Tĩnh tâm tháng 10 và 11 năm 2014

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN

CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI


TÌM BÀI



THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 10&11 năm 2014

 

 

TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH

ĐỂ CÙNG MẸ RA ĐI LOAN BÁO TIN MỪNG

 

***

Anh chị em thân quý,

Các giám mục chúng tôi, xin gửi lời chào thân ái, cùng với phúc lành bình an của Thiên Chúa, và tình mẫu tử của Mẹ Maria đến toàn thể cộng đoàn dân Chúa trong giáo phận.

Tháng Mười, tháng Mân Côi và tháng cầu cho công cuộc loan báo Tin Mừng, chúng tôi xin gửi đến anh chị em thư mục vụ có chủ đề là Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình Để Cùng Mẹ Ra Đi Loan Báo Tin Mừng.

Kính thưa anh chị em,

Cùng Mẹ Ra Đi Loan Báo Tin Mừng,

Trước hết là theo gương Mẹ Maria “vội vã lên đường đến miền núi, vào nhà Ông Giacaria và chào bà Elisabeth” (Lc 1,39), chúng ta cũng ra đi đến với anh chị em đồng loại của mình; đến với anh chị em của mình không chỉ vì tình cảm tự nhiên giữa con người với con người, mà còn là muốn khám phá Chúa Kitô đang hiện diện và hoạt động cách rất phong phú và đa dạng nơi anh chị em mình.

Kế đến, theo gương Mẹ Maria đón nhận các mục đồng (Lc 2,16), các nhà đạo sĩ Phương Đông (Mt 2,11), và đón nhận cả nhân loại là con của mình (Ga 19,26-27), chúng ta cũng ra đi xây dựng tình liên đới, không chỉ như một cộng đoàn liên đới xã hội, nhưng còn như một gia đình của Thiên Chúa, được liên kết bằng tình yêu của Thiên Chúa Cha, ân sủng của Chúa Kitô, và sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần.

Cuối cùng, theo gương Mẹ Maria hiện diện và phục vụ trong tiệc cưới Cana (Ga 2,3), chúng ta cũng ra đi chia sẻ niềm vui tin mừng Cứu Độ của Thiên Chúa Tình Yêu, với ước mơ mọi người sẽ cùng vang lời tán tụng: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa và lòng trí tôi hớn hở trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi” (Lc 1,46).

Chiêm ngắm Mẹ Maria, chúng ta cũng hãy học nơi Mẹ Maria phong cách loan báo Tin Mừng của Mẹ

Thứ nhất, phong cách loan báo Tin Mừng của Mẹ Maria, cơ bản là Mẹ để mình được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành đức tin, để dùng cuộc đời mình tuyên xưng đức tin, cử hành đức tin, sống đức tin và loan truyền đức tin. Thái độ điển hình của Mẹ là “ghi nhớ những sự kiện ấy và suy niệm trong lòng” (Lc 2,19.51) để khám phá ra ý Chúa và sẵn sàng đáp trả “xin vâng”.

Thứ hai, phong cách loan báo Tin Mừng của Mẹ Maria, là bằng tình thương và sự dịu dàng của tình mẫu tử, Mẹ sống mầu nhiệm Chúa Kitô giữa anh chị em mình, để trở thành hiện thân của Chúa Kitô phục vụ (Mt 20,28) cách khiêm tốn và âm thầm với châm ngôn “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, và trong Đức Kitô, mà mọi danh dự và vinh quang đều qui về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đển muôn đời”.

Thứ ba, phong cách loan báo Tin Mừng của Mẹ Maria, là với niềm tin tưởng và hy vọng nguyện cầu, Mẹ Maria tạo điều kiện cho Chúa Kitô đổi mới mọi sự (Kh 21,5), và đạt đến cao độ là can đảm chấp nhận “Lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn” (Lc 2,35), để đón nhận mọi người vào cuộc đời mình “này là con bà” (Ga 19,26). Để trong Hội Thánh là Mẹ và là Thầy, ta cộng tác vào công cuộc đđổi mới thế giới thành trời mới đất mới nơi công lý ngự trị.

Các gia đình công giáo của giáo phận Long Xuyên cùng Mẹ ra đi loan báo Tin Mừng, cụ thể là canh tân sinh hoạt gia đình trong năm phúc âm hóa gia đình để hướng về truyền giáo.

1. Cùng với Mẹ Maria, canh tân sinh hoạt gia đình sẽ theo sáng kiến tự do của Chúa Thánh Thần. Trong ơn Chúa Thánh Thần, các thành viên trong gia đình được hướng dẫn đi vào đối thoại với Thiên Chúa trong kinh nguyện, để có khả năng đối thoại với con người trong các tiếp xúc, và thực hiện các công cuộc bác ái.

2. Noi gương Mẹ Maria, các gia đình công giáo trong giáo phận sẽ trở thành hiện thân của Chúa Kitô hiện diện giữa lòng thế giới, với tình yêu phục vụ chứ không phải với tính ích kỷ và quyền lực, để khiêm tốn và âm thầm chia sẻ cuộc sống. Theo chọn lựa này, gia đình công giáo hướng về việc tiếp xúc với con người chung quanh, nhờ đó gia đình không trở thành nhóm khép kín cách ly với người khác, với những quy định và luật lệ trói buộc, nhưng đặt trọng tâm vào sự cởi mở, tình liên đới, và lòng hiếu khách.

3. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, canh tân gia đình còn là biến gia đình trở thành lớp học của Chúa Thánh Thần để huấn luyện mọi người trong gia đình, nhất là giới trẻ, đi vào đường hướng của giáo phận là tham gia hiệp thông đồng trách nhiệm vì sứ vụ Loan báo Tin Mừng. Trong môi trường giáo dục này, bậc phụ huynh sẽ là gương mẫu cho thế hệ con em mình trong sứ vụ đối với Giáo Hội và đối với xã hội.

Cách cụ thể, giáo phận cổ vũ các gia đình công giáo tích cực tham gia 3 sinh hoạt sau đây với ý hướng canh tân gia đình:

1. Canh tân giờ kinh gia đình, đặc biệt là tập trung vào việc cùng Mẹ Maria chiêm ngắm mầu nhiệm Chúa Kitô trong việc gia đình cùng nhau lần chuỗi Mân Côi.

2. Canh tân bầu khí gia đình, bằng cách noi gương Thánh Gia, sống yêu thương phục vụ, nhất là tỏ lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ già, và chăm sóc các trẻ thơ.

3. Canh tân tương quan gia đình, bằng cách tích cực tham gia các sinh hoạt chung trong giáo xứ cũng như trong xã hội.

Giáo phận xin dâng từng gia đình như những kinh Mân Côi, để xin Mẹ Maria đồng hành với chúng ta trong sứ vụ loan báo Tin Mừng Chúa Kitô cho mọi người.

 

+ Giuse Trần Văn Toản                  + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên

 

 

 

 

 

 

 

 


TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

KINH MÂN CÔI
ĐỐI VỚI TÔI HÔM NAY

1.

Tôi cầu nguyện rất nhiều bằng chuỗi Mân Côi. Vừa đọc kinh, vừa suy gẫm, vừa khao khát Chúa, tôi lần chuỗi Mân côi như làm một việc thờ phượng Chúa bên Đức Mẹ.

Khi tôi cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, tôi tin Mẹ cùng cầu nguyện với tôi. Nhờ vậy, tôi đã được Mẹ cho tôi được gặp gỡ Chúa. Chúa và Mẹ đã dạy tôi rất nhiều điều trong chuỗi Mân côi. Ở đây, tôi chỉ xin được nói lên mấy điều tôi cho là quan trọng, đang ảnh hưởng lớn đến cuộc đời tôi, nhất là trong tình hình hiện nay.

2.

Điều quan trọng thứ nhất là tôi được hiểu giá trị của thời gian, mà Chúa ban cho tôi để đi qua, như một chuyến đi về với Chúa.

Suy gẫm 15 mầu nhiệm Mân Côi, tôi nhìn thấy Chúa đã sai Mẹ vào một thời gian của lịch sử. Thời gian đó như một dòng sông, như một con đường, Mẹ phải đi qua. Cuộc đời của Mẹ vì thế là một chuyến đi. Chuyến đi đó là một chuỗi dài những đào tạo, những thử thách, những thanh luyện, những phấn đấu. Tất cả chuyến đi ấy đều luôn là những cuộc ra đi. Mẹ phải từ bỏ nhiều như kẻ lữ hành. Mẹ phải nhìn về phía trước, nơi có lời mời gọi và chờ đợi.

Chuyến đi cuộc đời của Mẹ đã có nhiều bất ngờ. Mẹ đã vượt qua, do động lực vâng theo ý Chúa. Mẹ không trốn tránh cuộc đời đó. Mẹ không mơ ước một dòng lịch sử khác. Chúa đã sai Mẹ vào một dòng lịch sử nhất định, thì Mẹ vui ở trong đó, để cùng với Chúa biến đổi nó nên tốt hơn theo ý Chúa.

Nhìn thời gian của Mẹ như một chuyến đi như thế, tôi cũng đã nhận ra thời gian của tôi. Nó là một quãng lịch sử nhất định, mà Chúa sai tôi vào. “Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian” (Ga 17,18).

Đức Mẹ được sai vào lịch sử. Cũng vậy, tôi ý thức mình được sai vào một quãng nhất định của dòng lịch sử. Đấng sai tôi vào là Chúa. Không những Người sai tôi vào đó, mà Người còn đồng hành với tôi trong chuyến đi cuộc đời giữa dòng lịch sử của Quê Hương tôi. Đó là điều rất quan trọng, mà tôi xin đề cập.

3.

Điều quan trọng thứ hai là tôi được biết, tôi phải sống trong thời gian Chúa ban một cách có giá trị nhất, do sự tôi bước theo Chúa Giêsu.

Khi tôi cầu nguyện bằng 15 mầu nhiệm Mân Côi, tôi thấy rất rõ suốt chuyến đi cuộc đời của Mẹ là bước theo Đức Giêsu Kitô.

Bước theo Đức Giêsu Kitô là bước theo Đấng đã phán: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58).

Mẹ sống khó nghèo, như Chúa Giêsu. Đó là lối sống mở ra về phía những người đau khổ nghèo khó, đó là lựa chọn dấn thân để cứu những người cùng cực, và đó cũng chính là của lễ đền tội, dâng lên Chúa Cha, thay cho nhân loại tội lỗi, do vâng phục và mến yêu Chúa Cha.

Qua kinh Mân Côi, Chúa dạy tôi hãy bước theo Chúa Giêsu như Đức Mẹ. Nếu tôi không phải chịu đóng đinh trên thánh giá, thì ít ra cũng phải sẵn sàng cùng với Đức Mẹ sống khó nghèo, và dâng đời mình làm của lễ thiêng liêng cho Chúa, do chấp nhận có những từ bỏ vì mến Chúa yêu người.

Thiết tưởng, giữa một thế giới đang lâm nguy do tranh giành quyền lợi, sự theo Chúa Giêsu, như Đức Mẹ, trên con đường khó nghèo, hy sinh, chính là hướng Phúc Âm mở ra và phục vụ cho yêu thương của Nước Thiên Chúa, một Nước tồn tại đến muôn đời, mà kinh Mân Côi đã dạy tôi.

4.

Điều quan trọng thứ ba là tôi được thấy cùng đích chuyến đi đời tôi là thiên đàng ở cõi đời sau.

Suy gẫm những mầu nhiệm sau cùng của kinh Mân Côi, tôi thấy chuyến đi đời tôi đang được Chúa dẫn về đích điểm, đó là thiên đàng. Được vào thiên đàng là một hạnh phúc không gì ví được. Chúa Giêsu phán: “Được cả thế gian này, mà phải mất linh hồn, thì nào có lợi gì?” (Mt 8,36).

Tôi tin có thiên đàng. Nhưng để được vào đó, tôi phải làm cho đời tôi trở thành một chuyến đi như chuyến đi của Đức Mẹ, tức là bước theo Chúa Giêsu suốt cuộc đời của mình. Bước theo Đức Giêsu là cùng với Người, mến Chúa yêu người, đến hy sinh trên thánh giá, để chiến thắng tội lỗi.

5.

Tới đây, tôi đón nhận lời khuyên của thánh Phaolô: “Anh em thân mến, anh em hãy kiên tâm bền chí, và càng ngày càng tích cực tham gia vào công việc của Chúa, và biết rằng: Trong Chúa sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” (1 Cr 15,58).

Thánh Phaolô nói đến những nhọc nhằn, mà người theo Chúa phải chịu, vì Chúa. Hiện nay, tại Việt Nam cũng đang có những người chịu nhọc nhằn vì Chúa. Nhưng cũng đang có những người chịu nhọc nhằn vì lợi ích riêng, dưới danh nghĩa Chúa. Đó là một báo động đáng phải để ý.

6. Điều quan trọng thứ tư là tôi được biết phải cầu nguyện với sự tỉnh thức trước những báo động đang xảy ra trong các chuyển biến của tình hình.

Từ ít ngày nay, tôi được Chúa báo động qua những biến cố ở Iraq. Hội Thánh Công giáo tại đó đang bị quân Hồi giáo cực đoan bách hại. Các nhà thờ bị phá. Các người công giáo bị giết, bị xua đuổi, bị hành hạ dã man. Đó là một báo động cho tôi và cho tất cả chúng ta. Tình hình đang xấu đi một cách trầm trọng.

Đức Mẹ dạy tôi hãy lần chuỗi Mân Côi với tinh thần liên đới một cách sâu sắc. Hãy cùng đau khổ với bao người đang đau khổ. Hãy dâng hy sinh cầu nguyện cho họ.

Đức Mẹ cũng dạy tôi hãy chuẩn bị đi vào một thời gian thử thách lớn sẽ xảy ra cho chính chúng ta, do phong trào hưởng thụ và tự do. Hãy cầu nguyện với quyết tâm từ bỏ những nếp sống an nhàn, hưởng thụ, để cứu lấy chính mình khi những phong trào xấu hiện nay đang trở nên quá mạnh, sẽ tràn vào Hội Thánh Việt Nam để tàn phá đức tin.

Phẩm chất đức tin sẽ không tăng lên chỉ nhờ thuộc lòng nhiều, hoạt động bên ngoài nhiều, tổ chức lễ lạy nhiều, du lịch hành hương nhiều. Đức tin là một hồng ân Chúa ban cho những ai khiêm tốn, khó nghèo, khát khao Chúa trong cầu nguyện, và làm mọi sự do vâng phục thánh ý Chúa.

Lạy Mẹ Mân Côi, xin Mẹ thương đàn con của Mẹ đang kêu cầu Mẹ với tất cả tâm tình cậy tin phó thác.

                           Long Xuyên ngày 14.9.2014

 

 

 


CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy niệm Chúa Nhật XXVII Thường Niên, A

Is 5,1-7; Pl 4,6-9; Mt 21,33-43

CHUYỆN VƯỜN NHO, CHUYỆN ĐỜI TA

 

Vườn nho là một hình ảnh rất quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh này để giúp thính giả dễ hiểu điều Chúa nói về Nước Trời. Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho thoạt tiên được dùng để chỉ dân Do Thái. Dân Do Thái được Chúa chọn là dân riêng. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Chúa.

Vì yêu thương, Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương, Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương, Chúa đã bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương, Chúa đã sai các Tiên tri đến dạy dỗ họ. Quả thật, dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm sóc từng li từng tí. Từ rào giậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội.

Câu chuyện vườn nho không chỉ nói với người Do Thái, mà còn nói với tất cả chúng ta. Chúng ta là những cây nho được Chúa ưu ái trồng trong vườn nho của Chúa. Vườn nho đó là Nước Chúa, là Giáo hội, là gia đình, là cộng đoàn mình đang sống. Ta là cây nho được Chúa chăm sóc trong tình thương bao la của cộng đoàn, của cha mẹ, người thân và Giáo Hội. Chúa đặt vào lương tâm ta tiếng nói của Chúa, tựa như một tháp canh để cảnh báo những nguy cơ đe dọa tàn phá vườn nho tâm hồn.

Để ngăn chặn thú dữ tàn phá, kẻ thù quấy phá, Chúa đã cẩn thận rào giậu vườn nho. Rào giậu là đặt ra những quy tắc luật lệ. Kỷ luật là hàng rào vững chắc bảo vệ cây nho, bảo vệ hoa lợi khỏi kẻ thù đến phá hoại. Kỷ luật giúp bảo vệ đời ta. Không những bảo vệ sự sống mà còn bảo vệ tất cả những hoa trái tốt đẹp của sự sống. Để bảo vệ tương lai của ta, Chúa đã xây bồn ép nho. Bồn ép nho là nơi ta làm việc, sinh sống.

Có thể nói, cuộc đời của mỗi người là một kỳ quan về tình yêu thương của Chúa. Chúa tạo dựng ta để ta được hạnh phúc. Chúa đã định sẵn cho ta một định mệnh tốt đẹp cao quý trong Thánh Ý Chúa. Tiếc là nhiều người không hiểu được điều đó, nên họ chối bỏ quyền Chúa làm chủ đời họ. Vì xua đuổi Chúa, nên ma quỷ đã xâm nhập vào cuộc đời họ.

Có nhiều người đã loại bỏ tháp canh lương tâm, nên không còn tỉnh thức trước những nguy cơ đe dọa tàn phá sự sống. Có nhiều người đã phá đổ những hàng rào kỷ luật, biến vườn nho tâm hồn thành bãi đất hoang, mặc cho mọi người chà đạp, tàn phá. Có nhiều người đã bỏ quên bồn ép nho, không chịu làm việc, chỉ rong chơi ngày tháng, nên cuộc đời họ tiêu tốn biết bao sự thương yêu, tiền bạc, công sức của cha mẹ, các bề trên trong Giáo Hội, mà không sinh hoa trái gì cho cuộc đời mình.

Vì thế Lời Chúa hôm nay là một cơ hội thuận tiện để ta chỉnh đốn lại vườn nho tâm hồn mình. Hãy để Chúa làm chủ cuộc đời mình. Hãy tin tưởng định mệnh Chúa dành cho ta là định mệnh tốt đẹp nhất. Tương lai mà Chúa dọn sẵn cho ta là một tương lai tươi sáng, không gì có thể so sánh được.

Lạy Chúa! Xin thương xót con. Và cho con luôn sống theo thánh ý Chúa, để vườn nho đời con được sinh hoa kết trái theo ý Chúa muốn.


Chúa Nhật XXVIII Thường Niên, A

Suy niệm Lễ Đức Mẹ Mân Côi

Lc 1, 26-38

BÀI CA ĐI CÙNG NĂM THÁNG

 

Trong Giáo Hội có nhiều bài ca, có thể gọi là “đi cùng năm tháng”. Một trong những bài ca đó tên là “Kinh Mân Côi”, kinh Kính Mừng. Bài ca ấy luôn đồng hành với Giáo Hội qua dòng thời gian, với biết bao thăng trầm, sóng gió của lịch sử. Bài ca ấy được vang lên mỗi ngày trong các Nhà thờ hay chỗ riêng tư, được lâm râm khẩn cầu nơi môi miệng của mọi người, kẻ trí thức và người bình dân, từ em bé đến những người tuổi đời xế bóng.

Kinh Mân Côi là “Bài ca đi cùng năm tháng” đối với Giáo Hội, cũng như đối với mỗi người chúng ta. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cổ vũ mọi người đến với Đức Mẹ qua kinh Mân Côi. Trong tông thư “Kinh Mân Côi”, Ngài đã chia sẻ như sau: “Từ thuở niên thiếu, lời kinh này đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi. Kinh Mân Côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng, cũng như trong những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu của tôi. Nơi lời kinh ấy, tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ, ủi an.

Kinh Mân Côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu. Kỳ diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó. Con tim của ta có thể gán vào chục kinh Kính Mừng mọi biến cố của đời sống cá nhân, gia đình, Giáo Hội và toàn thể nhân loại. Biết bao ơn lành tôi đã lãnh nhận được từ Đức Mẹ qua Kinh Mân Côi”.

Mỗi khi đọc và suy niệm kinh Mân Côi là ta đang cùng Đức Mẹ suy niệm các mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Qua việc cùng Đức Mẹ suy niệm, ta sẽ cảm nhận thật sâu sự đồng hành của Đức Mẹ trong cuộc đời mỗi người.

Thói quen của các gia đình Việt Nam là việc đọc kinh tối gia đình, kết hiệp giữa việc đọc kinh Mân Côi và suy niệm Tin Mừng. Việc này đã có một âm hưởng rất tốt và có sức biến cải tình trạng gia đình.

Mỗi tối khi màn đêm buông xuống, kết thúc một ngày làm việc; không hình ảnh nào đẹp hơn khi mọi người quây quần trước bàn thờ, cử hành giờ kinh tối gia đình. Trong giây phút ấy, biết bao niềm vui, nỗi buồn đều được dâng lên Chúa. Những thất bại đắng cay, cũng như những thành tựu phấn khởi trong ngày đều được trình bày cho Chúa nghe… Tự nhiên tâm hồn ta cảm thấy ấm hơn và tình thân trong gia đình được kết nối, vì tất cả được dâng lên Chúa và được sẻ chia cho nhau, cùng hiệp thông trong lời cầu nguyện.

Nếu ta đọc kinh Mân Côi với tất cả tâm tình, ta sẽ cảm thấy mình được ơn biến đổi: Lòng tin sẽ mạnh mẽ hơn, niềm cậy trông kiên vững hơn, sống dễ thương hơn với mọi người. Qua kinh Mân Côi, ta cảm nghiệm được Đức Mẹ luôn hiện diện âm thầm nhưng rất gần gũi bên cạnh ta. Những lúc ta mệt mỏi rã rời trong cuộc sống hiện tại; những khi tối tăm bao phủ; những lúc nặng trĩu u buồn của quá khứ; những khi hụt hẫng đến độ không còn biết nương tựa vào ai… ta hãy chạy đến với Đức Mẹ. Qua việc đọc và suy niệm kinh Mân Côi, ta sẽ thấy tâm hồn mình được ơn thanh thản và bình an.

Ước gì chúng ta hãy siêng năng đọc và suy niệm kinh Mân Côi. Đó là những giây phút rất êm ái, ngọt ngào và hạnh phúc, vì ta được ở bên cạnh Đức Mẹ. Mẹ con cùng nhau tâm sự. Với tấm lòng từ bi nhân hậu của Đức Mẹ, Đức Mẹ sẽ ủi an, nâng đỡ và giúp sức cho ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.


