Tĩnh tâm tháng 07 năm 2014

NGƯỜI LÀM CHỒNG

HÃY YÊU THƯƠNG VỢ

NHƯ ĐỨC KITÔ YÊU THƯƠNG HỘI THÁNH. 

(Eph 5,25)

 

 

TÌM BÀI

 

THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 7 năm 2014

 

GIA ĐÌNH GIÁO PHẬN ĐỒNG HÀNH

VỚI CÁC SINH VIÊN

 

***

 

Anh chị em thân mến,

Các giám mục chúng tôi, xin gửi lời chào thân ái và lời cầu chúc bình an đến toàn thể gia đình giáo phận.

Thư mục vụ tháng bảy có chủ đề “Gia đình giáo phận đồng hành với các sinh viên”. Vấn đề mục vụ được đặt ra là giáo phận có thể làm gì cho các sinh viên trong hiện trạng mà chúng đang phải đối diện?

Các sinh viên công giáo của giáo phận thường là phải rời xa nhà, xa cộng đoàn giáo xứ, giáo họ, để sống và học tập tại các thành phố có các trường đại học, cao đẳng và trung cấp. Sống xa nhà, người trẻ sẽ gặp những thời cơ và cũng phải đối diện với nhiều nguy cơ.

Quả thật, ngoài mục tiêu kiến thức và bằng cấp, cuộc sống xa nhà cũng là thời cơ để các sinh viên trở nên trưởng thành hơn; trưởng thành về ý thức trách nhiệm của bản thân đối với lý tưởng cuộc đời, trưởng thành trong các tương quan với gia đình và xã hội; trường thành về sống đức tin và làm chứng cho niềm tin của mình.

Bên cạnh những thời cơ, không thiếu những nguy cơ thách đố người trẻ. Ngoài thách đố về chương trình học tập, họ phải đối diện với những thách đố về niềm tin trong một môi trường giáo dục xã hội chủ nghĩa vô thần, những thách đố về luân lý trong một xã hội mà giá trị đạo đức đang bị khủng hoảng, thách đố về tình cảm và tính dục trong một xã hội hưởng thụ, cùng với những cám dỗ của các tệ trạng xã hội.

Ý thức về những thời cơ và những nguy cơ của các sinh viên, giáo phận cũng ý thức rằng, đây là thành phần trí thức trong xã hội và Giáo Hội, và họ đang từng bước làm chủ gia đình, xã hội và Giáo Hội. Ngoài ra, giáo phận cùng với Giáo Hội Việt Nam và các  tôn giáo tại Việt Nam, cũng ý thức rằng, vai trò của tôn giáo trong lãnh vực giáo dục nói chung, và cho các sinh viên nói riêng, còn gặp nhiều hạn chế bởi chính sách về giáo dục của chính quyền Việt Nam.

Trong bối cảnh trên, giáo phận đặt ra cho mình câu hỏi, giáo phận là gia đình của Thiên Chúa có thể làm được gì cho con cái mình là các sinh viên?

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, mục vụ cho các sinh viên có nhiều khó khăn. Khó khăn cơ bản là sự quy tụ. Sự qui tụ các sinh viên là rất khó vì nhiều lý do; vì chương trình học, vì phải tranh thủ đi làm để phụ giúp tài chánh, vì tâm lý tuổi trẻ không muốn bị ràng buộc vào tổ chức, vì tâm thức coi sinh hoạt của tôn giáo như tùy thuộc. Ngoài ra, các sinh hoạt cho sinh viên có nhiều đòi hỏi; đòi hỏi sự phù hợp với trình độ kiến thức cấp đại học; đòi hỏi luôn mới mẻ và sáng tạo cả về hình thức lẫn nội dung. Vì thế, nhân sự phụ trách giới trẻ và sinh viên cũng là một điều khó, cụ thể là các linh mục phụ trách các sinh viên cũng còn chịu trách nhiệm mục vụ giáo xứ.

Trong thực tế, đã có nhũng nỗ lực của cá nhân và tập thể trong giáo phận cống hiến cho sinh hoạt mục vụ sinh viên, như các lưu xá, nhũng cuộc gặp gỡ tại các giáo xứ, những cuộc gặp gỡ giới trẻ định kỳ hàng năm. Ngoài ra, ban Mục vụ Giới trẻ Sinh viên cũng đã tổ chức những cuộc gặp gỡ dành cho các sinh viên tại các cụm đại học, và hàng tháng có tập “Hành Trang Vào Đời” dành riêng cho sinh viên của giáo phận.

Để có thể chu toàn trách nhiệm đối với sinh viên, giáo phận cần có thêm nhiều sáng kiến mục vụ, cũng cần có phối hợp hoạt động giữa Ban Mục vụ Giới trẻ Sinh viên cấp giáo phận với các sinh hoạt cấp giáo hạt và cấp giáo xứ, cũng không thể thiếu sự góp phần của chính các sinh viên trong các sinh hoạt và tổ chức theo đường hướng “Tham gia, hiệp thông, đồng trách nhiệm vì sứ vụ”.

Một điều thiết yếu trong công tác phục vụ các sinh viên là Giáo Hội, hàng giáo sĩ và tu sĩ, các tông đồ giáo dân, cùng với bậc phụ huynh, cần chiêm ngắm và học hỏi gương mẫu từ Chúa Giêsu trong câu chuyện Chúa gặp gỡ người phụ nữ Samaritana bên bờ giếng Giacóp (Ga 4,5-42). Theo gương Chúa Giêsu, để có thể tháp tùng các sinh viên, chúng ta cần ra khỏi mình đến vùng ngoại biên để gặp gỡ (c.5-6), để vượt ranh giới (c.9) và hiện diện cách khiêm tốn (c.7), với tư cách là người được Thiên Chúa sai đến (c.19, 26), để thực hiện ý muốn của Thiên Chúa (c.34), và có sáng kiến đưa ra các giải đáp các vấn đề nhân sinh, về nhu cầu vật chất và thiêng liêng (c.10), về nhu cầu tương quan (c.16), về nhu cầu tôn giáo (c.23), và về niềm tin (c.26). Nhưng trên hết, như Chúa Giêsu, chúng ta phải có tình yêu dấn thân (c.6), sự thao thức (c.35), và lòng cảm thông (c.18).

Với những nỗ lực của giáo phận, cùng với những thiện chí của các sinh viên, chúng ta tin rằng chính Chúa đang huấn luyện các sinh viên thành những người con rất yêu dấu của Ngài, và để qua họ, Chúa sẽ tiếp tục thực hiện công trình của Chúa trong xã hội và giáo hội Việt Nam.

Các sinh viên yêu quý,

Theo chương trình mục vụ của giáo phận, Ban Mục vụ Giới trẻ Sinh viên sẽ tổ chức cuộc họp mặt dành cho giới trẻ và sinh viên vào ngày 24/11. Chắc chắn Đức Cha Gioan Baotixita luôn cầu nguyện và hy sinh cho chúng con. Còn Cha và Đức cha phụ tá rất mong được gặp chúng con trong ngày này. Chúng ta cùng chuẩn bị và hướng về ngày gặp mặt này như là điểm nhấn mục vụ của năm Thánh Hóa Gia Đình. Toàn giáo phận yêu mến các con, và đặt nhiều kỳ vọng vào các con. Xin Chúa chúc lành cho các con.

 

TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

 

ĐÔI CHÚT TÂM SỰ

VỀ NHỮNG NỖI SỢ

 

1. Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình có lần đã nói với tôi về một nỗi sợ của Ngài. Ngài nói: “Tôi sợ loại linh mục không biết sợ. Họ không sợ giáo dân, không sợ giám mục của mình, không sợ chính quyền, không sợ cả Chúa”.

Tôi nghĩ Đức Tổng có vẻ nói chơi, mà cũng nói thực.

2. Phần tôi, tôi còn sợ hơn Ngài, ở điểm này là tôi sợ chính bản thân tôi. Bởi vì như thánh Phaolô nói: “Điều thiện tôi muốn thì tôi lại không làm. Còn điều ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,19). Nơi tôi đúng là như vậy. Có những điều thiện chắc là điều thiện. Có những điều ác rõ là điều ác. Thế mà tính yếu đuối của tôi vẫn cứ làm sai. Chỉ ơn Chúa mới cứu tôi được. Nhưng tôi cũng phải phấn đấu hết mình.

3. Khi về già, lại thêm đau bệnh, tôi thấy nhiều nỗi sợ mới đã phát sinh trong tôi. Ở đây, tôi chỉ xin kể mấy loại người tự nhiên tôi sợ. Không biết họ có sức thực sự gây sợ hãi cho tôi, hay chính bản thân tôi quá yếu nên sợ. Dù sao, nỗi sợ hãi nơi tôi là rất lớn và rất thực.

Thứ nhất là những người quen sống lừa dối.

Thứ hai là những người quen tự mình nâng mình lên.

Thứ ba là những người quen nói xấu người khác.

Thứ bốn là những người quen coi thường trách nhiệm.

Tôi không ghét họ, không kết án họ, không nguyền rủa họ. Nhưng tôi đau đớn và sợ vì tôi nhìn thấy nơi họ có một sức phá hoại của hoả ngục. Nỗi sợ của tôi đôi khi làm tôi mất sự bình an.

4. Trong nỗi sợ ấy, tôi cầu nguyện Trái Tim Chúa Giêsu. Tôi hay thầm thĩ lời cầu vắn tắt này: “Lạy Trái Tim Chúa Giêsu, hiền lành và khiêm nhường, xin thương xót con”. Kết quả là dần dần tôi cảm thấy Trái Tim Chúa Giêsu xót thương tôi. Có một cách tôi được cảm thấy rõ ràng và nhẹ nhàng, đó là Chúa gởi đến cho tôi những con người chân thực, khiêm nhường, bác ái và trách nhiệm. Tôi xin phép kể ra một vài trường hợp đã ảnh hưởng lớn đến đời tôi.

5. Tôi được hạnh phúc gặp gỡ riêng tư nhiều lần Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Có những lần đứng bên Ngài, quỳ bên Ngài, cùng với Ngài cầu nguyện, tôi nghe Ngài thở dài và khe khẽ kêu: “Lạy Chúa tôi” bằng tiếng Đức. Có lần tôi mạnh dạn hỏi Ngài: “Đức Thánh Cha có đau khổ lắm không?”. Ngài trả lời một cách tự nhiên: “Có chứ. Nhưng tôi quen rồi”. Thái độ chân thực và khiêm nhường của Ngài trước vấn đề đau khổ đã đi vào lòng tôi như một món quà sống động của Trái Tim Chúa Giêsu. Thái độ đó đã an ủi tôi rất nhiều. Tôi không còn mặc cảm nghĩ rằng những than khổ của tôi là xấu và đáng trách. Tôi nói thế, là vì nhiều khi tôi đau khổ, thì có những người đã dạy tôi là cho dù khổ, cũng không nên than, và theo họ, người có đức tin thì mọi đau khổ đều cảm nhận như những niềm vui. Tôi không dám bình luận gì. Nhưng thú thực là thái độ của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đem lại cho tôi sự bình an. Thái độ ấy cũng giúp tôi cảm thương sâu sắc với những người khổ đau.

6. Một trường hợp khác, đó là thái độ của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Tình hình lúc đó bỗng trở nên khó khăn bi đát. Giáo dân sợ hãi, chạy trốn vào nhà thờ. Cha Diệp hiền từ khiêm tốn, không trách giáo dân, không khích động họ. Cha cũng không lên án, chửi bới những người bắt bớ giáo dân. Trái lại, Cha luôn ở giữa giáo dân. Và sau cùng, Cha sẵn sàng chết thay cho giáo dân. Thái độ khiêm nhường, bác ái, chân thực của Cha đã giúp tôi rất nhiều trong những năm sau 1975. Tình hình giáo phận của tôi hồi đó tuy không đến nỗi như vậy, nhưng có những khó khăn nhất định.

Tôi đã theo gương Cha Diệp. Kết quả là Chúa đã làm cho tình hình được thay đổi: Đức tin được vững vàng và lan rộng. Hoà giải được xây dựng tốt đẹp. Chúa được ca tụng mến yêu.

7. Tới đây, tôi có thể thấy: Những nỗi sợ của tôi trước một số loại người nói trên chính là những phản ứng lành mạnh Chúa ban, để tôi biết tỉnh thức. Tất nhiên không được sợ tràn lan, nhưng không biết sợ chính là điều rất đáng sợ.

Có người nói với tôi: Sợ gì tội! Sợ gì hoả ngục! Chúa lòng lành giàu lòng thương xót sẽ cứu chúng ta. Việc gì mà sợ.

Thú thực, tôi coi những thái độ như thế chính là mưu ma chước quỷ. Không biết sợ, chính là một cái nghèo kinh khủng nhất, dẫn tới sa đoạ và diệt vong.

8. Hiện giờ, những nỗi sợ của tôi đang giúp tôi trở nên bé nhỏ trước mặt Chúa. Bé nhỏ như một cành nho ẩn giấu mình ở một chỗ nào kín đáo nhất, miễn là được sát nhập vào thân cây nho là Chúa Giêsu. Tôi nhớ tới lời Chúa Giêsu phán xưa với các môn đệ của Người: “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,5).

9. Xét cho cùng, nỗi sợ quan trọng nhất của tôi chính là sợ mình không thuộc về Chúa, không kết hợp mật thiết với Chúa, không đón nhận tất cả từ Chúa.

10. Chuyến đi đời tôi có lúc sẽ kết thúc. Với tinh thần đức tin, tôi hy vọng tất cả mọi nỗi sợ của tôi trong chuyến đi dài này sẽ nở hoa Phục Sinh, nhờ kết hợp với Trái Tim Chúa Giêsu đầy yêu thương, khiêm nhường và vâng phục.

11. Tôi chân thành sám hối về mọi lỗi lầm của tôi, không chỉ trong lãnh vực những nỗi sợ, mà trong tất cả mọi lãnh vực của con người tôi.

Tôi chấp nhận mọi đau đớn, như những sứ giả để thanh luyện tôi theo lòng từ bi Chúa.

Sám hối của tôi không phải chỉ là đau đớn, hối hận, mà cũng còn là ca tụng Chúa và phó thác mình cho Chúa, để thực hiện những gì Chúa muốn về tôi. Tôi tin Chúa rất thương tôi.

Khi nghĩ đến sự Chúa muốn tôi sẽ được về bên Chúa trên thiên đàng, tôi cảm thấy hân hoan vui sướng.

Tôi tha thiết xin Chúa cho mọi người thân yêu của tôi cũng được về bên Chúa như tôi. Tôi cầu xin cho Hội Thánh của tôi, cho Quê Hương của tôi, cho mọi đồng bào của tôi, không phân biệt ai.

Lạy Chúa, con sẽ trở về với Chúa tay không, vì con quá bé nhỏ và nghèo hèn. Nhưng con tin Chúa sẽ đón con. Bởi vì Chúa là Cha của con.

Long Xuyên, ngày 9.6.2014.

 

 

CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

Suy niệm Chúa Nhật XIV Thường Niên, A

Dcr 9,9-10; Rm 8,9.11-13; Mt 11,25-30

HÃY HỌC CÙNG CHÚA GIÊSU

 

Tin Mừng hôm nay nhắc đến chữ “học”: “Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an”. Bài học “hiền lành và khiêm nhượng” của Chúa Giêsu là một trong những bài học khó nuốt, vì bài học ấy muốn dẫn học viên đến cái chết vì yêu như Ngài đã chết vì yêu. Nhưng ai tốt nghiệp bài học “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”, thì “tâm hồn người ấy sẽ gặp được sự bình an”. Chúa luôn muốn chúng ta được bình an trong cuộc đời. Có bình an thì mới có hạnh phúc. Bình an là kết quả của sự hiền lành và khiêm nhượng. Chúa biết khi không có sự hiền lành và khiêm nhượng, thì chỉ chuốc lấy đau khổ, khó nhọc và gánh nặng. Vì thế Chúa mời gọi ta đến và học cùng Ngài: "Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi”. Nhìn lại cuộc sống mình, ta thấy mình đang khó nhọc và gánh nặng rất nhiều:

Ta khó nhọc và gánh nặng, vì ta chưa khiêm nhượng trong lòng, để có thể ký thác đường đời cho Chúa. Ta vẫn còn ảo tưởng với trí tuệ, khả năng và sự khôn khéo của mình có thể giải quyết mọi vấn đề, để mang lại cho mình sự bình an hạnh phúc.

Ta khó nhọc và gánh nặng, vì ta không đủ hiền lành nhẫn nhục chấp nhận sự thua kém. Ta cứ nông nổi lao mình vào những chỗ tranh chấp hơn thua, để rồi tự chuốc lấy sự mất bình an trong tâm hồn. Đêm ngày hồn ta bị dày vò tan vỡ.

Ta khó nhọc và gánh nặng, vì ta chấp nhận làm nô lệ cho những đam mê xác thịt. Nào là danh vọng, lạc thú; nào là giàu sang, hưởng thụ; nào là tội lỗi và nết xấu… Chúng sẽ dẫn ta đến sự suy sụp tinh thần, kiệt quệ sức lực, mất cả ý chí nghị lực trong cuộc đời.

Ta gây khó nhọc và gánh nặng cho nhau, vì ta không đủ hiền lành và khiêm tốn, để nhận ra sự hiện diện của người bên cạnh, kể cả những người nghèo hèn, thấp kém, mất tư cách, mất cả phẩm hạnh. Một cách nào đó, tất cả những con người ấy đều mang lại cho ta những hồng ân quí giá của Thiên Chúa. Vậy mà ta không nhận ra.

Ta gây khó nhọc và gánh nặng cho nhau, vì lòng ta quá tự phụ, vì tính ta quá chủ quan. Ta tự cho mình là lớn, hoặc chỉ thích “chức quyền” mà không chấp nhận thi hành “nhiệm vụ”. Nếu cứ như thế, chắc chắn ta sẽ vấp ngã trên đường đời, và sẽ để lộ chân tướng dối trá của lòng mình ra cho thiên hạ đàm tiếu.

Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi ta hãy học cùng Chúa và sống “hiền lành và khiêm nhượng” như Ngài. Sống “hiền lành và khiêm nhượng”, để ta chết đi cái tôi kiêu hãnh, cái tôi mặt dày mặt dạn của mình, cái tôi khó từ bỏ của mình, để sống cho người khác được sống. Sống “hiền lành và khiêm nhượng”, để ta dũ bỏ những khó nhọc, những gánh nặng do làm nô lệ cho tính xác thịt của mình. Sống “hiền lành và khiêm nhượng”, để tâm hồn ta được bình an, hạnh phúc đời này và đời sau.

Lạy trái tim Chúa Giêsu hiền lành khiêm nhượng trong lòng, xin hãy uốn lòng con nên giống trái tim Chúa.

 

 

Suy niệm Chúa Nhật XV Thường Niên, A

Is 55,10-11; Rm 8,18-23; Mt 13,1-23

MẢNH ĐẤT TRÁI TIM CON NGƯỜI

 

Qua dụ ngôn “Người Gieo Giống”, Chúa Giêsu đã ví Người Gieo Trồng hạt giống là Thiên Chúa; và mảnh đất gieo trồng là chính trái tim con người. Trái tim con người được chia thành bốn loại đất tiếp nhận hạt giống. Ba loại đất xấu và một loại đất tốt. Như thế, số trái tim không tiếp nhận Lời Chúa là khá lớn, chiếm 3/4. Đó là một sự thật đáng buồn!

Loại thứ nhất là đất vệ đường: Loại đất này khô cứng. Người và vật thường qua lại. Do đó hạt giống rơi xuống đây sẽ không thể nằm yên, vì chim trời sẽ đến nhặt mất. Đây là hình ảnh tượng trưng cho người nghe Lời Chúa mà chẳng hiểu gì cả, vì họ chẳng chú ý, chẳng để tâm, cũng chẳng có chủ đích. Đây là mẫu người đi theo a dua, đi theo đám đông. Họ là những thính giả lơ đãng, vô tâm, dễ dàng trở thành miếng mồi ngon cho Satan đến cướp những gì họ đã nghe.

Loại thứ hai là đất sỏi đá: Loại đất này tuy có chỗ cho hạt giống mọc lên, nhưng sự sống chẳng kéo dài được bao lâu, vì không còn đất cho hạt giống đâm rễ và phát triển. Đây là biểu tượng cho người nghe Lời Chúa mà chẳng có thực tâm. Họ cũng vui vẻ đón nhận Lời Chúa, nhưng chẳng biến đổi đời sống mình. Họ không kết hợp mật thiết với Chúa là Rễ của họ. Họ cũng chẳng nương tựa vào Chúa. Vì thế khi gặp gian nan thử thách, họ sẵn sàng giơ tay đầu hàng hoặc tháo chạy. 

Loại thứ ba là đất bụi gai: Loại đất này tuy ẩm mát, khá thuận lợi cho hạt giống nảy mầm và mọc lên. Nhưng sau đó thân cây không vươn lên được, vì bị gai đâm nát. Nếu đất sỏi đá làm hỏng rễ cây, thì đất bụi gai làm hỏng ngọn cây và bông trái. Đây là biểu tượng cho người thích nghe Lời Chúa, nhưng lại để cho những lo lắng và đam mê bất chính dập tắt những rung cảm, những suy tư của họ; làm cho họ sao lãng bổn phận, tiêu tan nghị lực, cùn nhụt nhuệ khí và buông lơi những quyết định dấn thân. Đó là những bụi gai ngăn chặn tâm hồn họ, không cho họ vươn lên sinh hoa trái Lời Chúa.

Loại thứ bốn là đất tốt: Loại đất này ẩm ướt, quang đãng và sâu rộng, rất thuận lợi cho hạt giống nảy mầm và lớn lên. Đây là biểu tượng cho người chân thành lắng nghe và đón nhận Lời Chúa. Họ quan tâm và ôm ấp Lời Chúa trong tâm hồn. Lời Chúa sinh hoa trái trong tâm hồn và trong cuộc sống họ. Lời Chúa thay đổi tư tưởng, hành vi, cử chỉ, lối sống của họ. Lời Chúa thúc đẩy họ yêu thương và phục vụ đồng loại. Lời Chúa thực sự biến đổi cuộc đời họ. Có người biến đổi nhiều. Có người biến đổi ít. Biến đổi nhiều hay ít tùy theo mức độ tiếp xúc thường xuyên với Lời Chúa, suy tư Lời Chúa, cầu nguyện với Ngài, tâm tình với Ngài, lắng nghe tiếng Ngài và thực hành Lời Ngài.

Lạy Chúa! Xin cho con thường xuyên tra vấn lương tâm con trước ánh sáng Lời Chúa, để con biết con thuộc về loại đất nào trong bài Tin Mừng này. Rất có thể con vẫn tự hào mình là một người con ngoan đạo của Chúa, nhưng thực sự lòng con nhiều khi chỉ là mảnh đất vệ đường, trên sỏi đá, hoặc trong bụi gai… Chả thế mà con đã theo Chúa biết bao năm rồi, nhưng hoa trái con đem về cho Chúa chẳng được bao nhiêu. Xin Chúa giúp con luôn siêng năng lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

Phúc cho những ai biết lắng nghe và thực thi ý Chúa.

