Tĩnh tâm tháng 04 năm 2014

 

TĨNH TÂM

THÁNG 4 NĂM 2014

 

 

 

TÌNH CHA YÊU CON
THƯ MỤC VỤ

Đức Giám Mục Giáo Phận

Tháng 4 năm 2014

 

PHÚC ÂM HÓA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

HỘI THÁNH ĐỒNG HÀNH VỚI CÁC BẠN TRẺ

 

***

Anh chị em thân mến,

Hiệp thông với toàn thể Giáo Hội, chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa Chay Thánh, cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Khởi đầu Tuần Thánh là Lễ Lá (13/4), ngày Quốc Tế Giới Trẻ; và kết thúc tuần Bát Nhật Phục Sinh là lễ về Lòng Thương Xót của Chúa (27/4), cũng là ngày phong thánh cho Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Người được tuyên nhận là Đấng Bảo Trợ ngày Quốc Tế Giới Trẻ. Chính vì thế, thư mục vụ tháng Tư trong năm Thánh Hóa Gia Đình này có chủ đề là “Phúc Âm Hóa Đời Sống Gia Đình, Hội Thánh Đồng Hành Với Các Bạn Trẻ”.

Nói về giới trẻ, chúng ta ý thức rằng giới trẻ đang lãnh nhận những di sản vật chất, tinh thần và luân lý của tiền nhân để lại. Chúng ta cũng nhận ra rằng, giới trẻ ngày nay đang được hưởng nhiều thuận lợi để thăng tiến bản thân, nhất là những thành quả của khoa học kỹ thuật, cụ thể là thông tin và giao thông. Đồng thời, một điều chắc chắn là giới trẻ đang dần dần thay thế các bậc cha anh điều hành gia đình, xã hội và giáo hội.

Tuy nhiên, suy tư từ số 2 của Tông Huấn Niềm Vui Của Tin Mừng – Evangelii Gaudium của ĐGH Phanxicô, chúng ta nhận ra mối nguy lớn nhất cho cộng đoàn Kitô hữu, đặc biệt  cho người trẻ hôm nay, đó là người trẻ đang sống trong một thế giới cổ vũ cho chủ nghĩa tiêu thụ và hưởng thụ. Sống trong thế giới này, người trẻ sẽ cảm thấy cô đơn từ một trái tim tham lam chạy theo những thú vui phù phiếm, và vì thế trở nên không còn chỗ cho người khác. Con người cũng sống trong sự lo lắng phát sinh từ một lương tâm chai lỳ bị trói chặt trong những lợi ích riêng tư và những nhu cầu ích kỷ, và vì thế, không còn khả năng để nghe tiếng nói của Thiên Chúa trong cuộc đời. Kết quả là cảm giác chán nản, bực bội, tức giận, và nổi loạn sẽ thay thế cho niềm vui, sự an bình và tình yêu trong cuộc sống.

Trong bối cảnh này, chúng ta được mời gọi chiêm niệm Chúa Kitô Phục Sinh đồng hành với hai môn đệ trên đường về làng Emmaus. Như nhiều bạn trẻ ngày nay, hai môn đệ có tâm trạng xa rời lý tưởng trong chán nản, thất vọng và buồn rầu. Cùng với Chúa Kitô, Giáo Hội ý thức về sứ vụ đối với giới trẻ ngày nay, là phải trở thành dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục Sinh, đóng vai trò một lữ khách, để đồng hành với người trẻ hôm nay.

Thật vậy, hơn bao giờ hết, Giáo Hội phải cùng với Chúa Giêsu Phục Sinh ra khỏi những cung điện và lâu đài để đến hiện diện và đồng hành với các bạn trẻ trong những thực trạng của cuộc hành trình đời họ. Trong cuộc hành trình này, như Chúa Giêsu Phục Sinh gợi ý để hai môn đệ bày tỏ nỗi niềm, Giáo Hội cần có khả năng lắng nghe những tâm sự các bạn trẻ bằng chính khối óc, con tim và cả ngôn ngữ của họ để có thể tiếp cận và hiểu họ. Hơn nữa, như Chúa Giêsu Phục Sinh dùng Thánh Kinh để giải thích mầu nhiệm Đức Kitô, Giáo Hội cũng cần uy tín của một người thầy, cần tình yêu của một người mẹ, và cần sự gần gũi của một người bạn đối với các bạn trẻ, để có thể đối thoại, chia sẻ và giới thiệu Chúa Kitô là Thần Tượng của họ. Cũng như Chúa Giêsu đồng bàn với hai môn đệ và bẻ bánh như dấu chỉ trao tặng chính mình, Giáo Hội cũng phải phục vụ với tình yêu để sẵn sàng hy sinh cho các bạn trẻ. Cuối cùng, khi họ đã nhận ra Chúa Phục Sinh, thì Chúa biến khỏi họ; Giáo Hội cũng phải biết tôn trọng sự chọn lựa của các bạn trẻ và phó thác cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong từng bạn trẻ theo lập trình độc đáo mà Chúa dành cho họ.

Từ suy tư trên, toàn thể giáo phận, đặc biệt là những vị có trách nhiệm, như các Ủy Ban và các Ban liên hệ đến sinh hoạt giới trẻ, cụ thể là Ban Mục Vụ Giới trẻ, các linh mục phụ trách các cộng đoàn giáo xứ, giáo họ, giáo điểm, các tu sĩ, chủng sinh, các bậc phụ huynh, xin mời tham gia, hiệp thông và đồng trách nhiệm với tôi vì sứ vụ đối với giới trẻ, như là một ưu tiên chọn lựa phục vụ của giáo phận, và tùy từng hoàn cảnh cụ thể để chúng ta có những sáng kiến mục vụ. Ở đây, tôi xin được đề nghị 3 sinh động cụ thể để giáo phận đồng hành với các bạn trẻ:

1.  Như Chúa Kitô phục sinh đồng hành với hai môn đệ về làng Emmaus, chúng ta dành thời gian để tiếp cận, gặp gỡ, và đối thoại với các bạn trẻ trong cộng đoàn của mình, gặp gỡ tập thể cũng như tư vấn cá nhân. Trong các cuộc gặp gỡ này, theo sứ điệp của ĐGH Phanxicô cho ngày quốc tế giới trẻ năm 2014, cũng cần hướng dẫn các bạn trẻ về những giá trị tinh thần, cụ thể là về hạnh phúc thật từ tám mối phúc . Đức Thánh Cha đã đưa ra một lộ trình 3 năm. Năm nay 2014 là Mối Phúc thứ nhất: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó” (Mt 5,3). Năm 2015, là “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch” (Mt 5,8). Và năm 2016 là: “Phúc cho ai xót thương” (Mt 5,7). Ban Mục Vụ Giới Trẻ nên áp dụng lộ trình này trong sinh hoạt phục vụ của mình đối với sinh viên và giới trẻ. Xin quí cha, các tu sĩ và chủng sinh hỗ trợ cho chương trình này,

2. Như một người bạn, người mẹngười thầy đồng hành và yêu thương phục vụ các bạn trẻ, giáo phận, đặc biệt là các cha phụ trách các cộng đoàn, cần trang bị hành trang vào đời cho các bạn trẻ; đó là tháp tùng hôn nhân. Tôi Tớ Chúa Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận viết: “Chuẩn vị làm linh mục có chủng viện, chuẩn bị làm tu sĩ có tập viện, chuẩn bị làm giáo viên có trường sư phạm, chuẩn bị làm cha mẹ có gì?... Không có gì cả. Lúc này tạm có các lớp dự bị hôn nhân, nhưng chưa đi đến đâu. Bao nhiêu người sẽ là nạn nhân do cuộc phiêu lưu này (Đường Hy Vọng số 463). Vì thế, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Ủy Ban Gia Đình, và Ban Mục Vụ Giới Trẻ và Ban Mục Vụ Thiếu Nhi, cần kết hợp với nhau và với các linh mục phụ trách các cộng đoàn để thực hiện chương trình Mục Vụ Gia Đình bao gồm việc chuẩn bị hôn nhân, việc cử hành hôn nhân, và mục vụ sau lễ cưới. Chương trình mục vụ này được đề ra trong phần thứ tư của tông huấn Bổn Phận của Gia Đình Kitô Hữu trong Thế Giới Ngày NayFamiliaris Consortio (từ số 65 đến số 69).

3. Cuối cùng, xin Ban Mục Vụ giới trẻ chuẩn bị tổ chức cuộc họp mặt giới trẻ của giáo phận vào ngày Chủ Nhật kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (16/11) như là điểm nhấn trong chương trình tu đức và sứ vụ của giáo phận trong năm Thánh Hóa Gia Đình. Tôi ước mong sẽ được tham dự cuộc họp mặt này như dấu chỉ về sự quan tâm của giáo phận trong việc tháp tùng các bạn trẻ.

Các bạn trẻ yêu quí,

Các Giám Mục, Đức Cha Cố Gioan Baotixita và cha, rất yêu mến các con, luôn cầu nguyện cho các con, và đặt nhiều kỳ vọng vào các con cho tương lai của giáo hội, cụ thể là giáo phận Long Xuyên. Cha xin phó thác các bạn trẻ của giáo phận cho Chúa, qua sự bầu cử của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người rất yêu mến giới trẻ và luôn cùng với Chúa Giêsu đồng hành với giới trẻ trong tư cách là thầy, là mẹ và là bạn.

+ GIUSE TRẦN XUÂN TIẾU

GIÁM MỤC GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 TU ĐỨC

Đức Cha GB Bùi Tuần

 

 

TÂM SỰ

CỦA MỘT NGƯỜI CHA GIÀ ĐAU YẾU

 

 

1.

Tôi mới đọc lại một bài của Đức Hồng Y Bergolio, nay là Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Bài này được Ngài giảng trong thánh lễ Dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, ngày 02.02.2008.

Nội dung bài giảng là về “những người già”.

Vì là một người già đau yếu, tôi đọc mà thấy lòng mình thấm thía nỗi đau. Xin được chia sẻ nỗi niềm ấy của tôi trong tâm sự này.

2.

Ngay trong đầu bài giảng, Đức Hồng Y đã không ngại nói lên một cảnh đau buồn đang xảy ra tại nhiều nơi ở Nam Mỹ. Cảnh đau buồn đó là cách cư xử đối với những người già.

Theo Ngài nhận xét về chính sách dành cho người già, thì cả đời cả đạo đều có những tuyên bố rất hay. Nhưng thực tế lại khác.

Người già bị coi như kẻ bị loại trừ.

Người già bị khinh như kẻ bị đẩy ra ngoài lề xã hội.

Người già bị đối xử như kẻ bị từ bỏ, bị để trong những nhà hưu như kho dành cho các vật phế thải.

Người già bị chế giễu và bị bỏ quên.

3.

Những hình ảnh trên đây tạo nên trong tôi một bầu trời u ám. Tôi cảm thấy xót xa vô chừng.

Tôi thầm nghĩ: Nếu phần đông đối xử tệ như thế đối với những người già, thì chắc là họ có cơ sở. Nếu chính tôi cũng bị đối xử như thế, thì hẳn là vì tôi xứng đáng bị như thế. Bởi vì chính tôi cũng thấy mình đang là người thuộc loại không sản xuất được gì, mà lại còn gây phiền hà cho nhiều người khác.

4.

Thực vậy, tôi cảm thấy mình đang là gánh nặng cho cộng đoàn. Bởi vì đời sống của tôi hiện giờ phải lệ thuộc rất nhiều vào người khác, đi đứng, di chuyển đều phải nhờ người khác.

5.

Tôi cảm thấy mình đang là kẻ dư thừa, gây phiền toái cho cộng đoàn. Bởi vì tôi bị kể như không còn khả năng phục vụ, đã thế lại giữ cho mình những phương tiện sống đáng lẽ nên dành cho những người đang phục vụ.

6.

Tôi cảm thấy mình đang là kẻ gây chướng tai gai mắt. Bởi vì tôi có những lời nói, việc làm, thái độ vụng về mà người ta không muốn bao dung chấp nhận.

7.

Tôi cảm thấy mình đang là kẻ phạm đến quyền lợi của người khác. Bởi vì tôi có những suy nghĩ và những lời nói nào đó, mà người ta cho là pha mình vào chuyện của người khác.

8.

Tôi cảm thấy mình đang là kẻ bị kết án, không xứng đáng ở lại chốn này. Bởi vì tôi bị coi như kẻ làm gương xấu, gây hại cho ích chung.

9.

Những cảm thấy trên đây đang làm tôi đau đớn và sợ hãi. Tôi muốn tìm người, để tâm sự. Nhưng tôi sợ lại bị khổ thêm, do người ta khinh chê, xa tránh. Mất miền tin vào người khác, co mình lại, đó là triệu chứng của trầm cảm.

10.

Trầm cảm có lúc gây nên căng thẳng. Chỉ một chút thôi trong lời nói, trong thái độ, của ai đó, tuy vô hình, nhưng tỏ ra sự dửng dung, sự khinh miệt, đều có thể làm cho tâm hồn đang đau lại đau thêm.

11.

Những lúc đó, tôi không phải là hiểu, mà là cảm nhận được một cách sâu sắc tình trạng, mà Chúa Giêsu đã trải qua xưa trong vườn Cây Dầu. Người cảm thấy rất mực cô đơn, rất mực sợ hãi, rất mực khổ đau. Tôi cũng như Người, lúc đó gục đầu xuống đất, mà khẩn cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,42).

12.

Và tôi cũng cảm nhận thấy rất cần được ủi an nâng đỡ. Tôi thấy nhu cầu ấy cũng đã có trong lời Chúa Giêsu trách các môn đệ: “Các con không thức nổi một giờ ở bên Thầy sao?” (Mc 14,37).

13.

Ai đã trải qua những trường hợp như thế, mới thấy những trường hợp như thế là rất khủng khiếp. Do vậy, cần phải rất nhạy bén và tế nhị đối với những người trong cơn khủng khiếp như thế, nhất là khi họ là những người già cả đau yếu, không còn sức khoẻ thân xác và tinh thần để vượt qua.

Tôi đã nhiều lần rơi vào những trường hợp khủng khiếp đó.

14.

Cũng may là trong tôi, Chúa vẫn hiện diện, Người thắp lên trong tôi một ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa nhỏ này là niềm tin yêu mãnh liệt. Nhờ ngọn lửa thiêng này, tôi biến đau khổ thành cơ hội đến với Chúa và đến với con người, một cách âm thầm nhưng đầy tin tưởng.

15.

Trước hết, tôi coi bản thân tôi đang đau đớn là một của lễ hy sinh. Tôi khiêm tốn dâng lên Chúa của lễ hy sinh đó, hợp với của lễ hy sinh Chúa Cứu Thế đã dâng xưa trên thánh giá.

16.

Với của lễ hy sinh đó, tôi chúc phúc lành cho những người thân yêu của tôi. Như xưa ông già Simêon đã chúc lành cho Đức Mẹ và Thánh Giuse, khi hai Đấng dâng Chúa Hài Đồng trong đền thờ (x. Lc 2,33-35).

17.

Rồi, cũng với của lễ hy sinh đó, tôi chuyển giao kinh nghiệm của tôi cho cộng đoàn và những thế hệ đi sau. Như xưa bà già Anna “đã nói về Hài Nhi Giêsu cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem” (Lc 2,38).

18.

Những gì tôi chia sẻ trong tâm sự này đều rất chân thành. Cũng với tất cả tấm lòng chân thành, tôi thú nhận tôi rất yếu đuối, hèn hạ, tội lỗi, rất cần được Chúa xót thương và cũng rất cần được cộng đoàn cảm thông.

19.

Để kết, tôi xin mượn ý của Đức Thánh Cha Phanxicô về người già:

- Nhu cầu được có người ở bên,

- Nhu cầu gặp được một cái nhìn yêu thương có sức làm êm dịu nỗi lo âu sợ hãi...

- Nhu cầu được cảm thấy mình có ích cho người khác.

- Nhu cầu làm nhẹ nỗi đau.

Đó là những gì anh chị em nên làm cho những người già cả đau yếu, trong đó có tôi.

Xin cảm tạ Chúa hết lòng.

Xin chào chúc anh chị em được bình an trong Chúa.

 

Long Xuyên, ngày 12 tháng 3 năm 2014

Ngày giỗ Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp

 


CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

 

Suy Niệm Chúa Nhật V Mùa Chay, A

Êd 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45

THIÊN CHÚA CŨNG KHÓC

 

Khi tham dự lễ an táng, ta được chứng kiến nỗi đau buồn, được nghe và nhìn tận mắt lòng thổn thức nghẹn ngào của tang quyến. Chính ta cũng cảm động nghẹn ngào, có khi không cầm được nước mắt trước cảnh đau buồn chia ly người quá cố. Đó là chuyện tự nhiên của con người với nhau trong xã hội. Đó cũng là cách thể hiện mối dây tương quan tình nghĩa con người với nhau về thể xác cũng như tinh thần, và cả lòng thiêng liêng đạo đức.

Trong đời sống, rất nhiều lần ta đã khóc. Ta không ngăn được dòng nước mắt nghẹn ngào chảy xuống từ đôi mắt, lăn tràn trên gò má. Nước mắt là hình ảnh biểu lộ tâm tình tư tưởng bên trong, là lòng thổn thức cảm động từ trong trái tim trào ra bên ngoài. Nước mắt là ngôn ngữ của tâm hồn, truyền đi tín hiệu điều ta cảm nhận, điều làm ta cảm động mủi lòng. Nước mắt biểu lộ niềm vui mừng sung sướng, cùng sự nhẹ nhàng khoan khoái, như bỗng chốc thoát khỏi điều bấy lâu ta hằng lo nghĩ mong chờ.

Nhưng nước mắt cũng nói lên sự đau buồn, mất mát, sự đau khổ muộn phiền và cả sự thương nhớ chia lìa với người đã qúa cố. Phúc Âm thuật lại: “Khi thấy Matta khóc nức nở và những người Do Thái theo chị cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Ngài hỏi: "Đã an táng Ladarô ở đâu?" Họ thưa: "Thưa Thầy, xin đến mà xem". Chúa Giêsu rơi lệ” (Ga 11, 33-36).

Chúa Giêsu khóc, vì người bạn Ladarô đã chết. Dòng nước mắt của Chúa Giêsu là tín hiệu sự thông cảm chia buồn với người thân của Ladarô. Chúa Giêsu không ngăn được dòng nước mắt. Lòng Chúa thổn thức trước nấm mồ người qúa cố. Thân nhân của người qúa cố và những người chung quanh đã nhận ra tín hiệu của Chúa qua dòng nước mắt thổn thức của Ngài.

Trong giọt nước mắt ấy, Chúa Giêsu như muốn nói với họ rằng: Trong giờ phút đau buồn mất mát chia ly này, tôi ở bên anh chị em. Nỗi đau buồn của anh chị em cũng là sự đau buồn của tôi. Tôi đã đọc và đã hiểu được dòng nước mắt đau khổ của anh chị em. Vì thế tôi cùng khóc với anh chị em. Trong mọi hoàn cảnh vui buồn, tôi muốn sống tình liên đới tương quan mật thiết với anh chị em… Và tôi còn muốn làm hơn thế nữa, để bày tỏ tình yêu lớn lao của tôi cho anh chị em. Đó là tôi hằng mong muốn sự sống vĩnh cửu cho mọi người!

Vì thế Chúa Giêsu đã làm phép lạ. Ngài gọi Ladarô đã chết và đang bị chôn vùi ra khỏi nấm mồ. Ngài cho Ladarô sống lại. Với phép lạ cho Ladarô đã chết 4 ngày được sống lại, Chúa Giêsu muốn nói cho mọi người biết: Thiên Chúa mạnh hơn sự chết.

Như Ladarô, tất cả những ai đặt niềm tin vào Thiên Chúa thì cũng sẽ được cứu khỏi sự chết, được Chúa đánh thức để đưa vào sự sống mới với Chúa và không phải chết nữa. Đây là hình ảnh báo trước Chúa Giêsu sẽ sống lại, dù Ngài bị giết chết và bị chôn vùi trong nấm mồ ba ngày.

Phép lạ sống lại của Ladarô và của Chúa Giêsu cũng báo cho chúng ta một sứ điệp. Đó là: Trong Chúa Giêsu, con người chúng ta nhận được sức mạnh ban sự sống của Thiên Chúa. Sức mạnh quyền năng ban sự sống của Thiên Chúa bài trừ lo âu, sợ hãi khốn khó, sự đau khổ buồn phiền trong cuộc sống trần gian. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ” (Ga 11, 26).

Chúa Giêsu đã thông cảm với nỗi đau khổ của thân nhân Ladarô, nên Ngài đã làm phép lạ cho Ladarô sống lại. Qua đó, Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ mọi người rằng: Ngài chính là người bạn của sự sống. Và Chúa cũng muốn mọi người chúng ta có được sự sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên trời. Vì thế Chúa đã dấn thân hy sinh cứu chuộc con người khỏi hình phạt tội lỗi, để ta cũng được sống lại với Ngài mai sau.

Lạy Chúa! Xin thương xót con và ban cho con niềm vui Ơn Cứu Độ.

 

Suy Niệm Chúa Nhật Lễ Lá , A

Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mt 26,14-27,66

CÔ ĐƠN TỘT CÙNG

 

Trong bộ phim “12 giờ cuối cùng của Chúa Giêsu”, nhà đạo diễn Mel Gibson đã hoạ lại hình ảnh của đêm tối Vườn Cây Dầu. Đó là đêm tối của đức tin và cũng là đêm tối của tình người. Bộ phim được bắt đầu với cảnh Chúa Giêsu đưa các môn đệ lên núi cầu nguyện vào một đêm đen như bao đêm khác. Thế nhưng đêm nay khác hẳn mọi đêm. Đêm nay bóng tối của sự dữ hoành hành. Đêm nay quyền lực của Satan như muốn thống lãnh thế gian. Con người đã toa rập với Satan, để giết hại Con Thiên Chúa. Chúng ta hãy hình dung nỗi cô đơn tột cùng của Chúa Giêsu trước sự dữ sắp diễn ra. Lúc này Chúa rất cần các môn đệ ở bên cạnh để an ủi Chúa, nhưng các ông lại ngủ mê. Ba lần Chúa Giêsu quay lại với các môn đệ, nhưng Ngài vẫn không tìm được sự yên ủi nào.

Ngài chỉ xin các ông hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo bị vấp phạm trước thử thách đêm nay. Vậy mà các ông vẫn chìm trong giấc ngủ vùi. Đêm tối Vườn Cây Dầu chỉ còn lại một mình Chúa Giêsu cô đơn giữa các môn sinh của mình. Và trong các giờ kế tiếp, bóng tối càng lúc càng bao trùm dày đặc hơn. Chúa Giêsu càng ở trong tình trạng lẻ loi cô độc hơn. Các thành viên của Thượng Hội Đồng Do Thái đang âm mưu làm hại Chúa. Môn đệ Giuda thì phản Thầy phản bạn. Các môn đệ khác thì chạy trốn trong đêm tối. Riêng môn đệ Phêrô đã cố gắng đi theo Chúa cho tới bên trong Dinh Thượng Tế, nhưng ông lại thất bại trước sự dữ. Ông đã chối Thầy đến ba lần. Dù rằng ông đã được nhắc nhở trước về những gì sẽ đến với ông. “Ngay trong đêm nay khi gà chưa kịp gáy, con đã chối Thầy đến ba lần”.