Chúa Nhật XXIX Thường Niên, A

Suy niệm Lễ Truyền Giáo

Mt 28,16-20

THÔNG TRUYỀN ĐỨC TIN

 

Nhân ngày cầu nguyện cho việc truyền giáo năm 2013, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã gửi cho các Kitô hữu một sứ điệp truyền giáo. Ngài nói: “Chia sẻ đức tin, trao ban đức tin là một bổn phận của các Kitô hữu. Đó là việc của đức công bằng, chứ không phải là việc thích hay không thích. Hơn nữa, một đức tin không biết trao ban, không biết chia sẻ, thì chỉ là đức tin ích kỷ, đức tin “ao tù”. Những người mang thứ “đức tin ao tù” sẽ trở thành những “Kitô hữu cô lập, cằn cỗi và ốm yếu” (SĐTG, số 1). Vậy ta phải trao ban đức tin của mình cho ai? Thưa có hai nhóm đối tượng rất cần được phúc âm hóa, đó là:

Thứ nhất: Ta trao ban đức tin của mình cho những người chưa có đức tin. Cụ thể là anh chị em lương dân. Đây là đối tượng mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là “vùng ngoại vi”, ngoài tầm phủ sóng. Hiện nay có những “vùng ngoại vi” cấp quốc gia, có vùng ngoại vi ở ngay trong giáo xứ của mình. Những nơi ấy rất cần được “Phúc Âm hoá”.

Thứ hai: Ta trao ban đức tin của mình cho những người đức tin còn non yếu, hay đã mất đức tin. Đối tượng này ở ngay trong xứ đạo của mình, thậm chí ở trong gia đình, gia tộc mình. Đây là sứ mạng “tái truyền giáo” hay “tân Phúc Âm hoá”, mà ngày nay Giáo hội hết sức quan tâm.

Vậy ta hãy thử rà soát lại xem trong gia đình mình, gia tộc mình có ai đang thuộc “vùng ngoại vi” không. Nghĩa là họ đang yếu kém về đức tin, thậm chí là đã mất đức tin, để ta có chương trình “tân Phúc Âm hoá” cho họ. Thư chung HĐGM Việt Nam 2013 đã đưa ra kế hoạch mục vụ cho năm 2014, là “Phúc Âm hóa đời sống gia đình”. Trong thư có đoạn viết: “Hội Thánh được gọi là gia đình của Thiên Chúa và mỗi gia đình Kitô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia. Việc canh tân Hội Thánh phải được bắt đầu từ mỗi gia đình, do đó, Hội Thánh đặc biệt quan tâm đến các gia đình” (số 5).

Ngày nay đi đâu người ta cũng thấy ăng-ten của các nhà đài, nhà mạng: Đài truyền thanh, truyền hình; mạng viễn thông liên lạc, mạng internet, wifi, mạng 3G, v.v... Nhờ các ăng-ten phủ sóng khắp nơi, mà người ta có thể liên lạc với nhau và với thế giới chung quanh một cách dễ dàng và tiện lợi 24/24.

Ước gì mỗi gia đình Công giáo hãy là một ăng-ten phát sóng. Không phải là phát sóng những thông tin tào lao thiên địa, cũng không phải là phát sóng những thông tin xấu xa tội lỗi, mà là phát sóng Tin Mừng, phát sóng Lời Chúa. Nhưng muốn có ăng-ten phát sóng Tin Mừng một cách nhanh nhạy, thì ta phải không ngừng cải tiến và nâng cấp đức tin của mình, bằng việc củng cố tình thân với Chúa và bằng nỗ lực sống đức tin mạnh mẽ.

 Ước gì mỗi người chúng ta luôn ý thức sứ mạng thông truyền đức tin, truyền thông Tin Mừng cho anh chị em mình. Xin cho ta luôn xác tín rằng: Để hoàn thành sứ mạng truyền giáo một cách hiệu quả, thì chính ta phải gia tăng tình thân với Chúa và tình mến đối với tha nhân mỗi ngày.

Lạy Chúa, xin hãy sai con đi như khí cụ bình an của Chúa.


Suy niệm Chúa Nhật XXX Thường Niên, A

Xh 22,20-25; 1Tx 1,5c-10; Mt 22, 34-40

TÌNH YÊU CỘNG HƯỞNG

 

Sách Cổ Học Tinh Hoa của Âu Dương Tử kể câu chuyện này: Ngày nọ Giáp hỏi Ất: “Đúc đồng để làm chuông; đẽo gỗ để làm dùi. Lấy dùi gỗ đánh vào chuông đồng, chuông kêu “boong boong”. Thế thì tiếng kêu ấy là do gỗ kêu, hay do đồng kêu?” Ất lý sự: “Lấy dùi gõ vào vách tường, tường không kêu. Lấy dùi gõ vào chuông đồng, chuông kêu. Thế thì tiếng kêu ấy đương nhiên là ở chất đồng”.

Giáp không chịu, nên hỏi: “Cứ lấy dùi gõ vào đồng tiền trinh được đúc bằng đồng. Xem đồng tiền trinh có kêu không? Chắc là không kêu “boong boong” rồi. Thế thì có chắc tiếng kêu là ở chất đồng mà ra không?” Ất trả lời: “Đồng tiền thì đặc; cái chuông thì rỗng. Vậy thì tiếng kêu phát xuất từ các đồ vật rỗng mà ra”.

Giáp lại hỏi: “Lấy gỗ hay lấy bùn làm cái chuông rỗng đàng hoàng. Nhưng khi đánh vào, không phát ra tiếng kêu “boong boong”. Thế thì có phải tiếng kêu ở vật rỗng mà ra không?” Ất im lặng. Không thể trả lời được câu hỏi này.

Chúng ta có câu trả lời đây. Khi tình yêu Thiên Chúa tác động vào tình yêu con người ta, giống như cái dùi tác động vào cái chuông, thì phát ra tiếng kêu “boong boong”. Đó là tiếng kêu yêu thương trọn vẹn của Tin Mừng. Thế nhưng, nếu tình yêu Thiên Chúa lại gặp phải một tình yêu khô cứng, lạnh lùng của con người, thì cũng giống như ta lấy cái dùi mà gõ vào vách tường. Chắc chắn không có tiếng ngân vang.

Lấy dùi gõ vào chuông thì chuông kêu. Thế thì tiếng kêu là ở chất đồng. Nhưng nếu tình yêu Thiên Chúa gõ vào tình yêu của người có tâm hồn khép kín, vị kỷ, thì chẳng khác nào gõ vào một cục đồng đặc ruột, nên không vang được tiếng kêu yêu thương. Cũng thế, nếu tình yêu Thiên Chúa gõ vào tình yêu của người khoác lác, phô trương, giả nhân giả nghĩa, thì cũng giống như cái chuông rỗng được làm bằng gỗ, bằng bùn. Kết quả là không thể vang lên tiếng ngân nga yêu thương.

Chỉ khi lấy dùi gõ vào chuông làm bằng đồng, nhưng phải rỗng, thì tiếng chuông mới ngân vang. Khi tình yêu của ta rộng mở, vị tha, bác ái, tựa như cái chuông bằng đồng, trống rỗng, kết hợp với tình yêu Thiên Chúa, thì sẽ ngân nga tiếng chuông yêu thương trọn vẹn như Chúa muốn.

Vì thế, nếu ta chỉ nói đến đối tượng của yêu thương là Thiên Chúa mà thôi, thì vẫn chưa đủ. Ta còn bỏ sót một đối tượng thứ hai nữa, đó là tha nhân. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Hãy yêu thương tha nhân như chính mình ngươi”. Yêu thương là kiện toàn lề luật; yêu thương là cốt lõi, là linh hồn của Đạo. Đi Đạo, sống Đạo, giữ Đạo, xét cho cùng chính là yêu thương. Không yêu thương thì con người chỉ còn là một thứ người máy vô hồn.

 Thánh Gioan Tông đồ, người đã suốt đời sống và suy tư về tình yêu, vào cuối đời, Ngài đã tóm gọn tất cả thành một công thức: "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1 Ga 4,16), và Ngài dẫn giải: "Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em thì đó là kẻ nói dối, bởi vì kẻ không yêu thương người anh em nó thấy trước mắt, tất không thể yêu mến Đấng nó không thấy" (1 Ga 4,20).

Lạy Chúa! Xin dạy con biết yêu. Yêu Chúa và yêu mọi người. Yêu như Chúa yêu.


Suy niệm Lễ Các Linh Hồn

SAO ANH KHÔNG NÓI KHI EM CÒN SỐNG?

Thông thường khi sống bên nhau, ta ít khi đối đãi ân cần với nhau. Ta ít dám nói những lời ngọt ngào chân thành cho nhau. Thay vào đó là những đối xử vô tâm, những lời nói làm buồn lòng nhau. Để đến khi vĩnh viễn không còn thấy nhau nữa, thì những cảm xúc yêu thương mới được biểu lộ. Buồn thay người đã chết rồi, không còn nghe được nữa!

Có thể những lời yêu thương ngọt ngào như thế, lúc còn sống người thân của ta khao khát muốn được nghe biết bao! Thế mà ta chỉ dành cho họ những lời chì chiết, lạt lẽo, vô tình. Tôi nhớ một bài hát có câu như thế này: “Sao anh không nói khi em còn sống…”. Một câu trách thật nhẹ nhàng, nhưng cứ xoáy vào tim… Sao anh không nói khi em còn sống, bây giờ khi em không còn nữa, anh muốn nói thì đã muộn. Những lời nói mà nếu lúc còn sống được nghe anh nói, em sẽ hạnh phúc biết dường nào.

“Sao không nói khi em còn sống...” là những lời yêu thương tôn trọng nhau, mà lại nói những lời thóa mạ làm đau lòng nhau, để khi người thân đã ra đi, thì tiếc nuối cũng bằng không. “Sao không nói khi em còn sống...” là những lời xây dựng vun đắp hạnh phúc cho nhau, mà lại nói những lời cay đắng thô bỉ với nhau. “Sao không nói khi em còn sống...” là những lời cảm thông tha thứ cho nhau, mà lại nói những lời chì chiết làm đau lòng nhau. Cuộc sống chung quanh là vậy sao?

Tôi vẫn thấy những người con đùn đẩy cho nhau để chăm sóc cha mẹ, đôi khi còn chì chiết làm đau lòng mẹ cha. Thế nhưng khi cha mẹ qua đời, mới thấy hối tiếc vì mình đã chẳng làm tròn bổn phận báo hiếu mẹ cha. Giờ đây ta nghe lời cha mẹ than trách: “Sao con không nói khi cha mẹ còn sống”.

Tôi vẫn thấy vợ chồng thường cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, vì vợ chồng khắc khẩu. Thế nhưng một khi người bạn không còn, thì kẻ ở lại cũng cảm thấy chơi vơi, hối hận, vì đã để những ngày tháng trôi qua quá buồn đau. Giờ đây ta nghe lời họ than trách: “Sao anh, sao em không nói khi tôi còn sống”.

Tôi vẫn thấy những người hàng xóm bên nhau vẫn nói những lời bóng gió làm đau lòng nhau, nhưng khi xa nhau mới thấy lòng xót xa. Giờ đây ta nghe lời họ than trách: “Sao ông bà anh chị em không nói khi tôi còn sống”.

Cuộc sống vẫn vô thường. Hôm nay đoàn tụ, ngày mai chia ly. Cái chết lúc nào cũng rình mò, chực chờ bên ta và tất cả người thân yêu của ta. Vậy ta hãy sống, hãy yêu thương, hãy nói những lời thật ngọt ngào xuất phát từ trái tim đối với những người thân yêu của mình, vì có thể bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể mất nhau, dù ở bất cứ lứa tuổi nào, không phải cứ 70, 80 hay 100 tuổi mới mất nhau.

Tháng 11 gợi nhớ cho ta một niềm nuối tiếc nào đó về người thân, mà ta đã đối xử thiếu tình người, nay họ không còn nữa. Ta tiếc nuối vì mình đã không nói những lời yêu thương dành cho họ. Ta nuối tiếc về những lần ta đối xử bất khoan dung với họ. Ta nuối tiếc vì nhiều cơ hội để phục vụ họ, mà ta đã cố tình bỏ qua. Và bây giờ khi xa cách, họ cũng đang nói với ta: “Sao không nói khi em còn sống”.

Tháng 11 là dịp để ta làm điều gì đó cho họ. Họ đang cần ta yêu thương. Vậy ta hãy yêu thương họ bằng lời cầu nguyện và làm việc lành phúc đức cho họ. Họ đã an nghỉ trong Chúa, nên họ chẳng cần ta nói gì với họ. Điều họ cần là ta hãy thay họ đền tội và lập công cho họ. Đó là cách ta thể hiện lời nói yêu thương dành cho họ.


Suy niệm Chúa Nhật XXXII Thường Niên, A

Kn 6,12-16; 1Tx 4,13-18; Mt 25,1-13

SỐNG NGÀY CUỐI ĐỜI

 

Mới đây tại Thụy Sĩ, người ta đã dùng điện thoại để phỏng vấn 1200 người tại 20 thành phố khác nhau về việc chuẩn bị chết. Câu hỏi được đặt ra là: “Nếu bạn chỉ còn một ngày cuối cùng để sống, bạn sẽ làm gì?” Kết quả của cuộc thăm dò cho thấy: 57% phụ nữ được hỏi cho biết họ sẽ sống ngày cuối cùng đó với gia đình. 42% các ông được hỏi cho biết họ cũng muốn sống ngày cuối cùng đó với gia đình. 32% các ông các bà đều muốn được sống với gia đình mình trong những giờ phút cuối đời. Chỉ có 12% các bà và 26% các ông thích ở một mình, hoặc cùng với bạn bè trong ngày cuối cùng của cuộc sống.

Những con số trên đây có lẽ không đại diện cho ước muốn hay suy nghĩ của tất cả mọi người. Tuy nhiên xuyên qua kết quả của cuộc thăm dò này, ta có thể đọc được tâm trạng chung của con người khi đứng trước cái chết, đó là nỗi sợ cô đơn. Thực vậy! Cái chết là một cuộc ra đi đơn độc, một chia lìa vĩnh viễn, nhất là với những người thân yêu của ta. Nếu câu hỏi trên đây được đặt cho ta trong giờ phút này, ta sẽ trả lời làm gì?

Có lẽ ta còn nhớ câu chuyện của một vị thánh trẻ, khi được hỏi về cách thế chuẩn bị chết: Giữa một đám trẻ đang chơi đùa, viên giám thị đặt câu hỏi: “Nếu ngay bây giờ chúng con biết mình sắp chết, chúng con sẽ làm gì?” Một số em bé trả lời: “Con sẽ vào nhà thờ cầu nguyện”. Một số em khác: “Con sẽ đi xưng tội để dọn mình chết lành…” Chỉ có một cậu bé điềm nhiên trả lời: “Nếu trong giây lát con có chết, thì giờ này con vẫn tiếp tục cuộc chơi”. Đó là câu trả lời của Thánh Luy Gonzaga. Viên giám thị rất thích câu trả lời đó, bởi vì nếu giải trí lành mạnh là một bổn phận trong lúc này, thì việc thánh hóa trước tiên phải nằm trong bổn phận hằng ngày: giờ nào việc nấy.

Cũng vậy, nếu ta biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố; nếu ta biết gặp gỡ Chúa trong từng sinh hoạt; nếu ta tiếp xúc với Chúa trong từng phút giây… thì cái chết chỉ là một nối dài của cuộc gặp gỡ thân tình này. Ai luôn trung thành với những gặp gỡ trong giây phút hiện tại, sẽ không phải sợ hãi trong cuộc gặp gỡ tối hậu là cái chết. Vì thế, qua câu chuyện dụ ngôn 10 cô phù dâu đi đón chàng rể trong Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi ta phải tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng cho ngày giờ Chúa đến. Vì ngày giờ Chúa đến sẽ rất bất ngờ, không được báo trước.

Dụ ngôn kể về 5 cô khờ dại và 5 cô khôn ngoan. Có nhiều người bị trách là “khôn nhà dại chợ”. “Khôn” những chuyện vặt vãnh, mà lại “khờ” những chuyện trọng đại. “Khôn” những chuyện nhất thời hôm nay, để rồi “dại” những chuyện ngàn đời mai sau. Có lẽ 5 cô khờ dại này đến giờ chót mới khôn đột xuất. Lúc chạy đi mua “khôn” thì không kịp nữa rồi! Vì thế ta phải khôn ngay đi! Tin Mừng đã cảnh giác ta tỏ tường rồi đấy!

Khôn là sống ngày hôm nay đẹp lòng Chúa, là “nghe và thi hành Lời Chúa”. Trung thành sống điều này là ta đang xây cho mình một nền tảng vững chắc, để có thể đứng vững trong đêm tối âm u, hay trong mưa sa bão táp. Ngược lại, nếu không thi hành Lời Chúa, ta sẽ bị coi là kẻ khờ dại, vì đã xây nhà đời mình trên nền cát…

Hôm nay ta vẫn còn thời giờ để “khôn”; vẫn còn thời giờ để đổ đầy dầu vào bình; vẫn còn thời giờ để ta xây dựng đời mình trên nền tảng thực thi Lời Chúa. Chàng Rể Giêsu cũng đang đến loan báo niềm vui hội ngộ. Vậy ta hãy sẵn sàng ra đón, để cùng Tân Lang vào dự tiệc Nước Trời hưởng niềm vui vô tận.


Suy niệm Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Mt 10,17-33

SỐNG CHỨNG NHÂN

Truyền thống Giáo Hội bao giờ cũng quý trọng cái chết tử đạo của con cái mình. Giáo Hội coi cái chết đó như vừa nói lên lòng can đảm của người tử đạo, vừa nói lên chiến thắng của Tin Mừng. Vì thế khi nâng 117 vị tử đạo Việt Nam lên bậc Hiển thánh, Giáo Hội muốn đưa ra những mẫu gương cho chúng ta bắt chước. Qua cái chết tử đạo, các Ngài đã làm chứng cho Đức Kitô trong những hoàn cảnh giới hạn của mình.

Noi gương các Thánh Tử Đạo, ta hãy sống làm chứng cho Đức Kitô trong hoàn cảnh của mình. Vậy ta phải sống đức tin như thế nào? Thưa, ta sẽ làm cho gương mặt cha ông tử đạo của ta thêm sáng chói, nếu ta biết “tích cực sống tử đạo giữa lòng dân tộc”. Đây không phải chỉ là một công thức đẹp, một câu nói đưa duyên, nhưng là một lựa chọn của Giáo Hội, như thư chung HĐGMVN năm 1980 đã đề ra. Chính vì thế, đối với ta, đó cũng là một mệnh lệnh. Ta phải biến mệnh lệnh trên thành việc làm.

Hiện thời ta đang sống trên đất nước Việt Nam, cùng với những người Việt Nam khác để xây dựng một xã hội Việt Nam tốt đẹp hơn. Đó là thánh ý nhiệm mầu. Làm sao ta dám cưỡng lại, làm sao ta dám chối từ? Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cũng đã không chạy trốn hoàn cảnh các Ngài phải sống. Xã hội ta đang sống, môi trường ta đang làm việc, những con người ta đang gặp gỡ trên mọi nẻo đường… Rất có thể có những điều hay, cái đẹp; thế nhưng cũng không thể tránh hết những cái chưa hay, những điều còn xấu.

Chính vì thế, vai trò đức tin của ta xuất hiện như một nhu cầu cần thiết; và sứ mệnh làm chứng của ta trở thành cấp bách hơn bao giờ hết. Chính ta phải tự vạch ra cung cách sống đạo cho mình trong từng thời điểm, trong từng hoàn cảnh. Chẳng hạn, nếu môi trường ta sống chưa hoàn toàn tôn trọng sự thật, thì ta phải sống sao cho người đời thấy rằng: Chỉ có sự thật mới có thể giải thoát chúng ta, như Tin Mừng đã dạy.

Nếu tại nơi ta phục vụ chưa có chí công vô tư; vẫn còn đầy dẫy những chuyện móc ngoặc, tham nhũng, hối lộ, thì ta phải cố sống sao cho siêu thoát, chấp nhận sự đạm bạc, không màng chi đến việc làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người khác. Nếu những kẻ có quyền có thế lạm dụng chỗ đứng mà ức hiếp người dân, thì ta phải biết tôn trọng và giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những kẻ bất hạnh và nghèo đói.

Nếu chung quanh ta, đời sống lứa đôi đang bị coi thường, tình yêu vợ chồng bị hạ xuống hàng trò chơi tạm bợ; Sự sống của con cái là kết quả của tình yêu, lại bị chối bỏ cách dễ dàng, thì đời sống gia đình của ta phải thấm nhuần tinh thần Phúc Âm. Nghĩa là vợ chồng thương yêu nhường nhịn lẫn nhau, con cái được đón nhận như là hồng ân Chúa ban, sự sống được tôn trọng và yêu thương. Các khó khăn phải được giải quyết bằng niềm tin, bằng cầu nguyện, chứ không phải bằng bạo lực, bằng đổ vỡ.

Cuộc sống làm chứng nào cũng bị thiệt thòi vào thân. Đó là điều làm cho ta lo ngại nhất, nhưng đó chính là thước đo mức độ lòng tin của ta vào Giáo Hội. Để làm chứng cho sự thật, cho tình yêu, Chúa Giêsu đã phải trả giá bằng cái chết trên thập tự. Cho nên nếu ta gặp phải khó khăn trong đời sống chứng nhân, thì đó cũng chỉ là chuyện bình thường, là quy luật của muôn đời. Bởi vì sống làm chứng là sống tận căn cái nghịch lý mất mạng để được mạng; là sống triệt để cái biện chứng hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi, để làm nẩy sinh nhiều bông hạt. Đó là điều các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã làm. Đó cũng là điều ta phải làm, nếu ta muốn trở nên chứng nhân cho Đức Kitô.


Suy niệm Chúa Nhật XXXIV Thường Niên, A

Ed 34, 11-12.15-17; 1Cr 15, 20-26.28; Mt 25, 31-46

TRƯỚC VÀNH MÓNG NGỰA

 

Khi nói tới cụm từ “trước vành móng ngựa”, người ta có ý nói tới tòa án, liên quan đến pháp luật và công lý, tất nhiên cũng “dính líu” tới tội lỗi. Gọi là “vành móng ngựa” vì “tấm chắn” nơi bị cáo đứng có hình bán nguyệt giống như móng sắt đóng vào chân ngựa.

Chẳng ai ham cái “của nợ” ấy. Người đứng “trước vành móng ngựa” là phạm nhân hoặc tội nhân. Tất nhiên cũng có người bị xử oan, và có người “được” xử đúng tội. Vì thế thẩm phán và hội đồng xét xử phải là những người công tâm, xét xử đúng theo pháp luật. Các phạm nhân có thể lãnh những mức án khác nhau: Tử hình, chung thân khổ sai, chung thân, bị giam giữ vài chục năm, vài tháng, vài tuần, vài ngày, hoặc án treo.

Tính theo Tân Ước, thì Chúa Giêsu là người đầu tiên phải ra “trước vành móng ngựa” và Ngài đã bị kết án tử hình thập giá. Tất nhiên là Chúa Giêsu đã bị kết án oan sai một cách bất công, vì ý đồ thâm độc của bọn thủ ác!

Tòa án là đại diện cho công lý. Tòa án đời có nhiều cấp độ, từ thấp tới cao, tới tối cao, và đặc biệt là tòa án quốc tế. Nhưng có một loại tòa án vô hình rất quan trọng, hơn cả tòa án tối cao. Tòa án này không có thẩm phán, không có luật sư bào chữa, không có nguyên đơn, mà chỉ có bị cáo. Đó là “tòa án lương tâm”. Tòa án này được đặt trong tâm hồn mỗi người. Và ta phải tự xử hàng ngày!

