 5).

Phong trào Cursillo ở Việt Nam trước và sau năm 1975.

Phong trào Cursillo ở Việt nam trước 1975: Ngày 27 tháng 01 năm 1967 Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận mở khóa ba ngày đầu tiên tại tu viện Bêthania thuộc Tổng giáo phận Sài Gòn, sau khi Ngài được học ở Philippines. Ngày 29.02.1967 cũng được Ngài mở khóa II tại tu viện trên. Tiếp theo được mở ở các giáo phận: Sài Gòn, Cần Thơ, Nha Trang,  Long Xuyên, Vĩnh Long,  Huế,  Xuân Lộc…

Phong trào Cu rsillo ở Việt Nam sau 1975

Phong trào sinh hoạt âm thầm từ 1975 đến 2006. Từ 2006 đến nay, Phong trào trở lại sinh hoạt khá sống động và hiệu quả ở các giáo phận: Xuân Lộc, Phú Cường, Sài Gòn, Cần Thơ, Long Xuyên, Mỹ Tho, Ban Mê Thuột, Đà Nẵng, Vinh, Bắc Ninh, Nha Trang, Hải Phòng. Hiện mỗi giáo phận có PT đều có Ban Phục Vụ riêng được  Đức Cha cho phép, quí cha linh hướng trực tiếp hướng dẫn, và đã có Văn phòng điều hành PT liên giáo phận dưới sự hướng dẫn của cha linh hướng Antôn Hà Văn Minh thuộc giáo phận Phú Cường.    

Inhaxiô: Đặng Phúc Minh

 

                                                                                                

 

           

 

GIÁO LUẬT

GIÁM MỤC PHỤ TÁ

 

I. CÁC GIÁM MỤC TRONG GIÁO HỘI CỦA THIÊN CHÚA

1. Nguyên tắc thần học

Điều 375:

“§ 1. Do sự thiết lập của Thiên Chúa, các Giám mục kế vị các Tông Đồ nhờ Chúa Thánh Thần là Đấng được ban cho các ngài; các ngài được đặt làm Chủ Chăn trong Giáo Hội để làm những thầy dạy học thuyết, tư tế phụng tự thánh và thừa tác viên lãnh đạo.

§ 2. Do chính việc tấn phong Giám mục, ngoài nhiệm vụ thánh hóa, các Giám mục còn nhận lãnh các nhiệm vụ giảng dạy và lãnh đạo, tuy nhiên, do bản chất của chúng, các ngài chỉ có thể thi hành những nhiệm vụ này trong sự hiệp thông phẩm trật với thủ lãnh và với mọi thành viên của Giám mục đoàn”.

Bốn điểm đặc trưng của các Giám Mục:

1/. Các Giám Mục kế vị các Tông Đồ do sự thiết lập của Thiên Chúa

Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội “Lumen Gentium”, số 20,  đã xác định: “Các Giám mục nhận lãnh tác vụ coi sóc cộng đoàn cùng với các linh mục và phó tế làm phụ tá, khi thay mặt Thiên Chúa lãnh đạo đoàn chiên mà các ngài là những chủ chăn, với tư cách là thầy dạy giáo thuyết, tư tế lo phụng tự thánh và thừa tác viên lo việc cai quản… Vì thế, thánh Công Đồng dạy rằng chính Chúa đã thiết lập các Giám Mục kế vị các Tông đồ với tư cách là những chủ chăn Giáo Hội, ai nghe các ngài là nghe Đức Kitô, còn ai khước từ các ngài là khước từ Đức Kitô và Đấng đã sai Đức Kitô (x.Lc 10,16).

2/. Các ngài được đặt làm Chủ Chăn trong Giáo Hội (x. LG, số 20; CD, số 2).

3/. Việc tấn phong Giám mục ban quyền hành cho các ngài

Quyền hành Giám mục (giảng dạy, thánh hóa và lãnh đạo) không do Đức Giáo Hoàng ban cho các ngài nhưng do chính việc tấn phong qua bí tích truyền chức Giám mục.

“Thánh Công Đồng dạy rằng việc thánh hiến Giám mục trao ban sự sung mãn của Bí tích Truyền Chức mà cả phụng vụ của Giáo Hội lẫn các thánh Giáo phụ đều gọi là chức tư tế thượng phẩm, là bậc cao nhất của thừa tác vụ thánh. Việc thánh hiến Giám mục trao ban tác vụ thánh hóa cũng như tác vụ giảng dạy và cai quản, những tác vụ mà tự bản tính chỉ có thể thực thi trong sự hiệp thông phẩm trật với vị Thủ lãnh và các thành viên của Giám mục đoàn” (LG, số 21).

4/. Hiệp thông phẩm trật với thủ lãnh và với mọi thành viên của Giám mục đoàn

Mỗi Giám mục hành sử quyền hành trong tư thế là thành viên của Giám Mục đoàn. Nếu quyền hành Giám mục có nguồn mạch trong việc tấn phong do bí tích, thì việc hành sử quyền hành phải thông qua giáo nhiệm “missio canonica” (x. LG, số 21; CD, số 11).

2. Tấn phong

Nếu không bị ngăn trở hợp lệ, người được tiến cử lến chức Giám mục phải được tấn phong trong vòng ba tháng kể từ ngày nhận được văn thư của Tòa Thánh, và trước khi nhận giáo vụ (Điều 379).

Không Giám mục nào được phép phong chức Giám mục cho ai, nếu trước đó chưa có thư ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng (Điều 1013). Sự vi phạm điều này sẽ làm cho vị Giám mục phong chức, cũng như người nào được Giám mục ấy truyền chức cho, đều bị vạ tuyệt thông tiền kết được dành riêng cho Tông Tòa (Điều 1382).

Trước khi nhận giáo vụ theo giáo luật, vị được tiến cử Giám mục phải tuyên xưng đức tin và phải tuyên thệ trung thành với Tông Tòa theo công thức do Tông Tòa phê chuẩn (Điều 380).

 Trừ khi được Tông Tòa miễn chuẩn, trong lễ tấn phong Giám mục, Giám mục tấn phong phải có thêm ít là hai Giám mục phụ phong khác. Tuy nhiên cùng với các vị ấy, tất cả các Giám mục hiện diện cũng nên tấn phong người được tuyển chọn (Điều 1014).

 

II. PHÂN BIỆT: GIÁM MỤC GIÁO PHẬN – GIÁM MỤC PHÓ – GIÁM MỤC PHỤ TÁ

1. Giám mục giáo phận

Giám mục giáo phận (episcopus dioecesanus) là Giám mục được trao cho nhiệm vụ coi sóc một giáo phận và lấy chính tên giáo phận đó làm danh hiệu cho mình (x. Điều 376).

Ví dụ: Đức Giám mục Giuse Trần Xuân Tiếu được giao phó đứng đầu và cai quản Giáo phận Long Xuyên nên được gọi là “Giám mục giáo phận Long Xuyên”.

Trước kia, theo Giáo luật cũ năm 1917, Giám mục giáo phận thường được gọi là “Giám mục chính tòa” (episcopus residentialis). Bộ Giáo luật hiện hành không sử dụng tên gọi này nữa.

2. Giám mục phó

Giám mục phó (episcopus coadjutor) là Giám mục được đặt để giúp cho Giám mục giáo phận, với quyền kế vị (Điều 403 §3).

Bởi vì Giám mục phó đương nhiên và luôn luôn có quyền kế vị, nên mỗi giáo phận chỉ có thể có một Giám mục phó mà thôi.

Do quyết định của Bộ Giám Mục ngày 31/08/1976, các Giám mục phó sẽ mang danh hiệu của chính giáo phận nơi mình phục vụ.

3. Giám mục phụ tá

Giám mục phụ tá (episcopus auxiliaris) là Giám mục được đặt để giúp cho Giám mục giáo phận, nhưng không có quyền kế vị (Điều 403 §1).

Giáo luật phân biệt hai loại Giám mục phụ tá (tùy thuộc vào văn thư bổ nhiệm của Tòa Thánh):

- Giám mục phụ tá thông thường (Điều 403 §1).

- Giám mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt (Điều 403 §2) .

Trong một Giáo phận, có thể có một hoặc nhiều Giám mục phụ tá. Các Giám mục phụ tá được bổ nhiệm với danh xưng là một Giám mục hiệu tòa (episcopus titularis).

Vd. Đức Giám mục Giuse Trần Văn Toản là Giám mục phụ tá của Giáo phận Long Xuyên, Giám mục hiệu tòa Acalisso.  

Hiệu tòa Acalisso (vị trí ở Asardere, Licia, nước Thổ Nhĩ Kỳ) cũng như các hiệu tòa khác ở vùng Trung Đông và Bắc Phi chỉ còn tên trong danh sách các giáo phận của Giáo Hội, nhưng trên thực tế thì đã không còn hiện hữu vì bị lực lượng Hồi giáo chiếm đóng. Cho nên trước kia, Giám mục hiệu tòa được gọi là Giám mục “in partibus infidelium” (trong phần đất dân ngoại). Giám mục hiệu tòa không có bất cứ quyền tài phán gì trong hiệu tòa của mình, nhưng chỉ hưởng danh dự của chức giám mục mà thôi.

 

III. NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA GIÁM MỤC PHỤ TÁ

Các nghĩa vụ và quyền lợi của Giám mục phụ tá được ấn định do văn thư bổ nhiệm, do luật chung và do Giám mục giáo phận.

1. Do văn thư bổ nhiệm

Đôi khi do văn thư bổ nhiệm, Tòa Thánh có thể ấn định một số năng quyền đặc biệt dành cho một Giám mục phụ tá.

2. Do luật chung

Luật chung ấn định quyền hạn cho Giám mục phụ tá như sau:

2.1. Tổng Đại Diện hoặc Đại diện Giám mục

- Giám mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt phải được đặt làm Tổng Đại diện (Điều 406 §1).

- Giám mục phụ tá thông thường phải được Giám mục giáo phận đặt làm Tổng Đại diện hoặc ít là Đại diện Giám mục, và vị này chỉ lệ thuộc quyền Giám mục Giáo phận, hoặc quyền Giám mục phó, hoặc quyền Giám mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt mà thôi (x. Điều 406 §2), vì chưng Giám mục phụ tá không thể ở dưới quyền của một Tổng Đại diện không có thánh chức giám mục.

2.2. Trong việc mục vụ giáo phận

Điều 407 quy định:

- Giám mục Giáo phận, Giám mục phó và Giám mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt phải hội ý với nhau trong những vấn đề quan trọng hơn (x. Điều 407 §1).