Tuy nhiên, trước sự bỏ rơi của các môn đệ, sự cô lập của các thế lực thù địch, Chúa Giêsu vẫn bình thản trước các sự kiện đang diễn ra. Ngài hoàn toàn tự do để đón nhận hay khước từ. Ngài có thể khước từ chén đắng, nhưng Ngài đã đón nhận trong tinh thần vâng phục Thánh Ý Chúa Cha. Dầu vậy, khi giờ đã đến, Ngài vẫn cảm thấy hãi hùng, xao xuyến. Ngài sợ hãi vì viễn tượng chết vẫn vượt quá những dự phóng của con người, nên Ngài đã phải cầu nguyện. Cầu nguyện trong cô đơn và sợ hãi đến độ mồ hôi máu toát ra nơi thân thể Ngài.

Đây là giờ của đau khổ, giờ của hãi hùng, giờ bị mọi người khước từ. Đây là chén đắng của cuộc đời. Chén chua chát bị ruồng bỏ, bị nhạo báng đến nỗi Ngài đã nại vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, Cha có thể làm mọi sự. Xin cho con khỏi uống chén này. Nhưng khi hiểu được thánh ý Chúa Cha, Ngài lại tiếp tục bình thản để thưa lên cùng Cha: “Nhưng xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha trọn đời”.

Nhìn vào cái chết của Chúa Giêsu, xét theo tính nhân loại, thì Ngài là nạn nhân của thái độ nhu nhược và thoả hiệp chính trị giữa Pharisiêu và Philatô. Ngài là nạn nhân của thói ghen tỵ, độc ác và nham hiểm của những kẻ có chức, có quyền. Ngài cũng là nạn nhân của đám đông dân chúng chỉ tìm kiếm nơi Ngài ân huệ, bổng lộc. Và khi Ngài không đáp ứng những ước vọng của họ, họ liền quay lại, giơ tay ủng hộ cho án tử hình Ngài.

Cuộc đời hôm nay vẫn còn những bóng tối của lòng người. Dòng đời hôm nay vẫn còn những con người công chính, nhưng lại là nạn nhân của bất công, gian dối và tham lam. Biết bao người đã để cho bóng tối của lòng tham nổi loạn, đến nỗi sẵn sàng chà đạp và lường gạt anh chị em mình. Biết bao người chỉ vì lòng tham, chỉ vì tính ghen tỵ, chỉ vì thói tự mãn kiêu căng, vẫn đang tìm cách làm hại cuộc đời của nhau. Bao lâu ta còn nuôi dưỡng những ý đồ bất chính, những thủ đoạn lừa gạt, những ích kỷ nhỏ nhen… là bấy lâu vẫn còn những con người lương thiện bị đe doạ, bị hành hạ và loại trừ.

Hôm nay là ngày khởi đầu Tuần Thánh trong Năm phúc âm hóa các gia đình, mỗi người chúng ta hãy dành ít thời gian đối diện với Lời Chúa, để rà xét lại lối sống của mình, để ăn năn thống hối về lời nói, việc làm của mình, dù là vô tình hay hữu ý, ta đã và đang gây đau khổ cho các thành viên trong gia đình và cho nhiều người khác.

Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng đã chết vì tội lỗi chúng ta, ban ơn tha thứ và giúp chúng ta chỉnh sửa lại lối sống của mình cho xứng với lòng sám hối ăn năn. Nhờ đó chúng ta sẽ làm mới lại đời mình và được đón nhận ơn phục sinh trong tâm hồn.

 

Suy niệm Chúa Nhật Phục Sinh, A

Cv 10,34.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9

MẦU NHIỆM PHỤC SINH

 

Để cảm nghiệm mầu nhiệm Phục Sinh, chúng ta cần dừng lại thật lâu bên mộ Chúa. Một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai (Ga 19,41). Ngôi mộ này của ông Giôxép, người trong Thượng Hội Đồng và cũng là một môn đệ âm thầm của Chúa Giêsu. Ông đã đến gặp chính quyền, để xin cất xác Thầy mình và tẩm liệm cẩn thận trong mộ đá. Chúng ta hãy đến thăm mộ Chúa vào ngày Thứ Bảy thật vắng lặng. Không có ai. Ngôi mộ của Chúa nằm im lìm như những ngôi mộ khác, nhưng có một tảng đá to ngạo nghễ che lấp cửa mồ. Chắc kẻ thù ghét Chúa đã hả hê vui sướng lắm, vì họ đã nhổ được một “cái gai”, Cái Gai Giêsu thành Nagiarét. Chắc Tử Thần phải đắc ý vỗ tay reo mừng, vì Đấng là Sự Sống đã bị thất bại, đã chết và đang bị chôn trong mộ.

Nhưng ở đây, xác Chúa Giêsu nằm im bất động trong ngôi mộ tối tăm, tựa như hạt lúa đang ủ mầm trong lòng đất. Xưa nay có ai nghe được tiếng hạt giống cựa mình không? Có ai thấy được mầm non đang nhú lên từng giây từng phút không? Đêm nay sao dài quá! Ba phụ nữ chỉ mong trời mau sáng. Họ thấp thỏm suốt đêm, không sao ngủ được. Họ chỉ nghĩ đến ngôi mộ với cái xác của Chúa Giêsu nằm im trong đó. Thế rồi khi mặt trời vừa lóe lên những tia nắng đầu tiên, các bà đã vội vã chạy ra thăm mộ Chúa, với dầu thơm để ướp xác Chúa, cho trọn niềm tin yêu.

Khi đi đường, họ không ngại cái lạnh của làn sương đêm. Họ chỉ bận tâm là "Ai sẽ lăn giùm tảng đá ra cho chúng ta?" Tảng đá to che lấp cửa mồ là một trở ngại... Nhưng lạ lùng thay, khi đến nơi, thấp thoáng trong làn sương mai, các bà thấy tảng đá đã được lăn sang một bên; và xác Chúa Giêsu không còn ở trong mồ.

Từ ngôi mộ, từ sự tối tăm chết chóc và rữa nát, Sự Sống đã bật dậy, làm cho nhân loại bàng hoàng sửng sốt. Không cần phải ai lăn tảng đá. Cũng không cần phải ai xức dầu thơm. Cửa mộ đã được mở toang, vì ngôi mộ không thể chứa được Đấng Phục Sinh…

Sự phục sinh của Chúa Giêsu không có nghĩa là hồi sinh, là trở về đời sống cũ như trường hợp con trai bà góa thành Naim (Lc 7,11-17), như con gái ông Giaia (Lc 8,40-56) hay như ông Lazarô (Ga 11,1-45). Cả ba trường hợp ấy, tuy người chết đã được sống lại, nhưng đó chỉ là trở lại với đời sống cũ mà thôi. Rồi một ngày nào đó, họ cũng sẽ phải theo số phận chung của loài người, là phải chết, phải trở về với bụi đất. Họ vẫn còn nằm dưới quyền thống trị của sự chết. Còn sự phục sinh của Chúa Giêsu là sự sống lại thật từ cõi chết. Ngài không sống lại để rồi phải chết. Nhưng Ngài hoàn toàn chiến thắng Tử thần. Sự chết không còn làm gì được Ngài. Không một định luật tự nhiên nào có thể chi phối được Ngài nữa.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu đã trở nên nguồn mạch sự sống và là sự sống lại của mỗi người chúng ta. Chính Chúa Giêsu đã nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống" (Ga 11,24). Vì thế, để Ơn Phục Sinh có thể thấm vào mọi ngõ ngách trong tâm hồn ta, thì ta phải nhiệt tình cộng tác với Chúa, phải tẩy trừ tội lỗi và sự chết ra khỏi tâm hồn mình. Cuộc chiến đấu này là vô cùng khốc liệt, vì ta phải chiến đấu với chính bản thân mình. Nhưng với ơn Chúa Phục Sinh trợ giúp, chắc chắn ta sẽ toàn thắng như Đấng Phục Sinh.

 

Suy Niệm Chúa Nhật II Phục Sinh, A

Cv 2,42-47; 1 Pr 1,3-9; Ga 20,19-31

CỘNG ĐOÀN PHỤC SINH

 

Khi Chúa Giêsu đến với Nhóm Mười Hai lần đầu tiên vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, thì ông Tôma vắng mặt. Các Tông đồ đã nói với ông: “Chúng tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,25), nhưng ông Tôma không tin vào lời của họ. Sở dĩ ông Tôma không tin lời chứng của anh em Tông Đồ, vì hai lý do sau đây: Thứ nhất, ông Tôma vốn là người cứng lòng tin; thứ hai, vì các Tông Đồ không đủ uy tín để thuyết phục Tôma. Thực vậy! Làm sao Tôma có thể dễ dàng tin vào lời nói của Phêrô, khi Phêrô đã không ngượng ngùng chối Chúa ba lần? Làm sao Tôma có thể dễ dàng tin vào lời của anh em, khi tất cả đã bỏ Chúa để chạy trốn? Làm sao Tôma có thể tin được lời của những người yếu hèn nhát đảm đó?

Để xoá tan nghi nan của Tôma, Chúa Phục Sinh đã hiện đến và đứng giữa cộng đoàn. Ngài chỉ cho Tôma thấy những vết thương của Ngài. Chính trong cộng đoàn này, Tôma đã tìm lại được đức tin của mình. Chính cộng đoàn đã thắp sáng lên niềm tin cho người anh em. Đời sống cộng đoàn thật quan trọng cho niềm tin người tín hữu. Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông Huấn “Người Kitô hữu giáo dân” đã đưa ra bốn hình ảnh về giáo xứ, mà Ngài gọi là “Cộng Đoàn Phục Sinh”.

Thứ nhất: Giáo xứ là hình ảnh gia đình của Thiên Chúa. Gia đình này luôn chan hoà tình bác ái huynh đệ. Trong gia đình Giáo xứ, mọi người được đón tiếp chân thành, được sống trong bầu khí bác ái, được cảm thấy mình được kính trọng, được yêu thương che chở. Ai cũng cảm thấy mình được vinh dự vì thuộc về một Giáo xứ.

Thứ hai: Giáo xứ là hình ảnh cộng đoàn nuôi dưỡng đức tin. Trong cộng đoàn Giáo xứ, mọi người được bồi dưỡng đức tin, được kêu gọi sống đức tin. Các Bí tích, các giờ giáo lý, các buổi cầu nguyện luôn hướng về Thiên Chúa, được Lời Chúa và lời giáo huấn của Hội Thánh soi sáng, để người tín hữu hiểu biết những biến cố cuộc đời.

Thứ ba: Giáo xứ là hình ảnh cộng đoàn có tổ chức. Trong cộng đoàn Giáo xứ, mọi người được sắp xếp theo một hệ thống có trật tự, có phân công, có trách nhiệm. Tất cả đều liên hệ mật thiết và nhịp nhàng với nhau trong tinh thần hiệp thông, cùng cộng tác và đồng trách nhiệm, để xây dựng Giáo xứ tốt đẹp hơn.

Thứ bốn: Giáo xứ là hình ảnh cộng đoàn truyền giáo. Đây là hình ảnh được Công Đồng Vatican II rất mực đề cao. Trong cộng đoàn Giáo xứ, mọi người được nuôi dưỡng đức tin, được sống tình bác ái, để ra đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh, rao truyền niềm vui, niềm hy vọng, như cộng đoàn Nhóm Mười Hai đã đến với muôn dân.

Ngày nay cộng đoàn phụng vụ ngày Chúa Nhật là điểm hẹn chính thức và thường xuyên của Chúa Phục Sinh với các tín hữu. Vì thế, ta không nên lỗi hẹn với Chúa trong các cuộc họp cộng đoàn. Trái lại, ta cần chuẩn bị thật tốt cho cuộc gặp gỡ Chúa Phục Sinh. Ngài luôn có mặt để giải thích Kinh Thánh cho ta. Ngài mở lòng trí cho ta hiểu biết Lời Ngài (Lc 24,32.45). Hơn thế nữa, Ngài còn hiến ban chính mình để nuôi sống chúng ta.

Xưa kia ông Tôma đã nhờ cộng đoàn các Tông Đồ yêu thương nâng đỡ, nên ông đã sớm tìm lại được niềm tin. Ước gì anh chị em chúng ta cũng luôn sống gắn bó mật thiết với nhau trong cộng đoàn Giáo xứ. Nhờ đó, cả cộng đoàn Giáo xứ chúng ta cũng có thể nói lên như cộng đoàn các Tông Đồ: “Chúng tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,25).

 

Ave Maria


 

BIỂU TƯỢNG

GIA ĐÌNH

TRONG CÁC SÁCH TIÊN TRI

 

Các tiên tri là những người loan báo sứ điệp của Chúa cho dân. Trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, các ông trở thành người phát ngôn và người đại diện của Thiên Chúa. Trước nhiệm vụ thiêng liêng và nặng nề như thế, các ông phải vận dụng tất cả các phương thế và cố gắng của mình để chuyển tải sứ điệp của Chúa đến cho dân chúng. Trong bối cảnh văn hóa Ítraen cổ xưa, nơi mà cơ cấu và tổ chức xã hội được hình thành từ những đại gia đình đông đúc, với những tương quan chặt chẽ và gắn bó, thì gia đình là một hình ảnh rất gần gũi và thích hợp mà các tiên tri dùng để nói đến tương quan giữa Thiên Chúa và dân tuyển chọn. Chúng ta sẽ điểm qua một số sách tiên tri mà giao ước hôn nhân và gia đình đã trở thành biểu tượng trong sứ điệp của các ngài.

Tiên tri Hôsê

Người ta không được biết rõ về cảnh đời thực của Hôsê, nhưng theo sách của ông, người ta thấy ông cưới một phụ nữ, Gôme là gái điếm làm vợ. Ông sống ở vương quốc miền bắc vào năm 780-725 BC. Mốc điểm này giúp chúng ta dễ xác định bối cảnh lịch sử: vào năm 734-732 BC, quân Assyria xâm chiếm Ítraen và phát lưu dân chúng. Mọi thời sẽ ngỡ ngàng trước thân phận trớ trêu của tiên tri Hôsê. Nhưng điều này chính là cách diễn tả triệt để tình trạng bi đát của Ítraen với Giavê. Cuộc sống gia đình của Hôsê nhằm tố cáo sự ngoại tình mà Itraen đã xây dựng với các thần dân ngoại. Mối quan hệ giữa Hôsê và Gôme song song với mối tương giao giữa Thiên Chúa và Ítraen. Mặc dù Gôme bỏ Hôsê và ngủ với người đàn ông khác, ông vẫn yêu nàng và sẵn sàng tha thứ tất cả. Tương tự như vậy, mặc dù dân Ítraen tôn thờ các thần khác, Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương và không bỏ giao ước của mình với nó. Những điều này được trình bày trong Hs 1-3. Hôsê còn dùng tên của các đứa con để nói về tình trạng của Ítraen. Trong Ítraen tên nào cũng có một nghĩa riêng, và thường là ý nghĩa tôn giáo. Vì thế, ông Hôsê đặt cho các con những cái tên làm cho ai cũng cảm thấy rất gai chướng. Ông muốn “cực tả” điều ông rao giảng: Ítraen sẽ bị ngoại bang đánh bại. Đó là một dân mà Thiên Chúa không còn yêu thương nữa và Ngài không nhận dân ấy thuộc về Ngài nữa. Và như thế, những cái tên này cũng mang những ý nghĩa biểu tượng: Gítrơen (thung lũng Ítraen thất trận), Lô Rukhama (Không-được-thương), Lô Ammi (Không-phải-dân-Ta). Và những tên gọi này sau đó được đổi lại khi Ítraen thay đổi thái độ của nó và trở về với Chúa của họ: Gítrơen sẽ mang một tên mới: “Giavê sẽ gieo trồng”; Lô Rukhama: “Được-thương”; Lô Ammi: “Dân-Ta”.

Tiên tri Isaia

Cũng như Hôsê, những người con của Isaia cũng mang những cái tên biểu tượng: Sơa Giasúp có nghĩa là “Nhóm sống sót sẽ trở về” (Is 7,3; x. 10,21). Bối cảnh xuất hiện tên này, đó là lúc Chúa nói với Isaia cùng với con trai của mình đến gặp vua Akhát đang thị sát kênh dẫn nước của hồ trên để trấn an vua. Tên người con đó xuất hiện ở đây minh họa cho sứ điệp của Isaia rằng: Vương quốc Giuđa sẽ không bị liên minh Aram và Ítraen đánh bại. Isaia muốn dùng cả những hỗ trợ “thính thị” để giúp chuyển tải sứ điệp của ông, đồng thời bảo đảm cho lời loan báo của ông trở thành vững chắc. Trên một tấm bảng, ông cho viết tên người con trai của ông:  Mahe Salan Khátbát. Tên này có nghĩa là “Mau chóng sụp đổ, mau chóng trở thành chiến lợi phẩm”. Đây là cái tên dài nhất trong Kinh Thánh. Các quân lính Giuđa hô to cái tên bí ẩn này khi giao chiến với quân thù, để luôn xác tín vào lời loan báo của Isaia rằng liên minh Aram-Ítraen sẽ sụp đổ (Is 7,4-17). Các tiên tri giảng dạy bằng lời, nhưng cũng bằng hành động. Ở đây công dụng của cái tên kì dị ông Isaia đặt cho con trai là để cảnh cáo toàn dân. Tên gọi này, cùng với danh xưng Emmanuen làm thành một cặp bổ sung cho nhau nói đến cuộc giải phóng Giêrusalem sau đó.

Tiên tri Giêrêmia

Cũng giống với các vị tiền nhiệm, Giêrêmia coi mối tương giao giữa Giavê với Ítraen như một cuộc hôn nhân. Ông so sánh giao ước của Ítraen với Giavê như tình yêu giữa hai vợ chồng son trẻ (Gr 2,2). Trong thời các vua vô đạo, đời sống tôn giáo bị nhiều người Ítraen lơ là, ông Giêrêmia dám đứng lên chống lại thói dửng dưng nguội lạnh của dân chúng. Lời lẽ của ông cũng giống như những lời của tiên tri Hôsê, mà một thế kỉ trước ông này đã nói tại vương quốc miền bắc trong những hoàn cảnh tương tự. Đối với dân Ítraen, Đức Chúa là Thiên Chúa, là một vị thần, một Đấng xa cách con người. Còn đối với Giêrêmia, Thiên Chúa vừa là Cha, vừa là Chồng. Trong chương 16, ông Giêrêmia cho biết ông sẽ “ở vậy”, nghĩa là không cưới vợ, để nhắc bảo cho Ítraen biết rằng họ sẽ phải lưu đày Babylon. Một gia đình đầm ấm, con trai con gái sum vầy là phúc lành của Thiên Chúa, điều mà ai chẳng mơ ước? Nhưng bây giờ không phải là thời của phúc lành mà là thời của án phạt; không phải là thời của sinh sôi nảy nở, mà là thời của cằn cỗi và tàn úa. Như vậy, Giêrêmia đã dùng chính đời sống góa bụa lẻ loi của mình để loan báo vương quốc Giuđa sụp đổ.

Tiên tri Êdêkien

Êdêkien nối tiếp truyền thống của các bậc tiền nhiệm, cũng đã dùng hôn nhân như biểu tượng để  diễn tả giao ước giữa Ítraen và Giavê: Ítraen là một người vợ thất trung. Ông đã dựng lại lịch sử Ítraen qua bi kịch của một người vợ thất trung và hoang dâm trong chương 16. Truyện người vợ thất trung đã từng được Hôsê và Giêrêmia nói đến, nhưng được kể lại ở đây để họa lại toàn bộ lịch sử thánh, từ lúc bắt đầu với việc chiếm đất Canaan, khi Ítraen chỉ là con số không, cho đến khi nó được sủng ái, được lập giao ước với Giavê. Khi nói về tội đĩ điếm và hoang dâm, thì cũng như các tiên tri khác, ông Êdêkien nghĩ đến 3 tội: (1) Phản bội Đức Chúa, là ông chủ và là người chồng duy nhất, mà buông theo việc thờ ngẫu tượng; (2) Cậy đến tập tục hoang dâm linh thánh, theo cách thờ phượng của các dân ngoại; (3) Bán mình cho các cường quốc để được che chở. Ông Êdêkien không quên bất cứ điều gì có thể làm cho đồng bào ông phải nhục nhã và hổ thẹn. Chẳng có ai lại chỉ trích lịch sử quốc gia của mình gắt gao đến như thế. Khi chỉ trích thói kiêu căng của đồng bào mình, vị tiên tri muốn cho họ quay trở về với giao ước và lề luật của Chúa.

*

Như chúng ta vừa thấy, hình ảnh gia đình đã trở thành khí cụ sắc bén được các tiên tri vận dụng để loan báo sứ điệp của Thiên Chúa. Những áp dụng đa dạng vừa nói lên tính cách riêng của từng tác giả vừa cho thấy những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Ítraen.

Trung Thành

 


 

Cau do KT

CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 4-2014

 

Mỗi câu trích dẫn dưới đây đều là câu mở đầu của một cuốn sách Kinh Thánh, bạn hãy cho biết nó thuộc về sách nào. Lưu ý: tên gọi và cách phiên âm đều theo bản dịch của nhóm các Giờ Kinh Phụng Vụ. Ô chữ là những gợi ý cho đáp án của bạn.

1- “Tôi là kỳ mục, gửi anh Gaiô thân mến, người mà tôi thật sự quý mến”

2- “Vua Alêxanđê, con vua Philípphê, người Makêđônia, xuất thân từ đất Kíttim, đã đánh bại Đariô”

3- “Xưa ở đất Út có một người…”

4- “Năm thứ ba, đời vua Giơhôgiakim cai trị xứ Giuđa, vua xứ Babylon là Nabucôđônôxo đến bao vây thành Giêrusalem”

5- “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ”

6- “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”

7- “Phúc thay người chẳng nghe theo bọn ác nhân”

8- “Đức Chúa gọi ông Môsê, và từ Lều Hội Ngộ, Người phán với ông”

GIẢI ĐÁP CÂU ĐỐ KINH THÁNH

Tháng 3-2014

 

1. b (St 8,6-7)2. c (Kh 6,8)3. c (1 V 17,6)4. d (Tl 15,4)  5. a (2 V 2,24)  6. b (Ds 22,30-35) 7. b (Ds 21,9)

 

Những người được nhận phần thưởng CĐKT tháng 3-2014:

  1. An Thị Ngọc Oanh, Gx. Đài Đức Mẹ, Tân Hiệp
  2. Đào Duy Chính, Gx. Trung Thành, Kênh 8 phố
  3. Đa Minh Nguyễn Quang Tuệ, Gx. Tân Chu, Kênh 5A
  4. Maria Vũ Thị Nguyên Diễm, Gx, Tân Bình, Kênh Đông Bình
  5. Maria Võ Thị Mười, Gx. Năng Gù, Châu Thành, An Giang

 

* Địa chỉ liên hệ với người phụ trách:

                        - Email: jostrung.trung@gmail.com

                        - Điện thoại: 01672576777

                        - Bưu điện: Lm. Ngô Quang Trung

Nhà thờ Tân Bình, Đông Bình, Tân Hiệp, Kiên GiangS

 

THÔNG BÁO

Về cuộc Đố Vui Kinh Thánh trực tiếp 2014

 

Nhằm trao đổi kinh nghiệm và khích lệ nhau học hỏi Lời Chúa, Ủy Ban Kinh Thánh sẽ tổ chức Cuộc Thi Đố vui Kinh Thánh trực tiếp.

