Tĩnh tâm tháng 12 năm 2014

TĨNH TÂM

THÁNG 12 NĂM 2014

 

 

HÔM NAY, ĐẤNG CỨU THẾ

ĐÃ SINH RA CHO ANH EM (Lc 2,11).


TÌM BÀI



THƯ MỤC VỤ

Tháng 12 năm 2014

 

THƯ MỤC VỤ GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA

TÂN PHÚC-ÂM-HÓA ĐỜI SỐNG CÁC GIÁO XỨ

VÀ CÁC CỘNG ĐOÀN SỐNG ĐỜI THÁNH HIẾN

 

 Anh chị em thân mến,

Chúng tôi, các Giám mục từ 26 giáo phận Việt Nam, quy tụ tại Tòa Giám mục giáo phận Nha Trang tham dự Hội nghị thường niên kỳ II/2014 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, cảm ơn anh chị em đã cầu nguyện nhiều để Hội nghị diễn ra tốt đẹp và bình an. Nay Hội nghị đã kết thúc, qua Thư Mục vụ này, chúng tôi muốn chia sẻ với anh chị em về chương trình mục vụ của Giáo hội Việt Nam trong năm 2015 sắp tới.

1. Trong năm vừa qua, chúng ta đã cùng nhau thực hiện chương trình “Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình”. Qua các báo cáo mục vụ nhận được từ các giáo phận, chúng tôi vui mừng khi thấy đã có rất nhiều nỗ lực và sáng kiến của các giáo phận, giáo xứ, cũng như đoàn thể tông đồ, để đồng hành với các gia đình trong việc xây dựng gia đình Công giáo thành ngôi nhà cầu nguyện, ngôi nhà của tình yêu thương, ngôi nhà mở ra cho tình liên đới và chia sẻ.

Xin anh chị em hãy tiếp tục hướng đi tốt đẹp này, nhất là trong khung cảnh Giáo hội toàn cầu đang hết sức quan tâm đến ơn gọi và sứ vụ gia đình, được cụ thể hóa qua Thượng Hội đồng Giám mục thế giới bàn về “Những thách đố mục vụ cho gia đình trong bối cảnh Tân Phúc-Âm-hóa”. Đồng thời, trong năm 2015 sắp tới, kỷ niệm 50 năm Sắc lệnh Truyền Giáo(Ad Gentes), chúng tôi mời anh chị em hướng đến một gia đình rộng lớn hơn, là giáo xứ. Thật vậy, giáo xứ là gia đình của những người con cái Thiên Chúa, trong đó tất cả là anh chị em với nhau. Gia đình giáo xứ cần được Phúc-Âm-hóa, nghĩa là thấm đẫm tinh thần Phúc Âm và làm chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm ra chung quanh, đến với muôn dân.

Để thực hiện công việc này, chúng ta cùng chiêm ngắm cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên như được mô tả trong sách Công vụ: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42).

2. Theo mô hình lý tưởng này, trước hết, giáo xứ phải là cộng đoàn “siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng”, nghĩa là tham dự Thánh Lễ và cử hành phụng vụ. Tại Việt Nam, cho đến nay, phần đông các tín hữu vẫn trung thành với việc tham dự Thánh Lễ Chúa nhật và các cử hành phụng vụ. Ước gì chúng ta ngày càng tham dự những cử hành này cách ý thức và sống động hơn, không những để chu toàn lề luật mà còn để gặp gỡ Chúa và để Chúa biến đổi đời sống chúng ta. Như thế, Phụng vụ sẽ trở thành nguồn lực thánh hóa bản thân, đồng thời đem tinh thần Phúc Âm vào môi trường sống trong Giáo hội cũng như ngoài xã hội.

3. Kế đến, giáo xứ phải là cộng đoàn “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy”. Các Tông đồ giảng dạy Lời Chúa cho cộng đoàn và hướng dẫn họ đem Lời Chúa vào thực tế đời sống. Ngày nay các linh mục trong các giáo xứ, những cộng sự viên của hàng giám mục, đang tiếp nối công việc của các Tông đồ. Chúng tôi tha thiết xin anh em linh mục cố gắng chu toàn thừa tác vụ cao quý này cách tốt nhất, bằng việc lắng nghe tiếng Chúa qua cầu nguyện, chuẩn bị bài giảng kỹ lưỡng, nội tâm hóa Lời Chúa, đồng thời biết lắng nghe tâm tư nỗi niềm của người dân trong đời sống thường ngày của họ. Nhờ đó lời giảng của chúng ta sẽ là lời phát xuất từ trái tim và có hyvọng chạm đến trái tim người nghe (x. Niềm Vui Tin Mừng, số 142-154).Liên quan đến lãnh vực này, chúng ta cũng cần quan tâm đến việc dạy giáo lý cho mọi tín hữu, cách riêng cho thiếu nhi và giới trẻ. Hơn bao giờ hết, người tín hữu ngày nay cần có căn bản về giáo lý, để vững vàng và sâu sắc trong đức tin, hơn thế nữa, còn để làm chứng cho đức tin và niềm hyvọng Kitô giáo. Chúng tôi vui mừng khi thấy nhiều giáo lý viên giáo dân coi trọng việc giáo dục đức tin và tích cực tham gia dạy giáo lý với tinh thần trách nhiệmcao. Ước mong anh chị em cộng tác tích cực hơn nữa với các linh mục, đồng thời các linh mục nên tạo điều kiện học hỏi thêm cho giáo lý viên,để tất cả chúng ta thi hành sứ vụ cách mới mẻ, bằng nhiệt tình mới, năng lực mới và phương pháp mới.

4. Ngoài ra, giáo xứ còn là cộng đoàn “luôn luôn hiệp thông với nhau”, giữa linh mục và giáo dân cũng như giữa giáo dân với nhau. Sự hiệp thông trong cộng đoàn được thể hiện qua sự tôn trọng, cộng tác và chia sẻ. Thật vậy, trên nền tảng bí tích Rửa Tội, mọi tín hữu đều bình đẳng với nhau về phẩm giá, cho nên phải tôn trọng lẫn nhau, tránh mọi hình thức phân biệt đối xử. Đồng thời phải cộng tác và chia sẻ với nhau để cùng xây dựng ngôi nhà chung là giáo xứ và thi hành sứ mạng chung là loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Các thành viên Hội đồng Giáo xứ là những cộng sự viên gần gũi của các linh mục trong việc điều hành giáo xứ, vì thế các vị cần hiểu biết về trách nhiệm và quyền hạn của mình, và cộng tác với các linh mục trong tinh thần phục vụ để mang lại kết quả tốt đẹp nhất cho giáo xứ.

Tình hiệp thông đó còn được mở rộng ra bên ngoài qua việc cộng tác với mọi người thiện chí để thực hiện những việc đem lại phúc lợi chung, như thăm viếng nhau trong cộng đồng, cùng xây một cây cầu, cùng đào một giếng nước, dựng một mái nhà tình thương. Những việc tưởng chừng nhỏ bé này chính là những hạt giống âm thầm của Tin Mừng vĩ đại (x. Mc 4,30).

Trong hoàn cảnh hiện nay, chúng ta cần quan tâm đặc biệt đến anh chị em di dân. Từhai thập niên qua, rất đông anh chị em, cách riêng các bạn trẻ Công giáo phải rời xa gia đình và làng quê để đi học và đi làm tại các thành phố lớn. Thực tếnày không những tác động trên đời sống kinh tế và xã hội, nhưng cả trên đời sống và sinh hoạt đức tin. Nhiều giáo xứ tại nông thôn không còn đủ nhân lực cho những sinh hoạt của cộng đoàn. Ngược lại, nhiều giáo xứ nơi thành thị lại quá tải trong công tác mục vụ. Nhiều anh chị em di dân cảm thấy lạc lõng ngay trong đời sống đức tin. Vì thế xin anh chị em, cách riêng các linh mục, mở rộng vòng tay đón tiếp anh chị em di dân, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các sinh hoạt của giáo xứ, để họ cảm nhận được mình là thành viên của gia đình giáo xứ. Như thế không những đời sống đức tin của họ được nâng đỡ, mà họ còn trở nên những nhân tố tích cực trong việc Phúc-Âm-hóa.

5. Anh chị em thân mến, sau khi mô tả đời sống của cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, sách Công vụ viết tiếp: “Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,47). Chính đời sống chung của cộng đoàn đã làm bừng sáng vẻ đẹp của Phúc Âm và thu hút nhiều người đến với Hội Thánh. Cũng vậy, chúng tôi tin rằng nếu các giáo xứ thật sự trở thành những cộng đoàn thờ phượng Chúa, hiệp nhất và yêu thương nhau, thì vẻ đẹp và niềm vui Phúc Âm sẽ được lan tỏa rộng rãi và thu hút nhiều người đến với Chúa. Giờ đây, chúng tôi muốn ngỏ lời riêng với anh em linh mục và anh chị em sống đời thánh hiến.

6. Anh em linh mục rất thân mến,

Chúng tôi xác tín rằng việc Phúc-Âm-hóa giáo xứ phải được bắt đầu từ chính hàng linh mục. Chúng tôi cảm ơn anh em đã tận tụy và trung kiên với công việc phục vụ cộng đoàn được trao phó cho anh em. Tuy nhiên chúng ta không được quyền tự mãn với những gì đã làm, nhưng phải không ngừng canh tân đời sống bản thân cũng như cung cách thi hành tác vụ linh mục. Vì thế, xin anh em nghe lại lời nhắn nhủ của Đức Thánh Cha Phanxicô, và hãy xem đó như kim chỉ nam cho tác vụ linh mục tại giáo xứ: Cùng với hàng giám mục, các linh mục “phải luôn luôn nuôi dưỡng sự hiệp thông truyền giáo trong giáo xứ của mình, theo lý tưởng của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Để thực hiện điều này, có khi ngài sẽ đứng trước dân, chỉ đường cho họ và giữ cho niềm hyvọng của họ luôn sống động. Khi khác, ngài chỉ cần ở giữa họ bằng một sự hiện diện khiêm tốn và nhân từ. Khi khác nữa, ngài sẽ phải đi theo họ, giúp đỡ những ai bị bỏ lại ở đằng sau, và trên hết, để cho đoàn chiên tự mình mở ra những lối đi mới” (Niềm Vui Tin Mừng, số 31).

7. Với anh chị em sống đời thánh hiến, xin chia sẻ niềm vui với anh chị em vì Đức Thánh Cha Phanxicô đã quyết định chọn năm 2015 là Năm của Đời sống thánh hiến. Chúng tôi tin rằng đây sẽ là cơ hội thuận lợi để anh chị em đào sâu căn tính của mình, để sống “trải nghiệm không ngừng được đổi mới về sự nếm cảm tình bạn và sứ điệp của Đức Kitô” (Niềm Vui Tin Mừng, số 264). Chính trải nghiệm này thúc giục chúng ta ngày càng yêu mến Đức Kitô nhiều hơn và chia sẻ tình yêu ấy cho người khác, nghĩa là dấn thân cho sứ vụ Phúc-Âm-hóa cách mạnh mẽ hơn, trong sự hợp tác chặt chẽ với Giáo hội địa phương. Chúng tôi tạ ơn Chúa vì sự phong phú ơn gọi tu sĩ trong Giáo hội Việt Nam, và hyvọng sự phong phú đó sẽ mang lại dồi dào hoa trái cho cánh đồng truyền giáo còn mênh mông trên quê hương chúng ta.

8. Kết thúc Thư Mục vụ này, chúng ta hãy hướng nhìn lên Đức Mẹ La Vang, Người Mẹ gần gũi và nhân hậu của Giáo hội Việt Nam. Xin Mẹ giúp các giáo xứ và cộng đoàn chúng con nên chứng nhân cho tình hiệp thông và phục vụ, cho đức tin nồng cháy và quảng đại, cho công lý và hòa bình, để niềm vui Tin Mừng chạm đến cõi lòng của muôn người. Amen.

Làm tại Nha Trang,

Lễ Các Thánh Nam Nữ, ngày 1 tháng 11 năm 2014

 

 

 TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

TỪ CẢM NGHĨ

ĐẾN LỜI CHÚC DỊP NOEL

 

1.

Mỗi năm, lúc gần tới lễ Noel, tôi lại suy nghĩ cách riêng về ý nghĩa lễ trọng đại đó. Năm nay, suy nghĩ của tôi suy giảm nhiều, do tình hình xuống cấp toàn diện nơi tôi. Nhưng trong bầu khí gia đình, tôi cũng đành có gì tặng đó. Xin vui lòng nhận tấm lòng của tôi

2.

Ý nghĩa của lễ Noel là gì? Thánh Tông đồ Gioan viết: “Thiên Chúa đã sai Con Một Người đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,9-10). “Chính tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến, làm Đấng cứu độ thế gian” (1Ga, 14). Nhờ lời dạy trên đây của thánh Gioan Tồng đồ, tôi xác tín: Chúa Giêsu sinh vào thế gian tại hang đá Belem, chính là Con Thiên Chúa. Người đến, để biểu lộ tình yêu Thiên Chúa, bằng việc dâng mình làm của lễ đền tội cho chúng ta, hầu cứu độ chúng ta.

3.

Như vậy, Hài Nhi tại hang đá Belem âm thầm nói với tôi và nhân loại một sự thực. Chúng ta là kẻ tội lỗi, cần được cứu. Đấng cứu chúng ta là Chúa Giêsu. Người cứu chúng ta bằng cách dâng chính mình làm của lễ đền tội.

4.

Khi tôi ra sức tìm hiểu của lễ chính mình mà Chúa Giêsu đã thực hiện, để đền tội và cứu tôi cũng như loài người, thì Chúa trả lời là: Hãy đọc lại thánh Phaolô về sự bước xuống của Chúa Giêsu. “Đức Giêsu Kitô, vỗn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi vui lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2,6-8).

Những lời trên đây của thánh Phaolô giúp tôi nhận ra hai nét đặc điểm của Hài Nhi Giêsu tại Belem, chứng tỏ Người là Đấng Cứu độ. Hai nét đặc điểm đó là vâng phục và khiêm nhường. Với hai nét đó, Chúa Giêsu tại Belem trở nên bé nhỏ và gần gũi. Tôi gặp Người một cách dễ dàng. Rất nhiều người không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng, quốc tịch, cũng đã gặp Người một cách rất tự nhiên.

5.

Nhờ được gặp Người và ở lại với Người khá lâu, tôi được Người cho biết còn một đặc điểm nữa nơi Người, khiến Người trở nên Đấng Cứu độ, đặc điểm đó là Tình Yêu. Tình Yêu đó vượt trên mọi sự tốt lành. Thánh Phaolô diễn tả tình yêu đó như sau: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.

Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.

Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp của tôi mà bố thí, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.

Giả như tôi có nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.

Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.

Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,1-7).

6.

Tình yêu tuyệt vời trên đây nơi Chúa Giêsu là do sự Người luôn kết hợp với Chúa Cha, Đấng sai Người. Tình yêu tuyệt vời ấy đã làm cho sự vâng phục và khiêm nhường của Người trở thành giá trị cứu rỗi.

7.

Cứu rỗi như thế của Chúa Giêsu chính là một sự đổi mới, mà Người làm cho Hội Thánh và cho toàn thế giới. Đó là gương cho mọi đổi mới sau này trong Hội Thánh.

Chúa cho tôi nhìn Hội Thánh hiện tại đang được đổi mới. Tất cả các vị được Chúa chọn, để tiếp tục cuộc đổi mới của Chúa Cứu thế hiện nay đều rất vâng phục, khiêm nhường và có lửa mến nội tâm nồng nàn tha thiết.

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu rất tha thiết với việc cứu những người tội lỗi.

Mẹ Têrêsa Calcutta rất tha thiết với việc cứu những người nghèo khó, bệnh tật, cô đơn.

Đức thánh Cha Phanxicô rất tha thiết với việc cứu các cơ cấu đời đạo khỏi những gì trái với bác ái và công bình.

Tất cả ba vị đổi mới trên đây đều rất khiêm nhường, vâng phục và sống nội tâm sâu sắc với đức mến nồng nàn.

8.

Những gì tôi vừa chia sẻ không phải chỉ là những suy nghĩ, mà còn là những cảm nghĩ. Do vậy, nếu cần có một lời chúc dịp Noel này, thì tôi xin chúc mọi người xa gần gặp được Hài Nhi Giêsu trong hang đá, để rồi biết cộng tác với Người trong chương trình cứu độ, cứu mình và cứu người khác. Cứu hiện tại đang xuống dốc đã là điều khó. Cứu tương lai sắp chạm đáy vực thẳm cũng là điều quá khó. Nhưng tôi tin Chúa Giêsu vẫn là hy vọng của chúng ta. Chính niềm hy vọng ấy cho phép chúng ta vui đặt nơi Chúa giàu lòng thương xót.

Xin mọi người cũng thương cầu nguyện cho tôi.

Long Xuyên, ngày 11 tháng 11 năm 2014

 

 

 

 

 


CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy Niệm Chúa Nhật 1 Mùa Vọng, B

Is 63,16b-17, 19b; 64,2-7; 1 Cr 1,3-9; Mc 13,33-37

SỐNG TỈNH THỨC

 

Tin Mừng Chúa nhật I Mùa Vọng nhắc nhở ta “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện”. Tỉnh thức để đón chờ ngày gặp lại Đức Kitô. Cuộc gặp gỡ ấy sẽ đến rất bất ngờ, nên ai cũng phải tỉnh thức và cầu nguyện. Tỉnh thức không phải là việc dễ dàng. Tự sức ta khó mà tỉnh thức, nên ta phải tha thiết xin Chúa trợ giúp.

Kinh Thánh kể chuyện: Samson là vị thủ lãnh của dân Do Thái. Anh có một sức mạnh phi thường, khiến quân Philitinh khiếp sợ. Ngày kia một con sư tử gấm bất thần tấn công anh. Samson đã xé xác nó với hai bàn tay dũng mãnh. Có lần bị quân Philitinh vây chặt tư bề, Samson chộp được chiếc xương hàm của con lừa và quật chết nhiều đối thủ. Không thắng được Samson bằng sức mạnh, người Philitinh tìm cách tiêu diệt anh bằng mỹ nhân kế. Đaliđa là một thiếu nữ Philitinh có nhan sắc tuyệt đẹp. Nàng đến với Samson và đã chiếm được trái tim của vị anh hùng. Một hôm Đaliđa gạn hỏi: Nhờ đâu mà anh có được sức mạnh phi thường như thế? Samson đã “bật mí”: Sức mạnh ấy liên hệ đến mái tóc của anh. Khi nào tóc anh bị cắt, thì sức lực của anh sẽ không còn. Hôm đó Samson ngủ say, Đaliđa đã lén cắt tóc Samson, rồi báo tin cho người Philitinh. Quân Philitinh liền tóm lấy Samson, xiềng anh lại bằng sợi xích đồng. Chúng khoét đôi mắt Samson, bắt Samson ngày ngày kéo cối xay như một con trâu.

Một Samson vạm vỡ với sức mạnh kinh hồn bạt vía, tay không quật ngã và xé xác con sư tử gấm to lớn. Một thủ lãnh bách chiến bách thắng từng làm cho quân Philitinh phải kinh hồn bạt vía. Thế mà giờ đây Samson chỉ còn là một tù nhân mù loà, tay chân mang xiềng xích, một tên nô lệ ngày ngày cúi đầu làm thân trâu ngựa. Than ôi, “Thời oanh liệt nay còn đâu!” Có thể nói, chỉ vì không tỉnh thức và cầu nguyện, mà Samson đã sa vào cạm bẫy và chịu hậu quả quá đau thương.

Thảm kịch Samson ngày xưa vẫn còn mang tính thời sự. Nó vẫn đang tiếp diễn trong cuộc đời con người dưới nhiều hình thức khác nhau. Hằng ngày các phương tiện truyền thông kể lại vô số cảnh đời gục ngã dưới mọi hình thức. Nào là bị suy sụp vì ma túy, sa đoạ vì gian dâm. Nào là sa ngã vì tham lam và vô vàn hình thức sa bẫy khác. Mọi lứa tuổi, mọi thành phần, kể cả một số cây cao bóng cả trong xã hội cũng như trong tôn giáo, chỉ vì thiếu tỉnh thức mà đã bị gục ngã, bị lún sâu xuống tận bùn đen. Cha ông ta nói không sai chút nào: "Khôn ba năm, dại một giờ". Có khi khôn đến 50 năm, 70 năm, mà bỗng hoá dại trong 30 giây!

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở ta: "Anh em hãy tỉnh thức và hãy cầu nguyện luôn. Hãy đề phòng, đừng để cho lòng trí mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em". Thánh Phaolô khuyên: "Những ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng, kẻo ngã" (1 Cor 10,12). Tỉnh thức không “chè chén say sưa” là đừng quá đam mê hưởng thụ đời này. Tỉnh thức không “lo lắng sự đời” là đừng quá mê say danh, lợi, thú. Hãy tỉnh thức như người lái xe: Luôn nhìn trước ngó sau, tay ga vững vàng, chân thắng sẵn sàng, đi đường an toàn. Như thế, sống tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau, bằng cách chuyên chăm cầu nguyện, vươn tâm hồn lên những giá trị tinh thần vĩnh cửu. Tỉnh thức như thế để không đánh mất phẩm chất cao đẹp của mình.


Suy Niệm Chúa Nhật 2 Mùa Vọng, B

Is 40,1-5, 9-11; 2 Pr 3, 8-14; Mc 1, 1-8

SỐNG GIAO HÒA

 

Có hai hình thức cản trở khiến con người không đến được với nhau. Đó là cản trở bên ngoài và cản trở bên trong.

Cản trở bên ngoài thì có rất nhiều thứ. Chẳng hạn như lũng sâu, núi cao, đường sá quanh co hiểm trở... Những điều ấy đã được Tiên tri Isaia đề cập đến trong Bài Đọc I hôm nay. Ngoài ra còn rất nhiều hình thức cản trở khác do chính con người tạo ra, để ngăn chặn sự thâm nhập của kẻ thù. Chẳng hạn người xưa phải xây thành cho cao, đào lũy cho sâu. Ngày nay người ta dùng hàng rào kẽm gai, gài thêm bom mìn để ngăn chặn đối thủ.

Thành lũy bên ngoài tuy cao và sâu, nhưng tương đối dễ vượt qua. Còn thành lũy bên trong tâm hồn con người thì rất khó vượt qua. Đó là lòng hận thù, nghi kị, giận hờn, tranh chấp, kiêu căng, khép kín. Những thứ thành lũy ấy tuy vô hình, không đồ sộ, không có bề cao, bề rộng, bề sâu… nhưng nó có khả năng ngăn cách con người rất hiệu quả. Thí dụ: Có những gia đình ở kề bên nhau, nhưng vì giận hờn ghen ghét, nên họ không hề lui tới với nhau. Có những anh em ruột, mà mấy chục năm trời không nhìn mặt nhau, chỉ vì họ đang tranh chấp đố kị. Có những cặp vợ chồng tuy sống chung một nhà, nhưng tâm hồn hai người lại “ngàn trùng xa cách”. Và còn nhiều thí dụ khác nữa.