- Khi phải giải quyết những vấn đề quan trọng hơn, nhất là những vấn đề có tính mục vụ, Giám mục giáo phận phải ưu tiên hội ý với các Giám mục phụ tá trước những người khác (x. Điều 407 §2).

- Giám mục phụ tá phải thi hành nhiệm vụ của mình thế nào để có sự hiệp nhất với Giám mục giáo phận trong tinh thần cũng như hành động (x. Điều 407 §3).

2.3. Nghi lễ đại triều và các nghi lễ khác

Nếu không bị ngăn trở chính đáng, mỗi khi được Giám mục giáo phận yêu cầu, Giám mục phụ tá buộc phải cử hành các nghi lễ đại triều và các nghi lễ khác thuộc bổn phận của Giám mục Giáo phận (x. Điều 408 §1).

Giám mục giáo phận không được thường xuyên ủy thác cho người khác những quyền lợi và những nhiệm vụ thuộc về Giám mục mà Giám mục phó hoặc Giám mục phụ tá có thể thi hành (x. Điều 408 §2).

2.4. Cư sở

Giám mục phụ tá buộc phải cư trú trong Giáo phận, chỉ được rời giáo phận trong thời gian ngắn, trừ khi phải thi hành một nhiệm vụ ngoài giáo phận hoặc khi đi nghỉ, nhưng kỳ nghỉ không được quá một tháng (x. Điều 410).

2.5. Một số quyền lợi và nghĩa vụ khác của Giám mục phụ tá

 

- Tham dự Công đồng chung và địa phương (Điều 339 §1 và 443 §1, 20).

- Thành viên đương nhiên của Hội đồng Giám mục (Điều 450, §1).

- Thành viên công nghị giáo phận (Điều 463 §1, 10).

- Thành viên của ban tư vấn (Điều 473 §4).

- Trong lúc tòa giám mục khuyết vị, nếu nhà chức trách có thẩm quyền không ấn định cách khác, thì Giám mục phụ tá chỉ duy trì tất cả những quyền hành và những năng quyền mà ngài có như vị Tổng Đại diện hoặc vị Đại diện Giám mục, lúc tòa chưa khuyết vị, cho tới khi tân Giám mục nhậm chức; và nếu không được chỉ định làm Giám quản giáo phận, Giám mục phụ tá phải thi hành quyền mà luật đã ban cho ngài, dưới quyền Giám quản giáo phận là người lãnh đạo giáo phận (Điều 409 §2).

- Khi tòa giám mục bị cản trở (sede impedita) mà Tòa Thánh không dự liệu cách khác, nếu không có Giám mục phó hoặc ngài bị ngăn trở, thì Giám mục phụ tá có quyền lãnh đạo giáo phận (Điều 413§1).

- Trong lúc tòa giám mục khuyết vị (sede vacante), việc lãnh đạo giáo phận thuộc quyền Giám mục phụ tá cho tới lúc đặt Giám quản giáo phận (Điều 419).

- Giám mục phụ tá có nhiệm vụ phải thông báo sớm hết sức cho Tông Tòa biết tin Giám mục giáo phận từ trần (Điều 422).

- Giám mục phụ tá vẫn giữ quyền hành Tổng Đại Diện hay Đại diện Giám mục, khi nhiệm vụ của Giám mục giáo phận bị đình chỉ (Điều 481 §2).

- Có quyền giảng Lời Chúa khắp mọi nơi, kể cả trong các nhà thờ và nhà nguyện của các hội dòng thuộc luật giáo hoàng, trừ khi Giám mục địa phương đã minh nhiên cấm giảng trong những trường hợp đặc biệt (Điều 763).

- Năng quyền giải tội ở khắp nơi trên thế giới, trừ khi Giám mục giáo phận từ chối điều đó trong một trường hợp đặc biệt (Điều 967 §1).

- Thừa tác viên thông thường của bí tích Thêm Sức (Điều 882).

- Thừa tác viên của bí tích Truyền Chức Thánh (Điều 1012).

- Thừa tác viên cử hành việc thánh hiến và cung hiến ((Điều 1169 §1 và 1206).

- Thừa tác viên ban phép lành dành riêng cho các Giám mục (Điều 1169 §2).

- Có quyền thiết lập cho mình một nhà nguyện tư và lưu giữ Thánh Thể tại nhà nguyện tư của Giám mục (Điều 1227; Điều 934 §1, 20).

- Có quyền tha hình phạt tiền kết do luật thiết lập nhưng chưa được tuyên bố ở tòa ngoài, và nếu Tông Tòa không dành riêng việc giải cho mình, nhưng chỉ trong khi ban bí tích Giải Tội (Điều 1355 §2).

- Giám mục được dành riêng cho Đức Giáo Hoàng quyền xét xử trong những vụ án hình sự (Điều 1405 §1, 30). 

- Giám mục được dành riêng cho Tòa Thượng Thẩm Roma quyền xét xử trong những vụ án hộ sự (Điều 1405 §3,10).

- Người nào dùng vũ lực thể lý chống lại một người có chức giám mục, thì bị vạ cấm chế tiền kết; nếu người ấy là giáo sĩ, thì còn bị vạ huyền chức tiền kết nữa (Điều 1370 §2). 

“Khi lợi ích các linh hồn đòi hỏi, Giám mục giáo phận đừng ngần ngại thỉnh nguyện Thẩm quyền thiết đặt một hay nhiều Giám mục phụ tá phục vụ cho giáo phận và không có quyền kế vị” (CD, số 26). Giám mục phụ tá tuy được gọi là “phụ tá” nhưng ngài là “Giám mục của giáo phận”. Nói cách khác, Giám mục phụ tá được bổ nhiệm là để phục vụ cho nhu cầu mục vụ của giáo phận, chứ không phải cho riêng cá nhân của Giám mục giáo phận, mặc dù chính Giám mục giáo phận yêu cầu Tòa Thánh bổ nhiệm (x. Điều 403). Vì chưng, khi tòa giám mục khuyết vị thì quyền hành của các Tổng Đại diện và Đại diện giám mục đều chấm dứt, nhưng Giám mục phụ tá vẫn là “Giám mục phụ tá” và giữ nguyên quyền hành cũng như năng quyền mà ngài đã có lúc tòa chưa khuyết vị, cho tới khi có tân Giám mục nhận chức (x. Điều 409 §2).

3. Do Giám mục Giáo phận

Quyền hạn của Giám mục phụ tá còn do chính quyết định của Giám mục giáo phận.

 

IV. ĐẬC ÂN GIÁM MỤC

Bộ Giáo luật hiện hành không nói gì đến các đặc ân giám mục. Tuy nhiên, Điều 349 §1, 20 của Bộ Giáo luật 1917 quy định:

- Kể từ khi được Tông Tòa bổ nhiệm, các giám mục có thể mặc áo chùng tím (soutane), áo choàng tím (mantelet: áo choàng không tay, dài tới gối), mũ sọ tím (calotte), mũ trái khế tím (barrette).

- Sau khi được tấn phong, Giám mục được mang thánh giá đeo ngực, nhẫn giám mục, mũ gầu (mitre), gậy mục tử.

 

V. NHẬM CHỨC

Giám mục phụ tá nhậm chức khi ngài trình tông thư bổ nhiệm cho Giám mục giáo phận trước sự hiện diện của vị chưởng ấn tòa giám mục, và vị này lập biên bản về việc nhậm chức (Điều 404 §2).

LG. Huỳnh Phước Lâm

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

MẸ

           

Trong truyện ngắn “Bố” trước đây của tôi, tôi đã khai rõ lai lịch không mấy tốt đẹp của tôi. Tôi chỉ là một đứa trẻ bị bỏ rơi được một ông thợ hàn nồi nhặt được trong một thùng rác công cộng đem về nuôi. Người mà tôi gọi bằng bố đã nuôi tôi lớn lên bằng mồ hôi, nước mắt, bằng sự nghèo túng, và nhất là bằng tất cả tình thương yêu. Bố đúng là thần tượng của tôi. Ơn Trời, tôi có được một thân hình coi được và một khuôn mặt dễ thương. Ơn bố, tôi có được một trình độ học vấn không đến nỗi nào. Không ít anh chàng xinh trai, con nhà giàu theo đuổi tôi. Nhưng khi đọc trên báo, trên internet, trên TV, cả ngay trong cuộc sống thực, nhan nhản những vụ cướp hiếp giết, những câu chuyện người ta yêu nhau rồi xa nhau, rồi nhân danh tình yêu, họ lợi dụng nhau, lường gạt nhau, phản bội nhau, thù ghét nhau, hãm hại nhau… làm tôi sợ. Hơn nữa, tôi chưa từng gặp được một người đàn ông nào có được một tư cách bằng một cái móng tay tư cách của bố. Tôi đổ bê tông làm hàng rào phòng thủ trái tim mình. Tôi không dám yêu, nên càng không dám lấy chồng. Cho đến khi anh ngỏ lời yêu tôi, thẳng thắn, không úp mở, vào thẳng trọng tâm:

            - Anh xin lỗi. Anh linh cảm thấy chúng ta thuộc về nhau. Anh không biết ngỏ lời thế nào. Anh xin cưới em, được không?

Tôi xù lông nhím tự vệ:

            - Bác cho em xin. Hãy để em quí mến bác như mọi người, như từ trước đến nay. Bác muốn biết em trả lời thế nào không? Never and never, không bao giờ và không bao giờ.

            Anh cười, hệt như nụ cười của bố, rồi nói, hệt như kiểu nói của bố:

            - Em đừng trả lời anh. Bao giờ hay không bao giờ cũng chẳng sao. Điều anh thao thức từ lâu đã được giải quyết. Anh đã nói với em điều cần nói. Câu trả lời của em thế nào cũng được. Vấn đề là sau này anh sẽ không hối tiếc vì mình đã không mở lời, không mở lòng ra.

            Con quỷ tò mò của người phụ nữ trong tôi cám dỗ tôi:

            - Nghe nói bác và chị Hồng yêu nhau từ lâu kia mà. Nói thật với bác, chị Hồng đẹp như thế, em là con gái mà còn muốn mê chị ấy nữa là bọn đàn ông các bác.

            Anh không có lấy một chút tế nhị nào đối với tôi:

            - Em cũng biết à? Phải công nhận là Hồng đẹp mê hồn, nhất là đôi môi, đến nỗi mà anh đã từng nghĩ rằng chỉ một lần được hôn lên đôi môi ấy, phải, chỉ một lần thôi, thì chết cũng cam lòng.