Một số điểm cần biết như sau:

1. Buổi Đố vui được tổ chức vào ngày Chúa nhật 22.6.2014 tại Đài Đức Mẹ, Tân Hiệp.

2. Không giới hạn điều kiện tham dự (tuổi tác, trình độ văn hóa, giới tính, thành phần…)

3. Các tài liệu chuẩn bị gồm:

- Giúp học Tin mừng theo thánh Gioan;

                        - Giáo lí về Gia đình, các số từ 2201-2233

Hai tài liệu trên được tải trên các trang mạng www.gplongxuyen.org, hoặc nhận nơi cha phụ trách.

4. Phần đăng kí ghi tên (tên thánh, tên họ, tên gọi), tuổi, số điện thoại (nếu có), thuộc giáo xứ nào. Xin gửi về địa chỉ của người phụ trách mục Câu đố Kinh Thánh trong tập tĩnh Tâm trước tháng sáu. Mời các bạn đăng kí sớm và phổ biến cho những người khác cùng tham dự!

            Sau cùng, chúng con kính nhờ quý cha giúp phổ biến thông báo này, đồng thời khích lệ và tạo điều kiện cho các em tham dự chương trình huấn giáo bổ ích này. Xin chân thành cám ơn!

 

 

 
 

 

 

 

Giáo đường chiều mênh mang

Chúa gục sâu thê thiết.

Tim nhói đau da diết

Như Chúa chịu đâm thâu

Đời trăm đắng bể dâu

Ta hận đời lầm lỗi.

Giot lệ này thống hối

Giot lệ này ăn năn

Tìm về những  tháng năm

Vui bến bờ hạnh phúc.

                     

NHẬT QUANG

 

 

 

 

TRỞ VỀ

 

Ta tìm về lối cũ

Rêu mòn phủ dấu chân

Bao năm kiếp phong trần

Đắm mình trong vụng dại.

Ta còn gì tìm lại

Một mảnh vắng cô đơn

Ngơ ngác bóng hoàng hôn

Xô nắng chiều hiu hắt.

Lệ sầu dâng khóe mắt

Ta tìm dấu ăn năn

 

 

 

 

 

 


GIÁO LÝ

Thiên Chúa và Trần Thế

(Gott und die Welt)

Joseph Ratzinger. Biển Đức XVI

Phạm Hồng Lam dịch

 

Chuỗi mân côi

 

Giáo Hội đã đặt ra một lời kinh đặc biệt có liên quan trực tiếp với bí ẩn của Đức Maria, đó là chuỗi mân côi. Đó là một thứ kinh cầu đọc theo chuỗi từng hạt một: bắt đầu với dấu thánh giá (giáo huấn đức tin); tiếp theo là kinh Kính mừng nói lên ba đức hạnh thiên chúa: tin, cậy, mến (giáo huấn sống); bộ chuỗi gồm ba sự vui, thương, mừng; mỗi sự suy gẫm về năm “bí mật” của đức Mẹ với Chúa Giêsu, đây là những công thức tóm gọn toàn bộ nội dung Tân Ước.

Những nhà tư tưởng và thần bí lớn mọi thời đều trân trọng bộ chuỗi, coi đó là nguồn sức mạnh tinh thần và là cánh cửa mở ra bao nhiêu khả thể khác. Ngày nay, một đàng chuỗi được xem là một thứ gì lỗi thời khó chịu, đàng khác nó được coi là một hứa hẹn thiêng liêng có thể nâng đỡ người ta trong cuộc sống thường nhật và giúp họ có được ý thức sống tốt hơn. Tôi chưa có kinh nghiệm, nhưng có lẽ mình phải bỏ nhiều thì giờ tập làm quen, rồi mới dần nhận ra được khả năng suy niệm với nó, như các nhà sư Tây Tạng vẫn làm. Có lẽ phải lần hàng trăm, hàng trăm và hàng trăm chuỗi rồi mình mới ngộ ra được; và ngược lại, mình cũng bắt đầu phải tập hiểu mình hơn và nhận ra đâu là tâm điểm của con người mình. Theo hồng y, đâu là cái bí ẩn của bộ chuỗi?

Nguồn gốc lịch sử bộ chuỗi có từ thời trung cổ. Thời đó, kinh cầu hàng ngày là các Thánh Vịnh. Nhưng hầu hết dân thời đó mù chữ nên không thể đọc được Thánh Vịnh của Kinh Thánh. Vì vậy phải có một Thánh Vịnh thích hợp cho họ, và người ta đã gặp được kinh Kính mừng, trong đó chứa đựng những bí ẩn về cuộc đời Đức Giêsu Kitô, và người ta đã xếp lời kinh đó tiếp nhau như xâu chuỗi. Những lời kinh này, khi đọc đi lặp lại trong tinh thần suy niệm, có tác dụng làm con người an tâm, và càng bám vào lời kinh khi đọc, nhất là bám vào hình ảnh Mẹ và hình ảnh Đức Kitô trong đó, tâm hồn con người tìm được nỗi yên tĩnh và giải thoát và hướng được lòng lên cùng Chúa.

Trên thực tế, chuỗi mân côi nối ta vào cái hiểu biết và kinh nghiệm cội nguồn, đó là sự lặp đi lặp lại. Lặp đi lặp lại là một phần của cầu nguyện và suy niệm, và nó cũng là một thứ nhịp điệu đưa ta vào yên tĩnh, nghỉ ngơi. Không nhất thiết phải suy nghĩ từng chữ khi đọc, nhưng trái lại cứ thả hồn đi vào nhịp đều đều, đọc qua đối lại của lời kinh. Lại nữa, lời kinh cũng đâu phải là không có nghĩa. Nó làm hiện ra trước mắt và tâm ta những hình ảnh và viễn kiến lớn, nhất là hình ảnh của Maria, và qua Mẹ, là hình ảnh của Chúa Con. Người dân thời đó phải làm lụng nặng nhọc, họ không thể vận dụng trí tuệ nhiều khi cầu nguyện. Trái lại, họ cần một lối cầu kinh giúp họ an tâm, và cũng giúp họ quên đi những âu lo, và mang lại an ủi và ơn lành cho họ. Tôi nghĩ, cái kinh nghiệm cội nguồn của lịch sử tôn giáo đó: kinh nghiệm về sự lặp đi lặp lại, về nhịp điệu và về lời kinh tiếng hát đọc chung này có tác dụng ủi an và giải thoát. Lời kinh đọc chung lan toả đầy không gian, nâng tôi lên, nó không làm cho tôi khó chịu, nhưng đưa tôi vào lắng đọng tâm hồn. Kinh nghiệm cội nguồn đó đã trở nên một thứ gì hoàn toàn Kitô giáo, khi, trong khung cảnh mẹ Maria và với hình ảnh Đức Kitô này, nó giúp con người cầu nguyện một cách thật đơn giản, nhưng dù vậy, lời kinh vẫn thấm được vào hồn, nó vượt lên trên vòng trí thức, vọng vào hồn và toát ra bằng lời.

Ngài có lối lần chuỗi nào khác lạ không?

Tôi lần cách rất đơn giản, giống như cha mẹ tôi đã làm. Cha mẹ tôi rất thích lần chuỗi. Về già, ông bà lại càng thích lần hạt. Càng về già, người ta càng ít khả năng làm những chuyện trí óc lớn, càng cần một nơi trú ẩn tâm hồn, và nhất là càng muốn được hoà chung vào lời cầu của Giáo hội. Và tôi đã cầu nguyện giống như ông bà đã làm.

Nhưng cầu thế nào? Ngài đọc một hay cả ba chuỗi?

Không, ba chuỗi thì nhiều quá, tôi là người vọng động, nên dễ bị chia trí. Tôi chỉ đọc một, hoặc thường là hai hay ba chục thôi, vì rồi có thể lại làm một cái gì khác để khỏi chia trí, để được yên tĩnh, lấy lại tỉnh táo đầu óc. Vì thế, cả chuỗi thì nhiều quá.

Câu hỏi cuối của phần này: Phải cần bao nhiêu thời gian người ta mới có thể hiểu được đôi chút về những bí ẩn của đức tin, và cả về nghệ thuật tin?

Mỗi người mỗi khác. Có những người rất dễ lắng đọng tâm hồn. Có những kẻ khác khó hơn. Nhưng quan trọng là không được bỏ cuộc, phải kiên trì. Và rồi người ta từ từ sẽ thấy mình lớn lên trong đó. Dĩ nhiên có những thời điểm thuận lợi, mà cũng có những lúc khô khan. Có những lúc mình thật dễ bị đánh động và bắt đầu thấy được đôi chút, nhưng rồi lại có những lúc rất khó khăn. Điều quan trọng trong tiến trình lớn lên của tinh thần này, là không phải chỉ biết cầu nguyện và để tâm vào đức tin những khi mình muốn và cảm thấy thuận lợi mà thôi, nhưng phải giữ kỉ luật. Guardini đã luôn nhấn mạnh điểm này. Nếu chỉ biết cầu nguyện theo hứng thôi, thì đức tin có thể mất. Đức tin cũng cần kỷ luật trong thời hạn hán, có như thế nó mới âm thầm đâm rễ. Cũng giống như cây cỏ vẫn âm thầm tăng trưởng trong cánh đồng mùa đông. “Bánh mì mọc giữa mùa đông”, nhà văn nữ Ida Friedericke Gorres đã nói như thế.

Và người ta nên bắt đầu cầu nguyện bằng gì? Bằng các câu hỏi?

Chẳng bao giờ nên chỉ bằng suy tư mà thôi. Bởi vì nếu ta nhìn Chúa qua ống nghiệm suy nghĩ và muốn hiểu Ngài bằng thuần lí thuyết, thì ta sẽ thất bại. Phải luôn liên kết câu hỏi với hành động. Pascal có lần nói với một người bạn không tin: Trước hết, hãy làm theo những gì người có đức tin làm, cho dù những cái đó xem ra vô lý đối với bạn. Tôi nghĩ, ở điểm này mỗi người có cách riêng của mình. Lịch sử cho thấy, có nhiều người nhìn ra cánh cửa đức tin từ nơi Maria. Nhiều người khác đã thấy được điểm khởi đầu nơi Đức Kitô, qua việc đọc Tin Mừng. Tôi cho rằng, đọc Tin Mừng luôn luôn là một cách để bước vào niềm tin. Nhưng không phải đọc như kiểu mấy nhà sử đọc, họ chẻ bản văn ra để tìm xem câu này bắt nguồn từ đâu, ý kia từ đâu, nhưng đọc trong tinh thần hướng về Đức Kitô, bằng cách luôn biết chuyển vào cầu nguyện khi đọc. Tôi cho rằng có một tương quan qua lại trong các nhịp bước – đôi khi cũng là bước vấp ngã – giữa sống đạo thực hành và việc tìm kiếm trong suy tư. Đức tin không bao giờ đứng trơ trọi một mình, nhưng luôn đi tới với những người tin; những người này hiểu tôi, có thể họ cùng ở trong một hoàn cảnh với tôi, và nhờ thế một càch nào đó có thể giúp đỡ, dẫn dắt tôi. Đức tin luôn lớn lên trong cái chúng-ta. Ai chỉ muốn tin một mình, thì người đó đã bước sai ngay từ đầu.

(Còn tiếp).

 

 

 


CHUYÊN ĐỀ GIA ĐÌNH

 

 

GIA ĐÌNH

SỐNG ĐỨC KHÓ NGHÈO

 

Khi nói đến đời sống khó nghèo, người ta thường chỉ nghĩ đó là đời sống dành cho những người đi tu, khấn hứa sống đời khó nghèo. Thực vậy, khấn giữ sống khó nghèo là một trong ba lời khấn mà những người đi tu phải khấn giữ, nghĩa là sống một trong ba lời khuyên Phúc Âm. Thế vậy, còn những người không đi tu thì có phải khấn giữ đời sống khó nghèo? Chắc chắn là không phải khấn giữ, nhưng thiết nghĩ cũng phải sống một đời sống khó nghèo. Điều này nghe có vẻ trái ngược, nhất là trong một xã hội mà tất cả mọi người dường như luôn cố gắng để kiếm thật nhiều tiền, đặt mọi giá trị đời sống dựa trên tiền bạc. Tuy nhiên, thực tế thì điều này chẳng trái ngược chút nào khi ta hiểu được thế nào là sống đời khó nghèo theo tinh thần Phúc Âm.

Thế nhưng câu hỏi đặt ra là: Phải chăng sống khó nghèo là không cần tiền bạc? Chắc chắn không phải vậy. Vì tôi sống, thì tôi cần phải ăn, cần phải uống, cần phải mặc và cần phải có những chi tiêu. Đôi khi có những thứ tôi tự làm ra được, nhưng có những cái tôi cần phải có tiền để mua, vì tôi không tự làm ra được. Tiền rất cần cho đời sống vật chất của tôi. Thế nhưng tôi có tiền hay không có tiền, điều đó không quan trọng cho bằng thái độ của tôi đối với tiền bạc. Tôi coi nó như ông chủ để rồi đội lên đầu; hay tôi chỉ coi nó như là phương tiện giúp tôi đáp ứng một số nhu cầu cần thiết cho cuộc sống. Đây mới là điều quan trọng, và nó thể hiện được đời sống khó nghèo của tôi theo tinh thần Phúc Âm.

Ở đây, xin được đưa ra một vài suy nghĩ, theo chủ quan, tôi cho là thể hiện một đời sống khó nghèo theo tinh thần Phúc âm mà các gia đình cần phải sống để Phúc Âm hóa gia đình mình, hầu có thể Phúc Âm hóa các gia đình.

1. Không Kiếm Tiền Bằng Mọi Cách

Tuy đồng tiền cần thiết cho một số những nhu cầu của đời sống vật chất, nhưng không vì thế mà tôi kiếm tiền bằng mọi cách, bất chấp mọi thủ đoạn. Trong thực tế, đã có những người vì đồng tiền mà đánh mất nhân phẩm, bỏ qua những giá trị đạo đức; dùng mọi thủ đoạn làm hại người khác để đạt được đồng tiền như trộm cắp, lọc lừa. Dẫu vậy, cũng có rất nhiều người thà chấp nhận khổ, chấp nhận thiếu thốn về vật chất tiền bạc chứ không chịu đánh mất nhân phẩm. Cụ thể đã có những người thà nghèo chứ không buôn gian bán dối; không nhận hối lộ, không tham lam, lường gạt.

2. Tiết Kiệm Trong Chi Tiêu

Tiết kiệm là không phung phí, không lãng phí mà cũng không keo kiệt, không hà tiện. Không lãng phí là tôi không chi xài cho những gì không cần thiết, dù chỉ là một đồng cũng không chi. Tôi chỉ chi xài vừa đủ trong chừng mực về khả năng tài chánh của mình cho phép, và nếu đó là thực sự cần thiết. Không keo kiệt hà tiện là tôi sẵn sàng chi tiêu khi cần thiết và dù cho phải chi bao nhiêu đi nữa. Ví dụ: Khi bệnh tật ốm đau cần phải chữa trị; hoặc khi cần phải chi cho đồ dùng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày, hay những đóng góp vì lợi ích xã hội, con người. Tóm lại, sống tiết kiệm là tôi không phung phí tiền bạc vào những chuyện vô bổ như Người Con Hoang Đàng trong Lc15,11-32; và cũng không quá hà tiện, keo kiệt như “ Lão Hà Tiện” trong truyện dân gian: Chết chỉ vì một đồng xu rơi xuống sông; nhưng tôi biết sử dụng đồng tiền thế nào cho hợp lý, mang lại lợi ích cho bản thân mình và cho tha nhân.

3. Chia Sẻ

Sống nghèo khó là tôi biết chia sẻ những gì mình có với người khác, nhất là những người nghèo khổ; biết thương cảm, chạnh lòng trước những thiếu thốn của người khác và sẵn sàng chia sẻ với họ như bà goá nghèo, trong sách Các Vua quyển thứ nhất, chương 17, câu 7-15, đã sẵn sàng chia sẻ cho Elia chút bột và chút dầu cuối cùng trong hũ bột và bình dầu của bà. Ngược lại với tinh thần khó nghèo của bà góa nghèo, người phú hộ giàu có, trong Tin Mừng Luca chương 16, câu 19-31, lại là một con người không biết chia sẻ với những người nghèo khổ. Ông ta chỉ lo hưởng thụ những gì ông ta có, mặc dù chung quanh ông còn biết bao con người đang đói khổ, đang mong muốn được ông chia sẻ cho vài miếng bánh vụn.

Tôi nghèo nhưng nhân cách của tôi không nghèo, nếu tôi biết sống “nghèo cho sạch rách cho thơm”. Nhưng nếu vì nghèo, vì không có tiền mà tôi làm những điều bất chính để kiếm tiền, thì khi đó tôi làm cho nhân cách của tôi trở nên nghèo, và đánh mất  nhân cách của mình. Tôi giầu, có nhiều tiền, chưa phải là vinh dự và là vật bảo đảm cho cuộc sống của tôi, chưa phải là nhân cách của tôi nếu tôi sử dụng đồng tiền không đúng, sử dụng cách phung phí hoặc quá hà tiện, không biết chia sẻ. Tôi giầu có về tiền bạc và tôi chỉ được hạnh phúc khi tôi biết sử dụng đồng tiền đúng cách và biết chia sẻ với những người nghèo khổ đang cần đến sự giúp đỡ của tôi. Đây mới là điều thể hiện nhân cách và là nhân cách của tôi, và nói lên sự giầu có đích thực của tôi, và nó tồn tại mãi.

Thực vậy, dưới ánh mặt trời thì tất cả chỉ là phù vân (x. Gv 1,2-3), và cũng theo sách Giảng Viên: “Người thích tiền bạc có bao nhiêu cũng không lấy làm đủ; kẻ bo bo giữ của chẳng thu được lợi lộc gì. Điều ấy cũng chỉ là phù vân!” (Gv 5,9). Hơn nữa, “có kẻ được Thiên Chúa ban của cải, tài sản và vinh dự. Người ấy muốn gì được nấy, chẳng thiếu thốn chi. Nhưng Thiên Chúa không cho người ấy hưởng những thứ đó, mà lại cho một người khác hưởng. Đó cũng là một chuyện phù vân.” (Gv 6,2)

Dẫu biết rằng, tiền của vật chất chỉ là phù vân, nay còn mai mất, và chỉ có nhân cách sống, tình thương yêu và lòng bác ái mới tồn tại, nhưng dường như con người luôn có khuynh hướng hướng về tiền của vật chất để rồi đánh mất nhân phẩm của mình, sống vô cảm, vô tâm trước sự nghèo khổ của người khác. Vậy, các gia đình Kitô giáo phải sống thế nào trong một bối cảnh xã hội mà dường như mọi giá trị bị tục hóa và đặt nền tảng đời sống trên tiền bạc để có thể Phúc Âm hóa đời sống gia đình?

Để có thể Phúc Âm hóa đời sống gia đình trong bối cảnh thế giới ngày nay, điều quan trọng và cấp bách nhất trong hoàn cảnh hiện tại là các gia đình Kitô giáo phải sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm. Vậy, các gia đình Kitô giáo có dám thực hiện cuộc lội ngược dòng? Nghĩa là các gia đình có dám sống tinh thần khó nghèo của Phúc Âm để làm chứng cho Chúa trong thế giới hôm nay?

Hương Quê

 

HIẾU TỰ NGÀY NAY

Đức An

 

            Nhìn vào xã hội ngày nay, ta có cảm nghĩ chủ nghĩa thực dụng đang làm con người thay đổi, sói mòn tinh thần đạo đức. Bởi thế, cuộc sống đặt ra cho ta những vấn đề  rất gay gắt về giá trị của gia đình. Các giá trị nền tảng về truyền thống dân tộc lẫn đức tin hầu như đang bị đảo lộn và khủng hoảng. Con người được đánh giá theo mức độ làm được nhiều tiền hay ít. Những khác biệt về thế hệ được đặt ra, biến thành trở ngại cho sự nghiệp của tuổi trẻ. Người già trong gia đình đôi khi là yếu tố làm mất hạnh phúc của con cháu.

            Chỉ cần lướt qua tin tức trên báo chí, chúng ta có thể nhận ra sự êm ấm của gia đình giữa cha mẹ với con cái, giữa ông bà với con cháu đang bị tàn phá bởi chủ nghĩa thực dụng, tính ích kỷ và vật chất của những người sống ngày nay. Họ quan niệm chữ hiếu gần giống bọn Pharisêu ngày xưa: Dùng tiền chăm sóc cha mẹ già, hoặc gửi vào viện dưỡng lão. Họ hành động thiếu hẳn lòng hiếu thảo “thờ cha kính mẹ”. Họ viện lý do cho là chính đáng: Vì hoàn cảnh, thời thế bắt buộc. Đôi khi họ nghĩ: Bổn phận đối với cha mẹ ông bà là một gánh nặng, là trở ngại của cuộc sống. Bởi những tư tưởng đó nên dễ phát sinh mâu thuẫn giữa các thế hệ sống chung.

            Với những suy nghĩ nhất thời do những con người đã quên đi cội nguồn, và truyền thống dân tộc. Họ chịu ảnh hưởng văn hoá tây phương đề cao chủ nghĩa cá nhân, trong khi văn hoá Việt Nam đã được hình thành từ ngàn xưa, biết trọng tình trọng nghĩa, trong đó chữ hiếu là quan trọng nhất: Trai thời trung hiếu làm đầu. Thảo hiếu không những là tình cảm luân lý tự nhiên, mà còn là giá trị thiêng liêng của đạo làm người. Thể hiện lòng hiếu thảo trước là nhớ công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ từ tấm bé đến trưởng thành: Công cha, nghĩa mẹ cao dày, cưu mang trứng nước những ngày còn thơ. Trước những công ơn trời bể của cha mẹ, các con phải biết đền đáp cho đạo làm con: Một lòng thờ mẹ kính cha. cho trọn chữ hiếu mới là đạo con

            Với cuộc sống xã hội ngày nay, chúng ta không lạ gì một số người đã suy nghĩ và hành động theo thị trường. Vì thế, muốn xây dựng một gia đình đạo đức thật khó. Bởi trước khi kết hôn, đôi lúc họ đã sống theo bản năng vượt giới hạn. Vấn đề đó trách nhiệm phần lớn nơi cha mẹ: Không giáo dục con trẻ, để chúng quá tự do theo ý riêng khi trưởng thành chúng ảnh hưởng chủ nghĩa tự do  cá nhân, rồi có chuyện xảy ra cha mẹ lo lắng để chúng kết hôn sớm hơn khỏi mang tiếng. Bởi thế, chúng thường lạm dụng làm ra chuyện đã rồi đẻ ép cha mẹ chiều theo. Đó là quan điểm sống chung của xã hội hiện tại. Ngay cả tại những miền quê, cuộc sống ngày nay đã khác xưa, thế hệ của con người hiền lành chất phát đã đi vào quá khứ, nhường cho ánh sáng văn minh đô thị xâm lấn, làm đảo lộn cuộc sống bình dị xưa. Con người bị cuốn hút theo trào lưu, có thể nói: còn tệ hại hơn vị chủ nghĩa thực dụng và tự do  cá nhân. Không lạ gì, bởi làn sóng ào về quá mạnh không kịp dè chừng, nên dễ bị cuốn vào vòng xoáy đam mê. Giới trẻ đâu đã đủ phán đoán, thấy lạ, hấp dẫn theo ngay. Cũng bởi thế, tinh thần đạo đức mờ nhạt dần, giữ đạo theo luật bắt buộc, cho việc phạm tội là bình thường.