            Ngoài tòa án lương tâm xét xử ta mọi nơi mọi lúc, mỗi người còn phải ra “trước vành móng ngựa” hai lần. Lần thứ nhất ta phải ra “trước vành móng ngựa” ngay khi mình vừa qua đời. Ta gọi đó là phán xét riêng. Lần thứ hai ta phải ra “trước vành móng ngựa” là Ngày Phán Xét Chung. Tại tòa Công Lý của Chúa, không có nguyên đơn, không có luật sư bào chữa và không ai được kháng cáo. Thật đáng sợ, vì “Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử” (Rm 1,2) và “Thiên Chúa không thiên vị ai” (Rm 1,11). Lúc đó ta đừng biện hộ rằng tôi thế này, tôi thế nọ; tôi đã thực hiện nhiều thứ công ích xã hội, v.v...

Ngày ấy ta không thể biện minh, không thể ỷ công sức hoặc tài năng mà chối tội, vì tất cả mọi chi tiết trong cuộc sống của mình đã được “ghi âm” và “thu hình” bằng một loại “máy” cực kỳ tối tân, là loại máy “siêu vô hình”. Ta cũng đừng giả nai hoặc cố ý quên rằng: Thiên Chúa là “Đấng thấu suốt mọi sự, dù những sự bí ẩn trong lòng ta, Chúa cũng biết” (2 Mcb 7,35; 1 Cr 2,10).

            Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Matthêu mô tả cuộc Phán Xét Chung như một bộ phim sống động. Ta thấy Thiên Chúa không xét đến chức vụ, công to việc lớn, hay tài năng của mỗi người. Chúa chỉ chú trọng đến việc ta có sống bác ái, có chân thành yêu thương và chia sẻ mọi thứ với những người khốn khổ hay không mà thôi. “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8). Luật của Chúa là Luật Yêu Thương. Cả cuộc đời này chỉ cần yêu là đủ. Yêu là giữ trọn các luật khác. Thật vậy, đức mến quan trọng nhất. Quan trọng cả đời này và đời sau, vì trong Nước Chúa, không cần đức tin và đức cậy, mà chỉ còn đức mến.

            Lạy Thiên Chúa tình yêu! Con xấu hổ quá! Xin thương xót, tha thứ và biến đổi con. Xin Chúa Thánh Thần tác động trên cuộc đời con, để con chấn chỉnh cuộc sống cho kịp “giờ Chúa đến”, trước khi con phải đứng “trước vành móng ngựa”.

 

 

 

CẦU NGUYỆN CHO

TÍN HỮU QUA ĐỜI

Trung Thành

Giáo huấn của Giáo Hội về việc cầu nguyện cho người đã chết liên quan chặt chẽ đến giáo lí về Luyện tội và mầu nhiệm Hiệp thông các thánh. Thật vậy, trong mầu nhiệm các thánh thông công, giữa các tín hữu, cả những vị đã đạt tới quê hương thiên quốc, cả những người còn đền tội nơi luyện ngục, cả những người đang lữ hành trên trần gian, có một dây liên kết vững bền trong tình yêu và một sự trao đổi dồi dào tất cả các điều thiện hảo. Trong sự trao đổi kỳ diệu này, sự thánh thiện của một người sinh lợi cho những người khác, vượt xa sự thiệt hại mà tội lỗi của một người có thể gây ra cho những người khác. (GLHTCG 1475, x. 954-958). Theo truyền thống Công giáo chúng ta vẫn thực hành việc cầu nguyện cho những người đã qua đời. Việc đạo đức này không chỉ mang đậm ý nghĩa văn hóa dân tộc về việc hiếu kính đối với tổ tiên ông bà mà còn đặt nền tảng trên Kinh Thánh.

Bản văn Kinh Thánh đầu tiên nói đến việc cầu nguyện cho người chết xuất hiện trong sách Macabêô quyển thứ hai (2 Mcb 12,39-45). Trước hết, hai sách Macabêô thuật lại cuộc chiến đấu quyết liệt của người Do Thái, dưới sự lãnh đạo của gia đình Macabêô, chống lại sự xâm nhập của văn hóa Hi Lạp. Chủ trương của nước thống trị là xóa bỏ mọi gốc tích văn hóa, tôn giáo của nước bị trị và thay vào đó những giá trị mới của chính quốc. Câu chuyện bốn mươi năm chiến đấu dũng cảm (170-130 tCN) để bảo toàn nền độc lập cho các giá trị Do Thái là nội dung chính của sách 1Macabêô. Ở đây tác giả tỏ lòng ngưỡng mộ các vị anh hùng dân tộc đã dấn thân trọn vẹn cho lí tưởng cao đẹp của dân tộc. Riêng cuốn thứ hai, ngoài mục đích trì sự liên tục của lịch sử mà tác giả đã trình bày, qua những câu chuyện hồi tưởng, ông lại lồng vào đó những chủ đề thần học sâu xa: giáo huấn đầu tiên về xác loài người sống lại (7,9); Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ hư vô (7,28); giá trị của việc cầu nguyện cho người chết (12,39-45); Hiệu lực của lời cầu nguyện chuyển cầu của người công chính (15,13-14).

Đoạn văn ngắn 2Mcb 12,39-45 thuật lại buổi lễ cầu nguyện cho các chiến sĩ tử trận. Sau cuộc chiến đẫm máu chống lại tướng Goócghiát ở Giamnia, một số chiến binh Do Thái tử trận. Ông Giuđa cho quân của mình thu hồi tử thi của các chiến hữu để chôn cất theo tục lệ Do Thái và đặt trong phần mộ của tổ tiên. Bất ngờ, họ phát giác trong áo của những xác chết này những đồ vật như những lá bùa đã được dâng cúng cho các thần ở Giamnia. Bất kể những kẻ xấu số đó tin rằng những vật thể này có khả năng hộ mệnh đặc biệt, hay đó chỉ là chiến lợi phẩm thu được trong trận chiến, thì cũng đều phạm luật. Hậu quả mà người ta suy luận là: họ phải chết vì tội (12,40-41). Tình huống này cũng giống với một biến cố lịch sử thời trước, đó là câu chuyện thất bại ở thành Ai, được thuật lại trong sách Giôsuê chương 7. Ông Giuđa tin rằng xác người chết sẽ sống lại (12,44-45), nên ông tổ chức lễ tế cầu nguyện cho các chiến sĩ tử trận đó thoát khỏi án tội. Tin vào người chết sống lại, nghĩa là cho rằng có một khoảng thời gian giữa lúc chết và ngày phán xét sau cùng, khi mỗi người còn mắc tội sẽ phải chịu thanh luyện riêng để có thể kết hợp với Chúa. Việc cầu nguyện và dâng lễ tế như thế rất cần thiết, và vì vậy đã được tán dương. Công việc của ông Giuđa không chỉ là dâng hi lễ mà cộng đoàn phải làm khi khám phá thấy một thành viên của mình phạm tội, theo quy định của Lv 4,13-14, mà còn xuất phát từ niềm tin vào sự hiệp thông giữa những người sống và người chết: người sống có thể giúp người chết xá giải các tội của họ bằng việc cầu nguyện và sự hi sinh của mình.

Giáo lí về Luyện tội và việc cầu nguyện cho người chết hình thành dần dần qua sự rọi sáng của đoạn văn 2Mcb 12,39-45 cũng như những đoạn Kinh Thánh khác. Chẳng hạn trong Mt 12,32 Chúa Giêsu nói đến những tội phạm đến Thánh Thần thì không được tha cả đời này lẫn đời sau. Còn thánh Phaolô trong 1Cr 3,15 thì đưa ra một hình ảnh sống động: những việc làm tội lỗi sẽ bị lửa thiêu hủy, nhưng bản thân người hành động thì được cứu. Và ngài đã cầu nguyện cho một người tên là Ônêxiphôrô mới qua đời: “Xin Chúa ban cho anh tìm thấy nới Chúa lòng thương xót trong Ngày đó” (2Tm 1,18).

Ngoài nền tảng Kinh Thánh thì Truyền thống Giáo Hội cũng cho thấy niềm tin vào sự sống lại và việc cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời được thực hành rất sớm. Việc đạo đức này đã hình thành chặt chẽ, quy củ nơi cộng đoàn Kitô hữu tại Rôma qua việc chôn táng, bắt đầu từ thế kỉ thứ nhất và kéo dài suốt ba thế kỉ. Hàng chục hang toại đạo nằm ở ngoại thành Rôma mà phần lớn thuộc về cộng đoàn Kitô hữu hiện vẫn còn tồn tại, cho chúng ta thấy điều đó. Các sử gia cho biết rằng theo tục lệ chôn táng nguyên thủy của người Rôma, thì họ hỏa thiêu xác chết rồi lấy phần hài cốt đặt trong một cái tiểu và đặt trong nhà hài cốt. Nhưng các Kitô hữu, do niềm tin vào xác người chết sống lại và vào ngày Chúa Quang Lâm nên đã để nguyên người chết và an táng trong các hang toại đạo nằm sâu dưới lòng đất. Nơi mỗi huyệt mộ, người ta còn vẽ các họa tiết và lời cầu nguyện vắn tắt cho người chết, chẳng hạn: PAX (TIBI, VOBIS, SPIRITUI TUO, IN AETERNUM, TIBI CUM ANGELIS, CUM SANCTIS = Xin Chúa cho Ông, Bà, Anh, Chị được nghỉ yên muôn đời). Và vào mỗi dịp nào đó, họ lại quy tụ để cầu cho người đã qua đời. Vào  khoảng đầu thế kỉ thứ năm, việc cầu nguyện cho người chết đã đi vào văn chương Kitô giáo và được ấn định trong phụng vụ của Giáo Hội. Năm 1245, Công đồng Lyon thứ nhất xác quyết “Luyện ngục” là nơi dành cho những linh hồn còn phải chịu thanh luyện. Năm 1563 Công đồng Trentô tái xác quyết về Luyện tội và đưa ra các quy định về ân xá, đồng thời tha thiết khuyên các tín hữu dâng lễ Misa cầu cho người đã qua đời.

Cái chết luôn là một mầu nhiệm đối với con người. Dù đã được hướng dẫn và củng cố qua những giáo huấn của Giáo Hội, mỗi người đều không khỏi băn khoăn khi bước vào ngưỡng cửa đời sau. Tuy nhiên, khi biết rằng dù có chết đi chúng ta vẫn thuộc về cộng đồng anh chị em của mình, và được hợp nhất trong Nhiệm Thể Chúa Kitô thì đó là niềm an ủi lớn lao cho chúng ta. Niềm tin vào mầu nhiệm Các thánh Thông công và xác loài người sống lại nhắc nhở chúng ta luôn nhớ đến những người đã khuất bằng lời cầu nguyện, sự hi sinh và dâng Thánh lễ, để một ngày kia chính chúng ta cũng được hưởng nhờ lời cầu nguyện của bao người khác.

 

    CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 10&11-2014

 

Cau do KTNgười ta thường nói anh em họ hàng đông đảo nhiều khi chằng chịt như “dây mơ rễ má” phải không bạn? Sắp kết thúc Năm Gia Đình, CĐKT hai tháng 10&11 thử tài bạn: Trong cột đánh số có 2 người, người trước có liên hệ thân tộc với người sau, biểu thị bằng (¨), bạn hãy tìm hiểu mối quan hệ gia đình của họ để nối kết với cột ghi chữ cho đúng. Và nhớ chú dẫn Kinh Thánh, bạn nhé!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 9-2014

 

1. CALÉP (Gs 5,15; Xh 3,5)

2. SAUN (Gs 6,20; Tl 7,22)

3. SALÔMÔN (Xh,14,15-16; Gs 4,7-8)

4. ĐAVÍT (Xh 7,10-12)

5. ĐANIEN (Ds 12,10-14; 2 Sbn 26,19-21)

6. ISAÁC (St 17,19; Lc 1,17-18)

7. XÊDA (Xh 1,22; Mt 2,3)

8. RAKHEN (St 25,24-28; St 38, 24-27)

9. GIÔSUÊ (St 46,2-3; Mt 2,13).          

 

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 9-2014:

1- Giuse Nguyễn Quang Trường, Gx. Hải Hưng, Kênh C1

2- Maria Lê Cẩm Vân, Gx. Kiên Lương, Hà Tiên

3- Giuse Cao Văn Đường, Gx. Thánh Gia, Kênh 1B

4- Maria Phạm Thị Cảnh, Gx. Vạn Đồn, Kênh B1

5- Maria Nguyễn Thị Ánh, Gx. Bò Ót, Thốt Nốt, Cần Thơ

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                        - Email: jostrung.trung@gmail.com

                        - Điện thoại: 01672576777

                        - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên GiangS

 

TƯỞNG NHỚ ĐẤNG SINH THÀNH

Chúa truyền ba đã vâng lời

Một chiều vĩnh biệt cõi đời ra đi

 

SONG

KIÊN

 

Giáo xứ

Đài

Đức Mẹ

Buồn nào bằng cảnh biệt ly

 

Vô cùng thương nhớ hoen mi lệ trào

Gia đình thân tộc nghẹn ngào

Thân bằng quyến thuộc nao nao bùi ngùi

Biết rằng: sinh ký tử quy

Hồn về cõi phúc xác vùi thế gian

Trần gian ba sống gian nan

Thương con, thương vợ vô vàn hy sinh

Việc nhà, việc xứ hết mình

Hiếu cha, thảo mẹ, đẹp tình anh em

Xuôi tay nhắm mắt êm đềm

Nguyện xin Thiên Chúa sớm đem ba về

Trần  gian xác thịt nằng nề

Bao lần xúc phạm đam mê cõi trần

Chúa thương tha thứ lỗi lầm

Linh hồn được hưởng Hồng ân Chúa Trời

Thiên Đàng cõi phúc đời đời

Không còn chết nữa đầy vơi lệ sầu

Cháu con ghi tạc ân sâu

Ghi đình tưởng nhớ nguyện cầu cho ông.


GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Phục sinh

Trong vòng 24 tiếng đồng hồ, khắp Giêrusalem nhận ra sự kiện phục sinh. Người trong thành sáng hôm đó ai nấy đều sửng sốt. Lại có động đất, cuộc động đất hai ngày trước đó đã làm rung chuyển Đền thờ, rồi suốt trong ba giờ liền bão cát nổi lên, tiếp đó lại động đất. Khi các bà là những người đầu tiên tri hô lên không còn thấy xác, người nghe coi đó là chuyện nhảm. Nhưng đến chiều tối thì chẳng còn ai ngờ gì nữa, nhất là trong đám môn đệ. Đức Giêsu đã hiện ra với hai trong số các môn đệ trên đường đi Êmau và đã tỏ mình cho họ biết. Lịch sử đạo Kitô như là lịch sử của một niềm tin khởi đầu từ giây phút này.

Giêrusalem đã biết đến sự kiện sớm hay muộn, ta không rõ. Ta chỉ biết qua kết luận của Matthêu rằng, cả sau cuộc hiện ra cuối cùng của Chúa trên núi Sinai – Đấng bị đóng đinh đã sống lại và nói: “Mọi quyền năng đã được trao cho Ta” – thì vẫn còn có những kẻ không tin. Sứ điệp phục sinh luôn gặp phải ngờ vực và chối bỏ, cho dù nó là một sứ điệp chiến thắng, sứ điệp vượt thắng hoài nghi.

Đức Kitô đã ra khỏi thế gian và ra khỏi cuộc sống thế gian để mặc lấy một thân xác mới. Thân xác này không còn bị lệ thuộc bởi các quy luật vật lí; nó thuộc về thế giới Thiên Chúa, từ thế giới đó Ngài tỏ mình ra cho con người và mở lòng họ, để họ nhận ra và đụng chạm được Ngài. Chúng ta luôn được mời gọi, cùng với “tông đồ không tin” Tôma, sờ vào Ngài và nhận ra cái hiện tại sống động mà Ngài luôn tỏ mình ra một cách mới trong lịch sử.

Biến cố phục sinh là một cái gì mới đi vào trần thế, và từ đó Giáo hội đã có thể hình thành. Và trong thực tế, phục sinh là cộng đoàn của những người tin vào Đức Kitô, cộng đoàn của Dân Thiên Chúa mới. 

Thập giá, biểu tượng linh thiêng nhất của vũ trụ, như Guardini đã nói, đã trở thành dấu chỉ của Kitô hữu. Thập giá với một người bị đóng đinh, là một biểu tượng gây khó chịu, tạo chống đối. Ngay Phaolô đã phải cảnh giác: Đừng làm cho thập giá trở nên vô nghĩa, đừng đặt ngang hay dựng đứng nó, đừng biến cái hơn của Chúa ra cái kém của thế giới.

Thật ra đó là một câu chuyện có một không hai. Thập giá không những là nơi kết thúc sứ điệp và chính thân xác thịt máu của Đức Giêsu. Chính nó đã trở thành biểu tượng cứu độ, biểu tượng không phải của sự chết, mà là sự sống. “Gỗ của sự sống thật” thánh Anrê ở Giêrusalem đã hát lên như thế. Điều trớ trêu: Qua thập giá tới cứu độ.

Những bức ảnh chịu nạn xưa mô tả người bị đóng đinh đồng thời cũng là kẻ sống lại, là vua. Hình người trên đó mở mắt, để cho thấy bản chất không chết của Thiên Chúa, nhưng Ngài sống mãi và trao tiếp sự sống. Như vậy, từ một công cụ hành hình xấu xa của người Rôma, thập giá đã trở nên dấu chỉ chiến thắng của Con Người. Dấu chỉ đó sẽ không chỉ đến với ta trong ngày sau hết, nhưng nó đã tới, qua việc Ngài đến với ta như một kẻ chiến thắng và mang ta đi. Cùng với Ngài ta lên đường tiến về Thiên Chúa hằng sống; qua nỗi đau khổ của Ngài ta thấy niềm an ủi của tình yêu Thiên Chúa, tình yêu này mạnh hơn đau khổ. Như vậy, thập giá thật sự đã trở thành một dấu chỉ cứu độ, dấu chỉ vắn gọn của Đức Giêsu Kitô, qua đó chúng ta nối kết với Ngài.

Các môn đệ ở Giêrusalem quả đã bị một cú xốc lớn: Đấng Thiên Sai, Đấng đã có thể chữa lành người mù và khiến kẻ chết sống lại, bỗng dưng hiện thân như một kẻ bị sỉ nhục, bị giày đạp và bị đám tay sai quyền lực treo lên thập giá. Điều tuyệt đối không thể giải thích được: Tại sao Thiên Chúa lại phải đau đớn và chết, mới cứu được tạo vật của Ngài?

Đó là bí ẩn của Thiên Chúa: Ngài không đi vào trần thế để cải tạo công bằng xã hội bằng quyền lực. Ngài đã vì ta hạ mình và để cùng đau khổ với ta. Ta sẽ không bao giờ hiểu hết được bí ẩn đó. Và dù vậy, cái tích cực nhất mà ta biết được về Chúa, là Ngài không đơn giản cai trị bằng quyền lực. Thiên Chúa có lối sử dụng quyền lực riêng, không như lối của con người. Quyền lực của Ngài là sức mạnh cùng yêu và cùng khổ, khuôn mặt thật của Ngài tỏ lộ ra chính trong đau khổ. Thiên Chúa mang nỗi bất công của thế giới trong đau khổ, nhờ đó chính trong những giờ phút đen tối ta có thể chạy tới cùng Ngài là kẻ gần với ta nhất.

Thiên Chúa trở nên bé nhỏ, để ta có thể nắm bắt được Ngài. Để cho con người học được nguyên tắc sống chống lại thói kiêu căng và muốn làm trời của họ. Ngài tới như một người sờ đúng trái tim ta. (Còn tiếp).

 

 

       
 

Mẹ Của Con

Ôi ! Mẹ Maria
Con cất cao lời ca
Ngợi khen Mẹ chính là:
"Nữ Vương của lòng con"
Lòng Tin, Mến sắt son
Con đặt trọn nơi Mẹ
Dẫu cuộc đời buồn tẻ
Con vẫn luôn tin rằng:

 

 

 

"Mẹ luôn ở bên con
Ấp ủ con tháng ngày
Cho hồn con vui say
Vượt qua những đắng cay
Đến hạnh phúc mai này".

Jos. Nguyễn Minh Đức,

Gx.Thánh Tâm B2.

 

 

 

 

 

 



CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH

VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI

 

GIA ĐÌNH

TRONG KẾ HOẠCH CỦA THIÊN CHÚA

 

Gia đình, từ ban đầu, luôn nằm trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, nên khi gia đình đầu tiên bị tan vỡ do tội, Ngài vẫn yêu thương và phục hồi lại những phẩm giá của gia đình. Trong những trang đầu của sách Sáng Thế Ký, chúng ta đọc thấy việc Thiên Chúa thiết lập gia đình đầu tiên với những lời chúc phúc, sau khi Ngài tạo dựng vũ trụ. "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất” (St 1, 27-28). Tuy nhiên, cuộc hôn nhân đầu tiên được Thiên Chúa chúc phúc đó đã bị đánh mất vẻ đẹp ban đầu do tội, nên Thiên Chúa chuẩn bị cho một cuộc hôn nhân trọn hảo để phục hồi lại những gì đã bị đánh mất do sự tan vỡ của cuộc hôn nhân đầu tiên: Đó là cuộc "hôn nhân" giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Ngài, đó là "Trời mới và đất mới" mà chúng ta đọc thấy trong những trang sách cuối cùng của Kinh Thánh, sách Khải Huyền.

Thực vậy, có thể nói, Kinh Thánh là một câu chuyện về gia đình trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Câu chuyện đó được khởi đi từ gia đình đầu tiên là gia đình của Ông Adong và bà Eva, nhưng gia đình ấy đã bị tan vỡ. Rồi qua bao đời, Thiên Chúa lại chọn Abraham và con cháu ông để bắt đầu cho một câu chuyện mới về gia đình. Gia đình đó được chọn làm dân riêng của Ngài, dân Israel. Chính trong dân được chọn đó, Con Thiên Chúa, Đấng đến để phục hồi lại tất cả những phẩm giá bị đánh mất do sự tan vỡ của gia đình đầu tiên, được sinh ra bởi một người nữ, do quyền năng của Chúa Thánh Thần.

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm Người, đã được sinh ra từ cung lòng của một người mẹ và được nuôi dưỡng và lớn lên trong một gia đình với Đức Mẹ và thánh Giuse. Ngài đã sống trong một gia đình và đã thánh hóa gia đình đó thành một gia đình thánh. Hơn nữa, Chúa Giêsu không chỉ thánh hóa gia đình thánh gia, mà qua đó, Ngài thánh hóa mọi gia đình và chúc phúc cho họ. Điều này được thể hiện khi Ngài đến dự tiệc cưới tại Cana và đã làm phép lạ đầu tiên tại đó (x. Ga 2,1-11), và như đã được các Tiên Tri loan báo, Ngài đã đến và tự gọi mình là Chàng Rể (x. Mc 2,19-20), và gọi Giáo Hội mà Ngài thiết lập là Nàng Dâu. Là Nàng Dâu của Ngài, Giáo Hội được Chúa Giêsu trao phó cho sứ mạng hoàn tất kế hoạch mà Thiên Chúa muốn cho các gia đình, qua việc loan báo cho con người mọi thời, của mọi quốc gia rằng: Thiên Chúa là Cha chúng ta, và mời gọi họ hãy sống như một gia đình của Thiên Chúa trong Giáo Hội.