            Tôi ngượng tái mặt:

            - Thế thì sao bác không cưới người ta?

            - Mẹ anh không đồng ý!

            - Chắc bà là bà già nhà quê của tiền bán thế kỷ XX?

            - Vâng, mẹ là một bà già nhà quê, nhưng đối với anh, mẹ luôn luôn đúng.

            - Một thứ idol?

            - Còn hơn thế, dù mẹ không phải siêu sao, hay siêu mẫu. Rất đơn giản, rất tự nhiên, vì mẹ là mẹ, và anh là con, thế thôi.

            Tôi không để anh lạc đề:

             - Bác vẫn chưa trả lời em: sao bác không cưới chị Hồng?

            - Anh nói rồi : Mẹ anh không đồng ý!

            - Nhưng tại sao mẹ anh không đồng ý?

            Anh lửng lơ con cá vàng, hệt như kiểu của bố:

            -Vì…, nhưng thôi. Em biết là anh không bao giờ nói điều không tốt cho người vắng mặt.

            (Mãi sau này tôi mới được mẹ anh kể: Hôm anh đưa chị Hồng về ra mắt mẹ, chị Hồng đi chợ, xuống bếp phụ giúp bà nấu nướng như một thợ nấu ăn lành nghề, nhưng khi bà làm bể một cái ly, chị buột miệng: “Đ.M. nó, chết cha rồi”, thì không gì cứu vãn nổi. Sau đó, bà bảo anh: “Đôi môi đẹp như thế, thốt ra những lời thô tục như thế, chứng tỏ rằng nó có một bộ óc chuột, hoặc thiếu iod, một con người vô giáo dục”). Anh cũng không lạc đề:

            - Anh hỏi lại: Anh xin cưới em, được không?

            - Không.

            - Con gái nói không là có thể. Anh chờ.

            Không biết anh có chờ tôi không, còn tôi mong đến cháy bỏng được gặp lại anh. Một tháng sau, anh mời tôi đi ăn cơm trưa. Lúc đứng lên ra về, tôi nhận ra anh cao hơn tôi một cái đầu theo nghĩa đen. Và tôi cũng cảm nhận được anh cao hơn tôi một cái đầu theo cả nghĩa bóng nữa. Anh nhắc lại lời cầu hôn. Tôi trả lời:

            - Để em xem. Có thể lắm.

            Anh cười, vui ra mặt, vồ vập:

            - Con gái nói có thể là có. Anh về thưa với mẹ, nhờ người sang thưa chuyện với các bác các chú của em.

*   *   *

            Ngày vu quy, có lẽ tôi làm hỏng cái ngày người ta gọi là ngày vui nhất của một đời người. Trước bàn thờ, trong nghi thức tưởng nhớ gia tiên, khi mọi người nghiêm trang hát: “Xin Chúa cho cha mẹ con được sống mãi sống hoài trong tình thương Chúa…”, tôi tủi thân xót phận quá. Tôi nhớ tới người mẹ mà tôi không một lần biết mặt đã bỏ rơi tôi. Rồi tôi nhớ tới bố. Di ảnh bố trên bàn thờ vẫn cười nụ cười bí ẩn của thiên thu. Mắt bố vẫn đăm đắm nhìn tôi. Tôi gọi thầm: “Bố ơi!”. Cảm xúc trong lòng tôi trào dâng, trào dâng mãi làm tôi nghẹn ngào. Tôi nghe thấy tiếng nấc của chính mình. Rồi tiếng nấc òa lên thành tiếng khóc. Tôi khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc như gió như mưa. Người ta nhắc nhở tôi không được khóc để còn quay phim chụp ảnh và để ban tổ chức tiến hành các nghi thức. Tôi cố nén lòng nhưng không sao cầm được nước mắt. Khi mẹ anh đeo vào cổ tôi sợi dây chuyền, quà cưới cho tôi, tôi lí nhí:

- Con cám ơn mẹ.

Lần đầu tiên trong đời, tôi gọi một người là mẹ. Tôi biết, tôi đã có một người mẹ hoàn toàn thật, hoàn toàn chính danh để gắn bó suốt đời. Tôi lại xúc động, lại khóc. Người ta lại nhắc nhở tôi không được khóc. Tôi biết nước mắt làm trôi đi son phấn trên mặt tôi. Chắc là khuôn mặt người ta trang điểm cho tôi mấy tiếng đồng hồ, bây giờ nhem nhuốc, nhếch nhác, nhớp nhúa như một con ma lem. Nhưng anh, trong trang phục chú rể, lau nước mắt cho tôi, rồi ghé sát vào tai tôi:

            - Em cứ khóc đi, cho vơi nỗi niềm.

           Dường như anh là người duy nhất đọc được những giọt nước mắt của tôi. Sau này tôi hỏi, anh bảo: “Càng quý trọng nụ cười bao nhiêu, càng phải kính trọng nước mắt bấy nhiêu”.

*   *   *

            Chồng tôi là con một. Một mái nhà, một bà mẹ quê, một cặp vợ chồng son, tưởng rằng chẳng có gì phải phàn nàn, nhưng chưa hẳn như vậy. Những khi anh yêu thương chăm sóc tôi, mẹ có vẻ không vui, như thể tôi là kẻ cướp đi tình yêu thương của anh mà trước kia mẹ là người được độc quyền chiếm hữu. Nhiều khi tôi thầm hỏi: “Có khi nào mẹ ‘ghen’ với mình không?” Ơn Chúa, chúng tôi thành tâm với nhau, luôn đọc kinh chung với nhau, luôn cầu nguyện cho nhau, nên dần dần hiểu biết nhau, càng ngày càng thương yêu nhau hơn. Nhất là sau này, khi tôi có đứa con trai đầu lòng, thì cả gia đình chúng tôi đã nên một.

Ai đó đã nói rằng: “Cuộc đời không phải là một ngày hội, cũng không phải là một ngày tang tóc, mà là một ngày cần lao”. Quả thật, vui buồn đều qua, nhưng cuộc chiến đấu để kiếm miếng cơm manh áo quá khó khăn, vất vả. Vợ chồng tôi phải hoạch định cuộc sống gia đình một cách có trách nhiệm. Chúng tôi quyết chắt bóp, chí thú làm ăn. Chúng tôi kế hoạch hóa gia đình bằng phương pháp tự nhiên mà giáo luật cho phép, dự tính sẽ sinh con đầu lòng vào năm thứ ba sau khi cưới. Chẳng may, bị bể kế hoạch, cuối năm thứ ba, chúng tôi đã có hai đứa con trai, năm nay đã vào tiểu học, cu Bo lớp 3, cu Bin lớp1. Cả hai đều chăm ngoan. Xin cho tôi nói lại: May quá, nhờ bể kế hoạch, Chúa thương ban cho chúng tôi có hai đứa con trai. Tạ ơn Chúa muôn vàn, nhưng cũng phải cám ơn hai ông Ogino-Knauss vì cả hai đứa con của chúng tôi đều là kết quả nằm trong luật trừ, theo phương pháp của hai ông. Đặc biệt, phải cám ơn mẹ, vì không có mẹ, chúng tôi không biết xoay sở thế nào. Một lần, mẹ đau nặng, luôn miệng than buồn. Hỏi, mẹ không nói. Mãi sau, mẹ mới gượng cười:

- Mẹ buồn vì con cháu vất vả thế kia mà mẹ chẳng giúp được gì. Với lại, nếu có mênh hệ nào, mẹ thương con cháu quá! Nhưng không sao đâu.

Ngay như trong cơn đau, mẹ cũng chẳng nghĩ gì cho mình, chỉ biết đến con cháu thôi. Tôi láu táu:

- Vâng, không sao đâu, chỉ mấy bữa là mẹ khỏe lại ngay.

Mẹ cười, không còn gượng cười nữa, mà chứa chan tin yêu:

- Mẹ mong Chúa thương ban cho mẹ khỏe lại như con nói. Nhưng con không hiểu mẹ rồi. Mẹ nói không sao đâu, có ý là nếu Chúa gọi mẹ về, các con vẫn có một người Mẹ Trên Trời luôn luôn chăm sóc, thương yêu các con gấp trăm gấp ngàn lần những người mẹ thế gian này.

Tôi hiểu.

*   *   *

Thằng cu Bin hình như có năng khiếu âm nhạc. Mỗi buổi tối, cơm nước xong, nó ra đầu hè, ôm cây đàn gui-ta to hơn thân mình nó, tập đàn bản nhạc đầu đời: “Re fa sol la sol fa… lòng mẹ bao la…”. Mẹ chồng tôi và tôi, chúng tôi nhìn nhau, bùi ngùi.

Thân Thị Vô Dụng

 

ĐẠO VÀ ĐỨC

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Đang miên man suy nghĩ về tình trạng đạo đức xuống cấp trong xã hội, bỗng tình cờ gã đọc được mấy hàng chữ sau đây trong một bài viết: “Có biết bao nhiêu người rất trung thành với những biểu dương tôn giáo, nhưng lại hoàn toàn sống xa lạ với những đòi hỏi của tôn giáo. Có biết bao nhiêu người có đạo mà không có đức”.

Lời nhận xét này lại càng làm cho gã thêm bối rối khi tự hỏi: Mình là dân có đạo, nếu xét kỹ lý lịch, không chừng còn là dân đạo dòng đạo gốc, thế nhưng, liệu mình đã thực sự có đức hay chưa? Và thế là gã bắt đầu tìm hiểu thế nào là đạo và thế nào là đức. Đâu là mối liên hệ giữa đạo và đức?

Đạo có nghĩa là đường. Đường được mở ra với mục đích dẫn tới một địa điểm nào đó. Tuy nhiên, muốn đến nơi định đến,  chúng ta phải biết chọn đúng con đường và phải cố gắng bước đi trên con đường ấy. Bằng không, thà rằng ngồi chơi xơi nước ở nhà cho khỏe vẫn hơn. Từ đó, người ta đã đưa ra những định nghĩa khác nữa về đạo, tùy theo phạm vi của nó rộng hay hẹp.