 

Suy niệm Chúa Nhật XVI Thường Niên, A

Kn 12,13, 16-19; Rm 8,26-27; Mt 13,24-43

CỎ LÙNG VÀ LÚA TỐT

 

Nghe dụ ngôn “Cây lúa và cỏ lùng” cùng với sự giải thích của Chúa Giêsu, ta thấy dễ hiểu và hợp tình hợp lý. Thế gian này có người tốt kẻ xấu, người lành kẻ dữ. Tất cả cùng sống bên nhau, sống cùng nhau. Đó là chuyện hết sức bình thường. Chẳng có nơi nào toàn là người tốt, và cũng chẳng có nơi nào toàn là người xấu. Nhưng có một điều khác biệt: Cỏ lùng, vì bản chất của nó là cỏ dại, cho nên thiên thu vạn đại nó cũng không thể nào biến thành cây lúa được. Cũng thế, cây lúa thì lúc nào cũng là cây lúa. Chỉ có điều là nó cho nhiều hay ít hạt lúa, chứ không bao giờ cây lúa biến thành cỏ lùng được. Nhưng đối với con người thì không như vậy. Bản tính con người được Thiên Chúa tạo dựng là tốt lành: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Nghĩa là khi sinh ra, con người vốn tốt lành, nhưng với thời gian, con người lớn khôn và thay đổi lạ lùng.

Thực vậy, có người vẫn tốt như thuở ban đầu. Có người lại trở thành xấu xa. Có người trước kia là lúa tốt, bây giờ là cỏ lùng. Và ngược lại, có người trước kia là cỏ lùng, bây giờ là lúa tốt. Dĩ nhiên cũng có những người luôn luôn là lúa tốt, và có những người lúc nào cũng là cỏ lùng. Hoặc có những người khi thì là lúa tốt, khi thì là cỏ lùng, hoặc ngược lại. Điều quan trọng là tới khi chết, người ta đang ở trong tình trạng nào: cỏ lùng hay lúa tốt? Đó là trách nhiệm của mỗi người.

Chính vì yếu tố trách nhiệm này, vì khả năng biến đổi tốt thành xấu và xấu thành tốt, mà ta phải cố gắng giảm bớt tối đa những gì là xấu xa, tội lỗi, tức là cỏ lùng. Đồng thời ta phải gia tăng tối đa những gì là tốt lành, thánh thiện, tức là lúa tốt. Hơn nữa, trong đời sống hằng ngày, ngoài việc cố gắng bớt cỏ lùng, nghĩa là bớt tư tưởng xấu, lời nói xấu, việc làm xấu và gia tăng lúa tốt là những việc lành phúc đức, ta còn phải cố gắng làm sao để được nhắm mắt xuôi tay, kết thúc cuộc đời mình trong tình trạng là lúa tốt.

Ở đời này, ít khi ta thấy công lý thắng gian tà. Nhưng ở đời sau thì tất cả mọi nợ nần đều phải được trang trải, mọi bất công sẽ được san phẳng: Lúa tốt, tức là người tốt, sẽ được nâng niu thu vào kho lẫm, nghĩa là được thưởng công xứng đáng. Còn cỏ lùng, tức là người xấu, sẽ bị ném vào lửa Hỏa Ngục để bị thiêu huỷ. Như thế, câu chuyện cỏ lùng giữa lúa tốt quả quyết với ta về sự báo oán công minh ở đời sau: Người tốt sẽ được trọng thưởng; người xấu sẽ bị trừng phạt muôn đời.

Như vậy, tốt hay xấu, được thưởng hay bị phạt là do chính mỗi người. Vì thế khi kết thúc dụ ngôn Chúa Giêsu đã nói: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe”. Nghĩa là Chúa muốn nhắc chúng ta rằng: ta có trí khôn, thì phải biết phân biệt phải quấy, đúng sai, tốt xấu. Do đó, ta đừng có sống đóng kịch hay bất chính. Ta phải biết sống đúng cương vị là người con của Chúa. Nghĩa là ta phải biết sử dụng trí khôn của mình mà sống theo luật Chúa. Ta sống làm sao, thì Chúa sẽ căn cứ vào đó để thưởng hay phạt ta.

Tóm lại, trong cánh đồng mầu mỡ là con người yếu đuối của ta, lúa tốt và cỏ lùng, nhân đức và tội lỗi, đức tính và tật xấu... luôn luôn chèn ép nhau, giành giật nhau để lớn lên. Bổn phận của ta phải luôn tỉnh thức và chiến đấu để loại trừ cỏ lùng, tội lỗi và tật xấu. Đồng thời kiên trì bảo vệ lúa tốt, nhân đức và công phúc. Có như thế đến mùa gặt, tức là khi ta nhắm mắt xuôi tay, ta sẽ được Chúa nhân từ âu yếm nói với ta rằng: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, con hãy vào hưởng sự vui mừng với Chúa của con”.

 

Suy niệm Chúa Nhật XVII Thường Niên, A

1V 3,5.7-12; Rm 8,28-30; Mt 13,44-52

KHO BÁU TRONG TẦM TAY

 

Người Ả Rập Saudi sinh sống ngay trên những túi dầu khổng lồ, với một trữ lượng lớn lao vượt xa mọi nơi khác trên thế giới. Hiện nay Ả Rập Saudi sở hữu 266,75 tỷ thùng dự trữ dầu, chiếm khoảng 24% trữ lượng dầu mỏ thế giới. Thế mà suốt cả mấy ngàn năm trước, tổ tiên của họ đã phải sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực, vì đất nước của họ phần lớn là sa mạc nóng cháy với một khí hậu khắc nghiệt quá chừng. Mãi đến tháng 3 năm 1938, nhờ kỹ thuật tân tiến của phương Tây, họ mới khám phá và khai thác những túi dầu lửa khổng lồ ẩn giấu ở tầng đất ngay dưới chân mình. Nằm trên đống vàng mà họ không biết. Nhờ đó, từ thân phận nghèo khổ bần cùng nhất thế giới, họ trở nên một dân tộc giàu có, phồn vinh. Thực là một bi kịch đáng buồn: Biết bao thế hệ tổ tiên của họ đã phải sống túng thiếu cùng cực ngay trên trữ lượng “vàng đen” khổng lồ!

Chúa Giêsu cũng mang đến cho chúng ta một kho tàng quý giá vô cùng, hơn bất kỳ  kho dầu nào bên Ả Rập. Đó là Tin Mừng sự sống, Tin Mừng được rao truyền cho nhân loại suốt hai ngàn năm qua. Thực vậy! Tin Mừng Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, được Chúa Giêsu mang từ trời xuống tặng ban cho thế giới. Tin Mừng Chúa Giêsu là phương dược thần linh, có khả năng cứu chữa nhân loại khỏi chia rẽ, hận thù và tự hủy diệt. Tin Mừng Chúa Giêsu là giải pháp tối ưu, để xây dựng một thế giới yêu thương huynh đệ, công bằng và hạnh phúc. Nhưng tiếc thay, cũng như người Ả Rập trước đây phải sống lây lất trong nghèo đói, bần cùng và lạc hậu, vì không biết khám phá và khai thác những túi dầu khổng lồ dưới chân mình; nhiều người hiện nay cũng chưa phát hiện được những giá trị vô cùng cao quý do Tin Mừng mang lại.

Tin Mừng là kho báu, nhưng lại là kho báu bị chôn giấu dưới những dòng chữ. Tin Mừng là viên ngọc quý, nhưng vẫn ẩn mình trong những trang sách. Nhiều người không phát hiện được giá trị tiềm ẩn bên trong, nên không tìm cách khai thác. Vì thế họ phải sống trong tình trạng nghèo đói tình thương và công lý; nhân phẩm bị chà đạp; công bằng xã hội bị tiêu hủy; nếp sống đạo đức cũng sa sút nghiêm trọng...

Hiện nay mỗi khi khám phá ra những trữ lượng dầu lửa nằm sâu dưới lòng đất hay đại dương, thì ngay lập tức các quốc gia lân cận liền mau mắn xác nhận chủ quyền của mình trên những nơi đó, và tìm cách khai thác cho bằng được. Nếu cần, họ sẽ huy động cả lực lượng quân đội hùng hậu để cưỡng chiếm vùng đất đó, nhằm thu lợi về cho đất nước, dù phải trả giá rất cao.

Đó cũng là chọn lựa của anh nông dân bất ngờ khám phá ra kho báu. Đó cũng là chọn lựa của người thương gia đi săn lùng viên ngọc quý, được nói trong bài Tin Mừng hôm nay. Tin Mừng Chúa Giêsu là kho tàng tuyệt vời đang bị ẩn giấu dưới những dòng chữ. Tin Mừng Chúa Giêsu là viên ngọc vô cùng quý báu đang bị chôn vùi trong những trang Kinh thánh. Ta hãy hăm hở khám phá và đầu tư khai thác, đừng quản ngại phí tổn thời giờ và công sức. Vì một khi làm chủ được viên ngọc quý báu này, cuộc đời ta sẽ được cải thiện, đời sống xã hội sẽ hạnh phúc hơn; tương lai nhân loại sẽ bừng sáng hơn.

Lạy Chúa! Xin cho con biết yêu quí Lời Chúa và sống Lời Chúa cách tích cực hơn.

 

 

 

GIÁO DỤC TRẺ EM

TRONG KINH THÁNH

Trung Thành

Trong năm Phúc âm hóa Gia đình, chúng ta có dịp tìm hiểu việc giáo dục trẻ em trong Kinh Thánh. Thật ra, Kinh Thánh không phải là một cuốn sách chỉ sẵn cho ta một đường hướng giáo dục nào đó. Chính việc đọc, học hỏi và suy niệm Lời Chúa giúp chúng ta khám phá ra những chỉ dẫn mà chúng ta tin là Chúa muốn tỏ cho chúng ta biết. Bài trước chúng ta đã nói đến việc giáo dục trẻ em trong Cựu Ước; hôm nay chúng ta tìm hiểu nội dung này trong thời Tân Ước.

Khung cảnh gia đình

Đường lối giáo dục thời Tân Ước, một cách chính yếu coi như đã được định hình từ thời Cựu Ước, mà trước tiên gia đình vẫn là khung cảnh ưu tiên cho việc giáo dục trẻ em. Cơ cấu gia đình Do Thái khi bước vào giai đoạn đầu kỉ nguyên Kitô giáo, về căn bản không có thay đổi gì đáng kể. Vốn được khuôn đúc để sống theo luật Sách Thánh, những người Do Thái đã có quan niệm tôn giáo vững chắc về những tương quan khác nhau của mỗi thành viên trong gia đình. Tính liên tục trong truyền thống gia đình Do Thái khi chuyển sang Kitô giáo có thể được minh họa rõ nét trong việc giáo dục, mà trường hợp của Timôthê là một điển hình (Cv 16,1). Ở đây, địa vị của Cựu Ước vẫn giữ nguyên giá trị: mặc dù cha của Timôthê là một người dân ngoại thì ngay từ tấm bé anh đã được người mẹ là bà Êunikê người Do Thái chỉ dạy để học biết Sách Thánh. Và chắc chắn người mẹ này cũng đã được hiền mẫu của mình là bà cụ Lôít hướng dẫn theo một đường hướng giống như vậy (2 Tm 1,5; 3,15-17). Và người ta nghĩ rằng truyền thống giáo dục đó vẫn tiếp nối sang thời hậu các Tông đồ, nơi các gia đình Kitô hữu dân ngoại phát triển mỗi ngày một thêm đông[ ].

            Theo thánh Phaolô cha mẹ phải có trách nhiệm giáo dục con cái, và phải lo cho tương lai của chúng (2 Cr 12,14). Và cũng như các gia đình Việt Nam, nếu “Phúc đức tại mẫu” (Tt 2,4) thì người cha phải thể hiện uy quyền của mình bằng một tình yêu nhẫn nại và cao thượng. Thánh Phaolô khuyên những bậc cha mẹ: “Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng” (Cl 3,21; Ep 6,4).  Còn ngài, sống trong bầu khí văn hóa là những tương quan thân tộc chặt chẽ, ngài cũng coi mình như một người cha trong gia đình khi sửa dạy các môn đệ của mình (1 Cr 4,14-15,21). Về phần con cái, chúng cần phải hiểu rằng việc tôn kính, mến yêu và vâng phục cha mẹ chính là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực (Ep 6,1-3) và là điều đẹp lòng Chúa (Cl 3,20).

Khung cảnh hội đường

Song song với môi trường giáo dục tại gia đình riêng vốn tồn tại, thì lúc đầu Kitô hữu còn sinh hoạt tại các hội đường. Về sau, khi tách biệt khỏi hội đường các Kitô hữu mới quy tụ thành các nhóm nhỏ, đó là cộng đoàn giáo hội tại gia, nơi các Kitô hữu họp nhau để cử hành nghi thức bẻ bánh và lắng nghe giáo huấn của các Tông đồ (Cv 20,20; Rm 16,3-5; Cl 4,15; Plm 1,2). Hình thức sinh hoạt này ít nhất kéo dài cho đến năm 313 với chiếu chỉ Milan công nhận Kitô giáo là một tôn giáo chính thức.

Hội đường Do Thái xuất hiện vào thời lưu đày Babylon khi đoàn dân Chúa bị bứt ra khỏi những sinh hoạt đền thờ, và trong hoàn cảnh mới họ bắt đầu tụ họp thành nhóm nhỏ để cầu nguyện và đọc Sách Thánh nhằm duy trì căn tính riêng. Theo dòng lịch sử, hệ thống giáo dục sơ cấp của Do Thái phát triển trong mối liên hệ với các hội đường. Như thế, trước cả thời Chúa Giêsu, những sinh hoạt hội đường đều đóng góp vai trò quan trọng đối với việc giáo dục tôn giáo cho cộng đồng. Tại hội đường, giáo viên được coi như một người trợ lí phụ trách việc giáo dục các trẻ em. Người trợ lí ấy được cung cấp nếu một hội đường có trên hai mươi lăm học sinh. Mục tiêu chính của giáo dục tại hội đường là tôn giáo; những chủ đề Cựu Ước, đặc biệt là lề luật, là nội dung chính yếu cho việc giảng dạy. Đọc, viết và làm các phép tính đơn giản cũng được học thêm trong giai đoạn khai tâm này. Học thuộc lòng, làm bài tập, và ôn luyện bài cũ đã được sử dụng như những phương pháp chủ đạo cho việc giảng dạy. Trẻ em nam thường bắt đầu đi học chính thức vào lúc 6-7 tuổi. Nó phải dành ít nhất nửa ngày buổi sáng, sáu ngày một tuần, và kéo dài khoảng năm năm cho việc học tại hội đường. Khi lên đến trung học, khoảng 12 tuổi, người ta thêm vào nội dung học việc giải thích luật, minh họa theo hình thức ẩn dụ, và ứng dụng vào cuộc sống cụ thể để trở thành những quy tắc ứng xử, hoặc những khoản giới luật ngắn gọn, gọi là các halakhah.

            Như vậy, việc giáo dục trẻ em thời Chúa Giêsu vẫn theo truyền thống Cựu Ước và chủ yếu do các luật sĩ, các kinh sư và nhóm Pharisêu nắm giữ.

Vai trò của Chúa Giêsu là Thầy

Chúa Giêsu đã dành cho các trẻ em một sự ưu ái riêng và Người coi tâm hồn trẻ thơ như kiểu mẫu cho các công dân Nước Trời (Mc 10,13-16). Tuy nhiên, dưới mái trường của Chúa Giêsu không chỉ có các trẻ em mới cần phải học, nhưng mọi người cần phải đến với Đấng đã nói trong uy quyền: “Hãy học với tôi” (Mt 11,29) để nhận được giáo huấn thần linh. Chúng ta dừng lại đôi chút để chiêm ngắm Chúa Giêsu là Thầy.

Các trang Tin Mừng mô tả Chúa Giêsu như là một vị Thầy. Người huấn luyện các môn đệ, Người giảng dạy và giáo hóa dân chúng (Mc 4,1-2). Hầu hết thời gian thi hành sứ vụ trần thế, Chúa Giêsu đã dành để giảng dạy. Nhưng có một điều gì đó cao siêu toát ra từ những lời giảng và phong thái của Chúa khiến người ta nhìn nhận Người còn hơn là một vị Thầy hay một Rabbi, những danh xưng các môn đệ và người đương thời dành cho Chúa: Người là một vị Tôn Sư, Người đứng hàng đầu. Giới chức lãnh đạo và người đương thời nhìn nhận Chúa Giêsu có ảnh hưởng đặc biệt và bao quát trên dân chúng. Theo cách thức giảng dạy của các bậc thầy thời xưa, Chúa Giêsu cũng quy tụ một nhóm môn đệ, những người còn khá trẻ mà Người đào tạo và huấn luyện riêng, nhằm thông qua họ, Người duy trì sứ vụ cứu thế đến tận cùng thời gian. Như thế, vai trò giảng dạy của các kinh sư Do Thái đã kết thúc khi Chúa Giêsu xuất hiện. Người nặng lời khiển trách các kinh sư và tuyên bố những giáo huấn của họ là vô giá trị (Mt 23,1-36; Mc 12,38-40; Lc 20,45-47). Bởi vì họ chỉ chú tâm tới các hình thức bên ngoài, còn Chúa Giêsu đặt luật mới trong tâm khảm con người; những lời của các kinh sư chỉ có ý nghĩa theo thời gian, còn giáo huấn của Chúa có giá trị vĩnh cửu[ ].

Giáo huấn của các Tông đồ

            Một hình thức giáo dục khác trong thời Tân Ước chúng ta không thể không biết đến, đó là vai trò giáo huấn của các Tông đồ.  Khi Chúa về trời Người truyền lệnh cho các Tông đồ đi giảng dạy muôn dân (Mt 28,20). Vì thế, như chúng ta thấy các trình thuật trong sách Công vụ Tông đồ 2,42;4,1-2;5,21,28 việc giảng dạy trở nên quan trọng hàng đầu trong cộng đoàn Giáo hội sơ khai tại Giêrusalem. Lúc đó, nhu cầu giảng dạy Lời Chúa trở nên cấp bách đối với cộng đoàn đến nỗi các Tông đồ phải lập nhóm bảy phó tế lo các việc tổ chức, để các ngài chuyên chú vào việc giáo huấn (Cv 6,2-4). Tân Ước coi vai trò của Giáo hội trong việc giáo dục đức tin là rất quan trọng, trách nhiệm giảng dạy được coi như bổn phận hàng đầu của mục tử (1 Tm 3,2), ngay cả những vị thầy tình nguyện cũng quan trọng cho việc xây dựng Giáo Hội (Gc 3,1). Tại sao vai trò giáo huấn quan trọng đến thế? Thưa, việc giảng dạy giáo lí chính thực giúp các Kitô hữu và các cộng đoàn Giáo hội tránh được những lí thuyết sai lạc rất phổ biến vào thời đó (Ep 4,14; 2 Tx 2,15; Hr 13,9). Về mặt tích cực, giáo huấn của các Tông đồ giúp nuôi dưỡng và củng cố đức tin của các Kitô hữu, còn non trẻ, dễ bị lôi cuốn vào những khuyến dụ sai lạc (1 Tm 1,3-7), đồng thời làm sáng tỏ sứ điệp Kitô giáo (1 Tm 6,1-5; 1 Pr 5,12) trong thế giới dân ngoại.

*

Ngày nay việc giáo dục giới trẻ trong các gia đình được nhiều người quan tâm, tuy nhiên sứ mạng này cũng đặt ra không ít những thao thức và suy nghĩ trăn trở. Hi vọng những gì vừa trình bày sẽ khơi lên trong chúng ta một chút chất liệu, góp thêm vào những suy tư, hầu có thể giúp chúng ta chọn ra một đường hướng thích hợp.

 

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

          Tháng 7-2014

Nhiều người chúng ta đang say mê theo dõi Wolrd Cup 2014. Và thật lạ lùng, các sách Kinh Thánh cũng đã nói tới khá nhiều môn thể thao mà ngày nay chúng ta thi đấu. Cứ theo dõi những gợi ý dưới đây bạn sẽ thấy rõ điều đó. Chúc bạn thành công!

1- Sách 1 Vua thuật lại cuộc chiến tranh giữa người Ítraen và dân Aram; vua Aram thua phải “cỡi ngựa” bỏ chạy. Đó là ai?

2- Sách 2 Vua thuật lại chuyện tiên tri Êlisa tấn phong một vị vua; ông này được mệnh danh là một người “phóng xe như điên”. Ai vậy?

3- Vị thủ lãnh nào đã dùng hai tay nâng những chiếc cột cái của một tòa nhà khiến nó sụp đổ?

4- Bạn hãy cho biết tên của một bà mẹ có người con trai bắn cung “bách phát bách trúng” nhưng lại bị ông Ápraham đuổi cả hai mẹ con ra khỏi nhà.

5- “Vận động viên” nào đã chạy nước rút đi báo tin cho vua Đavít biết Ápsalôm chết?

6- Người thanh niên nào trước khi lên làm vua đã trở thành đối thủ của người Philitinh?

7- Vị tướng nào đã dùng cây thương phóng trúng tim của Ápsalôm?

8- Sách Sáng Thế nói tới một vị anh hùng đầu tiên trên mặt đất. Anh ta là con ông Cút và là một “thợ săn dũng cảm”. Người đó là ai?

 

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 5&6-2014

1: GALION (18,14-17) 2: CỬA ĐẸP (3,1-2) 3: ALÊXANĐÊ (19,33-34) 4: BANABA (13,1-3)  5: GAIÔ (19,29) 6: AGABÔ (21,10-11) 7: XIKÊUA (19,14) 8: PƠRITKILA (18,24-26) 9: TABITHA (9,36-42) 10: NICÔLA (6,5-6) 11: LYĐIA (16,14) 12: ÊUTYKHÔ (20,9)

 

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 5&6-2014:

1.         Maria Phan Thị Nhật, Gx. Hải Châu, Kênh 7B.

2.         Thiên An, Gx. Bình Minh, Huyện Thốt Nốt, Cần Thơ

3.         Maria Lê Thị Nhu, Gx. Hiếu Sơn, Kênh H2, Thoại Sơn, An Giang

4.         Tôma Huỳnh Thế Tâm, Gx. Tân Bình, Tràm Chẹt, Kiên Giang

5.         Danh Thị Rết, Gx. Quý Phụng, An Biên, Kiên Giang

 

            * Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                        - Email: jostrung.trung@gmail.com

                        - Điện thoại: 01672576777

                        - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

            Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên

            Giang

 

 

GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

14  Thánh giá

Thường người ta có thói quen trốn chạy đau khổ bằng mọi cách. Và không có gì gây bực tức cho xã hội mạnh hơn, là quan điểm Kitô giáo cho rằng phải chấp nhận, chịu đựng và ngay cả sẵn sàng đón nhận đau khổ, để nhờ đó thắng vượt nó. Giáo chủ Gioan Phaolô II tin rằng “đau khổ là một ẩn số của con người”. Tại sao?

