Tĩnh tâm tháng 09 năm 2014

TĨNH TÂM

THÁNG 9 NĂM 2014

 

 

Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay

Anh em được sống vui vầy bên nhau

(Tv 133)


TÌM BÀI



THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 9 năm 2014

 

GIA ĐÌNH GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

ĐỒNG HÀNH VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM

 

***

Anh chị em thân mến,

Các giám mục chúng tôi xin gửi đến toàn thể cộng đoàn dân Chúa, và qua anh chị em, chúng tôi cũng gửi đến các tâm hồn thành tâm thiện chí trong phần đất của giáo phận, lời chào chúc bình an của Chúa Giêsu Kitô và tình yêu huynh đệ.

Hòa chung với niềm vui và hy vọng của dân tộc Việt Nam trong ngày cầu cho Quốc Thái Dân An, ngày 2/9, chúng tôi xin gửi đến anh chị em thư mục vụ tháng 9 có chủ đề Gia Đình Giáo Phận Long Xuyên Đồng Hành Với Dân Tộc Việt Nam.

Anh chị em thân mến, trong ánh sáng của Tin Mừng Chúa Kitô, Đồng Hành Với Dân Tộc là sống mầu nhiệm Chúa Kitô, là trở thành hiện thân của Chúa Kitô đang hiện diện để chia sẻ trong yêu thương và phục vụ anh chị em đồng bào của mình và cùng nhau xây dựng một trời mới đất mới nơi công lý ngự trị.

Theo Thánh Công Đồng Vaticanô II, đồng hành với con người thời đại là “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô”  (Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng Và Hy Vọng số 1).

Cho Á Châu, Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu diễn tả giáo hội Á Châu đồng hành với các dân tộc tại Á Châu là: “Hiện diện với đồng loại, đáp ứng các nhu cầu của họ, nhạy cảm với sự hiện diện của Thiên Chúa trong các nền văn hóa và các truyền thống tôn giáo khác, và làm chứng cho các giá trị của Nước Trời xuyên qua sự hiện diện, liên đới và chia sẻ(Hội Nghị Toàn Thể lần V).

Cho Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã vạch ra đường hướng cho giáo hội Việt Nam đồng hành với dân tộc trong thư chung 1980: “Chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa”(Thư chung 1980 số 9).

Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI đã đồng tình với đường hướng trên của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam khi phát biểu:  “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em giáo dân phải chứng tỏ rằng là người công giáo tốt cũng là người công dân tốt”(Huấn từ cho HĐGMVN 2009)

Và, theo tinh thần Tông huấn “Niềm Vui của Tin Mừng” của Đức Thánh Cha Phanxicô, đồng hành với dân tộc của giáo phận Long Xuyên nên tập trung vào những điểm cụ thể như sau:

1. Đối Thoại để hòa giải xây dựng hiệp nhất: Theo Đức Thánh Cha, “sự đa dạng sắc tộc là tài sản quý báu. Chỉ trong sự hiệp nhất, nhờ dự hoán cải của các tâm hồn và sự hòa giải, chúng ta mới có thể giúp đất nước chúng ta phát triển trên mọi bình diện” (số 230).

2. Đối thoại để hoán cải và hợp tác phát triển: Vì “không một ai trong chúng ta được miễn khỏi sự quan tâm đến người nghèo và công bằng xã hội. Sự hoán cải thiêng liêng, tình yêu sâu đậm với Thiên Chúa và tha nhân, nhiệt tình đối với công lý và hòa bình, ý nghĩa tin mừng cuả người nghèo và cảnh nghèo, là những điều dòi hỏi mọi người không trừ ai” (số 201).

3. Đối thoại để làm chứng cho những giá trị của Tin Mừng là Đức Kitô: Theo số 269, thì “Chính Đức Kitô là mẫu mực của chúng ta. Bước theo Ngài, chúng ta muốn hoàn toàn đi vào các thành phần cấu tạo xã hội này, chia sẻ cuộc sống với mọi người, lắng nghe các mối tương quan của họ, giúp đỡ họ vật chất và tinh thần trong các nhu cầu của họ, vui với người vui khóc với người khóc, tay trong tay với người khác, chúng ta dấn thân xây dựng một thế giới mới, một thế giới tràn đầy công lý, bình an, và hoan lạc trong thánh Thần”.

Cụ thể hơn cho giáo phận Long Xuyên, để bày tỏ thiện chí muốn đồng hành với dân tộc, chúng ta tập trung vào 3 sinh hoạt sau đây:        

1. Đối thoại bằng cuộc sống: Cơ bản là các cộng đoàn Kitô hữu trong giáo phận cần tránh sống co cụm và đóng kín hoặc vì tự tôn, hoặc vì thiên kiến hoặc vì sợ hãi. Trái lại, cộng đoàn chúng ta phải là cộng đoàn mở rộng để sẵn sàng ra đi đến với anh chị em mình, và bày tỏ lòng tôn trọng những khác biệt, kể cả trong niềm tin và lý tưởng. Ra đi để kết thân và liên đới với làng xóm láng giềng, bất chấp những khác biệt về tôn giáo, về triết lý sống. Ra đi để thăm nhau và hiện diện trong các sinh hoạt vui buồn của nhau…

2. Đối thoại bằng hành động: Bên cạnh đối thoại bằng đời sống như trên, giáo phận còn phải là một cộng đoàn sẵn sàng cộng tác với mọi người, tập thể hay cá nhân, nhằm phục vụ cho sự phát triển của con người, đặc biệt là của những người ở bên lề xã hội. Hai lãnh vực giáo phận cần tập trung là lãnh vực bác ái và lãnh vực giáo dục.

3. Đối thoại bằng hiệp thông cầu nguyện: Kết hợp với những hoạt động là lời cầu nguyện cùng với sự hy sinh. Đây là cách chúng ta đang đối thọai với Thiên Chúa về con người. Trong cầu nguyện, chúng ta giới thiệu anh chị em lên Chúa. Hậu quả của việc cầu nguyện cho anh chị em là một tâm hồn biết quan tâm đến anh em, và háo hức dấn thân làm việc thiện và chia sẻ cuộc sống với tha nhân.

Anh chị em thân mến, chúng ta lấy lời cảnh tỉnh của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng để nhắc nhở nhau trong khi chúng ta thi hành công cuộc đồng hành với dân tộc:

Thứ nhất, chúng ta đừng để mình bị cướp mất Tin Mừng là chính Chúa Kitô (số 97).

Thứ hai, chúng ta đừng để mình bị cướp mất lý tưởng tình yêu huynh đệ (số 101).

thứ ba, chúng ta đừng đề mình bị cướp mất niềm hy vọng (số 86).

Xin Thiên Chúa qua lời bầu cử của Mẹ Maria và các thánh tử đạo Việt Nam tiếp tục đồng hành với chúng ta trong công cuộc giáo phận đồng hành với dân tộc Việt Nam.

 

+ Giuse Trần Văn Toản                  + Giuse Trần Xuân Tiếu

Giám Mục Phụ Tá                        Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên


TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG NỌC ĐỘC
ĐANG PHA VÀO CÁC VIỆC ĐẠO ĐỨC

 

1.

Cho tới bây giờ, tôi vẫn không ngừng cảm thấy mình yếu đuối. Tôi xin Chúa cho tôi được sớm chết đi, còn hơn sống lâu mà yếu đuối như thế này. Nhưng Chúa luôn quả quyết với tôi như đã quả quyết với thánh Phaolô: “Ơn của Cha đã đủ cho con, vì sức mạnh của Cha được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9).

Phần nào, tôi cũng nói được như thánh Phaolô: “Thế nên, tôi vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui mừng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,9-10).

2.

Vậy, những yếu đuối của tôi là ở những điểm nào? Thưa, ở rất nhiều điểm. Ở đây, tôi không nói về những điểm thuộc lãnh vực tội lỗi, bởi vì quá rõ là xấu, nhưng tôi xin nói về những điểm thuộc lãnh vực đạo đức, bởi vì tôi hay sợ mình để những việc đạo đức của mình bị nọc độc nào đó làm hư mà cứ tự hào một cách nguy hiểm. Nỗi sợ như thế bị nhiều người cho là một sự yếu đuối. Tôi xin kể ra những nỗi sợ đó của tôi.

3.

Nỗi sợ thứ nhất là: Đọc kinh dâng lễ mà không cầu nguyện.

Xưa, Chúa Giêsu đã mượn lời tiên tri Isaia mà nói về nhiều người đạo đức Do Thái rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa ta” (Mt 15,7-8).

Bây giờ cũng thế. Nếu không tỉnh thức, tôi cũng dễ rơi vào thói quen đọc kinh thực nhiều, dâng lễ với nghi thức hoành tráng, nhưng lại không thực sự cầu nguyện. Bởi vì tôi cầu nguyện với tâm tình kiêu ngạo, tự kể công và coi mình đạo đức hơn kẻ khác. Như thế, tôi sẽ bị Chúa ruồng bỏ (x. Lc 18,9-12). Chúa cũng sẽ ruồng bỏ tôi, nếu tôi cầu nguyện với những hình thức bề ngoài khoe khoang (x. Mt 6,5-6). Cầu nguyện thực là xin được vâng ý Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Thực tế cho thấy ngay cả đến hành hương và tĩnh tâm, nếu không tỉnh thức, cũng sẽ thiếu vắng cầu nguyện đích thực.

4.

Nỗi sợ thứ hai là: Nhập thế mà không khổ chế.

Xưa, Chúa Giêsu đã nhập thế. “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8).

Con đường đau khổ, mà Người đã đi, cũng được Người giới thiệu cho các kẻ theo Người. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).

Chúa Giêsu đã sống khổ chế. Người dạy các môn đệ Người cũng hãy sống khổ chế. Thế mà, nếu tôi coi thường gương đời Người và lời Người dạy, để sống buông thả, thì sẽ ra sao về đạo đức Kitô giáo, mà tôi có trách nhiệm? Hưởng thụ tới mức báo động đang trở thành một lối sống bình thường của nhiều môn đệ Chúa tại nhiều nơi.

5.

Nỗi sợ thứ ba là: Làm việc lành theo ý riêng, chứ không theo ý Chúa.

Xưa, Chúa Giêsu đã phán: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nhân danh Thầy mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi. Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-23).

Bây giờ cũng thế. Nếu không tỉnh thức, tôi cũng sẽ dễ bị Chúa xua đuổi như vậy, cho dù tôi đã nhân danh Chúa, mà làm nhiều việc coi như vẻ vang cho Hội Thánh Chúa. Thí dụ: Những công trình xây cất vĩ đại, những tổ chức lễ lạy hoành tráng, những con số đào tạo đông đảo, những đấu tranh vang dội dành quyền lợi cho Công giáo. Nếu chẳng may, tôi để cho ý riêng hiếu thắng của tôi hoặc của tập thể thúc đẩy chi phối, thì tôi sợ tôi sẽ không tránh được số phận bị Chúa gọi là bọn gian ác, như Chúa đã nói với những người đã nhân danh Chúa mà làm phép lạ trên đây.

6.

Nỗi lo thứ tư của tôi là: Hay xét đoán người khác một cách kiêu căng.

Xưa, Chúa Giêsu đã phán: “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại...

Sao anh em thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới?...” (Lc 6,36-42).

Những lời Chúa phán trên đây làm tôi tỉnh giấc. Bởi vì nhiều khi, tôi như quen ngủ trong ảo tưởng là mình phải tố cáo, phải kết án người khác một cách tự hào, tự đắc, thì mới là đạo đức. Ai ngờ làm thế là quá sai trước mặt Chúa.

7.

Trên đây là vài nỗi sợ của tôi trong khi làm các việc đạo đức. Những nỗi sợ như thế bị nhiều người cho là những yếu đuối của tâm hồn nặng về mặc cảm tự ti. Cũng có thể là như vậy. Nhưng chính những nỗi sợ đó đã giúp tôi tỉnh thức, để luôn cậy vào Chúa, mà cố tránh những nọc độc kiêu ngạo với ý riêng dễ bị ma quỷ pha vào các việc đạo đức.

Không gì nguy hiểm cho bằng nọc độc kiêu ngạo. “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 3,5).

Để kết, Chúa dẫn tôi đến Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi được Chúa cho nhìn sâu vào sự khiêm nhường của Đấng Cứu Thế, Người hạ mình chịu khổ nhục như thế, để đền tội và cứu loài người kiêu ngạo. Người trở nên quá yếu đuối như thể, để đem sức mạnh cứu độ đến cho tôi.

Lạy Chúa, con xin cảm tạ Chúa. Con xin Chúa thương xót con. Con thực tình sám hối. Con phó thác mình con trọn vẹn nơi Chúa.

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy niệm Chúa Nhật XXIII Thường Niên, A

Ed 33,7-9; Rm 13,8-10; Mt 18,15-20

SỬA LỖI ANH EM

 

Tu thân” là nền tảng đạo đức của Nho Giáo: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. “Tu thân” là sửa mình. Nhưng mình lại rất chủ quan. Thực vậy, ta rất dễ “thấy cái rác trong mắt anh em, mà không thấy cái đà trong mắt mình”. Cho nên ta rất cần nhờ người khác giúp mình tu thân, sửa mình.

Có nhiều cách để giúp mình ‘tu thân”. Chẳng hạn: “Yêu con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi”. Cho roi cho vọt: nghĩa là dùng những hình phạt do pháp luật qui định, như thế quyền vẫn đang làm. Cho ngọt: nghĩa là dùng những biện pháp êm nhẹ. Chẳng hạn như dạy dỗ, chỉ dẫn, bảo ban, khen thưởng, khích lệ, hay nuông chiều buông thả theo lối sống tự nhiên. Cả hai cách giáo dục đó: Một đàng thì thái quá, vì hạ nhục phẩm giá con người; Một đàng thì bất cập, vì buông theo bản năng dục vọng, biến thành thứ vô giáo dục; và nguy hơn nữa là tâng bốc tính kiêu ngạo.

Đường lối giáo dục của Chúa thì khác. Ngài biểu lộ lòng thương yêu giúp đỡ tội nhân sửa lỗi, tôn trọng tội nhân như anh em, như bạn hữu, tôn trọng chủ quyền tự do quyết định của tội nhân. Nhưng Chúa cũng rất chân thành và cương quyết loại trừ tội lỗi, không để tội lỗi lây lan ra cộng đồng. Ngài loại trừ tội lỗi, chứ không loại trừ tội nhân. Vì thế Chúa bảo ta phải luôn cầu nguyện cho tội nhân.

Tin Mừng hôm nay chỉ cho ta cách thức để sửa lỗi anh em. Đồng thời cho ta thấy trách nhiệm bác ái của mình phải lo cải thiện anh em. Công Đồng Vatican II đã đặc biệt đề ra những tiêu chuẩn, giúp ta có tinh thần đối thoại (GS, số 27 và 28).

Thứ nhất: Phải kính trọng yêu thương: Dù người đối diện với mình có tội lỗi như thế nào, thì họ cũng được dựng nên giống hình ảnh Chúa và được cứu độ bằng giá máu Con Thiên Chúa. Nên ta phải kính trọng và yêu thương họ.

Thứ hai: Phải loại bỏ mọi thành kiến: Nghĩa là phải loại bỏ những lời nói và việc làm không đúng với hoàn cảnh của người anh em. Hãy trình bày và lắng nghe nhau một cách rõ ràng minh bạch, đúng sự thật; không úp mở, không tránh né, không giấu giếm.

Thứ ba: Phải tín nhiệm nhau: Tin ở lời mình nói và tin vào thiện chí của người lắng nghe.

Thứ bốn:Phải kiên nhẫn. Nếu các bước trên không thành công, thì biện pháp cực chẳng đã, là kể họ như người ngoại, để tránh gương xấu gương mù do tội lỗi họ gây ra. Tuy nhiên, không phải như thế là hết. Phải mở cho họ con đường sống. Luật bác ái luôn đòi buộc ta mắc nợ họ, như lời thánh Phaolô trong Bài Đọc II. Nợ thì phải trả, không trả thì mắc nợ. Luật bác ái đòi buộc ta phải cầu nguyện cho họ, để Chúa đến ngự giữa họ. “Chỉ nhờ Đức Kitô, Con Thiên Chúa, mới hòa giải họ với Ngài”.

Ước gì trong mọi vấn đề, ta luôn hợp nhau cầu nguyện chung với nhau. Đồng thời ta phải kiểm điểm chính mình: Biết đâu vì gương mù gương xấu của ta, mà người anh em đó đã vấp phạm.

Lạy Chúa! Chúa dạy con phải sửa lỗi anh em, nhưng chính con chưa sửa được lỗi của mình, thì làm sao con dám sửa lỗi người. Chỉ có Chúa là ánh sáng thế gian. Xin Chúa soi sáng cho con, để con biết cảm thông và sửa lỗi cho nhau.


Chúa Nhật XXIV Thường Niên, A

Lễ suy tôn Thánh Giá Chúa Giêsu

Ds 21,4-9; Pl 2,6-11; Ga 3,13-17

THÁNH GIÁ THẬT

 

Cả bốn Phúc Âm đều nói đến việc tháo xác Chúa Giêsu và an táng Chúa trong mồ đá (Mt 27, 57-60; Mc 15, 42-46; Lc 23, 50-53; Ga 19, 38-42); Nhưng không thấy Thánh sử nào nói đến việc sau khi an táng Chúa rồi, thì Thánh Giá của Chúa được để ở đâu.

Theo các sử gia Công giáo, thì vào khoảng năm 326, thánh nữ Hêlêna (246-330) là mẹ của Hoàng đế Constantine I (272-337) đã sang Giêrusalem để tìm mồ Chúa và nơi Chúa bị đóng đinh. Kết quả, bà đã tìm thấy nơi Chúa bị đóng đinh, mồ an táng Chúa và còn tìm thấy cả 3 cây thập giá cùng để ở một chỗ, gần nơi Chúa bị đóng đinh. Mừng quá, người ta kết luận đó là 3 cây thập giá mà Chúa Giêsu và hai kẻ cướp cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu (Mt 27,38; Mc 15,27; Lc 22,39-43). Nhưng làm sao có thể phân biệt được cây thập giá nào là Thánh Giá mà Chúa Giêsu đã bị treo trên đó? Cây nào của hai tên trộm? Vì cả ba cây thập giá ấy đều rất giống nhau!

Cũng theo tài liệu của các sử gia thời đó, họ đã kiểm chứng như thế này: Khi họ đặt cây Thánh Giá Thật trên một em nhỏ đã chết, thì em đó được ơn sống lại; Và khi họ đặt Thánh Giá Thật trên một người phụ nữ đang đau nặng, bà đã được ơn chữa lành. Còn hai cây kia thì không có tác dụng gì hết. Cây Thánh Giá Thật của Chúa Giêsu đã làm phép lạ, vì trên đó đã treo xác thánh của Chúa, có dính máu, mồ hôi và cả nước mắt của Chúa.

Cũng theo các sử gia thời đó, thì cây Thánh Giá Thật đã được chia ra làm ba phần: Một phần để lại Giêrusalem; một phần ở Constantinople; một phần đưa sang Rôma. Sau này ba phần Thánh Giá ấy lại được chia ra làm nhiều phần nhỏ hơn và được đưa đi các nơi khác. Mới đây vào khoảng cuối tháng 7 năm 2013, một toán khảo cổ khi đào bới ở khu nhà thờ cổ Balatlar (được xây dựng vào năm 660) tại Sinop (Constantinople - nay gọi là Istanbul –Thổ Nhĩ Kỳ), họ đã tìm thấy một hộp bằng đá; trong đó chứa đựng một thánh tích, mà giáo sư Gulgun Koroglu, trưởng toán khảo cổ tin đó là một mẩu nhỏ Thánh Giá Thật, vì bên ngoài hộp có ghi hình Thánh Giá rất rõ. Giáo sư cũng nói: đó là một Thánh Tích thật quý giá, mà chưa bao giờ toán khảo cổ đã tìm thấy.

Ngày nay Đạo Thánh Chúa đã được rao giảng khắp nơi trên thế giới. Thánh Giá Chúa đã được phổ biến mọi nơi, trong các Thánh Đường, các tu viện, các gia đình Công giáo, các nghĩa trang Công giáo và được kính cẩn đeo trên mình người Công giáo. Thánh Giá nhắc nhở chúng ta về tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với chúng ta là những kẻ tội lỗi; vì Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết trên Thánh Giá để chuộc tội chúng ta.

Xin Chúa cho ta luôn nhìn ngắm Thánh Giá Chúa, và suy gẫm sự Thương khó của Chúa Giêsu và tình thương yêu của Thiên Chúa đối với mọi người, để ta ăn năn đền tội và can đảm chịu mọi đau khổ hàng ngày, để cầu nguyện cho những người đau khổ, những người chưa nhận biết Chúa. Xin cho họ được ơn nhận biết và thờ phượng Chúa.

Hàng năm, Giáo hội mừng lễ Kính Thánh Giá Chúa vào ngày 14 tháng 9. Lạy Thánh Giá Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Độ, xin thương xót con. Xin cho cuộc đời con luôn nương tựa vào Chúa, luôn nép mình dưới bóng Thánh Giá cứu độ của Chúa.


Suy niệm Chúa Nhật XXV Thường Niên, A

Is 55, 6-9; Pl 1, 20c-24.27a; Mt 20,1-16a

TƯỞNG THẾ MÀ KHÔNG PHẢI THẾ!

 

Đức cha JB Bùi Tuần, trong tuyển tập “Nói Với Chính Mình” đã nêu lên một số điểm ngạc nhiên “tưởng thế mà không phải thế” như sau:

“Tôi tưởng Chúa phải chọn cho Ngài một phụ nữ giàu sang quyền quí để làm mẹ; Ai ngờ Ngài lại chọn một thôn nữ nghèo nàn. Tôi tưởng Chúa sẽ phải giáng trần giữa một thành thị phồn hoa; Ai ngờ Ngài lại sinh ra trong một chuồng bò lạnh gía. Tôi tưởng Chúa sẽ phải làm điều gì đó, để ra lệnh cho vua Hêrôđê không được hạ sát những trẻ nhỏ, muốn tiêu diệt Đấng Cứu Thế; Ai ngờ Ngài lại âm thầm để cho Đức Mẹ và Thánh Giuse ẵm trốn đi, đang khi bao trẻ vô tội bị chết oan.