Tại sao gia đình lại luôn nằm trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa? Phải chăng gia đình rất quan trọng đối với con người, xã hội và Giáo Hội? Quả thế, gia đình rất quan trọng, vì:

- Gia đình là nền tảng cho mỗi cuộc sống của chúng ta.

- Gia đình là nơi chúng ta học được tên của mình, đồng thời nhân cách và các giá trị được hình thành. Đó là nơi chúng ta học cách để cầu nguyện, chia sẻ những suy nghĩ và những cảm xúc của chúng ta. Hơn nữa, từ nơi đó chúng ta học được cách để trao ban và đón nhận tình yêu, tập sống hy sinh và sống với những khác biệt.

- Gia đình là nơi mà những người già cũng như những người trẻ nhận biết chân giá trị, chia sẻ cuộc sống của họ và chăm sóc lẫn nhau, đặc biệt là những lúc yếu đuối và bị tổn thương.

- Gia đình cũng là nền tảng của xã hội, được thiết lập từ khế ước tự nhiên, liên kết mọi người trong xã hội lại với nhau. Không chỉ thế, gia đình cũng còn là nền tảng của Giáo Hội, nơi mà chúng ta khám phá ra căn tính là con Chúa của mình và là anh chị em với nhau.

Gia đình, trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa là thế. Tuy nhiên, như chúng ta biết, ngày nay, các gia đình đang phải đối diện với nhiều thách đố: những xung đột trong gia đình giữa vợ chồng với nhau; cha mẹ với con cái; và anh chị em với nhau. Ngoài ra, những gánh nặng bởi đói nghèo, bạo lực, bệnh tật và những khó khăn khác cũng đang là những mối đe dọa lớn đối với các gia đình, làm cho gia đình bị tan vỡ và bị chệch hướng, không còn đi đúng theo kế hoạch của Thiên Chúa.

Trước nguy cơ trên, để gìn giữ gia đình khỏi những tan vỡ, luôn là một mái ấm đầy yêu thương, mọi người luôn cảm thấy được yêu thương và nhận ra được những giá trị của mình, và nhất là để gia đình luôn thực sự là nền tảng vững chắc cho xã hội và Giáo Hội, theo như chương trình kế hoạch của Thiên Chúa, mỗi thành phần trong gia đình cần phải học nơi Chúa Giêsu bài học yêu thương: "Yêu cho đến cùng" bằng một tình yêu "của người sẵn sàng hy sinh vì bạn hữu mình". Thực vậy, nền tảng của đời sống gia đình là tình yêu. Và, gia đình nào biết xây dựng đời sống gia đình mình trên nền tảng tình yêu thì ví như xây nhà mình trên nền đá vững chắc, dù có phải gặp phong ba bão tố thì ngôi nhà đó vẫn luôn đứng vững.

Ước mong mọi gia đình luôn ý thức được vai trò của gia đình quan trọng như thế nào trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, để qua đó các gia đình luôn sống đúng với căn tính của mình: Mọi người trong gia đình biết yêu thương nhau, chấp nhận nhau với những độc đáo riêng cùng với những thiếu sót, biết giúp nhau trở nên tốt, sống đúng nhân cách của một con người và là con Chúa. Được như vậy, gia đình sẽ thực sự là nơi đào tạo được những con người tốt, và nhờ vậy mà thế giới này luôn có những con người tốt, những con người phản ánh cách trung thực kế hoạch yêu thương mà Thiên Chúa đã, đang và sẽ thực hiện trong thế giới này.

Hương Quê

 

 

GỌI ĐIỆN CHO NGƯỜI THÂN

Đóa Hoa Vô Thường

 

“Năm tân phúc âm hóa các gia đình”sắp kết thúc. Trong bầu khí se lạnh của những ngày tàn Thu, tôi suy nghĩ về sự chết và cầu nguyện cho những người đã qua đời. Tôi cố gắng lục lọi trong trí nhớ nhỏ nhoi của tôi, để tìm lại những hình ảnh thân thương một thuở yêu dấu, một thuở gặp nhau bên đời quạnh hiu, mà nay không còn nữa.

1.Một lần nọ, trong giờ tâm sự với Chúa, tôi nhấc điện thoại lên, bấm số “gọi điện cho người thân”. Sau khoảng lặng linh thánh, tôi nghe như có tiếng Chúa trả lời: Số máy này hiện không liên lạc được. Xin quí khách vui lòng gọi lại sau. Gọi lại sau, nghĩa là còn có thể liên lạc được. Con người có linh hồn và thân xác. Sau khi qua đời, phần thân xác sẽ được chôn vùi trong mồ mả, được hỏa táng hay thủy táng…. Có những thân xác bị tan vỡ hoàn toàn do bom đạn, hay bị phân hủy cách này cách khác, không thể thu hồi. Nhưng dù chết cách nào và hình hài sau khi chết ra sao, thì thân xác cũng sẽ trở về bụi đất. Còn linh hồn thì không chết. Linh hồn sẽ chịu sự phán xét riêng của Thiên Chúa và chờ ngày kết hợp lại với thân xác được biến đổi, khi Chúa lại đến trong vinh quang (Sách GLCG, số 205). Trong ngày lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô đã lên tiếng giảng về sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su. Ngài nói: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề khi ở trước thánh nhan” (Tđcv 2, 27-28). Vì thế trong niềm tin vào Đức Kitô đã chết và sống lại, tôi tin mình sẽ gặp lại người thân trong ngày sau hết.

2.Một lần khác, trong giờ tâm sự với Chúa, tôi nhấc điện thoại lên, bấm số “gọi điện cho người thân”. Sau khoảng lặng linh thánh, tôi nghe như có tiếng Chúa trả lời: Số máy này hiện không liên lạc được. Xin quí khách vui lòng gọi lại đời sau. Gọi lại đời sau, nghĩa là còn có hi vọng được gặp lại, nhưng là ở đời sau. Địa điểm gặp nhau ở đâu? Trong Tin mừng, Chúa Giêsu đã kể câu chuyện một người giàu ích kỷ và một người nghèo khó tên là Ladarô (Lc 16,19-31). Qua câu chuyện này, Chúa đã tiết lộ cho chúng ta một vài chi tiết đặc biệt quan trọng về âm phủ. Ngày ấy cả người giàu và Ladarô đều lần lượt qua đời. Thân xác của họ được đem chôn. Linh hồn của cả hai người đều vào âm phủ. Tuy nhiên, âm phủ lại có hai khu vực riêng biệt. Giữa hai khu vực ấy là một vực sâu ngăn cách.

a. Khu vực dành cho người gian ác: Linh hồn của họ phải chịu đau khổ vì bị lửa thiêu. Tuy nhiên, âm phủ mới chỉ là nơi khổ hình tạm thời mà thôi, vì thân xác của những người này sẽ sống lại cùng với linh hồn của họ trong ngày sau hết, để chịu sự phán xét chung của Thiên Chúa. Sau đó, cả thân xác và linh hồn của họ sẽ phải chịu hình phạt vĩnh viễn trong Hỏa ngục. Nhiều người cho rằng sau khi chết, linh hồn con người sẽ ở trong trạng thái “ngủ”, nghĩa là không có ý thức, không biết đau khổ hay sung sướng. Nhưng qua câu chuyện Chúa Giêsu kể trên đây, ta thấy linh hồn con người có ý thức. Linh hồn cảm nhận được sự đau khổ hay hạnh phúc. Người giàu kia đã cảm nhận được sức nóng khốn khổ của lửa thiêu, nên ông đã van xin Ladarô nhỏ vài giọt nước để làm mát lưỡi ông, nhưng không được. Ông cũng ý thức được sự đau khổ đang giày vò ông trong âm phủ, nên ông đã nhờ Ápraham sai Ladarô đến gặp năm người anh em của ông còn sống trên trần gian, để thuật lại cho họ biết sự khốn khổ trong âm phủ mà bản thân ông đang phải chịu, với hi vọng họ đừng sống như ông, nhưng cũng không được (Lc 16, 27-28).

b. Khu vực dành cho người công chính: Kinh Thánh gọi là “lòng Ápraham”. Đây là nơi linh hồn người công chính được yên ủi. Tuy nhiên, đây chưa phải là Thiên đàng. Xin chú ý: Tại thời điểm Chúa Giêsu kể câu chuyện này, thì Ngài chưa chết trên thập giá để chuộc tội cho nhân loại. Vì thế tất cả những người công chính trong thời Cựu Ước khi chết, linh hồn của họ chưa được vào Thiên đàng, nhưng tạm thời ở trong âm phủ. Chẳng hạn: Khi nghe tin Giuse chết, Tổ phụ Giacóp tin rằng con mình đang ở trong âm phủ. Ông đã nói với các con: “Cha sẽ để tang mà xuống với con cha ở trong âm phủ” (Stk 38,35). Khítkigia, vua Giuđa đã nói sau khi ông qua khỏi cơn trọng bệnh: “Tôi có nói: Nửa cuộc đời dang dở mà đã phải ra đi. Bao tháng năm còn lại, giam tại cửa âm ty” (Is 38,10).

c. Có một vực sâu ngăn cáchgiữa hai khu vực âm phủ. Một dành cho kẻ gian ác và một dành cho người công chính. Chúa Giêsu cho biết: Không ai có thể từ khu vực này đi qua khu vực kia. Điều này dạy cho chúng ta bài học hết sức quan trọng. Đó là sau khi qua đời, thì số phận của mỗi người đã được quyết định. “Được ăn cả, ngã về không”. Không ai có thể thay đổi số phận của mình được nữa. Sẽ không có cơ hội thứ hai cho ta trong âm phủ. Tất cả những gì ta có thể làm để tránh vào nơi khổ hình là lúc ta còn sống!

3. Một lần khác, trong giờ tâm sự với Chúa, tôi nhấc điện thoại lên, bấm số “gọi điện cho người thân”. Sau khoảng lặng linh thánh, tôi nghe như có tiếng Chúa trả lời: Số máy này đời đời không liên lạc được. Xin quí khách vui lòng gọi tổng đài Mt 25,41. Tôi giật mình, kêu lên: “Lạy Chúa, con hiểu rồi”. Thế là hết. Đời đời không liên lạc được, nghĩa là vĩnh viễn tắt niềm hi vọng.

a. Tôi tin có Hỏa ngục: “Hỏa ngục là án phạt đời đời bị tách khỏi Thiên Chúa, dành cho những ai chết trong tình trạng mắc tội trọng” (Sách GLCG, số 212). Hỏa ngục là từ ngữ được dùng trong Tân Ước, chỉ về nơi mà cả linh hồn và thân xác của những kẻ gian ác sẽ chịu hình phạt đau khổ đời đời. Chính Chúa Giêsu đã lên tiếng cảnh báo: “Nếu mắt phải của con làm cớ cho con sa ngã, thì con hãy móc mà ném nó đi; vì thà con mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân con bị ném vào Hỏa ngục” (Mt 5,29). Lần khác, Chúa nói: “Các con đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, các con hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong Hỏa ngục” (Mt 10,28). Như thế, Hỏa ngục là nơi không còn niềm hi vọng, là án phạt phải xa cách Chúa muôn đời. Ai đã một lần vào đây, sẽ không bao giờ được ơn giải thoát.

b. So sánh giữa âm phủ và Hỏa ngục: Âm phủ không phải là Hỏa ngục. Âm phủ chỉ là nơi tạm trú của linh hồn những người chết, mà thân xác của họ đã tan thành tro bụi trong mồ mả, hay ở bất cứ nơi nào. Còn Hỏa ngục là nơi thường trú của kẻ gian ác. Tại nơi này, thân xác và linh hồn của họ phải chịu sự trừng phạt vĩnh viễn, ngay sau khi họ sống lại và chịu sự phán xét chung của Thiên Chúa. Trong ngày ấy, “Đức Vua sẽ phán cùng những người bên trái rằng: Quân bị nguyền rủa kia, đi cho khuất mắt Ta, mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn. Ta khát, các ngươi đã không cho uống. Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước. Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc. Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (Mt 25, 41). Một ngày nào đó tôi sẽ qua đời. Tôi xin Chúa đừng nói với tôi những lời như thế. Nhưng tôi ước mong Chúa sẽ nói với tôi những lời chan chứa hạnh phúc: “Khá lắm, hỡi đứa con tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà con đã trung thành, thì Cha sẽ giao cho con nhiều hơn. Con hãy vào mà hưởng niềm vui của Cha con” (Mt 25, 21). Niềm vui ngập tràn, tôi hạnh phúc bước vào Thiên Đàng. Nơi đó tôi sẽ gặp lại mọi người, trong đó có người thân yêu của tôi.

 

 

ĐẠO HIẾU

VÀ VIỆC PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH

 

Vua Thành Thái, đang ngồi đợi đò sang sông, bỗng nghe tiếng một đứa bé thét chửi mẹ phát ra từ túp lều tranh cạnh đó. Vua bước vào, thấy đứa bé chừng 3,4 tuổi vừa giậm chân vừa chửi. Vua hỏi bà mẹ: Tại sao nó chửi mẹ? Bà đáp: Thằng quỷ quái này, chưa kịp cho ăn là chửi. Thế thì cho nó ăn đi. Bà mẹ lấy ra một chén cơm cá với đôi đũa. Vua trở ngược đôi đũa rồi trao cho thằng bé. Nó cứ thế mà lùa cơm phẻ cá. Vua nói: Cũng may cho thằng bé còn ngây ngô chưa biết gì; nếu nó biết trở đôi đũa mà ăn, tức là đã biết có trên có dưới, có đầu có đuôi, có trước có sau, mà còn chửi mẹ, thì ta đã cho chém đầu. Còn nhỏ mà đã bất hiếu nghịch tử, lớn lên sẽ phản dân loạn thần thôi (x Kiến thức ngày nay, số 2/1988).

Người ta có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn.

A. Thời nào, xã hội nào, chữ HIẾU đều được đề cao trân trọng. Hiếu là hạnh, đứng đầu muôn hạnh. Thiện cùng cực không gì hơn hiếu. Ác cùng cực không gì hơn bất hiếu. Trong Mười Điều Răn ban cho nhân loại, Thiên Chúa đã dành riêng một giới răn về Đạo HIẾU: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20,12). Giới răn này được xếp ngay sau 3 giới răn dành riêng cho Thiên Chúa. Điều này cho thấy, ngay sau Thiên Chúa, cha mẹ là quan trọng nhất, cần thiết nhất với con cái. Bởi thế, làm con phải chu toàn bổn phận và nghĩa vụ đối với các bậc sinh thành, dưỡng dục mình: “Con ơi, hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông; chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người” (Hc 3,12-13). Chúa Giêsu đã xác nhận Đạo Hiếu: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử”(Mt 15,4). Không những giảng dạy, Người còn thực hành đạo Hiếu: “Trở về Nadarét, Người hằng vâng phục các ngài” (Lc 2,51). Giáo Hội công giáo luôn luôn đề cao đạo Hiếu, không chỉ đối với người còn sống mà nhất là những vị đã khuất. Ngày thứ hai mỗi tuần, ngày mồng 2 Tết, Lễ Các Đẳng linh hồn và suốt cả tháng 11 dương lịch. Đặc biệt, trong thánh lễ mỗi ngày, Giáo Hội luôn cầu nguyện cho tổ tiên ông bà cha mẹ thân bằng quyến thuộc đã qua đời.

B. Đạo làm con gồm có Tam HIẾU:

1- Hiếu tự :

Đối với tiền nhân đã khuất bóng : sống thì tết, chết thì giỗ. Sách Luận Ngữ II, 5 dạy: Sống thì lấy lễ mà thờ, chết lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế. Người xưa nói: Đi về lập miếu thờ vua, lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha. Người công giáo xa mặt nhưng không cách lòng: Tổ chức tang lễ, kỵ giỗ, chạp mả, hoa đèn hương khói, xây lăng đắp mộ, viếng nghĩa địa, cầu hồn xin lễ, hy sinh đền tội nhường ơn đại xá…

2- Hiếu kính :

Ba ngày Tết: Mồng 1 thì ở nhà cha, mồng 2 nhà vợ, mồng 3 nhà thầy. Ngày thường trong năm: Cha mẹ ở túp lều tranh, sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

3- Hiếu dưỡng :

Ba tiền một khứa cá buôi, cũng mua cho được mà nuôi cha già. Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi, gĩa gạo cho trắng mà nuôi mẹ già. Đói lòng ăn trái chà là, để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng. Ra Thanh bổ quế, vào Nghệ bổ sâm. Lên non ngậm ngải tìm trầm, đền ơn phụ mẫu lao tâm sinh thành.

C. Tội Bất Hiếu :

Mẹ nuôi con biển hồ lái láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày. Mẹ cha ở túp lều tranh, đói no cũng mặc, rách lành chẳng hay. Mẹ cha hết gạo treo niêu, mà con khăn đỏ khăn điều vắt vai. Đi đâu mà bỏ mẹ (cha) già, gối nghiêng ai sửa, kỷ trà ai nâng. Sống thì cơm chẳng cho ăn, chết thì xôi thịt, làm văn tế ruồi. Làm trai hiếu sự vi tiên, chớ mê thê tử mà quên sinh thành. Thánh Phaolô nói: “Ai không chăm sóc người thân, nhất là người sống trong cùng một nhà, thì đã chối bỏ đức tin, và còn tệ hơn người không có đức tin” (1 Tm 5,8).

D- Có tiền mua tiên cũng được.

Vâng, đúng thế. Có tiền có thể mua tình tửu tước, vợ đẹp con khôn. Thậm chí vợ chết, chồng mất, vẫn có thể tái giá, tục huyền. Nhưng cha mẹ mất rồi, không ai và không gì có thể thay thế. Nếu có, cũng chỉ là dượng nuôi, dì ghẻ mà thôi. “Còn cha, gót đỏ như son; đến khi cha mất, gót con dính bùn”. “Mồ côi cha, ăn cơm với cá; mồ côi mạ, lót lá mà nằm”. Mỗi người hãy quán triệt sự cao quý vô song và tầm quan trọng bất khả nhượng của cha mẹ, để mà tôn kính, mến yêu, phụng dưỡng cho xứng đạo làm con.

E- Công ơn trời bể.

Nếu ví đời ta như một bông hoa tươi thắm, thì bông hoa ấy đã được tưới bón bằng mồ hôi, nước mắt và lắm khi cả máu mủ của ông bà cha mẹ. Không thể có cánh hoa thơm đẹp bên trên, nếu không có bộ rể chịu hôi hám phân tro phía dưới. Nếu ví đời ta như một tòa nhà cao tầng, thì ông bà cha mẹ là nền móng chịu chôn vùi khuất lấp dưới lòng đất, còng lưng chịu mọi sức nặng, cho tòa nhà là con cháu đứng vững và phô diễn vẻ đẹp với đời. Nếu ví đời ta là cây nến sáng, thì xác thân tinh thần cuộc sống của ông bà cha mẹ đã phải tiêu hao mòn mỏi mỗi ngày, để cây đèn đời ta sáng mãi, đẹp mãi.  Ngọn đèn tỏa sáng trên cao, đừng quên giá đèn nhẫn nhục trong bóng tối (Tagore). Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây.

Trong năm Tân Phúc Âm hóa gia đình, trong tháng cầu cho các tín hữu đã qua đời, mỗi người, mỗi gia đình hãy nhìn lại, hãy nhớ lại để thấy công ơn trời bể của bậc sinh thành : ơn cha nghĩa mẹ, sâu thì sánh biển, cao thì sánh trời. Làm con phải nhớ: công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ HIẾU mới là đạo con.Tu đâu bằng tu tại gia, thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

HẠT CẢI (Huế)

 

BIẾT ƠN NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

 

Chúng ta cùng nhau điểm qua một vài phong tục, tập quán, nghi lễ thể hiện lòng biết ơn đối với tiền nhân, những người đã khuất trên quê hương ta.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đó là những lời dạy quí báu của tổ tiên để lại cho con cháu muôn đời sau. Như để làm gương sáng cho con cháu, ông cha ta đã lập nên ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm, hầu tưởng nhớ công ơn các vị vua sáng lập nên nước Văn Lang xưa kia cách nay 4000 năm, mà ngày nay là nước Việt Nam: “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”. Dù lịch sử các vua Hùng chỉ là truyền thuyết về khởi nguồn lịch sử của đân tộc Việt.

Để tưởng nhớ công ơn của tiền nhân ông bà, cha mẹ còn có lễ Thanh Minh vào tháng 3 Âm lịch hàng năm. Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) trong truyện Kiều đã phác hoạ cảnh Thanh Minh như sau: “Thanh Minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.

Về phía Giáo Hội Công giáo, trong 10 Điều Răn Chúa dạy chúng ta phải giữ, thì chỉ có 3 điều nói về thờ phượng Thiên Chúa, còn lại 7 điều nói đến nhiệm vụ của ta với anh em, trong đó Điều Răn thứ bốn dành riêng cho cha mẹ: “Thứ bốn thảo kính cha mẹ”. Vì thế, Giáo Hội ngoài việc dạy ta cầu nguyện hàng ngày cho người đã khuất; xin lễ đọc kinh cầu nguyện kỷ niệm ngày người thân lìa đời; Giáo Hội Công giáo còn dành riêng ngày mùng 2 tết Âm lịch, và cả tháng 11 dương lịch hàng năm để cầu nguyện và tưởng nhớ đến ông bà cha mẹ, những người đã có công dưỡng dục sinh thành ra ta, nay đã khuất.

Kính nhớ ông bà tổ tiên, những người đã khuất là một nét văn hoá của nhân loại nói chung và của người Việt nói riêng đã có từ ngàn xưa. Tuy cách thực hiện mỗi miền, mỗi quốc gia có phần khác nhau. Tại Việt Nam, khi đến bất cứ gia đình nào, từ nông thôn đến thành thị, từ vùng núi xuống đồng bằng, từ giầu sang đến nghèo khó, đâu đâu ta cũng bắt gặp trong nhà dành một nơi trang trọng nhất như tủ thờ hay bàn thờ để tôn kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người đã khuất.

Từ những điều vừa nêu trên, chúng ta thấy rằng xã hội và tôn giáo đã có nhiều cố gắng thiết lập nên những lễ nghi, phong tục để tỏ lòng biết ơn công đức của những người đã khuất. Đặc biệt là tưởng nhớ đến những người lúc sinh thời đã dành cả cuộc đời để hy sinh làm việc cho công ích xã hội. Công đức của họ đã đóng góp nhiều cho quốc gia, cho nhân loại ngày được phong phú hơn, văn minh hơn, cho xã hội tiến bộ, văn minh như ngày nay.

Ign. Đặng Phúc Minh

 

NGHĨ VỀ ĐỜI SAU

Đức An

 

            Nhiều câu nói của người xưa truyền lại để khuyến cáo con cháu và thế hệ mai sau: Sinh ký, tử quy; đã sinh là có tử; mới sinh như con thuyền rời bến, chết là lúc thuyền cập bến. Những lần chứng kiến một người chết, tôi lại nghĩ đến thân phận mình: Nay người mai ta. Thật vậy con người đâu có thể sống mãi.