Trước hết, theo nghĩa rộng, đạo là lề lối phải theo, là lẽ phải mọi người đều tuân giữ. Nếu trong thực tế, chúng ta thấy có nhiều loại đường khác nhau: Đường bộ, đường thủy, đường hàng không. Nguyên đường bộ mà thôi cũng đã có biết bao nhiêu thứ: đường mòn, đường hẻm, đường đất, đường đá, đường bê tông, đường trải nhựa, đường cao tốc, thì đối với đạo cũng vậy. Đạo theo nghĩa rộng cũng có nhiều thứ, nhiều loại khác nhau. Chẳng hạn đạo làm quan là phải biết thương dân và hành xử theo sự liêm chính, đạo làm con là phải hiếu thảo và vâng lời cha mẹ đạo, làm vợ, làm chồng là phải trung thành cùng nhau trong suốt cả cuộc đời, bất kể trẻ hay già, đẹp hay xấu, lên voi hay xuống chó.

Vua Cảnh Công có cô con gái yêu muốn gả cho Án Tử. Một hôm đến ăn tiệc tại nhà Án Tử, thấy vợ của Án Tử, vua bèn hỏi: Phu nhân đấy phải không? Án Tử thưa: Vâng, phải đấy. Vua nói: Ôi! Phu nhân người trông sao vừa già lại vừa xấu ! Trẫm  có đứa con gái đẹp muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao? Án Tử đứng dậy thưa rằng: Vợ tôi  thật vừa già lại vừa xấu, nhưng lấy tôi và cùng tôi ăn ở đã lâu, kể từ lúc còn trẻ và đẹp. Xưa nay đàn bà lấy chồng lúc trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lúc đẹp lấy cốt để cậy nhờ lúc xấu. Vợ tôi thường nhờ cậy tôi, mà tôi cũng đã nhận sự nhờ cậy ấy. Nay nhà vua, tuy muốn ban ơn, chắc cũng không nỡ để cho tôi ăn ở bội bạc với những điều vợ tôi đã nhờ cậy  bấy lâu nay.

Mỗi đấng, mỗi bậc đều có cái đạo của mình, đều có cái lề lối phải tuân giữ, cho ra môn ra khoai, cho ra trên ra dưới, cho tôn ti trật tự hẳn hoi, chứ không hầm bà lằng, cá mè một lứa.

Thế nhưng, suy cho cùng cái đạo quan trọng nhất, theo gã nghĩ, đó là cái đạo làm người. Đây chính là cái gốc, gốc có mạnh thì cành lá mới phát triển xum xuê. Đây chính là cái nền, cái  móng, nền móng có vững thì mới xây được tòa nhà cao cao. Phải làm người trước đã, rồi sau đó mới thêm vào những thứ phụ tùng lỉnh kỉnh như: người cha, người mẹ, người vợ, người chồng, người con, người thầy, người thợ. Cái đạo làm người hệ tại việc biết sống với mình bằng tự lập và biết sống với người khác bằng yêu thương hòa thuận.

Theo nghĩa thông thường, đạo được đồng hóa với tôn giáo, là con đường tu dưỡng dựa theo một thần quyền, có một giáo lý rõ rệt để tin theo, cũng như có một tổ chức chặt chẽ, luôn khuyên nhủ làm lành tránh dữ để đạt tới cõi phúc mai sau. Hiểu theo nghĩa này, thì từ đông sang tây, từ cổ chí kim đã xuất hiện trên mặt đất này nhiều đạo khác nhau, chẳng hạn như đạo Phật, đạo  Bà La Môn, đạo Hồi, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo, Đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành. Mục đích của các đạo là thúc đẩy con người ăn ngay ở lành, xây dựng xã hội mỗi ngày một tốt đẹp, để rồi nhờ đó được siêu thoát, được bước vào cõi phúc trường sinh.

Tuy nhiên, có một điều làm gã ngạc nhiên không ít, đó là trong một nghĩa hẹp, không biết từ đời thuở nhà nào, người bình dân Việt Nam vốn đã dùng chữ đạo để ám chỉ Công giáo. Vì thế, người ta thường nói: Bên lương bên giáo. Bên lương là người thờ cúng ông bà, còn bên giáo là người theo Công giáo. Người có đạo chính là người theo Công giáo. Cố đạo là linh mục. Làm phép đạo là cử hành theo nghi thức Công giáo. Đạo dòng là theo đạo Công giáo từ đời ông bà.

Sau khi đã bàn về chuyện đạo, bây giờ gã xin bàn đến chuyện đức. Gã không đề cập đến đức như là cái quả về sau của những công việc từ thiện đã làm, như tục ngữ ca dao đã khuyên nhủ: Cha mẹ hiền lành để đức cho con. Gã cũng không muốn nói tới đức như danh xưng dành cho các bậc đáng tôn kính, như khi chúng ta nói: Đức Chúa, Đức Mẹ, Đức Thánh Cha, Đức Giám mục, Đức Ông. Theo gã, đức là toàn bộ cách ăn ở hiền lành, hợp với đạo lý, hay nói cách khác, đức là tất cả những điều tốt đẹp mìnnh đạt được nhờ sự tu dưỡng tính tình. Hiểu như vậy, thì giữa đạo và đức có một mối liên hệ chặt chẽ và gắn bó cùng nhau: cái đạo sẽ giúp thực hiện cái đức, còn cái đức sẽ làm sáng cái đạo.

Trước hết, cái đạo sẽ giúp thực hiện cái đức

Thực vậy, chúng ta thường nói: Niềm tin thắp sáng cuộc đời. Trong những hoàn cảnh đen tối, hay trong những lúc gặp phải gian nan thử thách, nhiều khi chúng ta chán nản, muốn buông xuôi, mặc cho “con tạo xoay vần đến đâu”, thì niềm tin tôn giáo sẽ thổi vào tâm hồn tuyệt vọng của chúng ta một nguồn sinh lực mới, khiến chúng ta có đủ can đảm vượt qua mọi khó khăn chồng chất. Hơn thế nữa, tôn giáo nào cũng dạy chúng ta ăn ngay ở lành, khuyên nhủ chúng ta làm lành tránh dữ. Tất cả những điều ấy có ý nghĩa gì, nếu không phải là thôi thúc chúng ta tập luyện các nhân đức.

Đồng thời tôn giáo còn cung cấp cho chúng ta những phương tiện để thực hiện mục đích tốt đẹp, chẳng hạn như giảng dạy, khích lệ, nhắc bảo. Ấy là gã chưa nói tới những phương tiện siêu nhiên, những nâng đỡ của ơn thánh, khiến chúng ta dễ dàng cất bước trên con đường trọn lành. Vì thế, đã có đạo thì cũng phải có đức, hay ít nữa đã có đạo thì cũng phải cố gắng tập luyện cho mình những nhân đức để trở thành một người tốt lành, trước khi trở thành người con cái Chúa, như niềm tin hằng mong mỏi. Đồng thời trong khi tập luyện các nhân đức, chúng ta sẽ trở thành những chứng nhân cho niềm tin.

Và như vậy, cái đức sẽ làm sáng cho cái đạo

Trên một chuyến xe đò, gã đang thiu thiu ngủ, thì bỗng nghe thấy mấy bà ngồi phía sau tranh luận một cách sôi nổi. Bà thì nói: Thật chán chết chồng với con, hở một tí là bồ nhí với bia ôm. Bà thì bảo: Thật tức đến hộc cả máu, mà đành phải cắn răng chịu vậy, bởi vì nói ra thì tan hoang cửa nhà. Cuối cùng một bà lên tiếng: Chỉ có mấy bà bên đạo là sướng. Đạo của họ chỉ cho phép một vợ một chồng và phải trung thành với nhau cho đến chết, nên mấy ông bên đạo hết dám tơ tưởng, léng phéng gì ráo trọi. Tôi ấy à, hễ có con gái là tôi cứ nhè  mấy anh bên đạo mà gả phứt đi cho rồi. Tôi bỗng mỉm cười. Thì ra cái đức chung thủy của mấy ông chồng đã làm cho đạo Công giáo thêm phần sáng giá. Đúng là thế giới ngày nay rất cần đến những chứng tá, hơn là cần đến những thầy dạy.

Hãy biến xác tín thành hành động. Hãy biến niềm tin thành việc làm. Bởi vì niềm tin không có việc làm thì chỉ là một niềm tin đã chết. Chính hành động, chính việc làm, chính cuộc sống gương mẫu mới là một bài giảng hùng hồn có sức lôi cuốn người khác. Biết bao nhiêu người đã trở lại chỉ vì đã thực sự xúc động trước một hành động bác ái yêu thương nào đó của một người có đạo.

Như trên gã đã nói:  Đã có đạo thì cũng cần phải có đức. Và cái đức sẽ làm sáng cho cái đạo. Tuy nhiên, thực tế lại không đơn giản chút nào, bởi vì rất nhiều người có đạo mà lại chẳng có đức. Họ nói về đạo rất hay. Họ thuộc lòng mọi kinh sách. Nhưng cuộc sống của họ lại ngập tràn những bê bối. Họ chỉ sống đạo trong nhà thờ, chứ không hề sống đạo giữa lòng cuộc đời. Phải, trong nhà thờ, họ là những con chiên ngoan, nhưng bước xuống cuộc đời, họ liền hóa kiếp thành một loài lang sói. Trong nhà thờ, họ ăn năn sụt sùi đến vãi cả nước mắt, nhưng bước xuống cuộc đời, họ lại vội vã gian tham, vội vã thù oán, vội vã ghen tị. Người ngoài nhìn vào họ đã phải lắc đầu ngao ngán: Có đạo mà cũng như vậy à? Và rồi những người ấy đã kết luận một cách chua chát: Đi đạo thì tin đạo, chứ đừng tin kẻ có đạo.

Bổn phận của chúng ta, những người có đạo, là phải đảo ngược lại câu kết luận ấy, đó là: Chúng ta phải sống cho có đức, để rồi qua bản thân chúng ta, những kẻ có đạo, người ngoài sẽ tin vào đạo.

 

GIÚP THÁNG

Laurensô

Thời gian thoát vụt như bóng câu qua cửa. Nó đem theo biết bao nhiêu biến cố của đời người. Trong dòng chảy thời gian, những kỷ niệm vui buồn trở thành những con thuyền không lái. Có khi nó đem người ta đến những bến bờ lạ lùng để trùng phùng với những cảm xúc khó phai. Lúc khác nó đem người ta đến bến bờ của muôn vàn khắc khoải ưu tư. Thầy T. ngồi một mình nhớ lại ngày thầy rời giáo xứ trở về nhà. Từng hình ảnh từ từ hiện lên rõ nét.