Tôi tưởng Chúa thấy gia đình Ngài vất vả, thì Ngài sẽ ra tay làm một chút phép lạ cho cha mẹ được dư giả, để các Ngài được thong thả và an nhàn sung sướng; Ai ngờ Ngài lại để cho cha mẹ Ngài vất vả, cực khổ như bao người lao động khác. Tôi tưởng Chúa xây dựng Nước Trời bằng cách khởi sự mua một khu đất, lập một trụ sở, cất một thánh đường; Ai ngờ suốt đời Ngài chỉ lo xây dựng Nước Chúa trong lòng người ta.

Tôi tưởng Chúa chọn những người có nhiều bằng cấp và không tỳ ố, để làm đại diện Ngài lãnh đạo Giáo Hội; Ai ngờ Ngài chỉ chọn mười hai người trong đám phó thường dân. Tôi tưởng Chúa bắt các môn đệ Ngài phải mặc một thứ đồng phục, hay phải đeo một thứ huy hiệu nào đó, để người ta dễ phân biệt họ với người khác; Ai ngờ Ngài lại bảo: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy yêu thương nhau”.

Trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng bắt gặp một việc “tưởng thế mà không phải thế” nữa. Đó là cách trả công của ông chủ vườn nho: Kẻ trước người sau đến làm cho ông, mỗi người cũng chỉ lãnh một đồng. Với cái nhìn của con người, thì cách trả lương của ông chủ này thật là bất công, không công bằng, không hợp lý, không kinh tế. Thật vậy, khó mà tưởng tượng được rằng: Có một người chủ nào đó lại chịu thuê mướn người làm vào lúc cuối ngày; rồi sẽ trả công cho họ bằng người làm việc từ sáng sớm.

Qua những điều “tưởng thế mà không phải thế”, ta thấy đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của con người. Suy nghĩ của Thiên Chúa không phải là suy nghĩ của con người, đúng như lời Tiên tri Isaia đã nói trong Bài Đọc I hôm nay: “Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối của Ta cũng vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi như thế”.

Qua Dụ ngôn “Những người làm vườn nho”, Chúa muốn ám chỉ ai là “kẻ sau hết sẽ nên trước hết”, và ai là “kẻ trước hết sẽ nên sau hết” trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đồng thời Ngài cũng muốn cho ta thấy: Thiên Chúa luôn rộng lượng và đầy lòng thương xót. Lòng nhân ái thì vượt qua sự công bằng. Nếu vay một trả một, thì đó là lẽ công bằng. Nếu vay một trả hai, thì đó là nhân hậu. Còn Chúa, Chúa đối xử với con người bằng tình thương, mà tình thương thì không có giới hạn, không thể cân đo đong đếm.

Sự rộng lượng của Thiên Chúa là một món quà quí gía, là niềm an ủi lớn lao cho ta. Vậy ta hãy mở rộng tâm hồn mình ra trước sự rộng lượng của Thiên Chúa. Và khi ta đã cảm nhận được sự rộng lượng ấy rồi, thì ta hãy xem đó như là mẫu gương phục vụ trong cách ta cư xử với người khác.


Suy niệm Chúa Nhật XXVI Thường Niên, A

Ed 18, 25-28; Pl 12,1-5; Mt 21, 18-32

CẢI THIỆN CUỘC SỐNG

 

Đã là người thì ai cũng có những sa ngã và lỗi lầm. Vì mọi người đều sai lỗi, nên bất cứ ai cũng phải biết sám hối và sửa mình. Mắc phải lầm lỗi thì không đáng lên án. Nhưng việc không nhận ra sai lỗi của mình, không ăn năn sám hối, cứ chìm đắm trong tội lỗi… thì đó là điều tệ hại và đáng tiếc. Thế nên hôm nay Chúa Giêsu muốn dạy ta bài học rất quan trọng, giúp ta biết ăn năn sám hối để trở thành con người tốt.

Chúa Giêsu kể câu chuyện: Người cha kia có hai đứa con. Sáng hôm ấy, ông đến với đứa con thứ nhất và bảo nó: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho với cha". Nó ương ngạnh trả lời: "Không! Con không đi!" Người cha buồn lòng lặng lẽ quay sang đứa khác, mời nó ra vườn làm việc với ông. Cậu này vâng vâng dạ dạ: "con sẽ đi", nhưng rồi không thấy tăm hơi nó đâu cả.

Người con thứ nhất sau đó hồi tâm lại, nó thấy được sai trái của mình nên hối hận vác cuốc ra đồng cùng làm với cha. Thế là người con thứ nhất, dù ban đầu có phần ương bướng, nhưng biết xét lại, biết nhận ra lỗi mình và có hành vi sửa chữa nên thật đáng khen.

Qua lời khẳng định với các thượng tế và kỳ lão: "những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa thay các ông", Chúa Giêsu gián tiếp ngợi khen những người tội lỗi biết sám hối ăn năn sửa mình. Chúa đánh giá họ cao hơn các thượng tế và các bậc kỳ lão. Ngài còn đặc biệt tỏ lòng yêu mến những người biết hối cải qua câu chuyện người cha nhân lành và đứa con phung phá. Trái lại, Chúa Giêsu cực lực lên án những người không biết ăn năn sám hối. Ngài nói thẳng: "Tôi bảo các ông: những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa thay các ông".

Vào những năm kinh tế còn khó khăn, gia đình bác Hai dành dụm sắm được một chiếc xe Honda 67, tuy cũ nhưng là của hiếm. Mọi người trong nhà đều ra công bảo quản nó hết sức chu đáo. Chủ nhân ngày ngày tỉ mỉ lau đến từng chân căm, rồi lại dành cả tấm mền để trùm xe, cưng xe hơn cưng con, chẳng cho ai đụng đến. Nếu xe bị trầy, người chủ cảm thấy xót xa. Nếu xe có gì trục trặc, dù rất nhẹ, chủ xe phải lo tìm thợ sửa chữa ngay.

Vậy mà trong thực tế, bản thân ta còn quý hơn chiếc xe cả triệu lần, nhưng khi bản thân hư hỏng, xuống cấp… nhiều người không cho là quan trọng! Xe hư, máy hư thì lo sửa liền, còn người hư thì cứ để mặc. Cứ để hư cho đến chết thì thôi! Thật là điều phi lý.

Khi mặt ta lem luốc vì lọ hay dầu mỡ, chắc chắn ta sẽ lau rửa ngay cho sạch sẽ. Khi áo quần ta dơ bẩn và rách rưới, ta không dám mặc nó ra đường, nhưng sẽ thay áo quần khác. Khi cơ thể ta dơ dáy và bốc mùi hôi, chắc chắn ta sẽ tắm rửa ngay, không chờ tới ngày mai. Vậy mà khi tâm hồn ta lem luốc, dơ bẩn vì tội lỗi thói hư, ta vẫn dửng dưng, không tức thời sửa chữa!

Trong thời buổi kinh tế thị trường hôm nay, thì việc cải tiến chất lượng sản phẩm là vấn đề sinh tử của các công ty. Cải tiến hay là chết. Thế nên người ta không ngừng rà soát lại những nhược điểm của sản phẩm và phải khắc phục bằng mọi giá trước khi tung ra thị trường. Giá trị con người còn vượt xa giá trị hàng hoá cả triệu lần… Ước gì trong lĩnh vực đạo đức, ta cũng rà soát lại những khuyết điểm của chính mình để cải thiện cho xứng đáng với tầm vóc mình là con của Chúa.

 

XÂY DỰNG TÌNH HUYNH ĐỆ

Trung Thành

 

Anh chị em trong gia đình được nói đến xuyên suốt trong cả Cựu Ước và Tân Ước. Chúng ta có thể gặp thấy những trường hợp tiêu biểu: Cain và Aben (St 4,1-8); Giacóp và Êsau (St 25, 19-27); ông Giuse và các người anh (St 37); ông Môsê, ông Aharon và bà Miriam (Ds 26,59); ông Anrê và ông Phêrô (Mt 4,18); ông Giacôbê và ông Gioan (Mt 4,21); hai anh em trong dụ ngôn người cha nhân hậu (Lc 15,11-32); ba chị em Mácta, Maria, và Lazarô (Ga 11,1)… Tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình là một điều rất tự nhiên; Kinh Thánh dùng động từ phileo, một từ ngữ chung để diễn tả tình yêu mang ý nghĩa thương mến, kính trọng, nâng đỡ nhau để nói về mối tương giao đặc biệt này. Bên cạnh tình huynh đệ theo huyết nhục, Kinh Thánh còn nói đến một tình huynh đệ khác do mối liên hệ thiêng liêng: huynh đệ do đức tin (Cv 2,29), do thiện cảm (2 Sm 1,26), do chức vụ giống nhau (2 Sbn 31,15; 2 V 9,2), do giao ước được kí kết (Am 1,9; 1 V 20,32; 1 Mcb 12,10)…

Mọi người đều coi trọng tình cảm yêu thương, gắn bó giữa những người con cùng sống với nhau dưới một mái ấm gia đình. Lời Thánh vịnh đã ca ngợi tình huynh đệ ấy: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau…Nơi đây ơn huệ Chúa ban, ấy là sự sống chứa chan muôn đời” (Tv 133,1-3). Bên cạnh tình mẫu tử, tình phụ tử, tình nghĩa vợ chồng, tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, luôn được coi là vô cùng thiêng liêng, cao đẹp thì tình nghĩa anh chị em cũng được xem là tình cảm thắm thiết, sâu sắc, gắn bó và là nguồn gợi hứng cho biết bao câu chuyện ngụ ngôn, những vần thơ khuyến thiện, những câu tục ngữ ca dao khuyên dạy người ta sống bao dung, hi sinh, và cao thượng đối với nhau trong tình nghĩa anh chị em. Nhưng một điều đáng buồn là không phải tất cả anh chị em trong cùng một gia đình luôn yêu thương nhau. Những nhóm anh chị em mà chúng ta mới nói trên đây đã ghen ghét, đố kị, và loại trừ nhau. Cain giết Aben vì ghen tức (St 4,3-8). Hai người con của ông Ápraham là Ítmaên và Isaác xung khắc và đố kị nhau (St 17,15-27). Anh em Giacóp và Êsau đã xung đột với nhau ngay từ khi còn trong lòng mẹ cho đến lúc trưởng thành (St 25, 23, 27). Hai chị em Lêa và Rakhen cùng lấy ông Giacóp, nhưng Rakhen ghen tức với Lêa (St 30,1). Những người anh của Giuse đã bán Giuse cho người Ai Cập (St 37,12-28). Ngay cả câu chuyện Mácta và Maria cũng hé lộ một sự bất đồng tiềm ẩn giữa hai chị em (Lc 10,38-42). Qua những câu chuyện thực tế này từ Kinh Thánh, chúng ta cùng chia sẻ đôi điều về tình huynh đệ.

Trước tiên, những chia rẽ và xung đột giữa con người với nhau là do hậu quả của tội: Tội phá hỏng kế hoạch của Thiên Chúa. Ngài thiết lập sự hiệp thông giữa những người trong gia đình để nói lên dấu tích và hình ảnh sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi trong cộng đồng nhân loại (GLHTCG 2205), để mời gọi mọi người trở nên anh chị em với nhau trong gia đình Thiên Chúa. Nhưng tội đã làm biến dạng hình ảnh tốt đẹp này. Nó gây ra chia rẽ, hận thù, xung đột, và loại trừ nhau. Nó là căn nguyên của những đổ vỡ và phân li giữa anh chị em ruột thịt, giữa người thân trong cùng một gia đình, trong cùng một huyết thống. Do đó, những bi kịch khác nhau xảy ra trong các gia đình hiện nay trước tiên cần phải được nhìn nhận là tội. Đó không phải đơn thuần chỉ là những khác biệt tâm sinh lí, hoặc do hoàn cảnh đưa đẩy, hoặc do môi trường xã hội tạo ra. Khi trình bày những câu chuyện đổ vỡ trong các mối liên hệ anh chị em, mặc khải Kinh Thánh muốn cho chúng ta thấy sự kiện này là: mọi người không tự nhiên đã là anh chị em với nhau. Vì thế, việc xây dựng tình huynh đệ đích thực không chỉ đơn thuần là do nỗ lực của con người, mà trước hết cần phải có ơn Chúa.

Tiếp theo, khi tạo dựng loài người từ một nguyên lí độc nhất (Cv 17,26; x. St 1-2), Thiên Chúa đã đặt vào lòng họ mơ ước trở thành anh chị em với nhau nơi Ađam. Nhưng ước mơ đó chỉ thực hiện được sau một hành trình dài. Lịch sử con cháu Ađam đã bắt đầu bằng một tình huynh đệ đổ vỡ: Cain ganh tị với em, đã giết Aben, và cũng không muốn biết em mình ở đâu nữa (St 4,9). Từ Ađam nhân loại đã phạm tội. Cùng với Cain, nhân loại đã để lộ bộ mặt thù hận mà họ khó có thể che giấu sau huyền thoại “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Vượt xa những cuộc tranh chấp cá nhân, Ítraen còn chứng kiến tình liên kết giữa các bộ tộc bị tan rã (x. 1 V 12,24), và hậu quả của việc rạn nứt đó là chiến tranh huynh đệ tương tàn (x. Is 7,1-9). Con người phải nhìn nhận tội lỗi đã núp sẵn nơi cửa lòng mình (St 4,7), vì thế, trong mọi cấp độ tương giao nhân loại, tình huynh đệ nguyên tuyền đã bị bẻ gẫy. Muốn xây dựng mối tương giao huynh đệ đích thực, chúng ta phải bắt đầu từ Chúa Kitô, Đấng đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa con người với con người là sự thù ghét. Qua cuộc tử nạn trên Thập Giá, Đức Giêsu đã trở thành “trưởng tử của vô số đàn em” (Rm 8,29). Chính Người đã giao hòa con người với Thiên Chúa, và giao hòa mọi người với nhau để tái tạo nên con người mới nơi chính bản thân Người (Ep 2,11-18).

Từ một vài ghi nhận vắn tắt trên đây chúng ta có thể tạm kết luận: Tình nghĩa anh chị em trong gia đình, mặc dù rất quan trọng và quý giá, rất thiêng liêng và khắng khít, như người ta thường ví: “Anh em hạt máu xẻ đôi”, thì cũng không hẳn chỉ là những tình cảm yêu thương tự nhiên, những liên hệ và gắn bó gia tộc, họ mạc, huyết thống, trong chiều rộng của những tập thể con người, mà nhất thiết phải xuất phát từ một cuộc tái sinh nơi mỗi người, như thánh Phêrô khuyên dạy: “Nhờ vâng phục sự thật, anh em đã thanh luyện tâm hồn, để thực thi tình huynh đệ chân thành. Anh em hãy tha thiết yêu mến nhau với tất cả tâm hồn.” (1 Pr 1,22). Trong cuộc tái sinh này, mỗi người còn được mời gọi hành động ngược lại điều Cain đã làm, nghĩa là  phải “thí mạng vì anh em” (1 Ga 3,12-16; x. Cl 3,12-14), phải sống bác ái trọn vẹn trong mọi hoàn cảnh, và đối với mọi người. Có như vậy chúng ta mới sống tình huynh đệ như Chúa muốn và mới có thể xây dựng tình nghĩa anh chị em đích thực.

Cau do KT

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 9-2014

 

Nhiều người chúng ta đều có nhận xét này là anh chị em, tuy cùng sống trong một gia đình, nhưng tính tình mỗi người có khi lại rất khác biệt nhau. Điều này gây ra nhiều khó khăn trong việc cư xử và trong đời sống chung. Cũng vậy, dưới đây là những nhóm ba người, mà có một người lại không cùng hành động với hai người kia. Bạn hãy “điểm mặt” người đó, đồng thời chú dẫn Kinh Thánh công việc của những người còn lại.

 

1- GIÔSUÊ-CALÉP-MÔSÊ                   đều được truyền lệnh phải cởi dép vì đứng ở nơi thánh.

2- SAUN-GIÔSUÊ-GHÍTÔN                đều thắng trận nhờ những tiếng tù và và tiếng hô lớn.

3- MÔSÊ-GIÔSUÊ-SALÔMÔN            đều làm rẽ nước để dân chúng đi qua.

4- AHARON-ĐAVÍT-PHÁP SƯ           đều ném cây gậy xuống đất và nó trở thành con rắn.

5- MIRIAM-ÚTDIGIAHU-ĐANIEN     đều bị Chúa phạt phải mắc bệnh phong.

6- ÁPRAHAM-ISAÁC-DACARIA       đều được báo là sẽ có một người con trong tuổi già.

7- XÊDA-PHARAÔ-HÊRÔĐÊ              đều sợ một em nhỏ.

8- RÊBÊCA-TAMA-RAKHEN             đều sinh đôi.

9- GIACÓP-GIUSE-GIÔSUÊ                đều được thị kiến ban đêm nhắc bảo phải đi sang Ai Cập.

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 8-2014

 

1: DACARIA 2: GIÔEN 3: ÊDÊKIEN 4: ISAIA 5: NAKHUM 6: MIKHA 7: AMỐT 8: GIÊRÊMIA 9: MALAKHI

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 8-2014:

1- Lê Anh Khoa, Gx. An Hòa, Châu Thành, An Giang

2- Giuse Dương Phú Thịnh, Gx. Trinh Vương, Vĩnh Thạnh

3- Maria Nguyễn Thị Bích Diệu, Gx. Thánh An Tôn, K.1A

4- Anna Nguyễn Thị Thu Viện, Gx. Đông Hưng, K.G.

5- Têrêsa Mai Thủy Tiên, Gx. Khánh Bình, An Giang

            * Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

            - Email: jostrung.trung@gmail.com

            - Điện thoại: 01672576777

            - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

            Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên GiangS

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

Thánh giá

Đức Giêsu bị lôi tới tổng trấn người Rôma tên là Pontius Pilatus. Pilatus nhạo Ngài: “Ông là vua dân DoThái?”  Đức Giêsu trả lời: “Vâng, tôi là vua, nhưng vương quốc của tôi không ở trong thế giới này. Tôi được sinh ra để làm vua và có mặt trong thế gian này để làm chứng cho sự thật. Ai ở trong sự thật, kẻ đó nghe tiếng tôi”. Pilatus không thể hiểu được câu trả lời, nhưng hỏi lại Đức Giêsu một cách nghi hoặc: “Sự thật là gì”?

Thoạt tiên Đức Giêsu bị xét xử và kết án trước toà án Do Thái. Nhưng không hiểu tại sao các thế lực Do Thái lại không thi hành bản án, mà lại chuyển sang toà án của chính quyền Rôma. Tại đây, người ta chẳng còn tố Ngài bổ báng Thiên Chúa nữa, mà kết tội Ngài là một tay chính trị muốn lật đổ nền cai trị của Rôma, nghĩa là từ án tôn giáo biến thành án chính trị. Pilatus có lẽ chẳng thích thú gì về việc luận tội này. Bản án không vững, và ông quan tòa Rôma này là một người vô liêm sĩ, lúc đầu ông chẳng thú vị gì làm anh đao phủ cho người Do Thái. Hình ảnh Pilatus này xem ra thật tân thời. Khi Đức Giêsu nói về chân lý, câu trả lời của ông đúng là của một kẻ hoài nghi chính hiệu: Như thế là sự thật ư?  Vậy thì tay này quả đúng là người gàn, hắn ta quả quyết mình là chứng nhân cho sự thật và sẵn sàng chết cho sự thật đó.

Ông toàn quyền Rôma tuyên bố với đám đông, ông thấy Giêsu không có tội gì. Nhưng theo thói quen tha tội nhân vào những dịp lễ lớn, ông để cho họ chọn giữa Giêsu và tay bạo hành Barabas. Đám đông nhao lên: “Tha Barabas!” “Còn Giêsu?” “Đóng đinh vào thập giá”! Pilatus trao vật tế cho đám đông, nhưng rửa tay trước mặt họ để nói lên sự vô tội của mình.

Đoạn này cũng cho ta một bài học về đám đông. Trong đám đông có lẽ cũng có những người trước đó vô hại, những người đã mến và hoan hô Giêsu. Ta thấy đám đông có thể hủy hoại lương tâm đến thế nào. Nó có thể làm cho chính con người trở nên vong thân và biến họ thành dụng cụ của sự dữ.

Như trước đó các thầy cả đã làm, giờ đây các tay lính cũng bỡn cợt với tù nhân. Họ lột áo, khoác lên mình Ngài một tấm vải đỏ và đội lên đầu Ngài một mũ gai. Đưa cho Ngài một cây gậy thay vương trượng, và rồi cả đám quỳ xuống mà rằng: “Này vua Do Thái, hãy tự cứu mày đi”. Rồi họ nhổ vào mặt Ngài, giật gậy và đánh vào đầu Ngài. Cũng lại là Pilatus, trước cảnh tượng đó, ông đã kêu gọi lòng thương hại: “Ecce homo – Hãy xem, một người như thế”.

Tất cả những đoạn đó rất thâm sâu. Chúng dẫn ta bằng nhiều lối tới cả một chuỗi sự kiện, từ nỗi tầm thường của sự dữ cho tới nét khiêm tốn của quyền lực và của tình yêu Thiên Chúa. Trước hết, ta thấy sự vô tri của đám đao phủ, đối với họ độc ác đã trở thành chuyện thường tình. Nhưng có lẽ còn có cái gì thẳm sâu hơn nữa đàng sau những giễu cợt kia. Bởi vì chính kẻ đội vương miện bị nhạo báng đó là vua thật của thế giới. Kẻ đội vương miện bằng gai kia, nghĩa là đội lấy nỗi đau đớn của thế giới, là vua thật. Câu nói của Pilatus vô tình chứa đựng một nội dung vượt lên trên nghĩa chữ. Một cách nào đó ông đã nói: “Vâng, cái đó là người”, một con bọ thảm thương. Đồng thời ông chỉ vào con người thật, con người mang hình ảnh Chúa trong đau khổ.