            Chúng ta phải chấp nhận rằng: cuộc đời con người thật ngắn ngủi. Đã là người không ai thoát khỏi luật sinh tử của kiếp phàm trần. Đó là một bất lực của con người. Trải qua bao đời, con người vẫn nỗ lực tìm ra cách để thoát chết, hoặc ít ra kéo dài tuổi đời thêm ít lâu, nhưng rồi cũng phải chết. Bởi thế, chúng ta khẳng định rằng: không thể trái với luật sinh tử của trời đất, phải chấp nhận một sự thật.

Những người vô thần họ quan niệm: Chết là hết, con người chết sẽ đi vào cõi hư vô. Tuy nhiên trong thâm tâm họ vẫn tin có một sự gì rất thiêng liêng ở thế giới bên kia mà không giải thích được. Bằng chứng trước linh cữu người chết, họ vẫn có nghi thức vái hương tưởng niệm. Như vậy, vô thần hay hữu thần, người ta vẫn tin bên kia là một thế giơí siêu linh. Quan điểm chung: Linh hồn sẽ được hưởng thụ trên niết bàn, còn gọi là thiên đàng, hoặc bị phạt cõi âm ty, tuỳ theo khi còn sống tại thế sống tốt hay xấu. Cũng chính vì thế mà con người ý thức điều chỉnh cuộc sống để phù hợp với lương tâm, phù hợp với đạo làm người. Con người càng nghĩ tới cuộc sống mai sau, càng để tâm cố gắng sống cuộc đời mình sao cho có ý nghĩa, làm sao để hoàn thành trách vụ của mình đối với Thiên Chúa và tha nhân một cách tốt đẹp.

            Là thân phận con người, nói tới cái chết ai mà không sợ. Người Kitô hữu chúng ta cũng có những suy nghĩ về cuộc đời . Dựa trên niềm tin vào Thiên Chúa: Nghĩa là sinh ra bởi Thiên Chúa, sống cho Thiên  Chúa và chết cũng trở về với Ngài. Được làm người Kitô hữu, mang hình ảnh của Thiên Chúa tình yêu. Nên họ được mời gọi sống là con cái Chúa và luôn thăng tiến trên đường trọn lành. Lời mời gọi sống yêu thương là tiếng nói của tâm linh, nó sẽ làm tăng giá trị con người và làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Do những suy nghĩ trên mà người Kitô hữu biết mình phải có trách nhiệm liên đới. Trong kinh Tin kính: Các thánh cùng thông công. Chúng ta đang sống cuộc sống lữ hành nơi trần thế. Các linh hồn còn vướng tội phải đền chốn luyện hình. Các ngài đang trông chờ người thân còn ở nơi trần thế cầu nguyện cho. Các ngài đang được thanh luyện, tẩy sạch các vết nhơ của tội nhờ lời khẩn nguyện và thánh lễ nơi dương thế sẽ rút ngắn thời gian thanh luyện.

            Để có được suy nghĩ tích cực, chúng ta nên bước vào nghĩa trang và dừng chân bên từng ngôi mộ: Ông bà, cha mẹ và những người thân. Thân xác các Ngài đang nằm đây dười lòng đất lạnh, còn linh hồn còn giam hãm nơi chốn luyện hình. Chúng ta lại tự hỏi có phần lỗi của chúng ta hay không? Chắc là có, vì miếng cơm manh áo con cái, đôi khi cha mẹ cũng có phút yếu lòng. Vì gia đình và con cái cũng có những lúc lỗi phạm tha nhân. Lại có những khi con cái không ngoan hiền phát sinh nơi các ngài sự nóng giận bất công. Nói chung vì các áp lực sẽ nẩy sinh những điều đáng tiếc.

            Như vậy, do phần lỗi của ta góp thêm sự gánh chịu của các ngài nơi chốn thanh luyện. Tại sao chúng ta còn thờ ơ, vô tình với những công ơn các Ngài đã dành cho chúng ta? Không lẽ, chúng ta chỉ biết sống hiện tại mà quên đi bổn phận là con phải báo hiếu sao?.

            Chúng ta tiêu xài tiền triệu, lại tiếc với các ngài một vài Thánh lễ sao? Hãy mau thực hiện nghĩa vụ của một Kitô hữu và bổn phận của một người con bằng cách; xin lễ, cầu nguyện, hy sinh để chỉ cho ông bà, cha mẹ. Các ngài đang trông mong chúng ta.

            Giáo Hội đặc biệt hàng năm đã chọn tháng 11 là tháng các  linh hồn, để nhắc nhở các giáo hữu nhớ đến bổn phận báo hiếu nhớ đến bổn phận hiếu đễ. Với người Kitô hữu chúng ta luôn siêng năng tham dự thánh lễ và cầu nguyện dâng lên Chúa và Mẹ Maria xin chuyển cho các linh hồn. Khi chúng ta còn tại thế sự thể hiện đạo hiếu chính là chúng ta thể hiện đức tin của mình. Bởi ai không biết lo lắng đến người thân và những quyến thuộc là chối bỏ đức tin và tệ hơn nữa là họ đã mất đức tin.

 


GIÁO LUẬT

 

Trong trường hợp nguy tử khẩn cấp, cha sở có thể miễn chuẩn những ngăn trở nào cho đôi hôn phối?

 

Trả lời:

 

Theo Giáo luật Điều 1079 §2, trong trường hợp nguy tử khẩn cấp (urgente mortis periculo), cha sở cũng như bất cứ tư tế hay phó tế nào đã được ủy quyền hợp pháp, lẫn các tư tế và phó tế tuy không được ủy quyền chứng hôn mà chỉ hiện diện trong buổi cử hành hôn lễ theo hình thức ngoại thường như Điều 1116 §2[1] quy định, đều có quyền miễn chuẩn mọi ngăn trở hôn phối thuộc luật Giáo Hội, trừ ngăn trở chức thánh linh mục, cho tất cả mọi tín hữu đang cư ngụ trong địa hạt của giáo xứ:

- Ngăn trở tuổi (x. Điều 1083);

- Ngăn trở khác đạo (x. Điều 1086);

- Ngăn trở chức thánh phó tế (x. Điều 1087);

- Ngăn trở lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng (x. Điều 1088);

- Ngăn trở do bắt cóc (x. Điều 1089);

- Ngăn trở tội ác (x. Điều 1090)

- Ngăn trở họ máu hàng ngang từ bậc thứ ba (x. Điều 1091);

- Ngăn trở họ kết bạn hàng dọc (x. Điều 1092);

- Ngăn trở công hạnh (x. Điều 1093)

- Ngăn trở pháp tộc “con nuôi” (x. Điều 1094).

 

Tuy nhiên, cha sở và các thừa tác viên có chức thánh nói trên cần lưu ý:

1- Lúc bình thường không được miễn chuẩn bất cứ ngăn trở hôn phối nào.

2- Chỉ miễn chuẩn trong trường hợp nguy tử khẩn cấp và với điều kiện không thể đến được với Đấng Bản Quyền địa phương được (“phải được coi là không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, nếu chỉ có thể liên lạc với ngài qua điện tín hoặc điện thoại” Điều 1079 §4).

3- Phải lập tức thông báo cho Đấng Bản Quyền địa phương biết phép chuẩn đã được ban ở tòa ngoài và phải ghi phép chuẩn ấy vào sổ hôn phối (Điều 1081).

 

Ở đây cũng cần nói thêm là Giáo Hội không bao giờ có thể miễn chuẩn những ngăn trở thuộc luật tự nhiên hay luật thiết định:

- Ngăn trở bất lực (x. Điều 1084);

- Ngăn trở dây hôn phối bí tích đã hoàn hợp (x. Điều 1085);

- Ngăn trở họ máu hàng dọc ở mọi bậc (x. Điều 1091);

- Ngăn trở họ máu hàng ngang bậc thứ hai, tức là giữa anh chị em ruột (x. Điều 1091).


GIÁO DỤC

 

HÀI HƯỚC TRONG ĐỜI TU

                                                                                                                 Lôrensô

Một trong những dấu chỉ của người có ơn gọi trong đời thánh hiến là sự vui vẻ. Vui vẻ là một biểu hiện của tâm hồn hạnh phúc. Người vui vẻ thường có tính hài hước, đôi khi là “nghịch ngợm”. Chính sự hài hước làm cho người tu dễ thương, dễ mến và dễ gần. Người tu nào lúc nào cũng mang trên mình một khuôn mặt cau có khó ưa là một người phản chứng và phản cảm. Vì những người loan báo Tin Mừng thì phải vui vẻ. Nếu không là kẻ đem tin buồn.

Có nhiều người rất thích nói chuyện với người tu. Không chỉ vì những người này đáng tin mà còn vì sự hài hước vui vẻ của người tu. Sự hài hước thì không phân biệt tuổi tác hay giới tính. Có một linh mục kể chuyện như thế này. Một lần cha đến cộng đoàn nữ tu kia. Cha đang ngồi để đợi một nữ tu mà mình quen biết. Một ma sơ lớn tuổi bước ra. Tay cầm ly nước mời cha uống và nói: “Cộng đoàn chúng con vô cùng thương tiếc đón tiếp cha”. Cha giật mình vì trình độ “chém gió” của ma sơ này. Cha đáp lại: “con xin chân thành cảm ơn ly nước và sự tiếp rước của sơ. Xin Chúa trả công bực bội cho sơ”. Khi ra về cha được ma sơ già đưa ra tới cổng và nói: “chúc cha đi bình an và đừng phạm tội nữa” (cha giật mình). Cha này cũng khá nhanh nhẹn liền đáp lại. “Con cảm ơn sự tiếp đón vô cùng nồng nặc của sơ. Con đến đây có gì ‘sơ xuất’ xin sơ ‘tha’ cho con.”

Nhà tu hay hài hước bằng nghệ thuật chơi chữ. Chơi chữ thì có nhiều loại. Phổ biến là dùng từ mang nhiều ý nghĩa và nói lái. Dùng từ đồng âm dị nghĩa là một biện pháp hay được sử dụng để nói chuyện hài hước. Xin đơn cử một câu chuyện làm ví dụ minh họa. Ở một xứ nọ, thấy một ông thầy đang uống nước. Một ma sơ đến nói: Thầy ơi! Thầy “nghỉ tu” đưa cho con. Thầy liền đáp trả: Đừng đụng vào thầy. Để yên cho thầy tu. Chữ tu ở đây vừa có nghĩa là uống nước vừa có nghĩa là tu hành. Giống như chữ “sơ xuất” trên kia. Nó vừa có nghĩa là thiếu sót ngoài ý muốn, vừa có nghĩa là chuyển hướng không đi tu nữa.

Người có tính hài hước thì hay có những câu chuyện tiếu lâm. Có những cha đã sưu tầm cho mình cả một kho chuyện chứa những nội dụng khiến người khác phải cười. Có một cha giáo nọ, giờ dạy của ngài lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười. Không biết cha đã sưu tầm từ bao giờ mà lúc nào cha cũng có thể kể chuyện cười. Chính những câu chuyện cười của cha làm cho giờ học bớt phần căng thẳng và bài học dễ nhớ. Khi nào các thầy hơi “nhức đầu” một tí thì cha lại cho một “liều thuốc” để bớt “hại não”. Có lẽ Chúa ban cho cha ơn gọi kể chuyện để giúp cho người khác nếm cảm được niềm vui ở đời này hay chăng? Cha căn dặn các học trò của mình là không nên bắt chước cha. Vì có khi cười nhiều quá ảnh hưởng đến phần rỗi linh hồn. Vì chuyện cười thì có “quyển thượng” và “quyển hạ”. Mà trớ trêu thay, phần lớn người ta thích “quyển hạ” hơn mới khổ. “Quyển thượng” khiến cho người ta cười thì ít lắm! Ngài nói vậy để cảnh tỉnh học trò của mình khỏi rơi vào vòng xoáy của cám dỗ “phần hạ”. Các câu chuyện của cha hầu hết là nằm ở “quyển thượng”.

Tâm hồn con người dĩ nhiên không phải lúc nào cũng có thể cười được. Cuộc sống đâu phải toàn là màu hồng. Nhưng nếu chỉ nhìn đời với con mắt bi quan và yếm thế thì đời quả là đáng “nôn mửa”. Chính nụ cười đem lại sức mạnh cho con người hướng đến tương lai. Muốn cười được ngay cả trong những hoàn cảnh gian nan và trái ngang, cần phải có một trái tim đầy tình yêu và đức tin vững vàng…

Laurensô


HỌC THÊM

 

Gần đây, ngành giáo dục Việt Nam đang đứng trước một thách đố về vấn đề dạy thêm của giáo viên và việc học thêm của học sinh. Phong trào dạy và học thêm không còn chỉ dành vào kỳ hè mà cả trong năm học tôi vẫn thấy các bạn học sinh cắp sách để đi học thêm.

Học thêm, trước đây chủ yếu giáo viên dậy và nâng đỡ các bạn học yếu, không theo kịp bạn bè. Có thể trước đây việc dạy và học thêm mang ý hướng tích cực, thể hiện cái tâm của các nhà giáo dục, thể hiện một nghĩa cử cao thượng của các thầy cô giáo. Bạn nào học yếu được các thầy cô quan tâm và tìm cách nâng đỡ, dạy kèm, dạy thêm. Thế nhưng, vào thời đại ngày nay, việc dạy thêm và học thêm đang đi theo chiều hướng mà các người có trách nhiệm trong nghành giáo dục phải quan tâm, điều chỉnh để đi đúng hướng của nó. Có người học thì sẽ có người dạy, có cung thì phải có cầu. Có thể việc dạy và học thêm có nhiều lý do để xuất hiện phong trào này cách rầm rộ.

Một là, người dạy cũng chỉ vì cơm áo gạo tiền, vì cuộc sống mà phải đi kiếm thêm bằng cách mở ra các lớp để dạy thêm cho học sinh của mình. Đây được coi là một cách thu nhập để lo cho cuộc sống. Hai là, các bạn học sinh thì sợ mình không bằng bạn bằng bè nên cũng cắp sách đi tìm chỗ học thêm. Ba là có những trường hợp các em sợ thầy cô đì nên phải đi học thêm thầy cô của mình, để trong lớp học được thầy cô nâng đỡ. Bốn là phải đi học thêm, để thầy cô dạy gì sẽ thi cái đó, nên các bạn cũng cố gắng đi để tìm cái điểm cho cao.

 Xem lại cái lịch của các bạn mà tôi thấy hoa cả mắt. Sáng học chính khóa, chiều học phụ đạo, tăng tiết, tối cũng tranh thủ lại đi học thêm. Như vậy áp lực đè lên vai những bạn học sinh do đâu? Tôi thiết nghĩ, một phần cũng do người lớn chúng ta mà ra. Tại vì, thời đại ngày nay nếu không có cái chữ thì đồng nghĩa không có tương lai. Học để hoàn thiện bản thân, học để có cái nghề, cái nghiệp và lo cuộc sống mình, học để thoát khổ, thoát nghèo. Như vậy các bạn học sinh mới còng lưng để đến trường. Thiết nghĩ, tương lai không phải chỉ do một yếu tố về trí thức, mà còn có nhiều yếu tố khác. Và với áp lực lớn như vậy, các bạn học sinh của chúng ta mới tranh thủ học.

Rồi cha mẹ muốn con mình trở thành những nhà nhân tài, thần đồng, nên cố gắng chạy chọt để có thể gởi con của mình vào những trường học có tiếng, có danh giá. Ở những thành phố lớn có những trường học được mở ra để đào tạo những học sinh có khả năng, đào tạo có chất lượng, có uy tín, nhưng người lớn chúng ta cũng cần để ý xem con mình có đủ khả năng để theo học hay không? Nếu không chính người lớn chúng ta lại đưa con em chúng ta vào vòng xoáy của xã hội, vào những cám dỗ của danh vọng.

Năm học mới đã bắt đầu, một tương lai đang hé mở. Nhưng để các bạn học sinh bước vào tương lai với chính đôi chân của mình, thiết nghĩ người dạy và người học hãy tìm ra cho mình một phương pháp dạy và học cho đúng, cho phù hợp, để những nỗ lực của những người có trách nhiệm mang lại hiệu quả cao và thuyết phục. Bạn và tôi đừng để vì những cám dỗ của tiền tài danh vọng làm mất đi những giá trị đích thực của việc đào tạo trí thức. Bạn và tôi hãy tạo điều kiện thuận lợi hết sức có thể để các bạn học sinh hăng hái đến trường, đến lớp và tìm cho mình một tương lai tốt đẹp hơn.

Vs. Lê Đình

 


GIÁO DÂN

KITÔ HỮU TRẺ HÔM NAY

 

Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đặc biệt quan tâm đến giới trẻ, Ngài nói: “đừng ngại trao thánh giá cho giới trẻ, họ đủ sức mang nó”. Ngài xem giới trẻ là một thành phần năng động và đóng vai trò quan trọng trong sứ vụ của Giáo hội. Từ đó đến nay, đã có nhiều chỉ dẫn, thông điệp văn kiện của Giáo hội hoàn vũ cũng như Giáo hội địa phương về người trẻ trong Giáo hội. Trong cái nhìn hướng về những Kitô hữu trẻ, bài viết này nhằm nêu lên một số thách đố và khó khăn mà xã hội hôm nay với nền kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu đặt ra cho họ; cùng những định hướng (mang tính chủ quan) cho người Kitô hữu trẻ sống đức tin và làm chứng tá cho Chúa Kitô trong điều kiện hôm nay. Vậy những Kitô hữu trẻ họ là ai?

Giới trẻ Việt phần đông được sinh ra và lớn lên trong thời bình; sống trong môi trường Xã hội Chủ nghĩa với nền giáo dục định hướng và chủ trương vô thần, chối bỏ Thiên Chúa và những gì linh thánh. Thêm vào đó, người trẻ còn bị tác động mạnh bởi nền kinh tế thị trường, cuộc cách mạng thông tin bùng nổ; vô số cách tiếp cận khoa học kỹ thuật nhanh chóng và chính xác chúng ta không thể phủ nhận những tiệc ích mà nó mang lại nhưng không vì thế mà xem thường những nguy cơ tiềm ẩn cho người trẻ nói chung và Kitô hữu trẻ nói riêng trong mọi lĩnh vực nhất là đời sống đức tin và luân lý. Sau đây là một số những thách đố mà họ thường gặp phải.

a. Tiền

Thế lực này có sức thu hút mãnh liệt với người trẻ. Các bạn trẻ ngày nay xem việc kiếm tiền là mục tiêu chính để phấn đấu. Do đó, nó kéo theo hàng loạt những hệ quả khó lường. Xin đơn cử một ví dụ. Người trẻ thường cố gắng học để kiếm được một tấm bằng nhằm có cơ sở cho việc xin việc sau này. Họ làm tất cả mọi cách khả dĩ để có được tấm bằng: mua bằng, chạy điểm, gian lận, chạy theo hình thức, điểm số chứ không chú trọng đến giá trị kiến thức mà họ cần có để làm hành trang vào đời. Và, một lỗ hổng giáo dục vô hình trung được tạo ra: Học giả nhưng bằng thật. Điều này cũng có ảnh hưởng mạnh đến những Kitô hữu trẻ. Không ít trong số đó xem có tiền là có tất cả. Tôn sùng Mamon. Với một bộ phận người Kitô hữu trẻ: không có tiền xem như chẳng có gì. Tiền đã len lỏi và ăn sâu vào tiềm thức, lối suy nghĩ và đánh giá của họ. Tiền là thước đo tất cả từ những giá trị vật chất đến những giá trị tinh thần. Người ta đánh giá con người qua đồng tiền mà người ấy kiếm được chứ không phải trên phẩm chất cuộc sống hay cốt cách bên trong của người ấy. Người ta coi trọng "having" hơn "being" nghĩa là coi trọng cái người ta có hơn điều người ta là. Nên mới có người đã nói vui văn hay chữ tốt không bằng thằng dốt có tiền; hoặc tiền là tiên là phật, là sức bật lò xo, là thước đo lòng người,là tiếng cười tuổi trẻ, là sức khỏe tuổi già là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý, tiền là hết ý, chi quý bằng tiền. Do có quanniệm và định hướng sai lệch, xem thường các giá trị Chân-Thiện-Mỹ đặt tiền làm tiêu chuẩn, đích đến nên nền đạo đức giới trẻ ngày nay nhìn chung bị xuống cấp trầm trọng, lệch lạc trong phán đoán, sai lạc trong hành vi nên dễ có những lối cư xử, cung cách sống không phù hợp với luân lý và đạo đức Kitô giáo.

b. Loại trừ Thiên Chúa khiến các giá trị vật chất lên ngôi lấn áp và thay thế các giá trị đạo đức

Chỉ lấy những gì có thể “xác định được bằng vật chất”,  sờ mó và cảm nhận được bằng giác quan làm tiêu chuẩn phán đoán thì hệ quả tất yếu sẽ là những gì linh thánh, thiêng liêng sẽ bị xem thường, gạt bỏ qua một bên thậm chí bị phủ nhận. Điều này làm người trẻ có thái độ thờ ơ với tôn giáo thậm chí còn có thể rơi vào chủ nghĩa triệt hạ linh thánh, đánh mất cảm thức tâm linh (cảm thức đức tin- sensus fidei) hay chiều kích thiêng liêng, không còn nền tảng tâm linh. Vô hình trung con người bị rơi vào chủ nghĩa vô thần (có người nói vui gọi những thành phần này là những Kitô hữu vô thần- nghĩa là mang danh Kitô hữu nhưng sống không là Kitô hữu). Do nhiều yếu tố, con người chỉ tin vào chính họ, tự cho mình quyền quyết đoạt tất cả. Sống trong một xã hội ảo tưởng biến họ thành những con rôbốt có đầu nhưng không có trái tim. Trong một xã hội thực dụng và vị kỷ Thiên Chúa dường như đã biến mất. Khi con người chỉ nhìn tất cả với cái nhìn trần tục, con người sẽ chẳng bao giờ thỏa mãn. Sống trong bầu khí giải thiêng làm cuộc sống của chúng ta nghèo nàn, thất vọng và cô đơn. Và, một khi không có Thiên Chúa trong cuộc đời, người trẻ dễ sống theo sự thúc đẩy thấp hèn của bản năng. Chẳng còn định hướng đúng đắn cho cuộc sống và cũng không có động lực mà phấn đấu cho những lý tưởng cao đẹp. Trong họ không con cái “người” nữa nhưng chỉ còn “con” và hệ quả là xã hội đầy ắp những tệ nạn, sa đọa, hận thù, chiến tranh…

c. Chủ nghĩa thực dụng

Sống trong một bối cảnh như thế, người Kitô trẻ dễ dàng trở thành tín đồ của chủ nghĩa thực dụng; chỉ biết theo đuổi những gì có lợi trước mắt, không biết phóng tầm nhìn ra xa và có những định hướng cho tương lai. Họ sống cuộc sống vội vã như “mì ăn liền”. Cuộc sống chạy theo cơm áo gạo tiền cơn lốc của nền kinh tế thị trường cuốn tất cả chúng ta nhất là những người trẻ vào vòng xoáy “không thể thoát ra”. Nó chiếm hết thời gian của người trẻ: học ban ngày, làm ban đêm. Tất cả đều thấy bận rộn và chẳng còn thời gian dành đời sống tâm linh (Thiên Chúa) và cho nhau nữa. Nó khiến người trẻ cứ như “nghẹt thở”. Như một câu nói vui: "Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm chủ nhật". Người trẻ sống như những ốc đảo, chỉ biết tìm kiếm ích lợi cho bản thân, chủ nghĩa quy ngã chia cắt mối dây liên đới giữa người với người và giữa người với Thiên Chúa. Học, làm, vui chơi, hưởng thụ như một vòng luẩn quẩn kìm hãm con người không thể vươn tới Chân-Thiện-Mỹ đích thực.