Hôm nay Lời Chúa qua miệng Tiên tri Isaia, tha thiết mời gọi ta hãy tháo gỡ những bức tường lòng vô hình đó, để giao hoà với nhau: "Hãy dọn đường Chúa. Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng. Hãy lấp mọi hố sâu và bạt mọi núi đồi: Con đường cong, hãy làm cho ngay thẳng. Con đường gồ ghề, hãy san cho bằng". Và trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Maccô nhắc lại: "Có tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường Chúa; hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng".

Dọn đường đón Chúa, là tháo gỡ những rào cản đang được dựng lên trong lòng ta, để người anh em có thể đến được với Chúa, đến được với mình. Ta biết, tha nhân là hiện thân của Chúa Giêsu, là chi thể của Chúa Giêsu. Nếu ta không tháo gỡ những ngăn cách để cho tha nhân đến với ta, thì ta cũng đang ngăn chặn Chúa đến với mình.

Cha mẹ trần gian rất đau lòng, khi nhìn thấy con cái trong nhà xích mích, chia rẽ và sống li tán. Thiên Chúa là Người Cha nhân lành. Ngài cũng vô cùng đau đớn khi thấy con cái Ngài sống hận thù, xích mích nhau, xa cách nhau, làm khổ nhau. Mỗi người là một tế bào, là một chi thể, làm nên Thân thể Mầu nhiệm Chúa Giêsu. Vì thế khi ta để cho hận thù, nghi kị, ganh ghét chia rẽ ta với anh em, là ta đang chia cắt Thân Thể Chúa Giêsu. Thế là vô tình ta đang mạnh tay phanh thây Chúa Giêsu từng ngày! Chúa Giêsu rất đau lòng vì Thân Mình Chúa bị chia năm xẻ bảy. Nên Ngài tha thiết xin con cái Ngài hãy mau mau tháo gỡ những bức tường lòng ngăn cách đó, để giao hoà với nhau, để cho Thân Mình Chúa được lành lặn.

Chúng ta đang sống trong một thế giới có xu hướng toàn cầu hóa. Rất nhiều ngăn cách lớn lao giữa các dân tộc đang dần dần được tháo gỡ. Vậy, biết đến bao giờ những "bức tường lòng" do chính mình dựng nên, đang ngăn cách ta với người khác sẽ được tháo gỡ, để Thiên Chúa có thể đến với ta, nhất là trong Mùa Giáng Sinh này?

Lạy Chúa! Xin dẫn dắt con đi theo đường lối Chúa.


Suy Niệm Chúa Nhật 3 Mùa Vọng, B

Is 61,1-2a. 10-11; 1 Tx 5,16-24; Ga 1,6-8. 19-28

SỐNG TRUNG THỰC

 

Trong cuộc đời đầy dẫy những gian dối lọc lừa, thì sự trung thực là một đức tính cao đẹp, nhưng nó lại thuộc vào hàng quý hiếm. Thực vậy! Sống ở đời, ai cũng muốn đứng lên chiếc “bệ cao”, để cho người khác thấy bản thân của mình cao lớn hơn, vĩ đại hơn, vinh quang hơn con người thật sự của mình. Làm như thế, tất nhiên là không trung thực. Đây cũng là một hình thức lừa dối người chung quanh.

Những người Pharisiêu thời Chúa Giêsu đã dùng khá nhiều hình thức để tôn mình lên. Họ “đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài, ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là Thầy”. Những hình thức ấy tựa như những chiếc “bệ cao” làm cho họ thêm phần vinh quang trước mặt người đời (Mt 23, 5-7). Xã hội hôm nay cũng thế. Người ta đua nhau tìm kiếm và cố đứng trên những chiếc “bệ cao” đủ loại, để tỏ cho người khác thấy mình có giá trị hơn, đáng được nể trọng hơn. Đối với người này, thì “bệ cao” có thể là những món trang sức xa xỉ và đắt giá. Đối với người kia, thì “bệ cao” có thể là những cơ ngơi đồ sộ, những địa vị, chức tước, v.v…

Trong khi đó, Gioan Tẩy Giả luôn từ khước mọi thứ “bệ cao”. Thay vì vui sống ở chốn phồn hoa đô thị, thì ông lại thu mình vào nơi hoang địa khô cằn. Thay vì ăn mặc lụa là gấm vóc như người quyền quí, thì ông lại khoác lên người bộ da thú, làm áo che thân. Thay vì ngày ngày thưởng thức cao lương mỹ vị, thì thực phẩm nuôi thân của ông chỉ là những con châu chấu bắt được ở đâu đó trên lối đi, hoặc may lắm là kiếm được chút mật ong hiếm hoi trên rừng. Nói tóm lại, Gioan Tẩy Giả luôn sống trung thực. Trung thực với chính mình và với mọi người. Có sao nói vậy. Ông không cần bất cứ thứ “bệ cao” nào để tôn mình lên.

Thời bấy giờ, danh tiếng của Gioan nổi lên như cồn. Có luồng dư luận cho rằng ông là Đức Kitô. Có người tưởng ông là ngôn sứ Êlia vĩ đại giáng thế. Có người nghĩ rằng với tầm cỡ của ông, ít ra ông cũng phải là một vị tiên tri cao cả nào đó. Thế mà khi những người Do Thái từ Giêrusalem cử các thầy tư tế và Lêvi đến hỏi Gioan: “Ông là ai?” Gioan đã không nhận vơ cho mình những danh hiệu cao đẹp, những thứ “bệ cao” mà người đương thời gán cho ông, như là Đấng Kitô, là ngôn sứ Êlia. Ông thẳng thắn xác nhận: “Tôi không phải là Đấng Kitô, tôi không phải là ngôn sứ Êlia, tôi cũng chẳng phải là một ngôn sứ nào cả” (Ga 1, 19-20). Họ hỏi ông lần nữa: “Vậy ông là ai? Ông hãy trả lời cho chúng tôi, để chúng tôi còn phải tâu trình lại cho người đã sai chúng tôi đến đây”. Bị ép quá, Gioan mới trả lời rằng: “Tôi chỉ là tiếng kêu trong hoang địa”. Đó là một câu trả lời rất trung thực và cũng rất khiêm tốn về con người và cuộc sống của mình (Ga 1, 22-23).

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho con biết học với Thánh Gioan Tẩy Giả, để con sống trung thực với chính mình, không cậy dựa vào những thứ “bệ cao” giả tạo, phù phiếm. Xin cho con hiểu rằng: muốn trở nên cao cả thực sự, thì không phải là tìm cách đứng lên những chiếc “bệ” thật cao, nhưng là trau dồi các nhân đức, đào luyện cho mình có những phẩm chất cao đẹp. Tiến thân hay tiến chức, không bằng tiến đức.


Suy Niệm Chúa Nhật 4 Mùa Vọng, B

2 Sm 7,1-5, 8b-12,14a,16; Rm 16,25-27; Lc 1,26-38

SỐNG KHIÊM NHƯỜNG

 

Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay kể lại câu chuyện truyền tin. Truyền tin là một Tin Mừng muôn thuở. Tin Mừng này đã được thực hiện qua một cuộc đối thoại chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Cuộc đối thoại này được diễn ra giữa hai nhân vật đại diện cho Thiên Chúa và loài người. Đại diện cho Thiên Chúa là Sứ thần Gabriel. Đại diện cho loài người là trinh nữ Maria. Chiêm ngắm cuộc đối thoại này, ta có thể rút ra 2 bài học sau đây:

Bài học thứ nhất: Đây là cuộc đối thoại gương mẫu cho muôn đời. Gương mẫu vì cuộc đối thoại này đã diễn ra đúng tinh thần đối thoại và hòa giải.

* Thứ nhất: Cả hai bên rất khiêm nhường và tôn trọng lẫn nhau.

* Thứ hai: Cả hai bên thưa đáp và trình bày ý tứ của mình rất trong sáng, rất đơn sơ và chân thành. Mình nghĩ thế nào, lập trường làm sao, cần những điều gì mới, để đưa đến thành công, thì cứ trình bày.

* Thứ ba: Cả hai bên đã nhận ra những ân huệ đem lại lợi ích chung, rất thánh thiện mà Thiên Chúa đang muốn thực hiện.

 Bài học thứ hai: Đây là cuộc hòa giải hoàn hảo, vì đã giải quyết được những nỗi khó khăn vô cùng phức tạp.

* Phức tạp thứ nhất: Loài người không thể gỡ nổi mối tơ vò: Làm sao vừa đồng trinh lại vừa sinh con? Làm sao con Bà vừa là người vừa là Thiên Chúa? Chỉ có quyền năng Thiên Chúa mới có thể giải quyết được vấn đề ấy.

* Phức tạp thứ hai: Chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã bao lần bị thất bại, với nhiều nhân vật từ Ađam-Evà cho đến nay. Nay Thiên Chúa mới thực hiện được chương trình thương yêu của Ngài một cách tròn đầy nơi Đức Trinh nữ Maria.

 Thực vậy! Xưa kia Thiên Chúa đã giao ước với Ađam-Evà, nhưng Nguyên Tổ đã trở mặt, nghe theo lời Con Rắn. Xưa kia Thiên Chúa đã giao ước với Noe, nhưng con cháu Noe đã xây tháp Babel kiêu căng. Xưa kia Thiên Chúa đã giao ước chọn lựa Abraham làm tổ phụ dân Ngài, nhưng con cái Giacob lại hận thù chia rẽ, bán em mình là Giuse cho lái buôn Ai Cập. Xưa kia Thiên Chúa đã giao ước với Môisen, để đưa dân về quê cha đất tổ, thờ phượng Thiên Chúa, nhưng dân Israel đã chiều theo lối sống thờ thần Babylon.

Giờ đây, Thiên Chúa đã tìm cách kí kết giao ước với Đức Maria, một nữ tì trung tín, khôn ngoan và khiêm nhượng, luôn làm theo ý chủ mình là Thiên Chúa. Mẹ là một tôi tớ đã dâng hiến trọn vẹn và toàn diện đời mình cho Thiên Chúa. Vì thế Thiên Chúa đã toàn quyền sử dụng Mẹ Maria theo thánh ý Ngài. Và Con Thiên Chúa đã ngự xuống cung lòng của Đức Mẹ để ở cùng loài người cho đến tận thế.

Trước thềm Lễ Chúa Giáng Sinh, ta hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa đã ban cho chúng ta một người Mẹ cao cả, thánh thiện, đáng yêu, đáng mến và rất khiêm nhường. Xin Đức Mẹ bầu cử cho chúng ta trước tôn nhan Chúa, để ta luôn sống khiêm nhường, noi gương Đức Mẹ. Ước gì mỗi người chúng ta luôn là người con ngoan của Đức Mẹ, để Đức Mẹ dễ dàng bày tỏ cho chúng ta biết thánh ý Chúa; và hướng dẫn ta luôn sống đẹp lòng Chúa, nhất là sống khiêm nhường.


Suy Niệm Lễ Chúa Giáng sinh, B

Is 52,7-10; Dt 1,1-6; Ga 1,1-8

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

 

Có một vị hoàng tử vào rừng săn bắn, tình cờ gặp một cô gái quê đang kiếm củi một mình. Không hiểu trời xui đất khiến làm sao, mà hai con người có địa vị cách biệt quá xa ấy lại tỏ ra tâm đầu ý hợp, và hai bên lại yêu nhau tha thiết ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Hoàng tử quay về triều như kẻ mất hồn, ngày đêm tương tư cô gái nghèo mà anh đã đem lòng thương mến. Thế rồi do lòng yêu thương thúc đẩy, anh khẩn khoản xin vua cha cưới nàng cho bằng được. Để tìm hiểu xem cô gái ấy có thực sự yêu thương con trai mình bằng tình yêu chân thực không, hay chỉ yêu chàng vì gia tài, địa vị, quyền thế của chàng, vua cha đã sai hoàng tử cải trang làm anh nông dân để thử lòng cô gái. Thế là vị hoàng tử quyền quí kia hoá thành người nông dân. Anh đến cắm lều gần nhà cô gái. Ngày ngày anh vác cuốc ra đồng làm lụng. Làn da anh cháy nắng. Đôi tay anh chai sần. Anh lân la đến làm quen với cô gái trong hình hài một nông dân. Mặc dù cô gái vẫn thầm yêu và khát mong được kết hôn với vị hoàng tử mà cô đã gặp trong rừng, nhưng trớ trêu thay, cô ta lại không nhận ra vị hoàng tử ấy trong hình hài một người nông dân nghèo khổ. Cô đã đối xử với anh rất lạnh nhạt. Cuối cùng, cô đã xua đuổi anh đi, trong khi lòng cô vẫn thổn thức nhớ thương chàng hoàng tử hào hoa mà cô đã gặp trong rừng! Tiếc thay, cô đã đánh mất cơ hội vô cùng quí báu: Mất một người yêu lí tưởng, mất luôn cả vinh dự trở thành công nương, thành hoàng hậu tương lai.

Như vị hoàng tử rời khỏi hoàng cung, hoá thân thành anh nông dân đến cắm lều ở bên cạnh nhà cô gái, Ngôi Hai Thiên Chúa cũng đã từ bỏ trời cao, hoá thân thành người phàm và đến ở giữa chúng ta. Ngài là Emmanuen, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài tự đồng hoá mình với những người láng giềng đang sống chung quanh ta. Thật trớ trêu! Đang khi ta vẫn yêu mến, suy tôn chúc tụng Thiên Chúa ngự trên cõi trời cao, hoặc cung kính bái lạy hình ảnh Ngài trên bàn thờ, thì ta lại tỏ ra rất thờ ơ hờ hững, và thậm chí còn đối xử tồi tệ với tha nhân, là những chi thể sống động của Chúa, là hiện thân của Chúa đang hiện diện chung quanh.

Hôm nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục đóng vai người nông dân, người cùng khổ, người láng giềng, người đồng nghiệp và cả những người nhà để sống với ta. Thế nhưng ta rất khó nhận ra đó là hiện thân của Thiên Chúa, nên ta thường đối xử tệ bạc với tha nhân. Thế là bi kịch cô gái nghèo hết lòng yêu thương chàng hoàng tử hào hoa, nhưng lại phụ bạc anh ta dưới lốt người nông dân nghèo khổ vẫn đang tiếp diễn từng ngày, từng giờ, từng phút. Thế là "Người đã đến nhà của Người mà người nhà đã không tiếp nhận Người" (Ga 1, 11).

Thật vô cùng đáng tiếc cho cô gái trong câu chuyện trên đây, vì cô đã đánh mất giây phút hiện tại. Đánh mất cơ hội để trở thành công nương chốn cung đình, đánh mất cơ hội được hạnh phúc trăm năm bên hoàng tử giàu sang phú quí! Và cũng vô cùng đáng tiếc cho ta, nếu như hôm nay ta lại tiếp tục lặp lại bi kịch ấy trong giây phút hiện tại này.

Ước gì Noel này ta gặp được Chúa và sống thân tình với Chúa. Muốn vậy, ta hãy gạt bỏ mọi thứ ồn ào, xô bồ ở bên ngoài, để tìm về hang đá lòng mình là đời sống nội tâm. Chúa đang chờ ta ở đó. Hoàng tử Bình an đang đợi ta ở đó.


Suy niệm Lễ Thánh Gia, B

Hc 3,2-6.12-14; Cl 3,12-21; Lc 2,22-40

SỐNG THÁNH GIỮA ĐỜI

 

Hôm nay chúng ta mừng kính Thánh Gia: Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse, một gia đình gương mẫu cho mọi gia đình trên thế giới. Bài Tin Mừng cho ta thấy một hình ảnh rất đẹp của đời sống Thánh gia, đó là các Ngài vẫn chu toàn lề luật: "Đủ ngày thanh tẩy theo luật Môisen, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa... và cũng để dâng lễ vật cho Chúa". Chính tại nơi đây, Thánh Thần Chúa đã tỏ cho ông Simêon và bà Anna biết về Ơn cứu độ của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Cũng tại nơi đây, được ơn linh ứng, ông già Simêon đã tiên báo về sự tham gia của Mẹ Maria trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.

Nhìn vào xã hội hiện nay, ta thấy nhiều nền tảng gia đình đang bị lung lay, rối loạn và khủng hoảng. Đây là lúc mỗi Kitô hữu cần nhìn lại mình trong ơn gọi gia đình, qua gương mẫu của gia đình Thánh Gia, để giúp mình sống thánh giữa đời.

Một trong những điều căn bản để sống thánh giữa đời, mà nhiều khi ta hay quên, đó là mỗi thành viên trong gia đình phải biết trao tặng tình yêu và thời giờ cho nhau. Ta thường mong đợi người khác quan tâm đến nhu cầu vật chất và tinh thần của mình. Nhưng ta lại rất ít khi nhớ đến, hoặc không quan tâm tới nhu cầu của những người thân yêu. Bởi vì tình yêu không phải là cho đi cái gì, mà là cho đi chính bản thân mình. Nhưng không thể nói được là ta đã cho đi chính mình, nếu như ta vẫn còn là nô lệ cho "cái tôi" ích kỉ của bản thân. Chỉ khi nào ta biết biến đổi bản thân mình, để chấp nhận một cuộc sống yêu thương trong mối tương quan vợ chồng, cha mẹ, con cái, thì lúc đó ta mới có thể thực hiện được sự tận hiến của tình yêu, là sống thánh giữa đời.

 

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc nhở ta về sự thánh thiêng của gia đình, khi Ngài gọi gia đình là "Nền tảng của Giáo hội". Còn Chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI thì gọi gia đình là "Cung thánh của Giáo hội", là "Trường học đầu tiên của con cái, mà cha mẹ là thầy dạy". Thật vậy, gia đình là Giáo hội đầu tiên. Nơi tình yêu chung thủy của vợ chồng, người ta nhận ra dấu chỉ tình yêu chung thủy của Đức Kitô và Giáo hội. Gia đình là trường học thánh thiện đầu tiên. Nơi bàn ăn gia đình, các con được học hiểu ý nghĩa của tiệc Thánh Thể, trước khi chúng rước lễ lần đầu. Cũng trong gia đình, khi mỗi thành viên tha thứ cho nhau những lầm lỗi, con cái sẽ học được hiệu quả nơi Bí tích Hòa Giải. Gia đình còn là nơi đặc biệt sống Lời Chúa, như Chúa Giêsu đã phán: "Ở đâu có hai ba người hợp nhau cầu nguyện nhân danh Thầy, Thầy ở giữa họ" (Mt 18,20).

Như vậy, trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, khi mỗi người biết thành tâm tìm kiếm và phụng sự Chúa, thì chắc chắn họ sẽ thể hiện được ơn gọi sống thánh giữa đời. Họ sẽ tìm được sự bình an hạnh phúc cho nhau ở trần gian, và đạt được hạnh phúc vĩnh cửu ở quê trời. Vì Thiên Chúa luôn là chìa khóa hạnh phúc của đời sống gia đình.

Ước mong các bậc cha mẹ luôn là tấm gương của tình yêu chân thành, tình yêu vô vị lợi, biết hy sinh, chấp nhận, tha thứ và quảng đại nhiều hơn nữa trong cuộc sống. Con cháu của ta chỉ có thể lớn lên, khôn ngoan, có ơn nghĩa cùng Thiên Chúa, nếu như chúng cảm nhận được bầu khí thánh thiện của cha mẹ, như mẫu gương sống thánh giữa đời của Đức Maria và Thánh Giuse.

 

 

 

 

TIN MỪNG CHÚA GIÁNG SINH

Trung Thành

Phụng vụ Lời Chúa mùa Giáng Sinh trình bày mầu nhiệm Con Thiên Chúa nhập thể qua những bài đọc trích từ nhiều sách khác nhau. Những trình thuật này giúp chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người cứu chuộc nhân loại, để từ đó chúng ta cảm nhận được tình yêu sâu thẳm Chúa dành cho chúng ta. Những bài đọc này mang nội dung rất phong phú, mời gọi chúng ta phải lắng đọng tâm hồn và có thái độ khiêm tốn như Mẹ Maria mới có thể hiểu được sứ điệp của Tin mừng Chúa Giáng Sinh. Xin gợi ý một vài chia sẻ, đóng góp thêm vào những suy niệm của chúng ta trong Mùa Giáng Sinh.

1-Những điều xem ra tầm thường và vô nghĩa lại mang giá trị vĩnh cửu

Theo con mắt bình thường, biến cố Chúa Giêsu hạ sinh chẳng có gì đặc biệt. Mẹ Maria và thánh Giuse là những con người nghèo hèn, sống một cuộc sống bình thường như bao người khác trong một ngôi làng nhỏ bé xa xôi. Các ngài sinh ra một em bé cũng rất đỗi bình thường. Tuy nhiên, trong chương trình của Thiên Chúa em bé này đã được thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, và việc Người sinh ra là một biến cố trọng đại duy nhất trong lịch sử nhân loại; Người khai mở một triều đại mới và “triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,33). Người là tâm điểm của lịch sử cứu độ, và là kết điểm của những lời hứa Cựu ước. Thiên Chúa vẫn tiếp tục công trình cứu chuộc nhân loại qua dòng lịch sử hôm nay. Và Ngài vẫn chọn những con đường nhỏ bé, khiêm hạ và bất ngờ để đến với chúng ta, với cộng đoàn của tôi để ban ơn cứu độ. Chúng ta cần phải đánh thức trực giác thiêng liêng, vốn đã bị cùn nhụt và chai cứng vì sự chà xát của sức nặng tội lỗi, để có thể nhận ra dấu chỉ Chúa đến với chúng ta. Những người “phận nhỏ”, những người nghèo khổ và bị bỏ rơi trong xã hội, đó là đối tượng ưu tiên mà Chúa Hài Đồng mời gọi ta đến phục vụ; những việc tông đồ nhỏ bé khiêm tốn, thầm lặng để xây dựng cộng đoàn đức tin đều có thể mang những giá trị Tin mừng Giáng Sinh thật lớn lao.

2-Mầu nhiệm nhập thể mở ra hướng nhìn mới về con người

Một vị vua thường được sinh ra trong hoàng cung, được đặt trong nhung lụa gấm vóc, nức mùi hương thơm đủ loại, còn Mẹ Maria sinh Chúa Giêsu, vị “Vua của dân Do Thái” (Mt 2,2) trong một chuồng bò hôi hám, đặt trong một cái máng cỏ dơ bẩn; những tấm tã lót cuốn cho em cũng tả tơi nhàu nát (Lc 2,7). Chẳng có gì đáng giá cho một con người được sinh ra. Trong cái nhìn của chúng ta hôm nay, em bé này là xấu số, vì em sinh ra trong hoàn cảnh quá nghèo; em khó có thể vươn lên trong một xã hội mà người ta đề cao quá mức những giá trị vật chất. Cái nhìn này hôm nay dường như đã trở nên tiêu chuẩn để đánh giá mọi chiều kích con người. Tuy nhiên, chính Chúa đã chấp nhận thân phận nghèo nàn ấy để thay đổi cái nhìn của chúng ta về con người. Chúa vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó, để làm cho chúng ta trở nên giàu có (2 Cr 8,9). Trong tình yêu thương vô bờ bến, Ngài đã cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, Ngài yêu chúng ta vô điều kiện (Ep 1,5). Trước mặt Chúa, mỗi người đều có một phẩm giá và địa vị riêng. Mùa Giáng Sinh nhắc nhở chúng ta sống chan hòa yêu thương với hết mọi người và tôn trọng những khác biệt nơi cá tính mỗi người.