Đám lính dẫn kẻ nhục hình với mũ gai trên đầu về Gôngôta, đến “núi sọ”. Đức Giêsu vác thập giá nặng, Ngài đổ mồ hôi máu. Ba lần Ngài gục ngã vì gánh nặng. Chị Vêrônica trao cho Ngài tấm khăn để lau mặt tạm, những phụ nữ khác khóc, nhưng tuyệt đối không có ai đứng hai bên đường sẵn sàng vác đỡ cho Ngài. Có lẽ vì sợ Ngài chết dọc đường không đến được nơi hành hình, đám lính đã bắt một người tên là Simêon ở Xirênê vác đỡ cho Ngài một đoạn.

Lòng sùng mộ Kitô giáo đã lấy con đường thánh giá, con đường ngày nay ta có thể đi lại ở Giêrusalem, làm nguyên biểu tượng cho bước đường đau khổ của con người. Một số biến cố trong đó đã trở thành nội dung suy gẫm, chẳng hạn như ba lần Chúa ngã hay hình tượng Vêrônica. Đó là những cảm nhận của con tim khi bước theo con đường đó. Hình ảnh Simêon dĩ nhiên cũng quan trọng không kém. Thế giới kitô hữu nhìn thấy trong đó một nhiệm vụ không bao giờ dứt. Có thể nói Đức Kitô vác thập giá đi suốt toàn bộ lịch sử. Ngài mong chờ những bàn tay của Vêrônica hay của Simêon sẵn sàng chia sẻ gánh nặng thánh giá.

Không thể tưởng tượng được việc đám lính hành hạ Đức Giêsu. Tất cả những thù hận, những gì muông thú, xấu xa nhất mà con người có thể gây cho nhau, đều được chúng đổ lên đầu Ngài.

Đức Giêsu là một nạn nhân điển hình của bạo lực. Chúng ta vừa chứng kiến con người trong thế kỉ 20 đã có thể man rợ tới chừng nào; họ đã tự sỉ nhục và phá huỷ chính khuôn mặt mình, qua việc phá huỷ bộ mặt tha nhân. Trước sự kiện con “Chiên Thiên Chúa” đã phải gánh thay vào mình tất cả những nhục nhã đó, chúng ta một mặt phải rúng động về sự dã man của con người, phải đặt lại vấn đề với chính mình về việc đã tỏ ra hèn nhát hay câm lặng đứng nhìn, cũng như chính mình đã đồng loã với tội ác. Mặt khác chúng ta phải sửa đổi mình để Chúa được vui. Chúa đã đứng về phía những người vô tội và những người đau khổ, và Ngài cũng muốn thấy ta cùng đứng ở phía đó.

Trên thập giá Đức Giêsu còn bị chế nhạo. Lính đưa cho Ngài rượu có trộn mật đắng. Họ còn treo trên thập giá tấm bảng viết: Giêsu Nadaret, vua Do Thái(INRI). Các thượng tế và thầy luật la lên: “Mày muốn phá Đền thờ rồi xây lại trong ba ngày ư? Nếu là Con Thiên Chúa thì hãy cứu mình và xuống khỏi thập giá đi.” Nhưng Đức Giêsu đã không rời thập giá. Ngài chẳng nói gì. Chẳng nói gì cả. Từ giờ thứ sáu tới giờ thứ chín trời đất bỗng tối sầm. Vào khoảng giờ thứ chín Ngài kêu lên: “Eli, Eli, lema sabachtani”. Một câu thật lạ, vì nó mang nghĩa: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao Ngài bỏ con?”

Về việc trao thức uống, Tin Mừng kể lại hai cách. Matthêu nói đó là rượu trộn mật đắng, và người ta trao cho Ngài lúc bắt đầu đóng đinh, có lẽ đó là một thứ thuốc tê. Nhưng Ngài đã từ chối, vì Ngài muốn chịu đựng nỗi đau với tất cả cảm giác. Maccô, Luca và rõ hơn Gioan bảo đó là giấm, và người ta đã trao cho Ngài khi sắp tắt thở. Rõ ràng các thánh sử muốn liên tưởng tới câu Thánh Vịnh: “Thay vì của ăn chúng đưa cho tôi thuốc độc và giấm” (Tv 69,22). Một vài chỗ trong sách tiên tri cũng viết: Ta đã trồng một vườn nho và nó đã đưa cho ta giấm, một lời than trách vẫn luôn đúng cho hoàn vũ Kitô giáo. Tin Mừng cho hay Đức Giêsu trên thập giá đã thốt ra bảy lời tất cả. Lời nhắc đến trên kia có tầm quan trọng bản lề. Đó và câu đầu của Thánh Vịnh 21, bài bi ca lớn của dân Israen, cho thấy trong lịch sử, cứ mỗi lần dân này bị áp bức và bị dồn vào đường cùng, đều kêu lên: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao Ngài bỏ rơi tôi?”. Dùng Thánh Vịnh 21 để cầu nguyện, là Đức Giêsu muốn đồng hoá mình với dân tộc đau khổ Israen, và muốn nhận vào Ngài số phận của dân này. Nhưng ta không được quên, đó cũng là một lời cầu nguyện. Trong tiếng la nguy kịch đó Ngài đã hướng về Thiên Chúa. Đức Giêsu chết như một người cầu nguyện, như một người làm theo lời dạy của điều răn thứ nhất, là luôn cầu nguyện với Thiên Chúa. Thánh Vịnh đưa ta vào một nỗi tín thác lớn, nó tiên tri về phép Mình Thánh và chấm dứt với câu: “Người nghèo được ăn uống no nê”. Từ thập giá tuôn ra Manna mới làm cho kẻ nghèo được no nê.

Khi Ngài tắt thở, khăn Đền thờ bị xé đôi. Động đất, đá tảng vỡ ra, ta còn đọc thấy là mồ mả mở tung. Bao nhiêu thế kỷ, các nghệ sĩ cố gắng bằng mọi cách diễn tả cảnh tượng đó. Tôi nhớ đặc biệt tới một tấm hình: Kẻ bị đóng đinh gục đầu hơi nghiêng về một bên vai, mắt nhìn thẳng vào người xem. Mũ gai ấn mạnh vào sọ. Máu tuôn đầy người. Nước mắt Ngài chảy ra. Nhưng dù bị khổ nạn, ánh mắt hé mở và không bị hây hấn gì của Ngài vẫn toát ra nét bình an. Dù có đủ lý do để than thở, nhưng kẻ bị nạn vẫn mỉm cười với người xem. Chẳng có một nét gì gọi là trách cứ trên khuôn mặt đó, Đức Giêsu trông như đã được giải thoát và hoàn toàn thanh thoải. Càng nhìn Ngài lâu, quái lạ ta càng nhận ra rõ nét an ủi bên cạnh nét u sầu.

Chỉ trong suy niệm, chỉ khi hồn ta qua cầu nguyện đồng hoá làm một với Đức Kitô chịu đóng đinh, khi đó ta mới có được những hình ảnh chịu nạn đích thực, lớn và thuần khiết. Chúng vừa nói lên nỗi khát khao, cơn túng quẫn, nỗi đau đớn và sự tra tấn man rợ nhất, nhưng đồng thời cũng cho thấy sự bình an trong câu nói cuối cùng: “Con phó linh hồn trong tay Cha. Sự việc đã hoàn tất”. Đức Giêsu gục đầu và tắt thở. Ngài trút tinh thần và trao nó lại cho Cha Ngài, và sự bình an đã chói rạng lên từ câu nói cuối cùng của Ngài. Hình chịu nạn không bao giờ được phép chỉ nói lên khía cạnh man rợ mà thôi, vì như thế chúng không diễn tả hết được cái bí ẩn của Đức Kitô. Nếu chúng chỉ muốn nhắm tới việc thoá mạ con người không thôi, thì chính chúng lại trở nên đích cho người ta giễu cợt.

(Còn tiếp).

 


CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH

 

GIA ĐÌNH HỌC VỚI CHÚA GIÊSU

 

Gia đình được định nghĩa là tổ ấm, nơi đó mọi thành phần của gia đình sống yêu thương nhau, hy sinh và tạo dựng hạnh phúc cho nhau. Tuy nhiên, ý nghĩa đó nay không còn trọn vẹn nữa, nếu không nói là không còn! Lý do làm cho ý nghĩa gia đình là nơi tổ ấm không còn trọn vẹn là vì ngày nay, các gia đình đang dần rơi vào nguy cơ tan vỡ rất cao. Mọi thành phần trong gia đình dường như không còn tôn trọng nhau đúng và đủ theo như định chế của hôn nhân đòi hỏi. Vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng và ân cần với nhau theo đúng nghĩa; cha mẹ không còn quan tâm đủ đến việc yêu thương và giáo dục con cái nên người; và con cái không còn kính trọng và vâng lời cha mẹ theo như đạo lý thường tình. Từ những lý do đó, bạo lực gia đình ngày càng gia tăng; hạnh phúc vợ chồng tan vỡ; cha mẹ vô tình và vô tâm với con cái; và con cái trở nên hư hỏng, bất hiếu với cha mẹ.

Thế nhưng, đâu là nguyên nhân làm cho vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng và ân cần với nhau; cha mẹ không còn quan tâm đủ đến việc yêu thương và giáo dục con cái nên người; và con cái không còn kính trọng và vâng lời cha mẹ?

Nguyên nhân chính là vì mọi thành phần trong gia đình không còn có lòng hiền hậu và khiêm nhường trong cung cách sống và đối xử với nhau. Thật vậy, nếu thiếu lòng hiền hậu, con người sẽ không thể sống yêu thương nhau; và nếu thiếu vắng lòng khiêm nhường thì con người sẽ không thể ân cần phục vụ nhau. Và như vậy thì con người sẽ luôn sống trong thù hận đối với nhau, và tìm mọi cách để thống trị và đàn áp nhau. Và, vì điều đó xảy ra trong gia đình nên gia đình không thể là một tổ ấm yêu thương đối với những người sống trong đó, và dẫn đến nguy cơ tan vỡ hạnh phúc gia đình là điều đương nhiên.

Vậy, để gia đình thực sự là một tổ ấm yêu thương hầu mọi người sống trong đó luôn tìm được niềm vui hạnh phúc thì mọi thành phần trong gia đình phải làm gì? Thưa, mọi người cần phải học với Chúa Giêsu bài học về tấm lòng hiền hậu và khiêm nhường.

Quả thế, trong Phúc Âm, Chúa Giêsu mời gọi mọi người: "Hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" (Mt 11, 29). Đây là bài học duy nhất mà Chúa Giêsu mời gọi con người học với Ngài trong suốt ba năm Ngài rao giảng. Ngài không mời gọi học với Chúa cách chữa bệnh, làm phép lạ, hay tài hùng biện. Ngài chỉ mời gọi họ học với Ngài sự hiền hậu và khiêm nhường. Tại sao vậy? Tại vì, chỉ với tấm lòng hiền hậu thì ta mới có thể yêu như Chúa yêu; và chỉ với lòng khiêm nhường thì ta mới có thể ân cần phục vụ nhau như Ngài phục vụ. Sống yêu thương và phục vụ nhau chính là điều mà tất cả những ai bước theo Ngài phải sống.

Sống trong gia đình Công Giáo, mọi người đều là môn đệ của Chúa Giêsu, nên được mời gọi sống yêu thương và ân cần phục vụ nhau để tạo dựng hạnh phúc cho gia đình và cho nhau. Hiểu như vậy và để sống được như thế, các gia đình Công Giáo cần phải học nơi Chúa Giêsu bài học về tấm lòng hiền hậu và khiêm nhường.

Gia đình học với Chúa Giêsu bài học hiền hậu

Mỗi gia đình và mọi thành phần trong đó luôn được mời gọi nên thánh trong bổn phận của mình đối với nhau. Sống thánh để thánh hóa chính mình và thánh hóa người khác. Đây là ơn gọi và là trách nhiệm mà vợ chồng, cha mẹ, con cái, và anh chị em phải có đối với nhau. Sống thánh là ta sống một cuộc sống không tỳ ố, không vết nhơ do tội. Đó là một đời sống không hận thù ghen ghét, nhưng mọi người luôn biết yêu thương, tha thứ và hy sinh trong cung cách sống của mình đối với nhau. Để có được cung cách sống như vậy, mọi người trong gia đình cần phải học với Chúa Giêsu bài học về lòng hiền hậu.

Với lòng hiền hậu, Chúa Giêsu đã không hận thù, ghen ghét với những kẻ chống đối và làm hại Ngài, mà Ngài luôn sẵn sàng tha thứ cho họ. Với lòng hiền hậu, Chúa Giêsu đã không kết án người có tội, nhưng yêu thương họ và giúp họ được giải thoát khỏi sự trói buộc của tội. Ngài đã sống thánh trong thân phận con người để thánh hóa những ai bước theo Ngài và giúp họ nên thánh. Ngài không có tội và luôn nói "không" với tội, nhưng Ngài không kết án người có tội, vì Ngài có lòng hiền hậu. Đây là bài học quý giá cho mọi thành phần trong các gia đình để xây dựng gia đình mình nên thánh thiện. Mỗi người trong gia đình cần phải biết nói "không" với tội, nhưng cũng cần phải có lòng hiền hậu như Chúa Giêsu để biết yêu thương và tha thứ cho những người phạm lỗi, không kết án họ, hầu giúp họ sửa đổi những sai lỗi, để rồi họ cũng có được một đời sống thánh thiện, và khi đó gia đình mới nên thánh được.

Yêu thương và tha thứ cho người phạm lỗi là ta cho họ cơ hội nên thánh. Chúa Giêsu đã không kết tội người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và đã cho chị cơ hội nên thánh (x. Ga 8, 2-11). Ngài đã tha thứ cho một người phụ nữ phạm tội, và người đó đã trở thành người yêu mến Chúa cách nồng nàn (x. Lc 7, 36-50). Trong gia đình, với tấm lòng hiền hậu, vợ chồng yêu thương nhau và tha thứ cho nhau những lỗi lầm, để giúp nhau trở nên tốt; cha mẹ yêu thương con cái, tha thứ cho chúng những lỗi lầm để giúp chúng trở nên những người con ngoan hiền và đạo hạnh, sống đúng với nhân phẩm của một con người và là người con Chúa; và anh chị em yêu thương tha thứ cho nhau những sai lỗi để giúp nhau sống đúng và sống tốt bổn phận làm con cái trong gia đình và là anh chị em tốt đối với nhau.

Gia đình học với Chúa Giêsu bài học khiêm nhường

Với lòng hiền hậu, ta sẽ biết sống yêu thương và tha thứ. Tuy nhiên, bài học mà Chúa Giêsu muốn ta học nơi Ngài không chỉ dừng lại ở tấm lòng hiền hậu để chỉ có yêu thương và tha thứ, Ngài muốn chúng ta vươn xa hơn nữa đến sự ân cần phục vụ nhau. Quả thế, hành động yêu thương và tha thứ chỉ có ý nghĩa đích thực và trọn vẹn khi hành động đó vươn tới hành động phục vụ. Nếu hành động yêu thương và tha thứ là cho người khác cơ hội nên thánh, thì việc ân cần phục vụ họ là việc làm cụ thể giúp họ sống thánh. Thế nhưng, để có thể ân cần phục vụ người khác, điều quan trọng và cần thiết là ta phải có lòng khiêm nhường. Tại sao vậy?

Khi nói đến phục vụ, ta hiểu ngay đó là việc làm của người đầy tớ phải làm đối với chủ. Chỉ có đầy tớ mới phải phục vụ chủ của mình, không có chuyện chủ phục vụ đầy tớ. Nếu giả như có người chủ nào đó ân cần phục vụ đầy tớ mình, thì người chủ đó phải là người rất khiêm nhường. Vì, chỉ với lòng khiêm nhương, người chủ mới có thể hạ mình xuống để ân cần phục vụ đầy tớ của mình. Người chủ mà ta giả định đó chính là Chúa Giêsu, Ngài chính là Thiên Chúa, đã hạ mình, xuống thế làm người, sống thân phận con người, ngoại trừ tội lỗi, để phục vụ con người cách ân cần. Đây là điều mà thánh Phaolô, trong thư gởi tín hữu Philipphê, đã khẳng định với chúng ta: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. (Pl 2,6-8). Và chính Chúa Giêsu cũng đã khẳng định với chúng ta: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mc 10, 45), và Ngài khuyên các môn đệ: "Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người." (Mc 10, 43-44)

Với lòng khiêm nhường, Chúa Giêsu đã hạ mình xuống để phục vụ con người cách ân cần hầu nâng con người lên để con người có thể sống đúng với ơn gọi làm người và làm con Chúa. Nghĩa là, nhờ sự ân cần phục vụ của Ngài, con người được đưa trở lại với tình trạng thánh thiện ban đầu mà con người đã đánh mất do tội. Đây chính là bài học cho các gia đình.

Thực vậy, trong gia đình, mọi người chỉ có thể chu toàn trách nhiệm đối với nhau và ân cần phục vụ cho hạnh phúc của nhau khi mỗi người có lòng khiêm nhường, hạ mình xuống. Ai cũng mang nơi mình cái tôi rất lớn, không ai muốn chịu thua ai. Chồng có cái tôi của chồng và vợ cũng vậy. Nếu ai cũng cứ cố chấp trong sự cao ngạo của mình thì làm sao có thể hy sinh chính mình để phục vụ người khác được. Trách nhiệm của vợ chồng là hy sinh cho nhau và phục vụ cho hạnh phúc của nhau. Vậy nếu vợ chồng, mỗi người không có được một tấm lòng khiêm nhường thì không thể hạ mình xuống và hy sinh đi cái tôi của mình để phục vụ nhau. Hơn nữa, nếu thiếu lòng khiêm nhường, vợ chồng sẽ không thể nhận ra những thiếu sót và sai lỗi của mình trong trách nhiệm đối với nhau. Chỉ với lòng khiêm nhường, vợ chồng sẽ biết tôn trọng nhau, mới nhận ra những thiếu sót của mình trong bổn phận đối với nhau, và như vậy mới có thể sửa đổi và ngày càng thăng tiến hơn trong việc chu toàn trách nhiệm đối với nhau. Vậy còn trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái thì thế nào?

Bổn phận và trách nhiệm của cha mẹ là phải phục vụ cho sự trưởng thành và hạnh phúc của con cái. Vậy, cha mẹ cần phải học nơi Chúa Giêsu bài học về lòng khiêm nhường thì mới có thể ân cần phục vụ con cái cách đúng đắn. Với lòng khiêm nhường, cha mẹ mới có thể chịu đựng được những đứa con ngỗ nghịch và kiên trì trong việc giáo dục chúng nên người tốt. Phần con cái cần phải học với Chúa Giêsu bài học khiêm nhường để biết vâng lời cha mẹ, sống theo những chỉ dẫn của các ngài hầu trở nên những người con tốt. Và với lòng khiêm nhường, con cái sẽ luôn biết phục tùng cha mẹ, hiếu thảo với các ngài và chu toàn cách tốt nhất bổn phận của những người con đối với cha mẹ mình.

Tóm lại, tấm lòng hiền hậu và khiêm nhường là điều mà mỗi người trong các gia đình cần phải có đối với nhau hầu có thể xây dựng gia đình mình trở thành một tổ ấm của sự yêu thương và hạnh phúc. Thế nhưng, tấm lòng hiền hậu và khiêm nhường đó phải là tấm lòng mà mỗi người phải học với Chúa Giêsu. Chỉ có Chúa Giêsu mới có lòng hiền hậu và khiêm nhường đích thực và Ngài mời gọi tất cả chúng ta học với Ngài. Đó là tấm lòng của Con Thiên Chúa làm người dành cho nhân loại, hầu đem lại cho nhân loại niềm vui hạnh phúc của ơn cứu độ. Đến lượt mình, con người, đặc biệt là mỗi người trong các gia đình Công Giáo, được mời gọi học với Ngài để cũng có được lòng hiền hậu và khiêm nhường trong cung cách sống đối với nhau, hầu mang lại cho gia đình mình và gia đình nhân loại niềm vui và hạnh phúc, và đó cũng là cách các gia đình sống Phúc Âm Hóa và mang Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa đến cho con người.

Hương Quê


GÓC KHUẤT TRONG GIA ĐÌNH

Đóa Hoa Vô Thường

 

Ca dao Việt Nam có câu: “Anh em nào phải người xa. Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân. Anh em hòa thuận hai thân vui vầy”. Và “Anh em như thể chân tay. Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”. Điều đó đã nói lên tình nghĩa keo sơn gắn bó mật thiết của anh chị em trong gia đình. Hôm nay nhân dịp “Năm tân phúc âm hóa các gia đình”, chúng ta lại có dịp lắng đọng tâm hồn để ôn cố tri tân về đề tài “Tình nghĩa anh chị em”.

 1. ÔN CỐ… Từ xa xưa, tình nghĩa gia đình đã được ông cha ta đặc biệt coi trọng. Gia đình nào cũng phải có nề nếp, có gia giáo, gia lễ, gia pháp, gia phong. Đó là những chuẩn mực rất linh thiêng mà mọi thành viên trong gia đình phải tuân thủ hết sức nghiêm ngặt.

Thực vậy, ngay từ lúc mới sinh ra, ta đã được đặt trong sự gắn bó thiêng liêng của tình mẫu tử, phụ tử: “Phụ tử tình thâm”, “Xương cha, da mẹ”, “Cá chuối đắm đuối vì con”. Khi khôn lớn, ta không thể quên công ơn dưỡng dục của cha mẹ: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ, kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Chữ “hiếu” luôn được đề cao trong quan hệ ứng xử với cha mẹ; và được thể hiện bằng tục lệ báo hiếu. Hơn thế nữa, mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, con cái đối với cha mẹ đã được ông cha ta nâng lên thành “đạo”: đạo làm cha mẹ, đạo làm con. Từ mối quan hệ chủ đạo ấy đã hình thành nên đạo thờ ông bà tổ tiên, đạo thờ cha mẹ “Uống nước nhớ nguồn”.

