Tĩnh tâm tháng 08 năm 2014

TĨNH TÂM

THÁNG 8 NĂM 2014

 

 

 

NGƯỜI VỢ THÁNH THIỆN ĐOAN TRANG

LÀ ÂN HUỆ TUYỆT VỜI.

 (Hc 26, 19)

 

TÌM BÀI

 

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 8 năm 2014

 

TRONG GIA ĐÌNH GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

CÁC LINH MỤC CÙNG ĐỒNG HÀNH

 

***

Anh chị em thân quý!

Các giám mục chúng tôi xin gửi đến cộng đoàn dân Chúa trong giáo phận lời chào thân ái, cùng với lời cầu chúc bình an của Chúa Kitô. Chúng tôi đặc biệt xin gửi đến các anh em linh mục yêu quý của chúng tôi sự quý trọng, niềm tin tưởng và sự hiệp thông phục vụ dân Chúa.

Chủ đề của thư mục vụ tháng Tám trong năm Phúc Âm Hóa Gia Đình là Trong gia đình giáo phận, các linh mục cùng đồng hành.

Rút ra từ Tông huấn “Niềm Vui của Tin Mừng” của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta có thể phát hiện ra 3 hiện tượng tôn giáo đang xảy ra trong các cộng đoàn giáo xứ, giáo họ và dòng tu của giáo phận. Các hiện tượng này được coi như những dấu chỉ để các linh mục trong giáo phận sống ơn gọi linh mục của mình và thi hành tác vụ linh mục giữa, với, và cho cộng đoàn dân Chúa.

1- Hiện tương 1: Đời sống thiêng liêng của nhiều Kitô Hữu đang suy thoái đến mức độ sống đạo chỉ còn là thực hành một số sinh hoạt đạo đức như một thói quen hay như một bổn phận phải thi hành. Hiện tương này biểu lộ một đời sống nội tâm hời hợt trong tương quan với Thiên Chúa, đang trở nên ngày càng nguội lạnh hơn trong kinh nguyện, và rất có thể trở thành chai lì trước ý muốn Thiên Chúa. Hệ quả là người Kitô hữu dễ dàng chạy theo lối sống trần thế. Có những người tích lũy của cải vật chất và tìm ở đó sự an toàn giả tạo cho cuộc đời. Có những người ước muốn quyền thế và danh vọng hão huyền bằng bất cứ giá nào. Cũng có những người chọn sống một cuộc sống thụ hưởng những thú vui chóng qua. 

Sống trong bầu khí tiêu cực trên, các linh mục vừa phải tỉnh thức và thận trọng để giữ mình khỏi sự tục hóa ơn gọi và tác vụ linh mục, vừa phải ý thức cao về trách nhiệm sống siêu thoát và làm chứng cho những giá trị thánh thiêng giữa trần thế. Điều này đòi hỏi các linh mục luôn nhớ rằng, đôi tay mình đã được xức dầu thánh để chu toàn những tác vụ thánh giữa cộng đồng dân thánh của Thiên Chúa. Noi gương thánh Gioan Maria Vianney, bản thân các linh mục, và cùng với cộng đoàn, cần tập trung vào bí tích Thánh Thể và bí tích Hòa Giải như những phương thế hữu hiệu cho linh mục và giáo dân cùng đồng hành trên con đường sống ơn gọi “Hãy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện”.

2- Hiện tương 2: là sự phân hóa trong nội bộ cộng đoàn. Có thể đã xẩy ra những tranh chấp trong cộng đoàn vì ghen tương và đố kỵ. Có ghen tương và đố kỵ trong cộng đoàn thường là vì có những cá nhân muốn tìm kiếm quyền lực, uy tín, thụ hưởng, và lợi nhuận bất chấp sự công bằng và bác ái. Từ đó tạo ra phe nhóm cạnh tranh vì lợi ích trần thế. Cũng từ đó tạo nên những thương tổn trong các tương quan.

Hai (02) điều ta cần quan tâm. Một đàng, hãy cảnh giác trước những cám dỗ của đố kỵ, tránh những thái độ dung dưỡng sự chia rẽ, vu khống, nói xấu, oán thù… Tích cực hơn, linh mục và cộng đoàn cần cống hiến những chứng tá rực sáng và hấp dẫn về tình hiệp thông huynh đệ. Như trên một con thuyền cùng hướng về bến bờ, mỗi người là vì mọi người. Mọi người là của mỗi người. Đàng khác, mỗi người và mọi người cần hoán cải với sự tha thứ và hòa giải về những quá khứ chia rẽ trong các tương quan.

Hiện diện giữa công đoàn như một tác nhân xây dựng sự hiệp thông, các linh mục trở thành là dấu chỉ cho tình yêu, sự bao dung, và lòng tha thứ. Noi gương thánh Gioan Maria Vianney, các linh mục sống khiêm tốn; khiêm tốn giữa cộng đoàn dân Chúa; khiêm tốn trong tương quan với bề trên giáo phận và với anh em linh mục. Để xây dựng sự hiệp thông cộng đoàn, Linh mục và giáo dân đều là học trò của Chúa Giêsu: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”

3- Hiện tương 3: Giáo dân mãi mãi là thành phần đa số trong Giáo Hội. Còn các linh mục là thành phần thiểu số, với ơn gọi và tác vụ, các linh mục là để phục vụ giáo dân. Hơn nữa, hoàn cảnh di dân vì nhiều lý do đang ảnh hưởng trực tiếp trên các sinh hoạt mục vụ và truyền giáo của các cộng đoàn trong giáo phận. Chính vì thế, giáo dân cần được mời gọi, được huấn luyện, và được tin tưởng để họ cũng có thể ý thức về phẩm giá và vai trò của họ trong một Giáo Hội “tham gia, hiệp thông, đồng trách nhiệm vì sứ vụ”.

Cụ thể hơn, phụ nữ, người già và giới trẻ cần được các linh mục phụ trách cộng đoàn quan tâm đặc biệt. Thật vậy, với sự nhạy cảm, trực giác, và các năng khiếu đặc trưng của mình, người phụ nữ trong cộng đoàn thường quan tâm đến người khác và biểu lộ sự phục vụ với tình mẫu tử; nhờ đó, cộng đoàn được tô đậm nét yêu thương và phục vụ. Những người già là một kho tàng quý hiếm, cống hiến cho cộng đoàn ký ức và khôn ngoan của kinh nghiệm để cảnh giác cộng đoàn đừng lặp lại những lỗi lầm của quá khứ. Trong khi đó, giới trẻ trong cộng đoàn kêu gọi sự đổi mới, mở rộng niềm hy vọng, và mời gọi ta hướng về tương lai.

“Hiệp nhất trong đa dạng” là một thách đố mục vụ của các linh mục phụ trách cộng đoàn. Noi gương thánh Gioan Maria Vianney khi nhận giáo xứ Ars, hàng giáo sĩ trong giáo phận sẽ đón nhận cộng đoàn như những người thân trong gia đình của Thiên Chúa. Với tinh thần trách nhiệm của người cha, người thầy, người bạn đồng hành đối với cộng đoàn, và sẵn lòng đón nhận một cuộc sống khổ chế hy sinh vì đoàn chiên, các linh mục sẽ đối diện với những thách đố để vượt qua với sự táo bạo, dấn thân, và lạc quan, vì có Chúa Thánh Thần cùng hoạt động trong cộng đoàn.

Anh chị em thân mến,

Ngày 4/8, lễ thánh Gioan Maria Vianney, bổn mạng của các linh mục, xin anh chị em tu sĩ và giáo dân cầu nguyện cho chúng tôi, các linh mục và giám mục của anh chị em, được noi gương thánh Vianney tại giáo xứ Ars, là hiện diện giữa anh chị em, sống với anh chị em, và cộng tác với anh chị em; chúng ta đang đồng hành trong cuộc hành trình thiêng liêng, như những anh chị em con cùng một Cha trong gia đình của Thiên Chúa. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

 

+ Giuse Trần Văn Toản

Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Long Xuyên

 

 

 

 

 

 

 

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

 

NGUY CƠ DO KHÔNG NHÌN

VÀ KHÔNG THẤY TAI HOẠ SẮP TỚI

 

1.

“Người mục tử nhìn giáo phận của mình bằng ánh sáng đức tin, phải chống lại cơn cám dỗ ‘không nhìn, không thấy’. Từ chối nhìn, đó là điều Chúa Giêsu khiển trách nặng nề các người biệt phái và các luật sĩ. Họ đã mù quáng cố chấp dưới nhiều hình thức”. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói những lời trên đây, lúc còn là Hồng Y Giáo chủ tại Buenos Airs (25.8.2011).

2.

Xét mình, tôi nhận thấy tôi cũng hay bị cám dỗ “không nhìn, không thấy” điều gì xấu trong giáo phận và trong Hội Thánh tại Việt Nam cả. Thế là ảo tưởng để an phận. Cứ chủ quan cho mọi sự đều ổn định, đều tương đối tốt cả. Thế là xong. Nhưng Chúa không cho là xong. Trái lại, trốn tránh nhìn và thấy những điều sai trái trong lãnh vực mình phụ trách, chính là một tội.

3.

Nhận thức như thế theo lời khuyên của Đức Thánh Cha Phanxicô, tôi đã dùng ánh sáng đức tin, để nhìn và thấy tại Hội Thánh Việt Nam nói chung và tại giáo phận tôi nói riêng. Tôi thấy tình hình là không ổn định lắm đâu. Hơn thế, có những nơi, nguy cơ bị Chúa ruồng bỏ đang tới gần kề.

4.

Thực vậy, Chúa cho tôi thấy cảnh Sôđôma và Gômôra xưa sắp tái diễn ở nơi này nơi nọ, cách này hay cách khác. Nếu “không tìm được 10 người công chính trong thành” (x. St 18,32).

Hồi đó, đang khi hầu như mọi người trong thành Sôđôma, Gômôra và các vùng phụ cận đều vui vẻ trong đàng tội, thì lửa từ trời xuống đốt, phá hết mọi sự. Họ không nhìn, không thấy nguy cơ, để sám hối. Nên khi lửa ập tới, họ bị thiêu đốt.

Nay, nhiều nơi cũng sẽ như vậy, nếu không thấy nguy cơ, để sám hối.

5.

Chúa cũng cho tôi thấy những lời của tiên tri Amos sau đây đang được thực hiện ở nơi này nơi nọ tại Việt Nam hôm nay:

“Ta khinh ghét và chê bỏ những ngày lễ trọng của các ngươi.

“Ta không thèm ngửi mùi hương trong các ngày hội của các ngươi.

“Nếu các ngươi dâng cho Ta của lễ toàn thiêu và phẩm vật, Ta sẽ không chấp nhận.

“Ta cũng không nhìn đến các lễ khấn tốt đẹp của các ngươi, ngươi hãy mang đi cho xa Ta giọng hát lời ca của ngươi.

“Ta sẽ không nghe tiếng đàn cả của ngươi” (Am 5,21-24).

Xưa, thời tiên tri Amos, dân Chúa cũng đã có những lễ lạy tưng bừng, nhưng Chúa thấy chỉ là hình thức phô trương, nên Chúa ruồng bỏ, để sau đó bị hình phạt trút xuống. Nay nhiều nơi cũng vậy. Khi hình phạt trút xuống, thì chúng ta sẽ rất khổ.

6.

Chúa cũng cho tôi thấy cảnh đền thờ nơi này chỗ nọ sẽ bị phá như lời Chúa phán xưa với các môn đệ: “Khi Đức Giêsu từ Đền thờ đi ra, thì các môn đệ của Người lại gần chỉ cho Người xem công trình kiến trúc của Đền thờ. Nhưng Người nói: Anh em nhìn thấy tất cả những cái đó, phải không? Thầy bảo thật anh em: Tại đây sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào. Tất cả đều sẽ bị phá đi” (Mt 24,1-2).

Xưa, dân Chúa rất tự hào về đền thờ của mình, tưởng đó là công trình được Chúa bảo vệ. Nhưng, Chúa đã để đền thờ đó bị phá một cách thảm thương, do tội lỗi của dân. Nay nhiều đền thờ cũng đang đợi số phận đó. Sao ta không nhìn thấy trước.

7.

Không nhìn và không thấy tai hoạ sắp xảy ra cho mình, đó là một nguy cơ rất lớn. Do đâu chúng ta không nhìn và không thấy? Dưới đây là một số nhận xét của các nhà tu đức.

8.

Thứ nhất là thói quen không đặt mình vào những bổn phận thực sự của mình, nhưng lại hăng hái ràng buộc mình vào những bổn phận giả và những quyền lợi giả, rồi lao mình theo hướng đó một cách hăng say. Để rồi ghen tương với những ai luôn trung thành với những bổn phận thực sự của mình. Do đó, mà ghen tương và dối trá khiến họ không nhìn, không thấy sự thực.

9.

Thứ hai là thói quen thiếu vắng đời sống nội tâm, không biết phân biệt việc gì là có giá trị Phúc Âm, việc gì không có giá trị đó, nhưng việc gì cũng coi như nhau. Do đó, họ không nhìn, không thấy.

 

10.

Thứ ba là thói quen chấp nhận lối sống mất định hướng nội tâm, để mình bị lôi cuốn vào những sức mạnh trực tiếp, do tính xấu, do dư luận, do ma quỷ.

11.

Thứ bốn là thói quen sống cuộc đời đầy mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm, và giữa những việc làm với nhau. Nơi họ có một sự mất trật tự trong hoạt động, trong lời nói, trong tình cảm.

12.

Thứ năm là thói quen tự hào mình là người thánh thiện, do tuân giữ những luật lệ nhất định, do tin tưởng vào những khuôn đạo đức nhất định. Họ giống như phần đông các người đứng đầu đạo cũ thời Chúa Giêsu.

Sự tự đắc của họ làm cho họ không sao nhìn thấy nguy cơ gây nên do sự tự đắc đó.

Nay cũng vậy. Nhiều người tự đắc cho mình là kẻ ban phát sự thánh thiện, nên thiếu sự khiêm nhường và nghèo khó nội tâm. Do đó trở nên mù quáng, và nô lệ chính sự tự đắc của mình.

13.

Câu hỏi cần đặt ra ở đây là làm thế nào, để ta nhìn và thấy?

Thưa cách tốt nhất và duy nhất tốt, đó là nghe lời Chúa và thực thi lời Chúa, mà ở lại trong Chúa: “Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

“Ở lại trong Chúa” không phải là chuyện chỉ do chúng ta muốn mà được, mà chủ yếu là do Chúa Thánh Thần tác động trong chúng ta.

Rất nhiều khi, để ở lại trong Chúa, tôi được Chúa Thánh Thần dẫn đưa tôi đi gặp những con người, để phục vụ họ, để cứu họ, để chia sẻ với họ. Đến nỗi, có thể nói: Chính sự yêu thương con người lại là dấu chỉ của sự tôi ở lại trong Chúa, như lời Chúa phán: “Người ta cứ dấu này, mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con” (Ga 14,35).

14.

Tôi có cảm tưởng là sẽ có ngày chúng ta bị đưa vào một hoàn cảnh khó khăn với nhiều thử thách đau đớn. Chúng ta xin Chúa thương chuẩn bị cho chúng ta, ngay từ bây giờ, biết một đàng gắn bó chặt chẽ với Chúa, một đàng biết biết yêu thương mọi người như Chúa yêu thương. Tắt một lời là chúng ta sẵn sàng làm của lễ hy sinh với tất cả tinh thần khiêm tốn, từ bỏ và phó thác.

Trong hoàn cảnh khó khăn với nhiều thử thách đau đớn, chúng ta sẽ không còn được giữ đạo và làm chứng cho Chúa một cách nhàn hạ và với một cách dành cho những thành phần ưu tú nữa. Nhưng sẽ rất khiêm tốn, khó nghèo như một kẻ nghèo hèn. Một tay nắm chặt lấy Chúa, một tay nắm chặt lấy cộng đoàn những người thiện chí.

Lạy Chúa, xin thương giúp con biết nhìn, biết thấy những thử thách sắp tới.

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy niệm Chúa Nhật XVIII Thường Niên, A

Is 55,1-3; Rm 8,35.37-39; Mt 14,13-21

BẺ NÁT CUỘC ĐỜI VÌ YÊU

 

Một lần kia, Chúa Giêsu vào hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết thì đi theo Ngài. Họ theo Chúa đông lắm. Hơn năm ngàn người! Đến chiều, dẫu đã đói, họ vẫn cứ theo. Vì thương đám đông, nên Chúa Giêsu đã làm phép lạ để nuôi sống họ. Tin Mừng kể rằng: Chúa cầm bánh và cá mà các môn đệ mang đến, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, rồi trao cho các môn đệ, để các ông phân phát cho đám đông. Thế là một phép lạ phi thường đã xảy ra. Chỉ một hành động bẻ ra đã trở nên lương thực nuôi một đám người không thể tưởng tượng: Trên năm ngàn người ăn mà vẫn dư! Nhưng phép lạ ấy không thuộc về quá khứ. Ngày hôm nay, để nuôi linh hồn, nuôi đời sống thiêng liêng của ta, Chúa vẫn bẻ chính cuộc đời Ngài, bẻ chính thân xác Ngài.

Là Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã tự hạ mình làm người ngang hàng với ta. Đó không phải là một sự bẻ ra hay sao? Bị thù nghịch, bị giết chết, chết ô nhục như một tên tử tội, chết tức tưởi trên cây gỗ giá. Đó không phải là một sự bẻ ra đó sao? Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu là tấm bánh nuôi sống linh hồn ta. Đó cũng chính là sự tự bẻ mình ra.  Mãi mãi Chúa Giêsu là Thiên Chúa tự bẻ chính mình, bẻ chính cuộc đời, bẻ chính sự sống của Ngài cho ta, vì ta và yêu ta.

Trong mỗi Thánh Lễ, linh mục chủ tế sẽ bẻ tấm bánh mà mọi tín hữu đều tin đó là Mình Thánh Chúa. Chủ tế nâng cao Mình Thánh và nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”. Dấu chỉ bẻ Mình Thánh từ tay linh mục là dấu chỉ Chúa Giêsu tự bẻ chính mình trong Bí tích Thánh Thể. Thánh Thể là lời nói chung quyết, mạnh mẽ của tình yêu, là sự bẻ ra tuyệt đỉnh, mà chỉ có một mình Chúa chúng ta mới làm như thế. Ngài bẻ nát cuộc đời Ngài ra, vì Ngài yêu ta không bờ bến.

Sau khi đã tôn vinh Mình Thánh Chúa trên tay, chủ tế còn mời gọi: “Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Tự hỏi lòng mình: Ta có yêu mến Chúa Giêsu không? Nếu yêu mến, ta hãy cung kính rước Chúa vào tâm hồn mình. Nếu biết mình bất xứng, hãy lo xưng tội và rước Chúa. Khi đến nhà thờ, chúng ta cùng vào trong nhà thờ dự lễ sốt sắng, dự lễ trọn vẹn từ đầu đến cuối. Đó cũng là dấu chứng tỏ lòng mến của ta đối với Bí tích Thánh Thể. Lễ xong, ta ngồi lại năm ba phút để cầu nguyện cho nhau, cho gia đình, cho bản thân, hay để cảm tạ Chúa. Đó cũng là dấu chứng tỏ lòng mến của ta đối với Bí tích Thánh Thể.

Chúa đã bẻ cuộc đời của Ngài ra. Đó là sự tự xóa mình, là tình cho không biếu không. Tại sao ta lại không đón nhận? Ngài xóa mình để làm bằng chứng tình yêu. Tại sao ta lại từ chối tình yêu đó? Hôm nay, nhân đọc bài Tin Mừng về việc Chúa bẻ bánh và cá, làm phép lạ nuôi dân, ta hãy suy nghĩ về Bí tích Thánh thể, để thêm lòng yêu mến Ngài.

Ước gì từ hôm nay, mỗi lần đến nhà thờ, ta bước vào trong nhà thờ, dự lễ trang nghiêm, trọn vẹn và sốt sắng. Ước gì trong từng Thánh Lễ, ta luôn cảm nghiệm thấy tình Chúa thương ta. Đồng thời ta hãy quyết tâm đền đáp tình yêu Chúa bằng cách quảng đại bẻ nát cuộc đời mình ra cho những người chung quanh, noi gương Chúa. Lạy Chúa! Xin cho con là tấm bánh được bẻ nát ra vì anh em con.

 

Suy niệm Chúa Nhật XIX Thường Niên, A

1V 19, 9. 11-13; Rm 9, 1-5; Mt 14, 22-23

LẠY THẦY, XIN CỨU CON

 

Có lẽ chẳng bao giờ ta có được kinh nghiệm như ông Phêrô bước đi trên mặt nước mà đến với Chúa Giêsu. Nhưng trong cuộc đời theo Chúa của mình, chắc chắn ai cũng gặp hoàn cảnh tương tự như ông Phêrô: Cảm thấy mình bị chìm xuống vì gió đời thổi mạnh.

Lý do ta chìm xuống dòng đời cũng giống hệt với lý do của Phêrô, vì mỗi người đều mang trên mình thân phận yếu đuối. Đời của thánh Phêrô đã nếm đủ thứ yếu đuối. Nào là chìm xuống, ngã xuống và cả phản bội nữa. Cho dù tận thâm sâu tâm hồn của Phêrô luôn vùng dậy một ý chí cương quyết không chịu ngã thua: “Lạy Thầy, dù mọi người bỏ Thầy, con đây cũng không bỏ Thầy!” Cho dù Chúa đã cho Phêrô biết trước “ngay đêm nay trước khi gà gáy, thì con đã chối Thầy ba lần!” Vậy mà ông vẫn thản nhiên chối Thầy.

Từ kinh nghiệm ngã xuống, chìm xuống và phản bội của Phêrô, ta rút ra được bài học gì trong cuộc đời theo Chúa của mình? Tôi nghĩ, mỗi người đều có những kinh nghiệm sa ngã rất riêng tư mà mình cảm nhận được. Chẳng sa ngã nào giống sa ngã nào. Chẳng ai giống ai. Mỗi người một tâm trạng, một hoàn cảnh rất riêng tư. Nhưng mẫu số chung của mọi người vẫn là sự yếu đuối.

Thực vậy! Lúc đầu Phêrô rất cương quyết làm ngược lại sự yếu đuối của mình. Ông xin được đi trên mặt nước mà đến với Chúa. Nhưng vì quá tin vào sức riêng mình, nên Phêrô đã ngã xuống, đã chìm xuống. Khởi đầu khi đi trên mặt nước đến với Chúa, Phêrô còn vững tin vào Lời Chúa, nhưng chỉ vài phút sau, ông từ từ chìm xuống vì sợ hãi sóng gió, vì sự yếu đuối của bản thân.

Đó chính là kinh nghiệm yếu đuối của con người. Thực vậy, sự sợ hãi là tâm trạng đến rất bất ngờ, làm ta không kịp phản ứng tích cực. Còn sự yếu đuối thì có thể làm cho lòng tin của ta ra suy yếu! Khi Phêrô chối Chúa, là lúc ông cảm nghiệm sự sợ hãi nhiều hơn. Không phải ông sợ người đầy tớ gái, mà đúng hơn là ông sợ mình bị bắt, sợ mình sẽ chết như Thầy. Cứ thế, sự sợ hãi len lén đi vào trái tim ông, khuấy nát tâm hồn ông, làm cho ông mất hết niềm tin yêu nơi Chúa.