Nhân loại ngày nay đang tìm cách đẩy đau khổ ra khỏi thế gian. Đối với từng cá nhân, điều đó có nghĩa là phải làm sao tránh bị đau khổ. Nhưng người ta cũng phải thấy rằng, như vậy thì thế giới sẽ hoá ra rất lạnh lẽo, rất khó sống. Đau khổ là một thành tố của kiếp người. Và ai thực sự muốn diệt đau khổ, người đó tất cũng phải huỷ tình yêu; không có đau khổ thì chẳng có tình yêu, bởi vì tình yêu luôn đòi hỏi từ bỏ một phần chính mình, bởi vì tình yêu, tuỳ theo tâm tính mỗi người và mức độ tình huống, cũng luôn kéo theo với nó sự từ bỏ và đau khổ. Nếu ta biết con đường tình yêu - cuộc xuất hành, ra đi khỏi mình - là con đường thật để thành người, thì ta cũng hiểu rằng đau khổ là tiến trình trưởng thành. Ai sẵn sàng chấp nhận đau khổ, người đó trưởng thành hơn, hiểu người khác hơn, là người hơn. Ai trốn tránh đau khổ, kẻ đó không hiểu tha nhân, sẽ trở nên vị kỉ, tàn bạo. Chính tình yêu là một cực hình, một chịu đựng. Thoạt tiên tôi cảm nghiệm được trong nó nỗi sung sướng, tôi kinh nghiệm được hạnh phúc thật. Mặt khác, đối lại, tôi cũng phải bước ra khỏi sự yên lành thoải mái của tôi, và phải chấp nhận mình thay hình đổi dạng. Nếu ta bảo, đau khổ là mặt trái của tình yêu, thì ta cũng hiểu được việc học đau khổ quan trọng là dường nào, và ngược lại, cũng hiểu được tại sao việc tránh đau khổ làm cho con người mất khả năng sống. Trường hợp này, đời ta chỉ còn là trống rỗng, rồi có thể chỉ còn lại bực tức, khước từ, hết còn trưởng thành, hết còn biết sẵn sàng chấp nhận.

Việc gì sẽ xảy ra, nếu Đức Kitô không xuất hiện và không chết trên thánh giá? Không có Ngài thì thế gian đã ra tiêu tan từ lâu rồi phải không?

Điều đó không thể nói được. Nhưng ta có thể nói được, là nếu không có Ngài, con người không thể đến được với Thiên Chúa. Con người lúc đó chỉ còn biết tìm Ngài trong lần mò đứt đoạn. Và rốt cuộc họ chẳng còn biết Thiên Chúa là ai hay là gì nữa. Dĩ nhiên, cũng có đôi chút ánh sáng Thiên Chúa loé lên trong các tôn giáo lớn, song đấy cũng chỉ là những đốm sáng rời rạc hay cũng chỉ là những câu hỏi. Vả, nếu như câu hỏi về Thiên Chúa không có câu trả lời, nếu con đường dẫn tới Ngài bị tắc nghẽn, nếu không có sự thứ tha - sự thứ tha do chính Thiên Chúa uỷ quyền - thì cuộc sống con người trở thành một cuộc thí nghiệm vô nghĩa. Như vậy là chính Chúa đã kéo mây đen ra khỏi một khoảng bầu trời, Ngài thắp lên ánh sáng, rọi chiếu mở ra cho ta một con đường, con đường chân lý, con đường giúp ta sống, và đường đó chính là sự sống.

INRI – Cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô

Một người như Đức Giêsu hẳn đã khiến cho dư luận lưu tâm ghê gớm và đã khiêu khích mọi tập thể. Vị tiên tri ở Nadarét đó không chỉ được người đương thời hoan hô, mà còn bị nhạo báng và truy nã. Giới cầm quyền coi Ngài và giáo huấn của Ngài là mối nguy cho quyền lực họ, phía Pharisêu và và các thượng tế bắt đầu tìm cách giết Ngài. Rõ ràng cuộc khổ nạn đã là một phần của sứ điệp Ngài, bởi vì chính Đức Kitô đã cho các môn đồ biết trước về khổ nạn và cái chết đó. Ngài nói thế này vào ngày lễ vượt qua, trong hai ngày nữa “Con Người sẽ bị nộp và bị treo trên thánh giá”.

Đức Giêsu đã chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ, để họ hiểu rằng, Đấng Thiên Sai sẽ không xuất hiện như một kẻ giải phóng, hay như một kẻ uy quyền vinh quang sẽ đưa Israel trở lại với quyền lực huy hoàng của thời xưa cũ. Ngài đã không tự gọi mình là Thiên Sai, nhưng là Con Người. Con đường của Ngài, trái lại, chỉ là con đường vô quyền và chấp nhận cái chết, bị nộp cho người ngoài đạo, như Ngài đã nói, và bị họ treo lên thánh giá. Ngài muốn các môn đệ phải hiểu Nước Chúa sẽ đi vào trần gian bằng con đường đó, chứ không bằng con đường nào khác.

Bức họa nổi tiếng của Leonardo da Vinci*, Bữa Tiệc Ly, vẽ lại cảnh bữa ăn chia tay giữa Đức Giêsu và các tông đồ. Trong chiều tối hôm đó, Ngài đã làm cho các tông đồ ngỡ ngàng thất vọng, khi Ngài cho hay sẽ có sự phản trắc. Sau đó, Ngài lập ra phép Thánh thể, phép mà từ đó tới nay đã gần hai ngàn năm vẫn được Kitô hữu cử hành mỗi ngày. Tin Mừng viết: “Ngài bẻ bánh, đưa cho các tông đồ và nói: “Hãy cầm lấy mà ăn; đây là Mình Thầy”. Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời ca tụng, đưa cho các tông đồ và nói: “Hãy cầm lấy mà uống, đây là Máu Thầy.”. Có lẽ đây là những câu cho tới ngày nay được lặp đi lặp lại nhiều nhất trong lịch sử. Chúng xem ra như một công thức thánh.

Chúng là một công thức thánh. Nghĩa là những câu nói vượt ra hẳn ngoài mọi sự thường tình, mọi chờ đợi, mọi suy tính. Đó là những câu chứa đựng kho tàng vô giá và ý nghĩa thâm sâu. Muốn biết Đức Kitô, tốt nhất nên suy niệm những câu đó và cùng cử hành sự hiện diện của chúng, những lời đã trở thành bí tích. Phép Thánh Thể là một tổng kết về Đức Kitô.

Ở đây, Đức Kitô lấy lại những sợi chỉ nền tảng của Cựu Ước. Một mặt, Ngài dựa vào việc lập Giao ước cũ ở núi Sinai, và cho thấy rõ rằng, sự việc khởi đầu ở Sinai giờ đây lại xảy ra một cách mới: Giao ước mà Thiên Chúa đã lập với con người, giờ đây đã thật sự hoàn thành. Bữa tiệc ly là biến cố thành lập Giao ước mới. Khi Ngài giao mình cho con người, lúc đó một cộng đoàn máu mủ giữa Thiên Chúa và con người thành hình. Mặt khác, ở đây lời của tiên tri Giêrêmia tiên báo về việc lập Giao ước mới cũng được nhắc tới. Cả hai vòng cựu ước (lề luật và tiên tri) tan biến vào trong sự thống nhất này và đồng thời hình thành nên một hành vi bí tích. Trong đó thập giá đã được hé mở cho thấy trước. Bởi vì nếu như Đức Kitô cho đi thịt máu Ngài, cho đi chính Ngài, thì điều kiện đặt ra là Ngài phải cho thực sự. Như vậy thì những lời trên cũng là hành động nội tại của thập giá, hành động đó nói lên rằng, Chúa đã biến bạo lực bên ngoài đối với Ngài thành ra một hành động tự tặng mình cho nhân loại. Và ở đây, có một điểm nữa cũng đã được nói ra trước, đó là phục sinh. Không thể cho người ta ăn thịt chết, thân xác chết. Chỉ vì Ngài sẽ phục sinh, nên thịt và máu của Ngài trở nên mới. Và không phải ăn uống kiểu con người, nhưng là sự kết hợp với Đấng Phục sinh hằng sống. Xem thế, chỉ trong mấy lời trên, ta thấy chứa đựng cả một tổng hợp lịch sử tôn giáo, một tổng hợp lịch sử đức tin của Israen cũng như chính cuộc sống và công trình của Chúa Giêsu, và cuộc sống và công trình của Ngài này cuối cùng đã trở thành bí tích và hiện diện luôn mãi. (Còn tiếp).

 

CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH

 

SỐNG ĐỨC KHIẾT TỊNH

TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN

 

Có lẽ là điều ngớ ngẩn và không cần thiết khi đề cập đến việc sống Đức Khiết Tịnh trong đời sống hôn nhân, vì như thế chẳng khác nào “cấm một người đang đói không được ăn”! Tuy nhiên, sẽ là một thiếu sót lớn đối với những ai có trách nhiệm nếu không muốn, và nhất là không dám nói đến vấn đề đó cho các cặp vợ chồng! Trong bối cảnh Giáo hội sống năm “Phúc Âm Hóa Đời Sống Gia Đình”, thiết nghĩ, đây là dịp thuận tiện để đề cập đến việc sống Đức Khiết Tịnh trong đời sống hôn nhân. Nếu vợ chồng sống hay giữ được Đức Khiết Tịnh trong đời sống hôn nhân của họ, chắc chắn họ sẽ tạo được hạnh phúc cho nhau và cho gia đình họ; bởi lẽ đa phần sự tan vỡ trong hôn nhân đều phát xuất từ việc vợ chồng không sống và giữ trọn vẹn Đức Khiết Tịnh trong quan hệ vợ chồng của họ. Vậy, sống Đức Khiết Tịnh trong hôn nhân nghĩa là gì?

Nói đến việc sống Đức Khiết Tịnh trong đời sống hôn nhân tưởng như mới lạ, nhưng thực ra đó chính là việc vợ chồng sống đúng những mục đích và những đặc tính của hôn nhân Kitô giáo đề ra.

1. Những mục đích của hôn nhân Kitô Giáo

Trong sách Sáng Thế Ký có hai đoạn văn nói về việc Thiên Chúa tạo dựng loài người, và qua đó nói rõ mục đích khi Ngài tạo dựng họ có nam có nữ.

- Đoạn Kinh Thánh thứ nhất: “Thiên Chúa phán: ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.’ Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình…Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ…và Thiên Chúa phán với họ: Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất”. (St 1, 26-30) Qua đoạn Kinh Thánh thứ nhất này, ta thấy rõ được một trong những mục đích của hôn nhân là sinh sản con cái, và lẽ dĩ nhiên sinh sản con cái luôn kèm theo việc nuôi dưỡng và giáo dục chúng nên những con người tốt.

- Đoạn Kinh Thánh thứ hai: “ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán: Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó… ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra. Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”. (St 2, 18-24). Đoạn Kinh Thánh thứ hai này cho chúng ta thấy mục đích khác nữa của hôn nhân Kitô giáo là vợ chồng yêu thương nhau. Như vậy, mục đích chính của hôn nhân Kitô giáo là: vợ chồng yêu thương nhau (x. St 2,24) và sinh sản đầy mặt đất (x. St 1,28).

a. Vợ chồng yêu thương nhau

Hai người nam nữ đến với nhau là do tình yêu thúc đẩy và sống với nhau là để giúp nhau phát triển tình yêu ấy. Câu Kinh Thánh “Adam không tìm được sự trợ giúp tương hợp” diễn tả “cái thiếu, cái cần” của Adam. Dù Adam có tất cả vạn vật chung quanh, ông vẫn cảm thấy thiếu, thấy trống vắng. Phải có “cái gì” để lấp đầy sự trống vắng đó. “Cái để lấp đầy”, chính Thiên Chúa đã ban cho Adam, đó là Eva. Khi Eva được đưa tới, Adam thốt lên sung sướng: “Này xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi... từ nay, người nam sẽ bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ và cả hai sẽ nên một xương một thịt” (St 2, 23). Lời nói ấy biểu lộ sự hài lòng của Adam vì ông đã tìm được sự “trợ giúp tương hợp”, đã cảm thấy đầy đủ và muốn gắn bó và yêu thương Eva suốt đời. Như thế hai người nam nữ đến với nhau là để lấp đầy cho nhau, để bù đắp cái “thiếu” của nhau, để tương trợ nhau trong tình yêu.

b. Sinh sản, nuôi dưỡng và giáo dục con cái

Tương trợ nhau trong tình yêu và trong cuộc sống còn là để phục vụ sự sống mới. Như tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh không ngừng phát sinh hoa trái là các Kitô hữu qua Bí tích Rửa tội và ân sủng các Bí tích khác, thì vợ chồng yêu thương kết hợp với nhau trong đời sống Hôn nhân cũng sẽ nhằm tới việc truyền sinh, nghĩa là sinh con cái, và giáo dục chúng nên người tốt và nên con Chúa. Đây là ơn gọi rất cao quí của cha mẹ Công giáo. Chính vì lý do đó, Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế Mục Vụ, dạy: “Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ơn huệ cao quí nhất của Hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ. Thiên Chúa đã phán: Đàn ông ở một mình không tốt (St 2, 18). Người là Đấng: từ buổi đầu, đã dựng nên một người nam và một người nữ (Mt 19, 4); chính Thiên Chúa muốn thông ban cho con người cộng tác một phần đặc biệt vào công cuộc tạo dựng của Người. Người đã chúc lành cho người nam và người nữ rồi nói: Các ngươi hãy tăng gia, sinh sản (St 1, 28). (MV 50). Về vấn đề sinh sản con cái, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã giải thích: “Ngày nay loài người đã đầy mặt đất, cần phải tính đến việc nuôi sống và giáo dục những mầm non của loài người. Đàng khác, mệnh lệnh sinh sản cho đầy mặt đất gắn liền với mệnh lệnh làm chủ mặt đất. Muốn thế thì đứa con sinh ra phải được nuôi nấng và giáo dục cho nên người. Điều này đưa chúng ta vào những vấn đề cấp bách và nghiêm trọng hiện nay là vấn đề sinh sản có trách nhiệm và vấn đề giáo dục con cái” (Thư Mục vụ HĐGMVN tháng 10/1992 - số 11).

2. Những đặc tính của hôn nhân Kitô Giáo

a. Đơn hôn

Đơn hôn là hôn nhân giữa chỉ một người nam và một người nữ. Hôn nhân Công giáo là duy nhất, trung tín, không chia sẻ. Người nam không thể là chồng của người nữ nào ngoài vợ mình; và người nữ cũng không thể là vợ của người nam nào ngoài chồng mình. Dùng kiểu nói xưa, thì gọi là “Nhất phu nhất phụ”. Đặc tính  Đơn hôn loại trừ mọi hình thức đa thê, đa phu và hôn nhân của những người đồng tính luyến ái.

 b. Bất khả phân ly

Bất khả phân ly tức là vĩnh viễn, nghĩa là hôn nhân ràng buộc hai người cho đến chết. Khi người nam và người nữ đã kết hôn thành sự và hợp pháp, họ phải chung thủy với nhau trọn đời (x. MV số 20).  Không ai có thể tháo dây hôn phối đó, dù hai vợ chồng đồng tình, dù quyền lực tôn giáo hay dân sự. Trên đây là trình bày cách khái quát về những mục đích và những đặc tính của hôn nhân Kitô giáo. Vậy tại sao khi sống các mục đích và đặc tính của hôn nhân lại là sống Đức Khiết Tịnh?

3. Sống các mục đích và đặc tính của hôn nhân là sống Đức Khiết Tịnh

Khi nói đến Đức Khiết Tịnh, ta liên tưởng ngay đến vấn đề tính dục, mà chúng ta thấy trong hai mục đích và hai đặc tính của hôn nhân đều liên quan đến vấn đề tính dục. Vợ chồng yêu thương nhau thì trong tình yêu có tình dục; rồi việc vợ chồng yêu thương nhau không chỉ là để thỏa mãn bản thân mình mà còn nhắm đến vấn đề truyền sinh. Đây là sứ vụ và là trách nhiệm của vợ chồng. Hơn nữa, khi nói đến tính chất đơn hôn và bất khả phân ly trong hôn nhân thì cũng có nghĩa là nói đến sự tiết chế trong quan hệ vợ chồng. Người ta muốn đa thê đa thiếp là vì muốn thỏa mãn bản năng tính dục của mình; muốn lăng nhăng ngoại tình, không muốn chung thủy với người phối ngẫu suốt đời cũng chỉ vì muốn đi tìm những cảm giác mới nhằm thỏa mãn ham muốn tính dục qua những cuộc mây mưa ngoài hôn nhân. Tình yêu và tình dục là hai yếu tố luôn có và cần thiết để hai vợ chồng có thể chung thủy, một lòng một dạ yêu nhau suốt đời, và sinh sản con cái; tuy nhiên, trong hai yếu tố đó thì tình yêu là quan trọng hơn. Nếu vợ chồng coi tình dục là yếu tố quan trọng hơn tình yêu, thì đời sống hôn nhân của họ sẽ mau chóng bị sụp đổ, vì họ không thể nào thỏa mãn và làm cho người phối ngẫu thỏa mãn bản năng tính dục. Thực vậy, sự thỏa mãn tính dục không phải là thỏa mãn tình yêu, và không thể bù đắp cho tình yêu. Nhưng nếu vợ chồng thực sự yêu nhau thì chính tình yêu đó sẽ bù đắp cái gọi là “thiếu” cho nhau, và làm cho nhau được hạnh phúc, và khi đó tính dục có hay không không còn là điều quan trọng. Ngoài ra, việc quan hệ tình dục giữa hai vợ chồng còn phải nhắm đến vấn đề truyền sinh, nghĩa là sinh sản con cái có trách nhiện, nên vợ chồng càng phải quan tâm hơn nữa đến việc tiết dục trong hôn nhân. Đây là điều khó thực hiện đối với các vợ chồng. Khó nhưng vẫn có thể giữ được một khi vợ chồng yêu nhau bằng một tình yêu trọn hảo, tình yêu “Agape”: tình yêu của Thiên Chúa yêu con người.

Quả vậy, tình yêu mà hai người nam nữ dành cho nhau thường chỉ dừng lại ở thứ tình yêu Eros (ái tình). Đây là thứ tình yêu chiếm hữu, thuộc về cảm xúc, không được điều khiển bằng lý trí và ý chí. Cho nên khi yêu ai, ta muốn chiếm hữu người đó cho riêng mình, theo cảm xúc của mình; và nhất là chỉ nhắm tìm thỏa mãn ham muốn tính dục khi yêu nhau. Vậy, để có thể sống được Đức Khiết Tịnh trong đời sống hôn nhân, nghĩa là sống trọn vẹn các mục đích và đặc tính của hôn nhân, vợ chồng cần phải  vượt lên tình yêu Eros để vươn tới một sự trọn hảo của tình yêu: tình yêu Agape. Khi vươn tới sự trọn hảo của tình yêu (tình yêu Agape), vợ chồng không chỉ có nhu cầu yêu và được yêu, mà còn có nhu cầu chia sẻ tình yêu với người mình yêu. Tình yêu Agape là thứ tình yêu luôn tìm đáp ứng nhu cầu hạnh phúc của người khác hơn là đáp ứng nhu cầu của chính mình; là sống cho nhu cầu hạnh phúc của người mình yêu chứ không chiếm hữu người yêu cho riêng mình. Khi sống tình yêu Agape, vợ chồng luôn biết đồng cảm với nhau: hạnh phúc của người mình yêu là của mình; và nỗi đau của người mình yêu cũng là của mình. Vợ chồng yêu nhau bằng tình yêu Agape thì sẽ không tìm thỏa mãn bản năng tính dục, mà luôn biết sống cho và vì hạnh phúc của nhau, hướng đến xây dựng gia đình hạnh phúc, sinh sản có trách nhiệm hầu nuôi dạy con cái thành người tốt, để rồi qua đó, làm chứng cho con người ngày nay về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho họ.

Nhìn lên thập giá Đức Kitô, chúng ta thấy được tình yêu tuyệt hảo của Thiên Chúa dành cho con người, một tình yêu không chỉ là Eros nhưng còn là Agape (ĐGH Bênêđictô XVI). Thiên Chúa yêu con người như một người nam yêu một người nữ, nhưng không chỉ muốn chiếm hữu con người, mà là trao ban chính mình cho con người, vì hạnh phúc của con người. Tình yêu của Đức Kitô dành cho Giáo Hội thực sự là mẫu gương cho các vợ chồng noi theo để sống Đức Khiết Tịnh trong đời sống vợ chồng. “Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời.” (Mt 19, 12) Như vậy thì cũng có thể nói, có những người đã kết hôn, nhưng vì Nước Trời, họ sẵn sàng sống Đức Khiết Tịnh trong đời sống hôn nhân, qua việc sống đúng, sống trọn vẹn các mục đích và các đặc tính của hôn nhân Kitô giáo, để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa yêu thương con người, và làm chứng cho Nước Trời mai sau.

Hương Quê

 

NHỮNG NGUYÊN NHÂN

GIẾT CHẾT TÌNH YÊU

       Sr. Ter. Trúc Băng

 

Có những cuộc tình tưởng chừng như nồng thắm, nhưng lại kết thúc bằng đổ vỡ. Có những mái ấm tưởng chừng như hạnh phúc, nhưng lại kết thúc bằng những đắng cay chua xót. Tại sao thế? Nguyên nhân nào khiến cho tình yêu và gia đình, khởi đầu rất tốt đẹp, lại có một kết cục đáng buồn như vậy? Tôi xin đưa ra một vài nguyên nhân chính yếu sau đây:

1. Sự ích kỷ:

Là liều thuốc độc giết chết tình yêu một cách nhanh nhất. Tự bản chất, đàn ông muốn độc lập, muốn là trụ cột gia đình, muốn làm chủ. Đối với  đàn ông Việt Nam, để vợ đi làm kiếm tiền nuôi sống gia đình là một sự nhục nhã, mặc dù xã hội ngày nay đề cao sự bình đẳng giới, việc phụ nữ đứng ra gánh vác gia đình là chuyện không còn mới nữa. Thế nhưng, vì xem mình là phái mạnh, nên đàn ông lấy làm khó chịu khi phải dựa dẫm vào đàn bà, bị xem là " cái bóng mờ" bên cạnh vợ và chịu sự sai khiến của vợ. Vì thế, phản ứng  thông thường của họ là tự ái, ích kỷ, cấm đoán vợ, độc tài, từ đó nảy sinh nhiều bất đồng, ghen tuông khiến bầu khí gia đình nặng nề và ngột ngạt. Nên nhớ rằng: thuở ban đầu, Thiên Chúa dựng nên người nữ là để bổ túc và tương trợ người nam: "Con người ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó." ( St 2,18) để rồi từ đó họ trở thành "một xương một thịt"  và " bất khả phân ly". Vì thế, tình yêu vợ chồng chỉ thật sự hạnh phúc khi cả hai biết hy sinh cho nhau, chấp nhận những dị biệt, những thiếu sót cũng như hoàn cảnh hiện tại, vì không có hy sinh, tình yêu sẽ cằn cỗi và sẽ chết. Hãy nhìn lên thập giá để học thuộc bài học hy sinh, tự hiến đến cùng vì tình yêu của Con Thiên Chúa: " Không có tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì người mình yêu." (Ga 15,13)

2. Thiếu quan tâm đến nhau:

Đây là điều mà các đôi vợ chồng hay mắc phải. Sau tuần trăng mật, họ thường đối diện với một thực tế phũ phàng: chàng/ nàng của mình sao mà khác quá. Hình ảnh một người đàn ông lý tưởng, ga-lăng hồi còn yêu nhau đâu rồi? hay hình ảnh một người phụ nữ dịu dàng, e ấp, kín đáo, tế nhị biến đâu mất? Thật vậy, nhiều người quan niệm rằng: đã là vợ chồng thì cần gì khách sáo. Họ xem việc biểu lộ tình yêu, sự quan tâm, khen ngợi, cám ơn nhau là một việc "xa xỉ"  của phép lịch sự và xã giao chỉ dành cho người ngoài mà thôi. Điều này thật sai lầm, bởi lẽ tự bản chất ai cũng có nhu cầu được người khác quan tâm, chăm sóc. Thật ra, quan tâm đến nhau đâu phải là chuyện gì to tát. Có thể là một lời khen ngợi đúng lúc, một lời cám ơn vì bữa ăn ngon, một nụ hôn tạm biệt trước khi đi làm hay hiểu được cả những tiếng thở dài lặng lẽ giữa đêm khuya. Quan tâm còn là biết lắng nghe nhau: người chồng sau một ngày đi làm về biết dành thời gian để nghe vợ chia sẻ những việc xảy ra ở nhà, người vợ lắng nghe chồng tâm sự những khó khăn tại công sở, trong công việc, quan tâm để có thể đáp ứng những nhu cầu, ước muốn của nhau. Tình yêu thật sẽ đưa đến hành động. Ông chồng có thể nói cả ngàn lần "Anh yêu em" mà không hề biết khen vợ một tiếng khi cô ấy mặc một chiếc áo đẹp, không biết đỡ đần vợ những việc trong nhà, thì người vợ cũng không cảm thấy được chồng yêu thương. Cũng vậy, người vợ nói mình là người yêu chồng hết mực, nhưng lúc nào cũng đòi hỏi chồng đáp ứng ước muốn của mình mà không quan tâm xem tâm trạng của chồng thế nào, có gặp khó khăn gì trong công việc? chị có dành thời gian bên cạnh để lắng nghe tâm sự của chồng hay biểu lộ quan tâm bằng những cử chỉ âu yếm chồng không? Nếu cả hai vợ chồng biết thường xuyên biểu lộ sự quan tâm đến nhau, ấy chính là bí quyết của hạnh phúc gia đình.