Người xưa cũng đặc biệt coi trọng tình nghĩa anh chị em trong gia đình: “Anh em như chân, như tay. Như chim liền cánh, như cây liền cành”. “Em thuận, anh hòa là nhà có phúc”, v.v... Mối liên hệ ruột thịt là mối liên hệ thiêng liêng không thể chia cắt: “Cắt dây bầu dây bí; Chẳng ai cắt dây chị dây em”. Vì lẽ đó, ông cha ta cũng lên án nghiêm khắc những ai không giữ được tình cảm anh chị em: “Người dưng có nghĩa thì đãi người dưng. Anh em vô nghĩa thì đừng anh em”…

Những nét đẹp trong tình nghĩa anh chị em ấy đã hình thành nên nhiều giá trị văn hoá mang tính truyền thống của người Việt, như sự hoà thuận, kính trên nhường dưới, tình nghĩa, lòng yêu thương và hy sinh: “Hiếu kính cha mẹ; thuận thảo anh em”. “Anh em trên kính dưới nhường, là nhà có phúc mọi đường yên vui”. Nhiều gia đình Việt Nam xưa nay nhờ biết duy trì nếp văn hoá gia đình ấy, nên đã tạo được những nề nếp kỷ cương để mọi người cùng tuân giữ. Chính lễ nghĩa gia phong ấy là cái gốc của gia đình, góp phần giữ cho cá nhân, gia đình và xã hội có một sức sống mãnh liệt và trong sáng với cội nguồn. Trong cái nhìn đức tin, ta nhận ra đó là những hạt giống tốt mà chính Chúa Thánh Thần đã gieo vào mảnh đất tâm hồn người Việt Nam.

2. …TRI TÂN. Thời nay, trong gia đình, dù hoàn cảnh đã thay đổi rất nhiều so với ngày xưa, nhưng những khuôn phép trong mỗi gia đình thì vẫn không hề thiếu vắng. Các gia đình vẫn đang cố gắng tuân giữ những nề nếp của tiền nhân, và duy trì cho các thế hệ con cháu.

Thế nhưng, trong cái vòng xoáy tít mù của cuộc sống hiện đại, khi mà mọi sự đều có khả năng đảo lộn, thậm chí bị văng ra bên ngoài, thì cũng là lúc hình thành rất nhiều những góc khuất trong đời sống gia đình, trong tình nghĩa anh chị em. Nhiều bậc cha mẹ đã bỏ mặc con cái để đi tìm những góc khuất hạnh phúc riêng tư, hoặc không quan tâm đủ đến việc giáo dục con cháu. Rồi đến lượt con cháu lớn lên, chúng lại đi vào vết xe đổ của mẹ cha. Từ đó, gia đình mất dần lễ nghĩa; không còn gia giáo; mất cả gia pháp. Gia phong chỉ còn là một khái niệm trừu tượng, một từ ngữ đơn điệu bị lạc lõng trong những góc khuất lớn nhỏ của vòng xoáy cuộc đời. Phải chăng đó cũng là đầu mối của biết bao thảm cảnh trong các gia đình hiện nay?

Thêm vào đó, có rất nhiều người con người cháu sống bất nhân, bất hiếu với ông bà cha mẹ. Họ bỏ rơi ông bà cha mẹ khi các ngài già yếu, cô đơn, bệnh tật. Thậm chí họ còn tìm cách hãm hại các ngài một cách không xót thương, để cướp đoạt tài sản. Đối với ông bà cha mẹ mà họ còn ứng xử như vậy, thì lấy gì làm đảm bảo cho tình nghĩa anh chị em của họ trong gia đình.

Thực vậy, càng ngày càng có quá nhiều góc khuất trong gia đình. Nào là sự xuống cấp trong việc giáo dục; Nào là sự suy thoái đạo đức cá nhân; Nào là sự thiếu tôn ti trật tự trong lời nói và những chuẩn mực giao tế hằng ngày... Hệ quả là tình nghĩa anh chị em cứ như “mặt trời mặt trăng”, như “cá mè một lứa”. Thậm chí “Một con ngựa đau, cả tàu ăn thịt ngựa!”. Hoặc, “đèn nhà ai, nhà nấy sáng”, “Sống chết mặc bay”… Hình như chúng ta đang vi phạm những nề nếp đạo đức lễ nghĩa gia phong một cách trầm trọng mà chẳng biết dừng lại. Có thể vì ta thiếu hiểu biết, hay thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình, trường học... và xã hội.

3. MỘT VÀI TIA SÁNG. Trước những góc khuất là tình trạng xuống cấp của tình nghĩa anh chị em trong gia đình, thiết tưởng ta nên nhắc lại một vài ứng dụng nhân bản cụ thể, để phần nào soi rọi vào những góc khuất vô hình ây.

a. Ta nên tôn trọng cá tính, tính tình và quyền lợi của mỗi người: Điều này tập cho mỗi thành viên trong gia đình biết nhẫn nhục, biết nhượng bộ lẫn nhau, dù mình đúng, mình có lý, có quyền… Ai cũng có cá tính, quyền lợi riêng. Nên tự nhiên, người nào cũng có xu hướng bảo vệ mình, bỏ mặc người khác. Hoặc tệ hơn, là chà đạp quyền lợi kẻ khác, lợi dụng kẻ khác để củng cố cho “cái tôi” của mình. Nếu trong anh chị em, ai cũng chiều theo xu hướng đó, thì gia đình sẽ xảy ra tranh chấp khốc liệt. Khi ấy gia đình là hỏa ngục, chứ không còn là tổ ấm.

b.Ta nên chịu đựng các khuyết điểm, lỡ lầm của nhau, và luôn tha thứ cho nhau như thánh Phaolô dạy: “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau. Như  vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô” (Gl 6,2). Muốn vậy, ta phải biết mau làm hòa, biết bỏ qua lỗi lầm, đừng chấp nhất nhau, như ca dao tục ngữ nói: “Thương nhau, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.

c. Ta nên coi việc phục vụ là một niềm vui: Hãy sẵn sàng giúp đỡ, phục vụ nhau mà không đòi bên kia phải đền đáp, theo kiểu “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”. Chúa dạy chúng ta hãy làm đầy tớ cho nhau (Mt 20.26), hãy rửa chân cho nhau như Chúa đã làm gương trước (Mt 20.28). Anh chị nên giúp các em. Người mạnh giúp kẻ yếu. Người có tài, học giỏi kèm cặp người học kém. Công tác trong nhà nên được phân chia theo năng lực và phái tính, có tình có nghĩa. Tất cả anh chị em nâng đỡ nhau, giúp nhau nên người và nên thánh, làm cho lời Thánh vịnh được nên trọn vẹn: “Anh em vui sống một nhà. Bao là tốt đẹp, bao là êm vui!” (Tv 133).

d. Ta hãy yêu thương nhau thật tình. Trong tình nghĩa anh chị em một nhà, mỗi người hãy vui mừng vì thấy kẻ khác được may mắn, được thành công. Không nên so bì, ghen tuông, đạp đổ nhau. Hãy thực tình mong muốn sự may lành cho anh chị em mình; sẵn sàng giúp họ có cuộc sống tốt và đạo đức như Chúa đòi hỏi; và nhất là thường xuyên cầu nguyện cho nhau...

Thực ra các điều vừa kể trên, ai cũng biết; và không phải cứ tự nhiên là ta thích làm! Nhưng ta phải siêng năng cầu nguyện và đặt mình dưới ánh sáng Lời Chúa, thì mới có đủ sức mạnh thực hiện. Kinh nghiệm cũng cho thấy, nếu ta luôn sống yêu thương trong gia đình, thì khi ra ngoài xã hội, ta mới có khả năng sống tốt với mọi người và dễ thành công trong cuộc sống, vì gia đình là trường học căn bản về tình yêu đồng loại. Hơn nữa, dưới ánh sáng mặt trời của tình Chúa, thì mọi góc khuất trong tình nghĩa gia đình sẽ được rọi sáng. Khi ấy, tình nghĩa anh chị em cũng sẽ bừng sáng lên, làm nảy nở thêm các nhân đức như yêu thương, nhẫn nại, hi sinh, tha thứ và che chở cho nhau. Được như thế, thật hạnh phúc biết bao. Vậy nhé! “Anh em ăn ở thuận hoà. Chớ điều chếch lệch người ta chê cười”.

 

HAI NGƯỜI ANH EM

            Chuyện kể rằng, hai anh em nhà kia rất yêu thương nhau. Người anh muốn âm thầm giúp đỡ em, nhưng lại không muốn cho người em biết, nên khi màn đêm buông xuống, người anh lặng lẽ ra ruộng, đội những bó lúa của mình mang sang chất vào đống lúa của người em. Không ngờ người anh lại bắt gặp người em cũng đang đội lúa của mình mà chất sang đống lúa của người anh.

            Gia đình nọ cũng có hai anh em, nhưng khi cha mẹ già mất đi, cả hai đều cho rằng mình có công rất nhiều trong việc gầy dựng gia sản. Do vậy, ai cũng muốn được chia phần nhiều hơn, không ai chịu nhường nhịn ai, thế rồi từ đó họ trở nên ghen ghét, như mặt trời với mặt trăng, không thèm nhìn mặt nhau.

            Lý do là họ đã không nghe và không sống lời Chúa: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em. Bao lâu chưa mặc lấy tâm tình của Đức Kitô, thì bấy lâu người ta chưa thể đem đến cho nhau niềm vui, hạnh phúc và bình an.

Đaminh Trần Văn Chính, Gx Đền Thánh Giuse An Bình


GIÁO LUẬT

 

 

THẮC MẮC GIÁO LUẬT

 

Trong khi cử hành Nghi thức Hôn nhân, thường có hai người làm chứng. Vậy con có thể chọn một người bạn thân không có đạo Công Giáo đứng làm chứng được không? Có bắt buộc trong hai người làm chứng phải chọn một người nam và một người nữ không? Người vị thành niên có thể làm chứng được không?

 

Trả lời:

 

Nghi thức Hôn nhân Công giáo thường được cử hành trước mặt ba người: vị chứng hôn và hai người làm chứng (x. Điều 1108 §1).

Hai người làm chứng phải hiện diện cách thể lý và cùng một lúc với vị chứng hôn. Khác với vị chứng hôn là một nhân chứng không bị ngăn trở về giáo luật (không bị mắc vạ, theo như Điều 1109) và có thẩm quyền “để yêu cầu hai bên kết ước biểu lộ sự ưng thuận và để nhân danh Giáo Hội chấp nhận sự biểu lộ ấy” (Điều 1108 §2), hai người làm chứng chỉ cần thuần túy hiện diện và chứng kiến lúc đôi hôn nhân trao đổi sự ưng thuận.

Vì thế, chỉ cần hai người làm chứng này biết sử dụng trí khôn, nghĩa là họ có khả năng hiểu biết một hôn phối đang được ký kết qua lời trao đổi ưng thuận của đôi hôn nhân. Bất cứ người nào có năng cách để làm chứng theo luật tự nhiên thì đều có thể làm nhân chứng hợp pháp cho Hôn nhân Công giáo, không kể họ là nam hay nữ; có đạo Công giáo hay là lương dân; giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân, thậm chí đang bị vạ tuyệt thông cũng được.

Giáo luật không quy định số tuổi tối thiểu của người làm chứng Hôn phối, chỉ đòi hỏi họ biết sử dụng trí khôn. Và Giáo luật giả định rằng trẻ em đã được bảy tuổi trọn thì đã biết sử dụng trí khôn (x. Điều 11). Nhưng tốt hơn hết là nên chọn những người từ mười bốn tuổi trở lên, vì chưng Giáo luật cũng quy định không được nhận làm nhân chứng những người vị thành niên dưới mười bốn tuổi trong các tố tụng theo giáo luật (x. Điều 1550 §1).

 

 

 

HOÀI THANH

(Gx Ngọc Thạch)

 

TÌNH NGHĨA ANH CHỊ EM

 

Anh em cùng một mẹ cha

Lại thêm có chị sâu xa nghĩa tình

Sống chung mái ấm gia đình

Thân thương trìu mến vẹn tình thế nhân

Quan tâm săn sóc ân cần

Cuộc đời tươi đẹp muôn phần vẻ vang

Dù cho khó nhọc gian nan

Vững tâm bền chí, đâu than trách gì

Giúp nhau chẳng ngại ngần chi 

Tâm tim luôn nhớ: hãy vì tình chung

Cuộc sống cảm thấy ung dung

Hạnh phúc chan chứa điệp trùng muôn phương

Đoàn kết hiệp nhất tỏ tường

Phụng thờ Thiên Chúa, yêu thương mọi người

Tâm, tim tươi thắm nụ cười

Tin Mừng loan báo cho người tin yêu

Để cho sớm tối sáng chiều

Gia đình hòa thuận thật nhiều thiết tha

Cuộc sống đằm thắm chan hòa

Đan tay kết hợp mặn mà thân thương

Đức tin sống động phi thường

Ngày mai đoàn tụ Thiên Đường vinh quang.


GIÁO DÂN

 

ĐỊNH HƯỚNG VÀ HẠNH PHÚC

 

Với những chuyển biến từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu sang xã hội của khoa học-kỹ thuật, công nghiệp tiên tiến với các phát kiến khoa học được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống, con người phần nào làm chủ được thiên nhiên, giải thích và dự báo được các hiện tượng trong vũ trụ. Không như quá khứ, con người xem thần linh là lời giải đáp cho tất cả các thắc mắc và bí ẩn. Ngày nay con người xem chính mình là câu trả lời của tất cả. Họ xem chính họ làm chủ vũ trụ và thế giới này. Họ có thể làm được tất cả mà chẳng cần tới Thượng đế. Từ đó, con người dễ dàng rơi vào trạng thái độc tôn chủ nghĩa cá nhân. Chỉ khép kín chính mình trong những nhãn quan duy thế tục.

Thật vậy, con người ngày nay như đánh mất chính mình, mất định hướng cho cuộc sống và tương lai. Họ như rơi vào cõi vô định không tìm được ý nghĩa và động lực cho cuộc sống. Sung túc về vật chất nhưng lại nghèo nàn về tâm hồn. Theo thống kế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO- World Health Organization), có hơn một triệu người chết do tự sát mỗi năm.WHO ước tính rằng nó là nguyên nhân đứng thứ 13 gây ra tử vong trên toàn thế giớivà Hội đồng An toàn quốc gia Hoa Kỳ (National Safety Council) đánh giá tự sát là nguyên nhân đứng thứ 6 gây ra số người chết tại Hoa Kỳ(dẫn theo Wikipedia). Thực tế cho thấy, số người giàu có vật chất lại là những người có chỉ số hạnh phúc trong cuộc sống thấp và khi gặp khó khăn thử thách hay những bế tắc thay vì đối diện với chúng thì họ lại chạy trốn và giải pháp cuối cùng của họ thường là tìm đến cái chết. Tỉ lệ tự tử để giải quyết cho những bế tắc ấy rất cao nhất là ở những nước giàu có và phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản…

Tuy sống giữa biển người qua lại tấp nập với những hoạt động giải trí vui chơi náo động nhưng trong chúng ta vẫn cảm thấy một cái gì đó cô đơn, trơ trọi, vì với nhịp sống hối hả vội vã của thời đại công nghiệp phía sau những hoạt động ồn ào náo nhiệt ấy lại là một cảm giác cô đơn lạc lõng đáng sợ. Một sự trơ trọi, khoảng trống vô tận. Một tương lai như vô định  và sâu thẳm. Con người mải đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. Nhưng càng tìm họ càng bế tắc. Vì họ thiếu  định hướng đúng, thiếu lựa chọn chính xác và chưa biết từ bỏ.

Một khi đã có định hướng ta sẽ dễ dàng lựa chọn. Có chọn lựa ắt có từ bỏ. Từ bỏ giúp ta trưởng thành và lớn lên. Định hướng, lựa chọn và từ bỏ tôi luyện chúng ta và qua đó, chúng ta có thể tìm được hạnh phúc.

Có một lý tưởng để theo đuổi, có một ước mơ để vươn tới, có một hướng đi cho cuộc đời, đó là nguồn hạnh phúc lớn lao của con người. Một thực tế bất ngờ là chính những người giàu sang, dư giả lại là những con người hay than thân trách phận, những người hay trách móc, những kẻ bất mãn. Văn sĩ nổi tiếng của Pháp là Voltaire (16941778), mặc dù có một cuộc sống phú túc và danh tiếng, vẻ vang, vẫn phải thốt lên: “Tận cùng của cuộc sống ấy là buồn thảm, khoảng giữa của cuộc sống là vô nghĩa và khởi đầu của cuộc sống ấy là thô bỉ…”.

Lối sống duy vật thế tục ảnh hưởng đến não trạng, tâm thức, lối suy nghĩ và hành động của người Kitô hữu khiến cho họ khó sống hy sinh, từ bỏ, đón nhận khổ đau cách bình thản và vui vẻ theo tinh thần Chúa Kitô. Với người Kitô hữu thì chính Thiên Chúa và tình yêu của Ngài là lý tưởng và lẽ sống của người Kitô hữu, nhưng chúng ta có chọn Ngài là cùng đích và sống theo Ngài?

Thực vậy, với dòng xoáy của xã hội này, giữa những xao động của trần gian, trong mỗi người chúng ta luôn bị nhiễu bởi biết bao là tạp âm hỗn độn cùng những tiếng ồn. Cuộc sống cơm áo gạo tiền, các hoạt động bên ngoài chiếm hết quỹ thời gian của người Kitô hữu. Chúng ta như những con thiêu thân chỉ biết lao đầu vào công việc. Chẳng còn giờ đâu mà nghĩ đến cuộc sống thiêng liêng. Chẳng có giờ để hàn huyên, tâm sự với Chúa. Điều đó làm ách tắc con đường thiêng liêng nối ta với Thiên Chúa. Bởi trong chúng ta còn quá nhiều những toan tính cho công việc, dự định cho bản thân nên chúng ta không thể nhận ra và nghe tiếng Chúa. Tiếng Chúa rất âm thầm nhưng tha thiết. Chúng ta phải mở lòng ra mới nghe thấy, phải mở trái tim mới hiểu được tiếng Chúa với những âm thanh mới lạ và độc đáo. Nhờ đó chúng ta mới múc thêm được nguồn sức mạnh cho thể xác, trí khôn và linh hồn vì Ngài là nơi chúng ta có thể tìm được niềm vui, sự an ủi và đồng hành trong lúc vui- buồn, bế tắc trong cuộc sống. Có Chúa chúng ta sẽ giải tỏa được mọi uẩn ức, thất đoạt và đem lại cho tâm hồn sự thanh thản, bình an và sức mạnh.

Một cuộc đời không có mục đích thì chẳng khác nào một công trình xây dựng không đồ án, một bài văn không có dàn bài. Chính Chúa Giêsu đã chẳng nói với chúng ta: “Lời lãi cả thế gian để làm gì, nếu để mất linh hồn” đó sao? Trước khi công bố Hiến Chương nước Trời, Chúa Giê-su hẳn phải là con người hạnh phúc. Theo tôi, hạnh phúc đối với Chúa Giê-su không có nghĩa là không có nước mắt khổ đau hay là có được mọi may mắn trên đời và càng không phải là thành công trong cuộc sống này. Chính cuộc đời của Ngài là minh chứng cho điều ấy. Ngài đã sống như một con người đau khổ. Ngài đã không trốn chạy khỏi khổ đau nhưng Ngài đã đối diện với nó và cất nó khỏi cuộc đời này. Hạnh phúc của Ngài là tiếp nhận đau khổ, là đi vào cõi chết nhưng không phải đón nhận như thế để đi vào ngõ cụt, trái lại là để khai thông con đường dẫn đến sự sống.

            Như thế, cuộc sống đã có một hướng đi. Cuộc đời đã có một ý nghĩa, và đó chính là nguồn hạnh phúc đích thực của cuộc sống con người và tôi cũng đang cố gắng bước theo con đường của Đức Ki-tô. Một con đường không mấy người đi và đòi hỏi phải biết hy sinh, quên mình, chọn lựa và từ bỏ. Tôi và bạn hãy chọn con đường ấy cho dù với nhiều người đó là sự ngốc nghếch và điên rồ, dù cho đó là con đường đầy thử thách và cũng không ít chông gai. Vì tôi và bạn biết chắc chắn rằng con đường Giêsu sẽ dẫn chúng ta đến hạnh phúc vĩnh cửu.

Cùng vui bước bạn nhé vì Chúa đã nói: “ơn Ta luôn đủ cho con”.

Felicitas

 

TĂNG TRƯỞNG ĐỨC TIN

 

Gần đây các nhà kinh tế trên thế giới đều đưa ra những chính sách để giúp cho đất nước mình thoát khỏi tình trạng “khủng hoảng” của nền kinh tế đang còn nhiều biến động. Một số thì đổi mới tư duy trong các thể chế kinh tế, số khác thì lại dựa trên sự ổn định của kinh tế vĩ mô làm bàn đạp cho sự tăng trưởng, hoặc tăng cường vị thế trên thương trường quốc tế cũng là chính sách  hữu hiệu cho các quốc gia. Các nhà chuyên môn đã gọi các chính sách trên đây như là một “điểm tựa tăng trưởng” của đất nước mình. Tôi chợt nghĩ đến bản thân mình, là một người kitô hữu thì đâu là điểm tựa để giúp cho đời sống đức tin nơi tôi được vững chắc hơn?

1. Sống Lời Chúa

Có những lúc tôi cảm thấy lòng mình trống rỗng và bất an bởi những đấu tranh của cuộc sống. Tôi mải mê đi tìm những sự bình an của trần thế để che lấp đi sự cô đơn và mệt mỏi trong tâm hồn mình. Con người tôi dần đi vào con đường của tội lỗi, cuộc sống trở nên chán nản và ngã gục. Và trong chính sự lặng thinh của cõi lòng, tôi chợt nhớ đến câu kinh thánh “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”(x. Tv 118,105). Vì thế tôi bắt đầu tìm đến bệnh viện Tin Mừng để xin được chữa trị. Lời Chúa đã ban cho tôi một nền tảng kiên vững mà tôi cần cho mỗi một bước mà Ngài bảo tôi bước đi.Sức mạnh của Lời Chúa còn được khẳng địnhtrong Hiến chế Tín lý về Mặc Khải như sau: “Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (x. MK số 21). Chính vì vậy niềm vui Tin Mừng như một bản đồ chỉ dẫn cho tôi trong những lúc gặp khó khăn và nguy nan của cuộc đời.