Rút kinh nghiệm sự yếu đuối của Phêrô, ta hãy biết kêu lên như Phêrô: “Lạy Thầy, xin đến cứu con!” Hoặc là ta hãy dám nhìn vào ánh mắt đầy yêu thương của Chúa Giêsu, khi thấy mình đã lầm lỡ sa ngã. Giây phút ta thấy mình yếu đuối sa ngã, là giây phút rất quan trọng, để ta cảm nhận tình thương Chúa. Nếu ta vừa sợ hãi, vừa thất vọng, thì ta sẽ rất khó trở về với Chúa. Vì thế, sự trở về với Chúa vừa là tác động tình thương của ơn thánh Chúa, vừa nhờ vào quyết tâm muốn chỗi dậy trở về của mỗi người. Hành động này không ai có thể làm thế cho ai. Nếu ta bắt chước thánh Phêrô, biết kêu lên khi mình yếu đuối: “Lạy Thầy xin đến cứu con”, chắc chắn Chúa sẽ đưa bàn tay thương yêu trìu mến ôm trọn lấy ta vào lòng nhân từ của Ngài.

Ước gì ta hãy vững tâm trước các kinh nghiệm yếu đuối của mình. Đừng sợ mình yếu đuối, vì mỗi sóng gió cuộc đời sẽ là một cơ hội tốt, để ta nhận ra tình thương bao la hải hà của Chúa. Chính Chúa đang nói với ta: “Hãy an tâm, Thầy đây. Đừng sợ!”

 

Suy niệm Chúa Nhật XX Thường Niên, A

Is 56,1,6-7; Rm 11, 13-15.29-32; Mt 15, 21-28

MỘT NIỀM TIN SON SẮT

 

Lời Chúa hôm nay tường thuật về cách thức biểu lộ niềm tin chân thành của một phụ nữ ngoại đạo miền Canaan. Bà là người ngoại đạo, nhưng lại kêu cầu Chúa là Con Vua Đavít. Nghĩa là bà tin Chúa Giêsu là Đấng phải đến trong thế gian. Nhưng đối với Chúa Giêsu, nếu chỉ có niềm tin chân thành mà thôi, thì vẫn chưa đủ để nhận được ơn lành của Chúa, mà còn phải kiên nhẫn, phải khiêm tốn, nhất là phải có một niềm tin tuyệt đối vào Đấng mà mình kêu xin. Theo dõi bài Tin Mừng, ta nhận thấy người phụ nữ Canaan này đã trải qua những giai đoạn cần thiết đó:

Thứ nhất: Niềm tin của bà rất kiên nhẫn. Xin lần thứ nhất chưa được, bà liền xin lần thứ hai; và mãi cho tới lần thứ ba, bà mới được toại nguyện.

Thứ hai: Niềm tin của bà thật cảm động. Bà quá khiêm tốn trước mặt Chúa. Bà chỉ ao ước nhặt từng mảnh vụn ơn thánh rơi rớt của những người con Chúa, vì bà biết mình không xứng đáng được ơn. Bà không dám nghĩ mình được tắm trong biển cả yêu thương của Chúa, nhưng chỉ cần một giọt thánh ân trong biển lòng thương xót của Chúa thôi, thì cũng có thể cứu sống đứa con của bà. Niềm tin của bà thật cảm động.

Thứ ba: Niềm tin của bà rất tuyệt đối. Không gì có thể lay chuyển! Cho dù trước đó là thái độ xua đuổi khéo léo của các môn đệ và nhất là sự lạnh lùng của Chúa Giêsu, bà vẫn không bỏ cuộc. Bà vẫn một lòng tín thác vào Chúa đến độ Chúa phải ca tụng bà: “Đức tin của bà thật lớn lao. Bà muốn sao được vậy”. Và phép lạ đã diễn ra bởi lòng tin của một người mẹ hết mình vì con.

Như thế, lòng tin là điều kiện cần thiết để Chúa thi thố tình thương của Ngài. Lòng tin càng lớn thì ân ban càng nhiều. Lòng tin càng được tôi luyện trong gian nan thử thách, thì càng thấy rõ hơn tình thương của Chúa. Lòng tin này đã được thánh nữ Monica thực hiện suốt 18 năm trời. Hằng ngày bà khóc lóc, ăn chay và hãm mình. Người đời nhìn bà là một phụ nữ bất hạnh, vì chồng khô khan, vì con truỵ lạc. Đã có lần đức tin của bà bị lung lay. Bà muốn bỏ cuộc, nhưng thánh Ambrosio đã nói với Monica: “Bà hãy yên trí, đứa con của biết bao giọt nước mắt sẽ không thể nào hư mất”. Nhờ niềm tin của Monica, Thiên Chúa đã thay đổi phận số của người con. Augustinô đã từ bỏ con đường tội lỗi để sống đời thánh thiện. Thánh nhân đã bỏ con đường công danh để tận hiến cho Thiên Chúa. Thánh nhân đã không tìm kiếm thú vui thể xác, nhưng tìm kiếm hạnh phúc Nước Trời.

Cuộc đời hôm nay vẫn còn rất nhiều người đang cạn kiệt nước mắt. Biết bao người mẹ đang khổ vì chồng, vì con. Biết bao gia đình quá cơ cực, vì một thành viên bước vào con đường truỵ lạc. Biết bao cơn bệnh hiểm nghèo đang dần dần cướp đi sinh mạng của những người ta thương mến, v.v...

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta: Hãy tin tưởng cầu xin giữa thử thách gian nan. Thiên Chúa vẫn hiện diện bên ta. Thiên Chúa vẫn đang chờ một lời kinh, một lời cầu của ta. Thiên Chúa cần lòng tin và sự khiêm tốn của ta. Tuy Thiên Chúa có thể làm được mọi sự theo ý Ngài muốn, nhưng xem ra Ngài lại bất lực trước sự cứng lòng tin của con người.

 

Suy niệm Chúa Nhật XXI Thường Niên, A

Is 22,19 -23; Rm 11,33 -36; Mt 16, 13 – 20

CHÚA GIÊSU LÀ AI?

 

Ngày ấy Thầy trò Đức Giêsu đi bên nhau, nói chuyện tâm tình. Ngài tế nhị dẫn dắt và nhắc nhở các môn đệ bằng những câu hỏi, để gây ý thức nơi các ông. Trước hết, Ngài nói: "Người ta nghĩ Thầy là ai?" Rồi dần dần Ngài dẫn các ông đến câu hỏi quan trọng nhất, xác tín nhất: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Ông Phêrô đáp: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đó chính là lời tuyên xưng hùng hồn nhất, sâu sắc nhất và trang trọng nhất. Chúa Giêsu có thể tự giới thiệu về mình, tự nói lên căn tính của mình. Nhưng Ngài đã không làm như thế. Chúa muốn người môn đệ phải tự khám phá ra Ngài. Chúa muốn lời tuyên xưng của người môn đệ phải phát xuất từ nỗ lực tìm hiểu, phải cảm nghiệm ra Ngài trong cuộc sống.

Là môn đệ của Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta cũng phải trực tiếp trả lời câu hỏi này bằng đức tin của chính mình. Ta phải biết căn tính của Thầy mình, phải biết mình đang đi theo ai; và người mình theo từ đâu đến và sẽ đi đâu. Thánh Phaolô đã chia sẻ cảm nghiệm: “Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2 Tm 1,12). Có như thế, ta mới có thể đi sâu vào trong tình thân mật với Chúa Giêsu, mới tin tưởng những điều Chúa dạy, mới can đảm thi hành những giáo huấn mà Chúa đã trao ban.

Xưa kia thánh Phêrô đã trả lời câu hỏi này cho phần của ông: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng sống”. Nếu hôm nay Chúa Giêsu đến và hỏi ta: “Con bảo Thầy là ai”. Ta sẽ trả lời Ngài như thế nào? Nếu hôm nay có người đến hỏi ta: “Đức Giêsu mà bạn tin, Ngài là ai?” ta sẽ giải thích cho họ như thế nào? Chúng ta tin rằng: Được biết Chúa Giêsu, được nói về Chúa Giêsu, được làm chứng cho Chúa Giêsu, được tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Giêsu… Đó là một ân phúc. Ân phúc này từ trời cao đổ xuống cho những ai luôn vững lòng tin tưởng vào Chúa Giêsu, như lời Ngài phán: “Không phải phàm nhân mạc khải cho con điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17).

Sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Chúa Giêsu đã mời gọi Phêrô đứng lên, để cùng cộng tác với Ngài trong chương trình xây dựng Hội thánh Chúa: “Phêrô! Con là đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Với lời nói này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội thánh trên trần gian. Chính Chúa Giêsu là sức mạnh của Hội thánh. Phêrô là Đá Tảng, nhưng chính Chúa làm cho viên Đá Tảng ấy được vững bền. Phêrô được giữ chìa khoá Nước Trời, nhưng chính Chúa gìn giữ toà nhà Nước Trời.

Chúa Giêsu đã mời gọi thánh Phêrô làm người lãnh đạo và cai quản Hội thánh Chúa. Còn ta, Chúa Giêsu đang mời gọi ta giữ nhiệm vụ gì? Ước gì ta hãy chung tay góp sức xây dựng Hội thánh mà Ngài đã thiết lập, noi gương thánh Phêrô.

Lạy Chúa! Khi nghe lời mời gọi của Chúa nói với Phêrô, con cứ nghĩ là Chúa chỉ nói lời ấy với những người mà Chúa chọn làm Giáo hoàng. Nhưng suy xét kỹ hơn, con nhận ra Chúa nói lời ấy với tất cả mọi người, mọi Kitô hữu, trong đó có con. Chúa mời gọi con trở nên đá tảng để chung tay góp sức xây dựng căn nhà Hội Thánh. Lạy Chúa! Xin giúp con biết quảng đại đáp trả lời mời gọi ấy.

 

Suy niệm Chúa Nhật XXII Thường Niên, A

Gr 20,7-9; Rm 12,1-2; Mt 16, 21-27

AI MUỐN THEO TA

 

Tin Mừng hôm nay nhắc đi nhắc lại điều này: “Ai muốn theo Chúa, phải từ bỏ mình, vác thánh giá mình hằng ngày mà theo”. Đó là hai điều kiện tiên quyết cho tất cả những ai muốn theo Chúa.

Điều kiện thứ nhất là từ bỏ mình. Từ bỏ mình không có nghĩa là hủy hoại thân xác mình, cũng không phải là đánh mất giá trị nhân bản, hay phủ nhận nhân phẩm của mình. Nhưng từ bỏ mình là từ bỏ con người tội lỗi của mình cùng các dục vọng, thói xấu đang lôi kéo xác thịt của mình. Từ bỏ mình là sống theo lối sống của Chúa, là thực thi những giáo huấn của Ngài, là sống theo thánh ý của Thiên Chúa.

Từ bỏ mình là sống như lời kêu gọi của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Rôma: “Anh em hãy hiến thân làm của lễ sống động và thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa: Đó là việc phụng thờ hợp lý anh em phải làm. Anh em đừng theo thói đời này, nhưng hãy canh tân lòng trí anh em, để anh em biết đâu là thánh ý Chúa, biết điều gì tốt lành đẹp lòng Chúa và hoàn hảo” (Rm 12,1-2).

Tóm lại, từ bỏ mình là từ bỏ những gì không thuộc về Thiên Chúa, những gì đối nghịch với ý muốn, đường lối, kế hoạch của Chúa nơi chính bản thân mình. Từ bỏ mình là một hành động thăng tiến bản thân, là một cuộc sống cao thượng, vị tha hơn.

Điều kiện thứ hai là vác thập giá mình. Nghe đến cụm từ “vác thập giá mình”, ta nghĩ ngay đến những việc nặng nề, khổ cực mà Chúa đòi hỏi ta phải thực thi, nếu ta muốn theo Ngài. Nhưng ở đây, Chúa chỉ muốn cho ta thấy trước hình ảnh Ngài sẽ phải chịu như thế nào trong cuộc thương khó, mà Ngài sẽ phải trải qua vì yêu thương con người. Muốn ta theo Ngài, ta cũng sẽ phải vác thập giá, nhưng là thập giá của chính mình. Thập giá của mình là những khó khăn vất vả vì Chúa, vì Nước Trời, vì con người. Thập giá của mình là trách nhiệm của ta đối với tha nhân. Thập giá của mình là những ràng buộc của yêu thương, là những đòi hỏi của bác ái, là cái giá ta phải trả vì đức tin, vì lòng mến Chúa yêu người.

Thực tế cho thấy, thập giá của mỗi người mỗi khác. Thập giá muôn hình vạn trạng. Ở đâu, vào thời đại nào cũng có thập giá. Thập giá mà Chúa đòi hỏi ta vác, tuy không khổ nhọc về thể xác, nhưng lại nặng nề về tinh thần, nhất là đối với con người yếu đuối của ta. Thật không phải dễ! Chúng ta biết rằng: Vác là chịu đựng, là chấp nhận, là hy sinh, là từ bỏ mình, là sống vững mạnh trong đức tin, là can đảm làm chứng cho Tin Mừng, như Tiên tri Giêrêmia đã đón nhận hậu quả của thập giá mà Chúa đã trao cho ông. Tiên tri Giêrêmia tâm sự: “Suốt ngày tôi đã trở nên trò cười, và mọi người đều chế nhạo tôi. Mỗi lần tôi nói, tôi phải la lớn và loan báo sự hung bạo và điêu tàn. Cho nên Lời Chúa làm cớ cho tôi bị nhục nhã và tôi bị chế nhạo suốt ngày”.

Chính Chúa Giêsu đã nêu gương cho ta về sự từ bỏ mình và vác thập giá, vì yêu thương con người, vì công cuộc cứu chuộc nhân loại. Hôm nay Chúa cũng mời gọi ta làm như thế, nếu ta thực sự muốn đi theo Chúa. “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mạng sống, thì nào có lợi gì?”

 

CHÂN DUNG NGƯỜI PHỤ NỮ HOÀN HẢO

Trung Thành

Kết thúc sách Châm Ngôn (31,10-31), tác giả trình bày hình ảnh một người phụ nữ đảm đang, quán xuyến, năng động, làm lí tưởng cho những chủ đề mà ông trình bày về đức khôn ngoan trong toàn bộ cuốn sách. Nói cách khác, những lời khuyên dạy về sự khôn ngoan được hiện thân cụ thể nơi một phụ nữ hoàn hảo: khôn ngoan là biết kính sợ Chúa; khôn ngoan khơi nguồn và nuôi dưỡng sự sống; đức khôn ngoan vượt trội hơn các giá trị khác; đức khôn ngoan biết phân định, sắp đặt những công việc gần gũi đời thường; đức khôn ngoan biết xây dựng hạnh phúc và tạo sự an ổn cho mọi người… 22 câu ngắn, vốn mang hình thức thi ca, phác họa hình tượng một nhân vật mạnh mẽ, năng động và linh lợi, là những đặc tính cốt yếu của sự khôn ngoan thực tiễn. Từ ngữ chúng ta dùng, đảm đang (c. 10) để nói về người phụ nữ ấy, chưa lột hết được ý nghĩa mà bản gốc muốn nói. Các bản dịch Kinh Thánh khác nhau dịch từ ngữ hayil của tiếng Hípri, với những nghĩa là: đức hạnh, giá trị, cao quý, hoàn hảo, dũng cảm. Cùng từ ngữ này nơi câu 3 dịch là “ đầy sinh lực”; còn nơi câu 29 là “đáng ngưỡng mộ” (x. R 3,11). Trong những phần còn lại của Sách Thánh Do Thái, từ ngữ này hầu như luôn luôn được dùng để chỉ uy quyền và sức mạnh. Một chút tìm hiểu cấu trúc từ ngữ như thế, giúp chúng ta thấy sự khôn ngoan mang những sắc thái thật đa dạng và để hiểu rõ ý tác giả muốn trình bày. Bây giờ hãy để sang một bên ý nghĩa biểu trưng của bản văn và chú tâm tới hình ảnh thực được diễn  tả. Chúng ta biết một phần của đoạn văn này đã được chọn để đọc trong Nghi thức Cử hành Hôn nhân. Hội Thánh muốn chúc lành cho đôi tân hôn luôn được Chúa hướng dẫn, và ban ơn khôn ngoan để bước vào đời sống gia đình với nhiều trách nhiệm nặng nề. Cách riêng cho cô dâu, luôn vươn tới tầm mức hoàn hảo của người phụ nữ mà Sách Thánh tán dương, hầu có thể xây dựng mái ấm gia đình, phục vụ cộng đồng nhân loại và phục vụ Giáo hội. Bài thơ Cn 31,10-31 là một bức tranh tổng hợp những giá trị cao quý nơi người phụ nữ, mà trong đời sống gia đình chúng ta có thể quy về ba điểm chính:

1- Một cuộc hôn nhân tốt đẹp

Bài thơ hé lộ cho chúng ta thấy niềm hạnh phúc toàn mãn của một đôi vợ chồng hòa hợp, họ “tương kính như tân”. Hạnh phúc ấy phát xuất từ một đời sống hôn nhân tốt đẹp, bền lâu (cc. 10,11,12,23,28). Ở đây, người vợ có ba đức tính nổi bật: (1) tạo được sự tin tưởng trọn vẹn nơi người chồng yêu mến (c.12); (2) tạo được niềm thương mến, quý trọng (cc. 12,28). Được chồng hết lòng tin tưởng và yêu thương, nàng cũng đáp lại tình yêu ấy một cách trọn vẹn và chung thủy. Đó là nền tảng của một tình yêu đích thực. (3) tạo dựng cơ nghiệp cho chồng (c. 23): khi ông chồng ngồi chung với hàng kì mục nơi cổng thành, tức là vị trí quyền cao chức trọng, thì người ta nghĩ ngay phía sau ông là một người vợ hiền đảm đang, khéo léo. Đúng là “gái ngoan làm quan cho chồng”! Yêu nhau và xây dựng cho nhau là hoàn thành được một mục tiêu của hôn nhân mà Thiên Chúa muốn (GLHTCG 2201). Tất cả những điều này đòi hỏi một sự nỗ lực liên lỉ, một sự hi sinh can đảm, một tinh thần vững mạnh, một ý chí và nghị lực kiên định. Và đó cũng chính là lời khuyên mà sách Châm Ngôn gửi tới chúng ta khi học sống khôn ngoan.

2- Biết điều khiển mái ấm gia đình

“Người nhà” mà câu 21 nói tới là một gia đình rộng lớn gồm nhiều thế hệ cùng chung sống, kiểu “tam đại đồng đường” của gia đình Việt Nam đầu thế kỉ hai mươi, và có thêm nhiều người đầy tớ phục vụ các công việc đa dạng trong nhà (c.15). Người nội trợ giỏi phải biết quán xuyến, đảm đương muôn ngàn “công to việc nhỏ” trong gia đình luôn đan xen và ảnh hưởng tới nhau, để cho cái xã hội thu nhỏ ấy vận hành xuôi xắn tốt đẹp. Các câu 13-19, 21-22, 24-25, và 27 cho thấy người phụ này đã điều hành các công việc gia đình một cách hoàn hảo. Trong vai trò nội tướng, người phụ nữ này cũng đã thể hiện ba đức tính nổi bật: (1) Sự tháo vát, quán xuyến nhanh nhẹn (cc. 13,17,19,22,24,27): chị “luôn tay luôn chân” với các công việc tất bật, như không có điểm dừng. Không có sự nhàn rỗi và ở không là nguyên cớ gây ra những điều bất thiện và rắc rối. (2) Sự khôn ngoan nhanh nhạy (14,16,21,25). Chị hành động một cách quyết đoán, mau lẹ với trực giác sáng tạo, biết cân nhắc tính toán hơn thiệt trong mua bán giao tiếp, biết cắt đặt các phần việc hợp lí, để đem về những kết quả khả quan nhất cho tổ ấm của chị. (3) Một năng lực làm việc phi thường (15,18). Chị dậy sớm thức khuya làm việc không ngừng nghỉ, tận dụng mọi thời giờ để hăng say làm việc. Các công việc lớn nhỏ được xử lí kịp thời và đúng đắn, hợp tình hợp lí, nên luôn đem lại kết quả tốt. Ở đây, chúng ta hiểu vì sao Nho giáo đặt chữ “công” là tiêu chuẩn hàng đầu trong “tứ đức”, công dung ngôn hạnh, mà người phụ nữ cần phải có. Còn Chúa Giêsu thì nói: “Đức Khôn Ngoan được chứng minh bằng hành động” (Mt 11,19). Một lần nữa, tác giả sách Châm Ngôn mời gọi chúng ta phải không ngừng nỗ lực để vươn tới sự khôn ngoan.

3- Biết kính sợ Chúa

Cái duyên thầm và nét đẹp mặn mà nơi người phụ nữ này chính là lòng kính sợ Chúa (c.30). Nhờ kính sợ Chúa mà chị tạo lập được một tổ ấm mọi người trong nhà biết yêu thương và kính trọng nhau. Nhờ biết kính sợ Chúa, chị biết được mọi lẽ của sự việc, để có thể sắp đặt và đem lại sự an ổn, hài hòa trong gia đình (x.1,7). Nhờ kính sợ Chúa, chị có được sức mạnh bền bỉ để cáng đáng mọi công việc nặng nhọc trong gia đình (x. 9,11;10,27). Nhờ kính sợ Chúa mà chị luôn tự tin và sự quyết tâm trong mọi việc để đưa nó đến kết quả mong muốn (x.14,26). Nhờ kính sợ Chúa mà chị trở nên nguồn sức sống cho chồng và cho con cái (x.14,27). Mái ấm gia đình này được an toàn và bền vững vì được xây dựng trên nền đá vững chắc là lòng kính sợ Thiên Chúa (Mt 7,24-25).

Vâng, kính sợ Chúa là chủ đề chính của sách Châm Ngôn. Mở đầu sách tác giả viết: “Kính sợ Chúa là cội nguồn của mọi sự hiểu biết” (1,7). Và giờ đây kết thúc sách, ông nhắc lại lời khuyên này như là tuyệt đỉnh những xác tín của mình. Nhưng theo tác giả, kính sợ Chúa là gì? - Giở lại từng lời khuyên của ông, chúng ta có thể tóm kết, đó là: hãy luôn ý thức Chúa hiện diện; Ngài thấu biết tất cả; mọi người phải khiêm tốn sống theo đường lối của Ngài. Ông viết: “ Vì ĐỨC CHÚA thấy rõ đường nẻo của mỗi người, hết mọi lối đi, Người đều biết cả.” (5,21) “ Mắt ĐỨC CHÚA ở mọi nơi mọi chỗ hằng dõi theo kẻ dữ người lành.” (15,3) “Giàu sang, vinh dự và sự sống là phần thưởng ĐỨC CHÚA dành cho kẻ khiêm nhu và kính sợ Người”. (22,4).

*

Bất ngờ với ý nghĩ của nhiều người cho rằng những phụ nữ trong Kinh Thánh, theo chế độ phụ quyền, thường kín đáo, tùy thuộc, và chỉ biết phục vụ trong phạm vi gia đình, thì sách Châm Ngôn trình bày hình ảnh một phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, đầy khôn ngoan và nhiều tài năng. Chị vừa là một người vợ tuyệt vời lại vừa là một người mẹ giỏi giang khéo léo. Chị vừa là một vị giám đốc điều hành, lại vừa là một người thợ tháo vát; vừa là một thương gia bén nhạy và cũng là một nhà nông đầy kinh nghiệm. Tuy nhiên, sức mạnh tinh thần và phẩm giá cao quý nơi chị không phải do những thành công chói sáng đạt được, mà là do lòng kính sợ Chúa. Và đó chính là điều mà tác giả muốn nói với tất cả chúng ta.