 

3- Mầu nhiệm nhập thể mở ra hướng nhìn mới về Thiên Chúa

Thiên Chúa của Cựu ước là một vị Thiên Chúa “cao cả, uy lực vô biên, trí tuệ khôn lường” (Tv 147,5), một Thiên Chúa tuyệt đối thánh thiện và công minh, Ngài “yêu thích điều chính trực, ghét điều gian ác” (Tv 45,8), “Những quân bất chính sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt, dòng giống ác nhân sẽ phải tru di” (Tv 37,29). Ông Môsê đã ca tụng Thiên Chúa của mình:“Lấy dũng lực oai hùng, Chúa quật ngã đối phương; Ngài nổi cơn thịnh nộ, thiêu chúng cháy như rơm” (Xh 15,7). Đó là một vị Thiên Chúa xa cách con người, giữa Ngài với chúng ta có một vực thẳm nghìn trùng cách biệt. Với mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa đã đến với con người. Ngài không còn ở cách xa chúng ta nữa, nhưng Ngài đến ở với chúng ta (Mt 1,24). Để đến với chúng ta Ngài đã dùng một phương thế quen thuộc với mọi người, đó là tình yêu. Tình yêu là một thứ ngôn ngữ dễ cảm nhận, dễ hiểu đối với hết thảy mọi người. Phát xuất từ tình yêu thương như thế, có thể nói biến cố Chúa nhập thể là một lời tỏ tình ngọt ngào trìu mến của Đấng Tạo Thành với loài thụ tạo. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong Thông điệp Deus Caritas Est đã trình bày mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa bằng một ngôn từ rất mạnh mẽ: “Tình yêu này cao cả đến độ Thiên Chúa chống lại chính mình, tình yêu của Ngài chống lại công lí của Ngài. Thiên Chúa yêu thương con người đến độ trở thành con người, chạy theo họ cho đến độ đi vào cõi chết, và với cách thức này Ngài đã giao hòa công lí với tình yêu” (Deus Caritas Est, 10). Mùa Giáng Sinh mời gọi chúng ta chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu, Con Thiên Chúa trong thân phận con người yếu đuối, nhỏ bé, khiêm hạ; Người đã trở nên quà tặng lớn lao cho nhân loại chúng ta. Để từ đây chúng ta có cái nhìn mới về Thiên Chúa: Đấng là trọn vẹn tình yêu.

Thiên Chúa làm người để ngỏ với con người rằng, nếu họ muốn có an bình, hạnh phúc và sự sống đích thật, họ phải hiệp thông với Thiên Chúa. Nhưng làm sao chúng ta có thể kết hiệp với Đấng bất hoại và bất tử, nếu chính Đấng ấy không mặc lấy bản tính chúng ta, hầu cho kẻ dễ hư hoại được tháp nhập vào Đấng bất hoại và bất tử, mà được lãnh nhận sự sống bất diệt? Hẳn đây là lí do Ngôi Lời đã làm người và Con Thiên Chúa đã thành con loài người: đó là để con người khi hòa mình vào Ngôi Lời, được nhận lấy ơn làm nghĩa tử, trở thành con Thiên Chúa và hưởng sự sống đời đời.

 

Cau do KTCÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 12-2014

Bạn hãy đọc kĩ 2 đoạn Tin Mừng thuật lại biến cố Chúa Giêsu hạ sinh: Mt 1,18-2,12 và Lc 2,1-20, sau đó bạn hãy tìm trong khung chữ dưới đây 9 nhân vật liên quan đến biến cố này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 10&11-2014

 

1-C(Lc 1,34-36) 2-J (1Sm 1,8) 3-D (R 1,11-14) 4-I (Mc 6,17) 5-F (St 27,1;26,1) 6-E (St 34,1)

7-H(St 16,16) 8-K (1V 21,25) 9-G (Lc 10,39) 10-A (St 35,24) 11-B (1Sm 9,3)

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 10&11-2014:

1- Martinô Phạm Vũ Nguyên An, Gx. Giu Đức, Kênh 8B

2- Phêrô Phạm Văn Phi, Gx. Kim An, Kênh G1

3- Têrêsa Lê Thị Ngọc Minh, Gx. Cần Thay, Chợ Mới, AG  

4- Nguyễn Thị Ngọc Quyên, Gx. Dương Đông, Phú Quốc

5- Giuse Lê Vũ Tài, Gx. Tân Bình, Kênh Đông Bình

 

 * Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

            - Email: jostrung.trung@gmail.com

            - Điện thoại: 01672576777

            - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

            Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên GiangS


GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

GIÁO HỘI

 

Thưa Hồng y,Đức Giêsu Kitô đã hứa với các tông đồ và những người kế vị, là Ngài sẽ luôn nhắc nhở họ về những lời Chúa dạy, và Ngài vẫn tiếp tục làm điều đó. Hồng ycó cảm nhận nào về lời hứa đó không?

Việc Chúa nhắc nhở không nên hiểu một cách máy móc, như kiểu mình có thể gọi ra một dữ kiện từ máy vi tính. Đó là một lời hứa có giá trị cho toàn cả Giáo Hội. Đức Giêsu nói thế này: “Chúa Thánh Linh, Người được Chúa Cha nhân danh Thầy sai xuống, sẽ chỉ cho anh em mọi sự và giúp anh em nhớ tất cả những gì Thầy dạy“.

Nói thế, có nghĩa là Ngài không để Giáo Hội phải bước đi một mình, là Ngài không bỏ rơi Giáo Hội, là Ngài giúp Giáo Hội đổi mới trí nhớ để hiểu ra và đào sâu những gì trước đây chưa hiểu. Nhưng không có nghĩa là mỗi cá nhân bất cứ lúc nào cũng có thể đòi cho mình quyền được nhắc nhở đó; và việc nhắc nhở cũng không tới với Giáo Hội một cách đương nhiên. Mà Giáo hội cần phải cầu nguyện và ghi nhớ liên lỉ, qua đó Chúa Thánh Linh rồi sẽ tác động. Song tôi có thể nói, một cách nào đó, cầu nguyện chắc chắn đã giúp tôi có nhiều cảm nhận.

Dù sao cũng đã có nhiều tín hữu nam nữ tuyệt vời, họ nhìn thấu được những mối liên hệ lớn lao và trình bày những hiểu biết phức tạp đó một cách tài tình, để đám đông có thể nắm bắt được.Tôi nghĩ, cũng một phần nhờ họ có mặt trong Giáo Hội và cùng sống với đức tin Giáo Hội, nên họ đã có được ơn soi sáng đó. Giáo Hội có thể mở rộng chân trời hiểu biết và giúp con người đi sâu vào những gì mà một mình họ không thể hiểu nổi. Ngoài ra, cũng có những người được ơn Chúa đặc biệt, mà ta gọi là thánh, nhờ tâm hồn gần Chúa nên họ có khả năng đi sâu vào lời Chúa hơn và làm cho lời đó trở nên sống động trước mắt ta.

Có phải tình yêu đã gắn bó ngài với Giáo Hội?

Có thể nói như thế. Giáo Hội là nhà của tôi, đó là đại gia đình của tôi, vì thế tôi yêu thương gắn bó với nó, cũng như người ta gắn bó với gia đình mình.Giáo Hội không phải là một sản phẩm tình cờ hay tuỳ nghi của lịch sử, đặc biệt không phải là một sản phẩm như lịch sử hiểu. Nhưng với người ngoài, nó thường được xem là một tổ chức có của và quyền lực, giống như một công ty, nhưng ông chủ ở đây suốt ngày mặc áo thụng chạy lòng vòng. Trước đây, đại giáo chủ Lêô có lần nói, để có thể hiểu được đôi chút về Giáo Hội, người ta trước hết phải cởi bỏ đi “cái màn đêm giác quan địa cầu và màn khói khôn ngoan trần thế”.

Có thể tiếp cận Giáo Hội trên nhiều bình diện. Người ta có thể nhìn nó thuần tuý như một định chế, như một trong những quyền lực có tổ chức hiện diện trên thế giới, hay nhìn nó với cái nhìn thuần tuý xã hội.  Người ta có thể bị sứt mẻ vì những biến cố hoặc cá nhân riêng rẽ trong Giáo Hội. Tuy nhiên, nếu cứ nhìn dưới khía cạnh định chế, ta chỉ hiểu được Giáo Hội một cách phiến diện.

Tôi thấy xã hội duy lývà náo động ngày nay bị cám dỗ nhìn Giáo Hội qua những uỷ ban, hội đồng và họp hành. Người ta muốn nó phải thực tế và dễ nắm bắt hơn, muốn nó phải là một công trình của con người, trong đó rồi ra đa số sẽ biểu quyết những chuyện nên tin hoặc không thể tin, hoặc những chuyện khác nữa. Nhưng làm như vậy là người ta càng ngày càng đẩy Giáo Hội xa khỏi chính nó. Giáo Hội, như thế, sẽ chẳng còn đạt tới được sự sinh động  và dĩ nhiên chẳng còn vươn được tới Chúa nữa.

Nếu muốn hiểu đúng Giáo Hội, tôi nghĩ, ta nên tiếp cận nó từ bình diện phụng vụ. Đây là bình diện nói lên nhiều nhất về bản tính Giáo Hội, bởi vì đây là chỗ Chúa luôn tiếp xúc và đổi mới Giáo Hội. Trong phụng vụ, ta phải sống cuộc sống Giáo Hội qua Kinh Thánh, qua các bí tích và lời kinh của tín hữu hoàn vũ. Và nhờ thế, như đại giáo chủ Lêô nói, người ta mới có thể gạt đi màn khói làm mờ cái nhìn của ta và bóc đi những cái dằm trong đôi mắt, để chúng dần trở nên sáng và thấy được.

Và rồi, người ta sẽ thấy Giáo Hội trong chiều thẳm sâu hơn. Rằng trong đó gồm cả cộng đoàn các thánh, hữu danh hoặc vô danh, những người đã ra đi trước chúng ta. Rằng Giáo Hội hiện thân nơi vô số những tín hữu gắn bó với Đức Kitô. Và rằng nguồn cội của Giáo Hội xuất phát từ chính Đức Kitô. Chúa Kitô là động lực làm cho vườn nho sống và giúp nó đơm hoa kết trái. Trong ýnghĩa đó, Giáo Hội có bản chất sâu xa hơn là những gì có thể thống kê được, hay những gì có được qua biểu quyết. Nó là một cơ phận sống được nhờ bởi chính Đức Kitô.(Còn tiếp).

 

 

 

NGÔI LỜI NHẬP THỂ

Từ trời cao, Chúa vì vâng phục

Xuống trần gian, sống kiếp làm người

Như bao thân phận tôi đòi

Thi hành cứu độ, phục hồi ơn thiêng

Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể

Vì yêu thương, ở giữa chúng ta

Muôn đời con sẽ ngợi ca

Nhiệm mầu giáng thế, thật là hồng ân.

 Yuse Phạm Đình, GX Thạnh An


CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH & GIÁNG SINH

 

HI VỌNG ĐÃ VƯƠN LÊN

Đóa Hoa Vô Thường

 

Thật là tuyệt vời, khi chúng ta kết thúc “Năm tân phúc hóa các gia đình” trong bầu khí tươi mát, thánh thiện và đầy niềm hi vọng của cả Giáo hội, mà cao điểm là “Thượng Hội đồng ngoại thường về gia đình”, vừa kết thúc ngày 18.10.2014, tại Roma.

Như chúng ta đã biết, lúc 10g sáng Chúa nhật 05.10.2014, Thượng Hội đồng Giám mục đã khai mạc “Khoá ngoại thường về gia đình”, với Thánh Lễ long trọng do Đức Giáo hoàng Phanxicô cử hành tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô. Đồng tế với Đức Giáo hoàng có ba vị Chủ tịch thừa ủy Thượng Hội đồng: (1) Đức hồng y André Vingt-Trois, Tổng giám mục Paris; (2) Đức hồng y Luis Tagle, Tổng giám mục Manila; (3) Đức hồng y Damasceno Assis, Tổng giám mục Aparecida. Ngoài ra, còn có Đức hồng y Peter Erdó, Tổng giám mục Esztergom-Budapest, là Tổng Tường trình viên; Đức Tổng giám mục Bruno Forte, là Thư ký đặc biệt của Thượng Hội đồng; Đức hồng y Lorenzo Baldisseri, là Tổng thư ký Thượng Hội đồng; cùng với các Nghị phụ từ khắp nơi trên thế giới. Việt Nam chỉ có một vị đại diện duy nhất tham dự Thượng Hội đồng lần này, đó là Đức Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Sau hai tuần làm việc, THĐ ngoại thường về gia đình đã kết thúc vào tối ngày 18.10.2014. Sáng Chúa nhật 19.10, ngày Khánh nhật Truyền giáo, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đồng tế với các Nghị phụ trong Thánh lễ Tạ ơn, bế mạc THĐ và tuyên phong Chân phước cho Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI, là Đấng đã ban hành Thông điệp Humanae Vitae (Sự sống con người).Thông điệp nàyđã được ban hành ngày 25-7-1968. Từ đó đến nay đã 46 năm, nhưng tầm ảnh hưởng của Thông điệp này vẫn còn rất sâu rộng và lâu dài trong đời sống Giáo hội, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến lập trường về sự sống.

Chủ đề được bàn thảo sâu rộng và cẩn trọng trong Thượng Hội đồng ngoại thường lần này là “Những thách thức mục vụ của gia đình trong bối cảnh của Phúc âm hóa”. Có tất cả 10 phiên họp khoáng đại với nhiều ý kiến và đề nghị sôi nổi, nhiều khi không phải là không có những cuộc tranh luận khá gay gắt. Các phiên họp ấy được phân chia làm bốn phân đoạn: (1) Đức Giáo hoàng Phanxicô đặc biệt quan tâm tới THĐ; (2) Hướng đi của THĐ; (3) Tiếng nói của giáo dân trong THĐ; (4) Phúc trình sau thảo luận. Ở đây, tôi chỉ xin mạn phép ghi lại một vài điểm then chốt về phân đoạn thứ bốn của THĐ: Phúc Trình Sau Thảo Luận. Bài viết này chỉ muốn khơi dậy những niềm hi vọng cho toàn thể gia đình dân Chúa, dựa trên bản tin của Tác giả Vũ Văn An, được đăng trên VietCatholic News, ngày 18.10.2014.

Theo bản tin này, thì đêm thứ Bảy (18.10), phiên họp đặc biệt của THĐ về gia đình đã kết thúc với Bản tường trình sau cùng được công bố chi tiết. So sánh với “Bản tường trình giữa khóa”, thì “Bản tường trình sau cùng” này đã có nhiều sự sửa đổi, nhất là đối với hai vấn đề đang được nhiều người quan tâm, đó là vấn đề đồng tính và ly dị tái hôn. Bản tin nêu rõ: Các đoạn nói về hai vấn đề đồng tính và ly dị tái hôn là những đề mục không hội đủ 2/3 số phiếu để được THĐ thông qua, mặc dù hai đề mục này đã được sửa đi sửa lại nhiều lần với phong cách trình bày hết sức cẩn trọng, đồng cảm và tế nhị. Theo đánh giá chung, nếu có Nghị phụ sẵn sàng thay đổi lập trường, thì cũng có Nghị phụ tỏ vẻ lo ngại trước sự xâm hại tới truyền thống Công Giáo. Đức Hồng Y Raymundo Damasceno Assis, Tổng Giám mục Aparecida, Brazil, nhận định rằng: đây là một “tài liệu thỏa hiệp”. Nghĩa là tài liệu về đồng tính và ly dị tái hôn này là một cố gắng dung hoà giữa hai khuynh hướng: (1) muốn có sự cởi mở lớn hơn và (2) muốn bảo thủ, vì lo lắng trước viễn ảnh giáo huấn của Giáo hội sẽ bị lu mờ.

Điều này xem ra cũng phản ảnh viễn kiến của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Thực vậy, trong bài diễn văn dài khoảng 10 phút, Đức Giáo hoàng đã nói rằng: Giáo hội Công giáo cần mở ra con đường trung dung giữa “sự cứng cỏi chống đối” và “sự thương xót sai lầm”. Ngài nói thêm: Giáo hội không nên “ném đá người tội lỗi, người yếu đuối và người bệnh tật”, mà cũng không nên “xuống khỏi thập giá” bằng cách tự thỏa hiệp với “tinh thần thế gian”. Bản tin cho biết thêm: Khi Đức Giáo hoàng vừa nói dứt lời, thì THĐ đã nhất loạt đứng lên vỗ tay hoan hô trong 5 phút. Kết quả là Bản tường trình sau cùng của THĐ lần này sẽ được dùng để hướng dẫn các cuộc thảo luận trong năm tới, chuẩn bị cho THĐ thông thường về gia đình dự trù sẽ được tổ chức vào tháng 10.2015. Sau đây là một số điểm đang được nhiều người quan tâm:

1. Về người đồng tính. Bản tường trình kết thúc rằng: Người đồng tính phải được “chào đón một cách tôn trọng và tế nhị”, không nên để họ “bị kỳ thị một cách bất công”. Nhưng đồng thời THĐ cũng quả quyết rằng: “Không có căn bản nào” để so sánh “dù là xa xôi” các mối liên hệ đồng tính này với cuộc hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà.

2. Về những người Công giáo ly dị và tái hôn dân sự. Bản tường trình cho hay: Việc cho phép họ rước lễ đã được cả hai khuynh hướng bảo thủ và cởi mở nhiệt tình tranh luận. Tuy nhiên THĐ đã quyết định để vấn đề này lại cho một cuộc nghiên cứu thấu đáo hơn.

3. Về thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Đại đa số các nghị phụ THĐ ủng hộ một hệ thống nhanh hơn, đơn giản hơn và lý tưởng nhất là miễn phí. Tuyên bố hôn nhân vô hiệu là tuyên bố rằng một cuộc phối hợp chưa bao giờ là hôn nhân, vì thiếu một trong những điều làm nên hôn nhân thành sự. Trên thực tế, lời tuyên bố này cho phép người ta kết hôn lần thứ hai trong Giáo hội.

Như thế, những niềm hi vọng luôn vươn lên trong đời sống chung của Giáo hội, đặc biệt là trong các gia đình dù ở bất cứ cảnh ngộ nào. Chúng ta tiếp tục hiệp thông với Đức Giáo hoàng Phanxicô và toàn thể Giáo hội, để khẩn thiết cầu xin Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội một Lễ Hiện Xuống mới, để Giáo hội luôn canh tân đời sống mình mỗi ngày cho phù hợp với Thánh ý Chúa; đặc biệt cho sự thăng tiến các gia đình, nhất là gia đình con cái Chúa nơi trần gian này đang rơi vào những cơn khủng hoảng rất trầm trọng.

Vào thời điểm lễ Chúa Giáng sinh và kết thúc năm Dương lịch này, chúng ta cũng sẽ kết thúc “Năm tân phúc âm hóa các gia đình”, để bước sang một giai đoạn mới cho năm 2015: “Năm tân phúc âm hóa đời sống Giáo xứ và các cộng đoàn”. Đây là cơ hội thuận tiện, để ta chiêm ngắm mầu nhiệm Gia đình thánh nơi máng cỏ Belem, để ta cầu nguyện và phó dâng các gia đình, Giáo xứ và các cộng đoàn cho Chúa. Xin cho ta được ơn biến đổi: biến đổi suy nghĩ, biến đổi hướng đi, biến đổi tâm hồn, biến đổi cách sống, biến đổi những mối tương quan vốn rất phức tạp trong gia đình và cộng đoàn.Để được ơn biến đổi ấy, ta rất cần sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, sự nhạy bén của các cá nhân và cộng đoàn, để mỗi người sẵn sàng mở lòng ra vâng phục Thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh, noi gương Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu.

Kính chúc các gia đình một Lễ Giáng sinh thật an bình, thánh thiện.


XÂY DỰNG GIA ĐÌNH

THÀNH MỘT HANG ĐÁ SỐNG ĐỘNG

 

Mỗi khi gần đến ngày lễ Giáng Sinh, một trong những hình ảnh ta thường thấy và đây cũng là hình ảnh tác động rất lớn đến bầu khí của ngày lễ, là việc làm hang đá. Để làm một hang đá, đó không phải là công việc của một người, mà là của nhiều người, của mọi người trong giáo xứ, nơi khu xóm và trong gia đình. Nói là công việc của mọi người, vì mỗi người đều góp phần của mình để là nên một hang đá. Người già, người trẻ, đàn ông, phụ nữ, tất cả đều góp phần của mình, tùy theo khả năng, và nhờ vậy, hang đá thêm phần lộng lẫy và đẹp hơn. Ngoài việc góp công, mọi người còn góp của để cùng chia sẻ với nhau những phí tổn cho việc làm hang đá. Nói chung, để làm một hang đá, mọi người trong giáo xứ, nơi khu xóm và trong gia đình phải hy sinh và góp phần của mình cho hang đá đó. Sự hy sinh đó không chỉ là vật chất, không chỉ là thời giờ, sức lực và tài năng, mà đó còn là sự hy sinh những ý riêng của mình để theo ý của tập thể bởi vì, chín người thì mười ý, và nếu không ai chịu ai thì hang đá khó có thể được hoàn thành và đẹp được. Đó là chuyện làm hang đá để chuẩn bị cho ngày mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Còn việc xây dựng hang đá gia đình thì sao? Hai việc này có liên quan gì?