2. Tôn sùng Thánh Thể

Công Đồng Vat. II khẳng định“Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo” (LG 11). Việc kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể trong ngày sống là rất quan trọng cho mỗi người Kitô hữu chúng ta. Nơi bí tích Thánh Thể, tôi cảm nghiệm được sự tha thứ của Thiên Chúa dành cho tôi và Ngài cũng mời gọi tôi hãy có lòng tha thứ, hãy mau đến với tình yêu của Thánh Thể để lãnh nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, nơi Đức Ki tô; Nhờ lòng thương xót của Chúa mà tôi biết yêu thương anh chị em của tôi qua cuộc sống thường ngày như thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã thốt lên rằng : “Tôi muốn có một quả tim bao la để yêu mến Thiên Chúa, để ôm ấp tất cả nhu cầu cùa Giáo Hội. Tôi muốn hy sinh cả cuộc sống tôi để cầu nguyện cho công việc truyền giáo”. Và chắc chắn rằng càng gắn bó với Chúa bao nhiêu thì con người lại càng cảm thấy cuộc sống mình như thiên đàng đang hiện diện “ Hãy sống bên Chúa và con sẽ nên Thánh, Thiên Đàng không gì khác là Thiên Chúa hiện diện” (ĐHV 242).

3. Tinh thần Đổi Mới

Trong bất cứ cảnh ngộ nào của cuộc sống, con người cần có lúc dừng lại để kiểm điểm đời mình. Đối với đời sống đức tin của tôi cũng thế, càng kiểm điểm thì tôi lại càng cảm thấy bản thân mình cần phải cố gắng để cải thiện. Thế nhưng muốn được đổi mới hoàn toàn thì trước tiên tôi cần phải có ơn Chúa Thánh Thần soi sáng. Trong thư gởi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô viết: "Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt, còn những ai sống theo Thánh Thần thì hướng về những gì thuộc về Thánh Thần. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thánh Thần là sự sống và bình an" (Rm 8,5-6). Vì thế, sự đổi mới của Chúa Thánh Thần đòi việc thanh luyện. Việc thanh luyện này gọi là cuộc đấu tranh với xác thịt. Bởi vì xác thịt mang nhiều khuynh hướng xấu. Không chỉ xin ơn của Chúa Thánh Thần mà còn phải sống tinh thần phó thác, khao khát xin ơn đổi mới“Con dốc quyết làm tông đồ Chúa, nhưng con không phó thác vô điều kiện cho Chúa, làm sao con là khí cụ đắc lực trong tay Chúa khi con còn tháo gỡ và cất giấu ít bộ phận” (ĐHV 900). Chính vì vậy mà tôi cần phải biết đổi mới bản thân mỗi ngày trong đời sống của mình và chỉ khi nào con người của tôi thực sự mang trong tâm trí và hình dáng của Chúa Kitô thì lúc đó tôi mới có thể đem Tin Mừng của Chúa đến với anh em như trong lời bài hát “Trong Giêsu chúng ta là tấm bánh, gọi thế giới sống sẻ chia. Trong Giêsu chúng ta là yêu thương, gọi thế giới vui tình người”.

Quả thật những điểm tựa trong đời sống đức tin sẽ là hành trang và cầu nối để giúp cho đời sống đức tin của mỗi người được nuôi dưỡng ngày càng sâu sắc hơn. Nhờ những điểm tựa của cuộc sống mà tôi có thể mạnh dạn bước đến “vùng ngoại biên” để sống cho và  sống với mỗi người anh em chung quanh tôi. Đời sống đức tin của tôi sẽ kiên vững và trưởng thành hơn khi tôi bước đi trong  ánh sáng “Lời Chúa”;  khi được kết hiệp cách cụ thể và sống động trong dòng suối ngọt ngào của mầu nhiệm “Thánh Thể”. Và đặc biệt luôn mang trong mình tinh thần “đổi mới” bản thân để tìm đến cùng đích của cuộc đời là con đường mang tên Giêsu.

 

Joach Nguyễn Anh Tuấn Kiệt

Giáo Xứ Thanh Hải D2

 

 

THƠ CẦU NGUYỆN

 

Tháng kính Đức Mẹ, có hai món vừa đẹp vừa thanh khiết xứng đáng dâng lên Mẹ là Thơ và Hoa, đại diện cho những gì cao đẹp nhất của thiên nhiên và con người. Hoa góp đủ sắc hương, Thơ vương muôn ý tình, ý nguyện. Có nhiều cách thức cầu nguyện, nhưng cầu nguyện bằng lời thơ dễ đưa hồn người vào những cảm xúc đặc biệt. Trong thơ là sự kết hợp hài hòa của Cung - Nhịp - Âm và Vần điệu. Thường thì lời đẹp ý sâu, mau thuộc nhớ lâu. Đọc một bài thơ hay thỏa mãn được những thao thức mà đôi khi vì khả năng ngôn ngữ hạn hẹp, sức ta không sao có thể diễn tả được.

Nhưng không phải ai cũng có khả năng làm thơ! Hàn Mặc Tử trong một bức thư riêng (gửi Trọng Miên) đã viết: “Trừ hai loài trọng vọng là Thiên thần và loài người ta, Đức Chúa Trời đã cho ra loài thứ ba là Thi sĩ, với một sứ mệnh rất thiêng liêng: phải biết tận hưởng những công trình quí báu của Đức Chúa Trời gây nên, ca ngợi quyền phép của Người và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho, tinh sạch”. Khi biết mình được trao cho sứ mạng này, anh đã không để lãng phí một chút tài năng nào cả. Tuyệt tác AVE MARIA đã chứng minh điều đó.

Thơ cầu nguyện là thơ Quân tử ý

Trượng phu lời và Tông đồ triết lý

Nhà phê bình Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “với Hàn Mặc Tử thơ có một quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để nối người ta với Thượng Đế, để ban ơn phước cho cả thiên hạ”. Thế nên: Ý thơ phải xuất nơi lòng Quân tử, Lời từ miệng kẻ Trượng phu, và Lý luận của bậc Tông đồ. Trong AVE MARIA, bao nhiêu lời vàng ý ngọc thi sĩ có được đã cố đổ ra, dốc cho hết để trao dâng Mẹ. Đức Mẹ chính là tri kỷ của Hàn Mặc Tử, mà như chính anh nhận xét: “tri kỷ phải là bậc cao quý, toàn tài, toàn năng, một Đấng nhận thấy hết mọi sự, có thể trút hận tình, kể lể hết thương đau…”:

“Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn

Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi

Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy

Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế”.

Người thưởng lãm mới chợt dạo qua ý thơ đã thấy lòng dạt dào trăm mối, được ủi an vô ngần.

Có thể xem Hàn Mặc Tử là người tiên phong cho trường phái thơ cầu nguyện của người Công giáo Việt Nam. Tâm hồn, tài năng, cùng với lượng lớn tác phẩm thơ Đạo của anh không chỉ chinh phục những người đồng đạo, mà tất cả những ai đã từng đọc thơ anh đều phải kính phục. Tinh thần cầu nguyện trong thơ Hàn Mặc Tử rất sâu xa và mãnh liệt. Quả là hiếm người có được đức tin mạnh mẽ như vậy. Hoài Thanh, một nhà phê bình ngoại đạo còn phải thốt lên rằng: “Thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng minh rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ có những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể”.

Tiếp bước đàn anh, nhà thơ Trăng Thập Tự trong tuyển tập CÓ MỘT VƯỜN THƠ ĐẠO đã giới thiệu thêm 141 nhà thơ Công giáo, cùng một số tác phẩm trích dẫn rất gợi hứng cho tâm tình cầu nguyện. Nhắc đến Linh mục Trăng Thập Tự tôi liền nhớ đến mấy lời thơ của ngài:

“Có yêu hoa con cũng không làm lá

Còn Ngài yêu con Ngài đã hóa làm người…”.

Ý thơ đưa tôi từ khoảng không hạn hẹp của tâm hồn, lặng suy về Lòng Thương Xót bao la của Thiên Chúa. Dạt dào tâm tư nguyện cầu. Thật phải là người có nội tâm sâu lắng, hồn thơ lai láng mới có thể diễn tả được hay như vậy.

Mỗi Chúa nhật có dịp đi mục vụ Giáo xứ, được mục kích phần nào cảnh tất bật mưu sinh của đời, chiều về dự Chầu Thánh Thể lặng nghe mấy câu thơ phổ nhạc của Lê Đình Bảng:

“Nào ai gánh nặng đôi vai

Trăm năm là những miệt mài phù sinh

Về đây dâng Ngài lời kinh

Con tin, lạy Chúa, con tin vững vàng”.

Với tôi, không còn lời mời gọi nào tha thiết cho bằng nữa.

Hằng ngày người nhà tu vẫn thường ngâm nga những lời thơ tuyệt hảo của Vua Salômôn, Mẹ Maria và Ông Dacaria để ca tụng Chúa và dâng ý nguyện cầu. Có nhiều câu Thánh Vịnh hay ai cũng thuộc nằm lòng, và trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể ứng khẩu thành lời cầu nguyện. Tôi biết có một Cha cố lấy chuyện học thuộc Thánh Vịnh làm niềm vui mỗi ngày. Ngài chia sẻ rằng thuộc để những lúc rảnh rỗi, hay đêm khó ngủ thì nằm ngâm nga để vừa ca tụng, cầu nguyện với Chúa, vừa thưởng thức lời hay ý đẹp trong đó. Đời tu như vậy hạnh phúc và ý nghĩa.

ĐCV Thánh Quí


GIÁO DỤC

LỖ HỔNG GIÁO DỤC

 

Một lần, tình cờ tôi nghe được lời la mắng của người mẹ với thằng con trai khá lì lợm và lười học:  Mày học như vậy không đáng xách dép cho thằng T con bà B kia kìa”. Lời la mắng này có thể xảy hai chiều hướng:

Một là tích cực. Tích cực ở chỗ đứa con thấy mẹ la và so sánh mình với thằng hàng xóm làm cho nó: Tôi phải cố gắng học, để khỏi phải xách dép cho thằng kia. Thế là nó ra sức học tập và nỗ lực đèn sách để khỏi bị mẹ la, khỏi để mẹ bận tâm. Đó cũng có thể là chất xúc tác cho con cái mình và làm bàn đạp để vươn tới sự thành công sau này.

Hai là tiêu cực. Mẹ la và so sánh như vậy đứa con cảm thấy bị xúc phạm và mặc cảm, vì mình học dốt để rồi phải đi xách dép cho người khác. Thế rồi nó buông xuôi và nghỉ học luôn, không dám đến trường nữa. Đây cũng là điều dễ hiểu cho xã hội ngày nay.

Tự ái và tự cao hình như nó không có khoảng cách và ranh giới rõ ràng. Nếu thật sự bạn và tôi không cẩn thận, bạn và tôi dễ rơi vào hai lối sống này. Học giỏi quá dễ dẫn đến sự tự kiêu. Học dở quá dẫn đến sự mặc cảm và tự ái. Nền giáo dục ngày nay của chúng ta đang gặp nhiều sự bất cập, không hợp lý và cũng không làm cho cách giáo dục của chúng ta đi đến sự hoàn thiện.

Trí thức rất cần cho cuộc sống trong thời đại ngày nay. Không có học là không có tương lai. Thất học đi liền với thất nghiệp và thất bại. Nhưng bạn và tôi đừng dừng lại ở chỗ chỉ quan tâm đến việc giáo dục về phần trí thức, mà còn phải quan tâm đến giáo dục phần đạo đức và nhân bản, vì đây là hai yếu tố để xây dựng con người hoàn thiện.

Giáo dục con em chúng ta không chỉ dành riêng và trao phó cho nhà trường, mà có thể nói ngôi trường giáo dục đầu tiên là ngôi trường gia đình. Gia đình được xem là nơi xây dựng con người tốt hay không tốt, có ích hay có hại, kiểu so sánh của các bậc cha mẹ theo cách ở trên bây giờ không thiếu. Liệu đó có phải là cách giáo dục tốt nhất mà bậc làm cha mẹ có thể áp dụng. Bạn và tôi nên hiểu, trí khôn không phải ai cũng được ban đều như nhau. Kinh nghiệm của những nhà thông thái nói rằng: Sự thành công của con người là do 5% sự khôn ngoan do bề trên ban cho, còn 95% là sự kiên nhẫn, chăm chỉ của bản thân.

Bạn và tôi đừng vội đánh giá và kết luận con mình là như thế nào. Hãy nhìn vào cách giáo dục của những người lớn. Đừng để nỗi lo của con cái làm niềm vui của người lớn, và đừng để điều hãnh diện của người lớn làm hai hàng nước mắt của con cái lăn dài. Và bậc làm con, đừng để sự ham chơi của mình làm cha mẹ phải đau lòng, đừng để sự lì lợm của mình làm nỗi lo của cha mẹ.

Bạn và tôi hãy đặt mình vào từng hoàn cảnh, từng đối tượng để thấy được đâu là điều cần làm, đâu là cách cần áp dụng và đâu là mục đích cần vươn tới, để từ đó những bậc làm cha mẹ hay thầy cô, và bậc làm con hay học sinh tìm được lối đi tốt nhất và cách giáo dục hợp lý nhất. Từ đó bạn và tôi sẽ đứng vững trên đôi bàn chân của chính mình và sống có ích cho xã hội, cho mọi người và cho bản thân. Đừng để mình phải đi xách dép cho người khác bạn nhé.

Vs. Lê Đình.

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

HAI BÀI TẬP LÀM VĂN

 

Thằng Bi sinh đầu năm trước, thằng Bin sinh cuối năm sau. Anh lớn hơn em gần hai tuổi. Hai đứa là anh em ruột, nhưng cùng cha khác mẹ. Chị Lan, mẹ thằng Bi bị tai nạn giao thông, không qua khỏi, nhưng người ta cứu được đứa con. Thằng bé sinh non, không có sữa mẹ, gầy quắt như một con mèo hen, oặt oẹo như một cọng bông súng héo, tưởng không thể sống được. May, trước cám cảnh ấy, chị Huệ hàng xóm, không cầm lòng được. Chị giúp anh Hải nuôi dưỡng thằng bé, chăm chút cho nó, như một người mẹ. Chị thương yêu nó, rồi thương yêu bố nó lúc nào không hay. Vì con, và được cả ba bên nội ngoại ủng hộ, anh Hải đi bước nữa. Họ, anh Hải và chị Huệ kết hôn với nhau. Được hơn một năm, thằng Bin cất tiếng khóc chào đời.

Năm thằng Bi lên sáu, chuẩn bị vào lớp một thì nó bị ốm nặng. Ông bác sĩ chuyên tu ở trạm xá xã bảo nó bị thương hàn. Sau gần một tuần lễ theo dõi và chữa trị, bệnh tình thằng Bi không những không thuyên giảm mà còn diễn biến xấu hơn. Ông bác sĩ đành bó tay, phải chuyển nó lên bệnh viện đa khoa tỉnh. Bà bác sĩ trưởng khoa nhi mắng vợ chồng anh Hải như tát nước:

- Sốt xuất huyết rành rành ra đó, lại đi chữa thương hàn. Sao không để vài ngày nữa hẵng đưa nó lên, rồi mang nó về chôn luôn một thể?

Trận ốm ấy, thằng Bi thoát chết, nhưng trễ mất một năm học. Thế nên, hai anh em nó học cùng lớp với nhau.

*   *   *

Thằng Binh, con trai cưng của cô giáo chủ nhiệm lớp Bốn A, móc cọng dây thun vào hai ngón tay trỏ và giữa bàn tay trái, đặt lên bả vai nung núc thịt của thằng Bin. Nó kéo căng cọng thun rồi buông ra:

- Một… Sướng quá!

Thằng Bin giật bắn người, nhăn mặt:

- Ai da! Đau. Bạn bắn nhẹ thôi, được không?

Thằng Binh trả lời bằng cách kéo cọng thun căng hơn:

- Hai… Mày mướn của tao mười tập truyện Doremon, mỗi tập hai ngàn, tất cả là hai mươi ngàn. Tao bắn trừ nợ, mỗi phát một ngàn. Hai mươi trừ hai bằng mười tám, còn mười tám phát nữa. Không bắn thì thôi, đã bắn thì như lời bố tao, phải bắn “nghiêm văn chỉnh”. Nếu không chịu được thì mày trả tiền cho tao. Cái gì cũng phải “rành văn mạch”.

- Ba…, bốn…, năm… Đã làm sao!

Thằng Bin cắn răng, mím môi chịu đựng. Nhưng vì đau quá, nó òa khóc. Thằng Bi nghe thấy, chạy vội tới, luống cuống:

- Ai? Sao? Cái gì?

Thằng Bin chưa kịp trả lời anh thì thằng Binh đã vác mặt lên:

- Nó nợ tao hai mươi ngàn, tao bắn trừ nợ, còn mười lăm phát nữa.

Thằng Bi móc túi quần:

- Mình có sáu ngàn trả bạn, còn chín, mình chịu thay cho em mình được không?

- Ô kê thôi.

Đến phát thứ năm thì thằng Bi thấy đau quá, không chịu nổi. Nó đứng dựng lên:

- Còn bốn. Cho mình khất, mai trả.

Thằng Binh không đồng ý. Nó chì chiết:

- Lớn đầu mà không giữ lời. Đúng là như bố tao vẫn mắng mẹ tao, mày là thứ “vô văn hóa phẩm”.

Thằng Bi tức lắm. Nó nhớ có lần bố nó giải nghĩa cho nó: “Vô văn hóa là câu chửi rủa rất nặng, cũng như mắng nhiếc người khác là vô giáo dục hay đồ ngu, hay đồ mất dạy vậy”. Nó trừng mắt:

- Bạn không được quyền chửi mình. Mình cấm bạn.

- Không ai cấm được tao. Này thì cấm này.

Thằng Binh giương thẳng cánh tay đấm vào mặt thằng Bi. Nhanh như một con chim cắt, thằng Bi thụp đầu tránh đòn đồng thời đưa tay gạt mạnh, làm cho nắm tay thằng Binh tự đập vào mặt mình. Vốn bị bệnh chảy máu cam, lỗ mũi thằng Binh chảy máu lênh láng.

Nhà trường viết thư về mời phụ huynh. Thằng Bi bị đưa ra hội đồng kỷ luật, bị đuổi học một tuần lễ và bị hạ một bậc hạnh kiểm. Theo yêu cầu của cô chủ nhiệm, hai anh em nó phải chuyển sang lớp khác. Hình như từ đó, không bạn nào dám bắt nạt thằng Bin nữa. Nhưng chị Huệ trách chồng:

- Thằng Bi đánh con người ta giập mặt. Hoặc là nó có gien hung dữ, hoặc là có bản tính độc ác, hoặc là anh nuông chiều nó thái quá.

Anh Hải cười nhạt, không nói một câu nào.

*   *   *

Đích thân cha xứ xuống dự buổi kiểm tra các em ấu nhi đang học giáo lý xưng tội rước lễ lần đầu. Chị huynh trưởng đặt câu hỏi:

- Khi nào bánh rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa?

Chắc là sự có mặt của cha xứ làm các em sợ, không một em nào đưa tay trả lời. Chị huynh trưởng có vẻ ngượng. Chị chỉ tay, gọi đích danh thằng Bin. Nó đứng lên, ngập ngừng đôi chút, rồi dõng dạc:

- Thưa chị! Bánh rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa khi linh mục đọc câu thần chú: ‘‘Này là Mình Thầy…, này là chén Máu Thầy…’’

Cả lớp cười rộ. Cha xứ cũng không nín cười được. Chị huynh trưởng càng ngượng. Chị cảm thấy mọi người không phải cười thằng Bin mà đang cười chính chị. Đó là lỗi của chị dạy dỗ không nên. Chị chỉ thằng Bi. Nó đứng lên:

- Thưa chị, không phải ‘‘câu thần chú’’ mà là ‘‘lời truyền phép’’ ạ!

Khi tiếng vỗ tay ngưng hẳn, chị huynh trưởng từ tốn:

- Đúng rồi! Bi nhớ về nhà chỉ bảo cho em mình, nghe không?

Nếu cha xứ không can thiệp thì chị huynh trưởng đã không cho thằng Bin đủ điểm xưng tội rước lễ lần đầu rồi. Biết chuyện, chị Huệ trách chồng:

- Thằng Bi giống bố như đúc, thâm hiểm thật. Đã giao cho nó trông nom, kềm cặp thằng Bin. Thế mà có một cụm từ ‘‘lời truyền phép’’ thôi, nó cũng nỡ không nhắc nhớ, dạy dỗ em nó.

Anh Hải cũng vẫn im lặng, không nói câu nào.

*   *   *

Chị Huệ gọi thằng Bi ra, dặn dò:

- Bố mẹ và em Bin đi công chuyện. Con khóa cửa trong cửa ngoài cẩn thận. Nhớ ôn bài. Có đói thì nấu đỡ gói mì tôm, ăn, nghe không?

- Dạ!

Anh Hải chở vợ và thằng Bin đến một nhà hàng tạm được coi là hạng sang ở trung tâm thị trấn. Hôm nay mừng sinh nhật lần thứ ba mươi lăm của chị Huệ. Trong lúc chờ tiếp viên đem thức ăn ra, chị thủ thỉ với chồng:

- Anh biết không? Lúc đầu em thương thằng Bi như con đẻ, thương thật tình, thương hết lòng. Nhưng từ khi có thằng Bin, nói anh đừng buồn, hình như em thương thằng Bin hơn thằng Bi hay sao ấy. Làm sao thế, anh nhỉ?

Anh Hải trầm tư:

- Đó là tình mẫu tử, là quy luật cuộc sống, là bẩm sinh, là bản năng người nữ. Anh không trách gì em. Anh luôn nhớ ơn em. Thử hỏi: nếu không có em, thằng Bi sẽ ra sao? Anh sẽ ra sao? Nhưng thôi. Hôm nay mừng sinh nhật em, mình chỉ nói chuyện vui thôi. Đây quà mừng em.