 

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 8-2014

 

Suốt tám tuần lễ, bắt đầu từ tuần XIII thường niên, chúng ta được nghe giáo huấn của các tiên tri. Các tiên tri là những người được chọn để rao giảng lời Thiên Chúa cho dân. Các tiên tri tuy cách xa chúng ta về cả thời gian và không gian, nhưng sứ điệp của các ngài vẫn luôn thích hợp với chúng ta hôm nay. CĐKT tháng này có một hình thức mới: Trong khung chữ dưới đây bạn hãy tìm ra tên của 9 cuốn sách tiên tri (ngôn sứ) trong Cựu Ước, và ghi lại kết quả bạn tìm thấy. Gợi ý: có 7 tên xuất hiện ở vị trí hàng chéo; 2 ở hàng thẳng đứng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 7-2014

1: BENHAĐAT (1 V 20,20) 2: GIÊHU (2 V 9,20) 3: SAMSÔN (Tl 16,29-30) 4: HAGA (St 21,8-21)  5: AKHIMAÁT (2 Sm 18,19) 6: ĐAVÍT (1 Sm 17,48-50) 7: GIÔÁP (2 Sm 18,14) 8: NIMRỐT (ST 10,8-9)

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 7-2014:

1.         Lưu Quỳnh Hương, Gx. Hiệp Tâm, Kênh O.

2.         Pr. Đoàn Vũ Ngọc Ân, nhà Têrêsa, Long Xuyên

3.         Nguyễn Thị Phượng, Gx. Môi Khôi, Láng Sen

4.         Phạm Minh Triết Gx. Kim Hòa, kênh G1

5.         Phạm Thị Thanh Xuân, Đan sinh Dòng nữ Xitô, Gx. Têrêsa Vĩnh Phước, Châu Thành, AG

 

KẾT QUẢ THI ĐỐ VUI KINH THÁNH TRỰC TIẾP

ĐÀI ĐỨC MẸ TÂN HIỆP, 22-6-2014

           

 

 

 

 

 

 

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

            - Email: jostrung.trung@gmail.com

            - Điện thoại: 01672576777

            - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

            Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên Giang

GIÁO LÝ

 

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Thánh giá

Các môn đệ cùng Ngài lên núi Cây dầu. Tại đây, Phêrô khẳng định sẽ chẳng bao giờ phản bội thầy mình. Đức Giêsu muốn vào vườn Giệtsêmani để cầu nguyện. Ngài bị cảm kích mạnh và bị cám dỗ tấn công. Buồn và sợ xâm chiếm Ngài. “Tâm hồn Thầy lo buồn đến chết”, Ngài nói với hai môn đệ: “Hãy ở lại và thức với thầy”. Hai môn đệ vừa bước khỏi mấy bước thì Ngài sấp mình xuống đất. Ngài cầu nguyện và có lẽ cũng khóc thầm. Hai môn đệ nghe tiếng Ngài: “Cha ơi, nếu được thì xin cất chén này khỏi con. Nhưng không theo ý Con, mà tuỳ ý Cha muốn”.

Đây là một trong những đoạn cảm động và gây xúc động nhất của Tân Ước. Bí ẩn về cơn lo sợ của Chúa Kitô luôn là nội dung mới mẻ để ta suy gẫm, cũng như các bậc thánh lớn đã hằng suy gẫm. Ở đây, tôi thấy như có một cuộc vật lộn giữa tâm hồn con người và tâm hồn Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Ngài thấy toàn bộ vực thẳm xấu xa và kinh hãi của kiếp người, mà Ngài phải mang trên mình và phải trải qua. Ngài thấy nỗi kinh hoàng của gánh nặng đang tới với Ngài. Không chỉ cái sợ của giờ phút bị hành hình mà thôi, mà đó là cuộc đối diện với toàn bộ kinh hoàng và vực thẳm của vận mạng con người mà Ngài gánh trên mình. Cảm nhận đó của Ngài vượt xa những gì ta có thể cảm nhận. Cả ta nữa cũng có thể khiếp hãi, lúc đứng trước nỗi kinh hoàng của lịch sử con người, lúc nhìn vào vực thẳm huỷ diệt con người khi họ chối từ Thiên Chúa. Nhà thần học người Hi Lạp Maximus Confessor đã có một lối diễn tả biến cố cầu nguyện trên núi Cây Dầu thật đặc biệt. Ông bảo, đã có một “phản ứng hoá học về hiện hữu”. Nghĩa là, lúc đó ý muốn của Đức Giêsu đã trở thành một với ý muốn của Chúa Con, và như vậy làm một với ý muốn của Chúa Cha. Toàn bộ sự đối kháng của bản tính con người chống lại sự chết và những gì khiếp hãi, đã toát lên trong lời cầu nguyện. Đức Giêsu phải thắng vượt bản tính đối kháng của con người chống lại Thiên Chúa. Ngài phải thắng vượt cơn cám dỗ làm trái ý Thiên Chúa. Ở đây, cơn cám dỗ đã đạt tới cao điểm, và rồi nó sẽ bị bẻ gẫy để đưa tới tiếng xin vâng. Cuối cùng, ý Chúa và ý người hoà tan vào nhau làm bật lên lời xin: “Nhưng đừng theo ý con, mà theo ý Cha”.

Các môn đệ xem ra mệt mỏi. Khi Thầy trở lại, thì các ông đã ngủ. Đức Giêsu thất vọng: “Các anh không thể thức với Thầy được một giờ sao”?

Vâng, Ngài thất vọng. Và Kitô hữu mọi thời đều thấy câu nói của Đức Giêsu trong giây phút đó đã vang vọng suốt giòng lịch sử Giáo Hội. Các môn đệ của Ngài luôn ngủ. Luôn xảy ra chuyện con cái Ngài ngủ, khi việc nhà Chúa đang ở trong tình thế nguy kịch. Ngài đưa họ tới gần Ngài, để họ chia sẻ bớt gánh nặng cô đơn của Ngài, nhưng rõ ràng đã chẳng ai cảm được nỗi kinh hoàng của giây phút đó.

Và Đức Kitô còn nói: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để đừng bị sa chước cám dỗ. Tâm trí thì sẵn sàng, nhưng xác thịt thì yếu đuối”.

Câu đó làm ta liên tưởng tới lời Chúa nói sau cơn hồng thuỷ: “Ta thấy chúng chỉ là xác thịt, yếu đuối, cần được tha thứ và thương xót”. Như vậy, cuối cùng, nỗi thất vọng của Ngài đã tan biến vào lòng thương xót.

Giuđa dẫn theo một đám đông lính võ trang. Ông bước tới Đức Giêsu và hôn Ngài. Đó là mật hiệu. Quân lính vừa xấn tới Đức Giêsu thì Phêrô bước ra, rút gươm và chém đứt tai một anh tay sai của thượng tế. Đức Giêsu chỉ Phêrô nói: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm”.

Phêrô muốn minh chứng điều mình đã hứa là thật, ông sẵn sàng chết với Thầy. Dĩ nhiên Phêrô rồi cũng phải hiểu ra rằng kiểu can đảm kia chẳng đi tới đâu cả, vì nó chẳng giải quyết được gì. Nhưng đây là điều Đức Giêsu cũng muốn nói cho toàn bộ lịch sử. Ngài cảnh cáo: Việc nhà Chúa không thể bảo vệ được bằng gươm giáo, như người ta, tiếc thay, vẫn luôn cố làm. Ai muốn dùng bạo lực để bảo vệ Chúa, người đó chống lại Ngài.

Sau khi Thầy bị bắt, các môn đệ bỏ chạy hết, không sót một ai. Người ta dẫn Ngài tới thượng tế Caipha để tra khảo. Nhưng bản luận tội của Caipha  thiếu thuyết phục, các lời chứng đều là chuyện bịa đặt. Cuối cùng họ đã tìm ra được một tội: Nhạo báng Thiên Chúa. Thượng tế ép Ngài: “Ngươi hãy thề trước Thiên Chúa hằng sống, có phải ngươi là Thiên Sai, là Con Thiên Chúa không”? Và Đức Giêsu đã thẳng thắn trả lời: “Đúng như điều ông nói”.

Là thầy cả thượng tế, Caipha có trách nhiệm về mặt đức tin cho cả Israen. Hẳn nhiên Caipha thật sự không muốn ra án tử cho Con Thiên Chúa. Ông biết Giêsu là người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, đây là tâm điểm đức tin của giáo lí Do Thái giáo; cái tội của Giêsu, theo ông, là đã dám xưng mình là Con Thiên Chúa. Dĩ nhiên ông đã không nhìn ra được gì khác, vì đức tin nơi ông đã bị bó rọ trong công thức. Song ta cũng không nên phán xét ông một cách hời hợt, vì dù sao thì ông cũng phải hành động theo trách nhiệm tôn giáo của mình.

Cuộc khổ nạn bắt đầu. Các thầy luật và trưởng lão là những người đầu tiên nhổ vào mặt Đức Giêsu. Họ lấy khăn chụp vào đầu Ngài và vả Ngài: “Mày là Thiên Sai, là tiên tri, hãy nói cho chúng tao biết ai đánh mày?” Phêrô lúc đó đang luẩn quẩn trong sân, ông bị nhận diện và đã chối Thầy. Nhưng khi ông nhận ra hành động mình, ông bỏ ra ngoài, bật khóc cay đắng. Cả Giuđa cũng chẳng sung sướng gì về việc làm của mình, ông rất hối hận. Ông vứt tiền vào Đền thờ và tự tử.

Ở đây, ta thấy con người yếu đuối một cách thảm hại: Thoạt tiên Phêrô chạy trốn, nhưng rồi quay lại để xem chuyện gì xẩy ra. Theo cái nhìn của ông, việc chối Thầy chỉ là một lời nói dối nhỏ nhặt, chẳng qua để khỏi bị nhận diện để được gần Thầy mà thôi. Nhưng dưới cái nhìn của Đức Giêsu thì đó là một hành vi hèn nhát và bỏ cuộc. Cái thích thú đối với tôi là phản ứng khác nhau của hai kẻ có tội. Một người nhận ra con đường ăn năn và nhờ đó được đón nhận lại. Người đó sẵn sàng nhận thứ tha, không thất vọng, ông đau khổ, quay ra ăn năn và trở về. Người kia quá hoảng hốt về việc phản bội của mình và chẳng còn tin vào sự tha thứ nữa. Khác biệt là đó. Hai loại ăn năn, tự lên án mình. Người này không rơi vào hư vô, nhưng để mình được đón nhận trở lại. Người kia chẳng còn tin vào sự tha thứ, để mình tự hủy diệt và vì thế không còn chấp nhận con đường đổi mới đang mở ra. Tôi tin đây là một bài học đầy ý nghĩa cho những ai bị vấp ngã, cho mọi thứ ý thức tội lỗi và mọi cách vượt thắng tội lỗi. Sự tự lên án quá đà và sai lầm, để cuối cùng dẫn đến việc chối bỏ mình hoàn toàn, không phải là phương cách đúng đắn để giải quyết tội lỗi mình. (Còn tiếp).

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH

 

VỢ CHỒNG SỐNG TÌNH THÂN MẬT

VỚI THIÊN CHÚA VÀ VỚI NHAU

 

Chàng và nàng yêu nhau say đắm. Sau khi tốt nghiệp đại học, họ đã quyết kết hôn với nhau. Thời gian đầu, đời sống hôn nhân của hai người rất tuyệt vời. Thấp thoáng, vậy mà đã mười hai năm trôi qua, hai người vẫn còn yêu nhau, nhưng cuộc sống không còn tuyệt vời như những năm đầu khi mới cưới nhau. Gia đình của hai người bây giờ không còn phải là hai, nhưng là hai cộng thêm bốn đứa con. Và như vậy cuộc sống của hai vợ chồng trở nên bận rộn và vất vả hơn. Bận rộn với công ăn việc làm; bận rộn với con cái. Và chính sự bận rộn đó đã làm cho đời sống hôn nhân của hai người trở nên tẻ nhạt và nhàm chán. Chẳng lẽ vợ chồng cưới nhau chỉ để sống một cuộc sống tẻ nhạt và nhàm chán như vậy? Thế là hai người quyết định đi tìm giải pháp để đưa đời sống hôn nhân của họ trở lại những khoảnh khắc tuyệt vời như ngày mới cưới nhau. Họ bàn thảo với nhau, cầu nguyện, tra cứu Kinh Thánh, và cuối cùng, dựa vào hai đoạn Kinh Thánh, họ tìm ra được phương thế làm cho đời sống hôn nhân của họ luôn tuyệt vời. Phương thế đó là: Vợ Chồng Sống Tình Thân Mật với Thiên Chúa và với Nhau.

Đoạn Kinh Thánh thứ nhất được trích trong thư thứ nhất của thánh Gioan Tông Đồ chương 4, câu 7-8. “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.” Vậy, Thiên Chúa là Tình Yêu, và tình yêu đích thực phát xuất từ Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa mới ban cho chúng ta một tình yêu thân mật, say đắm và bền vững. Tuy nhiên, hai người tự nhủ: Làm sao vợ chồng có thể yêu nhau bằng tình yêu của Thiên Chúa, nghĩa là yêu như Thiên Chúa yêu? Một đoạn Kinh Thánh khác, được trích từ sách Sáng Thế, chương 2 câu 24, cho họ câu trả lời: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” “Một xương một thịt” là việc người nam và người nữ kết hợp cách trọn vẹn với nhau. Sự kết hợp hoàn hảo giữa vợ chồng phải hội đủ ba yếu tố: Thể xác, cảm xúc và tinh thần. Như vậy, nếu vợ chồng muốn yêu nhau bằng tình yêu của Thiên Chúa, hai người phải sống kết hợp với Ngài, và sống tình thân mật với nhau. Và ta gọi đó là “sự kết nối tinh thần”, mà qua đó vợ chồng đặt Thiên Chúa là trung tâm của mối liên hệ của hai người và sống kết hợp với Ngài như là vợ chồng sống kết hợp với nhau. Để nuôi dưỡng đời thân mật với Thiên Chúa và với nhau, vợ chồng cần có những thực hành cụ thể:

- Chia sẻ với nhau đời sống tinh thần: Ít nhất tuần một lần, vợ chồng chia sẻ với nhau những gì Thiên Chúa đã thực hiện trong đời sống của hai người. Chia sẻ với nhau những cảm nghiệm thiêng liêng mà mỗi người có được trong một tuần, từ cuộc sống hàng ngày, nhất là những cảm nghiệm trong việc sống kết hợp với Chúa, và đã được Chúa hướng dẫn, nâng đỡ hầu đã có thể vượt qua những khó khăn. Vợ chồng cần phải trung thực khi chia sẻ với nhau những cảm nghiệm thiêng liêng đó. Ví dụ, vợ chia sẻ với chồng làm thế nào để có thể kiên trì chịu đựng những tật xấu của chồng; hay chồng chia sẻ với vợ làm sao có thể chấp nhận được tính ghen tuông vu vơ. Chia sẻ với nhau những cảm nghiệm về đời sống thiêng liêng giúp vợ chồng ngày càng gắn bó hơn với Đức Kitô, và qua đó vợ chồng sẽ hiểu nhau hơn, và sống gắn bó với nhau hơn.

- Cùng nhau cầu nguyện: Cùng nhau cầu nguyện mỗi ngày, đó là cách vợ chồng cùng giúp nhau ngày càng sống gắn kết với Chúa, và nhất là vợ chồng giúp nhau bày tỏ những khó khăn đang gặp phải với Chúa và với nhau. Khi cầu nguyện chung với nhau, vợ chồng cùng nhau dâng lên Chúa những khó khăn trong cuộc sống, những khó khăn trong đời sống hôn nhân, trong công ăn việc làm, trong việc giáo dục con cái, nghĩa là vợ chồng cùng nhìn về một hướng, cùng nhau lo toan cho gia đình, và củng cố niềm tin cho nhau vào Thiên Chúa. Cùng nhau cầu nguyện là phương thế tuyệt vời nhất giúp vợ chồng củng cố niềm tin vào Thiên Chúa và nối kết ngày càng thắm thiết với nhau.

- Cậy trông vào Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh: Đời sống gia đình có lúc vui lúc buồn; có lúc thành công và cũng có lúc thất bại; có lúc hạnh phúc nhưng cũng có lúc đau khổ. Tuy nhiên, vấn đề không phải là vậy, mà là làm sao luôn gìn giữ được sự bình an trong gia đình. Với lòng cậy trông vào Chúa, lúc vui vợ chồng sẽ biết tạ ơn Chúa; lúc buồn sẽ biết tín thác vào Ngài. Đôi khi trong đời sống, vợ chồng phải trải qua những đau khổ, hãy cậy trông vào Chúa, và hỏi xem Chúa muốn mình điều gì? Tất cả mọi đau khổ, khó khăn xảy đến, Chúa đều muốn dùng tất cả để kéo hai người đến gần Ngài hơn. Và như thế, khi phải đương đầu với những khó khăn, không phải chỉ là hai vợ chồng, mà là ba người: Thiên Chúa, chồng và vợ. Với Thiên Chúa là trung tâm của đời sống hôn nhân, dù vợ chồng có phải đương đầu với những đau thương thì cũng sẽ vượt qua dễ dàng. Qua những đau thương trong cuộc sống hôn nhân, Thiên Chúa muốn vợ chồng tôi luyện một mối dây liên kết thân mật với Ngài và với nhau.

Tóm lại, sống tình thân mật với Thiên Chúa và với nhau là điều mà vợ chồng phải sống mỗi ngày hầu có thể với Chúa và cùng nhau vượt qua những khó khăn trong đời sống hôn nhân. Sống được như vậy, vợ chồng sẽ chu toàn được những trách nhiệm của hôn nhân, sẽ tạo dựng hạnh phúc cho nhau, nuôi dạy con cái nên người, và làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.

Hương Quê

 

ĐI QUA MÙA GIÔNG BÃO

Đóa Hoa Vô Thường

 

Trong bài “Sóng dậy Biển Đông” được đăng trong tập Tĩnh Tâm tháng bảy, tôi đã trình bày về những cơn sóng trong gia đình do chính người chồng gây ra. Hôm nay bước vào Tháng Tám cũng là tháng của những cơn mưa và giông bão, tôi lại có dịp trình bày đôi chút về những cơn bão trong gia đình. Chúng có thể xảy ra bất cứ ngày nào và lúc nào. Hậu quả của nó là gia đình bầm giập, tan hoang. Dựa vào sách Châm Ngôn, đoạn 31, tôi xin liệt kê một vài cơn bão gia đình, mà nguyên nhân là do các bà vợ gây ra.

Cơn bão thứ nhất sẽ xảy đến, nếu người vợ không được chồng tin cậy. Sách Châm Ngôn viết: “Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng. Chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc” (Cn 31,11). Lòng tin cậy của chồng là điều mà người vợ nào cũng cần. Nhưng để được chồng tin cậy, thì trước hết các bà phải là người đáng cậy tin. Nghĩa là ta phải có lời nói, hành động cũng như những suy nghĩ và quyết định khôn ngoan, chứng tỏ mình là người đáng tin cậy.

Ta cần tránh những điều như: hay đổi ý, hứa mà không giữ lời, hoặc có tính bốc đồng, chợt vui chợt buồn, v.v… Những người vợ đoan trang, chung thủy, nói năng khôn ngoan, bình tĩnh, biết ứng xử trước mọi hoàn cảnh và đối với mọi người, là những người đáng tin cậy. Trong hôn nhân, khi vợ chồng thiếu lòng tin cậy nhau, chắc chắn sẽ nảy sinh nhiều vấn đề to lớn, có nguy cơ đưa đến bất hòa và đổ vỡ. Thực tế cho thấy có nhiều người vợ không đáng tin cậy, nên chồng không thể cậy tin. Hậu quả là giông bão sẽ ập đến gia đình ấy, chỉ vì người vợ không được chồng tin cậy.

Cơn bão thứ hai sẽ xảy đến, nếu người vợ không siêng năng. Sách Châm Ngôn viết: “Nàng thức dậy khi trời còn tối, cung cấp phần ăn cho cả nhà, và sai bảo con ăn đứa ở… Nàng thấy công việc sinh nhiều lợi nhuận, đèn trong nhà thắp sáng thâu đêm…Nàng để mắt trông nom mọi việc trong nhà” (Cn 31, 15, 18 & 27). Người vợ trong gia đình này không phí phạm thì giờ vào những việc vô ích; không ăn không ngồi rồi, chờ người khác phục vụ mình. Trái lại nàng thức khuya dậy sớm, chăm sóc con cái và mọi việc trong nhà.

Các bà vợ trong gia đình Việt Nam chúng ta đa số là người siêng năng, biết trách nhiệm của mình là chăm sóc nhà cửa, nấu nướng, giặt giũ, lo mọi việc cho chồng con. Nhưng cũng không thiếu những người vợ rất lười biếng. Đây là những người ham bài bạc, mê mua sắm, thích đi sang nhà hàng xóm ngồi lê đôi mách, hoặc suốt ngày ngồi trước cái ti-vi, xem hết bộ phim này đến bộ phim khác. Họ thường thức khuya, nhưng không phải để làm việc, mà để đánh bài, xem phim bộ, rồi sáng thì dậy trễ, la cà ở hàng quán, v.v… Đó là những phụ nữ thiếu khôn ngoan, phí phạm thì giờ, phí phạm những ngày tháng Chúa ban cho cuộc đời mình. Họ không chu toàn trách nhiệm của người nội trợ, để nhà cửa bề bộn, lôi thôi; chồng không người chăm sóc; con cái không được dạy dỗ. Hậu quả là giông bão sẽ ập đến gia đình ấy, chỉ vì người vợ quá lười biếng.

Cơn bão thứ ba sẽ xảy đến, nếu người vợ không có óc tổ chức. Sách Châm Ngôn viết: “Nàng tìm kiếm len và vải gai, rồi vui vẻ ra tay làm việc. Giống như những thương thuyền, nàng đem lương thực về từ tận phương xa…Nàng để mắt đến một thửa ruộng và tậu lấy. Nàng dùng huê lợi đôi tay mình làm ra, mà canh tác một vườn nho” (Cn 31, 13-16). Người vợ này không làm việc tùy hứng, cũng không "đợi nước đến chân mới nhảy", nhưng bà làm việc có kế hoạch đàng hoàng. Bà có óc suy tính khôn ngoan, sắp xếp mỗi công việc cách tốt đẹp, rõ ràng. Nhờ đó bà đạt được kết quả tốt đẹp. Điều chúng ta ghi nhận ở đây là người vợ này được chồng tin cậy, giao cho những công việc quan trọng, vì ông biết bà là người tài giỏi và đáng tin cậy. Bà không những sắp đặt, tổ chức mọi việc trong nhà, mà còn giỏi tính toán, sắp xếp những việc liên quan đến kinh tế gia đình.

Thực tế cho thấy có nhiều người vợ không có óc tổ chức, không gọn gàng sạch sẽ, nên nhà cửa để bầy hầy, quần áo mùng mền bạ đâu vứt đó, sân trước sân sau cỏ rác ngập tràn; con cái nhếch nhác, chén dĩa ly tách cáu ghét, v.v… và v.v… Hậu quả là giông bão sẽ ập đến gia đình ấy, chỉ vì người vợ không có óc tổ chức, không giỏi tính toán.

Cơn bão thứ bốn sẽ xảy đến, nếu người vợ hay phàn nàn. Sách Châm Ngôn viết: “Nàng thắt lưng cho chặt, luyện cánh tay cho mạnh mẽ dẻo dai…Trang phục của nàng là quyền uy danh giá. Nàng mỉm cười khi nghĩ đến tương lai” (Cn 31,17, 25). Những lời mô tả này cho thấy người vợ trong gia đình này là người nội trợ không những giỏi và đảm đang, mà bà còn làm việc với lòng vui vẻ, mãn nguyện. Dù phải thức khuya hay dậy sớm, làm nhiều công việc, bà cũng không buồn bã than van, nhưng luôn hăng hái, vui vẻ.