            Hiện trạng nêu trên ngày càng làm băng hoại thế hệ con cháu chúng ta. Phải chăng đó là chước mốc của chúa quỷ giăng ra thành mê hồn trận, nhận chìm con cháu chúng ta vào chốn âm ty. Biết vậy, không lẽ chúng ta đành tâm chỉ đứng nhìn sao? Nhưng cứu chúng bằng cách nào đây? Hãy theo gương bà ngoại đạo xứ Syria miền Canaan, bà đã cầu xin Chúa Giêsu chữa con bà bị quỷ ám. Vâng, con chúng ta cũng đang bị ma quỷ khống chế, chỉ có ơn Chúa mới cứu chúng thoát tay quỷ dữ. Khi các con đã thoát khỏi sự khống chế của hoả ngục, chúng ta sẽ nhận ra được một nền văn hoá đang ló rạng thấm nhuần Tin Mừng, và sự phán đoán của chúng không còn bị trệch hướng, và công lý được thăng tiến ngay trong tâm hồn chúng.

 


 GIÁO DÂN

 

LÀM CHA TRONG GIA ĐÌNH

Đóa Hoa Vô Thường

 

Đang mải suy tư về đề tài “Tình Cha” cho số báo Tĩnh tâm tháng 4, thì bất chợt tôi bị thu hút bởi tiếng hát vang lên từ đầu máy của nhà hàng xóm: “Bố là tàu lửa, bố là xe hơi. Bố là con ngựa em cưỡi, em chơi. Bố là thuyền nan cho em vượt sóng. Bố là sông rộng cho thuyền em bơi…”

Hình như trong con mắt của nhiều trẻ thơ, làm bố là như thế đó. Bố là tất cả, là nơi nương náu an toàn cho những đứa con, dù nó còn nhỏ hay đã lớn khôn. Nhưng đó chưa phải là cái nhìn của nhiều ông bố, vì làm cha cũng thật lắm nhiêu khê. Nguyễn Chính Kết đã viết một bài khá dài về mảng đề tài “Nghệ thuật làm cha mẹ” được đăng ở www.simonhoadalat. Ở đây tôi chỉ xin lược trích một vài đoạn và nhìn vấn đề “làm cha” dưới góc độ của “Năm Phúc Âm hóa các gia đình” như Thư Chung 2013 mời gọi: “Trước cuộc khủng hoảng gia đình hiện nay, Hội Thánh nhận thấy cần phải tăng cường và canh tân mục vụ gia đình, phải xem mục vụ gia đình là hoạt động quan trọng, nối kết những kế hoạch và chương trình mục vụ của giáo xứ cũng như giáo phận” (số 5). Một trong những hướng mục vụ quan trọng để Phúc Âm hóa gia đình là phải thánh hóa người cha.

Thứ nhất, Làm cha là cả một nghệ thuật: Chúng ta thường được giáo dục để trở nên những người con tốt trong gia đình. Nhưng rất ít khi chúng ta được giáo dục để trở nên những người cha tốt. Thực vậy! Ở trường học, chúng ta được học rất nhiều môn, nhưng không có môn nào dạy ta nghệ thuật làm cha, là nghệ thuật mà ta phải áp dụng suốt cả cuộc đời, kể từ khi có con. Làm cha là một nghệ thuật hết sức quan trọng đem lại hạnh phúc cho bản thân ta, cho gia đình, cũng như cho tương lai con cái của ta. Tuy các lớp giáo lý hôn nhân và gia đình được mở ra, nhưng cũng chỉ giúp kiến thức cho các bạn trẻ phần nào mà thôi; học theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”. Rồi sau đó, chữ thầy trả thầy! Vì thế đa số thanh niên khi lập gia đình và có con, đã không biết phải đóng vai trò làm cha như thế nào cho sáng suốt và đem lại hiệu quả tốt đẹp nhất. Kinh nghiệm cho biết, thường chỉ khi đã làm cha rồi, ta mới bắt đầu học nghệ thuật ấy. Học theo kiểu nghề dạy nghề; tự học; học cách mò mẫm, phải tự suy nghĩ để tìm ra phương pháp. Hiện nay có khá nhiều sách nói về nghệ thuật làm cha, nhưng bản thân áp dụng được hay không, vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm thực hành.

Thứ hai: Dù làm cha nhưng ta vẫn bất toàn. Thực vậy! Đã là người thì đương nhiên ai cũng bất toàn.Chỉ có Thiên Chúa là Cha, là Đấng Thánh, là Đấng hoàn hảo (x. Mt 5,48). Ngoài Ngài ra, không có ai hoàn hảo. Vì thế trong cương vị làm cha, ta đừng đòi hỏi con cái mình phải hoàn hảo, phải làm ta hài lòng. Chính con người mình trong quá khứ cũng như hiện tại, đâu có hoàn toàn làm hài lòng cha mẹ ta! Chính ta cũng bất toàn như bao người. Và ta cũng đang cố gắng từng ngày “Phúc Âm hóa” bản thân mình cho nên tốt hơn.Tuy nhiên trong tư cách làm cha và vì tính cách sư phạm, ta có thể đòi hỏi con cái mình chút ít, để nhằm giáo dục chúng nên người và nên con Chúa, để động viên chúng cố gắng mỗi ngày một tốt hơn. Thế nhưng ta cũng phải chấp nhận ranh giới của sự bất toàn, mà cả ta và chúng khó lòng vượt qua. Vì cùng là thân phận con người yếu đuối như nhau, ta nên thông cảm với những tật xấu và khuyết điểm của con cái. Ta phải tập quảng đại chấp nhận con cái mình như chính Thiên Chúa hằng chấp nhận ta. Ta phải biết hài lòng về những cố gắng của con cái mình, về mức độ tốt đẹp mà chúng đã và đang nỗ lực từng ngày để đạt tới. Có như thế, tình nghĩa cha-con trong gia đình mới hài hòa, mới giúp nhau cùng Phúc Âm  hóa gia đình.

Thứ ba: Ta đừng quá kỳ vọng về con cái mình. Ai cũng có những giới hạn của mình. Giới hạn đó nằm ngay trong bản tính con người, tiềm ẩn trong ngọn nguồn gia tộc và gia đình, trong môi trường sống và hoàn cảnh giáo dục… Dù ta có cố gắng đến đâu mặc lòng, cũng khó lòng vượt qua được những giới hạn nghiệt ngã ấy. Vì thế trong cương vị làm cha, điều quan trọng là ta phải biết được đâu là giới hạn của mình và của con cái mình, để ta tôn trọng những giới hạn đó, để ta có thể đặt ra những mục tiêu thích hợp, giúp cho con mình đạt tới điều tốt hơn. Cha ông ta vẫn nói: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”. Thực vậy! Biết được tính nết từng đứa con là một điều không dễ dàng, dù đó là đứa con mình đã sinh ra và nuôi dưỡng từng ngày.Thông thường khi có con, ai cũng kỳ vọng con mình phải thành người thế này, thế kia. Ta mong con ta hơn ta, và ta sẵn sàng hy sinh tất cả để con ta đạt được những gì ta kỳ vọng nơi chúng. Điều đó không sai. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, những kỳ vọng đó lại vượt quá khả năng thực hiện của chúng. Thế là ta chán nản, thất vọng! Sao vậy? Có thể con mình không có nhiều tài năng và nghị lực bẩm sinh như ta. Có thể chúng có khuynh hướng khác với ta, tính cách khác ta, hoàn cảnh giáo dục và môi trường sống khác ta. Cho nên ta không thể lấy mình làm khuôn mẫu, làm thước đo để ép con mình phải giống như mình, hay phải đạt mục tiêu như mình mong muốn.

Kinh nghiệm cho thấy, nếu ta đặt lý tưởng quá cao cho con cái, thì vô tình ta lại làm cho chúng dễ mang mặc cảm tự ty và buồn phiền, khi chúng không đạt được điều mình mơ ước, khi chúng không thể vượt qua những giới hạn của bản thân. Rồi chính ta cũng sẽ cảm thấy thất vọng và chán nản về chúng. Từ đó tình nghĩa cha-con nhuốm một bầu khí nặng nề, đầy những áp lực tâm lý. Vậy thì cách tốt nhất là ta phải tập quảng đại chấp nhận con cái mình như chính Thiên Chúa hằng chấp nhận ta. Ta phải biết hài lòng về những cố gắng của con cái mình, hài lòng về mức độ tốt đẹp mà chúng đã và đang nỗ lực từng ngày để đạt tới. Tích cực hơn, ta nên cầu nguyện cho chúng. Xin Thiên Chúa ban thêm sức mạnh, để chúng có khả năng cố gắng nhiều hơn nữa. Chỉ có Thiên Chúa mới có khả năng biến đổi tâm hồn mỗi người, trong đó có ta và con cái của ta. Có như thế, tình nghĩa cha-con trong gia đình mới hài hòa, mới giúp nhau cùng phúc âm hóa gia đình.

Khi số báo Tĩnh tâm này đến tay người đọc, thì Mùa Chay “Năm Phúc Âm hóa các gia đình” cũng sắp kết thúc. Đây là lúc thuận tiện để những người làm cha nhìn lại vai trò của mình trong gia đình, để nhờ ơn Chúa, ta Phúc Âm hóa bản thân mình. Rồi từ đó, ta định hướng đời sống, giúp cho cả gia đình mình được nên thánh. Thư Chung 2013 viết: “Mục tiêu của Phúc Âm hóa là dẫn mọi người vào cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, trong Thánh Thần. Nhờ đó gặp gỡ Thiên Chúa Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta, và để đời sống mình được biến đổi theo tinh thần Phúc Âm. Như thế, trước hết chính bản thân chúng ta phải được Phúc-Âm-hóa, phải củng cố và làm mới lại đức tin của mình, rồi mới có thể giúp những anh chị em đã xa rời đức tin tái khám phá vẻ đẹp và ánh sáng đức tin” (số 3). Nếu người cha được thánh hóa, sẽ góp phần rất lớn để thánh hóa cả gia đình.

Xin kết thúc bài chia sẻ này với lời ca thật dễ thương và ngọt ngào của bé Xuân Mai: “Bố, bố là bờ đê cho em nằm ngủ. Bố, bố là phi thuyền cho em bay vào không gian…. Bố, bố là tất cả. Bố ơi, bố ơi, bố là tất cả. Bố là tất cả, bố ơi bố ơi. Nhưng lúc bố mệt, bố là… bố thôi!”. Và tôi mỉm cười: Con nịnh bố quá rồi đấy! Bố không tuyệt vời như vậy đâu.


TÌNH CHA CAO NGÚT NGÀN

VÀ MÊNH MANG VỢI VỢI

 

Kho tàng văn hóa của nhân loại đã để lại biết bao bài thơ, bài hát, câu chuyện, vở kịch, tư tưởng… thật ngọt ngào, sống động và sâu sắc, với muôn hình ảnh gần gũi lung linh sắc mầu tình cảm, nói lên sự hy sinh của người cha với con cái. Nét hy sinh đẹp rực rỡ đó, ta có thể bắt gặp ngay trong đời thường này. Điều đó gợi nhớ đến tình cảm thiêng liêng, công ơn trời bể của người cha: “Tình cha ấm áp như vầng thái dương/ Ngọt ngào như dòng nước trôi đầu nguồn/ Suốt đời vì con gian nan/ Ân tình đậm sâu bao nhiêu… Cha hỡi! Cha già dấu yêu” (Bài Tình Cha của Ngọc Sơn, ca sĩ Quang Dũng thể hiện). Ôi! Đẹp biết bao tình cha!

Tình cha con máu thịt huyết thống

Từ ngàn xưa, và cho đến mãi muôn đời sau, khắp mọi nơi trên trái đất, tình cảm thiêng liêng, thắm thiết giữa cha và con mãi mãi còn đó. Vì trên đời này có ai được sinh ra mà không có cha mẹ. Tình cảm, sự hy sinh của cha với con cái quả thật cao ngút ngàn. Tình cảm đó, rất đa dạng và phong phú. Tình cảm đó, được thể hiện tùy vào nền văn hóa của mỗi thời đại trong mỗi dân tộc.

Hình ảnh người cha chân trần, da sạm nắng, áo quần ướt đẫm mồ hôi, một nắng hai sương trên ruộng đồng, để tìm kiếm bát cơm đầy cho đoàn con ấm no, cho con ăn học. Ta bắt gặp hình ảnh đó ở những vùng nông thôn nghèo hẻo lánh, nơi các nước chậm phát triển. Hình ảnh người cha suốt tháng ngày luôn tay chân, với gần như chỉ có một loại công việc tạo ra sự nhàm chán, mong sao cuối tuần, cuối tháng lãnh lương để gia đình được ấm êm hạnh phúc; con cái được học hành đến nơi đến chốn. Ta bắt gặp hình ảnh đó trong những công trường; các nhà máy ở khu công nghiệp trong các nước phát triển công nghiệp. Hình ảnh người cha vạm vỡ nước da ngăm đen cùng với con tầu lênh đênh giữa biển khơi có khi cả một hai tháng, thèm khát mái ấm gia đình, mà không được, nên đành làm bạn với biển trời với  trăng sao mây gió với mong ước có được những mẻ lưới đầy cá, để tầu mau cập bến đem hoa lợi của một chuyến đi biển về, và nhìn được ánh mắt tươi vui, nụ cười hớn hở, cử chỉ thân thương nơi vợ con đang thấp thỏm chờ đón trong bờ. Đó là hình ảnh sinh hoạt nơi  những xóm chài ven bờ biển.

Và còn biết bao hình ảnh hy sinh trong công việc của bao người cha khác. Tất cả những người cha đó đều mong ước một điều: “Và, con hãy sống hơn cha đã sống một thời xa..” (Bài hát cha và con). Hay ít nhất cũng ngang bằng thế hệ cha ông. Muốn được như thế, người cha đã rút hết tâm can để dạy bảo con mình:  “Nhẹ nhàng ôm con và cha khẽ nói: này con yêu ơi! Con hay nhớ: Hãy nhớ lời cha sống cho nên người/ Và con ơi! chớ bao giờ dối gian, nghèo thì cho sạch, rách sao cho thơm…” (Tình cha, của Ngọc Sơn).

Tình cha con trong quan hệ thiêng liêng.

Người Kitô hữu ngoài người cha ruột thịt máu mủ, họ còn có một người cha thứ hai. Người cha đó, chính là vị Giáo Hoàng đang cai quản Hội Thánh, kế đến là vị Giám Mục sở tại và quí linh mục. Nếu người cha ruột thịt có công dưỡng dục sinh thành về phần xác, thì người cha thứ hai đã dưỡng dục họ về phần linh hồn. Đây quả là một điều hệ trọng nhất đối với niềm tin và đời sống của mỗi Kitô hữu. Vì mục đích tối thượng của cuộc sống mỗi người tín hữu là mong ước sau khi chấm dứt cuộc sống ở đời này, linh hồn họ sẽ được về hưởng phúc đời đời bất diệt với Thiên Chúa. Chính vì lẽ đó, mà cái tình giữa người cha thiêng liêng với các tín hữu cũng thật cao vút và mênh mang vời vợi. Làm sao ta có thể diễn tả hết sự sâu lắng và mênh mang trong lãnh vực tình cảm cao quí và thiêng liêng này! Cảm tạ Chúa muôn vàn, Ngài đã ban cho Giáo Hội từ bao ngàn năm đến nay vẫn có biết bao người cha đã dâng hiến đời mình cho Chúa, hy sinh cuộc sống riêng tư của mình để sống hết mình “có mùi chiên” với đoàn chiên là các tín hữu mà các ngài coi sóc. Nơi đó, có thể là hang cùng ngõ hẽm, tối tăm và nguy hiểm; nơi đó có thể là rừng sâu nước độc, tận cùng của trái đất; nơi đó là vùng trời xa lạ khác xa với quê hương của các ngài. Nhờ ơn Chúa, các ngài đã vượt qua mọi gian nan đau khổ, vượt qua mọi thử thách bách hại kể cả phải hy sinh mạng sống của mình để chỉ với một mục đích, một mong ước duy nhất là giúp cho nhiều người nhận biết Chúa để họ thờ phượng và tôn vinh Ngài; và họ được cứu rỗi nhờ công nghiệp của Chúa qua máng ban ơn là các ngài. Các ngài đã giới thiệu Chúa đến mọi người qua chính đời sống chứng nhân sáng lạn của các ngài. Ôi! cao quí và đẹp biết bao tình cha thiêng liêng vô vàn đó! Biết lấy chi báo đền!

Những chấm đen trong tình cha con

Cuộc đời không phải luôn thuận buồm xuôi gió; không phải mọi việc đều diễn ra như ta mong ước; không phải tất cả mọi người cha đều hết lòng lo cho con cái, biết dạy bảo con cái. Nhiều bậc làm cha đã đi theo sở thích riêng tư của mình để lại đoàn con thơ dại, bơ vơ, lạc lõng giữa đời, gia đình sẽ tan hoang “Con mất cha như nhà mất nóc”. Lại có những cách dạy con đi ngược lại luân thường đạo lý của cha ông để lại, quá chú tâm đến đời sống vật chất, cuốn theo chủ thuyết thực dụng, không hề biết và mang ơn nguồn cội tổ tiên ông bà và trời đất. Họ chỉ sống vì tiền, vì của cải vật chất chứ không có chút tình, một xã hội duy vật chất đang phủ đầy và truyền bá trên quê hương ta. Điều đó đã tạo ra những gia đình tan hoang, một xã hội bất ổn về mọi mặt. Và ngược lại không phải tất cả mọi người con đều thảo hiếu. Cuộc đời đâu đó đã diễn ra những điều đau lòng, đau đáu trong tâm hồn mẹ cha khi tuổi về già. Đôi khi những nỗi đau đó đã trở thành bi kịch trong cuộc đời. Dân gian có câu: “Một mẹ nuôi được mười con, nhưng mười con không nuôi được một mẹ”. Những cảnh đó không phải là hiếm trong xã hội hôm nay. Nhiều cha mẹ đã tủi nhục khi lưng còng, da mồi, chân run, của cải đã hết sạch, năm bảy đứa con chẳng đứa nào chịu nuôi nấng phụng dưỡng, chúng đùn đẩy nhau. Lại có những cha mẹ ở trong viện dưỡng lão chỉ mong có bữa cơm gia đình trong ngày tết thiêng liêng của dân tộc, con cái cũng không cho về.

Đẹp mãi tình cha.

Để tình cha mãi mãi ngời sáng, điều đó đòi buộc những bậc làm cha phải tuân giữ những điều chính Chúa đã truyền dạy. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo câu số 2222 đã dạy cho chúng ta: “Cha mẹ phải xem con cái của mình như những người con của Thiên Chúa và tôn trọng chúng như những nhân vị. Họ phải dạy cho con cái biết chu toàn Luật Thiên Chúa, bằng cách cho con cái thấy chính họ cũng vâng phục thánh ý Cha trên trời”. Cha mẹ chính là thầy cô giáo đầu đời của con cái. Mái ấm gia đình cũng chính là ngôi trường đầu tiên đối với con cái. Việc các bậc làm cha giáo dục con cái là một việc bắt buộc và bất khả nhượng. Nếu việc giáo dục con cái được chu đáo, dù người cha có mất đi, thì cũng như chưa chết vì còn con cái là cuộc sống nối dài của mình:“Người cha có chết thì cũng như chưa chết, vì đã để lại đứa con giống như  mình”(Hc30, 4-5).Và muốn tình cha con tốt đẹp mãi, là con cái cần lắng nghe và tuân giữ những điều Chúa đã truyền dạy chúng ta. Trong sách Huấn Ca Chúa đã phán: “Con ơi, hãy chăm sóc cha con khi người đến tuổi già/ Bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi/ Người có lú lẫn con cũng phải thông cảm/ Chớ cậy mình sung sức mà khinh dễ người” (Hc 3, 12-13).Sau cùng, và trên hết,  Thiên Chúa chính là người Cha duy nhất của nhân loại, và tất cả mọi người từ Đông sang Tây đều là anh em với nhau.

 

Inhaxiô Đặng Phúc Minh


GƯƠNG SÁNG NƠI CHA

 

Vào một ngày nọ, có một ngôi nhà không may bị cháy. Mọi người tìm cách để chữa cháy trong lớp khói mù mịt. Sau ít phút, mọi người trong gia đình gần như được cứu thoát khỏi ngọn lửa. Nhìn xung quanh, người cha mới giật mình vì còn một đứa con trai đang bị mắc kẹt trên lầu. Tiếng kêu cứu của đứa con bắt đầu lớn dần, và sự nguy hiểm cũng đang ở sát bên đứa con trai của người cha. Trong bước đường gần như bế tắc, người cha gọi đứa con hãy ra lan can của cửa sổ để nhảy xuống. Đứa con trai hết sức lo sợ và không dám nhảy xuống. Người cha  kêu la và bắt con mình nhảy xuống vì dưới đất có cha đỡ rồi. Người con vừa khóc vừa lo sợ và nói: Nhưng con đâu có nhìn thấy cha ở đâu mà con nhảy xuống?. Người cha liền nói: Không sao, miễn là cha nhìn thấy con là được.

Một đứa trẻ khi bặp bẹ biết nói, đa phần mọi người trong gia đình dạy cho đứa bé câu nói đầu tiên là chữ Ba. Không biết tình cờ ngẫu nhiên hay cố ý khi dạy đứa bé câu nói mở miệng này. Người cha trong gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng, như trụ cột trong gia đình, hình ảnh người cha được ví như: con không cha như nhà không có nóc hay: Còn cha gót đỏ như son, đến khi cha chết, gót con đen sì.

Hình ảnh người cha vẫn in sâu vào tâm trí bạn và tôi là một sự kiên quyết, sự cứng rắn, nỗi vất vả, mái tóc bạc sớm bởi biết bao chuyện phải lo. Tình yêu của người cha dành cho con có vẻ rất âm thầm nhưng dạt dào, tuy không tỏ lộ ra bên ngoài nhiều, nhưng chứa đựng tất cả bên trong trái tim mình.

Lúc tôi còn bé, tôi vẫn thường nghe và thấy những người cha ngồi ru cho con ngủ, giọng ru không ngọt ngào êm dịu như người mẹ, nhưng cũng đủ tạo nên một giấc ngủ ngon cho con mình. Rồi cả những công việc lặt vặt trong gia đình người cha vẫn có thể tiếp giúp vợ mình.

Thực tế ngày nay cho bạn và tôi thấy. Hình ảnh người cha ngồi ru con thật hiếm và khó tìm thấy. Tuy nhiên, vai trò của người cha thật sự rất quan trọng, nhất là trong việc giáo dục, dạy dỗ con cái về phần trí thức và cả về đời sống đức tin. Một người cha guơng mẫu phải là người cha tạo được lòng tin cho con cái. Tạo được sự tin thưởng. Một nghị lực sống không quá nguyên tắc nhưng biết tùy thời cơ ứng biến, biết uyển chuyển đúng lúc, đúng người và đúng công việc. Như vậy mới giúp cho mình và con cái mình đi đúng đường, đúng cách và đúng mục tiêu. Bên cạnh đó người cha hãy dành tất cả tình yêu không phải êm ái, nhẹ nhàng như người mẹ nhưng là một tình yêu mãnh liệt, một tình yêu giống như của Chúa, một tình yêu dám chết cho người mình yêu.