Tiếp đến, người viết xin mạo muội đưa ra một số đề xuất với ước mong giúp người Kitô hữu trẻ có được cái nhìn đúng đắn và khách quan để khởi đi từ đó họ có thể có những nhận định và định hướng sống tốt vai trò làm con Chúa trong bối cảnh đầy những biến động và phức tạp hôm nay.

a. Đào tạo chiều sâu

Cần mở các lớp, khóa và các trung tâm tĩnh tâm và huấn luyện chiều kích tâm linh. Đây là công việc hết sức quan trọng. Trước nay, người ta thường nghĩ việc huấn luyện và đào tạo đời sống tâm linh là việc dành riêng cho bậc giáo sĩ, tu sĩ mà họ quên rằng chiều kích tâm linh sống gắn bó kết hiệp với Thiên Chúa là điều quan thiết không thể thiếu với mọi người Kitô hữu không loại trừ một ai. Hơn bao giờ hết, đặc biệt là nơi giới trẻ hôm nay, họ cần được đào sâu về chiều kích tâm linh để trở thành những con người Kitô hữu đích thực những người có kinh nghiệm và cảm nghiệm thiêng liêng sâu sắc trong mối tương quan cá vị với Thiên Chúa để khởi đi từ đó người trẻ hôm nay có thể làm chứng cho niềm tin của mình ngay trong môi trường sống và làm việc của mình.

b. Giáo dục nơi gia đình

Gia đình phải là nơi ươm trồng và những tác nhân đầu tiên cho công cuộc phát triển con người toàn diện theo hướng thông truyền đức tin đặc biệt trong năm Tân Phúc Âm hóa Gia đình 2014. “Các bậc cha mẹ cũng cần phải quan tâm hơn nữa đến đời sống đức tin của con cái giúp đức tin của chúng được phát triển đến mức trưởng thành. (x. F.C. số 2), củng cố chuẩn bị cho các gia đình nên những “chủ thể của công cuộc Phúc Âm hóa”.

c. Cũng cần phải có các vị hữu trách tháp tùng và chương trình đồng hành cùng giới trẻ

Nhằm giúp người trẻ được nâng đỡ, giáo dục trước những tác động không tốt của bối cảnh xã hội đến đời sống đức tin của họ, giúp họ nên những tác nhân tích cực và hiệu quả cho công cuộc Phúc âm hóa. Qua các chương trình này, người trẻ sẽ ý thức hơn về tầm quan trọng của đời sống đức tin, thiêng liêng trong cuộc sống và nhiệm vụ phải rao truyền đức tin ấy. Nhờ các chương trình này, sẽ giúp người trẻ hôm nay đắc thủ và nội tâm hóa chiều kích nhân bản của thế giới quan Kitô giáo, hoán cải đạo đức tâm linh trước những trở ngại của các trào lưu tục hóa, vô thần và mất cảm thức tôn giáo giúp họ sống như những Kitô hữu đích thực chứ không là một “Kitô hữu vô thần”.

d. Sự cộng tác nơi người Kitô hữu trẻ

Thật vậy, sự cộng tác nơi người tín hữu đóng vai trò rất quan trọng vì những chương trình, dự định như thế sẽ chẳng mang lại kết quả như mong muốn nếu không có sự ý thức, tham gia và cộng tác cách tích cực của những Kitô hữu trẻ.

Ước mong sao mỗi người Kitô hữu nhất là những Kitô hữu trẻ nhận ra được những thách đố mà bối cảnh xã hội hiện tại tạo ra cho đời sống đức tin để từ đó có một đời sống nội tâm sâu sắc và một niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa cũng như luôn biết quan tâm yêu thương anh chị em xung quanh. Luôn sống và làm chứng tá cho đức tin Kitô giáo cho dù gặp phải trăm ngàn chông gai và thử thách.

Felicitas


ĐI LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP

TRUYỀN GIÁO HÀNG ĐẦU

 

“Các con hãy đi? Đừng mang túi tiền. Đừng chào ai dọc đường. Vào nhà nào thì trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này. Hãy ở lại nhà ấy và ăn những gì họ có. Đừng từ nhà này qua nhà nọ. Họ dọn gì ăn nấy...” (Lc 10,1-12).

I. Đi khắp trần gian

1. Công tác Truyền giáo được khởi động bằng việc ra đi. Quả thế, Đức Giêsu đã đi liên tục từ thành thị về thôn quê, từ Bắc đến Nam, từ phía Do Thái sang phía dân ngoại. Dân Caphanaum vì mộ mến nên đã van xin Ngài ở lại với họ, sợ rằng Ngài sẽ bỏ họ mà đi. Ngài tuyên bố chắc nịch: “Ta còn phải đến rao giảng Tin Mừng ở các thành khác nữa. Chính vì thế mà Ta được sai đến” (Lc 4,42-44).

2. Thánh Phaolô đã hành trình liên tục. Ngay trong chuyến hành trình truyền giáo lần thứ nhất chỉ kéo dài vỏn vẹn 4 năm, thế mà Ngài đã đi giảng tại 7 nơi: Xalamin, Paphô, Perghê, Antiôkia, Icônia, Lystra và Derbê. Nói chung thì Phaolô không ở lâu tại giáo điểm nào. Giáo điểm ngài ở lâu nhất là Êphêsô, thời gian là 3 năm. Thánh Phêrô cũng đi như thế: Giêrusalem, Litda, Giópê, Kaixaria, Xamria, Rôma...

3. Ngày nay Đức Gioan Phaolô II cũng ra đi như thế. Ngài có quyết tâm đi đến mút cùng trái đất để loan Tin Mừng cứu độ. Những chuyến đi quốc tế của ngài đã phủ khắp năm châu. Nếu hành trình tính bằng cây số thì đã gần một triệu rồi.

II. Giá trị của việc ra đi

1. Lợi ích do những chuyến đi của Chúa Giêsu. Ngài hành trình không ngừng. Ngài dẫn đoàn đệ tử đi theo. Những kết quả Ngài thu lượm được trên các cuộc hành trình thật là muôn mặt.

a) Nhờ các chuyến đi mà Chúa truyền đạt cho các anh em Tông đồ những suy tư, những cảm nghĩ và hành động của Thừa sai. Họ thấy Ngài thật dịu dàng với người tội lỗi, người nghèo, người bệnh tật. Họ thấy Ngài rất nghiêm khắc với lãnh đạo kiêu căng tự đắc. Họ thấy Ngài coi thường vua Hêrôđê, con người mưu mô, vô luân, mánh mung và giả dối. Họ thấy Ngài lăn lộn với quần chúng quên cả ăn uống ngủ nghỉ. Họ thấy Ngài xúc động trước đám quần chúng đói khát lời giáo huấn của Ngài: “Họ khác nào bầy chiên bơ vơ...” (Mc 6,34).

b) Những chuyến đi mỏi mệt đã rèn luyện thân thể của anh em Tông đồ, giúp cơ thể họ dẻo dai hơn, thích nghi được với cuộc sống, quên mình để sống với người khác.

c) Những cuộc gặp gỡ với đủ thành phần xã hội, từ trí thức đến người dốt nát, từ nông dân đến thị dân, từ thủ đô đến miền thôn dã... đã giúp các tông đồ mở rộng kiến thức và tình cảm với mọi người. Những cuộc tiếp xúc này giải toả được tinh thần cục bộ đến độ quá khích của người Do Thái, để mang tinh thần phổ quát của giáo lý mới.

d) Các tông đồ không phải là người trí thức. Họ không biết suy luận. Nhưng họ thấy Chúa nói gì và làm gì thì họ làm như thế. Những chuyến đi của Chúa trải dài trên không gian và thời gian, nên các tình huống rất phong phú và đủ cho các tông đồ áp dụng, khi Chúa không còn ở với họ. Họ có thể làm tròn bổn phận người thừa kế sự nghiệp của Chúa.

đ) Nhờ đi nhiều mà số người được nghe giảng cũng nhiều hơn, công việc truyền giáo cũng phát triển mau hơn. Chính nhờ các tông đồ tiếp tục các chuyến đi của Chúa mà chỉ trong ba thập niên sau biến số thăng thiên, Tin Mừng của Chúa đã loan tới các Nước xung quanh Địa Trung Hải.

2) Những bước đi đem lại lợi ích gì cho ta?

a) Đi để thấy mình phải làm gì và làm thế nào? Ngồi ở văn phòng làm việc với các hồ sơ, các phúc trình sẽ không thấy được hết các vấn đề. Đi đến tận nơi, thấy tận mắt, nghe tận tai, sẽ thấy có nhiều vấn đề và nhiều việc phải làm. Ngồi ở nhà nghe kể về một thiên tai, ta có hành động khác, nhìn thấy tai nạn tại chỗ, ta lại có hành động khác. Nghe nói về cảnh nghèo, ta có thể giúp 10.000đ. Nhưng khi thấy những người đói khổ tại chỗ và tận mắt, ta có thể giúp đỡ nhiều hơn gấp mấy lần. Đi để thấy, ta sẽ hành động đúng hơn và hăng say hơn.

b) Ben Courion, Thủ tướng nước Do Thái đã nói: “Người Do Thái phải tìm hiểu và yêu nước Do Thái bằng đôi chân của mình”.

- Khi người truyền giáo đạp chân lên mảnh đất mình đang hội nhập sẽ cảm thấy yêu thương, yêu thương bằng tâm tình và bằng cả cảm giác. Tình yêu thương ấy rất cần thiết để người thừa sai dấn thân rao giảng lời Chúa và lời yêu thương cho người thân thương. Không có tình yêu giác cảm này, người truyền giáo không thể hội nhập văn hoá đầy đủ với miền mình đang rao giảng. Không cảm nghiệm được mảnh đất và con người đang sống ở đó thì không thể truyền đạt Tin Mừng đúng mức được.

- Đi nhiều lòng sẽ mở rộng cùng với kiến thức. Phaolô và Banaba là những thừa sai đi nhiều nên các ngài có cái nhìn tổng quát. Các ngài nhận thấy cắt bì chẳng ích lợi gì, chẳng đem lại ơn cứu độ mà chỉ có niềm tin vào Đức Kitô. Trong khi đó nhóm Giacôbê ở Giêrusalem vì không đi đâu nên bảo thủ một cách tàn nhẫn. Họ trung thành với luật Môisen bao nhiêu thì càng tàn nhẫn với Phaolô bấy nhiêu. Những người Hy hoá là những người tiến bộ còn những người Hipri là những người bảo thủ. Nguyên nhân chính là người Hy hoá đã từng đi, còn người Hipri thì chỉ sống trên mảnh đất Palestin mà thôi.

III. Những cách đi

1) Đi như Đức Giêsu tức là đi bằng hai chân của mình để rao giảng là đối diện giữa người nói và người nghe. Người nói và người nghe hiểu nhau và mến nhau. Người nói đánh giá được mức độ tin của người nghe. Qua ánh mắt, qua giọng nói, người nói truyền được suy tư và cảm nghĩ của mình cho người nghe.

2). Đi như Phaolô. Ngoài việc tiếp xúc và đi đến với người nghe Phaolô còn viết thư cho các giáo đoàn và trong thư ông nhắn gởi lời thăm hỏi tới nhiều người. Như vậy tuy ông không đi nhưng đã đi. Tuy không hiện diện mà như vẫn hiện diện.

3) Đi với phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay nhà truyền giáo còn có thể đến với lương dân bằng truyền hình truyền thanh, băng Cassette, băng Video, những lá truyền đơn, những bức tranh, những tờ báo... Dĩ nhiên truyền thông xã hội rất hữu ích trong công tác xã hội và đã được Vat. II, Đức Phaolô VI, Đức Gioan Phaolô II đề cao. Nhưng đừng bao giờ quên rằng, việc người truyền giáo đi và đến bằng xương bằng thịt vẫn là cách đi đúng nhất và hữu hiệu nhất. Cách đi này mang theo sự hiện diện, sự đối thoại và tình yêu. Đó là cách đi không thể thay thế được.

Lm Gioakim Mai Xuân Triết

 

 


TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

KINH MUỘN

 

Lâu rồi, nhưng chưa lâu lắm. Lâu vì đã gần sáu mươi năm. Chưa lâu lắm vì mới hơn năm mươi năm chứ mấy. Đó là năm 1957. Mới sáng sớm, ông Hương Liệt sang nhà, nói với ông bà Trưởng Vạn:

- Hôm nay giỗ thầy, chúng tôi có gói chè Chính Thái, chú thím nhận cho, mua mấy cây nến, anh em đến đọc kinh cho thầy.

Giỗ thầy là giỗ cụ Bá Ký. Cụ Bá Ký là người có chữ nhất của hai làng Thái Lãng và An Cống. Ngày ấy, cụ vừa là thầy thuốc, vừa là thầy ký, vừa là thầy đồ dạy cho các môn sinh trong làng. Cụ dạy chữ Nho: Nào là “Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn…”, nào là “Thiên trời, địa đất, vân mây; vũ mưa, phong gió, nhật ngày, dạ đêm…” cho lớp vỡ lòng; nào là “nhân chi sơ, tính bản thiện; tính tương cận, tập tương viễn…” cho lớp lớn hơn; nào là: “Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu…”, hay: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái…” cho lớp lớn hơn nữa. Hoặc cụ dạy chữ Quốc ngữ: “A bê xê là xề bánh đúc, u xê úc là cục mắm tôm…”. Hoặc cụ dạy tiếng Tây: “Xanh đầu xanh đít xít ngược xít xuôi”. Cụ Bá Ký có năm người con, bốn trai một gái, nhưng không ai theo được nghề thuốc của cụ. Những người được chân truyền lại không phải con cái ruột thịt trong nhà, mà là người họ hàng gần xa. Người ta có thể kể đến ông Lang Mùa, ở giáo xứ Thánh Gia kinh Thầy Ký, không ai không biết tiếng; ông Chánh Dõng ở giáo xứ Thạnh An với tiệm thuốc bắc Đức Ái; ông Lang Động nổi danh ở Bến Cát, Bình Dương và giáo xứ Tân Hưng, Chợ Cầu; ông Lang Đỉnh được tiếng mát tay ở giáo xứ Bùi Thái, Tam Hiệp…

          Di cư vào Nam, phần đông dân hai làng định cư ở kinh Thầy Ký. Ông Hương Liệt là học trò lớn, vẫn làm trưởng tràng, đứng đầu mấy chục môn sinh lớn bé. Làng nước gọi ông là ông Hương, nhưng ông thích người ta gọi ông Trưởng (tràng) hơn, vì người trưởng tràng (kiểu trưởng lớp bây giờ, nhưng là trưởng lớp của tất cả các lớp), có vị và có thế hơn, dù anh em có chức vị cao đến đâu trong xã hội vẫn phải một điều anh Trưởng, hai điều bác Trưởng. Ngày giỗ thầy, ông thông báo và kêu gọi anh em tham dự đông đủ. Buổi tối, các ông môn sinh dồn dập tới: ông Quản Trịnh, ông Trùm Đàm, ông Quỹ Hận, ông Trưởng bạ Kiệm, ông Lý Vận, ông Vệ Hạo, ba trong bốn ông thầy lang đã kể trên đây, và nhiều nữa… Ông nào cũng có chức danh đứng trước tên, nhưng không phải tên riêng, mà là tên con đầu lòng bất kể trai gái. Các ông  trải chiếu xuống đất trước bàn thờ đơn sơ, chỉ có một tượng chịu nạn và một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mang từ ngoài Bắc vào, mỗi bên bàn thờ thắp ba cây nến, không hương không hoa. Mấy mươi chiếc áo the thâm, áo dài khăn đóng, quần chân què trắng đứng lên, quỳ xuống, trang trọng, sốt sắng. Phần kinh nguyện giỗ, các ông đọc đều tăm tắp theo nhịp 3/4: “Phục dĩ tôn Chân Chúa cửu trùng cao ngự chi thiên: khả tiểu phàm khu vạn vậng hữu sinh chi địa...” 

Kinh hạt xong, họ ngồi xuống chiếu, hút thuốc lào vặt, uống nước trà suông, ôn lại những tháng ngày còn thầy, còn cửa Khổng, sân Trình. Trời khuya, ông Hương Liệt nói lời chia tay:

- Ở xa, còn ông Hương Trác, ông Chánh Thịnh, ông Tuần Phụ, ông Hội San…; ngoài Bắc, còn ông Trương Toàn, ông Trưởng Vê, ông Trùm Tiến… Xin Chúa ban cho một ngày anh em về vun quén nấm mộ cho thầy, đọc cho thầy câu kinh như ngày hôm nay.

*

Hơn hai mươi năm chiến tranh, rồi đất nước thống nhất, rồi thời bao cấp, rồi những năm kinh tế khó khăn, rồi đổi mới mở cửa, “một ngày” đó chưa đến thì các vị chánh phó trương trùm trưởng đạo đời ấy lần lượt nối chân nhau đi về thiên cổ. Năm ngoái, ông Nguyễn, đã vào hàng U70 về thăm làng cũ. Không còn cây đa, bến nước, lũy tre xanh. Cây cầu đá cụ Bá Bồng bắc năm 1817, đã phải thay một phiến đá bằng bê tông cốt thép, tấm bia đầu cầu chỉ còn là một phiến đá đen sì, lỗ rỗ tổ ong, chữ khắc trên đó đã bị thời gian xóa sạch. Đình An Hương có từ cuối thập niên 1870, mỗi năm đến lễ Phục Sinh phải lấy phên tre chia làm hai, bên cúng bên cầu, bị trưng dụng làm kho lúa hợp tác xã, đã bị tàn phá, san bằng trong chiến tranh. Ngôi nhà thờ xây dựng năm 1883 vẫn sừng sững, uy nghi đứng đó, nhưng đến nay vẫn chưa có linh mục, cách một tuần Bề Trên mới cho một thánh lễ Chúa Nhật. “Thương hải biến vi tang điền”, nhưng sao thời gian không xóa được lòng người. Ở đây, tình làng nghĩa xóm vẫn đầy ăm ắp. Nghe tin có khách trong Nam, cháu nội cụ Bá Ký về quê, người người đến thăm rồi về, rồi lại đến hàn huyên tâm sự suốt đêm. Đến chuyện mời cơm cũng phải lên lịch: Sáng mai nhà ông A, chiều mai nhà bà B, rồi ngày kia, ngày kỉa, ngày kìa…

Một bà già nói với ông Nguyễn:

- Thế nào cậu cũng phải ra thăm các cụ ngoài nghĩa địa nhỉ? Tiện thể ghé nhà tôi, nhé!

Nhìn bà cụ đã già lắm, tay chống gậy, lưng còng thành một vòng cung có lẽ hơn chín mươi độ, ông Nguyễn mau mắn:

- Vâng, cụ cứ về, con sẽ ghé thăm.

Bà cụ một tay vịn vào thành ghế, một tay xua xua gậy, móm mém:

- Ấy, đừng, tội chết. Gọi tôi bằng chị thôi. Tôi là Liễu, con ông Hương Liệt, học trò cụ Bá Ký đây. Ngày ấy, thầy tôi là trưởng tràng. Gớm! Mỗi lần có khách trên phủ, trên huyện về, thiếu chân tổ tôm, cụ vẫn gọi thầy tôi sang hầu, tôi phải sang theo, nước non, điếu đóm cho các cụ. Cậu còn nhớ mặt cụ Bá Ký nhà mình không nhỉ? Gớm! Râu quai nón thế này này, như ông thánh Phêrô.

*

Chiều, nắng vàng hiu hắt. Họ men theo bờ ruộng ra viếng nghĩa địa. Từ năm 1965, hai làng sáp nhập thành làng Thái An, người ta an táng kẻ chết ở nghĩa trang ngoài, gần tỉnh lộ 391, nghĩa trang trong này chỉ còn là một bãi cỏ hoang vu. Cỏ thấp lè tè. Những mô đất trước đây là nấm mộ của một con người cũng thấp lè tè. Một cây Thánh giá bằng bê tông mới dựng được vài năm dang cánh tay chở che cho những người đang an giấc ngàn thu, đổ bóng suốt chiều dài nghĩa địa. Ông Nguyễn nhớ về tổ tiên của mình. Ông thở dài thườn thượt: “Than ôi! Từ xưa đến giờ, biết bao nhiêu người khôn ngoan, biết bao nhiêu người vụng dại, biết bao nhiêu người hưng công lập nghiệp, biết bao nhiêu người vong thân tán gia, nào hiền, nào ngu, nào phàm, nào thánh, bây giờ ở đâu cả, chẳng qua cũng mờ mịt trong một đám cỏ xanh mà thôi!” (Phan Kế Bính,Việt Nam Phong Tục).

Họ đọc kinh viếng nghĩa địa. Khi đọc kinh Tin Kính tới câu: “Tôi tin xác sống lại và sự sống đời sau”, ông Nguyễn thì thầm:

- Con tin, vâng con tin.

Rồi quay sang bà Liễu, ông nói, nhưng như nói với những ai ở xa xôi lắm:

- Lời kinh hôm nay, ở đây, đã muộn sáu mươi năm rồi, phải không, chị?

Lão Ngu

 

 

 

 
 

Xin quý bạn đọc vui lòng thanh toán tiền báo

nơi Cha Sở của mình.

Chân thành cám ơn.

Tĩnh Tâm


LỜI CẢM ƠN MUỘN MÀNG

 

 


Buổi chiều cuối tuần đường xá sao mà đông đúc quá! Trời cũng đã bắt đầu chuyển cơn mưa, những hạt mưa đầu mùa nặng trĩu hòa vào dòng người đang hối hả, chen chúc nhau trên những chuyến xe vội vàng. Tôi cũng tranh thủ bước nhanh tới trạm chờ xe buýt.

Khi vừa tới nơi, tôi bắt gặp một cậu sinh viên với vẻ mặt thẫn thờ đang ngồi bệt dưới đất, bên cạnh cậu ta là một người đàn ông trung niên, tướng mạo có vẻ khắc khổ với khuôn mặt lo âu. Nhưng ánh mắt thì lại rất ấm áp. Trong tay ông, là một xấp tiền lẻ hơi nhàu nát và cũ kỹ. Tôi thấy tim mình đau nhói lên, khi người đàn ông lạ mặt cất giọng trầm ấm nói: "Ráng lên nha con! Tía chỉ có nhiêu đây, con cầm lấy xoay sở tạm, đặng tía dzề rồi tía tính cho heng".