Quả thế, nếu việc làm hang đá để chuẩn bị cho ngày lễ Chúa Giáng Sinh chỉ dừng lại ở việc làm một hang đá bằng vật chất và sau ngày lễ lại vội vàng dọn đi thì thật là quá uổng công và vô nghĩa, vì việc làm đó chẳng mang lại lợi ích thiêng liêng cho những người con Chúa. Chúa đã giáng sinh và Ngài vẫn đang giáng sinh mỗi ngày trong cuộc đời này cách mầu nhiệm, nên có làm hang đá hay không thì việc đó chẳng liên can gì tới Chúa; có chăng thì đó là sự liên can đến những người làm ra những hang đá vật chất. Việc làm những hang đá vật chất chỉ thực sự mang lại lợi ích thiêng liêng cho những người làm ra nó và làm cho Chúa vui là khi, qua việc làm hang đá để chuẩn bị cho ngày lễ Chúa Giáng Sinh, mỗi người biết ý thức để xây dựng cho mình hang đá tâm hồn thật đẹp, và cùng nhau xây dựng gia đình mình thành một hang đá sống động để cho Chúa ngự vào. Làm thế nào để xây dựng gia thành hang đá sống động để cho Chúa ngự? Cũng như việc làm hang đá vật chất kia, việc xây dựng gia đình thành một hang đá sống động để cho Chúa ngự đòi hỏi mỗi người trong gia đình phải biết hy sinh chính mình, và tùy theo khả năng, trách nhiệm, góp phần của mình vào đó. Cụ thể:

Trước hết trong gia đình, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em, mỗi người hãy làm cho tâm hồn mình thực sự trở thành một hang đá sống động để cho Chúa ngự vào. Đó là, mỗi người cần phải nỗ lực sống tốt trong nhân cách sống của mình trong ơn gọi làm con Chúa và trong vai trò của mình trong gia đình. Để làm một hang đá vật chất, cần có những người chuyên môn, thì để xây dựng gia đình thành hang đá sống động cho Chúa ngự, chính những thành phần trong gia đình là những người chuyên môn, mà không ai có thể thay thế. Khi vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em, mỗi người, sống đúng và sống tốt vai trò và bổn phận của mình đối với nhau là đang hy sinh chính mình, đang thực hành chuyên môn của mình, và làm cho chính con người và tâm hồn mình trở thành hang đá sống động.

Kế đến, từ việc biết nỗ lực để tâm hồn mình trở thành một hang đá sống động, mỗi người trong gia đình cần phải biết hy sinh đi ý riêng của mình. Như đã nói, những thành phần trong gia đình là những người chuyên môn, mà không ai khác có thể thay thế, nhưng không có nghĩa là chỉ làm theo ý mình. Vai trò của mỗi người trong gia đình chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được thi hành cho và vì người khác. Nếu như vậy thì việc phải hy sinh ý riêng là điều quan trọng. Nghĩa là, người đó thi hành vai trò của mình để nhắm đến nhu cầu hạnh phúc của người khác, trong khi vẫn giữ đúng vai trò của mình. Điều này khó, cho nên cần được sự tôn trọng từ người khác. Ví dụ: người chồng sống và thi hành vai trò là chồng vì nhu cầu hạnh phúc của vợ, nhưng để chồng có thể sống tốt vài trò là chồng thì cần phải có được sự tôn trọng của vợ; trái lại chồng cũng phải tôn trọng vợ và giúp vợ thi hành tốt vai trò làm vợ đối với chồng. Rồi nữa, cha mẹ, con cái, anh chị em đối với nhau cũng vậy, tất cả cần phải hy sinh ý riêng vì người khác trong khi thi hành vai trò của mình đới với nhau, và cần phải tôn trọng nhau theo đúng như vai trò và trách nhiệm của mỗi người. Được như vậy, chắc chắn gia đình sẽ thực sự trở thành một hang đá sống động cho Chúa ngự.

Sau cùng, một yếu tố quan trọng nữa là, tất cả mọi người trong gia đình cần phải có được sự đồng thuận trong việc xây dựng gia đình mình thành một hang đá sống động. Thực vậy, khi làm một hang đá, mọi người cần phải thống nhất với nhau chủ đề cho hang đá đó. Một người chịu trách nhiệm chung đề xướng, mọi người cùng góp ý và đi đến thống nhất, và khi đã thống nhất thì mọi người cùng hy sinh, góp phần của mình để thực hiện. Cũng vậy, trong gia đình, người chồng, người cha chính là người chịu trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình mình nên tốt, vợ và các con là những người cùng góp ý, và rồi cùng nhau di đến một thống nhất chung cho mô hình gia đình mà mình cần phải xây dựng. Mô hình gia đình mà mỗi gia đình cần phải noi theo chính là gia đình Thánh Gia. Tuy nhiên, bằng cách nào để thực hiện mô hình đó thì tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi gia đình, mà mọi thành viên trong gia đình đó cần phải thống nhất.

Trên đây là những phương thế căn bản để mỗi gia đình có thể áp dụng để xây dựng gia đình mình thành hang đá sống động để cho Chúa ngự. Một hang đá chỉ thực sự là hang đá đúng nghĩa cho ngày lễ Giáng Sinh là hang đá phải có Chúa Hài Đồng trong đó. Cũng vậy, gia đình chỉ thự sự được bình an và đạt được ý nghĩa đích thực của nó khi có Chúa hiện diện. Vậy, để Chúa có thể hiện diện trong gia đình thì mỗi người trong đó cần phải biết nỗ lực và cùng nhau xây dựng gia đình mình thành một hang đá. Hang đá đó không phải được xây dựng bằng vật chất, mà bằng chính những hy sinh, sự phục vụ và tình yêu mà mỗi người trong gia đình dành cho nhau. Đây chính là những chất liệu mà mỗi người trong gia đình có thể góp phần để xây dựng gia đình mình thành một hang đá sống động, bền vững và xứng đáng để cho Chúa ngự vào.

Chúa vẫn luôn muốn được sinh ra trong mỗi gia đình như trong hang đá Belem năm xưa. Vấn đề là mỗi gia đình có muốn mời Chúa vào hay khước từ Ngài như những chủ nhà trọ năm xưa (x. Lc 2, 1-7). Ngài coi các gia đình như nhà của Ngài, nhưng rất có thể các gia đình không muốn coi Ngài như người nhà, và đã khước từ Ngài (x. Ga 1, 11). Ước mong rằng, mỗi khi làm hang đá để đón mừng lễ Chúa Giáng Sinh, thì đó như một nhắc nhớ cho mỗi người và mỗi gia đình biết ý thức và tích cực cùng nhau xây dựng gia đình mình thành hang đá sống động để cho Chúa ngự. Đó là cách mỗi người và mỗi gia đình đang mời Chúa và tiếp đón Chúa. Và khi biết sẵn sàng đón tiếp Chúa như vậy thì gia đình sẽ được Chúa ngự vào và gia đình được bình an, mọi người thực sự là con Thiên Chúa, như được xác định trong Tin Mừng Gioan: "Những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa" (Ga 1, 12).

Hương Quê


NOEL, MÙA TẶNG QUÀ

 

Anh X Việt kiều, trước khi về VN nghỉ lễ Noen, điện thoại cho vợ biết anh sẽ tặng chị một món quà đặc biệt, nặng đến 70 ký. Chị Yhăm hở háo hức ra sân bay đón chồng.Trong trí chị vẽ ra hình ảnh ông chồng tay xách nách mang quà cáp, khệ nệ ôm vali đầy ắp áo quần hàng hiệu. Nhưng chị đã “xìu như cái lốp cán đinh”, khi thấy anh đi hai tay không. Về tới nhà, không dằn được thất vọng, chị cằn nhằn: Sao anh lại thất hứa? Anh X đáp: Thì anh đang vác một món quà 70 ký về tặng em đây! Chị Y trố mắt ngạc nhiên: Quà đâu, sao em không thấy? Đây nè, anh là món quà 70 ký dành riêng cho một mình em! Quả thật, vợ là quà Thiên Chúa tặng cho chồng và chồng là quà dành cho vợ.

A- Quà tặng là ngôn ngữ diễn tả tình yêu.

“Yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà dối cha dối mẹ, qua cầu gió bay”.Yêu càng sâu đậm, quà tặng càng nặng về lượng, càng dày về phẩm. Tình yêu đạt đỉnh cao trong hôn nhân, vợ chồng trao hiến cho nhau cả xác lẫn hồn, vật chất cũng như tinh thần: Bất khả nhượng, bất khả phân ly. Chung thủy khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời (x Ep 5,33). “Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ, mà gắn bó với vợ mình; và cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Mc 10,6-8). Mình với ta tuy hai mà một: Một xương một thịt, không chỉ trong thân xác, mà cả trong tâm hồn. Điều này được diễn tả tuyệt vời trong cách vợ chồng Việt Nam âu yếm gọi nhau: MÌNH ơi ! Đã MÌNH mà còn ƠI: Quá tuyệt, bởi vì “ ta với mình tuy một mà hai” ! Tình yêu vợ chồng được ví như hai thanh sắt của đường xe lửa, không thể thiếu nhau. Nếu mất đi một, chắc chắn chiếc xe lửa gia đình sẽ sụp đổ tan tành.

B- Tình yêu vợ chồng là hạt giống gia đình.

Lễ cưới, cô dâu thường ôm một lẵng hoa tươi đẹp. Một thời gian sau, thay vì bó hoa, nàng ôm ấp trong tay, áp sát vào lòng, một hài nhi. Với số vốn tình yêu, vợ chồng đã sinh lãi, đẻ lời: Con cái. Con cái là hoa quả tình yêu trao hiến của vợ chồng: Xin anh nhận đứa con này, là hoa quả tình yêu và lòng chung thủy của em.Người chồng cũng cần ý thức: “Con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban ”(Tv 127,3). Cùng với đứa con, là niềm vui, hạnh phúc, đồng thời là trách nhiệm của cha mẹ: Vì lợi ích mười năm trồng cây; vì lợi ích trăm năm trồng người”. Vì là người truyền sự sống cho con cái, cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng. Họ là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu. Gia đình là cái nôi thông truyền đức tin cho con cái, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho thế hệ trẻ (Giáo lý HTCG, số 2226). Cha nào con nấy; cha lành con thảo. Phúc đức tại mẫu. Con hư tại mạ, cháu hư tại bà. “Cây tốt mới sinh trái tốt; cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7,17). Gia đình quyết định tương lai nhân loại. Giáo Hội và xã hội tốt đẹp khi có những gia đình đạo đức thánh thiện.

C- Thánh Giáo Hoàng Gioan 23, lúc còn là giám mục, kỷ niệm sinh nhật 50, đã biên thư về song thân phụ mẫu: “Thưa cha mẹ, hôm nay con mừng lễ Ngũ tuần, Chúa thương ban cho con nhiều chức trong Hội Thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách; nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con hơn lúc con còn nhỏ, được ngồi trên đầu gối cha mẹ để nghe giảng dạy”. Cha mẹ hãy là tấm gương tốt sống động, khuôn thước mẫu mực cho con cái, để sau này chúng có thể nói về cha mẹ mình, như thánh nữ Têrêsa Hài đồng:” Thiên Chúa nhân lành đã ban cho tôi có một người cha và người mẹ rất thánh thiện, xứng đáng sống trên thiên đàng hơn là ở dưới trần gian “. Ngày 19.10.2008, tại Lisieux, nước Pháp, cử hành lễ phong Chân Phước cho cha mẹ của thánh Têrêsa. Đây là một kỷ lục độc nhất vô nhị, cả cha lẫn mẹ và con cái đều là thánh: Cây chi thơm lạ thơm lùng; thơm hoa thơm rễ, người trồng cũng thơm. Con cái là niềm vinh dự hạnh phúc, hay là nỗi cay đắng của gia đình; điều đó không tùy thuộc sự giàu nghèo, mà phần lớn tùy thuộc phong cách giáo dục và nếp sống của cha mẹ.

D- NOEN, mùa tặng quà

Tình yêu của Thiên Chúa luôn có những sáng kiến táo bạo, kỳ vĩ, bất ngờ! Lễ Noen nêu bật tình yêu của Thiên Chúa: “Yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một; để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Đêm Noen, Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta quà tặng quý nhất, kho báu giá trị nhất, tài sản đẹp nhất, chính là bản thân Ngài! Ngài hết sức chung thủy với loài người: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế ”. (Mt 28,20). Nhìn vào hang đá Bê Lem, bên cạnh Đức Mẹ, còn có thánh Giuse. Cuộc sống gia đình của các ngài có vui buồn, có an ủi thử thách; nhưng nhờ luôn vâng theo ý Chúa, biết yêu thương phục vụ lẫn nhau, Thánh Gia đã trở nên gương mẫu cho mọi gia đình.

E- Mùa Giáng Sinh, ước gì mọi thành viên trong gia đình công giáo noi gương Thánh Gia Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse, chẳng những “thuận vợ thuận chồng” , mà còn “thuận tử”, nhất là “thuận thiên”, tuyệt đối sống theo thánh ý Thiên Chúa; nhờ thế không chỉ “tát bể Đông cũng cạn”, mà còn thắng vượt mọi phong ba bão tố cuộc đời, được cập bến bờ hạnh phúc miên trường là thiên đàng tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.

 

HẠT CẢI


DƯ ÂM BAO MÙA GIÁNG SINH

 

Đã có biết bao mùa Giáng sinh đến với nhân loại kể từ khi Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, mang hai bản tính vừa là Thiên Chúa, vừa làm con người. Ngày nay, gần như không còn phân biệt quốc gia, sắc tộc, tiếng nói, tất cả lương giáo cùng đón mừng Giáng sinh với những kỷ niệm vui buồn nào đó của mỗi người trong đời. Khắp nơi trên trái đất khấp khởi hân hoan chuẩn bị mừng đón kỷ niệm Chúa giáng trần trước ngày chính lễ 25 tháng 12 cả một hai tháng. Người ta chuẩn bị từ cây thông, đèn sao, hang đá đến ông già Noel với bao quà bánh. Đối với người Kitô hữu, họ không quên chuẩn bị tâm hồn ngay lành, trong sạch để xứng đáng đón mừng Chúa Hài Đồng.

Một sứ điệp chính yếu không thể thiếu được trong bất cứ một hang đá dù nhỏ bé đơn sơ với ánh đèn dầu le lói hay không ánh đèn trong đêm tăm tối lạnh lẽo, cũng như với những hang đá đầy ánh sao được trang hoàng lộng lẫy lung linh sắc mầu rực rỡ. Sứ điệp đó đã được chính các sứ thần hát vang tung hô Chúa trong đêm đông giá buốt đón mừng Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần, nơi hang Belem cô quạnh chỉ có mục đồng thờ lạy Người, và bò lừa phà hơi ấm để Ngôi Hai Thiên Chúa làm người bớt lạnh lẽo, bớt cô đơn. Sứ điệp đó là: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Luca 2,14).

Trước hết là: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời”

Sứ điệp đã được các tạo vật do Thiên Chúa dựng nên, từ thuở tạo thiên lập địa, vẫn tiếp tục vận hành để ca ngợi Thiên Chúa đúng như sách Đanien đã nói: “Chúc tụng Chúa đi, mọi công trình của Chúa. Muôn ngàn đời, hãy ca tụng suy tôn. Chúc tụng Chúa đi, chín tầng trời thăm thẳm Muôn ngàn đời hãy ca tụng suy tôn”. (Đn 3, 57, 59).

Tất cả các tạo vật đều tuyệt đối vâng phục, tiếp tục vận hành theo đúng các qui luật tự nhiên vô cùng phước tạp, vô cùng tinh vi kỳ diệu trong một trật tự lạ lùng do Chúa tạo dựng, mà các nhà khoa học từ bao đời nay đã và đang ra sức tìm hiểu khám phá, nhưng xem ra chưa biết được là bao giữa thiên nhiên hùng vĩ bao la vô tận này. Những qui luật kỳ diệu và lạ lùng đó do chính Thiên Chúa tạo dựng để trái đất này, có ngày có đêm, có âm, có dương được giao hòa với nhau một cách hài hoà tốt đẹp; có bốn mùa xuân hạ thu đông, hầu phục vụ con người do Chúa yêu thương dựng nên giống hình ảnh của Người.

Con người có hồn thiêng bất tử để nhận thưởng phạt mai sau; có lương tâm để biết điều phải trái; có lý trí để suy xét; có tự do chân chính để biết hướng về Chân, Thiện, Mỹ. Con người hơn hẳn muôn loài và được cai quản trái đất, vũ trụ và muôn loài theo ý định của Thiên Chúa đã có từ thuở đời đời. Muôn loài thụ tạo đã tuyệt đối vâng phục thực hiện để tôn vinh Chúa, để phục vụ con người. Còn con người cao quí hơn muôn loài thụ tạo đã tôn vinh Chúa ra sao?

Lịch sử mấy nghìn năm của nhân loại, đã cho ta thấy một Giáo Hội: Công giáo, thánh thiện và tông truyền đã được chính Đức Giêsu thiết lập, dù trải qua bao phen bị ngăn cấm, bị bách hại, song Giáo Hội vẫn mãi vững mạnh trường tồn để ca tụng để loan báo Thiên Chúa cho muôn dân đến hôm nay và mai sau. Lịch sử nhân loại cũng như Việt Nam cũng đã cho biết có biết bao Kitô hữu sẵn sàng hy sinh tất cả, ngay cả mạng sống để bảo vệ đức tin, để tôn vinh Chúa.

Tiếp đến là: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.

Chính vì yêu thương con người, và đặc biệt là những người nghèo khó cô đơn không quyền thế, không nhà cửa, sống lay lất, nên Ngôi Hai Thiên Chúa đã giáng trần hoà nhập với các mục đồng, những người nghèo khó, lớp người thấp cổ bé họng nhất trong xã hội loài người của mọi thời. Quả thực, Chúa thương yêu tất cả mọi người, Người không loại trừ một ai, dù không ít người đã phản bội Chúa.

Tuy nhiên, dư âm lớn nhất mãi vang dội trong chúng ta là mầu nhiệm Thiên Chúa làm người cứu chuộc nhân loại. Làm sao ta có thể hiểu nổi một mầu nhiệm: Ngôi Hai xuống thế làm người, và xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại, nếu không được chính Thiên Chúa yêu thương mạc khải cho chúng ta biết. “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng loài người một cách lạ lùng, nhưng còn cứu chuộc loài người cách lạ lùng hơn nữa”  (Kinh Tiền tụng).

Mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa làm người chịu chết chuộc tội cho nhân loại là mầu nhiệm vĩ đại nhất của đạo Công giáo đã đang và mãi mãi được Giáo Hội loan truyên cho muôn dân. Đây cũng là mầu nhiệm trung tâm, trọng đại nhất của đạo Công giáo mà mỗi Kitô hữu không những luôn xác tín mà còn cùng Giáo Hội loan báo cho bao người chưa nhận biết Thiên Chúa, để họ cùng tôn vinh Chúa để xứng đáng là con cái của Người. Đây là một lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho muôn loài thụ tạo” (Mc 16,15).

Xin Chúa Thánh Thần soi sáng để con nhận biết và thực thi sứ điệp cao cả trong đêm giáng sinh mà Thiên Chúa vì yêu thương con người đã sai các sứ thần loan báo cho muôn dân: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.

Inhaxiô Đặng Phúc Minh


HUYỀN NHIỆM GIÁNG SINH

Hạ Vấn

                                                                                                     Hạ Vấn

Giữa sự rạn vỡ của kiếp người và sự thờ ơ hững hờ của lòng người; Con Thiên Chúa giáng trần trong thân phận của một phàm nhân. Ngài không chọn một cung điện huy hoàng và hoành tráng nhưng lại chọn một máng cỏ bé nhỏ khó nghèo. Ngài là Đấng quyền uy nhưng không thích mang danh phận cao quý. Ngôi Hai Thiên Chúa có nhiều phương thế để cứu chuộc thế gian nhưng lại chọn cho mình theo kế hoạch của Cha Ngài. Ngài nhập thế bằng con đường nhập thể. Chính con đường khiêm tốn âm thầm mà Người khai mở một biến cố vĩ đại thiên niên.

Con Thiên Chúa làm người mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn thể chúng sinh. Người là nguồn sống được gieo vào vùng đất chết để nhờ cái chết của Người mà làm trổ sinh mầm sống vô cùng. Ngài như nắm men trộn vào khối bột thế gian. Ngài trở thành ánh sáng hy vọng soi tỏ con đường cho những người đang thất vọng. Ngài như linh dược nhiệm mầu xoa dịu vết thương đau của cõi lòng nhân thế. Biến cố Giáng Sinh làm dậy lên tình mến cho muôn con người. Thế nhưng không phải ai cũng nhận ra điều ấy.

Thiên Chúa khi giáng trần thì âm thầm đơn nghèo. Bây giờ ngày lễ Giáng Sinh được tổ chức rộn ràng và được trang hoàng rực rỡ. Việc tổ chức lễ Giáng Sinh chẳng có tội tình gì nếu nó thực sự là ngày lễ của tình tương thân tương ái. Sự lộng lẫy của hang đá sẽ chẳng phải là lời kết tội nếu nóđược kết dệt bởi tình yêu thương. Điều Thiên Chúa muốn mời gọi ta trong ngày lễ Giáng Sinh là quan tâm đến kẻ nghèo hèn bé nhỏ. Ngài có thể sinh ra nơi cung ngọc điện ngà. Nhưng Ngài lại chọn nơi hèn hạ hôi hám để sinh ra. Ngài dạy bài học khó nghèo và khiêm nhượng vì yêu thương.

Ngày nay thiên hạ phần lớn thích sự rộn ràng của ngày lễ Giáng Sinh hơn là tính cách âm thầm của Con Thiên Chúa khi xưa. Người ta vui nhưng lại quên đi Đấng mang lại niềm vui. Chẳng có hang đá nào đẹp bằng hang đá của lòng bác ái và bao dung.

Bác ái là mở ra một con đường hiệp thông sự sống. Chính trên con đường này mà người ta đến với Chúa qua anh em mình. Tình người là con đường để Chúa đến với mỗi cá nhân. Lòng yêu thương và không thù hận là máng cỏ Chúa yêu chuộng hơn hết. Hang đá nội tâm được làm bằng sự hy sinh và sự quan tâm thì đẹp biết chừng nào.

Món quà Chúa thích là món quà cho đi mà không tính toán. Món quà đó được gói bằng lớp giấy chân thành, dán bằng băng keo lòng người và được điểm tô bằng những bông hoa của sự vui vẻ. Dấu ấn niêm phong trên món quà đó chính là một con tim hồng tươi. Có lẽ không có gì đẹp bằng món quà đó. Chắc chắn Chúa sẽ hân hoan và vui sướng trong lòng biết bao. Sự ngọt ngào của hạnh phúc sẽ tuôn trào nơi những ai trao đến tha nhân món quà như vậy. Và người ấy sẽ nhận được một món quà giá trị gấp bội. Bạn đã tặng quà như thế cho ai chưa?

 

 

CHÚA GIÁNG SINH

Đức An

           

Cái rét mùa đông như cắt da, tay chân tê cóng không muốn động tới nước. Bầu trời xám xịt bởi những đám mây đen. Người ta không muốn ra khỏi nhà khi sương chiều xuống. Thế mà, từ xa hai bóng người đang lầm lũi trên đường vắng. Từng làn gió lạnh thổi về, tuyết bắt đầu rơi mỗi lúc dầy thêm phủ đầy mặt đất.