Chúng ta thấy có nhiều người vợ rất giỏi việc nội trợ, nhưng chồng con lại không thoải mái dưới sự chăm sóc của người đó, vì bà vừa làm vừa than, kể lể suốt ngày. Thực tế mà nói, làm công việc nhà là điều khó nhọc chứ không phải dễ dàng. Nó đòi hỏi sự chịu khó và kiên nhẫn của người phụ nữ, vì việc nhà là những việc nhỏ nhặt, không tên, làm không bao giờ hết, làm không bao giờ xong. Nhưng đây là thiên chức cao quý Chúa ban cho người phụ nữ. Vì thế ta không nên vừa làm vừa than thân trách phận.

Nghĩ đến việc nội trợ là thiên chức, là cơ hội để phục vụ những người mình yêu thương, ta sẽ không thấy đó là gánh nặng. Và người trong gia đình cũng thoải mái khi hưởng sự chăm sóc của ta. Thật ra, sự chăm sóc vui vẻ và yêu thương của người vợ trong gia đình có một ảnh hưởng rất lớn trên đời sống chồng con; có thể khiến chồng con cảm thấy hạnh phúc. Ngược lại, thì đó là sự buồn thảm và chán chường từ ngày này sang ngày khác. Hậu quả là giông bão sẽ ập đến gia đình ấy, chỉ vì người vợ hay phàn nàn.

Cơn bão thứ năm sẽ xảy đến, nếu người vợ không giúp chồng được người ngoài tôn trọng. Sách Châm Ngôn viết: “Chồng nàng được tiếng thơm nơi cổng thành, khi ngồi chung với hàng kì mục trong dân” (Cn 31,23). Trong xã hội Do Thái ngày xưa, cổng thành là nơi các bậc trưởng thượng, các vị bô lão trong cộng đồng họp lại, để quyết định những việc quan trọng liên quan đến cộng đồng. Câu “Chồng nàng được tiếng thơm nơi cổng thành” cho thấy người chồng trong gia đình này là người nổi tiếng, giữ chức vụ quan trọng trong cộng đồng.

Người Việt chúng ta có câu: “Giàu vì bạn, sang vì vợ”. Câu này cũng có phần đúng. Một người vợ kính trọng chồng, không phê bình chỉ trích chồng, không nói xấu chồng, sẽ giúp chồng được mọi người tôn trọng. Hơn thế nữa, khi người vợ quán xuyến mọi việc trong nhà, con cái được chăm sóc dạy dỗ cẩn thận, sẽ khiến cả gia đình, nhất là người chồng được mọi người chung quanh tôn trọng và kính nể.

Ngày nay có nhiều người vợ làm việc rất giỏi: giỏi nấu ăn làm bánh, giỏi trong việc buôn bán, tổ chức, sắp đặt công việc, nhưng lời nói thì tệ hại vô cùng. Cứ mở miệng ra là làm tổn thương người chung quanh, vì họ chỉ nói những lời kiêu ngạo, hoặc những lời phê bình chỉ trích. Cũng có nhiều người vợ khéo léo trong lời nói, nói những gì người chung quanh muốn nghe, nhưng đó chỉ là những lời có cánh, đầu môi chót lưỡi, khách sáo, thiếu chân thật. Cũng có người chỉ nói về mình: ý của mình là đúng nhất, cách mình làm là tốt nhất, không bao giờ có lời khen hay khích lệ người khác. Người chồng nào mà có vợ như thế thì rất khó ngước mặt nhìn đời. Hậu quả là giông bão sẽ ập đến gia đình ấy, chỉ vì người vợ không giúp cho chồng được tôn trọng.

Trên đây chỉ là năm cơn bão trong hàng loạt những cơn bão khác nhau có thể đang tàn phá gia đình chúng ta. Khi những cơn bão này đi qua, sẽ để lại một thảm cảnh đổ vỡ kinh hoàng cho các thành viên trong gia đình. Đó là những vết thương lòng không dễ gì nguôi ngoai. Vì vậy trong “Năm Phúc Âm hóa các gia đình” này, ta cần bình tâm nhìn lại những cơn giông bão ấy và suy gẫm. Đồng thời cùng với ơn Chúa, ta sẽ nỗ lực làm mới lại tình yêu gia đình, để có thể thoát được những cơn giông bão đang đe dọa hạnh phúc gia đình ta.

 

 

BÍ QUYẾT VỢ HIỀN DÂU THẢO

 

Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Khi nói đến người vợ là người ta nghĩ ngay đến cụm từ vợ hiền, dâu thảo. Người con dâu khi bước về nhà chồng với bao nhiêu điều mới lạ. Từ cách xưng hô, cách ứng xử, thái độ, lời nói, những điều này người vợ, người con dâu bắt đầu phải học. Học để biết cách sống cho vừa lòng người mẹ chồng khó tính, với các cô em chồng khó ưa, khó chiều. Đây có phải là những mâu thuẫn dẫn đến tình huống dở khóc dở cười giữa con dâu và bà mẹ chồng.

Người ta vẫn thường nói: Cái nết đánh chết cái đẹp, nhưng với thời đại ngày nay thì: cái đẹp đánh bẹp cái nết. Những cô gái chuẩn bị về làm vợ không còn quan tâm nhiều đến cái nết, mà luôn đi tìm cái đẹp của bên ngoài. Người vợ mới về làm dâu, lúc đầu có vẻ e thẹn, mắc cỡ, nhút nhát, không dám ăn, không dám nói, lịch sự, lễ phép. Nhưng sau một thời gian, bắt đầu có những xung đột xuất hiện.

Hình ảnh người vợ hiền phải là người biết chăm sóc chồng con, biết quan tâm đến người thân trong gia đình, biết hỏi han khi chồng con gặp chuyện gì không vui, biết thông cảm với chồng với con những điều mình không hài lòng. Với thời đại ngày nay theo kiểu nam nữ bình đẳng. Người vợ hiền dâu thảo thời nay rất khác thời xưa. Việc nội trợ ít được quan tâm, công dung ngôn hạnh cũng bị đánh giá thấp. Cho nên, hiện tượng đổ vỡ trong gia đình có chiều hướng gia tăng. Con cái bị lãng quên, hoặc ra hư đốn bởi cha mẹ quá chiều chuộng.

Nhìn vào hình ảnh người vợ hiền dâu thảo là Đức Maria, gia đình bạn và tôi cũng ít nhiều tìm ra được bí quyết để giữ được gia đình hạnh phúc, ấm êm, hòa thuận, nhất là với những ai đã và sắp làm vai trò người vợ hiền dâu thảo. Theo tôi, tôi tìm ra được ba bí quyết này.

Thứ nhất sự tin tưởng. Người vợ Maria đã hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, vào sứ mạng Thiên Chúa trao. Tin tưởng vào Giuse khi chấp nhận từ bỏ ý riêng để theo Giuse về nhà làm vợ. Tin tưởng vào con mình là Chúa Giêsu, trong tiệc cưới Cana, trong sứ vụ Đấng Cứu Thế mà Con mình đang thi hành.

Thứ hai là sự chung thủy. Đời sống gia đình công giáo có đặc tính là sự chung thủy, một vợ một chồng. Chính Đức Maria đã sống với đặc tính trên.

Thứ ba là sự thông cảm, dịu dàng. Mẹ đã cùng đồng hành với thánh Giuse trên quãng đường trần. Với nghề thợ mộc tuy ít ỏi về đồng lương nhưng Mẹ vẫn tôn trọng và thông cảm với người chồng Giuse. Bên cạnh đó, Mẹ cũng đồng công cứu chuộc với Con mình. Mẹ lê bước chân nặng nề lên núi Sọ với Con yêu. Không ai thấy Mẹ kêu la thảm thiết, cũng không ai nghe Mẹ than trách, hay la mắng một người nào.

Với ba bí quyết mà tôi khám phá nơi người vợ hiền là Đức Maria, tôi xin cầu chúc cho mọi gia đình trong giáo phận Long Xuyên thân yêu này, nhất là những người phụ nữ đang và sẽ đóng vai trò người vợ hiền hãy noi gương Mẹ thân yêu của chúng ta, Mẹ đã để lại cho bạn và tôi những giá trị tuyệt hảo để gia đình bạn và tôi áp dụng, nhờ đó trở nên một gia đình gương mẫu, một gia đình hạnh phúc, như gia đình Thánh Gia xưa.

Vs. Lê Đình

 

 

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI VỢ

 

Như món quà quý giá Chúa ban

Là mái ấm gia đình nhỏ bé

Là chồng con hiền hòa mạnh khỏe

Biết sẻ chia trách nhiệm, khó khăn.

Xin cho con luôn biết tận tâm

Không phàn nàn hay tìm thoải mái

Luôn quan tâm giáo dục con cái

Luôn dịu dàng, chăm sóc, yêu thương.

Biết lắng nghe, an ủi, đỡ nâng

Biết chịu khó, hy sinh, nhẫn nại...

Con không xin những lời khen ngợi

Chỉ một lòng tận tụy lo toan.

Xin dâng Chúa những việc con làm

Nên dấu chỉ của sự tận hiến

Xin cho con trọn tình yêu mến

Và thủy chung cho đến suốt đời.

 

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ

GIÁO LUẬT

 

THẮC MẮC GIÁO LUẬT

 

Khi ban bí tích Rửa Tội cho người lương dân đang có gia đình, linh mục có phải cử hành nghi thức hôn phối cho họ không?

 

Trả lời:

Để xét xem có phải cử hành nghi thức hôn phối cho người lương dân đang có gia đình khi ban bí tích Rửa Tội cho họ, linh mục cần phân biệt các trường hợp:

1- Hai vợ chồng có hôn nhân hợp pháp

Trong Phúc chiếu (rescriptum) ban hành ngày 18/06/1856, Bộ Thánh Vụ đã xác định: Hôn nhân của những người lương dân không mắc ngăn trở theo thiên luật hay luật tự nhiên thì thành sự. Cho nên, hôn nhân được nhìn nhận là thành sự ngay từ đầu thì không cần phải lặp lại sự ưng thuận.

1.1. Trường hợp cả hai vợ chồng gia nhập đạo Công giáo

Nếu hai vợ chồng lương dân đã cử hành hôn phối thành sự thì sau khi ban bí tích Rửa Tội, linh mục không cần cử hành nghi thức hôn phối cho nữa. Khi hai vợ chồng tân tòng được rửa tội, hôn nhân tự nhiên đã thành sự trước đó được nâng lên hàng bí tích. Linh mục sẽ ghi chú về hôn phối tự nhiên vào Sổ Rửa Tội của cả hai người. Mặc dù không cử hành nghi thức hôn phối cho đôi vợ chồng tân tòng, nhưng nếu họ xin thì linh mục có thể đọc lời chúc lành cho họ

Cuốn “Chỉ Nam Linh Mục Địa Phận Long Xuyên” ban hành ngày 15/11/1971, số 298, đã quy định: “Hai người không rửa tội cưới nhau đúng theo luật đời là đủ giá trị, khi cả hai tòng giáo, không cần làm phép hôn phối, nếu muốn chỉ có thể xin phép lành”.

1.2. Trường hợp chỉ có một người gia nhập đạo Công giáo

1.2.1. Một người gia nhập đạo công giáo, còn người kia vẫn là lương dân

Cũng không cần phải cam kết lại, nếu chỉ có một trong hai người gia nhập đạo, với điều kiện là hôn phối của cả hai người đã thành sự. Trong trường hợp này, không cần phải xin chuẩn hôn phối khác đạo. Linh mục sẽ ghi chú về hôn phối tự nhiên vào Sổ Rửa Tội của người tân tòng.

1.2.2. Một người gia nhập đạo công giáo, còn người kia là người công giáo đã được chuẩn hôn phối khác đạo

Trường hợp một người lương dân đã kết hôn với một người Công giáo đã xin phép chuẩn hôn phối khác đạo, thì cũng không cử hành lại nghi thức hôn phối, vì hôn nhân trước kia đã thành sự.

2- Hai vợ chồng có hôn nhân bất hợp pháp

2.1. Trường hợp cả hai vợ chồng gia nhập đạo Công giáo

Trong trường hợp hôn nhân của những tân tòng đã từng có nhiều vợ hay nhiều chồng, thì linh mục phải cử hành nghi thức hôn phối theo luật định (x. Điều 1148 §2).

Nếu hôn nhân của hai người có ngăn trở theo thiên luật hay luật tự nhiên (vd. loạn luân), thì hai người phải chấm dứt hôn nhân bất hợp pháp này trước khi rửa tội.

2.2. Trường hợp chỉ có một người gia nhập đạo Công giáo

2.2.1. Trường hợp người lương dân đã kết hôn với người công giáo nhưng không có phép chuẩn hôn phối khác đạo, thì hôn nhân của hai người là bất hợp pháp. Cho nên, sau khi người lương dân được rửa tội, linh mục phải cử hành nghi thức hôn phối cho họ.

2.2.2. Nếu chỉ có một người được rửa tội mà thôi, còn người kia vẫn là lương dân không muốn gia nhập đạo Công giáo thì phân biệt hai trường hợp sau đây:

- Nếu người xin lãnh nhận bí tích rửa tội đã từng có hôn nhân thành sự với người khác, thì hôn nhân tự nhiên của họ vẫn còn giá trị. Do đó việc tái hôn hiện nay của họ là bất hợp pháp. Nay người này được rửa tội và không thể tiếp tục cuộc sống chung với người phối ngẫu đầu tiên vì lý do đức tin (theo quy định đặc ân Phaolô) thì họ có thể được tái hôn. Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép đương sự tái hôn với một người lương dân. Trong trường hợp này, cần phải xin miễn chuẩn khác đạo trước khi cử hành nghi thức hôn phối. Nhưng Giáo quyền không thể cho miễn chuẩn nếu người lương dân này đã có hôn nhân tự nhiên thành sự trước đó, dù cho đã ly dị dân sự.

- Nếu người lương dân không gia nhập đạo đã từng kết hôn thành sự với một người lương dân khác rồi thì Giáo Hội công nhận hôn nhân tự nhiên của họ. Vì thế, người được rửa tội không thể kết hôn với người lương dân đã có hôn nhân thành sự. Trong trường hợp này, người lương dân đã có hôn nhân thành sự phải gia nhập đạo Công giáo thì mới được hưởng đặc ân Phaolô tháo gỡ hôn phối cũ để tái hôn với người được rửa tội.

- Nếu người lương dân đã từng có hôn nhân thành sự với người khác không chịu gia nhập đạo Công giáo thì linh mục không được rửa tội cho người phối ngẫu kia, vì hai người sẽ ở trong tình trạng rối khi không thể cử hành nghi thức hôn phối theo luật định.

 

 

 

 

 

GIÁO DỤC

 

XIN LÀM NGAY

Đức An

 

            Với cuộc sống xã hội ngày nay, nhiều cha mẹ đã lo lắng, đôi khi đau lòng phải chứng kiến con mình bị hư hỏng. Tuy nhiên, chúng ta không thể đổ hết lỗi cho xã hội, mà phải tự xét: Bản thân chúng ta phải có trách nhiệm chủ yếu đối với con cái. Nhìn chung cuộc sống từ thành thị tới thôn quê, chúng ta không thể phủ nhận: Giới trẻ đang bị tha hoá bởi những chủ thuyết và trào lưu. Riêng các em từ 5 - 15 tuổi bị cuốn hút vào các trò chơi điện tử, chúng đam mê đến quên ăn. Tôi đã chứng kiến một trường hợp: Gia đình bên cạnh có một cậu con trai 7 tuổi, sống trong một căn nhà khang trang và đầy đủ tiện nghi. Cậu bé được cưng chiều tối đa, muốn gì được nấy, thế rồi cậu đam mê game chìm đắm trong thế giới ảo. Một hôm, bố cậu giận quá cầm roi bắt phạt và hỏi: “Bây giờ muốn đi học hay chịu 10 roi?”. Không trả lời, cậu nằm ngay và chịu phạt. Ông bố nổi giận đánh, bà mẹ thấy thế chạy tới can xin chồng tha cho con. Đựơc nê, cậu bé...Ông bố hỏi lại: “Mày có đi hoc không?” Cậu trả lời: “Con không đi học nữa!” Ông bố giận quá cầm chiếc Ipad mới mua đập vỡ tan! Cậu chạy ra cổng và la to: “Con không thèm đi học nữa”. Hàng xóm đổ ra xem cậu càng gào to thảm thiết.

            Chứng kiến cảnh đó chúng ta nghĩ gì? Đây không phải là trường hợp cá biệt, mà còn thường xuyên xảy ra ở những gia đình giầu có quá nuông chiều con cái. Vậy khi gặp trường hợp tương tự ta phải xử  trí ra sao? Ta nhận ra ông bố đã dùng biện pháp mạnh với cậu con mới 7 tuổi, do không hiểu tâm lý nên đã phản tác dụng. Như vậy cương không được thì phải nhu, trong nhu cần có tình thương, sẽ cho một kết quả tốt đẹp. Bởi tình thương càng nhiều, càng làm cho tâm hồn bé rung lên vì cảm mến.

            Tuy nhiên, để tránh tình trạng xảy ra, ta nên phòng trước hơn chữa sau và đừng quên lời khuyến cáo của tiền nhân: “Bé không vin cả gãy cành”. Cụ thể hơn: Ta không nên nuông chiều con cái thái quá, không chiều theo ý riêng của chúng, cần dứt khoát và giữ đúng lời hứa. Khi bé lên lớp 1, trí khôn của bé khởi đầu nhận thức và phát triển, chúng ta nên xếp thời khoá biểu cho bé chơi giải trí, học, nghỉ ngơi, ăn uống. Nói chung sinh hoạt hàng ngày phải phù hợp, thích nghi và khoa học. Như vậy là tập cho bé sống nguyên tắc. Tôi được nghe một số cha mẹ phán: “Cứ để chúng tự do phát triển theo bản năng đâu cần phải rèn cặp”. Thật là một sai lầm lớn, chúng ta có ngờ  rằng: Xã hội ngày nay biết bao cạm bẫy, biết bao cám dỗ, trong khi con chúng ta còn quá ngây thơ, như con chiên sống giữa bầy sói. Phần chúng ta lo cuộc sống gia đình, làm sao theo dõi để dè chừng cho con trẻ.

            Người bạn tôi khoe: Đứa cháu gái con ông anh mới có hơn 10 tuổi có hàng trăm người bạn trên mạng. Tôi giật mình nghĩ: Không biết nên lo hay mừng?  

Cuộc sống xã hội hôm nay là thế, nếu chúng ta thiếu lưu tâm con cái, chúng ta đã mất trách nhiệm với chúng. Cuộc sống là bãi chiến trường, hãy trang bị cho con chúng ta những áo giáp, những cái khiên để chúng đủ sức chống chọi lại hàng ngàn mũi tên đang nhắm vào chúng. Đó là hành trang phải có để con chúng ta vững tâm xuất trận và vào đời. Trách nhiệm này, chúng ta không thể khoán trắng cho ai, hoặc cho một đoàn thể nào. Đây là sứ mạng thiêng liêng mà Thiên Chúa dành riêng cho cha mẹ. Chúng ta không làm trọn sẽ có lỗi và mắc nợ Chúa. Nợ thì phải trả hết tới đồng xu cuối cùng.

GIÁO DÂN

 

THÁCH ĐỐ TRONG ĐỜI TU

Felicitas

 

Tại Việt Nam hôm nay, nhìn chung số thanh niên thiếu nữ muốn dấn thân cho ơn gọi dâng hiến vẫn còn tương đối cao. Có thể nói được rằng: đây chính là hoa trái mà các bậc tiền nhân đã để lại cho con cháu. Chính gương mẫu đạo đức, và đời sống hy sinh để bảo vệ đức tin của các ngài ngày xưa đã gieo những hạt mầm vào lòng dân tộc Việt và hôm nay hạt mầm ấy bắt đầu trổ sinh hoa trái. Đây chính là một dấu hiệu đáng mừng cho Giáo hội Việt Nam. Đáng mừng vì trong khi tại nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước được coi là có truyền thống Kitô giáo lâu đời số tín hữu công giáo ngày càng giảm sút và các chủng viện, tu viện ngày càng vắng bóng người tu, tại Việt nam vẫn còn những tâm hồn quảng đại dâng hiến để phục vụ Chúa và Giáo hội. Tuy thế, giữa một xã hội tục hóa, với những trào lưu và chủ thuyết loại trừ Thiên Chúa, người trẻ cũng phần nào bị ảnh hưởng. Những trào lưu thế tục này đã ảnh hưởng đến não trạng, tâm thức, lối suy nghĩ và hành động của không ít người trẻ; và dĩ nhiên kể cả những người trẻ muốn sống đời dâng hiến. Bài viết dưới đây, muốn trình bày cách khái quát một số thách đố trong nhiều thách đố mà người trẻ hôm nay có thể sẽ gặp phải khi bước vào đời sống dâng hiến; để từ đó - ước mong - phần nào giúp người trẻ nhận ra được và có những dự phóng cho chính bản thân mình.

1- Mất tự do?

Với tâm thức thích tự do, phóng khoáng nên nhiều người trẻ bước vào đời tu cũng mang theo suy nghĩ đó. Nhiều lúc người trẻ xem những lề luật của Giáo hội và của cộng đoàn quá khắt khe, hà khắc. Nó như một sợi dây vô hình buộc chặt họ khiến họ cảm thấy ngột ngạt, dồn nén và mất tự do. Với một số người trẻ, những nếp sinh hoạt ấy xem ra như lạc hậu, lỗi thời với đà phát triển của xã hội, với lối sống của thế hệ trẻ; nhưng là vì đang trong giai đoạn thụ huấn nên nhiều người đã “cắn răng” chịu đựng để “nín thở qua cầu”. Họ cố chu toàn cho tốt trước đã rồi sau này tính sau; và hệ quả là khi có dịp là họ “bung mình ra” như là sự bù đắp cho những mất mát mà họ phải chiu đựng khi thụ huấn. Bước vào đời tu là bước vào một hành trình. Một hành trình chấp nhận từ bỏ chính mình. Chấp nhận ấy là một chấp nhận cách tự do với những ràng buộc. Đó là sự trả giá cho lựa chọn của bản thân. Tự do mà không ràng buộc thì tự do đó là thứ tự do sai lầm. Nhưng không vì thế mà nhân danh “tự do” để sống vô kỷ luật. Vì vô kỷ luật chính là nô lệ của bản năng. Sự tự do của người trưởng thành trong nhân cách đích thực không là tự do khỏi điều gì nhưng là tự do để làm điều gì.

2- Quan niệm lệch lạc về đời sống thiêng liêng

Cung cách sống vị luật trong đời sống thường nhật dễ biến người trẻ thành những Biệt phái, những Pharisêu giả hình, tìm an vị trong những thói quen đạo đức. Không ít người trẻ có quan niệm một đời sống đạo đức là chu toàn những việc đạo đức được cộng đoàn cũng như bản thân họ đề ra cách đầy đủ. Cứ khư khư bám vào một loại thực hành đạo đức, thực hành thiêng liêng. Cảm thấy an tâm khi chu toàn và thấy bất an khi không làm được như thói quen. Khi có não trạng ấy, người trẻ tìm chinh phục Thiên Chúa bằng những phương tiện của các sinh hoạt. Một khi thất bại trong việc giữ luật thì họ thường ray rứt và mang mặc cảm tội lỗi. Đời sống thiêng liêng chính là một sự gặp gỡ linh thánh và đi vào tương quan cá vị thân tình Thiên Chúa. Thật vậy, nền tảng của đời sống ấy chính là kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa. Nó là một cuộc sống, một sự hiện diện, và thể hiện sự hiện diện của Thiên Chúa trong chính con người của chúng ta. Đời sống đạo đức không chỉ dựa trên tình cảm hay lý trí, cũng không chỉ bao gồm việc đọc một số kinh kệ, nghi lễ, luật buộc, nhưng nó còn là một hành trình đi vào tương quan với Đức Giêsu Kitô, là thái độ của toàn bộ con người đáp trả lại ân ban của Thiên Chúa. Hai thực tại này hỗ tương cho nhau vì đức tin cần được diễn tả ra bên ngoài qua những lời kinh, nghi thức, hoạt động, sinh hoạt và qua những việc làm ấy giúp củng cố và phát triển đức tin.