Anh đặt chiếc bánh sinh nhật lên bàn, đưa cho vợ tờ hóa đơn mua chiếc máy giặt đã trả tiền, giao hàng sau:

- Giúp em đỡ vất vả đôi chút. Còn đây, quà của hai con mừng sinh nhật em.

Chị Huệ mở chiếc phong bì anh Hải đưa, lấy ra hai tờ giấy học trò. Chị đọc từng chữ:

Tập làm văn

Nhân dịp sinh nhật lần thứ ba mươi lăm năm của mẹ, em hãy viết ngắn gọn một lá thư chúc mừng mẹ.

Bài làm của thằng Bin:

“Dear Mom,

Happy birthday,

Chúc mừng sinh nhật mẹ. Mẹ ơi! Con thương mẹ lắm. Mẹ mua cho con quần áo đẹp, cho con ăn những món ngon, cho con chơi games bằng điện thoại của mẹ, con thích gì mẹ cũng chiều, cái gì mẹ cũng cho con hơn phần hơn anh Bi, bố có phạt con thì mẹ lại bênh.Con thương mẹ lắm. Nếu mẹ mua cho con truyện tranh Doremon trọn bộ thì con còn thương mẹ hơn nữa. Bin của mẹ”.

Bài làm của thằng Bi:

“Mẹ!

Nhân dịp mừng mẹ tròn ba mươi lăm tuổi, con cầu chúc mẹ khỏe mạnh, vui vẻ. Từ ngày được rước lễ lần đầu, nhớ lời cha tuyên úy, không ngày nào con không cầu cùng Chúa Giêsu Thánh Thể xuống ơn lành cho bố mẹ và em Bin. Con hứa sẽ cầu xin hàng ngày. Con cũng cầu xin cho bố bớt uống rượu, em Bin ngoan, giỏi để mẹ vui lòng. Con hứa sẽ nhặt rau, rửa bát, quét nhà, phơi quần áo, giúp mẹ đỡ vất vả phần nào. Bi”.

Không hiểu tại sao chị Huệ chợt nhớ tới một câu đối đã lưu truyền trong dân gian mà bố chị thường nói đến khi trà dư tửu hậu. Chị nghĩ khác đi một chút, rồi chị mấp máy môi:

- “Con cả, con thứ hai, cả hai thứ con cùng là con cả”.

Chị đứng lên, lưỡng lự vài giây rồi rút điện thoại ra, chị bấm một số quen: 

- A lô! Làm ơn cho một chiếc taxi bốn chỗ. Nhà hàng X, số Y, đường Z.

Anh Hải không hiểu gì:

- Em đi đâu?

- Em về đón con tới đây.

- Đón thằng Bi ấy à? Để anh chạy xe về.

Chị Huệ kiên quyết:

- Không! Em… phải…, đích thân em phải về đón con.

Anh Hải chưa hiểu được điều gì xảy ra nơi nội tâm của vợ sau khi chị đọc hai bài tập làm văn của hai đứa con. Anh cũng chưa kịp hỏi chị tại sao, thì đúng lúc ấy, tiếng nhạc trỗi lên, đồng thời anh thấy người ta chiếu lên màn hình trên sân khấu một trái tim đến là to, đến là đỏ, đến là đẹp, đến là sáng, đến là rực rỡ.

 

lãongu

 

 


ĐẸP VÀ XẤU

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Để sửa sang và chỉnh đốn cho cái hình dong bên ngoài, người ta đã tốn không biết bao nhiêu công sức và tiền bạc. Trước hết, giới thầy thuốc đã nhảy vào vòng chiến. Với lưỡi dao giải phẫu, các vị đã cắt chỗ này, xẻ chỗ kia và bơm chỗ nọ theo nhu cầu thẩm mỹ và theo sự đòi hỏi của khách hàng. Thế nhưng, chuyện đời nhiều lúc oái ăm, những người muốn làm đẹp chẳng may gặp phải những ông lang băm, những thầy thuốc dổm, thì chẳng những tiền mất tật mang, mà hơn thế nữa cái sắc đẹp vốn ít ỏi của mình lại sớm tàn phai, ấy là chưa kể tới những bệnh tật và đau đớn như hậu quả tất nhiên của sự trục trặc này.

Người ta thường bảo: Nhân sao vật vậy. Thế nhưng, trong lãnh vực làm đẹp thì lại không phải vậy. Nơi loài vật, con đực thường hay làm đẹp để lấy điểm với con cái. Vì thế trong tiếng Pháp, danh từ ‘’Coquetterie’’ có nghĩa là sự làm dáng, bắt nguồn từ chữ ‘’coq’’ có nghĩa là anh gà trống! Nơi loài người thì khác, đờn bà con gái vốn được coi là phái đẹp, và nghệ thuật làm đẹp vốn là nghề của các nàng. Thậm chí có kẻ đã tuyên bố một cách hung hăng con bọ xít như sau: Là đàn bà con gái, mà nêu không biết làm đỏm mí lại ăn quà vặt thì hỏng còn là đờn bà con gái nữa.

Xét về những nơi những chốn được làm đẹp, gã nhận thấy rằng: Hễ hở ra chỗ nào thì các nàng liền vội trang điểm chỗ ấy liền tù tì. Từ cái răng cái tóc là góc con người, đến cái môi cái miệng để mà mần duyên, thậm chí đến cả cái móng chân móng tay đều được các nàng trau chuốt một cách tỉ mỉ và kỹ lưỡng. Chỉ có các nhà chế tạo mỹ phẩm là hốt bạc.

Thế nhưng, cái đẹp khách quan, cái đẹp có cân đo đong đếm này thì lại rất hiếm và kéo dài chẳng được bao lâu, vì có tuổi trẻ nào mà lại không già, có sắc đẹp nào mà không bị tàn phai. Hay như dân Đức vốn thường bảo: Phàm trên cõi đời này có ba thứ phù du hơn hết, đó là tiếng dội, mống trời và nữ sắc. Vì thế, khi nói đến cái đẹp, chúng ta thường hiểu là cái đẹp chủ quan, cái đẹp ‘’hợp nhãn’’ với mình. Đúng vậy, Voltaire đã tự hỏi: Thế nào là đẹp? Và ông đã mày mò đưa ra một câu trả lời bất hủ và hóm hỉnh. Ông thẳng thừng tuyên bố với bàn dân thiên hạ: Đẹp chính là con cóc cái dưới mắt con cóc đực.

Thực vậy, một khi tình yêu đã thấm và hai bên đã “chịu đèn mí nhau”, thì cái nhìn chủ quan sẽ tô hồng mọi sự: Yêu nhau muôn sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng. Thậm chí ngay cả đến những chỗ khuyết điểm, người ta vưỡn cứ thấy tuyệt vời: Yêu nhau củ ấu cũng tròn, trái bồ hòn cũng ngọt. Ngay cả đến những cái xấu, người ta vẫn cứ thấy đẹp tuốt: Mũi nàng những tám gánh lông, chồng thương chồng bảo râu rồng trời cho. Đêm nằm thì ngáy o o, chồng thương chồng bảo ngáy cho vui nhà.

Vì thế, có những cô nàng xét về ngoại hình, với cái nhìn khách quan, thì sẽ bị xếp vào hàng thị Nở trong Chí Phèo của Nam Cao, hay Chung Vô Diện trong kiếm hiệp của Kim Dung, nghĩa là dưới điểm trung bình xa lắc xa lơ, thế mà vẫn đắt giá, vớ được những ông chồng ngon lành cả về thể xác lẫn tinh thần, cả về tiền bạc lẫn địa vị, khiến cho thiên hạ phát thèm, có nằm mơ cũng chẳng thấy, chỉ vì những cô nàng này có được nét duyên thầm.

Còn khi tình yêu đã vỗ cánh bay đi, thì cô nàng xinh đẹp thưở ban đầu liền trở thành “cái con mụ nọ”, “cái con mẹ kia”, để rồi anh chồng đi lang thang tìm kiếm của lạ, theo kiểu: Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay. Khi không còn say men tình yêu nữa, thì cái ngày xưa người ta bảo là “cho vui nhà”, thì bây giờ lại trở thành nguyên nhân gây nên đổ vỡ. Người ta lôi nhau ra ba tòa quan lớn để ly dị chỉ vì ông chồng hay bà vợ có tật ”kéo gỗ” mỗi khi nằm ngủ. Hay như tục ngữ đã diễn tả: Còn duyên anh cưới ba heo, hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi.

Xem như vậy, cái đẹp khách quan cũng như chủ quan đều khó lòng đứng vững với thời gian. Vì thế, đờn ông con giai và nhất là đờn bà con gái cần phải tìm kiếm cho mình một cái đẹp vượt thời gian, một cái đẹp tự bên trong, xuất phát bởi cái đức, chứ không phải là cái đẹp hời hợt bên ngoài, dù có mặn mòi đến đâu chăng nữa cũng không thể đi xa hơn làn da! Chính cái đức mới tạo nên cho chúng ta một cái đẹp vượt thời gian, một nét duyên thầm làm cho người khác phải cảm phục và say đắm. Các cụ ta ngày xưa đã sớm nhận ra nét duyên ngầm vượt thời gian này, nên đã bảo: Cái nết đánh chết cái đẹp. Chứ không như bây giờ: Cái đẹp đè bẹp cái nết.

Viết tới đây, thì hình ảnh mẹ Têrêxa thành Calcutta bỗng tỏa sáng trước mặt gã. Mẹ Têrêxa đứng bên vương phi Diana, quả là hai thái cực trái ngược nhau. Vương phi Diana là một cô gái cao ráo, đẹp đẽ. Gã chỉ nói đến cái “hình dong bên ngoài”, chứ chả dám đá động tới những khía cạnh khác, chẳng hạn như địa vị xã hội, tình cảm cá nhân. Trong khi đó, mẹ Têrêxa chỉ là một bà lão không hơn không kém. Thân hình thì thấp bé, họa chăng có cao hơn ông Giakêu được một tí xíu. Còn mặt mũi thì nhăn nheo, mang nặng dấu ấn của thời gian. Áo quần thì thùng tha thùng thình. Thế mà lúc còn sống, mẹ đã được biết bao nhiêu người quí mến và khi nằm xuống, mẹ đã được biết bao nhiêu người thương tiếc. Sở dĩ như vậy cũng chỉ vì cái đức của mẹ. Phải, cái đức của mẹ chính là nét duyên thầm thu hút mọi người và làm cho cả và thế giới phải khẩu phục tâm phục mẹ hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

Hình như có một câu danh ngôn, đại khái khuyên chúng ta như thế này: Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi người đều vui mừng hớn hở, còn con lại cất tiếng khóc. Con hãy sống thế nào, để khi con nhắm mắt buông tay, mọi người sẽ khóc thương con, còn con sẽ vui mừng hớn hở.

Nét duyên thầm vượt thời gian này ai cũng có thể thực hiện được mà chẳng tốn đồng xu cắc bạc để chạy ra cửa tiệm, lôi về đủ thứ mỹ phẩm lỉnh kỉnh. Đúng thế, ai cũng có thể và phải làm được miễn là biết kiên nhẫn và cố gắng.

Để kết luận, gã xin kể lại mẩu chuyện về một người vợ xấu: Nguyễn Thị là vợ của Hứa Doãn, nhan sắc thuộc loại ma chê quỉ hờn. Khi cưới về, thấy nàng xấu quá, Hứa Doãn muốn bỏ đi bèn nói: Đờn bà có tứ đức công, dung, ngôn, hạnh. Nàng được mấy? Nguyễn Thị liền thưa: Thiếp chỉ kém có dung mà thôi. Rồi nàng hỏi lại: Kẻ sĩ có bách hạnh, chàng được mấy ? Hứa doãn đáp: Ta có đủ cả. Nguyễn Thị nói: Trong bách hạnh thì đức là đầu. Chàng là kẻ hiếu sắc chứ không hiếu đức, sao lại bảo là có đủ cả bách hạnh được? Nghe vậy, Hứa Doãn lấy làm xấu hổ và từ đó luôn yêu thương kính trọng vợ mình.

Thái độ của Hứa Doãn có lẽ chưa đủ để đánh thức những kẻ háo sắc hôm nay. Bởi vì rất nhiều người vẫn cắm đầu cắm cổ chạy theo cái đẹp bên ngoài mà quên cái đẹp bên trong. Và mỗi lần đọc trên báo thấy những mẫu quảng cáo tìm người: Cần tuyển nữ nhân viên có ngoại hình đẹp. Gã lại ngậm ngùi cho thói đời bạc bẽo, xót xa và đớn đau cho những “cô em-gái-trời-bắt-xấu”.

 

 

CHUYỆN ANH CHỊ EM TÔI

                                                                                                                  

Chuyện anh chị em tôi, ngày nay thuộc hàng hiếm. Cha mẹ tôi gặp nhau khi cả hai đều đã góa bụa. Cả hai người đều đã ngoài ba mươi tuổi. Cha tôi đã có bốn người con: anh Hồng, anh Sơn, chị Thoại và anh Hà. Khi mẹ tôi mất, cha tôi gởi các anh chị tôi cho ông bà nội Ở Thạnh Quới nuôi dưỡng. Cha tôi lúc đó là một viên chức cảnh sát đang công tác xa nhà. Mẹ tôi cũng đã có bốn người con riêng: anh Lâm, chị Sinh, chị Xuân và Chị Nương. Mẹ tôi vốn là người lương và đang giúp việc nhà cho ông bà quận trưởng Chợ Mới. Các con bà gởi cho bà ngoại. Không hiểu sao khi gặp mẹ tôi cha tôi quyết định tục huyền. Ông nói, dù gởi các anh chị tôi cho nhà nội nuôi dưỡng ông vẫn không an lòng. Ông cần có người đỡ đần để trực tiếp nuôi dưỡng các anh chị tôi. Nhưng tái hôn với ai chứ tái hôn với mẹ tôi, một  người đàn bà ngoại giáo, nghèo khó với bốn người con riêng, khiến mọi người bên nội tôi ai cũng ái ngại. Nhưng ý cha tôi đã quyết. Ông bà chắp nối với nhau cũng có phần thuận tiện, ông bà quận trưởng mà mẹ tôi đang giúp việc nhận đỡ đầu cho mẹ tôi khi bà theo đạo Công giáo để lấy cha tôi. Anh em đồng ngũ với cha tôi dè bỉu: “Hết chuyện hay sao mà đi hốt nguyên ổ gà mái về nuôi”. Nhưng công bằng mà nói, ông bà đã rất dũng cảm khi quyết định đến với nhau.

Ngày mẹ về với cha được truyền tụng như một đám cưới có một không hai. Đó là một ngày mưa sụt sùi, ảm đạm. Năm mẹ con bồng bế nhau từ dưới đò máy lên nhà trước sự tò mò pha chút ái ngại của bà con, làng xóm. Không biết ông bà đón nhận nhau hạnh phúc như thế nào, nhưng tám đứa trẻ, lạ lẫm, ngỡ ngàng. Bọn trẻ co cụm thành hai khối rõ rệt. Chúng chơi, trò chuyện riêng với nhau và bảo vệ nhau theo từng khối. Nhưng bằng tấm lòng muốn bù đắp cho chúng những đứa trẻ hoặc mất cha hoặc mất mẹ, và bằng tình thương không phân biệt đối xử của cha mẹ, họ đã hòa nhập với cuộc sống mới một cách tự nhiên tự lúc nào. Bọn trẻ giờ đây  chỉ còn một khối. Chúng thực sự là anh chị em, hòa thuận thương yêu nhau, bảo bọc nhau.

Để nuôi sống gia đình đông đúc đó, ngoài đồng lương của cha tôi, một viên chức cảnh sát cấp thấp, mẹ tôi phải tần tảo sớm hôm với sạp hàng rau ngoài chợ.  Cuộc tình chắp nối muộn màng sinh ra anh em tôi, anh Hùng, chị Tâm, anh Dũng và tôi Chí, em út. Tổng cộng số người trong hộ khẩu nhà tôi là mười bốn người. Sau ngày giải phóng, cha mẹ tôi trở về quê hương Thạnh Quới sinh sống. Cha tôi làm đủ thứ nghề, mẹ tôi tiếp tục bán rau, củ ngoài chợ nuôi anh chị em tôi ăn học. Lúc này các anh chị tôi đã trưởng thành, nhiều người đã có gia đình riêng; nhưng tình nghĩa anh chị em vẫn thắm thiết như ngày nào. Chúng tôi gắn bó mật thiết, tình cảm chan hòa. Chúng tôi luôn ở bên nhau trong những biến cố buồn vui của cuộc đời. Tháng năm qua nhanh, cha mẹ tôi không còn nữa. Các anh chị tôi cũng kẻ còn, người mất. Tắt hương còn khói; Các cháu của các anh chị tôi vẫn hiệp thông với đại gia đình như ngày nào cha mẹ họ còn sống. Nhiều người ở quê tôi tỏ lòng thán phục trước sự gắn bó yêu thương nhau của gia đình tôi. Có những người khác thắc mắc, không hiểu sao gia đình tôi lại êm ấm, hòa thuận như vậy? Họ không biết, nhưng tôi biết, sở dĩ anh chị em tôi gắn bó, yêu thương nhau vì trước hết, cha mẹ tôi luôn yêu thương nhau. Ông bà cũng hết mực thương yêu các con, yêu thương đồng đều. Ông bà luôn phân tích đúng, sai cho chúng tôi sau mỗi khi chúng tôi có xích mích. Hơn nữa, ông bà rất đạo đức, ông bà luôn phó thác gia đình mình cho Chúa. Có Chúa và Đức Mẹ đồng hành gia đình tôi luôn yêu thương nhau và sống bình an, hạnh phúc.                      

Hôm nay ngồi viết những dòng này như nén hương lòng tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ một đời hi sinh cho các con. Tưởng nhớ các anh chị tôi những người luôn yêu thương dìu dắt chúng tôi khi tôi còn tấm bé nay đã khuất và trân trọng tình cảm yêu thương của anh chị  còn sống. Chúng tôi những người còn ở lại vẫn mãi mãi yêu thương nhau như cha mẹ đã yêu thương chúng tôi.

                                                                        Dieu Nguyen


KHAI PHÁ

 

Ngồi trú mưa trong một quán café trên quốc lộ 80 tại cống số 10, bác năm Trác và chú hai Phúc cứ bồn chồn coi đồng hồ hoài.

            - Mình hẹn với bà con 8 giờ sáng, mà giờ đã 7g30. Từ đây xuống Thạnh Lộc còn hơn bảy cây số nữa, mưa thế này, đường đất trơn trượt và lầy lội không đi Honda được; đi bộ thì không kịp, cả trăm người chờ mình. Bác Trác băn khoăn.

            - Sao dễ mưa thế! 4 giờ sáng tôi dậy đi lễ, trời có trăng sao, thế mà giờ này mưa xối xả. Đúng là mùa mưa. Chú Phúc nói.

            - “Tháng 6 trời mưa, trời mưa không dứt”. Chú Phúc thầm đọc bài thơ Tháng 6 trời mưa của nhà thơ Nguyên Sa (Trần Bích Lan), thầy dạy Luận Lý Học của chú Phúc năm 1963 ở Sài Gòn, và cũng là một nhà thơ mà chú yêu thích.

            Đó là những ngày tháng 6 năm 2005 khi huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ mới được thành lập. Hai người khách trong quán café  đứng lên nói:

            - Hai bác Khuyến học ơi! nếu hai bác không chê ghe của vợ chồng em chở heo vịt, thì em mời hai bác cùng về Thạnh Lộc với em, em cũng về dự buổi hội thảo của xã em bàn về: “Việc học giúp thoát nghèo…” đây mà.

Không ai bảo ai, cả hai người làm Khuyến học đều vui cười, vừa đứng dậy đi theo vợ chồng chú chủ ghe, vừa cám ơn rối rít. Họ bước xuống chiếc ghe tam bản, mà hơn nửa ghe chở vịt và heo. Câu chuyện giữa họ mỗi lúc một hào hứng, sôi nổi. Thỉnh thoảng câu chuyện cũng bị ngắt bởi bầy vịt kêu oác oác hay tiếng rú ga của chiếc máy Kohler 4, khi chân vịt dính lớp bèo lục bình hoặc rơm rạ trôi trên sông. Chú chủ ghe than:

            - Hai bác ơi! Sao mà xã của em cứ nghèo hoài vậy! Trong khi ngoài Thị trấn Thạnh An bà con giầu thế!

            - Chú có biết ngoài Thạnh An, có nhiều cha mẹ bán cả nhà lẫn ruộng để nuôi con ăn học không? Nhờ thế, mà con cái họ thành đạt, toàn là Thầy Cô giáo, Bác sĩ, Kỹ sư. Trong khi xã Thạnh Lộc, cha mẹ ít chú tâm cho con đi học. Cha mẹ chỉ lo trước mắt, bắt con cái làm việc sớm quá! tội nghiệp cho chúng ghê! nghèo là vì thế đó! bác Trác nói.

            - Ở Thạnh lộc có hơn 10.000 dân, hiện chỉ có 12 sinh viên đang học Đại học, trong lúc Thị trấn Thạnh An cũng có khoảng 10.000 dân, mà người ta có hơn 400 sinh viên học Đại học. Dân trí hai xã này chênh nhau tới hơn 30 lần. Hội khuyến học chúng tôi vừa điều tra được. Nghèo là do mình không chịu học chú ạ! Chú Phúc nói.