Gia đình bạn và tôi đều có một người cha. Bạn và tôi hãy cầu nguyện thật nhiều cho cha của mình. Biết sống gần gũi với con cái, biết thông cảm tha thứ những lỗi phạm, biết yêu thương con cái với tất cả trái tim, biết dạy dỗ và hướng dẫn con cái mình đi đúng hướng, biết truyền lại cho con cái một nghị lực sống, biết vươn lên những khó khăn nhọc nhằn trong cuộc sống, đặc biệt là hình bóng người cha có một niềm tin vững mạnh. Từ đó, hình bóng người cha thân thương, đẹp đẽ và đầy cảm phục vẫn luôn in sâu vào tâm hồn bạn và tôi. Xin thánh Giuse là người cha guơng mẫu chúc lành và nâng đỡ tất cả những ai đóng vai trò người cha trong gia đình Việt Nam nói chung và những người cha trong gia đình giáo phận Long Xuyên nói riêng. Để hình bóng người cha gương mẫu vẫn được thể hiện nơi cuộc sống hằng ngày trong năm Phúc Âm hóa đời sống gia đình 2014 này.

Vs. Lê Đình


CHA

 

Lớn lên trong đời ai cũng cần có sự đùm bọc và chăm sóc của cả cha lẫn mẹ, nhưng có lẽ mọi người đều có cảm nhận chung là mẹ luôn là người thân thiết và dễ cho chúng ta chia sẻ hơn là cha. Mẹ là một cảm hứng bất tận, một hình ảnh thi vị đã đi vào thơ ca và nghệ thuật hơn là hình ảnh người cha, trong khi “công cha như núi thái sơn” khó có thể cân đo bên nào nặng nhẹ.

Có thể mẹ vốn rất gắn bó với ta về mặt tình cảm, gần gũi từ thuở còn trong lòng, cho tới lúc con trưởng thành. Còn cha thì chăm sóc một cách độc lập, âm thầm nhưng lại là tấm gương cho con trong đời. Cha tượng trưng cho lý trí rắn rỏi, còn mẹ là tình cảm nhẹ nhàng, càng yêu mến mẹ ngần nào thì càng tôn kính cha ngần ấy. Theo Tâm lý học cho rằng trong tâm thức trẻ thơ lúc hình thành một phần nào đó đã được xây dựng theo hình mẫu người cha và khi trưởng thành trong mỗi người đều thấp thoáng hình ảnh người cha từ ngoại hình cho đến thói quen lẫn tính cách, đó là hình ảnh rất sống động mà ta dễ nhìn thấy, rằng ta đã từng lớn lên trong tình yêu thương của cha, người luôn nghiêm khắc và âm thầm dạy dỗ ta nên người. Không êm dịu như lời nói của mẹ, nhưng lời cha luôn là nhưng lời dạy khiến ta khắc cốt ghi tâm, không thể hiện rõ nét như mẹ nhưng trong ánh mắt người cha luôn ngập tràng tình thương và sự ấm áp. Người ta thường nói: Người cha có thể không phải là một doanh nhân, hay nhà khoa học, hay một vị anh hùng của dân tộc, thì dấu ấn nơi họ cũng đủ để lại trong con cái là khuôn vàng thước ngọc cho con cái nên người. “Dù cha không hoàn hảo nhưng cha sẽ luôn yêu thương con theo cách hoàn hảo”

Thiên Chúa Ngài phán: “Hãy hết lòng với cha con”. “Thiên Chúa suy tôn người cha trong con cái”. “Ai yêu mến cha mình thì đền bù tội lỗi, thì sẽ như người thu được một kho tàng. Khi cầu xin, người ấy sẽ được nhậm lời, Ai thảo kính cha mình, sẽ được sống lâu dài. Ai vâng lời cha, sẽ làm vui lòng mẹ. Hỡi kẻ làm con, hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi, chớ làm phiền lòng người, khi người còn sống. Nếu tinh thần người sa sút, thì hãy rộng lượng, ngươi là kẻ trai tráng, chớ đành khinh dể người. Vì của dâng cho cha, sẽ không rơi vào quên lãng”.

Cha ơi! Khi cha về già vầng trán ấy sẽ đầy những nếp nhăn, mắt sẽ kèm nhèm, nhưng con sẽ không khó chịu và bực bội, vì khi con còn nhỏ, khát sữa lúc nửa đêm, cha đã nở nụ cười mừng rỡ khi pha sữa. Tấm áo hạt cơm ngày hôm nay của con là sự góp thành của nhiều đêm suy tư lo lắng trên bàn làm việc. Khi cha trở nên lạc hậu và hay nói năng khó nghe, con sẽ không phớt lờ lời ấy, vì cha là người đầu tiên dạy con mở máy tính, người đầu tiên dạy con sử dụng điện thoại, người đầu tiên đã dạy con tiếp xúc với công nghệ và là người đầu tiên dạy con bài học làm người. Nếu cha kiệt sức với tuổi già con sẽ vui vẻ chăm sóc, vì khi thơ ấu cha đã chà lưng mỗi khi con khó ngủ, săn sóc mỗi đêm dài con sốt cao. Tuổi trẻ này được thắm lên là từ cha đấy, tri thức bằng cấp con có được là do sự gắng công của những ngày đưa con đến trường, trên chiếc xe cũ, dưới bờ vai rộng là những lời dạy bảo nhẹ nhàng nhưng mãnh liệt trong tim. Sự im lặng của cha trong những lúc con phạm lỗi và vấp ngã đã mang lại sức mạnh để con tự lập đứng lên và vực dậy. Thật hạnh phúc vì con có một người cha!

 

Thiên Bình GX Bình Minh

 

 


GIÁO DỤC

 

DẠY TRẺ NÓI THẬT

Nguyễn Đình Phấn

 

“Chân thiện mỹ” luôn là giá trị phổ quát mà trước hết trên hết là chân thật. Không còn trung thực mọi ranh giới sẽ bị xóa nhòa và chẳng ai nói trước được việc gì sẽ xẩy ra. Khi được hỏi phải dạy gì cho trẻ, giáo sư Ngô Bảo Châu không ngần ngại trả lời: Trung thực, dũng cảm, trái tim mở rộng. Ở Mỹ sau một cuộc tọa đàm giữa giáo viên và phụ huynh với chủ đề: Dạy gì cho trẻ, câu đúc kết được đưa ra là: Xin các thầy dạy cho con chúng tôi sự trung thực, biết yêu. Thiếu trung thực đồng nghĩa gian trá ngự trị, hệ lụy là cuộc sống không minh bạch, thật giả lẫn lộn, điều thiện, điều tốt, cái đẹp chỉ còn là bức bình phong người ta lợi dụng để khỏa lấp những mưu mô xảo trá, ý đồ bất chính, thủ đoạn, dã tâm, tàn ác, từ đó đẩy tới phá vỡ niềm tin gây nỗi hoài nghi thường trực.

            Thói quen nói dối hình thành từ môi trường sống làm cho đạo đức tiếp tục băng hoại. Nhà văn Nguyễn Khải đã phải thốt lên: Tệ nói dối đang phát triển trong xã hội, nói dối bùng lên như một đại dịch và nói dối xứ mình đã thành lẽ sống. Làm sao cải thiện thực trạng này? Đây là một vấn đề lớn cả xã hội phải vào cuộc. Hãy khoan nói tới những biện pháp lớn, chúng ta hãy đi từ căn cơ của vấn đề ngay từ phạm vi gia đình: Trách nhiệm của cha mẹ anh chị trong việc giáo dục trẻ nói thật.

1- Làm thế nào để trẻ  không nói dối?

Người ta thường bảo: Nhân chi sơ tính bản thiện. Thực ra tâm hồn trẻ là tờ giấy trắng, sẵn sàng tiếp nhận để dần hình thành nhân cách. Chúng ta hãy gieo vào lòng bé sự trung thực, đề cao sự minh bạch, hãy tạo cho con niềm tin vào sự công bằng, dạy trẻ biết vai trò và giá trị của sự thật, hướng trẻ nói sự thật mọi nơi mọi lúc, cha mẹ anh chị luôn gần gũi thấu hiểu để con cái không phải giấu giếm, tạo cảm giác an toàn tin tưởng ở cha mẹ anh chị. Trẻ còn có khuynh hướng tự nhiên là tin tưởng, làm theo người lớn, và những người lớn có giá trị tuyệt đối với bé chính là cha mẹ anh chị, chúng ta chỉ cần gương mẫu luôn nói thật làm thật thì trẻ sẽ làm theo. Trẻ rất tinh ý nhận ra những mâu thuẫn trong lời nói và việc làm của người lớn từ những việc nhỏ nhặt. Do vậy chúng ta rất phải cẩn thận đừng bao giờ nói dối trước mặt bé,  dạy bé nói dối hoặc hùa theo sự dối trá.

2- Làm sao để dạy trẻ nói thật?

Trước thực trạng trẻ đã quen nói dối phải làm sao để dạy trẻ nói thật? Đây quả thật là vấn đề nan giải. Có người cho rằng  đành để thế hệ nói dối này qua đi, thế hệ sau sẽ được giáo dục dần hết nói dối. Nhưng vấn đề là phải làm chứ không thể chần chừ và cha mẹ anh chị mỗi gia đình phải là người thực hiện đầu tiên. Để triệt tiêu nói dối, chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân khiến trẻ nói dối và tìm biện pháp cách ứng xử để giúp trẻ biết nói thật.

   Có khi trẻ nói dối vì bản tính trẻ bướng bỉnh không muốn đương đầu với rắc rối. Chúng ta đừng buộc tội ngay trẻ nói dối mà hãy từ từ động viên trẻ nói thật, nêu lý do vì sao nói dối là không ngoan, nói dối làm tổn thương người khác, khiến việc rắc rối thêm. Có khi bé sợ bị phạt mà nói dối hoặc nghĩ là người khác sẽ không tin khi nói thật. Như vậy là nói dối để chiếm dụng lòng tin, nói dối vì sợ hãi. Chúng ta tránh dồn bé vào đường cùng, khuyến khích tính trung thực, gợi ý để bé bình tĩnh lý giải sự thật, nếu nói thật sẽ giảm hình phạt, tin tưởng  để bé thành thật xin lỗi và hứa sửa chữa. Chúng ta cũng phải thật bình tĩnh và kiềm chế khi trẻ làm sai, đừng chối tội đổ tội cho người khác.

   Nói dối còn là biểu hiện của sự sợ hãi, muốn che dấu một điều gì hoặc nói dối thì tốt hơn. Chúng ta không ép buộc trẻ phải thú nhận mà chỉ cần nói mình biết những gì đã xẩy ra và sẽ chờ đợi trẻ có cơ hội để nói ra, vì càng bắt ép trẻ nhận thì trẻ càng có xu hướng nói dối nhiều hơn. Chúng ta có thể không dò hỏi mà xác định bằng chứng để trẻ suy nghĩ và tự thú nhận, cố gắng tìm giải pháp thay vì làm trẻ xấu hổ, không chỉ trích, chỉ nêu hậu quả do việc bé làm mà không nổi giận, tránh những hình phạt, hãy nói lý do nói dối là xấu, hoặc người ta sẽ đối xử với người nói dối như thế nào, có phần thưởng khi nói thật…

Nơi trẻ mới lớn, cái tôi  dần định hình và nói dối còn là cách tự bảo vệ và khẳng định mình, ảo tưởng về bản thân mình hoặc nói dối thì có lợi. Chúng ta cần tìm cách tạo cho trẻ lòng can đảm nhìn nhận sự thật chứ không dồn ép chúng nhận tội, hãy để trẻ có thời gian suy nghĩ về hành động của mình, đừng đay nghiến với những chứng cớ buộc tội, trẻ sẽ ngoan cố đến cùng vì sợ bị trừng phạt, vì bất mãn, vì xấu hổ. Cha mẹ anh chị phải tạo cho con trẻ niềm tin sự công bằng và rộng lượng để trẻ đủ can đảm nhìn nhận sự việc mình làm, từ đó hình thành tinh thần trách nhiệm và tính trung thực.

Câu truyện xưa: Giết lợn dạy con, hẳn vẫn còn là bài học cho chúng ta suy gẫm: Vợ Tăng Sâm đi chợ, con nhỏ đòi theo, đã nói dối con: Con ở nhà mẹ đi chợ về sẽ giết lợn của nhà mình cho con ăn. Đứa con mừng lắm ngoan ngoãn ở nhà. Khi vợ đi chợ về , Tăng Sâm bắt lợn làm thịt. Vợ phân bua: Tôi chỉ tạm nói dối để đi chợ cho  rảnh. Tăng Sâm nghiêm trang nói với vợ:” Muốn nói đùa với con cái cũng phải tùy trường hợp, không phải lúc nào cũng nói đùa nói dối được. Con cái tin tưởng cha mẹ lúc nào cũng nói thật thì mới chịu nghe lời, mới chịu bắt chước cha mẹ mà sống thành thật. Nay nàng vô tình nói dối con, nhưng sự thật nàng đã dạy nó nói dối. Nàng nghĩ xem dạy con như vậy được chăng?”

 GIÁO LUẬT

 

 

GIẢI ĐÁP

 

Thắc mắc

 

Thưa cha, chúng con quen nhau trong một đám cưới từ hơn một năm nay. Đến khi bàn hỏi gia đình để tính tới chuyện hôn nhân thì con mới biết là chúng con có bà con với nhau: Bà ngoại của cô ấy là chị ruột của bà ngoại con. Trong họ hàng, người thì bảo cưới được, người thì phản đối kịch liệt. Chúng con rất phân vân lo lắng không biết phải làm thế nào cho đúng. Vậy chúng con có thể kết hôn với nhau được không? Xin cha giải thích cho con được rõ.

 

Trả lời

 

Bộ Giáo luật hiện hành quy định như sau: “Trong họ máu hàng ngang, hôn nhân bất thành cho đến hết bậc thứ bốn”(Điều 1091 §2).Trong họ máu hàng ngang (bàng hệ), có bao nhiêu người tính chung cả hai hàng cộng lại thì có bấy nhiêu bậc, không tính gốc tổ chung (Điều 108 §3).

Xét trường hợp cụ thể, thì anh và cô ấy là chị em họ, có chung gốc tổ là ông cố ngoại:

1. Ông cố ngoại là gốc tổ chung (không tính).

2. Bà ngoại cô ấy và bà ngoại của anh (cộng lại là 2 bậc).

3. Má của cô ấy và má của anh (cộng thêm nữa là 4 bậc).

4. Cô ấy và anh (cộng thêm nữa là 6 bậc).

 

Theo Giáo luật, hôn nhân bất thành cho hết bậc thứ bốn nghĩa là cấm kết hôn giữa:

- Anh chị em ruột (2 bậc),

- Anh chị em con chú con bác, anh chị em con cô con cậu, anh chị em đôi bạn dì (vẫn còn trong bậc thứ bốn).

Như vậy theo Giáo luật, anh và cô ấy (bậc thứ năm và bậc thứ sáu) có thể kết hôn với nhau được.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 10 khoản 3, cũng chỉ cấm kết hôn “giữa những người có họ trong phạm vi ba đời”. Theo cách tính của Dân luật, anh và cô ấy là đời thứ bốn. Cho nên, anh và cô ấy có quyền được kết hôn mà không trở ngại gì.

 Xét theo lý là như thế, nhưng người Á Đông chúng ta nói chung rất coi trọng tình cảm họ hàng. “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Có nhiều dòng họ, anh chị em họ đời thứ bốn vẫn thân thiết nhau không thua gì anh chị em ruột. Chính vì thế mà có người “phản đối kịch liệt” cuộc hôn nhân của anh và cô ấy.

Anh chị cần bình tĩnh và cầu nguyện để xin ơn Chúa soi sáng, rồi trao đổi với gia đình họ hàng về khía cạnh hợp pháp về mặt Giáo luật cũng như Dân luật của cuộc hôn nhân sắp tới của anh chị để cho mọi người có thể an tâm chấp nhận.

 

Lm LG Huỳnh Phước Lâm

 


TRUYỆN NGẮN & CHUYỆN PHIẾM

 

BỐ

 

Nhà tôi ở bên bờ sông. Sau nhà, những chiếc xà-lan gầm rú, những chiếc vỏ lãi nhỏ nhắn mỏng manh suốt ngày xuôi ngược trên sông, chở đầy ăm ắp những cây củ quả, những hàng nông sản chắc là cây nhà lá vườn. Chiếc ô-bạc-lơ bông bí đặt trên mũi đò mở hết công suất:

            - Mười ngàn ba kí bắp cải, bắp cải ba kí mười ngàn.

            - Ai hành hẹ, dưa leo, củ sắn, dừa tươi, dừa khô, củ cải trắng, củ cải đỏ, khoai lang, dưa hấu hôn?

            Trước nhà, tiếng hú của xe cứu thương, tiếng còi giành đường inh ỏi, tiếng xe tải rầm rập. Và tiếng rao của những chiếc loa vuông trên những chiếc xe gắn máy cũ không thể cũ hơn:

            - Sò huyết, sò vôi, sò cò, sò lông đây.

            - Giấy thơm chùi miệng chùi tay một cây mười ngàn, bà con cô bác ơi.

            - Mua ti-vi, ăm-li, tủ lạnh đây.

           Và nhất là bài thuyết minh dài dằng dặc về tiến bộ của khoa học. Sau nhiều năm nghiên cứu, người ta đã phát minh ra và đưa vào sử dụng sản phẩm công nghệ cao, bảo vệ môi trường không gì hơn được. Kết luận:

            - Keo dính chuột, keo dính ruồi đây.

            Bấy nhiêu thứ âm thanh (gọi là tiếng động có vẻ chính xác hơn) xô bồ, suốt ngày đêm ra rả tra tấn thính giác con người, làm tôi muốn điên lên. Rồi mất ngủ, rồi thao thức, nhớ linh tinh đủ thứ chuyện, đủ thứ người. Rồi nhớ da diết một người: Bố. Bố nuôi tôi bằng nghề hàn nồi niêu soong chảo lu khạp của bố. Lời rao hàng của bố không có máy tăng âm, không thét vào tai người ta, nhưng ai đã nghe qua một lần là nhớ ngay, không quên được, vì nó buồn buồn, lại vui vui, nghĩa là buồn cười:

            - Hàn nồi hàn niêu, hàn cả tình yêu, hàn cả cuộc đời. Hàn niêu hàn nồi, hàn luôn con người, hàn cả trái tim.

            *  *  *

            Từ khi lên lớp mười, tôi đã được nghe người ta nói gần nói xa, bóng gió rằng tôi là con nuôi. Các cô các dì tôi thường lườm nguýt:

            - Anh nuông chiều nó quá. Nó lớn rồi, anh phải bảo ban dạy dỗ nó, phải nghiêm khắc mới được. Anh không nhớ cha chúng mình thường nói: “Yêu cho roi cho vọt” hay sao?

            Tôi trốn học, nhà trường gởi giấy báo về nhà, bố giận lắm. Hôm ấy bố không ăn uống gì. Bố quăng tờ giấy báo đóng dấu đỏ chót của nhà trường lên bàn học của tôi. Tôi thấy rõ bố nén cơn giận:     

- Con trả lời bố thế nào đây?

Tôi nói dối, bào chữa:

- Buổi trưa cô giáo dạy môn Tiếng Anh tổ chức mừng sinh nhật, tụi con về trễ 15 phút, cô chủ nhiệm không cho vào lớp.

Cơn giận của bố bùng nổ. Tuy nhiên tôi thấy bố cũng còn cố kiềm chế:

- Con trốn học ngày 2 tháng 3. Sinh nhật cô Nguyễn Thị Mông Triệu dạy môn Tiếng Anh ngày 15 tháng 8, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Con nỡ lòng nào nói dối bố? Hôm nay bố phạt con không phải vì con trốn học, cũng không phải vì tờ giấy báo kia, mà vì con nói dối bố. Đó cũng là phạt chính bố đã không dạy dỗ con thành một người chân thật. Con lên giường, nằm sấp xuống, bố đánh con ba roi.

Bố thẳng tay vụt cái roi trúc lên người tôi. Đau quá, không chịu nổi. tôi gào toáng lên. Bố ném chiếc roi vào góc nhà, nói cộc lốc:

- Còn hai roi. Để đấy. Cho nợ.

Tôi thấy bố lấy tay áo lau nước mắt. Tôi biết, từ nay, tôi không nỡ, không nên mà cũng không thể nói dối bố được nữa.

Chiều, hàng xóm láng giềng xì xầm với nhau:

- Lão già ác thật, đánh con bé đến không đi nổi, đau đến độ nó phải khóc thét lên, cả xóm nghe thấy. Rõ là khác máu tanh lòng.

Đêm, tôi gục mặt vào gối, khóc thầm cho thân phận mình. Tôi nhất quyết phải hỏi bố cho ra lẽ. Hôm sau, tôi xin lỗi bố, rồi hỏi:

- Bố cho con hỏi hai câu, bố đừng giấu con: Thứ nhất con có phải là con của bố không? Thứ hai…

- Bố biết câu hỏi thứ hai rồi.

Khuôn mặt bố căng ra, có vẻ rất nghiêm trọng:

- Bố chờ đợi câu hỏi này của con từ lâu lắm rồi. Bố hỏi con: Có khi nào con không là con của bố không? Thế này nhé! Bố hứa sẽ nói tất cả khi con khôn lớn, vào một dịp đặc biệt nào đó, ngày con vào đại học chẳng hạn (bố con mình ấn định luôn, ngày con vào đại học nhé!). Lúc ấy con đã trưởng thành. Còn bây giờ, nhiệm vụ của con là học và học được không?

 *  *  *

 Tôi trúng tuyển kỳ thi vào đại học. Đó là ước mơ của tôi, cũng là ước mơ của bố, nhưng đối với bố, đó là ước mơ vượt tầm vì bố phải đi vay nặng lãi làng trên xóm dưới mới có tiền cho tôi đi học. Bố chăm chút cho tôi từng li từng tí, như một người cha, đồng thời như một người mẹ. Tôi thương bố quá, vừa muốn bỏ học cho rồi, nhưng lòng lại dặn lòng phải hết sức cố gắng để không phụ công lao và niềm tin yêu của bố. Tôi cũng đã biết hai năm rõ mười về nhân thân vô thừa nhận của tôi. Tôi không nhắc gì đến lời hứa của bố. Nhưng bố không quên. Bố gọi tôi lên phòng bố:

- Bố trả lời cho con không phải hai mà là tất cả mọi câu con hỏi bố hôm nay, như món quà mừng con vào đại học. Nào, con hỏi đi.

- Thôi mà bố. Chẳng có gì quan trọng đâu.

Bố nhìn xa vắng, như thể đôi mắt bố nhìn ra ngoài cửa sổ, mãi tận chân trời quá khứ xa xăm nào đó:

- Bố nhặt được con trong một thùng rác. Tiếng khóc của con đã cứu con. Lúc ấy, người con tím ngắt, lũ kiến cắn khiến môi, mắt con sưng vù lên. Bố đưa con vào bệnh viện, người ta theo nguyên tắc, chỉ đồng ý chữa trị cho con nếu bố trả tiền viện phí, tiền thuốc men, sữa sần, quần áo, tã lót và các chi phí linh tinh khác, và cam kết chịu trách nhiệm chăm nuôi đứa bé. Ơn Chúa, vì thế mà bố con mình có nhau. Con nghĩ xem, có một người đàn bà, vì một lý do nào đó, do hoàn cảnh đưa đẩy, đã can đảm cưu mang chín tháng mười ngày đứa con của mình, rứt ruột sinh con ra mà không nuôi được, cũng có thể không được nuôi. Người đàn bà ấy, là người mẹ đẻ của con, đau khổ và đáng thương lắm chứ, phải không?  Đáng trách phải là người đàn ông bội bạc, là thành kiến xã hội đối với những người lầm lỡ, là dư luận ác tâm, là những vị bậc ông bà cha mẹ, là những chức dịch chánh phó trương trùm trưởng tân cựu, miệng lúc nào cũng rao giảng lời Chúa, tha thứ bảy mươi lần bảy, nhưng thực tế lại tự cho mình là quan tòa, kết án nạn nhân là chửa hoang, là lăng loàn trắc nết, là kẻ bôi tro trát trấu, làm ô danh gia đình, dòng họ, giáo khu, giáo xứ, là mọi người thấy người ta chết đuối mà không dám đưa tay ra, dù chỉ một ngón tay. Bố gọi đó là sự bất khoan dung, có được không, con gái? Con còn trẻ, đời còn dài, bố thành tâm mong Ơn Trên run rủi cho con được gặp mẹ con, con sẽ hiểu được thế nào là tấm lòng người mẹ.