3- Quan niệm sai lầm về đời tu

Nhiều người trẻ ngày nay, khi bước vào đời tu thường xem đi tu là sửa. Không sai! Tu chính là sửa nhưng trên hết tu phải là hành trình tìm gặp, bước theo, lưu lại và trở nên giống Đấng mà mình theo. Nhiều lúc người trẻ bỏ quên chiều kích này nên chỉ lo sửa, nhưng là sửa theo tiêu chuẩn, mẫu mực mà họ có, họ tự đề ra nhiều lúc chẳng hợp và đúng với thánh ý Thiên Chúa. Họ đi tìm Thiên Chúa của riêng họ, vị Thiên Chúa do họ vẽ ra và họ cảm thấy bình an, vui tươi khi bước theo vị Thiên Chúa này của họ. Họ thường hay lý luận để “uốn nắn” Thiên Chúa đích thực trở thành Thiên Chúa của tâm trí họ. Điều này thật là sai lầm và nguy hại. Hiện nay với ảnh hưởng và tác động của nhiều yếu tố khác nhau: môi trường sống, các triết thuyết, trào lưu xã hội thực dụng và hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân, người trẻ cũng bị tác động. Họ dễ đánh mất ý thức về một Thiên Chúa đích thực và vì vậy cũng dễ dàng loại bỏ những giá trị tinh thần và chỉ sống một mặt vật chất. Người trẻ có khuynh hướng “vật chất hóa” các giá trị tinh thần. Vật chất hóa lối sống đạo, đời tu và vật chất hóa cả đức tin. Đơn giản hóa tất cả dưới một nhãn quan duy vật, thực dụng. Vì thế, người trẻ cần “định hướng” lại cho lý tưởng của mình. Đi tu là thể hiện đức Kitô trong cuộc sống của chính mình. Cần xem đó là mối bận tâm chính chi phối hành động và suy nghĩ của mình. Khi để mẫu gương Kitô thấm nhập vào chính mình thì người trẻ sẽ có sức mạnh để quyết định, can đảm trong hành động và thanh thản trong tâm trí.

4- Đề cao hiệu quả bên ngoài

Sợ thất bại, sợ chê cười nên họ không dám dấn thân, quảng đại cho đi chính mình. Bởi vì họ không chắc chắn, chưa tự tin về mình. Họ sợ bị thực tại xô ngã. Điều này làm tê liệt sáng kiến và hoạt động nơi bản thân người trẻ. Co cụm bảo vệ lập trường của bản thân, nhiều lúc bằng những thái độ hay cử chỉ thái quá. Vì vậy, người trẻ cần khôn ngoan và thận trọng để biết hoàn cảnh nào có thể tin tưởng dấn thân, hoàn cảnh nào phải đề phòng. Ý thức mình là ai? Mong muốn điều gì? Có nên dấn thân? Hãy dấn thân cho đi chính mình nhưng cần phải biết khôn ngoan và uyển chuyển sáng tạo trong từng cảnh huống của cuộc sống. Người trẻ thường hay chú ý đến vẻ bên ngoài. Họ luôn tìm cách tô vẽ và đánh bóng hình ảnh của chính mình. Một khuynh chiều là người trẻ thường sống dựa trên dư luận. Với họ, giá trị cần vươn tới là tìm sự toàn thiện trước mặt người đời. Do đó, người trẻ thường hay biện luận -với chính mình - sự toàn thiện trước mặt người đời cũng chính là sự toàn thiện trước mặt Chúa. Người trẻ sợ bị coi thường nên cố gồng mình để sống. Điều này dễ dẫn đến sự bất an, lo lắng, mất tự do nội tâm. Họ rơi vào tình trạng sống hai mặt.

5- Cái tôi ích kỷ

Vì quá chú ý về bản thân, nên người trẻ thường  co cụm lại với cái tôi ích kỷ và vỏ ốc tự ái của chính mình. Họ chẳng chú ý đến đời sống cộng đoàn. Khi ấy, dù họ đang sống trong cộng đoàn nhưng họ thường “bỏ nhà ra đi” phủ nhận cả ơn nghĩa “cha mẹ” (bề trên), phủ nhận cả tình anh chị em, phủ nhận tình cộng đoàn: - anh chị em…. họ như người “đi hoang”, sống như một ốc đảo.

Người trẻ có xu hướng tìm gặp chính mình. Một khi quá chú ý đến bản thân mình thì người trẻ dễ rơi vào tình trạng kiếm CÁI GÌ của ai đó thế vào nên khi đó họ đánh mất chính mình. Họ không còn là chính họ, là cái tôi độc đáo mà Thiên Chúa dựng nên nữa. Họ chẳng bằng lòng với những cái họ đang có nhưng cứ mải tìm kiếm điều gì khác nữa ngoài bản thân mình. Hậu quả không chấp nhận những giới hạn của chính mình là buồn phiền, bực bội, bất mãn thèm thuồng tài năng của người khác, ghen tương…. Khi đó, người trẻ dễ dàng tìm cách bắt chước người khác cách mù quáng khiến trong tiềm thức của họ có ý muốn trở thành một bản photocopie của ai đó mà họ xem là toàn hảo. Một khi quá đóng kín với người khác, cô lập với thế giới bên ngoài, nhân cách người trẻ sẽ không thể phát triển. Quá mở sẽ dễ đánh mất chính mình. Nên phải ý thức để hài hòa. Không khép kín nhưng cũng đừng quá mở. Cần biết ý thức mình đang thể hiện các khả năng cụ thể của bản thân trong hoàn cảnh sống thực tế hàng ngày. Điều cần thiết là phải biết tôn trọng và chấp nhận nhiệm vụ độc nhất và giới hạn mà Chúa trao phó, ý thức về chính mình và chấp nhận chính mình hoàn toàn. Làm được thế họ sẽ được sự bình an nội tâm và tự do để có thể dâng hiến con người đích thực của họ cho Chúa Kitô và cho anh em. Bởi vì, quên mình để tìm thấy chính mình, tìm gặp chính mình sẽ đánh mất chính mình.

6- Chủ nghĩa thờ ơ triệt hạ người khác

Con người có nhu cầu được yêu thương và tán thưởng. Vì không chịu nổi sự thành công của người khác nên nơi họ thường có thái độ triệt hạ người khác để tìm lời khen. Họ cảm thấy bất an, cáu kỉnh khi giá trị người khác được đề cao. Họ xem đó là một xúc phạm. Từ đó họ dễ “đi hoang”. Nhiều lúc người trẻ cũng chính là người anh cả trong câu truyện dụ ngôn người cha nhân hậu (x. Lc 15, 11-32). Họ thật cần mẫn, lúc nào cũng mải mê với lề luật và không hề sai sót điều gì. Thế nhưng, đến phút chót mới biết : lâu nay “thân xác” của họ ở trong “nhà cha” nhưng “lòng” của họ “đã đi hoang”. Họ so bì tính toán như người đầy tớ, xem bề trên như quan tòa nghiêm khắc. Khi có người anh chị em lầm lỡ, không những họ không tha thứ mà còn lên án cả “cha già” vì ông đã tỏ ra rộng lượng tha thứ, bao dung người em. Thái cực này cũng là tiền đề dẫn đến thái độ chỉ trích người khác. Họ cũng thường hay bị ảnh hưởng bởi tiên kiến nên thường có cách cư xử chủ quan và thiên lệch với người khác; nên đôi khi, như người con trai cả “nổi loạn”, họ thường tự cho mình là người tốt nên dễ dàng phê phán những người khác. Người trẻ mang trong mình tự mãn vì nghĩ rằng Thiên Chúa đang ngự trị trong đời sống của mình. Họ xem chính họ như là khuôn mẫu chuẩn mực nên khi một thành viên nào đó trong cộng đoàn có những “trệch hướng” với tiêu chuẩn của chính họ thì họ thường hay có suy nghĩ- có khi bằng lời nói hay hành động- chỉ trích, lên án và xem thành viên đó cần phải “được điều chỉnh”.

Người trẻ cần trưởng thành để chịu đựng sự thiếu vắng mọi thán phục, khen thưởng. Điều này giúp họ tránh được sự ghen tương vô ý thức. Thật vậy, giá trị của bản thân không hệ tại ở những lời tán thưởng mà là sống triệt để cho lý tưởng, sống cho Chúa và phục vụ anh em. Cần phải nhạy bén nhận ra những khuynh chiều ấy để điều chỉnh và khám phá những giá trị tích cực nơi người khác, nơi thế giới và nơi chính mình.

7- Tình yêu trên lý thuyết quan niệm sai lầm về Thiên Chúa

Bề ngoài lo chu toàn bổn phận nhưng bên trong lại xa cách Thiên Chúa. Họ quên Chúa, làm ngơ trước tiếng gọi tình yêu của Ngài, mải theo thế trần dù thể lý họ đang ở trong cộng đoàn được tách biệt với thế trần. Đôi lúc người trẻ- và cả những Kitô hữu nữa- có cái nhìn về Thiên Chúa là một người Cha nghiêm khắc và khắt khe. Nhưng thật ra, Thiên Chúa luôn nhìn chúng ta bằng con tim, với cái nhìn đầy yêu thương tha thứ. Dụ ngôn Người cha nhân hậu cũng cho chúng ta cảm thấy an tâm khi trở về cùng Thiên Chúa. Ngài là người Cha hiền từ đang mời gọi chúng ta mau bước về. Ngài là người Cha yêu thương chúng ta trước khi chúng ta yêu Ngài. Ngài tìm chúng ta trước khi chúng ta tìm Ngài. Ngài tha thứ cho chúng ta trước khi chúng ta xin lỗi Ngài.

Thực vậy, Thiên Chúa chẳng phải là một vị quan tòa nghiêm khắc luôn nhìn những chúng ta với ánh nhìn của một con tim vô cảm và cứng rắn. Ngài cũng chẳng phải là một Đấng nào đó chỉ để ta dùng lý thuyết mà bàn luận, tranh cãi nhưng trước hết và trên hết Ngài phải là Đấng ta đặt niềm tin tưởng và phó thác, là một “hiện diện” chúng ta phải sống và thể hiện trong cuộc đời. Thực ra, Thiên Chúa chẳng phải là một Đấng xa lạ, một Người Cha ta phải đi tìm nhưng Ngài tiềm ẩn ngay trong nội tâm của mỗi người. Phải tin Ngài, đến với Ngài bằng tình con thảo để yêu mến Ngài, cảm nghiệm giới thiệu Ngài cho anh chị em.

Kết luận:

Trên đây chỉ là một vài thách đố- theo cá nhân người viết- mà người trẻ có thể gặp phải trong hành trình làm môn đệ Chúa trong đời dâng hiến. Để có thể vượt qua được người trẻ cần phải hiểu biết chính mình, bằng việc gặp gỡ Chúa và tha nhân, thế giới. Kết hợp cách hài hòa và hội nhất của các yếu tố lý trí-ý chí và tình cảm nơi bản thân, sẽ giúp người có cách hiện diện và sống họa lại hình ảnh của Đức Kitô.  Người trẻ cũng cần phải có sự thống nhất hài hòa giữa đời sống nội tâm và cách hiện diện bên ngoài. Hai yếu tố ấy tạo nên tính cách riêng độc đáo của mỗi người. Theo ý kiến riêng của người viết người trẻ cần: Tập thích những gì mình muốn để muốn những gì mình không thích nhưng cần cho đời tu.

 

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

MỘT NGÀY CỦA MỘT NGƯỜI VỢ

           

Bốn giờ ba mươi sáng. Chị Trang với tay lấy chiếc điện thoại di động để ngay đầu giường, vội vàng tắt chuông báo thức. Chị không muốn tiếng chuông quấy rầy giấc ngủ của chồng con. Chị lấy tay che miệng, ngáp, khát khao:

            - Phải chi mình được ngủ thêm một chút nữa, nhỉ? Chỉ cầu mười lăm phút thôi.

            Không ai cấm chị, nhưng chính chị không bao giờ cho phép chị hưởng mười lăm phút xa xỉ ấy. Nhìn chồng nằm co quắp ôm đứa con trai mới chín tuổi đầu, chị thở dài thườn thượt:

- Khổ thân! Chẳng mấy khi bố con nhìn thấy mặt nhau.

Vì anh Nghĩa, chồng chị làm cho ngân hàng A, ở một phòng giao dịch mãi trên Bình Dương, xa nhà có đến gần bốn chục cây số. Khi anh dắt xe ra khỏi nhà thì trời chưa sáng, thằng cu Ti, con anh chưa thức; khi anh về, thường đã chín mười giờ tối, nó đã đi ngủ mất rồi. Chị bước xuống phòng khách, nhìn lên bàn thờ, hai bóng đèn quả nhót hai bên tượng Chúa chịu nạn vẫn sáng đỏ, không thôi thờ phượng Chúa suốt đêm ngày năm tháng. Chị làm dấu thánh giá:

- Chúa ơi! Con không được bằng hai bóng đèn vô tri vô giác kia. Một ngày, lại một ngày, con xin dâng Chúa. Con xin dâng hết mọi sự cho Chúa, rồi thì mặc kệ Chúa.

“Mặc kệ Chúa” là một kiểu nói của riêng chị, với ý chị phó thác hoàn toàn cho Chúa, thế thôi. Đột nhiên, một nỗi lo sợ mơ hồ, vu vơ, không định dạng được, tràn ngập tâm hồn chị, chị không mặc kệ Chúa được, lâm râm cầu xin thêm:

- Dám “Xin Chúa thương ban cho những ngày chúng con đang sống được bình an”.  

Chị vội vã vo gạo, đặt nồi cơm ấm nước, rồi mới đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh cá nhân. Xong, ấm nước vừa sôi. Chị gọi anh khe khẽ, như sợ thằng cu Ti nghe thấy:

- Em pha cà phê cho anh nhé!

Chị nghe thấy tiếng chân anh bước xuống cầu thang:

- Chiều nay anh về sớm, để anh đón con cho.

Anh Nghĩa ngồi nhâm nhi tách cà phê, phì phèo điếu thuốc rẻ tiền. Chị Trang pha trò:

- Ghét của nào trời trao của ấy. Em ghét thuốc lá hơn ghét tội, vớ được ông chồng hút thuốc khói mù mịt như cháy đống rơm.

Chị lấy nồi cá kho trong chạn ra để hâm nóng lại. Nồi cá không còn miếng nào. Đêm, lũ chuột cống lang đã mở được cửa chạn, chén sạch. Chị vừa buồn, vừa giận lũ chuột đến muốn ứa nước mắt. Sợ chồng buồn, chị cười gượng:

- Ôn lại thời đi học vậy, lại mỗi đứa hai con vịt rút xương.

Anh Nghĩa không quan tâm đến những bức xúc của vợ:

- Từ ngày ông bầu Kiên bị bắt, doanh thu khựng lại, ngân hàng gặp khó khăn. Họ giảm lương nhân viên đến ba mươi phần trăm. Ai không làm được, nghỉ. Anh lo quá, có khi bị đuổi việc nữa chứ… Ngày mai làm sao đây?

Viễn cảnh anh bị trừ lương hoặc bị giảm biên chế làm chị đổ mồ hôi hột, dù khi ấy còn sáng sớm, trời vẫn còn se lạnh. Chị an ủi anh, nhưng tự an ủi nhiều hơn:

- Mặc kệ. "Ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có đủ khốn khổ của ngày đó" (Mt 6, 34).

Chị lấy xuống hai cái gà mên làm bữa ăn trưa cho hai vợ chồng. Chị ấn vào mỗi gà mên chừng hai bát cơm, hai cái trứng vịt luộc bóc vỏ sẵn, một quả dưa chuột, một quả cà chua ương, một quả chuối, một chút nước mắm. Chị để gà mên cơm của anh vào một túi nhựa, treo lên xe cho anh, dặn:

- Hai quả ớt em để ở ngăn trên cùng. Hôm nay, đón con về, anh nhớ chở nó đi học giáo lý xưng tội rước lễ lần đầu. Nhớ, mười bảy giờ rưỡi vào học đấy.

Chị mở cổng cho chồng đi làm, tiện thể, ra đầu ngõ mua cho con ổ bánh mì thịt. Lúc về, chị mới để ý thấy mấy tờ giấy nhét trên khe cổng, nào là giấy báo tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, nào là giấy mời họp tổ dân phố, nào là thiệp cưới, thiệp mừng sinh nhật, lại còn đám thôi nôi, đầy tháng... Chị lắc đầu, ngán ngẩm. Nhìn đồng hồ treo tường, chị lẩm bẩm:

- Sáu giờ kém mười lăm, để cho nó ngủ mười lăm phút nữa.

Chị đánh thức con dậy. Nó ườn người, lăn qua lộn lại. Chị quát:

- Dậy ngay! Sáu giờ rồi. Đi vệ sinh, đánh răng, chải đầu, thay áo, ăn sáng, đi học. Ổ bánh mì thịt mẹ để trên bàn.

Thằng bé phụng phịu:

- Bánh mì, lại bánh mì, con không thích ăn bánh mì đâu, ăn cơm tấm cơ!

- Không được cãi mẹ. Không thích cũng phải ăn. Dậy! Đi!

Nói vậy, nhưng thương con, chị chạy vội ra đầu ngõ, mua cho con hộp cơm tấm.

Trong khi nó ăn, chị sửa lại chiếc khăn quàng của con cho ngay ngắn:

- Con sửa soạn đủ sách vở, bút mực và đồ dùng học tập chưa? Chiều nay, học xong, ra cổng ngay, bố đón, đưa đi học giáo lý.

Chị nhấc chiếc cặp của con lên:

- Lạy Chúa! Sách vở gì mà nhiều thế? Nặng quá! Không biết bố mình ngày xưa đi cày có vất vả thế này không?

Thằng cu Ti học lớp bốn ở một trường tiểu học bán trú, nhà trường cho bữa ăn trưa (nhưng phải đóng tiền). Chị Trang đưa con tới trường vừa kịp trống vào lớp. Cô phụ trách lớp đón chị ngay ở cổng trường, vồn vã:

- Chị ăn mặc đẹp quá, vừa sang trọng, vừa gọn ghẽ… Nhà trường sẽ mua cho mỗi lớp một đầu hình, một đầu đĩa làm giáo cụ trực quan. Hôm qua em đã gởi thông báo của ban giám hiệu cho các vị phụ huynh. Chị hiểu cho, đây là sự đóng góp hoàn toàn tự nguyện, em nhấn mạnh là hoàn toàn tự nguyện, mỗi học sinh ba trăm ngàn đồng.

- Nghĩa là không đóng góp cũng được phải không?

Cô phụ trách ngập ngừng:

- Vâng, đương nhiên rồi, có ai bắt buộc đâu. Nhưng mong chị thông cảm cho. Những tiết học có liên hệ tới đồ dùng dạy học kể trên, bó buộc chúng em phải mời những em mà gia đình không đóng góp gì ra ngoài sân chơi.

Chị Trang thấy nghẹn ứ cổ. Nhưng chị tỏ ra mau mắn:

- Vâng, vâng, chúng tôi tự nguyện.

Chị nhanh nhảu móc ví đưa tiền cho cô phụ trách rồi vội vã phóng xe đi. Đến công ty vừa đúng giờ. Nhân viên trong phòng xúm xít quanh bàn làm việc của chị:

- Chị Trang ơi! Đọc rồi sửa giùm em bảng tổng kết tài sản.

- Tiền công ty B bồi thường tai nạn giao thông cho mình ghi vào tài khoản nào, hả chị?

- Hàng đang trên đường về kho ghi sao?

- Giám đốc mời chị lúc chín giờ…

Công việc cuốn hút chị. Chị quên hết chồng con, quên hết vất vả, quên hết mọi sự, chỉ còn công việc và công việc, mặc cho quanh chị, cậu A con chú Hai đang mê mẩn với ghêm on lai, cô B con chị Ba đang say sưa chát chít, thằng C con chị Tư đang đắm mình vào phây buốc… Chị quên cả lệnh lên gặp giám đốc. Lúc chín giờ rưỡi, ông giám đốc trẻ ào vào phòng chị như một cơn lốc. Ngay tức khắc ai nấy vào vị trí, nghiêm chỉnh, cần mẫn không chê vào đâu được. Một điều lạ chưa từng xảy ra, ông giám đốc không trách mắng chị câu nào, lại còn cười xởi lởi:

- Ngày mai, công ty chúng ta được nhận giấy khen của ủy ban tỉnh. Chị Trang soạn cho tôi bài phát biểu. Ngắn gọn thôi, đọc không được quá mười lăm phút. Mười lăm giờ, nộp. Tôi chỉnh sửa nửa tiếng. Đánh máy, nộp lại cho tôi trước khi tan sở.

- Nhưng...

Ông giám đốc nghiêm mặt:

- Không nhưng nhị gì hết.

Rồi đi ra. Chị Trang càu nhàu:

- Hài vãi! Đọc mười lăm phút mà bảo là ngắn gọn ư?

Trong tất cả mọi công việc được giao, chị ghét nhất là việc soạn diễn văn, diễn từ cho ông giám đốc bằng thật học giả này. Ngoài việc có gốc lớn, có nhiều tiền và tài thượng đội hạ đạp, ông là người siêu ngu. Đã nhiều lần chị viết cho ông đọc. Chị cẩn thận đến nỗi khi dùng một từ khả nghi, chị phải tra bốn năm cuốn từ điển. Ấy vậy, khi chỉnh sửa bài viết của chị, ông luôn luôn muốn chứng tỏ mình là một nhà lãnh đạo tài ba đa khoa, nên luôn luôn chữa “lợn lành thành lợn què”, sai ngữ pháp, sai cả chính tả những từ thông dụng nhất, làm be bét bản văn của chị. Sau đó, tất cả mọi tội lỗi được đổ lên đầu chị. Vì ganh tị, người ta kháo nhau :

- Con mẹ Trang soạn chứ ai?

Trưa, mọi người xuống căng tin ăn trưa. Chị Trang ngồi lì trong phòng. Chị mở gà mên cơm ra. Khô khan quá, khó nuốt quá. Chị nhớ tới chồng, bây giờ cũng đang ăn bữa cơm khó nuốt như chị. Chị nói thầm:

- Thương anh ấy quá! Mình phải cố nuốt, phải giữ gìn sức khỏe để sống ở đời, với đời, cho chồng, cho con.

 Đúng lúc ấy chị nhận điện thoại của chồng:

- Anh xin lỗi. Chiều nay phải làm việc với đối tác nước ngoài, anh về trễ, không đón con được.

- Em đã hứa với con. Sao anh không nhờ người khác?

- Không nhờ ai được. Ở cơ quan anh, bằng ngoại ngữ A, B, C nhiều vô thiên lủng. Nhưng người nghe nói được thì không biết đọc viết, người biết đọc viết thì không nghe nói được.

Chị Trang mệt mỏi quá, gục mặt xuống bàn, ngủ chập chờn.

Buổi chiều qua đi thật mau, cuối cùng chị cũng hoàn thành công việc. Tan sở, chị hối hả ra về. Chị đón thằng cu Ti ở cổng trường. Nó càu nhàu:

- Sao mẹ bảo hôm nay bố đón con? Bố mẹ không giữ lời à?

- Mẹ xin lỗi, ngoài ý muốn của bố mẹ. Lớn lên con sẽ hiểu.

Thằng Ti bướng bỉnh:

- Hỏi gì, bố mẹ cũng bảo chờ lớn lên.