3. Lời kết

Ngoài những nguyên nhân trên, các đôi vợ chồng còn thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn khác như: sự gian dối, thiếu chung thủy, kinh tế khó khăn, sự đơn điệu, nhàm chán sau thời gian dài chung sống, tất cả những yếu tố này đều góp phần dẫn đến tình trạng tan vỡ trong đời sống vợ chồng. Trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng số 49, Công Đồng Vaticano II khẳng định: "Để có thể sống trọn ơn gọi hôn nhân, cần phải có những nhân đức phi thường." Thật vậy, không có cuộc sống dễ dãi, cũng không có con đường nào thênh thang, êm ái mà không đầy dẫy những chông gai, nguy hiểm. Ngày hai người nắm tay nói lời ưng thuận trước mặt Chúa và Giáo Hội thì cũng là ngày hai người bắt đầu bước vào con đường hẹp đòi hỏi nhiều hy sinh và chiến đấu cam go. Vì thế cần phải có ơn Chúa, niềm tin vững mạnh và nhiều nhân đức anh hùng thì mới có thể cùng nhau đi trọn con đường ấy. Thiết nghĩ lời mời gọi "hãy xây dựng gia đình mình thành một cộng đoàn cầu nguyện, sống tình yêu hợp nhất thủy chung, phục vụ sự sống và hăng say loan báo Tin Mừng" của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong Năm Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình là "kim chỉ nam" giúp các gia đình vượt qua những khúc quanh trong cuộc sống để tiến tới hạnh phúc trọn vẹn.

 

SÓNG DẬY BIỂN ĐÔNG

Đóa Hoa Vô Thường

 

Những ngày này cả nước đang sục sôi về vấn đề Biển Đông. Mọi người đều bày tỏ lòng yêu mến đối với quê hương đất nước của mình, để góp phần làm tan đi những cơn sóng Biển Đông. Trong phạm vi gia đình, cũng có một thứ “biển đông” đang dậy sóng từng ngày. Một thứ sóng ngầm rất nguy hiểm, do các thành viên trong gia đình gây ra. Hôm nay tôi chỉ tập chú vào một vài cơn sóng do chính người chồng gây ra, dựa trên sách Châm Ngôn, đoạn 31. Một khi nhận diện được những cơn sóng này, chúng ta có thể góp phần giúp cho gia đình mình vượt qua, vì “Thuận vợ, thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”.

Thứ nhất: Sóng gió gia đình sẽ nổi lên, nếu người chồng không nhận biết giá trị của vợ. Sách Châm Ngôn nói: “Tìm đâu ra một người vợ đảm đang? Nàng quý giá vượt xa châu ngọc” (Cn 31,10). Người chồng cần nhận biết giá trị của vợ, biết vợ là món quà rất quý hiếm Chúa ban cho riêng mình. Nàng quý hơn cả châu báu trần gian. Không những ông nhận ra giá trị của vợ, mà còn phải biểu lộ lòng yêu quý vợ bằng lời nói và việc làm cụ thể. Quý vợ, tôn trọng vợ là vâng lời Chúa dạy. Thánh Phêrô nói rất rõ: “Anh em là những người chồng. Trong cuộc sống chung, anh em nên hiểu rằng đàn bà thuộc phái yếu. Hãy tỏ lòng quý trọng họ, vì họ cũng được hưởng sự sống là hồng ân Chúa ban. Như thế, việc cầu nguyện của anh em sẽ không bị ngăn trở” (1 Pr 3,7). Do đó trong cách ứng xử với vợ, người chồng cần có sự khôn ngoan của Chúa, để hết sức yêu thương tế nhị. Đừng bao giờ xem vợ như là tài sản, là đồ dùng hay người giúp việc. Nhưng hãy tôn trọng quý chuộng vợ, vì vợ là món quà hết sức đặc biệt Chúa ban cho mình. Đồng thời cũng quý vợ, vì vợ yếu đuối hơn mình. Nàng rất cần được chồng chở che. Thực tế có những ông chồng không biết thương vợ, quý vợ; nhưng đối xử cay nghiệt, thiếu yêu thương vợ, gây ra biết bao sóng gió khổ đau cho người vợ và cả gia đình. Có thể nói, nếu người chồng không nhận biết giá trị của vợ, thì đó là một cơn sóng thần rất nguy hiểm, có nguy cơ dìm cả gia đình vào đại dương bất hạnh.

Thứ hai: Sóng gió gia đình sẽ nổi lên, nếu người chồng không tin cậy vợ. Sách Châm Ngôn nói: “Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng” (Cn 31,11a). Tuy Kinh Thánh không nói chi tiết, nhưng chúng ta biết rằng: Khi người chồng có lòng tin cậy vợ là tin cậy về mọi mặt. Tin rằng vợ là người Chúa ban riêng cho mình, để nâng đỡ mình trên đường đời. Người chồng cần tin cậy vào tình yêu của vợ, tin cậy vào tấm lòng chân thành, chung thủy của vợ. Ông cũng tin cậy vào khả năng, sự khôn ngoan và đảm đang của người vợ. Sách Châm Ngôn 31,13-24 kể ra những việc lớn lao và hữu ích mà người vợ tài đức đã thực hiện vì được chồng tin cậy. Chẳng hạn: Vì được chồng tin cậy, nên bà đan dệt, đi buôn bán, dậy sớm phân chia công việc cho đầy tớ. Vì được chồng tin cậy, nên bà mua đất ruộng để đầu tư cho gia đình; dệt vải, may vá cho người trong gia đình; và cũng nghĩ đến những người nghèo khổ và giúp đỡ họ. Ngược lại với sự tin cậy là tính hay nghi ngờ. Có những ông chồng không tin cậy vợ, nhưng lúc nào cũng nghi ngờ. Nghi ngờ trong mọi việc, đủ mọi mặt. Chẳng hạn như nghi ngờ tình yêu của vợ; nghi vợ không đủ khả năng để quán xuyến việc nhà; nghi cách vợ chi dùng tiền bạc; nghi vợ đi đây đi đó một mình... Người chồng tin cậy vợ thì không theo dõi vợ, không dò xét vợ, nhưng phó thác những công việc quan trọng, phù hợp với khả năng của vợ. Có thể nói, nếu người chồng không tin cậy vợ, thì đó là một cơn sóng thần rất nguy hiểm, có nguy cơ dìm cả gia đình vào đại dương bất hạnh.

Thứ ba: Sóng gió gia đình sẽ nổi lên, nếu người chồng không nhận biết công khó của vợ. Sách Châm Ngôn nói: “Chồng nàng cũng tấm tắc ngợi khen. Hãy để cho nàng hưởng những thành quả tay nàng làm ra” (Cn 31,28b, 31). Người chồng cần tin cậy vợ, để vợ làm những việc quan trọng lớn lao; và cũng trông mong vợ được nhìn thấy kết quả và được hưởng những điều do công khó làm ra. Chồng không nên tranh giành, ganh đua với vợ, nhưng ghi nhận công khó của vợ và mong ước mọi điều tốt đẹp cho vợ. Có những ông chồng không bao giờ quan tâm đến những cực nhọc vợ phải gánh chịu trong vai trò làm vợ, làm mẹ; cũng chẳng bao giờ biết đến công khó của vợ. Thí dụ: Vợ sinh con, nuôi con, chăm sóc con, thức đêm khi con đau ốm; vợ lo việc cơm nước, giặt giũ, giữ gìn nhà cửa ngăn nắp, v.v… Chồng xem đó là những việc dĩ nhiên của một người nội trợ! Có người chẳng những không biết đến nỗi khó nhọc của vợ, lại còn tranh giành công khó của vợ. Thí dụ: Khi con ngoan ngoãn, học giỏi, nên người, thì họ hãnh diện khoe đó là con của mình, nhờ công khó của mình; nó giống mình như đúc! Nhưng nếu đứa con đó hư hỏng hay không giỏi giang, thì lại đổ lỗi cho mẹ của nó, hoặc nói nó giống mẹ! “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Biết công khó của vợ là cả một nghệ thuật. Người chồng cần khích lệ vợ và không tiếc lời khen. Có người nói: “Vợ tôi là số một”. Ngụ ý: Có nhiều phụ nữ giỏi nhưng vợ tôi là nhất, không ai bằng. Người chồng này có lẽ hơi chủ quan, nhưng đối với ông và dưới cái nhìn của ông, vợ ông là số một. Các bà rất cần lời khen, lời khích lệ của chồng. Khi nấu ăn chẳng hạn, ngon hay không thì tùy khẩu vị và ý thích của mỗi người. Các ông nên nhìn thấy công khó của vợ khi chuẩn bị bữa ăn cho gia đình. Đừng so sánh vợ với người khác. Nhiều người không khen vợ mình, nhưng lại đi khen vợ người khác, so sánh vợ mình với vợ người khác, làm cho vợ nản lòng, thêm mặc cảm! Có thể nói, nếu người chồng không nhận biết công khó của vợ, thì đó là một cơn sóng thần rất nguy hiểm, có nguy cơ dìm cả gia đình vào đại dương bất hạnh.

Thứ bốn: Sóng gió gia đình sẽ nổi lên, nếu người chồng không biết chú trọng đến vẻ đẹp bề trong của vợ. Sách Châm Ngôn nói: “Duyên dáng là giả dối, sắc đẹp là phù vân” (Cn 31,29). Quan niệm ấy xem ra hơi bị hiếm trong xã hội ngày nay. Thực tế, phái nam luôn bị thu hút rất mạnh bởi vẻ đẹp bề ngoài của người phụ nữ. Nào là cái đẹp của vóc dáng, khuôn mặt. Nào là cái đẹp của quần áo, phấn son và cả những thứ phụ tùng trên con người, để tôn vẻ duyên dáng, để thu hút cái nhìn của người khác. Nhưng người chồng thì không nên xem nhan sắc của vợ là điều tối quan trọng, vì “Duyên dáng là giả dối, sắc đẹp là phù vân”. Vẫn biết rằng “Duyên” và “Sắc” là hai vấn đề nhiều người hằng quan tâm. Nhưng một khi đã là vợ chồng với nhau, thì vấn đề đó không có giá trị vững bền. Khi nền đạo đức xuống dốc, người ta thường đề cao cái đẹp thân xác, mà ít quan tâm đến vẻ đẹp tâm hồn. Bằng chứng là một phụ nữ dù đời sống có tội lỗi bao nhiêu nhưng nếu đẹp, thì vẫn được tôn sùng, khen ngợi. Nhưng người chồng thì không được như vậy. Hãy quan tâm đến vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn vợ mình và biết khen ngợi. Nên nhớ vẻ đẹp bên ngoài chỉ như sắc hoa: “Mặt trời mọc lên, tỏa ra sức nóng làm cho cỏ khô, khiến hoa rụng xuống, sắc đẹp cũng tiêu tan” (Gc 1,11). Sống bên nhau trăm năm tuổi đời, thì sớm muộn gì mọi vẻ đẹp bên ngoài cũng sẽ xuống dốc. Chỉ còn vẻ đẹp trong tâm hồn mà thôi. Có thể nói, nếu người chồng không biết chú trọng đến vẻ đẹp bề trong của vợ, thì đó là một cơn sóng thần rất nguy hiểm, có nguy cơ dìm cả gia đình vào đại dương bất hạnh.

Thứ năm: Sóng gió gia đình sẽ nổi lên, nếu người chồng không biết quan tâm đến con cái. Sách Châm Ngôn nói: “Con nàng đứng lên ca tụng nàng có phúc” (Cn 31,28a). Tuy Kinh Thánh không nói rõ về cách dạy con của người chồng, nhưng chúng ta nhìn thấy ảnh hưởng rất tốt mà ông đã để lại trên các con. Không những ông nhìn thấy vợ mình có giá trị cao quý, mà các con ông cũng cũng nhận ra giá trị của mẹ nó. Các con biết mẹ là món quà rất quý, là ơn phúc Chúa ban cho gia đình. Kinh Thánh ghi lại: Các con trong gia đình này chỗi dậy chúc phúc cho mẹ. Chi tiết ấy chứng tỏ người chồng rất quan tâm dạy dỗ hướng dẫn các con, nên các con biết công ơn của mẹ và bày tỏ lòng biết ơn mẹ một cách cụ thể. Kinh nghiệm cho thấy, cách người chồng đối xử với người vợ luôn ảnh hưởng đến cái nhìn của con cái đối với người mẹ. Nếu ông không quý trọng, không nói năng tử tế với vợ, thì con cái cũng sẽ không quý trọng, không lễ độ với mẹ nó. Thực vậy, con cái thường để ý quan sát cha mẹ mỗi ngày trong mọi việc lớn nhỏ, rồi bắt chước. Nếu người chồng xem thường vợ, la mắng, nói nặng lời, thì con cái cũng sẽ không quý trọng mẹ, không nói năng lễ độ với mẹ, nhất là không biết công ơn của mẹ. Ngược lại, nếu nó thấy cha nó yêu thương và trân quý mẹ nó, thì nó cũng tôn kính và yêu thương mẹ. Có thể nói, nếu người chồng không biết quan tâm đến con cái, thì đó là một cơn sóng thần rất nguy hiểm, có nguy cơ dìm cả gia đình vào đại dương bất hạnh.

Thứ sáu: Sóng gió gia đình sẽ nổi lên, nếu người chồng không biết quan tâm đến giá trị đạo đức. Sách Châm Ngôn nói: “Người phụ nữ kính sợ Đức Chúa, mới đáng cho người đời ca tụng” (Cn 31,30b). Giá trị đạo đức là yếu tố hết sức quan trọng, để làm nên gia đình hạnh phúc. Vì thế, người chồng phải trở nên gương mẫu sống động trong sự kính sợ Chúa, luôn luôn đặt Chúa lên hàng đầu. Vì thế ông dành nhiều thì giờ để hướng dẫn chăm sóc cả gia đình về mặt đức tin và trở nên tấm gương sống đạo đức cho mọi thành viên trong gia đình. Chung quanh chúng ta có rất nhiều ông chồng xưng mình là người tin Chúa, nhưng lại không sống đức tin, chẳng có đạo đức. Họ miệt mài chạy theo những giá trị phù vân của trần gian. Người thì hết lòng theo đuổi công danh sự nghiệp. Người thì chạy đua kiếm của cải vật chất, không quan tâm gì đến đời sống đạo đức... Những người chồng này không làm trọn trách nhiệm lãnh đạo gia đình. Chính vì thế mà vợ con của họ đã trở thành miếng mồi ngon cho những cơn cám dỗ, vì đã trót nương tựa vào cây gỗ mục. Hạnh phúc gia đình sẽ đổ vỡ. Có thể nói, nếu người chồng không quan tâm đến giá trị đạo đức, thì đó là một cơn sóng thần rất nguy hiểm, có nguy cơ dìm cả gia đình vào đại dương bất hạnh.

Chia sẻ những cảm nhận trên đây trong “Năm Phúc Âm hóa các gia đình”, tôi chỉ ước mong những người chồng sẽ noi theo mẫu mực của người chồng trong Sách Châm Ngôn, đoạn 31. Đó là người (1) biết nhận ra giá trị cao quý của vợ, (2) biết tin cậy vợ, (3) biết công khó của vợ, (4) biết chú trọng vẻ đẹp bề trong của vợ, (5) biết quan tâm chăm sóc con cái và (6) xem trọng giá trị đạo đức. Khi người chồng sống trong mẫu mực ấy, là họ đã thánh hóa mình và góp phần thánh hóa mọi thành viên trong gia đình. Và như thế, “biển đông gia đình” sẽ bớt dậy sóng. Và nếu có dậy sóng, thì gia đình ấy cũng không sụp đổ, vì gia đình ấy đã được xây trên nền đá (x. Mt 7,24-27).

 

ĐẤU TRƯỜNG CUỘC ĐỜI

            Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng biết qua các đấu trường, đã gọi là đấu trường thì ở nơi đây sự tranh đua người thắng kẻ thua ắt hẳn là chuyện dĩ nhiên. Ai cũng muốn mình phải thắng đối phương, nhưng vẫn có người phải thua cuộc. Đặc biệt hơn nơi võ trường, các võ sĩ lại càng phải cố hơn để gượng đứng lên vì đối phương làm gục ngã. Thế nhưng, có một đấu trường lạ lùng hơn hết mà khi đấu không phải là hai người thi đấu với nhau nhưng chỉ là một người đấu. Vậy ai là người sẽ đấu? Đối phương lại là ai? Câu trả lời sẽ là đôi dòng được viết lên để nói về chủ đề “người chồng”

            Trong mỗi gia đình, người chồng giữ một vai trò hết sức quan trọng, họ mang trên vai những gánh nặng chất chứa mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho. Họ vất vả thật nhiều để tạo ra miếng cơm manh áo nuôi gia đình, bất chấp mọi việc làm dù cho nguy hiểm đến tính mạng. Cuộc đời và gia đình là đấu trường của những người chồng. Trên đó, không cho phép họ gục ngã dù có là 10 tiếng đếm đi chăng nữa. Chỉ còn hơi sức cuối cùng họ cũng gượng đứng để vươn lên. Tất cả vì vợ vì con.

Đã bao lần ta gặp những người chạy xe ôm đứng bên đường chào khách mặc cho phải chịu trận dưới cái nắng gay gắt giữa trưa hè, hay trong những trận mưa tầm tã, họ chỉ mong kiếm mấy chục ngàn mang về cho gia đình. Một người thợ hồ, một anh nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời, một chú bảo vệ giữ xe hay thậm chí người phu quét rác bên đường, một người bán vé số.… thế nhưng bao việc làm đó cũng chẳng thế nào đánh gục được chính con người của họ. Bên cạnh những công việc lao động nặng nhọc thì cũng có những người chồng vẫn ngày đêm miệt mài với sự nghiên cứu hay ngồi trong công ty để làm việc, để đấu với thương trường mang tiền về để xây lên mái ấm gia đình. Người chồng chấp nhận tất cả, hy sinh tất cả để làm sao đó cho vợ cho con được sung sướng no đủ, không hơn thì cũng bằng với mọi người xung quanh. Vì thế, một câu thơ đã viết rằng: “Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”.

            Vâng! Đấu trường cuộc đời đã làm cho chồng, cho cha già đi trông thấy, sự mệt mỏi của bao thất bại trong cuộc sống làm cho người chồng vẫn  cần lắm những ủi an, động viên khích lệ của vợ con. Đó chính là động lực giúp họ đứng lên mạnh mẽ và là liều thuốc tâm lý hữu hiệu nhất cho họ giúp họ vững vàng làm trụ cột vững chắc nhất cho ngôi nhà yêu dấu. Để rồi trên môi miệng những người làm chồng có thể tự hào cất lên “Nhà tôi đó”.

                                    TÌM LẠI TUỔI THƠ, GH BAKHU

 

CHỒNG TÔI

 

Theo ước nguyện của ba, tôi thi vào khoa luật  đại học Cần Thơ, và đã trúng tuyển. Khoa luật năm nay có ba lớp, tôi là lớp phó lớp luật tư pháp còn anh là lớp trưởng lớp luật thương mại. Trong buổi họp các ban cán sự lớp đầu tiên, tôi gặp anh. Qua một số lần tiếp xúc, tôi cảm thấy mến anh. Cả anh và tôi đều có học lực khá. Về hình thức, theo tôi anh chỉ đạt điểm trung bình. Dáng người thấp bé, khuôn miệng hơi rộng, anh ít được chị em để ý. Bù lại anh, anh khá dẻo miệng, tươi cười. Anh tốt bụng sẵn sàng giúp đỡ bạn bè trong học tập cũng như trong sinh hoạt và đời sống. Dần dần anh chiếm được cảm tình của anh chị em trong cũng như ngoài lớp.

Khi thân với anh, nghe anh tâm sự về gia đình, tôi mới biết anh bất hạnh hơn tôi nhiều. Gia đình anh rất nghèo, di cư từ miền Bắc vào năm 54, định cư tại vùng Cái Sắn từ những năm 56.  Mẹ anh đi làm mướn tận miệt Thứ. Tại đây bà đã gặp và yêu một người thanh niên bản xứ. Bà mau chóng trao thân cho anh ta. Cuộc tình tưởng chừng bền lâu tới đầu bạc răng long, nào ngờ chưa tròn ba năm… nhưng bà đã có một mụn con gái và đang hoài thai anh.

Không chịu đựng nổi những hắt hủi của chồng và gia đình chồng, bà dắt con về nương tựa cha mẹ. Sinh con xong, bà lại tiếp tục làm thuê làm mướn nuôi con. Tuổi thơ của anh trôi qua trong nhọc nhằm, cơ cực. Vậy mà Chúa thương, bà cũng nuôi nổi chị em anh nên người. Chị anh đã học xong Cao đẳng sư phạm Mầm non và đã đi làm và đã lập gia đình. Phần anh anh quyết tâm học hành. Học để thoát nghèo đói. Chỉ có học mới có thể thoát nghèo trong danh dự. Ngày tôi và anh bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp cũng là ngày anh nói lời yêu tôi. Sau khi nhận bằng tốt nghiệp, tôi được tuyển dụng vào làm thẩm phán tòa án huyện ở quê tôi. Ba tôi được luân chuyển sang làm thẩm phán tóa án huyện TH. Còn anh sau nhiều ngày mang hồ sơ đi xin việc khắp nơi, anh đã được ngân hàng Sacombank tuyển dụng làm nhân viên pháp chế của ngân hàng.

Sau sáu tháng, kể từ ngày anh tỏ tình với tôi, anh đưa gia đình anh tới xin hỏi cưới tôi. Giữa chúng tôi, có một điểm dị biệt, tôi và gia đình theo đạo Phật, còn anh và gia đình theo đạo Chúa. Mẹ tôi muốn chúng tôi "đạo ai nấy giữ", nhưng gia đình anh kiên trì giải thích, thuyết phục cho tôi và các con tôi sau này theo đạo Chúa. Cuối cùng ba mẹ tôi đồng ý cho tôi theo đạo Công Giáo. Sau ba tháng tìm hiểu đạo, tôi được gia nhập đạo. Ngày tôi chịu đạo cũng là ngày cưới của chúng tôi. Đám cưới của chúng tôi theo nghi thức Công Giáo, trang trọng và tràn đầy niềm vui.