            Từ người lớn cũng như trẻ nhỏ đến chia tay thầy. Những bữa tiệc tiễn chân từ mặn cho đến ngọt, từ có bia bọt cho đến nước ngọt lần lượt diễn ra. Thầy được mọi người quý mến là vậy. Những tình cảm của bà con giáo dân làm thầy cảm thấy ấm áp cõi lòng. Đêm trước ngày thầy về nhà. Có biết bao tin nhắn của người này người nọ. Họ nhắn tin vì không có thời gian để gặp thầy cũng có mà vì ngại ngùng hay thẹn thùng cũng có. Nhỏ Thủy nhắn với thầy thế này:

“Nếu biết ngày mai thầy về dòng.

Em đi lấy chồng thế là xong.

Sớm tối chồng con vui đầm ấm.

Chỉ xót cho thầy… tối phòng không.”

Thầy hồi âm thế này:

Nếu biết rồi đây em lấy chồng,

Thầy về chủng viện thế là xong.

Sớm tối cầu nguyện cùng Thiên Chúa.

Xin Ngài xót thương kẻ… “đeo gông”.

Thầy lưu giữ tất cả vào tâm trí để làm thành tập kỷ yếu của tâm hồn. Thầy chào mọi người trong sự ngậm ngùi tiếc nuối. Khi mới đến, thời gian sao trôi lâu như lính gác trực đêm. Thế mà nay lại thấy nó chạy nhanh như tên bay xé gió. Có không ít con mắt chẳng bụi mà đỏ, không gió mà cay. Nhất là bọn con gái trái tim dễ rung động như tơ đàn, chúng làm như phải chia tay thầy mãi mãi nên làm ngập lụt dòng kênh mùa cạn bằng thứ nước mắt trời cho. Bọn thằng Tính thì chẳng muốn đá banh. Bọn chúng buồn như các cầu thủ phải chia tay huấn luyện viên đã gắn bó bao năm. Chúng tặng thầy những món quà thật ý nghĩa. Mở từng hộp quà, thầy nâng niu trên tay mà cảm nhận được sức ấm của con tim gói trong đó. Có những món rất có giá trị về tiền bạc và cũng có những món thật đơn sơ nghĩa tình. Trong gói quà có những lời tâm sự, lời cảm ơn và lời hứa hẹn. Một bức thư làm thầy phải suy nghĩ và cầu nguyện:

“Thầy kính mến! Khi phải chia tay thầy, con thực sự rất buồn. Tuy thời gian chỉ có một tháng, nhưng thầy đã để lại trong con những tình cảm hết sức đặc biệt. Cách thầy nói chuyện và đối xử với đám con trai cũng như với bọn con gái chúng con đã làm con thực sự ngưỡng mộ. Không biết sao con thấy thầy đẹp hơn mấy người con trai khác. Có khi con tự hỏi là người đi tu như thầy có bị cám dỗ không. Con nghe ba con nói ma quỷ nó cám dỗ người đi tu ghê lắm! Vì thế nên con thích nói chuyện với thầy nhưng chỉ đứng từ xa thôi. Con sợ mình thành cớ làm cho thầy bị cám dỗ. Thầy ạ! Sau nhiều ngày suy nghĩ, con muốn đi tu. Nhưng con nghe nói, người đi tu không được yêu ai hết, chỉ yêu mình Chúa thôi. Điều đó có đúng không thầy. Người đi tu được phép yêu người khác phái không?Nếu muốn đi tu, con phải làm gì và chuẩn bị như thế nào? Thầy có thể nói cho con biết những khó khăn người đi tu hay gặp phải không ạ? Xin thầy cầu nguyện cho con với nhé! Con cảm ơn thầy”.

            Thầy T. ghi nhớ tất cả những kỉ niệm và những dòng tâm thư vào lòng. Thầy đem nó vào trong lời kinh của thầy. Sau một vài ngày sống bên gia đình, thầy hồi âm cho những thắc mắc và những tâm tình của cô bé kia. Thầy sẽ trả lời cho những câu hỏi trên thế nào? Xin xem hồi sau sẽ rõ.

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

NHỚ MẸ ĐÊM XUÂN

Xuân nồng, hương thắm hây hây

Mơn man gió nhẹ, ru mây hững hờ

Phong sương phủ ánh trăng mơ

Tịch liêu đơn bóng, thẫn thờ bên song

Xuân tươi mà héo hắt lòng

Mẹ đâu còn nữa, để mong con về

Mỗi lần mai đỏ phố, quê

Dõi xa bóng mẹ, sơn khê ngàn trùng.

Sương đêm giăng mắc, mông lung

Vẩn trong nhang khói, chân dung mẹ cười

Canh khuya thổn thức, bồi hồi

Giọt thương, giọt nhớ, giọt đời đắng cay.

Chén xuân chưa nhắp đã say

Giật mình đếm giọt tháng ngày quạnh hiu

Phố xuân xanh, đỏ dập dìu

Cô đơn con khóc, bên chiều tàn xuân

                                     Jos. Nhật Quang, Gx Thái Hòa

 

LỜI RU CỦA MẸ

Ru con, mẹ hát a ơi,

Lời ru trầm cả một đời nắng sương.

Lời ru có gánh đoạn trường,

Mênh mang chất chứa tình thương dạt dào.

A ơi khúc hát ngọt ngào,

Lâng lâng cung điệu những trào nghĩa ân.

Đưa êm giấc ngủ canh tròn,

Lời ru nồng ấm, sắt son, diệu vời.

Bao la biển rộng, đất trời,

Lung linh tình mẹ sáng ngời là đây.

A ơi trải suốt tháng ngày,

Lời ru của mẹ đẹp hoài mến yêu.     

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

TÌNH MẸ

Thủa con còn đi học

Nơi thành phố xa xôi

Mẹ lắng lo nhiều lắm

Khuyên nhủ biết bao lời

Hy sinh cả cuội đời

Nuôi nấng con ăn học

Không quản bao khó nhọc

Mẹ đi thăm con hoài

Con đuờng ôi quá dài

Hai trăm rưỡi cây số

Mẹ đi giữa trời đêm

Sớm mai lên thành phố

Lòng mẹ ôi chan chứa

Như biển sóng dạt dào

Tình mẹ tựa trăng sao

Đưa con vào cuộc sống.

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ - Tân Hiệp

 

ƠN MẸ

Đêm đêm ngồi đếm sao trời

Nhiều như ơn mẹ rạng ngời trên cao

Thương con mẹ những ngọt ngào

Cưu mang trong dạ xiết bao ân tình.

Cho con nên vóc thành hình

Mẹ không quản ngại hy sinh cuộc đời

Cho con áo ấm nụ cười

Mong con vui sống làm người có nhân.

                        Mẹ vui đón nhận khó khăn

Những chiều trở gió mưa giăng lối về

Nhọc nhằn rảo bước thôn quê

Gia đình no ấm chẳng nề sá chi.

                                    Đời con luôn mãi khắc ghi

Công ơn của mẹ lấy chi báo đền

Lòng thành khấn nguyện ơn trên

Cháu ngoan con thảo vui bên mẹ hiền.

 Pr. H. Khải, Gx. Núi Sập

 

VỀ QUÊ MẸ

Mẹ ơi! Con đã về đây

Bao ngày xa vắng, tràn đầy nhớ thương

Bước chân trên những nẻo đường

Biết bao kỷ niệm vấn vương trong lòng

Bao ngày Mẹ ngóng đợi trông

Đứa con yêu quý sao không thấy về!

Mẹ buồn thui thủi ở quê

Con nơi thành phố mải mê học hành

Biết con mải miết công danh

Mẹ luôn khấn nguyện con thành tài ba

Hằng ngày đi lại vào ra

Trong căn nhà nhỏ, cũng là mái tranh

Chắt chiu gom góp để dành

Từng xu từng cắc, chẳng đành xài riêng

Siêng năng cần mẫn chăm chuyên

Tề gia nội trợ, dạy khuyên điều lành

Hoài Thanh, Gx Ngọc Thạch

 

TẢN MẠN

 

TÌNH MẸ

Tình mẹ thương con như trời như biển. Tình mẹ ngọt ngào như giọt nước tận nguồn xa. Mẹ cưu mang con trong cung lòng suốt chín tháng mười ngày, nuôi dưỡng con bằng dòng sữa ngọt ngào. Con lớn lên từ chiếc nôi kẽo kẹt, do chính mẹ đã đan bằng những lời ru êm đềm. Nuôi con lớn, thương con nhiều mẹ còn phải gánh muôn nỗi lo trên vai. Nhiều lần con nghịch, con mê chơi là nước mắt mẹ lại chảy hai hàng. Tình mẹ yêu con không biết lấy gì mà đo lường được. Mẹ dạy con tiếng của quê hương, dạy con phải ngoan ngoãn. Mẹ nâng niu từng bước chân của con trên con đường tình yêu. Mẹ dạy con từng cử chỉ hành động, từng lời kinh tiếng hát, để con xứng đáng trở nên con của Thiên Chúa. Tình yêu đó con chẳng biết làm sao đền đáp cho cân xứng. Nguyện xin Thiên Chúa toàn năng ban cho những người đang làm mẹ được tràn đày diễm phúc và bình an.

                               Têrêsa

 

TÂM SỰ VỚI MẸ

Việc học xa nhà làm cho tôi khắc sâu hơn vào trong tâm trí mình một nỗi nhớ, nó cứ da diết, mãnh liệt và như bừng cháy mỗi khi tôi nhớ đến, đó là nỗi nhớ về gia đình. Chế Lan Viên đã từng thể hiện cảm xúc dạt dào về tình mẫu tử qua bài thơ Con cò: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ. Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”. Đúng như thế, con có lớn, con mới hiểu hết những công sức, tâm huyết mà mẹ đã dành trọn cuộc đời mình để lo cho con. Mẹ đã không quản ngại khó khăn cho dù đó là những chướng ngại lớn, những hi sinh tưởng chừng như vô hình, thật to lớn và vĩ đại. Trở về nhà ngay vào mùa gặt con mới hiểu hết những vất vả của mẹ. Cùng với cha, mẹ phải lo việc đồng áng, giữa cái nắng oi bức của những ngày đầu hè, mẹ phải gieo mình nơi sân lúa nóng bỏng, rồi mẹ phải lo những bữa cơm cho mọi người trong nhà. Mẹ vất vả, luôn hy sinh vì chồng, vì con. Có lẽ cả cuộc đời này mẹ cũng hy sinh như thế, hoặc còn hơn thế nữa. Khi xưa con bé, còn chưa hiểu hết những việc mẹ làm vì con. Mẹ không cho con đi chơi, con nói mẹ khó khăn. Mẹ không cho con ăn quà vặt, con lại nói mẹ keo kiệt. Rồi những lúc mẹ đánh đòn hay la mắng, con lại nói mẹ không thương con… Mẹ ơi! Con thật có lỗi. Giờ con mới biết, lúc nào mẹ cũng thương con. Mẹ lo con bị bệnh, nên không cho con rong chơi ngoài nắng. Mẹ không cho con ăn quà vặt cũng vì sợ con đau bụng. Ngay cả lúc mẹ la mắng, đánh đòn con, cũng vì mẹ thương con, không muốn con hư thân. Vậy mà con đã không hiểu chuyện, lại còn trách cứ mẹ nữa, con thật là bất hiếu phải không mẹ? Con mong mẹ tha lỗi cho con.