Bố sòng sọc rít một hơi thuốc lào:

- Câu hỏi thứ hai. Con hỏi về bố phải không?

Tự nhiên nước mắt tôi trào ra:

- Vâng, nhưng không cần nữa đâu, bố ạ! Bố biết cho, bố là bố, là người thân yêu duy nhất, là điểm tựa đời con, thế là đủ với con, bố ạ!

 *  *  *

 Tôi ra trường, chưa xin được việc làm, chưa đáp đền công ơn bố được xu teng cắc bạc nào thì bố bỏ tôi mà đi. Bố mất năm bố năm mươi mốt tuổi. Trúng cơn gió độc (chắc là bị tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim gì đó), bố hôn mê sâu, không nói được một lời nào với bất cứ ai. Bố được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Chợ Rẫy. Khi đi, bố là một con người; khi về, bố chỉ là một cái xác không hồn. Bố chết như một chiếc lá rụng về cội. Hình như bố không muốn hay không dám làm phiền hà con gái bố và những người thân của bố, dù chỉ một viên thuốc, một hớp nước lã, một thìa cháo hoa, một câu nói cuối đời.

 *  *  *

 Hôm thứ tư Lễ Tro, sau khi tham dự thánh lễ khai mạc Mùa Chay Thánh, tôi ra Phục sinh đường giáo xứ viếng bố. Tôi nhìn lên nơi bố yên nghỉ. Một con người chỉ còn một dúm tro trong cái tiểu bé kia ư? Nắm tro ấy từ đâu đến? Như thế nào? Rồi đi đâu?...Bố đã được dựng nên và được gởi đến, được đặt để trong thế gian này cho riêng tôi, với bao nhiêu lao công khó nhọc, mồ hôi nước mắt. Bố đã là cha, là bạn thiết, là món quà quý giá nhất trên đời Chúa ban tặng cho tôi. Bố đã yêu thương, đã được chẳng bao nhiêu, nhưng mất mát lại nhiều quá. Bố đã “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng” (GS). Bốđã là một con người, vậy mà giờ đây, chỉ còn một nắm tro tàn. Quả thật, cuộc hiện sinh kinh hoàng biết nhường bao. Tôi đăm đắm nhìn lên di ảnh của bố. Bốcười, nụ cười hàm chứa một chút đau đớn cam chịu, nhưng vẫn là nụ cười đã thắng vượt nỗi đau, và cả sự chết, một nụ cười không thể bị già nua đi nữa. Có khi đó còn là nụ cười vĩnh cửu không chừng. Nụ cười của bố như muốn nói với tôi rằng:

            -Bốđã từ tro bụi mà đến, thì lại tro bụi mà về. Nhưng con hãy tin đi. Nắm tro bụi này sẽ trỗi dậy trong một thân xác thần thiêng ngày sau hết, giống như thân xác hiển vinh của Đấng đã bị treo lên, đã chịu chết, chịu mai táng và phục sinh, vì bố vì con, cho bố cho con.

 

Thân Thị Vô Dụng

 

 

 

ĐỜN ÔNG ĐẤU TRANH

Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Tình cờ đọc một tờ báo, gã thấy một bài thơ hay hay của một tác giả tên là Hà Hà, bèn ghi lại để bàn dân thiên hạ cùng đọc cho vui. Bài thơ ấy mang tựa đề “Phụ nam ngâm khúc”:

- Trăm năm trong cõi người ta,

  Ai không cưới vợ thật là đại khôn.

  Chiều về ghé quán dùng cơm,

  Tối rà quán nhậu thảo thơm bạn hiền.

  Khuya về lăn ngủ như tiên,

  Một mình xài hết trọn tiền kiếm ra.

  Chẳng cần phải nộp cho bà,

  Chẳng cần lấm lét vào ra hỏi trình…

Có lẽ tác giả đã nghiền ngẫm thân phận nghiệt ngã của kẻ làm chồng, để rồi viết ra cái “ngâm khúc” trên, mà tán tụng kiếp sống “phòng không”, trăm năm cô đơn của mình. Cạch cho đến già cũng chẳng dám hó hé hay tơ tưởng đến “cái ghế” làm chồng của mình nữa:

- Kiếp sau xin chớ làm chồng,

  Thà làm một gốc cây thông trong rừng!

Gã còn nhớ có lần gã đã bàn rộng tán dài về sự hẩm hiu của cánh đờn ông con giai. Bây giờ chỉ xin tóm tắt lại trong một vài điểm chính yếu.

Trước hết, xã hội đã cư xử tệ bạc với anh ta, coi anh ta chẳng có một gờ ram nào trong bậc thang giá trị, bởi vì: Thứ nhất con nít, thứ nhì đờn bà và thứ ba là con chó. Tiếp đến, xã hội đã cư xử bất công đối với anh ta. Trong khi phe đờn bà con gái được dành cho biết bao nhiêu lễ hội để mà tôn vinh cũng như tưởng nhớ công ơn, nào là ngày tình yêu, ngày mẹ hiền, ngày quốc tế phụ nữ, ngày phụ nữ Việt Nam, thì anh ta lại chẳng có một lễ hội nào cả. Trong những ngày thê lương và ảm đạm ấy, anh ta chỉ biết móc cái ví vốn dĩ đã xẹp lép, mà mua quà cáp. Anh ta mà lỡ quên, thì chắc chắn chiến tranh lạnh sẽ xảy ra và không chừng cục diện thế giới sẽ bị lật nhào. Ngay tại Việt Nam, chỉ thấy ông nhà nước ra rả ca tụng những bà mẹ anh hùng, mà chẳng thấy dành được một lời cỏn con nào để tán dương những ông bố anh hùng cả. Vì thế, thời gian đã chín mùi. Đây là lúc phe đờn ông con giai phải vùng lên mà đòi quyền sống, phải giải phóng mình khỏi gánh nặng cuộc đời, phải đấu tranh để đòi quyền được đối xử bình đẳng ít nữa cũng phải ngang với đờn bà con gái. Bàn về sự đấu tranh, cũng như về sự giải phóng cho phe đờn ông con giai, gã thấy có rất nhiều lãnh vực cần phải điều chỉnh lại cho hợp tình và hợp lý. Tuy nhiên, trong phạm vi hạn hẹp của mục chuyện phiếm, gã chỉ xin đưa ra một lãnh vực nho nhỏ mà thôi. Đó là đờn ông con giai phải kiên quyết đấu tranh đòi cho mình quyền được cư xử ngang hàng với đờn bà con gái.

Không phải chỉ trong lãnh vực lễ hội, mà hầu như trong mọi lãnh vực phe đờn bà con gái luôn được ca tụng. Nào văn chương, nào hội họa, nào điện ảnh. Làm sao kể ra cho hết những tác phẩm nghệ thuật đề cao hình ảnh người mẹ, người vợ, người chị, người em gái. Còn những tác phẩm đề cao hình ảnh người cha, người chồng, người anh thì thật là họa hiếm, lơ thơ như tơ liễu buông mành. Gã rất lấy làm tâm đắc với một vài nhận xét của tác giả Trịnh Trung Hòa trên báo Kiến Thức Ngày Nay, và xin mượn tạm để rồi dựa vào đó mà bàn rộng bàn dài cho thỏa chí toại lòng: “Hình như bàn dân thiên hạ không tiếc lời ngợi khen đối với phe đờn bà con gái, nhưng lại rất hà tiện đến độ sẻn so đối với cánh đờn ông con giai. Quả là bất công hết chỗ nói. Và đau hơn nữa, những kẻ to miệng hơn cả lại thuộc cánh đờn ông con giai. Đúng là đâm sau lưng chiến sĩ”.

Dĩ nhiên gã cũng rất ủng hộ việc ca tụng và ngợi khen những người mẹ và  những người vợ đã giãi nắng dầm mưa, một sương hai nắng vì chồng vì con. Thậm chí cả những người chị đã cam chịu số kiếp cô đơn  để  nuôi dạy đàn em nên người, khi cha mẹ chẳng may mất sớm. Thế nhưng, bàn dân thiên hạ cũng cần phải mở to đôi mắt để nhìn nhận, rồi lên tiếng ca tụng và ngợi khen những  gian khổ và mệt mỏi, những đắng cay và chua xót của người cha và người chồng. Không thiếu gì những người cha đã can đảm chấp nhận cảnh gà trống nuôi con, theo đúng bài bổn “hy sinh đời bố, để củng cố đời con”. Và những hy sinh to lớn này cũng đáng đồng tiền bát gạo lắm chứ.

Không thể chỉ nói tới nỗi khổ của đờn bà con gái, mà quên béng nỗi khổ của đờn ông con giai, bởi rất nhiều khi họ cũng xất bất xang bang vì vợ vì con. Nếu chị vợ bực bội trước thói rượu chè và đèo bòng bồ nhí của anh chồng, thì anh chồng cũng bực bội không kém trước tật ghen bóng ghen gió và tiêu xài vung vít theo kiểu con nhà lính tính nhà quan của chị vợ. Không thể chỉ nói tới những khó khăn của đờn bà con gái mà lờ tít những khó khăn của đờn ông con giai, bởi rất nhiều lần họ cũng ba chìm bảy nổi và chín cái lênh đênh vì vợ vì con.

Một trong những vấn đề nổi cộm đang được mọi người chú trọng tới trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đó là vấn đề bạo lực trong gia đình. Có những anh chồng nổi tiếng là vũ phu, đã thượng cẳng chân hạ cẳng tay, sút gọn chị vợ vào góc tủ như đá trái banh lọt tỏm vào cầu môn, hay đánh đập chị vợ đến thâm tím cả mặt mày. Những trường hợp trên cần được xử lý nghiêm khắc.

Thấy anh chồng cũng thuộc vào hàng cục mịch, suốt ngày chỉ tìm cách gây sự để mà đánh vợ. Ông hàng xóm bèn tìm cách khuyên nhủ. Đờn bà con gái là những bông hồng, ta không nên vùi dập họ. Và anh chồng đã trả lời: Tôi đâu có vùi dập họ, mà chỉ bẻ bớt những gai nhọn của bông hồng nhà tôi mà thôi.

Thế nhưng, dường như bàn dân thiên hạ chỉ nhìn thấy những vết bầm tím, nghĩa là chỉ nhìn thấy sự bạo hành ngoài thân xác mà anh chồng đã ưu ái ghi lại cho chị vợ, mà lại chẳng bao giờ nhìn thấy những “vết thương lòng đang rỉ máu”, nghĩa là chẳng bao giờ nhìn thấy sự bạo hành trong tinh thần mà chị vợ đã tức tối mang đến cho anh chồng. Chị vợ có thể thực hiện sự bạo hành trong tinh thần đối với anh chồng bằng những lời lẽ từ cay nghiệt đến độc ác, bằng những thái độ cư xử từ lạnh lùng đến tàn tệ. Mỗi lời nói và mỗi thái độ cư xử như thế chẳng khác gì một lưỡi lam khía vào trái tim anh chồng. Những vết thương rỉ máu trong cõi lòng cũng đau đớn không kém, và thậm chí nhiều khi còn đau đớn hơn cả những bầm tím ngoài thân xác. Gã xin kể lại một trường hợp điển hình đã được tăng tải trên tuần báo “Gia Đình” như sau:

“Phát hiện ra anh chồng có bồ nhí, chị vợ đã rình bắt quả tang, rồi đánh ghen ầm  ĩ và tìm mọi cách để giành lại chồng. Thế nhưng khi anh chồng quay về, thì cũng chị vợ là người đẩy anh chồng xa lìa tổ ấm một cách bất đắc dĩ. Chị vợ quá cố chấp và luôn soi mói, nghi ngờ anh chồng. Chị vợ yêu cầu anh chồng không được giao du với bạn bè khác giới “kẻo ngựa lại quen đường cũ, sa ngã lúc nào không hay”. Chị vợ còn kiểm soát chặt chẽ tiền lương và thời gian làm việc của anh chồng. Anh ta đi đâu mà về muộn là lập tức bị lục vấn, tra khảo căn kẽ và chưa kịp nghe lời giải thích, chị vợ đã gán luôn cho anh ta cái tội “hú hí với con nào”. Mỗi lần vợ chồng giận nhau, thì chị vợ bèn nhắc lại chuyện phản bội này  ngay cả trước mặt con cái và nguyền rủa anh chồng là “thằng thiếu chung thủy, là đồ tồi, là tên ba lăng nhăng…”Anh chồng chán đời vì muốn đem tất cả thiện chí của mình để chuộc lỗi lầm mà cũng không xong. Tuyệt vọng, anh la cà quán xá với bè bạn, không muốn trở về ngôi nhà lúc nào cũng bao phủ không khí ngột ngạt, não nề”. Rồi sự gì phải đến ắt sẽ đến. Và họ đã chia lìa nhau.

Ngoài ra lại còn một sự bất công khác nữa, đó là khi đờn bà con gái và nhất là chị vợ chẳng may bị bạo hành, chẳng may bị ngược đãi, thì họ có thể báo cảnh sát và lập tức mấy “thầy phú lít” đến can thiệp liền tù tì. Họ cũng có thể vác đơn trình ba tòa quan lớn mà kiện. Và những vị quan tòa “chí tư vô công” này dường như lúc nào cũng sẵn sàng bênh vực, và ủng hộ cho họ. Nếu tình huống xấu nhất xảy ra như chuyện tan đàn xẻ nghé, thì họ cũng được thừa hưởng chí ít là 50% tài sản. Ngược lại, khi đờn ông con giai và nhất là anh chồng chẳng may bị bạo hành, chẳng may bị ngược đãi thì biết làm sao bây giờ. Nói ra thì chẳng ai thèm tin. Muốn báo thì báo ở đâu? Muốn kiện thì kiện ở đâu? Người ta chẳng cười vào mũi cho ấy. Mà nếu có kiện thì cũng mất cả chì lẫn chài, không chừng còn bị thân bại danh liệt nữa là đàng khác.

Thôi thì hãy mau mắn lắng nghe theo lời xúi dại sau đây của gã: Hỡi tất cả đờn ông con giai, hãy đoàn kết lại. Ta phải đấu tranh. Ta phải giải phóng mình khỏi gông cùm xiềng xích. Cho dù đó chỉ là những gông cùm êm ái và những xiềng xích nhẹ nhàng.


GIÚP THÁNG

                       

Việc làm quen và chinh phục bọn con trai có tính “giang hồ” tưởng chừng khó hóa ra lại dễ. Còn bọn con gái tóc dài tưởng chừng như dễ dàng nhưng lại rất gian nan. Thầy T. từ khi giải được câu đối khó nuốt của thằng Tính đã làm cho nhiều đứa con gái ngưỡng mộ. Thầy trở thành hình tượng được bọn chúng quan tâm rất đặc biệt. Chúng tìm cách tiếp cận và trò chuyện với thầy.

Sau một buổi học giáo lý ngày thứ bảy, bọn con Cúc, Mai, Lan rủ thêm thằng Tính vào phòng thầy để nói chuyện. Thấy thầy đi phía trước trở về phòng, chúng hùa nhau chạy theo sau thầy vào phòng. Thầy mời chúng ngồi chơi. Lần đầu được vào phòng của thầy nên có đứa thì khép nép, có đứa ngượng ngùng. Nhưng chúng vẫn có vẻ tự tin vì có thằng Tính làm hậu thuẫn. Thằng Tính bắt đầu câu chuyện:

- Thầy ơi, đi tu có vui không thầy?

- Vui! Rất vui, cứ nhìn thầy xem, thầy có vui không?

- Con thấy thầy vui tính như Hoài Linh đấy!

- Thế trong chủng viện có được chơi thể thao không thầy?

- Có chứ! Có rất nhiều môn cho mọi người lựa chọn. Ai thích mạnh mẽ đông vui thì có: Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn. Ai thích các loại cầu thì có từ cầu lông cho đến cầu đá, có cả cầu mây nữa. Người nào muốn có thân hình đẹp từng centimet như người mẫu thì tập tạ. Thầy nào muốn phát triển tính toán về hình học thì chơi bi-da…Giờ chơi trong chủng viện náo nhiệt lắm!

- Ô! Thích quá thầy nhỉ? Con đoán chắc rằng thầy là người tập tạ thường xuyên. Thầy ơi! Chắc con đi tu quá! Mà thầy thấy con đi tu được không thầy?

- Mầy tu dòng đông các cô thì có.

- Ừ! Mà dòng đó có mày trong ấy.

- Hai đứa mày đi tu dòng Thánh Gia thì hợp hơn đấy!

- Chỉ có người điên mới thèm tu chung với nó.

- Thầy thấy câu chuyện bắt đầu xa rời quỹ đạo. Nhường bạn đi Tính, con trai ai lại ăn thua đủ với con gái.

- Đúng rồi! Đồ nhỏ mọn hơn đàn bà.

- Đó thầy xem, con im là nó làm tới hà!

- Tính ơi, con không biết triết lý này sao?

- Triết lý gì vậy thầy?

- Triết lý đó là: Trong một cuộc cãi nhau giữa đàn ông và đàn bà thì đàn bà luôn là người nói câu cuối cùng.

- Thế còn đàn ông thì sao thầy?

- Thì là người phải im miệng đầu tiên chứ sao nữa?

- Không phải, mà là người đầu tiên tặng cho đối phương cú đấm.

Con Mai đứng ra làm vai trò của Liên Hiệp Quốc:

- Thôi! Hai đứa mày im đi coi nào! Phòng thầy là phòng cầu nguyện, chúng mày đã biến thành cái chợ Núi Sập.

- Mấy bạn đừng lớn tiếng nữa. Vào phòng của thầy mà ồn áo quá thì kỳ quá!

Quay sang thầy Lan hỏi:

- Thầy ơi! Thầy có cần chúng con dọn dẹp hay lau phòng cho thầy không ạ?

- Chắc không cần đâu. Nhà xứ đã có cô bếp rồi. Phòng thầy để thầy tự lau cũng được.

- Vậy thầy có việc gì cho chúng con làm không ạ?

- À! Hay là thế này nhé! Lan kêu một số bạn nữ trong lớp giáo lý đến tiếp các bà quét, lau nhà thờ mỗi thứ bảy đi. Thầy thấy nhiều khi các bà đi quét nhà thờ được ít người quá. Ngày mai Lan nói với các bạn đi làm cỏ, nhặt rác xung quanh nhà thờ đi ha!

- Thầy nói vậy hay quá! Để con kêu gọi các bạn. A! Con thấy xung quanh nhà thờ có nhiều khoảng đất cỏ mọc nhiều quá. Làm hoài cũng mệt. Hay là mình trồng hoa đi thầy. Vừa đẹp lại đỡ cỏ mọc.

- Ý kiến của Lan tốt đó. Nhưng phải để thầy hỏi ý kiến của cha xứ xem sao đã! Nếu cha đồng ý thầy sẽ báo cho mấy đứa. À, trồng thì được rồi đấy, nhưng ai tưới đây? Nhiều như vậy thì tưới mệt lắm đó!

Thằng Tính hào hứng phát biểu như người mới phát hiện ra một phương pháp khống chế virút HIV:

- Con sẽ quy định cho mấy đứa chơi đá bóng, đội nào thua thì phải tưới hoa, thế là vừa khỏe vừa không tốn nhiều công sức.

Cả bọn vui vẻ bàn bạc kế hoạch. Bỗng có bóng người đi ngang. Cả nhóm nhìn ra và chợt giật mình. Chúng chợt im lặng. Cả bọn nháy mắt nhau và xin phép rút lui như những tên trộm sợ bị chủ nhà phát hiện. Chúng vừa ra khỏi được ít phút. Cô bếp vào gặp thầy và nói chuyện.

- Có chuyện gì không thế cô?

- Thầy ạ! Tôi nói với thầy điều này nhé! Thầy đừng buồn tôi nghen!

- Ôi! Có gì đâu cô! Cô cứ nói đi, người nhà mình với nhau không mà cô!

- Vâng! Thầy nói vậy thì tôi cũng nói thẳng luôn: Thầy đừng cho mấy con nhỏ kia vào phòng thầy nghen! Bọn nó cứ tíu ta tíu tít thế thì không hay lắm đâu. Mấy đứa nó là con gái đang lớn, chẳng ý từ gì đâu. Thầy thì phong độ thế này. Ma quỷ nó mưu mô lắm. Phải cẩn thận, lửa gần rơm lâu ngày nó cũng cháy thầy ạ!

- Con cảm ơn cô rất nhiều. Con sẽ cẩn thận nhiều hơn.

- Vâng! Thầy phải đề phòng, bọn con gái giờ ghê lắm! Mà thầy yên tâm. Đứa nào mà léng phéng đến phá rối thầy hay “cám dỗ” là phải bước qua xác của tôi.

- Thế thì con xin Chúa cho cô sống lâu vào, để bảo vệ ơn gọi của con.

Kể từ đó mọi bước chân của mấy đứa con gái đến gần thầy không thể qua mắt được cô bếp. Thầy thầm cảm ơn cô. Thầy không tiếp bọn con gái trong phòng nữa. Có chuyện gì thầy đều tiếp bọn nó ngoài nhà khách của giáo xứ. Nhiều khi thầy cũng giật mình với bọn con gái. Có đứa dám nhắn tin với thầy thế này:

- Thầy ơi! Thầy cho em gọi thầy là anh được không ạ?

- Xin lỗi, hận hạnh được biết ai đây?

- Em tên là Thủy này thầy!

- Mà vì sao gọi thầy là anh nhỉ?

- Thưa thầy có hai lý do: Thứ nhất, thầy hơn em có mấy tuổi hà! Thứ hai là thầy dễ thương quá, gọi anh cho nó trẻ.

- Thủy này! Lý do thứ nhất thì đúng rồi! Lý do thứ hai thì chưa đúng lắm! Đừng gọi thầy là anh. Hãy gọi anh là thầy.

Quả thật đời tu luôn có những tình huống khó xử và cần sự tỉnh táo. Có những việc cần uyển chuyển, nhẹ nhàng và khôn ngoan. Và cũng không thiếu những chuyện cần phải cứng rắn và cương quyết. Đời tu trì rất cần những trợ lực từ mọi người không chỉ bằng lời cầu nguyện nhưng còn bằng sự góp ý chân thành. Thầy T. đã học được rất nhiều điều qua những tiếp xúc với giới trẻ. Thầy có những cảm nghiệm và bài học cho riêng mình. Tháng đi giúp của thầy cũng dần dần trôi qua. Gần tới ngày thầy “hết hạn sử dụng” ở giáo xứ này. Liệu thầy có “ đi bình an” được hay không? Muốn biết thế nào xin xem hồi sau sẽ rõ.