Những ngày sống chung của chúng tôi thật hạnh phúc. Anh chăm sóc tôi từng ly, từng chút. Anh tôn trọng tôi cũng như tôi tôn trọng anh. Anh nhẹ nhàng chỉ bảo cho tôi những gì tôi chưa biết về phong tục, tập quán của người Bắc. Ngoài ra, anh tế nhị uốn nắn hành vi, lối sống của tôi cho sát hợp với tín lý và luân lý Công Giáo. Hằng tuần anh nhắc tôi đi tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật. Mỗi tối, anh cùng tôi đọc kinh. Có Chúa và Mẹ đồng hành, chúng tôi đã vượt qua biết bao khó khăn, thử thách. Chúng tôi ngày càng hiểu nhau hơn, yêu mến nhau hơn, cần nhau hơn.

            Hôm nay, ngồi viết những dòng này với tâm tình cảm tạ Chúa đã ban anh cho tôi. Đích thực tôi được sinh ra từ chiếc xương sườn cụt của anh. Tôi nguyện sẽ trung thành và gắn bó với anh trong suốt cuộc đời. Tự trong thâm tâm tôi muốn ngàn lần nói với anh: Em yêu anh biết bao nhiêu.

                                                     Tom Điều, Gx Môi Khôi- Láng Sen

 

GIÁO LUẬT

KẾT HÔN GIẢ

 

Thưa cha, có một cô gái công giáo đã làm thủ tục kết hôn giả với một anh Việt kiều cũng có đạo công giáo để được xuất cảnh. Hai người này có hôn thú dân sự, nhưng không hề sống chung với nhau và cũng không làm hôn phối theo phép đạo. Được hai năm, cô gái về lại Việt Nam để xin cử hành phép hôn phối với một thanh niên trong giáo xứ của con. Nhưng cha xứ không chấp thuận vì cô gái đang có hôn thú dân sự với người khác. Con có hai thắc mắc:

- Tại sao lại không được chấp thuận, vì cô gái chưa hề kết hôn theo phép đạo, còn giấy hôn thú dân sự chỉ là giả?

- Làm kết hôn giả có tội gì không?

 

TRẢ LỜI

1. Giáo Hội không cho phép kết hôn theo phép đạo đối với người đang có hôn thú dân sự với người khác

Theo Giáo luật, điều 1055 §2, giữa hai người đã được Rửa Tội không thể có khế ước hôn nhân thành sự, nếu đồng thời không phải là bí tích. Trong trường hợp này, vì cô gái công giáo và anh Việt kiều công giáo không cử hành bí tích Hôn Nhân, cho nên tự bản chất hôn nhân của hai người không hề được Giáo hội công nhận là tồn tại. Xét về mặt đạo, cô gái này không bị ràng buộc bởi dây hôn phối với anh Việt kiều.

Tuy nhiên, xét về mặt đời, dù là kết hôn giả không hề sống chung với nhau, nhưng về mặt thủ tục pháp lý, cô gái và anh Việt kiều đã là vợ chồng, chính thức được cấp giấy đăng ký kết hôn, và hôn nhân của hai người được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ. Cho nên, mặc dù cô gái không bị ràng buộc bởi dây hôn phối theo phép đạo với anh Việt kiều, nhưng cô cũng không thể cử hành bí tích hôn phối với anh thanh niên trong xứ vì giấy hôn thú cũ vẫn còn hiệu lực. Bởi vì, Giáo luật, điều 1071 §1,20, đã quy định: “Trừ trường hợp cần thiết, nếu không có phép của Đấng Bản Quyền địa phương, không ai được chứng hôn: hôn nhân nào không thể được công nhận hay không thể được cử hành chiếu theo quy tắc của luật dân sự”.

Bộ Luật Hình Sự 1999 của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Điều 147, quy định việc xử phạt người đang có vợ hoặc có chồng (có đăng ký kết hôn hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận) mà có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Nếu cô gái muốn kết hôn với anh thanh niên ở giáo xứ thì phải tiến hành thủ tục ly dị dân sự để hủy bỏ hôn nhân giữa cô và anh Việt kiều, vốn đã được pháp luật dân sự công nhận khi họ đăng kí kết hôn trước đây.

2. Kết hôn giả có tội không?

2.1. Theo luật dân sự

Khoản 2, Điều 4, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi”.

Như vậy, việc thỏa thuận kết hôn giả là vi phạm pháp luật và việc sử dụng giấy chứng nhận kết hôn đó để bảo lãnh xuất cảnh cũng là vi phạm luật nhập cư của các nước.

Tại Việt Nam, theo Nghị định 110/2013/NĐ-CP về vi phạm hành chính lĩnh vực hôn nhân gia đình, từ 11/11/2013, phạt tiền 10-20 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh.

Tại Hoa Kỳ, Sở Di trú Hoa Kỳ (USCIS) rất nghiêm khắc với nạn kết hôn giả. Cơ quan này có thể được phép phạt: đối với công dân Mỹ, kết hôn giả sẽ phải chịu mức án là 10 năm tù giam và số tiền phạt lên đến 250.000 USD; đối với công dân nước ngoài, kết hôn giả sẽ bị trục xuất ra khỏi nước Mỹ, phạt 250.000 USD và cấm nhập cảnh vĩnh viễn (x. wikipedia.org).

2.2. Theo luân lý công giáo

Người công giáo kết hôn giả, dưới bất cứ hình thức nào và vì bất cứ lý do nào, đều là phạm tội nói dối (nói điều sai sự thật, với ý định lừa gạt kẻ khác) để trục lợi cho mình.

“Nói dối là tai họa cho mọi xã hội; nó phá hủy sự tin tưởng giữa con người và cắt đứt các tương quan dệt nên xã hội” (GLHTCG, số 2486).

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo còn giải thích thêm về tính nghiêm trọng của tội nói dối:

 “Tính nghiêm trọng của tội nói dối được đo lường tùy theo bản chất của chân lý mà tội đó đã làm sai lạc, tùy theo các hoàn cảnh và các ý hướng của kẻ nói dối, và những thiệt hại mà các nạn nhân của nó phải hứng chịu. Nếu sự nói dối chỉ là tội nhẹ, thì cũng trở thành tội trọng, khi nó xúc phạm cách nghiêm trọng đến các nhân đức công bằng và bác ái”(số 2484).

Lm LG Huỳnh Phước Lâm

 

 

GIÁO DỤC

 

ĐỨC HAY TÀI

Đức An

 

            Đi qua một ngôi trường đồ sộ với hàng chữ nổi bật: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Tôi nghĩ: May mắn thay thế hệ con cháu chúng ta còn được học lễ giáo thánh hiền. Nhưng khi phải chứng kiến một toán học sinh cãi nhau, chúng văng ra những câu tục tĩu làm tôi thất vọng. Nền giáo dục đúng đắn gồm đức dục và trí dục. Vì thế người xưa quan niệm: Đã có tài phải có đức, nếu tài mà không đức, thì hại cho xã hội. Cụ Nguyễn Du khuyến cáo: Có tài mà cậy chi tài, chữ tài liền với chữ tai một vần.          

Phần lễ giáo phải đặt lên hàng đầu, ngay từ những lớp tiểu học để các em biết đối xử với những người lớn, người già, người tật nguyền, và đồng lứa; lời “xin lỗi” và “cám ơn” luôn có trên miệng chúng. Lên các lớp trung học, chúng phải được học công dân giáo dục, vì các em sắp trưởng thành là người công dân. Vấn đề giao tiếp hàng ngày với mọi người là một kỹ năng, đòi hỏi phải có “tam lương”: lương tri, lương tâm, và lương năng. Thật vậy, con người phải đủ 3 yếu tố mới thành người. Nếu có lương tri mà thiếu lương tâm, sẽ hành động cứng nhắc, có lương tâm mà thiếu lương tri con người không đủ phán đoán, hành động bị tình cảm chi phối. Một chủ đề đặt ra cho học sinh thảo luận: “Học để làm gì?” Nhiều bạn trẻ trả lời: Học để sau này dễ kiếm được việc làm cho cuộc sống đỡ khổ, giúp đỡ bố mẹ gia đình. Sau cùng một bạn trẻ phát biểu: “Học để làm người”. Nhiều con mắt hướng về người bạn trẻ vừa trả lời kèm theo những tiếng xì xào. Đúng, học để làm người là mục đích tối thượng. Nhưng thực tế với xã hội và cuộc sống ngày nay làm sao học để thành người? Cụ Khổng nói: “Nhân bất học bất tri lý, ấu bất học lão hà vi”. Vâng, ai cũng biết học là vấn đề trọng yếu, nhưng học gì? Học ở đâu? Xã hội ngày nay khó tìm được môi trường thích hợp để học. Trong gia đình thì cha mẹ phải bươn chải để kiếm tiền lo cho cuộc sống, giáo dục khoán trắng cho nhà trường, nhưng chương trình của trường lại không có môn giáo dục nhân bản. Thế là trăm dâu lại đổ đầu tằm, cha mẹ phải bớt công việc để giáo dục con thành người, nếu không chúng sẽ phát triển thiếu nhân cách, không biết sau này sẽ ra sao?

            Tuy nhiên, cũng phải nhận rằng: Giáo dục con trẻ ngày nay rất khó. Khó không phải tại chúng, mà khó vì môi trường xã hội ngày nay đầy những cám dỗ, phần tích cực thì ít nhưng lại khó tiếp nhận, tiêu cực thì nhiều lại dễ tiếp thu, nhất là vấn đề bạn bè. Con chúng ta như những con chiên sống giữa bầy sói. Không biết bao giờ con chúng ta mới được sống trong môi trường trong sáng hít thở không khí trong lành? Nhưng xin thưa: Chúng ta không ngồi chờ sung rụng, mà tự chúng ta phải tích cực lo dạy con trẻ từ tuổi thơ và dạy chúng luôn có suy nghĩ tích cực bất kể trong tình huống nào. Có suy nghĩ tích cực, chúng sẽ nhìn đời bằng lăng kính tươi sáng, yêu đời và dễ thành công. Có suy nghĩ tích cực, chúng sẽ trưởng thành trong tam thức: Tri thức, nhận thức và ý thức.

            Người Kitô giáo chúng ta hạnh phúc biết bao; luôn được phù trợ của ơn trên. Trong tin yêu và phó thác, chúng ta được Thần Khí soi đường. Bao lần Đức Giêsu làm phép lạ chữa bệnh cho ai, Người đều nói: “Đức tin đã chữa con”. Vâng chỉ có niềm tin mới tác động đến tình thương của Chúa, và Người không tiếc gì với ta. Tin vào Đức Kitô, chúng ta sẽ vượt qua những nghịch cảnh giữa chốn chợ đời. Hãy truyền lan một niềm tin yêu mạnh mẽ, một tinh thần đạo đức căn bản, chúng sẽ lướt thắng được những cám dỗ.

 

TẦM NHÌN  VỀ GIÁO DỤC

 

Trong ngành giáo dục của nước ta hiện nay, bệnh chạy theo thành tích đang là vấn đề được nhiều người quan tâm. Trước đây, tỉ lệ lên lớp hay tốt nghiệp của học sinh là không cao. Vẫn có em ở lại lớp, vẫn có em thi rớt tốt nghiệp. Đó là chuyện bình thường. Nhưng nhìn vào thực trạng hiện nay thì khác. Sau kỳ thi tốt nghiệp trường nào hay lớp nào có học sinh thi rớt hay ở lại lớp là chuyện bất thường. Tôi theo dõi tin tức thấy có những tình huống dở khóc dở cười. Phụ huynh thấy con mình học chưa đủ điều kiện cho lên lớp nên đến xin thầy cô cho ở lại lớp để học thêm một năm nữa cho vững.  Nhưng những đề nghị này đã bị bỏ qua, phải cho lên lớp mới đủ chỉ tiêu là trường suất sắc. Hiện tượng ngồi nhầm lớp cũng không thiếu. Ngồi học lớp 6, lớp 7 nhưng đọc chữ vẫn chưa chạy. Do chạy theo thành tích của người lớn mà đưa các em rơi vào những lỗ hổng kiến thức cơ bản. Tiếng cười hãnh diện của người lớn lại trở thành tiếng khóc của những học sinh đáng thương. Có những nơi tôi được biết, nhất là ở vùng sâu vùng xa, nhà trường khuyến khích học sinh đến trường bằng cách trả lương cho học sinh. Không những miễn học phí mà còn được phát lương. Không biết với mô hình này có làm chất xúc tác để con em chúng ta hăng say đến lớp để học tập tốt và giúp ích cho xã hội sau này, hay trở nên phản tác dụng, cứ đến lớp để lãnh lương chứ còn học thì cứ tà tà.

Ở các nước phát triển, chúng ta nên làm cuộc so sánh. Sao học sinh của họ có trình độ cao hơn so với các nước đang phát triển hoặc chưa phát triển nổi. Ở nơi họ tôi thấy cách giáo dục như thế này. Khi con em họ đi học về, sau những câu xã giao bình thường là câu hỏi của cha mẹ dành cho con là: “Hôm nay ở trường con học được những gì”? Câu hỏi này đã làm kích thích bộ não của đứa con, làm cho nó nhớ lại những gì ở trường mà hôm nay nó học được. Thế là nó trả lời đúng vanh vách. Đây được xem là cách trả bài hiệu quả. Về nhà nó không cần phải mất nhiều thời giờ để học lại. Còn ở nơi ta thì cũng là hình thức trả bài kiểu đó, nhưng nội dung câu hỏi lại khác: “Hôm nay con học được mấy điểm”? ám ảnh điểm hiện lên trong đầu. Nếu được điểm cao thì hăng hái trả lời, còn nếu bị điểm kém thì run rẩy lo sợ không dám hé môi, nếu nói ra sẽ bị một trận đòn cả bằng miệng lẫn bằng cây. Các em đến trường đã là một gánh nặng, về nhà lại thêm nỗi sợ hãi. Do vậy, việc học hành của các em như là một sự đối phó. Học để được điểm cao khỏi bị đòn. Như vậy cách giáo dục nào mới thật sự tốt và hiệu quả? Bạn và tôi, nhất là những bậc cha mẹ hay thầy cô, hãy làm cho con em chúng ta có cơ hội phát huy cái khả năng, sự sáng tạo. Có học thì cũng có giải trí, học tốt thì có thưởng, đừng để người lớn mang tiếng là người họ hứa. Đừng để nó bị ám ảnh bởi đủ thứ mô hình mà người lớn vẽ ra rồi bắt chúng nó theo. Người lớn cười nhưng nó lại khóc. Những đứa trẻ ở nơi các nước khi học hành tốt là cha mẹ hứa cho đi chơi chỗ này chỗ kia, hay mua cho món quà này món quà nọ, họ hứa nhưng họ làm. Còn ta thì ngàn lời hứa cũng như không. Do vậy con em học sinh chúng ta không có mấy động lực để học tập.

Kỳ thi tốt nghiệp lớp 12 đã qua, và nhất là kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng đang chờ đón những sĩ tử bước chân vào. Bạn và tôi, nhất là những bậc làm cha mẹ, thầy cô, hãy có cái nhìn đúng hướng, đúng cách, đúng mục tiêu, đúng đối tượng và đúng khả năng để hướng dẫn các em bước vào những chặng đường đầy khó khăn, cần chiến đấu và cố gắng để sức lực các em bỏ ra đạt được những thành quả tốt nhất cho bản thân và cho xã hội. Cầu chúc các bạn có một mùa thi thật nhiều niềm vui và thành quả tốt đẹp.

 

Vs. Lê Đình

GIÁO DÂN

ĐỐI THOẠI TRUYỀN GIÁO?

 

Truyền giáo là bản chất của Giáo hội. Công đồng Vaticanô II khẳng định rằng: “Tự bản tính, Giáo hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Chúa Cha” (Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Giáo hội, số 6). Thế giới hôm nay, đặc biệt là tại Châu Á, cụ thể hơn là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, là một thế giới đa văn hóa, đa tôn giáo, đa sắc tộc. Trước bối cảnh rất đặc thù: đa văn hoá, đa tôn giáo, phần lớn dân cư là người nghèo và đang bị ảnh hưởng bởi trào lưu tục hoá và nhiều chủ thuyết khác nhau, người Kitô hữu phải làm gì để có thể truyền giáo trong bối cảnh và môi trường sống của mình?

Thiết nghĩ với một bối cảnh đặc thù như thế, việc loan báo Tin Mừng phải khởi đi từ đối thoại. Đối thoại với các tín đồ của tôn giáo khác, cũng như những lương dân. Qua đối thoại chúng ta sẽ có sự hiểu biết, thông cảm, đồng hành cùng nhau và cộng tác với nhau trong những điều quan tâm chung, làm phong phú những kinh nghiệm về tôn giáo cho nhau; và đó cũng chính là sứ mạng Phúc Âm hóa của Giáo hội, một cách biểu hiện sứ mạng “đến với muôn dân” (missio ad gentes). Đối thoại cũng chính là một trong ba nội dung mà Tông huấn Giáo hội tại Á Châu của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nêu lên làm định hướng cho việc truyền giáo tại châu Á: đối thoại tôn giáo, đối thoại văn hóa và quan tâm đến người nghèo (x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Ecclesia in Asia, số 6). Vậy, phải đối thoại ra sao? Tâm thế đối thoại như thế nào?

Đã có nhiều nền tảng, cơ sở và nguyên tắc được nêu ra trong nhiều văn kiện của Giáo hội hoàn vũ cũng như giáo hội địa phương. Trong việc đối thoại, thiết nghĩ cần phải bắc được nhịp cầu nối kết - bằng biểu tượng, hành động, việc làm - để đến với tha nhân. Đối thoại không chỉ là nói lý thuyết suông. Thực vậy, đối thoại đâu chỉ là việc “thao thao bất tuyệt” với “một mớ lý thuyết”, đạo lý cao siêu, mà còn phải bắt tay vào việc làm với hành động cụ thể. Cũng cần lưu ý rằng, một thái độ mà cần phải tránh trong tiến trình là: không được vu khống, lấn át, thóa mạ người khác. Đối thoại phải là một quá trình tiệm tiến không được đốt giai đoạn. Ngoài ra, người đối thoại phải biết ra khỏi định kiến và sửa đổi quan điểm sống của mình. Chúng ta hay có não trạng đậm đặc chủ nghĩa độc tôn với tôn giáo của mình (confessionnalisme) xem những gì của tôn giáo mình là tốt nhất, là tiêu chuẩn nên rất dễ dàng rơi vào thái độ chỉ trích, lên án, xem thường hay vạch lá tìm sâu những giá trị của các tôn giáo khác.  Do đó, đôi khi trong tiến trình đối thoại, thay vì đưa đến sự hiểu biết và thông cảm chung thì chúng ta biến cuộc đối thoại trở thành một cuộc “đọ sức” giữa các ý tưởng hay so sánh giữa niềm tin và lập trường.

Tự bản chất, việc đối thoại đòi hỏi phải tôn trọng sự khác biệt, lắng nghe và lãnh hội quan điểm của các tôn giáo, của các người khác niềm tin; đừng có tham vọng chinh phục hay thuyết phục ngay được người khác. Mỗi người, mỗi niềm tin đều có những giá trị tích cực và tốt đẹp mà chúng ta cần tôn trọng. Thật vậy, Giáo hội cũng nhìn nhận ánh sáng chân lý chiếu soi nơi các tôn giáo khác. Giáo hội xem đây là những “giá trị đáng trân trọng” và một “con đường” mà Kitô giáo có thể nhìn nhận. “Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người”. (x. Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 2).

Hiến chế Tín lý về Giáo hội (Lumen Gentium) số 17 cũng ghi nhận những ân sủng không những Thiên Chúa đã gieo vào trong tâm trí con người mà còn nơi các nghi lễ và tập tục của các dân tộc. Với thái độ như thế, Công đồng đã có cách nhìn trân trọng giá trị tốt đẹp nơi các tôn giáo khác như ngoài Kitô giáo, cũng như nơi các lương dân. Chính sự khác biệt này làm nên căn tính và đặc thù của họ, làm cho họ là chính họ chứ không phải là một ai khác.

Lịch sử cho thấy, việc đối thoại không phải là một công việc dễ dàng, tiến hành trong một sớm một chiều. Trong tiến trình ấy có nhiều thành công và cũng không kém những lần thất bại. Có nhiều thách đố và khó khăn được đặt ra cả với người đối thoại và người được đối thoại. Xưa nay thách đố gay go nhất của đối thoại (ở đây là đối thoại liên tôn) là làm sao thực hiện tốt hành trình truy tìm chân lý cách chân thành và đích thực, không có ý định áp đặt quan điểm của mình trên người khác, nhưng đồng thời cũng không đánh mất căn tính riêng và bổn phận rao giảng Tin Mừng (x. Nguyễn Thái Hợp, Đường vào thần học về tôn giáo- tập 1, Dấn Thân- Houston, 2000, trang 54).

Chẳng hạn khi bàn về vấn đề vai trò cứu độ phổ quát và duy nhất của Đức Kitô. Một số vấn nạn được đề đặt ra như: Vì sao Đức Kitô được gọi là Đấng Cứu Độ nhân loại? Khi nhập thể Đức Kitô bị giới hạn trong một thời gian - không gian nhất định thì làm sao có thể là Đấng cứu độ của toàn thế giới, vũ trụ này được? Đâu là chìa khóa để hiểu ơn cứu chuộc và để hiểu Chúa Kitô với tư cách là Đấng Cứu độ của toàn bộ vũ trụ? Ngoài Giáo hội có ơn cứu độ? Có một hay nhiều con đường cứu độ? Ngoài Đức Kitô có con đường cứu độ nào không? Nếu có thì nó có tương quan thế nào với vai trò cứu độ của Đức Kitô? Nếu có sự sống ở trên những hành tinh như thế thì “con người” ở trên đó có được cứu độ không vì Đức Kitô chịu chết ở trên trái đất thôi mà? Hoặc một số câu hỏi căn bản sẽ được đặt ra trên hành trình đối thoại và truyền giáo: khi Giáo hội chủ trương đối thoại với các tôn giáo khác, phải chăng đã gián tiếp chấp nhận không cần phải rao giảng Tin Mừng hay ít nhất đã từ bỏ vai trò cứu độ duy nhất và phổ quát của Đức Kitô? Trái lại, nếu tích cực rao giảng Tin Mừng và mời gọi mọi người gia nhập Đạo Chúa thì phải chăng đã đương nhiên phủ nhận giá trị của đối thoại liên tôn?

Đức Kitô Đấng Cứu độ phổ quát hay Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người vẫn đang là đề tài tranh luận giữa các chuyên gia, giữa những người tham dự đối thoại. Có người chấp nhận tuyệt đối vai trò ấy. Có người chỉ đón nhận cách tương đối; thậm chí có người còn phủ nhận nữa. Ai cũng đưa ra những lập luận mà họ cho là đúng và hợp lý. Đây cũng chính là một đề tài khiến Giáo hội tốn rất nhiều “giấy mực”. Đã có rất nhiều văn kiện: Thông điệp, Tông thư ra đời để làm sáng tỏ vấn đề này.