Lưu Hành

 

NHÌN VỀ MẸ

Có ai lại chẳng muốn rảnh thân nhàn hạ, có ai muốn mang khổ vào thân. Thế nhưng mẹ đã nhận phần này vào mình để nuôi nấng, dưỡng dục con cái bao tháng ngày. Khi con còn thơ bé, có khi nào mẹ được ngủ ngon một giấc trọn vẹn? Hay là phải giật mình thức giấc để cho con bú mớm, thay tã cho con. Có khi nào Mẹ được thảnh thơi ăn một bữa cơm ngon? Đi đâu cũng tất tả nhanh nhanh để được về nhà vì lo con khóc đòi mẹ. Có những đêm con tè dầm, mẹ liền dành chỗ khô để con dễ ngủ còn mẹ thì chịu nằm chỗ ướt suốt đêm dài. Mẹ lo cho con từng bữa cơm ngon, giấc ngủ êm đềm. Khi con chập chững với những bước đầu đời, mẹ luôn kiên nhẫn để đi cùng con những bước đi nhỏ. Con tập nói chứ mẹ có phải tập nói đâu mà mẹ cũng như con phát âm: ba ba… bà bà… để con nói theo rồi vỗ tay khích lệ con yêu của mình. Những ngày con đau bệnh mẹ đã phải thức trắng cả đêm để dỗ dành con, săn sóc cho bé yêu của mình, mẹ nhìn chăm chú không dám rời mắt để quan sát biểu hiện của con. Yêu thương bao nhiêu thì mẹ lại càng lo lắng nhiều bấy nhiêu. Lúc đó, con nào đâu biết mẹ cực nhọc đến chừng nào? Có lẽ một đời vì con là thế! Đến lúc con khôn lớn mẹ cũng đâu đã được yên lành. Mẹ lại lo cho con từng bước đi trong đời, tương lai con mẹ cũng phải lo nghĩ. Chính vì thế mà cả cuộc đời, mẹ luôn hy sinh và yêu thương con cái không chút vị lợi toan tính cho riêng mình.

Phạm Nguyễn Mộng Uyên, Gh Ba Khu

 

MẸ

Trong một lần tình cờ khi xem chương trình tìm kiếm tài năng trên youtube, tôi đã bật khóc khi xem một cậu bé người Mông Cổ trình bày một ca khúc hết sức cảm động có tựa đề “Mother in the dream” (gặp mẹ trong mơ). Một cậu bé tám tuổi mồ côi, mơ ước được gặp mẹ trong giấc mơ, ca khúc có đoạn hát thế này: “Trong mơ con luôn nhắc nhở mình hãy mau đến bên mẹ. Trong giấc mơ ấy, mẹ đến và đem lại tình yêu và niềm hạnh phúc cho con”. Ca khúc đã làm cho ban giám khảo và khán giả nghẹn lời bằng những giọt nước mắt đồng cảm và những tràn vỗ tay không ngừng. Có thể khẳng định một trong những thứ con người không thể không có trong đời đó là Mẹ. Tình mẹ là một thứ tình cảm đẹp nhất trên đời.               Trong cuộc sống giữa chợ đời còn nhiều lọc lừa gian đối, tình mẹ như dòng nước suối mát lành giữa sa mạc phát sinh từ niềm tin tưởng. Chốn chợ đời ấy còn nhiều góc tối chán chường buông xuôi, tình mẹ lại như ánh bình minh khơi lên niềm hy vọng, xua đi những mảng tối, an ủi những tổn thương. Trong chợ đời với nhiều nỗi ghen ghét hận thù, tình mẹ sẽ góp phần xây dựng nên nền văn minh tình thương. Cuộc sống với những khó khăn cạm bẫy vấp ngã, tình mẹ sẽ là hậu phương vững chắc để con vững bước tiến lên với Chúa.

Thiên Bình, Gx Bình Minh

 

 

 

 

 

 

 

 

NGHỆ THUẬT DUY TRÌ

HÔN NHÂN BỀN VỮNG

 

Ai cũng biết rằng: “Tình yêu chân chính là tình yêu dẫn đến hôn nhân” (F. Engels). Nói cách khác, khi yêu nhau thực tình người ta sẽ quyết định kết hôn với nhau, dõi theo ơn gọi mà Thiên Chúa đã đặt để trong mỗi người nam cũng như nữ. “Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt 19,6). Nhưng liệu tình-yêu-thủa-ban đầu ấy có bền vững mãi theo thời gian không? Hay là “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở!”. Chuyện ly hôn ly dị ngày nay xem ra khá phổ biến, kể cả đối với những cặp đã lớn tuổi, trí thức, giầu có, đạo đức. Và ngay cả những cặp hôn nhân Công giáo, dù đã kết hôn lâu năm cũng không tránh khỏi tình trạng “tan đàn xẻ nghé” khi có “sự cố” xảy ra. Vậy thử hỏi, ý nghĩa sâu xa và mục đích chân chính của hôn nhân là gì? Mỗi người có cái nhìn và kinh nghiệm khác nhau về hôn nhân. Tựu trung, xin tóm lược mấy vấn đề sau:      

 Kho tàng quý giá nhất trong đời sống lứa đôi, đó là Tình Yêu

Byron nói, “Không có tình, không có gia đình”. Và cũng có câu nói, “Hôn nhân chỉ là một cuộc hành trình tiến đến một gia đình hạnh phúc, nơi đây tình yêu là điều quan trọng nhất”. Một trong những mục đích mà hôn nhân chân chính luôn nhắm đến, đó là xây dựng một gia đình hạnh phúc ấm êm, dựa trên nền tảng Tình Yêu chân thành, trong sáng và tự do. Tình yêu là nền tảng bởi vì nó đem lại sức sống và sự thăng hoa cho cuộc đời đôi bạn. Có người đã nói, “Khi bắt đầu yêu là bắt đầu sống”. Quả vậy, tình yêu là mùa xuân, là màu xanh, là hơi thở, là sự sống. Nó giúp cho hôn ước hai bạn được “sống” mãi để hạnh phúc gia đình tồn tại và phát triển. ĐGH Gioan Phaolô II, trong Tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã chỉ rõ: “Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người..” (x. sđd số 11).

 Vợ chồng hãy luôn là bạn tình, bạn đời và bạn đường của nhau

Tục ngữ VN có câu: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Đang khi người đàn ông xây nhà mà người phụ nữ “ngồi chơi xơi nước”, thì đó là điều không chấp nhận được. Hôn nhân là hôn ước trong đó hai người cùng thỏa thuận chia sẻ trách nhiệm với nhau, và đảm nhận bổn phận cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình. Một văn hào Pháp đã nói, “Yêu nhau không là ngồi đó nhìn nhau, mà cùng nhau hướng về một lý tưởng” (Antoine de St Exupéry). Cũng có người đã chia sẻ, “Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm” (James Thurber).

Sự hợp tác song phương giữa đôi bạn trong cuộc sống lứa đôi là yếu tố cực kỳ quan trọng nhờ đó hạnh phúc gia đình được đảm bảo chắc chắn. Khi nhìn vào một gia đình nào mà thấy hai vợ chồng biết hòa hợp, gắn bó để chăm lo việc nhà việc cửa, việc trong việc ngoài, thì biết ngay gia đình ấy đang hạnh phúc. Bởi “Họ là hai tâm hồn nhưng một ý nghĩ, là hai quả tim nhưng một nhịp đập” (Maria Lowell). Tình yêu bạn tình, bạn đời, bạn đường là thế, đẹp thay! 

 Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

Trong quá trình hợp tác với nhau, không phải lúc nào mối quan hệ vợ chồng cũng êm ả, xuôi chèo mát mái cả đâu, vì có mưa thì cũng có nắng, có lạnh thì cũng có nóng, có nụ cười thì cũng có nước mắt. Như một danh nhân đã nói: “Trong hôn nhân, nụ cười và nước mắt làm nên bản nhạc cuộc sống” (David Sarnoff). Những lúc căng thẳng, có khi mâu thuẫn cao độ, thì nguy cơ tan vỡ là có thực. Lúc đó nếu cái kiểu “ông nói gà bà nói vịt” hay “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” cứ tiếp diễn đi tiếp diễn lại thì tình hình sẽ không ổn. Hai bên phải biết tự kiềm chế và dừng lại đúng lúc. Đó là thời điểm mà hai bên cùng nhường nhịn nhau, cùng nhượng bộ nhau. Một sự nhịn chín sự lành. 

Thực tế là, “Không có gia đình nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hòa, những căng thẳng, những xung đột đã làm hại cho sự hiệp thông gia đình biết chừng nào, và đôi khi còn có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà phát xuất muôn vàn hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình” (ĐGH Gio-an Phao-lô II, sđd số 21). Do tình hình không mấy sáng sủa đó mà hai bạn luôn phải cảnh giác và nhận ra các mặt khác biệt của nhau, chấp nhận nhau để “dĩ hòa vi quý”. Biết nhượng bộ nhau để quan tâm đến những gì lớn hơn, ích lợi hơn. Thực vậy, “Bí quyết lớn nhất làm cho cuộc hôn nhân thành công là coi tất cả các tai họa là chuyện nhỏ, và không bao giờ biến chuyện nhỏ thành tai họa” (Harold Nichlson).     