Chị không biết trả lời thế nào, đành im lặng, chở nó thẳng tới lớp học giáo lý. Sơ phụ trách phàn nàn:

- Ngày nào cũng đi trễ, ít nhất là mười lăm phút. Nhiều phụ huynh rất coi thường việc học hỏi giáo lý của con em mình… Chị không nhớ lời Chúa dạy hay sao: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn mọi sự khác, Người sẽ ban cho”(Mt 6,33). Đã chọn Chúa thì phải biết hi sinh chứ!

- Vâng, nhưng…

- Nhưng nếu còn đi trễ nữa, chúng tôi sẽ xóa tên, không cho con xưng tội rước lễ lần đầu thì các anh chị tự trách mình thôi, đừng trách ai nhé!

- Vâng.

Chị “vâng” ngoài miệng, nhưng trong lòng lại nghĩ:

- Mình có nói, sơ cũng chẳng hiểu cho. Biết đâu cơn “cám dỗ làm điều thiện” đã giết chết sự cảm thông và lòng trắc ẩn nơi sơ. Sơ đâu biết rằng đó là nồi cơm của gia đình mình. Người xưa từng nói: “Dân dĩ thực vi thiên”, người dân lấy miếng ăn làm trời. Với lại “Có thực mới vực được đạo”. Lại nữa, mình có sửa được thời khóa biểu của nhà trường đâu? Thằng cu nhà mình có được xưng tội rước lễ lần đầu hay không là việc của Chúa, mặc kệ Chúa.

Chị phóng xe ra chợ, mua vội con cá, mớ rau, rồi quay lại nhà thờ đón con. Về tới nhà, trời đã tối hẳn. Anh Nghĩa vẫn chưa về. Chị vội vã thay quần áo, ngấu nghiến ăn ổ bánh mì thừa của con hồi sáng. Rồi chị vùi đầu vào bếp, nấu bữa cơm tối. Chị giục con:

- Lớn rồi, tự tắm rửa đi. Cơm chín, mẹ gọi.

Thằng cu Ti phụng phịu:

- Con không tắm đâu. Con còn phải học bài, phải làm hai bài tập làm văn và năm bài toán cô cho về nhà.

Chị gắt:

- Học sinh tiểu học, học một ngày hai buổi sáng chiều rồi chưa đủ sao mà còn một đống bài tập về nhà thế kia? Đi học là học làm con người bình thường, chứ đâu phải làm thần đồng, hay thiên tài gì cho cam?

Nhưng rồi thằng cu Ti cũng đi tắm, ăn cơm. Chị cũng giúp con ôn bài và làm xong các bài tập. Chị căng mùng cho con, bắt nó ngồi lên đọc kinh tối. Nhớ lời bố chị khi còn sinh tiền: “Dù mệt nhọc, vất vả đến đâu, cũng phải đọc ít ra ba kinh Kính mừng, dâng mình cho Đức Mẹ trước khi đi ngủ”, chị hững hờ làm dấu thánh giá, đọc qua loa ba kinh Kính mừng rồi lăn ra ngủ. Chị vừa chợp mắt thì giật mình. Vẫn còn thau quần áo chưa giặt. Chị bò dậy. Anh Nghĩa về từ lúc nào, chị không hay biết. Anh vào nhà bằng chìa khóa riêng, đã giặt đồ giúp chị, đang phơi quần áo ngoài hiên. Chị nhìn anh với lòng biết ơn nhưng không kịp nói lời nào. Quá mỏi mệt, chị lao vào giường ngủ tiếp, quên cả ăn cơm tối, quên cả tắm gội... 

Đó là một ngày thường trong đời thường của một người vợ tầm thường, được học hành đôi chút, trong tầng lớp đông đảo dân thường.

Nguyễn Ngọc Ngu Ngơ

 

SÁNG LÒNG

 

Chiếc xe đò cũ bạc màu, chạy than thời bao cấp ì ạch dời bến Long Xuyên để về bến Kinh B, trên con đường nhựa hẹp nhiều ổ gà dài hơn ba mươi cây số. Sau hơn hai tiếng đồng hồ, nhiều lần xe dừng lại bên đường để đưa rước khách lên xuống và cũng để châm thêm than vào cái thùng bằng sắt tròn cao nghều đựng than ở phía cuối xe. Cuối cùng, xe cũng đến được bến Kinh B. Lúc đó đã xế chiều. Bầu trời có những đàn cò trắng kết theo hình cánh cung vỗ cánh mải miết bay về tổ, trước khi trời kịp tối. Hành khách từ trong xe và còn một vài người trên mui xe đều vội vã xuống, ai nấy như mong về mái ấm gia đình sớm sau một ngày ngược xuôi vất vả lo cơm áo, trước khi màn đêm ập đến. Đó là những ngày đầu năm 1980, cái thời bao cấp, “ngăn sông cấm chợ”. Hà đã xuống xe thật sớm và đang đón bó bao gai của nàng khoảng gần 20 chiếc. Hà vội kéo bó bao vào vỉa hè, ngay trước nhà dì nàng, sau khi bác lơ thả từ mui xe xuống. Thoáng nhìn bó bao, Hà thót dạ, lo lắng, sinh nghi. Bó bao của nàng đã bị xộc xệch khác nhiều so với lúc nàng đưa lên mui xe. Hà vội mở bó bao ra xem. Ôi! mười mấy khúc vải, đủ loại, mỗi khúc dài ba, bốn mét, nàng vừa mua được và đã cẩn thận độn trong từng chiếc bao không, rồi bó lại để tránh trạm kiểm soát Lộ Tẻ, nay đã biến mất. Hà buồn bã rũ rượi, ngồi nép vào góc nhà của dì vừa khóc nức nở vừa than thở:

- Dì ơi! thế này thì chết con rồi! gia đình con đã mất hết, chỉ còn một chút này để kiếm gạo qua ngày, nay mất nữa thì lấy gì mà sống được dì ơi! Tránh được vỏ dưa (trạm kiểm soát) con lại gặp vỏ dừa (kẻ cắp) rồi dì ơi!

- Chị cứ bình tĩnh xem sao nào! Từ từ rồi liệu, sao lại chết được. Dì của Hà an ủi.

            - Ngày nào con cũng làm như vậy dì ạ. Con cho mỗi miếng vải mua được vào trong một cái bao, con xếp lại, rồi buộc chặt bó bao gởi trên mui xe. Như thế qua trạm an toàn. Vậy mà đứa nào nó biết, nó lấy hết của con, chỉ còn lại bó bao không thôi. Gia đình con chết mất dì ơi!

Ngày đó, dì của Hà đã gần năm mươi, mắt dì tuy vẫn mở bình thường trên khuôn mặt đầy đặn xinh xắn, cái miệng luôn nói cười thật tươi vui, mà dì không nhìn thấy gì nữa. Dì đã bị lòa ngay từ khi mới hai mươi tuổi. Dì thường kể do uống quá nhiều thuốc quinine để chữa bệnh sốt rét mà dì bị lòa đấy.

Tiếng chuông chiều của nhà thờ từng hồi vang lên, thánh thót như thúc giục bao ngườì mau đến với Chúa. Dì của Hà ôn tồn nói:

- Không sao đâu cháu ạ. Cháu chỉ mất có một chút của, mấy chục mét vải thôi. Cháu còn nguyên một gia đình hạnh phúc. Cháu vững lòng cậy trông vào Chúa, chắc chắn Chúa sẽ ban ơn cho gia đình cháu. Dì có một chút để giúp cháu bắt đầu làm lại nhé.

Dì của Hà vừa nói vừa tháo cái ruột tượng bằng vải màu nâu đã bạc, được quấn kĩ quanh người dì từ nhiều năm nay, rồi dì mở cái gói ở giữa ruột tượng lấy ra  đưa cho Hà hai chiếc nhẫn vàng. Dì nói:

            - Dì cho cháu mượn hai chiếc, bao giờ cháu làm ăn khá thì trả lại cho dì, dì không lấy lời đâu. Lỡ mà cháu thua thiệt thì không phải trả lại dì nữa.

Hà rưng rưng nước mắt, tay run run cầm lấy hai chiếc nhẫn rồi nói:

- Con cám ơn dì, mà dì ơi! Con biết làm gì bây giờ…?

Hai dì cháu ngồi tần ngần một lúc lâu như đang suy tính một điều gì đó. Bỗng dì của Hà lên tiếng:

- Hà này, dì thấy ở đây có nhiều người đâu có chữ nghĩa nhiều như vợ chồng cháu, mà họ buôn bán khá lắm. Chiều họ đi Long Xuyên mua ít thuốc tây, sáng đem ra chợ bán, công việc nhẹ nhàng mà lại lời nhiều, cháu bàn với chồng cháu thử tính xem sao.

- Vâng, con sẽ bàn, nhưng có điều anh Phúc nhà con lúc này, khi nào không đi dạy học là mải mê với việc xây dựng nhà thờ của họ đạo. Anh ấy chán không màng đến buôn bán nữa dì ạ.

- Thôi cháu về đi, muộn rồi, kẻo nhà mong.

- Vâng, con xin phép dì con về, việc đó con sẽ tính sau dì ạ.

Hà lặng lẽ bước xuống con đò ngang. Ông lái đò chèo, con đò tròng trành qua sông, trong lúc nàng miên man nghĩ về ngày mai, bao câu hỏi cứ đặt ra trong đầu Hà. Rồi đây gia đình mình sẽ ra sao?

            - Đò tới bến rồi, lên đò đi cô Hà. Ông lái đò nói.

            - Xin lỗi chú con lên đây. Hà đáp

Trời đã chạng vạng tối, tiếng chó của nhà ai đó đang sủa từng tiếng; một vài ánh đèn dầu le lói trong những căn nhà bên đường vừa được thắp lên như cố xua đi bóng đêm đang dần xuống. Lòng Hà quặn đau, bước thấp bước cao trên con đường đất mòn trơn trượt do chiều nay mưa nhiều. Con đường dẫn về nhà cách bến đò gần hai cây số, nàng đã quen đi lại nhiều lần, nhưng hôm nay sao ngao ngán thế! Thoáng có một tia hy vọng lóe lên trong đầu. Hà lẩm bẩm một mình: mình sẽ làm theo lời dì chỉ. Thế rồi, nàng bước mau về nhà như mọi khi. Trong bữa cơm tối hôm đó, cả nhà quây quần quanh mâm cơm trên một chiếc chiếu trải ở góc nhà, Hà nhiều lần muốn đem câu chuyện chiều nay kể cho gia đình cùng biết, nhưng rồi nàng lại thôi. Nàng cố gắng hòa với niềm vui của chồng đang say sưa kể về việc chuẩn bị tổ chức lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng nhà thờ Trinh Vương. Phúc (thư ký Ban Kiến thiết) nói:

- Con biết, Thầy Bốn và ban Kiến Thiết chỉ mong có được 10 chỉ vàng trong ngày lễ Đặt Viên Đá, thì nay bà con đã dâng cúng tới hơn 100 chỉ, gấp 10 dự kiến ban đầu. Số bà con xa gần dâng cúng vẫn còn đang tiếp tục. Có lẽ tạm đủ tiền xây gian Cung Thánh. Đúng là việc của Chúa, Chúa sẽ làm mà. Con thấy câu Kinh Thánh thầy Bốn đã chọn: “Tình yêu Chúa Kitô thôi thúc tôi” (2Cr 5-14) đang được ứng nghiệm tại đây. Con nghĩ ai có thể ngờ trong lúc “gạo châu củi quế” như hôm nay, mà lại được như thế; Thầy Bốn và họ đạo nhà cũng bạo gan thật, chỉ có ba mươi giạ lúa, mà dám khởi công xây nhà thờ.

Ba của Phúc đang làm Trưởng ban Vận Động xây dựng nhà thờ nói tiếp:

            - Anh Phúc, ba tính cắt khẩu hiệu treo vào dịp lễ này là: “Tôi trong xứ, bác phương xa. Đan tay xây lại mái nhà cha chung”,                                      anh thấy được và hợp không?

- Con thấy hay và hợp lắm rồi ba ạ, nhưng phải trình qua Thầy Bốn đã, con nghĩ là được. Thầy Bốn chắc sẽ vui lắm! Thầy Bốn rất thích thơ mà.  Phúc nói.

Thế là cả nhà vừa ăn cơm vừa phấn khởi bàn việc xây dựng nhà thờ. Hà như quên hết nỗi đau ban chiều mà hòa vào niềm vui của chồng, của gia đình, của họ đạo trong việc xây dựng lại ngôi Thánh Đường. Hà lại lẩm bẩm: ngày mai mình sẽ bắt đầu.

            Thời gian đã trôi đi thật mau. Thế là đã hơn ba mươi năm rồi, với bao đổi thay! Thầy Bốn sau ba năm, không những xây dựng xong gian Cung Thánh, mà còn xây tiếp sáu gian và cả tiền đường nhà thờ nữa, nhờ nhiều người “sáng lòng”. Thầy đã đi thật xa, cách họ đạo cả nửa vòng trái đất. Thầy đã được thụ phong Linh Mục, mấy lần trở về Việt Nam, người có ghé thăm họ đạo và vẫn không quên đọc lại bài thơ Quê Hương của Đỗ Trung Quân đã được nhạc sỹ Giáp Văn Thạch phổ nhạc: “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi/ Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người”.

Ngôi thánh đường Trinh Vưng vừa xong, gia đình Phúc cũng chuyển về xứ đạo khác để tiện việc buôn bán và học hành cho con cái. Phúc theo gương cha cũng nhận lãnh trách nhiệm: “Trưởng ban Vận Động xây dựng nhà thờ mới” nơi xứ đạo mới đến. Sau sáu năm ngôi Thánh đừơng mới được cung hiến trọng thể, gia đình Phúc lại chuyển về xứ đạo khác ở Cần Thơ. Nghe nói đâu xứ đạo đó đang chuẩn bị xây nhà thờ…

Hơn ba mươi năm qua, gia đình Phúc vẫn giữ nghề  thuốc tây, nghề mà người dì “sáng lòng” năm xưa đã “truyền miệng” và giúp vợ chồng Phúc hai chỉ vàng để làm vốn. Cũng từ đó, vợ chồng Phúc mở mang ra những nghề khác. Vợ chồng Phúc thường kể cho các con nghe khởi đầu việc lập nghiệp của gia đình mình là thế. Cách nay mấy tháng, trong một chuyến về Sài Gòn, vợ chồng Phúc ghé thăm người dì “sáng lòng” năm xưa. Phúc nói:

            - Chúng con từ miền Tây lên có chút qùa biếu dì, một chút để dì ăn quà. Chúng con được như hôm nay là nhờ dì thương giúp đỡ đó, “Miếng khi đói bằng một gói khi no” mà dì.

            - Anh chị cứ cả nghĩ, tôi có giúp anh chị được bao nhiêu đâu mà anh chị cứ bày vẽ thế, mỗi lần về thăm tôi lại qùa cáp, rồi cho tôi tiền nữa. Anh chị làm tôi nghĩ ngợi quá. Dì của Hà nói.

Sáng nay, Phúc dậy thật sớm, trước cả tiếng chuông nhà thờ ngân vang mời gọi các tín hữu mau thức dậy để tạ ơn Chúa sau một đêm an lành Người đã ban cho. Tiếng côn trùng đua nhau rả rích kết thành một bản hòa tấu tuyệt tác của Tạo Hóa trong đêm mưa lạnh gợi Phúc suy nghĩ miên man về những đổi thay của con nguời, của cuộc đời, của xã hội. Càng suy nghĩ, Phúc càng hiểu rõ hơn và xác tín vào lời Chúa đã phán dạy, dù lời đó đã cách đây mấy ngàn năm: “Hãy làm việc khi trời còn sáng”.  Vì “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đi.”. (Mt 24-35).

                                                                                                                                                                                                                   

                                                                       Inhaxiô Đặng PhúcMinh

 

NGƯỜI VỢ THỜI @

Tom Điều gx Môi Khôi Láng Sen

                                                                                                                                                                     Nghe nói cô giáo Hạnh quê tận Bình Thủy, Cần Thơ. Không hiểu Ông Tơ, Bà Nguyệt xe duyên kiểu nào mà cô gặp và yêu anh Thuận nhà bà quản Hòa. Anh Thuận học xong lớp 12, ở nhà làm ruộng. Nói nào ngay, anh có thi đại học nhưng điểm thi cả ba môn cộng lại được có 3,5 điểm, nên đành bỏ học. Bà quản Hòa an ủi con, nhà mình có ai học đại học đâu mà vẫn sống. Anh lầm lì không nói, không rằng, khoác áo đi chơi. Ngày qua ngày, anh vẫn lêu lổng, đàn đúm nhậu nhẹt với các bạn đồng cảnh ngộ. Tình cờ anh gặp cô giáo Hạnh ngoài thị trấn Vĩnh Thạnh. Cô Hạnh đã tốt nghiệp đại học sư phạm, khoa giáo dục tiểu học tại đại học Cần Thơ. Cô hiện dạy tại một trường tiểu học lớn ngoài thị trấn. Ngày anh đưa cô về ra mắt gia đình, cả nhà bà quản Hòa đều tấm tắc khen thầm. Quả thật cô đẹp người, đẹp nết, ăn nói lễ phép, nhẹ nhàng, có duyên. Bà quản tuyên bố: Cưới vợ phải cưới liền tay. Bà mời ông chú bà bác đi thăm nhà gái và xin hỏi cưới cô Hạnh cho con trai. Cha mẹ cô Hạnh cũng thuận tình gả cô Hạnh và đồng ý cho cô theo đạo Công Giáo. Cô Hạnh được cha sở ngoài thị trấn dạy đạo. Không bao lâu sau họ cưới nhau. Làng nước cũng có người xầm xì:” Đúng là bông hoa lài cắm bãi cứt trâu”.

Sau ngày cưới ít lâu, anh chị được bà quản chia cho mấy công ruộng và cho ra riêng. Cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ xem ra cũng ổn. Anh ở nhà chăm mấy công ruộng. Chị sáng sáng đeo cặp, chạy xe đi dạy học. Chiều về chị làm việc nhà, chị còn nuôi thêm đàn gà, bầy heo. Anh Thuận từ ngày có vợ cũng bớt nhậu nhẹt, đàn đúm. Bà con làng xóm ai cũng mừng cho họ. Ít lâu sau, chị được đề bạt phó hiệu trưởng. Lúc này họ đã có với nhau hai mặt con, một trai, một gái và đang học mẫu giáo. Hằng ngày, sáng thức dậy chị lo cho các con ăn sáng và chở hai con đi học. Chị gởi con học lớp bán trú, ăn ngủ tại trường nguyên ngày. Buổi trưa chị tranh thủ ra chợ mua thức ăn. Về nhà, chị cắm nồi cơm, cùng anh vừa nhặt rau, làm cá, kho cá, nấu canh. Ăn xong miếng cơm chị vội vã đến trường kịp làm việc buổi chiều. Chiều về, chị qua trường mẫu giáo đón con. Đến nhà chị vội vã tắm rửa cho con, nấu cơm,  anh giặt đồ, lau nhà. Phần anh, từ ngày chị đi làm cả ngày, anh thay chị chăm sóc đàn heo, đàn gà. Thấy chị quá bận rộn với công việc, anh cũng chia sẻ với chị một số việc nhà. Nhờ vậy, chị phấn đấu hoàn thành tốt mọi công tác được giao. Uy tín chị ngày một tăng. Không lâu sau, chị được điều động về phòng giáo dục huyện. Chị được  giao chỉ đạo công tác chuyên môn tiểu học toàn huyện, phụ trách 25 trường tiểu học trực thuộc. Công việc của chị lúc này khá nhiều. Buổi trưa, chị không còn tranh thủ đi chợ mua ăn được như ngày nào. Mỗi sáng Chúa nhật, chị đi chợ mua thịt, cá, củ quả, gia vị về để tủ lạnh cho gia đình dùng trong một tuần. Anh ở nhà tăng gia, trồng vài ba luống rau nên gia đình có rau xanh dùng thường xuyên. Hai vợ chồng thống nhất với nhau  dùng tiền lương của chị trang trải chi phí ăn, mặc cho cả gia đình. Thu nhập từ mấy công ruộng, chăn nuôi gởi tiết kiệm  ngân hàng. Lúc này các con của anh chị đang học tiểu học. Mỗi tối, cơm nước xong chị nhắc các con học bài, làm bài tập ở nhà. Chị hỏi lại các con những kiến thức đã được học ở lớp, chị giảng lại những gì các con chưa hiểu. Chị giúp các con làm thêm các bài tập mở rộng, nâng cao. Nhờ vậy hai đứa trẻ chăm ngoan, học giỏi.

Bạn bè anh cũng có kẻ ngứa miệng châm chọc: “Làm trai dọn cửa quét nhà, hễ vợ có gọi, thưa bà có em”. Kẻ khác độc địa hơn bảo: “ Tao nghe nói vợ mày kì này nó làm lãnh đạo, vậy nó có lãnh đạo mày không?” Anh ngượng ngập đáp: “Vợ em không như anh nói đâu”.

 Quả thật, tự trong đáy lòng, anh rất biết ơn chị. Chị không chỉ đảm đang chu tất việc xã hội, chị còn chăm lo việc nhà, chăm lo giáo dục con cái. Chị luôn quan tâm chăm sóc anh. Chị lo cho anh và các con ăn uống đủ chất, may mặc cho chồng con bằng chúng bằng bạn. Trái với những gì người ta nghĩ, chị luôn tôn trọng anh. Đặc biệt chị rất hiểu anh. Chị luôn chia sẻ với anh những ưu tư, trăn trở. Chị mua sách báo khuyến khích anh đọc để mở rộng tầm nhìn, bổ sung kiến thức phổ thông. Chị còn mua thêm tài liệu hướng dẫn chăn nuôi, trồng trọt, do vậy hiệu quả kinh tế của anh ngày một khá. Chị giúp anh xóa dần tự ti mặc cảm. Ngày nay, anh giao tiếp với các đồng sự của chị khá tự tin, thoải mái. Phần chị, chị luôn hoàn thành xuất sắc công việc được giao. Năm nào chị cũng được tặng thưởng danh hiệu chiến sĩ thi đua. Do vậy, khung lương đại học ba năm nâng  lương một bậc, nhưng chị luôn được nâng lương trước thời hạn, hai năm một bậc. Chị được  lãnh đạo tín nhiệm, đồng sự yêu mến, Ban giám hiệu và giáo viên dưới quyền nể phục. Thỉnh thoảng chị bớt chi tiêu biếu cha mẹ đôi bên mỗi người một triệu  ăn quà. Bà quản Hòa hết lời khen ngợi “chị giáo nhà tôi”.

Nhưng có một điều anh Thuận mừng hơn cả là chị rất ngoan đạo. Chị say mê đọc Kinh Thánh và sống tinh thần Phúc Âm mến Chúa, yêu người. Chị còn nói: Tôi học được từ Kinh Thánh nhiều lẽ khôn ngoan giúp tôi ứng xử với anh chị em đúng mực. Có chị em nói với chị: chị mới theo đạo mà cũng siêng đi nhà thờ nhỉ? Chị trả lời: Tôi theo đạo vì tôi tin Chúa. Tôi đã tìm gặp Chúa và cảm nghiệm được tình Chúa yêu tôi nên tôi sống theo lời Ngài dạy.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, hôm nay anh chị Thuận xin cha xứ dâng lễ trọng thể kỉ niệm 15 năm chung sống. Họ tổ chức một bữa tiệc thân mật mời thân bằng quyến thuộc đến chia vui. Nhìn gương mặt rạng rỡ, hạnh phúc của họ ai cũng vui lây. Đẹp thay, người vợ công, dung, ngôn, hạnh thời @.

 

DẠY VỢ HAY VỢ DẠY

Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Các cụ ta ngày xưa đã khuyên nhủ: Phải tu thân và tề gia trước đã, rồi sau đó mới trị quốc và bình thiên hạ.Thế nhưng, hai việc đầu tiên này xem ra cũng không dễ dàng chút nào.