Theo ý kiến riêng của người viết thì trong quá trình đối thoại, điều quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay chính là “lý thuyết” thần học dùng trong đối thoại phải thật sự đi vào cuộc sống. Đó chính là một sự thuyết phục. Những vấn đề thần học không thể chỉ dừng lại ở phạm vi ngôn từ, lý thuyết, tranh luận. Không phải những chân lý và lập luận thần học cao siêu của các thần học gia, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân mà là chính đời sống của họ mới là bằng chứng hùng hồn và thuyết phục nhất để đối thoại, rao giảng và trình bày Đức Kitô cho người khác. Vì Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: “Người đương thời sẵn sàng lắng nghe những nhân chứng hơn là những thầy dạy, hoặc nếu họ có nghe thầy dạy, thì bởi vì chính thầy dạy cũng là những nhân chứng” (x. Tông huấn Loan báo Tin mừng- Evangelii Nuntiandi, số 41).

Ta phải đưa thần học vào cuộc sống bằng cách nào? Dấn thân trong cuộc sống ra sao? Trong bối cảnh toàn cầu hóa và đa phức tôn giáo, văn hóa hôm nay, nếu Giáo Hội muốn đối thoại và rao giảng Tin Mừng cho con người hôm nay, thiết tưởng cần phải có khả năng trả lời cho những thách đố và yêu cầu của thời đại. Những thách đố có thể là: khả năng dấn thân phục vụ con người, đặc biệt là những người nghèo, người không có tiếng nói trong xã hội- cần phải “ra khỏi mình để đi đến với các vùng ven của thế giới” đem sứ điệp Tin Mừng, sứ điệp yêu thương phục vụ cho những người thiếu thốn nhất, đến với những vùng ngoại biên nơi có đau khổ, đói khát, đổ máu, bất hòa (x. Đức Giáo hoàng Phanxicô, Bài giảng thánh lễ làm phép Dầu ngày thứ Năm tuần thánh 28/03/2013 và dịp lễ Phục Sinh 2013)- và khả năng trả lời cho những nhu cầu tâm linh sâu thẳm của con người thời đại, đặc biệt là giới trẻ.

Nhiệm vụ của các Kitô hữu - giáo dân và giáo sĩ - không phải chỉ là rao giảng lý thuyết cao siêu và khô cứng, khó hiểu nhưng- trước hết và trên hết- là tìm những phương thế tốt nhất, hữu hiệu nhất và phù hợp với Tin Mừng để trao tặng cho tha nhân những chứng từ về tình yêu Thiên Chúa và dẫn dắt nhau tiến về mục tiêu siêu việt. Với người Kitô hữu lúc này là hãy cam đảm lên đường với tất cả khả năng của trí tuệ, sức mạnh của con tim và niềm tin tưởng, lạc quan, phó thác  nơi Thiên Chúa- Đấng tác tạo và hướng dẫn muôn loài theo kế hoạch yêu thương nhiệm mầu của Ngài, vì thánh Phaolô đã nói: “thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?” (Rm 10, 14-15).

                                                                                                            Felicitas

 

TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

TRÁI ĐÃ CHÍN

 

Anh yêu tôi và tôi cũng yêu anh. Cả hai chúng tôi đều cần đến nhau, cần có một mái nhà chung để cùng nhau xây dựng một gia đình. Nhưng khi chúng tôi quyết định tiến tới hôn nhân thì tôi mới biết đời không như là mơ và con đường dắt dìu nhau về một tổ ấm vẫn còn xa lắm. Anh là con một, lại là cháu đích tôn của cả một dòng họ gia giáo. Hơn nữa anh còn là người con hiếu đễ, luôn luôn coi tình cảm gia đình là thiêng liêng. Ba anh là thần tượng của anh đến nỗi mỗi lời nói của ông luôn luôn là khuôn vàng thước ngọc, là mệnh lệnh mà anh tuân theo một cách tự nguyện, vui vẻ với lòng biết ơn. Còn bố tôi lại là một ông già tu xuất khó tính khó nết, «bảo thủ» ghê gớm, nhất là đối với những ai đụng chạm đến Chúa Kitô mà ông tôn thờ và Hội Thánh của Người.  Anh đưa tôi về thăm nhà anh mãi dưới U Minh Thượng. Về tới nơi thì vừa trưa. Bốn bàn ăn thịnh soạn đã bày sẵn từ bao giở bao giờ. Không để cho tôi kịp rửa mặt mũi, thay quần áo, anh giới thiệu tôi với ba má, cậu cô chú thím dì dượng, và các em của anh. Hơn bốn mươi đôi mắt dán vào tôi làm mặt tôi nóng ran. Chưa nhấm một giọt rượu nào mà tôi đã cảm thấy người bừng bừng khó tả. Đám em gái anh xúm xít quanh tôi, đòi chụp hình kỷ niệm, lại còn một điều chị dâu, hai điều đại tẩu, làm chân tay tôi bủn rủn, miệng nói chẳng lên lời. Ba anh oang oang:

- Con xinh quá, lại dễ thương. Hèn chi thằng Hai nhà bác mê mệt chết bỏ. Nó khen con hoài à! Nhưng mà con theo đạo Thiên Chúa phải không? Trời ơi! Lại còn gốc Bắc Kỳ Công Giáo di cư nữa. Khó lắm chứ chẳng chơi đâu. Gia đình bác sẽ lên trển thưa chuyện với cha mẹ con. Nhưng nói trước à ngheng: Đạo ai nấy theo, hồn ai nấy giữ. Được chớ?

Rồi ông vỗ tay bôm bốp để tập trung mọi người nghe ông nói:

- «Một mai ai đứng minh tinh, ai phò giá triệu, ai nghinh quan tài?»

Ngừng một lát, ông tiếp:

- Ai là ai? Là thằng Hai nhà này chớ ai vô đó. Dứt khoát không có chuyện cho thằng Hai bỏ đạo thờ cúng ông bà tổ tiên, theo đạo vợ, phải không?

Tôi tủi thân thì ít, mà bất bình vì ông bảo đạo Công Giáo là đạo vợ thì nhiều mà không làm gì được. Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Dì Út của anh an ủi tôi:

- Chuyện đâu còn có đó. Để dì nói với ổng cho. Dì cũng lấy chồng bên đạo, cũng Công Giáo nè.

*   *   *

Chúng tôi trở lại thành phố. Tôi buồn quá, một tuần lễ tôi không gặp anh. Anh gọi điện thoại, tôi không nhấc máy. Anh nhắn tin, tôi không đọc. Anh đến nhà, tôi không mở cửa. Tôi gọi điện cho cha tuyên úy Thiếu nhi Thánh Thể xứ đoàn Thánh Tâm mà ngày trước tôi là một huynh trưởng và là một giáo lý viên. Tôi kể hết cho cha câu chuyện của tôi. Cha  nói với tôi như đinh đóng cột, với một lòng tin sắt đá:

- Trong Thánh lễ chiều nay, cha sẽ cầu nguyện cho con. Nhưng con «hãy đến cùng Giuse» vì «xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu».

Không phải như, mà đúng là một phép lạ. Ngay tối hôm ấy tôi đang có ý định gọi điện về quê cho bố tôi mà chưa biết nói thế nào, để xin bố thu xếp cho tôi lấy chồng theo diện hôn nhân khác đạo, thì chuông điện thoại reo. Tôi mở máy, số điện thoại bàn lạ hoắc mãi dưới Kiên Giang:

- Dì Út nè con. Dì đấu tranh kịch liệt mấy ngày trời liền, ổng mới nguôi ngoai. Phải giảng về chữ hiếu trong đạo mình hết hơi cho ổng, phải cầu nguyện hết lòng cùng Chúa, qua lời bầu cử của Mẹ Maria và thánh Giuse, ổng mới mở lòng ra, cho thằng Hai theo đạo. Giờ thì hai đứa thu xếp thời gian và công việc đưa nhau đi học giáo lý dự tòng và giáo lý hôn nhân đi, nghe chưa ?

*  *  *

Chúng tôi gọi điện đến nhà thờ B thuộc quyền các cha dòng Đ, một dòng Giáo Hoàng, xin học giáo lý. Cha H niềm nở:

- Rất vui lòng. Mời anh chị đến trước 19 giờ chiều nay.

Tan sở, chúng tôi không kịp ăn uống gì, vội vội vàng vàng xuất phát ngay từ lúc 18 giờ. Quãng đường chỉ hơn 3 cây số. Trời mưa tầm tã, lại kẹt xe, các phương tiện giao thông phải nhích từng tí một. Phải đến năm bảy lần đèn xanh đèn đỏ, chúng tôi mới qua được một ngã tư. Đến được nhà thờ thì đã 19 giờ 15. Cha H đã lên lớp giảng bài. Một cha còn rất trẻ (tôi biết đó là một linh mục nhờ chiếc cổ cồn) trách chúng tôi tới trễ và đón chúng tôi bằng một nụ cười đùa cực kỳ vô tâm, vô tình và vô duyên:

- Đạo nghĩa gì? Lại đạo vợ phải không?

Tôi chợt nhớ đến câu ba anh nói hôm tôi về quê anh, tôi phản ứng như một con robot:

- Thưa cha, cả tỷ người có vợ có chồng mà chẳng cần theo đạo. Nếu cha hạ thấp đạo Công Giáo xuống còn đạo vợ thì chúng con xin đi về.

Và chúng tôi đi về thật.

Tuần sau, chúng tôi đến học giáo lý ở nhà thờ C, một nhà thờ nổi tiếng, do các cha cũng thuộc  một dòng Giáo hoàng đảm nhiệm. Cha phụ trách hùng biện quá. Lớp học rất sinh động. Lúc thì im phăng phắc, lúc thì sôi nổi hỏi và trả lời hoặc bàn luận hoặc cởi mở suy tư của mình. Suốt mấy giờ học, anh chăm chú nghe giảng và tham gia mọi sinh hoạt, đến độ quên cả tôi ngồi bên. Tôi mừng lắm. Nhưng trên đường về, anh nói:

- Các ông ấy bất mãn hay sao ấy, nói về chính trị nhiều quá. Mình đi học đạo chứ có phải học làm chính trị đâu. Phải tìm chỗ khác thôi.

Tôi bất đồng với anh, muốn giải thích, thậm chí tranh luận với anh. Nhưng khi biết anh đã quyết định, tôi im lặng, không muốn để xảy ra bất hòa. Tuần sau nữa, chúng tôi đến một nhà thờ nghèo, gần như vô danh ở ngoại thành. Phụ trách lớp giáo lý là một giáo dân khoảng lục tuần, người quắc thước, đeo cặp kính cận nặng độ. Ông chào đón chúng tôi theo kiểu miệt vườn Nam Bộ, như thể ông và chúng tôi có bà con, dây mơ rễ má với nhau từ lâu:

- Tôi vui mừng chào đón anh chị. Anh thứ mấy? Thứ hai. Chị thứ mấy? Thứ út. Anh Hai, chị Út. Tôi thứ tư. Mình  kêu nhau bằng thứ cho tiện. Cám ơn anh Hai đã cho chúng tôi có cơ hội được dẫn dắt anh về với Chúa Giêsu Kitô và Hội Thánh Người. Cho tôi gởi lời cám ơn ba má anh, cùng gia đình, đã rộng lượng cho anh đến với Chúa. Chúng ta vào lớp học.

Hơn một năm sau, khi thời gian dự tòng đã mãn, anh được lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo, và chúng tôi trao ban bí tích Hôn Nhân cho nhau cùng một ngày 25/1, lễ kính thánh Phaolô trở lại. Tôi hết sức vui mừng vì chúng tôi nên vợ thành chồng, và vì anh đã là một Kitô hữu. Thêm vào đó, dì dượng Út của anh, ba má anh, cùng họ hàng nội ngoại của anh cùng tham dự thánh lễ một cách trang trọng càng làm cho niềm vui của chúng tôi trọn vẹn hơn.

*  *  *

Mùa chay, tôi giục anh đi xưng tội, anh trả lời tỉnh bơ:

- Anh không ăn gian nói dối, không cướp của giết người, không làm gì trái lương tâm, có tội gì đâu mà xưng?

Tôi giật thót tim. Lạy Chúa tôi! Có vị thánh nào dám nói mình vô tội trước mặt Chúa như anh vừa nói đâu. Nhưng tôi hiểu, anh nói rất chân thành, không hề ngạo mạn hay tự kiêu tự mãn. Tôi bỏ hẳn một buổi chiều ngày nghỉ thứ bảy, dùng hết khả năng và hiểu biết của mình (dù sao trước kia tôi đã từng là một giáo lý viên) diễn giải cho anh về tội. Nói hơi quá đáng, tôi giúp anh xét mình luôn. Anh có vẻ đồng ý, nhưng lại nói tỉnh bơ:

- Ừ thì cứ cho là mỗi người đều «phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót». Nhưng anh có biết xưng tội thế nào đâu?

Tôi hiểu những điều anh học trong lớp giáo lý dự tòng đã dần dà rơi rụng hết. Tôi lại mất thêm một buổi chiều Chúa Nhật để nói cho anh về bí tích Hòa Giải. Hình như việc tôi nói với anh hai buổi chiều liền làm anh tự ái. Biết tôi chẳng những không phiền hà mà còn vui lòng nữa, anh bỏ ra hơn nửa  tháng lương, lùng sục khắp nơi, khuân về một đống tài liệu, toàn kinh sách, báo chí Công Giáo, để ngổn ngang trên bàn làm việc của anh. Tôi đùa:

- Chồng em tính làm luận án tiến sĩ Kinh Thánh, hay Giáo Luật đây. Nếu là chủ tịch hội đồng giám khảo, em sẽ chấm cho người sĩ sinh của em điểm tối danh dự.

Anh cười:

- Ít ra anh cũng phải học đạo để còn dạy vợ con chứ.

Tôi cũng cười:

- Dạy con thì đúng rồi, nhưng một tân tòng mà đòi dạy một nữ tín hữu bổn đạo gốc thì không dễ đâu.

*  *  *

Ngày thằng cu Tí, con trai đầu lòng của chúng tôi xưng tội rước lễ lần đầu, vợ chồng tôi mừng quá, làm mấy bàn tiệc ăn mừng. Khách mời tham dự đông đủ. Cha xứ, hội đồng mục vụ giáo xứ và ban điều hành khu đến chia vui với chúng tôi vì thương chúng tôi là di dân và vì chồng tôi là tân tòng. Ông nội cháu vượt hơn 300 cây số từ quê lên. Ông bảo vợ chồng tôi:

- Cháu nội tao là cháu «đít nhôm» đó ngheng. Tụi bay không dưỡng dục nó nên người, tao không tha cho đâu.

Bố tôi cũng từ dưới Cái Sắn lên, hỏi nhỏ:

- Cuộc sống của các con ra sao? Ý bố muốn hỏi về thằng con rể tân tòng của bố ấy mà.

Tôi trả lời ngay, không cần đắn đo suy nghĩ:

- Anh ấy rất tốt bụng, và có trách nhiệm. Con không đòi nài gì hơn nữa.

Trong bữa ăn, ngoài những lời chào thăm xã giao, gần như anh không nói gì, cho đến khi cha xứ yêu câu anh phát biểu. Anh đứng lên, nắm chặt hai bàn tay, mím môi, hít sâu hình như để lấy can đảm. Anh khẽ khàng:

- Vâng, con là một tân tòng, con xin nói lên những suy nghĩ của con với tư cách một tân tòng thôi. Con chắc rằng nhiều anh chị em tân tòng cũng có mặc-cảm-tân-tòng như con. Cái không cần (có khi còn vô hình chung tạo cho chúng con cảm tưởng bị kỳ thị) thì được nhắc đến thường xuyên. Ở nhà vợ con gọi con là anh chồng tân tòng; ông ngoại cháu Tí gọi con là chàng rể tân tòng, cháu đi học giáo lý, các giáo lý viên chú thích là cha: tân tòng; giáo khu, giáo xứ gọi chúng con là gia đình tân tòng. Có khi chúng con còn được gọi là «bổn đạo mới» nữa chứ. Muốn chứng tỏ mình là một Kitô hữu trưởng thành, tham gia phục vụ giáo khu, giáo xứ khó quá. Chúng con không dám, mà có dám, cũng chẳng ai đề bạt, cắt cử, bầu chọn chỉ vì chúng con là tân tòng. Làm sao chúng con có thể «tham gia và hiệp thông vì sứ vụ trong tinh thần đồng trách nhiệm» được ?

Anh lấy tay áo lau mồ hôi trán:

- Cái chúng con cần là giúp chúng con sống đạo thì lại bị bỏ quên. Thật ra cuộc sống quá khó khăn, kiếm được đồng tiền sạch quá vất vả, dòng chảy cơm áo gạo tiền cuốn hút chúng con đi. Những điều chúng con học được trong lớp giáo lý dự tòng làm sao chúng con nhớ hết được? Con xin kể một thí dụ của chính con: Con không biết «xưng tội lần đầu» thế nào, vợ con phải dạy con hai buổi chiều đấy.

Mọi người cười rổn rang. Anh hài hước nói tiếp:

- Nhưng những người chồng không được vợ dạy, những người vợ không được chồng dạy, hay những đôi cả vợ lẫn chồng đều là tân tòng thì sao? Rõ ràng sau khi chịu phép rửa, chúng con bị bỏ quên. Tại sao bề trên có những ủy ban hay ban mục vụ gia trưởng, hiền mẫu, thiếu nhi, giới trẻ, di dân mà không có mục vụ tân tòng? Hoặc có thì có cũng như không? Tại sao mỗi năm chúng ta không tổ chức tĩnh tâm cho các tân tòng ít là hai lần vào mùa Chay và mùa Vọng, giúp họ xưng tội rước lễ và giữ luật Hội Thánh? Tại sao anh chị em tân tòng không có một ngày lễ bổn mạng để gặp gỡ, chia sẻ vui buồn và nhất là những khó khăn trong việc sống đạo? Về việc chọn thánh bổn mạng, con xin mạo muội xin trình lên: chúng ta nên chọn lễ thánh Bảo Lộc Trở Lại, sau lần ngã xuống đất (Cv 9, 4) (Con không thích cụm từ ‘’ngã ngựa’’ vì Kinh Thánh không hề nói ngài ngã ngựa, hay lừa, hay la, hay xe kéo, hay đi bộ). Con đề đạt chọn thánh Bảo Lộc vì những lý do sau: 1/Đó là phiên âm Hán Việt rất quen thuộc tên của thánh Phaolô; 2/Dẫu sao, ngài đã từng là một tân tòng; 3/Lại nữa, Bảo Lộc còn có nghĩa là lộc báu, là ơn phước cả, là hồng ân; 4/Ngoài ra, Bảo Lộc còn còn có nghĩa là bảo vệ mầm non, ở đây là mầm mống đức tin khi một người nhận được khi lãnh bí tích rửa tội…

Anh nói xong, cả phòng tiệc im phăng phắc như chờ anh nói thêm. Anh cúi đầu chào. Sau đó là một tràng vỗ tay thật to, thật dài.  Tôi sững sờ nhìn anh. Tôi cảm nhận được rằng: Hạt mầm đức tin được gieo vào linh hồn anh ngày anh lãnh bí tích Thanh Tẩy đã đâm chồi nảy lộc, đã đơm hoa kết trái và «trái đã chín rồi, tạ ơn Chúa, Chúa ơi» - tôi thầm thĩ trong lòng.

   Nguyễn Ngọc Ngu Ngơ. Gx An Bình, Lễ Hiện Xuống 2014

ĐỜN ÔNG MÊ…

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Có người đã bảo: Hỏng có đàn bà con gái thì đời còn gì là đời. Hỏng có đàn bà con gái thì lũ đàn ông con giai sẽ lầm lũi cu ki một mình, như “những con sâu làm tổ trong trái vải cô đơn”. Nhà mà hỏng có đàn bà con gái thì như xác không hồn, như đàn không dây. Trong khi đó, phe đàn ông con trai quả là những sinh vật “xấu xí”, vì mang trong mình biết bao nhiêu thói hư, biết bao nhiêu nghịch lý.

Chẳng hạn như lúc nào cũng vỗ ngực tự xưng là phái khỏe, thế mà xem ra lại yếu ớt hơn ai hết, như Gandhi đã nói: Gọi đàn bà là phái yếu là một điều phỉ báng. Đó là một sự bất công của người đàn ông đối với người đàn bà. Nếu người ta hiểu sức mạnh là thô bạo thì chắc chắn người đàn ông hơn hẳn người đàn bà. Còn nếu bất bạo động là điều luật của nhân loại, thì tương lai sẽ thuộc về người đàn bà.

Đúng thế, nhiều ông ở ngoài xã hội thì hét ra lửa như một bạo chúa, thế nhưng khi về nhà thì lại mềm nhũn như con chi chi theo kiểu: Vợ gọi thì dạ bẩm bà em đây. Và để lấp liếm điểm yếu này, nhiều ông lại lâm vào một nghịch lý thứ hai, đó là mặc dù rất mê vợ, nhưng đôi lúc lại tỏ ra hống hách, mặc dù bộ ngực lép kẹp, nhưng lại hay chơi trò cả vú lấp miệng em bằng thái độ độc tài và độc đoán hay thượng cẳng chân hạ cẳng tay với người mình thương mến. Vì vậy có người đã bảo: Đàn ông là thứ giống đực duy nhất đánh đập giống cái là vợ hắn, như vậy hắn tàn bạo hơn hết trong các loài thuộc giống đực trên hành tinh này. Chính lúc người đàn ông tỏ ra cộc cằn thô lỗ lại là lúc hắn yếu nhất vì không đủ nghị lực kiềm chế nổi cơn nóng giận của mình.

Trong huyết quản của người đàn ông có nhiều loại “virus mê” thâm nhập. Nào là mê tiền bạc, mê danh vọng, mê địa vị, mê sự nghiệp, mê cờ bạc, mê rượu chè, mê bóng đá. Hôm nay, gã xin nói tới một thứ máu mê tuy dễ thương nhưng lại vô cùng nguy hiểm, đó là mê đờn bà con gái.

Chuyện rằng: Ngày xưa có một chú bé được vị ẩn sĩ nọ đưa lên núi từ nhỏ. Ngày ngày tu hành học đạo, xa tránh cuộc sống trần gian. Cho đến một hôm, chú bé trở thành một thanh niên khỏe mạnh và cường tráng, vị ẩn sĩ mới quyết định đem chú xuống núi để thử lửa. Cuộc sống nơi trần gian có nhiều điều mới lạ khiến chú hết sức ngạc nhiên và thích thú. Thấy bất kỳ sự gì, chú cũng ngắm nhìn và hỏi han. Trên đường về, chú gặp mấy cô gái và hỏi sư phụ: Thưa thầy, cái gì thế? Vị ẩn sĩ ngước nhìn và thấy mấy chiếc nón các cô đội trên đầu nên ôn tồn trả lời: Ồ, đó chỉ là mấy chiếc nón mà thôi con ạ. Về đến núi, chú đâm ra ngẩn ngơ như kẻ mất hồn. Thấy vậy, vị ẩn sĩ liền hỏi: Con sao thế, bị bệnh ư? Chú buồn bã trả lời: Thưa thầy, chẳng hiểu tại sao con lại nhớ mấy chiếc nón ấy quá. Con thích mấy chiếc nón ấy lắm.

Câu chuyện dí dỏm này muốn nói lên một sự thật, đó là nam và nữ thì thu hút lẫn nhau, đàn ông và đàn bà thì hướng tới nhau, con trai và con gái thì hấp dẫn nhau. Trai thấy gái lạ, như quạ thấy gà con. Người đàn ông thường đi tìm kiếm chiếc xương sườn của mình để đắp vào chỗ đã bị Thượng Đế lấy mất.