            Hai bóng người mỗi lúc gần hơn, họ đang đi về phố chợ. Đó là hai vợ chồng có lẽ từ phương xa mới tới. Bóng đêm đã bao phủ không gian, cái lạnh thấu xương, hai người phải tìm chỗ trọ qua đêm. Người đàn ông gõ cửa từng nhà hỏi mướn chỗ trọ, nhưng đều bị trả lời: “hết chỗ rồi”, có nhà hé cửa thấy người đàn bàn mang thai nên cũng từ chối. Thế là hai ông bà không tìm được chỗ nghỉ qua đêm. Người đàn ông nhận ra vợ mình có vẻ đau, ông cảm nhận một sự cố sắp xẩy đến nên vội vàng tìm một túp lều bỏ trống nhưng cũng không có, thật là “hoạ vô đơn chí”, biết xoay sở sao đây? Ông đành dắt lừa và vợ ra đồng vắng, may ra tìm được nơi tạm trú qua đêm, cuối cùng cũng tìm được một hang trong vách núi, hang các mục đồng thường trú cùng với mấy chú chiên con. Ông dìu vợ vào hang, mùi phân chiên hoà với cỏ khô nồng lên khó chịu, ông dọn sơ để có chỗ cho bà nghỉ, rồi vội vàng ra ngoài hang tìm mấy nhánh củi khô đốt trong hang để xua bớt cái lạnh. Đêm thanh vắng có tiếng khóc của trẻ thơ nghe không rõ, không thể lầm được, ông vội vàng tất tả chạy ngược về hang. Một cảnh tượng khó tin: Một bé thơ bọc trong khăn đặt nằm trong máng cỏ, vợ ông đang quỳ khấn nguyện, phản ứng tự nhiên ông cũng quỳ xuống cùng cầu nguyện. Mấy chú mục đồng ở đâu lục tục tới dẫn mấy con chiên làm lễ, vào bái lạy Hài Nhi.

            Ôi! Tiếng khóc trẻ thơ đã đi vào lich sử của một đêm lạnh giá. Một đêm linh thiêng, đêm thánh vô cùng. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên một đêm đông tuyết đầy trời đã trở thành lịch sử, mà dư âm của nó vẫn còn vang vọng đến muôn đời.

            Một đêm Con Chúa Trời giáng sinh trong hang bò lừa. Cảnh khốn cùng của một gia đình đã cho chúng ta phải đặt vấn đề: Thiên Chúa quyền phép vô song lại để con một người hoá thân làm người sinh nơi cơ hàn đến thế sao? Một Hài Nhi sinh ra vào một đêm đông giá rét trong hang bò lừa ngoài cánh đồng thế sao? Theo cái nhìn của người đời: Hài Nhi đó thật bình thường, thậm chí còn tầm thường hơn những đứa trẻ khác. Chính sự thấp hèn và tầm thường đó, kể cả ông Giuse và bà Maria không nhà cửa cùng với mục đồng đang quây quần bên một hài nhi quá khiêm tốn. Có ai hiểu được hài nhi đó là Con Thiên Chúa, là vị cứu tinh của nhân loại ? Tất cả đó là món quà Thiên Chúa tặng cho con người: Ngôi Hai Thiên Chúa được gói gọn trong một bé thơ yếu đuối, đã nói lên một sự giao hoà giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa với con người. Ôi! Mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa.

            Ngày nay cũng như những mùa đông khác, ngưới ta đang háo hức chờ đón Noel. Một mùa Giáng sinh 2014 lại về trên quê hương. Từ thôn quê tới thành thị lại nhộn nhịp, với ánh đèn nhấp nháy giăng đầy trên những cành thông. Đó là những hình ảnh sống động: Cây thông, hang đá, máng cỏ, ông già Noel, đâu đâu cũng nghe những bài thánh ca mừng Chúa giáng trần. Người người cùng chung một niềm vui dạt dào đón mừng mùa xuân cứu thế. Không riêng những người Công giáo, mà kể cả những người chưa nhận biết Đức Giêsu, hoặc chưa nghe nói về Ngài, tất cả đều cảm nhận như một ngày hội lớn. Kỷ niệm ngày Chúa Giáng sinh đã trở thành một sự kiện chung của mọi người trong thời đại chúng ta.

            Bởi thế, mỗi mùa Giáng sinh về, lại là cơ hội để người Kitô hữu  chúng ta sống thân tình với Chúa Hài Đồng, và nhận ra tình yêu của Chúa dành cho mỗi người chúng ta, cho gia đình và quê hương Việt Nam. Chính vì thế trong những ngày này, chúng ta cần dành thời gian lắng đọng tâm hồn để suy niệm lời Chúa. Như thế chúng ta mới cảm nghiệm được sự kiện lịch sử mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thế trong chương trình cứu chuộc. Ước gì lời Chúa sống mãi trong gia đình chúng ta. Và mong sao bài thánh ca năm xưa của ca đoàn Thiên Thần hát trong đêm cực thánh sẽ còn vang mãi nơi tâm hồn mỗi người:

VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM 

                                                                                      


GIÁO LUẬT

 

Hôn nhân tự nhiên và hôn nhân bí tích

 

Trả lời:

 

1. Hôn nhân tự nhiên

Hôn phối là giao ước giữa một người nam và một người nữ để tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái (x. Bộ Giáo luật, điều 1055 §1). Đó là hôn nhân tự nhiên.

Chính Thiên Chúa đã thiết lập hôn nhân tự nhiên khi Người ra lệnh: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất” (St 1,28; 9,7). Là tác giả của hôn nhân, Thiên Chúa đã thiết lập và quy định những luật lệ cho nó (x. GLHTCG, số 1603; x. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, số 48): “Sự nên một thân mật, nghĩa là việc hai người trao hiến cho nhau, cũng như lợi ích của con cái, đòi hỏi đôi phối ngẫu hoàn toàn chung thủy và đòi buộc nơi họ sự duy nhất bất khả phân ly” (GLHTCG, số 1646; x. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, số 48).

Chúa Giêsu cũng đã khẳng định lại điều này: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán: ‘Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt’. Như vậy họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 4-6).

Như vậy, hôn nhân tự nhiên cũng mang những đặc tính chính yếu là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly.

Đối với hai người phối ngẫu không được rửa tội, hôn nhân tự nhiên của họ nếu không có ngăn trở theo luật tự nhiên và thiên luật thì được Giáo Hội công nhận, coi là thành sự, mặc dù chỉ cử hành theo nghi thức dân sự. 

2. Hôn nhân bí tích

Đối với các Kitô hữu, giao ước hôn nhân tự nhiên đó đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích (x. Bộ Giáo luật, điều 1055 §1). Cho nên, “giữa hai người đã được rửa tội không thể có khế ước hôn nhân thành sự, nếu đồng thời không phải là bí tích” (x. Bộ Giáo luật, điều 1055 §2). Vì thế, giữa hai người đã được rửa tội thành sự, dù là công giáo hay không, không thể có hôn nhân tự nhiên, mà chỉ có hôn nhân bí tích mà thôi.

Trong hôn nhân Kitô giáo, những đặc tính chính yếu của hôn nhânlà sự đơn nhất và sự bất khả phân ly có một sự bền vững đặc biệt, vì có tính cách bí tích (x. Bộ Giáo luật, điều 1056). Tính bí tích của hôn nhân là một điều kiện quan trọng đưa đến hiệu quả là: “Hôn nhân thành nhận và hoàn hợp không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong” (Bộ Giáo luật, điều 11141).

3. Hôn nhân tự nhiên trở thành hôn nhân bí tích

Giáo luật quy định hôn nhân thành sự giữa hai người phối ngẫu đã được rửa tội là hôn nhân bí tích (x. Điều 1055 §2). Như vậy:

- Hôn nhân thành sự (có phép chuẩn hôn phối khác đạo) giữa một bên rửa tội, một bên không được rửa tội là hôn nhân tự nhiên.

- Hôn nhân thành sự (hợp pháp theo luật dân sự) giữa hai người không được rửa tội là hôn nhân tự nhiên.

Có 3 trường hợp có thể xảy ra:

- Trong trường hợp một bên rửa tội và một bên không được rửa tội, nếu người không được rửa tội lãnh nhận phép rửa tội thì hôn nhân tự nhiên thành sự trước kia sẽ trở thành hôn nhân bí tích.

- Trong trường hợp hai người phối ngẫu không được rửa tội khi kết hôn theo luật dân sự với nhau, sau đó hai cả hai được rửa tội, thì hôn nhân tự nhiên thành sự trước kia sẽ trở thành hôn nhân bí tích.

- Trong trường hợp hai người phối ngẫu không được rửa tội khi kết hôn theo luật dân sự với nhau, sau đó chỉ có một trong hai người được rửa tội, thì hôn nhân tự nhiên thành sự trước kia không trở thành hôn nhân bí tích (theo Điều 1055 §2 phải là hai người đã được rửa tội).

Nhưng trong cả ba trường hợp vừa kể, không đòi phải lập lại sự ưng thuận (không có cử hành nghi thức hôn phối) vì hôn nhân đã thành sự ngay từ đầu (Bộ Thánh Vụ, 20/9/1848; 20/7/1860).

 

 

GIÁNG SINH TÌM CHÚA

Chúa ơi! Chúa đã giáng trần,

Xôn xao tinh tú, triều thần hoan ca.

Niềm vui từ đó loan ra

Báo tin Đấng Cứu Độ ta lạ lùng.

Ngài từ thiên quốc cửu trùng,

Hạ thân xuống thế ở cùng trần gian.

Từ đây ân phúc Ngài ban,

Như ơn mưa móc chảy tràn muôn nơi.

Yêu Ngài tin kính đầy vơi,

Mến Ngài con sẽ muôn đời tụng ca.

Trọng tâm nhập thể chính là:

Đất trời nối kết để mà giao duyên.

Nói lên hạnh phúc khởi nguyên,

Như Adam mới tinh tuyền trắng trong.

Giáng sinh con lại chờ mong

Tìm trong hang đá thấy lòng Chúa yêu.

                    Phêrô Nguyễn Đức Thời, GX Thái Hòa


GIÁO DỤC

 

KHEN - NÊN HAY KHÔNG?

 

Tôi đã được nghe rất nhiều những lời khen từ nhiều thành phần trong xã hội: Cha mẹ khen về con của mình: nó siêng học lắm, ngoan và hiền lành nữa. Cấp trên khen cấp dưới hay ngược lại: ông ấy, bà ấy, cô ấy, anh ấy làm việc rất năng động và hiệu quả. Thầy cô khen học trò mình: em ấy giỏi nhất lớp, thi đậu mấy trường đại học. Đại khái là những lời khen mà người ta vẫn thường gọi là lời khen có cánh.

Ông bà ta vẫn thường khuyên: lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Và hình như những lời khen theo kiểu có cánh này đã làm cho nhiều người nghe phổng mũi, mát lòng, mát dạ. Người nghe biết là người khen hơi quá nhưng vẫn thích nghe.

Trong phương pháp giáo dục trẻ, người ta khuyên đôi lúc cũng cần có những lời khen để như là một hình thức cổ vũ và khuyến khích các em có tinh thần học tập. Nhưng bạn và tôi cũng nên cẩn thận và xem lại những lời khen có cánh đó nó có nguy cơ hay tai hại gì không nhé?

Lời khen nó có hai tác dụng: một là tích cực, hai là tiêu cực.

Tích cực ở chỗ: Khi bạn và tôi khen một ai đó mà đúng với sự thật, thì nó làm cho người nghe cảm thấy những gì mình làm là đúng, là ý nghĩa, làm hài lòng mọi người, thì họ sẽ cố gắng phát huy điều mình đã làm. Từ đó, bản thân người được khen cố gắng hơn nữa để được nhiều người khen tặng. Còn tiêu cực ở chỗ: lời khen mang tính hơi cường điệu, tâng bốc quá đáng thì dẫn đến người nghe cảm thấy được hãnh diện, tự tin. Và cũng từ chỗ tự tin dẫn đến tự kiêu và tự mãn cũng không là bao xa. Và kết quả người được khen sống trong ảo tưởng. Như vậy, bạn và tôi cần để ý và để lời khen của bạn và tôi phải đúng người, đúng nơi, đúng lúc và đúng mục đích.

Trong môi trường học đường, tôi vẫn thường nghe các thầy cô giáo khen và chê học sinh của mình. Dĩ nhiên ngoan và học giỏi thì được khen. Quậy phá và học dốt thì bị chê. Lẽ thường tình của con người thì vẫn thích được khen nhiều hơn được chê. Thầy cô khen học trò mình giỏi, cha mẹ khen con cái mình ngoan, ông chủ khen nhân viên mình chăm chỉ. Tâm lý bình thường con người thì vẫn thích được người khác khen tặng.

Vậy bạn và tôi có nên khen hay không nên khen người khác? Chê hay không chê? Câu trả lời nằm trong suy nghĩ và quyết đoán của bạn đó. Bạn và tôi hãy dùng những lời khen đúng lúc, đúng người, đúng nơi và đúng mục đích hầu làm cho người nghe có suy nghĩ tích cực làm phát huy cuộc sống, đừng để lời khen mang tính tâng bốc quá đáng làm cho người nghe sống trong ảo tưởng và đi sai mục đích. Và bên cạnh đó, cũng đừng quá chê trách, lên án người khác làm cho họ cảm thấy bị thua thiệt, thất vọng và buông xuôi, vì trong cuộc sống không ai là không có lần sai để bị chê trách, và không ai lại không có lần được người khác khen.

Giáo dục để một con người nên tốt và có ích cho xã hội không chỉ trong một thời gian ngắn, mà là cả cuộc đời, không chỉ của một cá nhân mà là của một tập thể, không chỉ trong một môi trường nhỏ nhưng cả một xã hội đều mang tầm quan trọng dẫn đến hình thành một con người hoàn hảo và được mọi người kính trọng và nể phục.

Vs. Lê Đình

 


AN 安vGIAN 姦

AN

Yn ổn

Thư thái

Ổn định

AN 安(yn ổn)= Min 宀(mi nh)

+  Nữ 女(người nữ)

Nhà có người nữ,

bình yn đầy đủ mọi bề.

 

Hai chữ đều có chung chữ Nữ 女nhưng lại rất khác nhau.
 “Mọi vật đều tuyệt vời khi nó ở đúng vị trí của nó” là đây:

安Khi NỮ ở đúng vị trí của mình l ở dưới mái nhà (Miên 宀) thì nh được ổn định, gia đình m ấm. Chồng an tm khi biết chắc Vợ hiện diện ở nh, cửa nh ngăn nắp, con cái được chăm sóc. Con cái an tâm khi biết Mẹ ở nhà. “Mẹ ơi!” là câu đầu tiên người con dùng khi vừa về đến nhà, nếu gặp Bố trước thì sẽ l “Bố ơi, Mẹ đâu hả Bố!”

姦Khi NỮ không ở đúng vị trí của mình (l ở nh lo cho gia đình) m tụ ba ngồi mi nh l mối họa. “Hai người đàn bà và một con vịt là thành cái chợ”, vậy “ba người nữ xúm lại thì l hội chợ dưa-lê (ngồi lê nói chuyện dây dưa)”. Mọi sự rắc rối phiền phức thường bắt đầu từ đây: Đôi chối là gian, nhận xét vô trách nhiệm là gian; ý tưởng, hành vi bất chính là gian...

 

Chiết Tự Luận

Lm. JB. Trần Đinh Tử

GIÁO DÂN

TRUYỀN GIÁO VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA

1- Hiện trạng Giáo hội Việt Nam hiện nay

Với khoảng 6,87%,Việt Namquốc giacó tỷ lệ người Công giáo (trong tổng dân số) xếp thứ năm ở châu Á, sau Đông Timor, Philippines, LibanHàn Quốc. Tuy nhiên, so với quá khứ tỷ lệ người công giáo so với dân số hiện nay đang sút giảm và sẽ còn sút giảm (trên 7% dân số trước đây so với 6, 87%). Đây là một thực trạng đáng báo động khiến mỗi người Kitô hữu Việt Nam phải suy nghĩ lại về cách sống đạo và cách loan báo Tin Mừng của mình.

Có thể có nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan được đưa ra để lý giải cho tình trạng giảm sút này: Có thể do cách thức diễn tả và trình bày sứ điệp Kitô giáo, sứ điệp Tin Mừng chưa phù hợp, phong cách sống đạo của người Kitô hữu, và một số đường lối cũ xưa của Giáo Hội không đáp ứng được nhu cầu tâm linh và phong hóa của người dân theo đà phát triển của xã hội, do thế quyền. Theo cá nhân người viết, một trong những nguyên nhân cho thực trạng trên là do quá trình thích nghi và tiếp biến đức tin Kitô giáo vào nền văn hóa Việt (hội nhập văn hóa) còn nhiều hạn chế. Với khuôn khổ một bài viết ngắn, người viết không thể đi sâu vào phân tích từng chi tiết cụ thể của vấn đề vì đây là một vấn đề khá rộng lớn; và để có thể nghiên cứu thấu đáo cần nhiều thời gian và chuyên môn. Trong ý hướng ấy, nên bài viết sau đây chỉ đưa ra một số nhận định cá nhân mang tính chủ quan về vấn đề: đức tin và hội nhập văn hóa ở Việt Nam.

2- Hội nhập văn hóa là gì?

Hội nhập văn hóa là việc tiếp nhận những giá trị của một nền văn hóa. Thần học Kitô giáo sử dụng thuật ngữ này nhằm ám chỉ việc đem Tin Mừng vào các nền văn hóa, hoặc diễn tả tiến trình đức tin Kitô giáo theo những hình dạng văn hóa của các dân tộc (x. mục từ Inculturation, Thuật ngữ Thần học Anh-Việt, Học viện Đaminh  2002, trang 127).

3- Hội nhập văn hóa ở Việt nam

a- Thuận lợi

Ngay buổi đầu truyền giáo ở Việt nam, các vị thừa sai và nhà truyền giáo đã có nhiều cách tiếp cận với truyền thống và văn hóa Việt để truyền giáo: Góp phần sáng tạo ra chữ quốc ngữ, sáng tác các lời kinh, bài giáo lý, bài suy ngẫm dưới dạng thơ văn, vè. Không chỉ có các nhà thừa sai nhưng chính các giáo dân cũng có những sáng kiến để diễn tả niềm tin cách cụ thể phong phú phù hợp với nền văn hóa và truyền thống Việt: đi chặng đàng thánh giá Mùa Chay, dâng hoa kính Đức Mẹ tháng Năm, lần chuỗi tháng Mười, ngắm đứng Tam nhật vượt qua... những loại hình đạo đức bình dân này rất tốt vì nó giúp cho người giáo dân tham gia cách tích cực và chủ động; đồng thời cũng giúp họ hiểu được các ý nghĩa của Mầu nhiệm thánh qua những sinh hoạt ấy.

Thật thế, với sự sáng tạo của riêng mình, người dân Việt đã mặc cho các nghi lễ, cử hành đức tin, biểu tượng Kitô giáo một bộ áo văn hóa Việt tạo nên một nếp sống đạo theo cung cách rất Việt Nam. Nó không khác với niềm tin mà Chúa và Giáo Hội dạy nhưng vẫn thích hợp với phong hóa Việt Nam. Dần dần theo thời gian và nhất là sau Công Đồng Vaticanô II, với cái nhìn mới và nhiều hướng dẫn cụ thể cho cách diễn tả đức tin theo truyền thống dân tộc bản địa, giáo hội Việt Nam đã có những cố gắng đáng kể cho việc hội nhập đức tin vào nền văn hóa làm cho đạo Công giáo trở nên gần gũi hơn với dân Việt, chẳng hạn: Cho phép vái hương, dịch và in ấn kinh sách bằng tiếng Việt, ngôn ngữ cử hành phụng vụ cũng bằng tiếng Việt. Đây là một tín hiệu tốt cho việc hội nhập văn hóa. Tinh thần hội nhập và đổi mới trong cách diễn tả ấy đã mang lại một luồng sinh khí mới vào đời sống đạo của dân tộc Việt. Tuy thế, với không ít người ngoài đạo còn xem đạo Công giáo vẫn còn là một điều gì đó xa lạ khó hiểu và khó đón nhận, thậm chí còn có ác cảm nữa.

b- Những trở ngại

Từ khi Hàng giáo phẩm Việt Nam được thành lập quaTông Hiến Venerabilium Nostrorum, của Thánh Giáo hoàng Gioan XXIIIthiết lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Namngày 24 tháng 11năm 1960, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có những nỗ lực và cố gắng để thích ứng cách diễn tả đức tin Kitô giáo vào nền văn hóa Việt. Tuy nhiên, những thích nghi này vẫn còn nhiều hạn chế, chẳng hạn  như:

Hầu hết các kiến trúc nhà thờ cũng như các nghi thức tế tự, phụng vụ hầu như là “nguyên bản” của phương Tây. Có thể đơn cử: ban đầu việc đọc kinh, cử hành thánh lễ chỉ bằng tiếng Latin khiến cho giáo dân Việt chỉ đi xem lễ như xem một vở kịch mà diễn viên là chủ tế và các chú giúp lễ, còn họ là những “khán giả”. Những vị “khán giả” tham dự cách thụ động và máy móc. Có đi đấy nhưng chẳng hiểu chi hết vì có hiểu gì đâu!

Ngoài ra, theo người viết được biết ngay trong việc đào tạo các Đại Chủng sinh ở các Đại Chủng viện, môn học về các tôn giáo bản địa, nội sinh chưa được quan tâm đủ và đúng mức, nhiều chủng viện còn xem những môn học đó chỉ là phụ kèm theo một chương nhỏ vào giáo trình: các triết lý Đông phương, văn hóa tôn giáo, văn hóa Việt Nam, môn học so sánh đối chiếu tương đồng và dị biệt giữa các tôn giáo (comparative study of religion) cũng chưa đươc quan tâm. Điều này là một thiệt thòi lớn cho các ứng sinh linh mục tương lai.  Họ thiếu những hiểu biết về văn hóa, tôn giáo, nghi lễ của các tôn giáo hay văn hóa truyền thống của dân tộc. Hoặc có chăng chỉ dạy thôi nhưng chỉ dừng lại ở việc hiểu biết, một số “lý thuyết” chứ chưa đi sâu vào trình bày phương cách áp dụng những kiến thức ấy vào việc diễn tả chân lý đức tin Kitô giáo cho phù hợp với truyền thống văn hóa và đức tin. Điều này gây ra một khó khăn không hề nhỏ cho các linh mục trẻ khi thi hành tác vụ linh mục nhất là vùng truyền giáo.

Hơn nữa, ngôn ngữ trong nhà đạo không chỉ gây nhiều điều khó hiểu với lương dân nhưng ngay chính người Kitô hữu cũng chưa thể hiểu hết các từ ngữ nhà đạo. Đơn cử là những từ ngữ tên riêng các nhân vật và địa danh trong Kinh Thánh cho đến nay vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong các bản dịch. Phải công nhận đã có nhiều cố gắng để hội nhập nhưng chưa đủ và phù hợp giữa văn hóa và đức tin Kitô giáo. Hai trong số những ví dụ tiêu biểu là hình ảnh “Lưỡng long chầu nhật” nơi nhà tạm ở một số nhà thờ là một cố gắng để thích nghi với văn hóa dân tộc. Tuy nhiên với đức tin Kitô giáo thì con rồng là biểu trưng cho sự dữ như trong sách Khải Huyền có nói đến. Hay có một số nhà thờ kinh Lạy Cha được đọc trong thánh lễ với cung giọng niệm kinh của Phật giáo có kèm gõ mõ nữa!!!