Trước hết là việc tu thân.

Người đời thường bảo: Nhân vô thập toàn. Phàm đã là người, thì ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình. Vì thế, việc tu thân là bổn phận của mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc. Bổn phận này sẽ kéo dài bằng cả cuộc đời và không miễn trừ cho bất kỳ một ai. Qua kinh nghiệm, gã thấy nhiều khi mình hăng hái dốc quyết sửa đổi tật xấu này, uốn nắn lại thói hư  kia. Thế nhưng, sự dốc quyết của mình chỉ kéo dài dăm bữa đến nửa tháng là cùng, để rồi sau đó vẫn chứng nào tật ấy, mèo vẫn hoàn mèo mà thôi. Phải kiên nhẫn lắm chúng ta mới đổi mới được bản thân mình tí chút. Bởi vì sống là tranh đấu, là bơi ngược giòng nước. Nếu không cố gắng bơi, thì sẽ bị giòng nước là những đam mê sai trái cuốn trôi. Hay như Napoléon đã xác quyết: Chiến thắng được cả Châu Âu còn dễ hơn là chiến thắng chính bản thân mình.

Tiếp đến là việc tề gia.

Việc này cũng không đơn giản. Suy gẫm về thân phận làm chồng, Nguyễn Huyền đã phải than thở cả tiếng trên báo “Tuổi Trẻ Cười” như sau: Làm chồng sao thật khó, kiếm tiền phải hàng bó, nhưng lại không được mó, phải đưa cho “mẹ nó”…  Mặc dù biết rằng bổn phận làm chồng thật khó, nhưng cũng vẫn phải anh dũng bước vào, bởi vì chẳng nhẽ cứ cu ky một mình, thì làm sao mà tồn tại cho nổi. Và trong lúc tập tễnh bước vào cuộc sống lứa đôi, có anh chàng nào mà lại chẳng mơ ước sẽ “dinh tê” được một chị vợ vừa đẹp người lại vừa đẹp nết,  nghĩa là vừa phải xinh, lại vừa phải hiền. Về cái nết hiền lành, không phải bỗng dưng mà có. Muốn có thì phải học tập. Và muốn học tập thì phải có người dạy bảo. Vì vậy, nhiều anh chàng lấy làm khoái chí với lời căn dặn của các cụ: Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.

Đúng thế, chị vợ vừa mới khăn gói quả mướp về nhà chồng. Cái gì cũng lạ lẫm, cái gì cũng mới mẻ, bởi vì nhà chồng không giống như nhà mình, nhất là mẹ chồng thì lại càng không giống như mẹ mình và cô em gái của chồng cũng lại càng không giống như cô em gái của mình. Cho nên, nhất cử nhất động đều phải so đo và dè chừng. Cái gì cũng phải học, cái gì cũng phải tập. Toàn bộ nếp sống phải được điều chỉnh cho phù hợp hoàn cảnh mới và nhiệm vụ mới, nếu muốn cho gia đình được trong ấm ngoài êm, bởi vì đáo giang phải tùy khúc và nhập gia phải tùy tục. Chính vì thế, chị vợ rất cần được chỉ dạy. Và trong môi trường mới này, không ai gần gũi chị vợ cho bằng anh chồng. Vì thế, anh chồng bỗng nhiên trở thành một “cố vấn tối thui”, một gia sư đáng tin cậy cho chị vợ trong lời ăn tiếng nói, cũng như trong cung cách cư xử đối với mọi thành viên của gia đình. Anh chồng phải dạy bảo và chị vợ phải học tập, đó là điều dĩ nhiên. Thế nhưng, điều quan trọng ở đây đó là cách dạy.

Thực vậy, nhiều anh chồng, chẳng biết có phải vì bản tính vốn “vũ phu chi cục mịch”, hay do ảnh hưởng của những cuốn phim bạo lực trên truyền hình, mà việc dạy vợ hơi bị nhiều tính cách cơ bắp, áp đảo và cưỡng bức. Nói thì phải nói cho thật lớn, thậm chí nếu chửi bới được thì càng tốt, bởi vì họ thầm nghĩ rằng sự thật và chân lý luôn thuộc về những kẻ to mồm. Còn hành động thì phải nghiêng hẳn về phía bạo lực như đánh đấm, hay đập nồi đập niêu, làm cho chị vợ phải răm rắp tuân theo. Cung cách dạy vợ theo kiểu này đã được tác giả Đỉnh Rai diễn tả như sau: Ông kia dạy vợ dạy con, chân thượng cẳng, tay hạ đòn tả tơi, ông này miệng chửi khơi khơi, hai mắt ngầu đỏ, phun lời khó nghe. Việc dạy như thế thì chỉ “bắt nạt” được những chị vợ hiền lành và nhu mì mà thôi. Vì sợ mà chị vợ phải vâng lời. Ức quá, thì chỉ biết khóc. Cùng lắm, thì khăn gói quả mướp về với bu, hay cấm vận một thời gian nào đó. Tuy nhiên, nếu gặp phải một chị vợ cứng tướng, hình dong bên ngoài là hình dong đờn bà con gái, nhưng cái cốt bên trong lại là cốt đờn ông con giai, thì việc dạy như thế sẽ chẳng “si-nhê” và cũng chẳng đem lại một kết quả nào sốt. Trái lại, còn gây thêm những đổ vỡ tan hoang: Bây giờ “bình đẳng” chả lo, ông giơ cùi chỏ, bà thò cẳng chân.

Trong khi đó, có những anh chồng luôn ý thức: Bên thẳng thì bên phải chùng, hai bên đều thẳng, thì cùng đứt dây. Mật ngọt chết ruồi. Với một giọt mật, người ta sẽ bắt được nhiều ruồi hơn cả một thùng giấm chua. Và họ đã thay đổi chiến thuật, sử dụng phương pháp nhỏ nhẹ và êm dịu, theo kiểu “mưa dầm thấm đất”, thay vì dùng phương pháp bạo lực và khủng bố.

Một anh bạn tên là Ngô Nặng, đã tâm sự về quá trình dạy vợ của mình như sau: Nhớ lời xưa các cụ đã phán dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về, cho nên ngay sáng hôm đầu tiên, tôi thức giấc trước, trong khi vợ vẫn còn ngủ mê mệt, tôi rón rén xuống bếp lo bữa điểm tâm, rồi mới đánh thức nàng dậy. Làm như vậy, tôi muốn dạy cho nàng biết quan tâm tới “nửa kia của mình”. Nàng đánh răng súc miệng, rồi ỏn ẻn nói với tôi: Anh ơi, sáng nào anh cũng làm thế này cho em nhá. Tôi ú ớ, rồi đành méo miệng gật đầu.

Rồi hai đứa chúng tôi cùng đi chợ. Có sao? Nàng mới về chưa quen người, chưa quen cảnh, vả lại vợ chồng son, nỡ nào để vợ “đơn thân độc mã” trên đường. Nàng tung tăng đi, còn tôi vã mồ hôi với hai tay là hai giỏ xách nặng khủng khiếp. Chả là tôi muốn nàng hiểu thêm về cái gu ẩm thực của tôi. Đấy là bài học “tìm hiểu đối tác” mà tôi muốn dạy cho vợ. Đang suy gẫm trong đầu về ý nghĩa sâu xa của bài học dạy vợ này, thì nàng quay sang tôi và nói: Anh ơi, Chúa nhật nào hai đứa chúng mình cũng đi thế này nhá. Dù mặt tái đi vì lời đề nghị “khiếm nhã” của nàng, tôi cũng ráng gồng cơ cổ lên để mà gật đầu.

Khi nấu cơm cũng vậy. Phải dạy cho nàng biết cái đạo làm bếp của vợ. Dù nóng nực, mệt mỏi cũng không được than van, rên rỉ. Thế là xắn tay áo xuống bếp thái thịt, nhặt rau với nàng. Nàng quay sang mỉm cười nói với tôi: Anh ơi, hôm nào em về muộn, anh cứ làm hộ em như thế này nhá. Trời ạ, tôi lại phải lặng lẽ gật đầu.

Ngày này qua ngày khác, các bài học dạy vợ như trên, tôi luôn đem ra sử dụng. Ấy vậy mà không hiểu tại sao mọi người cứ bảo vợ tôi đã cải thiện được tôi, từ một kẻ lông bông lang bang trở thành một người chồng, một người cha mẫu mực.

Hơn thế nữa, bản tính anh đờn ông vốn thường hay “ga lăng”, chẳng mấy ai sợ vợ, nhưng chiều vợ và nể vợ thì hơi bị nhiều. Cũng vì đặc tính nể vợ này, họ sẵn sàng “duyệt” và thông qua mọi ý kiến của vợ, bởi vì họ luôn tâm niệm rằng “một sự nhịn là chín sự lành”. Miết rồi cái đặc tính đáng yêu ấy cứ âm thầm thấm vào tim gan phèo phổi, nhập vào lục phủ ngũ tạng của mấy anh chồng, khiến họ ngộ ra rằng phàm bất kỳ điều gì vợ phán ra, đều là sự thật, đều là chân lý, đều đúng boong “một chăm phần chăm”. Thành thử ngu gì mà không chịu khó nghe lời vợ. Chẳng vậy mà người xưa đã từng bảo: Lệnh ông không bằng cồng bà. Thậm chí còn nói:  Nhất vợ nhì trời.

Tới nước này, thì gã bèn phải tự hỏi: Ai dạy ai bây giờ? Chồng đang dạy vợ, hay vợ đang dạy chồng?

 

 

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

DÁNG XUÂN

Ra giêng xanh biếc mây trời

Lả lơi ong bướm, ươm ngời sắc xuân

Hương hoa gió nhẹ lâng lâng

Rung rinh vạt áo trắng ngần mây bay

Ru em xuân ấm vòng tay

Bờ môi ngan ngát, hương say đắm nồng

Mơn man suối tóc bềnh bồng

Nắng xuân có ấm, tô hồng má em ?

Xinh xinh mắt liễu dịu êm

Ra giêng em bước qua thềm ngây thơ

Xuân tình dệt mộng ước mơ

Dáng xuân e ấp, hồn thơ đong đầy,

                            Nhật Quang, Gx Thái Hòa

 

BÊN EM

Bên em hạnh phúc trường tồn

Làm cho cuộc sống tâm hồn an vui

Bên em quên hết ngậm ngùi

Tinh thần phấn khởi cuộc đời nở hoa

Bên em ru mãi tình ta

Đưa vào giấc mộng mặn mà ái ân

Bên em đẹp đẽ muôn phần

Để anh - em thấy: ta cần có nhau

Bên em có trước có sau

Suốt đời trọn kiếp chẳng đâu sánh bằng

Bên em luôn mãi vĩnh hằng

Điểm tô thêu dệt tháng năm hẹn hò                                                       

Bên em tan hết lắng lo                                                                         

Cuộc đời êm ấm đến cho chúng mình                                                  

Bên em trọn vẹn nghĩa tình                                                                    

 Yêu thương tha thiết quang vinh cuộc đời                                              

Bên em cảm thấy tuyệt vời                                                                     

Xây niềm mơ ước rạng ngời vươn xa                                                      

Bên em đầm ấm thiết tha                                                                     

Cùng nhau chung hưởng một nhà yên vui.

Hoài Thanh,  Gx Ngọc Thạch

 

VỢ YÊU

Vợ là “con cái” người ta,

Nhưng lại làm mẹ sinh ra con mình.

Vợ là hạnh phúc gia đình,

Người “xây tổ ấm”, nghĩa tình mở ra.

Vợ là một nửa đời ta,

“Nửa kia” tìm gặp duyên hòa thành đôi.

Vợ là khúc hát đầy vơi,

Lâng lâng trầm bổng nhẹ rơi tháng ngày.

Vợ là trăng sáng đêm dài,

Dòng sông, bến đợi trải hoài nhớ thương.

Vợ là mưa nắng khôn lường,

Đông qua xuân lại vấn vương, diệu vời.

Vợ là nước mắt, nụ cười,

Ngọt ngào, trong sáng đẹp lời ca dao.

Vợ là hoa bưởi, hoa đào,

Để ai ngớ ngẩn đi vào đi ra.

Vợ là kiều diễm tiên sa,

Thảo hiền cô Tấm những là mến yêu.

Vợ là tuyệt tác mỹ miều,

Kho tàng thiên phú đem nhiều… buồn vui!

 Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

 

 

 

TẢN MẠN

 

NGƯỜI VỢ

Tôi là người chồng, nhưng lại thích nói về người vợ của mình. Đã 40 năm qua, tôi chọn một nửa để gọi là vợ, tiếng vợ sao nghe thân thương và trìu mến quá. Tôi là lính. Trong một dịp về phép tình cờ gặp em đi dự Thánh lễ. Nhìn qua chẳng giống thiên thần chút nào, nhưng lại giống một con chiên. Sau này lại là một người vợ đảm đang của tôi. Tính nết dịu hiền, luôn biết chăm lo cho mình một mái nhà êm ấm. Bằng chứng là em biết nhịn nhục, biết hy sinh cho chồng con, nên tôi luôn nhớ câu này: Tình yêu thiếu hy sinh là tình yêu  giả, còn hy sinh thiếu tình yêu là hy sinh thừa.

Phaolô, Gx Bò Ót

 

NGƯỜI CHỒNG

Tui là đàn ông, mà nghe hai tiếng người chồng sao mà oải quá. Nhưng mà hỏng sao vì mình đã lỡ “mang kiếp cầm ca” rồi. Hồi mới yêu nhau, chỉ cần “hai trái tim vàng” là được. Sau này mới thấy trách nhiệm và bổn phận của người chồng sao nặng khiếp. Đối với Giáo Hội, mục đích của hôn nhân là yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, cũng như sinh sản, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Còn đặc tính của hôn nhân là phải đơn hôn và vĩnh hôn, một vợ một chồng, bất khả phân ly và chung thủy trọn đời. Chu toàn được những bổn phận và tuân giữ được những đặc tính trên quả là chuyện không dễ dàng chút nào.

Phaolô, Gx Bò Ót

 

HẬU PHƯƠNG

Sau những công việc mệt mỏi, trở về ngôi nhà trong bầu khí ấm áp, được nghe những lời an ủi của người bạn đời, thì hạnh phúc không sao diển tả nỗi, như động cơ có thêm nguồn nhiên liệu tác động sâu xa làm quên mất đi những gánh nặng của nhiệm vụ. Ngoài ra, những bữa cơm đầy ắp nghĩa tình trong vui vẻ và thoải mái, người vợ sẽ truyền tải sự quan tâm, động viên và khích lệ, giúp các ông có đủ can đảm vượt qua những chông gai phía trước con đường.

Đaminh Lê Hữu Quí, Gx Sáu Bọng

 

ĐÃ LÀ VỢ

Trước khi làm vợ, tôi không hiểu câu “lấy chồng là phải lấy cả nhà chồng”, mặc dù lối sống của gia đình chồng tôi không quá xa lạ. nhưng phải “lấy” cả họ nhà chồng thì chẳng cô gái nào thoải mái. Đàn ông thì lại khác, mối quan hệ và trách nhiệm với nhà vợ của họ nhẹ nhàng hơn nhiều. Còn phụ nữ, kể cả sống cùng hay không sống cùng bố mẹ chồng, thì trách nhiệm làm dâu vẫn cực kỳ nặng nề. Sống với gia đình chồng tôi luôn phải suy nghĩ xem việc làm, cách ứng xử, lời ăn tiếng nói có được lòng anh chị em, bố mẹ chồng hay không?

                                                                  Thiên Bình , Gx Bình Minh

 

NGƯỜI VỢ TRONG NÉT VĂN HÓA Á ĐÔNG

Người phụ nữ là một đề tài khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực, trong các dòng văn học Việt Nam, trong thơ ca và ngay cả trong Kinh Thánh cũng nhắc đến người phụ nữ. Người phụ nữ gắn liền với “tam tòng, tứ đức”; đó là một điều hợp lý và cần thiết đối với người phụ Á Đông. Người phụ nữ với vai trò là một người vợ thì tam tòng tứ đức lại càng cần thiết hơn. Tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử; có nghĩa là khi còn ở gia đình thì phải biết phụng dưỡng cha mẹ, khi xuất giá lấy chồng thì phải theo chồng, chăm sóc và lo lắng cho chồng; sau khi người chồng mất đi thì phải biết làm tròn trách nhiệm của người mẹ đối với con cái, biết chăm lo và nuôi dưỡng con cái cho tốt. Tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh có nghĩa là: người phụ nữ trong công việc; người phụ nữ với vẻ đẹp, diện mạo bên ngoài; người phụ nữ với lời ăn tiếng nói hằng ngày và cuối cùng là ngươi phụ nữ với tiết hạnh, phẩm giá của con người. Công dung ngôn hạnh luôn cần thiết cho người vợ trong mọi thời đại.

Lưu Hành.

MẸ

"Đêm nay con ngủ giấc tròn, Mẹ là ngọn gió của con suốt đời".

Vâng! Hình bóng của Mẹ vẫn luân in sâu trên ký ức của con. Từ khi con sinh ra, từ khi con biết nhớ cho đến nay, con nhận thấy Mẹ đã suốt đời cực nhọc, vất vả vì con. Để nuôi con từng ngày khôn lớn, Mẹ đã âm thầm lặng lẽ hi sinh, cực khổ lao tâm nhọc trí. Thân hình Mẹ ngày càng gầy còm, héo hắt vì con, khuôn mặt gầy gò rám nắng, đôi bàn tay gầy guộc, mà cũng nhờ đôi bàn tay này mà con biết làm dấu, con biết bước đi, con có những bước ngủ ngon, những bữa cơm ngọt. Vâng! Cả cuộc đời Mẹ đã hi sinh vì con, Mẹ đã dạy dỗ uốn nắn con từng ngày, Mẹ luôn an ủi, chia sẻ với những biến cố vui buồn trong cuộc sống của con. Trước những bước đi ngặt nghèo của con, Mẹ luôn âm thầm dõi bước, âm thầm cầu nguyện cho con. Nhưng nhiều khi con lại không nhận ra, trái lại con còn nông nổi, làm Mẹ buồn phiền, thất vọng, nhưng tình yêu làm cho Mẹ thông cảm với con. Càng lớn con càng thấy mình thật hạnh phúc khi Mẹ ở cùng. Con thực sự xúc động, nghẹn ngào trước tình cảm dạt dào Mẹ dành cho con, một tình yêu cao vời, vô vị lợi. Thực sự đi suốt cuộc đời, cũng không ai tốt bằng Mẹ. Tình Mẫu Tử là tình cảm thiêng liêng cao quý nhất trên đời. Con chỉ biết cầu xin Chúa ban bình an, hạnh phúc cho Mẹ. Mẹ ơi, "con dù lớn vẫn là con của Mẹ và lòng Mẹ vẫn hằng theo con". Hay: "Lời ru Mẹ vẫn bên mình, Chữ tâm cho suốt hành trình con đi”. Mẹ ơi, con yêu Mẹ!

Jos. Nguyễn Minh Đức , Gx.Thánh Tâm B2.

 

 

 

 

 

ĐÀN ÔNG MONG ĐỢI GÌ

Ở NGƯỜI VỢ?

                       

Khi lập gia đình, chắc hẳn bất cứ người đàn ông nào cũng mong có được một người vợ hiền làm bạn trăm năm, đồng thời cha mẹ chồng nào cũng ước ao có được một nàng dâu thảo trong gia đình. Bởi theo Thánh Kinh thì “Ai tìm được vợ hiền là tìm thấy hạnh phúc, và tìm thấy được ơn Đức Chúa ban” (Cn 18,22) và “Nhà cửa, tài sản là gia nghiệp của cha ông, còn người vợ khôn ngoan là do Đức Chúa ban” (Cn 19, 4). Do vậy, kiếm được một người vợ khôn ngoan hiền hậu, đối với người đàn ông, là có được một kho báu không gì sánh ví kịp.

Quả vậy, “Ngoan hiền” đã trở thành một phẩm chất đáng quý, đáng yêu và bên cạnh đó, chúng ta có thể kể thêm một số phẩm chất đặc trưng khác của một người vợ đúng như lòng mong ước. 

1.-Duyên dáng, dịu dàng

Người phụ nữ hấp dẫn phái mạnh trước hết là cái nét duyên dáng, dịu dàng. Sắc đẹp bề ngoài thì có thể phai nhòa theo thời gian, nhưng nét duyên nơi người phụ nữ sẽ còn mãi. Duyên dáng là vẻ đẹp thâm sâu nơi tâm hồn tỏ lộ bên ngoài. Vẻ đẹp ấy không do son phấn mà do sự mềm mại của nữ tính và sự dịu dàng của trái tim đầy yêu thương. Do vậy, sự duyên dáng và dịu dàng nơi người nữ chính là nét đẹp tự nhiên dễ quyến rũ người đàn ông nhất. Ca dao VN có bài mười thương, trong đó đề cao mấy thương: “Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên… Bảy thương nết ở khôn ngoan, Tám thương ăn nói dịu dàng thêm xinh…”

2.-Hiền lành, nết na và chung thủy

Có thể nói không người chồng nào mà không mong ước vợ mình luôn thực sự là một người phụ nữ hiền lành, nết na và chung thủy. Sách Châm ngôn có câu: “Ai tìm được vợ hiền là tìm thấy hạnh phúc, và tìm thấy được ơn Đức Chúa ban (Cn 18,22)”. Còn sách Huấn ca cũng viết như sau: “Phúc thay ai cưới được vợ hiền, tuổi thọ sẽ tăng lên gấp đôi. Vợ đảm đang khiến chồng được sung sướng, được an vui suốt cả cuộc đời. Vợ hiền là số tốt phận may, dành cho những người kính sợ Đức Chúa…” (Hc 26,1-3).

Trên thực tế, người phụ nữ hiền lành, nết na sẽ rất cần thiết cho hạnh phúc gia đình bởi người mẹ ảnh hưởng việc nuôi dạy con nhiều hơn người cha, dạy dỗ chúng yêu thương và kính sợ Chúa. Và điều đáng sợ nhất là người đàn bà lúc nào cũng sẵn sàng gây sự, tức giận, quát mắng. Khi đó thà rằng ở độc thân suốt đời còn hơn gặp vợ dữ dằn.

Người vợ nết na hiền ngoan thì cũng sẽ chung thủy, bởi người đó sẽ chuyên lo vun quén hạnh phúc gia đình mình hơn là tìm những thú vui bên ngoài. Người vợ ngoan hiền ấy biết xây dựng mái ấm gia đình, làm cho cả nhà vui vẻ, chồng con được bảo toàn: “Phụ nữ khôn ngoan xây dựng cửa nhà, phụ nữ dại dột tự tay phá đổ” (Cn 14,1). Nếu thiếu đức tính này gia đình trở thành một địa ngục, người chồng không muốn về nhà, con cái chỉ mong bỏ nhà ra đi. 

 3.-Nói ít, nghe nhiều

Thường thì trong gia đình, phụ nữ nói nhiều hơn đàn ông. Chính vì vậy mà có câu “Vợ chồng sẽ sống bình an nếu chàng giả điếc và nàng giả câm” (Richard Taverner). Để cả hai không phải giả câm giả điếc thì tốt nhất người vợ nên nói ít và biết lắng nghe nhiều hơn. Nói ít để tránh những va vấp, sai lầm vì ông bà ta thường nói “Đa ngôn đa quá”. Biết lắng nghe sẽ giúp vợ hiểu chồng hơn, nhất là tránh được những ngộ nhận đáng tiếc có thể gây nên mối bất hòa nặng nề trong gia đình. Có người đã chia sẻ kinh nghiệm sau: “Nàng la lối thì tôi nghe; tôi chê bai thì nàng nghe. Và kỳ lạ thay, mọi chuyện đều trôi chảy tốt đẹp”.