Theo định luật kinh tế, những mặt hàng được ưa chuộng thì hay tăng giá, còn những mặt hàng không được ưa chuộng thì bị hạ giá. Trong khi mê đàn bà con gái, người đàn ông tự hạ giá và đánh mất chính mình, như ca dao đã bảo: Ba đồng một chục đàn ông, ta bỏ vào lồng, ta xách đi chơi.

Vì có máu mê đàn bà con gái như thế mà đàn ông con trai dễ trở thành mềm yếu.  Kipling đã có lý khi tuyên bố:  Một chị đàn bà ngốc nghếch nhất cũng có thể xỏ mũi một anh đàn ông thông minh nhất. Người ta vốn so sánh: Dùng vàng để nhử đờn bà, dùng đàn bà để nhử đàn ông và dùng đàn ông để tìm ra vàng. Một khi đàn bà con gái đã nắm thế thượng phong, trên cơ, lúc bấy giờ nàng sẽ là pháo đài, còn chàng sẽ là tù nhân bị nhốt ở trong đó.

Hiện giờ chưa có cách thức nào để hủy diệt con “virus mê đàn bà con gái” trong huyết quản anh đàn ông, như một nhà văn đã viết: Với bệnh chó dại thì nhà bác học Pasteur đã tìm ra phương thuốc trị liệu, còn bệnh mê đàn bà con gái thì chưa có một nhà bác học nào nghĩ đến.

Tuy nhiên, theo gã thì không nên tìm ra phương thuốc trị liệu cho chứng bệnh này, và nếu có tìm ra chăng nữa, thì cũng không nên sử dụng, bởi vì nó sẽ gây nên nhiều hậu quả dây chuyền thảm khốc, giống như bây giờ nếu người ta hủy bỏ được hấp lực của từ trường, thì biết bao nhiêu chuyện rắc rối sẽ xảy ra.

Thực vậy, nếu bây giờ đàn ông không còn mê đàn bà con gái nữa, thì các bà các cô sẽ làm đẹp cho ai? Các nhà tạo mốt sẽ thất nghiệp. Các tiệm uốn tóc và thẩm mĩ viện sẽ phải đóng cửa. Các xí nghiệp chế tạo nước hoa, son phấn, cùng với những loại kem dưỡng da, dầu gội đầu sẽ phải treo niêu. Nói tóm lại, toàn bộ công nghiệp và lực lượng nhân sự phục vụ cho cái đẹp của các bà các cô sẽ phải “phẹc mê bu tích” nghĩa là sẽ phải đóng cửa tiệm, ngồi chơi xơi nước. Và nếu đàn bà con gái mà không làm đẹp thì đâu còn phải là đàn bà con gái nữa. Lúc đó hẳn xã hội sẽ buồn tênh. Cái tội “mê đàn bà con gái” dưới góc độ này thì cũng khá dễ thương và đáng yêu, nhưng dưới góc độ khác thì nó cũng gây nên những hậu quả trầm trọng khó mà lường nổi.

Trước hết nó làm cho gia đình bị tan vỡ. Thực vậy, đàn ông thì đôi khi có tật đèo bòng, giống như mấy ông tài xế xe hàng hay xe tải: Nhất phu nhất phụ, mỗi mụ một nơi. Hay như tục ngữ đã diễn tả: Đàn ông những mấy lá gan, lá ở cùng vợ, lá toan cùng người. Trong khi đó, đàn bà con gái vốn lại hay ghen, máu “Hoạn Thư” lúc nào cũng sẵn sàng bốc lên đùng đùng, như ca dao đã bảo: Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng. Hai thứ hỗn hợp “hay mê” và “hay ghen” mà trộn chung với nhau, thì  chắc chắn sẽ bùng nổ một cách mãnh liệt. Sức công phá của chúng có thể giật sập một gia đình đang êm ấm và hạnh phúc.

Tới nước này, người ta sẽ không ngần ngại lôi nhau ra tòa để bôi tro trát trấu vào mặt nhau, cốt giật cho được tờ giấy ly dị. Và một khi đã ly dị thì sản nghiệp của anh đàn ông mất toi một nửa, bởi vì phải chia đôi, năm mươi năm mươi. Dân khố rách áo ôm thì chẳng nói đến làm chi, chứ còn những tay triệu phú mà bỗng mất đi một nửa sản nghiệp, kể cũng đau. Nhưng làm sao cãi được lệnh của ba tòa quan lớn, bởi vì của chồng công vợ. Anh đàn ông thì chết điếng, còn chị đàn bà thì vui mừng khấp khởi. Không chừng ly dị lại trở nên một cái mánh mần ăn, vì mỗi lần ly dị chị ta lại phất lên.

Không những sản nghiệp đi đoong mà hơn thế nữa còn bị thân bại danh liệt là đàng khác. Biết bao nhiêu thủ tướng, bộ trưởng đã bay chức chỉ vì  gian díu vời người đẹp này, người đẹp kia. Tổng thống Mỹ Bill Clinton cũng đã phải một phen xính vính và hú vía trong vụ ”xì căng đan” tình dục với Monica Lewinsky.

Nơi người đờn ông còn nhiều thứ máu mê khác nữa, gã xin hạ hồi phân giải và sẽ bàn tới sau.

 

GIÚP THÁNG

                                    Lôrensô

            Sau một thời gian suy nghĩ, thầy T. viết thư trả lời thư cho nhỏ Lan thế này:

“Lan mến! Thầy cảm ơn và rất trân trọng những tình cảm và lý tưởng của em. Thầy cảm ơn Lan đã ý thức để thầy khỏi bị cám dỗ. Đó là điều rất tốt. Thầy rất vui khi nghe em nói em muốn đi tu. Đời tu có nhiều niềm vui nhưng cũng không thiếu những phút giây nặng lòng. Lan thân mến! Có phải em là người muốn bước theo Thầy Giêsu. Em muốn đi tu phải không? Thầy có một vài điều chia sẻ với em. Đây là những cảm nghiệm thiêng liêng và kinh nghiệm cuộc sống. Hy vọng giúp em được phần nào trên con đường em vừa chập chững bước lên.

            Em ơi! Đời tu là một đời có nhiều cám dỗ và thách đố. Cám dỗ của những đòi hỏi mang tính loài người và thách đố của những khả năng thắng vượt. Thân xác con người luôn có những đòi hỏi của nó. Trái tim của chúng ta bằng thịt chứ không bằng đá. Chúng ta muốn yêu và được yêu những người chúng ta thấy dễ thương, dễ gần và dễ mến. Mỗi người chúng ta đều cảm nhận được sự thôi thúc và khao khát trở thành chỗ dựa cho một người nào đó. Đồng thời ta cũng muốn tìm đến một bờ vai để tựa đầu những khi âu sầu phiền muộn. Đó là những đòi hỏi hoàn toàn “chính đáng” và “phải đạo”. Đi tu không phải là hành trình giết chết con tim. Nhưng là làm cho nó đập nhịp đập yêu thương cách hoàn hảo.

            Yêu thương là điều không thể thiếu. Điều quan trọng là ta chọn đối tượng nào và cách ta yêu đối tượng ấy. Nếu em yêu một người, em muốn chiếm họ làm của riêng mình. Vậy thì em hãy chọn đời sống hôn nhân. Nếu em chọn Giêsu, hãy đi tu. Đi tu em không chỉ yêu riêng một người, em còn có thể yêu nhiều người khác. Miễn là cách em yêu và thể hiện tình yêu của em hoàn toàn trong sáng và rõ ràng. Nếu em yêu người nào đó, em đừng dùng thân xác để bày tỏ tình yêu. Tình yêu như thế không chiếm đoạt và không xé toạc nhân cách. Yêu như vậy là thăng hoa tình yêu lên một mức hoàn hảo. Để có tình yêu như vậy, em cần có sự thanh thoát và nhìn thấy vẻ đẹp rạng ngời nơi tâm hồn của người em yêu. Vượt trên tất cả tình yêu hữu hạn và lãng mạn loài người, ta yêu Thiên Chúa. Chỉ khi nào em yêu Thiên Chúa thực sự và không lưỡng lự, em mới có thể yêu người cách chân tình và hết sức bình sinh. Khi đã thăng hoa những đòi hỏi của con tim khao khát và sợ mất mát, em có cơ hội chiến thắng cám dỗ để vượt qua những thách đố.

            Rất nhiều khi chúng ta lầm lẫn giữa thách đố và cám dỗ. Thách đố có khi mang dáng vẻ của cám dỗ. Nó có những đặc điểm riêng để nhận diện. Nếu cám dỗ thường khoác áo êm dịu và ngọt ngào thì thách đố lại mặc cho mình sự cay đắng và đau khổ. Cám dỗ thường quy hướng về hưởng thụ cho bản thân còn thách đố hướng về tha nhân. Tất cả các cám dỗ đều làm cho ta vong thân. Còn thách đố thì làm cho ta nhận ra bộ mặt thật của tâm hồn mình. Thách đố lớn nhất của người đi tu em biết là gì không? Đó là từ bỏ. Từ bỏ phải là bước đầu tiên trong hành trình theo Chúa. Từ bỏ là gì? Thưa là quay lưng lại với những gì là phụ tùy để tập trung vào Thiên Chúa. Từ bỏ là để mọi thứ khác sang một bên để đi đến và ở trong Thiên Chúa. Ta phải từ bỏ gì? Chính mình. Bỏ mình bao gồm: đam mê, nhu cầu, các đòi hỏi xác thịt, ngay cả cha mẹ và anh em thân thuộc. Cuối cùng của từ bỏ và là sự trọn hảo nhất: bỏ mạng.

Lan ơi! Trên đây là vài dòng suy nghĩ của Thầy. Chúc em tìm được cho mình con đường mang lại hạnh phúc. Hãy luôn cầu nguyện với Chúa và xin Ngài chỉ cho em biết đường lối mà Ngài muốn em đi nhé! Hãy để Chúa Thánh Thần soi sáng và chỉ đường cho em. Chúng ta cùng cầu nguyện nhiều cho nhau.”

Laurensô

THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

CHÀNG LÀ

Chàng là trụ cột trong nhà

Cho em nương tựa quả là yên tâm

Chàng là tài trí uyên thâm

Cho em học hỏi muôn phần tinh hoa

Chàng là hương vị bài ca

Cho em tận hưởng thiết tha ân tình

Chàng là tia nắng bình minh

Cho em ấm áp, cho mình gần nhau

Chàng là bướm đẹp muôn màu

Cho em ngây ngất, âu sầu tiêu tan

Chàng là hạnh phúc vô vàn

Cho em tươi trẻ như nàng tiên xinh

Chàng là tường lũy quang vinh

Cho em yên trí xây tình thiên thu

Chàng là tiếng sáo vi vu

Cho em giấc ngủ lời ru ngọt ngào

Chàng là sóng biển dạt dào

Cho em thỏa thích tựa vào biển khơi

Chàng là tinh tú trên trời

Cho em lối bước cuộc đời dương gian…

Hoài Thanh, Gx Ngọc Thạch

MƯỜI THƯƠNG

Một thương, anh tính thật thà,

Trọn niềm chung thủy, bao là mến yêu.

Hai thương, anh mỗi sớm chiều,

Cuốc cày vườn ruộng, một điều chăm chuyên.

Ba thương, anh những ngoan hiền,

Tháng lương nhiều ít nộp tiền vợ ngay.

Bốn thương, anh vốn khéo tay,

Nấu cơm, rửa chén  ngày ngày không quên.

Năm thương, anh sống ngọt mềm,

Thuận chồng thuận vợ, dệt nên mái nhà.

Sáu thương, anh chẳng la cà,

Xì ke, ma túy không sa chân vào.

Bảy thương, anh chẳng “tiên đào”,

Mát-sa, bia, gái là chào xa ngay.

Tám thương, anh chẳng xỉn say,

Đỏ đen, chè chén cũng hoài quay lưng.

Chín thương, anh biết mực chừng,

Mỗi khi cơn giận chẳng khùng, chẳng điên.

Mười thương, anh đã đem niềm,

Tình yêu, hạnh phúc êm đềm trong em.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

NĂM THƯƠNG          

Một thương chồng chẳng rượu chè

Cà kê, dê ngỗng, bạn bè lăng nhăng

Hai thương chồng chẳng gió trăng

Bia ôm, gái gú, đèn xanh, đèn mờ

Ba thương chồng chẳng bạc cờ

Tiền lương đưa hết về, nhờ vợ tiêu

Bốn thương chồng chẳng phiêu lưu

Công to, việc bé sớm chiều tính toan

Năm thương chồng vẫn chu toàn

Vợ, con chăm sóc đàng hoàng trước sau

Chồng em số một hàng đầu

Vợ yêu, vợ quý đẹp màu mến thương

Các anh ơi ! Hãy noi gương

Gia đình hạnh phúc, yêu thương xum vầy.

                                         Jos. Nhật Quang, Gx Thái Hòa

ĐỊNH NGHĨA VỀ CHỒNG

Tôi xin định nghĩa về chồng

Chồng là một đấng đàn ông tuyệt vời

Chồng là chỗ dựa đời tôi

Chồng là hạnh phúc đầy vơi trong nhà

Chồng làm bất hạnh đời ta

Chồng làm tan nát đời hoa héo tàn

Chồng làm bão táp tan hoang

Chồng mà phung phí nghèo nàn triền miên

Chồng mà say sỉn như điên

Chồng mà đánh vợ không yên gia đình

Chồng là một khối ân tình

Chồng mà hiền đức gia đình bằng an

Chồng mà tài đức giỏi giang

Chồng mà tích lũy giàu sang trong nhà

Chồng mà xa tránh rượu trà

Chồng mà như thế đàn bà mê say

Chồng mà luôn biết dựng xây

Chồng mà tài đức như mậy gặp rồng

Chồng mà xa tránh bốn không

Chồng làm rạng rỡ gia phong trong nhà

Chồng mà chung thủy thật thà

Chồng không cờ bạc rượu trà bướm hoa

Chồng là tuyệt hảo đời ta

Chồng tôi săn sóc tưới hoa vườn nhà

Chồng mà không tưới hoa nhà

Chồng đi nơi khác tưới hoa vườn người

Chồng mà tưới cảnh hoa tươi

Chồng mà như thế đứt vòi héo hoa.

Song Kiên, Gx. Đài Đức Mẹ Tân Hiệp

DÂNG MẸ

Đàn dâng cung nhịp diệu vời,

Lâng lâng khúc hát, nhẹ lời kinh bay.

Ngàn hoa tỏa ngát hương say,

Con dâng tiến Mẹ, tháng ngày tin yêu.

Jos. Nhật Quang, Gx Thái Hòa

 

TẢN MẠN

 

NGƯỜI CHỒNG

Từ ngày cưới, chưa bao giờ vợ chồng chúng tôi cãi nhau cả. Tôi và cô ấy rất yêu nhau. Tình yêu của chúng tôi được xây đắp trong sự quý trọng và tin tưởng lẫn nhau. Tôi yêu cô ấy không những vì cô ấy đẹp người mà còn đẹp nết. Mặc dù làm trụ cột gia đình đóng vai trò lớn, nhưng tôi luôn tôn trọng cô ấy. Tôi không muốn làm cô ấy tổn thương hay xấu hổ. Tôi chỉ muốn một điều đó là cô ấy mãi mãi là cạnh sườn của tôi, để ấp ủ, sẻ chia những gì trái tim tôi thỏ thẻ. Và vì vậy mà tình yêu cô ấy dành cho tôi còn đậm đà hơn cả rượu quý. Đã bao lần tôi chạy theo lợi danh nhưng rồi tôi hiểu ra đó chỉ là công dã tràng xe cát, nhờ cô vợ yêu quý của tôi. Đã bao lần cô ấy đua đòi sự giàu sang quý phái, cô ấy hiểu ra điều đó chỉ là phù vân trong lời khuyên của tôi. Tôi và cô ấy bổ túc cho nhau để trong cuộc sống của chúng tôi không có sự chia rẽ như lời Thiên Chúa phán:" Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân li". Nguyện xin Thiên Chúa đổ tràn ơn lành trên chúng con! 

Têrêsa

SỰ ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI VỢ

Trong cái xã hội này, không gì là không xảy ra. Vẫn còn những số phận phụ nữ đau khổ. “Gái có chồng như gông đeo cổ”, đối với những người được gả vào một gia đình đạo đức, được người chồng yêu thương, đồng cảm thì thật là có phúc biết bao! Ngược lại, cũng một lần lấy chồng như người ta, nhưng “chồng người đi ngược về xuôi, chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo”, đã thế lại còn hay đánh đập vợ con, tiêu xài phung phí, nghiêm trọng hơn nữa là ngoại tình. Thế là người vợ vừa phải làm cha làm mẹ, vừa phải làm những công việc nặng nhọc để mong sao có tiền để đóng tiền học cho con, để lo cho con một bữa cơm đủ no. Cuộc sống đã chật vật là thế, lâu lâu người chồng lại về đòi tiền để đánh bài, cá độ đá banh, không đưa tiền cho thì lại giở trò “vũ phu”. Cho đến bao giờ chúng ta mới hết chứng kiến những cảnh đau khổ như vậy! Mong sao năm “gia đình” này sẽ khiến cho những người chồng-người cha có những việc làm không đúng với vợ con sẽ tỉnh thức, sẽ nhận ra những sai trái của mình và những bà vợ hãy mở rộng lòng tha thứ vì không ai trên đời này là hoàn hảo.

Thúy Ly, giáo họ Ba Khu

LÀM CHỒNG

Người chồng mẫu mực biết lo cho hạnh phúc của gia đình, quan tâm chăm sóc cả cha mẹ đôi bên, luôn quan tâm chăm sóc cho cả vợ mình chu đáo. Biết làm một người chồng siêng năng, cần mẫn, luôn lo lắng cho cuộc sống của gia đình, trong đó biết phụng dưỡng cha mẹ, lo lắng cho vợ, quan tâm nuôi dạy con cái thành người hữu ích. Biết làm một người chồng đạo đức, một vợ một chồng theo đạo lý của Thiên Chúa và cả loài người, sống thủy chung với vợ và gia đình, không làm điều gì có lỗi với gia đình dù trong tư tưởng, lời nói hay việc làm.“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh;… Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình”. (Ep 5,25-28). Đó là điều mà Đức Kitô đã truyền dạy chúng ta, hãy ra sức học hỏi và làm đẹp lòng Người, nếu chúng ta chưa làm được, hoặc còn thấy khó khăn; thì hãy học cùng Thầy Giêsu, như lời thánh Gioan đã khẳng định: “Thiên Chúa là tình yêu”, Người tỏ thái độ yêu thương Hội Thánh như vị hiền thê của Người, luôn quan tâm và chăm sóc.

Lưu Hành

NGƯỜI CHỒNG

Trong cuộc sống, ai lại không muốn mình được sung sướng, ai lại không muốn con đường của mình đi trải toàn hoa hồng. Là người phụ nữ, ai cũng muốn tìm cho mình một bờ vai vững chắc để có thể sưởi ấm những lúc mình giá lạnh, để có thể làm chỗ dựa những lúc mình mệt mỏi, để nâng đỡ và che chở những lúc mình thật sự yếu mềm. Và người có đủ sức mạnh để làm tất cả những việc đó không ai khác là người chồng, người đàn ông gắn bó cả đời với mình. Hơn nữa, đó cũng chính là người đã hy sinh cái xương sườn của mình để làm nên ta. Nhiều người có cách nghĩ đơn thuần chồng chỉ là một người đàn ông mà Chúa đã gửi xuống để sống cùng ta, để cho ta chia sẻ những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống. Nhưng không, chồng không hẳn chỉ là như vậy, mà họ chính là sự sống của ta, là xương thịt ta và là chính cuộc đời của ta.

Phạm Nguyễn Dáng Huyên, Gh Ba Khu

 

 

 

 

 

PHỤ NỮ MONG ĐỢI GÌ

Ở NGƯỜI CHỒNG?

           

Khi lập gia đình, người phụ nữ nào cũng mong có được một tấm chồng như ý. Nếu không phải là mẫu người lý tưởng, vẹn toàn thì chí ít cũng là một thành trì vững vàng cho người nữ nương tựa, lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Như tục ngữ VN có câu “Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng”. Sau đây thử liệt kê một số đức tính mà các chị thường mong chồng mình có.

1.- Bản Lãnh Đàn Ông

Là người đứng mũi chịu sào trong gia đình, người chồng hơn ai hết phải có bản lãnh của phái mạnh. Bản lãnh ấy là sự mạnh mẽ, kiên quyết và can đảm. Nhờ có bản lãnh ấy mà người chồng có đủ sức mạnh về thể xác, tinh thần và tâm lý để đảm đương trách nhiệm gia trưởng của mình. Người đàn ông có bản lãnh sẽ không bao giờ đàn áp hay bạo hành vợ con mình, trái lại người ấy luôn là chỗ dựa cần thiết cho gia đình, cho vợ con. Tác giả D.Wahrheit trong cuốn “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Kitô” đã chia sẻ như sau: “Người đàn bà tự bản chất luôn cần có sự che chở của người đàn ông. Do đó, đức tính mà người đàn bà đánh giá cao nhất nơi người đàn ông, trước hết phải là sự can đảm. Can đảm ở đây không hẳn là phải thể hiện những hành động phi thường, mà chính là biết bình tĩnh để ứng phó và đối đầu với những khó khăn của cuộc sống. Chính sự cứng rắn và ý chí vững mạnh của người đàn ông sẽ mang lại an ninh cho người đàn bà. Sự can đảm nơi người đàn ông còn được thể hiện bằng chính sự chịu đựng, kiên nhẫn nữa. Sự cứng rắn của người đàn ông phải là một sự cứng rắn đầy yêu thương và dịu dàng. Sức mạnh nơi người đàn ông phải là sức mạnh của sự tế nhị. Nam tính của người đàn ông phải là nam tính của yêu thương và âu yếm…” (x. sđd trang 113-114).

2.- Tình Yêu Chân Thực Và Sự Chung Thủy

Tình yêu và sự chung thủy giữa hai vợ chồng được ví như ánh sáng và sức nóng của một ngọn nến. Ánh sáng càng rực cháy thì sức nóng càng mãnh liệt. Do đó, tình yêu trong hôn nhân là nền tảng quan trọng nhất và tình yêu ấy phải chân thực, tự do và bền vững như một sợi dây kết nối bền chặt hai người lại. Ai cũng biết tâm lý chung của đàn ông là mau chán và hay thay đổi. Đàn ông có thể yêu sở thích, bạn bè, sự nghiệp hơn gia đình, vợ con. Đàn ông có thể chia năm sẻ bảy tình cảm của mình cho một đối tượng nữ khác, theo cảm tính và ý thích riêng của mình. Chính vì lí do đó mà khi cử hành bí tích Hôn Phối, hai người nam nữ đã phải công khai tuyên hứa về tình yêu và sự chung thủy của mình đối với bạn đời, lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan, lúc mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu…

3.- Tinh Thần Trách Nhiệm

Người phụ nữ nào cũng rất sợ người chồng sống vô trách nhiệm. Bởi trong gia đình, người đàn ông là cột trụ, là lãnh đạo, là chỗ nương tựa cho mọi người liên hệ. Nếu người chồng thiếu trách nhiệm gia trưởng của mình, thì điều đó sẽ ảnh hưởng rất xấu tới hạnh phúc, hòa khí và sự tiến bộ chung của gia đình. Bởi, trong bất kỳ gia đình nào và trong hoàn cảnh nào, người chồng luôn bị ràng buộc bởi trách nhiệm của người đứng đầu gia đình. Trách nhiệm yêu thương nâng đỡ vợ, con. Trách nhiệm xây dựng mái ấm gia đình hạnh phúc. Trách nhiệm lèo lái vận mệnh gia đình. Trách nhiệm kiến tạo một gia đình đạo hạnh và gương sáng… Tục ngữ VN có câu: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Điều đó cho thấy sự phân chia trách nhiệm trong gia đình là quá rõ, vì thế người phụ nữ luôn kỳ vọng nơi chồng mình ý thức trách nhiệm cao, đồng thời ý thức đó phải được thể hiện qua những việc cụ thể hằng ngày. “Kẻ thì xay lúa, người thì bồng em” là vậy.