Thêm vào đó là những hiểu lầm và ngộ nhận từ nhiều phía nên trong quá khứ đã có những hiểu lầm, tranh cãi thậm chí là những cấm đoán làm việc hội nhập đức tin vào văn hóa gặp nhiều trở ngại, chẳng hạn như việc thờ kính tổ tiên của dân tộc Việt đã là đề tài gây ra cuộc tranh luận gay gắt và kịch liệt giữa các nhà thừa sai, nên hay không nên? Nghịch đức tin hay không? Cho phép hay ngăn cấm? Đây là một trong những vấn đề lớn trong quá trình thích nghi đức tin Kitô giáo vào nền văn hóa Việt với nhiều sự kiện, bàn thảo và quyết định xảy ra. Cuối cùng, sau khi đã nghiên cứu kỹ, Tòa Thánh đã chấp nhận cho phép giáo dân các nước theo văn hóa Á Đông (nhất là Trung Hoa và Việt Nam) được phép thờ kính, vái lạy ông bà tổ tiên như là một cử chỉ tôn kính bậc sinh thành. Hướng dẫn này được áp dụng áp dụng từ năm 1965, một thời gian rất lâu sau khi Giáo hội Công giáo cho phép thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Một sự thích nghi, hội nhập có vẻ hơi chậm? Hơn thế nữa, năm 1974 một số Đức Giám mục Việt Nam đã đưa ra một thông cáo nhắc lại việc cho phép của Hội Thánh trong việc thờ kính tổ tiên ông bà. Điều này là minh chứng cho thấy giáo dân Việt vẫn chưa am tường hết và thực hành hướng dẫn này cách rộng rãi. Một số nguyên nhân có thể là:

Hàng giáo sĩ cũng như các tu sĩ vẫn mang tâm thức và não trạng truyền giáo, hay hội nhập của truyền thống, xưa cũ nên kết quả là rất ít nếu không muốn nói là hầu như chẳng có gì là đáng kể.

Do nền văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Tam giáo. Nó đã ăn sâu vào lối suy nghĩ và nếp sống của người Việt. Người Việt khó có thể đón nhận những gì ngoài “truyền thống” Tam giáo lâu đời ấy; nhất là những gì đến từ Tây phương như Kitô giáo.

Một đặc điểm của người Việt là rất tôn trọng truyền thống, có xu hướng bảo thủ; chọn lối sống an phận, ngại thay đổi, câu nệ truyền thống, sợ gặp rắc rối  nên chẳng thể hay nếu có cũng chẳng dám phát huy sáng kiến;

Phương pháp và cách thế truyền giáo: não trạng độc tôn tôn giáo, sống quy tụ lại những làng toàn tòng công giáo và khép kín không mở cửa giao lưu với lương dân theo cách “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Những làng công giáo này được ví như những ghetto của người Do Thái. Vì sao? Xin thưa để bảo vệ đức tin được “nguyên tuyền” cách ly khỏi người lương dân và chủ thuyết, niềm tin khác với niềm tin của mình.

4- Kết luận

Chủ trương của Công đồng Vaticanô II là luôn tôn trong các chân lý, giá trị tôn giáo khác. Đường hướng đã được Công đồng Vaticanô II đưa ra 50 năm nay rồi; nhưng dường như hiện nay điều này vẫn còn trong “giấy tờ” chưa thoát ly khỏi lý thuyết và áp dụng vào thực tế được, chí ít là ở Việt Nam. Từ đó, chúng ta thường có những đánh giá sai lạc về chân lý, giá trị truyền thống các tôn giáo khác. Từ quan niệm sai lạc, khép kín và không cởi mở nên chưa có thể có những hiểu biết và đối thọai cho phù hợp nên khó hội nhập cũng là điều dễ hiểu. Nên:

Cần xét lại quan điểm và cách tiếp cận với nền văn hóa truyền thống cũng như các tôn giáo nội sinh trong lòng nước Việt. Để khởi đi từ đó, có cái nhìn đúng đắn và rộng khắp và sẽ dự phóng một lộ trình cụ thể cho việc hội nhập đưa đức tin Kitô giáo vào lòng văn hóa dân tộc. Đây cũng là đường hướng và những cố gắng mà giáo hội Việt Nam đã đề ra và thực hiện chương trình 3 năm “chương trình” Tân Phúc Âm hóa; như số 4 trong Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2013 nêu rõ: cần “Mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”. Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm”.Ước mong sao Tin Mừng của Chúa ngày càng phát triển trên mảnh đất Việt thân thương này.

Felicitas

 

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH AN BÌNH

CHÚCnhau hồng phúc Noel
MỪNG Con Chúa đến, Người đem an lành

GIÁNGtrần cứu chuộc nhân gian
SINHra trong cảnh cơ hàn đêm đông
ANvui cho các mục đồng
BÌNHyên nhân thế, thắm nồng bao la

                                        HOÀI THANH Gx Ngọc Thạch

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

 

VỊ KHÁCH CÔ ĐƠN

 

Vào một đêm Giáng sinh, đường phố ngập tràn muôn ánh đèn màu và từng lớp người mừng vui bước đi. Tôi muốn lẩn tránh những âm thanh ồn ào, tìm kiếm một vài phút giây thinh lặng để suy nghĩ về con người vĩđại nhất mà thiên hạ đang tôn kính. Con người ấy đã sinh ra làm thân trẻ nhỏ nơi máng cỏ Bêlem, đã chết một cách ô nhục như một tên tội phạm với khổ hình thập giá trên đỉnh đồiCanvê. Tôi dừng chân và ngồitrên chiếc ghế đá công viên, để mặc cho những tâm tư trào dâng. Một lúc thật lâu, tôi bỗng giật mình vì có một người đã ngồi bên cạnh mìnhtừ lúc nào tôi cũng chẳng hay biết. Người đó đang cầm một cành cây khô và vạch những đường nét bâng quơ trên mặt đất. Tôi nghĩ rằng: Ông ta cũng là một kẻ cô đơn. Dường như đọc được suy nghĩ của tôi, người ấy nói:

- Chào anh.

Tôi thận trọng đáp lễ:

- Dạ, xin chào ông!

Rồi tôi gợi chuyện:

- Hẳn ông là một kẻ xa lạ trong thành phố này?

Người ấy đáp:

- Phải, tôi là một kẻ xa lạ trong thành phố này cũng như mọi thành phố khác.

Tôi hỏi tiếp:

- Chắc ông cũng cảm thấy vui trong bầu khí từng bừng của đêm Giáng sinh hôm nay chứ?

Ngươi ấy đáp:

- Vào những ngày như thế này, tôi lại càng cảm thấy xa lạ và cô đơn hơn bao giờ hết.

Tôi nói tiếp:

- Dường như ông đang cần một sự giúp đỡ? Vậy xin ông vui lòng nhận lấy mấy đồng bạc này.

Tôi mở bóp và đưa tiền. Thế nhưng, người ấy vội xua tay, lắc đầu vơi vẻ chán ngán:

- Tôi rất cần một sự giúp đỡ, nhưng không phải là tiền bạc.

Tôi đề nghị:

- Hay là ông về nhà tôi để chúng ta cùng nghỉ ngơi?

Người ấy bảo:

- Tôi cần một nơi để nghỉngơi, một chỗ để tựa đầu, một mái nhà cho tâm tư chìm lắng. Tôi đã cố gắng đến mọi quán trọ, đã gõ cửa mọi căn nhà, nhưng tất cả đều vô ích. Tôi mệt mỏi nhưng không thất vọng. Đúng ra tôi không tìm một ngôi nhà, nhưng tìm một tâm hồn, tìm một nơi nghỉ ngơi trong lòng người.

Tôi nhìn thấy một giọt nước mắt nhỏ rơi trên gò má người

ấy. Nói rồi, người ấy đứng lên, giơ hai tay ra phía trước. Tôi bỗng nhìn thấy những dấu đinh nơi lòng bàn tay. Tôi bàng hoàng phủ phục và kêu lên:

- Ôi! Giêsu Nazarét

Lúc  bấy giờ Chúa nói tiếp:

- Mọi người đang tôn vinh Ta, đang thêu dệt chung quanh Ta những huyền thoại, những hào quang rực rỡ. Còn về Ta, Ta mãi mãi vẫn chỉ là một kẻ xa lạ và cô đơn trên mặtđất này. Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có lấy một chỗ tựa đầu.

Mộng Uyên, Giáo họ Ba Khu

Sưu tầm

 


NGÔI SAO LẠ

 

Ngày ấy, suốt con kinh Ba Ngàn chỉ có toàn nhà mái lá, vách lá, họa hoằn mới có vài căn nhà lợp tôn hay fibro, chỉ một mình ông Hai có được căn nhà xây. Người ta không biết, hay biết rồi cũng quên tên cúng cơm của ông. Họ gọi ông bằng cái tên rất Nam Bộ, rất bình dân, rất thân thiện, rất tình thương mến thương, nhưng không lẫn với ai được, ông Hai Nhà Tường. Chỉ nghe cái tên thôi, ai cũng biết ông là người có của ăn của để, thậm chí giàu có nữa. Đã giàu thì phải sang. Ông không muốn ai nghĩ ông chỉ là một tay trọc phú, coi đồng tiền như cái bánh xe. Đã sang thì phải cho con đi học. Đã đành phận, tuổi ấu thơ ông đầu tắt mặt tối, có được học hành gì đâu, trình độ học vấn của ông chỉ đủ đọc những tập mỏng sáu câu vọng cổ của Viễn Châu, Năm Châu, Thanh Quang, Thanh Hiền… Nhưng ông quyết chí dồn hết tâm tài lực để con ông có thể bước vào tháp ngà đại học. Hai cô con gái của ông, Kim Chi và Ngọc Diệp, hơn kém nhau một năm tuổi, đúng là một thứ cành vàng lá ngọc, ông gởi đi học nghe đâu mãi trên Sài Gòn từ năm tốt nghiệp phổ thông, nội trú ở một lưu xá do các sơ nhà dòng coi sóc. “Mùi thiền đã bén muối dưa” (Kiều), nên hai cô cũng bén mùi nhà dòng rồi chả mấy chốc đã bén mùi đạo. Trời xui đất khiến thế nào không biết, họ quen, rồi thân, rồi thương, rồi yêu, rồi lấy chồng người bên đạo. Hai cô “đi đạo”. Ông Hai Nhà Tường phân bua với họ hàng nội ngoại:

- Thiệt tình, tôi đâu có ưa đạo mấy ông cha. Đạo gì mà kỳ cục thấy mồ, ngày giỗ, ngày tết, con cháu rượu thịt ê hề, để ông bà đói meo, không có được mâm cơm cúng? Đạo gì mà không biết thờ phụng tổ tiên? Đạo gì mà bất hiếu dữ vậy? Nhưng con gái là con người ta. “Xuất giá tòng phu”, lấy chồng thì phải theo chồng. Mà nói nào ngay, đạo nào không là đạo? Đạo nào không dạy con người ta ăn ngay ở lành?

“Nói nào ngay” là một kiểu nói ông Hai muốn phân bua với họ hàng rằng mình đã suy nghĩ chín chắn, đã cân đo đong đếm kỹ càng, đã biết người biết ta, đã công bằng với người với mình, đã thấu tình đạt lý, nên hai bên nội ngoại cũng… thôi.

Khi anh Tấn, con trai út, nhưng lại là trưởng nam của ông Hai, là cháu đích tôn của cả dòng họ, thi đậu vào đại học, ông Hai làm hẳn một con heo quay có đến năm chục kí-lô, vừa để cúng tạ ơn trời đất và ông bà tổ tiên cửu huyền thất tổ, vừa để ăn mừng cậu quý tử từ nay được gọi là sinh viên. Rượu vào, lời ra, ông Hai múa máy như những vị hảo hán trong vở tuồng cải lương ‘‘Tống tửu Đơn Hùng Tín’’:

 - Dô, dô ngheng. Một trăm phần dầu. Một, hai, ba, dô…

Máu rượu bốc lên, ông bóc vỏ lòng mình với chú Tư Máy Kéo:

- Con Hồng Đào nhà chú Tư hạp nhãn tui quá cỡ thợ mộc, mỏng mày hay hạt, lại đẹp người đẹp nết, dễ thương mút chỉ cà tha. Mình làm sui, ngheng, chú Tư! Ủa! Tui vô duyên quá trời quá đất luôn. Làm sui mà cứ kêu là chú Tư, nghe sao được, phải kêu là anh sui chớ bộ! Dô, năm mươi phần trăm dưới, ngheng, anh sui!

Chú Tư Máy Kéo vội vàng: 

- Khoan! Chưa đâu, cả nhà tôi, dân đạo gốc đó, Anh Hai không biết sao?

Đang cơn say rượu, say tình, ông Hai có nghe thấy chú Tư nói gì đâu. Ông xuất khẩu thành… vọng cổ: ‘‘Trời ơi! Dẫu đất có cô phụ trời, trời đâu có khi nào cô phụ đất. Nếu lòng Hai Nhà Tường này có điều chi khuất tất thời xin Cao Xanh kia xét soi cho một tấm… chân… tình…”

Mười mấy bàn ăn vỗ tay như pháo nổ. Có thế thôi, xong một cuộc đính ước.

*   *   *

Nhà anh chị Trường Hải - Kim Chi ở trong một con hẻm cụt, nhưng rộng, nơi trẻ em có thể chạy nhảy chơi đùa với nhau. Như thông lệ, vào dịp lễ Giáng Sinh, anh Hải làm một hang đá thật to, thật đẹp, sáng lung linh. Đêm hai mươi bốn, chị Kim Chi nấu một nồi chè to đến nỗi khi vừa bước chân vào nhà, anh Tấn lắc đầu, ngán ngẩm:

 - Có đổ đi cũng không hết.

Thế mà chị Kim Chi phải phòng thủ, múc ra năm tô cất vào tủ lạnh.

Tan lễ đêm, trẻ em lương giáo trong hẻm, cả ở những nơi khác ùn ùn kéo đến, tụ tập trước hang đá, ríu rít như một bầy chim sẻ non. Cô Minh Nguyệt, gia sư dạy nhạc cho bé Minh Ngọc, con chị Kim Chi, đưa tay ra hiệu:

- Các em có biết bài: “Đêm Đông Mừng Chúa Giáng Sinh Ra Đời” không? Có hả? Vậy cô bắt nhịp cho các em hát nhé!

Gần hai trăm cái miệng cất giọng hát như thét, như gào, không đúng giọng, đúng nhịp mấy, cô Minh Nguyệt phải cao giọng dùng micro nắn lại. Nhưng có thể nói những vị thiên thần trẻ con ấy hát bằng cả con người của chúng, tiếng hát của chúng bay cao vút tận trời cao, chắc trên thiên đàng cũng nghe được. Chị Kim Chi điều động cả nhà múc chè vào những cái li nhựa dùng một lần, phân phát cho các em. Trong chốc lát, nồi chè hết nhẵn. Vẫn thiếu, anh Hải phải mang bốn tô chè trong tủ lạnh ra.

Cả nhà ăn réveillon bằng tô chè của bé Minh Ngọc được chia thành năm phần. Anh Hải đề nghị:

- Hai cô cháu chơi bài Đêm Thánh Vô Cùng được không?

Trên cùng một cây đàn organ, bé Minh Ngọc chơi bè một ở bát độ cao, Minh Nguyệt đệm đàn bè trầm, anh Trường Hải và chị Kim Chi hát theo khe khẽ. Chị Kim Chi hỏi:

- Đó là bản thánh ca Giáng Sinh an bình nhất, sâu lắng nhất, phải không Minh Nguyệt?

Chị quay sang anh Tấn:

- Sao cậu Út?

Anh Tấn đang đắm mình trong dư âm bài hát, không trả lời. Minh Nguyệt nói:

- Em vừa nghĩ: Giờ phút này, trong căn nhà này, tất cả mọi người, tất cả sự vật, tất cả sự việc, phải, tất cả đều là quà tặng, là “ơn châu báu không bờ bến” Chúa thương ban. Có được không, anh chị? Có được không, công tử Tứ Giác Long Xuyên?

Trời khuya, anh Tấn đưa Minh Nguyệt về. Anh nhìn lên. Lưng chừng trời phía đông có một ngôi sao thật sáng, hình như đó là một ngôi sao đem đến ơn lành, một ngôi sao lạ. Họ yêu nhau từ mùa Giáng Sinh năm ấy.

*  *  *

Suốt bốn năm trời yêu nhau, Minh Nguyệt là tâm điểm để anh Tấn quy chiếu. Anh bỏ hút thuốc, không rượu chè, cờ bạc, gái gú vì nàng; học thêm ngoại ngữ, học thêm đàn guitar cũng vì nàng. Anh học giáo lý dự tòng, cũng vì nàng. Anh cố gắng hết mình để nàng vui lòng, và nhất là để anh ngày càng xứng đáng với nàng hơn. Tình yêu của Minh Nguyệt làm cho anh người hơn, cao thượng hơn. Như cô gái mù có thể hi sinh tất cả để nhìn thấy ánh trăng trong giai thoại về Beethoven và bản Sonate Ánh Trăng mà Minh Nguyệt thường độc tấu piano cho anh nghe, anh cũng sẵn lòng từ bỏ tất cả để có được ánh trăng sáng Minh Nguyệt cho riêng anh. Anh đặt nàng lên bệ thờ tình yêu. Nàng là thần tượng của anh.

Khổ nỗi anh không biết rằng nàng “đâu phải là nàng tiên được tạc bằng ngà và ánh trăng, nàng chỉ là một người đàn bà” (A. Maurois,Odile). Thế nên khi Henri Nguyễn, tiến sĩ âm nhạc cổ điển, người Mĩ gốc Việt về Sài Gòn dạy học, ngỏ lời, Minh Nguyệt lưỡng lự một thời gian, rồi nhận lời đính hôn, rồi kết hôn. Anh Tấn ray rứt:

- Nàng bỏ rơi mình, suy cho cùng, cũng hợp lý thôi. Anh chàng Việt kiều ấy chẳng vượt trội hơn hẳn mình về mọi phương diện, giàu có, tài năng, học vấn, công danh, sự nghiệp, tương lai là gì? “Giấc mơ Mĩ” không phải là ước mơ của nàng đó hay sao? Nhưng còn tình yêu? Nàng yêu mình xiết bao, thế mà nàng dứt tình, giũ bỏ mình như giũ bỏ một chiếc áo rách được ư? Quả thật, mình không sao hiểu được lòng dạ đàn bà.

Hôm đám cưới, Minh Nguyệt nói với anh:

- Anh hãy sống xứng đáng là một người đàn ông, hãy giữ gìn bản thân, hãy cầu chúc em hạnh phúc.

Chiều nay, oái oăm thay, lại là chiều lễ Vọng Giáng Sinh. Cư xử “như một người đàn ông”, anh Tấn nhận lời ra phi trường tiễn vợ chồng Minh Nguyệt đi Mĩ. Kiểm tra hành lý xong, nàng nắm tay anh:

- Anh hiểu cho, dù thế nào chăng nữa, anh cũng luôn luôn là người bạn tốt nhất của em.

Anh Tấn biết đây là lần cuối cùng anh cầm tay Minh Nguyệt. Nàng siết chặt tay anh, làm tim anh đau nhói. Đúng lúc ấy Henri nhã nhặn, lịch thiệp bắt tay anh:

- Minh Nguyệt nói nhiều về anh, nhưng còn thiếu. Anh sẽ là người bạn tốt nhất của tôi nữa, của vợ chồng tôi. Chúc anh mùa Giáng Sinh an lành.

Họ vào phòng chờ lên máy bay. Anh Tấn nghe thấy mình hát: “Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi” (Phạm Duy). Anh nói với chính anh:

- Mình có lỗi gì đâu, sao Đức Chúa của nàng lại nhẫn tâm đem người yêu của mình trao cho người khác? Chúa có thương mình không? Đức Chúa có là tình yêu như nàng nói không?

Trời nhá nhem tối, phố phường, nhà cao tầng che khuất tầm nhìn của anh, anh tìm kiếm nhưng không thấy ngôi sao lạ năm nào. Hình như anh khóc.

        *  *  *

Đêm Noel năm nay, Anh Tấn nắm tay Hồng Đào và con trai, cùng nhau quỳ trước hang đá trong sân nhà thờ.

Anh nhớ lại Noel năm nào anh quen rồi yêu Minh Nguyệt, rồi Noel năm nào nàng lấy chồng. Anh nhớ tới ngày ba anh bỏ anh mà đi. Ông uống rượu nhiều quá, bị xơ gan cổ trướng, bụng căng như một cái trống. Ông tỉnh tới lúc chết. Trước khi nhắm mắt, ông thều thào:

- Ba đã hứa với chú Tư Máy Kéo rồi, con phải cưới Hồng Đào, ngheng!

Anh Tấn dùng kế hoãn binh:

- Con biết Hồng Đào thương con, nhưng con đâu có thương cô ấy.

- Cưới trước, thương sau, như ba với má con ngày xưa…

- Nhưng người ta theo đạo Chúa mà, ba!

Ông Hai dứt khoát:

- Không sao, vợ chồng con Kim Chi, vợ chồng con Ngọc Diệp nói với ba rồi, ba cũng tìm hiểu nơi mấy ông cha, mấy anh em bạn, ba biết hết trơn hết trọi mà. Đạo của họ đâu phải đạo bất hiếu. Họ có nguyên một giới răn phải thảo kính cha mẹ. Ngày nào ở nhà thờ họ cũng cầu cho ông bà tổ tiên, nghe đâu lại còn cả tháng mười một dành riêng tưởng nhớ tới người đã khuất, lại còn lễ giỗ, lễ Các Đẳng, lễ ngoài nghĩa trang. Được quá, tốt quá đi chớ, ba còn muốn theo đạo nữa là. Con hứa đi, ba mới nhắm mắt nổi.

Anh hứa đại. Nhưng sau này, vì thương nhớ cha quá, anh cảm thấy không giữ lời với người chết là bất hiếu, mang tội lớn với cha. Với lại, nói thật lòng, Hồng Đào cũng dễ thương quá đi thôi! Anh “đi đạo” và cưới Hồng Đào. Họ sống với nhau hạnh phúc chan hòa. Năm nay, thằng cu Tý con trai anh đã bốn tuổi, đang học lớp chồi trường mầm non.

Trời lạnh, nhưng anh Tấn cảm thấy ấm lòng. Anh chẳng những không trách Chúa như năm nào, mà còn thầm cảm ơn Chúa đã để cho Minh Nguyệt phụ bạc, hắt hủi, bỏ rơi anh, làm anh đau khổ, tuyệt vọng cả năm trời. Chính Chúa đã dùng “sự không may” đó để đưa anh đến ngày hôm nay, với tổ ấm gia đình này. Anh bằng lòng, thậm chí hài lòng và biết ơn vì Chúa đã ban cho anh người vợ “mỏng mày hay hạt, đẹp người đẹp nết, dễ thương mút chỉ cà tha” như lời ba anh nói. Chúa lại còn ban cho anh thằng cu Tí, đứa con mà vì nó, anh thật sự có thể hi sinh tất cả. Họ ra về. Thằng Tí một tay nắm tay cha, một tay nắm tay mẹ. Nó bi bô:

- Mé-ri Rịt-mợt, đát-đi. Mé-ri Rịt-mợt, mám-mi.

