Thánh thiêng, “đó là những gì không còn nhắm đến tự nhiên nữa nhưng chỉ được cống hiến và quy chiếu trực tiếp cho mục tiêu siêu nhiên mà thôi” (nhà thần học M D Chenu);
Mọi nhà thờ đều cần phải có một không gian phụng vụ thích hợp và thiêng thánh vì nhà thờ là nhà cầu nguyện, là nơi để cử hành Hy lễ Tạ ơn và lưu giữ Mình Thánh Chúa
Nến và hoa có thể đặt gần hay trên bàn thờ. Tuy nhiên, theo như thực hành từ xa xưa và kinh nghiệm hiện nay, đặt chúng gần bàn thờ thì tốt hơn đặt ở trên bàn thờ.
Trong phần này, chúng ta sẽ bàn đến các vấn đề cụ thể liên quan đến bàn thờ như: số lượng bàn thờ; chất liệu, hình dáng, kích cỡ và vị trí của bàn thờ trong thánh đường; cũng như một số đối tượng ở gần hoặc trên bàn thờ như thánh giá, hoa và nến…
Bàn thờ trước hết được hiểu là bàn tiệc của Chúa. QCSL giải thích rằng Hy lễ Thập giá được hiện tại hoá dưới những dấu bí tích trên bàn thờ, cũng là bàn tiệc của Chúa...
Có hai loại bàn thờ được đề cập trong Kinh Thánh: một loại bàn thờ chung mà mọi người Do Thái xưa sẽ đi đến đó ba lần mỗi năm để dâng hy tế;
Theo quy định của QCSL tại các số 131-134 và số 212, nơi chọn lựa đầu tiên để giảng lễ là đứng tại ghế chủ tọa. Giảng lễ tại đây có hai ý nghĩa: i] Thứ nhất, nhấn mạnh đến cương vị của tư tế là thầy dạy, người lãnh đạo và thánh hóa cộng đoàn; ii] Thứ hai, tư tế là đại diện của Đức Giám mục tại giáo xứ.
Ghế của Đức Giám mục nên đứng riêng ra tại một vị trí ổn định thường xuyên và được đôn cao lên để mọi thành viên trong cộng đồng nhà thờ chánh tòa có thể thấy ngài và ngài có thể thấy cộng đoàn phụng vụ một cách rõ ràng.
Ghế chủ tọa ngày xưa chính là chỗ ngồi hay ngai tòa của vị giám mục địa phương trong nhà thờ của ngài, tức nhà thờ chánh tòa.
Mùa Thường Niên không phải là quá bình thường. Nó có thể mang tính chất cầu nguyện, ý nghĩa và phong phú như bất kỳ mùa phụng vụ nào trong năm của Giáo hội.
Giáo Hội đã minh nhiên sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như là sự phó thác hoàn toàn cho một Tình Yêu cao cả. Tuy lòng sùng kính đó đã có từ thời Trung Cổ...
Từ ngữ “cung thánh” trong tiếng Việt được dịch từ tiếng La-tinh sanctuarium. Từ này, theo nghĩa đen, có nghĩa là đền thánh hay nơi thánh, phát xuất từ chữ sanctus, nghĩa là thánh hay thuộc thần thánh.
Tại sao chúng ta không bao giờ cầu xin hoặc xin lời cầu bầu của bất cứ vị nào trong số “các thánh” thuộc Cựu Ước trong lời nguyện của Thánh Lễ, và chúng ta cũng không có ngày lễ để tôn vinh các vị?
Trong thánh lễ phong thánh, thánh tích của Giacinta và Phanxicô đã được để dưới chân Đức Mẹ Fatima. Ngày kính hai thánh Giacinta và Phanxicô sẽ là ngày 20 tháng 2 trong lịch phụng vụ.
Các tín hữu nên biểu lộ sự tham dự của mình bằng việc dâng lễ vật: hoặc dấng bánh rượu để cử hành thánh lễ, hoặc những lễ vật khác theo nhu cầu của Hội Thánh và người nghèo.
Xét theo khía cạnh lịch sử phụng vụ, chúng ta phải đi từng cấp một: trước tiên là thói tục dành ra 30 ngày để kính Đức Mẹ; và kế đó là tục gắn vào giai đoạn nào trong năm dương lịch.
Khi nhìn lại thực hành này dưới khía cạnh lịch sử, luật pháp, thần học và mục vụ, việc đem hoa và nến đang cháy trong đoàn rước chuẩn bị lễ vật là dư thừa và không cần thiết.
Khi Stacy thông báo tiểu luận về Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) và việc sát nhân, trong trí tôi có ngay mấy từ này: Hình phạt khủng khiếp.
Tại VIỆT NAM, thời gian cần thiết để giữ luật buộc rước lễ trong Mùa Phục Sinh là từ thứ TƯ - LỄ TRO cho đến hết lễ Chúa Ba Ngôi.
Khi Tòa Giám mục trống ngôi (sede vacante) do Đức Giám mục đương chức qua đời, từ nhiệm hay chuyển đến một tòa khác, giáo phận sẽ được điều hành bởi một linh mục hay giám mục với vai trò làm giám quản giáo phận.
Page 1 of 7 (131 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 788
Tất cả: 43,731,657