Lôrensô

 


THẮP NGỌN NẾN HỒNG

 

THƠ

TÌNH CHA

Tay cha sạm nắng đen, gầy

Gian nan, vất vả tháng ngày vì con

Từ khi dấu bước chân son

Đến ngày con bước chân mòn khắp nơi

Bao nhiêu khó nhọc đầy vơi

Vai cha gánh vác, một đời lo toan

An vui, hay lúc cơ hàn

Cha luôn dạy dỗ, nuôi đàn con khôn

Sông sâu, biển rộng nào hơn

Công cha sánh ví Thái sơn cao vời

Tình cha ấm áp bên đời

Tương lai con mãi rạng ngời thắm tươi.

                                        Nhật Quang, Gx Thái Hòa

TÌNH CHA

Con biết rằng: Cha thương con nhiều lắm

Cả một đời gánh nặng đôi bờ vai

Nuôi dạy con bao gian khổ đường dài

Chỉ mong sao ngày mai con khôn lớn.

Trong nắng sương, cha vất vả khuya sớm

Từng bước chân còn rướm máu lệ rơi

Trầm lắng sâu cả cung điệu ru hời

Ân tình cha diệu vời vầng trăng sáng.

Như núi cao, như triều dâng con sóng

Như đất trời, biển rộng, dòng sông xanh

Vì đời con, cha đã quên đời mình

Truyền cho con lung linh một sức sống.

Ân tình cha, nguồn suối tuôn trải rộng

Những lâng lâng khơi động niềm tin yêu

Lời nhủ khuyên dịu êm mỗi sớm chiều

“Sống nên người”, bao điều cha thầm nhắc.

Ôi! Tình cha đẹp hoài, vang câu hát

Đã cho con thơm mát một trời hoa

Đã cho con niềm hạnh phúc chan hòa

Và mở ra hoan ca ngày tươi mới.

Giuse Trần Thế Tiến, Gx Tân Bùi

TÌNH CHA

Ngày xưa còn bé dại

Bố bồng ẵm nâng niu

Luôn chăm sóc dắt dìu

Nuôi con từng hôm sớm.

Rồi khi vào tuổi lớn

Bố khuyên nhủ dạy răn

Thuơng bố con học chăm

Bố quên đời vất vả

Đã vì con tất cả

Bao tháng rộng năm dài

Bố lao động miệt mài

Hy sinh vì con trẻ.

Bố giờ không còn khỏe

Mái tóc điểm tuyết sương

Tình bố như Thái Sơn

Con nguyện luôn ghi khắc.

Têrêsa Thiên Lý, Gx Đài Đức Mẹ - Tân Hiệp

HIỀN PHỤ GIUSE

Cuộc đời hiền phụ Giuse

Tín trung phó thác vâng nghe lệnh truyền

Sứ thần báo chuyện nhân duyên

Chúa Trời đặt định vẹn tuyền đẹp xinh.

               Bạn đường Đức Nữ Đồng Trinh

Cha hiền Thánh Tử tận tình dưỡng nuôi

Dòng đời êm ả trôi xuôi

Thôn quê bình dị sống vui thanh bần.

                              Hăng say nghề mộc chuyên cần

Nhất tâm thờ Chúa chứng nhân giữa đời

Nêu cao công đức rạng ngời

Tận tâm thờ Chúa không lời trách than.

                                             Chăm lo Thánh Tử bình an

Yên bình hay lúc nguy nan chẳng rời

Nghĩa tình phu phụ tuyệt vời

Đây người gia trưởng cho đời noi theo.

                                                            Đời ai lâm cảnh gieo neo

Hướng về thánh cả lần theo gót ngài

Gian nan kiếp sống mệt nhoài

Cậy nhờ hiền phụ đoái hoài dủ thương.

 Pr. Hồng Khải – Gx. Núi Sập

TÌNH CON DÂNG CHÚA

Cha ơi! con cất lời ca,

Ngợi khen cảm mến, Tình Cha muôn vàn.

Gần Ngài con thấy bình an,

Lòng đầy vui sướng, ngập tràn tình yêu

Tình Yêu ôi! quá cao siêu,

Tình Ngài dâng hiến buổi chiều hôm nao.

Hồn con mong ước khát khao,

Thuộc trọn về Chúa, hiến trao thân này.

Và rồi, con muốn từ nay,

Người yêu của Chúa, đời này là con.

Jos.Nguyễn Minh Đức, Gx.Thánh Tâm B2

TÌNH CHA

TÌNH  phụ tử bao la, vĩ đại

CHA  thương con, bươn chải cả đời

ẤM  no, trĩu nặng lên người

ÁP vai nuôi nấng, xây đời cho con…

Yuse Phạm Đình, Gx Thạnh An

NHỚ VỀ CHA

Nếu gia đình là Hội Thánh tại gia,

Thì người cha là tháp nhỏ giáo đường.

Sáng sớm tinh sương, lời kinh dâng Chúa,

Nắng úa ban chiều, cảm tạ tri ân.

Nếu cuộc đời in đậm những dấu chân,

Thì người cha là mùa xuân khởi điểm.

Ru con vào gió biển với lời ca,

Nơi tình yêu Thiên Chúa dệt lụa là….

Phêrô Nguyễn Đức Thời, Gx Thái Hoà

NHỚ LỜI CHA DẠY

Sinh thời, Cha dạy con nhiều

Con luôn thực hiện, những điều Cha khuyên

Dạy con phải biết ngoan hiền

Kính trên, nhường dưới, chớ phiền lòng ai

Dạy con chăm chỉ miệt mài

Gắng công đèn sách thành tài mai sau

Dạy con trọng nghĩa ân sâu

Thảo kính Cha Mẹ, “tâm đầu” anh em

Dạy con đoàn kết thân quen

Bạn bè thân thiện, hãy xem một nhà

Dạy con chân chất thật thà

Thẳng ngay trung thực mới là con ngoan…

Hoài Thanh,Gx Ngọc Thạch

TÌNH CHA

Lo lắng đàn con kể chi thân

Bao nhiêu sương giá đổ vai quằn

Thương con quảng ngại chi mưa nắng

Râm thêm mái đầu, chi bâng khuâng!

Cuộc đời ai biết được sang khó

Miên tạ ơn Chúa vui thanh bần

Trăm nỗi âu lo đời nhân thế

Duy mong đàn trẻ chóng thành nhân.

Bạch Vân, Cái Răng


 

 

TẢN MẠN

 

SỐNG TINH THẦN MÙA CHAY

Mùa Chay chính là thời gian Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn lại bản thân mình, thu dọn và sửa lối con đường tâm hồn cho thẳng để nhen lại ngọn lửa đức Tin của chúng ta vào Chúa Giêsu. Thiết nghĩ điều cần thiết nhất mà tôi cần phải làm là chạy đến với Chúa Giêsu qua bí tích Hòa Giải để lãnh nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa  luôn dành sẵn cho những hối nhân có lòng thành thống hối ăn năn. Bên cạnh đó tôi cần phải biết đến với những người nghèo khổ và bất hạnh bằng một tình yêu của con tim, như ĐTC Phanxico đã từng nói “Ước gì Mùa Chay này thấy được toàn thể Giáo hội sẵn sàng và mau mắn làm chứng cho những người đang sống trong tình trạng lầm than vật chất, … sẵn sàng ôm lấy mỗi người trong Chúa Kitô”.

Joach Tuấn Kiệt, Gx Thanh Hải, D2

CẢM NHẬN MÙA CHAY

Mùa Chay là “mùa tìm lại chính mình”: Chân thành kiểm điểm lại đời sống trước mặt Chúa, sám hối trở về với Chúa, để nhờ ơn Chúa tìm ra tội lỗi của mình. Chỉ có sám hối chúng ta mới nhìn vào thực tại xấu để mà canh tân bản thân. Cho nên mùa Chay là cơ hội thuận tiện để chúng ta cảm nghiệm một cách đặc biệt dấu ấn tình thương của Chúa. Sống giữa trần gian với thất tình hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục, nên khó tránh khỏi những phút xao lòng mà tham, sân, si. Con người thật yếu đuối, điều muốn thì không làm, điều không muốn thì lại làm. Xã hội ngày nay đưa đến cho chúng ta biết bao nhiêu thử thách, không dễ mà thực thi lòng thương xót, cũng như dành khoảng trống cho lời cầu nguyện và sự thinh lặng nội tâm. Là con người, hẳn là ai cũng đã hơn một lần khắc khoải về thân phận của mình. Thánh Augustinô: “Hồn con luôn bồi hồi xao xuyến cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”.

Tôi Tớ Hèn Mọn

NHỚ BA

Thấp thoáng đâu đây bên tai tôi còn vang vọng lời bài hát thật da diết: “Đêm nay nghe gió lạnh, lòng con nhớ đến cha, như bao đêm vắng nhà, lòng con nhớ thương cha”. Vâng! Lời bài hát đó như một cơn gió nhẹ vô tình thoáng qua, mang quá khứ tuổi thơ của tôi về hiện tại. Một phút lắng đọng nơi tâm hồn tôi chợt nhớ đến ba, người cha già một đời hi sinh cho anh em chúng tôi. Ba tôi cũng như bao người khác, là chỗ dựa đáng tin cậy cho mọi thành viên trong gia đình. Vì là Út, nên những kí ức về một thời khó khăn mà ba phải trải qua thật sự tôi chưa hiểu rõ lắm, nhưng trong lời kể hoà chút nước mắt của mẹ tôi, khiến tôi thấy thương ba nhiều hơn. Gia đình tôi thật sự không được đầy đủ như những gia đình khác, nhưng ba vẫn không ngại hi sinh với những gian khổ để tìm hạnh phúc cho gia đình. Nhớ lại những ngày đi làm thuê, đôi tay ba dần chai đi với cây cuốc trên tay, từng giọt mồ hôi thấm đẫm trên vai ba, đôi vai gầy gò vì gió sương.

Cao Dương Thế Nhân,  Gx Bò Ót

TÂM THƯ GỬI BỐ

Bố kính mến của con ơi! Giờ này con đang lẻ loi giữa dòng đời xuôi ngược. Ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ, con ngắm nhìn bức ảnh của gia đình chúng ta, thật hạnh phúc phải không bố? Bố ơi! Thấm thoát mà đã năm năm rồi, kể từ ngày bố ra đi không trở lại nữa, bố ra đi là một sự mất mát nhất đời con, trái tim con không còn nguyên vẹn…Suốt năm năm qua mỗi đêm con phải chiến đấu với muôn vàn nỗi đau, khi màn đêm buông xuống ôm chầm lấy con, thì tim con lại nhói, nước mắt không những lăn trên hai má mà chảy mãi ở tận đáy lòng con. Con hay hồi tưởng lại những ngày được ở bên bố. Những Chúa nhật êm đềm, trời trong vắt bố dắt con đi trên con đường nho nhỏ đến với ngôi giáo đường nằm sát con kênh quê hương. Bố dạy con làm dấu, dạy con cầu nguyện. Chính bố đưa con đến với Thiên Chúa tình yêu. Con nhìn bố, thấy bố thật nghiêm trang và thánh thiện, khiến con càng yêu bố nhiều hơn mọi lúc. Bố đã trao con cho Chúa là Cha hằng an ủi con mọi lúc, mà Ngài cũng là Người Cha chí thánh của bố. Chắc là bây giờ bố đã được gặp Ngài ấy rồi. Vài dòng gửi bố thân yêu, con nhớ bố!

Têrêsa

CHA YÊU

Trong cuộc sống con người không thể thiếu tình thương, song nói đến chữ “Tình” thì không có thứ tình nào có thể so sánh bằng tình thương của cha mẹ, đó là một thứ tình thật thiêng liêng, sâu xa như biển thẳm không bờ, một thứ tình thương không có đối tượng so sánh, không có bút mực hay ngôn từ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Tuy nhiên tình thương của cha dành cho con còn hơn thế nữa, nó không biến đổi theo thời gian, mà trở thành suối nguồn bất tận, tích tụ ăn sâu vào gan thịt, xương máu từ bao đời. Tình cha vừa thâm trầm, lắng đọng mà nghiêm khắc giá băng, nhưng cũng rất dạt dào dịu ngọt. Nhưng có một điều tôi và các bạn phải chắc chắn nhìn nhận, đó là “gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”. Cha luôn là người có cách yêu thương của mình, bề ngoài khô khan, nhưng tình cảm thể hiện trong sự im lặng và sâu đậm vô cùng. Dù có màu da, ngôn ngữ, quốc tịch  khác nhau, nhưng sâu thẳm trong trái tim của mỗi người cha trên khắp thế giới đều dành chỗ ấm áp và yêu thương nhất cho đứa con.

Ant. Nguyễn Đức Xinh, Gx Bình Thái F1

BA ƠI!

Con chẳng biết ngày con bắt đầu bi bô tập nói, con đã nói tiếng gì đầu tiên? Chỉ biết rằng tiếng “Ba ơi!” với con  mới thân thương làm sao và con rất thích hát “Bố là tất cả”. Tuổi thơ của chị em chúng con êm đềm trôi, luôn luôn có ba bên cạnh dạy dỗ bảo ban. Ba là người vui vẻ hài hước nhưng cũng rất nghiêm khắc khi chúng con phạm lỗi, tuy rằng không bằng đòn roi, nhưng ba nhẹ nhàng nói, phân tích cho chúng con hiểu đúng-sai. Tình thương của ba thường không biểu lộ bằng lời, nhưng với ánh mắt, hành động của ba thì chúng con cũng cảm nghiệm được rất nhiều tình thương ấy. Nguyện xin Chúa luôn ở cùng ba, ban cho ba nhiều sức khỏe, sự bình an, ơn khôn ngoan của Chúa. Ba mãi mãi là ba của chúng con. Ba ơi! 

Phạm Trang

CON NHỚ BA NHIỀU

Nếu như tình mẹ được ví như những hoa xuân khoe mình rực rỡ, thì tình cha lại giống như cơn gió nhẹ chỉ đủ làm lay động chiếc lá. Nếu tình mẹ như dòng thác nước cuồn cuộn đổ tung bọt trắng xóa, thì tình cha lại như những gợn sóng lăn tăn. Đối với tôi, hình ảnh người cha luôn hiện ra với sự nhẹ nhàng nhưng ấm áp, âm thầm, nhưng cháy bỏng. Mãi cho tới hôm nay trong tâm trí tôi vẫn đầy ấp những kỷ niệm về ba. Nhớ lúc bé, tôi hay đau bệnh và nhiều lần tưởng đã chết rồi. Ba cõng tôi trên lưng chạy khắp nơi đi tìm thầy thuốc mà không than van hay nói một lời nào. Những đêm tôi bị sốt, bị ho, ba không những lấy thuốc, lấy nước, hay lau mồ hôi cho tôi, mà còn nằm bên cạnh, nhưng không ngủ. Khi tôi lớn, tôi vẫn hay quấn quít bên ba, đi làm cùng ba, kể cho ba nghe mọi thứ trên đời. Ba luôn luôn cười và lắng nghe tôi. Mỗi khi tôi trở về, ba lại xuống bếp nấu cho tôi những món ăn mà tôi thích. Khi tôi đi, ba không ra tận nơi để tiễn tôi lên xe, nhưng một mình ra sau hè, và tôi biết ba đang cầu nguyện cho tôi. Bây giờ, ba không còn được mạnh khỏe như xưa nữa, mái tóc đã bạc nhiều, chân tay thì đau nhứt, bàn tay đã chay cứng vì lao động vất vả, khuôn mặt sạm đen vì nắng gió. Nhưng tôi biết tâm trí của ba luôn hứơng về tôi. Càng xa nhà, tôi lại càng thương và hiểu được lòng ba mẹ nhiều hơn. Lần này khi rời gia đình vào lại miền Nam, ba tôi còn đang bệnh. Nhưng tôi vẫn thấy được nụ cười và một cái nắm tay thật chặt của ba, vẫn không một lời nào. Tôi quay lưng, hai hàng nứơc mắt như trực sẵn để trào ra. Hầu hết các nhạc sĩ vẫn hay sáng tác nhiều bài hát dành cho mẹ hơn là cha. Thế nhưng đối với tôi, tôi sẽ hát cho ba nghe những bài hát bằng chính những nốt nhạc của đời tôi. Vì tôi biết tôi là động lực và là hy vọng của ba rất nhiều. Tôi luôn cố gắng để không làm phụ lòng mong đợi của ba. Ba ơi! Nhớ ba nhiều lắm.

Bé Đen (CQP)

NGHĨ VỀ CHA

Trong gia đình, tôi thường thấy những đứa con hay gần gũi, tâm sự với mẹ hơn với cha. Nhưng khi nhìn lại, tôi lại thấy được những hy sinh âm thầm, lặng lẽ nơi người cha. Vì những hy sinh thầm lặng ấy, tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ của mình về hình ảnh người cha trong gia đình. Cha luôn là chỗ dựa vững chãi, là người làm lụng vất vả để lo cho cho cả gia đình, nhưng chẳng bao giờ cha nói ra, dường như cha coi đó như một việc mà mình phải làm. Cha luôn hi sinh thầm lặng cho mọi thành viên trong gia đình, và cha luôn là một lý tưởng sống cho chúng ta. Giống như thánh Giuse đầy nhiệt huyết và nhân từ đã không quản ngại những hy sinh gian khó để nuôi dạy và giúp đỡ trẻ thơ Giêsu có điều kiện tốt nhất để lớn lên và trưởng thành trong hình ảnh con người. Người ta vẫn hay nói cha thì nóng tính và khó khăn với các con; nhưng trong những cái khó đó, tôi nhận ra hình dáng một người cha lo lắng, quan tâm con cái mình từng chút một, không bao giờ để những đứa con mình lạc lõng bơ vơ. Hơn tất cả, cha che chở cả cuộc đời chúng ta; dù ở đâu, làm gì thì lúc nào cũng thế, từ xa dõi theo từng đứa con bé nhỏ của mình, dù tuổi đời có lớn, nhưng trong tâm trí của cha, con vẫn mãi là những đứa con bé nhỏ, cần bàn tay cha dẫn dắt. Cha là người cha tuyệt vời của chúng con; hôm nay, ngày mai hay sau này cũng thế, mong cha mãi ở bên, chúng con luôn dành cho cha những tình cảm thiêng liêng nhất, đơn giản một điều vì đó là cha của con, chỉ thế thôi!

Lưu Hành, Gx Thanh Hải

 


GỬI EM, NGÀY MẶC ÁO DÒNG

P. thương.

Vậy là giây phút lâu nay em mong đợi đã đến. Sau một thời gian dài tu tập, chuẩn bị và một tuần linh thao tràn ngập trong ân sủng của Chúa. Hôm nay em đã được mặc áo dòng. Nhìn em “xúng xính” trong chiếc áo dòng đen, chị và ba mẹ thật cảm động và không thể cầm được nước mắt. Lúc này đây chị chẳng thể dùng lời nào để diễn tả được cảm xúc dâng trào trong chị, P. ạ.  Chị  và ba mẹ chỉ biết cùng em cảm tạ Thiên Chúa và cầu nguyện cho em luôn vui, hạnh phúc và trung thành với lý tưởng dâng hiến suốt cuộc đời.

P.thân.

Được mặc áo dòng không phải là đích đến. Hành trình ơn gọi của em chưa phải đã thành toàn đâu. Được khoác trên mình chiếc áo dòng là một mốc son; một cánh cửa mở ra giai đoạn mới cho hành trình ơn gọi của em phía trước, một hành trình có những hoa hồng và không kém chông gai. Tục ngữ Pháp có câu “l’habite ne fait pas le moine”, Chiếc áo dòng không làm nên thầy tu! Thật không sai em nhỉ. Cái bên ngoài đâu làm nên một con người. Chính tâm hồn và cốt cách bên trong mới là yếu tố quan trọng. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn mà. Chỉ có nhân đức và đời sống hy sinh từ bỏ quên mình mới thực sự làm cho em nên thầy tu đích thực. Khoác trên mình chiếc áo dòng luôn là điều nhắc nhớ em phải sống sao cho đúng với căn tính của một Đại Chủng sinh. Chính áo dòng góp phần giúp em sống và gìn giữ đời tu.

Vô Thường, Gx  Lạng Sơn


 

 

       
  Chuyn mục
    Tình yu v giới trẻ
 

 

 

 

 

 


CHỌN BẠN TRĂM NĂM

Ông bà ta ngày xưa rất quan tâm tới những tiêu chí trong việc dựng vợ gả chồng cho con cái. Nào là “Tam tòng, tứ đức”, là “Môn đăng hộ đối”, là “Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống”, là “Mua heo lựa nái, mua gái lựa dòng”, hay là “Mua thịt thì chọn miếng mông, lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi”. Việc cưới gả xem ra đã định sẵn như thế nên các bạn trẻ ít có chọn lựa nào khác. Vì thế cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó!

Ngày nay, việc chọn lựa bạn đời xem ra khác xưa nhiều. Các bạn trẻ quan tâm nhiều hơn đến các yếu tố liên quan đến tâm sinh lý, tính cách, hoàn cảnh kinh tế, sự nghiệp, địa vị xã hội, ngoại hình, truyền thống gia đình, tôn giáo... Nói gì thì nói, việc tìm hiểu để có quyết định chọn lựa đúng đắn người bạn đời là điều rất quan trọng cho đời sống hôn nhân sau này. Bởi “Hôn nhân không thể hạnh phúc nếu trước khi lấy nhau hai người không biết rõ tính tình, thói quen và tính cách của nhau” (H. de Balzac). Vậy theo thiển ý, để chọn được người bạn đời xứng hợp cho mình sau này, mong có được một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc lâu dài, chúng ta thử gợi ý một số tiêu chuẩn sau đây:

* Có nhận thức đúng đắn về mục đích của hôn nhân.

Giáo lý Công giáo dạy rằng: “Tự bản chất, hôn nhân hướng đến thiện ích của đôi vợ chồng, (đến) việc sinh sản và giáo dục con cái. Hôn nhân giữa những người đã chịu phép thánh tẩy được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích” (x. GLHTCG số 1660, TTGM Sg 1997). Trên thực tế, nhiều bạn trẻ, vì quá nóng vội, muốn cưới liền tay, nên đã không kịp suy nghĩ thấu đáo về mục đích chính yếu của hôn nhân. Có người nghĩ hôn nhân là để có con nối dõi tông đường hay đơn giản là để có một bé yêu cho vui cửa vui nhà. Cũng có người chỉ nghĩ đến thỏa mãn đam mê xác thịt, giải quyết hợp pháp những đòi hỏi về sinh lý nam nữ.

Thực ra không phải vậy. Một cuộc hôn nhân nghiêm túc đòi hỏi trước khi kết hôn bạn phải có một nhận thức đúng đắn về mục đích của hôn nhân gia đình qua đó bạn sẽ tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để đảm nhận những trọng trách, vai trò trong đời sống gia đình mình sau này. Thư mục vụ HĐGMVN năm 2002 đã nhắc nhở như sau: “Theo ý định của Thiên Chúa, hôn nhân là nền tảng cho một cộng đoàn rộng lớn hơn, tức là gia đình. Nhờ hôn nhân mà đôi bạn trở thành cha mẹ, lãnh nhận nơi Thiên Chúa quà tặng là những người con. Khi cha mẹ yêu thương con cái, họ trở thành dấu chỉ hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với con người. Khi cha mẹ chăm sóc con cái, họ làm thành một cộng đồng hiệp thông những ngôi vị. Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa…” (x. tài liệu đd số 7).  Một khi hiểu đúng ý nghĩa, mục đích của hôn nhân theo tinh thần Kitô giáo, chúng ta sẽ thực hiện trọn vẹn những nhiệm vụ cao cả của mầu nhiệm và bí tích hôn phối mà hai bạn sẽ long trọng cử hành trong ngày hôn lễ.