Anh Tấn nhìn lên tháp chuông nhà thờ. Trên cao, tít trên trời cao, chênh chếch về hướng đông, một ngôi sao sáng rực rỡ. Anh chỉ tay, nói với vợ con:

- Nhìn kìa, nhìn kìa, nhìn ngôi sao lạ kìa.

Lãongu

 

 

BÊN TRONG MÓN QUÀ

 

Đã lâu tôi rất ít nhận được quà trong mùa Noel.  Lý do đơn giản lắm, mình ít gởi quà cho người khác. Noel vừa rồi, bất ngờ tôi nhận được một món quà từ chị bạn Dòng Tiểu Muội đang phục vụ tại Pháp. Cảm động, vui mừng tay run run mở gói quà thật ngạc nhiên nó lại là một hòn đá. Chẳng phải là hòn đá hận thù, nhưng lại là hòn đá yêu thương. Trên hòn đá ấy có vẽ cảnh hang đá Belem và khắc mấy chữ : ''Lord, Make me an instrument of your peace''.

            Món quà chị gởi cho tôi ẩn giấu trong đó một lời nguyện xin cho nhau được ơn bình an. Vì tâm hồn mình không bình an thì không thể tặng cho người khác ơn bình an. Xin cho tôi được bình an, và mong cho những người sống quanh tôi cũng tràn ngập an bình!  Chị đã gói ghém tất cả yêu thương trong hòn đá trơ trụi ấy, nắn nót từng nét vẽ, nét chữ rồi gởi đi. Món quà làm tôi càng thêm xúc động, vì biết rằng tôi vẫn có một người bạn quá chân thành. Món quà quý giá lắm, nhưng chính con người của chị mới đích thực là món quà quí giá hơn. Cả con người của chị với tất cả lòng yêu thương là quà tặng đẹp hơn tất cả các món quà.

Tôi nhìn từng nét khắc công phu trên hòn đá màu xám tro bằng ba ngón tay mà lòng lâng lâng nghẹn ngào. Chắc hẳn chị đã miệt mài từng nét vẽ công phu lắm. Từng nét vẽ yêu thương, nét chữ đầy ân tình. Nét sơn xanh, đỏ, vàng từng nét được in đậm trên bờ đá sần sùi như làm nổi lên cái nét an bình trong cuộc đời  đầy sóng gió. Hòn đá chẳng mang lại bình an, nhưng biết khắc lên nó một lời yêu thương và đã mở lối cho niềm vui tuôn về. 

Trong cuộc sống hiện nay ai cũng mong an bình, nhưng dường như ai cũng cảm thấy thiếu sự bình an. Cuộc sống xô đẩy làm lòng mình chao đảo, nên nhiều lúc cảm thấy bất an. Có những người không mong thêm tiền, chỉ mong sao lòng được chút thảnh thơi. Trên đời chẳng ai bán ơn bình an, nên không mua được nó nơi cửa hàng. Bình an là quà tặng! Không tặng nhau sự bình an thì cuộc sống hiu hắt, tẻ nhạt lắm. Người khác không vui, thì mình cũng chẳng có ai để vui cùng.  

Ở đời có rất nhiều loại quà. Có  loại quà cho đi nhưng mong thầm một sự đáp trả lớn hơn, ''thả tép câu tôm'' hay “ hòn đất ném đi hòn chì ném lại”. Có loại quà để bắc cầu hối lộ. Có loại quà cho đi để âm mưu một lợi dụng nào đó. Cho nên nó mất đi ý nghĩa của quà, chỉ còn lại giá trị của đổi chác. Quà đích thực là khi gói lại, nó ôm trọn một tấm lòng, làm cho người nhận phải bâng khuâng xúc động. Vì thế hạnh phúc ngập tràn nơi người nhận lẫn cả người cho.

Lan Xanh, ĐMLS


HẠNH PHÚC

Chuyện phiếm của Gã siêu.

 

Lễ Giáng sinh và tết Tây trở về, bước chân xuống phố, hay chui đầu vào những cửa tiệm, đâu đâu gã cũng thấy được hàng chữ: A merry Christmas and a happy new year. Và cũng hàng chữ ấy được in trên từng cánh thiệp thiên hạ gửi cho nhau nhân dịp này. Việt Nam ta luôn mở rộng vòng tay đón nhận mọi luồng văn hóa. Tây có mà Tàu cũng có. Đầu An-nam-mít, mà đít có khi là Phăng-xe, có khi là Ăng lê. Vì thế, cũng “a happy new year” cho nhau khi năm mới bắt đầu. Thế nhưng, hạnh phúc có hay không?

Giáo lý nhà Phật vốn thường bảo: Đời là bể khổ và mỗi người là một cánh bèo trôi dạt trên đó. Như thế, thì thật khó mà tìm thấy hạnh phúc trên cõi đời này. Ấy vậy cho nên những người bi quan mới nghĩ rằng hạnh phúc chỉ là một khái niệm trừu tượng, chẳng hề tồn tại. Thậm chí, có những tay tỷ phú, giàu nứt đố đổ vách, mà vẫn than van: Đời mình gom lại liệu được mấy giờ hạnh phúc. Hay chán đời đi tìm cái chết để “phẹc-mê bu-tích” chấm dứt một kiếp người lầm than khổ ải. Thảo nào mà Nguyễn Công Trứ đã phải than van: Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe, đời có vui sao chẳng cười khì. Còn bàn dân thiên hạ, kẻ thì bảo: Phàm trên cõi đời này, chẳng có chi là sung sướng, nên người ta mới phải mong ước. Hạnh phúc là một cái gì thật mơ hồ, khiến chúng ta bắt buộc phải khát khao đợi chờ. Người khác thì nói: Hạnh phúc như một thứ tiếng vang, nó trả lời nhưng không bao giờ đến.

Tuy nhiên, chủ trương như trên xem ra có phần bi quan yếm thế, chẳng khác gì đeo cặp kính râm mà soi mói nhìn vào cuộc sống. Kinh nghiệm đời thường cho thấy: Ai trong chúng ta cũng đã từng có những khoảng khắc sướng rên, nhưng giây phút khoái tỷ và chúng ta bảo rằng: Mình rất ư là hạnh phúc tràn trề.

Dù mùa đông lạnh lẽo, thì thỉnh thoảng cũng có được một  vài ngày nắng ấm đột xuất. Đau khổ dù đằng đẵng đeo đuổi  kiếp người thì cũng có được đôi ba ngày vui. Dù ngày vui mau qua và rất họa hiếm, thậm chí chỉ được đếm trên đầu ngón tay, hay dù thế nào chăng nữa thì cái được gọi là hạnh phúc vẫn có đó. Nhưng hạnh phúc là cái chi chi? Dẫn vào một bài bàn về hạnh phúc trên báo Figaro, được báo “Kiến thức ngày nay” trích dịch, tác giả đã ghi nhận như sau: Không có một từ nào mù mờ về nghĩa bằng từ “hạnh phúc”. Hạnh phúc không thể nói lên bằng lời, không thể diễn tả, cũng không thể nắm bắt. Càng không thể mua được bằng tiền. Vậy hạnh phúc là gì?

Đứng trước câu hỏi này, chính bản thân gã cũng cảm thấy bí, bèn phải vác tự điển ra để mà tra cứu. Trước hết, theo “Việt Nam Tự điển” của Lê Văn Đức, hạnh phúc có nghĩa là điều may mắn cho cuộc đời. Chúc ông được nhiều hạnh phúc thì cùng có nghĩa là chúc ông được nhiều may mắn. Đọc xong câu định nghĩa trên, gã cảm thấy ấm ức, không ổn và còn thiêu thiếu một cái gì ấy, bởi vì rất nhiều người suốt đời chẳng gặp được điều chi may mắn như trúng số, thi đỗ, thế mà họ vẫn cứ sống phây phây hạnh phúc, như hình ảnh của cặp vợ chồng con nhà nghèo: Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.

Còn theo tự điển “Larousse” của mấy ông Tây, hạnh phúc có nghĩa là một tình trạng được hoàn toàn hài lòng. Câu định nghĩa này hơi “siêu” nhưng xem ra lại đúng hơn. Như thế, người ta khó mà được định nghĩa được hạnh phúc bằng lời nói hay bằng ngôn từ, nhưng chỉ cảm nhận được nó mà thôi. Tuy nhiên, cách thức cảm nhận hạnh phúc của mỗi người lại khác nhau, nên mới nhiêu khê và rắc rối.

Thực vậy, có khi cùng một cảnh ngộ, nhưng mỗi người lại cảm nhận một cách khác nhau. Với người lạc quan thì đó là niềm hạnh phúc, còn với người bi quan thì đó lại là nỗi buồn khổ. Chẳng hạn hai người cùng đi du lịch Đalạt, được hỏi cho biết cảm tưởng của mình về thành phố này. Người thứ nhất trả lời: Đây là một thành phố buồn. Mưa rơi và gió lạnh chẳng đi được tới đâu, suốt ngày co ro nơi xó nhà. Trái lại, người thứ hai hồ hởi nói: Đây là một thành phố tuyệt vời. Khí hậu thì mát mẻ, cảnh sắc thì đẹp đẽ.

Hơn thế nữa, mỗi người thường lại nhắm tới một thứ hạnh phúc cho riêng mình. Chẳng hạn tiền đôi khi là hạnh phúc của kẻ nghèo, chỗ trú chân đôi khi là hạnh phúc của kẻ lang bạt và mái ấm gia đình đôi khi là hạnh phúc của kẻ cô đơn. Lắm lúc hạnh phúc đơn sơ của người này lại là hạnh phúc cháy bỏng của người kia. Chẳng hạn trên đường phố: Một người phụ nữ sang trọng đi chiếc xe Dream láng coóng, trong khi đó cặp vợ chồng nghèo đang đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng, phía trước là thằng cu con. Anh chồng thỉnh thoảng lại cạ chiếc cằm đầy râu của mình lên mái đầu thằng cu con, làm nó cười khúc khích vì nhột. Chị vợ ngồi sau tủm tỉm đấm nhẹ lưng anh chồng và nhắc: Cẩn thận kẻo té. Người phụ nữ sang trọng kia đã nhìn cảnh tượng ấy bằng ánh mắt thèm khát. Còn anh chồng nghèo lại mơ có chiếc xe Dream cho đỡ cực cái thân ròm của mình. Đúng như dân La Mã ngày xưa đã bảo: Ta muốn tìm hạnh phúc của người, còn người thì lại thèm hạnh phúc của ta. Cha ông chúng ta cũng đã phát biểu: Được voi đòi tiên. Đứng núi này, trông núi nọ.

Nhiều khi hạnh phúc rất đơn sơ. Chẳng hạn ngày xưa mỗi khi tết đến được bố may cho bộ quần áo mới, hay mỗi khi mẹ đi chợ về cho một chiếc kẹo là gã liền cảm thấy sung sướng quá chừng. Bộ quần áo mới và chiếc kẹo ấy chính là niềm hạnh phúc đối với gã hồi nhỏ. Và như vậy, nói nôm na theo kiểu bình dân học vụ thì hạnh phúc chính là cái tình trạng “sướng rên”, “khoái tỉ” của mỗi người. Gã rất tâm đắc với ý tưởng sau đây của Chamfort: Hạnh phúc giống như chiếc đồng hồ. Càng ít rắc rối bao nhiêu, thì càng ít hư hỏng bấy nhiêu. Hạnh phúc luôn có đó, nhưng làm thế nào để bản thân mình được hạnh phúc?

Bí quyết thứ nhất để cuộc đời được hạnh phúc, đó là biết khám phá ra những niềm vui nho nhỏ ẩn giấu trong những sự việc của cuộc sống thường ngày, như người xưa đã nói: Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc, tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn. Niềm vui nho nhỏ ấy có khi được ẩn giấu ngay cả trong những khổ đau phải chịu, bởi vì nhiều lúc trong niềm vui lại có nỗi buồn và trong nỗi buồn lại có niềm vui. Hay như một câu danh ngôn đã bảo: Đau khổ là chiếc cầu dẫn tới hạnh phúc. Không đau khổ, thì chẳng thể hiểu được hạnh phúc.

Bí quyết thứ hai để cuộc đời được hạnh phúc đó là một cuộc sống trong sáng, không hổ thẹn với lương tâm. Thực vậy, người hạnh phúc là người không bị lương tâm cắn rứt. Trái lại, kẻ đi vào con đường cong queo, xiên xẹo sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được hạnh phúc. Gã còn nhớ hình ảnh của Cain trong sách Sáng Thế Ký. Ghen tức vì lễ vật của Abel được Thiên Chúa chấp nhận, Cain đã giết em mình ngoài đồng vắng. Thế nhưng, liền sau đó, dù đi tới đâu và dù ở nơi chân trời góc biển xa lạ nào chăng nữa, Cain vẫn cảm thấy như đôi mắt Thiên Chúa đang nhìn mình trừng trừng để rồi cuộc đời của Cain trở nên bất ổn. Một khi đã bị lương tâm dày vò vì tội ác và cuộc đời trở nên bất ổn thì làm sao thấy được hạnh phúc. Cặp mắt Thiên Chúa chỉ là một hình ảnh nói lên sự dày vò cắn rứt của lương tâm. Cùng với chiều hướng ấy, hình như cụ Tú Lãm trong “Nửa chừng xuân” của Khái Hưng, đã có lời khuyên sau đây: Cha chỉ có ba thứ gia bảo này ông cha để lại cho cha, nay cha truyền lại cho hai con mà thôi, đó là giữ lòng vui vẻ, giữ hồn trong sạch và đem hết nghị lực ra làm việc.

Bí quyết thứ ba để cuộc đời được hạnh phúc, đó là hãy ra sức cố gắng làm cho người khác được hạnh phúc. Đúng vậy, Abbé Delile đã nói: Hạnh phúc chỉ dành riêng cho những ai làm nhiều người được sung sướng. Gã cảm thấy lời Kinh Thánh sau đây là như qui luật của muôn đời: Cho thì sướng hơn là nhận. Hay nói một cách khác: Càng hy sinh vì người khác thì lại càng hạnh phúc. Hạnh phúc là một thứ tiền, càng cho lại càng lời. Thực vậy, mỗi khi bố thí cho người nghèo, hay cho người ăn mày ngồi bên vệ đường, dù chỉ một vài đồng tiền còm, thì lập tức gã liền cảm nhận được một niềm vui nhè nhẹ len lén đi vào tâm hồn, khiến nhiều lúc gã đã phải cười ruồi một mình, hay huýt sáo vu vơ cho xả bớt niềm vui. Cũng trong ý nghĩ ấy, Thánh nữ Têrêsa đã cho biết: Từ khi tôi biết quên mình, tôi được sống hạnh phúc như chưa từng ai thấy.

Tuy nhiên, để dễ dàng thực hiện ba bí quyết trên, đồng thời cũng để cuộc đời được hạnh phúc, người ta rất cần đến một niềm tin tôn giáo. Một vị thánh ẩn tu nọ sống khắc khổ trong khu rừng vắng. Ngày kia có người hỏi: Làm sao ngài có thể chịu đựng nổi? Thánh nhân nói: Ông hãy đến và nhìn qua cái lỗ này thì sẽ rõ. Người kia đến và thấy sau tường hang rêu phủ, có một lỗ hổng để lộ ra một góc trời. Thấy ông ta không hiểu, thánh nhân liền cắt nghĩa: Góc trời, đó là niềm an ủi và hạnh phúc của tôi.

Tìm được hạnh phúc trên cõi đời này đã là chuyện khó, nhưng giữ được hạnh phúc trong cuộc sống của mình lại càng khó hơn. Thế thì biết mần răng bây giờ?

 

MỪNG CHÚA GIÁNG SINH

Cũng vì tội lỗi nhân trần

Chúa sai Con Một hồng ân cứu đời

Giêsu Con Chúa Ngôi Lời

Nhịp cầu bắc lại giữa trời thế gian

              Loài người tội lỗi gian nan

              Ơn lành Thiên Chúa chứa chan muôn loài

              Ngôi Hai xuống thế làm người

              Cung lòng Đức Mẹ sinh Ngài đêm đông….

Song Kiên, Gx Đài Đức Mẹ

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

MÙA HỒNG  PHÚC

Em ơi! Mùa sương tuyết

Mùa sao sáng diệu vời

Mùa khúc hát buông rơi

Mùa phúc ân chan chứa.

              Em ơi! Mùa Cứu Chúa

Đấng trên cõi cao vời

Đã sinh xuống làm người

Mở ra trời đất mới.

                             Em ơi! Ta cùng tới

Nơi hang đá Bêlem

Nơi máng cỏ đơn hèn

Để gặp Đấng khiêm hạ.

                                           Em ơi! Khúc cảm tạ

Mau thờ kính Vua Trời

Dâng của lễ đầy vơi

Trọn tâm tình yêu mến.

                                                          Em ơi! Ngày Chúa đến

Những trải khắp an bình

Muôn hồng phúc trổ sinh

Ngân vang đẹp câu hát.

 Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

TÌNH CHÚA TÌNH NGƯỜI

 Đêm thanh nghe tiếng thiên thần

Hát vang mừng Chúa xuống trần cứu ta

Trên trời sao lạ hiện ra

Loan tin Cứu Thế gần xa đợi chờ.

              Vua Trời đến chẳng ai ngờ

Hài nhi bé nhỏ bơ vơ giữa đồng

Loài người no thỏa ước mong

Theo sau chân chú mục đồng tới thăm.

Quỳ bên máng cỏ Chúa nằm

Niềm vui được sống tình thâm với Ngài

Kính dâng hiện tại tương lai

An vui hay lúc đắng cay trong đời.

              Giêsu đến tự cõi trời

Sẻ chia thống khổ giữa đời phôi pha

Tình người tình Chúa giao hòa

Cảm ơn tình Chúa thương ta vô vàn.

 Pr. Hồng Khải,  Gx. Núi Sập

CHIẾC BÓNG TRONG ĐÊM

Đông về giá lạnh hơi sương

Lui hui em bé bên đường trú đêm

Ai say giấc mộng êm đềm

Biết chăng em lạnh, ướt mềm run run

Lang thang mỏi bước chân chùn

Không nơi nương tựa, mịt mù canh thâu

Phố đêm rực rỡ ánh màu

Người qua kẻ lại, bên nhau dập dìu

Mình em góc phố đìu hiu

Cút côi, lạnh lẽo bao chiều đông qua

Cuộc đời gấm lụa xa hoa

Vẫn dửng dưng, chẳng xót xa thương tình

Thương ai Chúa đã giáng sinh ?

Giữa đêm đông giá, ân tình Ngài trao

Đây là bao kẻ thương đau

Kia là những kẻ u sầu, lầm than

Chúa đem nguồn sống ủi an

Ban nguồn cứu độ tràn lan cuộc đời

Yêu thương, bác ái mọi người

Giới răn Chúa dạy, xin thời đừng quên.

Nhật Quang, Gx Thái Hòa


TẢN MẠN

 

NHÌN CÁC MỤC ĐỒNG, TÔI THẤY CHÚA YÊU TÔI

Nhìn vào hang đá, tôi thấy có một hình ảnh không chỉ lôi cuốn sự chú ý của tôi mà còn giúp tôi khám phá ra tình yêu Chúa dành cho tôi. Đó là hình ảnh các mục đồng. Thực vậy, Chúa ưu ái các mục đồng cách đặc biệt, bởi vì các mục đồng là những người đầu tiên được biết tin Chúa Giêsu sinh ra: Sứ thần Chúa đã báo tin cho các mục đồng: “Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân. Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2,10-11). Khi có chuyện gì vui hay buồn, người đầu tiên tôi nghĩ đến là ai? Hẳn đó là người rất quan trọng đối với tôi, người mà tôi yêu mến và tin tưởng. Và người đầu tiên Chúa nhớ đến là các mục đồng. Khi chiêm ngắm tình yêu Chúa dành cho các mục đồng, tôi muốn làm mục đồng, để được Chúa báo Tin Mừng, được gặp gỡ, được gần gũi Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse.

Giuse Phúc Huy

 

CHIẾC ÁO MÙA ĐÔNG

Để mừng sinh nhật Người, tôi muốn chuẩn bị một món quà đặc biệt. Món quà này là chiếc áo mùa đông không cao sang, không đắt giá, và cũng không bằng tiền mua được. Tôi “dệt” nên chiếc áo này bằng chất liệu hy sinh hằng ngày. Mỗi hy sinh là một sợi chỉ vàng, được đan kết thành chiếc áo trên tấm thân hình hài nhỏ bé Chúa cách cẩn thận. Tôi nghĩ Chúa Hài Nhi sẽ thích và cảm thấy ấm lòng với món quà của tôi. Còn bạn, bạn sẽ tặng quà gì cho Chúa Hài Nhi vào sinh nhật Người? Mách nhỏ cho bạn một điều rằng Chúa Hài Nhi rất thích những món quà được làm từ những hy sinh của bạn.

Chí Trung

CHÚA GIÊSU, MẶT TRỜI CÔNG CHÍNH

Ánh sáng rất cần cho sự sống của muôn loài. Nếu như ánh sáng mặt trời không còn tồn tại thì ngay lập tức muôn loài sẽ chết đi trong giá lạnh và tối tăm! Bởi đó có thể nói: Ánh sáng mặt trời là chủ thể của mọi sự sống trong vũ trụ này. Bước sang lãnh vực tâm linh: Trước khi Chúa sinh ra, ngày 25 tháng 12 được nhiều dân tộc chọn là ngày để họ tôn thờ thần mặt trời. Sau khi Chúa sinh ra, ngày này được chọn để kỉ niệm mừng Chúa Giáng sinh, bởi vì khi đến thế gian Ngài được ví như mặt trời công chính, như lời tiên tri Isaia: “Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng” (Is 9,26), và Thánh Gioan quả quyết: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Ước gì mừng lễ Giáng Sinh năm nay nhân loại nói chung và những Kitô hữu nói riêng sẽ đón nhận ánh sáng Tin Mừng Đức Kitô mang đến, như những chiếc lá xanh kia tiếp nhận ánh sáng mặt trời, để rồi biến đổi cuộc đời mình trở nên hữu ích cho cộng đồng và mang lại niềm vui tình thương cho nhân thế.

Đaminh Trần Văn Chính, Giáo Xứ Đền Thánh Giuse An Bình

 

NGÀI Ở ĐÂU?

Chúng ta thường tìm kiếm Đức Kitô ở đâu đó: Trong quán xá đông người, trong cung điện, nơi những người nổi tiếng, có địa vị và tiền của. Nhưng Đức Kitô không ở những nơi ấy, những con người ấy. Ngài thường trú chân trong những mái nhà ổ chuột, dưới gầm cầu. Ngài thường sống lay lắt trên những lề đường, vỉa hè, nơi những người anh em bé mọn, nơi những người đau khổ, lầm than. Giáng Sinh một lần nữa lại về, hơn hai ngàn năm qua, Đức Kitô đã sống giữa chúng ta và hiện tại, Ngài vẫn còn hiện diện trong những người xung quanh chúng ta. Liệu chúng ta có sẵn sàng đón nhận và chia sẻ với những người hiện thân của Đức Kitô hay không?