Tôi bỏ giở câu nói của ông và nhanh chóng bước lên chuyến xe của mình, chuyến xe đã đưa tôi trở về với miền ký ức xa xưa, nơi đong đầy những yêu thương và sự hy sinh thầm lặng của ba tôi dành cho tôi…

Tôi sẽ không bao giờ quên được cảm giác của ngày hôm đó, cái ngày mà tôi nhận được bức thư tay cùng món quà sinh nhật tự tay ba làm cho tôi, chưa kịp cảm ơn, vì đây là món quà cuối cùng của ba tôi. Thật ngạc nhiên ông không hề tức giận khi tôi luôn là người ngang ngạnh khó bảo. Mà còn dạy cho tôi một bài học vô cùng quý giá khi tôi vấp phải “cú ngã đầu đời”. Ông viết: “Con nên biết rằng, cuộc sống không phải cái gì cũng theo ý mình được, con hãy cố gắng học cách tự mình bước đi, để sau này con có thể chạy. Học cách biết vấp ngã, để rồi con có thể tự mình đứng dậy. Bất cứ khi nào con gục ngã, thì hãy nghĩ tới những kỳ vọng mà mọi người dành cho con. Hãy để gia đình trở thành niềm an ủi cho con những lúc ngã lòng. Và những lúc con tuyệt vọng, hãy tìm đến ba, bằng xương bằng thịt hay chỉ là trong ý nghĩ, để con vững tin là luôn còn những người yêu thương con bằng cả trái tim và nâng bước cho con bằng đôi cánh hy sinh thầm lặng. Hãy dũng cảm để đương đầu với mọi khó khăn thử thách của cuộc sống con nhé”.

Hình ảnh cha con người sinh viên ở trạm xe buýt lại một lần nữa, giúp tôi tìm về với ba tôi dù chỉ là trong suy nghĩ, cũng đủ giúp tôi nhận ra: “Cái chết không phải là nỗi mất mát lớn nhất trong cuộc đời này. Mất mát lớn nhất chính là những gì chết đi ngay khi ta đang còn sống”. Cảm ơn ba, vì đã luôn giữ lời hứa với con. Xin ba nhận lời cảm ơn muộn màng nơi con. Con sẽ luôn nhớ lời ba dạy để kiên cường trong cuộc sống đầy khó khăn thử thánh này.

Lan Xanh (ĐMLS)

TÔI MUỐN

Tôi đã muốn con đường dâng hiến

Nên dùi mài bảo kiếm hành trang

Đường trần gian rộng lối thênh thang

Tôi bước đi cảm thấy bàng hoàng

Ôi lạy Chúa! Thiên đàng đâu vậy?

              Tôi vẫn muốn đem niềm trông cậy

Tin yêu Ngài khơi dậy đời tôi

Sáng tới chiều lời Chúa trên môi

Ca khen Chúa vạn lời khôn ví

Ôi lạy chúa! Con hằng suy nghĩ!

                             Tôi ước muốn tình yêu tuyệt mĩ

Trong tình Ngài dấu chỉ đời con

Bởi bao đêm nước mắt hao mòn

Lòng khắc khoải như còn mong đợi

Ôi lạy chúa! Tình yêu vời vợi!

Phêrô Nguyễn Đức Thời, Gx Thái Hòa

 

GHEN VÀ GHÉT

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Hôm nay, gã xin bàn đến chuyện ghen và ghét. Trước hết là cái ghen. Là con nhà có đạo, chúng ta thấy cái ghen xuất hiện rất sớm, ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh. Đó là cái ghen của ma quỉ. Thấy loài người được Thiên Chúa sủng ái, được hạnh phúc trong tình yêu thương của Ngài nơi vườn địa đàng, ma quỉ đã đem lòng ghen, nên mới bày mưu thâm chước độc cám dỗ để rồi ông bà nguyên tổ đã sa ngã và phải cúi đầu lãnh nhận bản án của đau khổ và chết chóc. Tiếp đến là cái ghen của Cain. Thấy lễ vật của Abel được Thiên Chúa chấp nhận, Cain đã bực bội để rồi cuối cùng đã rắp tâm thực hiện ý đồ đen tối, giết em mình ngoài đồng vắng.

Bước vào đời thường, chúng ta thấy cái ghen đã có mặt ở mọi nơi và trong mọi lúc, cũng như trong mọi lãnh vực. Trước hết là trong lãnh vực gia đình. Không ít thì nhiều con cái đều kêu trách cha mẹ ăn ở thiên vị, không công bằng, con yêu con ghét. Đứa được nhiều, đứa được ít. Rồi từ đó sinh ra ngang bướng, giận hờn và thù oán. Thực ra, không nên trách móc cha mẹ mà nên trách móc chính bản thân. Bởi vì chắc hẳn cha mẹ sẽ yêu thương đứa con siêng năng hơn đứa con lười biếng, đứa con đau yếu hơn đứa con khỏe mạnh, đứa con ngoan ngoãn hơn đứa con xấc láo.

Đặc biệt là trong lãnh vực tình yêu vợ chồng. Thực vậy, trong lãnh vực này, cái ghen thường được định nghĩa là như thái độ bực bội khi thấy tình yêu của mình bị đánh cắp, hay nói cách khác, đó là thái độ tức tối khi thấy kẻ khác phỗng tay trên tình yêu của mình. Người ta thường bảo: Có yêu thì mới ghen. Và như vậy, cái ghen đã luồn lách vào trong máu huyết của những người đang yêu, bất kể đờn ông hay đờn bà, con giai hay con gái. Tuy nhiên, nơi đờn bà con gái, cái ghen thường mang một sắc thái đặc biệt hơn, chẳng thế mà ca dao đã từng nói: Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

Trong ngôn ngữ Việt Nam có rất nhiều danh từ để chỉ những mức độ khác nhau của cái ghen. Chẳng hạn như ghen bóng ghen gió, đó là một cái ghen vu vơ, một cái ghen không có bằng cớ rõ rệt, một cái ghen có tính cách phủ đầu như muốn răn đe người mình thương rằng: Chớ có lạng quạng, xớ rớ vô là….chết với bà! Còn ghen hờn, ghen tủi, đó là một cái ghen chất chứa trong lòng mà chẳng dám nói ra, cũng như chẳng có một hành động nào bên ngoài, cứ âm thầm gậm nhấm nỗi giận hờn và tủi phận, khiến cho tê tái cả tâm hồn, tan nát cả con tim, héo hắt cả cuộc đời và quay quắt cả con người. Trong khi đó ghen thầm là một cái ghen cũng để ở trong bụng, nhưng bên ngoài thì vẫn vui vẻ, coi như chẳng có sự gì xảy ra cả, để rồi lẳng lặng theo dõi và đưa ra những biện pháp vừa sâu lại vừa cay. Đây là cái ghen của những bậc cao thủ võ lâm, đáng cho thiên hạ phải kiêng nể. Và sau cùng, ghen lồng ghen lộn, đó là một cái ghen của người có dòng máu nóng, khi đã máu ghen đã bốc lên, thì đứng ngồi không yên, phải tìm cách bộc lộ ra bên ngoài bằng những hành động và thường là khốc liệt và tàn bạo như cuồng phong vũ bão, nào là chặn đường đánh cho một trận te tua, nào là dùng dao lam rạch mặt cảnh cáo, nào là tạt acid cho đi đoong cả con người, cốt ý sát hại tình địch hầu lưu lại cho tình địch một dấu ấn và một bài học để đời.

Người ta thường nói ghen ghét, một khi đã ghen với người nào, thì chắc chắn cũng sẽ ghét người ấy. Giống như cái ghen, cái ghét cũng có những mức độ khác nhau. Trước hết là ghét ngọt ghét bùi, bên trong thì ghét nhưng bên ngoài vẫn làm bộ vui vẻ, dịu ngọt. Đây là cái ghét của người có bản lãnh sâu sắc và hiểm độc. Tiếp đến là ghét bỏ, nghĩa là vừa có ác cảm lại vừa muốn ruồng bỏ. Và sau cùng là ghét cay ghét đắng, thậm chí còn ghét vào tận tim, cho dù tới chết vẫn không thèm nhìn mặt nhau. Từ ghen tới ghét, khoảng cách không bao xa. Rồi từ ghét tới những hành động tàn ác với chủ đích hãm hại người khác, khoảng cách cũng gần lắm, như chúng ta đã thấy ở trên.

Thực vậy, người ta thường bảo: Yêu nên tốt, ghét nên xấu. Ngày trước, vua nước Vệ rất yêu Di Tử Hà. Phép nước Vệ là ai đi trộm xe của vua thì bị tội phải chặt chân. Mẹ Di Tử Hà ốm nặng. Đêm khuya có người đến gọi, Di Tử Hà vội vàng lấy xe của vua ra đi. Vua nghe thấy liền khen rằng: Có hiếu thật, vì hết lòng với mẹ mà quên cả tội chặt chân. Ngày kia, Di Tử Hà theo vua đi chơi ở ngoài vườn, đang ăn quả đào thấy ngọt, còn một nửa bèn đưa cho vua. Vua khen: Yêu ta thật! Của đang ngon miệng mà biết để nhường ta. Về sau, vua không còn yêu Di Tử Hà như trước nữa. Một hôm phạm lỗi, vua giận nói rằng: Di Tử Hà trước dám liều lấy xe của ta mà đi, lại còn cho ta ăn quả đào thừa. Thực mang tội với ta đã lâu ngày. Nói xong đem Di Tử Hà ra trị tội. Câu chuyện trên như muốn chứng minh rằng: Một khi đã ghét thì thế nào cũng có những hành động hãm hại kẻ mình không ưa không thích.

Vậy sự ghen ghét xuất phát bởi đâu? Trước hết sự ghen ghét xuất phát từ tính kiêu căng của mình. Thực vậy, kẻ kiêu căng bao giờ cũng muốn mình phải là nhất, phải là trung tâm của thế giới, phải là cái rốn của vũ trụ. Thấy ai phê bình chỉ trích, liền nổi giận đùng đùng. Thấy ai hơn mình thì hậm hực và tìm cách gièm pha, hạ nhục cho bõ ghét. Họ lỡ quên mất câu danh ngôn: Ai khen ta mà khen phải, ấy là bạn ta. Còn ai chê ta mà chê phải, ấy là thầy ta.

Tiếp đến, sự ghen ghét xuất phát từ bụng dạ hẹp hòi của mình. Thực vậy, thấy người khác tài giỏi hơn, giàu có hơn, xinh đẹp hơn, chúng ta phải mừng thì mới đáng mặt quân tử. Một xã hội cần phải có những phần tử ưu tú, thì mới hòng tiến triển được, chứ nếu tất cả chỉ xoàng xĩnh, hay thường thường bậc trung, thì có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ chen vai sát cánh được với bàn dân thiên hạ. Sau cùng, sự ghen ghét còn xuất phát từ sự thiếu sáng suốt của mình. Thực vậy, đứng trước những thành công của người khác, chúng ta cần phải xét mình, đặt ra những câu hỏi để rút tỉa lấy những bài học cụ thể, nhờ đó mà làm đẹp cho bản thân, cũng như làm giàu cho cuộc sống. Chẳng hạn tại sao người ta giàu có? Vì người ta đã chí thú trong việc làm ăn, cần kiệm trong việc chi tiêu. Còn chúng ta thì luôn ươn lười và trễ nải, có làm thì cũng chỉ là làm biếng, hay làm ít mà xài nhiều theo kiểu “bóc ngắn cắn dài”,  thậm chí lại còn xài sang nữa, theo kiểu “con nhà lính tính nhà quan”, thì làm sao có thể khấm khớ và phất lên cho được. Điều cần thiết là phải đấm ngực mình mà rằng: Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Chứ đừng đấm ngực người khác mà rằng: Lỗi tại anh, lỗi tại chị, lỗi tại hoàn cảnh mọi đàng.

 Để kết luận, gã xin ghi lại mẩu chuyện sau đây: Ngày nọ, Cú mèo gặp chim gáy. Chim gáy bèn hỏi: Bác sắp đi đâu đấy? Cú mèo trả lời: Tôi sắp sang ở bên phương đông. Tại sao lại đi như thế? Vì ở đây, nghe tiếng tôi kêu, người ta ghét, cho nên tôi phải dời đi chỗ khác. Chim gáy góp ý: Bác phải đổi tiếng kêu mới được, chứ nếu không đổi tiếng kêu, thì dù sang tới phương đông, người ta nghe tiếng, cũng lại ghét bác mà thôi, vì nhân tình đâu mà chẳng thế. Cứ như ý tôi, thì không gì bằng bác phải rụt cổ, thu cánh suốt đời, đừng kêu nữa là hơn.

Đừng ghen và cũng đừng ghét người khác. Trái lại, hãy sửa đổi những sai lỗi, những khuyết điểm nơi con người mình, bởi vì tiêu chuẩn cần phải thực hiện, đó là: Muốn được thương, thì bản thân phải là người thương được.

 


THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

VÒNG TAY NHÂN LÀNH

Nắng chiều dần khuất sau đồi

Nghĩa trang hiu hắt đâu rồi người thân

              Hương lòng thành kính tiến dâng

Người đi vui hưởng phúc ân thiên đường

Đây người ở lại sầu vương

Tháng ngày vui sống đời thường có nhau

                             Nụ cười câu nói hôm nào

Chìm sâu ký ức dâng trào nhớ thương

Người đi còn lấm bụi vương

Đợi chờ thanh luyện nhờ hương nguyện cầu

                                           Thông công Giáo Hội khổ sầu

Xót thương kẻ ở vực sâu van nài

Lời kinh khẩn nguyện đêm ngày

Chúa ơi mở rộng vòng tay nhân lành. 

 Pr. Hồng Khải

HƯƠNG LÒNG TƯỞNG NHỚ

Chút hương lòng xin thắp lên tưởng nhớ

Hỡi những người đã lìa thế đi xa!

Là tổ tiên, là ông bà, mẹ cha

Là thân nhân, là anh em, bằng hữu.

              Lời nguyện cầu, xin Chúa thương giải cứu

Các linh hồn sớm hưởng cõi Thiên Nhan

Hợp hoan ca, muôn ơn phúc đầy tràn

Là đời đời được ở trong Nhà Chúa.

Chút hương lòng hòa dòng lệ chan chứa

Với tâm thành thương nhớ và tri ân

Xưa các ngài cùng chung bước đường trần

Trong buồn vui cùng chung xây cuộc sống.

Nhiệm mầu thay tình trời tuôn trải rộng

Cho muôn người nên hiệp nhất, thông công

Ở bên Chúa đời đẹp đóa hoa hồng

Mãi được sống và sống trong tình Chúa.

Chút hương lòng, trọn tình con dâng Chúa

Niềm cậy trông, niềm cảm mến đầy vơi

Là câu kinh cho ai đã lìa đời

Xin Chúa thương đưa về nơi Thiên Quốc.

 Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

NGUYỆN CHÚA XÓT THƯƠNG

Ngước mắt trời cao, Chúa ơi xin thương xót !

Hồn con đây đang xiềng xích đau thương

Nơi vực sâu u tối bóng đêm trường

Luôn khát khao ánh Thiên đường rực sáng

Dương trần con tội lỗi vương ngày tháng

Sống kiếp người mê lạc thú trần gian

Để tử quy phải chịu ách lầm than

Con khắc khoải nơi ngục sâu thê thiết

Nơi luyện hình bao linh hồn rên xiết

Ăn năn đền bồi, nguyện Chúa đoái trông

Xin cứu đưa qua khỏi chốn lửa hồng

Về Thiên quốc muôn đời vui bên Chúa.

                               Nhật Quang

LẠY CHÚA! XIN ĐOÁI THƯƠNG CỨU GIÚP

Người thân con đã ra đi

Bên kia thế giới, sầu bi dâng tràn

Phải chăng, người ở Thiên Đàng

Hưởng Nhan Thánh Chúa vô vàn sướng vui

Hay người trong cảnh ngậm ngùi

Luyện Hình thiêu đốt, nói lời nài van

Mọi người ở chốn dương gian

Hãy xin nhớ đến tiếng than lời cầu

Dâng lời khẩn nguyện nhiệm mầu

Để mau thoát khỏi biển sầu lửa thiêu

Được lên cõi phúc cao siêu

Cùng hàng Chư Thánh muôn điều ngợi khen

HOÀI THANH,Gx Ngọc Thạch

ANH EM MỘT NHÀ

Người xưa có lắm lời khuyên :

Hòa thuận, nâng đỡ, cảm thông, hết mình…

Anh em trong một gia đình

Đồng cam cộng khổ, giữ gìn yên vui

Khôn ngoan đối đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ, chớ hoài đá nhau

Trong đàn mà có ngựa đau

Cả tàu bỏ cỏ, với bao nỗi buồn

Anh em như thể tay chân

Rách lành đùm bọc, đỡ đần sớm hôm.

      Yuse  Phạm Đình, GX Thạnh An

NHỚ MẸ

Mẹ ơi nhớ mấy cho vừa

Bao năm vắng mẹ nắng mưa ngậm ngùi

Mẹ đi lâu, đã lâu rồi

Lòng con vẫn mãi bồi hồi buồn đau

Xót xa sân trước vườn sau

Thêm một ngày, lại buồn đau một ngày

Mẹ ơi con nhớ mẹ hoài

Bao nhiêu tháng rộng năm dài ủ ê

Có đêm thấy dáng mẹ về

Ôm choàng, tỉnh giấc, cơn mê lạc lòng

Phương trời mẹ nhớ con không?

Cầu xin Thiên Chúa rộng lòng rủ thương

Ban cho mẹ phúc Thiên Đường

Xin tha hình phạt vấn vương tội tình

Nguyện xin Chúa Cả thiên đình

Cho mẹ con được phúc vinh Nước Trời.

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ _ Tân Hiệp

 

TẢN MẠN

GỬI CHÚT TÂM TÌNH

Sinh ra và lớn lên không riêng ai, chúng ta cũng đều cảm thấy biết ơn và nhớ ơn những người đã khuất như ca dao vẫn thường có câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”. Giờ đây, cách xa nhau ở hai thế giới riêng biệt nhưng chúng ta vẫn luôn nhớ đến và cầu nguyện cho những người đã khuất xa. Dù ở nơi bên kia, nhưng họ vẫn hiện diện và ở bên chúng ta hằng ngày, vẫn luôn dõi bước trong cuộc sống nơi mái nhà thân quen qua bao việc do bàn tay họ làm nên. Chúng ta là những người con, người cháu đang hưởng nhờ những thành quả đó, hãy luôn biết cầu nguyện để người thân yêu của mình sớm được thanh luyện và hưởng cõi phúc trên trời. Đừng quên lãng và bỏ rơi những linh hồn người đã khuất, biết đâu chỉ vì làm cho đời sau được sung túc, hạnh phúc an vui mà họ đã vấp phạm những tội lỗi. Giờ đây, khi được Chúa gọi về họ vẫn còn chưa trả hết tội nợ. Xin dâng lời cầu nguyện để những người đã khuất sớm được hưởng nhan thánh chúa.

                                                            Mộng Uyên, gh Bakhu

NGHĨ VỀ SỰ CHẾT

Đã là con người, ai cũng phải trải qua “sinh,  lão, bệnh, tử”. Dẫu biết điều đó, nhưng được mấy ai lại không sợ cái chết?  Đối với riêng cá nhân tôi, điều đó cũng thật đáng sợ. Một người trẻ nhưng lại sợ cái chết, một người Kitô hữu nhưng lại sợ về nhà Cha, quả là một nghịch lý. Nhưng khi suy nghĩ thấu đáo hơn, tôi thấy mình lo sợ vậy quả không sai. Dẫu đặt mình trong tương quan với Thiên Chúa, nhưng tôi đã thực sự thi hành điều Chúa truyền dạy hay chưa, tôi đã chuẩn bị được gì cho hành trình về với Cha tôi, hay cuộc sống này chỉ là một cuộc dạo chơi. Tôi thấy mình chưa thực thi lời Chúa dạy “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được". Đôi khi tôi bị lệ thuộc vào của cải trần thế, dành những thời gian của Chúa để phục vụ cho đồng tiền. Nhưng đối với Chúa, Chúa nói: "Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời”. Tôi lo lắng vì mình chưa chuẩn bị được gì cho chuyến đi về cùng Cha, chẳng phải tôi chưa chuẩn bị những thứ của cải trần thế, chức quyền, tiền bạc hay địa vị; nhưng là hành trang cho sự sống đời đời. Tôi hoang mang nghi ngại, tôi như một người sắp chết đuối giữa dòng nước xiết, tôi cậy dựa vào lời Chúa; “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”. Từ đó, tôi chẳng còn sợ cái chết rình rập, vì tôi tin “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá".

Lưu Hành

NGÔI MỘ MỚI

Khi sang nước ngoài định cư, thấy người ta được ăn mặc sang trọng, được hưởng những tiện nghi văn minh hiện đại. Nhớ đến cha mẹ ở quê nhà, còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; cả một đời lầm than vất vả, lam lũ, chắt chiu để nuôi nấng và tạo điều kiện tốt cho con cái được học hành nên người. Cuộc sống của các ngài đã quá thiệt thòi. Thương cha, nhớ mẹ, muốn được đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ cho cha mẹ, nhưng lúc đó chúng con cũng còn khó khăn. Đến khi ổn định được cuộc sống  có thể phụng dưỡng cho cha mẹ thì cha con không còn nữa. Hôm nay khi trở về thăm lại quê hương, chúng con xin được thể hiện lòng mình bằng cách lập cho cha con một ngôi mộ mới, để ngài an giấc ngàn thu trong Chúa và xin được khắc ghi lên ngôi mộ đó dòng chữ: “ĐÂY LÀ NƠI YÊN NGHỈ CỦA NGƯỜI  CHA Đà THỪA QUYỀN THIÊN CHÚA: SINH THÀNH, DƯỠNG DỤC VÀ NHẤT LÀ TRAO BAN CHO CHÚNG CON SỰ SỐNG BẤT TỬ”.

             Đa Minh Trần Văn Chính – Gx Đền Thánh Giuse An Bình

 

 

 

 

       
  Chuyn mục
    Tình yu v giới trẻ
 

 

 

 

 


TRÁCH NHIỆM CỦA CHA MẸ

ĐỐI VỚI CON CÁI TRONG GIA ĐÌNH

 

Tất cả chúng ta đều biết rằng hôn nhân Công giáo có hai mục đích, một là vợ chồng yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, hai là cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục con cái. Vậy thì đã rõ, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái sẽ luôn bao gồm ba nhiệm vụ chính, đó là sinh đẻ, dưỡng nuôi và giáo dục. Vì thế, người ta vẫn thường đề cao nghĩa tình của cha mẹ, như sau: “Sinh con mang nặng đẻ đau, nuôi con chẳng quản công lao tháng ngày”.