 Hãy luôn trung thành với người mà mình đã chọn lựa

Rất nhiều người khi mới kết hôn thì hồ hởi, vui sướng nhưng chỉ sau một thời gian ngắn chung sống, họ thất vọng. Có người than thở, “Hôn nhân là một pháo đài, kẻ ở bên trong thì muốn thoát ra, còn kẻ ở bên ngoài thì muốn chui vào ”. Đối với những người “bên trong” này, thì hôn nhân không còn thơ mộng như lâu đài cổ tích, hay đẹp như một túp-lều-tranh-hai-trái-tim-vàng nữa, nhưng là “ngục tù” chôn vùi tình yêu. Người ta nói, “Người phụ nữ khóc trước khi lấy chồng, còn người đàn ông khóc sau khi cưới vợ”. Cả hai cùng khóc, bởi cái viễn cảnh “hợp hợp tan tan” cứ ám ảnh họ. 

Kinh nghiệm của đời sống vợ chồng cho thấy những ai vội vàng, chủ quan khi bước vào hôn nhân đều sẽ phải thất vọng. Vội vàng khi quyết định chọn bạn đời, chủ quan khi nghĩ về hôn nhân. Thay vì cưới nhau vì tình yêu chân chính, thì họ đến với nhau vì danh lợi, vì tiền bạc, vì nhà cao cửa rộng, vì cơ ngơi đồ sộ đáng giá bạc tỷ...hoặc do áp lực xã hội, do ép buộc gia đình, do hám tài hám sắc vv. Cuộc hôn nhân với tình “ảo” như thế không thể bền vững với thời gian và thử thách trong đời hôn nhân được.

Một cuộc hôn nhân nghiêm túc, đúng đắn là cuộc hôn nhân trong đó hai người sẽ phải sống với nhau, gắn bó chặt chẽ, vì “vợ chồng như đũa có đôi”, người này phải yêu người kia và cả hai phải kính trọng nhau. Nếu không, sẽ xảy ra: “Nhiều cuộc hôn nhân thay vì cộng hai người lại với nhau, thì lại trừ người này khỏi người kia” (Ian Fleming). Vậy thì, hãy nhớ điều này, cái làm nên gia đình êm ấm không đơn thuần chỉ là chung sống mà là phải yêu nhau, hiểu nhau.

 Biết nói “Không” với cuộc tình tay ba!

Ngày nay không lạ gì những kiểu nói “chán cơm thèm phở”, hay “ông ăn chả bà ăn nem”, hay “tình yêu ngoài luồng” để ám chỉ việc một trong hai người hoặc cả hai ngoại tình. Một lúc nào đó, họ chán ngán thực tại, để cho cả thân xác và tâm hồn “bay bổng” theo hình-bóng-người-thứ-ba. Những lý do có thể là do sự nhàm chán, tâm lý thích “mới nới cũ”, có thể là vì họ không tích cực giải quyết mâu thuẫn nội bộ, khiến tình hình đã căng thẳng lại cứ mãi căng thẳng. Sự đổ vỡ trong hôn nhân do ngoại tình hiện nay đang trở thành một trong những lý do phổ biến nhất, sau vấn đề kinh tế và tâm lý. Một bài báo cho biết thông tin sau: “Chúng ta đang sống trong một xã hội mà ngoại tình không còn là chuyện động trời như ngày xưa nữa, thậm chí nó trở thành ‘mốt’ của không ít người. Số liệu điều tra cho thấy khoảng 60% đàn ông và 40% phụ nữ có tình yêu ngoài hôn nhân ít nhất một lần. Người chung thủy 100% thời nay dường như là của hiếm...”

Nếu cái kiểu “ông thích ăn chả” và “bà thích ăn nem” được xem là chuyện bình thường và được dễ dãi chấp nhận thì khó có cuộc hôn nhân nào bền vững cả. Cái tâm lý thông thường của mọi con người là dễ nhàm chán, muốn thay đổi. Sự nhàm chán trong hôn nhân là một thực tế không ai phủ nhận nhưng không vì thế mà “thay bạn đời như thay áo” được. Tình yêu đích thực luôn đòi hỏi sự chung thủy. Hãy thử suy nghĩ thế này, “Tình yêu trong hôn nhân, muốn được bền vững phải dựa trên mối cảm thông sâu sắc với người bạn đời và cùng người ấy nỗ lực hướng về một mục đích nào đó tốt đẹp. Vì nếu cuộc sống chỉ có tính cách cá nhân, vị kỷ, hưởng thụ, thì dầu hai người thực sự yêu nhau cuối cùng cũng sẽ đi đến ngõ cụt, và ở cuối đường là sự vô vị, buồn chán”.    

Chúng ta thử suy nghĩ về ý kiến sau: “Có bốn nhân đức cột trụ cần thiết cho đời sống vợ chồng, đó là khôn ngoan, công chính, can đảm và tiết độ. Khôn ngoan để hiểu biết, chọn lựa và áp dụng những phương thế thích hợp để đạt được mục đích. Công chính để luôn tuân giữ luật Chúa, với tất cả thành tâm và yêu mến. Can đảm để đối đầu với nghịch cảnh và đau khổ. Tiết độ để tự chế và dồn năng lực vào những bổn phận hằng ngày...” (D. Wahrheit, “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Ki-tô”, trang 227-228)./.

Aug. Trần Cao Khải

 

BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

HỌP MẶT ĐỒNG HƯƠNG CÁI SẮN

Theo truyền thống đã có từ lâu, năm nay cuộc họp mặt đồng hương Cái Sắn lần thứ 13 tại Saigon được tổ chức tại giáo xứ Bùi Môn, để cùng nhau chia sẻ và thắt chặt tình liên đới. Đức cha Giuse đã đến dâng thánh lễ tạ ơn. Nói đến Cái Sắn, chúng ta liên tưởng tới một vùng quê mang vẻ đẹp mộc mạc với những con người bình dị, với những con kênh xinh xắn, với những cánh đồng lúa trải dài đượm màu phù sa. Nói đến Cái Sắn, chúng ta liên tưởng tới tình làng nghĩa xóm sớm tối có nhau, tới lòng mộ đạo của những con người chất phác, thật thà. Trong số những người tham dự, có quý cha, quý tu sĩ từng xuất thân từ Cái Sắn và đông đảo anh chị em giáo dân. Đỉnh cao của buổi họp mặt là thánh lễ do Đức cha Giuse chủ tế, cùng 17 cha đồng tế. Đức cha không giấu nỗi ưu tư khi nói: “Vì cuộc sống mưu sinh, anh chị em phải rời gia đình giáo phận Long Xuyên lên Sàigòn, hẳn anh chị em cũng đã gặp rất nhiều thiệt thòi”. Hình ảnh thánh Giuse cùng gia đình di cư từ nơi này đến nơi khác, nhưng vẫn trung thành với Thiên Chúa, được Đức cha nhắc đến như là sự an ủi và động viên. Ước mong anh chị em bắt chước thánh Giuse và Thánh Gia luôn vững tin và tín thác vào Chúa.

 

MỪNG BỔN MẠNG ĐỨC CHA GIUSE

Bổn mạng của Đức cha là thánh Giuse. Vì thế, ngày mừng kính thánh cả là dịp để đoàn con cái trong giáo phận bày tỏ lòng hiếu kính, quy tụ về TGM, nguyện chúc và hiệp dâng thánh lễ tạ ơn. Đặc biệt năm nay giáo phận còn mừng thọ Đức cha 70 tuổi đời, 40 năm linh mục và 15 năm Giám mục. Thánh lễ được diễn ra lúc 10g00 tại nhà nguyện Tôma trong bầu khí ấm cúng và sốt sắng. Phát biểu trước thánh lễ, cha Tổng Đại diện LG Huỳnh Phước Lâm nhắc đến cuộc đời Đức cha được đánh dấu bằng những mốc son rất có ý nghĩa. “Tam thập nhi lập”, tuổi 30 lập thân, dựng nên sự nghiệp, Đức cha được chịu chức linh mục phục vụ Giáo Hội. “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh”, đến tuổi 55, Đức cha hiểu được thiên mệnh của mình, Đức cha được thu phong Giám Mục, được Thiên Chúa giao sứ mệnh cộng tác với Đức cha Gioan Baotixita trong việc lãnh đạo Giáo phận Long Xuyên. “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, đời người sống được đến 70 tuổi xưa nay là hiếm có, đến nay Đức cha đã tròn 70 tuổi. Kết lời, cha Tổng chúc mừng Đức cha Giuse, cha Đại diện Giuse, quý cha quản hạt Giuse và quý cha Giuse bằng những câu thơ lục bát giàu ý nghĩa: Nguyện xin thánh cả Giuse, Luôn luôn trợ giúp chở che tháng ngày, Công việc Nhà Chúa hăng say, An vui hạnh phúc đời này đời sau.

 

LỄ ĐẶT VIÊN ĐÁ ĐẦU TIÊN

XÂY DỰNG NHÀ THỜ GIÁO HỌ CỜ TRẮNG, HỘI THÁNH

Nằm ở cực nam xa xôi hẻo lánh, giáo họ Cờ Trắng, thuộc giáo hạt Hà Tiên, tọa lạc tại xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, Kiên Giang, được Đức Giám mục Giáo phận Long Xuyên ký sắc lệnh thành lập ngày 02.02.2010. Giáo họ chính thức hoạt động vào ngày 09.01.2012 do cha Giuse Trần Trọng Trí quản sở. Nơi đây, đã có ngôi nhà thờ tạm nhỏ bé được dựng bằng cây và ghép tôn, phục vụ cho sinh hoạt phượng tự. Sau 4 năm công việc mục vụ chủ yếu tập trung lo về con người, nhân sự, quy hoạch và san lấp mặt bằng, đến nay, giáo họ mới nghĩ đến chuyện xây dựng một ngôi nhà thờ kiên cố, xứng đáng cho việc thờ phượng Chúa. Và sáng ngày 30.3.2014, Đức cha Giuse đã chủ sự thánh lễ đặt viên đá đầu tiên, được bắt đầu lúc 9g30 với đoàn rước từ nhà thờ tạm tiến ra lễ đài ngay phần đất xây dựng nhà thờ mới. Dẫn vào thánh lễ, Đức cha mời gọi mọi người cùng hiệp ý cầu xin Chúa, qua sự bầu cử của Đức Mẹ Lộ Đức, bổn mạng giáo họ, chúc lành cho công trình xây dựng nhà Chúa được khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ ơn Chúa. Xây dựng cộng đoàn theo gương mẫu cộng đoàn các thánh Tông Đồ thời sơ khai là chủ đề trong bài giảng của Đức cha Giuse. Đó là cộng đoàn Đức tin - Phụng vụ - Đức ái - Chứng nhân.