N.T.K, Gx. Tân Hải C2


GIÁNG SINH

Ngày nay, nhiều người coi Lễ Giáng Sinh là một dịp sinh hoạt vui chơi nhộn nhịp, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, chứ không còn là một đại lễ mừng kỷ niệm Ngôi Hai xuống thế làm người nữa. Những hoạt động bên ngoài đó đôi lúc đã làm những người Công giáo chúng ta quên hẳn đi ý nghĩa thực sự của Lễ Giáng Sinh; điều cần làm và đặc biệt nhất là chuẩn bị tâm hồn đón Đấng Cứu độ. Theo tự điển Hán Việt thì từ “giáng sinh” có nghĩa là sự ban xuống, rơi xuống một sự sống mới nảy sinh. Ở đây là nguồn sống mới chính là Ngôi Hai Con Một Thiên Chúa, xuống trần gian sống kiếp con người và ở cùng chúng ta. Chính vì thế, mỗi người hãy là một ngôi nhà thiêng liêng cho Chúa ngự vào, nên hãy biết dọn căn nhà mình cho sạch và đẹp, sau đó hãy chuẩn bị và đón Đấng cứu thế, chứ đừng quá phô trương chỉ hình thức bên ngoài.

Lưu Hành

 

NIỀM VUI GIÁNG SINH

Mừng ngày Con Chúa ra đời

Con xin dâng tiến ngàn lời ngợi ca

Thiên ân đổ xuống chan hòa

Chúa yêu con bỏ ngai tòa cao sang

Giáng trần trong cảnh cơ hàn 

Đêm đông giá lạnh trong làn tuyết sương

Con cầu Chúa Cả Thiên Đường

Xin cho con sống khiêm nhường, hy sinh

Hợp dâng Chúa những lời kinh 

Với ngàn khúc hát an bình ngân vang

Maria Nước Xanh

 

 

 

 

       
  Chuyn mục
    Tình yu v giới trẻ
 

 

 

 


THÁNH GIUSE

NÊU GƯƠNG TINH THẦN PHỤC VỤ

VÀ HỢP TÁC TRONG GIA ĐÌNH

 

Từ xưa đến nay, trong Hội Thánh các tín hữu có truyền thống tôn vinh Thánh Cả Giuse làm bổn mạng các gia trưởng vì ngài đã từng là gia trưởng thánh gia Nagiarét, đã từng là người lao động chính, hết lòng phục vụ gia đình thánh một cách tích cực và gương mẫu (x. Mt 1,18-25; 2,1-23 – Lc, 1&2). Ngài cũng đã hết lòng phục vụ gia thất qua việc sốt sắng thực thi ý muốn, kế hoạch của Thiên Chúa, cũng đã chuyên cần lao động, đã cùng hợp tác mật thiết với Đức Maria làm sao để đem lại an vui, hạnh phúc, bình yên, thánh thiện cho gia đình Nagiarét. Mỗi người gia trưởng chúng ta phấn đấu noi gương Thánh Cả qua việc phục vụ và hợp tác trong gia đình.

* Người gia trưởng nêu gương phục vụ.

Tác giả cuốn “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Kitô” đã viết: “Người chồng phải luôn nhớ mình là chủ gia đình. Nhưng địa vị làm chủ ấy họ chỉ có thể thực hiện như lời căn dặn của Chúa Giêsu: Ai trong các con muốn làm lớn thì hãy làm đầy tớ mọi người. Đó là nghịch lý của Kitô giáo và đó cũng chính là khuôn vàng thước ngọc cho người chồng. Người chồng không thể hiện tư cách làm chủ của mình được bằng cách đòi hỏi vợ con phải tôn trọng những quyền lợi riêng tư của mình, mà chính là bằng phục vụ và phục vụ trong yêu thương, nhẫn nại, cảm thông, tha thứ” (x. Wahrheit, sđd trang 114).

Như vậy trong gia đình Kitô hữu, người gia trưởng sẽ thực thi quyền hành của mình trên tinh thần phục vụ như Chúa đã dạy và dõi theo gương lành của Thánh Cả Giuse, đó là:

- Khiêm tốn làm đầy tớ mọi người;

- Hy sinh quên mình, không vụ lợi;

- Luôn cảm thông, yêu thương và chia sẻ;

- Luôn tha thứ, nhẫn nhục và chịu đựng…

* Người gia trưởng nêu gương hợp tác.

Từ khi đính hôn với Đức Maria cho đến lúc Chúa Giêsu trưởng thành, thánh Giuse luôn chứng tỏ là người sẵn sàng hợp tác và chia sẻ công việc gia đình, nêu cao sự hiệp thông và cộng tác với Maria. Điều đó xuất phát từ sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa để kế hoạch của Người được thực thi trọn hảo. Qua những lần được báo mộng, Giuse đã im lặng làm theo lệnh truyền của Thiên Chúa mà không thắc mắc, nghi ngại điều gì. Trong cuộc sống chung với Đức Maria và Chúa Giêsu tại gia đình Nagiarét, Giuse vừa là chồng, vừa là gia trưởng, là người đồng hành trong việc chăm sóc lo lắng cho con trẻ Giêsu, từ lúc mẹ Chúa có thai cho đến lúc Chúa trưởng thành. Những lúc khó khăn nhất của gia đình Nagiarét, Giuse đều hiện diện như người đứng mũi chịu sào để gánh vác công việc gia thất. Có thể nói trong gia thất, Giuse không hành động một mình, nhưng luôn với Đức Maria và Chúa Giêsu.

Tục ngữ VN có câu “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”. Vợ chồng sống thuận hòa với nhau luôn là điều kiện cần thiết và thuận lợi nhằm dẫn đến bầu khí yêu thương, hạnh phúc trong gia đình. Sự hợp tác giữa hai người luôn đặt trên nền tảng yêu thương, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta đều biết, sự thiếu hợp tác gắn bó giữa các thành viên trong gia đình luôn là nguyên nhân gây đổ vỡ cho hôn nhân và gây chia rẽ trong gia đình.  Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông Huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã khẳng định: “Chính kinh nghiệm về sự hiệp thông và chia sẻ phải là đặc điểm cho đời sống thường nhật của gia đình, và tạo nên phần thiết yếu và căn bản mà gia đình đóng góp được cho xã hội. Các tương quan giữa những phần tử trong cộng đồng gia đình được phát triển dưới sự thúc đẩy và hướng dẫn của luật ‘cho không’ bằng cách kính trọng và vun trồng nơi mọi người cũng như nơi mỗi người, ý thức về phẩm giá con người như nguồn giá trị duy nhất, cụ thể hóa trong sự tiếp đón nồng nhiệt, gặp gỡ và đối thoại, quảng đại sẵn sàng phục vụ vô vị lợi và tương trợ sâu xa…” (x. tài liệu đd số 43)./.

Aug. Trần Cao Khải

 

CHÚA GIÁNG TRẦN

Đêm đông giá rét lạnh lùng

Hang Belem giữa mịt mùng tuyết sương

Chúa Trời từ cõi Thiên cung

Hóa thân sống kiếp bần cùng thế nhân

Giáng sinh xuống chốn hang hèn

Vì yêu nhân thế lầm than tội tình

Vì yêu Chúa bỏ Thiên Đình

Sinh trong máng cỏ hôi tanh bò lừa

Yêu con, tình Chúa vô bờ

Yêu con, Chúa chịu hững hờ rẻ khinh

Con nay hối cải tội mình

Chúa ơi xin hãy thương tình thứ tha

Trong tình yêu Chúa bao la

Con xin dâng Chúa lời ca muôn đời:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho người thiện tâm”

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ


BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

HỌP MẶT CỰU TU SINH TÊRÊSA TẠI SAIGON

Nhằm chuẩn bị cho dịp Kỷ niệm kim khánh 50 năm thành lập Tiểu chủng viện Têrêsa Long Xuyên, 1964–2014, ngày 19.9.2014, Đức Giám mục Phụ tá Long Xuyên, Giuse Trần Văn Toản đã tổ chức cuộc Họp mặt các cựu tu sinh của Long Xuyên tại Trụ sở Long Xuyên ở Sài Gòn. Thành phần tham dự là đại diện các cựu chủng sinh LX từ niên khóa 1961 tới 1974, đại diện các cựu học viên Viện Giáo lý Tân Hiệp. Đức GM Phụ tá đã cùng với cộng đoàn dâng lời tạ ơn và xin Chúa Thánh Thần soi sáng và dẫn dắt cuộc họp. Đức Giám mục Phụ tá lướt qua quá trình lịch sử từ năm 1960, khởi đầu với căn nhà Dũng Lạc, cơ sở đầu tiên của chủng viện LX và cho tới ngày hôm nay.


GIÁO XỨ HIỆP TÂM MỪNG BỔN MẠNG

VÀ KHÁNH THÀNH CÂY CẦU MỚI

Trong niềm hân hoan mừng lễ Mẹ Mân Côi ngày 07.10, bổn mạng của giáo xứ Hiệp Tâm, kênh 0b, Đức Giám mục phụ tá đã đến dâng Thánh lễ đồng thời khánh thành cây cầu mới trong niềm hân hoan của mọi người. Thánh lễ như một lời tạ ơn: Tạ ơn Thiên Chúa vì muôn hồng ân Chúa đã thương ban cho giáo xứ, tạ ơn quý ân nhân đã rộng tình thương giúp đỡ, tạ ơn mọi người đã chung tay góp công góp của nên mới có cây cầu mới này.

 

CHUYỂN ĐỔI

Trong những ngày vừa qua, đã có những chuyển đổi sau đây:

1- Cha Antôn Phạm Đình Chiến (Gx Bình Lộc)

    Cha sở Gx Tân Thành, 4b.

2- Cha Giuse Phạm Văn Tính (Gx Bình Thái, K1)

    Cha sở Bình Lộc

3- Cha Giuse Nguyễn Thanh Bình (Gx Bình Châu)

    Cha sở Bình Thái, F1.

4- Cha LG.M Trần Ngọc Bính (Gx Kinh Tràm)

    Cha phó Gx Trảng Tranh.

5- Cha Gioakim Nguyễn Minh Đăng (GxTrinhVương, BờBao)

    Cha sở Kinh Tràm.

6- Cha Đaminh Vũ Hồng Nho (Gx Thánh Linh D1)

    Cha sở Trinh Vương, Bờ Bao.

7- Cha Giuse Phạm Văn Thoán (Gx Bò Ót)

    Cha sở Thánh Linh, D1.

8- Cha Đaminh Nguyễn Đức Dũng (Gx Chánh Tòa)

    Cha phó Gx Bò Ót.

9- Cha Ga Hồ Ngọc Trứ (Gx Cái Đôi)

    Cha sở Nhơn Mỹ

10- Cha Phêrô Nguyễn Thanh Dũng (Gx Nhơn Mỹ)

     Cha sở Vĩnh Thuận

11- Cha Phaolô Nguyễn Thế Hiển (Gx Vĩnh Nhuận)

     Cha sở Cái Đôi

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ MÔI KHÔI

Ngày 12.10.2014 vào lúc 9g30 có thánh lễ Ban bí tích Thêm sức cho 42 em trong giáo xứ Môi Khôi với sự hiện diện của cha hạt trưởng Vĩnh An các cha trong giáo hạt, và nhất là sự hiện diện của Đức Giám mục phụ tá Giuse. Đây là lần đầu tiên ngài trở về để dâng thánh lễ với tư cách làm một giám mục, sau 15 năm rời giáo xứ, chính tại nơi đây ngài đã có một khoảng thời gian khá dài gắn bó cùng giáo xứ Môi khôi, 24 năm, từ năm 1975 đến 1999.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ THÁNH GIA, K1B

Ngày 09.11.2014, Đức Giám Mục giáo phận đã đến thăm mục vụ giáo xứ Thánh Gia, kinh 1b, do Linh mục chánh xứ Giuse Nguyễn Tiến Tâm phụ trách. Nhân dịp này Đức cha đã dâng Thánh lễ ban Bí tích Thêm sức cho 140 con em trong giáo xứ. Phần phụng vụ Lời Chúa, Đức Giám Mục nhấn mạnh đến bổn phận của người Kitô hữu. Đó là truyền giáo. Mỗi người cần thực hiện bổn phận ấy trong hoàn cảnh của mình. Ngoài lòng nhiệt tình của con người còn phải biết dựa vào ơn Thiên Chúa ban.


GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Hội nghị Thường niên Kỳ II/2014

B I Ê N   B Ả N

 

Hội đồng Giám mục Việt Nam họp Hội nghị thường niên kỳ II/2014 tại Toà Giám mục giáo phận Nha Trang, từ chiều thứ Hai ngày 27/10/2014 đến chiều thứ Năm ngày 30/10/2014, với sự tham dự của các Đức Tổng giám mục, giám mục và linh mục giám quản giáo phận Vĩnh Long. Đức cha chính giáo phận Long Xuyên vắng mặt vì lý do sức khỏe. Hội đồng Giám mục vui mừng chào đón Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam; đồng thời chúc mừng Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm được Toà Thánh bổ nhiệm làm giám mục chính toà giáo phận Mỹ Tho.Trong dịp Hội nghị thường niên kỳ II năm nay, Hội đồng Giám mục trao đổi và thảo luận về những vấn đề sau:

1. Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, tường thuật Thượng Hội đồng Giám mục Thế Giới ngoại thường lần thứ III về Gia đình được tổ chức tại Rôma từ ngày 05/10 đến 19/10/2014.

2. Bàn thảo chương trình đón tiếp Đức hồng y Fernando Filoni, Bộ trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng Các Dân Tộc của Toà Thánh sang thăm Giáo hội Công giáo Việt Nam vào tháng 01/2015.

3. Quyết định thành lập một Tổ công tác liên Ủy ban để xem xét những đề xuất mục vụ về việc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên.

4. Trao đổi về việc xây dựng Vương Cung Thánh Đường tại Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang và việc thành lập Học viện Công giáo Việt Nam.

5. Thảo luận Quy chế về chức năng của Văn phòng (Chánh Văn phòng và Quản lý Văn phòng) Hội đồng Giám mục Việt Nam.

6. Thông qua Thư Mục Vụ về Năm Tân Phúc-Âm-hoá giáo xứ và cộng đoàn gửi cộng đồng dân Chúa tại Việt Nam và Nội quy của Uỷ Ban Tu Sĩ.

7. Quyết định giữ ngày lễ Tro vào thứ Tư 30 Tết Ất Mùi và chuyển việc ăn chay kiêng thịt vào ngày thứ Sáu mồng 9 Tết.

8. Trao đổi một số công việc khác như: mục vụ về hôn nhân gia đình và một vài điều liên quan tới Kinh Thánh.

Hội đồng Giám mục ấn định Hội nghị thường niên kỳ I/2015 sẽ được tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 13/04/2015 đến 17/04/2015.

 

Toà Giám mục Nha Trang, ngày 30/10/2014

 

 

 


GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

NHỮNG BỔ NHIỆM MỚI TẠI GIÁO TRIỀU RÔMA

WHĐ. Sáng thứ Bảy 08.11.2014, Phòng Báo chí Toà Thánh đã công bố:

 

* Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệmĐức hồng yngười MỹRaymond Leo Burke – cho đến nay làChủ tịch Tối caoPháp viện ToàThánh–vào chức vụ Bảo trợ Hội hiệp sĩ Malta.

* Đức Thánh Cha bổ nhiệm Đức Tổng giám mụcngười Pháp DominiqueMamberti– cho đến naylà Thư ký Phủ Quốc vụ khanh đặc trách quan hệ với các quốc gia(Bộ trưởng ngoại giao) – làm Chủ tịch Tối caoPháp viện ToàThánh.

*Cuối cùng, Đức Thánh Cha bổ nhiệm Đức Tổng giám mụcngười AnhPaul Richard Gallagher-Tổng giám mục hiệu toà Hodelmvà hiện đang là Sứ thầnToà Thánh tại Australia-vào chức vụ Thư ký Phủ Quốc vụ khanh đặc trách quan hệ với các quốc gia(Bộ trưởng ngoại giao).


MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ RẠCH GIÁ

 

1. Địa chỉ:Nhà thờ Rạch Giá, 25 Nguyễn Trường Tộ, p. Vĩnh Thanh, Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. ĐT: 0773.500.885

2. Bổn mạng Nhà Thờ:  Đức Mẹ Vô Nhiễm ( 8/12)

3. Lịch sử hình thành:

a. Vài nét về lịch sử : Rạch Giá, một Giáo Xứ thuộc thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Nó đã đi vào lịch sử của Giáo Hội Việt Nam từ cuối thế kỉ XVII. Từ một họ đạo nhỏ bé (1882) thời Cha Blondet, Rạch Giá đã trở thành một Giáo xứ  lớn vào thập niên 1980. Hiện nay, số Giáo dân 8.500 người.

b. Nhà thờ: Nhà Thờ đầu tiên lợp lá (1882 - 1890), lợp thiếc ( 1918 - 1924). Nhà Thờ Tháp Cụt và Tháp Nhọn (1934) do một thừa sai xây dựng với của hồi môn cha mẹ chia cho.

c. Các cơ sở Cha Emile Dalle xây dựng: Nhà Thờ – nhà chung – nhà Nữ Tu CQP – phòng sinh hoạt Giáo Xứ – Núi Đá Đức Mẹ – Đất thánh – trên 3.000 công ruộng – 40 căn phố – 152 lô đất phố cho người nghèo mướn rẻ tiền.

d.Trào Cha Phaolô Quí, Cha Giuse Trung: xây dựng thêm trường học Thanh Bình – Nhà Thờ Thiên San – Nhà Thờ Kiên Thành - Rạch Sỏi. Cha Micae Ngoạn xây Chủng Viện Têrêsa, Tác Ráng.

e.Cha Việt đại tu nhà Thờ, nhà chung và nhà các Nữ tu Chúa Quan Phòng năm 1987, xây lưu xá nhà thờ (1991), xây dựng trường KTTT (1994), xây lưu xá Tân Lập (2003), xây nhà Hưu Dưỡng Linh Mục (2003) và tu sửa nhà, nhà nữ tu CQP (2004).

f.Hiện nay, nhà nước quản lí ruộng đất, phố nhà. Nhà Thờ cho nhà nước mượn Chủng Viện Têrêsa, Trường Thanh Bình, nhà thờ Kiến Thành- Rạch Sỏi, nhà thờ Thiên Sang (khách sạn Phương Nam).

g.Cha Quản hạt Phaolô Trý mở giáo họ Hòn Tre trao cho các Cha Xitô coi sóc, và giáo họ Vĩnh Hiệp trao các Cha Salêdiêng Don Bosco coi sóc.

4. Quý cha phục vụ

a. Quý cha sở:

            Cha Giuse Nguyễn Phi Hùng     :           1975

            Cha Giuse Nguyễn Văn Việt     :           1975 – 2006

            Cha Phaolô Phạm Minh Trý      :           2006 đến nay

b. Quý cha phó:

            Cha Antôn Hoàng Văn Tấn       :           1975 - 1989

            Cha Phaolô Phạm Minh Trý      :           1976

            Cha Giuse Vũ Ngọc Nội           :           1977 – 2011

            Cha Giuse Nguyễn Ngọc Thể    :           1990 – 1999

            Cha Micae Lê Xuân Tân           :           1992 – 1998

            Cha Luca Phạm Tuấn Khanh     :           1998 – 2005

            Cha Tôma Nguyễn Văn Thanh  :           2003 – 2007

            Cha Giuse Giang Hòa Việt        :           2005 – 2006

            Cha Vinc. Nguyễn Văn Thanh   :           2006 đến nay

            Cha Giuse Nguyễn Hữu Tường :           2008 - 2011

            Cha Phêrô Nguyễn Quốc Tiên   :           2011 đến nay

            Cha Phaolô Nguyễn Đức Thiện: 2012

5. Cộng Đoàn Tu sĩ : gồm có

(1). Nữ Tu Chúa Quan Phòng

(2). Nữ Tu MTG Khiết Tâm

(3). Nữ Tu Phaolô Mỹ Tho

(4). Dòng Salêdiêng DonBosco – coi sóc Giáo họ Vĩnh Hiệp

(5). Dòng Xitô Phước Hải – coi sóc Giáo họ Hòn Tre.

6. Đặc điểm:

a. Về mục vụ Bí Tích :

+ Thánh Lễ Chúa Nhật: chiều thứ bảy và 5 lễ ngày Chúa nhật.

+ Giáo Lý: khoảng 500 TNTT học các lớp giáo lý, với 50 Giáo lý viên và Huynh Trưởng. Giáo xứ thường mở các Lớp Tân Tòng và Giáo Lý Hôn nhân (3 khóa/năm).

+ Thăm mục vụ và ban các Bí tích: Quý Cha thường xuyên thăm viếng, đặc biệt trước các Lễ lớn, cũng như ban các Bí tích bất cứ giờ nào nơi các Bệnh viện.

b. Mục vụ Đức Ái :

- Có 3 lưu xá: khoảng 50 em, và 01 Trường KTTT: 180 em; 03 trường mẫu giáo: 250 em, với các lớp nghề: thêu, may, điện gia dụng, vẽ, đục trên gỗ, lộng gỗ, vi tính, in lụa.

- 01 Trung tâm dạy nghiệp của Quý Cha Donbosco, có các Lớp dạy chữ và dạy nghề: điện gia dụng, trang điểm, vi tính, hàn tiện...

c. Về kết quả :

Nhiều người biết Chúa và Hội Thánh. Ơn gọi tăng thêm: Giáo dân, Tu sĩ, Linh Mục. Giáo Xứ, giáo họ vui tươi, phấn khởi, sống động và thêm số. Quan hệ đạo đời lành mạnh và vui vầy.

d.Đa số giáo dân còn gặp nhiều khó khăn: làm thuê, làm mướn, đánh bắt cá, buôn bán nhỏ, và bán vé số để sống.

6. Hướng tương  lai:

- Đào tạo sâu nội tâm ngay trong cộng đoàn. Nhất là tiếp tục công tác từ thiện và bác ái với các tôn giáo bạn, chữ thập đỏ địa phương để giúp đỡ người nghèo khổ, bệnh tật và neo đơn.

- Vì nhà thờ nhỏ, giáo dân thì đông, nên hiện nay Cha Sở Phaolô Phạm Minh Trý đang cố gắng để chuẩn bị mua đất để chia đôi giáo xứ Rạch Giá, thành lập Giáo xứ mới lấy tên là Giáo Xứ Kiên An, nhằm giúp giáo dân giữ đạo và sống đạo tốt hơn.

 

 

 
 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 01.2015:

GIA ĐÌNH GIÁO XỨ

CHỦ ĐỀ THÁNG 02.2015:

MỪNG XUN MỚI

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.gplongxuyen.org

Đa tạ.

 

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1012
Tất cả: 45,856,214