* Nhiệm vụ sinh đẻ

Thánh vịnh 127 đã viết: “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà, khác nào cây nho đầy hoa trái  và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn. Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (c. 3-4).  Giáo lý hôn nhân Công giáo cũng đã nêu rõ là đôi bạn một khi đã kết hôn với nhau thì phải ý thức rằng con cái là ân huệ cao quý nhất của hôn nhân và rằng khi một đứa con sinh ra trong sự mong đợi của vợ chồng thì đó quả là một niềm vui lớn lao cho gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui bao giờ cũng kèm nhiều nỗi lo lắng. Vì trên thực tế, hai vợ chồng phải gồng gánh, bươn chải để làm sao có đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con cái một cách tốt nhất, trong khi xã hội từng ngày phải đối phó với nhiều khó khăn về kinh tế, dân số, lương thực, y tế, giáo dục…

Vậy thì ở đây vấn đề đặt ra là cần phải sinh con một cách có trách nhiệm. Nghĩa là chính hai vợ chồng tự nguyện quyết định số con cái mình nên có. Sự quyết định này dựa vào thực lực của gia đình mình, vào khả năng chu toàn trách nhiệm làm cha mẹ và nhất là vào lương tâm ngay chính của hai vợ chồng.

Thực vậy, “Hội thánh nhấn mạnh rằng chính lương tâm trong sáng của đôi bạn là mực thước chỉ dạy họ quyết định về số con của mình. Nhờ vâng phục Thiên Chúa và đồng tâm hiệp lực với nhau, hai vợ chồng sẽ tạo được cho mình một phán đoán ngay thẳng, tức là biết xét đến lợi ích riêng của mình cũng như của con cái đã sinh ra hoặc sẽ sinh ra; biết nhận định về các hoàn cảnh vật chất và tinh thần; biết nghĩ đến lợi ích của gia đình, xã hội và Hội thánh. Sự phán đoán ấy, chính đôi vợ chồng phải suy nghĩ trước mặt Thiên Chúa…”(x. Giáo lý HN&GĐ, UB.GLĐT-HĐGMVN, NXBTG Hà Nội năm 2004, trang 157-158).

* Nhiệm vụ dưỡng nuôi

“Nuôi con khỏe, dạy con ngoan” là mệnh lệnh rất phổ biến đối với các bạn đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình. Đã kết hôn thì phải có con. Đã có con thì phải nuôi dưỡng. Đã nuôi dưỡng thì phải làm sao cho con cái khỏe mạnh, thông minh và phát triển tốt. Ngày nay, chúng ta có rất nhiều phương tiện để bổ trợ cho việc nuôi con khỏe. Ngoài sữa mẹ, còn có rất nhiều thực phẩm dinh dưỡng khác có sẵn,  vừa tiện dụng vừa bổ ích nhờ đó ta có thể nuôi con một cách khoa học và đạt yêu cầu dinh dưỡng của trẻ.

Bên cạnh đó, các bạn trẻ có thể tích lũy cho mình một số vốn liếng kiến thức về kỹ năng nuôi con nhờ vào các nguồn thông tin có sẵn. Vấn đề dinh dưỡng của trẻ không phải tự nhiên mà mình biết đủ, biết đúng được. Ta phải học. Thực tế, ít có trường lớp dạy chuyên môn về điều này, do đó phải tự tìm học ở sách vở, tài liệu, và nhất là học hỏi nơi những người có kinh nghiệm nuôi con. Đừng nghĩ rằng “Trời sinh voi trời sinh cỏ” mà phó mặc việc chăm sóc con cái cho tự nhiên. Trái lại, ta nên đầu tư công sức vào việc vun trồng con cái sao cho chúng phát triển cả về thể xác lẫn tinh thần, cả về sinh lý lẫn tâm lý.     

* Nhiệm vụ giáo dục

Giáo dục con cái cho nên người luôn là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, phức tạp và nặng nề đối với các bậc cha mẹ. Đó là một công trình quan trọng mà các bậc cha mẹ cần lưu tâm hơn cả. Như một danh nhân đã nói: “Đứa con sẽ là phần thưởng hay hình phạt cho cha mẹ tùy theo sự giáo dục của mình”. Và trên hết cha mẹ luôn là tấm gương sáng cho con cái noi theo đồng thời nắm giữ vai trò quyết định trong việc giáo dục trong gia đình mình.

Ở đây chúng ta thử tham khảo mấy ý kiến sau của một tác giả Công giáo về chủ đề “Giáo dục con cái trong thời đại mới” (x. Bùi Hữu Thư, VietCatholic News 24-2-2009), như sau:

“Dạy cho con cái biết các giá trị tinh thần của chúng ta là vấn đề hết sức quan trọng. Rất may là mọi sự khởi đầu từ chúng ta là các bậc phụ huynh và cũng chấm dứt nơi chúng ta. Cha mẹ có nhiều ảnh hưởng trong việc truyền thụ các giá trị cho con cái hơn mọi yếu tố khác. Sau đây là một vài điều giản dị, và rất quan trọng chúng ta phải nhớ về các giá trị và tìm cách để chuyển giao chúng cho con cái:

- Con cái học biết cách phân định những gì là tốt hay xấu nơi những người chúng thương yêu và kính trọng. Không có một ai khác có ảnh hưởng nhiều hơn trong việc dạy dỗ các giá trị hơn bạn. Lời nói của bạn có thể làm thay đổi mọi sự.

- Khi dạy dỗ giá trị, hành động luôn luôn có ý nghĩa nhiều hơn lời nói. Con trẻ bây giờ có thái độ “Hãy làm cho tôi xem đi!”(Show me!). Chúng cần được thấy các giá trị được cha mẹ biểu tượng trong cuộc sống của họ. Chúng ta cần kính trọng đời sống, kính trọng kẻ khác, ngay thẳng, công chính... Con cái sẽ có được các giá trị này khi quan sát chúng ta.

- Gia đình vẫn là công cụ hữu hiệu nhất cho việc giáo dục con cái. Một mái ấm gia đình, nơi mọi người thương yêu, đùm bọc lẫn nhau tạo được môi trường cần thiết cho con cái học hỏi cái gì là tốt, cái gì xấu, và học cả cách yêu thương nhau. Giá trị tinh thần chỉ có thể được nuôi dưỡng trong một môi trường có tình yêu và sự chấp nhận.

- Luôn luôn bỏ thì giờ ra để ngồi xuống nói chuyện với con cái. Đừng e ngại phải nói ra những điều bạn cảm thấy và cũng đừng bao giờ không chịu nghe những gì con cái đang suy nghĩ.

- Luôn luôn cố gắng dạy dỗ con cái biết yêu thương và kính trọng nhau như những đứa con của Thiên Chúa. Một tình yêu lành mạnh và sự tự trọng hết sức quan trọng đối với con cái. Đây cũng là bước đầu cần thiết trong việc giúp đỡ con cái học biết thương yêu và kính trọng tha nhân và Thiên Chúa.

- Không có ai nói rõ hơn Chúa Giêsu. Mấy chữ này: “Yêu tha nhân...” là một sứ điệp quan trọng cho mỗi đứa con trẻ”.

Tóm lại, trong trách nhiệm giáo dục, các bậc cha mẹ nên nhận thức một điều này, là “Giáo dục con cái là một lĩnh vực quan trọng và là một nghệ thuật trong đời sống gia đình, trong đó cha mẹ giữ vai trò quyết định. Giáo dục tốt, con cái sẽ trở thành con người tốt, thành người cha người mẹ tốt trong tương lai…” (x. Nguyễn Đình Xuân, Tâm lý học tình yêu gia đình, NXB GD 1993, trang 123)./.

Aug. Trần Cao Khải

 

       
   
 
 

 

 


BẢN TIN

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

THÁNH LỄ TẠ ƠN MỪNG CÔNG NHÀ THỜ CỐNG 16

Giáo điểm Cống Mười Sáu trực thuộc giáo xứ Thạnh An, do cha phó Phêrô Vũ Quang Tấn đặc trách chính. Cách đây không lâu, giáo điểm Cống Mười Sáu đã hân hoan đón mừng Đức Giám Mục giáo phận về dâng Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi thánh đường mới. Và ngày 16.8.2014, giáo điểm lại hân hoan chào mừng Đức Giám mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu và Đức Giám mục phụ tá Giuse Trần Văn Toản về dâng Thánh lễ tạ ơn mừng công phần cơ bản nhà thờ và mừng ngân khánh cha sở Phêrô Bùi Duy Tân 25 năm hồng ân Linh mục. Cùng dâng Thánh lễ còn có cha Tổng Đại Diện, hơn 50 Linh mục và đông đảo bà con giáo dân trong và ngoài giáo xứ.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ SÁU BỌNG

Ngày 19.8.2014 Đức Giám mục phụ tá đã đến giáo xứ Sáu Bọng để ban Bí Tích Thêm Sức cho 26 em trong giáo xứ, và cho 5 em xưng tội rước lễ lần đầu. 7g30 ngài nói chuyện với bà con giáo dân. Sau đó, ngài rửa tội cho một số anh chị em tân tòng, đồng thời làm phép giao cho ba cặp hôn nhân. Giáo xứ Sáu Bọng là con của giáo xứ Môi Khôi. Đây là lần đầu tiên ngài trở về với tư cách là một Giám mục cho nơi mà ngài đã đổ nhiều công sức khi còn là thầy và là cha Sở của Láng Sen. Vì thế, trong bài giảng ngài đã nhấn mạnh đến việc hãy mạnh dạn gieo rắc lời Chúa vì chắc chắn sẽ có một ngày Lời Chúa mà ta gieo rắc sẽ trở thành cây và trổ sinh hoa trái.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ LẤP VÒ

Giáo xứ Lấp Vò thuộc địa bàn xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; do Linh mục Giuse Đinh Trọng Luân phụ trách. Đây là một trong những giáo xứ lâu đời nhất của giáo phận, ngôi nhà thờ được xây dựng năm 1890; nhưng cũng là một trong những giáo xứ nhỏ nhất giáo phận, với số giáo dân khoảng 183 người. Ngày 24.8.2014, Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 17 con em trong giáo xứ. Khoảng 9g30, Thánh lễ bắt đầu. Hiệp dâng với Đức Giám Mục còn có 14 Linh mục đồng tế và đông đảo bà con giáo dân. Trong phần phụng vụ Lời Chúa, Đức Giám Mục nói lên tầm quan trọng của Bí tích Thêm sức trong đời sống người Kitô hữu. Vì Bí tích Thêm sức giúp ta lãnh nhận dồi dào và hoàn tất ơn Chúa Thánh Thần; trưởng thành hơn trong đời sống Kitô hữu và trở nên những chứng nhân đích thực của Đức Kitô.

 

THÊN SỨC TẠI GIÁO XỨ HIẾU HIỆP

Sáng Chúa nhật, ngày 24.8, Đức cha Phụ tá đã viếng thăm mục vụ và ban bí tích Thêm Sức cho các em thiếu nhi thuộc giáo xứ Hiếu Hiệp, giáo hạt Vĩnh An.

 


THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ CÙ LAO GIÊNG

Sáng ngày 31.8 vào lúc 4g15 Đức Giám mục phụ tá đã khởi hành đi Cần Thay để dâng lễ cầu nguyện cho giáo Hạt Chợ Mới. Sau đó vào lúc 7g30, ngài tới Cù Lao Giêng, để dâng thánh lễ tạ ơn và ban bí tích thêm sức cho 86 em trong họ đạo. Cùng đi với ngài, còn có  cha Tổng đại diện LG Huỳnh Phước Lâm, cùng dâng thánh lễ với ngài là hầu hết các cha trong hạt Chợ Mới. Vì thế, trong thánh lễ ngài đã nhấn mạnh đến truyền thống của Hạt Chợ Mới là hiệp thông. Đồng thời nhắn nhủ cộng đoàn dân Chúa, hãy biết chọn lựa những giá trị thiên quốc như hai Thánh tử đạo Phêrô Đoàn Công Quý và Emmanuel Lê Văn Phụng.

 


THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ AN SƠN, KE2

Sáng Chúa nhật ngày 07.9 Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu chính thức viếng thăm mục vụ giáo xứ An Sơn. Trước hết ngài đến giáo họ thánh Giuse, gặp gỡ và khích lệ anh chị em giáo dân, tham quan hai công trình đang được xây dựng, đó là nhà thờ và nhà xứ. Ngài cũng đã chụp hình lưu niệm với Hội đồng Mục vụ và các ban ngành của giáo họ. Sau đó, ngài cùng với mọi người lên nhà thờ Vô Nhiễm. Tại đây, ngài đã gặp gỡ anh chị em giáo dân, vui mừng vì thấy giáo xứ An Sơn mỗi ngày một đổi mới. Trước khi dâng thánh lễ, ngài đã làm phép tượng đài kính thánh Don Bosco. Cùng dâng Thánh lễ có 12 cha đồng tế. Trong bài giảng ngài đã chia sẻ: Trong khi vất vả xây dựng nhà thờ và nhà xứ, quý cha cũng như anh chị em đã không quên xây dựng cho mình một ngôi thánh đường thiêng liêng trong tâm hồn của mình, qua việc tham dự những sinh hoạt đạo đức và học hỏi giáo lý. Và kết quả là ngày hôm nay có 78 em được lãnh nhận bí tích Thêm sức.

 


GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

VIỆT NAM VÀ VATICAN

Trưa ngày 11-09-2014, Phòng Báo chí Toà Thánh đã công bố Thông cáo chung về cuộc họp Vòng V Nhóm Công tác Hỗn hợp Việt Nam–Toà Thánh vừa kết thúc tại Hà Nội. Thứ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Trưởng đoàn Việt Nam và Thứ trưởng Ngoại giao Toà thánh Antoine Camilleri, Trưởng đoàn Toà thánh, đồng chủ trì cuộc họp. Phía Vatican đánh giá cao và cảm ơn sự quan tâm mà chính quyền các cấp của Việt Nam đã dành cho Giáo hội Công giáo Việt Nam trong thời gian qua để hoàn thành sứ mệnh của mình; ghi nhận những tiến bộ trong chính sách tôn giáo của Việt Nam, thể hiện trong Hiến pháp sửa đổi 2013. Phía Vatican khẳng định Toà thánh coi trọng phát triển quan hệ với Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung, thể hiện ở các chuyến thăm châu Á của Giáo hoàng tới châu lục này trong thời gian qua và trong tương lai. Toà thánh khẳng định mong muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và cùng Giáo hội Công giáo Việt Nam tham gia vào quá trình phát triển của Việt Nam thông qua các lĩnh vực mà Giáo hội có thế mạnh như y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo.

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

LỄ NHỚ HAI VỊ THÁNH GIÁO HOÀNG

WHĐ (13.09.2014) – Thể theo quyết định của Đức Thánh Cha Phanxicô, Đức hồng y Canizares Llovera, Bộ trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích đã ký Sắc lệnh ngày 26-05-2014, về việc ghi tên hai Thánh giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II vào lịch phụng vụ chung của Giáohội, và ấn định bậc “lễ nhớ không buộc” (gra­du memoriae ad libitum) dành cho hai vị thánh này. Lễ nhớ Thánh giáo hoàng Gioan XXIII mừng vào ngày 11 tháng Mườilà ngày kỷ niệm khai mạc Công đồng Vatican II (năm 1962)tại Đền Thánh Phêrô. Công đồng này là công trình vĩ đại và gây nhiều ngạc nhiên của một giáo hoàng chỉ mới bắt đầu thừa tác vụ Phêrô vào 4 năm trước đó, khi đã gần 77tuổi. Lễ nhớ Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II mừng vào ngày 22 tháng Mười, ngày kỷ niệm lễ nhậm chức giáo hoàngcủa ngài (năm 1978). Ngày này đã được ấn định từ khi Đức giáo hoàng Bênêđictô  XVI tôn phong chân phước cho ngài vào ngày 01 tháng Năm 2011.

 

 


MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ NĂNG GÙ

 

1. Địa chỉ:

Nhà thờ Năng Gù, Ấp Bình An 2, Xã An Hoà, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang.

2. Số giáo dân:

* Xã An Hoà, Huyện Châu Thành gồm:

+ Ấp Bình An 1: 1119 dân số - 1119 giáo dân

+ Ấp Bình An 2: 2896 dân số - 2896 giáo dân

* Xã Bình Thuỷ, Huyện Châu Phú: 6000 dân số - 496 giáo dân

 

3. Lịch sử hình thành & phát triển :

Giáo xứ Năng Gù trước đây, được hiểu là toàn khu vực Năng Gù, gồm có 3 nhà thờ: Nhà thờ Năng Gù (Trung Tâm), và 2 họ lẻ với 2 nhà thờ họ nhỏ: Trái Tim và kinh ông Quít. Nay đã tách ra thành 3 giáo xứ. Tuy 3 giáo xứ liền nhau về ranh đất, nhưng hoàn toàn biệt lập và độc lập về mọi quyền đạo của một giáo xứ hoàn chỉnh. Nên ngày nay, khi nói Giáo Xứ Năng Gù, thì chỉ hiểu là Giáo Xứ Trung Tâm, với “nhà thờ lớn” ở giữa, gồm ấp Bình An 1, ấp Bình An 2 (xã An Hoà), và ấp Bình Yên (xã Bình Thuỷ).

* Năng Gù có thể là do tiếng khmer Sneing-ku=Neng-gù: Sừng bò.

* Giáo dân tiên khởi là Ông Giacôbê Lê Phước Ngãi (chết 1861), người gốc Trung Hoa, quê quán Đồng Nai, quan cựu trào chạy giặc về Năng Gù. Vợ ông là Bà Anna Lê Thị Vang cũng có tên là Châu (chết năm 1883), nguyên quán Ba Giác, Mỏ Cày, Bến Tre.

* Lúc ban đầu các bí tích được cử hành chui ở vùng Kinh Ông Quýt, sau đó tại Rạch Gộc. Nhà thờ đầu tiên cất sau núi Đức Mẹ bây giờ, có thể là trước năm 1859: trước bằng gỗ nền đất, mái lá; sau lợp ngói xây tường, lót gạch tàu, trải đệm, không bàn ghế, có lầu hát. Chuông có từ năm 1892.

* Nhà thờ thánh Giuse hiện nay do Cha sở Ulterleiner xây, theo sơ đồ của Đức Cha Hergott lúc đó là Bề trên giáo phận Nam Vang: kiểu Gothique, dài 55m, ngang 19m, cao (tháp chuông 25m, trần 15m).

* Đức Cha Jean Claude Bouchut làm phép ngày 20/02/1920. Ngài nâng họ Năng Gù lên hàng giáo xứ ngày 02/10/1920 gồm các họ đạo: Chắc Cà Đao, Cần Xây, Ba Bần, Long Xuyên, Đồng Súc, Cái Dầu, Thị Đam.

* Thời Cha Collot mới thành lập Giồng Ông Tỏ, Xẻo Bún, Tham Buôn, Kiến An, Joanna (số 2) Têrêsa (số 4) St. Louis (số 10) Láng Ô Tà. Cha khai khẩn đất thêm, riêng tại xã Bình Thủy nay là An Hoà, có 813 ha (khu vực nhà thờ 3ha 62.60, Đất thánh 1ha 63.78).

* Thánh Phêrô Đoàn Công Quí là Cha sở họ Đầu Nước Cù Lao Giêng năm 1858, kiêm cha sở Năng Gù. Tử đạo tại Châu Đốc 1859, được mai táng tại nhà thờ nói trên, sau cải táng về Cù Lao Giêng, nhưng quan tài được chôn lại tại nhà thờ lá (sau núi Đức Mẹ hiện nay).

* Kế nhiệm Thánh Quí có 19 cha sở , trong số đó có 8 cha Thừa Sai Paris MEP và 11 cha Việt Nam, và 38 cha phó Việt Nam.

* Số giáo dân là 4501 người (mỗi gia đình gần như đều có sách Tân ước 1103 cuốn)

* Linh mục gốc Năng Gù: 11 * Nữ tu Chúa Quan phòng: 50 * Đệ tử Chúa Quan Phòng: 04 * Đệ tử Thánh Gia: 01 * Đại Chủng sinh: 09 * Dự tu: 35 (Nam 25, Nữ 10) * Ban hành giáo và cộng sự viên: 31 * Giáo lý viên: 16 và 3 nữ tu Chúa Quan Phòng.

* Học sinh cấp I: 652 * cấp II: 287 * cấp III: 75 * Tổng cộng: 1008* Sinh viên Đại học: 30* Điểm tình thương: 08 * Học sinh tình thương: 330* Giúp 258 em vào lớp: 25.000.000 VND  // 15 em Đại học: 10.000.000 VND.

4. Nhà thờ: Xây dựng & chỉnh trang:

Xây xong: 20/02/1920.* Năm 1994: Chỉnh trang cung thánh* Năm 1999: Tiền đường* Năm 2000: Tháp chuông

+ Năm 2008-2014: Làm Bêtông Sân Núi Đức Mẹ, xây 2 nhà Sinh hoạt cho Nhà Xứ, làm nệm các ghế quì, lắp đặt 7 màn hình trong nhà thờ, xây đựng Lễ Đài tại Đất thánh để làm lễ cầu cho Ông Bà mỗi Chúa Nhật đầu tháng, xây dựng Lễ Đài Micae (điểm Truyền giáo), xây dựng nhà Hài Cốt tại Đất Thánh, dựng tượng đài thánh Giuse (Bổn Mạng nhà thờ), dựng tượng đài Đức Mẹ Sầu Bi, xây dựng Nhà Sinh Hoạt Thiếu Nhi.

5. Các linh mục phụ trách (Tính từ năm 1976):

Các cha sở:

* 1976: Phêrô Khả

* 1991 : Phêrô Lê Văn Quan

* 2008 : Phêrô Nguyễn Văn Mễn

Các cha phó:

* 1976: Giuse Triêm                             * 1976: Fx. Tỷ

* 1977: Phanxicô Xaviê Long                * 1989: Phaolô Trứ

* 1989: Phêrô Khoa                              * 1992: Bênêđictô Hiền

* 2003: Giuse Minh                              * 2006 : Phêrô Hiền

* 2010 : Phêrô Quắn                             * 2014 : Phêrô Hoàng

5. Những đặc điểm:

- Họ đạo gần như toàn tòng là công giáo.

- Cố gắng thường xuyên nâng cao trình độ văn hoá và giáo lý. Từ bỏ nếp sống cũ, sống đời sống mới theo Lời Chúa, hiệp nhất trong yêu thương.

7. Cộng đoàn tu:

Cộng đoàn Nữ tu Chúa Quan Phòng, lo việc: Dạy giáo lý & Phòng thánh.

 

 

 

 

 
 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 12.2014

GIÁNG SINH

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.gplongxuyen.org

Đa tạ.

 

 

 

 

 



[1]
Điều 1116

§1. Nếu không thể có hay không thể đến với một vị chứng hôn có thẩm quyền chiếu theo quy tắc của luật, mà không gặp bất tiện nặng, thì những người nào muốn kết hôn thật sự, có thể kết hôn cách thành sự và hợp pháp trước mặt các nhân chứng mà thôi:

10 trong trường hợp nguy tử;

20 ngoài trường hợp nguy tử, miễn là dự đoán theo sự khôn ngoan rằng tình trạng ấy sẽ kéo dài suốt tháng.

§2. Trong cả hai trường hợp, nếu có một tư tế hay một phó tế khác có thể hiện diện, thì phải mời vị ấy đến chứng kiến buổi cử hành hôn lễ cùng với các nhân chứng, mặc dù hôn nhân trước mặt các nhân chứng mà thôi vẫn thành sự.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1111
Tất cả: 45,856,436