* Có tự do chọn lựa.

Chúng ta đều biết rằng tình yêu không tự do là tình yêu giả dối và không bền vững. Chính vì lý do này mà trong nghi thức hôn phối, đôi bạn phải tuyên thệ trước cộng đoàn và đại diện Hội Thánh là họ hoàn toàn có tự do yêu thương và đến với nhau. Sự tự do này phải bắt đầu từ khi tình yêu nẩy nở trong hai người và sẽ mãi mãi tồn tại. Thực tế là nhiều trường hợp sau kết hôn một thời gian, khi phải nói lời chia tay, đôi bạn thường vịn vào lý do bị ép buộc một cách nào đó để từ chối tiếp tục sống chung trong đời vợ chồng. Có thể điều đó là sự thật, nhưng cũng có thể là lý do được ngụy tạo để dễ dàng đường ai nấy đi.

Trên thực tế, nhiều cặp vợ chồng sống với nhau chỉ vài ba năm là quyết định ly hôn. Tại sao vậy? Bởi có những bạn trẻ khi yêu nhau họ không thoát khỏi những ảo tưởng và sai lầm về hôn nhân, về người bạn đời mà họ sắp kết hôn. Có người vì ham mê chút ngoại hình mà chấp nhận ăn đời ở kiếp với người mà họ nghĩ rằng sẽ là bạn đời đích thực của mình. Như có câu: “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhỡ bữa chẳng mài mà ăn” hay “Biết bao đàn ông chỉ yêu một má lúm đồng tiền mà dại dột cưới nguyên cả một cô gái” (S. Leacock). Tình yêu chính đáng phải xuất phát từ con tim và trở về con tim. Và tình yêu đẹp nhất, bền vững nhất là tình yêu của những trái tim tự do. Hãy sáng suốt chọn lựa một nửa của mình bằng một tình yêu trong sáng, tự do.

* Chấp nhận người kia là bạn đời duy nhất của mình.

Trong hôn nhân không có việc đứng núi này trông núi kia hay bắt cá nhiều tay được. Tình yêu trong hôn nhân là duy nhất giữa một người nam và một người nữ. Qua bí tích hôn phối, hai bạn nên một trong tình yêu tự do, chung thủy và bền vững. Chúa đã nói: “Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt 19,6). ĐGH Gioan Phaolô II cũng đã nhắc nhở: “Nhờ tính cách bí tích của hôn nhân, đôi bạn được liên kết với nhau một cách chặt chẽ không thể tháo gỡ được…” (x. Tông huấn về những bổn phận  của gia đình Kitô hữu, số 13). Do đó trước khi quyết định kết hôn, hai bạn cần xác tín rằng người bạn tình mà họ chọn lựa sẽ là người bạn đời duy nhất và đáng được tôn trọng như một người bạn đường không thể thiếu trong cuộc sống sau này. Những ai thiếu sự kiên định trong cuộc sống sẽ dễ dàng bị chao đảo bởi những xung đột tất yếu trong đời sống vợ chồng. Và chính họ cuối cùng sẽ phản bội lại lời thề hứa chung thủy mà họ đã chính thức tuyên xưng trong ngày hôn lễ.

 * Có phẩm chất đạo đức tốt.

Hoàng đế Napoléon có nói: “Một người đàn bà đẹp làm thỏa mắt. Đó là một trang sức. Một người đàn bà tốt làm đẹp lòng. Đó là cả một kho tàng”. Phẩm chất đạo đức trong hôn nhân là viên ngọc quý không gì sánh ví được. Thực tế cho thấy đàn ông giỏi giang thông thái mà không đạo đức thì là kẻ nham hiểm. Đàn bà xinh đẹp lộng lẫy mà không đạo đức thì là người lừa dối. Hôn nhân không đạo đức là ngục tù chôn vùi tình yêu. Gia đình không đạo đức gây nên thảm kịch cho nhiều người. Thánh Phaolô đã có lời khuyên thiết thực sau: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thông cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo…” (x. Cl 3,12-14). Nhìn vào các gia đình sống chung quanh ta, nếu cặp vợ chồng nào sống đạo đức, luôn chu toàn luật Chúa và Hội Thánh, biết thực thi bác ái thì bảo đảm họ được Chúa chúc phúc và được hạnh phúc mãi mãi bên nhau.   

* Có nhân đức khôn ngoan và óc phán đoán tốt.

Sách Châm ngôn (Cựu Ước) có câu: “Phụ nữ khôn ngoan xây dựng cửa nhà, phụ nữ dại dột tự tay phá đổ” (Cn 14,1). Sự khôn ngoan vẫn được coi là một trong bốn nhân đức cột trụ cần thiết cho đời sống vợ chồng (Khôn ngoan, Công chính, Can đảm và Tiết độ). Người khôn ngoan biết cách ứng xử sao cho hợp tình, hợp lý, đúng người, đúng việc. Người khôn ngoan biết phân định đâu là lẽ phải, đâu là điều sai quấy. Nhiều cặp vợ chồng vì phán đoán sai lạc nên đã gây tổn thương không ít mối quan hệ phu thê. Chuyện bé thì xé ra to. Chuyện nghiêm túc thì lại coi thường, xem nhẹ. Trong đời sống chung, mỗi người đều phải ứng xử sao cho thật khôn ngoan, thông minh, nhạy bén nhờ đó mối quan hệ được luôn bền chặt và thoải mái. Bên cạnh đó, óc phán đoán quân bình sẽ giúp họ tránh được những va chạm đáng lẽ ra không nên có trong cuộc sống vợ chồng. Ca dao VN có câu: “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê”.

Ai cũng biết rằng hôn nhân là một biến cố hệ trọng nhất đời, vì thế việc chọn lựa một người bạn đời đòi hỏi mỗi người phải cân nhắc, suy nghĩ, bàn hỏi và cầu nguyện thật nhiều. Ước mong sự chọn lựa của chúng ta phải thật tự do, sáng suốt và trách nhiệm cao.

Aug. Trần Cao Khải

 

 

 

           
 

QUỸ HỌC BỔNG NGUYỄN ĐỨC DO VÀ TRÍ ĐỨC

Hàng năm, quỹ học bổng Nguyễn Đức Do cấp 5 học bổng và quỹ học bổng Trí Đức cấp 15 học bổng cho sinh viên học sinh cấp 3 vùng Cái Sắn, có gia đình nghèo và khó khăn, đã vượt lên học đạt loại khá, giỏi. Mỗi học bổng trị giá 1.000.000đ. Những sinh viên học sinh thuộc đối tượng trên có thể liên hệ với Văn Phòng trường THPT Thạnh An làm thủ tục xin cấp học bổng trước ngày khai giảng năm học mới.

Nguyễn Đình Phấn

   
 
   
 

 

 

 



BẢN TIN

 

GIÁO PHẬN LONG XUYÊN

 

THÊM SỨC TẠI GX ĐỀN THÁNH GIUSE AN BÌNH, VA

Đã 5 năm rồi, cho đến hôm nay, ngày 16.02.2014, tại giáo xứ Đền Thánh Giuse An Bình mới có một thánh lễ trọng thể cho 135 em trong giáo xứ lãnh nhận Bí tích Thêm Sức. Thánh lễ được cử hành trang nghiêm, sốt sắng trong ngôi nhà thờ mới đang ở giai đoạn sắp hoàn thành. Sự hiện diện của Đức cha Giuse chủ tế, 30 cha đồng tế, quý thầy phó tế, tu sĩ đã đem lại cho cha xứ Giuse Phan Chí Minh và bà con giáo dân một sự vui mừng, cảm kích rất lớn. Nhất là Đức cha, dù không được khỏe, nhưng vẫn cố gắng ưu ái đến với giáo xứ. Trước khi cử hành thánh lễ, Đức cha đã làm phép đồi thánh Vinhsơn, tượng Chúa Chịu Nạn, tượng Đức Mẹ và thánh Giuse trong nhà thờ. Tạ ơn Chúa, cầu nguyện cho quý ân nhân và cho các em lãnh nhận Bí tích Thêm sức trở thành đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, là những tâm tình Đức cha mời gọi mọi người cùng hiệp ý dâng thánh lễ.

 

KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ GIÁO HỌ VĨNH HIỆP, RG

Đã từ lâu, khoảng 300 giáo dân định cư tại tổ 6b, khu phố Dãy Ốc, phường Vĩnh Hiệp, TP. Rạch Giá, Kiên Giang, phải chịu nhiều thiệt thòi về sinh hoạt tôn giáo. Kể từ ngày 9.3.2011, khi có quyết định thành lập giáo họ Vĩnh Hiệp, thuộc giáo xứ Rạch Giá và được quý cha dòng Don Bosco tiếp quản, việc quy tụ và sinh hoạt tôn giáo bước đầu đã có nhiều khởi sắc đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn đó những trăn trở cho quý cha khi số giáo dân tăng, lượng người quy tụ ngày một đông, mà chưa có ngôi nhà thờ xứng đáng để thờ phượng Chúa, cũng như chưa có những sân chơi và nơi học tập hữu ích cho giới trẻ. Nhờ ơn Chúa, qua sự miệt mài, chịu khó của cha quản sở Phêrô Phạm Quốc Hùng, quý cha và quý thầy Don Bosco, sự nhiệt tình và quảng đại của quý ân nhân, ngôi nhà thờ mới xinh xắn sau hai năm xây dựng đã hoàn thành, được Đức cha Giuse chủ sự nghi thức khánh thành, làm phép tượng đài, dâng thánh lễ tạ ơn và cung hiến thánh đường cho Chúa vào sáng ngày 22.02.2014.

 

CHA GB TRẦN QUANG TRUNG QUA ĐỜI

TGMLX thương tiếc báo tin: Cha GB Trần Quang Trung đ qua đời vào lúc 20 giờ ngày 23.02.2014 vì một tai nạn giao thông hết sức thương tâm. Cha GB sinh ngày 18.4.1951 tại Bạch Liên, Yên Mộ, Hà Nam Ninh. Vào Tiểu Chủng Viện ngày 21.8.1964. Thụ Phong Linh Mục ngày 10.01.1991 tại Nhà Thờ Chính Tòa Long Xuyên. Ngài phụ trách giáo xứ Bờ Bao từ năm 1991 – 2009. Và giáo xứ Thánh Linh từ năm 2009 cho đến nay. Thánh Lễ an táng được cử hành vào lúc 9 giờ sáng thứ tư, ngày 26.02.2014, tại Giáo Xứ Thánh Linh, KD1.

 

CHA GIACÔBÊ NGUYỄN ĐỨC THỊNH QUA ĐỜI

Trong niềm tin vào Chúa Phục Sinh, TGMLX trân trọng báo tin: Cha Giacôbê Nguyễn Đức Thịnh đã qua đời vào lúc 1g40 ngy 28.02.2014 sau một thời gian chữa trị bệnh, hưởng thọ 79 tuổi. Thánh Lễ an táng được cử hnh vo lc 9 giờ sng thứ hai ngy 03.3.2014, tại Gx Giuse kinh 7B.

TIỂU SỬ CHA GIACƠB:

Sinh ngy 25.3.1935 tại Thạch Bích, H Ty, gp. H Nội

Vào TCV Phanxicô Bùi Chu năm 1950

Vào ĐCV Tơma Gia Định, Giuse Sàigon 1960-1968

Thụ Phong LM ngày 14.5.1968 tại nhà thờ Đức Bà Sàigon

THI HNH SỨ VỤ:

1. Tiểu Chủng Viện Châu Đốc từ năm  1968

2. Gio Xứ Giuse kinh 7B từ 1975-2013

3. Nghỉ hưu từ 2013

Ngoài chức vụ cha sở, ngài còn là giám đốc bệnh xá Tình Thương và viện mồ côi,  kinh 7B.

 

LỄ CUNG HIẾN NHÀ THỜ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM,

CỘNG ĐOÀN XITÔ, GIÁO HỌ HÒN TRE

Từ bến tàu Rạch Giá, đi tàu cánh ngầm mất khoảng một tiếng đồng hồ thì đến Hòn Tre. Nơi đây, ngôi nhà thờ mới của giáo họ vừa được Đức cha Giuse khánh thành, cung hiến và ban Bí tích Thêm Sức cho 21 em vào sáng ngày 08.3.2014. Tham dự trong thánh lễ trọng đại này, phải kể đến sự hiện diện của Đức Đan Viện Phụ Gioan Thánh Giá Lê Văn Đoàn, 33 cha đồng tế, quý tu sĩ, quý ân nhân, thân nhân, và đông đảo bà con giáo dân. Nhìn từ xa, Hòn Tre trông giống như một con rùa khổng lồ nổi giữa biển mênh mông. Khi lại gần, thì dễ dàng thấy ngôi nhà thờ nằm uy nghiêm giữa lưng chừng núi. Đức cha Giuse hết sức vui mừng, khen ngợi: Ngôi nhà thờ mới này nhỏ bé nhưng đẹp đẽ, có một phong cảnh thật thơ mộng và hữu tình. Quả là niềm vui chung cho Giáo phận Long Xuyên, cộng đoàn Xitô Đức Mẹ Vô Nhiễm, và bà con cô bác giáo họ Hòn Tre. Từ lâu, tôi đã ước mong nơi đây trở thành một điểm dừng lý tưởng cho việc tĩnh tâm. Điều đó đã dần thành hiện thực trong tình thương của Chúa.

 

LỄ GIỖ LẦN THỨ 68

CHA PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

Xứ đạo Cồn Phước tọa lạc tại ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, An Giang, lâu nay được biết đến là quê hương của cha Trương Bửu Diệp. Nơi đây, ngài cất tiếng khóc chào đời, được rửa tội, được nuôi dưỡng tinh thần mộ đạo, lớn dần lên về đức tin và đức ái. Vào ngày 12.3 hàng năm - ngày ngài bị bắt và bị giết - xứ đạo Cồn Phước đều tổ chức lễ giỗ và thu hút rất nhiều khách thập phương đến tham dự. Năm nay, lễ giỗ lần thứ 68, do Đức cha Giuse chủ sự với 32 cha đồng tế. Đồng thời, tượng đài của ngài, sau nhiều ngày xây dựng, cũng đã hoàn thành và được Đức cha khánh thành. Nói đến lòng sùng mộ cha Trương Bửu Diệp, bấy lâu nay theo kiểu bình dân, thì “ngài linh lắm”. Tiếng lành đồn xa, rất nhiều người, kể cả lương lẫn giáo, trong và ngoài nước đếu biết và tìm đến ngài để nguyện cầu, và trút những nỗi lo, gánh nặng vật chất và tinh thần để ngài chuyển lên Thiên Chúa và Thiên Chúa đã chấp nhận chúc phúc cho những ước nguyện ấy. Tuy vậy, đối với người công giáo, cha không chỉ được biết đến là thiêng, mà còn được coi là chứng nhân anh dũng, một tấm gương sáng về đức tin và đức ái cho mọi người noi theo. Đức cha Giuse nói trong bài giảng: “Cha Phanxicô là một chứng nhân của niềm tin mãnh liệt và giàu lòng bác ái”. Câu nói nổi tiếng đi vào lòng người của ngài được Đức cha nhắc đến minh chứng cho điều đó: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết”. Như lời Chúa Giêsu đã nói:“Ta là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10, 11). Cha đã thực hiện lời Chúa Giêsu trong cuộc sống, đã hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa, kết hiệp với Đức Kitô chịu khổ nạn, bị bắt bớ, đến nỗi đổ máu đào hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.

 

 


GIÁO HỘI VIỆT NAM

 

ĐỨC HỒNG Y GB PHẠM MINH MẪN VỪA TRÒN 80 TUỔI

WHĐ – Hôm 05.3.2014, Đức hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng giám mục Tổng giáo phận Saigon, vừa tròn 80 tuổi, chính thức không còn trong danh sách Hồng y cử tri. Quy định “các Hồng y đủ 80 tuổi trước ngày Toà Thánh trống toà sẽ không tham gia Mật tuyển viện bầu giáo hoàng” được ghi trong Tông hiến Romano Pontifici Eligendo do Đức giáo hoàng Phaolô VI ban hành ngày 1.10.1975. Với sự kiện mới nhất này, Hồng y đoàn hiện nay có 218 vị, trong đó có 121 hồng y cử tri. Đức hồng y Phạm Minh Mẫn được Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II tấn phong Hồng y trong Công nghị 21-10-2003. Trước đó, Giáo hội Việt Nam đã có 4 vị hồng y - đều đã qua đời: Đức hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê, được tấn phong năm 1976, qua đời năm 1978; Đức hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, được tấn phong năm 1979, qua đời năm 1990; Đức hồng y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, được tấn phong năm 1994, qua đời năm 2009 và Đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nguyên Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh Công lý và Hoà bình, được tấn phong năm 2001, qua đời năm 2002.

 

GIÁO HỘI TOÀN CẦU

 

ĐTC SẼ VIẾNG THĂM HÀN QUỐC

WHĐ – Hôm 10.3, Phòng Báo chí Toà Thánh đã ra thông cáo: “Nhận lời mời của Tổng thống Hàn quốc và của các giám mục Hàn Quốc, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ thực hiện chuyến tông du Hàn Quốc từ ngày 14-18.8.2014, nhân dịp Đại hội Giới trẻ châu Á lần thứ sáu được tổ chức tại giáo phận Daejeon”. Thông cáo không cho biết chi tiết của chuyến tông du, mặc dù Đức Thánh Cha đã nhận lời mời của một số quốc gia và ngài cũng đã nói về mong muốn của ngài sẽ đến thăm một số nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, gồm cả Sri Lanka. Chuyến tông du này đánh dấu lần đầu tiên sau 25 năm lại có một Giáo hoàng đến thăm bán đảo Triều Tiên. Trước đây, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đến thăm Hàn Quốc hai lần: tháng 5 năm 1984, để tuyên thánh cho 103 vị tử đạo Hàn Quốc và tháng 10 năm 1989. Theo hãng tin Yonhap, trong chuyến tông du sắp tới, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ gặp bà Tổng thống Park Geun-hye, và sẽ chủ sự Thánh lễ tôn phong Chân phước cho 124 vị tử đạo Hàn Quốc, mà ngài đã phê chuẩn án phong vào tháng trước.


MỖI SỐ MỘT ĐỊA CHỈ

 

GIÁO XỨ VINH SƠN

Ấp Tân Hoà A, Xã Tân Hiệp B, Huyện Tân Hiệp,

Tỉnh Kiên Giang. Đt : 077.3834 758

 

 

1. Địa lý, dân số và giáo dân:

Số giáo dân hiện có là 1200 người. Số tín đồ tôn giáo bạn trong khu vực khoảng 1000 người gồm các tôn giáo như: Phật Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Hiếu Nghĩa.

2. Lịch sử hình thành & phát triển:

Giáo xứ Vinh Sơn được thành lập khoảng năm 1957.

Thánh đường của giáo xứ đã được xây dựng kiên cố vào năm 1965. Đến năm 1990 được trùng tu và trang trí lại như hiện nay.

Nhà xứ cũng đã được xây dựng vào năm 1968, và đến năm 1998 đã được trùng tu lại. Ngoài ra, giáo xứ còn có một khu nhà văn hoá được xây dựng năm 1994.

Để phục vụ cho việc giao thông đi lại của bà con, giáo xứ cũng đã xây dựng nhiều cây cầu bắc qua sông và cây cầu treo bằng bêtông tọa lạc tại địa điểm nhà thờ Vinh Sơn (khánh thành ngày 21-12-2003).

3. Các linh mục coi sóc:

- Lm. Vinh Sơn Đinh Quốc Bảo: Chánh xứ giáo xứ Vinh Sơn từ ngày 27.10.1957 đến ngày 29.8.1966. Từ trần ngày 09.8.1996 tại Tp. HCM. Hài cốt đã được dời về khuôn viên giáo xứ Vinh Sơn.

- Lm. Giuse Vũ Phi Phượng: Chánh xứ giáo xứ Vinh Sơn từ ngày 29.8.1966 đến ngày 01.9.1973. Từ trần ngày 30.11.2010, tại TP HCM. Được đưa về an táng tại giáo xứ Vinh Sơn.

- Lm. Giuse Nguyễn Văn Trọng: Chánh xứ giáo xứ Vinh Sơn từ ngày 01.9.1973 đến ngày 07.02.1983.

- Lm. Giuse Phạm Văn Phiên: Phó xứ giáo xứ Vinh Sơn, phụ trách giáo họ Phêrô-Phaolô (hiện nay là giáo xứ Tân Thuận) từ ngày 05.11.1977 đến ngày 01.3.1981.

- Lm. Antôn Phạm Trung Kiên: Chánh xứ giáo xứ Vinh Sơn từ ngày 07.02.1983 đến ngày 15.07.1984.

- Lm. Gioan K. Nguyễn Văn Hinh:  Chánh xứ giáo xứ Vinh Sơn từ ngày 15.07.1984 đến ngày 10.3.2007.

- Lm Vinh Sơn Phaolô Phạm Thế Hòa: Chánh xứ giáo xứ Vinh Sơn từ ngày 10.03.2007 đến ngày 10.12.2010

- Lm. Giuse Trương Trung Hưng: Chánh xứ giáo xứ Vinh Sơn từ ngày 10.12.2010 đến nay.

4. Những đặc điểm:

a- Mục vụ: Có cơ chế mục vụ gia đình dân chúa theo hướng công đồng VAT II và văn hóa Việt Nam trên cơ sở hiệp thông, tính cộng đồng như một gia đình của Thiên Chúa.Phương châm: “Xây dựng, hiệp thông trong tinh thần đối thoại và thực tiễn”.

b- Truyền giáo:(hội nhập văn hoá) Trồng đức, Trồng người, Trồng tình thương, Yêu thương, phục vụ, biến đổi bằng phương châm: “Cầu nguyện và hi sinh”.

c- Văn Hoá: Văn hoá Kitô giáo là văn hoá của tình thương. Ở đâu có tình thương ở đó có Thiên Chúa.Nẻo đường duy nhất còn lại trong thiên niên kỷ mới này, để Giáo Hội có thể truyền giáo là văn hoá.Giáo xứ xây dựng khu văn hoá giáo dục, để phục vụ theo hướng đi đó.

 

 

 
 

 

CHỦ ĐỀ THÁNG 5 & 6 2014:

TÌNH MẸ

CHỦ ĐỀ THÁNG 7.2014:

NGƯỜI CHỒNG

Bài vở xin gửi về:

TĨNH TÂM

80/1 Bùi Văn Danh

Mỹ Xuyên, Long Xuyên, An Giang.

hay

tinhtamgplx@gmail.com

trước ngày 12 mỗi tháng, để kịp lên khuôn và in ấn.

Đồng thời xin cho biết địa chỉ, để tiện việc liên hệ.

Trang Web của giáo phận: http://www.gplongxuyen.org

Đa tạ.

 

Bài viết liên quan:

BẢN TIN MỤC VỤ GIỚI TRẺ 10/2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 10/ 2017
BÁO TĨNH TÂM THÁNG 12 & NĂM MỚI
TĨNH TÂM THÁNG 10 & 11 NĂM 2012
TĨNH TÂM THÁNG 9 NĂM 2015
TẬP TĨNH TÂM THÁNG 8/2015
TĨNH TÂM THÁNG 7 NĂM 2015
Tĩnh tâm tháng 05 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 04 năm 2015
Tĩnh tâm tháng 03 năm 2015
Page 1 of 3 (22 items)
Prev
[1]
2
3
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1109
Tất cả: 45,856,427