 

THÁNH LỄ TRUYỀN DẦU TẠI GX BÒ ÓT

Thánh lễ Truyền Dầu năm nay được tổ chức tại nhà thờ giáo xứ Bò Ót vào thứ ba Tuần Thánh, ngày 15.4, qui tụ khoảng hơn 220 linh mục, cùng với sự tham dự đông đảo của các tu sĩ nam nữ và bà con giáo dân trong giáo phận. Trước Thánh lễ, vị đại diện Hội đồng Mục vụ đã chúc mừng Đức Cha Giuse nhân dịp 70 năm tuổi đời, 40 năm linh mục và 15 năm giám mục, đồng thời cũng chúc mừng cha Giuse Trần Văn Toản đã được ĐTC Phanxicô bổ nhiện làm giám mục phụ tá giáo phận Long Xuyên. Đức Cha Giuse đã chia sẽ với cộng đoàn xoay quanh lời Chúa phán: Không có tình yêu nào cao quí hơn là tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu. Từ đó, ngài dẫn vào ba nhiệm vụ chính chính của chức vụ linh mục, đó là rao giảng lời Chúa, cử hành các bí tích và thi hành các công việc mục vụ. Để chu toàn những nhiệm vụ này, các linh mục cần phải có một đức bác ái mục tử chân thành và phải bén rễ sâu trong tình yêu mến Chúa. Sau bài giảng, các linh mục đã lặp lại lời tuyên hứa trong ngày chịu chức. Tiếp đến, Đức Cha đã làm phép dầu bệnh nhân, dầu dự tòng và dầu thánh, để sử dụng trong khi cử hành các bí tích.

 

 

 

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

ĐỨC TÂN GIÁM MỤC PHỤ TÁ

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

Trưa ngày 05.4.2014, Phòng Báo Chí Tòa Thánh thông báo: ĐTC Phanxicô đã bổ nhiệm Cha Giuse Trần Văn Toản, Giám đốc Trung Tâm mục vụ Giáo Phận Long Xuyên, Việt Nam, làm tân Giám Mục phụ tá của giáo phận này, và chỉ định cho ngài hiệu tòa Acalisso. Đức Cha Giuse Trần Văn Toản sinh ngày 7.4.1955 tại tỉnh Quảng Nam, Giáo Phận Đà Nẵng. Song thân ngài gốc giáo phận Thái Bình. Theo học tại tiểu chủng viện Long Xuyên từ 1966 đến 1974, rồi tại Đại chủng viện ở địa phương từ 1974 đến 1981. Thầy đã phục vụ 11 năm trong giáo xứ Môi Khôi, trong khi chờ đợi Nhà Nước cho phép chịu chức Linh Mục. Thầy thụ phong Linh Mục ngày 16.01.1992. Sau đó cha đã lần lượt đảm nhận các trách vụ sau đây:

- Từ 1992 đến 1999: Phó Xứ Môi Khôi, Láng Sen, hạt Vĩnh Thạnh.

- Từ 2000 đến 2005: theo học tại Đại học De La Salle,Manila, Philippines và đậu tiến sĩ về giáo dục.

- Từ năm 2006: cha làm Giám đốc Trung tâm mục vụ và phối hợp các hoạt động mục vụ và truyền giáo, Giám đốc tiểu chủng viện thánh Têrêsa, giảng dạy môn Truyền Giáo học tại Đại chủng viện liên giáo phận Cần Thơ. Trong nhiệm vụ mới, Đức Cha Giuse Trần Văn Toản sẽ phụ giúp Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu, 69 tuổi (1945), từ 11 năm nay là Giám Mục chính tòa Long Xuyên, sau 4 năm làm Giám Mục Phó với quyền kế vị tại giáo phận này. Theo niên giám năm 2013 của Tòa Thánh, Giáo Phận Long Xuyên hiện có 224.157 tín hữu Công Giáo trên tổng số 4 triệu 783 ngàn dân cư, và có 135 giáo xứ, 56 họ lẻ, 222 linh mục giáo phận và 19 LM dòng, 97 đại chủng sinh, 61 tu huynh và 345 nữ tu.

 

 

 

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC TRAO TẶNG SÁCH TÂN ƯỚC

Hôm Chúa Nhật, 6.4, trong buổi đọc kinh Truyền Tin, hàng ngàn cuốn Phúc Âm bỏ túi đã được phát miễn phí cho các tín hữu và khách hành hương tại quảng trường Thánh Phêrô. Cuốn sách nhỏ này bao gồm bốn sách Tin Mừng, sách Tông Đồ Công Vụ và một lời cầu nguyện đặc biệt. Đức Thánh Cha nói: Trong Chúa Nhật trước, tôi đã đề nghị mang một sách Tin Mừng nhỏ trong mình trong ngày, để có thể thường đọc. Và tôi đã nghĩ đến truyền thống kỳ cựu của Giáo Hội, trong mùa Chay, trao Tin Mừng cho các dự tòng, cho những người đang chuẩn bị lãnh nhận bí tích Rửa tội hôm nay tôi muốn tặng anh chị em ở Quảng trường sách Tin Mừng bỏ túi này như một dấu chỉ. Sách sẽ được tặng miễn phí, hãy lấy và mang theo mình và đọc mỗi ngày, chính Chúa nói với anh chị em! Và tôi nói với anh chị em: Anh chị em đã nhận miễn phí thì hãy cho miễn phí. Đổi lại với món quà này, hãy làm một hành vi bác ái, một cử chỉ yêu thương nhưng không. Ngày nay ta có thể đọc Tin Mừng với bao nhiêu phương tiện kỹ thuật. Ta có thể mang theo mình sách Kinh Thánh toàn bộ trong một điện thoại di động, trong một tablet. Điều quan trọng là đọc Lời Chúa, với tất cả các phương tiện và đón nhận Lời Chúa với con tim rộng mở. Vì hạt giống tốt phải sinh hoa kết trái.

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ KIÊN LƯƠNG

 

 

 

1/ Địa chỉ: Nhà Thờ Kiên Lương, Thị Trấn Kiên Lương, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang. ĐT: 077.3755898.

2/ Cộng Đoàn Tu: Tu Hội Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn,với 5 chị 3/ Số giáo dân: 4000

4/ Số dân lương và giáo: 12000 . Tỷ lệ 33%

5/ Lược sử hình thành:

Năm 1958, từ một vùng đất hoang sơ, ít người sinh sống, tại ngã ba tỉnh lộ 80 đi vào xã Hòa Điền, Cha sở Đất Hứa Mart. Nguyễn Ngọc Thạch và một số giáo dân đã lập một nhà nguyện họ lẻ sơ xài bằng cây tràm, lợp tranh, dài 15m, rộng 8m và cao 5m, quay ra lộ. Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Bình đã đặt Thánh Antôn làm bổn mạng đầu tiên cho họ đạo. Cuối năm 1964, giáo xứ  Hòn Chông mất an ninh, Cha Ant. Lương Công Đại, cha sở Hòn Chông, đã về Kiên Lương lánh nạn. Và cũng từ đây cha đã trở thành cha sở đầu tiên của họ đạo Kiên Lương.

Do giáo dân ngày một tăng, năm 1958 chỉ có 20 người, 1971 được sự giúp đỡ của Đức Cha Mic. Nguyễn Khắc Ngữ, và một số ân nhân, cha Antôn Lương Công Đại đã khởi công xây dựng nhà thờ mới quay mặt về phía chợ Tròn, có chiều dài 36m, rộng 12m, thêm hai cánh thánh giá. Do nhiều biến động lịch sử, nhà thờ mới xây dựng nhiều năm, nhưng chưa kịp hoàn tất.

Năm 1975, cha sở Vinc. Nguyễn Thế Khanh về tiếp tục xây dựng được gần một năm, nhưng vẫn còn dang dở.

Năm 1976-1978, cha sở Dom. Nguyễn Quang Thản và cha phó Ant. Nguyễn Đình Khuyến tiếp tục xây dựng và hoàn thành phần mặt tiền của Nhà Thờ.

Năm 1978, cha J.M.Vianey Nguyễn Văn Ngọc về làm cha sở và tiếp tục xây dựng tháp chuông, chỉnh trang Cung Thánh và thực hiện nhiều công việc lớn nhỏ cho đến ngày hôm nay.

Năm 1989-1991, Đức Cha J.B Bùi Tuần bổ nhiệm cha phó Vic Nguyễn Minh Chu, cha đã sửa sang bộ cửa nhà thờ và xây dựng hàng rào bao quanh nhà thờ.

Năm 1994-1996, cha sở J.M.Vianey Nguyễn Văn Ngọc đã xây dựng và khánh thành ngôi nhà xứ mới rộng rãi khang trang.

Năm 2000-2003, Đức Cha bổ nhiệm cha phó Tôma Nguyễn Văn Thanh về tiếp giúp họ đạo.

Năm  2006 -2013, có cha Antôn Nguyễn Đình Khuyến phụ trách và cha phó Phêrô Lê Văn Thượng, sau ra làm cha sở giáo xứ Chúa Ba Ngôi (Ba Hòn), thì Cha Phó Vinhsơn Đỗ Chí Quang, kế đến là Cha phó Giuse Nguyễn Thanh Bình phụ giúp.

Năm 2014 Cha sở Vinh sơn Nguyễn Minh Chu về thay thế coi sóc.

6/ Đặc điểm mục vụ:

a/ Địa bàn rộng: dài 25 cây số, rộng 13 cây số. Phần đông là dân khắp nơi về đây lập nghiệp, lương giáo lẫn lộn, rối nhiều và lắm tệ nạn xã hội – vừa công nghiệp, vừa nông nghiệp, vừa ngư nhiệp và buôn bán.

b/ Tôn giáo: Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Hiếu Nghĩa.

c/ Hội đoàn: Hội hiếu và trại hòm phục vụ người chết từ A-Z. Hai đội kèn đồng phục vụ các dịp lễ và tang chế.

7/ Họ lẻ:

Một điểm truyền giáo mới đang hình thành tại Kinh 9 với số giáo dân 325 người trong 82 hộ. Một giáo họ trước đây thuộc Hòn Chông nay trực thuộc GX Kiên Lương là giáo họ Sơn Hải ngoài hải đảo Hòn Heo, xã Sơn Hải thuộc Huyện Kiên Lương có số giáo dân là 255 người trong 70 hộ, đã được phép thành lập giáo họ ngày 6.9.2012, đang chuẩn bị xây nhà thờ.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1000
Tất cả: 45,856,191