4.- Tính Tình Điềm Đạm

Phụ nữ nào cũng biết rằng đàn ông thì nóng tính, bộc trực, hiếu thắng, mạnh bạo, cứng cỏi, và điều này nhiều khi lại là lí do gây bất hòa, mâu thuẫn trong gia đình. Vì thế họ luôn kỳ vọng nơi chồng mình một thái độ cư xử luôn mềm mỏng, linh hoạt, nhẹ nhàng, tế nhị. Đó là tính điềm đạm. Chính nhờ đức tính này mà người đàn ông vượt qua được những khó khăn, trở ngại trong bổn phận lèo lái con thuyền gia đình. Người có tính điềm đạm thì luôn biết thực hiện châm ngôn “dĩ hòa vi quý” trong đời sống hôn nhân gia đình. Người chồng điềm đạm thì luôn nói ít, làm nhiều. Tranh luận ít, lắng nghe nhiều. Cãi vã ít, nhịn nhục nhiều. Họ luôn quan tâm đến sự hòa hợp giữa hai vợ chồng, dù bản thân phải hi sinh, chịu đựng. Một tác giả đã viết như sau: “Hòa hợp là sự chấp nhận nhau để hòa nhập với nhau, bù trừ cho nhau, là sự thông hiểu nhau, chấp nhận nhau và sống biết điều với nhau” (Nguyễn Đình Xuân, Tâm lý học Tình yêu Gia đình, NXB GD 1993, trang 113). 

5.- Biết Ứng Xử Cách Khoan Nhượng

Khoan nhượng ở đây là khoan dung và nhượng bộ. Người chồng vốn mạnh mẽ, thẳng thắn và thích biểu lộ uy lực. Nếu không biết kiềm chế, thì điều đó sẽ dẫn đến thái độ thô lỗ, cộc cằn và vũ phu. Trong cách ứng xử hằng ngày, người chồng sẽ dễ dàng rơi vào vị thế “chồng chúa vợ tôi”, uy hiếp vợ con chẳng hơn gì người giúp việc trong gia đình. Vì thế, trong mối tương quan vợ chồng, giải pháp tốt nhất là biết sống khoan dung và nhượng bộ. Và hơn ai hết người chồng sẽ làm gương việc này. Tác giả D.Wahrheit đã chia sẻ như sau: “Có những người đàn ông thích thể hiện quyền lợi của mình. Họ nại đến quyền làm chồng để cưỡng bách người vợ phải vâng phục hầu hạ mình. Họ nại đến quyền làm chủ để đơn phương quyết định mọi việc trong nhà. Họ nại đến cả quyền làm đàn ông để hành hạ người đàn bà. Khi người chồng chỉ suy nghĩ và hành động trong vòng quyền lợi của mình, thì dĩ nhiên người vợ sẽ không còn là người bạn đường để cùng xây dựng cộng đồng tình yêu nữa, mà có lẽ chỉ còn là người nội trợ không hơn không kém, một người giúp việc để cho người đàn ông sai khiến và sử dụng vào những mục tiêu riêng của mình. Cư xử như thế không phải là thể hiện tư cách làm chủ gia đình.” (x. D.Wahrheit, sđd trang 112).

Tinh thần trách nhiệm đòi hỏi trước hết người chồng, người cha có một tấm lòng bao dung, vị tha, quảng đại. Vì chỉ có tình yêu rộng lượng mới giúp họ vượt qua mọi vướng mắc ích kỷ để chu toàn vai trò trọng trách của người chủ gia đình. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ: “Người làm chồng hãy yêu thương vợ như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh…” (x. Ep 5,25). “Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ…” (x. Col 3,19).

Aug. Trần Cao Khải

 

 

 

BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ

GIÁO HỌ THIÊN ÂN, TÂN THẠNH

Cách quốc lộ 80 khoảng hơn 1km, đi trên tỉnh lộ 963 hướng vào thị trấn Giồng Riềng, mọi người dễ dàng nhìn thấy ngôi nhà thờ mới mang vóc dáng kiến trúc gô-tích và mái vòm của giáo họ Thiên Ân mới thành lập nằm uy nghi giữa cánh đồng mênh mông. Vào lúc 9g00 sáng ngày 17.5.2014, Đức cha Giuse đã đến dâng thánh lễ tạ ơn và làm phép nhà thờ trong niềm hân hoan, vui mừng của bà con giáo dân. Cùng chia sẻ niềm vui trọng đại này, có Đức cha Phụ tá Giuse Trần Văn Toản và trên 40 cha đồng tế, cùng với quý tu sĩ, quý ân nhân, quý khách. Kể từ ngày đặt viên đá đầu tiên 27.4.2013, ngôi nhà thờ đã được được hoàn thành sau một năm một tháng xây dựng. Đây là hồng ân Thiên Chúa dành cho giáo họ như tên gọi  Thiên Ân. Tuy nhiên, cũng phải kể đến sự quảng đại giúp đỡ của quý vị ân nhân, sự cộng tác nhiệt tình của bà con giáo dân, cùng với bao lời cầu nguyện âm thầm sốt sắng. Trong  bài giảng, Đức cha mời gọi cộng đoàn nhận biết tình thương của Thiên Chúa đối với chúng ta; hãy để cho tình thương của Chúa biến đổi chúng ta trở thành đền thờ xứng đáng của Ngài nhờ ơn Chúa Thánh Thần thánh hóa; và sau cùng là hãy đem tình thương của Chúa đến với mọi người xung quanh, dù người đó có đạo hay không có đạo, dù người đó tốt hay xấu.

 

THÊM SỨC VÀ KHÁNH THÀNH THÁP CHUÔNG

GIÁO HỌ VÔ NHIỄM, KO2, TÂN HIỆP

Sáng ngày 18.5.2014 Đức cha Giuse đã đến giáo họ Vô Nhiễm KO2 để làm phép chuông và ban bí tích thêm sức cho 30 thiếu nhi. Đồng tế trong thánh lễ có 16 cha. Vào ngày 05.5.2013 tháp chuông được khởi công và đến nay đã được hoàn thành, có chiều cao 27m. Trong bài giảng, Đức cha mời gọi cộng đoàn cùng tạ ơn Chúa và suy nghĩ về vai trò của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống chúng ta.

 

THÁNH LỄ TẤN PHONG

ĐỨC GIÁM MỤC PHỤ TÁ LONG XUYÊN

Ngày 29.5 nhà thờ Đài Đức Mẹ Tân Hiệp trở thành trái tim của giáo phận Long Xuyên, nơi tổ chức Thánh Lễ Truyền Chức Giám Mục Phụ tá, Đức Cha Giuse Trần Văn Toản. Vị đại diện Tòa Thánh, Đức Tổng Leopoldo Girelli và các Đức Giám Mục từ các giáo phận trên khắp miền đất nước, được nhận một vòng hoa tươi thắm ngay khi xuống xe tiến vào Đài Đức Mẹ.

Đúng 9g00 giờ Thánh Lễ bắt đầu. Sau bài ca nhập lễ, Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu đọc diễn văn chúc mừng các giám mục và quan khách. Các vị khách được giới thiệu cách đặc biệt gồm có: Đức Tổng Leopoldo Girelli, Đại Diện Tòa Thánh, Đức Tổng Phaolô Bùi Văn Đọc, Đức Tổng Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Đức Cha Vinhsơn Nguyễn Văn Bản, Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Đức Cha Mathêu Nguyễn Văn Khôi, Đức Cha Tôma Vũ Đình Hiệu, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh,  Đức Cha Gioan Vũ Tất, Đức Cha Stêphanô Tri Bửu Thiên, Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên, Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm, Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, Đức Cha Giuse Nguyễn Tấn Tước, Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến và cuối cùng là linh mục giám quản giáo phận Vĩnh Long, cha Phêrô Dương Văn Thạnh.

Kết thúc phần Lời Chúa, nghi thức truyền chức Giám Mục bắt đầu và diễn ra hết sức long trọng và sốt sắng. Hơn 10.000 tín hữu tham dự, 21 giám mục và khoảng hơn 300 linh mục cùng hiệp ý khẩn nài các thánh ban ơn lành cho Đức Tân Giám Mục. Hai vị giám mục phụ phong bên cạnh Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu, là Đức Cha Stêphanô Tri Bửu Thiên và Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống. Nghi thức truyền chức nhấn mạnh tới chức vụ giám mục là để phục vụ và yêu thương cộng đoàn.

Trước khi ban phép lành cuối lễ là nghi thức chúc mừng Đức Cha Giuse Trần Văn Toản. Đầu tiên, Đức Tổng Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc, chủ tịch HĐGMVN, thay mặt các Giám Mục Việt Nam, kế đến Đức Tổng Leopoldo Girelli vị đại diện Tòa Thánh, rồi tới cha Luy G. Huỳnh Phước Lâm, tổng đại diện giáo phận. Sau hết là bài cám ơn của Đức Tân Giám Mục Giuse.

 

ĐỨC GIÁM MỤC PHỤ TÁ DÂNG THÁNH LỄ TẠ ƠN

Tạ Ơn và Sứ Vụ, đó là chủ đề Thánh Lễ Tạ Ơn Giám Mục. Thánh lễ diễn ra vào lúc 9g00 thứ sáu, ngày 30.5..2014 tại nhà thờ Chính Tòa với sự tham dự đầy đủ của đại diện các ban ngành đoàn thể giáo phận. Đức Tân Giám Mục chủ tế với sự hiện diện của Đức Cha Giuse chính tòa và đông đảo các linh mục trong Hội Đồng Linh Mục và các Ủy Ban. Cha sở chính tòa Micae Lê Xuân Tân thay mặt cho cộng đoàn chúc mừng hai Đức Cha. Chúc mừng Đức Cha Chính tòa vì đã có người tài đức phụ tá để giúp giáo phận tốt đẹp hơn nữa, chúc mừng Đức Cha Phụ tá vì được Chúa thương ban tuyển chọn làm đấng kế vị các tông đồ chăm sóc cho đoàn dân được vững mạnh trong đức tin. Sau bài Phúc Âm, cha tổng đại diện Luy G. Huỳnh Phước Lâm chia sẻ Lời Chúa với bài của Đức Cha Gioan Bùi Tuần, người vắng mặt vì lý do sức khỏe. Bài chia sẻ nhấn mạnh tới khiêm nhường, cầu nguyện và tỉnh thức. Đó cũng là lời cầu chúc của Đức Cha Gioan cho toàn thể dân Chúa và cách riêng cho Đức Giám Mục Phụ Tá Giuse.

Trong bài cám ơn của mình, Đức Cha Phụ Tá làm nổi bật tâm tình tạ ơn và sứ vụ. Tạ ơn Thiên Chúa và cám ơn mọi người, cả những người hiện diện lẫn vắng mặt, cả những người còn sống cũng như đã qua đời mà cách nào đó đã tác động trên cuộc đời và làm nên con người của Đức Cha hôm nay. Cuộc đời, theo như Đức Tân Giám Mục nói, luôn bao gồm niềm vui nỗi buồn, nụ cười và nước mắt, hạnh phúc và khổ đau, nhưng nếu chúng ta biết thuận theo Ơn Sủng của Thánh Thần, cuộc sống sẽ trở thành tươi đẹp: “Mọi sự đều có thể đối với người tin” (Mc 9,23). Hay nói như thánh Phaolô, “với người có đức tin, mọi sự đều nên tốt”. Thánh lễ kết thúc vào lúc 10g15 và mọi người tham dự được mời sang Tòa Giám Mục để chia sẻ niềm vui trong bữa tiệc mừng.

 

THÊM SỨC TẠI GIÁO XỨ BÒ ÓT

Chúa Nhật, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngày 08.06.2014, Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu đã về thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho 159 con em trong giáo xứ. Qua phần phụng vụ lời Chúa, Đức Cha mời gọi mọi người, đặc biệt các em sắp được lãnh nhận Bí tích Thêm Sức cần ý thức: Bí tích Thêm Sức không phải là thủ tục mà là Ơn Thánh giúp người Kitô hữu sống và loan báo Tin Mừng của Chúa. Từ đó, mỗi người hãy nhìn lại cách sống của mình đã trở nên chứng nhân của Tin Mừng hay chưa, đừng để lãng phí ơn Chúa Thánh Thần mà mỗi người đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa Tội và Thêm Sức.

GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Hội nghị Thường niên Kỳ I-2014

BIÊN BẢN

 

1. Hội đồng Giám mục Việt Nam đã họp Hội nghị thường niên kỳ I/2014 tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, từ chiều thứ Hai ngày 21/04/2014 đến thứ Sáu ngày 25/04/2014.

2. Về tham dự Hội nghị, có sự hiện diện đông đủ của các vị chủ chăn thuộc 25 giáo phận: Các Đức Tổng giám mục và các giám mục. Linh mục giám quản giáo phận Vĩnh Long vắng mặt vì lý do sức khỏe.

3. Hội đồng Giám mục vui mừng chào đón Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam; đồng thời chào đón Đức cha tân cử Giuse Trần Văn Toản được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm giám mục phụ tá giáo phận Long Xuyên.

4. Hội nghị dành nhiều thời gian bàn thảo về việc thực hiện Dự án Học viện Công giáo Việt Nam và việc xây dựng Vương Cung Thánh Đường tại Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang.

5. Hội nghị lắng nghe các Ủy ban như Ủy ban Kinh Thánh, Ủy ban Công lý - Hòa bình, Ủy ban Thánh nhạc, Ủy ban Loan báo Tin Mừng và Ủy ban Mục vụ Gia đình, trình bày các hoạt động trong thời gian qua.

6. Hội đồng Giám mục thống nhất tên gọi Văn phòng Hội đồng Giám mục thay cho Văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Giám mục và vui mừng khánh thành nhân dịp Hội nghị lần này.

7. Ngoài ra, Hội đồng Giám mục cũng trao đổi về Nội quy của Uỷ ban Tu sĩ, chức vụ Chánh văn phòng của Văn phòng Hội đồng Giám mục, mục vụ về hôn nhân gia đình và vấn đề đối thoại liên tôn.

8. Hội nghị bế mạc trong niềm vui cùng với Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh mừng lễ nhậm chức của Đức tân Tổng Giám mục Phaolô tại nhà thờ Chính toà Sài Gòn và cùng với giáo phận Phú Cường mừng lễ Cung hiến Nhà thờ Chính toà.

9. Hội đồng Giám mục ấn định Hội nghị thường niên kỳ II/2014 sẽ được tổ chức tại Toà Giám mục Nha Trang, từ ngày 27/10/2014 đến 30/10/2014.

Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận TP. HCM,

ngày 25.4.2014

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC TÔNG DU THÁNH ĐỊA

 

Ngày thứ nhất: Tự do tôn giáo, Hoà bình và Bác ái

Trong ngày đầu tiên của chuyến tông du Thánh Địa, thứ Bảy 24.5.2014, Đức Thánh Cha đã viếng thăm vương quốc Jordan. Tại đây, ngài được Hoàng gia, Chính phủ và dân chúng Jordan nhiệt liệt chào đón. Trong gần 24 tiếng lưu lại Jordan, Đức Thánh Cha đã đến Hoàng cung Al-Husseini thăm chính thức Hoàng gia và Chính phủ Jordan, dâng Thánh lễ tại sân Vận động quốc tế tại Amman, viếng nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa và gặp những người tị nạn và người trẻ khuyết tật.

 

Ngày thứ hai: Chung sống hoà bình và Đại kết

Ngài giã từ Jordan lúc 8g15 sáng và đáp máy bay qua Palestin. Sau khi hạ cánh tại phi trường Bethlehem, Đức Thánh Cha bắt đầu thực hiện lịch làm việc dày đặc, trải trên hai lãnh thổ Palestin và Israel.

Tại Palestin: (1) Thăm Tổng thống Palestin; Gặp gỡ chính quyền Palestin, (2) dâng Thánh lễ tại Quảng trường Máng cỏ tại Bethlehem, (3) Ăn trưa với các gia đình Palestin tại tu viện Dòng Phan sinh Casa Nova ở Bethlehem, (4) Viếng Hang đá Giáng sinh Bethlehem, (5) Gặp trẻ em các trại tị nạn tại Trung tâm Phoenix.

Tại Israel: (1) Hội kiến riêng với Thượng phụ Bartholomaios, Giáo chủ Contantinopolis và ký Tuyên bố chung tại Toà Sứ thần Toà Thánh, (2) Cuộc gặp gỡ đại kết kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ giữa Đức giáo hoàng Phaolô VI và Đức Thượng phụ Athenagoras tại Vương cung Thánh đường Mồ Thánh, (3) Ăn tối với các Đức Thượng phụ và Giám mục tại Toà Thượng phụ Latinh Giêrusalem.

 

Ngày thứ ba: Đối thoại liên tôn, Sống tình huynh đệ và Hân hoan phục vụ Hội Thánh

Chương trình làm việc của Đức Thánh Cha trong ngày thứ ba tông du Thánh Địa hoàn toàn diễn ra trên lãnh thổ quốc gia Israel, gồm: (1) Thăm vị Đại giáo trưởng Hồi giáo tại Giêrusalem, (2) Viếng Bức tường Phía Tây tại Giêrusalem, (3) Đặt vòng hoa tưởng niệm tại Núi Herzl (tiếng Do Thái là Har Hazikaron, Núi Tưởng niệm), (4) Viếng Yad Vashem, Đài tưởng niệm nạn nhân Do Thái bị thảm sát trong Đệ II Thế chiến, (5) Thăm chính thức hai vị Giáo trưởng Do Thái giáo tại ở Giêrusalem, (6) Thăm chính thức Tổng thống Nhà nước Israel tại Dinh Tổng thống (7) Hội kiến riêng với Thủ tướng Israel tại Trung tâm Notre Dame ở Giêrusalem, (8) Ăn trưa với phái đoàn cùng đi tại Trung tâm Notre Dame, (9) Thăm và hội kiến riêng với Thượng phụ Giáo chủ Constantinopolis tại nhà thờ Chính thống giáo Viri Galileai ở Núi Cây Dầu, (10) Gặp gỡ các linh mục, chủng sinh, nam nữ tu sĩ tại nhà thờ Gethsemane dưới chân Núi Cây Dầu, (11) Đồng tế với hàng Giáo phẩm và phái đoàn cùng đi tại Phòng Tiệc ly ở Giêrusalem, (12) Kết thúc chuyến tông du: Chào từ biệt tại phi trường quốc tế Ben Gurion ở Tel Aviv. Máy bay cất cánh lúc 20g15 (giờ địa phương) tại Tel Aviv và về đến Roma lúc 23g00 .

 

MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ BẮC XUYÊN

 

Nhà thờ Bắc Xuyên, Ấp E1 , Xã Thạnh An, Huyện Vĩnh Thạnh,

TP. Cần Thơ. Điện thoại : 071 3856 727

* Bổn mạng Giáo xứ: ngày 02 tháng 2 “Lễ Mẹ dâng Chúa Giêsu trong đền thánh”.

* Số giáo dân: khoảng 1400 người, toàn tòng Công giáo.

* Lịch sử hình thành và phát triển:

Cha Đaminh Nguyễn Hưng Phong hướng dẫn một số đồng bào Công giáo gốc Bắc Ninh rời vùng Phước Lý, Xoài Minh tới nhận kênh E vào ngày 31.3.1956. Vì giáo dân ở rải rắc trên 2 bờ kênh dài 14 km, vấn đề sống đạo gặp nhiều khó khăn, nhất là về mùa mưa; nên kênh E được tạm chia làm 3 xứ do 3 linh mục phụ trách: Cha Đaminh Nguyễn hưng Phong, phụ trách xứ khu I (nay là giáo xứ Bắc Xuyên). Cha Nguyễn Phi Hùng, phụ trách xứ trung tâm (nay là nhà thờ Thánh Giuse, E2). Cha Antôn Dương Hữu Soạn, phụ trách xứ trong cùng (nay là giáo xứ An-Sơn, E2).

Ngày 28-9-1957, Cha Phong về giúp chủng viện Bắc Ninh tại Thủ Đức, Cha Giuse Maria Nguyễn Thanh Khiết về thay thế, Ngài đặt tên xứ là “xứ Truyền Tin”.

Năm 1961, Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ chia kênh E làm 2 xứ : E1 và E2, lấy kênh Đòn Giông làm ranh giới. Cha JM. Nguyễn Thanh Khiết phụ trách xứ E1 lấy tên xứ là “Bắc Xuyên”. Năm 1966 các cơ sở bị ảnh hưởng chiến tranh, nên Cha Khiết cho xây dựng lại trường Tiểu học (1966), nhà xứ (1967) và Nhà thờ (1970-1972), tất cả đều kiên cố thành 2 khu: Khu  Nhà Xứ và Khu Nguyện Đường Kinh Bắc.

Cuối tháng 4.1975, Cha JM. Nguyễn Thanh Khiết phụ trách Giáo xứ Hiệp Tâm – kênh Zéro và ngày 10.5.1975, Cha Aug. Vũ Hồng Đức về phụ trách Giáo xứ Bắc Xuyên thay cho Cha Khiết. Trong thời gian này, trường  học Kinh Bắc được trả lại cho hoạt động tôn giáo (Nguyện đường Kinh Bắc) và hằng tuần  có thánh lễ.

Năm 1987, cha Aug.Vũ Hồng Đức cho xây dựng Đài Đức Mẹ trước sân nhà thờ Bắc Xuyên và xây hàng rào phía bờ sông. Năm  1997: sửa chữa nhà xứ Bắc Xuyên. Năm 1999: nâng cấp đóng trần, thay tôn, thay cửa, cung thánh nhà thờ và khuôn viên  thánh đường giáo xứ Bắc Xuyên. Năm 2005: làm nhà hội, xây dựng tháp chuông. Năm 2007, giáo họ Martino được tách ra khỏi giáo xứ Bắc Xuyên, và được nâng lên hàng giáo xứ. Chúa nhật thứ II Mùa Chay, ngày 4.3.2007 Cha Augutinô Vũ Hồng Đức được nghỉ hưu.

Để luôn có người coi sóc giáo dân, Đức Giám mục giáo phận luôn gởi các chủ chăn đến sống cùng giáo dân:

Cha xứ Giuse Âu Thanh Bình (từ 03/2007 đến 01/2012)

Cha xứ GB. Nguyễn Công Từ (từ 01/2012 đến 01/2014)

Cha xứ Đaminh Nguyễn Văn Lượng (từ 01/2014 đến nay)

* Đặc điểm tình hình dân cư: Giáo dân đều là dân tộc Kinh, toàn tòng Công giáo; hầu hết sống bằng nghề nông, đời sống ổn định, bình thường. Tinh thần sống đạo của giáo dân tương đối nề nếp, sốt sắng, duy trì những truyền thống tôn giáo tốt đẹp, tích cực đóng góp xây dựng các mặt trong xã hội. Hầu hết con em được đi học đến Phổ thông Cơ sở, số học sinh Trung học Phổ thông và Đại học còn hạn chế do điều kiện kinh tế khó khăn.

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1014
Tất cả: 45,856,208