4.-Đảm đang, tháo vát việc nhà

Đảm đang tháo vát việc nhà cửa vốn được coi là cái đức hàng đầu trong tứ đức mà người phụ nữ VN nào cũng biết. Đó là “Công, dung, ngôn, hạnh”. Trong Kinh Thánh cũng có câu: “Vợ đảm đang khiến chồng được sung sướng, được an vui suốt cả cuộc đời.” (Hc 26, 2). Chắc chắn người chồng và cả gia đình nhà chồng sẽ rất hãnh diện khi có được một người vợ, một người con dâu siêng năng, cần mẫn chu toàn trách nhiệm nội tướng trong gia đình.

Đảm đang không chỉ là quán xuyến công việc nội trợ, bếp núc, chăm sóc con cái, mà còn bao gồm cả những việc hệ trọng khác trong gia đình. Nếu chồng là gia trưởng thì vợ là nội tướng. Từ việc tổ chức gia đình cho đến kế hoạch chi tiêu mua sắm, nuôi dạy con cái, nhất nhất người vợ biết chủ động tích cực hợp tác với chồng để ngôi nhà trở thành mái ấm hạnh phúc. Đúng như tục ngữ VN có câu: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”.     

5.-Kính trọng cha mẹ chồng

Chuyện mẹ chồng nàng dâu lúc nào cũng gây nhức đầu cho nhiều người, nhiều gia đình. Chính vì thế khi lấy chồng, dù ở chung hay ở riêng, người phụ nữ nào biết quan tâm đến đạo-làm-dâu của mình, sao cho tốt trên đẹp dưới thì sẽ làm hài lòng chồng mình. Do đó trên hết vẫn là người vợ ăn ở làm sao cho vẹn tình vẹn nghĩa đối với cha mẹ và gia đình nhà chồng.

Một tác giả đã viết: “Ngày nay, cũng có rất nhiều nàng dâu đã dùng tình cảm, bằng sự tế nhị, chiều chuộng các cụ mà cảm hóa được nhiều mẹ chồng khó tính. Sự khôn khéo, tốt bụng đó đã cải tạo được nhiều bà mẹ chồng từ cay độc chuyển sang quý mến con dâu. Thế là lấy ân báo oán. Đó là một phương châm xử thế có tình người”. (x. Nguyễn Đình Xuân – Tâm lý học tình yêu hôn nhân gia đình – NXB GD 1993 trang 126-127).

Bên cạnh đó, tác giả Dale Carnegie trong cuốn “Tâm lý vợ chồng” cũng đã nói đến một “Nghệ thuật làm dâu” như sau: “Trong đời làm dâu, bạn phải luôn luôn chứng tỏ là người biết tôn kính các bậc song thân bên chồng, bạn phải làm như thế thì chồng bạn mới kính nể cha mẹ bạn, đó là một điều khó. Nếu bạn không khôn ngoan tế nhị thì có thể gia đình bạn khó lòng tìm được nguồn hạnh phúc thực sự vững bền được. Có thể vì một hành động thiếu suy nghĩ, một thái độ kém khôn ngoan làm cho gia đình bạn bị sứt mẻ không ít. Tóm lại trong đời sống làm dâu, bạn nên chứng tỏ luôn luôn khôn ngoan, chiều chuộng và tế nhị. Có thế, bạn mới tìm được nguồn hạnh phúc thực sự cho gia đình”.  (x. Dale Carnegie – Tâm lý vợ chồng – NXB TH An Giang 1989 trang 224).

 

Aug. Trần Cao Khải

 

 

 

BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ THỊ ĐAM

Ngày 18.6.2014, Cha sở Thị Đam Phaolô Hồ Văn Nhơn mời Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu về thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm Sức cho 43 con em trong giáo xứ. Với chủ đề Phúc Âm hoá đời sống gia đình, Đức Cha nhấn mạnh đến việc truyền giáo theo lệnh truyền của Chúa Giêsu bằng những việc cụ thể như: truyền giáo phải bắt đầu từ gần gũi với mình, và việc truyền giáo phải cậy dựa vào sức mạnh của Chúa. Thánh lễ được cử hành với 25 cha đồng tế. Ngoài ra, còn có 20 em được rước Mình Thánh Chúa lần đầu.

 

THÊM SỨC TẠI GX NĂNG GÙ

Ngày 22.6.2014, Chúa nhật lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, cha sở Năng Gù Phêrô Nguyễn Văn Mễn đã mời Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu đến thăm mục vụ và ban bí tích Thêm sức cho 91 con em trong giáo xứ. 9g30 đoàn đồng tế gồm Đức Cha và 21 cha tiến vào nhà thờ hiệp dâng thánh lễ. Phần phụng lời Chúa, Đức Cha nhắc lại lời kêu gọi của Hội Thánh về ý thức truyền giáo của mỗi người khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức. Đức Cha cũng đưa ra những bài học cho việc truyền giáo và nhắn nhủ các em trở nên gương sáng trong gia đình, giáo xứ, nhà trường cũng như ngoài xã hội.

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ THUẬN TIẾN

Giáo họ Thuận Tiến thuộc địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Nhà thờ nằm bên tuyến đường vành đai biên giới kinh 8 ngàn, tiếp giáp với tỉnh An Giang. Đây là một vùng quê biên giới, người dân sống bằng nông nghiệp và làm mướn, nhưng đất canh tác lại bị nhiễm phèn nặng, nên năng suất rất thấp, cuộc sống còn rất nhiều khó khăn. Giáo họ mới hình thành cách đây hơn 3 năm, thuộc giáo xứ Bình Sơn do Linh mục Gioakim Nguyễn Văn Khoan phụ trách. Giáo họ có gần 100 gia đình công giáo với gần 500 giáo dân, chủ yếu là những người từ nơi xa tới lập nghiệp. Sau gần 3 năm xây dựng, với sự góp sức của mọi người trong giáo xứ, giáo họ và quý ân nhân; thánh đường giáo họ Thuận Tiến đã hoàn thành. Nhân dịp mừng lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, cũng là bổn mạng của giáo họ, ngày 23.6.2014 cha sở đã mời Đức Giám Mục giáo phận Giuse Trần Xuân Tiếu về thăm mục vụ và dâng thánh lễ khánh thành nhà thờ.9g30, nghi thức được bắt đầu với sự hiện diện của Đức Giám Mục Giuse, Đức Giám Mục phụ tá, 34 linh mục đồng tế cùng đông đảo quan khách và bà con giáo dân.

 

THÊM SỨC TẠI GX TÂN PHƯỚC

Ngày 26.6.2014, Đức Giám Mục phụ tá đã đến giáo xứ Tân Phước, thuộc giáo hạt Tân Thạnh để ban bí tích Thêm Sức cho 31 em thiếu nhi. Đúng 9g, Thánh lễ được bắt đầu trong bầu khí trang nghiêm và thân tình. Cùng dâng lễ có cha hạt trưởng và các cha trong giáo hạt Tân Thạnh. Trong bài giảng Đức cha đã nói lên nỗi băn khoăn của ngài. Đó là tình trạng di dân, dù là giáo xứ toàn tòng nhưng hiện nay hầu như hai phần ba đã rời xa, do nhu cầu học tập, làm ăn. Ngài nhấn mạnh các em thiếu nhi bây giờ tương lai sẽ là chủ của Giáo Hội và xã hội. Vì vậy, với kiến thức đã được học các em hãy sống với một lương tâm trong sáng, để từ nơi các em hạt giống Đức Tin sẽ nảy nở và lan toả tới mọi người.

 

THÁNH LỄ TRUYỀN CHỨC LINH MỤC

Thánh Lễ truyền chức linh mục giáo phận Long Xuyên được tổ chức tại Đài Đức Mẹ Tân Hiệp, vào sáng ngày 27.6.2014. Hầu hết các tân chức hôm nay đều thuộc lớp K9, Đại Chủng Viện Thánh Quý, chỉ có một thầy Dòng Thánh Gia và hai thầy Dòng Đồng Công, và tất cả đều đang phục vụ tại các xứ đạo. Thánh Lễ được bắt đầu vào lúc 9 giờ với sự tham dự của rất đông giáo dân trong và ngoài giáo phận. Chủ sự Thánh lễ là Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu, Giám mục giáo phận. Cùng đồng tế với ngài là Đức Cha phụ tá và 230 linh mục. Sau đây là danh sách của các tân linh mục và nhiệm sở sắp đến:

1- Vincent Vũ Đức Ái, phó xứ Châu Đốc

2- Giêr. M. Nguyễn Trung Cương, DĐC, phó xứ Mong Thọ  

3- Antôn Đàm Thiện Đạt, phó xứ Châu Đốc

4- GB. M. Đinh Công Hiển, DĐC, phó xứ Hòa Hưng    

5- Đaminh Trần Hoàng Hiệp, phó xứ Bắc Xuyên kinh E/1      

6- Phêrô Lê Dương Hồng Khải, phó xứ Núi Sập 

7- Fx. Nguyễn Trung Kiên, phó xứ Tham Buôn

8- Fx. Châu Quang Lộc, phó xứ Chi Lăng

9- Giuse Vũ Thiện Mỹ, phó xứ Trung Thành kinh 8

10- Vinhsơn Đoàn Minh Phúc, phó xứ Chính Tòa

11- Vinhsơn Ngô Văn Tâm, phó xứ Lộ Đức, kinh Ông Quýt     

12- Antôn Phạm Duy Tân, phó xứ Láng Sen        

13- Giuse Phạm Đức Thạnh, phó xứ Đài Đức Mẹ Tân Hiệp      

14- Giuse Phạm Vũ Thuỵ, mục vụ tại Trạm Xá kinh 7B 

15- Piô Phạm Đình Tiến, DTG, phó xứ Đền Thánh Giuse

16- Vinhsơn Nguyễn Thanh Triều, phó xứ Ngọc Thạch  

17- Micae Nguyễn Trung Trực, phó xứ Thanh Hải kinh D/2                         

18- Vincent Vũ Viết Võ, phó xứ Đồng Tâm kinh 3B

19- Phêrô Hồ Hiếu Xuân, phó xứ Kiên Lương      

 

THÊM SỨC TẠI GX NGỌC THẠCH

Ngày 29.6.2014, Đức cha phụ tá đã viếng thăm mục vụ và ban bí tích Thêm Sức cho 96 em thiếu nhi tại giáo xứ Ngọc Thạch. Với phong cách giản dị, mọi người đều coi đó như là một làn gió mới trong giáo phận. Bên cạnh niềm vui các em được thêm sức, Đức Cha cũng hợp cùng niềm vui của giáo xứ chào đón cha phó Vinh Sơn. Trong bài giảng, ngài hướng tới hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Người đầu tiên tuyên xưng đức tin của mình là Thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Người được Chúa cho thức tỉnh sau biến cố té ngựa là thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại. Trong mọi biến cố, Chúa đều có cách thức đặc biệt để huấn luyện thánh Phêrô. Trong thời hoàng đế Nêrôn bách đạo, để bảo vệ đức tin thánh Phêrô muốn ra khỏi thành, tiếp tục rao giảng Tin Mừng, thế nhưng thánh nhân đã gặp Chúa vai vác thập giá nên hỏi: “Quo vadis Domine?” Lạy Thầy, Thầy đi đâu? Ta vào thành để chịu chết một lần nữa. Hiểu ý Chúa, thánh nhân đã trở vào thành và trở thành chứng nhân cho niềm tin. Qua đó Đức cha nhắn nhủ các em hãy sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để làm chứng cho Tin Mừng.

 

THÊM SỨC TẠI GX CÁI DẦU

“Ai có cơ hội đến Cái Dầu nhiều lần thì sẽ thấy được sự đổi mới ở đây nhờ ơn Chúa Thánh Thần”. Đó là lời mở đầu cho bài giảng của Đức Giám Mục phụ tá trong Thánh lễ ban bí tích Thêm sức cho 41 em và kỷ niệm 10 năm linh mục của Cha Giuse Phạm Văn Kính. Đức Cha đã nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong các hoạt động của giáo xứ, từ một ngôi nhà thờ lụp sụp bây giờ đã trở thành một ngôi thánh đường khang trang hiện diện giữa những người lương cũng như giáo. Một hạt giống được gieo bây giờ đã trổ được 10 bông hoa rực rỡ và sẽ tiếp tục toả hương nơi cuộc đời của Cha xứ Giuse. Bên cạnh đó là 41 hạt giống mới hôm nay được nảy mầm, để rồi nhờ ơn Chúa Thánh Thần chính các em sẽ là những cây tốt trổ sinh những bông hoa tốt cho giáo xứ và Giáo Hội. Đồng thời, Đức Cha cũng xin giáo dân tiếp tục cộng tác để xây dựng giáo xứ tốt hơn và cũng không quên cầu nguyện cho ngài để trong tác vụ giám mục, ngài có thể hoàn thành các dự định tốt đẹp như lòng Chúa mong ước.

 

 

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

TRUNG TÂM HÀNH HƯƠNG TOÀN QUỐC ĐỨC MẸ LA VANG

TRỰC THUỘC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

 

 

 

THÔNG BÁO

ĐẠI HỘI LA VANG LẦN THỨ 30

 

Kính gửi:

Quí Cha Tổng Đại Diện,

Quí Cha Giám Đốc Đại Chủng Viện,

                        Quí Cha Hạt Trưởng, quí Cha, quí Bề trên Dòng.

                        Quí Thầy Đại Chủng Viện, quí Tu sĩ nam nữ,

                         và toàn thể Cộng đoàn Dân Chúa

                        trên mọi miền Đất Nước và Hải Ngoại

 

Được sự chấp thuận của Đức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Trung Tâm Hành Hương Toàn Quốc Đức Mẹ La Vang trân trọng thông báo: Đại Hội La Vang lần thứ 30, chủ đề “PHÚC ÂM HÓA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH”, sẽ diễn ra vào các ngày 13,14 và 15 tháng 8 năm 2014, với chương trình như sau:

            Ngày 13.8.2014:

                        17g00: Thánh Lễ khai mạc

                        20g00: - Kiệu Thánh Thể

- Cầu nguyện lòng Chúa Thương Xót

            Ngày 14.8.2014:

                        06g00:  Thánh Lễ kính Đức Mẹ

08g30: Thuyết trình và chia sẻ: Phúc Âm hóa đời

            sống gia đình

14g00:  Thuyết trình và chia sẻ: Chứng nhân đức tin

            đời sống gia đình

17g00: Thánh Lễ vọng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên

            Trời

20g00: Canh thức bên Mẹ tại Linh Đài

            Ngày 15.8.2014

                        06g00:  - Rước kiệu Đức Mẹ La Vang

                                    - Thánh Lễ Đại Triều kính Đức Mẹ Hồn

                                       Xác Lên Trời.

                                    - Bế mạc.

 

La Vang, ngày 04 tháng 7 năm 2014

Linh mục Quản Nhiệm

Giacôbê Lê Sĩ Hiền

                       

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC TRAO DÂY PALLIUM CHO ĐỨC CHA BÙI VĂN ĐỌC

VÀ 23 TỔNG GIÁM MỤC CHÁNH TÒA

 

Lúc 9g30 sáng Chúa nhật 29.6.2014, ĐTC đã chủ sự Thánh lễ trọng thể mừng kính thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ, và trao dây Pallium cho 24 vị TGM chính tòa, trong đó có Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, TGM Sàigòn. Dây Pallium là một dây làm bằng lông chiên màu trắng, bề ngang chừng 5 centimét, có 6 hình thánh giá kết bằng tơ màu đen, được đeo ở cổ, có 2 dải ngắn một ở phía trước ngực và một ở phía sau lưng. Dây này biểu tượng quyền của vị TGM đứng đầu giáo tỉnh và tượng trưng tình hiệp thông với Đấng kế vị thánh Phêrô. Đồng tế Thánh lễ có 50 HY, 70 GM và 350 Linh mục tất cả đều trong phẩm phục màu đỏ, cùng với trên 8 ngàn tín hữu, trong đó có 7 người thuộc phái đoàn Đức TGM Sàigòn, đặc biệt là chị ruột của ngài là bà Bùi Thị Hữu. Chỗ danh dự trước bàn thờ chính có phái đoàn Tòa Thượng Phụ Chính Thống Constantinople do Đức TGM Ioannis hướng dẫn. Nơi hông bên phải Đền thờ, tượng thánh Phêrô bằng đồng đen được mặc phẩm phục là áo choàng màu đỏ, theo một thói quen rất cổ kính.

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ CHÂU ĐỐC

 ĐỊA CHỈ

120 Lê Lợi – P. Châu Phú B – Tp Châu Đốc – An Giang

 

LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Nhà thờ Châu Đốc toạ lạc tại số 120 đường Lê Lợi, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, nằm trên trục lộ đường giao thông du lịch Châu Đốc - Núi Sam, phía trước là ngã ba sông Hậu. Là một giáo xứ lớn, thuộc giáo phận Long Xuyên có bề dầy lịch sử trên 100 năm. Sử sách ghi lại: vào năm 1870, các giáo sĩ ngoại quốc đã đến truyền giáo tại Châu Đốc. Trong số đó, hai linh mục Martin và Gonet đã đến đây khai khẩn 50 mẫu đất hoang, chia cho giáo dân canh tác, và đứng ra xây dựng ngôi nhà thờ, nhà xứ đầu tiên bằng vật liệu tre lá thô sơ, nằm sát bờ sông Hậu, trên một mảnh đất còn hoang vu. Năm 1882, đất bờ sông Hậu bị sụp lở. Hơn nữa, giáo dân về đây sinh sống ngày càng đông, nên Cha P. Noiobeme đã di dời nhà thờ vào phía bên trong, và xây dựng lại bằng gạch ngói chắc chắn hơn. Năm 1947, đời sống xã hội tạm ổn định. Số người tín hữu từ các nơi đến lập nghiệp tăng lên đáng kể. Những người lương xin gia nhập đạo khá nhiều. Ngôi nhà thờ cũ không đủ rộng để có thể đón tiếp tất cả. Vì thế, cha Tri Bửu Nhơn đứng ra xây dựng và sửa chữa lại nhà thờ mới, khang trang hơn, chắc chắn hơn.

Trải qua năm tháng lịch sử, những biến cố đặc biệt năm 1954, tiếp theo là ngày lịch sử thống nhất đất nước vào năm 1975, rồi đến chiến tranh Tây Nam vào năm 1978-1979, khiến cho cuộc sống xáo trộn, bà con tản lạc khắp nơi. Sau đó, khi tình hình đã được ổn định, mọi người lần lượt trở về định cư, làm ăn, phát triển. Vì thế, giáo xứ Châu Đốc trở thành một trong những giáo xứ tương đối lớn. Năm 1996, nhận thấy Nhà Chúa đã xuống cấp trầm trọng, hư hỏng rất nhiều, có nguy cơ sụp đổ, cha Giuse Bùi Trung Châu đã xin phép giáo quyền và chính quyền xây dựng lại. Lễ Đặt viên đá đầu tiên được Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần cử hành vào ngày 21-3-1996. Sau 3 năm thi công, với sự nhiệt tình và nỗ lực vượt bậc của giáo dân và các ân nhân xa gần, ngày 23-3-1999, cũng chính Đức Cha Gioan đã đến dâng thánh lễ Tạ Ơn và khánh thành nơi thờ phượng mới này. Nhà thờ dược xây dựng theo kiểu Âu-Á, với kích thước: bề ngang 16m và bề dài 47m; tháp chuông cao 21m; lòng nhà thờ có 8 ô kính gắn ngành dương liễu, tượng trưng Tám Mối Phúc Thật. Trên đỉnh tháp là Thánh Giá và Triều thiên, tượng trưng hạnh phúc Thiên đàng, dành cho những người ăn ở ngay lành, sống theo Tin Mừng Tình Yêu của Chúa. Thánh Lôrensô là bổn mạng của nhà thờ, được mừng kính vào ngày 10-8 hằng năm.

Hiện nay (2014), giáo xứ gồm khoảng 3.500 giáo dân, cư ngụ rải rác trong địa bàn thành phố; đa số sống bằng nghề nông; một số ít làm nghề tiểu thủ công nghiệp, mua bán nhỏ và chăn nuôi; một số khác là công nhân, viên chức. Nằm sát biên giới Campuchia, dân số vào khoảng 123.000 dân, Châu Đốc là thành phố sung túc, giàu tiềm năng, đang phát triển, nhất là về “du lịch tâm linh”. Cùng chung sống và đồng hành với đồng bào ruột thịt thuộc nhiều tôn giáo và tín ngưỡng địa phương, như: Phậi Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương… người giáo dân Châu Đốc luôn ý thưc sứ mạng Truyền Giáo cao quý, bằng một cuộc sống Tốt Đời Đẹp Đạo, thấm nhuần tinh thần “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, qua những việc làm cụ thể và thiết thực tại địa phương thân yêu này. Tất cả đều cố gắng vươn lên, góp phần của mình, cộng tác với mọi người để xây dựng và phát triển Đất Nước. Và đã có nhiều hiệu quả rất tích cực và lạc quan, đầy phấn khởi. Từ năm 1954 cho đến nay, giáo xứ được chăm sóc bởi quí cha:

- 1954 – 2001: Cha Stanislaơ Nguyễn Hữu Trí, cng cc cha phĩ:

     * 1963 – 1968: Cha Giuse Sơn

     * 1968 – 1970: Cha Giuse Khoan

     * 1970 – 1971: Cha Phanxicơ Xavi Triệu

     * 1971 – 1975: Cha Gioan Baotixita Thịnh

     * 1975 – 2001: Cha Giuse Bi Trung Chu

- 2001 – 2008 : Cha sở Giuse Bi Trung Chu, cng cc cha phĩ:

      * 1981 – 2002: Cha Martinô Trần Văn Chệ

      * 2003 – 2008: Cha Phrơ Nguyễn Thanh Dũng

- 2008 đến nay: Cha sở Pr. Nguyễn Tấn Khoa, cng cc cha phĩ:

      * 2008 – 2011: Cha GB Hồ Văn Khang.

      * 2011 – 2013: Cha Giuse Hịang Ngọc Minh.

      * 2014 – nay:   Cha Ant. Đm Thiện Đạt va Vinc. Vũ Đức Ái

Cộng địan Nữ Tu Cha Quan Phịng cộng tc trong gio xứ.

* Trung Tâm Hành Hương Châu Đốc: Đã từ lâu, Nhà thờ Châu Đốc được chọn làm Trung Tâm Hành Hương, dâng kính Đức Maria và hai thánh tử đạo: Linh mục Phêrô Đoàn Công Qúi – Emmanuel Lê Văn Phụng.

* Hai thánh tử đạo Phêrô và Emmanuel: Vào ngày 31-7-1859, hai thánh tử đạo Linh mục Phêrô Đòan Công Quí và Ông Câu Emmanuel Lê Văn Phụng đã hiên ngang dâng hiến mạng sống, để làm chứng Niềm Tin vào Đức Giêsu Ktiô. Ngày 02-5-1909, ĐTC Piô X đã tôn phong các ngài lên bậc Chân Phước. Và ngày 19-6-1988, cùng với 115 vị tử đạo khác, các ngài đã được ĐTC Gioan Phaolô II nâng lên bậc Hiển Thánh. Các ngày trong năm, khách hành hương thường xuyên đến tĩnh tâm, cầu nguyện Đức Mẹ Lộ Đức và hai thánh tử đạo Phêrô-Emmanuel. Cách đặc biệt, vào ngày 30 và 31-7 hằng năm, lễ kỷ niệm Sinh Nhật Nước Trời của hai vị thánh, quen gọi là Lễ Giỗ, được bà con trong vùng mừng kính hết sức trọng thể.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 979
Tất cả: 45,856,139