Câu chuyện về giầu nghèo chưa có hồi kết, thì chiếc ghe tam bản đã ghé bến xã Thạnh Lộc đúng 8 giờ. Lúc này trời trở lại quang đãng. Buổi trao đổi giữa Hội khuyến học và bà con xã Thạnh Lộc được diễn ra đúng như dự định, với gần 200 người tham dự thuộc mọi thành phần trong xã. Nội dung chính của buổi hội thảo nói về ích lợi của việc học: Sự học giúp ta hiểu biết nhiều điều; sự học giúp ta làm việc hiệu quả hơn; sự học giúp ta biết sống nâng đỡ, nhường nhịn, yêu thương chan hoà với mọi người hơn; và quan trọng nhất sự học giúp ta sống đúng là người. Bà con rất chăm chú lắng nghe mấy chú Hội khuyến học trình bày. Tại vùng nông thôn sâu này, có lẽ chưa bao giờ họ được nghe một buổi nói chuyện như thế! Bà con có nhiều câu hỏi rất thực tế như: “Nhà tôi không có ruộng, không có tài sản gì đáng giá, thì làm sao gởi con về thành phố học Đại học được!”. Nhưng cũng có những câu hỏi xa lạ, chứng tỏ nhiều bà con chưa hiểu gì về Đại học như: “Sao các bác Khuyến học huyện lại cho xã tôi có 12 sinh viên, mà lại cho trong thị trấn Thạnh An những hơn 400 sinh viên?”

Đến hơn 11 giờ trưa, nhiều người vẫn muốn buổi trao đổi kéo dài thêm… Bác Trác ra hiệu cho chú Phúc kết thúc buổi trao đổi.

- Thưa bà con, sau hơn ba tiếng trao đổi: Làm sao thoát được cái nghèo cứ đeo bám mình hoài. Với sự đóng góp sôi nổi và phong phú của bà con, cùng sự giải đáp của anh em huyện Hội, tuy chưa hoàn toàn thoả đáng, song với những chứng cứ thật cụ thể được đưa ra, tôi tạm kết luận: “Sự học giúp ta thoát nghèo nhanh nhất, bền vững nhất và cũng danh dự nhất!”. Vậy, bà con có quyết tâm cho con cháu mình đi học không? Tất cả mọi người đều hô: quyết tâm! Xin hẹn bà con buổi họp mặt lần sau chúng tôi sẽ trình bày tiếp.

Bác năm Trác và chú hai Phúc đều là những người về hưu. Bác Năm và ông thầy Phúc là hai người bạn tâm giao từ mấy chục năm nay. Trong một bữa cơm tối toàn cá khô tại nhà bác Năm, hôm đó trời mưa rả rích, hai người đã hứa hẹn với nhau, sau khi nghỉ hưu sẽ cùng làm một việc đúng với tâm nguyện của hai người là giúp ích một chút gì đó cho đời.

            Đúng như ước nguyện, sau ngày nghỉ hưu, hai người bạn vong niên đã có 3 năm làm công việc khuyến học ở Thị trấn Thạnh An, và tính đến nay đã hơn 10 năm làm khuyến học của huyện Vĩnh Thạnh. Người dân trong huyện Vĩnh Thạnh thấy hai người bạn vong niên thắm đẫm tình anh em, Họ gọi đó là “cuộc tình khuyến học”. Quả thật, họ đã đèo nhau đi trong nắng, trong mưa, từ xã này sang xã khác, từ huyện lên tỉnh. Bình quân mỗi  ngày trung bình 30 km. Tính ra quãng đường họ đã qua lại dài hơn 2 vòng trái đất (40.000 km/1vòng trái đất).

Huyện Hội được bà con hảo tâm xa gần, hỗ trợ mạnh mẽ. Nhờ đó, Hội đã giúp được hơn 20 cháu đã du học Nhật Bản, và còn 14 cháu đang học tại trường Nhật Ngữ Đông du; cấp cả ngàn chiếc xe đạp, hàng chục ngàn học bổng cho học sinh nghèo; in hơn 600.000 tập có lôgô: “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời” để thưởng và giúp học sinh giỏi và nghèo; tổ chức họp mặt và phát học bổng cho sinh viên vào ngày 27 Tết Âm lịch hàng năm liên tục từ 2004 đến nay. Mỗi năm họp mặt sinh viên đều có một chủ đề: Năm 2013 với chủ đề “tình thương và trách nhiệm”; năm 2014 chủ để “Trung thực, khiêm tốn và giản dị”. Và mỗi lần họp mặt đều có một tham luận của một linh mục nói về vấn đề Khuyến đức.

            Mười năm trôi qua, các xã phía Nam huyện Vĩnh Thạnh như: Vĩnh Trinh, Thạnh Lộc, Vĩnh Bình, nay đã có số sinh viên đang theo học các trường Đại học và Cao đẳng tăng nhiều. Riêng xã Thạnh Lộc có khoảng 200 sinh viên. Khoảng cách về dân trí tính theo số sinh viên nơi đây với các xã phía Bắc Cái Sắn như Thạnh An, Thạnh Thắng 10 năm trước là khoảng 30 lần thì nay chỉ còn khoảng từ 2 đến 5 lần.

            Cũng 10 năm trước, Sáu Bọng là điểm truyền giáo duy nhất chưa có cha thì nay nhờ ơn Chúa, Sáu Bọng đã trở thành xứ đạo, có cha sở, ngày ngày có Thánh lễ. Ngoài ra, còn có hai điểm truyền giáo: Một ở khoảng số 2 trên quốc lộ 80 mới được mở vào năm 2012 cũng có Thánh Lễ vào mỗi dịp Giáng Sinh; một điểm ở xã Vĩnh Bình mới có mặt bằng, chờ xây dựng…

             Phúc thầm cảm tạ Chúa và lòng lại bảo lòng: Việc có thể làm hôm nay đừng để đến ngày mai, và hãy “Tận nhân lực” thì mới “ tri thiên mệnh”  được…

            Inhaxiô  Đặng Phúc Minh

 

 

 


THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

ANH EM MỘT NHÀ

“Anh em như thể tay chân”,

Câu ca còn đó trong ngần mến thương.

Để ai qua mấy dặm trường,

Những hoài mang nặng, vấn vương ân tình.

Vườn hoa rực rỡ lung linh,

Bao la thắm đượm khối tình anh em.

Thương nhau “máu chảy ruột mềm”.

“Nâng niu đùm bọc”, đẹp thêm mái nhà.

Dù ai khôn lớn bay xa,

Về đây vẫn thấy như là bé thơ.

Êm đềm như một giấc mơ,

Vòng nôi nồng ấm vẫn chờ vẫn mong.

Như cây liền gốc liền cành,

Như tay năm ngón kết thành bàn tay.

Tình anh cung nhạc dâng đầy,

Tình em khúc hát tháng ngày lâng lâng.

Ngọt ngào hai tiếng em, anh,

“Gà cùng một mẹ sao đành đá nhau”.

Tấu hòa vang mãi chung câu,

Lời ca lắng đọng, thâm sâu nghĩa tình.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

CHUÔNG VỌNG TÌNH SẦU

Nắng vàng rải nhẹ dòng sông

Hoàng hôn rơi bóng mênh mông lặng tàn

Giáo đường chuông vọng mênh mang

Lơ thơ áo trắng, chiều tan lẽ về

Ngày đi ôm ấp câu thề...

Chiều nay ta trở về quê mộng thầm

Đường xưa níu bước tần ngần

Tìm đâu áo trắng bao lần đón đưa

Những chiều tan lễ dưới mưa

Sánh đôi thầm ước, ước mơ nguyện cầu

Chúa ơi ! Thương mối tình đầu

Kết duyên nồng thắm, bạc đầu trăm năm

Bỗng chiều mưa đẫm xa xăm

Tan hồi chuông đổ, lạnh căm cõi lòng

Người xưa áo trắng theo chồng

Chúa ơi ! Tan nát tình nồng xót xa.

                                Jos, Nhật Quang

NGHĨA TÌNH ANH EM

Anh em đùm bọc thương yêu

Cùng nhau hòa thuận sớm chiều yên vui

Đền ơn cha mẹ dưỡng nuôi

Yêu thương gắn kết êm xuôi gia đình

Hết lòng quảng đại quên mình

Anh em chăm sóc tận tình cho nhau

Để tình cảm mãi bền lâu

Anh em sớm tối cùng nhau nguyện cầu

Nguyện trong tình Chúa thẳm sâu

Tình anh em mãi bền lâu muôn đời

Gia đình ấm áp đầy vơi

Mãi luôn hạnh phúc muôn đời chẳng phai.

 

                                           Maria Nước Xanh, gx Thanh Hải, Kênh Đ2

ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

Gia đình đầm ấm an vui,
Cùng nhau chia sẻ ngọt bùi đắng cay.
Lao công vất vả từng ngày,
Trong Tình Yêu Chúa, vui say quên mình.
Sớm chiều quy tụ đọc kinh,
Gia đình hiệp nhất, ân tình chứa chan.

Jos. Nguyễn Minh Đức, Gx. Thánh Tâm B2.

TẢN MẠN

 

BỔN PHẬN LÀM CHỊ

Tôi là chị cả trong gia đình gồm bốn chị em. Các em tôi còn bé lắm, đứa mới tiểu học, hai đứa kia thì vừa vào mẫu giáo. Là chị cả thì mệt mỏi, vì phải vừa học vừa tiếp gia đình. Nhất là việc trông em, dạy các em học. Các em tôi còn bé nên tính tình khó hiểu và có phần không vâng lời. Nghe lời người lớn dạy nên tôi phải cố gắng và nhường nhịn các em mọi điều. Đã nhiều lần tôi không chu toàn bổn phận làm chị, nhưng ngay sau đó tôi hối hận lắm. Nghĩ lại lúc còn bé tôi cũng như thế, làm ba mẹ phiền lòng nhiều. Các em tôi rồi sẽ lớn lên và cần học hiểu nhiều thứ tốt, bổn phận làm chị thì tôi phải học tập và nêu gương cho các em. Nguyện xin Chúa đổ tràn ơn trên chúng con, để chúng con chu toàn bổn phận của mình.

Têrêsa

HAI TIẾNG NGHĨA TÌNH

Tôi thầm nghĩ: từ giờ trở đi, tôi phải mạnh dạn gợi mở bằng sự quan tâm, hỏi han anh chị em trong gia đình. Từ đó mọi người sẽ hiểu và chia sẻ cho nhau những khó khăn mình đang gặp phải, cuối cùng chúng tôi sẽ được xích lại gần nhau hơn, khi con tim biết đập cùng một nhịp yêu thương. Hai tiếng nghĩa tình được trọn vẹn khi anh chị em ruột thịt biết thiết lập mối liên hệ qua tình thân ái bén rễ trong tình yêu Chúa và liên đới với nhau cách chân thành.

Đaminh lê hữu quí, Gx Sáu Bọng

KHÔNG THỂ TÁCH RỜI.

Thời thơ ấu nhốn nháo cả nhà, đứa anh chạy trước thằng em chạy sau. Vui nhất là mỗi khi mẹ đi chợ về, anh chị em chúng tôi chia với nhau cái bánh cái kẹo để cùng thưởng thức hương vị quà chợ. Cuộc sống vẫn thế, hạnh phúc lướt qua muôn sự buồn đau cực khổ. Anh, chị em chúng tôi cũng khôn lớn và mỗi đứa một phương trời riêng. Thế nhưng cái tình cảm ruột thịt ấy vẫn không hề thay đổi theo thời gian. Chính sự ra đời để trải nghiệm, để tiếp xúc lại càng khiến tôi cảm thấy trân trọng những tình thân mà không đâu có thể tìm thấy được ngoại trừ nơi mái nhà dấu yêu với những anh chị em cùng mẹ cùng cha, dù có thể cãi nhau, giận nhau nhưng rồi cũng rất dễ thương yêu, bỏ qua tất cả vì tình cảm đó bắt nguồn từ chung một núm ruột của mẹ.

                                                         Tìm Lại Tuổi Thơ, gh Bakhu

LÀM ANH VÀ LÀM EM                                     

Khi suy nghĩ về chủ đề anh em trong gia đình, tôi chợt nhớ ra một câu rất hay thế này: “huynh tắc hữu, đệ tắc cung” có nghĩa là “làm anh thì phải thân thiết, làm em thì phải biết cung kính”. Quả đúng như thế, Chúa đã dạy: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”, rồi đến kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam cũng có câu: “anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”. Qua những minh chứng cụ thể trên, cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của tình anh em trong gia đình, đặc biệt trong năm Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình, điều đó lại càng cần thiết hơn. Anh em với mối liên hệ huyết thống trong gia đình, anh em đều là con cái của Thiên Chúa, anh em còn là bằng hữu của nhau trong cuộc sống. Khi đã làm anh thì phải sống đúng bổn phận của mình, hãy biết sống tốt cho bản thân trước, rồi từ đó làm gương sáng cho những đứa em của mình, đây cũng là cách làm chứng về Đức Kitô; người làm em, phải biết vâng lời, học hỏi bắt chước theo những việc lành đạo đức của người đi trước, ngõ hầu sống đúng bổn phận và cũng trở nên nhân chứng cho Chúa.

Lưu Hành

 

 

 

 

 


 

 

       
  Chuyn mục
    Tình yu v giới trẻ
 

 

 

 

 


NHẬN DIỆN  NHỮNG KẺ THÙ GIẤU MẶT

TRONG HÔN NHÂN

 

Cuộc hôn nhân nào cũng vậy, chỉ sau một thời gian kết hôn người ta bỗng nhận ra rằng có những kẻ thù giấu mặt âm thầm bên trong cuộc sống lứa đôi, chúng như những con vi trùng nguy hại đang tấn công từng ngày sức khỏe hạnh phúc gia đình của hai người. Chính vì vậy mà có người đã cảnh báo: “Đám cưới nào cũng hạnh phúc cả, chỉ có cuộc sống chung sau đó là có nhiều rắc rối”(Raymond Hull)”. Nhiều rắc rối là vì hai người phải đối diện với một số những “kẻ thù giấu mặt” sau:   

wSự nhàm chán

Hầu hết các cặp vợ chồng sau một thời gian chung sống đều có một kinh nghiệm chung nhất, đó là cuộc sống hôn nhân ngày càng trở nên nhàm chán, đơn điệu và buồn tẻ. Thực trạng ấy rất dễ trở thành nguyên nhân của những mâu thuẫn, lục đục, bất hòa trong gia đình, và luôn có nguy cơ dẫn đến kết cục đường ai nấy đi.

Một trang báo mạng mới đây đã có bài chia sẻ như sau: “Cuộc sống sau hôn nhân chính là phép thử tình yêu cũng như sự kiên nhẫn của bạn. Điều ít ai ngờ nhưng chắc chắn sẽ xảy ra là bạn cần rất nhiều sự kiên nhẫn chỉ để đối phó với cuộc sống buồn tẻ hàng ngày của hôn nhân. Thực tế, cuộc sống gia đình khá đơn điệu và nhàm chán. Và sự đơn điệu có thể phá hủy bất cứ cuộc hôn nhân nào. Người duy nhất có thể "cứu rỗi" cuộc hôn nhân của bạn, thúc đẩy nó tốt đẹp lên là chính bạn chứ không phải ai khác. Nếu bạn không đủ hoặc thiếu lòng kiến nhẫn đối với mọi thứ trong cuộc sống gia đình, cuộc hôn nhân của bạn dần dần sẽ tố cáo điều đó. Và chắc chắn, chỉ người có đủ tình yêu và sự kiên nhẫn mới có thể đồng hành cùng cuộc hôn nhân của mình đến hết cuộc đời” (x. http://giadinh.net.vn/gia-dinh/5-su-...6023154820.htm).

wTính cố chấp

Cố chấp là luôn bảo vệ ý kiến riêng chủ quan của mình mà thiếu sự lắng nghe hay quan tâm đến ý kiến của người khác. Nếu một trong hai người hoặc cả hai mà có thái độ cố chấp lâu dài thì hậu quả sẽ khó lường. Bởi lúc đó, chẳng ai nghe ai, ông nói gà bà nói vịt hay trống đánh xuôi kèn thổi ngược! Cuộc sống sẽ mãi mãi là cuộc đối đầu bất phân thắng bại.

Tốt nhất là trong đời sống vợ chồng, hai người thẳng thắn đối thoại và biết lắng nghe nhau. Nhất là giúp nhau nhận ra những gì đúng, những gì sai, những ưu khuyết điểm để có hướng điều chỉnh, sửa chữa. Nếu không, chính sự cố chấp sẽ trở thành một kẻ thù nguy hiểm có sức phá hoại mạnh mẽ mối quan hệ vợ chồng. 

 wNhững bất đồng dai dẳng

Khi ra tòa xin ly hôn, người ta đều nói cách ngắn gọn “Chúng tôi không hợp nhau...”. Thực chất, lý do “không hợp nhau” chỉ là cách nói chung chung. Phải hiểu đó là giữa hai vợ chồng đã từng xảy ra sự không-hòa-hợp về một hay nhiều phương diện nào đó, lớn cũng như nhỏ. Các nhà tư vấn tâm lý hôn nhân gia đình thường đưa ra mấy loại nguyên nhân gây bất hòa, chẳng hạn về tâm lý và tính cách khác biệt, sở thích đối chọi nhau, không cùng quan điểm về cuộc sống và cách giáo dục con cái, nghi ngờ việc vợ hay chồng ngoại tình, trục trặc trong sinh hoạt tình dục vợ chồng.

Dù với lý do nào đi nữa thì với thời gian, những mâu thuẫn sẽ gặm nhấm tình cảm hai người, khiến mối quan hệ vợ chồng luôn căng thẳng và bầu khí trong gia đình trở nên ngột ngạt. Ngạn ngữ có câu, “Lỗ nhỏ đắm thuyền”. Chỉ cần một vài xích mích nhỏ, con thuyền hạnh phúc của vợ chồng có thể chòng chành và có nguy cơ đắm chìm.

Để đề phòng thảm họa do kẻ thù này gây ra, các bạn nên tỉnh táo và tìm cách giảm bớt những mâu thuẫn, bất đồng bằng việc mỗi người tỏ thiện chí muốn cải thiện tình hình. “Yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng“ (Ca dao VN). Hoặc, “Bí quyết lớn nhất  làm cho cuộc hôn nhân thành công, đó là coi tất cả các tai họa là chuyện nhỏ và không bao giờ biến chuyện nhỏ thành tai họa“ (Harold Nichlson). 

wThiếu tin tưởng và tôn trọng nhau

Một nguyên tắc vàng trong đời sống hôn nhân, đó là “Tương kính như tân”. Vợ chồng luôn phải coi nhau những vị khách quý, khách đặc biệt trong cuộc đời của mình. Tôn trọng nhau không phải là tâng bốc nịnh bợ nhau một cách giả đối, mà là tôn kính, tin tưởng nhau với một tình yêu chân thành, tự do và tế nhị…

Ai cũng biết để bảo toàn sự kính trọng và tin tưởng nhau lâu dài trong hôn nhân không phải là chuyện dễ. Bởi sự nhàm chán, va chạm thường ngày khiến người ta có thái độ lờn mặt hay khinh thường nhau. Nhưng nếu yêu nhau thực tình, thì sự tin tưởng và kính trọng nhau sẽ mãi tồn tại. Như một danh nhân có nói: “Nền tảng của tình yêu vợ chồng là yêu kính trân trọng nhau”(Elijah Fenton). Hay có câu: “Yêu là kính, không kính là chưa yêu”. 

wNhững trục trặc về chuyện chăn gối

Chuyện chăn gối vợ chồng được coi là chuyện thầm kín khó nói, nhưng một khi đã xảy ra những trục trặc về chuyện ấy rồi thì chẳng còn giữ kín được nữa. Không nói ra, nhưng cả hai đều hiểu rằng “kẻ thù” của họ lúc này là sự bất-hòa-điệu-tình-dục (sexual disharmony). Lúc đó, nguy cơ đổ vỡ sẽ là chuyện có thể xảy ra. Về chuyện ân ái không hòa hợp, người ta đã nhận định: “Đời sống tình dục của hai bạn khác nhau rất nhiều nhưng hai bạn lại không thể chia sẻ. Tình trạng này làm giảm dần các cuộc ‘yêu’ giữa hai vợ chồng. Khi vấn đề này kéo dài, giữa hai người không có sự liên kết, đồng điệu về tâm hồn, mối quan hệ dần rạn nứt và chuyện ‘đường ai nấy đi’ cũng chẳng còn quá xa vời” (http://ngoisao.net/News/Changnang/2010/07/03).

Quả đúng vậy, trong các đôi vợ chồng, việc xảy ra những trục trặc này nọ liên quan sinh hoạt chăn gối là khá phổ biến. Nguyên do có thể từ phía chàng, cũng có thể từ phía nàng hoặc từ cả hai. Dù xuất phát từ ai thì những trục trặc này cần sớm nhận diện và giải quyết. Đôi khi vợ chồng ngại nói với nhau vì đó là chuyện phòng the, chuyện thầm kín. Nhưng khi xảy ra mâu thuẫn này nọ thì chuyện ấy chẳng còn kín chút nào nữa. Một là hai người ngậm đắng nuốt cay để yên phận, yên lòng. Hai là tìm cách giải quyết theo hướng tích cực. Có khi phải nhờ đến sự trợ giúp của nhà tư vấn tâm lý hay sự can thiệp của y học. 

Thực tế cho biết: “Suy giảm ham muốn tình dục là một trong những vấn đề hay gặp ở phụ nữ. Cuộc sống bận rộn, việc chăm sóc con cái, những căng thẳng, bệnh tật, tuổi tác… là nguyên nhân hàng đầu khiến phụ nữ không mặn mà với ‘chuyện yêu’. Đối với những cặp vợ chồng có cuộc sống tình dục không hòa hợp, đa phần đều do phía nam giới không hiểu và không nắm vững tâm lý tình dục của vợ. Theo các nghiên cứu về tình dục, khoảng 70% cặp vợ chồng thỉnh thoảng gặp một vài trục trặc. Hầu hết phụ nữ không cảm thấy hứng thú tình dục ở một thời điểm nào đó trong cuộc sống…” (http://www.angela.com.vn/sinh-ly-nu/vo-chong-khong-cung-nhip-c2a229.html).

Tốt nhất là vợ chồng cần chia sẻ và cảm thông nhau trong những tình huống “lấn cấn” mà chỉ có hai người mới nhận ra được. Tình yêu và nhu cầu tình dục gắn liền nhau. Tình yêu giúp cho tình dục mặn nồng, và tình dục giúp cho tình yêu thăng hoa, tươi mới. Bất kỳ sự mất-hòa-hợp nào cũng phải trả giá, vì khi “vợ chồng không cùng nhịp và khi “chuyện ấy” không hoà hợp sẽ trở thành một trong những nguyên nhân khiến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt”./.

Aug. Trần Cao Khải

MỘT THOÁNG VỀ EM

Xưa em ngây thơ quá

Em đẹp như thiên thần

Em là nụ hoa xuân

Chưa vương hạt bụi trần.

Thời gian êm đềm trôi

              Rồi em bước vào đời

              Hồn nhiên đâu còn nữa

              Em vương hạt bụi đời.

                             Xuất giá em theo chồng

                             Vui buồn trong cuộc sống

                             Mưa rơi lạnh vào hồn

                             Đời em bao lo toan.

Rồi ai đem hoa sương

Rắc gieo lên mái tóc

Cuộc đời bao vấn vương

Chỉ vì tình yêu thương.

                                                          Thương chồng lo con cháu

                                                          Bình minh đời đã qua

                                                          Chiều tà đang dần xuống

                                                           Dâng về Chúa đời ta.

Song Kiên, Giáo xứ Đài Đức Mẹ

BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO HỌ VÔ NHIỄM, K1A

Ngày 17.7 Đức Cha phụ tá đã về ban Bí Tích Thêm Sức cho 46 em thuộc giáo họ Đức Mẹ Vô Nhiễm kinh 1A. Trong thánh lễ ngài nhắc đến vấn đề di dân với những mặt tiêu cực và tích cực. Có những em phải xa gia đình vì đi học, có những đôi vợ chồng trẻ phải di dân để kiếm sống, phải chịu  nhiều tác động bên ngoài không còn trong vòng tay bao bọc của người thân và giáo xứ, sẽ rất dễ bị lôi kéo vào con đường lầm lạc. Nhưng trái lại, đó cũng chính là những cơ hội mà ta có thể chộp bắt được, nếu mỗi người ý thức rằng mình là muối là men, là người được Chúa Thánh Thần thánh hiến và sai đi, thì đến bất cứ đâu thì tôi cũng có thể là muối là men ướp mặn cho đời  nơi mà tôi đang sống. 


THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ TRINH VƯƠNG, BỜ BAO

Mẹ chính là chiếc cầu nối giữa Thiên Chúa và con người. Đây là điều Đức Cha phụ tá nhắn nhủ với giáo xứ Trinh Vương (Bờ Bao) và cách riêng cho 33 em lãnh nhận bí tích Thêm Sức, cũng như cho 11 em xưng tội rước lễ lần đầu vào ngày 18.7.  Dựa vào đoạn Tin Mừng về tiệc cưới Cana, Đức cha cho thấy Mẹ có một sự quan tâm sâu sắc đến con người, Mẹ quan tâm đến những nhu cầu rất đỗi bình thường của con người, Mẹ thấu hiểu con người để từ đó Mẹ cầu xin cùng Thiên Chúa, và Mẹ trở thành người trung gian đem ơn Chúa đến cho con người, chuyển cầu cho con người những điều mà họ muốn xin cùng Chúa.

 


THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ CẦN XÂY

Ngày 20.7.2014 Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã viếng thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 82 con em trong giáo xứ Cần Xây. 9g30, Thánh lễ bắt đầu, với 28 cha đồng tế. Trong bài giảng, ngài nhấn mạnh tới ơn Chúa Thánh Thần mà mỗi người chúng ta lãnh nhận qua bí tích Thêm sức. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta được canh tân và đổi mới. Ngài cũng mời gọi chúng ta khiêm tốn nhìn lại Đức Tin của mình và đưa ra nhưng bài học để rèn luyện Đức Tin và sống Đức Tin một cách mạnh mẽ. Đó là: cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là bí tích Hòa giải và bí tích Thánh thể.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ THÁNH LINH, KD1

Cách đây không lâu, giáo xứ Thánh Linh đã phải gánh chịu một mất mát to lớn, đó là cha sở GB Trần Quang Trung bị tai nạn. Sau khi ngài qua đời, Đức Giám Mục đã bổ nhiệm cha Đaminh Vũ Hồng Nho làm quản sở. Ngày 22.7.2014, Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã viếng thăm mục vụ và ban bí tích Thêm Sức cho 37 em. Đúng 9g, thánh lễ được bắt đầu, với Đức cha, hai cha quản hạt Vĩnh An, và Vĩnh Thạnh cùng với 25 cha đồng tế. Trong thánh lễ, Đức cha nhấn mạnh tới ơn Chúa Thánh Thần, nhờ đó mỗi người sẽ sống Đức Tin một cách mạnh mẽ hơn và can đảm hơn trong công việc rao giảng Tin Mừng. Chính vì vậy, Đức Tin không phải chỉ là lý thuyết suông, mà phải đưa đến hành động, như lời thánh Giacôbê tông đồ: Đức Tin không có hành động là Đức Tin chết (Gc 2,17).

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ THANH HẢI

Ngày 26.7.2014, lễ thánh Gioakim và Anna, song thân Đức trinh nữ Maria, Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đ về thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 61 em trong giáo xứ Thanh Hải. Đúng 9 giờ, Thánh lễ ban bắt đầu với đoàn đồng tế gồm Đức Giám Mục và 17 Linh mục. Trong bài giảng, Đức Cha đề cập đến tâm tình sống cảm tạ Thiên Chúa cũng như các bậc tiền nhân. Để có những bước tiến đáng kể về kinh tế, văn hoá, tri thức như ngày hôm nay; điều tiên quyết đầu tiên là do ơn Chúa ban và sau đó là những hy sinh to lớn của cha ông đi trước. Qua đó, để tiếp bước cha ông, Đức Cha mời gọi chúng ta tiếp tục chăm lo cho con em chúng ta; luôn cầu nguyện và trở nên gương sáng cho các em trong xã hội mới nhiều thử thách ngày nay.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ BÌNH MINH

Ngày 27.7.2014, Chúa nhật thứ XVII thường niên, cha sở giáo xứ Bình Minh Phêrô Nguyễn Minh Trí đã mời Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu về thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 47 em trong giáo xứ. 9g30, thánh lễ bắt đầu. Đoàn rước gồm Đức Giám Mục, 6 Linh mục và các em sắp lãnh nhận Bí tích Thêm sức tiến vào thánh đường với niềm hân hoan và yêu mến. Trong bài giảng, Đức Cha nhắc lại, Bí tích Thêm sức là bí tích đánh dấu giai đoạn trưởng thành của người Kitô hữu. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu sống, rao truyền Tin mừng cách mạnh mẽ. Đặc biệt, đối với các em sắp lãnh nhận Bí tích Thêm sức. Điều cần hơn cả là ơn khôn ngoan, để biết tìm kiếm kho báu quý giá nhất là chính Chúa.

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ PHÚ HÒA

Ngày 29.7.2014 Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 48 em trong giáo xứ. Nhân dịp này, ngài cũng ban Bí tích Thêm sức cho 38 em thuộc giáo xứ Đền Thánh Giuse. 9g30, thánh lễ bắt đầu. Đoàn đồng tế gồm Đức Giám Mục và 24 Linh mục tiến vào thánh đường. Trong bài giảng, Đức Giám Mục gửi lời thăm hỏi đến mọi người trong 2 giáo xứ, đồng thời thúc giục mỗi người sống Đức Tin mạnh mẽ hơn. Đặc biệt đối với các em sắp lãnh nhận Bí tích Thêm sức, Đức Giám Mục nhắc lại: Bí tích Thêm sức là một trong 3 bí tích khai tâm Kitô giáo. Qua Bí tích Thêm sức các em được nhận lãnh Chúa Thánh Thần, nhờ vậy các em can đảm sống đạo và truyền đạo, làm chứng cho Đức Kitô.

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ GIÁO XỨ KIM AN

Ngày 30.7.2014 Đức Giám mục Phụ tá đã hiện diện cùng với cha sở giáo xứ Kim An để dâng thánh lễ tạ ơn Chúa và khánh thành ngôi thánh đường mới. Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng chính là người bảo trợ cho ngôi thánh đường này và là bổn mạng của giáo xứ. Tuy không nguy nga to lớn như những ngôi nhà thờ khác, nhưng nó lại rất đẹp và ấm cúng. Sự ấm cúng này trước hết xuất phát từ cái tên “Kim An” là sự nối kết giữa hai giáo xứ Kim Phát và An Dũng. Chính trong sự kết nối này, con người hướng đến nhau, sống gần nhau hơn. Đồng thời trong thánh lễ khi chia sẻ với cộng đoàn về dụ ngôn người đi buôn ngọc, Đức Cha cho thấy cuộc đời Thánh Phụng là sự hiệp nhất. Hiệp nhất với các cha trong việc giúp đỡ các nhà truyền giáo đến dâng thánh lễ và giảng dạy lời Chúa giữa thời đạo Công giáo đang bị bách hại. Sau cùng chính khi bị bắt, ngài vẫn hiệp nhất với Chúa Cha trong tình yêu của Chúa Con và ân sùng dồi dào của Chúa Thánh Thần. Ngài đã bán mọi thứ ở trần gian để mua được viên ngọc quý nước trời và ngài đã có được nó. Hôm nay giáo dân ở đây cũng đang sở hữu một viên ngọc quý là chính ngôi thánh đường này, thế nhưng ta có dám đánh đổi tất cả để đến đây xây dựng tình hiệp nhất giữa ta với Người, hiệp nhất trong thẳm sâu chính nội tâm của ta, để từ đó hiệp nhất với Thiên Chúa là cội nguồn của ta hay không? Bên cạnh đó, mỗi khi nghe tiếng chuông nhà thờ này, hãy nhìn lại chính bản thân để noi gương Thánh Phụng, sống chứng  nhân giữa đời và nên dấu chỉ hiệp nhất như KIM AN, tên gọi của giáo xứ.


GIÁO XỨ CÙ LAO GIÊNG MỪNG 155 NĂM TỬ ĐẠO

THÁNH PHÊRÔ QUÝ VÀ EMMANUEL PHỤNG

Ngày 31.7.2014, Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã đến Cù Lao Giêng, để hiệp dâng thánh lễ mừng kỷ niệm 155 năm ngày hai thánh Phêrô Đoàn Công Quý và Emmanuel Lê Văn Phụng được diễm phúc tử đạo. Cơn mưa nặng hạt không thể cản dòng người tín hữu tụ họp về thánh đường Cù Lao Giêng. Hình ảnh đó gợi lại cho chúng ta những gian khổ mà hai thánh xưa đã gánh chịu trên con đường làm chứng cho Đức Kitô. 9g30, Thánh lễ bắt đầu với nghi thức cung nghinh xương thánh. Dưới trời mưa, đoàn rước gồm Đức Giám Mục, 24 Linh mục, đông đảo tín hữu tiến vào thánh đường trong sự trang nghiêm với bài ca khải hoàn. Trong thánh lễ, Đức Giám Mục kêu gọi mọi người hãy nhìn vào gương sáng của hai thánh. Điều chúng ta cần học nơi các ngài là sự khôn ngoan, luôn tìm kiếm kho báu Nước Trời là chính Chúa Giêsu. Kho báu ấy chúng ta thấy được  trong Bí tích Thánh thể, trong Kinh Thánh và trong anh chị em quanh chúng ta.


GIÁO  XỨ CHÂU ĐỐC MỪNG 155 NĂM TỬ ĐẠO

THÁNH PHÊRÔ QUI VÀ EMMANUEL PHỤNG

Sáng thứ năm, ngày 31.7, Đức cha Phụ tá khởi hành tới giáo xứ Châu Đốc, để cử hành Thánh lễ mừng kỷ niệm 155 năm tử đạo của hai thánh Phêrô Đoàn Công Quí và Emmanuel Lê Văn Phụng. Khách hành hương từ khắp nơi đổ về và suốt đêm, mọi người đọc kinh cầu nguyện thật sốt sắng. Vì thời tiết không được thuận lợi, nên không rước kiệu cung nghinh hai Thánh Tử Đạo. Thánh lễ được bắt đầu vào lúc 9g00 có 44 cha đồng tế với Đức Giám mục Phụ tá và hơn 10.000 giáo dân tham dự. Trong bài giảng, Đức Cha nhấn mạnh đây là một cuộc hành hương, chứ không phải là một lễ hội. Chúng ta trở về đây để sống lại niềm tin của cha ông chúng ta thuở trước, trong tâm tình sám hối, chúng ta kín múc nguồn sinh lực thiêng liêng để làm chứng cho Đức Kitô.


THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ CHÁNH TÒA

Vào lúc 16 giờ, ngày 03.8.2014 tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, Đức Giám Mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã dâng thánh lễ và ban Bí tích Thêm sức cho 75 thiếu nhi. Cùng dâng Thánh lễ còn có sự hiện diện của Đức Giám Mục phụ tá và 11 Linh mục đồng tế. Trong bài giảng, Đức Giám Mục đề cập: Thánh lễ Thêm sức là dịp tốt để mỗi người chúng ta ôn lại đời sống đức tin Kitô giáo của mình.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ TRINH VƯƠNG

Vào lúc 9g30, ngày 10.8.2014, Đức Giám mục Giuse Trần Xuân Tiếu đã viếng thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 53 con em thuộc giáo xứ Trinh Vương, do Linh mục Giuse Phạm Xuân Hoàng làm cha sở. Đồng tế với Đức Giám mục còn có  Linh mục tổng đại diện LG Huỳnh Phước Lâm và 12 Linh mục. Lời phát biểu đầu lễ của vị đại diện giáo xứ đã nói lên tâm tình hân hoan thảo kính của những người con khi được đón tiếp người Cha của giáo phận; đồng thời chúc mừng Đức Giám mục nhân dịp kỷ niệm 15 năm giám mục, 40 năm linh mục và 70 năm hồng ân làm người, làm con Thiên Chúa. Trong bài giảng, Đức Giám Mục nhắc nhở mỗi người chúng ta hãy nhớ đến Đức Tin mà chúng ta đã được lãnh nhận qua Bí tích Thánh tẩy, hãy sống Đức Tin mạnh mẽ hơn và giúp các em sắp lãnh nhận Bí tích Thêm sức sống Đức Tin.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ TÂN BÌNH

Ngày 10 tháng 8, Đức Giám mục phụ tá đã viếng thăm mục vụ và ban Bí Tích Thêm Sức 41 em trong giáo xứ Tân Bình. Với bối cảnh kinh Đông Bình, còn được gọi là kinh Phật giáo, có nhà thờ, chùa chiền, Đức Giám mục đã nhấn mạnh đến việc di dân với hình ảnh Đức Kitô. Thực vậy, chính Đức Kitô cũng là một người di dân, Ngài di dân từ trời cao xuống với con người, ở chung với con người, Ngài đi khắp vùng Bắc, Trung, Nam của nước Israel và sau cùng chết ở ngoại thành Giêrusalem. Nơi giáo xứ Tân Bình này cũng thấp thoáng hình ảnh của Đức Giêsu, những con người di dân từ ngoài Bắc vào trong  Nam và sống chung với những người tôn giáo bạn và giờ đây hạt giống đức tin gieo vãi được nảy nở, niềm vui của Tin Mừng được lan tràn nơi chính ngôi thánh đường này. Ông bà của chúng ta đã là những người đi bước trước để đem Tin Mừng đến với mảnh đất này, thì bây giờ mỗi người trong chúng ta cũng được kêu gọi hãy ra đi để tiếp tục đem tin vui đến cho mọi người, với sự nỗ lực của bản thân, đồng thời xin với Chúa Thánh Thần tiếp tục hoạt động, để mỗi người trở thành công cụ của Ngài.

 

 


GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

ĐC PHÊRÔ NGUYỄN VĂN KHẢM ĐƯỢC BỔ NHIỆM LÀM TÂN GIÁM MỤC MỸ THO

Phòng Báo chí Toà Thánh, trong Thông báo ra 26.7.2014, đã loan tin: “Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, cho đến nay là Giám mục hiệu toà Trofimiana và Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Thành phố HCM, làm Giám mục giáo phận Mỹ Tho”. ĐC Khảm sinh tại Hà Đông năm 1952. Đ theo học tại TCV thánh Qúy, Cái Răng, ĐCV Thánh Tôma, Long Xuyên, và ĐCV thánh Giuse Saigòn.  Ngài được thụ phong linh mục ngày 30.8.1980 và đến năm 2008 được bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá TGP Saigòn. Tân Giám mục giáo phận Mỹ Tho đã từng giữ các chức vụ sau: Giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Saigòn. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức Cha Phêrô đã đảm nhiệm các chức vụ: Phó Tổng Thư ký (nhiệm kỳ 2010–2013 và 2013–2016), Chủ tịch Uỷ ban Giáo dục Công Giáo (2009–2010), Chủ tịch Uỷ ban Truyền thông Xã hội (nhiệm kỳ 2010–2013).

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

CHƯƠNG TRÌNH VIẾNG THĂM ALBANIA CỦA ĐTC

WHĐ – Ngày 31.7, Toà Thánh đã công bố chương trình chuyến viếng thăm Albaniacủa ĐTC Phanxicô, sẽ diễn ra vào ngày 21.9.2014. Đây là chuyến thăm thứ hai của một vị Giáo hoàng đến Albania, sau chuyến viếng thăm của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1993.Sau khi máy bay chở ĐTC hạ cánh tại sân bay quốc tế Mẹ Teresaở Tirana, ĐTCsẽ được Thủ tướng Albania Edi Ramachào đón. Từ sân bay, ĐTCsẽ đến Dinh Tổng thống để thăm xã giao Tổng thống Bujar Nishani; sau đó, ngài sẽ gặp gỡ các đại diện của chính quyền dân sự. Cao điểm của chuyến tông du là Thánh Lễ tại quảng trường Mẹ Teresa, tiếp theo là buổi đọc kinh Truyền Tin. Sau Thánh lễ, ĐTCsẽ gặp gỡ các giám mục Albania trong bữa ăn trưa tại Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh. Buổi chiều, ĐTCsẽ gặp các vị lãnh đạo của các tôn giáo khác và các giáo phái Kitô giáo tại Đại học Công giáo “Đức Mẹ chỉ bảo Đàng lành”. Buổi tối Đức Thánh Cha đến Nhà thờ chính toà Thánh Phaolô để cử hành giờ Kinh chiều với các linh mục, nam nữ tu sĩ, chủng sinh, và các thành viên của nhiều phong trào giáo dân. Sự kiện cuối cùng trong chuyến tông du kéo dài một ngày với lịch làm việc dày đặc là gặp gỡ các trẻ em thuộc Trung tâm Betania, cùng với các đại diện của các tổ chức bác ái khác của Albania.

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

 

GIÁO XỨ THẠNH AN

Địa chỉ: Nhà thờ Thạnh An 26A Phụng Quới A,

Thị trấn Thạnh An, Huyện Vĩnh Thạnh, Tp. Cần Thơ.

ĐT: 07103856.111.

 

 

1. Lịch sử hình thành & phát triển: Năm 1959, số giáo dân lúc thành hình có khoảng 100 người, dựng lên một nhà nguyện bằng tre lá. Năm 1961 cha Stêphanô Nguyễn Đức Do được Bề Trên sai đến mở trường học và phụ trách họ đạo. Năm 1975 số giáo dân có khoảng 500 người. Năm 1977 có khoảng 650 người. Hiện tại có 680 hộ số giáo dân là 3000 người.

2. Nhà thờ: xây dựng & chỉnh trang:

- Năm 1960, nhà thờ bằng tre lá.

- Năm 1970, xây lại nhà thờ.

- Năm 1990, tu sửa nới rộng.

- Năm 2003 Đặt móng khởi công nhà thờ mới. Khánh thành

 ngày 28-4-2007.

- 24-2-1013 Lễ đặt viên đá đầu tiên xây nhà thờ Cống 16,

 trong giai đoạn hoàn thành.

3. Các linh mục coi sóc:

* 1963-1977: Chánh xứ: Cha Stêphanô  Nguyễn Đức Do,

 với các cha phó:

- Cha Antôn Nguyễn Đình Hân (1973-1974)

- Cha Phêrô Dương Đình Tảo (1975-1977)

* 1977-2004: Chánh xứ: Cha Phêrô Dương Đình Tảo, với

 các cha phó:

- Cha Phêrô Lã Văn Cường (1993-2000)

- Cha Giuse Nguyễn Minh Nam (2000-2002)

- Cha Giuse Nguyễn Văn Tự (2003-2004)

- Cha Giuse Trần Thành Thái (2004)

* 2004-2009: Chánh xứ: Cha Đaminh Vũ Hồng Nho, với các

 cha phó:

- Cha Giuse Trần Thành Thái (2004-2005)

- Cha Hiêrônimô Vũ Văn Tác (2005-2006)

- Cha Gioan B. Trần Kim Tuyến (2006-2009)

* 2009-nay: Chánh xứ: Cha Phêrô Bùi Duy Tân, với các cha

 phó:

- Cha Gioan B. Trần Kim Tuyến (2009-2010)

- Cha Phêrô Vũ Quang Tấn (2010- nay)

- Cha Vinh sơn Vũ Tiến Dũng (2011-2013)

- Cha Giuse Đỗ Trọng Bình (2013-nay)

4. Những đặc điểm:Một số nhóm cầu nguyện, Dòng Ba Đaminh, Gia đình Tận hiến Đồng Công, Gia trưởng, Hiền mẫu, Chia sẻ Lời Chúa, Tác viên Tin Mừng, Giáo lý viên, cộng tác trong việc mục vụ truyền giáo.

5. Các cơ sở: trường học, nhà trẻ, lưu xá :

- Nhà nội trú cho nam sinh cấp 3 (1995-2004)

- Nhà nội trú cho nữ sinh cấp 3 (2010-nay)

- Sân thể dục thể thao

- Có các Lớp Organ, Thanh Nhạc, Anh văn và Tin Học cho

 thiếu nhi và bạn trẻ.

6. Tu sở: Dòng Chúa Quan Phòng và Dòng Đức Bà cộng tác trong việc xây dựng giáo xứ.

 

 

 

 

 
 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 10&11.2014

NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI

CHỦ ĐỀ THÁNG 12.2014

GIÁNG SINH

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.gplongxuyen.org

Đa tạ.

 

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1108
Tất cả: 45,856,409